Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

Lịch sử tính dục: Nữ giớiXXXX

Lịch sử tính dục: Nữ giới

Hôn nhân là vấn đề quan trọng  trong các văn bản cổ điển - trong tác phẩm: "Gia chính học" (L’Économique) của Xenophon, Lý tưởng quốc hay thiên Pháp luật (La Republique ou les Lois) của Platon, thiên Chính trị học (la Politique) của Aristote đều ghi lại sự suy tư về mối liên hệ vợ chồng. Đó là phạm vi thuộc luật pháp hay tập quán cần thiết của sự phồn vinh và sinh tồn trong một đô thị cũng như trong gia đình dùng để quản lý hay làm cho phong phú hưng thịnh. Chúng ta không nên theo nhóm thị dân chỉ xem mục đích và ích lợi của gia đình mà vội vã kết luận rằng vấn đề hôn nhân tự thân nó không có mối liên hệ gì  quan trọng, giá trị của nó chỉ là cung cấp cho gia đình và quốc gia mối lợi về đường hậu đại. Chúng ta đều thấy các triết gia cổ đại là Xenophon, Isocrate, Platon, và Aristote đều đưa ra những hành vi qui phạm của vợ chồng sau khi thành hôn. Việc phối ngẫu phải có đặc quyền và được công chính xác nhận, con người phải dành cho chúng những mô phạm, và bồi dưỡng chúng thành tựu. Tất cả những sở hữu đó đều đưa ra mối liên hệ đến chức năng sinh dục siêu việt. Nhưng hôn nhân yêu cầu một phong cách hành vi đặc biệt, tức vị hôn phu là nam nhân chủ của gia đình phải là một công dân cao thượng hay là một người có đạo đức, có quyền lực hành xử chính trị đàng hoàng  Và trong nghệ thuật hôn phối, điều cần thiết là tự ngã phải khống chế được mình và ban ra những hình thái đặc biệt, nó là thái độ hành vi của con người công chính biết tiết chế và khôn ngoan.
Từ hai thế kỷ trước và sau công nguyên luân lý của hành vi hôn nhân liên tiếp xuất hiện trong  những văn bản khác nhau, Tức là trong giai đoạn thời gian dài dằng dặc, chúng ta có thể nhận thấy một sự biến hóa phát sinh trong các cuộc hôn nhân thực tiển. Trong những văn bản như Antipater (luận về hôn nhân), nó chính là bản văn La Tinh được dịch ra từ tiếng Hi Lạp và trình bày trong  phần cuối của tác phẩm Economique, phần ngụy thiên Aristote, ngoài ra còn có những đoạn văn khác nhau của Musonius luận về hôn nhân, những giới luật về vợ chồng  và đối thoại tình yêu của Plutarque, thiên luận hôn nhân của Hierocles, đó là không tính đến những bản văn luận thuật mà người ta có thể tìm thấy được ở Sénèque hay Epictete và học phái Pythagore.
 
Chúng ta có nên đề cập đến vấn đề hôn nhân như là chủ trương kiên trì và thường được tranh cải trong dĩ vãng không? Có nên cho rằng  sự chọn lựa trong sinh hoạt hôn nhân và cách thức hành vi đó nó  đưa người ta đến hành vi bất an, và người ta đã tiêu phí  khá nhiều tinh lực để đặt thành vấn đề về nó. Đương nhiên, không thể nào có một giải đáp chính xác được. Nhưng để bù  lại, nghệ thuật sinh hoạt hôn nhân đã được phản tỉnh và  xác định trong  những văn bản  quan trong tương đồi mới lạ.
 
Điểm  mới thứ nhất là trong nghệ thuật sinh hoạt hôn nhân có liên quan đến vấn đề gia chính  cùng sự quản lý, sự sinh sản con cái và phương diện nuôi dưỡng chúng càng ngày càng trở nên  quan trọng., và đặc biệt là trong cộng đồng : mối liên hệ cá thể giữa hai vợ chồng, mối giây liên hệ kết hợp họ lại bằng phương thức và thái độ hành vi đối xử với nhau. Mối liên hệ ấy là làm sao cho thích hợp với tính cách quan trọng và nhu cầu đòi hỏi của vai trò chủ nhân gia đình; nó được coi như là  yếu tố căn bản  đầu tiên, tất cả các yếu tố khác  đều bao quanh lấy nó, do đó nó dẫn xuất và đạt được sức mạnh. Tóm lại nghệ thuật xử sự  trong hôn nhân ít được thông qua một thứ  kỷ thuật tự cai quản do tự ngã, mà đa phần là thông qua phong cách biểu hiện mối liên hệ cá nhân.
 
Điểm mới thứ hai  là người con trai khi đã lấy vợ rồi thì nguyên tắc tiết chế hành vi là trong nghĩa vụ song phương  chứ không phải nằm trong sự khống chế đối với kẻ khác; hay đúng hơn là vai trò tự ngã làm chủ lấy tự ngã càng biểu hiện rõ trong  nghĩa vụ thực tiển đối với kẻ khác, đặc biệt là sự tôn trọng  đối với người vợ - người phối  ngẫu. Ở đây tăng cường  mối bận tâm  của tự ngã đối với tha nhân là tương trợ tương thành. Có lúc vấn đề “ trung thành” tỏ bày trong tính dục lại là phương thức chứng tỏ sự thay đổi mới mẻ. Cuối cùng sự quan trọng nhất ở đây là nghệ thuật hôn nhân, là mối quan hệ  và hình thức đối xứng , ban cho vấn đề liên hệ tính dục  giữa vợ chồng một vị trí tương đối rất quan trọng; vấn đề ấy luôn luôn là phương thức xử lý rất kín đáo đầy ẩn dụ. (discrète et allusive). Trong những tác giả như Plutarque, chúng ta phát hiện là họ đã từng khảo sát qui định về mối liên hệ vợ chồng , làm sao để đạt được phương thức khoái thích trong việc hành sử tính dục; tại đây đối với hứng thú sinh sản có liên quan đến tình yêu, tình cảm, tâm ý tương thông, hổ tương đồng tình cùng liên kết với ý nghĩa và giá trị.
 
Một lần nữa, chúng ta không thể cho rằng những cung cách hành xử, hay những tình cảm như vậy  không được biết đến trong thời cổ điển, nó chỉ xuất hiện sau thời cổ điển mà thôi, xác định đó là sự biến đổi của một thứ trật tự, cẩn phải có một tư liệu hoàn toàn khác, và những phân tích khác. Nhưng nếu như người ta tin tưởng vào những lời của văn bản được xử lý, những thái độ như thế, những cung cách hành xử, phương thức hành vi và cảm nhận đều trở thành là chủ đề hoài nghi thành đối tượng tranh luận của triết học và là những yếu tố của nghệ thuật phản tỉnh phải biểu hiện như thế nào? Một phong cách  sinh tồn của hai người tự thoát ra khỏi  giới luật quản lý hôn nhân của thời cổ đại; người ta lại xác định nghệ thuật quan hệ vợ chồng  trong học thuyết lũng đoạn tính dục độc chiếm và trong  một thứ mỹ học cộng hưởng  khoái cảm.
 
1.- Quan hệ hôn nhân
 
Xuyên qua những cuộc phản tỉnh  về hôn nhân, đặc biệt là xuyên qua những văn bản của phái Stoiciens từ hai thế kỷ trước công nguyên – chúng ta có thể phát hiện một loại mô thức về mối liên hệ vợ chồng. Đó không phải là cuộc hôn nhân áp đặt dưới hình thức của những thể chế mới lạ, hay là cuộc hôn nhân tuân theo khuôn phép pháp luật ép buộc khác nhau. Nhưng không nghi ngờ gì đây là cơ cấu truyền thống người ta minh định một phương thức kết hợp sinh hoạt chung  giữa vợ chồng , một mô thức liên hệ vợ chồng, và một mô thức sống chung khá khác biệt từng được trình bày trong văn bản cổ điển. Nói ra chỉ e là quá phô trương , và sử dụng một thứ từ vựng  hơi lỗi thời; nhưng người ta có thể nói rằng  hôn nhân  không phải chỉ đóng vai trò quản lý gia đình, mà hình thức của nó là  hổ  tương bổ sung cho dục tính, mà còn là sự liên hệ giữa cá nhân  và liên hệ đến hôn nhân giữa nam nữ. Nghệ thuật sinh hoạt hôn nhân được xác định là một thứ hình thức song trùng,có giá trị phổ biến và đặc biệt  trong quan hệ cường độ và sức  lực.
 
a-       Quan hệ song trùng  ( tay đôi).   
 
Musonius Rufus tùng nói: Nếu có vật gì phù hợp với thiên nhiên nhất thì đó chính là sự hôn phối.Và để giải thích cho bài diễn văn nói về hôn nhân là điều cần thiết nhất, Hierocles nhấn mạnh rằng : chính thiên nhiên  mang đến cho con người thể thức cộng đồng của vợ chồng.
Những nguyên tắc ấy chỉ là kế thừa một thứ giáo huấn hoàn toàn từ truyền thống. Tính thiên nhiên của hôn nhân theo các trường phái triết học, đặc biệt là phái khuyển nho (cynique) từng tranh cải là một loạt những nguyên nhân cơ sở : sự giao hợp  tính dục giữa nam nữ là cần thiết để sinh sản; vì sự giáo dục để bảo vệ hậu đại cần đến mối quan hệ liên tục và ổn định, Trong sự giao hợp tính dục, sự sinh hoạt giữa nam và nữ phải mang lại tính phục vụ và nghĩa vụ đồng thời phải giúp đở thư thả, sự tổng hòa khoái lạc, cuối cùng là yếu tố cơ bản cấu tạo gia đình thành cộng đồng đô thị. Cái tác dụng đầu tiên là sự kết hợp nam nữ cũng giống như tất cả nguyên tắc kết hợp của động vật; có khác chăng là sự kết hợp của nam nữ mang đặc tính đại biểu thông thường là phương thức sinh tồn của con người có lý tính.
 
Cái chủ đề cổ điển  đối với hôn nhân là tính thiên nhiên, vì tự nó góp phần vào hai chức năng  là sinh sản và cộng đồng sống chung . Vào thời đại đế quốc chủ nghĩa  Stoiciens là kẻ kế thừa đồng thời họ cũng  biến đổi ý nghĩa của nó. Trước tiên là Musonius, chúng ta có thể phát hiện trong sự trình bày của ông ta có một sự biến hóa, tức là từ mục tiêu “ sinh dục’ chuyển ra thành mục đích “tập thể’. Theo luận cứ của ông trong tác phẩm “luận về mục đích của hôn nhân”, có một đoạn thuyết minh về điểm ấy. Nó mở ra tính song trùng của mục đích hôn nhân : tức là đạt được  tính kế tục hậu đại và cộng đồng sinh hoạt. Tuy  nhiên Musonius lập tức bổ sung  bằng cách nói rằng sinh dục có thể là một sự kiện vô cùng quan trọng , nhưng tự nó không sao chứng minh được tính chính đáng của hôn nhân.Theo đề xuất thông thường, phái khuyển nho phản đối, họ đưa ra ý kiến : nếu con người chỉ chú trọng đến vấn đề hậu đại tức sinh dục, như thế là họ hoàn toàn  hành động như  loài động vật: giao hợp xong là chia lìa ( s’unir et aussitôt se séparer). Con người không làm như vậy là vì điểm chủ yếu mục đích của nó là tính cộng đồng: Một kẻ sống theo cộng đồng là trong đó có sự quan tâm chiếu cố đến nhau, biết chăm sóc và thương yêu nhau. Có thể so sánh như hai con ngựa cùng kéo một chiếc xe, nếu con nào cũng chỉ chú ý đến riêng phần của nó thì chiếc xe không bao giờ tiến lên được. Nếu nói như Musonius, lấy việc sinh con đẻ cái làm mục tiêu liên hệ giúp đở viện trợ, như thế thì thật không chính xác. Nhưng những mục tiêu ấy phải nạp nhập vào trong phương thức của nếp sống cộng đồng. Sự ân cần săn sóc chứng tỏ mối quan tâm hổ tương và sự nuôi dưỡng cho hậu đại cộng đồng là hai mặt của một phương thức cơ bản. Musonius từng chỉ ra trong một đoạn trình bày, đó là một phương thức kết hợp khá tự nhiên trong mỗi cá thể. Trong luận văn nói về “sự chướng ngại của triết học” là vấn đề hôn nhân, gợi ra đề xuất sự phân biệt  tối sơ giữa nam và nữ, ông ta lại tự nêu ra một sự thật là sau khi phân cách hai giới tính nam nữ, Thượng Đế lại nghĩ cách cho chúng tiếp cận với nhau, Musonius ghi thêm, một khi chúng đã tiếp cận với nhau, trong mỗi cá nhân của chúng  lại du nhập vào một thứ dục vọng mãnh liệt, một thứ chỉ nghĩ đến ý muốn giao hợp (homilia)và gắn bó (koinonia).
 
Thuật ngữ “Homilia” là chỉ cho sự liên hệ thuộc tính dục, còn thuật ngữ “Koinonia” là chỉ cho thể thức sinh hoạt cộng đồng . Vậy phải hiểu rằng  trong bản thể con  người vốn có một thứ căn bản  nguyên sơ là dục vọng, và thứ dục vọng này đưa đến ham muốn tiếp xúc nhục thể, tạo thành sự cộng hưởng  sinh hoạt. đó là luận điểm có kết quả song trùng  (nước đôi) như sau: một thứ dục vọng cực đoan mãnh kiệt, không chỉ qui định sự  vận động giao hợp của lưỡng tính, mà còn qui định sự sinh hoạt cộng hưởng. Và ngược lại, mối liên hệ của tính dục thông qua sự hứng thú của tâm hồn, tình cảm, và tính cộng đồng  giữa hai cá thể nam nữ liên kết lại thành mối quan hệ đồng nhất lý tính. Chính là một thứ đồng nhất  thiên nhiên có khuynh hướng  đồng đẳng về cường độ và tương đồng về lý tính tạo thành sự kết hợp nhục thể và ngẫu hợp tính sinh tồn. Do đó đối với Musonius, hôn nhân không có đủ căn cơ vì nó có thể có giao điểm  nghĩa của hai khuynh hướng  khác nhau, một là thể xác và tính dục, hai là lý trí và xã hội. Hôn nhân bén rể ăn sâu trực tiếp vào khuynh  hướng  duy nhất và nguyên thủy  như là mục đích cốt yếu, và xuyên qua nó mà hướng đến hai kết quả nội tại: sản sinh ra hậu đại cộng đồng và thể sinh hoạt cộng đồng. chúng ta hiểu rõ điều Musonius nói ra là không có ước ao nào vượt qua được việc hôn nhân. Tính thiên nhiên của hôn nhân không phải xuất phát từ bản chất thực tiển mà rút ra được cái kết quả có một không hai, mà là từ khởi thủy, việc hôn nhân đã tạo thành mục tiêu lý tưởng  của khuynh hướng  khi mới ra đời.
 
Cũng cùng một khuynh hướng tương tợ Hierocles cho rằng việc hôn nhân là bản tính thứ hai của con  người. Theo ông ta , con người là  thứ động vật mang tính ngẫu hợp (conjugaux – sunduastikoi). Và Platon trong chương Pháp luật cũng đề cập đến sự phân biệt, theo ông liệt kê một số động vật bảo trì sự trinh tiết, trong khi chúng sống thành bầy đoàn, chỉ đến thời tiết của tình yêu, chúng mới thành đôi, thành  ngẫu hợp. Giống như vậy Aristote trong tác phẩm “ chính trị học” cũng đưa ra tính đặc trưng của sự ngẫu hợp con người, biểu hiện mối quan hệ giữa chủ nô và vợ chồng. Hierocles sử dụng cái quan niệm của những  mục đích khác nhau, ông cho rằng đó là quan niệm chỉ liên hệ đến vấn đề phối ngẫu, cái căn cứ về sau và cơ sở của tính thiên nhiên đều là sự kiện ở trước. Theo quan điểm của ông , bản tính con  người là cơ cấu nhị nguyên,, nó sinh ra để sống thành đôi, trong mối liên hệ vừa mang lại sự hậu đại vừa có thể chung sống với bạn tình. Đối với Hierocles cũng như Musonius, thiên nhiên không hẳn thích thú đặt để vấn đề hôn nhân, thông qua cái khuynh hướng nguyên thủy, nó kích thích cá nhân kết hôn, nó kích thích cá nhân cũng  giống thôi thúc các vị minh triết. Đại thiên nhiên và  lý trí kết hợp với nhau trong cuộc vận động hướng đến hôn nhân; nhưng cần phải chú ý, Hierocles đối với sự phối hợp tính dục và sinh hoạt tập thể không có gì chống đối nhau, giống như chúng là hai sự thể không tương dung nhau. Con người được tạo ra là để sống thành đôi và đa dạng. Đồng thời  vừa sống trong sự phối ngẫu, vừa sống chung trong  xã hội; mối quan hệ  song phương  và quan hệ đa nguyên gắn kết với nhau. Hierocles giải thích, một đô thị được thành hình là do những yếu tố nhà cửa  gia đình dựng nên, nhưng trong mỗi gia đình là do vợ chồng tạo nên. Do đó chúng ta phải thấy rằng trong suốt quá trình sinh tồn của con người cùng với các phương diện phát hiện của nhị nguyên tính phối ngẫu trong cơ cấu nguyên sơ do thiên nhiên cung cấp cho con người; trong nghĩa vụ mà con người phải đảm nhận là kẻ sáng tạo ra lý trí, và trong phương thức sinh hoạt xã hội, con  người phải tham dự vào mối liên hệ cộng đồng. Kể như động vật, sống bằng  lý tính và xuyên qua lý tính cá thể kết hợp cùng với loài người. con người dù sao đi nữa vẫn tồn tại trong sự ngẫu hợp của đôi lứa.
 
b/ Mối quan hệ phổ biến.
 
Đã lâu rồi, trong sự phản tỉnh có liên hệ đến phương thức sống; vấn đề cần biết là có nên kết hôn hay không , một đối tượng cần thảo luận. Lợi hay hại trong hôn nhân, có một người vợ hợp pháp và tự trang bị nhờ ở nàng  mà có kế thừa hậu đại, nhưng phải nuôi dưỡng vợ, giám hộ con cái, đáp ứng  thỏa mãn cho chúng  mọi nhu cầu, có khi phải lo lắng và khổ sở vì bệnh tật hay tử vong của chúng , đó là chủ đề tranh luận, đôi khi nghiêm túc, đôi khi buồn cười mà luôn luôn lặp đi lặp lại không thôi. Trong thời xưa, những tiếng vang  vừa kể kéo dài rất lâu. Epitete và Clement d’Alexandre, tác giả sách “ tình yêu” với sự đóng góp của Pseudo-Lucien hay Libanios trong khảo luận “nếu kết hôn” (Ei gameteon) đều tham khảo các cuộc tranh luận hàng bao thế kỷ vẫn không tìm ra lối mới. Những người theo phái Epicure  và khuyển nho đều phản đối vấn đề hôn nhân; thế nhưng người theo chủ nghĩa Stoicisme thì ngay từ ban sơ lại tán đồng việc hôn nhân. Tóm lại luận đề nên kết hôn của chủ nghĩa Stoicisme thường là phổ biến, và đặc điểm của nó là vấn đề đạo đức xã hội và cá nhân. Nhưng cái tạo nên tính quan trọng của phái stoicisme là quan điểm lịch sử đạo đức; nó không phải là việc lợi hay hại trong hôn nhân, mà đơn giản là biện minh tự kỷ  yêu thích hôn nhân hơn. Đối với Musonius, Epitete hay Hierocles, kết hôn không thuộc vào phạm trù tốt nhất, mà là một thứ nghĩa vụ. Quan hệ hôn nhân là qui luật phổ biến. Cái nguyên tắc chung nầy là dựa vào hai hình thức phản tỉnh. Đối với phái Stoicisme, chức trách trước tiên của việc kết hôn là kết quả trực tiếp của nguyên tắc, tức hôn nhân là niềm hy vọng  mong mỏi của  đại thiên nhiên mà cũng là sự tồn tại của con người đưa đến một thứ cộng đồng vừa  mang tính xung động  của thiên nhiên và lý tính hướng đến hôn nhân. Nhưng nhất đán con người được chấp nhận là một thành viên của một thể cộng đồng  và là một phần của nhân loại. với cái chức trách tạo nên một thành  phần dược bao hàm là sự tồn tại của con người không thể bị tước đoạt các thứ sứ mệnh và toàn thể nghĩa vụ. Hôn nhân là sự  sinh tồn của cá thể là một trong những nghĩa vụ có giá trị phổ biến. Cuộc thảo luận của Epitete với một vị Epicurien chứng tỏ rõ ràng  hôn nhân được coi như là nghĩa vụ phổ biến cho tất cả, có tác dụng cho con  người muốn sống thích hợp với thiên nhiên. Trong quyển sách thứ 3  chương 7 phài Epicurien phê bác chủ nghĩa Erpitete, vốn là một danh nhân, ông ta đảm nhiệm nhiều chức vụ, một thành viên kiểm tra những đô thị; nhưng vì trung thực với những nguyên tắc triết học, ông cự tuyệt hôn nhân. Đối với việc đó Epicure đưa ra ba luận cứ để phản bác:
 
Điểm thứ nhất là dựa vào  liên quan lợi ích trực tiếp và tính chất bất khả năng từ bỏ sự phổ biến của hôn nhân : nếu mỗi cá nhân từ bỏ hôn nhân thì  sẽ sinh ra kết quả như thế nào? Công dân làm sao có được? Ai là người nuôi dưỡng chúng ? Lấy ai săn sóc bọn trai tráng? Ai đảm đương việc thể thao đây ? Còn  nữa làm sao giáo dục chúng đây?
 
Điểm thứ hai liên quan đến nghĩa vụ xã hội không ai có thể tước đoạt được, và chính việc hôn nhân tham dự  bên cạnh những nghĩa vụ đó nó thuộc về đời sống chính trị, tín ngưỡng và gia đình, hoàn thành vai trò của công dân là kết hôn sinh con cái, thờ phụng Thương Đế, săn sóc nuôi dưỡng cha mẹ.
 
Điểm thứ ba liến quan đến lý tính cần phải tuân theo hành vi của tính thiên nhiên; để kích thích sự nhiệt tình, để khiến cho hành vi chúng ta hợp với thiên nhiên, khoái lạc phải lệ thuộc vào nghĩa vụ giống như một vị đại thần, một kẻ tôi đòi. Do đó có thể thấy nguyên tắc phải có của hôn nhân là gắn liền với trò chơi lợi hay hại của  quyền hành hôn nhân. Nó đòi hỏi mọi người  chọn lựa phương thức sinh hoạt phổ biến  vì điều đó hợp với thiên nhiên, và sự lợi ích của mọi người. Hôn nhân tự thân nối kết con người lại với nhau. Với tư cách nó là  một bộ phận của loài người  tồn tại trong thiên nhiên. Epitete  từng nói điều đó với người đối thoại là vị theo chủ nghĩa Epicure vào lúc cho ông này nghỉ việc: đừng có làm cái điều mà Zeus qui định, nhà ngươi sẽ bị khốn khổ và tổn hại.
- Tổn hại cái gì ?
- Tổn hại vì không thực hiện được nghĩa vụ của ngươi tạo nên. Ngươi tự phá hoại sự trung thực của ngươi,  sự cao thượng và tiết chế, không có gì tổn hại quan trọng hơn sự tổn hại đó.
 
Tuy nhiên việc hôn nhân giống như tất cả các hành vi mà phái Stoiciens đặt để cho là sự tính cao quý nhất. Nó có thể tạo ra những tình huống không hề có sự cưỡng chế, chính là điều như Hierocles đã nói: “ Kết hôn là điều thích nhất (proegoumenon); với chúng ta đó là một mệnh lệnh mà không có một tình huống nào ngược lại. Chính trong mối liên hệ giữa nghĩa vụ kết hôn và tình huống thực tế mà có quan điểm khác biệt giữa  phái Stoiciens và phái Epicuriens. Với phái  Epicure, không có ai đòi hỏi  phải kết hôn, ngoại trừ hoàn cảnh cho rằng phương thức đôi lứa là lý tưởng ; còn đối với phái Stoiciens, chỉ có trường hợp đặc biệt mới có thể ngưng lại các chức trách mà một trong nguyên tắc con người không thể  bị tước đoạt.
 
Trong những tình huống đó có một tình huống  trở thành đối tượng  cho sự thảo luận khá lâu tức là sự lựa chọn của triết học sinh tồn. Từ thời cổ điển, vấn đề hôn nhân đối với triết gia thành chủ đề tranh luận có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân. Cái phương thức  sinh hoạt cùng sự sinh tồn của nó mang tính chất khác nhau, hay là mục tiêu của triết học gia- chú ý đến tâm linh chính mình không chế sự kích thích, truy tầm sự bình lặng  cho tinh thần, và những miêu tả truyền thống  về sự lo âu bối rối trong sinh hoạt hôn nhân không dung hợp lẫn nhau.  Đơn giản dường như rất khó khăn trong việc muốn điều hòa cái phong cách đặc biệt với nhu cầu của chức trách hôn nhân trong sinh hoạt triết học xem ra không  phải dễ. Tuy nhiên có hai văn bản quan trọng biểu hiện một phương thức hoàn toàn khác hẳn không chỉ cần giải quyết sự khó khăn mà còn đề xuất ngay những dữ kiện của vấn đề. Trong đó Musonius là tác giả xưa nhất, ông trở về với vấn đề thực tiển xung khắc giữa sinh hoạt hôn nhân và triết học sinh tồn; cuối cùng ông khẳng định bằng sự liên hệ thuộc cơ bản giữa hai loại sinh hoạt. Ông bảo rằng: ai muốn trở thành triết học gia thì phải kết hôn. Phải làm như vậy vì tác dụng đầu tiên của triết học là giúp cho con người sống phù hợp với thiên nhiên, hoàn thành tất cả nghĩa vụ mà thiên nhiên ban cho. Ông cho rằng , người phù hợp với thiên nhiên, thích nghi tất cả là đạo sư của cuộc sống . Nhưng nó phải như vậy, vì tác dụng của triết học gia không chỉ đơn giản sống theo  lý tính , mà còn phải là đạo sư dắt dẫn cuộc sống những kẻ khác đầy lý tính. Triết học gia không thể thuộc bậc thấp hơn những người do mình chỉ dạy. Nếu không chịu kết hôn, như thế chứng tỏ ông ta thấp hơn tất cả những người tuân theo lý trí và thiên nhiên, quan tâm đến chính mình và kẻ khác, thực hiện cuộc sống hôn nhân. Những người nầy không có chút gì xung khắc với triết gia, đối với triết học mà nói, nó còn tạo ra một thứ chức trách gấp đôi, đối với tự ngã có nhiệm vụ đem lại cho sự sinh tồn một hình thức phổ biến hữu hiệu, đối với kẻ khác là sự cần thiết cung cấp cho một mô thức sinh hoạt, chúng ta có thể thử đối chiếu sự phân tích nầy với đề xuất của Epitete, khi ông ta tạo ra cái chân dung lý tưởng của phái khuyển nho, tức chuyên môn theo triết học nghiên cứu con người phải là nhà giáo dục công cộng, nhà tuyên giáo chân lý, và là tín sứ của  Zeus sau khi đến nhân gian, tiến lên khán đài chất vấn con người và phê  phán phương thức sinh hoạt của họ. Thứ người nầy không hề có quần  áo, chỗ ở, gia đình, không có cả nô bộc và tổ quốc, không có tài sản. Họ càng không có vợ con. Chỉ có trời đất và một cái áo khoát cũ kỹ. Đối với hôn nhân cùng sự tệ hại của nó, Epitete dựng lên một biểu đồ quen thuộc.Trong cái nhiệt tình của dung tục, nó phù hợp với điều người ta nói đến từ lâu là những ưu tư về gia vụ, nó làm nhiễu loạn tâm hồn, và quay cuồng suy tư; kết hôn rồi, người ta sẽ bị nghĩa vụ riêng tư áp chế, phải lo chuyện cơm nước, đưa con cái đến trường. giúp cha vợ công việc, lo mua sắm laine, dầu mở, giừơng màn và chén bát. Nhìn qua một lần đủ thấy một dảy dài nghĩa vụ, chồng chất đầy trong lòng triết gia cản trở đến những bận tâm của bản thân. Nhưng Epitete cho rằng, lý tưởng của phái khuyển nho tất phải từ bỏ những lý do của hôn nhân. Không phải chỉ quan tâm đến ý chí của bản thân, mà chính là ngược lại, bởi vì sứ mệnh của họ là phải chăm sóc đến con người, lo lắng đến họ, thực hiện vai trò đạo sư; vì họ giống như tư cách của thầy thuốc, phải ra ngoài khám xét, chẩn đoán mọi người,, phải duy trì những gánh nặng gia đình ( nếu gia đình bị suy sụp như Epitete mô tả) thì họ cũng không được lãng quên sứ mệnh chăm lo cho mọi người. Họ khước từ tất những mối liên hệ riêng tư, nhưng đó là kết quả do họ tạo ra với tính cách là triết học với hệ con người; họ không có gia đình vì gia đình của họ là nhân loại, họ không có con cái, vì họ coi phương cách nuôi dưỡng dạy bảo toàn bộ là con cái. Vậy chúng ta  phải hiểu rằng : chính vì chức trách của gia đình phổ quát nó khiến cho  phái khuyển nho phải hy sinh  nghĩa vụ gia đình cá biệt.
 
Nhưng Epitete  không chịu ngưng lại ở đó, ông cấp cho tính  không tương dung  đó  một sự hạn chế, tức đối với tình cảnh hiện tiền của thế giới hiện thực, ông gọi là “cảnh huống” (cantastase )hạn chế. Nếu thực tế, chúng ta thấy trong đô thị có những bậc minh triết, họ là những vị do chư thần  phái đến, vất bỏ tất cả những vướng víu của tự kỹ mà tự vực lên để đánh thức những kẻ khác quay về chân lý, mọi người đều là triết nhân, thì chủ nghĩa khuyển nho cùng với sự nghiệp gian khổ của họ đều trở nên vô ích. Mặt khác nữa, trong cái tình huống như sau, hôn nhân không đặt ra những thứ khó khăn như ngày nay, mỗi vị triết học gia đều có thể tìm thấy trong bà vợ, ông cha vợ, những con cái đều là những người được nuôi dưỡng  dạy dỗ giống hệt như ông ta. Mối liên hệ phối ngẫu sẽ đặt cho ông ta hiện diện cùng với  một người khác. Do đó cần phải khảo sát về sự chối bỏ hôn nhân của một triết gia chiến đấu trên căn bản không nên khiển trách ông ta. Nó chỉ là nhu cầu của hoàn cảnh. Nếu tất cả mọi người đều có thể hướng đến sự sinh hoạt phù hợp với bản tính thì sự sống độc thân của triết gia sẽ không tồn tại nữa.
 
c.- Sự liên hệ đặc biệt .
 
Những  triết học gia trong thời đại đế quốc La Mã hiển nhiên là không có bày ra  mức độ tình cảm liên hệ đến sự phối ngẫu; tất cả dường như họ không có tiêu diệt cái phần hữu dụng trong đời sống cá nhân, gia đình hay công dân. Nhưng đối với các mối liên hệ, cùng phương thức  thiết lập mối liên hệ vợ chồng, họ đòi hỏi phải cấp cho một hình thức với những  phẩm tính đặc biệt.
 
Aristote ban cho mối liên hệ vợ chồng  nhiều tính chất quan trọng với sức lực. Nhưng đến khi ông phân tích mối liên hệ luyến ái giữa con người  với con  người, thì dường như chính mối liên hệ huyết thống  mới có được đặc ân đặc quyền. Theo ông so với mối liên hệ huyết thống giữa cha mẹ với con cái không có liên hệ nào mạnh hơn; xuyên qua mối liên hệ hệ thống  con cái có thể nhận thức mình là một bộ phận của cha mẹ. trong tác phẩm “ hôn nhân làm trở ngại cho triết học” Musonius đề xuất những cấp bậc khác nhau. Trong việc thiết lập  những thể cộng đồng cho con người, Musonius cho rằng thể cộng đồng hôn nhân là cao nhất, quan trọng nhất và đáng tôn sùng nhất. Bằng vào sức mạnh biểu minh tính ưu việt  của nó có thể kết hợp bạn bè với bạn bè, anh em với anh em, cha mẹ với con cái thành một thể cộng đồng. tính ưu việt của nó thậm chí còn đem quan hệ của cha mẹ liên kết với con cái của họ là điểm then chốt. Musonius từng viết : không có một người cha,  người mẹ nào đối với tình yêu  thương con cái của họ vượt qua tình yêu với người phối ngẫu của họ; và ông dẫn ra thí dụ của Admete. Ai có thể vì nó mà hi sinh?
 
Không phải là cha mẹ già của nó mà là vì người vợ Alceste đang thời thanh xuân. Như thế mới thấy mối liên hệ phối ngẫu là căn bản nhất, mật thiết nhất, nó xác định luôn phương thức sinh tồn. Đặc điểm của sinh hoạt hôn  nhân một mặt là phương thức bổ sung  phân phồi các thứ nhiệm vụ với hành vi người chồng thực hiện những  điều mà người vợ không làm được; và bên cạnh người vợ thực hiện những công việc mà không thuộc thẩm quyền của đàn ông. chính đó là mục tiêu cộng  đồng  - gia đình thịnh vượng . là xuyên qua phuơng thức sinh hoạt thống nhất, và những hoạt động khác nhau. Đối với sự điều chỉnh vai trò đặc biệt không làm biến mất những giới luật sinh hoạt mà người ta có thể cung cấp cho những người đã thành hôn. Hierocles trong tác phẩm Economique từng tham khảo những chuẩn tắc giống như người ta thấy nơi Xenophon. Nhưng sau hành vi phân phối gia sản, nhà cửa, của cải, rõ ràng chỉ còn tồn tại một thứ hưởng thụ sinh hoạt và đòi hỏi cộng đồng sinh tồn. Nghệ thuật hôn nhân đối với vợ chồng không phải đơn giản là  phương thức hành vi lý tính, mà mỗi bên đều cùng nhắm đến một cứu cánh mà cả hai cùng ý thức và nơi đó chúng kết hợp với nhau: đó là phương thức sinh hoạt song đôi mà như một. Hôn nhân đòi hỏi một phong cách ở đó chồng và vợ đều kết hợp sự sinh hoạt hai mà một tạo thành một cộng đồng  Phong cách sinh tồn ấy trước tiên là tiêu chí nghệ thuật  của một thứ sinh hoạt cộng đồng. Nam nhân phải là kẻ xa nhà mưu sinh trong khi nữ nhân là vợ  phải ở nhà bảo vệ gia đình. Nhưng một cặp vợ chồng hoàn hảo đều mơ tưởng đến sự đoàn tụ, càng ít chia ly càng tốt. Sự hiện diện của đối phương, mặt nhìn mặt và sinh hoạt chung  không phải đơn giản là nghĩa vụ, mà còn là niềm khát khao đặc tính của sự  liên hệ lứa đôi. Mỗi người trong họ  đều có thể có vai trò tác dụng riêng tư; tuy nhiên họ không  thể quên nhau. Musonius nhấn mạnh rằng  trong cuộc hôn nhân tốt đẹp thì vợ chồng tự thể hội được sự bảo toàn hạnh phúc cho nhau. Đến nỗi họ coi sự phân ly khó khăn như tiêu chuẩn đặc biệt của tình yêu. Ông còn nói rằng, không có cuộc chia ly nào khốn đốn bằng cuộc chia ly giữa vợ với chồng hay chồng với vợ.. Không có một sự hiện diện nào có sức lực làm giảm bớt nỗi đau buồn, tăng thêm niềm vui và chia xẻ được sự bất hạnh của sự chia ly. Sự hiện diện của đối phương là hạch tâm của sinh hoạt hôn nhân. Chúng ta hãy nhớ lại Pline mô tả khi bà vợ ông vắng mặt, ông đi tìm mãi cả ngày đêm mà không được, đành phải tưởng tượng lại khuôn mặt của bà ta để cảm thấy như vẫn có bà ấy ở bên cạnh. Nghệ thuật sống chung cũng là nghệ thuật nói năng, trong tác phẩm Gia chính học Xenophon miêu tả mẫu nực giao lưu giữa một đôi vợ chồng : người chồng cần phải biết lãnh đạo, cần phải đề xuất những kiến nghị, truyền thụ những kinh  nghiệm và chỉ đạo người vợ quản lý tốt công việc nhà; trong khi người vợ nên hỏi han chồng  việc gì nàng không biết, và tìm biết điều gì nàng có thể đảm đương được. Khá lâu về sau mới có một số văn bản xuất hiện đưa ra những phương thức đối thoại của hai vợ chồng, mục đich lại khác nhau. Theo Hierocles, người này nên bảo cho người kia biết những công việc mình đã làm. Người vợ cần phải kể lể hết những gì đã xảy ra ở trong nhà, nhưng nàng cũng nên hỏi chồng những gì đã xảy ra ở bên ngoài. Pline rất thích là Calpurnia muốn biết những gì ông ta đã hoạt động ở bên  ngoài, khuyến khích ông ta, và cao hứng vui vẻ khi biết ông ta thành công , đó là trong tập tục truyền thống  khá lâu đời trong đại gia đình La Mã thời xưa. Nhưng thường là ông ta  kết hợp trực tiếp với công việc của ông ta và ngược lại, bà lại có khuynh hướng  thưởng lãm thuần văn học và xuyên qua  tình cảm êm dịu ngọt ngào nơi người chồng. ông thường  đem bà biến thành nhân chứng  bình phẩm những sáng tác văn học của mình; bà  đọc tác phẩm của chồng, nghe những diễn từ rất thích thú thu nhận những lời ca tụng Do đó sự ái mộ lẫn nhau là điều mà Plin  hằng mong mỏi, trở nên vĩnh hằng và càng ngày càng  thêm gắn bó.
 
Từ đó ý niệm về cuộc sống  hôn  nhân tạo thành một nghệ thuật thống nhất thể mới giữa hai người. Người người đều nhớ đến tại sao Xenophon lại phân định đặc tính khác biệt mà thiên nhiên chia ra nam nữ; nhưng lại khiến cho cả hai cùng có trách nhiệm chung  trong một gia đình. Hay như Aristote ban cho nam nhân cái khả năng phải truy cập sự hoàn thiện trong khi lại dành cho nữ giới vai trò thấp hơn là duy trì mỹ đức và phục tòng. Sự trái ngược của hai phái, nói như phái Stoicisme không chịu cho hai phái khả năng tương đồng, như thế ít nhất là có  sự tương đồng về năng lực mỹ đức. Theo Musonius, cuôc hôn nhân hoàn mỹ là sự hòa hài “homonoia”, nhưng đừng có hiểu rằng ở đó chỉ có sự đồng nhất về tư tưởng giữa hai vợ chồng , mà đúng hơn là sự đồng nhất trong phương thức lý tính, trong thái độ luân lý và mỹ đức. Đó là trong sinh hoạt hôn nhân vợ chồng nên xác lập một thể thống nhất luân lý chân chính. Musonius miêu tả thể thống nhất ấy là trong một kết quả phối hợp hai sự vật trong một cơ cấu. Để cho toàn cơ cấu vững chắc thì cả hai cần phải thật ngay thẳng . Nhưng để xác định  thực thể đặc tính thống nhất tạo cho lứa đôi thì có lúc người ta phải cầu cứu đến một thứ ẩn dụ cực  mạnh. Đó tức là ẩn dụ dung hợp hoàn toàn , di’holon krasis đó là cái khái niệm vật lý học của phái Stoicienne. Khảo luận của Antipater đã mượn mô thức vừa kể để khu phân tình yêu vợ chồng khác với tình bạn bè. Nó miêu tả tình bạn bè  như là  sự hổ tương  kết hợp mà những yếu tố vẫn độc lập, giống như trộn lộn  những hạt lại với nhau, nhưng rồi lại có thể tách ra.. Từ hổn hợp “ mixis” là để chỉ sự hòa lẫn, kề lẫn bên nhau. Ngược lại hôn nhân là sử dụng  dung hợp hoàn toàn giống như nước với rượu pha lẫn vảo nhau thành một dung dịch mới khác. Quan niệm dung hợp (crase) hôn nhân đề ra trong điều 34 của sách“giới luật vợ chồng”(Preceptes conjugaux) của Plutarque, nó đựợc dùng để chia ra ba hình thức hôn nhân, minh định cấp bậc cao thấp khác nhau. Có  những cuộc hôn nhân được thu gọn trong khoái lạc chăn chiếu nhất thời : chúng thuộc vào phạm trù hổn hợp, mà trong đó có các thành  phần hổ tương trùng điệp mà vẫn giữ cá tính độc lập. Có những cuộc hôn nhân được suy tính vì lợi ích, nó được kết  hợp bằng những yếu tố tạo nên một sự đồng nhất mới và vững chắc; nhưng luôn luôn có thể phân tán mỗi người một ngã, giống như một cơ cấu thiết lập bằng những  bộ phận rời. Còn sự dung hợp hoàn toàn là dung hợp bảo toàn một thứ thống nhất thể mới mẻ, không có cái gí có thể gây ra phân tán - đó là cuộc hôn nhân của tình yêu do mối liên hệ tình yêu của đôi bên tạo nên.
 
Những văn bản ấy chỉ có thể xuất hiện vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên, là hôn nhân thực tiển và lý luận tranh luận khái quát của nó. chúng ta phải xuyên qua các bộ phận thảo luận của nhũng học thuyết ấy và những hoàn cảnh đặc thù hạn chế của xã hội, mới hiểu được, Nhưng trong sự phát hiện của chúng ta, nó chỉ là những manh múm, những phác họa, mô thức mạnh mẽ về sinh hoạt vợ chồng . Trong mô thức ấy nhìn lại mối liên hệ với người khác trên căn bản nhất không phải là liên hệ về máu huyết, cũng không phải là tình thương  mến bạn bè mà là hình thức của thể chế hôn nhân nam nữ, và là mối liên hệ kết  hợp hổ tương  sinh hoạt cộng đồng của cơ sở hôn nhân. Hệ thống gia đình hay là mạng lưới bạn bè thân ái, dĩ nhiên cũng giữ một vai trò quan trọng  trong xã hội; nhưng trong nghệ thuật sinh tồn, so với mối liên hệ giới tính  khác nhau của hai  người gắn chặt vào nhau, nó không sao bì kịp. Một đặc quyền thiên nhiên vừa mang tính cách luân lý vừa  là bản thể học ban cho mối liên hệ song trùng  khác tính và dị tính  tùy thuộc vào đó tất cả. Căn cứ vào những điều kiện vừa nêu. chúng ta không chỉ lý giải một trong những đặc trưng  đặc biệt trong  nghệ thuật hôn nhân; đó là sự chú ý đến tự ngã và quan tâm đến sự liên hệ mật thiết mối sinh hoạt của hai người. Nếu mối liên hệ của phụ nữ với tư cách là người vợ, người chồng  đối với sự sinh tồn rất là quan trọng ; nếu sự tồn tại của người là một thứ vợ chồng cá thể mà thiên  nhiên tự hòan thành trong cuộc đời thực tiển phân ly; như thế sự liên hệ tự ngã với tha nhân ở trong khoản đó không thể tồn tại bản chất với sự hòa hài nguyên sơ. Nghệ thuật hôn nhân hoàn toàn thuộc vào sự giáo hóa tự ngã . Nhưng mối bận tâm của con người không phải chỉ  sự hôn nhân, nó chỉ dành cho sự sinh hoạt hôn nhân một hình thức phản tư và một phong cách đặc biệt. Phong cách ấy đòi hỏi phải cực kỳ tiết chế, không phải chỉ là sự khống chế tự ngã để có thể chỉ huy kẻ khác, mà chính là phải lập ra nguyên tắc quản lý tốt tự ngã, mà còn do sự xác lập phương thức có tính hổ tương , trong mối liên hệ vợ chồng, nó đánh dấu lực tồn tại của mỗi bên. Sự liên kết, với tính cách người bạn tình đặc biệt, được cư xử như một hữu thể đồng nhất với tự ngã và như là một nhân tố cấu tạo thành một thực thể thống nhất, Đó là tính nghịch lý trong luận đề hôn nhân là phải tự ngã giáo hóa. Đó là điểm toàn bộ triết học xiển minh phát triển ; vợ đối với chổng ở đây đặc biệt được suy sùng như một người khác, nhưng người chồng cũng phải biết  và nhân đó là sự hình thành với tự ngã là một thể. Do đó hình thức mối liên hệ truyền thống hôn nhân đã trải qua sự thay đổi rất lớn.
Vấn đề độc chiếm
Chúng ta có thể đóan rằng bản  khảo luận về mối liên hệ sinh hoạt hôn nhân đưa ra một vai trò quan trọng về cơ chế liên hệ tính dục thiết lập giữa hai vợ chồng. Thật vậy, việc bảo lưu vị thứ liên hệ tính dục tương đối bị giới hạn : dường như trước đó mối liên hệ hôn nhân đã được xác định rồi, và xa hơn nữa, quan hệ tính dục xuất phát từ trong mối liên hệ hôn nhân, tất cả qui phạm đối với sự sinh hoạt của hai người vẫn còn nằm trong bóng tối của vấn đề chăn gối vợ chồng.
 
Tất nhiên sự thận trọng là truyền thống, Platon đối với sự việc hôn nhân là qui định ra pháp luật, xác định  phải chú ý hướng đến việc nuôi dưỡng tốt con trẻ, qui định trạng thái vật chất và tinh thần những bậc làm cha mẹ tương lai, thiết lập ngay cơ quan kiểm tra về cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ, nhấn mạnh đến sự khó khăn để con người tiếp nhận khả năng lập pháp đối với mọi sự kiện.. Bắt đầu từ thời Trung cổ, tính thận trọng của Hi Lạp khác với qui tắc bảo vệ tỉ mỉ rao giảng của các vị giám mục Thiên chúa giáo: người ta phải tuân thủ phù hợp tất cả những qui tắc, tư thế, cử chỉ, trạng thái tinh thấn của mỗi người trong những lần tiếp xúc v..v..Người này phải hiểu ý đồ người kia, dấu hiệu biểu thị dục vọng của bên này, bên kia tiếp nhận được,v…v…Đối với những  sự tình ấy luân lý đạo đức của Hi Lạp cũng như La Mã ít đề cập đến. Nhưng những nguyên tắc quan trọng  liên hệ đến  sinh hoạt hôn nhân cùng sự hưởng lạc lại được trình bày đầy đủ trong các văn bản.
 
Theo truyền thống, người ta thấy rõ mối liên hệ giữa hoạt động tính dục và hôn nhân được thiết lập căn cứ vào chức năng tất yếu của sự dưỡng dục hậu đại. Cứu cánh sanh sản là một trong những lý do của việc kết hôn, chính vì nó mà tạo ra sự cần thiết về liên hệ tính dục trong hôn nhân. Nếu không sinh sản thì cuộc hôn nhân có khả năng giải thể; để có những điều kiện tốt cho việc sinh đẻ, người ta phải đặt để cho các vi thành hôn những kiền nghị, làm thế nào để hoàn thành mỹ mãn hành vi tính dục, ( như phải chọn thời cơ thích đáng, nên bồi dưỡng chu đáo trước khi giao hợp). Cũng như để tránh  những tai họa, cho sự hậu đại phi  pháp, người ta phản đối sự liên hệ ngoại hôn,(không chỉ đối với đàn bà mà cả với đàn ông). Một cách đại thể trong các văn bản cổ điển, tổng hợp mối quan hệ  hôn nhân cùng quan hệ tính dục chủ yếu là chỉ nhắm vào sự sanh sản ( ít nhất là đối với nam nhân). Bản tính của sự hoạt động tính dục, và bản chất của hôn nhân chỉ có được ý nghĩa khoái lạc trong kinh nghiệm hôn nhân mà thôi. Ngoại trừ sự sinh sản phi pháp, phải tính đến nhu cầu luân lý, là phải khống chế tự ngã, không có lý do gì yêu cầu một gả nam nhân, ngay đối với người đã thành hôn, phải dành toàn bộ tính khoái cảm của anh ta  cho vợ và chỉ có vợ mà thôi.
 
Nhưng vào các thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta, đạo đức hôn nhân vô cùng nghiêm khắc, chúng ta không dễ gì thấy được mối tính dục gọi là “phối ngẫu hóa” – một thứ phối ngẫu trực tiếp và hỗ tương . Gọi trực tiếp là chỉ bản chất của mối liên hệ tính dục, nên bài xích mối liên hệ ngoại hôn ( tức là ngoại tình); còn gọi hỗ tương  là cuộc hôn nhân hình thành bản chất liên hệ giữa hai vợ chồng, phải bài trừ mọi sự tìm kiếm khoái lạc khác ở bên ngoài. Do đó trạng thái hôn nhân và hoạt động tính dục phải hỗ tương nhất trí, đó là hoàn toàn chính đáng, không chỉ là để nuôi dưỡng  cho mục tiêu hậu đại hợp pháp. Sự nhất trí ấy - đúng hơn là  sự vận dụng  hướng đến hỗ tương nhất trí, bên trong đó  tồn tại nhiều khả năng biến động và biên giới biểu hiện trong hai nguyên tắc : một bên là căn cứ theo bản chất tính khoái  cảm, nó không thể ở bên ngoài hôn nhân, mà ý nghĩa thực tế đối với những người chưa thành hôn không sao dung nạp được. Một mặt khác, ý nghĩa hôn nhân làm cho người vợ bị tổn thương không phải chỉ đơn giản vì đánh  mất địa vị của mình, mà con là vì ông chồng  có thể tìm  khoái lạc nơi khác.
 
1.- Dĩ nhiên, trong văn bản cổ điển ít thấy có đề xuất cái nguyên tắc do mối liên hệ tính dục đáng bị khiển trách vì nó không thấy cái vị trí trong liên hệ hôn nhân, là không hợp pháp. Ngoại trừ việc bảo vệ sự tiết chế của cá nhân, và trong tập tục có những  luật lệ và quyền lợi của kẻ khác, một người độc thân có thể hưởng lạc với người mà nó thích. Thậm chí trong nền đạo đức đầy khắc khổ, chỉ cần nó chưa kết hôn thì không có gì bắt buộc nó phải tuyệt đối không được hưởng thụ. Căn cứ theo lời của Seneque, con trai  của Marcia, chỉ vì  thông qua ảnh hưởng của tính đạo đức mà cự tuyệt lòng ái mộ của một người đàn bà hằng tiếp xúc với anh ta, ngay đến việc  cao hứng làm cho anh ta đỏ mặt, mà cũng coi như là đã phạm tội lỗi. Chúng ta cũng có thể chú ý đến Dion de Pruse, tỏ ra quá nghiêm khắc đối với cô gái điếm và cung cách mà cô đã bộc lộ; bởi vì ông ta thấy đó là thứ tình không phải yêu đương, và là một thứ kết hợp lạ lùng của Aphrodite, thứ nữa vì mại dâm là những nạn nhân của sự bất mãn. Nhưng ông ta vẫn mong mỏi có một đô thị thật sự được cai quản tốt đẹp, khử trừ những nạn ấy đi. Nhưng ông ta không nghĩ đến việc  trừ khử những tệ hại và tiêu diệt chúng  thì cũng là một tội ác thâm căn cố đế.
 
Marc Aurele lai cảm thấy thích thú trong phương diện tiết chế đối với khoái cảm tính dục, ông thích bảo vệ hoa thanh xuân của mình. Ông ta không có hành vi thưởng thức sớm tuổi thành niên, ông ta đã để thời gian trôi qua. Về điểm này ông ta trình bày khá hay, trình độ đức tính không  phải  chỉ nhắm vào sự kiện dành cho khoái cảm trong hôn nhân, mà chính là ở chỗ  nó biết tự không chế mình để đợi chờ, thời gian càng lâu so với sự đòi hỏi thông thường, cái giây phút thưởng ngoạn sự khoái thích tình dục. Epictete cũng giống như vậy, ông này cho rằng cái lý tưởng  là trước khi hôn nhân thành hình thì không nên có liên hệ tính dục. Nhưng đó là đối tượng được đưa ra như là chủ trương khuyến cáo, người ta nên tuân theo lời khuyến cáo ấy, tuy  nhiên cũng  không nên coi sự bảo vệ trinh tiết như là một điều giới luật đầy cuồng vọng . Đối với sự khoái cảm của tình ái, trong một chừng mực của khả năng, phải bảo vệ thuần khiết trước khi thành hôn; nhưng nếu ta quá mê đắm vào đó, mà nếu được ban bố thì cũng nên cho nó hưởng thụ. Không nên quấy rầy đối tượng đã hưởng thụ khoái lạc đó, không cần phải giáo dục gì cả, và cũng không nên loan báo rằng  nó vẫn trinh khiết.
 
Đối với mối liên hệ tính dục ông ta đòi hỏi phải bảo vệ tối đa, Epictete không thông qua hình thức của hôn nhân, chứng thực cái chức trách, quyền lợi, nghĩa vụ của người phối ngẫu, mà chỉ giải thích tự thân con người phải có nghĩa vụ, vì nó là một mảnh vở của chư thần; vì trên nguyên tắc nó được vinh danh cư trú trong cơ thể đó một thời gian , do đó  trong quá trình sinh hoạt hằng ngày phải tôn kính suốt đời, phải xưng hô thế nào với con người đây, không phải chỉ  bằng ý thức mối liên đới tha nhân, phải luôn luôn tôn trọng nguyên tắc tiết chế: Há anh không muốn tự phản tỉnh sao? Ngay khi đang ăn uống nên nhớ mình là ai? Ai đã nuôi dưỡng mình khôn lớn? Trong khi phát sinh mối liên hệ tính dục thì anh là ai? Anh sử dụng mối liên hệ ấy với ai? Trong sinh hoạt xã hội, trong khi tập luyện cơ thể, trong những cuộc hội thoại anh có biết không, chính là một vị thần nuôi dưỡng anh, một vị tập luyện cơ thể anh. Và đối diện xuất hiện ngay trong cơ thể của anh, thấy được, nghe được, tất cả sự vật đó là vị thần. Anh không hề suy  nghĩ và phát sinh quan hệ tính dục mà cảm thấy đỏ mặt, rõ là anh không tự ý thức đến bản tính con người của mình, thần sẽ nổi cơn giận  giữ vì anh.
 
Trái lại, Musonius lại muốn hoàn toàn phối ngẫu hóa các hoạt động tính dục, bởi vì ông ta công kích tất cả giây phút liên hệ tính dục mà không nhắm vào vào mục đích chính trong khuôn khổ của hôn nhân là không được. Trong thiên khảo luận “ aphrodista”- khoái cảm của Stobee có một đoạn phê bình về tập quán sinh hoạt phóng đảng; một cuộc sống phóng đảng là một thứ không có khả năng  thực thi sự  tự không chế cần thiết, mà còn đeo duổi theo các thứ khoái cảm hiếm có và tìm kiếm những mối liên hệ tính dục nhục nhã.
 
Nhưng đối với sự phê phán đầy phàm tục, Musonius áp dụng qui phạm chính giới định thế nào là khoái cảm hợp pháp (aphrodisia dikaia), theo ông đó là bạn tình song phương trong phạm vi hôn nhân nghĩ đến khoái cảm sinh con cái. Vì đó mà Musonius xác định đưa ra hai giả thuyết như sau : một là thông dâm, tức là tìm kiếm sự liên hệ tính dục  có tính ngoại hôn, như vậy đều là phi pháp;  hai là tìm  sự khoái lạc bên ngoài sự thông dâm, nhưng dĩ nhiên là nó mất tính hợp pháp, như thế là tự gây ra sự xấu hổ, và nó bắt nguồn cho cuộc sống phóng đảng. Tính phối ngẫu hay hôn nhân là điều kiện hoạt động  tính dục hợp pháp.
 
Giữa luận đề xa xưa  kịch liệt theo đuổi khoái cảm, trái lại đối với sự cần thiết khống chế tự ngã, cùng với nguyên tắc chỉ có thể có khoái cảm hợp pháp trong  phạm vi cơ chế hôn nhân, nó có một bước quan trọng mà Musonius Rufus vượt qua. Và từ đó ông rút ra được kết quả cần thiết, dù rằng nó như mâu thuẩn với những người đồng thời đại. Nó còn như phản đối lại ý kiến cúa mọi người mà cho rằng, có nên trách cứ mối liên hệ tính dục giữa hai người tự do không bị ràng buộc về quan hệ hôn nhân không ? Một người có mối liên hệ với  một  người đầy tớ hay chưa lập gia đình mà không gây tổn hại  về quyền lợi của mình, cũng như không  có mong mỏi gì về đường hậu đại. Trong những điều kiện như vậy, người ta có phạm vào lỗi lầm, giống như người ta có thể phạm lỗi lầm hay một điều bất công, mà không gây tai  hại  cho những người xung quanh; người ta tự bôi nhọ mình, người ta tìm thấy khoái cảm trong phương thức tự làm ô uế mình, tự làm dơ bẩn mình. Trong khái niệm nội hàm có liên hệ  đặc biệt đến bản chất hoạt động tính dục và hôn nhân, tất phải du nhập sự cự tuyệt của Musonius Rufus, đối với sự tiết chế. Trong một văn bản  thảo luận về vấn đề phải dưỡng dục  tất cả trẻ em, ông cho rằng những tiết dục thực tiển ấy là chống lại đạo luật của các tiểu ban muốn duy trì dân số của họ; nó cũng làm hại những cá thể, vì họ  muốn có kế thừa hậu đại, ngoài ra nó còn làm tổn hại đến trật tự  vũ trụ mà Thượng Đế thiết lập ra. Như thế chúng ta khó mà thực hiện những  việc vừa nêu, chúng ta đã vi  phạm chống lại tổ tiên, và chống lại vị thần đã bảo vệ gia đình là Jupiter. Chúng ta giống như một kẻ thô bạo đối đải với người khách quí là vị thần Zeus, người bảo vệ quyền cư trú, cũng như làm điều mất công chính với bạn bè chống lại vị thần hữu nghị  là Zeus….
 
Chúng ta có thể phát hiện, đây là quan niệm dự liệu trước của cơ Đốc giáo cho rằng khoái cảm tính dục tự nó là sự nhơ nhớp, mà chỉ có hình thức hôn nhân hơp pháp, và cuối cùng là sự sanh đẻ mới được thừa nhận. Sự thật đó là đoạn văn  do Musonius trích dẫn từ trong quyển Giáo dục học (Pedagogue) thứ hai của Clemens d’Alexandrie. Nhưng nếu Musonius  cũng giống như phần lờn những đạo đức gia cổ đại, ngoại trừ phái khuyển nho, cho rắng mối liên hệ thực tiển công cọng  là xấu hổ, như thế có thể khẳng định rằng , chủ trương  khoái cảm tính dục là một thứ tội ác, và hôn nhân phải xây dựng nghiêm túc và khôi phục điều chỉnh trong một phạm vi chặc chẽ. Nếu Musonius cho rằng liên hệ tính dục ngoài  hôn nhân là xấu hổ, đó không phải là đem mối liên hệ tính dục đặt lên hàng đầu,  mà là nhắm  vào việc trừ khử cái đặc tính  nội tại của sự lỗi lầm trong mối liên hệ tính dục mà chính là vì  sự tổn tại của con người, của lý tính, và xã hội. Đem hành vi tính dục nạp nhập vào vào mối quan hệ hôn nhân và sự dưỡng dục hợp pháp về hậu đại như thế mới là hợp với bản tính của nó.
 
Hành vi tính dục, mối liên hệ hôn nhân, vấn đề con cái. gia đình, đô thị cùng tính thể cọng đồng  của con người, tất cả những sự kiện đó tạo thành một loạt những yếu tố liên kết và  ở đó sự tồn tại của con người là lý tính. Do đó hưởng thụ khoái lạc là để cho sự khoái cảm thoát ly mối quan hệ vợ chồng và ban cho khoái cảm một mục đich khác, thực tế đó là làm tổn hại đến căn bản sinh tồn của con người. Sự nhơ nhớp không phải ở trong hành vi tính dục, mà chính là trong sự  phóng đảng (debauche); chính nó làm cho hành vi tính dục và hôn nhân ly tán, trong khi hành vi tính dục trong hôn nhân vốn mang hình thức thiên nhiên và mục đích lý tính. Trong phối cảnh hôn nhân là thiết lập sự giao hợp tính dục và hưởng thụ khoái lạc của con người trong phạm vi duy nhất hợp pháp.
 
2.- Từ điểm xuất phát về mối liên hệ tính dục và bản chất khoái cảm của cuộc hôn nhân  hợp pháp, người ta có thể hiểu rõ vấn đề nghi ngờ về mối gian dâm và cái luân quách (esquisse) của một thứ trung thành song trùng. Mọi người đều biết rằng nam nhân phạm tôi gian dâm là dối trá với vợ con, bất nghĩa, bị pháp luật chế tài và khiển trách về đạo đức. Sự gian dâm tạo thành một sự thật duy nhất là  liên hệ tính dục ngoài hôn nhân, sự kiện coi như người nữ đã thành hôn. Còn về vai trò của người nam, trạng thái hôn nhân  hầu như  không  cần dính dấp vào; nghĩa là sự lừa gạt và tổn hại là sự kiện trong một con người, kẻ đã chiếm đoạt một  người nữ và thế là anh ta có được quyền lợi hợp pháp đối với cô ta. Cái định nghĩa gian dâm ấy chỉ làm cho quyền lợi của người chồng  bị tổn hại là rất lưu hành, và người ta tìm thấy ngay trong tinh thần đạo đức  của Epictete. Trong một cuộc đối thoại về luận đề “ con người sinh ra là phải sống trung thành”; xuất hiện một nam nhân là  một vị văn nhân, ông ta đối với tội gian dâm đang hiện hành vô cùng kinh ngạc, và đưa ra ngay học thuyết của Archemados về vai trò cọng đồng của nữ nhân. Đối với ông ta Epictete đưa ra hai điều khuyến cáo. Trước tiên hành vi gian dâm của nam nhân  làm cho  nó phản bội lại  nguyên lý “ con người sinh ra là phải trung thành”. Thế nhưng Epictete lại không đặt  cái nguyên lý ấy trong khuôn khổ thể chế của hôn nhân; hơn nữa ông còn không coi  mối quan hệ vợ chồng  như là một trong những  hình thức chủ yếu. Ông qui định một gả nam nhân cùng với những người xung quanh kết hợp thành mối liên hệ bạn bè trong đô thị của anh ta. Và trong con mắt ông ta, sở dĩ coi sự gian dâm  như là một lỗi lầm, nguyên nhân là người ta đã phá rách mạng lưới  quan hệ của những nam nhân; ở đó mỗi người không chỉ được mời gọi phải tôn trọng kẻ khác mà còn phải tự biết mình. Nếu chúng ta phá hủy cái nguyên lý chúng ta sinh ra phải trung thành, tức chúng ta đã dựng lên cái bẩy đối với người nữ ở bên cạnh chúng ta, vậy chúng ta phải làm sao đây? Không có gì khác hơn là phải phá hoại và tiêu diệt hết sao? Ai? Con  người trung thực, con người tôn nghiêm, con người của đạo giáo, là toàn bộ sao? Những mối liên hệ với người láng giềng tốt bụng, chẳng lẻ cũng tiêu diệt họ sao? Và thành bạn cũng tiêu diệt sao? Chính sự gian dâm làm tổn hại đến bản thân nó và kẻ khác; tuy nhiên, mặc dù đối vời sự gian dâm đã có sự thẩm định truyền thống , nhưng  trong việc phản tỉnh và sinh hoạt hôn nhân người ta vẫn phát hiện cò những đòi hỏi vô cùng nghiêm trọng, nó có ý nghĩa song trùng: một là khuynh hướng càng ngày càng muốn sử dụng  nguyên tắc nam nữ bình đẳng ; và hai là xác nhận sự tôn trọng  quan hệ cá nhân trong giữa hai vợ chồng. Về vấn đề ích lợi chân lý (verite salutaires), người ta biết lâu rồi, nhưng lại không coi đó là hệ trọng, cho nên trong thực tế nó không còn ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta. Đối với vấn đề đó, Seneque đưa ra một thứ chức trách hữu nghị và sự trung thành đồng đẳng nghiêm khắc giữa hai vợ chồng. Anh biết mà cái nghĩa vụ hữu nghị phải tuân thủ theo phương thức tôn giáo, nhưng rồi anh có tuân hành đâu! Anh biết rằng việc dụ dỗ vợ của người khác là một hành động dối trá bất lương, trong khi đó anh lại đòi hỏi vợ mình phải trung trinh; cũng như anh cấm đoán vợ không được có tình nhân, thì cũng giống như vậy anh không được ngoại tình.
 
Chính Musonius đối với nguyên tắc vợ chồng đồng đẳng trung thành, giải thích rất tỉ mỉ. Trong thiên khảo luận về khoái cảm, ông từng chứng minh rằng chỉ có hôn nhân  mới có thể tạo thành mối liên hệ tính dục là thiên nhiên và hợp pháp. Musonius đề cập đến vấn đề “ người ở” (probleme de la servante); nô lệ vốn được chấp nhận như là  đối tượng tính dục. Trong phạm vi gia đình, người khác không có quyền cấm đoán nam nhân đã thành hôn hưởng thụ khoái lạc với một nô lệ; chính vì vậy mà Musonius muốn giới hạn cấm đoán, nếu  người nô lệ chưa thành hôn (điều đó có nghĩa là kẻ nô lệ trong nhà cũng phải được tôn trọng). Và để thiết lập ra sự cấm đoán, Musonius nhấn mạnh đến nguyên tắc bình hành, hay đúng hơn đưa ra một  cục diện tương đối phức tạp giữa sự bình đẳng về quyền lợi và ưu tiên về nghĩa vụ. Một mặt làm thế nào để có thể chấp nhận cho người chồng  được liên hệ tình dục với người ở, trong khi người vợ lại không được cùng người ở nam giới liên hệ tính dục. Như thế rõ ràng là nữ nhân có khả năng tự khống chế và cai quản dục vọng của mình hơn hẳn nam giới. Như vậy trong gia đình kẻ bị chi phối điều khiển có sức mạnh hơn người điều khiển nó.Trong nghệ thuật hôn nhân, phái Stoiciens, Musonius  đưa ra một mô thức hôn nhân khá chặc chẽ, nó đòi hỏi một hình thức trung thành, cả nam và nữ cùng đồng thi hành. Đương nhiên nó không cấm đoán tùy tiện tất cả những gì xâm phạm đến quyền lợi của nam nhân; cũng không tùy tiện bảo vệ các bà vợ chống lại những hăm dọa tổn hại đến địa vị đặc quyền  của nữ chủ nhân trong gia đình, của các bà mẹ. Nó biểu hiện mối liên hệ vợ chồng như là một hệ thống bình hành hoàn toàn bảo vệ trách nhiệm trong việc  trong việc hưởng thụ khoái lạc.
 
Tính dục thực tiển trong việc phu thê hóa hoàn toàn đã được Musonius đặt trong nguyên tắc độc chiếm chặc chẽ. Sự hưởng thụ khoái lạc tính dục chỉ được thực hiện trong hôn nhân, không có ngoại lệ nghi ngờ gì cả. Trong đó nghệ thuật sinh hoạt hôn nhân dường như tổ chức xung quanh nguyên tắc hình thức pháp luật có ý nghĩa cấm đoán song trùng. Nhưng với những tác giả duy trì những chuẩn tắc cứng rắn, người ta có thể thấy trong đó đề xuất một thứ đòi hỏi  tính trung thành, nó chỉ cho phép trong phương diện hành vi một chút ít sai biệt thôi. Nhưng tác giả cũng không nhấn mạnh về sự cấm đoán một cách rõ ràng, mà chỉ chú ý đến sự bảo vệ mối quan hệ vợ chồng, với cái điều nó có thể cho phép cá nhân liên hệ trong việc vợ chồng, luyến ái, tình cảm và sự tôn kính  cá thể lẫn nhau. Sự trung thành không phải do luật pháp qui định, mà là do mối liên hệ đặc biệt đối với vợ, phương thức sinh tồn, phương thức hành vi xác định. Có thể từ bỏ hoàn toàn  mối liên hệ ngoại hôn, đối với người chồng mà nói, phải tìm cho ra cái điều tế nhị trong mối quan hệ đó, nó có thể là kết quả của sự khéo léo, hay là hành vi thuộc tình cảm; tuy nhiên người ta  yêu cầu người vợ nên có thái độ tế nhị khoan dung, nhượng bộ, không  làm như vậy là thiếu thận trọng khinh xuất.
 
Có một văn bản La Tinh xuất hiện khá muộn từ lâu được coi là ngụy thiên của Aristote trong sách “Gia chính học”, liên quan đến quan điểm truyền thống tôn nghiêm về người vợ, đề ra  phương pháp thỏa hiệp và tiết chế. Một mặt tác giả quy định người chồng phải hết sức quan tâm làm sao cho người vợ trở thành mẹ của những đứa con mà mình hằng mong mỏi. Ông ta còn quy định người chồng không được tước đoạt cái vinh dự phải có của vợ mình; nhưng đồng thời cũng đòi hỏi cả hai người vợ không nên khinh rẻ và coi thường nhau. Ông cũng khuyến cáo người đàn ông phải tỏ ra rất chân thành và tiết chế, rất tôn kính khi gần gũi với vợ ; ông mong mỏi người chồng không được chểnh mảng, lơ là, thô lỗ tàn bạo. Những tình cảm ấy chỉ thích hợp trong thời gian quan hệ với kỷ nữ và tình nhân thôi. Trái lại đối với vợ, một người chồng tốt là phải biết chú ý quan tâm, đối đãi với vợ rất lễ độ; và người vợ cũng phải biểu hiện mối quan tâm và tình ý yêu đương, nói chung là đôi bên phải tỏ ra cân xứng như nhau.Và khi đề cao cái giá trị trung thành, tác giả của văn bản còn xác định là đối với lỗi lầm của người chồng, người vợ phải có thái độ khoan dung, thỏa hiệp làm lành, coi như nàng đã quên những tội lỗi của chồng, cho đó là do tình thần thiếu minh mẫn, và người vợ không mảy may oán hận phàn nàn về hành động của chồng, mà tất cả đều quy cho là do bệnh hoạn sinh ra, do sự ấu trĩ hay ngoài ý muốn; ngược lại người chồng cũng phải chuẩn bị sẵn sàng tỏ ra thái độ biết ơn, hối lỗi đối với vợ. Cũng giống như vậy trong giới luật vợ chồng cũng đưa ra những nguyên tắc hỗ tương trung thành. Song nó không thiết lập thành những hình thức đỏi hỏi nghiêm khắc và đối xứng; nếu tác phẩm ấy cho rằng người vợ đối với chồng phải trung thành, trong khi người chồng phạm lỗi ngoại tình là chuyện thường xảy ra, và lỗi lầm ấy không có gì quan trọng lắm. Tuy rằng đó là vấn đề nội bộ của quan hệ hôn nhân, nó tùy thuộc theo quan hệ tình cảm giữa hai vợ chồng, chứ không phải là đặc quyền đặc lợi để mà giải quyết. Plutarque thì đòi hỏi người chồng không được phép liên hệ tình dục với người đàn bà khác, bởi vì đó không chỉ là uy hiếp đến địa vị hợp pháp của người vợ, mà còn gây ra một vết thương thiên nhiên đầy đau khổ cho vợ. Hãy nhớ lại tình huống của những con mèo, hơi hướng của một mùi thơm làm cho nó thành điên cuồng; những bà vợ cũng giận tức như điên khi biết chồng có mối liên hệ với người đàn bà khác. Thật ra không đáng gì, chỉ vì một chuyện khoái cảm nhỏ mà gây ra một nỗi đau thương vô hạn. Do đó, ông ta khuyên bảo cả chồng lẫn vợ nên noi theo gương của người nuôi ong là ông ta không bao giờ đến với bầy ong nếu đã có sự liên hệ tình dục với những người đàn bà. Nhưng với Plutarque thì ngược lại là khuyên các bà vợ nên có thái độ khoan dung, mà còn nên theo các bà vợ của những vị vua ở Ba Tư, các bà theo chồng tham dự tiệc tùng, nhưng khi mọi người đã say sưa cho kêu gọi âm nhạc và những ca kỷ; các bà phải quay về làm như không nghe thấy và còn tự bảo rằng, nếu các ông chồng có cùng vui chơi với kỷ nữ hay gái điếm đi nữa chính là vì sự tôn trọng các bà, và vì họ không muốn các bà chia sẻ sự phóng đãng, hoang dâm quá độ…
 
Như vậy hôn nhân được coi như là mối liên hệ tình cảm và tôn trọng lẫn nhau, nó vượt qua cả cơ cấu pháp lý, nó bao quát tất cả mọi hoạt động tính dục, và khiển trách cả những hành vi tính dục ngoại hôn. Nếu muốn đòi hỏi cả đôi  lứa vợ chồng cùng trung thành một cách đồng đẳng, như thế phải thiết lập một sự giao hợp, trong đó tình yêu của chồng đối với vợ và con cái cũng như người vợ đối với chồng có sự cung kính đối đãi kết hợp lại. Sự khoái lạc bên ngoài của người chồng, hậu quả của nó không được pháp luật công nhận một cách ưu việt, mà nam nhân phải coi đó như là một nhược điểm và phải hạn chế tối đa, dù được người vợ khoan dung và nhượng bộ là để duy trì cái vinh dự gia đình mà cũng là để chứng tỏ tình yêu của mình.
 
Khoái cảm trong hôn nhân
Xác định hôn nhân như là mối quan hệ hưởng thự khoái cảm độc nhất vô nhị, nó dắt dẫn đến hệ thống  liên quan tình cảm nam nữ hay là trò chơi có  kiên quan đến pháp đình  hành vi khoái cảm trọn vẹn, tác dụng  đến mục đích hình thức của vấn đề.
 
Thật ra, trong tư tưởng chúng ta đều nhận rắng  hôn nhân có một địa vị vô cùng quan trọng. Đối với sự tiết chế khoái cảm trong  mối liên hệ hôn nhân vẫn có sự bảo vệ tối đa.. Trong  nền đạo đức  nghiêm khắc, việc hôn nhân được giáo huấn kỷ, nò đòi hỏi có sứ sự ngăn cấm về khoái cảm. nhưng không nói rõ những khoái cảm nào được chấp nhận, và khoái cảm nào bị cấm đoán.
 
Có hai nguyên tắc khá phổ biến  dược đưa ra. Một mặt người ta nhấn mạnh  đến mối liên hệ phối ngẫu phải mang tính chất tình yêu (Eros), thứ tình yêu mà các triết gia thường dành cho con trẻ ( thanh thiếu niên); nhưng nó cũng không được lãng quên hay bài trừ tính khoái cảm (Aphrodite). Musonius, trong một văn bản cho rằng, hôn nhân không  phải là một thứ chướng ngại, mà theo các triết gia thì đó là chức trách có giá trị vĩ đại trong trạng huống hôn nhân; ông còn nhắc lại đó là ba vị thần quản lý về hôn nhân : một là Hera, chúng ta thường kể lể với bà giống như là vị thần  bảo hộ việc hôn nhân; hai là Aphrodite, vị thần chủ quản việc giao hợp giữa chồng vợ; ba là Eros, vị thần chuyên lo việc kết hợp giữa nam và nữ thành đôi lứa tốt đẹp. Tóm lại, tác  dụng của ba lực lượng ấy là kết hợp thành vợ chồng để sinh con cái.
 
Cùng giống như vậy, Plutarque khẳng định rằng vai trò của Aphrodite và Eros có tác dụng là tạo nên mối liên hệ phối ngẫu. Trong hôn nhân có  một thứ tương quan xuất hiện là tình yêu say đắm  và sự khoái cảm xác thịt. Con người còn vận dụng một thứ nguyên tắc, nó ngược lại với cái thứ nhất, nhưng cũng là thứ phổ biến nhất, đó là không nên đối xử với  người vợ như là một tình nhân; trong hôn nhân cũng phải xử sự là một người chồng  chứ không phải là một tình nhân. Mọi người đều hiểu rằng , nguyên tắc cổ xưa của hôn nhân, cái giá trị cao quý nhất lá thể diện; vì sự hưởng thụ khoái cảm trong hôn nhân là hình thức duy  nhất hợp pháp. Như vậy, Aphrodite và Eros phải xuất hiện ngay trong hôn nhân, và cũng chỉ xuất hiện trong hôn nhân mà thôi. Nhưng còn một phương diện khác, trong sự quan hệ phối ngẫu không giống như quan hệ với tình nhân.
 
Hoặc trong  nguyên tắc này có nhiều hình thức: một là hình thức thận trọng trung thực báo trước, dĩ nhiên là theo truyền thống, phải hướng dẫn người vợ đạt đến khoái cảm tột cùng, tuy nhiên nó có thể khiến cho người vợ  sử dụng những khoái cảm nguy hại mà về sau sẽ hối hận. Hai là dùng dưới hình thức khuyên răn, chỉ dạy cho hai vợ chồng , chúng nên tìm một hướng đi trung dung  giữa một bên là quá khắc khổ, một bên là quá phóng túng tự do. Và người chồng luôn luôn nên nhớ, không  thể nào phát sinh  mối liên hệ với một người đàn bà  vừa là vợ, vừa như là tình nhân. Ba là dưới hình thức một luận đề phổ quát, phát sinh mối liên hệ tình dục đối với vợ quá nhiệt tâm , như vậy chẳng khác gì đối đải với vợ như một gian phụ. Luận đề đó rất quan trọng vì nó vốn có trong truyền thống Thiên Chúa giáo, xuất hiện rất sớm – Clement d’Alexandre đã đề xuất trong Stromates, và còn kéo dài trong một khoảng thời gian khá lâu, Francois de Sales còn giảng giải ý nghĩa dài dòng  của nó trong “Đạo luật  sinh hoạt sùng đạo”. Nhưng muốn hiểu được ý nghĩa  giải thích của phái Stoiciens thì phải nhớ rằng, đối với trường phái này, nguyên tắc lý tính và thiên nhiên của hôn nhân  đều nhắm vào mục đích là kết hợp cho cả hai người để có sự sinh sản thế hệ hậu đại, tạo lợi ích cho đô thị và hạnh phúc  toàn vẹn cho loài người. Trước tiên là tìm kiếm  sự hưởng thụ khoái cảm, điều ấy có thể vi phạm pháp luật, đảo lộn trật tự và chống lại nguyên tắc kết hợp một nam một nữ thành vợ chồng.
 
Nhưng với tính cách cụ thể, vấn đề hưởng thụ khoái cảm trong mối liên hệ hôn nhân phải dùng hình thức và  qui chế như thế nào; và nguyên tắc  phải tuân theo giới luật ước thúc tự ngã ra sao? Từ đó việc hôn nhân mới đòi hỏi mối liên hệ, đồng thời là đạt đến  sự tôn sùng  cá nhân cao độ, và phát sinh mối quan hệ tính dục vợ chồng đến nơi đến chốn duy nhất. Trong phạm vi hôn nhân, nam nhân được tự do, làm thế nào cho cơ cấu  giao hợp phát huy được sự điều tiết và tác dụng của nó, Trong việc hôn nhân cần phải tiết chế như thế nào, để đồng thời vừa đạt được mối liên hệ cá nhân cực mạnh, và đạt đến nơi đến chốn khoái cảm hợp pháp. Đối với vấn đề đó các hình thức giải thích thường là rất mơ hồ, chỉ thấy một ít trong văn bản La Tinh ở quyển III Gia chính học của Aristote. Ở đây tác giả yêu cầu  người chồng  khi đến gần với vợ phải có thái độ thành khẩn (cum honestate), giữ gìn ý tứ và tôn kính tối đa (cum multa modestia et timore); qui định khi nói năng với vợ phải dùng  thứ ngôn ngữ cử chỉ của con người có giáo dục đàng hoàng, còn khuyên bảo đối xử với vợ phải dùng những phương thức thận trọng  và tế nhị.
 
Một cách xác thiết là sự tiết chế trong hôn nhân nội bộ phải được minh định là nhắm vào hai mục đích : hợp thiên nhiên và lý tính. Mục đích thứ nhất  đương nhiên là sanh đẻ, Seneque nhấn mạnh ( và chúng ta cũng thấy bác sĩ  y khoa đề xuất điều này); mục đích của khoái cảm là nhắm vào sự sanh đẻ thiên nhiên đã an bài; con người được ban cho dục vọng yêu đương không phải là để cho  nó hưởng thụ khoái lạc, mà chính là để cho  nó lan truyền nòi giống, Từ cái nguyên tắc chung đó, Musonius đưa ra kết luận rằng sự liên hệ tính dục chỉ trở thành hợp pháp khi nó nhắm vào mục đích sinh sản; còn những ai chỉ đeo đuổi theo cứu cánh của khoái cảm, thì đó là điều bất chính và vi pháp, mặc dù nó phát sinh trong phạm vi hôn nhân. Quy luật này cũng tìm thấy nơi học phái Tân Pythagore, dường như nó được coi là sự cấm kỵ của truyền thống, bao gồm sự cấm đoán giao hợp trong khi có  kinh nguyệt ( theo y khoa nó gây tác hại cho tinh dịch), và trong giai đoạn mang thai – không phải chỉ vì chẳng có ích lợi gì mà còn làm tổn hại đến sự phát triển của thai nhi. Nhưng ngoài những lời khuyến cáo tổng thể, dù nguyên tắc giống nhau, nhưng dường như không có  các điều nghi ngờ đặt ra trong giai đoạn tắt kinh, hay sau các thời kỳ có sự liên hệ tính dục hơp pháp giữa hai vợ chồng; hoặc  trước hay sau mối liên hệ có những ý niệm mà các giáo sĩ Thiên chúa giáo chỉ dạy  phải tuân thủ. Bài trừ mục đích của hành vi khoái cảm đó là sự đòi hỏi ở các nhà đạo đức  rất nghiêm khắc; nhưng sự đòi hỏi đó phần nhiều  chỉ là nguyên tắc lập trường, chứ không phải là hành vi qui phạm do minh văn qui định là hành vi chính đáng hay không chính đáng .
 
Mục đích trọng đại thứ hai của hôn nhân  là an bài sự sinh hoạt cộng đồng và chia xẻ - tạo thành một nguyên tắc đòi hỏi tiết chế sự liên hệ phối ngẫu. Khi mục đích sinh đẻ không còn nữa thì nguyên tắc vừa nêu không đòi hỏi  phân chia phương thức chính xác xứng đáng hay không xứng đáng. Nhưng có một số tác giả, trước tiên là Plutarque – lại phát huy liên tiếp trong mối quan hệ phối ngẫu và quan hệ khoái cảm một thứ tác dụng rất tế nhị và rất phức tạp. Đó tức là một mặt coi người vợ như là người bạn đồng hành mở rộng tâm hồn mà đặt vào đó sự tôn kính nàng , không phải đơn giản là tôn trọng địa vị mà còn tôn trọng cái phẩn cách uy  nghiêm. Nhân đó  phương pháp nuôi dưỡng  sự khoái cảm tất sẽ từ đó phát xuất một thứ nguyên tắc hạn chế nội tại. Nhưng  một mặt khác, trong sự sinh hoạt hôn nhân phải thíết lập một thể cọng đồng hoàn mỹ - một thứ “ sinh tồn phối hợp” (fusion d’existence) làm mục đích, như thế sự cọng đồng phân hưởng  quan hệ tính dục và khoái cảm tạo thành một yếu tố tiếp cận song phương phối ngẫu. Thiết lập mối liên hệ vững chắc và ổn cố trong sự hưởng thụ khoái cảm không chỉ là một bảo chứng, mà còn là yếu tố duy trì khoái cảm, từ đó xuất phát đối với các thứ tôn sùng khoái cảm tính dục (chỉ cần nó  phát sinh trong  mối liên hệ hôn nhân đối với hành vi tiết chế), có thể trong sự kết hợp phối ngẫu  phát huy được  tác dụng tích cực tương quan mật thiết .
 
Cái quá trình  hình xoắn ốc của sự tiết chế cần thiết và cường độ lý tưởng  xuất hiện rõ trong “ qui luật vợ chồng “, nó tạo thành sợi dây trực tiếp trong sách. Bản sách ấy kể lại những nguyên tắc xưa cũ nổi tiếng về những cảm giác xấu hổ thẹn thùng  và những bí quyết bao quanh không chỉ trong hoạt động  sanh sản mà là những cử chỉ khoái cảm như nụ hôn, những vuốt ve, nó nhắc lại, chuyển đổi câu nói nổi tiếng  của Herodote, khiến mọi người phải chú ý. Cảm giác xấu hổ thẹn thùng của người vợ không phải biến mất khi nàng trút bỏ xiêm y, cũng không phải khi bóng tối bao che cho  mọi hành vi phóng túng tự do; Philippe xác nhận, tất cả những người đàn bà, sau khi tắt đèn đều dùng một cách thức như nhau là né tránh tính cách nữ nhân của họ. Plutarque ghi nhận rằng người vợ không giống như những người đàn bà khác, nhưng khi dấu mình trong bóng đêm, người ta không thể thấy được cơ thể của họ, thì họ tức thì biểu hiện cái mỹ đức của họ ra. Nhưng cái mỹ đức của họ chính là cái gì gắn liền với chồng và thân phận của họ là“ lòng trung thực và tình yêu tha thiết”.Xung quanh cái nguyên tắc tiết chế chu đáo, và cảm giác xấu hổ mang ý nghĩa của tình yêu chuyên nhất, Plutarque khai triển một số khuyến cáo, hãy bài trừ những  tiết chế quá nghiêm khắc, và không quá tùy tiện tức quá dễ dãi, điều đó dành cho nam cũng như nữ. Dĩ nhiên giống như cô gái trẻ tuồi Spartiate, dùng làm thí dụ, một người vợ trẻ không nên tự mình tấn công ông chồng, nhưng cũng không nên tỏ ra buồn chán vì ông ta; thái độ thứ nhất sẽ gây ra sự trơ trẻn, cảm giác như là đĩ thõa, nhưng thái độ sau sẽ trở thành ngạo mạn không có tình thân hữu. Ở đây, những qui luật tự có những phương thức khởi thủy và những phù hiệu  giao lưu thành chuẩn tắc, nó là những phác thảo con mơ hồ, về sau các giáo sĩ trong Cơ-đốc giáo mới coi đó là trọng đại.
 
Plutarque thì rất tôn trọng  mối quan hệ tính dục trong buổi ban đầu ở gia đình, về sau nó phá hoại sự thông cảm, sự hiểu nhau, và cũng do đó hình thành sự hiểm nguy trong mối quan hệ tính dục vững chắc. ông gợi ra sự nguy hại xấu xa  của tuổi trẻ và khả năng cảm thụ của người vợ trẻ. Ông khuyên người ta không nên dừng ở đó, vì cái tốt đẹp của hôn nhân có thể xuất hiện sau đó.  Và chớ có giống như anh  chàng lấy mật ong, sau khi bị ong đốt  về sau không dám đi lấy mật nữa. Nhưng nó thường lo sợ vì trong buổi ban đầu kết hôn hay xảy ra một thứ khóai cảm nhục thể quá sôi nổi, nếu thứ khoái cảm ấy không xuất hiện trở lại, thì tình yêu có nguy cơ là mất mát.Vậy tốt nhất, tình yêu phải theo tính cách sinh lực song phương của hai vợ chồng, và sự khế hợp của tinh thần. Hơn nữa trong suốt quá trình sinh hoạt hôn nhân, không nên do dự trong việc phát huy tất cả những gì có lợi ích trong phương diện vợ chồng, nhất là trong mối liên hệ tính dục giữa hai người. đối với tác dụng làm sống lại tình cảm, trong phần “đối thoại tình yêu” có một đối thoại đưa ra điểm xác minh, mà trong sách “giới luật vợ chồng” nêu ra thí dụ. Thứ nhất là phải tránh những cuộc cãi vả có thể xảy ra trong phòng ngủ, bởi vì sự tranh chấp và chỉ trích xảy ra trên giường ngủ rất khó kéo nó trở về với sự yên ổn; thứ hai là khi người ta đã có thói quen ngủ chung nhau trên một giường, không vì sự cãi vả nhau mà phân chia ra phòng khác; ngược lại đó là thời khắc dẫn đến Aphrodite, đó là vị thầy thuốc tốt nhất đối với việc hư hỏng. Đó cũng là luận điểm khiến một địa vị tương đối quan trọng ở nơi Plutarque. Chúng ta bắt gặp ông ta trong “đối thoại với tình yêu”, trong đó ông lợi dụng sự khác biệt giữa tình yêu của nữ và nam. Đối với người nữ thì khoái cảm trọn vẹn có một vai trò tích cực liên hệ với tinh thần; trong khi tình yêu của gã con trai, sự khoái cảm thể xác không thể là yếu tố thuận lợi cho mối liên hệ tình yêu nội tại. Luận điểm này xuất hiện trong “cuộc yến tiệc của bảy vị hiền nhân”, ở đó vấn đề khoái cảm tính dục có liên hệ với hai thứ khoái cảm thể xác, hai thứ khoái cảm tương quan với nhau ấy là “sự say sưa và âm nhạc”. Người đối thoại, Mnesiphile chỉ ra rằng trong tất cả nghệ thuật hay thực tiễn, tác phẩm không phải là sử dụng những công cụ hay chất liệu mà chính là trong ý tưởng người ta muốn thực hiện. Nhiệm vụ của kiến trúc sư không phải ở trong việc pha trộn hồ, mà là trong việc xây dựng nên giáo đường. Những nữ thần nghệ thuật (Les Muses ) khi họ khảy đàn hay thổi sáo là chỉ nhắm vào mục đích “giáo hóa đạo đức và xoa dịu những kích thích”. Cũng như sứ mệnh của Dionysos không phải là cho người ta uống rượu đến say sưa, sứ mệnh của Aphrodite cũng không phải đơn giản chỉ trong mối liên hệ giao hợp thể xác, mà chính là trong tình cảm yêu đương, trong nhu cầu, mối liên hệ, và trong sự giao hợp tính hổ tương. Trong sinh hoạt vợ chồng, sự liên hệ tính dục là như công cụ nhằm phục vụ cho sự hình thành và phát triển đối xứng tình cảm, và ngược lại trong quan hệ tình yêu. Nói như Plutarque: Aphrodite là nhà nghệ thuật của ái tình tạo dựng sự khế hợp giữa nam và nữ, vì xuyên qua cơ thể của chúng với ảnh hưởng của khoái cảm mà cùng lúc đem hai tâm hồn kết hợp lại. Những lời khuyến cáo dường đã quá xa xưa, nó đã xuất hiện từ thời kì khởi thủy thành trường kì lịch sử; đó là lịch sử pháp điển hóa mối liên hệ đạo đức giữa hai vợ chồng, dưới trạng thái song trùng quy phạm, giáo hóa tình cảm giao lưu phức tạp xuyên qua sự khoái cảm tính dục.
       
Nguyên tắc “ tính độc chiếm” không phải là mối liên hệ tính dục ở bên ngoài hôn nhân. Sự yêu cầu của “tính không hưởng lạc” (deshedonisation) là sự giao hợp tính dục của vợ chồng không phục tùng theo cơ cấu của khoái cảm. Mục đích hóa của sự sinh đẻ là chỉ cho việc vợ chồng lấy việc sinh con đẻ cái làm mục đích. Đó là ba nét đặc trưng cơ bản, nó đánh giá luân lý sinh tồn của vợ chồng mà một số những nhà đạo đức đã khai triển vào buổi đầu của thời kì đế quốc La Mã và về sau được học phái Stoicisme ra sức khai triển muộn màng nhưng đó không phải là những nét đặc trưng của bản thân luân lý sinh tồn vợ chồng : người ta có thể tìm thấy những yêu cầu tương tợ trong quy luật mà Platon đặt để cho những công dân trong nước Cộng Hòa của ông; người ta cũng có thể tìm thấy tiếp theo những yêu cầu trong gia đình hòa mục của Thiên chúa giáo. Ý nghĩa của ba nguyên tắc ấy không ngừng vượt qua sự đổi mới tiết chế tính dục của phái Stioicisme nghiêm khắc và một thứ phù hợp với quy tắc đạo đức của thời đại. Chúng đã không ngừng trải qua nhiều thế kỉ đánh dấu vài trò tiết dục có tác dụng trong vấn đề hôn nhân.
 
Nhưng tính thường hằng của ba nguyên tắc không nên để cho người ta tin rằng là một thứ đồng nhất tính đơn giản và thuần túy. Vào thời kỳ đế quốc La Mã, có một số nhà luân lý ít nhiều mang sắc thái của phái  Stoicisme bất mãn với sự di chuyển từ chủ nghĩa không tưởng của Platon đến quy luật hôn nhân độc chiếm của Cơ - đốc giáo dành cho sự sinh sản và hoài nghi đối với sự khoái cảm. Thứ quy luật ấy mang lại một sự biến hóa đặc biệt, khôi phục lại giáo hóa tự ngã trong quá trình phát triển sử dụng được các hình thức. Trước tiên chúng ta nên chú ý đến, với Platon đòi hỏi tất cả những khoái cảm tính dục đều phải do cơ cấu hôn nhân tạo nên tính chính đáng của nó là căn cứ vào sự cần thiết cung cấp cho thành ban ( Cite ) những đứa trẻ để nó được duy trì và bảo tồn lực lượng. Trái lại trong Cơ-đốc giáo sự liên hệ của hôn nhân được xác định bằng sự kiện là lần đầu tự nó mang dấu hiệu của tội lỗi tổ tiên, tiêu chí của sự ác và trụy lạc; chỉ có lần thứ hai mới được coi là mang tính hợp pháp, con người tất phải căn cứ vào tính hợp pháp mà theo đuổi mối liên hệ tính dục hoàn toàn vô tội. Thế nhưng với Musonius, Seneque, Plutarque hay Hierotles dù cho là có lợi ích, dù đối với khoái cảm tính dục quá hăng hái được hoan hô, mối liên hệ giữa hôn nhân và khoái cảm không được thiết lập. Nhưng chúng không phải xuyên qua mục tiêu đệ nhất tính của xã hội và chính trị, mà thiết lập sự quan hệ khoái cảm, khoái cảm tính dục với hôn nhân cũng không phải thông qua giả thiết một thứ khoái cảm nội tại của tổ tông, mà liên kết hai người lại với nhau, mà là xuyên qua một thứ thiên nhiên, lý tính và bản chất mà liên kết họ lại với nhau. Hãy nói đến sự lưu ý vào những lập trường và học thuyết khác nhau, chúng ta cho rằng con người căn cứ theo hình thức luân lý mà đòi hỏi tính độc chiếm trong hôn nhân cũng không phải là hôn nhân “ngoại tại” nhắm vào tính hữu dụng, hay phủ định tính nội tại của khoái cảm, mà là do ý đồ đưa đến sự liên hệ hiệp điệu: sự giao phối tính dục của đôi lứa, mối liên hệ vợ chồng, vai trò xã hội của gia đình hoàn toàn nhất trí với quan hệ tự ngã.
  
Đến đây chúng ta đụng chạm với một thứ sai biệt quan trọng khác : đối với biện hộ sĩ Platon, vị lãnh tụ Isocrate và công dân Aristote, sự hưởng thụ khoái cảm trong phạm vi hôn nhân đòi hỏi vẫn là phương thức khống chế tự ngã, một thứ thông qua địa vị tự ngã hay là sự khống chế tất yếu đối với tự ngã khi hành xử uy quyền trong thành bang (cite). Căn cứ theo pháp tắc của các giáo sĩ Cơ-đốc giáo, nguyên tắc vợ chồng trung thực một cách hoàn hảo, đó là thứ nghĩa vụ vô điều kiện đối với những người mang nặng tâm tư sẽ được giải thoát. Trái lại, trong luân lý của chủ nghĩa Stoicisme, để thỏa mãn tự thân sự đòi hỏi đối với mối liên hệ tự ngã,để không làm thương tổn đến bản chất và bản tính của con người, để tỏ ra sự tôn sùng cái lý tính của tự ngã, tốt nhất là con người phải hưởng thụ khoái cảm tính dục trong hôn nhân, để cho khoái cảm tính dục phù hợp với mục đích hôn nhân, dĩ nhiên nguyên tắc nhắm vào việc bài trừ mối liên hệ tính dục ở bên ngoài hôn nhân đối với nam giới; và chỉ cho phép được quan hệ ngoại hôn khi nhắm vào mục đích đặc biệt. Đó là một trong những điều làm mốc để tư pháp thẩm định đối với mối quan hệ vợ chồng và tính dục thực tiễn cùng với hoạt động tính dục của nữ giới, hoạt động tính dục của nam giới ít ra trên nguyên tắc, rơi vào hiểm nguy là bị pháp luật trừng phạt. Trong hôn nhân có một đạo luật xác định điều gì được phép, điều gì bị cấm đoán, điều được ước muốn hay suy tư. Nhưng điều tư pháp thẩm định ấy, về sau nó bị biến đổi thấy quá rõ, liên kết với cơ cấu chuẩn tắc của giáo sĩ Cơ-đốc giáo. Tuy nhiên trong những văn bản khá chi tiết trình bày về sự sinh hoạt của vợ chồng, như văn bản của Plutarque, nó không phải là một thứ điều lệ phân chia ra sự cho phép hay cấm chỉ mối liên hệ khoái cảm; mà là  một phương thức sinh tồn, một thứ phong cách liên hệ, cái đạo đức hôn nhân và những khuyến cáo về sinh hoạt vợ chồng, nó vừa là những nguyên tắc có giá trị phổ quát và là những chuẩn tắc cho những ai muốn hiến dân cho sự hiện hữu của mình một hình thức đáng tôn sùng và hoàn mỹ. Chỉ có một số người mới thực hành thứ mỹ học sinh tồn mang tính phổ biến phi pháp luật. Mục đích phối ngẩu hóa hoạt động tính dục là nhắm hợp pháp hóa tính dục chỉ hạn định trong hôn nhân theo kết quả hiển nhiên; nó bị hạn chế, ít nhất là đối với nam nhân, vì đã từ lâu nó là yêu cầu của nữ nhân đã thành hôn. Hơn nữa đối với mục đích hưởng lạc tính dục và hưởng thụ khoái cảm mà đòi hỏi phân chia ra chỉ là tự hạ thấp hoạt động nội bộ. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng, những sự hạn chế và hạ thấp là kèm theo với một quá trình khác: cưỡng hóa giá trị và ý nghĩa của mối liên hệ tính dục trong nội bộ hôn nhân. Thật vậy một mặt vì quan hệ tính dục trong việc phối ngẫu không phải đơn giản chỉ là kết quả biểu hiện cùa quyền lực; nó phải chiếm một địa vị nội bộ trong chùm quan hệ thuộc về tình cảm, sự mến mộ và sự hổ tương qua lại. Một mặt khác, nếu khoái cảm coi như là cứu cánh cần loại bỏ thì ít nhất trong một số những công thức tế nhị của luân lý được dùng như là yếu tố, vừa là công cụ vừa bảo đảm trong sự biểu hiện tình cảm giữa vợ chồng.
 
Và thật là chính xác nhân danh sự tăng cường ý nghĩa và giá trị của sự khoái cảm tính dục trong mối liên hệ vợ chồng, với lý do của vai trò người ta gán cho trong sự giao lưu giữa hai vợ chồng, người ta bắt đầu càng ngày càng hoài nghi về đặc quyền được biết đến xuyên qua tình yêu của gã con trai.
30/12/2008
Michel Foucault
Khổng Đức dịch
Nguồn: Dịch từ Histoire de la sexualité của Michel Foucault
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề triết học

Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề  triết học Mục lục Lời dẫn nhập Quyển một Vấn đề triết học và truyền thống tư tưởng Việt Nam Tập ...