Mỹ học trong chủ nghĩa tồn tại của
M. Heidegger (1889-1976)
Heidegger sinh ra ở Messkirch (Đức), tuổi trẻ ông học thần học
ở Freiburg, đậu tiến sĩ năm 1914 với luận án không có gì xuất sắc lắm. Đến năm
1927 ông cho xuất bản tác phẩm Sein und Zeit , Pháp dịch
là L’ être et le temps, Việt Nam dịch là Hữu thể và thời gian, Trung
Quốc dịch là tồn tại và thời gian (ở đây tôi dùng từ tồn tại); trở nên nổi tiếng
và gây ảnh hưởng khắp thế giới. Theo ông đừng đặt vấn đề : Tồn tại là gì ? Mà
chỉ cần minh xác Tại sao tồn tại thành ra tồn tại, thì lãnh hội được ngay
ý nghĩa của tồn tại.. Chỉ cần nghiên cứu Tồn tại (Da Sein) chứ không phải sự tồn
tại (Das Seiende) . Theo ông Tồn tại là nguồn gốc của tất cả sự tồn tại. Tồn tại
không lúc nào không tồn tại, không ở đâu không tồn tại., nhưng nó ẩn chứ không
hiện. Như vậy muốn lãnh ngộ được tồn tại thì phải thông qua một sự tồn
tại đặc biệt nào đó. Cái đặc biệt tồn tại ấy là “ở đó” (Da Sein),
cái Da Sein ấy thực tế chính là con người, chỉ có con người mới lĩnh hội được tồn
tại, vì con người biết phản tư , biết tra vấn ý nghĩa của tồn tại;
Toàn bộ triết của Heidegger đều xuất phát từ sự
tìm kiếm cái “ở đó”; ông cho rằng trạng thái tồn tại cơ bản nhất
của “ở đó “ là tại thế. Tại thế tức là con người ở trạng
thái bị vất bỏ ra đó, cũng tức là con người đối diện với cuộc sống,
đảm nhận cái trách nhiệm của chính mình. Trạng thái cơ bản của con
người tại thế là “ phiền muộn”, “sợ hải” và “chết chóc”.
Phiền, là chỉ mối liên hệ sinh ra từ thế giới xung quanh của
con người, do tâm đảm nhận cảm thấy có sự mất mát nên sinh ra trạng thái lo lắng
(souci), hàm nghĩa cơ bản là tư lự. Sợ, là do con n gười đối mặt với kẻ thù địch,
cái thế giới khác đó sinh ra tình cảm bất an…Cái sợ này với sự sợ hải trong
cuộc sống hằng ngày có sự khác nhau ( sợ hằng ngày là sợ cụ thể, còn cái sợ
của tình cảm bất an là trừu tượng). Chết chóc, là chỉ con người đối
diện với tình cảm tử vong.
Đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa tồn tại của
Heidegger là nhấn mạnh tính thống nhất của chủ thể và khách thể. Trong mỹ học đối
với tác phẩm nghệ thuật ông cũng thể hiện cái đặc trưng ấy. Heidegger cho rằng
trong mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có cái thế giới của chính nó, cái
thế giới ấy là “ trò chơi phản ánh” ( Mirror-Play) của Thiên , Địa, Thần, Nhân
kết hợp lại mà thành.. Ông chỉ rõ : “ Thiên và Địa, Thần và Nhân , thứ trò chơi
phản ánh ấy chúng ta gọi là thế giới. Ông từng đưa ra cái điện thần của Hi Lạp
làm thí dụ để thuyết minh. Cho rằng thần điện cắm rể sâu vào đất, cạy
đất vùng lên, nó dùng cả một vùng đất rộng để che chở cho phần dưới
của nó,, đồng thời tương tiếp với trời cao, nóc mái của thần điện dùng cột chống
đở, như thế cái không gian mà nó hình thành mở rộng hướng ra bên ngoài. Do đó,
thần điện mở rộng tính trực quan tồn tại, và tính che đậy, hai lực lương nguyên
sơ hổ tương liên hệ, là sản vật hổ tương đấu tranh. Trời là trường sở mang tính
mở rộng, còn trường sở của đất thì che đậy khép kín. Đại địa đối với tác phẩm
có đủ ý nghĩa quan trọng, “ nền của thế giới là đại địa,, mà đại địa lại thông
qua thế giới mà đạt được sự đột xuất. Trong xung đột giữa trời và đất, sự
tồn tại của tác phẩm được xác lập, và bản thân chân lý thì sinh ra
trong tồn tại của tác phẩm.
Heidegger cho rằng , tác phẩm nghệ thuật không thể quy kết một
cách đơn thuần là đồ vật. Nhưng tiền đề cơ bản của nó vẫn kể như là
một thứ đồ vật, có đầy đủ vật tính. Mà bản thân của vật lại bao hàm bốn yếu tố
nội tại liên hệ với nhau là Thiên Địa Thần Nhân Do đó tác phẩm nghệ
thuật cũng bao hàm 4 yếu tố nội tại liên hệ nhau. Ông từng lấy cái bình làm thí
dụ thuyết minh bản tính của đồ vật. Tính chất của cái bình không phải
là do cái đáy và bốn phiá bao vây quanh nó có thể làm sáng tỏ, mà chỉ
có thể lấy sự kiện bao dung trống không của nó để thuyết
minh. Chính là do cái hư không ấy mà khiến nó thành ra cái bình. Mà
hư không có thể dung nạp và tồn trữ vật gì đổ vào, rồi lại từ trong bình đổ ra
làm đồ gởi tặng. Đối với việc thu nhận đồ gởi tặng thành ra là tặng
vật, đồng thời trong tặng vật có bao hàm thiên và địa. Vì vật đổ vào bình như
nước chẳng hạn, như thế nước xuất phát từ suối nguồn, suối nguồn
dính dáng đên núi, đến đá, núi đá dính vào vấn đề thổ nhưỡng, và nước
là thủy có mối liên hệ đến trời, nước mưa từ trời rơi xuống thấm vào
đất, ban cho vật. Một phương diện khác nữa, nước có thể cho người uống để giải
khát, lại có thể dùng để thờ phụng thần minh. Như thề từ trong tặng
vật, bốn yếu tố thiên địa thần nhân cùng liên hệ với nhau, từ đó mới qui định
được tính của bình. Cái bình khiến cho 4 yếu tố thiên địa, thần nhân hổ tương
tiếp cận, tác phẩm nghệ thuật cũng kể như đồ vật, cùng giống như vậy bao hàm 4
yếu tố liên hệ và tiếp cận. Rõ ràng theo quan điểm của Heidegger, trong tác phẩm
nghệ thuật có sự liên hệ và tiếp cận 4 yếu tố thiên địa thần nhân, đúng là có đủ
sức để chứng minh chủ thể và khách thể thống nhất, đó cũng là vấn đề gây chia rẻ
giữa Husserl và Heidegger. Quan điểm của Heidegger đối với thiên địa thần nhân,
một mặt để thuyết minh, ông coi đồ vật như là sự tồn tại để rồi nhận xét, ở
phía sau của sự tồn tại ẩn tàng hiện tượng không đâu là không có Tại và không
đâu là không thấy có nó (tại). Một mặt khác trình bày rõ là ông ta đối với thế
giới đương kim, thế giới của kỷ thuật rất lo lắng và bất mãn. Theo ông bất cứ sự
sáng tạo nào đều nên phải có một sự bảo tồn, giống như tác phẫm nghệ thuật nên
có sự liên hệ hữu cơ của bốn yếu tố thiên địa thần nhân. Nhưng sự phát triển của
khoa kỷ hiện đại lại dùng kỷ thuật dày xéo lên thế giới mà chúng ta đang tiếp xử,đem
sự vật thiên nhiên hạ thấp xuống tính đơn thuần sử dụng , con người làm cho vạn
vật không còn nơi nương tựa. Ông tức giận chỉ trích : “ Hiện đại khoa học cùng
với các quốc gia lắm quyền hành đều là kết quả tất yếu của bản chất
kỷ thuật…, suy cho đến cùng thì bản thân bản chất của cuộc sống sẽ
giao phó cho sự sáng tạo kỷ thuật xử lý. Như vậy bản thân con người cùng sự vật
đều đối mặt với một thứ càng ngày càng tăng thêm sự nguy hại. Tức là
sẽ biến thành tư liệu đơn thuần cho đến biến thành cái chức năng của
đối tượng hóa.” Tức là nói rằng , thời đại hiện nay là đêm đen của thế giới,
con người tự mình đã quên mất bản chất chân chính của tốn tại.
Nghệ thuật tự động đưa chân lý vào tác phẩm. Đối với vấn đề
khảo sát nghệ thuật, Heidegger đứng trên lập trường triết học cơ bản
của mình yêu cầu theo góc độ của bản thể luận mà xem nghệ thuật như
là chỗ phô bày chân lý của tồn tại. Ông đề xuất:” Tác phẩm nghệ thuật dùng
phương thức của chính nó mở rộng cái tồn tại của sự tồn tại. Sự phô
bày hay mở rộng ấy tức là nói rằng: cái chân lý của sự tồn tại thực hiện ngay
trong tác phẩm. Trong tác phẩm nghệ thuật cái chân lý của sự tồn tại tự động đặt
để trong tác phẩm. Nghệ thuật là tự động đặt để chân lý trong tác phẩm..
Cái mà Heidegger nói ở đây tức là vấn đề bản chất của nghệ thuật, ông đem bản
chất của nghệ thuật liên hệ cùng với tồn tại của sự tồn tại, cùng sự
tồn tại liên hệ với chân lý. Nhưng cái chân lý mà ông ta nói đến có hàm nghĩa đặc
biệt, không phải là cái chân lý khách quan mà chúng ta hằng nói đến;
mà là chỉ vào cái tồn tại của sự tồn tại, sự vật thường ở trạng thái che đậy được
hiển hiện ra. Cái chân lý của sự tồn tại mà ông ta nói đến cùng với cái tồn tại
của sự tồn tại thật ra là một ý tứ như nhau.
Để thuyết minh bản chất của nghệ thuật tức là trình hiện cái
chân lý của sự tồn tại, trước tiên Heidegger tiến hành phân tích tỉ
mỉ tác phẩm nghệ thuật. Con đường tư tưởng của ông là như vậy : Muốn tìm đến bản
chất của nghệ thuật, tức nên thảo luận tác phẩm một cách cụ thể, xem vì sao tác
phẩm lại có được cái có thể thành tác phẩm nghệ thuật. Trước hết ông khẳng định tác
phẩm nghệ thuật là một thứ vật chất tồn tại, có đầy đủ vật tính. Một bức họa
treo trên tường thì cũng giống như một khẩu súng săn hay một cái mũ
móc ở trên tường. Trước tiên nó là một thứ đồ vật. Tất cả nghệ thuật phẩm đều
có tính đồ vật…Có vinh dự hưởng thụ thể nghiệm thẩm mỹ rất cao cho mấy cũng
không sao thoát được tính đồ vật của nghệ thuật phẩm. Tuy nhiên , mặc dù như vậy,
thứ tính đồ vật ấy lại không phải là bản chất sở tại của nghệ thuật phẩm. Tính
đồ vật của nghệ thuật phẩm chỉ là cung cấp một thứ cơ sở, trên cơ sở ấy, nghệ
thuật gia mới có thể sáng tác nghệ thuật phẩm chân chính. Như thế làm sao mới
có thể sáng tác ra nghệ thuật phẩm chân chính? Heidegger cho rằng, đó tức là phải
trình diễn cái chân lý cũa sự tồn tại; trong tác phẩm thì cái gì là sự tồn tại,
làm sao cho cái điểm tồn tại ấy được trình diễn rõ ra, như thế thì chân lý của
tác phẩm mới xuất hiện..
Xuyên qua bức họa “Đôi giày “ của Van Gogh, ông ta
mới phân tích nêu rõ cái quan điểm của chính ông: “ Từ dôi
giày cũ kỷ của người nông phụ, cái miệng đen ngòm của
nó như ngưng tụ sự gian khổ của những bước chân lao động. Hai bên
mép trống như tụ tích trong đó bao gió mưa rét cóng,. Thoạt nhìn
cánh đồng rộng không bến bờ vĩnh viễn đơn điệu, trên những luống cày in những
bước chân vừa kiên nhẫn vừa chậm chạp, trện mặt đôi giày còn dính những vệt đất
màu mỡ,. trong ánh hoàng hôn đôi giày ấy từng lũi thủi đi một mình trên những nẻo
đường mòn của cánh đồng . Trong đôi giày như vọng lại từ đại địa lời réo gọi vô
thanh… Đối với cái hang hốc quen thuộc ấy cũng phô bày ra cảnh đại địa
như ngủ lịm trong tiết trời đông hoang dã. Đôi giày cũng thấm thấu bao cảnh bần
hàn, chiến thắng với những miếng ăn độ nhật, với những vui buồn lặng lẽ
không lời, ẩn dấu những cơn đau xé lòng khi sinh con, và những cảnh
sống chết cận kề. Đôi giày ấy thuộc vào đại địa,, đại địa là thế giới của của
phụ nữ nông thôn đáng được bảo vệ.. Những gì Van Gogh diễn tả trong đôi giày,
Heidegger thấy được toàn thể cái thế giới sinh tồn của người nông phụ; sự lao
tác gian khổ của người đàn bà, với bao nỗi buồn vui,, đau khổ với sự sanh đẻ,,
sợ hải với lẽ tử vong… Nói như thế để thấy Van Gogh vẽ đôi giày ấy không phải
bình thường là một đôi giày của một nông phụ , mà là thông qua đôi
giày diễn tả sự tồn tại của nông phụ, trình bày được toàn cả cái thế giới của
bà ta. Như thế búc họa của đôi giày mới trở thành là một nghệ thuật phẩm. Chính
từ quan điểm cơ bản ấy, Heidegger đã phản đối quan điểm chỉ theo vật tính mà nhận
thức nghệ thuật phẩm, đem nghệ thuật xem như là một thứ tồn tại vật chất;
cũng phản đối cái quan điểm xem nghệ thuật là mô phỏng giống hệt
thiên nhiên. Và cho rằng tác phẩm nghệ thuật quyết không phải là tái
hiện lại sự tồn tại cá biệt, mà là tái hiện cái bản chất phổ biến của sự vật,
cái chân lý tồn tại, Cùng lúc ông phản đối cái quan điểm truyền thống của bản
chất nghệ thuật là qui định cái đẹp không sáng tạo, chỉ ra cái điều con người
cho rằng chân lý phổ biến là thuộc phạm trù logic, và cái
đẹp là thuộc phạm trù mỹ học; đó là sự hiểu lầm về một thứ hình nhi
thượng học.
Chân lý là mỹ học cần sự cố gắng truy tần nơi sự vật..
Nghệ thuật là trình bày cái chân lý của sự tồn tại, đó là quan điểm xuất phát
cơ bản. Heidegger còn tiến thêm một buớc chỉ rõ” tồn tại của tác phẩm tức là
thiết lập một thế giới. Cái thế giới mà ông nói không phải đơn thuần là thế giới
vật chất, tức là sự tập hợp thuần nhiên của sự vật, mà là trạng thái tồn tại của
cái “ở đó”. Cũng tức là nói, tách rời khỏi người tức không có thế giới, vì theo
cách nhìn của ông thì với vật vô cơ, thực vật, động vật đều không có
thế giới, chỉ có người mới có thế giới. Thí dụ như bức tranh đôi giày của Van
Gogh, người nông phụ có cả một thế giới. Vì bức họa ấy nhắm trình
bày người nông phụ “ở đó” với trạng thái chân thật. Nó cũng giống
như tác phẩm nghệ thuật thần điện của Hi Lạp. Thần điện cao vút ở
đó, mở ra cả một thế giới, đồng thời khiến cho thế giới đó chống lại với đại địa,
bản thân nó phải là như thế mới được kể là vì dân tộc xuất hiện nơi đại địa.
Heidegger còn tiến hơn một bước nữa, chỉ ra rằng ,
nghệ thuật tức là nơi hình thành và phát sinh chân lý. Đưa vào tác phẩm cái ý vị,
làm cho tác phẩm tồn tại kéo theo sự vận động và phát sinh Đó là kể
như phát sinh sự thu nhập và ẩn tàng. Như thế, tức là
trong tác phẩm nghệ thuật có sáng tạo tính
thu tàng chân lý. Nghệ thuật là nơi phát sinh
và hình thành chân lý. Do đó mới có thể thấy, nghệ thuật tức là tác
phẩm có chân lý trí nhập vào, đồng thời cũng là nơi chân lý phát sinh và hình
thành. Tức là nói nghệ thuật là một mô thức biểu hiện chân lý và tồn tại.
Heidegger đối với việc qui định bản chất của Mỹ cũng theo lập trường cơ bản đó
mà phát xuất. Ông cho rằng được kết hợp làm cho tác phẩm chói
sáng thì đó là mỹ. Mỹ là môt phương thức, trong đó chân lý kể như được
sinh ra.
Đối với thơ và ngôn ngữ, Heidegger giả định bản chất của nghệ
thuật là chân lý tự động đặt để, đồng thời ông nói rõ: “ Bản chất của
nghệ thuật là Thơ; bản chất của Thơ tức là xác lập chân lý. Theo đó có thể thấy
rõ, thơ mà ông nói là thơ theo nghĩa rộng, bản chất của thơ cũng giống như nghệ
thuật, có thể qui kết là trình bày chân lý. Để tiến thêm một bước hiểu rõ bản
chất nghệ thuật của ông, tất yếu phải xem kỷ cách nhìn của ông đối
với bản chất thi ca.. Ông từng mượn nhà thơ của Đức là Holderlin để trình bày bản
chất của thơ. Holderlin có chân tư cách là thi nhân của thi nhân, ông này cho rằng làm
thơ là “ hoạt động thuần chân nhất trong
tất cả các hoạt động “, con người có được của cải nguy hiểm nhất là…ngôn ngữ,
mà lại chứng thực được sự tồn tại của chính mình. Heidegger giải thích tường tận
5 câu thơ của của Holderlin, ông cho rằng, sở dĩ làm thơ là chân thật nhất, đó
là vì thơ là trò chơi tự do của sức sức tưởng tượng , chân chính đạt đến sự
siêu thoát vô lợi hại. Nhưng nếu chỉ dừng chân lại ở đây thì vẫn chưa nắm được
bản chất của thơ, vì muốn nắm được bản chất của thơ thì phải khảo sát suy tư về
sự tồn tại của người. Cứ như cái nhìn của Heidegger, thì người ta là một thứ cần
phải tự mình chứng thực là kẻ tồn tại và chúng thực sự sinh tiồn của con người..
Từ đó mới chứng thực được bản chất hoàn mỹ của nó là ở
nơi biết chọn lựa tự do. Con người có ngôn ngữ, sở dĩ ngôn ngữ trở
thành tối nguy hiểm, là vì thông qua ngôn ngữ, con người được khai mở để hiểu
rõ sự tồn tại của chính mình. Và cũng vì chính mình ở đó mà thành ra lo lắng,
phiền muộn, sợ hải, kể như là một kẻ phi tồn tại , mà lại khiến cho mình thất vọng
và bất mãn. Nhiệm vụ của ngôn ngữ là thông qua nó mà sáng tỏ sự tồn tại. lấy đó
mà bảo vệ cho sự tồn tại. Trong ngôn ngữ, sự vật thuần túy nhất và tối tăm nhất,
mà cũng phưc tạp nhất và giản đơn nhất để có thể dùng ngôn từ diễn đạt.
Nói như thế tức là ngôn ngữ có thể phô diễn tồn tại của tồn tại,
cũng có thể trình bày sự phi tồn tại. Thơ tức là thông qua ngôn ngữ đạt đến sự
tồn tại “ thần tứ”(Celeste), đó tức là bản chất của thơ. Đối với “thần tứ”
Heidegger thuyết minh thêm : Tồn tại chứ không phải là sự tồn tại.
Nhưng vì tồn tại và bản chất của vật tồn tại không thể tính đếm, cũng không thể
từ trong sự vật hiện tồn tính đếm rồi suy diễn ra, cho nên tất nhiên là
chúng tự do sáng tạo qui định và cung cấp cho nhau. Thứ cung cấp tự
do hoạt động tức là “thần tứ”. Thơ tức là thần
tứ tồn tại, nó không phải là phẩm vật trang sức thêm vào cho người, cũng không
phải là sự hứng thú và tiêu khiển đơn thuần của người mà là sự chống đở căn cơ
của lịch sử. Chình vì tồn tại thần tứ của thơ cho nên bản chất của
nghệ thuật là Thơ; bản chất của ngôn ngữ cũng cần phải thông qua bản chất của
thơ thêm vào sự lý giải.
Tóm lại căn cứ theo những gì vừa trình bày ở trên chúng ta có thể thấy rõ, bản chất nghệ thuật của Heidegger hoàn toàn kiến lập trên khái niệm tồn tại và chân lý, nghệ thuật là một phương thức biểu hiện chân lý và tồn tại. Bởi vì bản thể tồn tại vạn sự vạn vật đều không phải là thế giới vật chất khách quan, mà là một thứ siêu thoát cả chủ khách, đối lập là tồn tại phi vật phi tâm…
19/7/2008
Khổng Đức
Nguồn:
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét