Đọc lại bài Thu điếu, Thu vịnh
của Nguyễn Khuyến
Trước khi đi sâu vào các bài thơ, tôi xin mượn lời của
J.P.Richard - nhà văn học hiện đại nổi tiếng của Pháp - để nói hộ cho quan niệm
văn học thô sơ của mình. Đó là: “Sự cố gắng của bài viết không hẳn là thấu
triệt, đạt đến sự nắm vững toàn bộ chân lý. Mỗi bài viết chỉ có thể là một đoạn
đường, và các con đường khác luôn luôn mở rộng. Một tuyệt tác đúng nghĩa là tác
phẩm mở đón tất cả các ngọn gió và mọi sự tình cờ ngẫu nhiên, ta có thể xuyên
qua nó bằng tất cả các ý hướng”.
Và để tỏ lòng biết ơn đối với bậc tiền bối, chúng ta cũng nên
kể đôi dòng về tiểu sử của Người.
Nguyễn Khuyến (1825-1909) biệt hiệu là Quế Sơn, quê làng Yên
Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Qua ba kỳ thi là thi Hương, thi Hội, thi
Đình, ông đều Đậu đầu nên đời thường gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Ông làm quan đến
chức Tổng Đốc, sau khi Việt Nam rơi vào bàn tay đô hộ của Pháp, Ông bèn cáo
quan lui về sống ẩn dật ở quê nhà.
Về văn thơ ông sở trường đủ mọi lối. Khi chọn đề tài Thu Điếu
– nghĩa đen là “Mùa thu câu cá”. Thật ra câu cá ở đây chỉ là mược cớ để tỏ bày
quan niệm thái độ sống ở đời, đúng như quan điểm của bác thuyền chài trong bài
Ngư phủ của Sở từ, mà chúng ta có thể lược trích như sau:
“Khuất Nguyên sau khi bị đày, lang thang dọc theo bờ sông,
con người ủ rũ, tiều tuỵ. Bác thuyền chài bắt gặp mới hỏi rắng: Người có phải
là Tam lư Đại phu không? Sao lại đến đây?
Khuất Nguyên đáp: Người đời đục cả, móng ta trong,
Người đời say cả, mính ta tỉnh. Cho nên bị đày.
Bác thuyền chài bèn nói: Bậc thánh nhân không bận
lòng vì ngoại vật; nhưng biết xê dịch biến đổi theo đời.
Người đời đục cả, sao không khuấy bùn lên khua sóng mà chơi?
Người say cả, sao không ăn cả ba và uống cả hèm.
Cớ chi lại lo nghĩ cao sâu, để cho than xác bị đoạ đày.
Khuất Nguyên nói:
…Sao lại có thể đem tấm thân trong trắng để cho đời bôi nhọ.
Thà đâm đầu xuống sông Thương, gởi xác vào bụng cá,
Còn hơn để lớp bụi thế tục vùi lấp vẻ tinh bạch của Lòng
ta!
Bác thuyền chài mỉm cười, đập mái chèo quay đi và hát rằng:
“nước sông Thương trong thay,
Ta Giặt giải mủ cũng hay,
Nước sông Thương đục thay
Thì ta rửa chân này cũng nên”.
Thái độ Khuất Nguyên là tích cực đấu tranh đến cùng, thà chết
chứ không chịu sống nhục với đám bùn nhơ. Trong khi quan điểm của ngư phủ là đời
ta trong ta ở, đời đục ta lui về ẩn dật, chứ tội gì phải huỷ thân. Thái độ và
quan niệm đó chính là thái độ và quan niệm xử thế của Nguyễn Khuyến. Do đó
chúng ta không lạ nội dung bài Thu Điếu nếu có, chỉ vỏn vẹn ở hai câu kết và
câu thứ hai trong phần nhập đề - thật tế cũng chưa hẳn đã là câu cá.
Chữ thơ trong bài Thu Điếu cũng vô cùng biến hoá, vừa ẩn dụ vừa
tượng trưng, trước khi đi sâu vào việc tìm hiểu, chúng ta hãy xem lại bài Thu
Điếu một lần nữa.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợi tí.
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Ao thu ở đây không phải là Dao trì hay Hàm trì cao quí của
Tây Vương mẫu, mà chí là thứ ao bình thường dân giả,nhà nho gọi là Trì
trung vật (trong ao có vật) hay trì ngư lung điểu (cá trong ao chim trong
lồng) để ám chỉ con người không còn mong gì có hoài vọng to lớn cao xa, vi đã bị
ràng buộc mất hết tự do. Lại là ao thu lạnh lẽo - đã hay là một
trong bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông; nhưng theo Kinh Dịch – Một trong ngũ kinh, nhà
nho xưa ai mà chẳng thuộc nằm lòng – phần tiên thiên bát quái thì mùa thu chỉ
hướng Tây thuộc quẻ Khảm. Khảm là nước, là hãm, là hiểm, vì không gì nguy hiểm
bằng nước sâu, sơ hở một chút là có thể rơi ngã, suy sụp. Vậy ao thu lạnh
lẽo có nghĩa là đất nước đã rơi vào cảnh hiểm nghèo, suy sụp, bị ngoại
bang Tây phương cướp đoạt cai trị, nhân dân như chim trong lồng cá dưới ao mất
chủ quyền là mất hết, không lạnh lẽo sao được, nước trong veo ở đây đừng
hiểu theo nghĩa tốt, vì chúng ta đang ở trong quẻ Khảm nguy ngập thì trong veo
là trống trơn là không tuốt. Nhưng nếu chấp nhận dây là quẻ Khảm – mà đúng là
quẻ Khảm thiệt trên dưới hai hào âm, hào dương ơ chính giữa . Theo hiện tượng
thì trên mặt nước làm sao tránh khỏi rách rếch bụi bặm, dưới đáy nước chắc phải
có bùn đất,vậy muốn tìm được tính nước đích thực thì chỉ có ở giữa lòng nước
thôi. Giữa quẻ Khảm một vạch liền là hào Dương, dương là thực, là minh, là
chính. Con người gặp phải hoàn cảnh nguy khốn như quẻ Khảm thì phải giữ lòng
mình sao cho trung thực chí thành, có như thế thì trong việc tiếp xử mới mong
được hanh thông – vậy nước trong veo cũng có thể chỉ cho tâm tư thuần
khiết trong sạch của tác giả.
Câu thứ hai: Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, là
vai Ngư phủ quá rõ có điều thân phận ngư phủ ở đây quá nhỏ bế đến thảm thương,
sao bì được được với bác thuyền chài trong Sở Từ đầy khí phách hiên ngang. Có đối
chiếu hai hình ảnh mới thấy thân phận Nguyễn Khuyến thật đáng thương luôn luôn
bị hoàn cảnh xã hội áp bức, tuy nhiên vẫn kiên trì giữ lòng thanh bạch. Nói thì
dễ nhưng thực hiện được câu châm ngôn “… Bần tiện bất năng di, uy vũ bất
năng khuất” không phải dễ đâu. Nhất là đứng trước cảnh:
“Sóng biếc theo làn hơi gợi tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo…
Sóng và gió phải hiểu là phong trào. Trong gông cùm đô hộ áp
bức của Pháp, vẫn có những phong trào nổi dậy đấu tranh chống ngoại xâm, như cần
Vương, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám,v…v… . Nhưng còn non yếu quá khác nào những
làn sóng gợn lăn tăn, nên tất cả đều bị đàn áp dẹp tan như những chiếc lá vàng
bay theo gió. Là hai câu tả cảnh, mà trong cảnh chứa chan bao tình ý. Hay nói
nhu nhà mỹ học Tông Bạch Hoa (Trung Quốc) : “Nhà nghệ thuật dùng tâm linh của
mình ánh xạ (projecter) vào vạn vật, vạn tượng thay thế sông núi mà lập ngôn.
Cái điều mà nhà nghệ thuật biểu hiện là tình điệu của cuộc sống chủ quan kết hợp
giao tiếp với cảnh tượng thiên nhiên khách quan, tạo ra cảnh trí đầy lung linh
sống động, đó là “ý cảnh”.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Sống là phải có niềm tin, vậy thì biết tin vào đâu, định mệnh
ư? Sao quá khắt khe, cùng là con người sao riêng ta phải chịu những ngang trái
nghịch cảnh. Đất nước này có làm gì nên tội để nhân dân phải đoạ đày, đúng là
trời đất quá bất công hay tô tình “coi vạn vật như đồ chó rơm” (thiên
địa dĩ vạn vật vi sô cẩu – Đạo đức kinh). Hoặc cũng có thể hiểu “…Trời
xanh ngắt” này giống như câu mở đầu trong bài Thu Vịnh: “Trời xanh ngắt” này
giống như câu mở đầu trong bài Thu Vịnh: “Trời thu xanh ngắt mấy từng
cao”. Thì trời thu là trời tây, vì mùa thu theo bát quái của Kinh Dịch là
hướng Tây, mượn đó đó để chỉ đất nước Việt đã nằm trong bàn tay cai trị của người
Pháp (xưa gọi người Pháp là Tây). Sự cai trị thật cũng rất là tàn bạo, đến mức sao
mà bậc hiền nhân quan tử ở trong nước bây giờ cũng vắng teo. Ở đây tác giả
không nói rõ mà chỉ nói quanh là ngõ trúc quanh co… Chẳng còn có ai
ra vào” Câu ngõ trúc cũng giống như “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”. Trúc là
hình ảnh của người Viên Mai đời Thanh từng nhắc nhở: Phàm tác nhân quý trực,
nhi táo thi quý Khúc Nghĩa là: Làm người phải trọng sự ngay thẳng, nhưng
làm thơ thì lại chuộng sự quanh co. Đức Khổng Tử cũng từng dạy:Tình dục tính, từ
dục xảo.Nghĩa là tình thì phải thành tín trong khi thi từ phải cần sự khéo léo,
khéo léo là xảo tức là khúc quanh co.
Tựa gối buông cần lâu chẳng chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Tựa gối buông cần là động tác của ngư phủ, có thể người cũng
muốn học đòi làm Lữ Vọng hay Khương Tử Nha; nhưng không lấy gì làm chắc. Cái chắc
ở đây chính là học theo thái độ quan niệm của bác thuyền chài trong Sở Từ: Người
đời đục cả, sao không khuấy bùn khua sóng lên mà chơi!. Vậy câu cá ở đây
cũng có nghĩa là muốn dấn thân vào cuộc đấu tranh với đời, khốn nỗi có thể dự
đoán là chẳng mong gì có kết quả. Vì muốn đảm đương việc lớn thì phải hàng quân
tử, bậc anh hùng, đằng này tất cả đã như lá vàng rơi rụng trước gió còn ai đâu.
Hay còn chăng chỉ là lũ tôm cá tiểu nhân què quặt đua chạy theo bả lợi danh,
như cá chạy theo mồi đớp động dưới chân bèo. Nói chung tự chấp nhận
mình là người thua cuộc, hay cảnh ngộ đã đưa đến thế thì thôi.
Đã tìm hiểu Thu Điếu, tưởng chúng ta cũng nên lướt qua bài
Thu Vịnh vì cả hai có nhiều điểm giống nhau:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Hai câu đầu là mượn cảnh vật thiên nhiên để nói lên hoàn cảnh
bi đát của đất nước bị ngoại bang Tây phương cai trị. Giống như trời cao đang
khống chế muôn loài, khiến kẻ hiền nhân quan tử phải cam chịu cảnh phất phơ,
không cần phải nói nhiều ai ai cũng có thể hiểu được. Chỉ từ cau ba, bốn trở đi
mới có nhiều rắc rối:
Nước biếc coi như tầng khối phủ
Song thu để mặc bóng trăng vào
Nước biếc là hình ảnh để chỉ cho quốc gia, thế nhưng tại sao
lại coi như tầng khói phủ? Trong văn học cổ mỗi khi nói đến khói hay sương, như
trong Chinh phụ ngâm: Khói cam tuyền mờ mịt thức mây; Nguyệt lạc ô đề
sương mãn thiên trong Phong kiều dạ bạc của Trương Kế; hay Sàng tiền
minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương trong bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch…,
đều là chỉ cho cảnh đất nước loạn lạc không yên. Ở đây đất nước bị đặt dưới ách
đô hộ của ngoại bang thì cũng kể như là loại rồi.
Song thu là chỉ cho nhà cửa, bóng trăng là
bóng Tây vì trăng cũng thuộc hướng tây. Nước đã mất thì nhà cũng tan, có còn gì
là chủ quyền nữa đâu.
Năm chùm trước dậu hoa năm ngoái
Đọc câu thơ này thì chúng ta chúng ta phải liên tưởng đến bài
thơ của Thôi Hộ:
Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh
hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ… Đại ý là trở lại chốn cũ
thì người đẹp đã đi đâu rồi. Nhưng người đẹp ở đây cũng như người đẹp trong Sở
Từ là Minh Quân không còn nữa.
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Ngỗng theo từ Hán Việt là Hạc, vốn xuất xứ từ “Hạc
thư” là dụ chỉ của triều đình trưng dụng các hiền sĩ. Nguyễn Khuyến sau khi cáo
bệnh về hưu, người Pháp muốn lưu dụng mấy lần đưa thư mời ông hợp tác nhưng ông
vẫn từ chối. Do đó mà hai câu 5,6 trong bài Thu Vịnh là miêu tả triều đình hiện
nay không phải là triều đình xưa của bậc minh quân, và thư trưng dụng gởi đến
chỉ là thư của kẻ ngoại bang…
Nhân hứng cũng vừa toan cất hút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào (tức Đào Tiềm)
Có lẽ khi nhận được thư trưng dụng, Nguyễn Khuyến cũng băn
khơan muốn ra cọng sự, nhưng suy tính lại thì thấy mình thẹn với ông Đào,
một nhà thơ đời Tấn(365-427) trứơc cảnh rối ren của vương triều, dứt khoát từ
quan về ở ẩn, cụ tam Nguyên của chúng ta cũng không thể làm khác hơn. Bởi vì
theo quan điểm của nhà Nho thì sự nghiệp quan trọng của con người là đức hạnh,mà
đức hạnh là tóm vào bốn đầu mối (tứ đoan) Nhân Nghĩa Trí Tín, nó là giá trị tuyệt
đối nội tại, có tài mà thiếu đức thì thứ người bỏ đi.
Chúng ta đi sâu vào việc tìm hiểu thi điếu, thi vịnh thật ra không ngoài mục đích là phục chế nguyên ý của tác giả, tức là xuyên qua ngôn ngữ văn tự diễn tả mà biết được ý đồ sáng tác của cụ Tam Nguyên. Nội dung thơi, nói như người thời nay là một thứ thông điệp; nhưng với người xưa đó là loại thi ngôn chí, không phô bày tư tưởng một cách bộc trực như người nay, nên cũng thường gọi là ý tại ngôn ngoại. Muốn thưởng thức thơ đúng nghĩa là phải lăn hụp đào sâu mới cảm được bao vẻ kỳ thú của nó. Đúng là làm thơ đá khó mà hiểu được thơ càng khó hơn (Thi, tác giả nan, tri giả vưu nan).
Sài Gòn, 28/1/2006
Khổng Đức
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét