Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

Thế giới thơXXXX

Thế giới thơ…

Thật ra đây là những  điều đọc được trong sách chuyên bàn vế thi ca, gồm cả đông tây, được ghi chép lại trong sổ tay, trong khoảng thời gian khá dài, rất cần cho những ai muốn tìm hiểu thi ca, nhất là cho giới học sinh sinh viên, nên  phổ biến ra cho mọi cùng biết. Việc ghi chép cũng chẳng theo một trật tự nào, đợi cho có thì giờ sắp xếp thành hệ thống hẳn hoi thi có khi lại mất hết…
 
Tại sao con người cần đến nghệ thuật? Vì nghệ thuật là phương thức bảo tồn tình cảm tốt nhất. Nó tươi mát sống động có thể đưa đến một lực lượng cọng minh là sự hưởng ứng  đồng cảm với mọi người..
 
Thi nhân hiện đại đi tìm kiếm cái thế giới nội tại của con người là cấp thiết. Đó là thế giới hình xoắn ốc, càng đi qua càng biến chuyển, càng thấy chân thực tính, càng  cảm thấy thế giới ấy sâu xa không sao lường được. Chính vì vậy mới khiến các tác gia hiện đại mãi mãi đào sâu vào đáy lòng  để tìm sự chân thực.
 
Cái chân cảnh của thi ca hiện đại không thể vận dụng công cụ của khoa học để xác định tính chân thực, cũng không thể dùng con mắt thịt ( nhục nhãn) để tìm kiếm chân thực, mà phải nhờ vào sức cảm xúc, cảm ngộ của bản thân thi ca may ra mới tìm được chân cảnh mà thôi.
 
Giá trị của thơ là giá trị bản thân của nó; cho nên thơ hiện đại ngoại trừ nó đem lại những khoái cảm còn không nhắm vào mục đích nào  khác. Thơ mà nhắm vào mục đích hay hiệu quả công dụng, thì chỉ là sản phẩm thứ đẳng .
 
Thơ hiện đại chuyển nhập vào thế giới thuần túy trừu tượng ; hầu như nó hoàn toàn bác bỏ những gì là truyền thống là qui cũ, mà đặt nặng vấn đề biểu hiện tự ngã, cố lắng nghe những xung động nội tại của chính mình. Dùng tự ngã làm trung tâm kiến lập một trật tự mới, một truyền thống mới, chủ yếu là biểu xuất cái chân cảnh của nội tâm. Vì mỗi một thi nhân đủ tư cách là thi nhân hiện đại đều muốn biểu hiện cái hướng hoạt động tâm linh của chính mình. ( Có thể lá cái không nói ra được bằng lời mà chỉ có thể bằng thơ).
 
Do đó mà họ không thể không khổ tâm kiệt tứ tìm kiếm các phương pháp nào để biêu hiện, không kể nó là nội tại hình thức, hay ngôn ngữ, ngữ pháp luôn luôn phải mới, phải biến đổi. Đó là một trong những nhân tố tiến bộ lớn nhất trong thi ca hiện đại.
 
Người xưa thường nói : “ tình động ư trung nhi hình ư ngôn”Tình đó thi nhân hiện đại gọi là “tình thú” ( thích thú hứng thú), Tình ý. Tình thú, tình ý đều là do sự cảm thụ mẫn nhuệ của thi nhân đối với sự hấp thụ sự vật ngoại tại và sự uẩn nhưỡng nội tĩnh mới thành ra một thứ gọi là “ ý tượng” (动於中而刑於言-情趣)意象.Bản thân của ý tượng mang tính thần bí, tính âm nhạc và tính ám thị. Do đo thơ hiện đại buổi đầu làm cho độc giả có cảm giác áo bí thâm sâu và tối tăm khó hiểu.
 
Do nơi bản thân ý tượng  khó chụp bắt, mà nhà thơ phải khổ sở đặt nặng việc phô trương ý tượng.Thậm chí có một số thi nhân vội vã đưa ra những cái chân thực nội tại chưa qua sự chỉnh lý của lý tính – đó là những gì của tiềm thức, hay vô ý thức, là cái thế giới cực hổn loạn chưa được chỉnh l;ý mà cũng không có cách gì chỉnh lý được. Thơ hiện đại vì muốn “truyền chân” điều đó không trải qua cái thế giới quá độ của lý tính. Nó còn đập phá  ngữ pháp truyền thống, để tự tìm ra tính chuẩn xác của ngữ ngôn; không coi trọng sự miêu tả xác thiết các hiện tượng của sự việc, mà là đi tìm sự biểu hiện xác thiết tính nội tại hoàn chỉnh. Nó không tự thuật lại cái diện mạo mà là triển thị cái “linh” của sự việc. Thi nhân hiện đại cũng phải vận dụng  cái công cụ văn tự để hình thành; nhưng  họ phải đập phá cái ngữ pháp truyền thống, mà thiết lập tổ chức một trật tự ngôn ngữ  mới.
 
Điều mà thi nhân hiện đại  muốn diễn tả là chân cảnh nội tại; chứ không phải  là cái vỏ trang sức ở bên ngoài. Thí dụ :
 
Mùa hạ kéo dài những nụ hôn tham lam
Những  gương mặt lạ lướt qua không âm vang
Nụ cười nắng rỡ ràng  mái phố
Bước, bước đi những bước đi lẻ loi chếnh choáng
Vẫn có những tự đặc biệt mang tính nội hàm, tượng trưng, như :
Em chỉ còn là hình sương bóng khói
Mùa hạ thắp lửa hư tưởng  lên trời cao nhức  nhối
 
Mỗi khi nói đến Sex, người ta thường có ý niệm xấu; thực ra sex là biểu hiện ý niệm nguyên thủy sinh tồn của con người. Nó biểu hiện  bản năng nhu cầu của con người, của thơ, nó là chân cảnh.
 
Con người luôn luôn mong mỏi trưởng thành, mong mỏi có một cuộc sống hào hoa; cho nên luôn luôn tự thân phải đề phòng cảnh báo, tự thân phải tỉnh táo, tự thân phải tự hành hạ thúc giục. Nó tự bảo, nếu phải cầm lấy roi quất vào háng của anh thì không sao có tiến bộ. Giống như kẻ hầu hạ (hoạn quan) trong cung đình, vĩnh viễn không thể nào sống cho bản thân mình. Điều đó chứng tỏ khát vọng cuộc sống thành trưởng thành bi ai; cho nên tốt nhất là không trưởng thành vĩnh viễn mãi mãi ở giai đoạn thuần trinh. Nó cho rằng  con người ngoài cái bản thân mình ra, không còn có đối tượng nào để ỷ lại được cả. Đó là chân cảnh mà các thi nhân hiện đại đang theo đuổi.
 
Tóm lại chân cảnh trong thơ hiện đại, không biểu hiện cái hình thức ngoại tại, mà là biểu hiện cái thực cảnh nội tại. Nó không nằm ở cái biểu tượng thực tại, mà là ở nơi chân thực cảnh của tâm linh; không phải ở nơi thế giới vật chất hổn loạn, mà là ở nơi cảnh giới tinh thần vô hạn; không phải ở nơi biểu hiện thường thức phong phú, mà là biểu hiện cuộc đời phức tạp rắc rối. Sự siêu tuyệt của trí tuệ, Shakespeare cũng từng nói:“ con mắt tinh anh của thi nhân, điểm thần kỳ của nó là được nhìn qua lại, trên dưới, có thể từ trên cao nhìn xuống, hay từ dưới thấp nhìn lên cao; trong khi sự tưởng tượng của nó chưa hề bị cái sở trị của hình thái sự vật cụ thể hóa, thì cây bút trần của thi nhân có thể khiến  cho chúng định hình tượng, cùng cung cấp cho những gì hư vô hóa ra sự vật, và gán cho nó tên gọi.”  Đó tức là thị cảnh rộng rãi mênh mông của thi nhân. Nó không nhìn thế giới như chỉ có một điểm mà là nhìn toàn thể vũ trụ, rồi về sau đem cái chân thực từng thấy được triển hiện ra với mọi người; đó là chân cảnh.
 
Ngôn ngữ thơ vốn mang tính chất súc tích, là chữ ít mà nghĩa nhiều, chữ thơ phải có dư âm dư vị. Đó là công đề luyện của tác giả. Ngôn ngữ thơ khác với tiếng nói thông thường. Vì thơ là một thứ biểu hiện nghệ thuật, nó phải xuyên qua sự trầm tư, phản tỉnh và đề luyện của thi nhân, tạo ra sự tân tươi, tinh xác, giản khiết, sinh động và ưu mỹ, để biểu hiện thành ngôn ngữ thích đáng của tính linh con người. Ngôn ngữ thích đáng (adequate language) là sự thẩm mỹ chứ không phải là lý trí. Bản thân của ngôn ngữ thơ chỉ ban cho chúng ta một thứ mỹ, chứ không phải một thứ tri. Mỹ hay cái đẹp là sự cảm thụ; còn tri  là một thứ thuyết minh, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ cảm thụ chứ không phải thuyết minh. Cảm thụ không nhất định là sự vật cụ tượng .
 
Sự diễn biến của ngôn ngữ tùy theo trào lưu  thời đại mà tiến hóa. Cổ đại có ngôn ngữ của người cổ đại, ngày nay có ngôn ngữ của ngày nay. Ngôn ngữ dùng lâu quá  mất hết trương lực, không đủ để diễn đạt tư tưởng và tình cảm của thi nhân ngày nay, dĩ nhiên không thể khiến người hiện đại  cọng minh đồng cảm, hưởng ứng.
 
Ngôn ngữ thơ có lực nội hàm; câu thơ do nội hàm mở rộng ra trương lực ngoại diên, câu thơ thành đậm đặc, nồng độ.
 
Nhiều người cho rằng  thơ hiện đại khó hiểu; ngôn ngữ thơ hiện đại quá rắc rối tối tăm, quá trừu tượng, cũng đúng. Vì đó là những độc giả, trong căn bản chưa bao giờ tiến nhập vào thế giới thơ. Hay nói rõ hơn là họ không có sức cảm được dòng hải lưu thâm sâu. Thi nhân ngày nay đòi hỏi độc giả phải tiến sâu vào thế giới của họ. Tức là tiến vào thế giới tâm linh, chứ không muốn độc giả đứng trên bờ biển mà ngắm bọt sóng; họ chỉ muốn độc giả lặn sâu vào đáy biển mới cảm thụ được dòng hải lưu to lớn. Muốn hiểu được ngôn ngữ thơ ít nhất cũng phải trải qua nỗi khổ tâm như nhà thơ sáng tạo ra ngôn ngữ ấy. Có thế mới cảm ngộ được ý mới của thơ, mới có thể cảm ngộ được gì ở trong thơ, đó là sự khoái cảm. Và thứ  khoái cảm ấy không phải là hình tượng cụ thể, mà bản thân của thơ chỉ ban cho một thứ khoái cảm, ngoài ra không có gì khác.
 
Thi nhân hiện đại vận dụng ngữ ngôn, không phải nhắm vào sự vật để miêu tả nó, mà là nhắm vào sự tượng  mà biểu hiện, không phải miêu tả thế giới ngoại tại mà là khai quật cái thế giới nội tại của sự vật đó.
 
Ngôn ngữ thơ hiện đại không hạn cục chỉ có một ý nghĩa nhất định, mà là khuyếch triển ra vô hạn ý nghĩa, nó có thể đưa độc giả tha hồ tưởng tượng. cho nên chúng ta có thể nói, ngôn ngữ thi ca hiện đại là ngôn ngữ của tưởng tượng, ngôn ngữ nhiều biến đổi, ngôn ngữ của tối tăm.
 
Thi nhân hiện đại thông thường nhắm truyền chân chính xác cái chân thực nội tại của con người, mà vận dụng một thứ ngôn tự động. Thứ ngôn ngữ ấy không hợp với logic và không hợp  với ngữ pháp truyền thống. Nó có thể đảo lộn từ tính, động từ làm danh từ hoặc danh từ làm động từ. nhưng đó là điều bất đắc dĩ, chứ không phải cố ý làm ra thế; mà có cố ý thành ra trau chuốt, hay là ma quỷ chơi chữ.
 
Trước mắt thơ hiện đại tỏ ra trưởng thành, và thi nhân  hiện đại, lại lần nữa nỗ lực vượt khỏi cái tự ngã, loại bỏ cá tính, tình tự trình hiện chủ quan, mà chú trọng đến  sự phi cá tính, phi tình tự, triển thi khách quan. Rồi thì họ không thể không  sáng tác càng chân thật hơn, ngôn ngữ càng  tươi tắn mới hơn, nhắm trình hiện tâm ý của một đời, truyền chân cái chân thực của nội tại của một thời đại. Đó là sự kiện  ngôn ngữ thơ hiện đại mang tính siêu thoát. Cho nên ngày nay chúng ta đọc một bài thơ trước tiên phải nhận định đó là một thứ thẩm mỹ nghệ thuật, chứ không phải là công tác tìm hiểu một vật. Thi nhân hiện đại theo duổi việc sáng tạo ra ngôn ngữ mới, mà cũng là theo đuổi sáng tác ra tân nghệ thuật.
 
Nói về  tưởng tượng và ý tượng trong thơ .
 
Theo Trần Thiệu Bằng thì sự tưởng tượng là lạc thú của cá nhân. Lạc thú duy nhất khi con người cô độc.. Tưởng tượng hay ý tượng  vốn phát sinh từ “con mắt của nội tâm”, cái mà Hunt gọi là con mắt tâm linh (the mind’s eye) cũng gọi là ký ức của thị giác (visual memory). S.T. Colenridge gọi là con mắt nội tại, nó là đại biểu cao siêu của cảnh giới tinh thần.
 
Thi nhân dựa vào sự hoạt động của tâm linh, làm sống lại những kinh  nghiệm dĩ vãng, dựa vào ký ức hay tưởng tượng  sinh ra tâm tượng  ( mental image), tức là các nhà tâm lý học hiện đại gọi là Ý tượng (imagery.) Ý tượng vốn là một danh từ của tâm lý học. cái gọi là  ý tượng tức là  ký ức của ý thức. Nó là cái thứ từng kích thích tri giác mà không còn ở trước mắt, nó có thể làm cho tri giác ấy sống lại, cái dĩ vãng mà tri giác làm sống lại có khi toàn bộ, có khi chỉ một bộ phận mà thôi. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu tâm lý học, thì thị giác tâm tượng  sinh ra ở nhi đồng  nhiều hơn là ở lớp trưởng thành .
 
Thị giác tâm tượng so với thị giác hình tượng thông thường thì tâm tượng  sinh động tinh vi hơn. Các học giả thường miêu tả cái kinh nghiệm, nhiều người trước khi ngủ hay trong mộng thường có  kinh nghiệm ấy.
 
Ý tượng thính giác ít hơn so với thị giác, nên có người nghe âm nhạc hay nghĩ đến màu sắc, hay màu sắc có thể tượng trưng cho âm thanh.
 
Ý tượng dùng trong phương diện thi ca, cơ bản thường lợi dụng minh dụ hay ẩn dụ. Trong tâm lý chúng ta sinh ra tác dụng liên tưởng. Theo Hunt thì tưởng tượng và  ảo tưởng  được dùng trong tu từ học gọi là (figure of speech- tỉ dụ). Về tính chất thì bao quát tưởng tượng và ảo tưởng , về phương pháp  là lợi dụng  tỉ dụ. Thi nhân vĩ đại đều thích dùng  minh dụ, có người lại thích dùng ẩn dụ.
 
Ám dụ rất quan trọng trong thi ca, ám dụ là nói cái này thực sự là chỉ cái kia (saying one thing and meaning another). Nhưng  khi sáng tạo ý tượng  thì cần phải suy tư chọn lọc thật chu đáo.
 
Đọc Spinoza, nghe tiếng máy đánh chữ nghĩ đến mùi nấu nướng từ nhà bếp bốc lên; đó là những kinh nghiệm mà một con người có thể  gặp qua trong một sát na thời gian. Nhưng với một nhà thơ chân chính không thể hoàn toàn bỏ qua, mà tất cả  đều dung nạp vào tứ thơ của ông ta. Vì dù trong một sát na gặp được các thứ kinh  nghiệm, giá trị của nó không đồng đều. Nhiệm vụ của thi nhân là lựa chọn trong đống xô bồ đó. Nhà phê bình tiếng tăm của anh quốc là I.A. Richard nói : tư tưởng đều là việc chọn lựa (All thought is sorting). Thi nhân chọn ý tưởng ngay trong cuộc sống bình thường .
 
Ngôn ngữ văn học giống như thổ nhưỡng, dù phì nhiêu đến đâu, cày xới trồng tỉa qua nhiều năm tháng thành cằn cỗi. Chữ nghĩa cũng vậy, nên phải canh tân, mỗi thời đại mỗi khác, chữ nghĩa dùng mãi thành sáo mòn.
 
Cách dùng chữ của mỗi người phải là đại biểu cho cá tính của mình. J. Donne  từng nói :”Tâm của một nhà thơ phải như cái hạt trần trụi, cái tâm tư tưởng không hề trau chuốt “. Nhưng thực tế không phải như vậy. Thi nhân cần phải dùng các dạng thức văn, từ giản đơn chất phác đến phức tạp hoa lệ, thử nghiệm đủ thứ, có lúc dùng phương thức cô đọng, có lúc dùng phương thức dàn trải, có lúc tước bỏ chi tiết, có lúc dùng ngữ cú trùng điệp. Như Lý Bạch : Khí ngã giả, tạc nhật chi nhật bất khả lưu
Loạn ngã giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu
Hay như Trần Tử Ngang :
 
Tiền bất kiến cổ nhân          
 Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du      
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.
 
Thi nhân mượn văn tự đóng đủ các vai trò để diễn xuất “ cái tự ngã chân chính“ của mình. Thứ văn tự ấy biểu diễn ra sao, có được sự xúc động đối với chúng ta không , đó chính là tiêu chuẩn để chúng ta thẩm định đối với mỗi bài thơ. Mỗi nhà thơ, không cứ là trực tiếp hay gián tiếp, đều là hướng về một cá nhân nào đó mà tỏ bày, đối phương có thể là độc giả , cũng có thể chính là bản thân tác giả. Tự trong ý thức có những tình cảm khác nhau, tự mình đóng một vai trò khác, như nói với người yêu, dự ngôn hóa là tư tưởng gia, phẩn thế tật tục, phúng thích, đồng thời nó cũng biểu diễn những thái độ khác nhau, như hoan hỉ, phản kháng, hoặc tuyệt vọng, hoặc ngang tàng, hoài nghi  hay tự tín…
 
Ý tượng (意匠) này khác với ý tượng  là hình ảnh (image); nó là tâm ý của họa sĩ khi vẽ tranh, giống như người thợ cấu tạo hình trong đầu; công phu lập ý của thi  nhân trước khi cầm bút viết. Xưa gọi là hứng thú, thần vận, cảnh giới. Thơ Tây phương thì chia ra  là cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, hiện đại, v…v…. Anh văn gọi là “ design”.
 
Sau khi đọc một bài thơ có cảm giác gì, đó là thuộc về sinh lý, mỗi người đều có mỗi ý khác nhau. Emily Dickinson nói : Khi tôi có ấn tượng phảng phất rằng đầu óc tôi như bị ai lấy đi, thì tôi biết đó là thơ chân chính (Quand j’ai l’impression physique que le sommet de ma tête s’en va, je sais que je lis de la vraie póesie). Đó là phản ứng  hoàn toàn thuộc trục giác hay do “ma lực” hàm lượng  của thơ, đương nhiên là từ thông điệp (message) cục hạn đem lại. Vì thơ là một thứ nghệ thuật, chứ không phải là một công cụ phục vụ xã hội. Thế nhưng  thơ không thể không mang ý nghĩa chân chính; sự phát sinh ra thơ là từ bên ngoài xâm nhập vào bên trong , tức là do sự vật ngoại giới xâm nhập vào tâm tư của thi nhân. Từ đó nó mới đổi mặt thay đầu, làm mới lại và sáng tạo ý tượng (image) mới, cuối cùng mới dùng văn tự thiết kế thích hợp mà biểu đạt. Thế nhưng  nhà thơ R. Frost lại nói: Thơ là sự biểu hiện của văn tự. Nhưng  nhiệm vụ của thi nhân không phải đem văn tự hay vận luật đẹp đẻ truyền đạt cho độc giả, mà chính là đem ý nghĩa nào đó truyền đạt cung cấp cho họ. Ý chính hay chủ chỉ là phản ứng  của thi nhân đối với xã hội nhân sinh, do đó hình thức và nội dung  của thơ không thể tách rời ra được..
 
Cuộc sống khắp nơi đều là nguyên liệu nghệ thuật chưa gia công. Chỉ cần xem sự tuyển chọn của nghệ thuật gia, tự thân dùng phương thức  xử lý đặc biệt như thế nào. Vì ở phía sau của tất cả các tác phẩm nghê thuật, nếu chịu khó tìm hiểu đều có thể thấy được bản năng của nhà nghệ thuật, đó tức là tâm tượng, cách xử lý những tài liệu là tố chất của ông ta. Các hiện tượng nhân sinh  đều chưa hề mài dủa là thứ rối rắm; nhưng khi nghệ thuật dùng phương thức xử lý các thứ nguyên liệu đó, thì ông ta không muốn đánh mất cái ý vị tươi mát vốn có của nguyên liệu trước khi gia công , bởi nghệ thuật phẩm phải có sức gây cảm xúc cho người là ở chỗ đó. Bài thơ gây được cảm xúc nơi người đọc. nói như  nhà thơ Anh quốc là “ nỗi đau đem máu hòa vào mực” (the paint of turning blood into ink). Có người cho máu không chưa đủ mà phải có tưởng tượng và trí tuệ kết hợp mới được.
Trên đời không hề có các chủ đề vô vị, mà chỉ có vô vị trong thơ mà thôi.
 
Vận dụng trương lực của ngôn ngữ.
 
Ngôn ngữ thi ca là thứ ngôn ngữ được cải tạo, đề luyện thành hàm súc, đa nghĩa, nó khác với ngôn ngữ thường dùng hằng ngày giao tiếp. Ngôn ngữ thi ca có tính dàn trải, ẩn tế, ám thị, ẩn dụ, tượng trưng v..v…nên nó có độ trương lực; nó không nói thẳng trực tiếp mà là gián tiếp, nó diễn tả bằng hình ảnh , bằng ý tượng .
 
Phóng xạ thi hay đầu xạ thi (projective verse) lả một học thuyết thi ca của trường phái Black Mountain College, thủ lãnh là  Richard Aldington xuất hiện ở Mỹ vào khoảng thập niên 50, tại trường đai học ở Massachuete, hiệu trưởng cũng chính làAldington, ông cùng với hai giáo sư là Robert Duncan, va Robert Creenley thành lập nhóm tiên phong và tạp chí bình luận, phản đối truyền thông cách luật của trường, đề ra thể thơ gọi là “ phóng xạ thể” Từ năm 1950 , Aldington đưa ra tuyên ngôn trình bày quan điểm chính của nhóm, bỏ các hình thức cổ điển, cú pháp và cách luật, chỉ cần thuận theo nhịp điệu âm nhạc như hơi thở. Hình thức dàn trải theo nội dung, cho rằng thơ là do thi nhân đem khả năng của mình truyền đến độc giả, một sự vật, một đồi tượng gì. Do đó thơ là “kết cấu của khả năng” và là sự “phóng xạ của tài năng”, một ý niệm cần phải trực tiếp hướng dẫn một ý niệm khác, đề ra sự tả tác mau lẹ. Lý luận cơ sở của ông ta là “ ý thức sinh lý học” cho rằng sự hoạt động của thơ không chỉ liên quan đến đầu não, mà còn liên quan đế phản ánh cảm xúc của giác quan, còn thể nạp đến tât cả cơ quan, toàn bộ thân thể. Vì vậy, tổ chức văn tự là  một thứ thuộc thể ẩn hình, nó có cả ấn ký của nhục thể con người và do đó phương pháp sáng tác thi ca gồm có hai bộ phận tổ hợp thành hình :
 
I.- là từ đầu xuyên qua hai tai đến âm tiết,
2- là từ tâm thông qua sự hô hấp đến các dòng thơ.
Nó là hình thức khai phóng  bộc lộ các thứ hình thái, má Aldington gọi là thơ “phóng xạ”. Phái này còn đề xướng cách trình bày thơ là lãng tụng, nhấn mạnh tính tự phát và khẩu ngữ hóa thi ca., nó có ảnh hưởng lớn trong thi ca Mỹ một thời.
 
Khái quát những trường phái thi ca
Trường phái DaDa –
Từ Dada ( tình cờ tìm thấy trong từ điển, là trò chơi ngựa gỗ của trẻ con) do nhà thơ gốc Roumanie là Tristan Tzara đưa ra; từ phong trào chủ nghĩa hư vô (nihilisme) và khiêu khích ở Zurich (Suisse); nó công kích tất cả những giá trị nghệ thuật và luân lý. Ngoài Tzara ra còn có những  họa sĩ như Francis Picabia, Marcel Du Champ, và Marx Ernest; những nhà thơ như Queneau, Michaux và Vian cũng chịu ảnh hưởng  của phong trào. Những tín đồ của Dada tổ chức những khung cảnh khiêu khích như họ từng bày tỏ ở Paris. Trên khán đài người ta gỏ vào những chìa khóa, những thùng hộp để tạo thành âm nhạc ( Nguyễn Xuân Khoát bày ra môn gỏ nhịp là ảnh hưởng từ đây) đến khi quần chúng phản đối đồ điên.Khi đó Serner thay vì ngâm thơ thì đặt ngay một bó hoa bên chân một tượng gỗ trong tiệm may mặc.Có người đội cái mũ làm bằng bánh, đọc thơ, càng đọc càng rống to lên, trong khi đó Tzara vẫn tiếp tục đánh nhịp trên một cái thùng vĩ đại. Họ còn chế nhạo đủ thứ, cho đến thi nhân cũng không từ. Để làm một bài thơ theo phái Dada họ bày ra chuyện ;
 
Lấy một tờ báo      Lấy một cái kéo
Chọn trong báo một bài nào có chiều dài dự tính cho bài thơ
Cắt bài báo ra
Cắt cẩn thận các từ tạo thành bài báo ấy
Và bỏ chúng vào một túi xách      Hãy lắc nhẹ
Sau đó lấy ra từng từ đã cắt lúc  nảy
Chép lại cẩn thận theo thứ tự khi những từ ấy lấy ra khỏi túi
Bài thơ thành hình như anh muốn
Như thế anh đã là một nhà thơ  độc đáo khác phàm tục.
 
Ở VN Nguyễn Công Hoan cũng bắt chước trò chơi này làm thành một truyện ngắn.
Cùng thời ấy, ở Paris những nhà thơ trẻ như Apollinaire, Cendrars nỗ lực tạo ra một hình thức thơ gọi là vô thức; người lãnh đao họ là André Breton. Năm 1919 Tzara có đến Paris trao đổi với  họ về khuynh hướng Dada. Nhưng rồi vì chủ trương Dada không nghiêm túc nên đến năm 1921 thì Breton tách  khỏi Tzara mà thành lập phái Siêu thực.
 
Trương phái siêu thực - Nhóm Breton, Aragon, Soupault đứng ra thành lập phái Siêu thực (Surréalisme), nó có ý hướng và mục đích rõ ràng, là chống lại chủ nghĩa hư vô của Dada, và nhắm vào việc muốn biến đổi thế giới. Cơ sở lý luận của họ là chủ thuyết trực giác của Bergson; và sinh mệnh xung động với tiềm thức của Freud. Siêu thực giải thích danh xưng của họ là vô thức hoạt động với tinh thần thuần túy, nó chỉ tiếp thu sự khải thị của tư tưởng, không để cho lý trí khống chế, cũng không tuân theo thứ mỹ học hay xu hướng đạo đức nào. Khẩu hiệu của họ là Tự do, Ái tình và Thi ca.
 
Gọi là tự do là không hề tiết chế, sử dụng tưởng tượng kiếp người. Gọi lá Ái tình , đối tượng của nó có thể là một người nữ nào đó, một thứ nghệ thuật nào, cũng có thể là các thứ hổn tạp, hoặc là đối tượng hư vô phiếu miễu. Và thi ca là diễn tả tự do, mà phương thức tốt nhất là tình yêu. Chủ trương sáng tác của trường phái siêu thực là “ viết lách  vô ý thức”, giữa từ với từ, và câu với câu toàn trông vào sự “kết hợp ngẫu nhiên“. Nếu gieo ra một chữ không hợp ngữ vựng thì có thể tùy ý dùng  mẫu tự nào đó thay thế, dù cho văn lý không thông, thực tại nó vẫn có giá trị, vì nó  tuyệt đối phản ánh  hoạt động tư tưởng của tác giả. Ngoài ra còn chủ trương ghi lại những ảo giác và mộng giác để trực tiếp biểu hiện sinh hoạt “ siêu thực”; phản ánh cá nhân và ngoại giới có sự liên hệ chân thực.
 
Siêu thực chủ nghĩa hình thành và xuất hiện là phản ánh tình hình xã hội sau đệ nhất thế chiến ở Âu châu; cuộc sống của thanh niên mang tâm trạng bàng hoàng bất an, họ chống  lại nền văn minh hiện đại cho đó là thứ văn minh giết người. Phong trào Siêu thực sanh ra từ sự phản kháng đó. Phong trào mở rộng sang các ngành nghệ thuật khác như hội họa, chụp hình. Nhưng đến năm 1924 có bản tuyên ngôn ra đời cùng với tạp chí “La révolution surréaliste” thì chủ nghĩa siêu thực mới thực sự được công khai hóa. Tứ 1926 đến 1928 nhiều văn bản quan trọng ra đới chứng tỏ sinh lực và sự cấu kết chặc chẽ của nhóm. Đó là  Nadja của Breton, Le paysan de Paris của Aragon, La liberté hay l’amour của  Deonos, Capitale de la douleur của Eluard…Đến năm 1930 Breton lại đưa ra tuyên ngôn thứ hai và đổi tên tạp chí lại là Surréalisme au service de la revolution (Siêu thực phục vụ cho cách mạng) Sự kết hợp giữa siêu thực với cọng sản cũng chẳng được bao lâu. Trong khi Aragon  tiếp tục tuân hành kỷ luật của Đảng thì Breton rút ra khỏi đảng năm 1933. Chủ nghĩa siêu thực lan rộng ra thành quốc tế hóa, nhiều nhóm siêu thực được thành lập  ớ các nước. Nhưng cùng lùc phong trào mất tính năng động và tính cay độc của nó, và trở thành một cơ cấu văn hóa, Và sau đệ nhị thế chiến  thì  phong trao  siêu thực nguội tắt vì có  những phong trào mới lấn chiếm. Mãi đến năm 1968, là sau hai năm Breton (!966) qua đời, mới có đôi khẩu hiệu treo trên vách trường đại học muốn phục hồi chủ thuyết siêu thực.
 
Phái tượng trưng – Đại biểu phái tượng trưng thời kỳ đầu là  Mallarmé,
Beaudelaire,Verlaine, Rimbaud. Chủ nghĩa tượng trưng là một phản ứng  chống lại chủ nghĩa thiên nhiên, được coi như là  quá gần gũi với thực tại. Tượng trưng trình bày một lối thoát mới của thi ca hướng về thế giới ý niệm, cũng có thể nói nó là sự trở về với  chủ nghĩa lãng mạn. Thật ra nó khác biệt với lãng mạn; chủ nghĩa tượng trưng cho rằng con người không thể cảm thông với thiên nhiên, với tha nhân, và cả với Thượng Đế. Thế là với mọi cố gắng của giác quan, nó tìm cách vượt cái thực tại mà khám phá ra một thế giới chính xác hơn cái thế giới mà chúng ta đang sống. Sự tìm kiếm cái chân lý cao cà chỉ đến được khi người ta chân thành sùng bái cái đẹp, điều đó  nó giải tỏa  tính phàm tục và công cọng của nhà thơ. Sự tôn sùng cái đẹp thật ra đã có từ trước, đó là  môn phái Parnasse với chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Parnasse là tên một ngọn núi ở Hy Lạp xưa, trong thời của Apollon, vị thần của sắc đẹp. Người ta chọn từ Parnasse là để chỉ rằng  cái đẹp không thể nào đến được, muốn đến  phải khó nhọc lắm. Nhưng với phái tượng trưng, nó chỉ là sự bảo vệ phòng ngự chống lại sự phô bày, một phương tiện  giữ một khoảng  cách liên  hệ đến tình cảm, biểu hiện một lối đi thần bí hướng về một thế giới khác.một sự tìm kiếm. Đặc điểm chính của chủ nghĩa tượng trưng như sau :
1.- Nhà thơ tượng trưng có một quan niệm cấp thiết về thi ca, nó không phải là một trò giải trí mà là một sự tìm kiếm biểu hiện những cảm xúc thần bí của thế giới.
2.- Thi ca tượng trưng không phải là bản năng mà là trí tuệ. Đặc tính của trí tuệ có thể  đi đến bí ẩn.
3.- Thơ tượng trưng tránh sự miêu tả. Để tôn kính vẻ thần bí, thi nhân không dùng những từ để giải thích mà chỉ khêu gợi ra. Những phù hiệu bảo đảm sự tương thông giữa thế giới hữu hình (visible) với thế giới vô hình (invisible).
4.- Trong sự tìm kiếm sự hài hòa vũ trụ mới thấy rằng  âm nhạc của ngôn ngữ có một vị trí đặc biệt; nên nhấn mạnh vấn đề nhạc trong thơ.
 
Về sau đầu thế kỷ 20 thành ra phái Ý tượng, nhưng vẫn bị  coi như là chi nhánh của tượng trưng, hay hậu kỳ tượng trưng. Trường phái nầy lại hưng thịnh vào  khoảng thập niên 20 của thế kỷ 20. Ảnh hưởng lớn nhất là Eliot ở Anh Mỹ, bài thơ Hoang nguyên Wash-land ( terre désolée)  dài 450 câu xuất hiện sau Đệ nhất thế chiến, dùng điển cố trong thần thoại tôn giáo để  tượng trưng xã hội hiện thực.
 
Sau Đệ nhị thế chiến, ở Nhật  lại mượn danh nghĩa bài thơ của Eliot lập thành một thi đàn chính thống từ 1947 đến 1955. Thành viên của họ là Điểm Xuyên Tín Phu, Điền Thôn Long Nhất, Bắc Thôn Thái Lang, Tam Hảo Phong Nhất Lang và Hắc Điền Tam Lang v..v…. Trong chiến tranh phần lớn bọn họ bị Quốc Quân chủ nghĩa xua ra chiến trường  và áp bức đủ thứ, uất ức và tích lủy lắm nổi khổ sở đau thương. Do đó họ mượn thi ca bày tỏ những cảm khái ức tích trong phế phủ, dùng nhân sinh quan trong thời chiến cũng như những hoang phế trong trận chiến  hình thành nhận thức hiện thực, nhận thức chính mình; chủ đề duy nhất của họ là cả một vùng hoang phế hiện đại. Họ đối với hiện thực từ bất an đến bất mãn, đối với cuộc sống  tiến hành quan sát và suy tư, do không nhìn thấy được cảnh hiện thực trước mắt biến đổi, họ tiếp thu sự thống khổ và hy vọng của Eliot. Họ không tả sự xung động kịch liệt biểu hiện bên ngoài, cũng không hình dung cảnh dầu sôi lửa bỏng mà chỉ thể nghiệm tâm lý cộng đồng nghệ thuật có sức cảm nhiễm. Họ có những tác phẩm nổi tiếng  như “ Nhật ký cứu hộ tàu bè” của Điềm Xuyên Tín Phu; “Nóng búc suốt 40 năm “ của Điền Thôn Long Nhất, “ Bài ca đêm tháng năm” của Tam Hảo Phong Nhất.
 
Đến năm 1952 - 1955 lại thành lập “ Liệt đảo phái” là thi phái chống Mỹ và tranh thủ  dân tộc độc lập.
 
Phái kết cấu chủ nghĩa -  Khoảng thập niên 60 của thế kỷ 20 bắt đầu lưu hành một ngành lý luận vân nghệ thuộc chủ nghĩa kết cấu (structurisme). Chủ nghĩa này đối với thơ cách luật và tự do gia dĩ giải phẩu các điểm bất đồng. Thuyết minh thành công hai điểm bất đồng  là tính hợp lý của thi thể hình thức tồn tại; trong thi cách luật ngôn ngữ của thơ khác với ngôn ngữ thực dụng hằng ngày. Kết cấu chủ nghĩa theo góc độ của ngôn ngữ học mà nghiên cứu hiện tượng này. Tác giả cách luật thì  hướng lực chú ý của bản thân ngôn ngữ vào yếu tố hình thức, như âm vận, từ hối và cú pháp v..v… Khiến nó thoát ly hình thức tự nhiên, mà tiến nhập vào tiềt luật của thứ nhân tạo, làm cho sự linh hoạt của ngôn ngữ ấy biến đổi nhiều; về hình thức lại quy định quá gay gắt, đem so với ngôn ngữ thực dụng hằng ngày, hầu như biến thành một thứ trái lại ngôn ngữ thường dùng thành ra một thứ ngôn ngữ độc đặc lạ lùng . Thơ tự do lại dùng thứ ngôn ngữ của tản văn, thế mà vẫn thành thơ. Theo một khía cạnh khác của kết cấu, dùng tâm lý đọc mà giải thích. Khi độc giả đọc thơ, chúng lại có một hình thức kỳ vọng hóa, dùng hình thức chia câu thơ viết xuống dòng; thế là đối với độc giả đọc thơ có thái độ tâm lý chỉ thị và đề tĩnh. Do đó mặc dù những câu tản văn không có thuyết minh thời gian, địa điểm, bối cảnh, v..v…độc giả cũng không thể coi như đang đọc văn xuôi, mà đâm ra nghi vấn. Họ biết rằng  thời gian, địa điểm, nhân xưng  v..v… trong thơ đều không chỉ rõ hoàn cảnh hiện thực, mà chỉ khiến cho độc giả tưởng tượng ra hoàn cảnh, hư cấu của thơ. Câu cú ngữ ngôn trong tản văn (văn xuôi) thì không thể không hoàn chỉnh; nhưng trong thơ thì lại tự hoàn chỉnh, lý giải thơ chung qui là giả định nó bao hàm ý nghĩa lớn trên mặt chữ nghĩa nên phải đào tìm ý đó  ở ngoài ngôn từ.
 
Tân siêu thực ỏ Mỹ - Vào thập niên 70 của thế kỷ 20, phái tân siêu thực trở thành trường phái chính trong phong trào thi ca ở Mỹ; đai biểu gồm có cá thi nhân : Brey , Simpson, Merwen, (?) , v..v…. Bọn họ kế thừa chủ nghĩa Siêu thực của Pháp do Breton chủ trương, hấp thu tư trào triết học tồn tại chủ nghĩa (hay cũng gọi là hiện sinh ) và Phân tâm học của Freud. Phái này theo thuyết phi lý tính, khía cạnh siêu thực, phê bình xã hội, cho rằng  chân lý của thi ca là trở về với bản tính. Thi ca cần phải dựa vào bản năng, miêu tả cái gọi là cá nhân siêu thực, và những ý tượng chôn dấu nơi vô thức. Lược đổ biểu diễn của nó là ít trở về với lý tính mà  hướng nhiều về bản năng “xưa cũ”, cái nguyện vọng của tự ngã, né tránh cái thế giới hiện đại làm cho con người mờ mịt, không biết đến sự hổn loạn, động đảng, càng tiến sâu vào các tầng lớp để khỏi bị cái tình tự tôn giáo xâm phạm và khôi phục “sự vô tử” và “tín ngưỡng”.Thi phong của trường phái này là mang yếu tố chất phác, dùng ngôn ngữ sáng tạo của khẩu ngữ hóa, câu cú không còn là khó hiểu, nhưng những ý tượng mà họ vận dụng cũng rất khó, đó là vì họ dùng ý tưởng ở tầng sâu, nó xuất phát từ tiềm thức mà chưa trải qua sự gia công, nó là tỉ dụ nguyên thủy, chủ yếu là sử dụng những liên tưởng phi lý tính. ám thị của logic, dùng hình thức mật mã ngôn ngữ nên hóa ra thần bí. Ngay trong ngôn từ dùng họ cũng vứt bỏ những từ có ý giàu sang, nhắm vào sự siêu thoát trần thế là nguyện vọng, và thuyết minh nỗi đau khổ sâu sắc của thi nhân. Trước mắt thi phái siêu thực đang chiếm cứ một địa vị quan trọng  trên thi đàn ở Mỹ.
21/1/2010
Khổng Đức
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bí quyết thành công của tiểu thuyết Tố Tâm

Bí quyết thành công của tiểu thuyết Tố Tâm Có thể coi Hoàng Ngọc Phách – tác giả  Tố Tâm  là người đổi mới tiểu thuyết vì  Tố   Tâm  của ô...