Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022
Ký ức làng Cùa 4XXXX
Chương 13
Lê Văn Nghiên còn kiêm thêm nhiệm vụ soạn điếu văn nếu tang
chủ yêu cầu. Điếu văn anh ta viết cho ông Bẩy Hựu ở xóm Cầu Đá chết vì chứng xơ
gan cổ trướng lâm ly thống thiết khiến bà con hàng xóm ai cũng thương cảm. Mấy
chị trung niên chẳng có họ hàng gì cũng oà khóc như vừa bị chồng đánh oan, còn
lũ trẻ con gào rống lên, có thằng khóc dữ quá đái cả ra quần.
Nghiên bị trói hai tay vào cột quán. Trước khi đưa Hảo về,
tay dân quân khoác súng vỗ vai chàng thợ kèn bảo:
Khấn rồi nhưng trong lòng vẫn không yên, người đánh gộc khêu
to ngọn đèn dầu lạc, lấy hết can đảm he hé cửa miếu nhìn ra, hy vọng “ngài” đã
thăng thiên. Nhưng mà cái bọc vẫn nằm đó hình như còn đang cựa quậy. Ông Mộc
run lắm, tuy nhiên tính tò mò đã thắng nỗi sợ cố hữu, đánh liều cầm chiếc búa
Thạch Sanh ra tận nơi xem nó là thứ ma quỷ gì. Không phải ma quỷ hiện hình mà
là một đứa bé mới đẻ được bọc mấy lần tã lót, chắc là vừa ngủ dậy đang gào khóc
thảm thiết. Lưỡng lự giây lát rồi ông Mộc cũng mang đứa trẻ vào miếu, tháo chiếc
váy thâm bên ngoài vì nó đã “tè” ướt cả mấy lần tã. Một thằng con trai. Ông lắc
đầu lẩm bẩm:
Thằng Dọng dạo này đã có tiến bộ trong nghề thả ống lươn. Một mình
nó cai quản già nửa số ao chuôm làng Cùa. Nó ranh ma hơn Trịnh Doãng, thỉnh thoảng
đem biếu chủ nhiệm Hỗ vài con lươn nên loại ngành nghề này tạm thời chưa bị hợp
tác xã đưa vào danh mục quản lý. Hôm ấy thằng Dọng xuống Mạc Điền xem phim về
muộn, bị Trịnh Doãng chửi cho một trận, gần nửa đêm mới khoác ống lươn đi thả.
Nó tắt lối đình Đụn. Đình này đã bị phá hồi Cải cách chỉ còn trơ nền với mấy chục
viên tảng vứt lổng chổng cùng bốn tấm bia đá. Lúc sinh thời lão Xếp Đáy bảo đã
nhìn thấy con rắn mười hai mào dài gấp ba chiếc đòn càn, nằm cuộn khúc bên bụi
dứa dại, riêng cái vẩy của nó cũng bằng đồng xu, lấp lánh như ánh bạc. Dân xóm
Cầu Đá sợ lắm không ai dám bén bảng, nhưng bố con Trịnh Doãng thì bất chấp. Có
vẻ như ma quỷ cũng phải kiềng dân thả ống lươn. Từ đình Đụn ra kho hợp tác xã
chưa đầy năm chục thước. Sân kho làm trên khoảnh đất rộng, phía sau là khu đồng
hoang nổi tiếng nhiều cá trê và lươn. Dọng cắm xong một ống, vừa bước lên bờ chợt
thấy sân kho có bóng người liền ngồi thụp xuống căng mắt theo dõi. Được một
lúc, nó men theo bờ tường bao bò vào xem bọn chúng đang àm gì. Lũ đạo chích
không biết có kẻ theo dõi nên cứ lần lượt vào kho vác thóc ra ngoài. Đến lúc ấy
thì Trịnh Dọng đã nhận mặt được tay Cấn thủ kho, Tào Văn Khắc, cháu gọi chủ nhiệm
Hỗ bằng chú và đặc biệt có cả Bùi Quốc Tiếm, con trai chủ tịch Bùi Quốc Tầm.
Thì ra chính cán bộ và nhân viên cờ đỏ hợp tác xã ăn cắp thóc của xã viên. Chả
trách dân đói là phải. Dọng nghĩ vậy rồi chạy ra đường kêu lên:
Gần đây bố con anh ta mới xin vào hợp tác nhưng vẫn chân
trong chân ngoài, nhất là thằng Dọng, lợi dụng nghề thả ống lươn, ban đêm luôn
rình mò trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Lần này, bị phát hiện hắn dùng dao
chống lại lực lượng bảo vệ định tẩu thoát nhưng không may vấp ngã, chấn thương
vùng gáy đã tử vong. Hiện trường vẫn được giữ nguyên, đề nghị các đồng chí công
an khám nghiệm.
Trịnh Doãng đã có ít nhất hai lần nằm trong trại tạm giam hiểu
rất rõ thế nào là công dân mất tự do. Hắn tin ông huyện trưởng đã nói là làm.
Chuyến này mà bị bắt thì gay.
Ba tù binh miền Bắc quần áo tả tơi, chân bị cùm, lưng dựa vào
tường mặt mũi thâm tím, khẽ nhướng mắt nhìn hai viên sĩ quan nhưng chẳng tỏ
thái độ gì. Người ngồi ngoài cùng, khoảng ba chín bốn mươi, có vết sẹo dài bên
trái kéo đến tận mang tai, có vẻ là một cấp chỉ huy. Người thứ hai có cặp mắt
tròn, còn trẻ măng. Anh ta chắc chỉ là lính trơn. Nhưng đến tù binh thứ ba thì
Khúc Văn giật mình. Trông người này rất quen bởi cái trán dô, cặp chân mày thưa
và nhất là đôi mắt hơi xa tinh mũi giống như dân du mục phương bắc. Bốn luồng mắt
giao nhau một thoáng làm ký ức bật mở, Khúc Văn bỗng nhận ra gã tù binh đó
chính là Khúc Luận nhưng không tỏ thái độ gì. Hắn hỏi Huỳnh Cao:
- Tên này ngoan cố lắm, dùng vũ lực uy hiếp xem ra không ăn
thua, đại uý nên sử dụng ngón tâm lý chiến kết hợp với những lời hứa hẹn may ra
mới có kết quả, tuy nhiên phải giữ tính mạng cho chúng. Sau ngày quân lực Việt Nam cộng
hòa, nếu vẫn không lấy được khẩu cung ông hãy cử người giải về bộ tham mưu.
-Tất nhiên là phải mạo hiểm mới có hy vọng thoát.
Tôi đã để ý, ban đêm chúng cắt bốn thằng canh khu A2. Bọn này lại thay phiên
nhau cứ hai đứa một giờ. Vậy ta phải lợi dụng lúc chúng đổi gác để hành động.
Xa xa trong rừng cao su có ánh đèn. Đói, rét và nhất là chân
bị trúng đạn mất máu đã tê dại làm Khúc Luận không còn sự lựa chọn nào khác.
Anh ta bò dần từng đoạn một, chốc chốc lại nằm xuống thở phì phò . Cứ như thế,
tuy khoảng cách chỉ độ nửa cây số mà viên tiểu đoàn
phó có cảm giác phải di chuyển mấy tiếng đồng hồ.
-Tôi đã nghĩ đến trường hợp chúng khám nhà. Bọn lính biệt
kích này nổi tiếng thiện chiến và tàn bạo nhưng không đáng ngại. Dưới tầng trệt
có hầm bê tông khá kiên cố do ba tôi xây để phòng những lúc có biến động, chỉ
phải cái hơi ẩm, nếu chúng đến tôi sẽ đưa anh xuống đó lánh tạm.
- Ba tôi không phải là người nhẫn tâm, tôi sẽ có cách nói để
ông già hiểu. Anh ra ngoài bây giờ là rất mạo hiểm, chỉ cần đến con lộ 12 là bị
lực lượng dân vệ bắt ngay. Hơn nữa cái chân đang sưng vù thế kia, bước sao nổi.
- Chuyện nhà anh tôi biết rồi. Tôi là con cả cụ chánh Lộng
vào Nam sau ngày cụ bị lính áo Đen của ông khoá Kiệt bắn chết.
Đó là ảnh của Khúc Luận. Gay rồi. Ông Cự Thái giả vờ chăm chú
nhìn bức ảnh nhưng thực chất là kéo dài thời gian để nghĩ kế:
C9 nằm trong khu rừng nguyên sinh phần lớn là loại cây săng lẻ
và sao dầu. Lúc đầu đơn vị được biên chế một trăm hai mươi tám người, gồm một
trăm lẻ hai nữ và hai mươi sáu nam do Chu Quang Sầm làm xê trưởng. Thời kỳ mới
tập kết, anh chị em ở theo đơn vị trung đội trong những chiếc lán lợp cỏ gianh
hoặc lá móc rừng. Sang năm thứ hai, máy bay Mỹ phát hiện được ngầm chữ A, thường
xuyên ném bom toạ độ nên tất cả đều chuyển xuống hầm. Đủ các loại hầm. Hầm chỉ
huy. Hầm sinh hoạt tập thể. Hầm bếp và hầm ngủ. Hầm ngủ chỉ rộng đủ cho hai người,
cùng lắm là ba. Trần lót bằng những đoạn cây cỡ bắp đùi, bên trên đắp lớp đất
dày hơn một mét.
Anh ta đối xử với đồng đội vô cùng nghiệt ngã nhất
là trong quan hệ nam nữ. Hễ nhìn thấy cô cậu nào có biểu hiện tình ý với nhau
là đại đội trưởng gọi lên nhắc nhở, nếu tái phạm sẽ xử lý kỷ luật. Thuỳ Dung,
quê Thuỵ Anh Thái Bình, đang học dở lớp chín thì viết đơn đi thanh niên xung
phong, dáng người như diễn viên múa, mắt lúng liếng sống rất mơ mộng. Một lần
Dung đi hái măng trong rừng Bầu Sao bắt gặp anh chàng” nghệ sĩ” Dóp đang tha thẩn
dọc bờ suối tìm vần điệu cho bài thơ “Đêm lấp hố bom” ca ngợi vẻ đẹp của
thanh niên xung phong Trường Sơn. Chủ nhật, đơn vị nghỉ nửa buổi. Phần lớn đội
viên tranh thủ tắm giặt, chỉ có những kẻ lãng mạn và lười như hủi mới rủ nhau
vào rừng, mà đã là lãng mạn thì tâm hồn bay bổng trên chín tầng mây, chẳng cần
nghĩ đến quần áo sạch hay bẩn, người tắm từ hôm nào. Dóp vừa đi vừa
lẩm bẩm:
Quả nhiên, tối thứ bẩy, trong buổi sinh hoạt thường kỳ, Chu
Quang Sầm đưa sự kiện nhà thơ Dóp và nữ đội viên Thùy Dung ôm hôn nhau trong rừng
Bầu Sao sau khi đã hội ý chi ủy và ban chấp hành Đoàn. Lê Văn Nghiên lúc ấy đã
ba mươi hai, quá tuổi nhưng cũng được mời họp với tư cách A trưởng phụ trách tổ
mìn. Mở đầu, bí thư Hoàng Thị Chăm, một cô gái có thân hình lực sĩ quê vùng
chiêm trũng Hà Nam, chân tay thô ráp, đứng lên nêu lý do cuộc họp.
- Các đồng chí nói rất đúng. Giữa cái sống và cái chết trong
cuộc chiến tranh này, một nụ hôn có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Ta không nên cấm
đoán tình cảm tự nhiên của con người mà phải nâng đỡ, hướng dẫn phát triển đúng
quy luật, phù hợp với những giá trị đạo đức truyền thống. Tôi xin kể cho mọi
người nghe câu chuyện có thật cách đây hơn một năm về một người con gái. Hồi ấy
tôi đang ở C23 trên đường 34. Đấy là đoạn ngầm qua suối Đa Linh mới được mở từ
đầu mùa khô tránh phải vượt đèo Sừng Bò. Trung đội thanh niên xung phong phụ
trách đoạn ngầm này do cô Tuyên chỉ huy. Họ giữ an toàn được hơn hai tháng thì
bị lộ. Thế là mỗi ngày có ít nhất bốn lượt máy bay quần đảo trút đủ các loại
bom xuống cung đường hẹp chưa đầy tám mươi thước. Trong số chị em bám trụ ở đây
có cô Mai da trắng tóc dài, mắt đen xinh như văn công. Hôm ấy, sau khi tiểu đội
hai vá xong quãng ngầm phía bờ nam bị bom phá buổi trưa thì trời sẩm tối. Chị
em vừa leo lên dốc bất chợt có ba chiếc máy bay từ phía biển vào, chúi xuống lần
lượt cắt bom rồi biến đi rất nhanh. Tất cả đều không kịp xuống hầm. Sau hơn một
giờ đào bới người ta chỉ lôi lên được những xác chết không còn nguyên vẹn.
Riêng cô Mai, bị mảnh bom chém ngang sườn, máu loang ra ướt đẫm nửa người làm mặt
cô nhợt nhạt, đôi môi se tím nhưng vẫn còn tỉnh táo nói thầm:
Dốc Ngựa Trời thực chất là một đoạn đường vòng tránh ngầm
chưa A qua thượng nguồn suối Đắc May. Rừng ở đây rậm rạp, phần lớn là loại sao
trắng, săng lẻ và chìa vôi mọc rất ngang hàng thẳng lối như là được bàn tay con
người trồng từ thủa hồng hoang. Phía đường ngầm, cây cối bị bom phát xơ xác, đất
đá cày nham nhở thực sự là bãi chiến trường thì vùng Bầu Cạn, khỉ vượn vẫn đánh
đu trên cành kiếm những quả vú vò chín đỏ, ngồi vắt vẻo, chén ngon lành. Chim
‘bắt cô trói cột” ở đây nhiều vô kể. Chúng không hót đồng loạt mà thay nhau gào
lên như một cuộc chạy tiếp sức bằng âm thanh ầm ĩ, náo loạn không bao giờ ngừng.
Hôm ấy là thứ tư. Gần nửa đêm có mấy bóng đen thấp thoáng
phía đầu nhà bếp. Tiểu đội ba gác chẳng thấy một ai. Chắc các cô mệt quá sau một
ngày khênh đất đá vá đoạn dốc Chuối nên ngủ mệt. Hai người bịt khăn kín mặt
chui vào hầm chỉ huy bấm tay Chu Quang Sầm:
Hai chị em dắt Thuý Bàn lên bờ. Cô ta ngoan ngoãn đi theo
nhưng thỉnh thoảng lại nhìn về phía sau có vẻ như còn nuối tiếc một hình bóng
nào đó trong trạng thái mộng du qua lời ca buồn . Đến trưa ngày thứ ba thì căn
bệnh quái lạ của Thuý Bàn lây sang hơn hai chục chị em
khác nhất là những cô mất kinh và hay mơ mộng. Thuỳ Dung vừa hôm trước
còn an ủi, vỗ về Thuý Bàn thì hôm nay đến lượt cô hát lảm nhảm những bài tiền
chiến như “Con thuyền không bến" của Đặng Thế Phong “Tà áo xanh”của
Đoàn Chuẩn - Từ Linh nhưng ca từ đầu Ngô mình Sở hoàn toàn tuỳ hứng, gặp Lê Văn
Nghiên, ôm chầm lấy đòi hôn. Khổ nhất là Thuyên “hạt mít” . Cô này vừa nhỏ
người vừa xấu nhưng bộ ngực lại to quá khổ, cứ vài giờ lại vật vã như con nghiện
lúc lên cơn đói thuốc, miệng nhai tóp tép, mắt long sòng sọc, nhìn đâu cũng thấy
rắn rết. Lúc đó, hàng chục cô rủ nhau ra suối, để nguyên quần áo nhảy xuống nước
té nhau như những con điên. Căn bệnh bí hiểm này chỉ phát lộ vào ban ngày. Ban
đêm các cô lại vác cuốc xẻng, đẩy xe cút kít ra đường, ai có nhiệm vụ của người
ấy, làm việc hoàn toàn tỉnh táo với tinh thần quyết tâm bảo vệ ngầm chữ A và đảm
bảo thông xe an toàn.
Thuỳ Dung giấu gùi vào bụi cây ven đường mòn. Hai người về đến
suối Cua Đá, thì tiếng súng thưa dần. Họ qua suối ngược lên một đoạn sau đó rẽ
vào đường hào từ trung tâm bãi khách thông ra. Vừa ra đến lán chỉ huy, Lê Văn
Nghiên đã nhìn thấy bọn thám báo mặc đồ rằn ri quật báng súng vào lưng Hoàng Hữu
Vân. Ông ta đau quá gục xuống kêu ồ ồ. Thùy Dung rê nòng súng định
bóp cò nhưng Nghiên giữ tay cô, thì thầm:
Nghiên đoán người mặc bộ bà ba kia chắc là cán bộ quan trọng
vội chạy đến cởi trói cho ông ta. Ngoài vết thương bắp chân ông Năm còn bị đạn
AK xuyên qua bàn tay trái. Chỗ viên đạn phá không lớn lắm nhưng máu chảy nhiều,
rất đáng ngại. Nghiên vừa xé xong cuộn băng cá nhân buộc vào tay ông cán bộ thì
có tiếng phành phạch trên tán rừng. Hai chiếc trực thăng từ hướng tây nam ầm ầm
lao tới. Lá cây bị gió quạt táp đi rụng bay lả tả. Thấy không còn cơ hội cứu
Thuỳ Dung được nữa, Nghiên ngồi xuống, quàng hai tay người bị thương vào cổ rồi
luồn theo đường hào chính chạy ra bờ suối. Đến đoạn rừng thưa, bọn trực thăng
đã nhìn thấy hai người cõng nhau liền bay sát ngọn cây, gầm rú, xả đạn. Chúng
bay chậm, có lúc gần như đứng yên một chỗ xăm xoi dưới tán rừng . Bất chợt một
chiếc vượt lên trước chặn đầu, chiếc sau khoá đuôi rồi ném lựu đạn xuống những
chỗ nghi ngờ như là trò chơi ú tim. Khoảng mười phút sau, chiếc trực thăng thứ
ba hạ xuống khoảng trống. Chúng tăng cường lực lượng để quây cho được đoàn
khách. Bọn lính mặc đồng phục da báo ôm súng lom khom luồn dưới tán
cây, sau đó nhảy xuống hào. Chúng gạt xác đồng bọn sang một bên, thận trọng
chui vào các ngách hầm tìm kiếm.
- Vậy tôi hỏi ông nhá, ông Bùi Quốc Tầm, bí thư Đảng uỷ, có
hai thằng con trai, một thằng đã hăm bốn, sao không để nó ở nhà làm nghĩa
vụ công dân mà lại sang Liên Xô?
Bỏ học, Tiệp theo anh Ba Trì làm nghề bẫy cò và thả
rọ cá rô. Hắn có nghệ thuật làm dò cò, hôm nào cũng được hàng xâu đem về xáo
măng, từ đó thanh niên làng Cùa đặt cho biệt hiệu “Tiệp Cò”. Tiệp vốn có năng
khiếu hoạt động phong trào, lại biết cách đón ý Bùi Quốc Tầm nên chẳng mấy chốc
được kết nạp đảng rồi làm thư ký đội sản xuất, phó bí thư chi đoàn
xóm Chùa. Vào thời kỳ máy bay Mỹ đánh phá khắp nơi trên miền Bắc, thanh niên có
phong trào viết đơn bằng máu tình nguyện vào chiến trường thì Tiệp được giữ lại
làm lực lượng kế cận. Hắn vốn có tính trai lơ, chòng ghẹo hết lượt
các nữ thanh niên cho nên nhiệm kỳ thứ hai trượt uỷ viên chấp hành
Đoàn xã. Lúc ấy Bùi Quốc Tầm phải ra tay cứu bằng cách đưa hắn sang làm phó chủ
nhiệm sau khi chấp nhận phương án của Tào Văn Hỗ để em họ ông ta là Tào Văn Tưởng
giữ ghế chủ nhiệm.
Ngay đêm hôm ấy, hai vợ chồng đào một chiếc hầm trong gian buồng.
Đất xúc lên cho vào đôi thùng gánh nước chuyển ra đổ xuống ao bèo sau nhà. Đồ đạc
của Tào Văn Kha chỉ có chiếc ba lô lép kẹp, một bộ quân phục đã sờn, chiếc xẻng
quân dụng có cán gập và con dao găm Mỹ. Chiếc xẻng công binh lúc này tỏ ra được
việc. Tầm bốn giờ sáng thì xong hầm. Nó được đào cách tường bốn mươi phân, phía
ngoài để chiếc hòm khoá chuông làm vật che chắn. Nắp hầm tạm thời đậy bằng tấm
thảm áo ngô. Nó rất tiện lợi để người ở dưới, nếu cần có thể đội lên được nhưng
lại khá bất ngờ nếu ai vô tình vào buồng.
- Tiểu đội có mười ba thằng, đánh trận đầu chết năm, trận thứ
hai mất bốn, ba đứa bị thương còn anh may thoát được, bơi qua sông sau đó lạc
đơn vị, lần mò trong rừng hàng tháng không tìm thấy đường ra, xuýt chết đói. Thằng
Dụ ở Đậu Khê gãy chân trái bị hai thằng lính nguỵ bắt, chẳng biết sống hay chết.
Anh chỉ muốn về thăm con và em mấy hôm rồi đi.
Liễu hấp tấp chạy về. Bà Sót đã đưa thằng Khả ra trạm xá. Cô
y sỹ nhìn thấy mặt thằng bé tái xám, bụng nó cứ ưỡn lên khóc mãi không thôi,
nghi là bị giun chui cuống mật liền viết giấy cho đi bệnh viện. Bệnh viện sơ
tán cách làng hơn chục cây số, Liễu chẳng kịp báo với nhà chồng mà mượn xe đạp
cho con đi ngay, ứng Thị Sót ngồi đằng sau bế cháu. Liễu gò lưng đạp. Giữa đường
thủng xăm phải tìm mãi mới nhờ được người vá. Đến phòng cấp cứu mới hay, thì ra
thằng Khả bị đau ruột thừa phải mổ. Sáng hôm sau Liễu bảo bà Sót:
Tiếp đó là hơn chục năm hợp tác xã nông nghiệp làm ăn thất
bát. Làng Cùa xơ xác. Đói bụng đầu gối phải bò. Hơn bốn chục gia đình dắt díu
nhau vào tận Đắc Lắc khai hoang trồng sắn để "tự cứu mình trước khi trời cứu”
như ông Tổng bí thư đã khuyến cáo. Lũ con Trịnh Doãng lấy vợ ra ở riêng chẳng
thằng nào theo nghề của bố. Thằng Dung kiếm được ít vốn chạy tuyến biên giới
buôn hàng Trung Quốc. Thằng Dị cùng với mấy anh bạn đấu thầu khu đồng trũng gần
rừng Hóp thả cá và nuôi vịt đẻ. Riêng thằng Dọi không chịu cảnh đất chật người
đông chỉ độc canh cây lúa dắt vợ lên Tây Bắc lập nghiệp. Doãng vẫn túc tắc thả ống
lươn kiếm đồng ra đồng vào. Có điều bí mật công nghệ đã bị đánh cắp, làng Cùa
hình thành đội ngũ đánh bắt loại bò sát da trơn khá đông đảo, chuyên cung cấp
hàng cho con buôn mang lên cửa khẩu Móng Cái , thành ra lươn ít dần có nguy cơ
tuyệt chủng. Một hôm ngồi nhắm rượu với lươn om bên cạnh bà vợ kém mắt, Doãng
than thở:
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức (Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, ...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét