Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Ký ức làng Cùa 4XXXX

Ký ức làng Cùa 4

Chương 13
1. Làng Cùa được huyện Nam Thành chọn làm đơn vị điểm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Chủ tịch Bùi Quốc Tầm cho cán bộ xã đi hết lượt các gia đình vận động bà con viết đơn. Phần lớn các chủ ruộng đều không thích làm ăn tập thể, nhất là những người từng trải thường tỏ thái độ lừng chừng làm cho trưởng ban vận động Tào Văn Hỗ tức Hỗ Chột lo sốt vó, chỉ sợ không hoàn thành chỉ tiêu chín mươi tám phần trăm đã đăng ký với huyện. Những đối tượng hăng hái nhất trong cuộc ăn chung đổ lộn này chính là các gia đình trước đây vốn là địa chủ cường hào đã bị mất điền sản thời Cải cách, đang sống vật vờ cạnh bãi tha ma đồng Chó Đá. Kẻ chống đối gay gắt nhất là Trịnh Doãng.
Doãng là con ông Cả Duệch. Ông Duệch có ba con trai. Doạng và Doan tính hạnh hiền lương, làm ăn cơ chỉ, duy có Doãng, anh thứ hai là trái tính trái nết. Doãng tuổi ất Hợi, năm lên bảy bị bệnh đậu mùa, toàn thân phủ lớp mụn to bằng hạt đậu nành, mọng nước như phỏng dạ. Những mụn ấy vỡ, nước vàng chảy ra bốc mùi khăn khẳn không chịu được. Người Doãng quắt như con mèo hen, miệng he hé chẳng khác gì cá mắc cạn hớp không khí. Ông lang ích thăm bệnh xong, lắc đầu:
- Tôi chịu. Ông bà sắp chiếu, chẻ lạt đi là vừa.
 
Ông Duệch thương con không nỡ. Thôi thì còn nước còn tát. Nghĩ vậy, ông bảo Doạng chạy ra xóm Trại Cá gọi bà phó Lễ vào xem có cứu được không, Bà phó Lễ là lang vườn kiêm nghề đỡ đẻ. Thuốc của bà toàn nước thải với bùa chú thêm ít rễ cây  đốt thành tro trộn lẫn cho con bệnh uống. Doãng uống thứ nước đục lờ lờ lẫn cả tàn nhang có mùi oi khói như con đồng lên cơn khát. Ông Duệch nhìn con lắc đầu:
- Cơ sự này hỏng rồi.
Bà phó Lễ mắng:
- Phỉ phui cái mồm nhà ông. Mệnh thằng bé này lớn lắm. Nó là tướng nhà giời bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian để hầu hạ Chúa Bà ở miếu Cô Hồn nên chưa thể "đi" được.
 
Quả nhiên đến chập tối Trịnh Doãng tỉnh lại. Ông Cả Duệch bắt vợ thổi một nồi xôi dành dành và thịt con gà trống hoa mang ra miếu làm lễ tạ.  Doãng khỏi bệnh nhưng mặt hắn rỗ như tổ ong trông rất khó coi. Lớn lên Doãng không thích học mà chỉ khoái ra đồng Chó Đá lùa bắt chim cút và chia phe chơi trò đánh nhau. Có lần hắn bị bọn trẻ con xóm Cầu Đá dìm xuống ngòi Mác gần chết vì đêm hôm trước mò ra đồng Gà bẹp mấy chục chiếc đó tép của chúng. Dạy học ở làng Cùa bấy giờ là ông đồ Sách. Ông này vừa tham ăn vừa dữ đòn. Đứa nào mới nhập môn cũng bị nện ba roi thật đau để nhớ câu "Tiên học lễ hậu học văn". Doãng là đứa ngỗ nghịch lại lười nhất hạng, hễ vào lớp là ngủ gà ngủ vịt mơ màng đến lũ tôm cá ngoài đồng nên hay bị thầy nọc ra sập sai gã trưởng tràng quật roi mây vào mông. Doãng tức lắm, lựa hôm đồ Sách đi vắng, lẻn vào nhà vạch chim đái vào ống bút với nghiên mực. Đồ Sách mắt bị lông quặm, nhìn không rõ, chỉ thấy mùi khai khai liền chấm tay vào nghiên đưa lên ngửi, biết ngay thủ phạm là ai liền đến nhà ông cả Duệch. Ông Cả sượng mặt vì thằng con mấy dạy, trói hai tay Doãng treo lên xà nhà nện mười lăm hèo mây rồi lấy muối xát vào. Những vết lằn ngang dọc rớm máu nổi lên vừa đau vừa xót nhưng Doãng gan lì, trơ như đá, không khóc cũng chẳng van xin. Ông bố chịu phép phải tha. Doãng oằn người, cắn răng nén chịu, cúi đầu chắp tay vái đồ Sách.
- Con cám ơn thày.
Từ đó Doãng bỏ học chuyên đi thả ống lươn.
Năm Giáp Ngọ bà Cả đi chợ sớm bị ma rủi chết đuối ở ngòi Mác. Ba năm sau, ông Duệch cũng qua đời vì chứng kinh giật. Bố vừa nằm xuống, cỏ chưa kịp xanh mộ Doãng đã đòi chia gia tài. Lúc ấy Doạng đã có vợ, ăn riêng nhưng ba anh em vẫn ở chung một nhà. Doạng bàn với Doan cắt cho Doãng phần đất sát đường có ngôi nhà ngang hai gian lợp lá gồi nhưng hắn không nghe. Hắn yêu cầu mọi thứ phải chia ba, anh nào không thích có  thể bán cho người khác. Gay nhất là ngôi nhà chính. Doãng tranh gian giữa.Hắn lấy cót thưng lại hai bên rồi ngủ ngay trên sập gụ trước bàn thờ tổ tiên. Chị dâu không chịu được thói ngỗ ngược của ông em chồng, nói mấy câu bị hắn vả cho một cái hộc máu mồm. Ông xóm trưởng kiêm uỷ viên Nông hội sang dàn xếp, Doãng cầm con dao mác vót nan đứng giữa cửa, mặt hằm hằm, cặp môi cá ngão trề ra:
- Kẻ nào muốn mất mạng thì vào đây?
Có người biết chuyện vội chạy xuống xã báo trưởng công an. Trương Đình Tái đem ba bốn dân quân đến nơi nhưng cũng phải mất gần một giờ mới giải toả được sự căng thẳng và chỉ chút xíu nữa là đổ máu.
Vua cũng thua thằng liều. Cuối cùng anh em Doạng Doan phải chấp nhận phương án chia ba. Chia buổi sáng, chiều Doãng gọi người bán tài sản của mình.
Doạng hốt quá sợ cơ nghiệp mấy đời của cha ông chắt bóp mới được thế này bỗng chốc sang tay người khác liền bàn với Doan vay giật mỗi nơi một ít gom đủ số tiền, tất nhiên là cao hơn so với giá nhà đất hiện thời, đưa cho thằng em đầu bò. Mấy hôm sau, Doãng tìm mua được miếng đất của ông Vệ Tuân ơ xóm Cầu Đá. Ông này thua xóc đĩa phải gán nợ đi ở nhờ. Khu đất rộng hơn hai sào có túp nhà ba gian lợp rạ. Từ đấy anh em Doạng Doãng không thèm nhìn mặt nhau.
 
Không biết Doãng học thả ống lươn ở đâu vì làng Cùa đến lúc ấy mới chỉ có công nghệ kéo lưới, quăng chài, đánh giậm, móc cua bát ếch và đơm đó. Móc cua là nghề hạ đẳng lại rẻ như bèo, hai xu một giỏ, không bõ những đấng nam nhi bẩn tay. Thả lưới là khó nhất không phải ai cũng kiếm ăn được trên sông Lăng. Đánh giậm, chạy dủi tốn sức, cuối buổi cá tép thường ươn, khó bán. Đặt đó lại phải thức canh đêm, nhãng đi một tí là bọn xóm Trại Cá rình khoắng sạch. Cuối cùng chỉ thả ống lươn là sống được, thậm chí sống phong lưu nếu biết giữ độc quyền không để bí quyết rơi vào tay người khác.
 
Làm ống lươn không khó. Nguyên liệu chính là một đoạn nứa ngộ đường kính cỡ bắp chân, đầu mặt trổ vài lỗ thông khí, đầu rỗng dùi hai lỗ đối nhau, lắp hom rồi xuyên qua thanh tre bằng ngón tay vót nhọn là thành cái bẫy bắt loài bò sát chuyên lẩn dưới bùn khá hiệu quả. Thứ mồi hấp dẫn nhất là ốc vặn đập dập trộn với giun đất gói lá khoai ngứa, bên ngoài chọc thủng vài chỗ để mùi tanh dẫn dụ khứu giác lươn. Bí mật nghề nghiệp của Doãng là ở công đoạn chọn vị trí cắm ống. Lươn ưa cư trú ở những ao tù nhiều bùn. Làng Cùa thuộc vùng chiêm trũng, mười hộ thì có đến bảy tám vật đất làm nhà, thành ra chỗ nào cũng có ao chuôm thùng vũng, rất thuận lợi cho Doãng hành nghề. Thường thì ban ngày hắn la cà khắp nơi, có khi lẩn vào những chỗ ngóc ngách rậm rạp quan sát bằng con mắt dày dạn kinh nghiệm. Ai không biết tưởng hắn mải chơi, vô tích sự, không chịu làm ăn. Mặc kệ, Doãng không thèm chấp. Chập tối, sau khi đã chuẩn bị đồ nghề đầy đủ, hắn khoác chùm ống lên vai đến những xó xỉnh ban ngày đã nhắm được. Thao tác của Doãng rất gọn, có khi chưa đầy ba phút đã cắm xong một ống. Những hôm tối trời, giáp mặt không nhìn thấy nhau, Doãng cứ bước phăm phăm, khỏi cần đèn đóm. Hắn thoắt ẩn thoắt hiện như ma. Đàn bà con gái rất sợ gặp Trịnh Doãng ban đêm. Hắn là hiện thân của mọi sự rủi ro. Có lần hắn vừa lỉnh kỉnh bê ống lươn đến đầu cầu Đá bắc qua ngòi Mác gặp ngay anh chàng phó bí thư đoàn đang bóp vú cô phân đoàn trưởng xóm Đình. Thấy bộ dạng Doãng, cô Mầm vốn nổi tiếng lẳng lơ tưởng là thằng Trọc hiện hình, hoảng quá rơi tõm xuống nước. Anh phó bí thư cực chẳng đã phải nhảy xuống  cứu.
 
Thả hết ống, Doãng về nhà ngủ. Cuối canh tư, thức dậy trong lúc cả làng còn đang ngon giấc, hắn rảo một vòng quanh các ao, thu hết những chiếc ống đã thả hồi đêm. Trời sáng, Doãng lần lượt tháo hom dốc những con lươn béo múp, vàng ươm ra chiếc rổ sề. Hắn chọn toàn con to thả vào nồi hông, chờ cô Mít đến mang ra chợ Rồng bán. Có hôm Doãng đổ ra được ba con rắn đầu bẹp nhẵn bóng, mình ngắn, màu đen sẫm sống lưng gồ lên trông rất quái dị. Ông Lang Chẫu đến xem một lúc rồi bảo:
- Của này độc hơn cả rắn cạp nia, vô phúc bị nó cắn, sau nửa canh giờ là chỉ có đóng ván.
Doãng sợ chết khiếp, từ đấy không dám thọc tay vào ống như trước nữa.
 
Sau khi chia gia tài, Doãng được ba sào ruộng đồng Gà. Chân ruộng này thuộc loại tốt nhất làng, năm hai vụ làm chơi ăn thật nhưng phải cái mùa khô thường ít nước. Đến vụ cày cấy, Doãng một mình xoay trần ra làm, không thèm nhờ ai. Giai thoại hay được bà con nhắc đến là có lần hắn tát nước với … cọc. Vùng Ba Tổng có lệ tát nước gầu dai mỗi bên một người thành cặp. Có tàu tát cao, người ta đóng đến ba bốn cặp. Thích nhất là tát nước đêm trăng. Từng đôi, kẻ bên này, người bên kia đong đưa theo nhịp. Từng gầu nước lẫn ánh trăng sóng sánh, chao theo một đường vòng cung rồi bất ngờ bãi tung toé trên mặt ruộng, loang ra một màu trắng bạc. Rất nhiều những đôi nam nữ nên vợ nên chồng từ những đêm trăng tát nước huyền ảo như vậy.
 
Nhưng với Doãng thì khác. Hắn ghét cay ghét đắng  lối vần công và mọi kiểu chung chạ. Năm ấy hạn nặng. Như trên đã nói, đồng Gà thuộc diện cao, nước từ ngòi Mác chảy vào ít, các chủ ruộng phải thương lượng với nhau tát theo giờ. Doãng nhận vào lúc nửa đêm, chắc là vì không muốn thiên hạ biết cung cách làm ăn quái gở của mình. Đợi cho mọi người về hết Doãng mới lấy hai chiếc cọc tre đóng bên kia tàu tát. Sau khi buộc cố định dây thừng vào cọc, hắn thả gầu rồi vung tay chao nước. Khốn nỗi, cọc tre hoàn toàn vô cảm, không có khẳ năng điều khiển linh động như bàn tay người, thành ra, gầu vừa lên nửa chừng đã dốc miệng hết sạch nước. Nhùng nhằng mãi không ăn thua, Doãng tức mình ném cả cọc lẫn gầu xuống ngòi rồi nằm ngửa ngắm sao. Đêm ấy thưa sao. Trời sáng mờ mờ. Gió đông nam phe phẩy khiến Doãng thiu thiu. Chợt có tiếng cười từ xa. Doãng giật mình lập tức bật dậy vớ ngay cán cuốc. Hắn vốn là tay bạo gan nhưng giữa đồng không mông quạnh cũng thấy rờn rợn. Từ lâu, người ta đồn cánh đồng này thường có Mẹ Hét hiện hình thành thiếu nữ tóc trắng trêu những bà đi chợ sớm. Có lẽ mụ ta thật. Doãng nắm chắc cán cuốc từ từ quay lại … Không phải ma mà là một người con gái bằng xương bằng thịt đang đến rất gần. Hắn mê ngủ chăng ? Bởi vì người con gái đó chính là Nhụ. Bố Nhụ là ông Trản, làm nghề quăng chài, nát rượu, một lần uống say quá, vác chài ra đầm Ma ngã xuống nước chết để lại cho vợ ba cô con gái. Con bà Trản cô nào cũng béo phục phịch, hay lam hay làm và mắn đẻ. Cô chị và cô út đã lấy chồng, có con riêng Nhụ ưa nhìn nhất lại chưa cùng ai. Nhìn thấy Nhụ, Doãng sững người. Hắn có tật nói lắp, mãi mới hỏi được một câu hoàn toàn vô nghĩa:
- Cô … cô là … người.. người... hay … ma ?
Cô gái cười, giọng ỡm ờ:
- Là ma đến tát nước hộ người đây. Cái gầu có tội gì mà quẳng nó xuống ngòi. Nào, lội xuống vớt lên đây tát cho.
- Thật chứ ? -  Doãng có vẻ không tin lại hỏi một câu rất thừa.
- Ai nói dối làm gì. Mau lên kẻo trời sáng, người ta bắt gặp.
 
Khỏi phải nói, đêm ấy Doãng cảm động đến mức nào. Hai người mải tát quên hẳn thời gian đến lúc vợ chồng nhà Nguyễn Đình Phán xách gầu ra đòi sòng mới biết nước đã tràn bờ. Mấy hôm sau, lúc làm đồng về, gặp Nhụ ở gốc đa Doãng khẽ chạm vào tay cô ta hỏi:
- Nhụ có bằng lòng về ở với tôi không ?
Cô gái tỏ ra khá bạo dạn:
- Thích thì nhờ người mang trầu cau sang nói với mẹ người ta.
 
Hắn nhờ bà Cõn làm mối thật. Ba tháng sau thì cưới. Đám cưới của vợ chồng hắn theo lối đời sống mới, chỉ ăn trầu uống nước nhưng già nửa làng Cùa đến dự. Lũ trẻ con đứa nào cũng được một cặp kẹo vừng. Riêng họ Trịnh nhà hắn không thấy ai kể cả anh em Doạng Doan.
 
Cưới nhau được một năm Nhụ đẻ sinh đôi hai thằng con trai, đưa tổng số cặp sinh đôi ở làng Cùa từ năm Canh  Ngọ (1930) đến lúc ấy là ba mươi bẩy. Doãng thích lắm, đặt tên là Dọng, Dõng. Hai thằng giống nhau như hai giọt nước, người ngoài không thể phân biệt được thằng nào là anh, thằng nào là em.
Còn bé mà chúng nghịch hơn cả quỷ sứ. Trong nhà có thứ gì dễ vỡ đều phải treo cao, sểnh một chút là các ông nhóc moi ra, nghịch chán chê rồi đập. Khi đã choai choai, Dọng và Dõng toàn gọi nhau bằng mày tao, không đứa nào chịu đứa nào. Nhiều hôm hai anh em đánh nhau chảy cả máu mồm máu mũi. Có lần hai thằng bảo nhau rút rơm nướng khoai. Lửa cháy to quá bén sang cả nhà bếp. Doãng tức quá, bắt nằm sấp vụt mỗi đứa năm roi quắn mông, nhưng chỉ được mấy ngày lại chứng nào tật ấy.
 
Dọng và Dõng khá đẹp trai. nói năng lưu loát chứ không ngọng líu ngọng ló như bố. Điều giống bố duy nhất là chúng lười học và thói bán giời không văn tự. Dân làng Cùa vốn ghét thói ba hoa thường bảo nhau "giỏ nhà ai quai nhà ấy"
 
Cuối năm năm tám, làng Cùa rộ lên phong trào hợp tác hoá. Doãng dứt khoát không viết đơn mặc dù cán bộ xã đã nhiều lần vận động. Hắn lý sự :
- Vào hợp tác xã nông nghiệp là tự nguyện. Chủ trương của Đảng, Chính phủ như vậy. Ai không muốn thì thôi, vì sao các ông cán bộ lại ép bà con ?
 
Chủ nhiệm Hỗ coi Trịnh Doãng là dân đầu mấu, khó cải tạo tư tưởng liền tuyên bố:
- Những đối tượng chống lại chủ trương hợp tác hoá, ban quản trị sẽ trả ruộng ở đồng Chó Đá.
Đồng chó Đá là địa giới giữa hai xã Đoàn Kết và Phong Trạch, sát ngay bãi tha ma, bỏ hoang đã nhiều năm, đất gan gà cằn cỗi có cấy mà chẳng có gặt. Hồi Cải cách xã đã dồn hơn hai chục hộ địa chủ, cường hào phản động ra ở, nhiều người không chịu được phải bỏ làng đi nơi khác làm ăn, giờ chuyển các hộ cá thể đến đây khác gì bắt đi đày. Doãng nuốt nước bọt đánh ực, nghiến răng, cắm phập lưỡi mác xuống bờ ruộng gầm lên:
- Ruộng này là của cha ông họ Trịnh để lại chứ không phải của vớ được hồi Cải cách nhá. Kẻ nào dám động vào một hòn đất là ăn đòn.
 
Không hiểu ban quản trị sợ Doãng hay là họ không thèm chấp thằng khùng mà các hộ cá thể khác đã tự nguyện chuyển đến vùng đất mới, riêng mấy sào ruộng của Doãng vẫn ngang nhiên "ngự" tại khu đồng Gà như cái gai trước mắt trêu ngươi các nhà chức trách. Nhưng Doãng sức mấy thi gan được với tập thể. Hợp tác xã chi công điểm đào đắp hệ thống mương máng thuỷ lợi dẫn nước vào đồng. Hắn là dân tự do chẳng thuộc tổ chức đoàn thể nào bị "cấm vận" ngay từ vụ đầu tiên. Chả lẽ cứ nằm đấy chờ nước trời mà trời lại đang đại hạn. Ruộng của vợ chồng hắn đã nứt chân chim, lúa héo đến nơi. Nóng ruột quá, nửa đêm thức dậy Doãng lẻn ra đồng. Hắn đang hì hục tháo nước máng thì cánh cờ đỏ tuần tra tóm được. Nói mãi Doãng không nghe, tay đội trưởng sấn vào giằng cuốc đắp lại bờ bị hắn tống cho một quả vào quai hàm. Phải vất vả lắm họ mới kéo được tay thả ống lươn về trụ sở hợp tác xã. Chuyện ấy Doãng bị giải lên huyện công an làm khách của dám muỗi vằn mấy đêm. Chẳng biết ở cơ quan bảo vệ pháp luật người ta nói với hắn những gì mà sau hôm được thả, dân xóm Trại Cá thấy vợ chồng hắn lên Ban quản trị xin đổi ruộng .
 
Vợ chồng Doãng xoay trần ra với mấy sào ruộng xấu. Hắn sang cồn Vành cắt cây tầm bóp về làm phân xanh còn Nhụ quẩy đôi quang sảo khắp vùng Ba Tổng nhặt phân trâu bón ruộng. Không có hạt đạm nào mà lúa của hắn tốt bời bời, năng suất gấp mấy lần hợp tác xã. Khổ nhất là hồi chưa mua được trâu, Doãng phải nai lưng kéo cày.Hai vợ chồng hắn, người đi trước kẻ bước sau, nhũng nhẵng mấy ngày mới làm xong  đất. ý chí quyết tâm làm giàu của hắn thật đáng nể. Trong có mấy năm, hắn vừa xây được nhà ngói ba gian bằng gạch chín, tậu được con nghé, lại bổ sung dân số cho làng Cùa hai suất đinh làm chủ nhiệm Tào Văn Hỗ tức điên, bèn triệu tập ban quản trị họp khẩn cấp chuyên bàn về lĩnh vực ao, hồ, đầm ngòi. Sau hai ngày tranh luận khá căng thẳng, cuối cùng ban chủ nhiệm cũng ra được nghị quyết tóm tắt như sau: "Các diện tích mặt nước trong làng và ngoài đồng đều thuộc sở hữu tập thể, cấm mọi hình thức đánh bắt cá. Ai vi phạm sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ nặng nhẹ". Thông báo trên được gã Tuyển què trong đội Cờ đỏ kẻ chữ sơn lên bảng tin cổng làng và trước trụ sở hợp tác xã. Ngoài ra, mỗi ao chuôm, thùng, vũng còn đượccắm biển gỗ viết sơn đỏ dòng chữ ngắn gọn: "Cấm mọi hình thức đánh bắt cá".
 
Xã viên kháo nhau, phen này Doãng hết đường làm ăn. Những kẻ ghen ăn tức ở thì nhìn ngôi nhà ngói đỏ của hắn nhếch mép cười nhạt. Thế nhưng, biển cắm  hôm trước, sáng hôm sau vợ Doãng vẫn có lươn mang lên chợ Rồng bán. Chủ  nhiệm Hỗ cáu lắm, gọi trưởng ban cờ đỏ ra lệnh:
- Đêm nay cậu cho anh em đi kiểm tra một lượt các ao trong làng, nếu gặp tay Doãng, không nói lôi thôi, cứ điệu cổ về đây, tội vạ đâu tôi chịu.
 
Phải đến tối thứ ba cánh cờ đỏ mới tóm được Doãng trong lúc hắn đang lúi húi gài ống ở cầu ao nhà Thường Rỗ. Chẳng nói chẳng rằng, thằng Cửu và thằng Hiệp quàng ngay dây thừng vào cổ Doãng trói nghiến lại, giong về trụ sở. Hắn vừa chửi vừa la:
- ới làng nước ơi ! Chúng nó trói người.
Doãng bị vứt nằm queo ở nhà kho suốt một đêm. Bên ngoài có hai dân quân cầm súng đứng gác. Mới bẩy giờ sáng, chủ nhiệm Hỗ, chủ tịch Bùi Quốc Tầm, trưởng công an Trương Đình Tái và đội trưởng cờ đỏ Tiệp Cò đã về tề tựu đông đủ. Anh nào cũng hí hửng ra mặt. Một lúc sau xã đội trưởng Cung Văn Luỹ dẫn Doãng vào trụ sở. Chủ nhiệm Hỗ nghiêm giọng hỏi:
- Anh có biết vì sao bị bắt không ?
Doãng trừng mắt nhìn hết lượt các vị chức sắc sừng sộ:
- Các ông bắt người vô cớ là phạm luật. Tôi sẽ đi kiện.
- Đề nghị anh nói cho nghiêm chỉnh . - Bùi Quốc Tầm cao giọng răn đe - Vậy anh có biết hợp tác xã cấm mọi hình thức đánh bắt cá không ?
- Biết . - Doãng nói cộc lốc
-Tại sao vẫn cố tình vi phạm ?
Doãng nhe răng cười rất đểu:
- Tôi không bắt trộm cá của tập thể mà là bắt lươn. Thưa các ông cán bộ, lươn không nằm trong danh mục cấm.
- Anh .. anh láo .. còn già mồm cãi hả ? - Chủ tịch xã đuối lý, không ngờ bị vố đau như thế nhưng vẫn cố nói liều đề vớt vát sĩ diện - Lươn cũng là …cá, thuộc tài sản hợp tác xã.
- Này các ông ! - Doãng lại hếch cặp môi cá ngão chĩa về phía ban lãnh đạo xã - Các ông ra văn bản cấm mọi hình thức đánh bắt cá mà lại cho người rình trói thằng thả ống lươn, thế có phải là phường lừa đảo không ? Được, tôi sẽ theo vụ này lên tỉnh, tỉnh không giải quyết sẽ vác đơn lên trung ương.
 
Sau chuyện ấy, chủ tịch Bùi Quốc Tầm và chủ nhiệm Tào Văn Hỗ có vẻ ngại đụng chạm với Doãng. Thấy chính quyền lờ đi, hắn mặc sức tung hoành, đồng thời nghiên cứu nâng cao kỹ thuật bắt lươn lên hàng công nghệ. Có lần Doãng còn được đích thân Hỗ Chột đặt hàng một trăm ba mươi con. Chuyện có vẻ khó tin nhưng đó hoàn toàn là sự thật. Một thời làng Cùa nổi tiếng khắp hàng tỉnh về làm thuỷ lợi nội đồng, được ông Trần Quảng, lúc ấy đã là chủ tịch tỉnh dẫn một đoàn cán bộ năm mươi tám người về tham quan mô hình làm ăn tiên tiến. Ông chủ tịch vốn thích món lươn om củ chuối, vậy là Doãng được triệu đến. Chế biến các món ăn từ lươn là sở trường của hắn. Người hắn thì nhếch nhác, bẩn thỉu nhưng các thứ đặc sản do hắn nấu ngon không chê được. Trước khi về ông chủ tịch bắt tay khen và đưa cho Doãng tấm danh thiếp, dặn lúc nào lên tỉnh ghé vào nhà chơi. Vì thế hắn trở nên nổi tiếng. Cánh cán bộ xã cũng có ý gờm dù hắn chỉ là anh nông dân cá thể mà đáng lẽ ra mọi người phải hết sức cảnh giác.
Trịnh Doãng gọi bà Khúc Thị Hài bằng cô vì mẹ hắn trước đây làm con nuôi họ Khúc. Năm Cải cách vào lúc mẹ con bà Hài bị xã Nhân ái bên kia sông đuổi về làng Cùa dân xóm Trại Cá tránh như tránh hủi thì Doãng hạ hơn ba chục cây tre ở vườn vác cho anh em Lê Văn Khải làm nhà. Thỉnh thoảng hắn lại xách mấy con lươn cho bà Hài:
- Cô kiếm mấy củ chuối tây mài ra nấu ăn tạm.
Bà Hài chép miệng bảo:
- Anh cứ cho luôn thế này làm cô khó nghĩ quá.
Doãng bảo:
- Ngày nào cháu cũng kiếm được, biếu gia đình mấy con có đáng là bao, cô đừng cả nghĩ.
 
Hắn biết, nhà bà Hài đang đói, nhiều bữa chỉ ăn rau má luộc chấm muối vì không được chia ruộng, trong khi ấy, đội Lạc và Bùi Quốc Tầm lại cấm con cháu địa chủ, phú nông thả vịt và cất vó bè. Hồi ấy ông cả Duệch còn sống, thấy con trai hay qua lại nhà bà Hài liền mắng:
- Mày cứ thậm thụt với hai thằng ấy, đội Lạc mà biết thì toi đời con ạ.
Doãng cười nhạt:
- Tôi trên răng dưới cát tút, chẳng liên quan gì đến chính quyền, sợ quái gì đứa nào.
- Mày chỉ nói càn không khéo liên luỵ đến cả tao nữa.
- Thầy là đồ hèn.  - Doãng nhếch mép bảo - Nhà bà Hài với mình là đâu mà hôm ở ngoài đình thày xui lão Cau đấu bác Vận. Đúng là một phường nói điêu.
Ông Duệch trợn mắt, há mồm, nhưng bị nghẹn mãi mới thốt ra được câu:
- Thằng … mất dạy !
 
Những năm sau này, ngoài việc thả ống lươn, thỉnh thoảng Doãng còn ra sông Lăng đánh cá với Nghiên. Hai anh chàng xấp xỉ tuổi nhau, một anh mới thoát nạn mù chữ, một anh tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp nhưng thân nhau như anh em. Sau khi Khải đi học đại học Nông nghiệp, mẹ con bà Hài được chia ruộng ở đồng Chó Đá. Doãng hay sang kéo cày cho Lê Văn Nghiên. Cày chìa vôi trượt trên đât rắn, hai gã trai dù là đang độ sung sức cũng phải mất sáu buổi mới xong. Vai Doãng trợt mấy mảnh da, sưng vù, còn Nghiên, hai bàn tay phồng rộp nước vỡ ra, xót hơn xát ớt.
 
Khác với các gia đình cựu địa chủ trong làng, Nghiên làm đơn ngay đợt đầu khi có chủ trương thành lập hợp tác xã nông nghiệp để chứng tỏ mình là người chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, nhưng Bùi Quốc Tầm tuyên bố một câu xanh rờn làm anh chưng hửng:
- Chỉ những bà con  bần nông có tư tưởng tiến bộ mới đủ điều kiện gia nhập hợp tác xã. Đây là giai cấp nông dân tập thể, sau này sẽ xây dựng nông thôn thành những nông trang lớn xã hội chủ nghĩa theo mô hình tiên tiến của Liên xô và Trung Quốc. Các đối tượng khác trước mắt chưa xét đến. Anh mang đơn về đi.
Doãng biết tin chạy đến bảo:
- Cậu có học mà dốt bỏ mẹ. Hợp tác xã nghe nói thì hay nhưng thực ra là một thứ cha chung không ai khóc, đừng dại mà dính vào, sau này đói rã họng.
Lê Văn Nghiên xua tay:
- Anh toàn nói giọng phản động. Lão Tầm nghe thấy chưa biết chừng lại được mời sang huyện công an mấy ngày.
- Tớ chỉ nói đúng sự thật chứ có nói điêu đâu mà lo. Nếu chúng nó chèn ép quá tớ sẽ sang tỉnh gặp ông Trần Quảng.
- Anh tưởng lũ dân đen như cánh mình gặp các cán bộ đầu tỉnh dễ lắm đấy.
Doãng móc túi chìa cho Nghiên tấm danh thiếp của chủ tịch tỉnh:
- Có cái này đứa nào dám không cho vào.
- Rồi anh xem, chỉ sợ đến lúc ấy lại thất vọng.
 
2
 
Bà Hài mong ngày mong đêm nhưng xem ra việc tìm con dâu không dễ, chẳng phải vì Lê Văn Nghiên kén chọn mà cái chính là gái làng không cô nào muốn về nâng khăn sửa túi cho một anh chàng có bố bị xử tử trong Cải cách vì tội hoạt động Quốc dân đảng. Hơn nữa, bản thân Nghiên lại thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản, không được kết nạp Đoàn. Trịnh Doãng bảo:
- Tôi định giới thiệu cho cậu cô Chắt ở làng Đậu Khê con ông phó lý Bền, hơi đen một tí nhưng hay làm, tính tình dễ chịu.
-  ấy ! bác đừng làm thế. Tôi chưa có ý định lấy vợ
- Cậu cứ chần chừ là hỏng - Doãng chúm môi nhọn lại như môi con chồn hoa thổi phù một cái rồi bảo - Hăm sáu hăm bảy rồi còn gì ?
Lê Văn Nghiên nhìn bộ dạng cổ quái của Doãng bất giác cười. Mấy hôm sau, vào dịp làm cỏ lúa ở đồng Chó Đá, Nghiên hỏi Doãng:
- Nghe nói trước đây bác hay kéo nhị ?
Câu hỏi gãi đúng chỗ ngứa vì Doãng vốn thích món chầu văn, liền phán liến thoắng:
- Chẳng những biết kéo nhị mà tớ còn gảy được đàn bầu. Hồi cuối năm năm ba, chúng tớ lập chiếu chèo, cô Sót vợ tay Lê Bản say như điếu đổ, mặc dù mặt tớ …
- Thế thì tốt rồi.  -Nghiên bảo - Giờ đang vụ nông nhàn tôi có ý định lập một đội kèn hiếu.
- Tức là thổi kèn đám ma chứ gì ? - Doãng trợn mắt, há mồm mãi mới hỏi được.
- Phải, từ ngày ông phó Sùng mất, ông Quản Thống đi Đông Ngàn ở với con, vùng Ba Tổng không còn phường kèn nên các đám ma nhạt nhẽo, kém phần ai oán. Ngoài tôi và bác ra ta phải chọn thêm một tay trống nữa.
- Việc ấy khó gì.  - Doãng bật ngón tay đến tách môt cái quả nhiên có ngay nhân tài xuất hiện - Thằng
 
Phán con ông cửu Mẫn, tớ chỉ cần hô một tiếng là xong.
- Như thế mới chỉ được một nửa công việc. - Nghiên lắc đầu làm Doãng ngớ ra - Vấn đề còn lại là phải xin phép chính quyền xã. Việc này tôi lo nhất vì thế nào lão Tầm và lão Hỗ Chột cũng phá.
- Việc đếch gì phải xin phép đứa nào . - Doãng văng tục - Chúng mình toàn dân cá thể, đoàn viên không, đảng viên không, chẳng lẽ nó lại cấm được mình ?
- Về lý thì chưa chắc đã dám cấm công khai nhưng nếu thấy ngứa mắt, nay họ gọi xuống xã "giáo dục" mai tịch thu đồ nghề thì còn làm ăn gì được. - Nghiên bảo Trịnh Doãng - Việc này tôi xuất đầu lộ diện là hỏng, bác phải kiếm lạng chè với gói thuốc xuống nói với ông Tầm.
Doãng giãy nảy:
- Tôi chả dại, cứ nhìn thấy bản mặt nó là muốn đấm vỡ quai hàm. Căm nhất là cái lần nó ra lệnh bọn thằng Cửu trói giam tôi một đêm trong nhà kho.
Nghiên bảo:
- Thù dai làm gì. Cứ nhún mình một tý, lấy được cái giấy có chữ ký với con dấu cho phép hành nghề là phần thắng về ta.
- Nhỡ chúng nó bàn nhau nhất định không ký thì  sao ?
- Bác có cái các vi dít của ông Trần Quảng cho kia mà.
- ờ nhỉ, thế mà mình không nhớ ra.
 
 
*
 
Nhìn thấy Trịnh Doãng với lá đơn chữ viết loằng ngoằng như gà bới trên tay, Bùi Quốc Tầm ghét lắm bảo:
- Các anh chỉ vẽ chuyện để chén xôi thịt của thiên hạ. Kèn trống đám ma là thứ mê tín dị đoan, những thứ hủ tục ấy người ta đang dẹp đi không được lại bới ra. Xã không duyệt đâu, thôi về đi.
Doãng nổi tiếng làng Cùa là dân đầu bò, đuổi hắn không phải là chuyện dễ, hắn đã quyết tâm làm cái gì là làm bằng được. Nghe ông chủ tịch nói xong, Doãng vặn ngay:
- Ông bảo là mê tín dị đoan, vậy tại sao năm ngoái cụ Tiên Nhũ mất, vợ chồng ông sang tận kẻ Bòng đón phường kèn về tế suốt một đêm ?
 
Tầm nói hớ bị bẽ mặt đành giở bài hoãn binh:
- Thôi được, để tôi họp bàn với tập thể Đảng uỷ và thường trực Uỷ ban xem họ có nhất trí không đã.
Doãng vuốt mớ tóc húi kiểu móng lừa, hếch cái mũi đầy trứng cá đỏ như cà chua chín bảo:
- Nói thật với các ông, lập đội kèn là nguyện vọng của bà con làng Cùa, nếu Đảng uỷ, Uỷ ban và hợp tác xã không duyệt tôi sẽ lên tỉnh gặp ông chủ tịch.
Tầm trố mắt nhìn cái miệng cá ngão của Trịnh Doãng không tin ở tai mình:
- Cái thứ nông dân cá thể mở miệng là chống lại chủ trương chính sách như anh sẽ có lúc người ta tống vào nhà đá, chủ tịch nào thèm gặp.
 
Doãng thọc tay vào túi áo lấy ra tấm các đặt trước mặt Bùi Quốc Tầm nhìn anh ta bằng nửa con  mắt :
- Xem kỹ đi, có phải danh thiếp của ông Trần Quảng không ?
 
Về danh nghĩa, Trịnh Doãng làm đội trưởng kèn đám ma nhưng thực chất Lê Văn Nghiên là người chỉ huy. Mấy hôm đầu, Lê Văn Nghiên rủ Trịnh Doãng và Nguyễn Đình Phán mang đồ nghề ra đình Cả tập. Doãng xấu mã mà đa tài. Hắn thổi kèn điệu Lâm khốc ai oán đến nỗi mấy bà đồng bóng xóm Đình khóc rưng rức nghĩ là làng Cùa vừa mới có người về nơi chín suối. Nguyễn Đình Phán mang một cặp trống cơm và hai trống nhỡ đến hoà tấu bằng những ngón gia truyền khiến Lê Văn Nghiên nổi hứng cò cử chiếc nhị réo rắt làm cho mấy cô gái chưa chồng ngứa ngáy không chịu được, rủ nhau ra đầu đình thập thò.
 
Kỹ thuật cá nhân nói chung đã khá thành thạo, vấn đề cần làm là phải hoà tấu sao cho các nhạc cụ ăn khớp nhau để khi vào đám khỏi xảy ra tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Nghe tiếng kèn đám ma từ đình làng vọng ra chủ nhiệm Hỗ tức lắm. Anh ta đem mấy dân quân khoác súng đến bảo Lê Văn Nghiên:
- Không được thổi kèn ở đây. Yêu cầu các anh mang đi nơi khác
Trịnh Doãng đang phồng mồm thổi chiếc kèn loe, nghe chướng tai vặc lại:
- Xã đã đồng ý cho  chúng tôi lập đội kèn hiếu các ông còn hạch sách gì nữa ?
Hỗ sừng sộ:
- Thổi kèn trong làng làm mất an ninh trật tự và phá giấc ngủ của bà con xã viên. Các anh không chấp hành nội quy hợp tác xã tôi sẽ ra  lệnh tịch thu đồ nghề.
Doãng nóng mắt định gây sự, Lê Văn Nghiên bấm tay nói nhỏ:
- Thôi về, tối mai ta mang chiếu ra đồng Chó Đá chẳng kẻ nào đuổi được.
 
Tối hôm sau, ba anh em xách kèn trống ra nghĩa địa thật. Doãng thuộc loại ba trợn trên không sợ giời, dưới không sợ đất. Phán là con thầy cúng, ma quỷ nhác thấy đã phải tránh xa. Nghiên được học hành chút ít, không mê tín dị đoan. Họ ngồi trên gò đống, phía dưới là những âm hồn, giữa đêm hôm khuya khoắt say sưa hoà tấu mấy bản tang khúc quen thuộc trong tâm trạng vô cùng hứng khởi. Đêm thanh vắng, gió đông nam thổi nhẹ, đưa tiếng kèn thổi khúc "Hành vân" về làng lúc gần lúc xa, lúc khoan lúc nhặt nghe vừa du dương vừa ai oán như là một thứ bùa ngải đầy ma lực làm xao xuyến khối cô nàng đa tình.
 

Lê Văn Nghiên còn kiêm thêm nhiệm vụ soạn điếu văn nếu tang chủ yêu cầu. Điếu văn anh ta viết cho ông Bẩy Hựu ở xóm Cầu Đá chết vì chứng xơ gan cổ trướng lâm ly thống thiết khiến bà con hàng xóm ai cũng thương cảm. Mấy chị trung niên chẳng có họ hàng gì cũng oà khóc như vừa bị chồng đánh oan, còn lũ trẻ con gào rống lên, có thằng khóc dữ quá đái cả ra quần.
 
Doãng không đặt giá nhất định cho mỗi đám tang nhưng nói chung, các tang chủ đều biết điều trả thù lao không đến nỗi quá bèo bọt. Họ biết tầm quan trọng của phường kèn, vì đã mấy năm nay, giờ mới có được tiếng kèn nhị diễn tấu đúng âm luật ngũ cung, nhất là nghệ thuật đánh trống có một không hai trong vùng Ba Tổng của Nguyễn Đình Phán.
 
Gánh kèn hiếu lần đầu tiên được người hàng tổng thỉnh đó là ông Tăng Văn Trọng phó chủ tịch xã Thanh Bình. Bà mẹ ông ta bẩy mươi ba tuổi vừa quy tiên. Tang chủ cử người sang đón anh em Trịnh Doãng từ chiều hôm trước để kịp lúc bảy giờ tối phát tang. Lê Văn Nghiên được nhờ soạn điếu văn. Ông Tăng Văn Trọng do tang ma bối rối, chỉ viết nguệch ngoạc ra quyển vở học trò vài nét đại khái về thân thế, sự nghiệp của thân mẫu, còn những chi tiết cụ thể giao cho cô con gái tên là Hảo nói với anh thợ kèn. Hảo mười chín, học hết lớp sáu rồi ở nhà làm hợp tác xã, thuộc loại đẹp gái ở làng Báng. Hai năm nay, có đến gần chục đám khá giả nhờ người mai mối nhưng ông Trọng chưa ưng ai mà có ý chờ Thạc, con trai ông bí thư huyện uỷ đang học lớp trung cấp nông lâm. Thạc mê Hảo đến mức cuồng si, những dịp nghỉ hè, ngày nào cũng đạp xe sang kẻ Báng. Ông Trọng trong ban thường vụ, phụ trách nội chính, có sở trường vận động quần chúng, nói chuyện thời sự hấp dẫn, đám thanh niên rất phục, xem như một mẫu cán bộ tuyên huấn điển hình của thời đại. Những dịp ông đăng đàn giảng nghị quyết đình làng chật cứng nam nữ đoàn viên và các đối tượng cảm tình để nghe về hai nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đến phần quan trọng nhất là "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa" và "Quyền làm chủ tập thể" , ông diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ khúc chiết đầy hào khí cách mạng rồi trích dẫn hàng loạt những câu nói nổi tiếng của các tác giả Mác xít kinh điển không sai một chữ, làm cử toạ phục lăn, nghĩ rằng chẳng mấy chốc ông trở thành nhà lý luận. Thế nhưng ông phó chủ tịch cũng là kẻ cơ hội, trong bụng đầy những toan tính vị kỷ. Tìm cách gả được Hảo cho Thạc tức là đã khai thông con đường lên huyện. Cao hơn thì chưa nói nhưng ít nhất đồng chí bí thư cũng phải xếp ông ta một chân chánh văn phòng hoặc trưởng ban khoa giáo. Phải có những cương vị như thế mới phát triển được tài năng. Làm cái anh phó chủ tịch quèn lại phải dưới trướng một gã vô học, chuyên nghề thiến lợn mà lại khệnh khạng hệt chánh Đàm ngày trước làm sao mà chịu được. Ông ta mà lên huyện thì chỉ trong vòng sáu tháng, cái chức chủ tịch của tay Kiểm đi tong. Cho nên vị phó chủ tịch không nhận lời bất cứ đám nào vùng Ba Tổng. Con Hảo đã có nơi có chốn. Thằng nào động vào tức là mó dái ngựa. Hãy coi chừng đấy các chú trống choai ạ.
 
Bài điếu văn Lê Văn Nghiên chấp bút hầu như không phải sửa được viết bằng thứ chữ tròn vành rõ nét đẹp như vẽ không giống bất cứ loại chữ "bình dân học vụ" nào với lời lẽ chân thành, tình cảm thống thiết, cô Hảo đọc qua một lần mà cứ ngẩn ngơ cả người. Lựa lúc vắng khách, Hảo giả bộ xuống nhà lấy thêm trầu vỏ hỏi Nghiên :
- Anh học đến lớp mấy mà viết điếu văn hay thế ?
Nghiên thoáng nhìn Hảo, hai luồng mắt giao nhau, như có dòng điện chạy qua làm anh thợ kèn lúng túng:
- à, học "bình dân" ấy mà.
Hảo đong đưa cặp mắt đen láy như cười:
- Anh chỉ nói đùa. Em không tin.
Nghiên nheo mắt thì thầm:
- Cô không tin cũng không sao nhưng đấy là hương hồn cụ bà hiện về phù họ cho tôi viết …
Hảo còn định nấn ná thêm lúc nữa thì ông Trọng bất ngờ xuất hiện lừ mắt bảo con gái:
- Lên nhà, anh Thạc về đấy !
Bản "Lâm khốc" và khúc "Lưu thuỷ" của bộ ba kèn, nhị, trống nghe như dàn hoà tấu của các loại nhạc cụ dân tộc trong một đêm hội chèo. Đã lâu lắm kẻ Báng mới có được buổi tế kèn trang trọng như thế. Dân làng chen nhau vòng trong vòng ngoài như đi xem hội. Ông chủ nhà nở mày nở mặt cứ nghĩ thiên hạ nể mình, phục mình và cả sợ mình nữa nên có nghĩa vụ đến chia buồn cùng tang quyến.
 
Đưa đám xong, lúc trở về, ba chàng thợ kèn vẫn lững thững bước sau linh xa thỉnh thoảng lại tấu khúc "Đò đưa" tiễn hồn người qúa cố. Bản này vốn được phát triển từ một làn điệu chèo đã lược đi phần lớn những nốt nhấn nháy và đảo nhịp nghe khá bi thương, có chỗ phảng phất như giọng điệu trong bài "Thập ân". Một số người đã rẽ vào các ngõ, nhưng nghe tiếng trống cư chần chừ chưa muốn bước. Cô Hảo mặc áo xô khăn trắng, dây chuối bện thắt lưng, mái tóc dày đen như sừng xoã chấm khoeo, giả bộ đau buồn, thương bà đận đà đi sau cánh thợ kèn, thỉnh thoảng hờ vài tiếng nhưng mắt lại đánh đáo về phía Lê Văn Nghiên. Anh ta cũng chẳng phải vô tình mặc dù vẫn giả tảng không biết gì, ra sức thổi kèn. Trịnh Doãng đúng là một tay thợ kèn đám ma bẩm sinh. Hắn thể hiện kỹ năng nghề nghiệp bằng một phong thái rất nghệ sỹ, nhất là khi bắt đầu đưa tang. Lúc ấy, đầu Doãng hơi cúi, mồm cá ngão ngậm dăm kèn hơi phùng ra, mấy ngón tay nhịp nhàng lúc bịt lúc mở trên hàng lỗ, thỉnh thoảng đảo qua đảo lại hoặc ngoáy một vòng, hệt như anh chàng hề mồi phát loa báo tin quan tân khoa sắp vinh quy bái tổ. Đặc biệt lúc vào việc, Doãng nói đâu ra đấy chẳng khác gì ông chủ đòn đám ma, chỉ mỗi tội mặt hắn hơi khó coi nên ít khi tranh thủ được cảm tình của đám chị em.
 
*
Nghiên nhận được thư của Hảo qua một anh bạn ở làng Đậu Khê. Thư hẹn hai người sẽ gặp nhau ở quán Cây Đề đồng Quao, Nghiên đến sớm. Lúc ấy mới khoảng sáu rưỡi nhưng vì vào cuối thu nên trời đã nhập nhoạng. Đàn sẻ đã bắt đầu kéo về đậu trên mái quán tìm chỗ trú đêm. Chúng mổ nhau chí choé, thỉnh thoảng một vài con bay vút lên lượn vài vòng rồi sà xuống. Lũ chích choè vốn lắm điều bay vật vờ trên cao hoàn toàn im lặng, chỉ đến khi lần lượt đậu xuống cành cao nhất của cây đề chúng mới nhả những tiếng”chíp chíp” rời rạc như là quá mệt mỏi sau một ngày lang thang kiếm mồi. Hảo đến muộn một chút hỏi Nghiên:
- Anh đợi em lâu chưa?
Nghiên bảo:
-Tôi cũng mới ra
Hảo hỏi:
- Anh học thổi kèn đám ma ở đâu?
Nghiên lại bảo:
- Cánh mình chơi theo bản nhạc ấy mà.
Hảo tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Các anh còn biết cả âm nhạc?
Nghiên cười:
- Cái gì cũng có thể học được nếu mình chịu khó.
Hảo:
- Anh nói thật đi, anh là ai?
Nghiên:
- Tôi là dân làng Cùa, nông dân cá thể, nhà ở đồng Chó Đá.
Hảo
- Anh chỉ giỏi bịa, em thấy anh rất bí hiểm. ở nông thôn ít có những người như thế.
Nghiên:
- Hảo nói đúng lắm, khắp vùng Ba Tổng kiếm đâu ra phường kèn đám ma như bọn này. Vì thời nay, thanh niên là phải phấn đấu vào Đoàn, hoạt động xã hội hoặc thoát ly làm người nhà nước mới đúng kiểu.
Hảo cười rất hồn nhiên:
- Anh viết điếu văn hay như thế chắc viết thư phải tình cảm lắm.
Nghiên lại bảo:
- Cũng thường thôi, với lại tôi cũng ít viết thư.
Hảo hỏi:
- Ngày mai anh sang nhà em có được không ?
Nghiên lắc đầu :
- Nhà đang có tang sang không tiện , tôi thấy ông phó chủ tịch nghiêm lắm.
Hảo thở dài :
- Nhưng anh chàng Thạc đang học trung cấp nông lâm thì ngày nào cũng đến ám.
Nghiên nói khẽ:
- Thì đồng ý người ta đi, môn đăng hộ đối thế cơ mà.
Hảo bậm môi:
- Cái anh này nói thế Hảo còn hẹn anh ra đây làm  gì .
Nghiên lại trêu:
- Trông anh ta cũng cao ráo đấy chứ, lại có văn hoá nữa, khác hẳn bọn tôi, chưa thoát nạn mù chữ.
Hảo bĩu môi cười nhạt :
- Văn hoá gì, cũng học lớp sáu rồi bỏ như em, may có ông bố là bí thư huyện uỷ xin cho.
Nghiên cầm tay Hảo làm người cô run lên. Lúc sắp chia tay Hảo ngập ngừng hỏi:
- Tối mai lại ra đây được không anh ?
Nghiên gật đầu:
- Anh sẽ ra nhưng ... bố em không bằng lòng cho chúng ta gặp nhau đâu.
 
*
 
Mấy hôm sau, lúc ở đám ông Vệ Tuân chết vì say rượu ngã xuống ao Quan về, Trịnh Doãng hỏi Lê Văn Nghiên :
- Cậu phải lòng cái Hảo bên kẻ Báng rồi phải không?
Nghiên chối phắt:
- Đâu có, anh chỉ đoán mò.
Doãng tủm tỉm cười :
-Tối hôm hai mốt anh chị nào hẹn nhau ra quán Cây Đề đồng Quao?
Nghiên giật mình:
- Hôm ấy anh đi thả ống lươn à?
Doãng chỉ ậm ừ:
- Không đi nhưng tớ biết... Mà này, trông bộ dạng lão Trọng lúc nào cũng vênh váo, tớ chẳng ưa tí nào.
- Chưa chi anh đã có ác cảm với người ta.
- Thằng Doãng này nói không sai đâu . Tớ ngại là ngại cho cuộc tình duyên của các cậu. Cái Hảo là đứa con gái ngoan, nó yêu cậu thật đấy nhưng ông bố thì đếch chơi được. Hắn sẽ phá đám cho mà xem.
Doãng nói tào lao thế mà đúng . Lê Văn Nghiên cùng anh bạn đánh trống Nguyễn Đình Phán vừa bước vào cổng, ông phó chủ tịch xã Thanh Bình đã chơi ngay một vố làm hai người chỉ còn cách độn thổ:
- Các anh là mấy tay thợ kèn làng Cùa phải không?
- Dạ, chúng cháu chào bác ạ.
Ông Trọng laị hỏi:
- Sang đây có việc gì?
Thấy hai gã trai thiên hạ đưa mắt nhìn nhau, ông chủ nhà ra tiếp đòn quyết định :
- Con Hảo nhà này sắp làm dâu ông bí thư huyện uỷ. Tôi đề nghị các anh đừng quấy rầy nó nữa.
 
Thế là hai anh em quay gót, đi một mạch về làng chẳng biết Hảo có nhà hay không .Tối hôm ấy Nghiên viết mấy dòng thư gửi cô ta : “Hoàn cảnh nhà tôi phức tạp lắm không tương xứng với Hảo. Từ nay chúng ta chấm dứt quan hệ và mong em được hạnh phúc với chàng trung cấp nông lâm.” Nhận được thư, Hảo chẳng giữ ý nữa, sang ngay làng Cùa. Lúc ấy Nghiên đang gõ thuyền đánh lưới bén trên sông Lăng. Nhìn thấy dung mạo Hảo, bà Hài mừng lắm, trong lòng dự đoán, hai đứa chắc đã có tình ý với nhau, liền nhờ người đi gọi con trai rồi kể cho Hảo về gia cảnh. Nghe xong cô xúc động lắm nói với bà mẹ :
- Chuyện bác trai trước là chủ tịch huyện rồi anh  Khải đi học đại học Nông lâm anh ấy chẳng nói gì với cháu. Hôm bà cháu mất, anh ấy viết điếu văn làm cả họ phải khóc cháu đã sinh nghi.
Bà Hài chép miệng;
- Hai anh em nó đứa nào cũng tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp ở tỉnh, nhưng vì thành phần gia đình, thằng Khải khó khăn lắm mới được đi học đại học. Thằng Nghiên vì anh mà phải giam gần nửa năm, may có ông Trần Quảng gỡ cho.
Bà Hài nói đến đây thì Nghiên về. Hảo làm mặt giận:
- Anh Nghiên coi thường em quá .
Nghiên tin Hảo yêu mình thật lòng nhưng biết là cô ta không thể nào vượt được quyền ông bố gia trưởng đang lập kế hoạch dùng con gái làm nhịp cầu tiến thân. Cuộc tình này hẳn là chẳng có kết thúc tốt đẹp liền giả tảng nói với mẹ nhưng thực chất là để cho Hảo biết rõ thái độ của mình:
- Đây là cô Hảo bên làng Báng, con ông Trọng, phó chủ tịch xã Thanh Bình.
Bà Hài bảo:
- Tao biết rồi.
Hảo nguýt Nghiên có ý trách:
- Giới thiệu kiểu gì thế?
- Tôi nói chưa hết. Nghiên tiếp tục bằng thứ giọng mà chính mình cũng thấy khó chịu – Chắc cô Hảo sang đây mời đám cưới?
Hảo sa sầm nét mặt:
- Anh ác lắm. Đấy bác xem, anh ấy toàn nói châm chọc.
-Tôi không nói sai đâu. Mấy hôm trước chính ông phó chủ tịch nói như thế khi tôi và anh Phán vừa vào đến cổng.
Hảo bổng giật mình:
- Các anh đến hôm nào, sao em không biết?
- Vừa đến cổng đã bị đuổi ra Hảo biết thế nào được?
Hảo cười gằn:
- Vì thế mà anh viết thư cho tôi đòi chấm dứt quan hệ?
- Biết làm thế nào được, cái chính là tại hoàn cảnh gia đình tôi.
- Làm đấng nam nhi phải chịu nhường người mình yêu thương cho kẻ khác thì hèn lắm. Thôi chào anh. Con chào bác, con về.
Tất nhiên là bà Hài không cần đưa mắt ra hiệu thì Lê Văn Nghiên cũng phải chạy theo. Anh ta đưa Hảo ra tận quán Cây Đề. Tại đây Hảo khóc thút thít, còn Nghiên ra sức vỗ về. Anh ta vốn sợ nước mắt phụ nữ, hễ cứ thấy các cô sụt sịt là người bứt rứt như bị dị ứng khi thời tiết thay đổi. Được một lúc thì sự căng thẳng tạm thời giải toả. Lúc sắp về, Hảo dặn:
- Từ nay nếu có sang phải báo trước để em đón.
- Anh sợ ông phó chủ tịch lắm, lúc nào cũng lừ lừ trông ghê cả người.
- Bây giờ làm thế nào hả anh ? Cứ nhìn thấy thằng Thạc là em đã ghét.
- Em cứ viết thư nói thẳng với anh ta.
- Hắn bám dai như đỉa, trong nhà bố em là nội ứng, anh bảo làm sao thoát được. Em nghĩ chỉ còn một cách.
- Cách gì hả cô bé bướng bỉnh?
Hảo ngập ngừng:
- Chỉ có một cách là... có con trước với chàng thợ kèn.
Nghiên bật cười:
- Em không đùa đấy chứ?
Hảo gật đầu:
- Em nói hoàn toàn nghiêm túc. Có thế chúng ta mới được bên nhau mãi mãi.
Nghiên từ từ kéo Hảo vào ngực, hôn lên tóc cô, thì thầm:
- Chúng mình là những người đàng hoàng, không làm thế được. Ta phải chọn cách khác thôi em ạ.
Mấy lần Hảo đi chơi tối về muộn, ông Trọng sinh nghi liền cử cậu con trai út là thằng Tần bí mật theo dõi. Đến lúc ấy ông ta mới ngã ngửa người ra hai đứa vẫn hò hẹn nhau ở quán Cây Đề. Khác với mọi lần, hôm ấy ông phó chủ tịch im như thóc trong bồ, lặng lẽ nghĩ cách xử lý. Thời gian chờ đợi khá căng thẳng nhưng rồi nó cũng đến khi ông bố thấy cô con gái vào buồng chải tóc mặc bộ quần áo mới. Hảo vừa ra khỏi làng lập tức có mấy bóng đen bám theo. Họ luôn giữ khoảng cách với Hảo chừng hơn trăm thước mà cô ta không hề biết. Từ kẻ Báng sang đồng Quao khá xa. Hảo vừa đi vừa chạy, đến lúc nhập nhoạng thì mất hút làm mấy bóng đen nháo nhác tìm. Lúc ấy khoảng hơn bảy giờ. Nghiên đã chờ khá lâu. Hảo vừa xuất hiện hai người đã ôm cứng lấy nhau. Cô gái khóc tức tưởi:
- Gay rồi anh ơi, rằm tháng này nhà trai đến ăn hỏi, làm thế nào bây giờ ?
Nghiên vuốt tóc Hảo thở gấp như bị choáng:
- Sao nhanh thế?
- Hình như bố em đã biết chuyện chúng mình, mấy hôm nay em thấy thái độ khác lắm.
- Đứng im ! Các người đã bị bắt.
Hảo và Nghiên vừa rời khỏi tay ra thì chiếc đèn pin đã rọi thẳng vào mặt.
- à, ra cô Hảo, mời cô về, ông phó chủ tịch đang đợi ở nhà. Còn anh kia, theo chúng tôi về uỷ ban !
Hai gã lạ mặt chắc là dân quân làng Báng. Tay khoác súng trường lừ lừ nhìn Nghiên rồi bất ngờ quàng ngay dây thừng vào người anh ta. Hảo sấn lại, quát lên:
- Các người làm gì thế? Bỏ anh ấy ra.
- Xin lỗi cô Hảo nhé !
Gã cầm đèn pin giữ chặt tay cô gái bảo :
- Đây là lệnh của ông nhà. Chúng tôi chỉ là người thừa hành.

Nghiên bị trói hai tay vào cột quán. Trước khi đưa Hảo về, tay dân quân khoác súng vỗ vai chàng thợ kèn bảo:
-  ở đời không nên chơi trèo anh bạn ạ. Cô Hảo là con dâu ông bí thư, kẻ nào động vào là ngồi nhà đá.
Hảo vừa bước vào nhà ông bố đã túm tóc bạt tai liền mấy cái, giọng rít lên:
- Đồ mất dạy! thế này thì mày bôi tro trát trấu vào mặt tao còn gì.
Cô con gái lấy tay xoa má, lẳng lặng vào buồng làm ông bố càng tức:
- Mày không có mồm à?
Đến lúc này Hảo không chịu được thói gia trưởng quá quắt của ông Trọng nữa, oà lên khóc:
- Thầy sai dân quân rình mò con, trói người ta giữa đồng là phạm pháp. Ngày mai con sẽ ra xã báo với bác Kiểm.
Ông phó chủ tịch như vừa bị cái tát điếng người, rít qua kẽ răng:
- Có giỏi thì mày cứ đi.
Hảo vênh mặt:
- Con đã bảo không lấy tay Thạc, thầy cứ ép sau này đừng trách.
Ông Trọng cười gằn:
- Mày... mày dám...
- Thật đấy.
 
Hảo thấy bố đờ mặt ra liền tấn công tiếp:
-  Lần nào giảng nghị quyết cho thanh niên thầy cũng nói chế độ xã hội chủ nghĩa tôn trọng tình yêu hôn nhân tự do rồi phê phán hệ ý thức phong kiến lạc hậu, vô nhân đạo chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ, thế mà về nhà lại ép duyên con gái, vậy chúng con phải tin vào ai?
Rõ ràng là đang bị dồn vào thế bí nhưng ông phó chủ tịch vốn lắm mưu mẹo, biết rằng cứ đối đầu như vậy sẽ dẫn đến đổ vỡ, bèn thay đổi chiến thuật. Ông ta vốn có sở trường dùng ba tấc lưỡi chuyển bại thành thắng trong lúc nguy cấp. Có lẽ chỉ con cách đánh vào tình cảm may ra con bé cứng đầu này mới chịu nghe.
- Hảo con có thương thầy mẹ không?
- Sao thầy lại hỏi như vậy?
- Là vì thầy mẹ thương mày lên muốn chọn cho mày tấm chồng tử tế, sau này có chỗ dựa suốt đời.
- Con biết ơn thầy mẹ nhưng như thế không có nghĩa là cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đấy.
- Nhà ông bí thư có mỗi cậu Thạc là con trai, lại được học hành tử tế. Mày về bên ấy là bác Sự xếp ngay cho một chân văn phòng, thiên hạ khối kẻ nằm mơ cũng không được đâu con ạ.
- Con lạ gì tư cách anh Thạc, anh ta đã học dốt lại ỷ thế bố là bí thư huyện uỷ khinh người.
Đã dùng mọi lý lẽ thuyế phục mà Hảo vẫn không chuyển biến, ông Trọng phải dùng đến chiêu cuối cùng :
- Được rồi, bây giờ tao hỏi đây, mày có biết gốc gác cái thằng thổi kèn đám ma ấy thế nào không mà định đâm đầu vào?
- Gia đình anh ấy tốt, chăm chỉ làm ăn.
- Mày ăn phải bùa mê thuốc lú rồi con ạ. - Ông phó chủ tịch cười nham hiểm - Bố nó là Quốc dân đảng bị xử bắn hồi Cải cách. Mẹ nó là con gái lão chánh Đàm, phản động khét tiếng vùng Ba Tổng. Anh em nó đều là lũ lưu manh đi tù về.
 
Hảo nhìn lên thấy vẻ mặt đắc thắng và ánh mắt thoáng chút độc địa của bố liền bảo:
- Trừ thầy ra, cả vùng này ai mà không biết bác Vận là chủ tịch huyện bị Đội Cải cách xử oan. Con cũng xin nói rõ, mấy người thầy sai đi điều tra”báo cáo” không đúng sự thật. Trước Cải cách ruộng đất, hai người con trai bác Vận đã đỗ tú tài bán phần. Hiện nay anh Khải đang học khoa Thú y đại học Nông lâm sắp ra trường. Họ là những người có văn hoá và tư cách chứ không phải “ lũ lưu manh”.
Ông Trọng cười mát:
- Mày hiểu rõ lý lịch nhà người ta quá nhỉ, nhưng quyết định của thầy mẹ vẫn không thay đổi. Rằm này ông bà bí thư sẽ mang lễ sang ăn hỏi, đầu tháng tám tổ chức.
-  Thầy... thầy nhẫn tâm lắm.
 
Ông phó chủ tịch hạ giọng nặng chịch:
-  Nước có phép nước, nhà có lệ nhà, cứ thế mà chấp hành, không bàn cãi lôi thôi nữa.
Dịp ấy Thạc cũng học xong trung cấp Nông lâm mang tấm bằng xếp loại trung bình sang khoe với Hảo:
- Anh đã có quyết định về làm việc ở phòng Nông nghiệp huyện. Cưới nhau xong bố sẽ xếp việc cho con dâu làm văn thư, thế là chúng mình mãi mãi bên nhau.
Hảo nhìn bộ dạng anh cán bộ kỹ thuật mới ra lò, giọng lạnh lùng:
- Nhưng anh chưa hỏi xem tôi có đồng ý hay không?
- Em sao thế?
- Chẳng sao cả. Đơn giản là tôi không yêu anh.
Thạc nhăn nhó:
- Nhưng mà tôi yêu em. Hơn nữa hai gia đình đã chuẩn bị, em phá đám còn ra thể thống gì nữa.
Hảo lắc đầu:
- Anh về nói với ông bà bí thư hủy đám ăn hỏi đi. Tôi đã có mang với người ta.
Thạc bị choáng, lặng người một hồi lâu mới ngập ngừng bảo:
- Không... sao, vì anh rất yêu em. Chuyện này chỉ hai ta biết với nhau miễn là em đồng ý làm vợ anh.
Hảo ôm mặt khóc. Thật là phường vô liêm sỉ. Cô đã mạo hiểm đem cả danh tiết của mình đặt lên bàn đàm phán mà hắn ta vẫn trơ lỳ, bám dai hơn đỉa đói. Biết làm thế nào đây?
 
Những ngày này Hảo bị giam lỏng, nhất cử nhất động đều bị giám sát chặt chẽ, không thoát ra ngoài được. Tối nào Nghiên cũng ra quán Cây Đề để rồi nửa đêm lại về túp lều ở đồng Chó Đá trong tâm trạng bần thần thảng thốt.
 
Sau lễ ăn hỏi mười tám ngày thì hai bên tiến hành đám cưới. Đó là một đám cưới nửa nạc nửa mỡ. Bà con dân làng đến dự được mời ăn trầu, uống nước, hút thuốc ngoài sân kho hợp tác xã. Họ hàng thân quen và quan khách hàng huyện thì ăn cỗ trong nhà. Việc tổ chức đời sống mới do chi đoàn thanh niên đảm nhiệm. Riêng khoản văn nghệ, bây giờ người ta không nắm tay nhau nhảy “xon mì” như hồi Cải cách nữa mà chuyển sang hát " Câu hò trên bến Hiền Lương” hoặc "Tình trong lá thiếp” nghe rất mùi.
Đến lúc sắp đón dâu, Ông Trọng mới ra lệnh mở cửa buồng. Hảo như người mất hồn, quần áo lôi thôi, tóc rối bù chẳng thèm chải. Mấy cô bạn xúm vào trang điểm gần nửa giờ mới tàm tạm giống cô dâu.
Đêm tân hôn .Lúc ấy đã muộn lắm. Thạc say khướt vì phải chạm cốc với cánh đồng môn lớp trung cấp Nông lâm, đẩy cửa buồng bước vào thở ra toàn mùi rưọu quốc doanh. Anh ta cài chốt rồi nhảy lên gường choàng tay ôm ngang người Hảo. Cô lùi vào trong khẽ bảo:
- Không được động vào người tôi!
Thạc cất giọng lè nhè:
- Cô đã là vợ tôi, tôi có quyền.
Hảo bịt mũi xua tay:
-Tôi sợ mùi rượu .
Thạc quài tay vặn to ngọn đèn, mặt hằm hằm, khác hẳn thái độ khúm núm mấy  hôm trước ở nhà ông Trọng.
- Cởi quần áo ra!
Hảo lắc đầu:
- Anh mà động vào người tôi là tôi cắn lưỡi tự tử.
- Mày đã nằm ngửa ra cho thằng thợ kèn nó chơi... còn ngượng cái nỗi gì?
- Anh im đi!
Thạc nổi khùng chửi:
- Không ngờ nhà tao tốn bao nhiêu tiền lại rước về một con đĩ.
Hảo tái mặt cố nén cho giọng bớt gay gắt:
- Hãy nghe cho rõ đây. Trinh tiết một đời con gái của tôi không phải là dành cho hạng người như anh.
- Cứ thử xem...
 
Thạc dường như đã tỉnh rượu, vồ lấy Hảo xé rách toạc chiếc áo cánh bằng phin nõn. Anh ta vừa thò tay kéo chun quần thì cô lật sấp người đẩy mạnh ra rồi cắm con dao lá lúa vào yết hầu. Con dao nhỏ sắc được Hảo chuẩn bị từ trước, động tác lại quá nhanh làm Thạc trong lúc đang bị kích động không kịp đề phòng, chỉ đến khi máu từ cổ vợ thấm ướt áo gối trắng tinh thêu đôi chim hoà bình anh cán bộ kỹ thuật mới hô hoán lên. Mọi người hoảng hốt chạy vào thì Hảo đã tắt thở.
 
Vụ án đêm tân hôn làm nhà bí thư Huyện uỷ mất mặt với thiên hạ. Người ta nghi Đoàn Công Thạc giết vợ nên điện cho công an tỉnh về điều tra. Con dao vấy máu còn đó. Thạc không thể thanh minh khi mà chính anh ta rút dao khỏi cổ vợ, dấu vân tay còn để lại sau khi bộ phận hình sự làm xét nghiệm. Trong khi khai với cảnh sát điều tra, anh cán bộ kỹ thuật cung cấp một chi tiết quan trọng, đó là Hảo đang có mang với một người làng Cùa là Lê Văn Nghiên. Tuy nhiên các bác sỹ pháp y lại có kết luận ngược lại. Hảo vẫn là con gái trinh. Vì thế, họ càng có thêm chứng cứ, bởi ghen tuông Thạc đã giết vợ ngay đêm động phòng.
 
Vụ án ngày càng phức tạp vì công an không tìm thêm được những chứng cứ ngoại phạm nhằm gỡ tội cho con trai ông bí thư. Hơn nữa, ông Tăng Văn Trọng sau khi biết chắc chức chánh văn phòng đã tuột khỏi tầm tay liền phát đơn đề nghị công an tỉnh làm rõ cái chết oan uổng của con gái. Đoàn Công Thạc bị tạm giam tại trại Kim Chân đến tháng ba vẫn chưa xử được. Lê Văn Nghiên nhớ thương Hảo, người lúc nào cũng như bị ma ám, ăn ngủ thất thường. Bà Hài khuyên con trai:
- Vợ chồng là cái duyên cái số, trời không cho đành chịu con ạ. Có trách là trách cái ông phó chủ tịch xã Thanh Bình hám địa vị, danh vọng ép duyên con gái đến nỗi cái Hảo thiệt thân. Tao mong toà án sớm đem cái thằng bất nhân ấy ra bắn trước bàn dân thiên hạ .
Nghiên nhìn mẹ nét mặt rầu rầu :
- Con nghĩ tay Thạc chưa chắc đã giết vợ mà có khi Hảo uất ức quá rồi tự sát.
- Mày chỉ nói càn .-Bà hài trách –Con gái hơ hớ ra như thế thì việc gì nó phải chết .
Nghiên bảo :
- Trước hôm cưới ít lâu con có nhận lá thư . Cô ấy nói, nếu không còn cách nào khác thì ngày cưới cũng là ngày từ giã cõi đời .
- Nó viết thế thật à?
- Con vẫn giữ thư của Hảo đây.
 
Bà Hài gạt đi :
- Chớ có đưa ra rồi làm ơn nên oán . Bây giờ mẹ mới nhớ ra, ông bí thư Đoàn Công Sự, hồi giữa năm năm nhăm chả làm đội Cải cách bên xã Nhân ái là gì . Chính ông ta đã xúi Hoàng Đình Tằng đuổi nhà mình ra khỏi làng Bòng.
Nghiên lại bảo :
- Thời ấy qua rồi, mẹ không nên cố chấp . Con nghĩ ta cứ gửi bức thư này cho nhà chức trách để họ xem xét , cho dù tay Thạc có tội thật con cũng được thanh thản lương tâm.
- Vậy thì tuỳ con.
Hôm sau Nghiên cuốc bộ năm cây số ra bưu điện gửi bức thư của Hảo. Vừa nhận được, công an tỉnh vội đánh chiếc xe ba bánh về làng Cùa. Bà con đồng Chó Đá không biết chuyện gì xảy ra đã lo  cho cho bà Hài . Hai cảnh sát hỏi Nghiên về mối quan hệ giữa anh ta và Hảo trước đây, thời gian nhận bức thư và một vài chi tiết khác. Nghiên kể xong họ ghi chép rồi bắt tay anh ta:
- Cảm ơn anh đã giúp chúng tôi làm sáng tỏ vụ án. Chúng tôi sẽ đề nghị chính quyền biểu dương tinh thần trách nhiệm.
 
Nghiên lắc đầu:
-Tôi chả cần biểu dương mà chỉ cần các cấp có thẩm quyền xem xét tư cách của ông phó chủ tịch Tăng Văn Trọng. Vì ông ta mà Hảo phải chết oan. Có điều trong hệ thống pháp luật của nhà nước ta, cho đến giờ, hình như chưa có điều khoản nào xử phạt những ông bố ép duyên con gái.
Người công an đứng tuổi đeo quân hàm thượng uý gật đầu:
- Anh nói đúng.
Hảo mất được hơn  một năm thì đã xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ. Khắp vùng Ba Tổng thanh niên nô nức lên đường nhập ngũ . Nghiên cũng viết đơn xin tòng quân. Xã đội trưởng Cung Văn Luỹ xem đơn xong bảo:
- Đối tượng nhập ngũ đợt này phải là đoàn viên. Anh thuộc hộ cá thể lại quá tuổi không đủ tiêu chuẩn.
Đầu năm sáu sáu lại có đợt tuyển thanh niên xung phong Trường Sơn. Nghiên nghĩ, thanh niên xung phong chọn tiêu chuẩn thấp hơn bộ đội chắc họ để mình đi. Ai ngờ Bùi Quốc Tầm lúc ấy là bí thư Đảng uỷ, nhìn thấy lá đơn, gõ gõ cán bút xuống bàn nói:
- Sự nghiệp chống mỹ cứu nước ở hậu phương cũng quan trọng không kém gì tiền tuyến. Anh cứ về nhà yên tâm lao động sản xuất, khi nào cần chúng tôi gọi.
 
Mấy lần bị hạ nhục, Nghiên cảm thấy không còn đủ kiên nhẫn chịu đựng, định viết lên đơn lên huyện tố cáo thói lộng hành và tham ô tài sản hợp tác xã của bọn Bùi Quốc Tầm và Hỗ Chột. Bà Hài khuyên:
-Thân phận mình như con sâu cái kiến, họ có cả một bè, bàn tay không che nổi mặt trời đâu con ạ.
- Nhưng mà họ chèn ép mình quá.
-Thôi được, ngày mai sang mượn bác Doãng cái xe đạp đưa mẹ lên tỉnh, lần này lại phải nhờ bà Ba mới xong.
 
Cũng như Lê Văn Khải đi đại học Nông lâm, lần này Bùi Quốc Tầm và Trương Đình Tái nhìn thấy lá thư tay cùng chữ ký của ông Trần Quảng thì không còn lý do trì hoãn nữa, phải hạ bút phê ngay vào đơn và chuẩn bị hồ sơ cho Lê Văn Nghiên gia nhập thanh niên xung phong.
 
Chuyến ấy vùng Ba Tổng có hơn bảy chục thanh niên nam nữ vào Trường Sơn, riêng làng Cùa có tám người.
 
Chương 14
 
Chương mười bốn
 
1
 
Sau khi tốt nghiệp, Lê Văn Khải được phân công về nông trường Phượng Sơn. Nông trường này ở một nơi heo hút suốt ngày chỉ nghe tiếng chim “ bắt cô trói cột’’. Rừng ở đây thoáng đãng hơn vùng Bắc Thoòng, gió cũng nhiều hơn và đặc biệt có những đồng cỏ rộng, khá bằng phẳng để chăn thả gia súc. Thanh niên nông thôn mới gia nhập đội ngũ công nhân vài năm, nhiều người chưa biết chữ nhưng rất hồn nhiên, yêu đời.
 
Giám đốc Trần Kim Thang là cán bộ miền Nam tập kết từ năm năm tư, xem xong giấy tờ hỏi Lê Văn Khải:
- Cậu học ngành thú y à?
- Thưa giám đốc, trong quyết định có ghi rõ đấy ạ.
Ông Thang húng hắng họ nói giọng Quảng Ngãi vùng Ba Tơ rất nặng:
- Ban giám đốc điều đồng chí về phòng kỹ thuật phụ trách khâu chăn nuôi.
Trần Kim Thang có cả một bộ máy giúp việc đa số là dân xứ Quảng, trình độ học vấn phần lớn mới thoát nạn mù chữ, nghề chuyên môn là nuôi lợn, trồng chè, rất đố kỵ với dân trí thức, nhất là loại tốt nghiệp đại học như Khải. Mai Ngộ, trưởng phòng tổ chức hành chính là một người đàn ông da mặt sát xương, tóc chớm bạc, mắt như mắt mèo hoang, xem hồ sơ của Khải do nhà trường gửi về theo đường bưu điện, thấy có những chỗ không khớp nhau liền gọi anh ta đến hỏi:
- Bố anh mất tháng giêng năm năm nhăm phải không?
- Phải, có chuyện gì thế ạ?
- Ông cụ chết bệnh hay là...?
Đến lúc này thì chẳng cần giấu nữa. Khải thầm nghĩ vậy rồi nhìn thẳng vào cặp mắt soi mói của trưởng phòng Tổ chức bảo:
- Bố tôi bị Đội Cải cách bắn oan.
- Sao không ghi vào lý lịch?
- Uỷ ban xã đề nghị không đưa việc ấy vào hồ sơ.
-Tại sao xã lại làm việc tuỳ tiện như vậy?
 
Lê Văn Khải bực mình vì cái kiểu vặn vẹo vô lý của tay trưởng phòng liền bảo:
- Ông về địa phương mà hỏi, tôi không biết.
Mai Ngộ về xã Đoàn Kết thật. Sau một tuần, ông ta đã có bộ hồ sơ đầy đủ về anh chàng bác sĩ thú y liền báo cáo với Trần Kim Thang trong buổi giao ban đầu tuần:
- Lý lịch của tay Khải này phức tạp lắm. Anh ta được đi học là do bà mẹ có mối quan hệ vơí ông chủ tịch tỉnh. Tôi đề nghị nông trường không lên bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo mà chỉ để anh ta làm chuyên môn thuần tuý.
 
Trần Kim Thang gật đầu tán thành:
- Đồng chí Ngộ nói đúng. Đây không chỉ đơn giản là sự sắp xếp cán bộ mà nó còn liên quan đến vấn đề giai cấp. Ta mà chủ quan, hữu khuynh là kẻ thù giai cấp ngóc đầu dậy, nguy hiểm lắm.
Trưởng phòng kỹ thuật Hà Hữu Đư, người Bắc, học trung cấp nông nghiệp, tiếp Lê Văn Khải không được mặn mà lắm. Anh ta liếc mắt đánh giá đối phương rồi chỉ chiếc bàn ọp ẹp để cốc chén ở góc phòng nói:
- Đây là chỗ làm việc của đồng chí, có việc gì khó khăn cứ nói với tôi.
Lê Văn Khải nhìn thấy đám cán bộ đang giả vờ bận bịu với đống giấy tờ nhưng mắt người nào cũng gườm gườm có vẻ như chả ưa gì anh nhân viên mới. Anh ta ngẫm nghĩ: “ Tiếp đón nhau kiểu này khó sống lắm đây”.
 
Khải về nông trường chưa đầy hai tháng, một buổi chiều có ông khách đến tìm tại khu nhà tập thể. Viên bác sĩ thú y chưa hề biết người này, nhưng ông khách, trạc ba tư ba nhăm, đội mũ phớt, mang kính râm lại nắm khá rõ hoàn cảnh của anh ta. Sau mấy câu mang tính xã giao, người đội mũ phớt bảo:
- Đại uý Lương Quang Tính giới thiệu về anh.
- Vậy ra, đồng chí là...
- Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ phụ trách mạng lưới đặc tình vùng này. Từ nay hàng tháng anh phải báo cáo những sự việc xảy ra trong phạm vi nông trường vào ngày hai mươi tám. Địa điểm sẽ quy định sau. Nên nhớ việc này chỉ tôi với anh biết.
 
Đêm hôm ấy là thứ bảy, nằm một mình, Lê Văn Khải thầm nghĩ: “Thế là họ vẫn không tha mình”. Còn nhớ, hồi mới học năm thứ nhất, lúc Khải đang từ nhà ăn về, một người đứng tuổi mặc thường phục bất ngờ vỗ vai hỏi:
- Anh là Lê Văn Khải phải không?
- Tôi đây, nhưng anh là ai?
Người đàn ông chìa ra tấm thẻ rồi nói khẽ:
- Theo tôi !
Ông công an mặc thường phục dẫn Khải ra khỏi trường, đi lòng vòng một lúc thì đến bờ sông máng. Trong lòng Khải rất hoang mang, thậm chí còn sợ bị thủ tiêu. Hút gần hết điếu thuốc người công an mới vào vấn đề:
- Chúng tôi bên An ninh muốn mời  anh cộng tác.
Khải thở phào nhưng giọng vẫn còn căng thẳng:
- Tôi thì giúp được các đồng chí việc gì ?
- Có đấy.
 
Người cán bộ An ninh nhìn chàng sinh viên Nông nghiệp, cái nhìn mang hàm ý răn đe:
- Trường đại học là nơi tập hợp nhiều trí thức có thành phần xuất thân thiếu cơ bản. Một số không ít còn là cán bộ lưu dung, tức là những viên chức cũ trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp và tay sai để lại. Phần lớn các đối tượng này đều ngấm ngầm chống lại đường lối sáng suốt của Đảng, phá hoại công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà. Anh là người được ngành An ninh tin tưởng chọn làm nhân viên đặc tình, hàng tháng phải có trách nhiệm báo cáo những việc xảy ra trong trường từ ông hiệu trưởng đến các anh nuôi, chị nuôi dưới nhà bếp.
-  Có nghĩa tôi phải làm công việc do thám họ ?
- Đại loại như thế nhưng cần tuyệt đối bí mật. Người ngoài không ai được biết.
Lê Văn Khải đã hiểu người ta muốn gì ở mình nhưng anh ta vẫn thả lời thăm dò:
-  Nếu tôi từ chối thì sao ?
Ông công an ném mẩu thuốc xuống máng nước cất giọng nặng trịch:
- Tôi nghĩ anh sẽ không từ chối, vì với một sinh viên có lý lịch phức tạp như anh sẽ buộc phải nghỉ học bất cứ lúc nào nếu bên An ninh thấy cần thiết.
Khải gật đầu một cách miễn cưỡng:
- Tôi hiểu...
 
Từ đấy anh ta bắt buộc phải làm cái việc mà mình không muốn, nghĩa là bí mật theo dõi hành vi của người khác viết thành báo cáo gửi công an dưới mật danh H3. Một lần trong trường xảy ra vụ ngộ độc thức ăn, hơn tám chục sinh viên phải vào bệnh viện. Lê Văn Khải nghe ngóng tình hình, thu thập thông tin rồi viết : “Người ta nghi ngờ ông Trần Đình Quỳ, nhân viên phòng hành chính quản trị có mâu thuẫn với ông Phạm Tất, quản lý nhà ăn sinh viên, nên đã bỏ thuốc độc vào thùng nước uống. Trưa ngày... tháng ... năm... Cũng xin lưu ý, ông Quỳ trước đây có đi lính Bảo an, thành phần gia đình hồi Cải cách là phú nông, bố làm chánh hội....’’. Ông quỳ bị tạm giam để lấy lời khai. Sau đó  người ta tìm ra nguyên nhân ngộ độc là do nhà bếp mua phải thứ cá mè ươn, để tám tiếng đồng hồ mới đem nấu, cũng may không có trường hợp nào tử vong. Lần khác, một vị lãnh đạo cao cấp đến nói chuyện ở hội trường lớn. Ông ta đang thao thao bất tuyệt về tính ưu việt của hợp tác xã nông nghiệp và phong trào thi đua “ mỗi người làm việc bằng hai ’’ thì bên dưới chuyền tay nhau băng giấy pơ luya viết mấy câu lục bát :
 
“ Bốn người làm việc bằng hai
Ăn thì bằng tám, nói dai bằng mười".
 
Mấy ông cán bộ tổ chức vội chia nhau đi thu gom. Hoá ra ngăn bàn nào cũng có. Tất cả đều cùng một kích thước, chữ đánh máy, có cả dấu, rất dễ đọc. Xác định đây là thứ truyền đơn nói xấu chế độ, chống phá chủ trương chính sách của Đảng, công an tiến hành điều tra trên quy mô lớn. Họ bắt một số đối tượng nghi ngờ, kiểm tra toàn bộ máy chữ nhưng không tìm ra được thủ phạm. Riêng thầy Nguyễn Thúc Cơ, tốt nghiệp kỹ sư Canh nông tại Pháp, hiện đang giảng dạy bộ môn chọn giống, thường hay chèn những câu châm biếm của mình vào bài giảng phê phán một số quan điểm giáo điều duy ý chí, làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, là đối tượng nghi can số một, thì lại không bị thẩm tra. Thế là Lê Văn Nghiên làm một bản báo cáo chi tiết gửi ông cán bộ An ninh. Ba hôm sau thầy Nguyễn Thúc Cơ bị bắt. Từ đó nhà khoa học này không bao giờ trở lại trường đại học Nông lâm nữa.
 
Cầm được tấm bằng tốt nghiệp trong tay, Lê Văn Khải những tưởng mình thoát khỏi trò chơi nguy hiểm, ai ngờ chợ chưa họp kẻ cắp đã đến. Thật là khốn nạn.
 
Hồi ấy nông trường Phượng Sơn được Bộ giao kế hoạch chăn nuôi cừu Mông Cổ. Thời gian đầu loại gia súc ngoại nhập này phát triển tương đối tốt, số lượng lên đến bảy ngàn con, nhưng hai năm sau, tự nhiên chúng mắc phải chứng bệnh kỳ lạ chết hàng loạt. Trần Kim Thang sợ đàn cừu bị xoá sổ, mất chức giám đốc phải đánh xe lên Hà Nội trình báo. Người phụ trách chăn nuôi của bộ Nông trường bảo:
- ở chỗ anh có một bác sỹ thú y cơ mà ?
 
Trần Kim thang gật đầu chẳng cần suy nghĩ:
- Có đấy, nhưng anh ta cứ đòi mổ thịt hết con này đến con khác để nghiên cứu trong khi ngày nào cũng có vài con chết. Cái mà chúng tôi cần là Bộ cấp ngay cho loại thuốc đặc trị nhằm duy trì số lượng chứ không phải kinh phí để tay bác sĩ non choẹt ấy thường xuyên mổ cừu lấy thịt tươi đánh chén.
Ông thứ trưởng phụ trách chăn nuôi tuy chẳng có chút chuyên môn nào về cừu Mông Cổ thấy thái độ của giám đốc nông trường Phượng Sơn cũng phải bất bình:
-  Muốn cứu đàn cừu khỏi chết hàng loạt thì trước hết phải biết chúng mắc bệnh gì đã, mà tìm bệnh ở gia súc không có cách nào hơn là phải mổ ra xem lục phủ ngũ tạng nó ra sao sau đó mới lên phác đồ điều trị. Anh nghĩ thế là sai rồi.
- Chúng tôi đề nghị Bộ cử chuyên gia về nghiên cứu.
Vị thứ trưởng chăn nuôi gật đầu:
- Được, nhưng tôi lưu ý, Lê Văn Khải vẫn là người chịu trách nhiệm chính trong đề tài khoa học này. Kinh phí nghiên cứu sẽ do Bộ cấp.
 
Chuyên gia được cử về nông trường là Nguyễn Cẩm Tú, học trước Lê Văn Khải một khoá. Hai người mổ đến con cừu thứ tư thì phát hiện ra, trong dạ dày của nó có loại giun xoăn là tác nhân gây ra cái chết hàng loạt. Giai đoạn tiếp là phải tiêm một số kháng sinh rồi tiến hành xét nghiệm gan, dạ dày và một số bộ phận nội tạng xem phản ứng với thuốc ra sao. Lại hàng chục chú cừu bị hạ sát. Trần Kim Thang tiếc đứt ruột. Một hôm ông ta gặp Khải gợi ý:
- Tớ bị yếu gan, nghe nói loại bệnh này ăn gan cừu có thể khỏi, muốn xin các cậu mỗi ngày một bộ.
 
Lê Văn Khải bảo:
-  Bác thông cảm lấy thịt vậy, gan là bộ phận quan trọng nhất của thí nghiệm. Nó được cắt vụn ra, rửa qua dung dịch rồi đưa vào kính hiển vi soi để tìm trứng hoặc ấu trùng giun.
Trần Kim Thang nghe chưa hết câu đã cau mặt:
- Nghiên với chả cứu. Các cậu định chờ đến lúc đàn cừu vào nồi hết mới công bố kết quả thí nghiệm phải không ?
Hôm sau giám đốc cho các nhân viên bảo vệ canh trại cừu từ sáng sớm. Lê Văn Khải và Nguyễn Cẩm Tú đến bắt cừu như mọi ngày thì liền bị ngăn lại:
- Nông trường quy định, từ nay bất cứ ai muốn bắt cừu phải có lệnh của giám đốc.
Lê Văn Khải bảo:
- Chúng tôi đang làm thí nghiệm khoa học chữa bệnh cho cừu. Những con bị mổ đã có kinh phí nghiên cứu do Bộ cấp cơ mà.
Tay bảo vệ rậm râu sâu mắt cũng là dân xứ Quảng, giọng trọ trẹ:
- Đây không biết, các người cứ về nông trường mà hỏi.
Hai người đạp xe về cơ quan thì thấy cửa phòng giám đốc khoá, chẳng biết đi đâu. Cẩm Tú bảo:
-Thế này là họ cố tình phá chúng ta rồi.
Khải cười nhạt:
- Chị nói đúng. Có lẽ ta lên dừng công trình này lại nếu không, họ còn tiếp tục gây khó khăn.
 
Cẩm Tú về Hà Nội được một tuần thì Trần Kim Thang họp ban giám đốc ra nghị quyết thanh lý đàn cừu với lý do không hợp thuỷ thổ, chết hàng loạt, gây thiệt hại cho nhà nước. Khách hàng phần lớn là các công ty thực phẩm và cửa hàng ăn uống, số còn lại phân phối cho anh chị em công nhân theo giá nội bộ.
Cuối năm ấy, nông trường Phượng Sơn lập kế hoạch chăn nuôi lợn. Một quan chức có trách nhiệm của Bộ tỏ ra dè dặt sau vụ Trần Kim Thang thanh lý cừu, đưa ra ý kiến:
-Tay này trình độ lớp ba, chẳng có chút kiến thức nào về quản lý kinh tế, liệu ông ta có quản nổi đàn lợn hay lại giống như hồi nuôi cừu.
Ông vụ trưởng Tổ chức nhận xét:
- Hồi còn ở nhà, Trần Kim Thang là tá điền chuyên nuôi lợn cho hội đồng Quýnh. Tôi nghĩ ông ta sẽ làm được vì nuôi lợn dễ hơn nuôi cừu, hơn nữa lợn vốn là giống bản địa thích hợp với thổ ngơi.
Vậy là chỉ trong vòng hai năm, đàn lợn lên đến ba ngàn bảy trăm con. Đây là cơ sở chăn nuôi tập thể lớn nhất miền Bắc. Phượng Sơn trở thành lá cờ đầu, là điển hình tiên tiến của ngành nông trường. Khách từ mọi nơi kéo đến tham quan học tập. Trần Kim Thang bỗng nhiên trở thành người hùng.
 
Nông trường chỉ có một mình Lê Văn Khải là bác sĩ thú y nên anh ta khá mất thời gian với đàn lợn. Nhưng chị em chăn nuôi còn vất vả hơn nhiều. Hàng ngày họ phải thái hàng trăm cây chuối, băm một khối lượng bèo bằng đống rạ, nấu hơn hai chục chảo cám mới đủ cung cấp cho mấy  nghìn chú Trư Bát Giới lúc nào cũng thi nhau gào thét vì đói. Đề tài “Thức ăn sống trong chăn nuôi lợn đại trà” bất chợt nảy sinh khi khải nhìn thấy mấy chú lợn choai đang tranh nhau mớ rau muống. Đây là một dự án khoa học táo bạo, thậm chí mạo hiểm, vì đến lúc ấy các cơ sở chăn nuôi từ quy mô gia đình đến tập thể, đều cho lợn ăn chín theo phương thức truyền thống. Phát hiện của Lê Văn Khải mang tính đột phá làm giảm nhẹ sức lao động của chị em, hạ giá thành sản phẩm, gây chấn động toàn ngành chăn nuôi, đưa nông trường Phượng Sơn lên đỉnh cao vinh quang. Bộ yêu cầu nông trường viết đề tài khoa học. Khải phải mất nửa tháng mới hoàn thành công trình. Anh ta chắc mẩm, từ nay mình sẽ được sống dễ thở hơn, nhưng không ngờ Trần Kim Thang chơi tiếp vố thứ hai. Đó là cuộc hội thảo khoa học ở nông trường Cao Thắng. Bộ đã ra chỉ thị, ai là chủ đề tài sẽ đọc báo cáo nhưng Trần Kim Thang rỉ tai ông thứ trưởng:
- Báo cáo anh, tay Khải không phải đảng viên mà tính kiêu ngạo không coi ai ra gì. Đề tài này của tập thể đảng uỷ và ban giám đốc. Anh ta chỉ là người thừa hành.
 
Ông thứ trưởng người Quảng Nam, trước đây cũng là một đại đội địa phương quân với giám đốc nông trường Phượng Sơn, gật đầu:
-Thế thì cậu thay mặt ban giám đốc lên đọc đi, đọc cho rõ ràng khúc chiết vào, vì đây là đề tài cấp bộ sẽ được nhân rộng ra toàn ngành.
 
Phải nói Trần Kim Thang có chất giọng tốt, đọc khá diễn cảm nên nhanh chóng thu hút được sự chú ý của các cử toạ. Bản báo cáo vừa dứt, tiếng vỗ tay rào rào, ai cũng phải thừa nhận, đó là một phát kiến vĩ đại mặc dù nó vô cùng đơn giản.
 
Vào phút cuối cùng khi được ban tổ chức thông báo thay đổi người trình bày đề tài khoa học, Lê Văn Khải sững người. Anh ta nghiến chặt hai hàm răng, bàn tay tự nhiên co lại thành nắm đấm, định tống vào cái mặt thiết bì của lão giám đốc một quả cho bõ tức nhưng rồi lại buông thõng xuống, bỏ hội trường ra ngoài trước con mắt ngạc nhiên của hàng trăm quan khách. Anh ta nhảy qua một mương dẫn nước leo lên đồi. Những vành nón trắng nhấp nhô của những cô gái trẻ giữa một vùng mênh mông, trên là bầu trời màu lam  nhạt, dưới là ngút ngát nương chè làm tâm hồn chàng bác sĩ thú y trở lại thư thái. Thiên nhiên hào phóng đầy mây ngàn và gió núi xua đi phần nào nỗi uất ức trong lòng, bất giác Khải buột miệng:
- Mặc xác các người với những báo cáo khoa học nhảm nhí ấy, ta lên trời đây.
 
Thảo nguyên mênh mông xa típ tắp vẫn là cỏ xanh. Phía sau những đồi chè là dòng suối ngoằn nghoèo uốn khúc, nhìn từ trên cao chẳng khác gì con rồng xanh với rất nhiều chân choãi ra. Cách bờ suối không xa, nơi có những đám mây bạc sà xuống tận sườn núi là một đàn bò đang thong dong gặm cỏ. Nhìn bộ dạng vô tư, thanh thản của chúng Khải bỗng ao ước : “ Gía mà mình được làm kiếp bò, ngày nào cũng được gặm cỏ, uống nước mát, mặc kệ sự đời, chẳng phải nghĩ ngợi gì”.
 
Về đến nông trường Phượng Sơn, trong cuộc họp giao ban, Trần Kim Thang mặt lạnh như tiền tuyên bố:
-Đồng chí Lê Văn Khải có hành vi vô kỷ luật, bỏ hội thảo đi chơi không báo cáo. Tôi yêu cầu phải làm kiểm điểm.
 
Khải không nói gì chỉ cười gằn. Nửa tháng sau, một hôm tình cờ ghé vào phòng giám đốc, Khải thấy tờ chuyên san khoa học kỹ thuật của ngành kẹp dưới mấy cuốn tạp chí “Học tập” liền rút ra xem. Đó là số chuyên san mới nhất có in đề tài “ Thức ăn sống trong chăn nuôi lợn đại trà” của mình nhưng tên tác giả lại là Trần Kim Thang. Hoá ra lão ém đi là vì chuyện này. Anh ta nghĩ một lúc rồi quyết định cầm tờ chuyên san sang phòng họp đặt trước mặt ông giám đốc:
-Thế này là thế nào ?
Trần Kim Thang giả bộ không biết gì, hỏi lửng lơ:
- Chuyện gì thế đồng chí Khải ?
- Ông đừng đóng kịch nữa.
- Tôi cấm anh không được xúc phạm…
- Vậy tôi hỏi, tội chiếm đoạt công trình khoa học của người khác thì pháp luật xử lý như thế nào ?
Phòng họp có toàn thể các thành viên ban chấp hành đảng uỷ, Trần Kim Thang rất sợ mất mặt . Đang bối rối ông ta chợt nảy ra một diệu kế liền nghiêm giọng bảo:
- Đề nghị đồng chí nói năng cẩn thẩn. Tôi hỏi đồng chí ai lãnh đạo nông trường?
- Ông làm tôi như là trẻ con ấy .
- Tôi hỏi nghiêm túc đấy.
- Tất nhiên là ban giám đốc.
- Đồng chí mới chỉ nói đúng một nửa. - Trần Kim Thang lúc này đã lấy lại được bình tĩnh thong thả phân tích theo phương pháp tam đoạn luận - Đảng uỷ nông trưòng lãnh đạo toàn diện. Ban giám đốc chỉ là những người thừa hành. Mà Đảng lãnh đạo toàn diện thì mọi thành tích đều thuộc về Đảng. Công trình khoa học đồng chí viết là do Đảng chỉ đạo, gợi ý và phân công. Tôi trên cương vị  bí thư và giám đốc doanh nghiệp ghi tên vào công trình khoa học càng làm vinh dự cho tập thể chúng ta, trong đó có đồng chí và tập thể anh chị em công nhân. Đồng chí thắc mắc chuyện này là chưa dứt được cái đuôi tiểu tư sản vốn là căn bệnh làm con người chỉ thấy cá nhân mà không thấy sự nghiệp lớn của tập thể.
 
Trước những lời lẽ hết sức “thuyết phục” của Trần Kim Thang, Lê Văn Khải không thể bắt bẻ được nữa. Anh ta đưa mắt nhìn hết lượt các vị lãnh đạo rồi bất ngờ tuyên bố:
-Phải bây giờ tôi mới hiểu được chân lý Đảng lãnh đạo toàn diện.
 
2
 
Người yêu của Lê Văn Khải là Mai Thị Xuân. Cô ta mới lên nông trường hơn một năm, người dong dỏng, dáng xinh xẻo thích ăn diện. Xuân là người chủ động tấn công anh bác sĩ thú y trước. Lúc đầu Khải có phần lạnh nhạt nhưng về sau thấy cô gái chăn nuôi thể hiện tình cảm rất nồng nàn nên cũng xiêu lòng, chỉ có điều trình độ học vấn thấp, hình như mới học hết lớp bốn. Nghĩ đi nghĩ lại Khải tự bảo: “ Đời mình rồi sẽ gắn bó mãi với đàn lợn ở vùng xanh núi đỏ này thôi, vậy thì hãy nghĩ đến một gia đình, vì tuổi cũng không còn ít nữa.”
 
Mai Thị Xuân tuy là cô gái nông thôn nhưng tỏ ra là có kinh nghiệm trong trường tình. Để chài bằng được anh bác sỹ thú y đẹp trai, cô ta không từ bất cứ thủ đoạn nào. Khải được bố trí ở gian ngoài cùng của dãy nhà tập thể đội chăn nuôi. Tối nào các cô cũng đến chơi và cô nào cũng hi vọng vào một điều gì đó rất mơ hồ.
 
Hôm ấy trời rét mà đêm đã khuya, Mai thị Xuân về phòng chừng nửa tiếng lại sang. Cô ta nấn ná một lúc rồi khẽ nói:
- Hôm nay em ở đây với anh...
Mặt Khải biến sắc. Anh ta lắc đầu bảo :
- Em về đi. Bọn bảo vệ được lệnh của ông Thang và ông Ngộ luôn để mắt đến chúng ta đấy, chỉ cần tắt đèn là họ ập vào lập biên bản ngay.
Xuân làm mặt giận :
- Anh không yêu em ?
Khải rối rít xua tay:
- Khổ quá. Anh giữ là giữ cho hạnh phúc của chúng mình. Em làm thế này bạn bè nó coi ra gì.
Cô gái chăn nuôi nũng nịu:
- Nhưng em không muốn mất anh. Lúc tối, thấy cái Lý nó nhìn anh như muốn ăn sống nuốt tươi mà em gai hết cả người.
- Thôi nào -  Khải nhẹ nhàng bảo - Người ta có mắt người ta nhìn, cấm sao được.
- Nhưng em cấm anh.
- Được rồi anh xin nghe.
 
Tình yêu của hai người đang độ chín. Khải sắp đưa Xuân về làng Cùa giới thiệu với bà Hài thì cô ta tạm thời được điều về phòng hành chính nông trường . Là đơn vị có phong trào chăn nuôi điển hình, nông trường Phượng Sơn thường xuyên có khách. Khách huyện, khách tỉnh, khách trung ương đủ loại. Có đoàn về tham quan học hỏi kinh nghiệm thực sự, có đoàn ghé qua chỉ để kiếm tạ gạo nếp hoặc vài con lợn giống, chục ký chè, lại có vị chức sắc đầu tỉnh đã chán mứ các món cao lương mỹ vị, bảo lái xe đưa về Phượng Sơn thưởng thức chim quay và ngắm cảnh núi rừng để thư giãn sau những ngày đấu đá căng thẳng.
 
Lần ấy, nông trường phải đón đoàn cán bộ của uỷ ban kế hoạch. Chủ nhiệm Vũ Kiểm là nhân vật đầy quyền lực, thường xuyên thay mặt uỷ ban hành chính tỉnh duyệt kế hoạch sản xuất hàng năm của các doanh nghiệp. Anh nào muốn nhanh chóng được phân bổ chỉ tiêu kinh phí thì phải tìm cách yết kiến ông ta. Vũ Kiểm có tật ưa của nếp và thích hát chèo. Gái nông trường phần đông nhan sắc giống như Thị Nở, học hành lôm nhôm, những cô mỏng mày hay hạt lại biết tí chút văn nghệ chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.
 
Đinh Công Ngoã, trưởng phòng hành chính đồng thời là tay chân thân tín của giám đốc xuống các đội chọn mãi mới được vài cô sạch nước cản. Hắn kéo tuốt cả về nông trường làm một cuộc sát hạch cả thanh lẫn sắc. Cuộc kiểm tra khá nghiêm túc do đích thân Trần Kim Thang làm chánh chủ khảo. Các thí sinh lọt vào vòng chung kết phải cởi bỏ quần áo ngoài chỉ mặc đồ lót để xem có bệnh ngoài da không vì rất nhiều cô trông mặt thì bóng bẩy nhưng toàn thân lại mắc chứng ghẻ ruồi hoặc bị phá nước, ngồi đâu cũng gãi xoành xoạch, rất mất lịch sự.
 
Chủ nhiệm Vũ Kiểm dẫn đoàn tuỳ tùng gồm sáu cán bộ kế hoạch về nông trường Phượng Sơn được đón tiếp như thượng khách. Buổi tối, trước khi bảo Mai Thị Xuân vào phòng riêng hát làn điệu chèo “ Quân tử vu dịch” và “ Đường trường phải chiều” cho ông chủ nhiệm nghe, Đinh Công Ngoã ghé tai thì thầm:
- Giám đốc dặn, hát xong, chủ nhiệm bảo làm gì em cũng phải chiều ông ấy, sau sẽ có thưởng.
Xuân đánh mắt liếc Ngoã nguýt dài :
- Em ngượng lắm.
Ngoã cười toe toét trấn an cô nhân viên mới:
- Này, xem ra ông ấy thích em lắm đấy.
Vũ Kiểm mới trạc tứ tuần, thân hình ngũ đoản, khoẻ như vâm. Sau khi nghe vài bài, ông ta cài chốt cửa, tắt đèn rồi bế Mai Thị Xuân lên giường vần cô ta suốt đêm, đến gần sáng thì mệt phờ, ngủ thiếp đi. Mai thị Xuân lách ra khỏi chăn, mặc quần áo, he hé cửa nhìn trời vẫn còn tối, liền lẳng lặng về phòng mình ở dãy nhà phía sau.
 
Chuyến ấy, nông trường Phượng Sơn được duyệt kế hoạch bổ sung sớm nhất so với các đơn vị khác trong tỉnh. Trần Kim Thang phấn khởi lắm, xếp lương cho Mai Thị Xuân vào nghạch cán sự hai, năm mươi sáu đồng và cho đi học lớp bồi dưỡng nghiệp vụ văn thư ngắn hạn. Hai tháng sau, Xuân về nông trường, mặt mày ủ dột làm Đinh Công Ngoã sinh nghi hỏi:
-Sao em buồn thế ?
Mai Thị Xuân trả lời nhát ngừng :
-Hình như em có chửa rồi . . .
Ngoã giật mình :
-Chết cha ! Có.....với đứa nào ?
Xuân giẩu mỏ rất đanh đá :
-Lại còn phải hỏi, lão Vũ Kiểm chứ còn ai nữa.
Trưởng phòng hành chính ngập ngừng :
-Anh cứ tưởng . . .
Cô nhân viên khẽ gắt :
-Tưởng cái gì ? Lão ấy làm hùng hục như trâu húc bờ ấy, ai mà chịu được .
Ngoã cắn môi ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi :
-Quan hệ của em với tay Khải bây giờ thế nào ?
Xuân lắc đầu :
-Hết rồi.
-Được để tôi trao đổi với ông Thang, nhưng việc này em phải giữ kín .
-Anh không phải dặn .
Buổi chiều giám đốc nông trường đánh com măng ca đít vuông xuống đội chăn nuôi, vào gian nhà Lê Văn Khải bắt tay anh ta :
-Vẫn khoẻ chứ đồng chí Khải ?
-Cám ơn bác, tôi khoẻ.
-Này tớ hỏi thật. - Trần Kim Thang bỗng nhiên tỏ ra thân mật rất đáng ngờ - Quan hệ của cậu với cô Xuân đến đâu rồi ?
 
Lê Văn Khải chưa hiểu mục đích của cuộc viếng thăm bất chợt này nên trả lời lấp lửng :
-Người ta cứ đồn thế chứ thực ra không có gì.
-Chuyện này là chuyện vui đừng dấu Ban giám đốc.- Trần Kim Thang cười rất tươi nói bằng giọng cha chú  -Nếu các cháu đồng ý ta sẽ đứng ra làm ông mối rồi tổ chức một đám cưới đời sống mới thật rôm rả ở cơ quan nông trường.
 
Anh bác sỹ thú y không biết được âm mưu của Trần Kim Thang, nhưng qua thái độ quá lộ liễu của ông ta tự nhiên cảm thấy sự vun vén hạnh phúc này có cái gì đó không bình thường bèn lựa lời từ chối :
-Cảm ơn giám đốc nhưng cũng xin nói thực, tôi và cô Xuân trước đây có tìm hiểu nhau , tuy nhiên qua một thời gian thấy tính tình không hợp nên đã chấm dứt mối quan hệ.
Giám đốc thấy kịch bản có nguy cơ đổ bể, ông ta quyết định chơi bài ngửa :
- Nếu Ban giám đốc đề nghị đồng chí cưới cô Xuân rồi sẽ bổ nhiệm làm phó phòng kỹ thuật đồng chí có chấp hành không ?
Khải thấy cái đuôi chuột đã lòi ra liền cười nhạt :
- Bây giờ Đảng uỷ lại có nghị quyết về hôn nhân và gia đình của công nhân viên chức nông trường nữa cơ đấy .
Trần Kim Thang cười gằn :
- Chúng tôi quan tâm đến anh mới gợi ý như vậy, không đồng ý thì thôi nhưng cấm có thái độ châm chọc.
Nói rồi ông giám đốc hằm hằm bước ra xe, về đến nông trường lập tức gọi Đinh Công Ngoã lên phòng, đóng cửa lại bảo :
- Việc không xong rồi. Ngày mai tôi cấp giấy, cậu đưa cô Xuân sang bệnh viện tỉnh giải quyết cái thai. Tuần sau tôi sẽ làm quyết định điều thằng Khải xuống đội 6 chăn bò.
 
Lê Văn Khải không ngờ Trần Kim Thang lại dồn mình đến đường cùng nhưng anh ta vẫn phải chấp hành. Trong quyết định ghi : “Tăng cường cán bộ kỹ thuật cho cơ sở sản xuất” nhưng thực chất là đi đày đến một nơi khỉ ho cò gáy cách cơ quan nông trường hai chục cây số có tên là Trại Bông. Chăm sóc đàn bò cày hai mươi tám  con là một tổ ba người. Chị Thìn ba bảy tuổi, người đẫy đà, mông to, ngực nở thuộc loại quá lứa nhỡ thì làm tổ trưởng, Lê Văn Khải bác sĩ thú y mới được bổ nhiệm chức tổ phó, ngoài ra còn có cô Sánh người được một mẩu lại thọt chân làm tổ viên. Hàng ngày, chị Thìn và cô Sánh cắt cỏ, Khải lùa bò đi chăn, đội sản xuất nào cần cày thì đếm đầu con giao cho họ, xong vụ, lại nhận về nhốt vào chuồng.
 
Gần Trại Bông có hồ Thanh Thuỷ rộng hơn trăm mẫu. Chiều chiều sau khi thả bò, Lê Văn Khải lại ra ngồi dưới gốc bạch đàn ngắm mặt nước sóng sánh. Có những hôm đàn bò về chuồng đã lâu, trời nhập nhoạng anh ta anh ta vẫn còn lững thững trong rừng dẻ, chị Thìn phải lên gọi mới về ăn cơm. Chị Thìn đối xử với Khải như em trai làm anh bác sĩ thú y cảm động lắm.
 
Thấm thoắt, Lê Văn Khải đã ở Trại Bông một năm ba tháng. Dịp ấy cuối tháng chạp, sắp đến tết nguyên đán. Lúc này việc cày bừa đã xong, đàn bò được thả rông, cô Sánh xin nghỉ phép về ăn tết. Trại bò chỉ còn lại chị Thìn và Lê Văn Khải. Giữa tiết tiểu hàn, trời lạnh lắm. Lũ bò bị nhốt trong chuồng nhai cỏ khô. Dãy nhà tập thể trống tuềnh toàng, gió lùa rét như cắt da. Tối nào hai chị em cũng đốt lửa sưởi đến quá nửa đêm mới ngủ. Một hôm chị Thìn ốm, Khải nấu cháo đậu xanh mang sang đặt trên chiếc bàn nhỏ đầu giường bảo:
- Chị ăn cháo cho nóng.
Chị Thìn ngồi dậy lắc đầu :
- Tôi có ốm đâu mà nấu cháo.
Khải cầm tay chị Thìn bắt mạch, bàn tay người phụ nữ nóng hầm hập, run bắn liền kêu lên:
- Chị không ốm sao tay nóng thế? Để tôi tìm xem còn viên thuốc nào không.
Chị Thìn tóc tai bơ phờ nhìn Khải ngập ngừng:
-Tối mò thế này biết thuốc ở đâu mà tìm, thôi ngồi xuống đây tôi bảo.
Thấy thái độ chị Thìn có cái gì đó khác thường, anh ta định mở cửa bước ra, nhưng nghe giọng thảng thốt của người đàn bà, liền ngồi xuống bên cạnh. Toàn thân Khải lúc này tự nhiên nóng ran. Chị Thìn lại thì thầm :
- Tôi lạnh lắm Khải ngồi vào đây ...
 
Bàn tay anh Bác sỹ thú y run run đặt lên đùi chị Thìn. Một cái đùi to đùng chắc nịch và ấm áp hơn bất cứ thứ chăn đệm nào làm anh ta vừa thích vừa sợ . Chị Thìn cầm tay Khải áp lên bộ ngực nóng hổi đã được tháo bỏ hết cái thứ dây rợ. Khải nhắm mắt gục đầu vào tóc chị Thìn, tay mân mê cặp vú, lắng nghe nhịp đập gấp gáp của con tim người đàn bà luống tuổi. Đôi vú thật là mẩy và đàn hồi hơn cả các loại bóng cao su. Nó vừa nóng ấm vừa mát lạnh. Nó có sức mạnh tự thân điều hoà trạng thái tâm lý. Nó gợi lên tứ thơ bất chợt hoặc phác thảo một khuôn hình lập thể đầy chất cổ điển, khác hẳn vú bò, vú lợn, thậm chí cả cặp vú giang hồ của Mai thị Xuân mà không chỉ một lần cô ta đã cầm tay Khải đặt vào. Chị Thìn thở hổn hển nhưng không phải vì sốt cao. Chị nằm ngửa ra tuột quần xuống chân đỡ Lê văn Khải nằm lên bụng rồi thì thầm:
- Cậu đã biết mùi đàn bà chưa?
Khải gật đầu:
- Biết...
Chị Thìn lại hỏi:
- Ngủ với bao nhiêu cô rồi?
Khải hôn lên má chị, thật thà bảo:
- Ngủ thì chưa.
Chị Thìn vòng tay ôm ngang lưng chàng bác sĩ thú y, giọng khiêu khích:
- Đàn ông đã hơn ba chục tuổi mà kém thế.
- Tại tôi không thích thế thôi.
- Thế tôi cậu có thích không?
- Thích.- Lê văn Khải ghì chặt người đàn bà đến mức chị ta phải rên khe khẽ.
- Tôi già rồi, cậu thích chẳng qua là ở xứ khỉ ho cò gáy này chẳng có đứa con gái nào ra hồn.
Khải dụi mớ tóc bù xù vào ngực chị Thìn:
-Tôi thích chị thật mà...
 
Sáng ra, hai người dậy muộn. Khải ra suối xách nước người vẫn còn lâng lâng. Chị Thìn tươi tỉnh khác hẳn bộ mặt ủ rũ chiều hôm trước. Chị ta hỏi:
- Cậu có ân hận vì chuyện hôm qua không?
Khải thản nhiên bảo:
- Có gì mà phải ân hận, đã bảo tôi thích chị kia mà.
-  Liệu thích được mấy hôm ,hay lai cả thèm chóng chán ?
-  Chị đừng nghĩ thế.
Chị Thìn sụt sịt khóc :
-  Chị thuộc loại xấu gái , quá lứa nhỡ thì, chỉ cầu xin cậu một đứa con, sau này có chỗ dựa chứ không có ý rằng buộc trách nhiệm.
 
Khải nhìn vẻ mặt đau khổ của người đàn bà, giọng nhoè đi:
- Không tôi yêu chị thật lòng.
-  Đừng nói dại - Chị Thìn bỗng oà khóc, người rung lên trong tiếng nấc - Tôi không hứa hẹn gì với cậu, nhưng lúcnào muốn ngủ với tôi thì cứ sang, cửa phòng không cài chốt đâu.
 
Cuối tháng hai, chị Thìn thèm của chua, biết là có chuyện liền xin nghỉ phép. Lê Văn Khải mượn được chiếc xe đạp đèo chị về nông trường bộ. Lúc sắp đi , hai người ra rừng dẻ trên bờ hồ Thanh thuỷ tìm dâu da đất. Thấy chị Thìn ăn thứ quả dại này một cách ngon lành, Khải sinh nghi bảo
- Chị làm sao thế? Ăn nhiều dâu ra đất không tốt đâu.
Chị Thìn cười ( Khi cười trông chị đẹp hẳn lên ):
- Tôi có mang rồi, cảm ơn cậu.
-  Thế thì khoan hãy đi phép, ta bàn việc tổ chức đã.
Chị Thìn rút trong túi ra mấy tờ giấy đưa cho Khải:
-  Đây là đơn xin ra Đảng và đơn xin thôi việc. Sau khi tôi về quê hai tháng, nếu không thấy lên thì cậu mang ra nông trường nộp cho ông Trần Kim Thang hoặc ông Mai ngộ.
Khải sững sờ trước quyết định của người tổ trưởng chăn bò. Anh ta cầm tay chị khẽ bảo:
-  Chị không nên nghĩ quẩn. Tôi hứa danh dự là sẽ cưới chị đoàng hoàng .
Chị Thìn ghì đầu Khải vào ngực giọng ngậm ngùi :
-  Chị biết tấm lòng của cậu nhưng chúng ta không có duyên phận. Cậu đã cho chị đứa con, thế là quý lắm . Chị không muốn làm hỏng sự nghiệp của một trí thức tài hoa.
Khải ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo :
-  Vậy để tôi đưa chị về quê.
Người đàn bà lại lắc đầu :
-   Còn đàn bò ai trông? Cậu mà cứ gây căng thẳng với bọn Trần KimThang là bọn chúng đuổi việc đấy. Chị khuyên nên nín nhịn một thời gian. Người tốt như cậu sau này tất sẽ được đền bù. Còn điều này phải nhớ, hãy quên chị đi , không những bây giờ mà cả sau này nữa.
 
Hai người nấn ná ở lại trong rừng đến nửa buổi mới ra đường. Trời vẫn còn rét đậm. Khải gò lưng đạp xe lên sườn dốc . Chị Thìn ngồi sau ôm chặt lấy eo chàng bác sỹ thú y. Suốt chặng đường hai người chẳng nói với nhau câu nào. Chị trùm khăn len kín mặt, thỉnh thoảng bật lên tiếng nấc. Thì ra chị vẫn khóc.
 
Lấy giấy phép xong Khải lại đèo chị Thìn ra bến ô tô Thị trấn . Quê chị mãi tận Thanh Hoá. Từ đây về đấy hơn ba trăm cây số. Khải chen vào mua vé. Thật may hôm ấy thưa khách . Chiếc xe chuồng gà long sòng sọc từ từ lăn bánh trên con đường cấp phối đầy bụi đỏ.
Chương 15
 
Chương mười lăm
 
1
 
Sau khi Nghiên đi thanh niên xung phong , Trịnh Doãng bỏ nghề thổi kèn đám ma chuyên chú vào việc thả ống lươn . Nguyễn Đình Phán đứng ra thành lập lại phường hiếu mà một trong hai tay kèn mới được phát hiện mỗi khi cất lên làm cho thần sầu quỷ khốc là lão Mộc.
 
Lão Mộc là dân ngụ cư , nguồn gốc không rõ ràng . Hôm ấy là sáng mười tám , các bà đi chợ sớm nhìn thấy một người nằm co quắp trong điếm Bài Vân  cạnh chiếc tay nải nhuộm vỏ già bên trong có chiếc kèn đám ma và mấy lưỡi búa vốn là đồ nghề của người đánh gộc tre . Hình như ông chủ những vật tuỳ thân đã chết bởi dáng nằm rất không tự nhiên . Bà quản Thông hộc tốc chạy về làng báo . Được tin , lý Quỳnh vội cử người ra xem hư thực . Ông ta rất sợ phải chôn cất những xác chết vô thừa nhận trong địa hạt của mình .
 
Người đàn ông chưa chết nhưng nếu không được cứu chữa kịp thời chắc chắn sẽ về chầu ông vải rất nhanh vì lúc này đang sốt cao , người nóng hầm hập như lò lửa . Người ta thương tình cho nạn nhân nằm tạm trên chiếc chõng tre trong gian nhà phụ bên cạnh đình Cả .Tầm trưa thì ông ta tỉnh lại, xưng tên là Mộc không biết là thật hay giả. Phải nói rằng, ông Mộc thuộc loại người hễ trẻ con nhìn thấy là sợ chết khiếp giống như gặp “ Ba bị chín quai “ hiện hình với diện mạo hết sức cổ quái : mái tóc rễ tre cờm cợp đã muối tiêu, đôi mắt xếch dưới cặp chân mày rậm vếch lên và hàm râu quai nón mọc vô tổ chức choán già nửa khuôn mặt dái trâu ngăm ngăm đen. Không thể đoán chính xác được tuổi nhưng căn cứ vào dáng đi và những vết hằn ở đuôi mắt, có thể áng chừng ông ta vào khoảng bốn mươi hoặc trẻ hơn một chút.
 
Hình như ông Mộc còn bị điếc. Tuy vậy việc giao tiếp bằng ngôn ngữ với ông không phải hoàn toàn vô ích. Ông có khả năng nhìn miệng mà hiểu được ý nghĩa lời người đối thoại. Vậy làng Cùa thêm một công dân, dù rằng ông ta chỉ có một cái tên, hoàn toàn vô gia cư, còn nghề nghiệp tuỳ vào thời vụ, ai thuê gì làm nấy nhưng thiện nghệ nhất là đánh gộc tre. Từ lâu làng Cùa đã nổi tiếng cả huyện về nghề đan giỏ và lờ bắt cá. Nhà nào cũng trồng mấy bụi tre hoá. Đêm đông, gió lạnh từ cồn Vành thổi về làng, thân tre cọ vào nhau kẽo kẹt nghe như ma quỷ nghiến răng, khiến lũ trẻ con yếu bóng vía sởn gai ốc. Những nhà có rặng tre viền quanh bờ ao, vào dịp đầu tháng bẩy, cò lửa cùng với bồ các từ thượng nguồn sông Lăng bay về làm tổ, chẳng may gặp bão, lũ cò con mới ra ràng rớt xuống hoảng hốt gọi mẹ bằng thứ giọng đặc biệt của họ nhà chim rất là ai oán. Nhưng trăng ở đây thì thật tuyệt vời. Đó không phải thứ ánh sáng trần trụi, nguyên thuỷ, nhạt thếch đầy hoang dã mà là cả một trời lụa nõn, mượt như nhung, được lọc qua ngàn vạn mắt lá xanh mơn mởn rưng rưng những hạt móc vô cùng tinh khiết. Xa xa có tiếng chích choè gọi bạn. Một chú dế cơm đang vỡ giọng gáy lanh lảnh cạnh bụi tầm xuân bên ao đình. Màn độc tấu chói tai của nó vừa dứt thì dưới ao những âm thanh hỗn tạp của lũ chẳng chuộc, ếch cốm, nhái xanh với đủ cung bậc đồng loạt rộ lên như là cãi nhau. Trong bụi dành dành, chàng cuốc si tình cất giọng khắc khoải “ cuốc cuốc” Nghe thật não nùng .
 
Việc đầu tiên của ông Mộc sau khi tai qua nạn khỏi là tra cán vào ba chiếc búa và dọn dẹp gian nhà bẩn thỉu, ẩm thấp bằng tinh thần của một ông chủ thực sự mặc cho lý Quỳnh càu nhàu. Nhà chật như hũ nút. Bộ đòn khênh bằng gỗ lim, đầu chạm hình rồng nặng chình chịch choán già nửa gian, thành ra phần còn lại chưa đầy ba thước ta muốn vào phía trong phải trèo qua chiếc chõng tre ọp ẹp vốn là của lão mõ Cống mới chết vài tháng trước.
 
Người làng Cùa có thói quen, cứ đến cuối thu là gọi thợ đánh gộc chuẩn bị củi đun cho mùa đông. Có nhà xếp củi thành đống to như đống rạ, tết tha hồ luộc bánh chưng. Ông Mộc đậu lại ở đây quanh năm chả lúc nào hết việc. Không ai biết quá khứ của người đàn ông ngụ cư. Ông ta kín như bưng, thảng hoặc có người hỏi chỉ nheo cặp mắt đùng đục như bị ám khói cười, một nụ cười rất ngờ nghệch, chẳng khác gì người thiểu năng trí tuệ. Thế nhưng ông ta lại có dáng vóc vậm vạp của một lực điền to xương với bàn tay bè bè phủ lớp chai vàng xỉn dày cồm cộp, xù xì giống hệt bàn tay tượng nhà mồ Tây Nguyên được nghệ nhân vạc vài nhát phác thảo bằng rìu. Với ông, đánh gộc tre đã được nâng lên hàng công nghệ độc nhất vô nhị ở ở khắp vùng hữu ngạn sông Lăng. Ai có việc cần thỉnh phải đến đấy từ mấy hôm trước. Sau một hồi vừa nói như quát , vừa lấy tay ra hiệu của gia chủ, ông Mộc nhoẻn miệng cười gật đầu, thế là xong. Sáng sớm ông xách đồ đến gọi cổng từ lúc chủ nhà còn chưa dậy. Ăn lót dạ qua loa vài củ khoai hầm hoặc nắm ngô rang , uống bát nước vối, ông thợ gộc bắt đầu công việc của một ngày làm thuê . Đồ nghề của ông Mộc sáng loáng, cái nào cũng sắc. chém phầm phập . Sau khi dùng búa Thạch Sanh chặt đứt những chùm rễ tua tủa, ông vung cuốc chim bổ từng nhát chắc nịch và chính xác tách rời các gộc tre theo trật tự từ ngoài vào trong, từ dễ đến khó bằng động tác dứt khoát. Nửa buổi nghỉ giải lao, ông " bắn"  điếu thuốc lào , nhấp ngụm nước rồi lại hùng hục đào , chặt bổ cho đến lúc cơm trưa. Ông thuộc loại dễ tính, không uống rượu , có gì ăn nấy và ăn rất khoẻ. Nghĩ cũng phải , nghề thổ mộc hao tổn năng lượng, cơm nhà quê chỉ dưa cà mắm muối, sang lắm mới có đĩa cá rán, không ăn nhiều làm sao đủ sức quai búa suốt ngày . Lôi hết gộc tre lên mới chỉ được nửa công việc . Ngày hôm sau, ông Mộc còn phải dùng búa tách chúng ra làm nhiều mảnh xếp thành đống hình cũi lợn. Tối, cơm nước xong, chủ nhà trả tiền hoặc đong vào bao ruột tượng vài ống gạo. Có nhà túng khất đến mùa mới ông trả cũng gật.
 
Ông Mộc là người thật thà, thích sòng phẳng, không tắt mắt , có làm có hưởng, chẳng muốn luỵ ai. Phải năm mất mùa, làng đói ít người thuê mướn, ông đóng khố ra ngòi Mác đánh giậm kiếm mớ cá lẹp đem về nấu với ngọn khoai lang húp cho qua bữa chứ không xin người ta bố thí. Những hôm trở trời trái gió , ông nằm dài đắp chiếc áo dạ lính ngủ suốt ngày, thỉnh thoảng mới nhoài dậy nhấc điếu cày kéo mồi thuốc . Với ông thuốc lào là máu thịt , là niềm đam mê đến bệnh hoạn, thiếu cơm là chịu được , hết hơi khói là ốm ngay. ở đình làng đôi khi cũng có lộc . ấy là lúc các vị chức sắc ngả mâm đánh chén hoặc là những đám hiếu, tang chủ ra mượn đòn khênh. Cuộc đời của người ngụ cư cứ thế trôi đi  cùng với nhịp sống đều đều buồn tẻ của cư dân làng Cùa cho đến ngày Đội Cải cách về làng. Ba hôm sau , ông Mộc được lệnh phải cuốn gói để lấy chỗ làm nhà giam bọn địa chủ , phản động. Ông ta đến nhà Ngô Quỳnh cầu cứu nhưng ông Lý mặt khó đăm đăm , thở dai thườn thượt, ghé tai người đánh gộc thuê nói rành rọt từng tiếng:
- Ông tìm chỗ khác mà ở. Tôi hết thời rồi, chưa biết chừng vài hôm nữa còn bị tống vào đấy cũng nên.
Ông thất thểu bước thấp bước cao, lòng nặng trĩu, cái dáng lực điền đổ bóng xuống đường làng. Không một cán bộ Cải cách nào thèm nghe nguyện vọng có vẻ như rất chính đáng ấy. Cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp vĩ đại với nhiều cuộc họp quan trọng thông qua những quyết sách có tầm chiến lược, để người ngoài tổ chức luôn rình rập bên cạnh sẽ lộ bí mật. Hơn nữa ông ta là dân ngụ cư , lai lịch không rõ dàng, rất đáng ngờ. Đội Lạc nêu vấn đề này ra trong hội nghị cốt cán.
- Xét bề ngoài thì ông Mộc thuộc thành phần cố nông, nhưng biết đâu được kẻ địch không gài người của chúng lại trước khi rút vào Nam. Có khi ông ta giả điếc để dễ bề hoạt động chống phá.
 
Lê Thị Chĩnh, một trong hai cốt cán đắc lực của Đội Cải cách tuyên bố:
-Tôi đề nghị đuổi lão ra khỏi làng Cùa.
- Không làm thế được.- Đội Lạc nghiêm giọng bảo – Phải giữ những thành phần đáng ngờ ấy tại địa phương để có điều kiện quản lý giám sát, nếu cần thì giam lại cùng với bọn phản động. Thả chúng là mất cảnh giác cách mạng.
 
Cuối cùng thì ông Mộc được ra ở miếu Si. Miếu này trước đây thờ một bà lão bắt cua bị chết đuối ở đầm Ma, đã nhiều năm dân làng chẳng cúng tế gì nhưng không hiểu sao vẫn chưa đổ nát. Ngôi miếu nằm trên gò đất cao hơn mặt ruộng vài thước, dưới tán một cây si già, rễ quấn lòng thòng, thả xuống như những cánh tay đười ươi, người nhát gan nhìn thấy sởn tóc gáy. Chung quanh gò còn có hàng duối cổ thụ, cành lá xoè ra với đủ mọi hình thù, đứng xa trông chẳng khác gì nhưng gã quỷ lùn đang mai phục, chờ đêm xuống bắt khách qua đựờng. Nói tóm lại cảnh vật quanh miếu vô cùng bí hiểm. Từ lâu người làng Cùa không dám vãng lai trừ bọn đạo chích chuyên nghề đào tường khoét ngạch. Bị đẩy đến đường cùng, ông Mộc chẳng còn cách nào khác, thôi thì đành ở với ma vậy. Kể ra ngôi miếu khá rộng, có khi gấp hai ba lần diện tích gian nhà để đòn khênh đám ma. Trước khi nhập cư, ông quét dọn “nhà” thật sạch sẽ, quờ hết mạng nhện, hót phân dơi và chữa lại cánh cửa. Xong việc ông thắp ba lén hương cắm lên bàn thờ, lầm rầm khấn vái, sau đó buộc con chó Mực ra gốc cây si rồi lên chõng đánh một giấc. Đêm ấy ông chẳng chiêm bao thấy thần phật ma quỷ nào về quấy nhiễu mà chỉ có lũ dơi bay phành phạch, hết ra lại vào có vẻ như đang tức giận vì lãnh địa do chúng sở hữu lâu nay bỗng nhiên bị một kẻ lạ mặt chiếm dụng.
 
Sáng hôm sau, vươn vai đứng dậy, ông khoác chiếc áo nhà binh muôn thuở lên vai, xách đồ nghề xuống chân gò. Ông Nhiêu Chuộc đang chăn bò nhìn thấy vẫy tay nói như  quát:
- Ông Mộc đi làm cho nhà ai đấy?
Tất nhiên là người đánh gộc không thèm nghe nhưng qua điệu bộ của ông chăn bò cũng nhoẻn miệng cười.
 
Ông Mộc tá túc ở ngôi miếu cổ được vài tháng thì có chuyện xảy ra. Đêm tháng sáu nóng quá, lúc dậy đi tiểu chân bỗng vấp phải một bọc tròn tròn ngay trước cửa ra vào, ông giật thót mình miệng lẩm bẩm:
- Lạy các ngài con là kẻ tứ cố vô thân cùng đường phải ở nhờ chỗ thần linh, mong được bề trên che chở.

Khấn rồi nhưng trong lòng vẫn không yên, người đánh gộc khêu to ngọn đèn dầu lạc, lấy hết can đảm he hé cửa miếu nhìn ra, hy vọng “ngài” đã thăng thiên. Nhưng mà cái bọc vẫn nằm đó hình như còn đang cựa quậy. Ông Mộc run lắm, tuy nhiên tính tò mò đã thắng nỗi sợ cố hữu, đánh liều cầm chiếc búa Thạch Sanh ra tận nơi xem nó là thứ ma quỷ gì. Không phải ma quỷ hiện hình mà là một đứa bé mới đẻ được bọc mấy lần tã lót, chắc là vừa ngủ dậy đang gào khóc thảm thiết. Lưỡng lự giây lát rồi ông Mộc cũng mang đứa trẻ vào miếu, tháo chiếc váy thâm bên ngoài vì nó đã “tè” ướt cả mấy lần tã. Một thằng con trai. Ông lắc đầu lẩm bẩm:
- Chắc con đàn bà ôn vật nào hoang thai rôì làm chuyện thất đức đây.
Hôm sau, ông mang ít tiền dành dụm dược được ra mẹt hàng xén bà Đô mua hai hộp sữa “con chim” về pha cho thằng bé. Nó bị mẹ bỏ rơi, đói quá, lúc nào cũng đòi ăn nhưng rất lành, ăn xong là lăn ra ngủ. Hết sữa ông Mộc nấu một nồi cháo loãng, đánh nhuyễn, bỏ thêm đường phèn vậy là cậu ta có thể ăn suốt ngày.
 
Được chừng hơn tháng, hết sạch gạo, ông thợ gộc nghĩ đến việc phải đi làm, nếu không cả hai bố con sẽ chết đói. Nhưng đi làm lại phải mang thằng bé theo. Nó còn bé quá, từ lúc lọt lòng mẹ đến giờ chưa chắc đã được ba tháng. Đành vậy. Đói bụng đầu gối phải bò. Buổi sáng ông vác đồ nghề, địu thằng bé trước bụng đến nhà bà Cả Phê. Bà Phê có cô con dâu mới ở cữ, hai vợ chồng đòi ra ở riêng phải phá rặng tre lấy đất làm nhà. Nhìn thấy người đàn ông ngụ cư ôm đứa trẻ lầm lũi bứơc trên đường, dân làng Cùa trố mắt tưởng như trời sắp sập. Mấy bà nạ dòng chuyên ngồi lê đôi mách thì thầm hỏi nhau:
- Lão lôi đâu ra thằng bé thế nhỉ?
- Hay là con lão?
- Ai mà biết đựơc tổ con chuồn chuồn.
- Nhưng mà tôi nghi lắm. Chẳng lẽ lão ngủ với... ma?
- Vớ vẩn.- Một con mẹ mặt quắt, da hổ giun, răng cải mả như sắp long ra khỏi cái mồm cái mồm chão chuộc bảo - Có lần tôi nhìn thấy lão đưa cho con điên ở chợ Rồng mấy bắp ngô luộc, không con mụ ấy thì con ai?
 
Ông Mộc chẳng cần thanh minh và cũng chẳng cần biết thiên hạ đàm tiếu gì về mình bởi cái tai nghễnh ngãng. Thật may cô con dâu bà cả Phê thừa sữa, suốt một tuần ông ta phá hàng tre, ngày nào thằng bé cũng được bú no.
 
Những ngày ấy làng Cùa vô cùng sôi động. Chuyện lão đánh gộc thuê tự nhiên có một đứa con chẳng phải là điều đáng quan tâm của nhà chức trách. Người ta còn đang bận đấu tố địa chủ, phản động truy tìm tàn dư Quốc dân đảng, chia ruộng đất và phân phát quả thực. Mới được năm sáu tháng, thằng bé đã bò lê bò la, thăm dò tất cả mọi ngóc ngách. Những lúc có việc , không phải đi quá lâu, ông Mộc thường cài cửa để nó một mình trong miếu. Cậu ta lân la bò đến làm quen với con Mực mới đẻ bốn chú cún con mũm mĩm như trong tranh. Mẹ Mực âu yếm liếm mặt thằng bé như liếm lông con mình. Thấy lũ có con bú mẹ nó cũng hoặp miệng vào vú con mực mút lấy mút để. Dần dần thành quen, mỗi khi đói bụng thằng bé lại bò đến gần ổ chó. Có lần ông Mộc nhìn thấy vội kéo cậu ta ra nhưng nó giãy đành đạch, khóc toáng lên, còn con Mực nhe nanh gầm gừ, làm ông thợ gộc chịu phép.
 
Rõ ràng là cố nông nhưng ông Mộc không được chia ruộng. Người ta lấy cớ ông thuộc đối tượng ngụ cư phi nông nghiệp, lai lịch lại thiếu rõ ràng nên tất nhiên không được hưởng chính sách người cày có ruộng. Lúc thằng bé gần hai tuổi một hôm chủ tịch Bùi Quốc Tầm chợt nhớ ra liền cho người đến miếu gọi ông Mộc ra trụ sở hỏi:
-Tên thằng con bác là gì?
- Là thằng Nhặt.
- Bác phải làm khai sinh cho nó
Ông nghe mãi mới thủng hỏi lại:
- Khai sinh để làm gì?
Vị chủ tịch vừa lấy tay ra hiệu vừa quát:
- Để đến khi lớn lên nó làm công dân làng Cùa.
- Tôi cũng là công dân tại sao không được nhập hộ tịch?- Ông Mộc trừng mắt hỏi.
- Lý lịch của bác không rõ ràng, xã cho ở nhờ là tốt lắm rồi.
-Thế thì đây đếch cần cái thứ khai sinh của các người nhé.
 
Nói xong ông bế thằng bé về, mắt gườm gườm nhìn trước nhìn sau như là sợ người ta cướp mất. Ông còn nhớ hồi cuối năm ngoái, dịp ấy đang đánh gốc xoan cho trưởng ban nông hội Quản Văn Ngật. Buổi trưa nhà Ngật làm thịt vịt đãi hai bố con. Thằng bé ăn lưng cơm, rồi cầm đôi chân vịt mút mát nguệch ra má trông rất hề. Vừa lúc ấy Chĩnh Con từ cổng nhà Trịnh Doãng bước sang, mắt trước mắt sau có vẻ gian lắm, hình như trong tay còn dấu vật gì. Nhìn thấy thằng bé gần vại nước, cô ta vẫy tay bảo nhỏ:
- Ra đây cô cho cái này.
 
Vừa gọi Chĩnh Con vừa chìa ra trước mặt nó cặp bánh dầy gói lá sen. Bánh dầy làng Rồng bằng xôi nếp hoa vàng giã nhuyễn, nhân đậu xanh cồn Vành, từ xa đã thấy thơm lừng. Hai cánh mũi thằng bé phập phồng, ngập ngừng một thoáng, sau đó chạy ra cổng. Chĩnh Con ấn vào tay thằng bé gói bánh rồi đột nhiên ôm chầm lấy hôn hít khắp người làm nó khóc thét lên. Đúng vào thời điểm ấy, không hiểu tình cờ hay có ai mách bảo, ông thợ gộc xuất hiện gườm gườm lườm Chĩnh Con như muốn thiêu cháy cô ta rồi giật phắt thằng Nhặt giọng rít lên:
-Tôi cấm nhà chị động vào thằng bé, rõ chưa?
 
Thằng Nhặt nép vào vai bố nuôi lấm lét  nhìn người đàn bà. Nó đã nín khóc nhưng toàn thân vần còn run. Tuy điếc lác nhưng ông không dễ bị bắt nạt. Từ nay ông cảnh giác với bất cứ ai đến gần thằng bé. Bây giờ nó là máu thịt, là niềm an ủi cảnh cô đơn của một kẻ vô gia cư vào lúc tuổi xế chiều bị chính đồng loại của mình ruồng bỏ. Hai bố con sống yên ổn được mấy tháng lại có chuyện xảy ra. Hình như từ lâu, Chĩnh Con đã để ý đến thằng bé nên thỉnh thoảng lại lảng vảng quanh miếu Si. Có những chiều cô ta ngồi lì dưới gốc cây duối già nhìn vào miếu mãi nhập nhoạng mới về, lâu dần thành quen đến mức nắm được cả quy luật đi lại của ông thợ gộc. Đợi cho ông Mộc quẩy đôi lọ sành xuống đến chân gò, Chĩnh Con lẩn nhanh vào gốc si khẽ khàng rút then cửa lẻn vào miếu. Thằng Nhặt đang ngủ trên chiếc võng gai mắc giữa hai cột miệng nhai tóp tép như là đang ăn một thứ gì trong mơ. Người đàn bà đứng lặng một lúc khá lâu như đang suy tính điều gì hệ trọng lăm. Cuối cùng, cô ta cúi xuống, bàn tay ngập ngừng định vuốt vào má đứa trẻ bất chợt có tiếng quát ngay phía sau:
- Không được động đến thằng bé!
Chĩnh Con giật mình đứng sững như trời trồng, bỗng nhiên quỳ sụp xuống vái người đánh gộc:
- Trăm lạy bác, em muốn...
Ông Mộc chỉ tay ra cửa:
- Cút ra khỏi đây!
Nhìn vào cặp mắt tối sầm của ông thợ gộc, Chĩnh Con sợ lắm nhưng vẫn cố liều đánh vào lòng từ tâm cửa người đàn ông ngụ cư:
- Em xin bác!
Máu hồng bào nổi lên, ông Mộc quẳng đôi quang gánh làm lọ nước đổ lênh láng trên nền miếu, vớ cây búa đại dưới gầm bàn thờ gầm lên:
- Cút!
Chĩnh Con sợ hết hồn, lùi dần, lùi dần, ra đến gốc si thì ù té chạy.
 
Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp hoàn thành được bẩy năm thì vùng Ba Tổng gần như hết sạch tre, vì thứ cây này được nhập vào thành tài  sản xã hội chủ nghĩa, các gia đình muốn sử dụng phải làm đơn xin phép đội sản xuất, nếu là công việc chung của hợp tác xã thì ai cũng có quyền chặt. Ông Mộc đâm ra thất nghiệp , nằm ườn ở nhà, định sang đầu tháng mang thằng Nhặt về bên kia sông Lăng kiếm việc làm. Ông hy vọng, bên ấy người ta chưa công hữu tre. Ngồi buồn uống rượu một mình ( Dạo này thỉnh thoảng ông thợ gộc nhấm nháp chút ít ) ông Mộc nhớ đến chiếc kèn mang theo từ mười ba năm trước vẫn cất trong chiếc túi nhuộm vỏ già treo trên đầu xà, liền bảo cu Nhặt lấy xuống. Nghe tiếng kèn đám ma cả làng nháo lên, ai cũng nghĩ đêm qua có người chết. Nguyễn Đình Phán vội chạy ra miếu Si, nhìn thấy lão ngụ cư đang lắc lư mái tóc bạc phồng mồm đi bài “ Lưu thuỷ” rất say sưa mặc dù chiếc dăm bị thủng thỉnh thoảng lại bật lên những tiếng “khè khè”. Anh ta giật mình nghĩ thầm: “ Lão điếc mà thổi kèn giỏi thật, thế mà từ trước đến nay mình không biết.”
 
Mấy hôm sau đội kèn hiếu được tái lập dưới sự bảo trợ của ban quản trị hợp tác xã Đoàn Kết do Nguyễn Đình Phán làm đội trưởng. Bố con lão thợ gộc trở thành xã viên thổi kèn hưởng công điểm theo định suất như những bộ phận thợ mộc, thợ nề khác. Thằng Nhặt được thầy Phán dạy đánh trống và kéo nhị. Đội kèn đến xã nào phục vụ, cuối năm xã đó phải chuyển thóc về làng Cùa qua bộ phận kế toán. Riêng khoản xôi thịt nhà đám biếu và các bữa ăn cho thợ kèn thức đêm thì không tính. 
2. Cuối cùng thì Trịnh Doãng cũng bảo thằng Dọng viết đơn xin vào hợp tác xã. Hắn vào không phải vì thấy được lợi ích thật sự của phương thức làm ăn tập thể mà cái chính là cả làng Cùa chỉ còn mình hắn thuộc hộ cá nhân, lúc nào cũng bị thiên hạ nhìn như một kẻ phản động bị loại ra khỏi cộng đồng. Hắn biết thừa hợp tác xã là một thứ cha chung trong đó người khôn kẻ dại đều bấu vào với phương châm nói nhiều làm ít và vì thế, ăn cũng ít trừ ban chủ nhiệm, kế toán, thủ quỹ, đội trưởng và thư ký. Bọn này có trăm phương ngàn kế ăn cắp công quỹ, không bao giờ biết đến cái đói cho dù giá trị ngày công có những vụ chưa đầy hai trăm gam thóc.

Thằng Dọng dạo này đã có tiến bộ trong nghề thả ống lươn. Một  mình nó cai quản già nửa số ao chuôm làng Cùa. Nó ranh ma hơn Trịnh Doãng, thỉnh thoảng đem biếu chủ nhiệm Hỗ vài con lươn nên loại ngành nghề này tạm thời chưa bị hợp tác xã đưa vào danh mục quản lý. Hôm ấy thằng Dọng xuống Mạc Điền xem phim về muộn, bị Trịnh Doãng chửi cho một trận, gần nửa đêm mới khoác ống lươn đi thả. Nó tắt lối đình Đụn. Đình này đã bị phá hồi Cải cách chỉ còn trơ nền với mấy chục viên tảng vứt lổng chổng cùng bốn tấm bia đá. Lúc sinh thời lão Xếp Đáy bảo đã nhìn thấy con rắn mười hai mào dài gấp ba chiếc đòn càn, nằm cuộn khúc bên bụi dứa dại, riêng cái vẩy của nó cũng bằng đồng xu, lấp lánh như ánh bạc. Dân xóm Cầu Đá sợ lắm không ai dám bén bảng, nhưng bố con Trịnh Doãng thì bất chấp. Có vẻ như ma quỷ cũng phải kiềng dân thả ống lươn. Từ đình Đụn ra kho hợp tác xã chưa đầy năm chục thước. Sân kho làm trên khoảnh đất rộng, phía sau là khu đồng hoang nổi tiếng nhiều cá trê và lươn. Dọng cắm xong một ống, vừa bước lên bờ chợt thấy sân kho có bóng người liền ngồi thụp xuống căng mắt theo dõi. Được một lúc, nó men theo bờ tường bao bò vào xem bọn chúng đang àm gì. Lũ đạo chích không biết có kẻ theo dõi nên cứ lần lượt vào kho vác thóc ra ngoài. Đến lúc ấy thì Trịnh Dọng đã nhận mặt được tay Cấn thủ kho, Tào Văn Khắc, cháu gọi chủ nhiệm Hỗ bằng chú và đặc biệt có cả Bùi Quốc Tiếm, con trai chủ tịch Bùi Quốc Tầm. Thì ra chính cán bộ và nhân viên cờ đỏ hợp tác xã ăn cắp thóc của xã viên. Chả trách dân đói là phải. Dọng nghĩ vậy rồi chạy ra đường kêu lên:
- Ới bà con ơi! Trộm vào phá kho hợp...
Dọng không biết lúc ấy có người bám theo mình. Nó chưa hô được hết câu thì đã bị một vật cứng nện vào gáy. Bọn ăn trộm quẳng vội các bao thóc xuống sân thì thầm bàn bạc. Bùi Quốc Tiếm chạy ra bờ đầm thu đám ống lươn mang đi còn Tào Văn Khắc và mấy tay cờ đỏ nhảy qua tường xúm vào đấm đạp Trịnh Dọng một hồi cho đến khi người nhũn ra mới kéo vào sân kho.
Sáng sớm chủ nhiệm hợp tác xã cho đánh kẻng báo động. Khi toàn thể ban quản trị và các xã viên xóm Cầu Đá kéo đến thì Trịnh Dọng đã chết. Mấy bao thóc vẫn còn vứt bên cạnh, vãi tung toé. Kế toan trưởng Cao Xuân Thọ còn tìm thấy hai bao nữa giấu trong bụi dành dành đầu đình Đụn. Tào Văn Hỗ đứng giữa sân kho tuyên bố:
Thưa bà con, đêm qua Trịnh Dọng đã phá cửa kho lấy trộm thóc hợp tác xã. các đồng chí dân quân canh gác kịp thời phát hiện yêu cầu về trụ sở giải quyết, nhưng Dọng đã dùng hung khí chống lại người thi hành công vụ sau đó chạy về phía đình Đụn. Vì trời tối, không nhìn thấy đường hắn bị vấp ngã, đập gáy vào tảng đá kê chân cột... vậy chúng tôi thông báo để bà con biết.
Hỗ vừa nói xong một người tóc tai bù xù từ bờ đầm rẽ đám đông chạy vào túm ngực anh ta gào lên:
- Không phải. Con tôi đi thả ống lươn chứ không ăn trộm thóc của hợp tác xã. Các người đã giết oan nó.
Tào Văn Hỗ đẩy Trịnh Doãng ra hất hàm cho Tào Văn Kha:
- Bảo anh em dân quân đưa ông ấy về.
- Tao không về !- Trịnh Doãng bị hai dân quân xóc nách kéo ra ngoài nhưng vẫn rướn cái cổ cò về phía Tào Văn Hỗ chửi – Tiên sư cha thằng chột. Chúng mày giết con ông, ông sẽ kiện đến cùng.
Vợ Doãng, cô Nhụ ngày trước giờ mặt mũi hom hem, quần áo tả tơi, vừa hờ con vừa khóc rất thảm thiết:
- Dọng ơi vì sao con bị chết oan hãy về báo mộng cho mẹ.
Mãi đến gần trưa công an huyện mới về. Chủ nhiệm Hỗ cho mổ con lợn sáu chục cân bắt ở trại chăn nuôi tiếp đãi. Cuộc họp có đủ thành phần chủ chốt của Đảng uỷ, Uỷ ban hành chính, ban chủ nhiệm  hợp tác xã và các đoàn thể quần chúng. Sau khi thanh toán hơn chục mâm cỗ, trưởng công an Trương Đình Tái đứng lên phát biểu:
-Trịnh Doãng nhiều năm nay là thành phần tiêu cực luôn chống đối chủ trương của Đảng và nhà nước.

Gần đây bố con anh ta mới xin vào hợp tác nhưng vẫn chân trong chân ngoài, nhất là thằng Dọng, lợi dụng nghề thả ống lươn, ban đêm luôn rình mò trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Lần này, bị phát hiện hắn dùng dao chống lại lực lượng bảo vệ định tẩu thoát nhưng không may vấp ngã, chấn thương vùng gáy đã tử vong. Hiện trường vẫn được giữ nguyên, đề nghị các đồng chí công an  khám nghiệm.
Bí thư Bùi Quốc Tầm bị bệnh đái dắt người gầy tóp như con nhái bén cũng gắng gượng đến họp cung cấp thêm vô số thành tích bất hảo của gia đình họ Trịnh :
- Bố con Trịnh Doãng thường kích động những phần tử bất mãn trong làng nói xấu cán bộ, chê bai hợp tác xã, gây rối trật tự trị an. Có lần bà con xóm Chùa còn nghe thấy hắn đọc mấy câu thơ sau đây rất mất lập trường: 
“Mỗi người làm việc bằng hai
Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe”. 
đội trưởng Cung Văn Luỹ gật đầu:
- Đồng chí bí thư nói rất đúng. Bố con Trịnh Doãng đúng là thành phần bất hảo.
Công an huyện sau khi xem xét hiện trường, khám nghiệm tử thi kết hợp với lời khai của các nhân chứng đã tạm thời kết luận: “Trịnh Dọng người làng Cùa sinh năm 1956 vào hồi ba giờ năm phút ngày 17 tháng 6 năm 1969 đã phá cửa kho hợp tác xã lấy trộm thóc bị lực lượng bảo vệ phát hiện liền dùng loại dao mác vót nan chống trả quyết liệt. Qua một hồi giằng co, anh ta chạy về phía đình Đụn bị trượt chân ngã gây chấn thương nặng ở vùng gáy sau đó tử vong” 
Các thủ tục hoàn tất, Tào Văn Hỗ gọi gia đình Trịnh Doãng đưa con về rồi cử bốn xã viên lên cửa hàng vật liệu kiến thiết mua cỗ quan tài gỗ tạp để khâm liệm Trịnh Dọng. Tối hôm ấy Nguyễn Đình Phán cùng bố con ông Mộc đến thổi kền thờ. Tiếng kèn thổi điệu “Lâm khốc” của lão thợ gộc vừa ai oán vừa uất hận, người làng Cùa càng nghe càng thấy xót xa. Các bà các cô đến chia buồn lúc đầu còn sụt sịt sau oà lên khóc nức nở. Mỗi lần như thế Trịnh Doãng lại trợn mắt nghiến răng còn bà Nhụ thì nằm mê man bên quan tài con trai, thỉnh thoảng khẽ rên rỉ bằng thứ giọng khản đặc “ới con ơi!”. 
Đưa đám xong, Doãng không về làng mà đi tắt đồng Chó Đá lên đường 228. Hắn cứ để nguyên bộ quần áo lấm lem chạy gằn về huyện. Người gác cổng thấy một gã mặt rỗ, quần ống thấp ống cao dáng vẻ ngơ ngác như vừa ở trại tâm thần về  liền ngăn lại:
-Anh kia, có việc gì?
- Tôi cần gặp ông chủ tịch huyện.
Tay bảo vệ hỏi trống không:
- Có việc gì?
Doãng trợn mắt sừng sộ:
- Việc gấp có liên quan đến tính mạng đứa bé mười bốn tuổi.
-Thế thì anh đến nhầm chỗ rồi.- Tay gác cổng cất giọng khinh khỉnh- Những việc như thế phải sang bên công an.
Doãng lắc đầu;
- Tôi đếch tin công an. Bọn họ với ban chủ nhiệm hợp tác xã là một. Con tôi bị chết oan tôi phải kiện lên ông chủ tịch cho chúng nó phải đi tù.
Người gác cổng chạy vào dãy nhà làm việc, mấy phút sau, một người đàn ông tầm thước mặc bộ quần áo Tô Châu bước ra nhìn Trịnh Doãng một thoáng rồi nói:
- Đồng chí chủ tịch hôm nay bận họp, có việc gì mời bác vào phòng tôi.
- Nhưng mà ông là ai?
Người mặc đồ Tô Châu thong thả bảo:
- Tôi là Đoàn Công Sự, bí thư huyện ủy. 
Doãng vừa kể vừa khóc, câu nọ vấp vào câu kia. Nghe xong ông bí thư bảo:
Vấn đề này thuộc trách nhiệm của ngành công an. Giờ bác sang bên ấy trình bày với huyện trưởng. Tôi sẽ gọi điện sang yêu cầu họ giải quyết.
Người thả ống lươn vừa ra khỏi cổng ông bí thư liền quay dây nói cho huyện trưởng công an:
- Alô! Anh Thẩm đấy phải không?
- Thưa anh có việc gì ạ? 
Bí thư huyện ủy gắt:
-Cái vụ sáng nay ở làng Cùa các anh làm ăn thế nào mà để tay Trịnh Doãng lên ăn vạ ở cổng huyện, may mà tôi ở nhà chứ không lôi thôi to.
- Báo cáo anh, biên bản xét nghiệm hiện trường cho biết, lúc ba giờ đêm Trịnh Dọng phá cửa kho vác trộm thóc. Anh em dân quân phát hiện bị nó đánh lại rồi chạy trượt chân ngã, chấn thương nặng ở vùng gáy được một lúc thì chết.
Bí thư hạ giọng ra lệnh:
- Phải dẹp yên vụ này đi, nếu cần tạm giam tay Doãng vài ngày. Nó mà kích động một số phần tử tiêu cực kéo lên đây gây rối thì cá nhân anh phải chiụ trách nhiệm trước huyện uỷ đấy.
- Dạ, tôi hiểu, bí thư cứ yên tâm.
Vừa nhìn thấy Trịnh Doãng bước vào phòng, Đoàn Danh Thẩm đã hỏi:
- Anh là Trịnh Doãng ở làng Cùa?
Tay thả ống lươn gật đầu:
- Phải. Hôm nay tôi lên đây để yêu cầu công an huyện trừng trị bí thư xã Đoàn Kết Bùi Quốc Tầm và chủ nhiệm Tào Văn Hỗ cho tay chân đánh chết con tôi rồi vu oan nó phá cửa kho ăn trộm thóc. 
Đoàn Danh Thẩm trừng mắt:
- Công an huyện đã về tận nơi khám xét, lấy lời khai các nhân chứng và xác định được thằng con anh đột nhập vào kho vác trộm thóc, chống lại nhân viên bảo vệ bị trượt chân ngã chấn thương sọ não. Một mình thằng Dọng không thể lấy được từng ấy thóc mà phải có bọn bên ngoài. Chúng tôi đang tiếp tục mở rộng điều tra, có kết quả sẽ thông báo cho xã.
Doãng chĩa cặp môi cá ngão vào huyện trưởng công an :
-Thứ nhất, con tôi không ăn trộm thóc mà đi thả ống lươn, thứ hai, nó không ngã mà bọn ăn trộm dùng gậy đập vào gáy.
- Anh đừng nói càn. Hiện trường gây án đã được bộ phận nghiệp vụ điều tra, xác minh và lập biên bản tại chỗ. Tôi thông cảm với  tâm trạng anh lúc này nhưng chúng ta là công dân phải tôn trọng pháp luật. 
Doãng lắc đầu:
-Tôi không tin vào thứ pháp luật của các ông.
Đoàn Danh Thẩm cười nhạt;
- Anh phải tin. Bởi vì pháp luật đại diện cho nền chuyên chính vô sản. Chống lại pháp luật tức là chống lại Đảng và Nhà nước chúng tôi sẵn sàng mời anh vào trại cải tạo cho đến khi nào hết hoài nghi.

Trịnh Doãng đã có ít nhất hai lần nằm trong trại tạm giam hiểu rất rõ thế nào là công dân mất tự do. Hắn tin ông huyện trưởng đã nói là làm. Chuyến này mà bị bắt thì gay. 
Trên đường về Doãng chợt nhớ đến ông Trần Quảng. Phải rồi, có lẽ chỉ còn cách ấy. Ủy ban hành chính tỉnh sơ tán về làng Bầu cách đây hơn chục cây số, gần gấp đôi đường ra huyện, nếu đi liền một mạch thì tờ mờ sáng là đến nơi. Tấm danh thiếp của ông chủ tịch vẫn để dưới đáy hòm lúc nào đi phải mang theo. Qua cánh đồng Chó Đá, Doãng dừng lại bên mộ thằng Dọng. Vẫn còn mấy ngọn hương lập loè. Chắc vợ hắn hoặc anh em thằng Dõng mới ra thắp cho nó. Dọng ơi con chết thật oan ức, phen này bố nhất quyết phải đòi lại công bằng để pháp luật trừng trị những kẻ vừa ăn cướp vừa la làng.
Sắp qua cầu đá như chợt nhớ ra điều gì, Doãng quay lại miếu Si tìm lão đánh gộc sau đó lôi ông ta đến nhà Nguyễn Đình Phán. Ba người nhỏ to bàn bạc. Thằng Nhặt đứng cổng canh chừng. Gần đây Doãng mới phát hiện ra sự lạ ở đôi tai ông Mộc.Khi nói chuyện, nếu quát to, ông ta hoàn toàn điếc đặc, nhưng khẽ thì thầm lại nghe rõ, không cần phải ra hiệu.
- Được, tôi làm nhưng ông phải chuẩn bị cái chiếu thước rưỡi.
Nguyễn đình Phán xem ra còn lưỡng lự :
- Bác liều quá, đêm hôm thế này nhỡ công an tóm được thì gay.
Doãng gắt:
- Chú sợ chết thì ở nhà.
- Thôi, cũng đành vậy tôi thấy đúng là bác gan cóc tía, trên đời không có người thứ hai. 
Đầu canh hai, Doãng về nhà lấy lá đơn kiện do thằng Dõng viết từ sáng và tấm danh thiếp của ông Trần Quảng rồi cả bọn mang cuốc xẻng ra bãi tha ma. Trong nửa giờ, ba người đào mộ thằng Dọng, mở nắp quan tài, bọc thi thể vào tấm vải diềm bâu. Lão đánh gộc quấn chiếu, bó lạt tre rất nhanh. Xác chết trương phình đã bốc mùi làm Nguyễn Đình Phán phải bịt mũi, nhổ nước bọt. Ông Mộc ngậm rượu phun phì phì. Doãng dốc cả một lọ nước hoa mậu dịch lên khắp chiếu. Nguyễn Đình Phán đi trước, Trịnh Doãng và lão đánh gộc khênh thằng Dọng bước thấp bước cao tắt đường đồng lên đường quốc lộ. Doãng bước phăng phăng, ông Mộc yếu chân gần như bị tay thả ống lươn lôi đi, thỉnh thoảng lại vấp ngã làm chiếc võng bị kéo lệt sệt trên mặt ruộng. 
Nửa đêm về sáng, đường 228 không một bóng người. Vạn vật lặng lẽ chìm trong thứ bóng tối đặc quánh, dính nhớp nháp như nhựa hắc ín. Đã từ lâu, chiến tranh phá hoại hình như chừa vùng này ra. Hãn hữu lắm mới có chiếc máy bay lượn lờ mãi chín tầng mây. Không một tiếng chó sủa. Gà gáy xao xác báo đêm đã chuyển canh. Lúc rẽ vào làng Bầu xuýt nữa bị đám dân quân tuần tra phát hiện, Nguyễn đình Phán phải trổ tài thuyết khách cho họ xem thẻ cử tri cả bọn mới qua được vọng gác. Cũng may trời xui đất khiến thế nào, bệnh viện sơ tán lại ở kẻ Sung, đưa người ốm đi bệnh viện phải qua làng Bầu. Cánh dân quân mắt nhắm mắt mở chỉ kiểm tra giấy tờ chẳng để ý đến bọc chiếu nằm trong võng đang tỏa ra thứ mùi nặng âm khí.
Khu sơ tán của ủy ban tỉnh là vườn nhãn cổ thụ chùa Vĩnh Xương. Những dãy nhà tranh lợp giấy dầu thấp lè tè khuất dưới bóng nhãn được nối tiếp với nhau bằng hệ thống hào giao thông ngập đầu người. Sau khi xác định đúng vị trí ngôi nhà của ông chủ tịch, Nguyễn đình Phán ngoắc tay ra hiệu cho Trịnh Doãng và lão thợ gộc chuyển bó chiếu xuống đường hào. Trời mới mưa mấy hôm trước, nước ngập đến mắt cá chân. Họ bấm nhau bước thật khẽ để khỏi phát ra tiếng động. Lúc ấy đã là cuối canh tư nhưng vẫn còn tối mò. Trịnh Doãng vác bó chiếu leo lên đặt dựng đứng giữa khung cửa sổ, gài lá đơn vào khoanh lạt ở chỗ dễ nhìn thấy nhất rồi lại tụt xuống hào cùng hai ông bạn rút ra ngoài.
Kẻng cơ quan báo thức bằng vỏ quả bom năm trăm bảng Anh treo trên cành nhãn, gõ đúng ba hồi chín tiếng nghe rất chối tai. Các cánh cửa lần lượt mở. Mấy vị ở ban tổ chức chính quyền ngại ra hố giải ở mãi cuối vườn, chẳng ông nào bảo ông nào, đều bắc “vòi” đồng loạt câu xuống hào nước. Chủ tịch tỉnh đã ngót nghét sáu mươi, sắp nghỉ hưu nhưng vẫn tập thể dục rất đều. Sau khi chạy một vòng quanh lối mòn trong vườn nhãn, Trần Quảng vào sân chùa Vĩnh Xương tập với đám thanh niên bên văn phòng ty giao thông. Bọn này hay đi chơi khuya, ngủ muộn, nhiều khi ông phải đập cửa mới uể oải dậy. Tập xong về đến cửa, Trần Quảng đã ngửi thấy mùi khăn khẳn rất lợm giọng. Ông cho rằng đó là mùi chuột chết định vòng ra phía sau tìm thì bất chợt nhìn thấy bó chiếu dựng ngay cửa sổ. Là người đã từng nếm mùi tù đày cận kề cái chết không chỉ một lần mà chủ tịch Trần Quảng cũng thấy lạnh sống lưng, mặt xám ngoét, miệng ú ớ không nói được câu nào. ít phút sau mấy công an bảo vệ hạ cái xác xuống khênh ra vườn nhãn. Người ta tìm thấy trong tay ông Chủ tịch lá đơn Trịnh Doãng đọc cho con trai viết: 
Kính gửi ông chủ tịch!
Tôi là Trịnh Doãng, phó thường dân làng Cùa, xã Đoàn Kết, huyện Nam Thành, đã có vinh dự được nấu món lươn om củ chuối phục vụ đoàn cán bộ do ông dẫn đầu về thăm xã vì thành tích làm thuỷ lợi nội đồng ngày... tháng... năm.... Dịp ấy, ông còn chiếu cố bắt tay và cho tôi tấm danh thiếp, hẹn có việc gì cần cứ đến gặp ông. Nay tôi làm đơn này gửi lên ông để kêu oan về cái chết mờ ám của thằng Trịnh Dọng  con tôi. Nó là thằng bé mới mười bốn tuổi, bản tính thật thà, từ bé đến giờ chưa hề trộm cắp của ai. Đêm ngày 17 tháng 6 lúc nó đang thả ông lươn thì nhìn thấy Tào Văn Khắc, Bùi Quốc Tiếm cùng đồng bọn mở kho ăn trộm thóc hợp tác. Sợ sự việc bại lộ, chúng xúm nhau lại đánh chết thằng Dọng rồi vu oan cho nó phá cửa kho, vác thóc ra ngoài, bị dân quân bắt đã dùng vũ khí chống lại. Công an huyện Nam thành về xã, lập biên bản xong được bí thư Bùi Quốc Tầm và chủ nhiệm Tào Văn Hỗ làm thịt con lợn sáu chục cân thết đãi. Họ kết luận vụ án theo lời khai của các nhân chứng do ông Tầm và ông Hỗ sắp đặt hoàn toàn sai sự thật. Tôi đã trực tiếp lên huyện công an khiếu nại nhưng xuýt nữa bị ông Đoàn Danh Thẩm tống giam. Gia đình tôi giờ cùng đường rồi chẳng biết bày tỏ với ai nỗi oan khuất này, vì vậy đành phải mang xác Trịnh Dọng lên trình với ông, mong ông đèn giời soi xét giải nỗi oan và trùng trị những kẻ tàn ác, bất lương, vô nhân đạo đã giết chết nó.
Kính đơn
Trịnh Doãng đã ký
Lúc ấy bọn Trịnh Doãng đã ra đứng ở cổng Chùa. Hắn đưa tấm danh thiếp cho người gác cổng xin được gặp ông Quảng. Anh ta nhìn hắn đầy vẻ nghi ngại:
- Anh là thế nào với ông chủ tịch?
Doãng ngẫm nghĩ một thoáng rồi nói bừa:
- Là em họ.
- Chưa đến giờ làm việc mời anh ra bên ngoài đợi một lúc.
Cùng lúc ấy, một chiếc xe com măng ca bóp còi inh ỏi chạy từ vườn nhãn ra rồi quặt xuống làng Tào Khê. Đó là xe ông Trần Quảng. Ông Quảng từ lâu mắc chứng suy tim do thời gian tù Sơn la bị tên cai ngục Lơgiê bắt uống một loại độc dược làm co thắt động mạch vành, thỉnh thoảng huyết áp tăng vọt, những lúc làm việc căng thẳng hay bị ngất. Lần này nhìn thấy cái xác bó chiếu nhất là sau khi đọc lá đơn kêu cứu của Trịnh Doãng, ông chủ tịch bị sốc rồi đột quỵ ngay tại chỗ. Anh em cán bộ văn phòng vội đưa đi cấp cứu nhưng không kịp. Trần Quảng qua đời khi xe chỉ còn cách bệnh viện sơ tán không đầy trăm thước.
Ông chủ tịch mất làm tỉnh ủy, ủy ban hành chính và các ngành chức năng rối lên. Người ta bận tổ chức lễ tang nhưng không quên tay thả ống lươn. Đáng lẽ Trịnh Doãng mang thằng con về ngay còn nhẹ tội, đằng này hắn cứ định xông vào tỉnh đường kêu gào khóc lóc, trong khi cái xác bó chiếu mỗi lúc một nặng mùi làm ông chánh văn phòng phải cử ngay mấy nhân viên hành chính mang ra chôn ngoài Đống Cao rồi gọi điện báo cho ty công an. Ông Hà Văn Trai, trưởng ty, đang ngấp nghé chân phó chủ tịch phụ trách nội chính vốn rất kính trọng Trần Quảng liền ra lệnh tống Trịnh Doãng vào trại giam với tội danh khủng bố. Thấy tay thả ống lươn bị bắt, Nguyễn Đình Phán vội kéo ông Mộc nhảy xuống hào giao thông chạy bán sống bán chết, khoảng nửa giờ mới ra khỏi làng Bầu. Cả hai mệt đứt hơi, ngồi thở một lúc, khát quá liền vốc nước ruộng uống. Lúc ấy mặt trời đã lên quá con sào. Nguyễn Đình Phán ghé tai lão thợ mộc nói nhỏ:
-Ta về thôi bác, chuyến này thì Trịnh Doãng gay rồi.
Ông Mộc dỏng tai nghe, có vẻ đã hiểu liền bảo:
-Tôi với chú ngu hơn chó, nghe hắn xui dại, suýt nữa vào nhà đá hết lượt.
Chương 16
1. Lúc ấy vào khoảng tám giờ. Trung tá Khúc Văn, trưởng phòng tâm lý chiến bộ tham mưu, mái tóc chớm bạc chờm quá tai chẳng khác một gã Tác dăng, mặc bộ rằn ri bó sát người từ trên xe Jeep bước xuống hỏi viên đại úy Huỳnh Cao đứng đón trước cổng trại tạm giam:
- Bọn tù binh ở đâu?
- Thưa trung tá, trong trại A2 ạ.
Khúc Văn hất hàm bảo tay trung sĩ khoác tiểu liên đi kèm:
- Anh cùng với anh Đạo chờ ở đây. Trong vòng nửa giờ cấm được gọi, tôi còn bận việc làm với tù binh . Nào, ta đi đại uý.
Cửa phòng giam vừa mở, Huỳnh Cao đã cất giọng châm biếm:
- Thế nào, các người hùng, đã suy nghĩ những lời tôi nói hôm qua chưa? 

Ba tù binh miền Bắc quần áo tả tơi, chân bị cùm, lưng dựa vào tường mặt mũi thâm tím, khẽ nhướng mắt nhìn hai viên sĩ quan nhưng chẳng tỏ thái độ gì. Người ngồi ngoài cùng, khoảng ba chín bốn mươi, có vết sẹo dài bên trái kéo đến tận mang tai, có vẻ là một cấp chỉ huy. Người thứ hai có cặp mắt tròn, còn trẻ măng. Anh ta chắc chỉ là lính trơn. Nhưng đến tù binh thứ ba thì Khúc Văn giật mình. Trông người này rất quen bởi cái trán dô, cặp chân mày thưa và nhất là đôi mắt hơi xa tinh mũi giống như dân du mục phương bắc. Bốn luồng mắt giao nhau một thoáng làm ký ức bật mở, Khúc Văn bỗng nhận ra gã tù binh đó chính là Khúc Luận nhưng không tỏ thái độ gì. Hắn hỏi Huỳnh Cao:
- Chúng đã khai họ tên và phiên hiệu chưa?
- Thưa, đã qua hai ngày thẩm vấn, đứa nào cũng câm như hến ngoài những cái tên vớ vẩn được phịa ra cốt chỉ để đùa giỡn chúng ta.
Khúc Văn gật đầu rồi hất hàm về phía ba tù binh:
- Hỏi để xem mức thành khẩn của các “đồng chí” Việt Cộng đến đâu thôi chứ còn những đơn vị quân đội Bắc Việt mới được điều động đến vùng cao nguyên này bộ tham mưu đã nắm được rất cụ thể. Các người có giấu cũng vô ích. 
Huỳnh Cao vung vẩy khẩu colt 45 dằn từng tiếng:
- Đây là trung tá trưởng phòng trên bộ tham mưu. Các anh biết điều thì khai thật ra. Từ trước đến nay chưa có cán binh Cộng sản nào qua được mặt ngài.
Khúc Văn sải bước lại gần làm như vô tình hỏi Khúc Luận:
- Tên gì?
- Nguyễn văn Tĩnh
- Quê quán?
- Hải Hậu Nam Định.
- Cấp bậc?
- Chuẩn uý coi kho hậu cần.
Viên trung tá nháy mắt cười:
- Tất cả những điều anh nói đều là thật đấy chứ?
Khúc Luận tránh tia mắt nhìn trực diện của gã em họ nhưng giọng lại thoáng khiêu khích:
- Nếu không tin thì các người đi mà xác minh.
Huỳnh Cao vốn là một gã biệt kích võ biền, vô học, mặt hầm hầm chạy lại giáng cho Khúc Luận một cái tát nảy đom đóm mắt.
- Câm miệng! Mày lại dám thách đố quân đội Việt Nam cộng hòa à?
Khúc Văn nghiêm giọng:
- Các anh thành thật khai ra sẽ được hưởng lượng khoan hồng, nếu cứ cố tình giấu giếm chúng tôi buộc phải dùng đến biện pháp mạnh, lúc ấy đừng có gào lên chính phủ Sài Gòn đối xử vô nhân đạo với tù binh.
Huỳnh Cao hằn học nhìn ba người lính Bắc Việt bảo Khúc Văn:
- Thưa trung tá, bọn này trước sau đều khai là anh chị nuôi, nhân viên tiếp phẩm và coi kho hậu cần, không thằng nào chịu làm cấp chỉ huy nhưng tôi biết, chúng đều là những cán binh Cộng sản lợi hại. 
Khúc Văn khẽ gật đầu gọi Huỳnh Cao ra ngoài ghé tai hắn thì thầm:
- Bây giờ phải cho tách riêng từng tên ra để tôi trực tiếp hỏi cung xem sao.
Huỳnh Cao lắc đầu thất vọng:
- Tôi đã làm việc này ngay sau khi tóm được chúng nhưng hình như chúng đã bàn nhau trước nên đều trả lời theo một giọng. Bọn này rất lì lợm. Tôi sợ mất thời gian của ngài. Hay là ta cho giải chúng về bộ tham mưu?
Khúc Văn tỏ vẻ thông cảm với nỗi bức xúc của gã đại úy:
- Thôi được, cứ để tôi thử xem đã rồi ta bàn phương án tiếp theo.
Huỳnh Cao vừa bước ra Khúc Văn bảo tên lính gác:
- Không được cho ai lảng vảng ở đây rõ chưa?
Tên lính rập gót dày đến cộp một cái giọng gọn lỏn:
-Rõ! Thưa trung tá.
Khúc Luận chân vẫn bị cùm, ngồi mãi góc tường trong một không gian tối như âm cung, nhìn thấy tên trung tá, anh ta chớp ta chớp mắt liền mấy cái định nói câu gì đó thì Khúc Văn vội xua tay. Vốn là sĩ quan tâm lý, hắn nghi ngờ phòng giam có cài đặt các thiết bị nghe trộm, sau một hồi tìm kiếm không thấy gì khả nghi mới hỏi Khúc Luận:
- Làm sao mà anh bị bắt?
- Thám báo tập kích bất ngờ vào đơn vị rồi đưa về đây bằng máy bay trực thăng.
- Anh là chuẩn úy coi kho thật à?
- Lại bắt đầu hỏi cung phải không? 
Khúc Văn thì thầm:
-Tôi đang tìm cách gỡ cho các anh đây. Cảnh giác với tay Huỳnh Cao và nên chấp thuận khai ra một vài bí mật vớ vẩn nào đó để kéo dài thời gian ở trại này, đến ngày mười chín tháng sáu tức là ngày Quân lực Việt Nam cộng hòa. Nếu đã bị đưa về bộ tham mưu thì sự việc đã vượt khỏi quyền hạn của tôi, các anh không bị xử bắn cũng đày ra Phú Quốc.
Khúc Luận lúc bấy giờ mới tin Khúc Văn liền hỏi:
- Từ năm  năm tư đến nay có nhận được tin tức gì về gia đình không?
Khúc Văn lắc đầu. Khúc Luận bảo:
- Sau vụ chết hụt hồi Cải cách đến lúc vào Nam tôi cũng không về làng Cùa, nhưng nghe tin bà Cả bị phát vãng lên Sơn La, còn ông Khoá đã uống thuốc độc chết trong nhà giam. Khúc Văn cau mặt thở dài :
- Số mệnh ông cụ kết cục đúng như chánh tổng Cao Lộng nói lúc bị quân áo Đen xử bắn ở cây gạo bên miếu Cô Hồn. Còn cái Nhân em tôi?
- Cô ấy bỏ làng đi từ năm năm hai sau đó theo một tay trùm phỉ là Lý Quán, chẳng biết bây giờ ở đâu.
- Khổ thân con bé. Đúng là hồng nhan bạc mệnh. - Khúc Văn thở dài – Bây giờ ý anh thế nào? Hay là khai mẹ nó ra để thằng Cao làm khẩu cung tôi sẽ nhờ người bảo lãnh cho, còn nếu như cứ muốn bám lấy cái thứ triết lý Cộng sản của ông Karl Marx thì phải tìm cách thoát khỏi đây. Mà phải quyết định nhanh lên, nói chuyện mãi chúng nó nghi.
Khúc Luận nói ngay:
- Vậy thì  trăm sự nhờ cậu.
Khúc Văn đi đi lại lại trong phòng giam, cắn môi suy nghĩ:
- Nhưng phải nói trước, người của tôi chỉ tạo điều kiện để các anh thoát được ra ngoài, còn chạy đi đâu thì tuỳ cơ ứng biến. Nên chú ý cách đây chừng năm sáu cây số có một đồn điền cao su.
- Thế cũng là tốt quá rồi.
Trước khi rời nhà giam viên trung tá tâm lý chiến dặn:
- Sẽ có người báo cho các anh thời điểm ra khỏi trại.
Khúc Văn bước ra sân với bộ mặt giận dữ bảo Huỳnh Cao:

- Tên này ngoan cố lắm, dùng vũ lực uy hiếp xem ra không ăn thua, đại uý nên sử dụng ngón tâm lý chiến kết hợp với những lời hứa hẹn may ra mới có kết quả, tuy nhiên phải giữ tính mạng cho chúng. Sau ngày quân lực Việt Nam cộng hòa, nếu vẫn không lấy được khẩu cung ông hãy cử người giải về bộ tham mưu.
Huỳnh Cao đưa tay lên vành mũ chào:
- Trình trung tá, rõ!
Tối hôm ấy, ba người lại bị tống vào phòng giam cũ. Chính trị viên tiểu đoàn Phạm Bách hỏi Khúc Luận:
- Tay trung tá đã hỏi cậu những gì? 
Khúc Luận vốn là tiểu đoàn phó kiêm tham mưu trưởng, biết Phạm Bách hay đố kỵ với mình, lại là kẻ hèn nhát, chính vì ông ta thiếu khả năng quyết đoán mà già nửa ban chỉ huy bị bắt nên không dám cho biết mối quan hệ với Khúc Văn. Anh ta chỉ thông báo văn tắt:
- Hắn không đánh đập nhưng mỗi câu hỏi đặt ra đều là một cái bẫy. Rất may chúng ta đã thống nhất với nhau từ trước nên lời khai mới không mâu thuẫn.
Phạm Bách mặt ủ mày chau thở dài thườn thượt:
- Cậu nói thế nào chứ thằng này ác ôn lắm. Vừa vào đến nơi chưa nói câu nào nó đã bạt tai tôi mấy cái liền tưởng rụng cả hai hàm răng. Tình hình có vẻ căng đấy các cậu ạ, hay là ta cứ khai ra một ít.
Khúc luận thoáng giật mình:
- Chắc gã trung tá tâm lý chiến đã thuyết phục được anh?
- Hắn nói cũng có phần đúng.- Giọng ông chính trị viên phều phào vì hai chiếc răng cửa bị Huỳnh Cao đánh gẫy - Nói thật với các cậu chúng nó biết cả rồi, cho đến lúc này còn bí mật, bí mỡ chó gì nữa, nếu cứ găng, chắc chắn sẽ bị thủ tiêu, sau này còn ai biết đến mình.
Lê Đình Du, mới hai nhăm, tiểu đội trưởng trinh sát liếc nhìn Khúc Luận nhăn mặt:
- Đồng chí Bách nghĩ thế không ổn.Tính mạng con người quý thật nhưng còn danh dự quân đội, còn gia đình. Khai ra tức là đầu hàng, sau này, nếu còn sống, liệu có dám vác mặt về làng không?
Phạm Bách càu nhàu:
- Tôi đã đầu hai thứ tóc, cậu không phải dạy khôn. ở hoàn cảnh này chẳng có cách nào hơn đâu.
- Có đấy. - Khúc Luận bảo - Mấy ngày vừa qua tôi đã quan sát mấy vị trí xung quanh trại. Đây chỉ là căn cứ tiền phương, không phải sở chỉ huy, may ra có thể thoát được.
- Cậu muốn chết à? - Chính trị viên gạt đi - Vùng này toàn là căn cứ địch, giả sử có thể thoát được khỏi trại nhưng sau đó trốn ở đâu, nếu bị bắt lại ai dám chắc sẽ không bị xử bắn.
Khúc luận cố thuyết phục:
- Địch không thể kiểm soát hết mọi ngóc ngách trong rừng được.
- Đừng có chủ quan. - Phạm Bách sẵng giọng - Các đồng chí định ăn không khí để trèo đèo lội suối tìm về đơn vị à?
Lê Đình Du bực mình bảo:
- Đồng chí là chính trị viên, trước hàng quân luôn thay mặt Đảng giáo dục bộ đội phải dũng cảm chiến đấu, tuyệt đối trung thành, vậy mà...
Khúc Luận lừ mắt quát:
- Cậu Du, cậu không được quá lời, còn anh nên đồng ý với phương án của chúng tôi.
- Không bao giờ.- Phạm Bách dứt khoát nói - Tôi yêu cầu các đồng chí không bàn đến chuyện ấy nữa.
Ngày hôm sau, lúc Phạm Bách bị dẫn đi hỏi cung Lê Đình Du bảo Khúc Luận:
-Tình hình này không chóng thì chày ông Bách sẽ khai.
Khúc Luận gật đầu:
-Tôi đã nghĩ đến chuyện ấy từ lâu cho nên ta phải ra khỏi đây càng sớm càng tốt.
Du là dân trinh sát thấy Khúc Luận gợi ra kế hoạch trốn hưởng ứng ngay:
- Dưới chân tháp canh có một đường hào giống như loại công sự chiến đấu, chẳng biết bên trong có gài mìn không, nhưng nếu chui được xuống, vượt qua hàng rào kẽm gai là xem như xong bước một. Vấn đề cần tìm hiểu là đường hào kết thúc ở chỗ nào?
- Đó là một đường hào cụt.- Khúc Luận khẳng định - Mấy hôm trước, khi được mở cùm, nhân lúc tên lính gác ra căng tin uống bia, tôi đã trèo hẳn lên cửa sổ nhìn. Có lẽ đường hào này đã bỏ từ lâu vì hai bên cỏ mọc khá dày. Thôi đành liều vậy .

-Tất nhiên  là phải mạo hiểm mới có hy vọng thoát. Tôi đã để ý, ban đêm chúng cắt bốn thằng canh khu A2. Bọn này lại thay phiên nhau cứ hai đứa một giờ. Vậy ta phải lợi dụng lúc chúng đổi gác để hành động. 
Lúc hai người đang thì thầm bàn bạc chợt có gói nhỏ bằng quả cam từ ngoài ném vào qua cửa sổ. Khúc Luận vội nhặt lên mở ra xem. Bên trong có chiếc chìa khoá cùm mới làm và mảnh giấy viết chữ rất tháu. “Sau mười hai giờ đêm ngày quân lực, cửa không khoá, đi ra bằng đường hào”. Đọc xong Khúc Luận cho mảnh giấy vào mồm nhai rồi bảo Lê Đình Du:
- Tuyệt đối không cho ông Bách biết.
Bàn tính xong, hai người phấp phỏng chờ. Quả như Lê Đình Du dự đoán, hôm ấy chính trị viên đã khai. Huỳnh Cao mừng như vớ được vàng. Hắn muốn nắm trọn chiến công trong tay nên chưa vội đưa tù nhân về bộ tham mưu. Thật may, hôm sau là ngày mười chín tháng sáu. Đêm mưa. Bọn lính uống rượu say.Tên lính gác ngồi khật khưỡng, súng tựa vai. Khúc Luận vừa mở xong khoá cùm, Phạm Bách hốt hoảng hỏi:
- Các anh làm gì thế này?
Lê Đình Du nói khẽ:
- Trốn trại, ông có đi không thì bảo?
- Này đừng có liều. Tôi kêu lên đấy.
- Vậy thì chớ nên trách chúng tôi. 
Lê Đình Du sau khi rút được chân ra, lại sập gióng cùm, dùng sợi dây dù giấu sẵn  trói cứng hai tay ông chính trị viên lại. Khúc Luận xé toạc vạt áo vo tròn nhét vào mồm ông ta rồi bấm tay trinh sát lẻn ra. Quả nhiên cánh cửa không khóa.
Đáng lẽ hai người xuống hào trót lọt nhưng Lê Đình Du vô tình chạm vào hệ thống tín hiệu báo động trên hàng rào thép gai, một quả pháo hiệu vọt lên phát ra thứ ánh sáng xanh lét soi rõ một vùng đất đá nham nhở dưới màn mưa trắng đục. Lúc này địch tưởng Việt Cộng tập kích liền nổ súng các cỡ như vãi đạn, thế là mạnh ai nấy chạy. Khúc Luận bám sát đường hào  cho đến khi gặp con mương cắt ngang. Có tiếng láo nháo đằng sau. Anh ta căng mắt tìm Du nhưng vì đạn bay vèo vèo tứ phía đành rẽ trái lao bừa vào một hõm đất. Nằm thở một lúc , thấy không ổn, Khúc Luận lại bật dậy, khom người chạy, chân đạp bừa vào các bụi gai, chốc chốc lại tụt xuống các hố nước. Có lúc, anh tiểu đoàn phó bị chìm nghỉm vì lao quá đà, hẫng chân rơi tõm xuống ao , đến khi ngoi lên được thì quần áo bê bết bùn nước. Chẳng biết đã cách trại A2 được bao nhiêu, nhưng khi thấy chân trái đau nhói như bị một vật nhọn nóng bỏng xuyên vào thì Khúc Luận không còn đủ sức chạy nữa đành nằm phục xuống bên một bụi gai. Tiếng súng nổ, tiếng la hét mỗi lúc một gần. Nếu cứ chần chừ thế nào cũng bị bắt. ý thức về sự sống mách bảo như vậy. Không thể nằm đây chờ chết. Anh ta dùng hết sức lực còn lại xé áo lót quấn vào bắp chân bị thương, khó nhọc đứng dậy. Phía trước có tiếng nước chảy. Khúc Luận lắng nghe và nhận ra đó là một con suối liền tìm cách tụt xuống để xoá dấu vết. Anh ta lội bì bõm chừng nửa giờ, đến đoạn suối hẹp liền dựa lưng vào vách đá nghỉ một lúc sau đó túm được đám rễ cây cố sức leo lên.

Xa xa trong rừng cao su có ánh đèn. Đói, rét và nhất là chân bị trúng đạn mất máu đã tê dại làm Khúc Luận không còn sự lựa chọn nào khác. Anh ta bò dần từng đoạn một, chốc chốc lại nằm xuống thở phì phò . Cứ như thế, tuy khoảng cách chỉ độ nửa cây số  mà viên tiểu đoàn phó  có cảm giác phải di chuyển mấy tiếng đồng hồ.
 
Vừa đến nơi Khúc Luận giật thót người. Trước mặt là ngôi nhà ba tầng theo kiểu biệt nằm giữa rừng cao su bạt ngàn. Một con chó to như con bê đánh hơi người nhảy dựng ngược, hai chân trước bám vào cổng sắt sủa dữ dội. Khúc luận hoảng quá, ngồi thụp xuống, nép vào hàng rào, nhích dần từng bước tháo lui. Phía trong cổng, một cô gái xuất hiện gọi khẽ:
- Bim bim, lại đây!
 
Con chó ve vẩy đuôi nhưng không nghe lời chủ, cứ kéo dây xích hướng ra ngoài mà cắn. Cô gái mở cổng sắt, lia đèn pin quét vài vệt và phát hiện một xác người bên hàng rào.
 
2
 
Khi tỉnh dậy Khúc Luận  thấy mình nằm trên giường đệm trong căn phòng tối mờ mờ. Chung quanh tuyệt đối im lặng. Anh ta khẽ lật người, ú ớ ra hiệu đòi uống nước nhưng lại rơi ngay vào trạng thái mê sảng . Tỉnh dậy lần thứ hai, Khúc Luận nhận ra người ngồi bên cạnh là một cô gái.
- Anh có đau lắm không?
-Tôi đang ở đâu thế này?
- Đang ở nhà tôi.
- Cô là...
Cô gái nhẹ nhàng đặt tay lên trán Khúc Luận:
- Anh bị thương vào chân, mất nhiều máu, còn đang mệt không nên nói nhiều.
- Nhưng tôi... Cô không báo cho bọn chúng đến đây chứ?
- Anh yên tâm. – Cô gái ngước cặp mắt đen láy nhìn anh Việt Cộng nở một nụ cười khá bí ẩn – Nếu muốn hại anh thì đêm qua tôi đã gọi điện cho cảnh sát rồi.
- Vậy thì ...Tôi xin đội ơn, nhưng cô là...?
Cô gái không trả lời câu hỏi của anh ta mà bảo:
-Tôi đã cho người mời bác sỹ Hoà, đêm nay ông ấy sẽ mổ cho anh.
Khúc Luận giật mình, ngồi run lên:
- Không được. Cô làm thế quân cảnh sẽ đến bắt tôi ngay và liên luỵ đến cả gia đình ta.
- Anh bình tĩnh nào. - Cô gái thì thầm- Đây là bác sỹ riêng của gia đình. Bác ấy không quan tâm đến chính trị.
- Vậy cô có biết tôi là ai không?
- Chắc là một Việt Cộng đang bị truy đuổi.
 
Khúc Luận im lặng. Cô gái nói tiếp:
- Đây là tầng trệt trong căn nhà nghỉ hè ở đồn điền cao su của chúng tôi, tuy hơi thiếu ánh sáng một chút nhưng tương đối an toàn.
Khúc Luận thở nhẹ:
- Cũng không nên chủ quan.

-Tôi đã nghĩ đến trường hợp chúng khám nhà. Bọn lính biệt kích này nổi tiếng thiện chiến và tàn bạo nhưng không đáng ngại. Dưới tầng trệt có hầm bê tông khá kiên cố do ba tôi xây để phòng những lúc có biến động, chỉ phải cái hơi ẩm, nếu chúng đến tôi sẽ đưa anh xuống đó lánh tạm.
-Trong nhà ngoài cô ra còn có những ai nữa?
- Có bốn người bảo vệ nhưng ban ngày họ ở vườn cao su, giờ này chỉ còn một mình u già.
-Thế còn ba má cô?
- Ba đi Sài Gòn có công chuyện còn má tôi ở đồn điền Mơ rao.
-Tên cô là gì?
- Cứ gọi là Diễm Phương.
- Còn tôi là Khúc Luận.
Diễm Phương đang pha sữa cho Khúc Luận chợt u già chạy vào vừa nói vừa thở:
- Cô ơi, bọn lính đến.
Mặt Diễm Phương hơi tái đi:
- U cứ để họ vào. Phải thật bình tĩnh. Tôi sẽ ra ngay.
Diễm Phương dẫn Khúc Luận xuống hầm. Đường hầm tối om, ướt nhớp nháp. Cô dìu anh ta nằm vào chiếc giường bạt rồi nói:
- Anh ráng chịu đau ở đây một lúc, tôi lên xem chúng muốn gì.
 
Diễm Phương về phòng riêng , soi gương, thoa thêm chút phấn, cố ý dềnh dàng rồi mới bước ra ngoài. Đại uý Huỳnh Cao mặc đồ đi trận, khẩu súng ổ quay trễ bên sườn, đang đi đi lại lại có vẻ sốt ruột. Nhìn thấy Diễm Phương, hắn đưa tay chào theo kiểu nhà binh:
-Thưa quý cô, quý cô là chủ ngôi nhà này?
-Phải. Đây là nhà riêng của ông chủ đồn điền Cự Thái. Tôi là con gái ông ấy. Xin hỏi, đại uý có việc gì mà mang lính đến vào giờ này?
-Đêm qua có hai tù binh Bắc Việt trốn trại. Lính của tôi truy đuổi  và phát hiện ra có vết máu ở bờ suối Găng nhưng tìm mãi không thấy. Tôi nghi nó còn lẩn khuất ở rừng cao su, xin phép quý cô cho kiểm tra.
Diễm Phương nghe xong giả bộ lo lắng:
-Hèn gì đêm qua có tiếng úng nổ bên kia suối. Nếu quả thật là Việt Cộng trốn trại thì đại uý cho lính rà soát ngay. Nói thật chúng em sợ lắm.
Sau gần một giờ lùng sục không có kết quả , gã đại uý từ rừng cao su về đưa cặp mắt nhà nghề quan sát toàn bộ ngôi biệt thự rồi bất chợt tuyên bố:
- Thế này thì hơi phiền nhưng quý cô vui lòng cho phép chúng tôi kiểm tra tư dinh.  Diễm Phương cau mặt:
- Đại uý nghi ngờ chúng tôi dấu những tên Việt Cộng đó?
- Cảm phiền quý cô. – Tay đại uý ra vẻ thành thực - Nhất định là không rồi. Tôi sợ rằng, bị quân lính truy đuổi, chúng không còn cách nào khác là đánh liều tìm vào ẩn tạm đâu đó trong nhà mà không ai biết , như vậy sẽ rất nguy hiểm cho mọi người.
- Vậy thì ông cứ tự nhiên. - Diễm Phương khoát tay chỉ cho viên sỹ quan biệt kích vào nhà, giọng có vẻ khiêu khích - Quân đội Việt Nam cộng hoà mạnh thế mà để mấy tù binh vượt ngục…
Gã đại uý cùng bọn lính lục soát hết tầng một, tầng hai rồi mò xuống tầng trệt. ở tầng này chúng xăm xoi khá lâu nhưng không thấy gì khả nghi bèn bảo bọn lính ra ngoài. Trước khi lên xe, Huỳnh Cao giơ tay chào Diễm Phương:
- Chúng tôi phải thi hành phận sự, thành thật xin lỗi gia đình.
Bọn lính vừa rút, Diễm Phương dìu Khúc Luận từ dưới hầm lên. Cô bảo:
- Số anh còn may đấy. Người bạn cùng đi trúng thương nặng, đã bị bắt lại.
- Sao cô biết chuyện này?
-Tay đại uý vừa nói với tôi nhưng hắn đi rồi.
-Thằng này nhiều mánh khoé lắm. - Khúc Luận lo ngại nói- Nó khám nhà tức là đã nghi ngờ. Cô để ý xem, có thể vẫn còn một vài thằng lảng vảng ở đây.
Diễm phương lắc đầu:
- Anh yên tâm. Chính mắt tôi nhìn thấy tất cả bọn chúng đã lên xe ra khỏi đồn điền.
Khúc Luận băn khoăn nhìn Diễm Phương:
- Cô tốt quá nhưng sẽ rất phiền cho cô nếu như ông chủ đồn điền về . Tôi định tối nay sẽ đi.
Diễm Phương xua tay bảo:

- Ba tôi không phải là người nhẫn tâm, tôi sẽ có cách nói để ông già hiểu. Anh ra ngoài bây giờ là rất mạo hiểm, chỉ cần đến con lộ 12 là bị lực lượng dân vệ bắt ngay. Hơn nữa cái chân đang sưng vù thế kia, bước sao nổi.
Một giờ kém năm, bác sĩ Hòa đến. Ông già đã quá lục tuần, người vạm vỡ, đội chiếc mũ phớt màu cà phê, khám cho Khúc Luận một lúc rồi bảo:
- Viên đạn chỉ găm vào phần mềm nhưng nếu không mổ kịp thời sẽ bị hoại thư vì vết thương đã nhiễm trùng nặng, Ta nên làm ngay. Năm giờ sáng tôi phải có mặt ở nhà nếu không chúng nghi ngờ. Diễm Phương chuẩn bị khử trùng các dụng cụ cho bác.
- Thưa bác sĩ, tình hình bên ngoài bây giờ thế nào ạ?
- Không có gì đáng mừng cả. - Ông thầy thuốc vừa rửa vết thương bằng cồn vừa nói - Người tù binh bị bắt lại đã chết.
- Bác chỉ nghe người ta đồn hay là...
- Chính tay tôi vuốt mắt cho anh ta. - ông Hòa lắc đầu bảo - Đó là một tay Việt Cộng còn trẻ, ở đuôi mắt trái có vết sẹo bằng hạt ngô.
- Thằng Du.- Khúc Luận khẽ kêu lên.
- Anh bạn! - ông bác sĩ già thủng thẳng bảo - Tôi không hiểu gì về Cộng sản, chỉ biết các anh cuồng tín quá, giáo điều quá và chịu đựng giỏi quá. Những cái đó là triệu chứng của một loại bệnh lý đến một lúc nào đó nó sẽ tự phá ra , không thuốc nào cứu nổi. Tuy nhiên, không vì thế mà tôi tán thành Quốc gia . Toàn là một bọn hoạt đầu, bất tài nhưng rất giỏi đánh xoáy tiền viện trợ bỏ túi. Tôi chữa cho anh với tư cách là bạn của gia đình ông Cự Thái, không phải cảm ơn. Xin có một lời khuyên, sau khi khỏi vết thương, đừng bao giờ cầm súng bắn nhau nữa.
 
Khoảng mười phút sau, bác sỹ dùng panh gắp từ bắp chân Khúc Luận ra một đầu đạn garăng, ông ta để trong lòng bàn tay nhếch mép cười:
-Tôi không hiểu vì sao con người cứ thích dùng những thứ này nói chuyệnvới nhau.
Ba hôm sau, ông chủ đồn điền từ Sài Gòn về. Vừa hay tin viên đại uý cho lính đến khám nhà, ông ta lập tức bảo tài xế đánh xe đến tiểu đoàn biệt kích. Diễm Phương biết bố nóng tính sợ lộ chuyện vội kéo ông Cự vào phòng nhẹ nhàng nói:
- Ba mới về chưa rõ chuyện. Có mấy tù binh Bắc Việt trốn trại. Ông đại uý cho lính rà soát khắp nơi chứ không chỉ riêng nhà mình. Việc quốc gia họ buộc phải làm, ba để ý làm gì.
-Chúng làm thế là qua mặt tao.- ông Cự Thái hậm hực nói dằn từng tiếng- Giá như có Việt Cộng thật thì lại khác. Đằng này...
- Ba ạ! – Diễm Phương thì thầm – Lúc nãy con chưa dám nói vì sợ ba giận. Đúng là đang có một tù binh đang ở trong nhà ta.
- Mày nói sao?- Mặt ông chủ chợt biến sắc- Hắn làm thế nào mà vào đây được?
- Anh ta bị thương, bò được đến cổng thì ngất đi, con đành phải đưa tạm xuống tầng trệt.
- Con liều quá!- Ông Cự Thái sẵng giọng- Chuyện mà lộ ra thì cả cái đồn điền này cùng với sự nghiệp của ba đi tong. Dẫn ba đến chỗ anh ta.
- Ba, con xin ba, hãy cứu lấy anh ta, coi như mình làm phúc.
- Mày nói cái gì? Nếu thằng Huỳnh Cao lại dẫn lính đến đây thì ai cứu tao?
- Ba nói khẽ chứ.- Diễm Phương kéo tay ông Cự Thái bắt phải ngồi xuống- Con còn biết một điều hệ trọng. Anh ta là cấp chỉ huy tiểu đoàn, người làng Cùa vùng Ba Tổng.
- Chuyện lạ! - Ông chủ đồn điền khịt mũi bán tín bán nghi- Có thật như thế không?
- Anh ta nói làng Cùa có sông Lăng và những bãi ngô bên cồn Vành, gần bến đò ngang là điếm Bài Vân.
- Vậy thì dúng rồi. - Ông Cự chợt thở mạnh- Chắc con để anh ta dưới hầm phải không?
- Dạ.
- Dẫn anh ta lên tầng trệt. Nếu đúng là dân làng Cùa thì phải tìm cách đưa về Sài Gòn hoặc đồn điền Mơ rao.
 
Diễm Phương dìu Khúc Luận từ dưới hầm lên. Vừa nhìn thấy anh ta ông Cự Thái đã hỏi:
- Anh là người làng Cùa phải không?
- Dạ, cháu ở xóm Đình.
- Anh có biết ông chánh Đàm?
- Ông Chánh là bố cháu.
- Vậy mẹ anh chắc là bà Ba Lánh.
- Phải đấy ạ nhưng mẹ cháu...
 
Ông Cự Thái gật đầu:

- Chuyện nhà anh tôi biết rồi. Tôi là con cả cụ chánh Lộng vào Nam sau ngày cụ bị lính áo Đen của ông khoá Kiệt bắn chết.
- Lúc mới vào bác ở đâu?
- Làm bốc vác ở Sài Gòn, được dăm năm thì lập gia đình ròi dắt díu nhau lên vùng này theo dân cao su. Số tôi cũng lận đận lắm nhưng cuối cùng gặp may, nhờ có chút ơn với một tài chủ trọng nghĩa, ông ấy cấp cho ít vốn tậu được khoảnh rừng. Làm thì cứ làm thôi chứ thời buổi chiến tranh này chẳng biết thế nào mà nói trước.
3. Dịp ấy Cao nguyên bắt đầu mùa mưa. Rừng cao su lúc nào cũng nhợt nhạt, buồn tẻ như cảnh hoàng hôn mùa đông xứ Bắc. Khúc Luận chạnh lòng nghĩ đến mẹ. Không biết giờ này bà ấy ở đâu, còn sống hay đã chết? Càng nghĩ anh ta càng căm thù Lê Văn Vận cho dù ông ta đã bị Toà án đặc biệt xử tử. Anh ta từ từ ngồi dậy, xoay người dựa lưng vào tường , mắt đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt suy nghĩ mông lung. Phạm Bách chắc lúc này đã chiêu hồi. Lê Đình Du chết một cách khốn khổ, còn mình biết tính sao đây? Một đêm Khúc Luận mơ thấy Khúc Thị Nhân. Cô ta vẫn trẻ đẹp như xưa, lộng lẫy trong bộ xiêm y vũ nữ lúc ẩn lúc hiện giữa đám mây ngũ sắc. Nhìn thấy chàng công tử làng Cùa, cô ta chìa tay ra kéo lên trời. Nhưng vì anh ta là người phàm trần còn nặng nghiệp chướng, đến gần mặt trăng thì bị rơi xuống một vùng hoang mạc gẫy hai chân, tỉnh dậy toát mồ hôi.
 
Mấy hôm sau, Khúc Luận ngỏ ý muốn tìm về đơn vị. Diễm Phương nghiêm sắc mặt:
- Anh muốn thí mạng à? Trước khi bị bắt đơn vị anh ở phía tây tỉnh Quảng Nam bây giờ anh biết đang ở đâu không?
Khúc Luận phỏng đoán:
- Có lẽ là bắc cao nguyên Trung Phần.
Diễm Phương lắc đầu:
- Anh đang ở Tuyên Đức.
- Xa thế cơ à?
- Bọn tiểu đoàn 124 được xem như là con thần ưng vùng cao nguyên. Chúng thường dùng trực thăng cơ động nhanh, tập kích bất ngờ vào một đơn vị nào đó rồi mang tù binh về căn cứ khai thác. Chưa biết chừng, sau khi cái ông chính trị viên ấy chiêu hồi thì toàn bộ tiểu đoàn của anh đã bị xoá sổ bởi những trận pháo kích và máy bay F4 ném bom.
Tối hôm ấy, ông Cự Thái xuống tầng trệt vào phòng Khúc Luận. Gần hai giờ liền ông kể cho anh nghe về thời trai trẻ và những nỗi gian truân của mình. Cuối cùng ông chép miệng than thở:
- Công bằng mà nói, ta không thích cuộc chiến nồi da nấu thịt này vì chính ta cũng mất một đứa con trai hồi cuối năm sáu nhăm. Nó tốt nghiệp trường võ bị Đà Lạt rồi bị điều ra Quảng Trị. Tin thằng Hai tử thương làm mẹ nó ốm liệt giường mấy tháng. Cuộc chiến đã kéo quá dài mà sự chịu đựng của con người thì có hạn. Với anh, ta khuyên hãy từ bỏ binh nghiệp đi. Ta sẽ lo cho một số giấy tờ tuỳ thân, khi nào khỏi hẳn sẽ đến đồn điền Mơ rao làm việc, ở đấy dù sao cũng an toàn hơn.
 
*
 
Khúc Luận về Mơ rao được hơn ba tháng, một hôm ông Cự Thái đánh xe đến kiểm tra những lô cao su mới được đưa vào khai thác, nhân tiện bảo anh ta:
- Anh nghĩ thế nào nếu tôi chu cấp cho anh sang bên Pháp học nghề canh nông?
- Cháu đã ba mươi tư tuổi rồi, học bây giờ là quá muộn.
-Tuổi tác không quan trọng, cái chính là trình độ học vấn cơ bản. - Ông Cự Thái bảo- Nghe em Phương nói, hồi ở làng Cùa anh đã học xong trung học đệ nhất cấp?
- Nhưng cháu học trước năm năm tư cơ, bây giờ quên sạch rồi.
- Chuyện này không khó vì bên ấy họ có lớp dự bị . Ta cho ba ngày suy nghĩ, nếu chấp thuận thì xem đây như một hợp đồng, học xong, anh về đây làm cao su. Nói thật việc này ta không chỉ giúp riêng anh mà chính là muốn trả nghĩa làng Cùa, nơi ta đã được sinh ra.
Buổi chiều có chiếc xe Jeep từ quận về. Viên cảnh sát trưởng cùng mấy tên đàn em bước vào nhà ông Cự Thái chẳng có vẻ gì là thân thiện. Vừa gặp chủ nhà viên cảnh sát đã hỏi:
- Ông mới thuê một người làm công ở đồn điền này?
Ông Cự Thái chột dạ nhưng cũng hiểu ngay là phải trả lời thế nào.
- Đồn điền của tôi có nhiều người làm công, các ông muốn hỏi ai?
Viên cảnh sát đưa ra tấm ảnh bằng bàn tay.
- Chúng tôi muốn gặp người này.
 

Đó là ảnh của Khúc Luận. Gay rồi. Ông Cự Thái giả vờ chăm chú nhìn bức ảnh nhưng thực chất là kéo dài thời gian để nghĩ kế:
- Đồn điền của tôi không có người này.
- Ông không đùa đấy chứ? – Viên cảnh sát nhìn như xoáy vào ông Cự Thái - Đây là tên tù binh Bắc Việt nguy hiểm đang có lệnh truy nã. Có người nhìn thấy anh ta đi với ông.
- Ai nói với ông như vậy?
- Người của đại uý Huỳnh Cao chỉ huy tiểu đoàn 124.
- Đó là một tin thất thiệt, ngài tỉnh trưởng sẽ không bỏ qua chuyện này đâu.
-Chúng tôi có biết mối quan hệ của ông với ngài tỉnh trưởng nhưng chính đại tá ra lệnh cho quân đội và cảnh sát truy tìm tên tù binh ở đồn điền Mơ rao.
- Ra thế đấy. - Ông Cự Thái cười gằn- Vậy thì đại uý cứ làm phận sự.
 
Cùng lúc ấy ở trong nhà kho, nhìn thấy xe cảnh sát, Khúc Luận vội luồn ra phía sau chạy lên rừng.
Cuộc lùng sục mãi đến tám giờ tối mới kết thúc. Không bắt được Khúc Luận, tay cảnh sát trưởng hậm hực ra mặt nhưng đành phải rút về quận. Hắn biết thế lực của ông chủ đồn điền nên tạm thời chưa dám động đến. Khi mọi việc đã tạm yên, ông Cự xộc vội xuống nhà kho thì Khúc Luận cũng biến mất. Ông chủ đồn điền lo lắm, cho người nhà cầm đèn soi khắp mọi nơi nhưng đến nửa đêm vẫn không thấy tăm hơi. Quá mệt vì thần kinh căng thẳng, ông về phòng ngồi một mình đăm chiêu, vừa chợp mắt được một lát chợt cai Tống từ nhà dưới lên rỉ tai:
- Lúc nửa đêm, cánh dân vệ ấp bốn bắt được một người nói giọng Bắc, họ nghi Việt Cộng mới đột nhập vào nên đã giam lại, sớm mai sẽ giải lên quận.
Linh tính cho biết có việc chẳng lành, ông Cự Thái không đợi trời sáng, gọi tài xế đánh xe đến ngay ấp bốn. Khúc Luận bị trói quặt hai tay ra đằng sau, còn gã ấp trưởng cùng mấy dân vệ đang hỏi cung. Ông chủ đồn điền lấy căn cước của anh ta đưa cho ấp trưởng:
- Người này là đốc công trong đồn điền của tôi vì trót đánh bị thương một công nhân nên anh ta trốn đi chứ không phải Việt Cộng. Ông ấp trưởng cho tôi bảo lãnh mang về, có chút ít để thầy trò ông lai rai.
 
Tay ấp trưởng sừng sộ:
-Tôi lạ gì các đốc công ở đồn điền này, nếu giải anh ta lên quận chắc số tiền thưởng không chỉ ngần này.
Ông Cự Thái biết là có thể dàn xếp được liền rút thêm xấp tiền dúi vào tay gã ấp trưởng:
-Vậy thì... Coi như ta thoả thuận với nhau. Ông cứ lờ đi cho, sau này sẽ còn tạ ơn. Thú thực, anh ta là cháu tôi mới từ Bình Dương lên.
-Thôi được. – Tay ấp trưởng ra bộ thông cảm, tự tay cởi trói cho Khúc Luận rồi nói tiếp – Nể ông là chỗ quen biết. Lần sau anh đi đâu phải nhớ mang theo căn cước.
Về đến nhà, Ông Cự Thái bảo Khúc Luận:
- Anh thấy chưa, cả cái thành phố cao nguyên này là thiên la điạ võng, chạy đâu cho thoát, chậm một lúc nữa là không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Giờ thì phải nghe bác. Hộ chiếu, thư giới thiệu và vé máy bay đã chuẩn bị sẵn. Sáng sớm ngày kia ta đi. Em Diễm Phương đang đợi ở Sài Gòn.
Chương 17
 
Chương mười bảy
 
1
 
Rừng A Cheo vào mùa này không hiếm nước nhưng phần lớn nữ thanh niên xung phong C9 thích đi hơn ba cây số đến suối Đắc May tắm, là vì nước ở đây rất trong, có những chỗ kín đáo, phù hợp với đặc điểm giới tính. Các bệnh nhân mắc chứng phá nước thi nhau gãi chỗ kín mà không sợ cặp mắt gian giảo của bọn đàn ông xăm xoi. Chị em còn cởi tuốt tuột quần áo, búi gọn tóc như một bầy tiên nga giáng trần thả sức nô giỡn trong một khung cảnh thiên nhiên lãng đãng như chốn Bồng Lai. Đó là những cô gái nông thôn đồng bằng Bắc bộ, tuổi mười tám đôi mươi, nghe theo tiếng gọi của Đảng, háo hức vào Trường Sơn, làm nhiệm vụ cao cả của dân tộc là chống Mỹ cứu nước. Công việc của họ rất tạp nham nhưng chủ yếu là mở đường, đảm bảo giao thông, lấp hố bom và gùi hàng. Rừng Trường Sơn hoang sơ, hùng vĩ và đầy bí ẩn. Sau này, khi đã ra khỏi cuộc chiến tranh hai mươi năm, người ta mới hiểu được rằng, ngoài những thứ vinh quang có được bằng xương máu, đội quân trẻ tuổi cầm cuốc xẻng này còn ấp ủ trong lòng một niềm tin thần thánh về viễn cảnh tương lai mà không hiểu rằng, thời gian là cỗ máy khổng lồ huỷ diệt những ước mơ hão huyền và làm bạc đầu rất nhanh những kẻ có tâm trạng hoài cổ.
 
Thật ra mà nói, hiếm hoi lắm mới có những ngày  lắng tiếng bom để các cô rủ nhau đi tắm tập thể. Thời gian của thanh niên xung phong không tính được bằng những loại lịch thông thường. Nó vừa là thời gian vật lý, lại vừa là thời gian tâm lý. Tất cả mọi hoạt động đều được đo đếm bằng những thiết bị đặc biệt mà cái động lực cho nó vận hành chính là chiến tranh.
 

C9 nằm trong khu rừng nguyên sinh phần lớn là loại cây săng lẻ và sao dầu. Lúc đầu đơn vị được biên chế một trăm hai mươi tám người, gồm một trăm lẻ hai nữ và hai mươi sáu nam do Chu Quang Sầm làm xê trưởng. Thời kỳ mới tập kết, anh chị em ở theo đơn vị trung đội trong những chiếc lán lợp cỏ gianh hoặc lá móc rừng. Sang năm thứ hai, máy bay Mỹ phát hiện được ngầm chữ A, thường xuyên ném bom toạ độ nên tất cả đều chuyển xuống hầm. Đủ các loại hầm. Hầm chỉ huy. Hầm sinh hoạt tập thể. Hầm bếp và hầm ngủ. Hầm ngủ chỉ rộng đủ cho hai người, cùng lắm là ba. Trần lót bằng những đoạn cây cỡ bắp đùi, bên trên đắp lớp đất dày hơn một mét.
 
Ngủ hầm vài tháng thì da mặt phần lớn các “tiên nga” chuyển sang màu xanh nhợt. ấy là dấu hiệu của thời tiết khắc nghiệt và bệnh sốt rét. Chưa đầy nửa năm, một số chị em đã rụng tóc, đầu chỉ còn lưa thưa vài sợi, phải đội khăn suốt ngày. Khổ nhất là những cô tuổi chưa quá hăm bốn hăm nhăm mà lại tự nhiên tắt kinh, ngực xẹp lép như con cá rô đực, suốt ngày mặt ủ mày chau, thở dài thườn thượt.
 
Chu Quang Sầm, ba mươi hai, cũng dân vùng Ba Tổng, vốn là trợ lý tiểu đoàn hậu cần được trung đoàn cử sang phụ trách đại đội thanh niên xung phong. Ông thân sinh ra Sầm là người kẻ Sộp, đến ngụ cư làng Quao, bị cánh hương lý chèn ép bắt làm mõ, mãi đến năm Quý Tỵ mới được giải nghệ vì mắc bệnh tràng nhạc, được hơn một năm thì mất. Một đêm Sầm bơi qua sông Lăng đến rừng Lạc Lâm xin vào làm bộ đội 974 là lực lượng địa phương quân của tỉnh lúc bấy giờ. Năm năm tư anh ta về làng Quao. Cô em gái làm mối cho anh trai một nữ cốt cán tên là Luyến. Hai người cưới nhau theo nghi thức đời sống mới. Rạp dựng tại sân đình do đội Khế làm chủ hôn. Đám thanh niên say sưa nhảy “xon mì” chẳng cần để ý đến nhịp, dẫm cả vào chân nhau kêu chí choé. Nhiều cô cậu mệt phờ, toát mồ hôi hột, ra bể nước mưa uống ừng ực. Trong lúc đám cưới cử hành có một thủ tục bắt buộc cô dâu chủ rể phải bắt tay nhau. Cô Luyến giả bộ e thẹn không dám nhìn thẳng vào chồng. Mấy hôm sau anh ta mới cay đắng nhận ra , mắt của vợ có một vết nhài quạt.
 
Người dong dỏng cao, ngực nở, lông mày rậm đen nhánh, tóc dài, nếu không có chút khiếm khuyết về mắt, chắc chắn Luyến là người phụ nữ hoàn hảo  nhất làng Quao. Hình như được thừa hưởng ở mẹ tính đồng bóng, cô ta đầu mày cuối mắt với hết lượt cán bộ Cải cách, làm khối anh chết mệt, thề thốt hứa hẹn hươu vượn đủ điều, nhưng hầu như rất ít chàng si tình chạm được vào người đẹp. Duy chỉ có đội Khế. Một lần anh ta ngồi sau Luyến trong đêm chiếu bóng ở trường bắn đồng Cò. Đó là một bộ phim của điện ảnh Xô viết, có cảnh anh lính Hồng quân hôn môi cô nông trang viên mà người phụ trách máy chưa kịp đưa tay che ống kính. Thế là đội Khế luồn tay vào trong yếm cô cốt cán mân mê đôi oản bụt. Luyến oằn người như có dòng điện lan nhanh khắp cơ thể, định đẩy ra nhưng không hiểu sao lại để yên.
 
Bàn tay dạn dĩ kia trơn như con rắn, tưởng bở, vừa luồn xuống dưới, chạm vào cạp quần thì bị ngay một cái tát, dù là không đau nhưng hẳn là phải nhớ đời. Tuy nhiên, Khế không biết ngượng là gì. Hôm sau gặp cô cốt cán trong cuộc họp bình xét thành phần, anh ta vẫn thản nhiên cười nói xem như tối hôm qua chẳng có chuyện gì xảy ra.
 
Đêm đầu tiên, dù rất đau nhưng Luyến vẫn làm cho Chu Quang Sầm phát khiếp. Người mệt phờ, vừa thiu thiu ngủ anh đã bị vợ cấu vào sườn bắt làm phận sự của người chồng. Khoảng một tuần sau, còn nhớ, lúc ấy đã quá nửa đêm, Sầm đi soi ếch về, buồn ngủ, ngáp ngắn ngáp dài nhưng Luyến vấn thức chờ. Anh chồng vừa lên giường, cô vợ đã cởi quần áo ôm riết lấy chồng, thì thầm:
- Nào!
-Tôi buồn ngủ lắm.
Luyến sụt sịt khóc:
- Mấy hôm nữa phải đi rồi, anh không thương em sao?
Cực chẳng đã, Sầm phải chiều cô ta. Anh ta ì ạch leo nên bụng vợ bỗng cảm thấy toàn thân nhẹ bẫng, trong lòng không còn cảm giác ham muốn gì, vì cái công cụ dùng để thực thi nghĩa vụ truyền giống lúc này đã hoàn toàn bất lực. Đêm ấy và cả mấy đêm sau nữa trước khi Sầm trở về quân ngũ cả hai vợ chồng đều khóc. Tiếng khóc của họ nghe rất lạ tai không giống bất cứ nỗi uất ức nào trên đời.
 
Mắc chứng bất lực nên mấy năm liền Chu Quang Sầm không về thăm vợ. Anh ta viết thư về khuyên Luyến đi lấy chồng khác để khỏi lỡ một đời con gái. Luyến chần chừ mãi , cố ý chờ xem Sầm có chữa khỏi bệnh không, nhưng rồi một lần anh ta gửi đơn ly hôn về. Năm sau cô ta lấy đội Khế, lúc ấy đang làm phó phòng tổ chức huyện. Vợ trước của Khế vừa già vừa xấu, một sáng thức dậy đã thấy chết cứng trên giường, người ta nghi Khế là thủ phạm, nhưng không tìm được chứng cứ. Sau những đổ vỡ trong gia đình, Chu Quang Sầm trở thành con người sắt đá.
 

Anh ta đối xử  với đồng đội vô cùng nghiệt ngã nhất là trong quan hệ nam nữ. Hễ nhìn thấy cô cậu nào có biểu hiện tình ý với nhau là đại đội trưởng gọi lên nhắc nhở, nếu tái phạm sẽ xử lý kỷ luật. Thuỳ Dung, quê Thuỵ Anh Thái Bình, đang học dở lớp chín thì viết đơn đi thanh niên xung phong, dáng người như diễn viên múa, mắt lúng liếng sống rất mơ mộng. Một lần Dung đi hái măng trong rừng Bầu Sao bắt gặp anh chàng” nghệ sĩ” Dóp đang tha thẩn dọc bờ suối tìm vần điệu cho bài thơ “Đêm lấp hố bom” ca ngợi vẻ đẹp của thanh niên xung phong Trường Sơn. Chủ nhật, đơn vị nghỉ nửa buổi. Phần lớn đội viên tranh thủ tắm giặt, chỉ có những kẻ lãng mạn và lười như hủi mới rủ nhau vào rừng, mà đã là lãng mạn thì tâm hồn bay bổng trên chín tầng mây, chẳng cần nghĩ đến quần áo sạch hay bẩn, người tắm từ hôm nào.  Dóp vừa đi vừa lẩm bẩm:
 
Sao trời rơi xuống cung đường
Đêm A Cheo nghiêng ngả.
Rừng Trường Sơn lung linh ngàn mắt lá...
 
Anh ta chưa đọc được câu kết thì Thuỳ Dung đột ngột xuất hiện nói rất ngọt:
- Anh làm thơ hay quá.
Dóp giật mình, dòng suy nghĩ bị gián đoạn nhìn cô gái ngập ngừng:
-  Thơ con cóc  ấy mà, em nghe làm gì.
-  Ứ ! Em thích thơ lắm, lúc nào phải chép cho em mấy bài.
Nói rồi Thuỳ Dung bước đến gần đặt hai tay lên vai Dóp chìa môi ra, thì thầm :
- Hôn em đi !
Nhà thơ nghiệp dư bỗng nhiên rơi vào tình thế khó xử trước hành động táo bạo của cô thanh niên xung phong đâm lúng túng:
- Tôi... Tôi không biết ...
 
Thuỳ Dung càng được thể, rướn người áp vào môi Dóp. Nhà thơ như chợt tỉnh giấc mơ tiếp nhận tình cảm hoàn toàn theo bản năng, ghì chặt cô gái vào ngực một cách tự nhiên. Một cái hôn dài vô cùng đắm đuối làm cơ thể hai người như tan ra hoà vào nhau chẳng còn biết trời đất gì nữa. Đó cũng là lần đầu tiên Dóp được biết da thịt đàn bà. Tuy nhiên cuộc dạo chơi của hai người không qua được mắt cô Thuyên lúc ấy cũng đang lảng vảng trong rừng. Thuyên người tròn như  hạt mít, tính hay thóc mách, là thám tử số một của đại đội trưởng. Nhìn thấy sự lạ bên bờ suối, cô ta nghĩ trời sắp sập vội chạy về báo ngay cho Chu Quang Sầm. Tối hôm ấy, đại đội trưởng gọi Dóp và Thuỳ Dung vào hầm viết kiểm điểm. sau nửa giờ, tờ giấy xé từ quyển vở kẻ ô ly để trên chiếc bàn tre  vẫn không có một dòng chữ. Sầm không ngờ đôi trai gái lại ngoan cố đến như vậy, bắt đầu lên giọng quở trách:
- Các đồng chí có biết mình vừa phạm khuyết điểm về mặt đạo đức không?
 
Thuỳ Dung vốn có thừa kinh nghiệm trong những tình huống như thế này nên ứng đối rất trôi chảy:
-Thưa Ban chỉ huy, lúc chiều tôi đi hái măng, tình cờ gặp đồng chí Dóp ở bờ suối, đứng lại nói chuyện mấy câu chẳng lẽ như vậy là phạm khuyết điểm sao?
Dóp hiểu được tình thế lúc này, tốt nhất là phải chối biến, liền tiếp lời cô bạn:
- Đồng chí Dung nói đúng. Chúng tôi ngẫu nhiên gặp nhau, quan hệ bình thường, chẳng có gì khuất tất mà phải làm kiểm điểm.
Chu Quang Sầm đập tay xuống bàn:
- Rõ ràng có người nhìn thấy hai đồng chí ôm hôn nhau về báo với tôi thế mà còn cố tình cãi. Tinh thần đấu tranh phê và tự phê để đâu rồi?
 
Thuỳ Dung cười nhạt:
- Anh chị em thanh niên xung phong có phải tội phạm đâu mà phải cử người theo dõi. Tôi đề nghị đưa họ ra đây để xem kẻ giấu mặt ấy là ai mà dám cả gan vu khống, xúc phạm đến danh dự đồng đội.
Đại đội trưởng nghiêm mặt:
- Cô Dung nói năng phải cẩn thận. Cô định ám chỉ ai đấy hả? các đồng chí nên nhớ, lúc này nhiệm vụ hàng đầu là thông đường, thông tuyến, đảm bảo xe qua an toàn, góp phần vào công cuộc chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trước mắt còn nhiều khó khăn, phải tạm quên đi hạnh phúc cá nhân, hy sinh tình cảm riêng tư vì nghĩa lớn của dân tộc. Đó mới là thanh niên thời đại Hồ Chí Minh. Các đồng chí thử nghĩ xem, ở đơn vị ta, nếu mọi người đều sống buông thả, luyến ái tự do, chẳng may phĩnh bụng ra thì ăn nói thế nào với cấp trên và gia đình? Tôi nhắc lại, đây là rừng Trường Sơn chứ không phải buồng hạnh phúc. anh chị nào léng phéng với nhau, tổ chức biết sẽ phải khai trừ Đoàn, đuổi khỏi đơn vị, gửi giấy về địa phương.
 
Dứt mạch diễn thuyết về luyến ái quan cách mạng và tinh thần ba sẵn sàng của thanh niên xung phong, Chu Quang Sầm bất ngờ quay về chủ đề cũ :
- Hai đồng chí nghĩ kỹ lời của tôi rồi viết kiểm điểm, chiều mai mang nộp, nếu không Ban chỉ huy buộc phải xử lý kỷ luật.
Trên đường về hầm, Dóp bảo Thuỳ Dung:
- Tình hình này là phải nhận... khuyết điểm rồi.
- Sợ gì. Anh đừng có mắc lừa hắn. Em đã có cách.

Quả nhiên, tối thứ bẩy, trong buổi sinh hoạt thường kỳ, Chu Quang Sầm đưa sự kiện nhà thơ Dóp và nữ đội viên Thùy Dung ôm hôn nhau trong rừng Bầu Sao sau khi đã hội ý chi ủy và ban chấp hành Đoàn. Lê Văn Nghiên lúc ấy đã ba mươi hai, quá tuổi nhưng cũng được mời họp với tư cách A trưởng phụ trách tổ mìn. Mở đầu, bí thư Hoàng Thị Chăm, một cô gái có thân hình lực sĩ quê vùng chiêm trũng Hà Nam, chân tay thô ráp, đứng lên nêu lý do cuộc họp.
 
Sự việc được đưa cô ta trình bày lộn xộn bằng một mớ từ vựng ít ỏi lại thiếu chính xác, làm cho chị em ngớ người ra, chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào, đến nỗi đại đội trưởng phải gắt lên:
- Đề nghị đồng chí trình bày ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề.
- Báo cáo các đồng chí, tình hình là thế này. Chiều hôm chủ nhật có người nhìn thấy anh Dóp và cô Dung hôn nhau trong rừng. Ban chỉ huy yêu cầu làm kiểm điểm nhưng họ vẫn cố tình chối cãi, nhất là cô Dung còn có những lời vô tổ chức, vì vậy, chúng tôi buộc phải đưa ra trước tập thể để các đội viên góp ý giúp đỡ.
 
Nhà thơ Dóp có vẻ ngượng, cúi đầu suy nghĩ còn cô Dung mặt vênh vênh, giơ tay rất cao nói to:
-Tôi xin có ý kiến.
Chu Quang Sầm chặn ngang:
-Cô Dung chưa được nói để chị em góp ý kiến trước đã.
-Việc này có liên quan đến tôi , vì vậy đề nghị đồng chí xê trưởng cho biết, ai đã nhìn thấy chúng tôi hôn nhau, sau đó hãy bàn chuyện tiếp theo.
"Lúc này buộc phải đi con bài cuối cùng, nếu không sẽ mất hết uy tín của Ban chỉ huy” – Chu Quang Sầm vừa nghĩ vừa liếc mắt  về phía Thuyên “Hạt mít”. Cô này hơi lắc đầu nhưng rốt cuộc cũng phải đứng lên gỡ thế bí cho đại đội trưởng:
- Chính mắt tôi nhìn thấy đồng chí Dóp và đồng chí Dung hôn nhau trong rừng.
 
Cô Trâm người Việt Trì, chẳng thân thiết gì với Thuỳ Dung nhưng từ lâu, vốn ghét “Hạt mít” hay xét nét chị em tâng công thủ trưởng liền đứng dậy chẳng cần xin phép:
- Đồng chí Thuyên cho biết hai người hôn nhau như thế nào?
Bên dưới lác đác có vài tiếng khúc khích bị nén lại nhưng rồi gần như không nhịn được nữa, tất cả chị em đều cười phá lên làm Hoàng Thị Chăm phải quát :
- Đề nghị trật tự !
- Đồng chí xê trưởng thấy đấy.- Trâm “Cao kều” đưa mắt nhìn khắp lượt các đội viên rồi thong thả nói tiếp - Cái sự nam nữ hôn nhau, nếu vì thế mà ảnh hưởng đến tình đoàn kết của phe xã hội chủ nghĩa, hoặc đế quốc Mỹ kéo quân vượt sông Bến Hải ra miền Bắc thì tôi đề nghị phải đưa đồng chí Dóp và đồng chí Dung ra truy tố trước pháp luật, phạt tù chung thân hoặc tử hình. Tôi nghĩ hôn là một trong những biểu hiện tình cảm đẹp nhất, xúc động nhất của con người văn minh, chẳng ảnh hưởng gì đến nền hoà bình thế giới mà còn có lợi cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Chúng ta sẵn sàng hy sinh bản thân vì sự sống của con đường, vậy thì lý do gì mà đồng chí xê trưởng lại cử một kẻ chuyên ngồi lê đôi mách, tư cách thấp kém lén lút theo dõi đồng đội đi với nhau để tổ chức cuộc họp vô bổ chỉ vì một nụ hôn?
 
Trâm vừa nói xong, chị em vỗ tay rào rào tán thưởng. Cô Hoan, sốt rét rụng nửa mái tóc nhưng đôi mắt bồ câu vẫn long lanh, rất yêu đời , đã được anh lái xe đoàn 559 hò hẹn hồi cuối tháng trước, đứng lên tuyên bố:
-Tôi đề nghị đồng chí Thuyên bỏ ngay tính xấu hay rình mò đồng đội đi. Nói thật, nếu được một người đàn ông ôm riết lấy mình, ghì đến tức thở dù trời sập tôi cũng chẳng cần.
-Yêu cầu các đồng chí không được nói tếu! - Chu Quang Sầm mặt nặng trịch nhìn đại đội phó Bàng Thị Chuyên cầu cứu, nhưng cô này cứ tảng lờ, có lẽ còn đang cố tưởng tượng xem vị ngọt ngào và run rẩy của những chiếc hôn mà mình chưa bao giờ nhận được từ một người khác giới kỳ diệu như thế nào. Lúc bấy giờ Lê Văn Nghiên mới đứng lên:

- Các đồng chí nói rất đúng. Giữa cái sống và cái chết trong cuộc chiến tranh này, một nụ hôn có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Ta không nên cấm đoán tình cảm tự nhiên của con người mà phải nâng đỡ, hướng dẫn phát triển đúng quy luật, phù hợp với những giá trị đạo đức truyền thống. Tôi xin kể cho mọi người nghe câu chuyện có thật cách đây hơn một năm về một người con gái. Hồi ấy tôi đang ở C23 trên đường 34. Đấy là đoạn ngầm qua suối Đa Linh mới được mở từ đầu mùa khô tránh phải vượt đèo Sừng Bò. Trung đội thanh niên xung phong phụ trách đoạn ngầm này do cô Tuyên chỉ huy. Họ giữ an toàn được hơn hai tháng thì bị lộ. Thế là mỗi ngày có ít nhất bốn lượt máy bay quần đảo trút đủ các loại bom xuống cung đường hẹp chưa đầy tám mươi thước. Trong số chị em bám trụ ở đây có cô Mai da trắng tóc dài, mắt đen xinh như văn công. Hôm ấy, sau khi tiểu đội hai vá xong quãng ngầm phía bờ nam bị bom phá buổi trưa thì trời sẩm tối. Chị em vừa leo lên dốc bất chợt có ba chiếc máy bay từ phía biển vào, chúi xuống lần lượt cắt bom rồi biến đi rất nhanh. Tất cả đều không kịp xuống hầm. Sau hơn một giờ đào bới người ta chỉ lôi lên được những xác chết không còn nguyên vẹn. Riêng cô Mai, bị mảnh bom chém ngang sườn, máu loang ra ướt đẫm nửa người làm mặt cô nhợt nhạt, đôi môi se tím nhưng vẫn còn tỉnh táo nói thầm:
- Các chị ơi, em mới mười tám tuổi, chưa được biết thế nào là ... một nụ hôn.
 
Tôi còn nhớ, lúc ấy mọi người đều rưng rưng nước mắt nhìn nhau. Thế rồi đồng chí Hoa, nữ đại đội trưởng thấy anh kỹ sư trẻ Trần Cường của đội khảo sát thiết kế lúc ấy cũng có mặt trong đội cứu hộ liền đưa mắt khẽ bảo:
- Anh Cường...
 
Không còn thời gian nữa, tôi đẩy Trần Cường lên phía trước. Cậu ấy ngập ngừng một lúc rồi cúi xuống  khẽ chạm vào môi Mai. Mắt cô gái lúc ấy như có ánh hào quang, sáng lên một cách lạ kỳ. Hai cặp môi gắn chặt lấy nhau. Nụ hôn kéo dài dường như vô tận. Tôi đứng ngoài mà người run lên bởi những xung đột tình cảm vì trong đời chưa bao giờ chứng kiến  một hoàn cảnh bi tráng như vậy. Mấy phút sau, Mai bình thản ra đi. Trần Cường lặng lẽ vuốt mắt cho cô ấy trong tiếng nấc nghẹn ngào.
 
Nghiên kể xong tất cả đều lặng đi. Không ai nói với ai một lời. Họ âm thầm dắt nhau về. Nhà sinh hoạt chỉ còn lại Chu Quang Sầm và Thuyên “Hạt mít”. Họ thất bại thảm hại, nhưng cái chính là đã nhận được bài học về quy luật tự nhiên của tình cảm con người, một thứ tình cảm mà từ lâu họ đã đánh mất bởi những thứ nhân sinh quan méo mó, bệnh hoạn.
 
2
 
Nhưng bản chất con người khó thay đổi, nhất là thứ bản chất ấy được lồng trong động cơ cá nhân mà mục đích của nó chỉ để thoả mãn thói ích kỷ nhỏ nhen. Suốt đêm ấy Chu Quang Sầm không ngủ. Chốc anh ta lại ngồi dậy hút thuốc lá và suy nghĩ cách trừng phạt những đội viên đã làm mình mất mặt trong cuộc họp.
 
Ba hôm sau, lấy cớ là tăng cường đảm bảo giao thông, đại đội trưởng chuyển Lê Văn Nghiên ra làm A trưởng A5 phụ trách thông xe ngầm chữ A. Thuỳ Dung và Trâm “Cao kều” bị điều lên dốc Ngựa Trời là một sườn núi cao chênh vênh, heo hút, rất lắm vắt. Các cô ở chưa được một tuần đã khóc dở mếu dở vì không có nước, đến ngày hành kinh khổ vô cùng.Trâm nhăn nhó bảo Thuỳ Dung:
- Đây chính là cái giá mà chúng ta phải trả.
Thuỳ Dung gật đầu:
-Tớ đã làm liên luỵ đến cả các cậu.
 
Số nam thanh niên đã ít lại cứ hao dần. Có trận bom mất đến bốn đội viên.
Nhiều chị em tình nguyện xin ra ngầm chữ A nhưng Chu Quang Sầm vẫn lạnh lùng điều người theo ý anh ta. ở dốc Ngựa Trời, cứ một tuần chị em lại phải về đơn vị gùi gạo và thực phẩm. Cuối tháng chín, mưa kéo dài, nước trên nguồn dồn về, lũ suối, chị em phải ăn sắn trừ bữa. Một hôm các cô rủ nhau vào rừng bắt cua đá, Hà Thị Khuy bị rắn khô mộc cắn vào mang tai. Thuỳ Dung và Trâm đưa về đến lán thì lên cơn co giật chết.
 
Mùa mưa trong rừng A Cheo làm tất cả mọi thứ, kể cả con người đều ẩm mốc. Không khí ướt sũng nước. Đường nhão nhoét và các loại bệnh ghẻ lở làm chị em sinh ra cáu bẳn nhất là những cô tự nhiên mất kinh. Suốt ngày họ phải mặc những bộ quần áo đang lên men mà không được nhóm lửa hơ vì sợ khói bốc lên, máy bay ném bom bất ngờ. Cô Toan bị ghẻ nước, suốt ngày ngứa ngáy, luôn tay gãi, mếu máo bảo mấy chị A1:
- Dưới hầm khó chịu lắm đêm nay em cứ mắc võng ngủ bên trên.
Chị Thắm mắng:
- Mày muốn chết à?
- Còn hơn là ngứa.- Mặt cô gái trẻ khó đăm đăm- Chị xem, cứ gãi xoành xoạch thế này, da sần sùi như da cóc, may mà còn sống về làng cũng chẳng ma nào nó rước.
 

Dốc Ngựa Trời thực chất là một đoạn đường vòng tránh ngầm chưa A qua thượng nguồn suối Đắc May. Rừng ở đây rậm rạp, phần lớn là loại sao trắng, săng lẻ và chìa vôi mọc rất ngang hàng thẳng lối như là được bàn tay con người trồng từ thủa hồng hoang. Phía đường ngầm, cây cối bị bom phát xơ xác, đất đá cày nham nhở thực sự là bãi chiến trường thì vùng Bầu Cạn, khỉ vượn vẫn đánh đu trên cành kiếm những quả vú vò chín đỏ, ngồi vắt vẻo, chén ngon lành. Chim ‘bắt cô trói cột” ở đây nhiều vô kể. Chúng không hót đồng loạt mà thay nhau gào lên như một cuộc chạy tiếp sức bằng âm thanh ầm ĩ, náo loạn không bao giờ ngừng.
 
Lê Văn Nghiên đã nhiều lần đề xuất với Chu Quang Sầm cho hạ thấp dốc Ngựa Trời làm phương án hai, phòng khi lũ suối hoặc máy bay tăng cường ném bom thì sử dụng vừa đảm bảo giao thông vừa an toàn tính mệnh. Đại đội trưởng lắc đầu:
- Muốn xe trọng tải nặng qua được dốc Ngựa Trời phải đào hàng ngàn mét khối đất đá, xê ta không đủ sức, phải xin cấp trên tăng cường nhân lực, mà theo tôi được biết, tiểu đoàn đang rất thiếu người, họ không quan tâm đến cái sáng kiến phiêu lưu mất thời gian của anh đâu.
Nghiên vẫn kiên trì thuyết phục tay đại đội trưởng cố chấp:
- Anh cứ báo cáo với tiểu đoàn đi. Tôi đã tính toán rồi, chỉ cần hai tháng là mở xong con đường này.
- Đã bảo là cấp trên không đồng ý, các anh đừng nhắc đến chuyện ấy nữa.
Mấy hôm sau nhà thơ Dóp cũng bị điều ra ngầm chữ A, Lê Văn Nghiên hỏi:
- Các cậu hôn nhau như thế nào mà để con Thuyên nó nhìn thấy?
Dóp có vẻ ngượng đành phải nói thật:
- Lúc ấy em đang mải làm bài thơ “ Đêm lấp hố bom” bất ngờ cái Dung từ suối đi lên, nó bảo muốn được hôn, thế là em phải...
Nghiêm tủm tỉm cười:
- Hiểu rồi, cậu là nhà thơ nhưng vẫn còn “tồ” lắm.
Cuối tháng mười, Chu Quang Sầm lại cử thêm Hạnh và Là lên dốc Ngựa Trời. Như thế là tổ gùi hàng đã tăng lên bẩy cô. Lê Văn Nghiên bàn với Sầm:
- Công việc chuyển hàng nặng nhọc nên để nam giới làm. Tôi đề nghị chuyển chị em xuống dưới này.
Đại đội trưởng trừng mắt:
- Các đồng chí sợ chết phải không?
- Nếu sợ chết chúng tôi đã chẳng trụ ở đầu ngầm mấy tháng.- Nghiên nhìn thẳng vào Chu Quang Sầm, dằn từng tiếng- Bên bộ đội cho biết, bọn thám báo đã xuất hiện ở vùng này. Các đồng chí đưa toàn phụ nữ lên trên ấy, nếu có chuyện gì xảy ra thì ai chịu trách nhiệm?
Sầm cười gằn:
- Đồng chí chẳng nên lo xa. Bọn nặc nô ấy, trời không sợ, đất không sợ, sợ gì thám báo?
Bàng Thị Chuyên lắc đầu bảo:
-Tại sao anh lại cứ có thành kiến mãi với chúng nó như thế?
Đại đội trưởng lạnh lùng nói:
- Công việc là trên hết.
-Thế còn tình người?
- Làm việc phải dựa trên nguyên tắc.- Chu Quang Sầm hằn học bảo – Với những đối tượng đã vô kỷ luật lại còn hay cãi láo như thế, bỏ rơi nguyên tắc là loạn ngay.
 
Khoảng nửa tháng sau, một đêm vào lúc gần sáng, từ dưới hầm, Ngô Thị Tuệ và Nguyễn Thanh Hoan nghe có tiếng rên rỉ vọng xuống. Hai chị em vội kéo nhau trèo lên. Trước mặt họ là Thuỳ Dung, tóc tai rũ rượi, quần áo tả tơi, một bên vai bị toạc. Vết thương rộng gần hai đốt ngón tay đang chảy máu. Tuệ tái mặt vội chạy về báo Ban chỉ huy, còn Nguyễn Thanh Hoan nâng đầu Thuỳ Dung lắc nhẹ, giọng lập cập:
-Dung... Dung ơi! Làm sao thế này?
-Thám ... báo.
 
Ba tiếng súng báo động, anh chị em vội kéo nhau chạy về phía dốc Ngựa Trời. Một cảnh tượng khủng khiếp bày ra trước mắt làm Bàng Thị Chuyên khóc nấc lên:
-Trâm ơi, Hạnh ơi, Là ơi! Sao lại đến nỗi này?
 
Ngay dưới gốc cây săng lẻ gần miệng hầm, Trâm “cao kều” thân hình loã lồ, đầu ngoẹo về một bên, cặp mắt mở trừng trừng như vẫn còn đau đớn sau khi bị lưỡi dao găm cắm vào yết hầu. Hoàng Thị Hạnh, con gái Quảng Xương Thanh Hoá mới hai mươi mốt, chơi măng đô lin rất hay bị bóp cổ cho đến chết, trên người cũng không mảnh vải. Thảm thương nhất là Mai Thị Là. Chắc là cô chống cự quyết liệt nên hung thủ cứa dao ngang cổ họng. Nạn nhân nằm ngửa, một chân co lên, tay phải nắm chặt con dao bằng sắt máy bay.
 
Buổi chiều hôm ấy C9 tổ chức chôn cất những người bị nạn. Chu Quang Sầm thay mặt Ban chỉ huy đọc những lời vĩnh biệt. Nhìn thấy anh ta cũng sụt sịt, thậm chí còn lấy ống tay áo quệt ngang mặt, Lê Văn Nghiên ghé tai nhà thơ Dóp thì thầm :
- Cậu có tin những giọt nước mắt kia không?
Dóp thản nhiên bảo:
- Nước mắt cá sấu.
 
Đám chị em như gà phải cáo. Từng nhóm ba bốn cô ngôi bên nhau khóc tấm tức. Đối với Trâm, Hạnh, Là coi như xong một kiếp người, nhưng mà nghĩ lại thấy xót xa đau đớn quá. Họ còn trẻ và cũng như cô Mai ở đường ngầm Đa Linh kia, chưa biết đến một nụ hôn.
 
*
Đầu tháng mười một, vết thương của Thuỳ Dung đã khỏi nhưng từ đấy suốt ngày lầm lì chẳng nói với ai một câu. Cô nhìn mọi người bằng cặp măt trống rỗng thỉnh thoảng ánh lên những tia man dại.

Hôm ấy là thứ tư. Gần nửa đêm có mấy bóng đen thấp thoáng phía đầu nhà bếp. Tiểu đội ba gác chẳng thấy một ai. Chắc các cô mệt quá sau một ngày khênh đất đá vá đoạn dốc Chuối nên ngủ mệt. Hai người bịt khăn kín mặt chui vào hầm chỉ huy bấm tay Chu Quang Sầm:
- Dậy! có lệnh khẩn.
- Cái gì? – Sầm tưởng mình đang ngủ mê, ú ở hỏi:
-Tiểu đoàn yêu cầu về gấp nhận nhiệm vụ mới.
 
Anh ta định hỏi tiếp thì bất chợt một vòng dây dù đã quàng vào hai tay. Người bịt mặt thứ hai ấn vào miệng xê trưởng cuộn giẻ bằng nắm tay rồi kề mũi dao găm vào cổ đẩy ra ngoài. Họ dẫn Chu Quang Sầm về phía nhà vệ sinh, kéo vào rừng Bầu Sao, chừng nửa giờ thì đến sườn bên kia dãy Cô Tiên. Từ đây có thể nhìn rõ ngầm chữ A, lúc này một nửa A5 vẫn còn đang khênh đá lấp chỗ bom phá hồi chiều.
Chu Quang Sầm trực chỉ huy từ sáu giờ chiều đến mười hai giờ đêm, sau đó đến ca của Bàng Thị Chuyên. Lúc bị lôi đi có lẽ anh ta mới chỉ vừa chợp mắt. Phía dưới, những chiếc xe nguy trang kín mít lần lượt qua ngầm. Bốn giờ hai mươi. Chiếc xe cuối cùng đã lên khỏi đường ngầm. Anh chị em vừa rút quân về thì những kẻ lạ mặt lôi Chu Quang Sầm qua suối ngược lên sườn núi phía nam. Chỗ này ngày nào cũng bị đánh bom nhưng không hiểu sao vẫn còn một cây chò trắng cụt ngọn, vỏ tróc hết đứng chơ vơ giữa một khoảng đất đá đỏ quạch, ám khói. Họ trói đại đội trưởng vào cây chò bằng những vòng dây dù pháo sáng, tạm thời bỏ cuộn giẻ khỏi miệng cho anh ta nhìn rõ từng người một. Đó là ba cô gái: Thuỳ Dung, Tuệ và Thắm. Anh ta còn nhớ bọn người trói mình rõ ràng là đàn ông vậy mà tại sao bây giờ lại thế này? Thuỳ Dung bật chốt an toàn khẩu AK báng gập chĩa vào Chu Quang Sầm vừa khóc vừa nói:
- Nhân danh những nữ đội viên bị làm nhục và chết oan, tôi tuyên án xử tử Chu Quang Sầm về tội vô trách nhiệm trước tính mạng con người.
 
Mặt tay đại đội trưởng xám ngoét. Anh ta cất giọng van vỉ rất thảm hại:
-Tôi có tội thật nhưng không cố ý, xin các đồng chí tha mạng.
Thuỳ Dung quát lên:
-Nếu nghe lời anh Nghiên không đưa chúng tôi lên dốc Ngựa Trời thì làm gì đến nỗi cái Trâm, cái Hạnh, cái Là chết. Còn nữa,vì thù hằn cá nhân mà anh bắt anh Quốc, anh Thoan, anh Đoàn ra ngầm chữ A vào giờ cao điểm để họ dính bom toạ độ. Chu Quang Sầm, từ lâu anh không còn là đồng đội của chúng tôi, mà là kẻ thù, hiểu không?
 
Ngón tay Thuỳ Dung vừa định  nhấn cò khẩu AK 47 Vũ Thị Thắm vội ngăn lại:
- Cậu bắn làm gì cho bẩn tay, các anh ấy dặn, cứ để hắn ở đây, chỉ một lúc nữa thôi, lũ máy bay “con ma” đến giải quyết gọn hơn.
Nói rồi Thắm cầm nắm giẻ ấn mạnh vào mồm Chu Quang Sầm. Anh ta ú ớ muốn nói điều gì đó nhưng ba cô con gái đã xuống đến đầu ngầm. Cả bọn vừa sang đến bên này, Lê Văn Nghiên và Dóp đã đứng chờ trong một chiếc hầm kèo. Lúc ấy Thắm mới bảo:
- Cái Dung xuýt nữa làm hỏng việc. Anh Nghiên đã dặn thế nào mà cậu định bắn?
Thuỳ Dung vẫn còn khá căng thẳng sau vụ chết hụt ở dốc Ngựa Trời :
-Tôi căm thù Chu Quang Sầm. Tay này không giải quyết nhanh, trong vòng mấy tháng nữa hắn sẽ xoá sổ toàn bộ C9.
 
Lê Văn Nghiên thở phào vì đã thoát hiểm:
-Tôi đã nói, cứ để máy bay Mỹ thanh toán hắn là tốt nhất. Giả sử lúc ấy Thuỳ Dung gây ra tiếng nổ, mọi người thức dậy kéo đến hiện trường thì tất cả chúng ta phải ra toà án binh.
 
Mới sáu giờ sáng, bọn F105 đã kéo đến. Đầu tiên chúng xếp theo hình chữ V, gần đến A Cheo thì tách ra hai tốp. Tốp đầu, ba chiếc bay rất thấp , gầm rú như để uy hiếp tinh thần đối phương rồi lao vút qua, không thả bom. Tốp thứ hai năm chiếc xếp hàng dọc lần lượt hạ độ cao cắt bom theo trình tự rất bài bản của không lực Hoa Kỳ.Tốc độ vọt lên cao của phản lực cổ ngỗng nhanh đến mức chiếc cuối cùng vượt khỏi đỉnh Cô Tiên mới nghe thấy tiếng bom nổ .Ba quả rơi trúng đường ngầm khoét thành những chiếc hố lớn quăng đất đá ra xa hàng trăm thước. Một quả làm trượt mái ta luy sườn phía nam .Quả cuối cùng rơi gần cây chò cụt. Khói bom tan đi, sườn dốc bị khoét thành cái phễu khổng lồ.
 
Phải đến lúc ăn sáng người ta mới nhớ đến đại đội trưởng. Không thấy anh ta dưới hầm, Bàng Thị Chuyên vội cử mấy nhóm đi tìm. Mãi đến quá trưa hôm ấy nhóm Trần Quang Mộc và Thuyên “ hạt mít” mới phát hiện ra một cẳng chân vẫn còn lòng thòng chiếc ống quần bê bết máu ở mép ta luy. Ai cũng nghĩ, anh ta thức suốt đêm, gần sáng ngủ thiếp đi rồi trúng bom. C9 làm lễ truy điệu đại đội trưởng trong bầu không khí căng thẳng lo âu. Mới chưa đầy ba tháng, đơn vị đã hy sinh mười chín người.
 
Mấy hôm sau lại xẩy ra chuyện rắc rối. Đầu tiên là cô Thuý Bàn người Phù Vân Bắc Ninh, đang nằm trong hầm bỗng nhiên cười sằng sặc, xé quần áo chạy ra bờ suối vớt nước lên người. Được một lúc thì cô ta bắt đầu hát, phần lớn là những ca khúc về tình yêu, thỉnh thoảng lại cười khùng khục như gà trống gù gà mái. Thuý Bàn có bộ ngực không cân, một bên căng tròn như trái bưởi nhưng bên kia lại lép kẹp. Chẳng biết ai bầy cho cô ta tìm được một khoanh gỗ đẽo gọt cẩn thận lót vào trong xu chiêng, một lần đang xúc đất, thót bụng lại, bất ngờ chiếc vú giả rơi xuống làm chị em được mẻ cười.
 
Giữa trưa, Vũ Thị Thắm và Thuỳ Dung tìm thấy cô gái Bắc Ninh đang ngồi trên tảng đá dưới suối, chân nhúng nước ngồi hát nghêu ngao:
 
“Ta sống không một lời trìu mến
Như bóng con đò chiều lạc bến...”
 
Đợi một lúc Thắm khẽ gọi:
- Bàn ơi! Về ăn cơm.
Thuý Bàn giật mình, quạy lại mắt sáng lên:
- Kìa anh! Anh lại đây với em một lúc thôi.
Thắm lấy tay chặn ngang yết hầu nhại giọng đàn ông:
- Anh ra đón em về đây.

Hai chị em dắt Thuý Bàn lên bờ. Cô ta ngoan ngoãn đi theo nhưng thỉnh thoảng lại nhìn về phía sau có vẻ như còn nuối tiếc một hình bóng nào đó trong trạng thái mộng du qua lời ca buồn . Đến trưa ngày thứ ba thì căn bệnh  quái lạ của Thuý Bàn lây sang hơn hai chục chị em khác  nhất là những cô mất kinh và hay mơ mộng. Thuỳ Dung vừa hôm trước còn an ủi, vỗ về Thuý Bàn thì hôm nay đến lượt cô hát lảm nhảm những bài tiền chiến như “Con thuyền không bến" của Đặng Thế Phong “Tà áo xanh”của Đoàn Chuẩn - Từ Linh nhưng ca từ đầu Ngô mình Sở hoàn toàn tuỳ hứng, gặp Lê Văn Nghiên, ôm chầm lấy đòi hôn. Khổ nhất là Thuyên “hạt mít” . Cô này vừa nhỏ người vừa xấu nhưng bộ ngực lại to quá khổ, cứ vài giờ lại vật vã như con nghiện lúc lên cơn đói thuốc, miệng nhai tóp tép, mắt long sòng sọc, nhìn đâu cũng thấy rắn rết. Lúc đó, hàng chục cô rủ nhau ra suối, để nguyên quần áo nhảy xuống nước té nhau như những con điên. Căn bệnh bí hiểm này chỉ phát lộ vào ban ngày. Ban đêm các cô lại vác cuốc xẻng, đẩy xe cút kít ra đường, ai có nhiệm vụ của người ấy, làm việc hoàn toàn tỉnh táo với tinh thần quyết tâm bảo vệ ngầm chữ A và đảm bảo thông xe an toàn.
 
Bàng Thị Chuyên được cử làm xê trưởng. Một hôm cô nói với Lê Văn Nghiên:
- Anh thử nghĩ xem có cách nào chữa được căn bệnh cho các cô suốt ngày hát lảm nhảm giúp em.
 
Nghiên nheo mắt cười:
- Đây là thứ bệnh thuộc lĩnh vực tinh thần khó chữa lắm.
- Này, em nói thật đấy. anh nghĩ giúp đơn vị chứ không nay mai ốm cả, lấy đâu nhân lực mà đảm bảo giao thông.
Nghiên ngẫm nghĩ một lúc thấy chẳng còn biện pháp nào tốt hơn liền gợi ý:
- Có một cách đấy nhưng phải trừ tôi ra.
- Được, anh cứ nói, việc gì phải rào đón.
-Tính cho đến nay xê ta còn năm nam, đề nghị tách ra phân tán về các A để động viên chị em. Lúc này không còn xét nét họ như hồi đồng chí Sầm còn sống, thậm chí có trường hợp bệnh quá nặng phải để nam nữ tạm thời ở chung hầm. Ban chỉ huy có đồng ý phương án này may ra mới duy trì được sức chiến đấu.
Chuyên lắc đầu:
-Nhỡ chúng nó có chửa hàng loạt ra đấy thì làm thế nào? Cách này xem ra không ổn.
-Đấy lại thuộc lĩnh vực giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức của chi uỷ và Đoàn thanh niên.
 
3
 
Đầu mùa khô năm sau. Thời kỳ này máy bay tập trung đánh vào ngầm chữ A dữ dội cả ngày lẫn đêm, các đoàn xe quân sự đi lối này không an toàn nữa, đến lúc ấy người ta mới triển khai phương án dốc Ngựa Trời. Tiểu đoàn điều C13 về tăng cường cho C9. Làm xong đường, một nửa đội viên C9 lại phải vào sâu hơn nhưng không mở đường mà bổ sung vào các trạm giao liên bị tổn thất nặng sau chiến dịch” Con kỳ nhông” của Mỹ. Lê Văn Nghiên, Thuỳ Dung, nhà thơ Dóp và Thuý Bàn được phiên chế vào trạm Z35. Trạm này ở khuất sau núi Rồng bên cạnh dải đường mòn dân sinh chỉ cách biên giới chừng năm sáu cây số. Hệ thống hầm hào được giấu kín dưới tán rừng già. Bãi khách là những khoảnh đất bằng phẳng, có nhiều cây cổ thụ rợp bóng mát, ban ngày không nhìn thấy ánh mặt trời.
 
Chiều hôm trước , trạm Z37 điện sang, chừng bốn giờ sáng có đoàn khách bẩy người từ trong ra. Đây là những vị khách quan trọng cần phải có chế độ bảo vệ đặc biệt.
 
Hoàng Hữu Vân là người đàn ông trung niên rất khó đoán tuổi. Ông ta có khuôn mặt lưỡi cày, mắt trắng dã, răng vẩu và đen sì vì khói thuốc lào, xem đi xem lại bản sơ yếu lý lịch Lê Văn Nghiên mới khai theo yêu cầu của trạm. Thành phần gia đình và cái chết của Lê Văn Vận làm ông trạm trưởng rất không yên tâm. Để phòng xa, chập tối, Hoàng Hữu Vân gọi Lê Văn Nghiên và Thuỳ Dung lên giao nhiệm vụ mới:
- Sáng mai hai đồng chí không phải đón khách mà về kho T8 lấy gạo và thực phẩm, khi đi nhớ mang theo súng có đủ cơ số đạn đề phòng giữa rừng gặp bất trắc.
 
Hai người ăn lót dạ mấy khúc sắn luộc rồi khoác gùi lên vai. Ước chừng được hơn nửa giờ đường rừng, bất chợt từ phía bãi khách có tiếng súng rộ lên. Lê Văn Nghiên lắng tai nghe một lúc rồi phán đoán:
-Thám báo tập kích vào trạm rồi, phải quay về xem sao.
Thuỳ Dung vội ngăn lại:
- Khoan đã anh, nghe như có tiếng trực thăng, nếu chúng đổ quân thì  ta về cũng vô ích.
Không phải trực thăng mà là máy bay trinh sát.
Thuỳ Dung bảo:
-Toàn là tiếng AK chẳng lẽ họ...
- Đúng là tiếng AK nhưng xem ra cách bắn không phải là của quân ta. Gay rồi, bọn thám báo mà chiếm được Z35 thì đoàn khách nguy mất. Ta về đi em.
 

Thuỳ Dung giấu gùi vào bụi cây ven đường mòn. Hai người về đến suối Cua Đá, thì tiếng súng thưa dần. Họ qua suối ngược lên một đoạn sau đó rẽ vào đường hào từ trung tâm bãi khách thông ra. Vừa ra đến lán chỉ huy, Lê Văn Nghiên đã nhìn thấy bọn thám báo mặc đồ rằn ri quật báng súng vào lưng Hoàng Hữu Vân. Ông ta  đau quá gục xuống kêu ồ ồ. Thùy Dung rê nòng súng định bóp cò nhưng Nghiên giữ tay cô, thì thầm:
- Đừng bắn.
 
Lê Văn Nghiên đi trước, Thuỳ Dung lom khom phía sau, cách chừng năm bẩy thước lặng lẽ lách vào ngách hào bên trái. Lúc này họ mới biết bọn giặc khá đông, không thể manh động được. Trên bãi khách, chị La cấp dưỡng, chị Thảo y tá và anh Số giao liên đã hy sinh. Xác hai người nằm bên cạnh hai tên biệt kích bị thương, một thằng vào bụng, thằng kia vào bắp đùi đang thều thào đòi uống nước. Trạm phó Đoàn Huy Thước bị trói giật cánh khuỷu, ở đuôi mắt rách một miếng, máu chảy loang cả ngực áo.
 
Tình hình càng lúc càng nghiêm trọng khi toán lính phục kích phía rừng Xạ Hương đã đón lõng được đoàn khách từ Z37 ra. Sau một hồi chạm súng, ba đội viên bảo vệ hy sinh, số còn lại phần lớn bị dính đạn. Bọn rằn ri trói họ bằng dây dù đẩy lên phía trước. Trong đoàn có một người tóc chớm bạc, tuổi ngót năm mươi, mặc bà ba đen, đội mũ tai bèo bị thương vào bắp chân, bước loạng choạng thỉnh thoảng lại vấp ngã. Lúc này Nghiên và Thuỳ Dung đã bí mật vận động đến nhánh hào bắt vào con đường mòn, nhìn thấy bọn thám báo có chín tên xếp theo hình dọc, thằng nào cũng mang theo súng AK 47, Nghiên rỉ tai Thuỳ Dung:
- Phải diệt bọn này trước.
Thuỳ Dung gật đầu:
- Cẩn thận không lại bắn vào người của ta.
 
Bọn rằn ri hí hửng tưởng đã thanh toán hết Việt Cộng trong trạm nên xem ra có phần lơ là việc canh phòng. Bất ngờ cả Lê Văn Nghiên và Thuỳ Dung đồng loạt nổ súng.
 
Những viên AK bắn ở cự ly gần làm lũ thám báo đổ hàng loạt. Hai tên còn lại xả súng vào đoàn tù binh rồi nhảy xuống đoạn đường hào ném theo quả lựu đạn. Thuỳ Dung xách súng nhảy lên miệng hào bị sức ép bật laị. Nghiên nhảy theo định cứu Thuỳ Dung thì bất ngờ từ đường hào cụt, hai tên rằn ri đội mũ tai bèo nổ súng bắn chặn, một viên sượt qua vành tai nóng bỏng.
Đoàn khách chỉ còn lại hai người. Một anh lính rất trẻ, bị thương vào ngực nắm tay áo Lê Văn Nghiên thì thào:
-Các đồng chí phải đưa chú Năm ra khỏi chỗ này ngay... Trực thăng sắp đến.
 

Nghiên đoán người mặc bộ bà ba kia chắc là cán bộ quan trọng vội chạy đến cởi trói cho ông ta. Ngoài vết thương bắp chân ông Năm còn bị đạn AK xuyên qua bàn tay trái. Chỗ viên đạn phá không lớn lắm nhưng máu chảy nhiều, rất đáng ngại. Nghiên vừa xé xong cuộn băng cá nhân buộc vào tay ông cán bộ thì có tiếng phành phạch trên tán rừng. Hai chiếc trực thăng từ hướng tây nam ầm ầm lao tới. Lá cây bị gió quạt táp đi rụng bay lả tả. Thấy không còn cơ hội cứu Thuỳ Dung được nữa, Nghiên ngồi xuống, quàng hai tay người bị thương vào cổ rồi luồn theo đường hào chính chạy ra bờ suối. Đến đoạn rừng thưa, bọn trực thăng đã nhìn thấy hai người cõng nhau liền bay sát ngọn cây, gầm rú, xả đạn. Chúng bay chậm, có lúc gần như đứng yên một chỗ xăm xoi dưới tán rừng . Bất chợt một chiếc vượt lên trước chặn đầu, chiếc sau khoá đuôi rồi ném lựu đạn xuống những chỗ nghi ngờ như là trò chơi ú tim. Khoảng mười phút sau, chiếc trực thăng thứ ba hạ xuống khoảng trống. Chúng tăng cường lực lượng để quây cho được đoàn khách. Bọn lính mặc đồng phục da  báo ôm súng lom khom luồn dưới tán cây, sau đó nhảy xuống hào. Chúng gạt xác đồng bọn sang một bên, thận trọng chui vào các ngách hầm tìm kiếm.
 
Lúc này Lê Văn Nghiên đã vượt qua con suối một đoạn. Ông cán bộ thuộc loại người to lớn, vất vả lắm anh ta mới leo lên được đoạn đường mòn lúc sáng sớm cùng Thuỳ Dung đi lấy lương thực. Nơi đây đã khá xa trạm Z35 nhưng chưa phải chỗ an toàn. Lũ trực thăng vẫn vè vè trên trời. Toán biệt kích vừa đổ xuống đang sục sạo khắp nơi, dừng lại có nghĩa là chết.
 
Bọn biệt  kích trang bị nhẹ chẳng mấy chốc đuổi kịp hai người. Chúng vừa hô hét vừa bắn chặn các ngả. Tình hình này thì phải quyết một sống một chết thôi. Nghiên nghĩ vậy liền đặt ông Năm nằm xuống, gác súng nên một gò đất chuẩn bị chiến đấu. Ông cán bộ đã tỉnh lại, rút khẩu súng ngắn đeo bên sườn đưa cho Lê Văn Nghiên và bảo:
-  Đồng chí lên đạn hộ tôi. Chúng nó đến đâu rồi?
-  Đang ở lưng chừng núi.
-  Vậy thì đồng chí đi đi để mặc tôi, đằng nào thì cũng chết.
Nghiên lắc đầu:
-  Anh cứ bình tĩnh, có chết tôi cũng phải cho bọn này nhớ đời.
-  Vào đúng lúc ấy, anh ta chợt nhớ đến cái hầm bí mật đào từ cuối năm ngoái ở rất gần đây. Phải rồi, tại sao lại không nghĩ ra từ trước nhỉ? Chiếc hầm được làm rất chắc chắn để dự trữ lưng thực, thực phẩm phòng khi bị địch tập kích bất ngờ, nằm dưới bụi gai răng mèo giữa ba cây mỏ vẹt, chỉ cần xuống được là thoát. Nghiên nhanh chóng xoá dấu vết dìu ông Năm bò ngang sườn dốc, chừng hơn ba chục  bước chân thì chạm bụi gai. Ông Năm đau quá chốc chốc lại rên khe khẽ. Xuống hầm rồi Nghiên vẫn phấp phỏng. Anh ta sờ soạng băng lại vết thương bắp chân cho ông Năm đồng thời ghếch nòng súng lên phía trên, nếu cần thì cùng chết với chúng. Thời gian chờ đợi căng thẳng đến mức, đã có lúc Nghiên muốn bật nắp hầm thử xem bọn thám báo đã rút chưa nhưng rồi anh ta ngáp liền mấy cái ngủ thiếp đi.
 
Lúc tỉnh dậy, Lê Văn Nghiên thấy khó thở liền leo lên bậc tam cấp khẽ đẩy nắp hầm. Một luồng sáng chói  mắt lùa vào. Thì ra hai người đã ngủ trong hầm một ngày một đêm. Ông Năm vẫn năm thiêm thiếp, vết thương sưng tấy, toàn thân nóng hầm hập, Nghiên xốc ông cán bộ lên lưng, tay xách súng, lom khom lần xuống đường mòn. Bây giờ chỉ còn cách về kho T8 nếu không ông ta nguy mất. Từ đây đến dấy còn xa, ít nhất cũng nửa ngày cuốc bộ. Bụng đói cồn cào vì còn phong lương khô 701 hai người đã ăn hết ngay từ lúc mới thức dậy.
-  Nghiên có cảm giác càng đi càng xa vì vừa leo dốc lại phải cõng một người trên lưng. Khẩu AK lủng lẳng trước ngực nặng như khối đá tảng kéo trĩu cổ xuống chỉ muốn quẳng xuống vực cho nhẹ bớt. Khổ nhất là lúc lội suối. Suối Sê Băng không sâu mà lổn nhổn toàn đá đầu sư phủ rêu trơn tuột làm Nghiên mấy lần trượt chân quẳng cả ông Năm xuống nước. Chiều tối hai người mới đến kho T8. Nghiên vừa đặt ông Năm xuống trạm gác lập tức lăn quay ra ngất xỉu. Vết thương của ông cán bộ khá nặng lại bị nhiễm trùng phải đưa ngay đến bệnh xá binh trạm. Trước khi lên cáng, ông ta lấy trong sắc quyển sổ công tác bảo Lê Văn Nghiên:
-  Đồng chí ghi họ tên, quê quán và đơn vị công tác vào đây, biết đâu đến ngày đất nước thống nhất chúng ta lại gặp được nhau. 
Chương 18 
1. Trịnh Doãng được tha sau hơn bốn năm ở trại Chiềng Khoa. Hắn đi tù mà không có án. Lúc đầu người ta dự kiến ba năm nhưng hắn cứ khăng khăng cãi mình không có tội, rằng hắn mang xác con mình lên trình ông chủ tịch vì biết Trần Quảng là người công tâm, sáng suốt chứ không phải với mục đích khủng bố, thế là bị gia hạn thêm ba năm. Tay thả ống lươn xuất trại trước khi mãn hạn không phải vì đã cải tạo tốt, mà do bà ba Lánh biết rõ hoàn cảnh gia đình hắn, viết đơn bảo lãnh. Lúc đưa cho Doãng giấy tờ, ông Chẵn, giám thị còn dặn:
- Anh về nhớ là phải làm ăn lương thiện, chấp hành pháp luật nhà nước, phấn đấu trở thành công dân tốt.
Tay thả ống lươn cúi đầu nghe lời giáo huấn rất cung kính:
- Thưa ông, vâng.
Nhập trại được gần ba tháng Doãng mới biết Ngô Quỳnh và bà Cả Huê cũng bị tù ở đây. Bà Chánh mắc bệnh phong thấp, chân đi cà nhắc, mặt lúc nào cũng khó đăm đăm. Tạng người Ngô Quỳnh không hợp thuỷ thổ vùng Tây bắc. Ông ta bị ngã nước rồi chuyển sang viêm gan, thụ án đến năm thứ mười ba thì chết trong lúc vun gốc sắn trên nương. Mộ Ngô Quỳnh để ở nghĩa địa tù trên vạt rừng già cách bản Chiềng Khoa bốn cây số. Nhà ông ta chẳng còn ai, vì thế đã qua sáu bẩy năm vẫn không có người bốc hót. Ngày tháng qua đi, nấm đất lúc đầu còn lùm lùm sau bị những trận mưa rừng san bằng không còn để lại chút dấu vết nào.
 
Trịnh Doãng về làng Cùa. Thời gian ở tù hầu như chẳng mấy tác động đến tính cách của hắn. Con người hắn vẫn như hơn bốn năm trước, chỉ có khuôn mặt là nhàu đi kéo những vết sần lỗ chỗ -  hậu quả của trận đậu mùa -  giãn ra, trông lại dễ coi hơn trước.
Tào Văn Hỗ lúc ấy đã là chủ tịch xã. Doãng căm lão ta lắm. Mối hận chưa trả được trong lòng lúc nào cũng như có lửa. Hôm tay thả ống lươn mang giấy xuống uỷ ban trình  với trưởng công an Trương Đình Tái, thấy Hỗ Chột đứng ngoài hành lang nói chuyện với cô Thảnh uỷ viên thư ký. Hai bên nhìn nhau trừng trừng nhưng không nói gì. Ăn tết xong thằng Dõng có giấy gọi nhập ngũ. Doãng vừa ở đồng về, vẫn còn mặc quần đùi, tay chân đầy bùn đất chạy đến nhà xã đội trưởng Cung Văn Luỹ sừng sộ:
-Nó mới mười bảy, tại sao các ông đã bắt lính?
Xã đội trưởng biết tính Doãng, mở ngăn kéo bàn lấy bản danh sách sao từ sổ hộ khẩu đặt trước mặt hắn:
- Tháng ba năm nay cháu Dõng vừa đủ mười tám. Số liệu tôi lấy bên uỷ ban. Xã ta đợt này cuối tháng mới đi nhưng chúng tôi phải báo trước để bà con có sự chuẩn bị.
 
Trịnh Doãng hiểu ra tuy nhiên vẫn còn chưa về ngay. Hắn ngẫm nghĩ một lúc khá lâu rồi bảo Cung Văn Luỹ:
- Nói thật nhá, thích thì tôi cho thằng Dõng đi, còn nếu không, thách các vị đấy.
- Ông lại muốn vào trại lần nữa hay sao? – Xã đội trưởng lên giọng răn đe - Đi bộ đội là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hiện nay. Ông nên thận trọng, không được phát ngôn bừa bãi.
Doãng lăc lư mái tóc tổ quạ, nghểnh cái cổ dài ngoẵng toàn những dây chằng về phía Cung Văn Luỹ, lý sự cùn:

- Vậy tôi hỏi ông nhá, ông Bùi Quốc Tầm, bí thư Đảng uỷ, có hai thằng con trai, một thằng đã hăm bốn, sao không để nó ở nhà làm nghĩa vụ công dân mà lại sang Liên Xô?
 
Xã đội trưởng không thể kiên nhẫn giải thích được nữa, khoát tay bảo:
- Nói dở như ông thì mất nước lâu rồi. Xã hội phân công mỗi người một việc, thắc mắc làm gì. Ai bảo mấy đứa nhà ông chỉ học đến lớp bốn rồi bỏ đi thả ống lươn?
 
Cùng nhập ngũ đợt này làng Cùa còn có cả Tào Văn Kha, con thứ hai của chủ tịch Tào Văn Hỗ. Hỗ có hai con trai. Thằng lớn là Tào Văn Hó, hai mươi ba tuổi, bị thiểu năng trí tuệ. Đầu nó to đùng ngất ngưởng trên cái cổ ngẳng trông chẳng khác gì con rối nhồi bông, suốt ngày ngồi ở góc vườn nặn những con giống bằng đất sét miệng lảm nhảm:
-  Ái chà! ái chà! Thịt gà ngon lắm.
 
Tào Văn Kha năm ấy hăm mốt, khỏe mạnh, khôn ngoan. Tào Văn Hỗ thấy Bùi Quốc tầm đưa được thằng Tiếm sang Liên Xô, ông ta cũng không muốn cho con trai đi bộ đội vì biết rằng tình hình chiến sự đang rất ác liệt. Tân binh huấn luyện ba tháng là phải vào Nam, mà đã vào Nam thì mười thằng đi may ra còn ba thằng về. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng ông bố quyết định cho con trai đi gang thép Thái Nguyên. ở đấy, ông ta có người em rể làm trưởng phòng tổ chức cán bộ, chắc chắn nó sẽ an toàn. Hồ sơ đang làm thì bị Lương Hữu Tiệp, biệt danh “Tiệp Cò” là phó chủ nhiệm hợp tác xã phát hiện liền đưa ra cuộc họp đảng uỷ. Tiệp cò với Hỗ Chột từ lâu vẫn mâu thuẫn với nhau. Cánh họ Lương bị họ Tào, họ Bùi chèn ép, từ nhiều năm nay chỉ được làm cấp phó. Tiệp còn trẻ, có năng lực, trước đây đã là phó bí thư xã Đoàn mấy khoá, thế mà khi Hỗ Chột trúng ghế chủ tịch lại đưa Tào Văn Tưởng em họ ông ta ra thay chân chủ nhiệm.
 
Tào Văn Tưởng mắt đỏ như mắt cá chày, nổi tiếng đánh rọ cá rô, trình độ lớp ba, không biết cộng trừ phân số, như có phép thần, bỗng chốc trở thành người lãnh đạo cao nhất hợp tác xã.
Trong cuộc họp, Tiệp Cò nêu ý kiến:
- Tôi đề nghị, các đồng chí lãnh đạo phải gương mẫu chấp hành chính sách nghĩa vụ quân sự. Mọi người thử nghĩ xem, nếu chúng ta đều tìm cách đưa con em mình đi công nhân hoặc ra nước ngoài học tập thì bà con xã viên ai  chịu cho con mình nhập ngũ. Lúc này nhiệm vụ cao nhất là chống Mỹ cứu nước. Mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, là đảng viên lại càng phải nghiêm chỉnh thực hiện.
Hỗ Chột tức điên người nhưng không làm gì được vì Tiệp Cò nói đúng.
 
Cuối tháng ba thằng Kha và thằng Dõng lên đường. Đầu năm trước Tào Văn Kha đã cưới vợ. Vợ Kha là ứng Thị Liễu, con gái đội Lạc và ứng Thị Sót nhưng lấy họ mẹ. Tổ chức xong, ông bố làm luôn cho ngôi nhà ba gian hai chái trên khoảnh đất mới được quy hoạch thành thổ cư ngoài xóm Trại Cá. ứng Thị Liễu mông to như mông bọ ngựa, cặp mắt lúng liếng, bỏ học từ năm lớp ba ở nhà làm hợp tác.
Làng Cùa mấy năm nay đã vãn thanh niên, phần lớn là vào chiến trường. Số còn lại chủ yếu là đui què mẻ sứt, chẳng đáng mặt đàn ông nên những anh chàng đẹp mã như Tiệp Cò luôn là niềm khao khát cháy bỏng của đám con gái quá lứa nhỡ thì.
 
Tiệp Cò là con thứ ba con ông lang Chén, một thầy thuốc nam nổi tiếng vùng Ba Tổng về chữa bệnh trẻ con đái dầm. Năm năm hai, ông Chén bị trúng mảnh ca nông chết lúc chưa đến năm mươi. Các con lớn của ông chịu khó làm ăn, đã thành gia thất từ lâu. Tiệp Cò là út được chiều, mãi đến năm mười sáu tuổi mới học lớp bốn. Hắn cao lớn, da trắng, tóc gọng kính, lúc nào cũng chải sáp thơm lừng nhưng dốt nhất hạng. Lớp học ngày ấy thường là gồm nhiều lứa tuổi khác nhau. Có những đứa còn thò lò mũi xanh, thầy mắng đái cả ra quần, nhưng cũng có những cô cậu choai choai sớm dậy thì, đến lớp chỉ để liếc mắt đưa tình. Cùng học lớp bốn với Tiệp có Bích Ong con bà Cả Ve. Bích Ong rỗ hoa, người cao ráo, mắt trố ngồi cùng bàn với Tiệp. Có những lúc thầy Phan Đề mải giảng bài hoặc ra ngoài là hai người rì rầm nói chyện. Một lần Bích Ong đau bụng gục đầu xuống bàn. Tiệp Cò giả vờ lấy sách, luồn tay vào ngực cô ta.
 
Thầy Đề bất chợt nhìn thấy liền quát:
-  Cậu Tiệp làm gì thế?
Tiệp Cò giật mình mắt nhìn trước nhìn sau nhưng vẫn chối phắt:
-  Thưa thầy không ạ.
-  Nào, cô Ong đứng lên trả lời cho thành khẩn. Nói dối là nhà trường đuổi học.
Lại Thị Bích Ong là cô gái mới lớn tính bộc toạc chẳng biết nghĩ thế nào lại trả lời thẳng tuột:
-  Thưa thầy! Em đang đau bụng thì bị bạn ấy... bóp vú ạ.
Thầy Đề xuống tận nơi bảo Lương Hữu Tiệp:
-  Đặt hai tay xuống bàn!
Tay hắn vẫn còn khum khum đã bị chiếc thước lim quật liền mấy nhát. Đau quá, Tiệp xách cặp lầm lầm bước ra khỏi lớp dõng dạc tuyên bố:
-  Từ nay ông đếch thèm học nữa.
 

Bỏ học, Tiệp theo anh Ba Trì làm nghề  bẫy cò và thả rọ cá rô. Hắn có nghệ thuật làm dò cò, hôm nào cũng được hàng xâu đem về xáo măng, từ đó thanh niên làng Cùa đặt cho biệt hiệu “Tiệp Cò”. Tiệp vốn có năng khiếu hoạt động phong trào, lại biết cách đón ý Bùi Quốc Tầm nên chẳng mấy chốc được kết nạp đảng rồi làm thư ký đội sản xuất, phó bí thư  chi đoàn xóm Chùa. Vào thời kỳ máy bay Mỹ đánh phá khắp nơi trên miền Bắc, thanh niên có phong trào viết đơn bằng máu tình nguyện vào chiến trường thì Tiệp được giữ lại làm lực lượng kế  cận. Hắn vốn có tính trai lơ, chòng ghẹo hết lượt các nữ thanh niên  cho nên nhiệm kỳ thứ hai trượt uỷ viên chấp hành Đoàn xã. Lúc ấy Bùi Quốc Tầm phải ra tay cứu bằng cách đưa hắn sang làm phó chủ nhiệm sau khi chấp nhận phương án của Tào Văn Hỗ để em họ ông ta là Tào Văn Tưởng giữ ghế chủ nhiệm.
 
Từ lâu Tiệp cò đã để ý đến ứng Thị Liễu mặc dù hắn hơn cô ta đến mười lăm tuổi. Ứng Thị Sót có lần thấy hắn ăn nói lả lơi với con gái, liền bảo:
- Mày phải tránh xa thằng chó dái ấy ra.
- Sao mẹ lại nói thế?
- Cả làng này ai không biết nó là thằng Sở Khanh mà còn ỡm ờ.
 
Hôm Liễu lấy chồng, Tiệp Cò đóng vai chủ hôn. Khi chúc mừng cô dâu chú rể, thấy hắn nắm tay vợ quá lâu, thằng Kha đâm ghen . Tối, trước lúc lên giường, nó uống liền hai cốc rượu ngang quốc doanh rồi đấm ứng Thị Liễu một quả vào ngực làm cô này tức thở mất mấy ngày.
 
2
 
Ngôi nhà của vợ chồng Kha Liễu cuối xóm Trại Cá, vì mới ra được mấy vụ nên cây cối còn thưa thớt nhưng hàng rào tre chung quanh đã đan kín. Thằng Kha vào Nam bốn tháng Liễu mới nhận được thư. Tháng trước, làng Cùa báo tử ba người. Mới đây nghe tin thằng Dõng con nhà Trịnh Doãng mất tích, cái Liễu càng thêm lo lắng. Cuối năm, xã Đoàn Kết thêm bẩy người hy sinh, làng Cùa ba nhân mạng trong đó có Tào Văn Kha. Tại lễ truy điệu các liệt sỹ, Tào Văn Hỗ nhìn thấy bộ mặt giả nhân giả nghĩa của tay phó chủ nhiệm, uất quá lại bị chứng xung huyết ngất tại chỗ. Đám thanh niên phải xúm vào khênh sang trạm xá tiêm thuốc trợ tim. Tối hôm ấy, Bùi Quốc Tầm dẫn đầu đoàn đại biểu của xã đến chia buồn :
- Thay mặt đảng uỷ, uỷ ban, chúng tôi vô cùng thương tiếc đồng chí Tào Văn Kha đã hy sinh anh dũng vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và thành thật chia buồn cùng gia đình. Mong đồng chí biến đau thương thành hành động cách mạng, tiếp tục đảm đương trọng trách của mình cùng tập thể đảng uỷ, uỷ ban lãnh đạo nhân dân hoàn thành nhiệm vụ.
 
Ứng Thị Liễu khóc đỏ cả mắt, giọng khản đặc, mệt nhoài,thỉnh thoảng mới hờ được một tiếng. Hỗ Chột như đứt từng khúc ruột. Ông ta thương con bao nhiêu thì căm thù Tiệp Cò bấy nhiêu, thề sẽ trả bằng được mối hận này.
 
Sau lễ truy điệu được nửa tháng, một đêm  Tiệp Cò mò đến xóm Trại cá.
Giọng hắn thì thầm:
-  Liễu ơi, mở cửa.
Cô nàng biết ngay là gã phó chủ nhiệm nhưng vẫn hỏi:
-  Ai?
-  Anh...đây.
Liễu vẫn giữ chốt cửa:
-  Có việc gì mà anh đến lúc này? Để mai.
-  Không được mai tôi phải đi học ở tỉnh một tháng.
Cửa mở, Tiệp cò lẩn vào nhanh một cách kỳ lạ, gần như không có tiếng động, ôm choàng lấy cô vợ liệt sỹ, đôi môi nhớt nhoát như môi nhệch, lướt trên má cô ta, giọng hổn hển:
-  Cặp mắt của em hút hồn anh. Anh yêu em.
Liễu cười nhạt:
-  Còn vợ anh? Nó đến đây xé xác tôi ra thì đẹp mặt.
Tiệp hạ giọng van vỉ:
-  Anh không yêu nó. Nó như con quỷ cái.
Liễu dằn giọng:
-  Anh không sợ bố chồng tôi à? Ông ấy là chủ tịch xã. Trêu vào vợ liệt sỹ hãy coi chừng.
Tiệp cười nhăn nhở:
-  Chồng em chết rồi bây giờ còn việc gì mà phải giữ gìn, con gái tuổi xuân có hạn.
Liễu giãy giụa, một cánh tay tuột ra và liền tát cho Tiệp Cò một cái.
-  Thôi đi, đồ hèn!
 
Hắn xoa má, giọng tỉnh khô:
-  Em đẩy thằng bé nằm sát vào trong.
Liễu lùi lại định mở cửa chạy ra ngoài nhưng tay phó chủ nhiệm đã kéo tuột cô ta lên giường, giọng thì thầm nhưng dứt khoát:
-  Thôi , đừng làm bộ nữa!
 
Hai người thậm thụt với nhau được hơn nửa tháng thì chuyện xảy ra. Một đêm có tiếng gõ cửa. Liễu vội choàng dậy nghĩ là Tiệp Cò. Nhưng không phải. Thằng Kha về.  Bị sốc, cô ta lặng đi, người mềm nhũn ngã vào cánh tay chồng. Kha sờ soạng tìm hộp dầu trong túi xoa vào thái dương vợ .  Một phút sau Liễu tỉnh lại bảo:
- để em châm đèn.
Kha nắm tay vợ  nói khẽ:
- Đừng thắp đèn.
- Sao lại thế?
Lúc ấy hắn mới nói thật:
- Anh trốn về.
Cô vợ hốt hoảng kêu lên:
- Thôi chết! Sao lại đến nông nỗi này?
Tào Văn Kha vội lấy tay bịt miệng vợ, giọng khàn khàn:
- Chuyện dài lắm, sau này anh sẽ nói.
Liễu tức tưởi khóc:
- Xã đưa giấy báo tử từ đầu tháng chạp, đã làm lễ truy điệu.
- Thế thì tốt. Con đâu?
- Nó nằm ở giường trong.
- Trông nó thế nào?
Liễu gật đầu:
- Khoẻ, giống anh lắm.
- Chuyện anh về không được cho ai biết, kể cả thày, nhớ chưa?
-Nhớ rồi, chả phải dặn.

Ngay đêm hôm ấy, hai vợ chồng đào một chiếc hầm trong gian buồng. Đất xúc lên cho vào đôi thùng gánh nước chuyển ra đổ xuống ao bèo sau nhà. Đồ đạc của Tào Văn Kha chỉ có chiếc ba lô lép kẹp, một bộ quân phục đã sờn, chiếc xẻng quân dụng có cán gập và con dao găm Mỹ. Chiếc xẻng công binh lúc này tỏ ra được việc. Tầm bốn giờ sáng thì xong hầm. Nó được đào cách tường bốn mươi phân, phía ngoài để chiếc hòm khoá chuông làm vật che chắn. Nắp hầm tạm thời đậy bằng tấm thảm áo ngô. Nó rất tiện lợi để người ở dưới, nếu cần có thể đội lên được nhưng lại khá bất ngờ nếu ai vô tình vào buồng.
 
Thu dọn đồ đạc xong, ứng Thị Liễu bế thằng Khả ra chiếc giường tre gian ngoài. Nó vẫn ngủ mệt. Cô ta múc nước cho chồng rửa ráy chân tay, lau người, sau đó khoá cửa buồng để hắn ngủ rồi xuống bếp nấu cơm. Tào Văn Kha vừa đi nhờ xe vừa cuốc bộ đúng hai tháng chín ngày mới về đến nhà. Lúc ăn cơm trời đã hơi rạng, Liễu nhìn thấy chồng mà phát khiếp. Kha mặc bộ đồ lính bạc phếch, tay áo, cổ áo, ống quần dính bê bết một thứ bụi đất hung hung đỏ. Mặt hắn hốc hác, da sần sùi tái nhợt một cách đáng ngờ. Đó là nước da của những người mắc chứng sốt rét rừng có thể lên cơn bất cứ lúc nào. Ban ngày thằng Kha ở trong buồng, có người đến hắn lặng lẽ xuống hầm. Ban đêm hắn mới lần mò ra ngoài , nhưng cũng chỉ thỉnh thoảng thôi. Thời chiến Uỷ ban xã đã có lệnh cấm để lộ ánh sáng ban đêm. Lực lượng dân quân tuần tra thường xuyên xuất hiện. Họ mà nhìn thấy thì toi đời.
 
Mấy năm gần đây những anh chàng “bê quay” vác mặt về làng thì nhục nhã hết chỗ nói. Chủ tịch Tào Văn Hỗ, mỗi lần đến động viên chia tay đám tân binh sắp lên đường cuối bài phát biểu thế nào cũng nói vài lời răn đe :
- Đào ngũ là phản bội Tổ Quốc, tội danh tương đương với nguỵ quyền nguỵ quân thời trước. Các đồng chí hãy nâng cao tinh thần Cách mạng xứng đáng là trai làng Cùa.
 
Chủ tịch Hỗ không nói chơi vì năm trước đã xảy ra vụ thằng Củng ở xóm Cầu Đá. Cuối tháng chín, đơn vị thằng Củng huấn luyện ở Mai Siu xong, có lệnh hành quân vào Nam. Đến Lệ Thuỷ Quảng Bình hắn giả vờ đau bụng lùi lại sau, lúc nhập nhoạng thì trốn vào rừng. Đại đội cử người tìm suốt đêm vẫn biệt tăm đành phải báo cáo tiểu đoàn. Hoá ra Trần Củng không quay về ngay mà hắn rẽ nên rú Lài, tìm được hốc đá kín đáo tá túc  ở đó mấy ngày, đợi đơn vị hành quân khá xa mới quay về Bắc. Nhưng phải nói thằng này có cái óc bã đậu. Đáng lẽ ra loại lính đào ngũ như hắn không nên vào làng vội cho dù cô vợ trẻ mới cưới trước lúc nhập ngũ đang ngày đem khắc khoải mong chờ, mà tìm nơi an toàn ở tạm một thời gian, nghe ngóng động tĩnh rồi hãy tính. Đằng này chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào, hắn chui ngay vào lều vó bè nhà lão Bong ở ngòi Mác. Hồi đêm mưa to lão Bong bỏ vó đi soi ếch, gần sáng mới về, vừa bước vào đã thấy một gã con trai tóc tai bờm xờm, ngủ say như chết . Lão vó bè sợ hết hồn, ù té chạy về báo cho xã đội trưởng. Cung Văn Luỹ lập tức huy động cả một trung đội dân quân , súng ống nai nịt gọn gàng, bí mật tiếp cận chiếc lều theo nguyên lý vận động chiến, tóm sống tên “bê quay” trong lúc hắn vẫn còn ngủ mê mệt sau chặng đường dài đói khát.
 
Chuyến ấy Trần Củng bị trói giải lên huyện. Trước ông cán bộ điều tra Đoàn Danh Thẩm, hắn phải viết bản tự khai và trả lời hàng trăm câu hỏi đủ loại, sau đó vào trại giam ba tháng. Thời kỳ này Củng và đồng bọn phải lao động cật lực mà không được tiếp xúc với người nhà. Chịu hình phạt đến tháng thứ hai, Củng nhớ vợ quá, một đêm hắn vượt rào bỏ trốn nhưng vừa ra khỏi trại chừng bốn chục thước thì bị dân quân tuần tra làng Si bắn chết...
Một đêm cái Liễu hỏi:
- Sao anh trốn về?
 
Thằng Kha bảo:

- Tiểu đội có mười ba thằng, đánh trận đầu chết năm, trận thứ hai mất bốn, ba đứa bị thương còn anh may thoát được, bơi qua sông sau đó lạc đơn vị, lần mò trong rừng hàng tháng không tìm thấy đường ra, xuýt chết đói. Thằng Dụ ở Đậu Khê gãy chân trái bị hai thằng lính nguỵ bắt, chẳng biết sống hay chết. Anh chỉ muốn về thăm con và em mấy hôm rồi đi.
- Cái Liễu hạ giọng thì thầm :
- Hay là em bảo với thầy. Thầy là chủ tịch xã chả lẽ lại không có cách nào...
Thằng Kha vội xua tay:
- Ông ấy mà biết thì giết chết anh mất, cứ để ít hôm xem sao đã.
Những ngày này thằng cu Khả được gửi về bên ngoại, vài hôm cái Liễu mới đón về một lần. ứng Thị Sót thương thằng cháu mồ côi lắm, chẳng nghi ngờ gì.
 
Hôm ấy là mười sáu âm lịch. Trời sáng như ban ngày. Vào khỏang mười giờ đêm , bên ngoài có tiếng gõ nhẹ. Liễu bảo chồng:
- Anh xuống hầm đi.
Thằng Kha hỏi khẽ:
- Ai mà đến khuya thế?
- Chắc là mấy ông dân quân tự vệ kiểm tra hộ khẩu đột xuất.
Vừa khép cửa buồng xong, Liễu nhón chân ra cửa.
- Liễu ơi!
Không thấy tiếng trả lời, một bàn tay luồn qua chỗ vách thủng phía trên ngõng khoá rút chốt cửa:
- Đừng vào! -Cái Liễu thì thầm. Nó đứng nghiêng , lấy tay tỳ vào cánh liếp nhưng sức đẩy phía ngoài mạnh hơn, cửa bật ra. Tiệp Cò nhanh tay ôm thốc lấy nhân tình :
- Sao không cho anh vào?
- Hôm nay tôi mệt.
- Anh có mang cho ít thuốc bổ nữa đây.
- Anh về đi, nếu không tôi kêu lên đấy.
Tay phó chủ nhiệm sẵng giọng:
- Hôm nay cô làm sao thế?
- Anh là thằng đểu. Anh hại đời tôi. Bố chồng tôi mà biết thì...
Tiệp vuốt tóc cái Liễu bảo:
- Thằng Kha chết rồi, bây giờ em là người tự do, lão Hỗ Chột không có quyền ngăn cấm hạnh phúc.
Đúng lúc ấy thằng Kha đẩy cửa buồng bước ra, tay cầm con dao găm quát lên:
- Nhưng tao thì có quyền đấy. Tiệp Cò, còn nhớ thằng này là ai không?
 
Tay phó chủ nhiệm sững người nhưng cũng đủ bình tĩnh quờ khẩu AK báng gập vẫn mang theo để ở khe cửa bật chốt an toàn rôì cười gằn bảo:
- Thì ra mày là Tào Văn Kha mới trốn bộ đội về. Cô Liễu là vợ liệt sỹ chứ không phải vợ một thằng “bê quay” hèn nhát. Bây giờ mày là thằng đã hy sinh, uỷ ban mới tổ chức truy điệu rất long trọng. Mày định làm trò bật nắp áo quan đứng dậy phải không?
 
Thằng Kha hình như đang lên cơn sốt, người run lên hoa con dao lại phía giường tìm Tiệp Cò:
- Lũ chúng mày mới là đồ hèn. Chúng mày tìm mọi cách đẩy thanh niên làng Cùa vào chiến trường rồi thoả sức bóc lột xã viên, tha hồ tiệc tùng, chè chén, tán tỉnh làm nhục vợ bộ đội. Hôm nay tao phải cho thằng chó dại này bài học.
Tiệp Cò lùi đến cuối giường cười gằn, rê nòng súng về phiá Tào Văn Kha, giọng vẫn cố ghìm để cuộc đấu khẩu bất đắc dĩ khỏi bị bại lộ :
- Cậu tiến một bước nữa là tôi bắn.
 
Cái Liễu run rẩy, mồ hôi toát khắp người như vừa tỉnh dậy sau cơm mơ khủng khiếp. Nó ngồi thụp xuống nền nhà rên rỉ. Cảnh ngộ của nó lúc này thật khốn nạn. Thôi thì một sống hai chết, Liễu vùng dậy đứng chen vào giữa hai người đàn ông giọng thảng thốt:
- Các người giết tôi đi. tất cả là tại tôi. Sao trời không giáng sấm sét để tôi chết đi cho rảnh mà bắt phải nhục nhã thế nay?
 
Lưỡi dao của thằng Kha rơi xuống nền nhà. Tiệp Cò khoá chốt an toàn khẩu AK.
- Tôi không có lỗi cậu Kha ạ.- Tay phó chủ nhiệm thong thả nói- Trong chuyện này cùng lắm là bị khai trừ khỏi đảng về khuyết điểm quan hệ bất chính với một phụ nữ góa chồng. Ở đời ai học hết chữ ngờ. Giả dụ cậu không trốn về làng thì làm gì có cuộc gặp khó chịu hôm nay. Cậu cũng nên biết ở làng Cùa chưa có gia đình liệt sỹ nào được quan tâm như mẹ con cô Liễu.
- Còn gì nữa nói hết đi!
- Bố cậu tuy là chủ tịch xã nhưng nói thật, khoá tới chẳng những mất chân đảng uỷ  mà còn có thể bị rầy rà vì hồi làm chủ nhiệm hợp tác xã  đã dung túng cho thẳng Tiếm và thằng Khắc ăn cắp thóc ở kho đình Đụn rồi đánh chết thằng Dọng khi bị nó phát hiện. Lão Doãng sau hơn bốn năm ngồi tù giờ lại phát đơn kiện. Tình hình nhà cậu gay đấy. Hãy nghe tôi, tìm cách lánh đi đâu vài năm mà làm ăn, đợi mọi sự lắng xuống rồi về.
- Câm đi! – Thằng Kha gầm lên giọng uất nghẹn- Đây là nhà tao thách đứa nào dám bước qua cửa.
 
Tiệp Cò cười nhạt:
- Chuyện ấy thì dễ, cậu không phải đợi lâu đâu.
Sáng hôm sau, cái Liễu cùng cánh phụ nữ đội bẩy xóm Trại Cá xuống đồng Đấu làm cỏ lúa. Gần trưa bà Nhinh hớt hơ hớt hải chạy xuống gọi:
- Cái Liễu về ngay con mày bị làm sao ấy.

Liễu hấp tấp chạy về. Bà Sót đã đưa thằng Khả ra trạm xá. Cô y sỹ nhìn thấy mặt thằng bé tái xám, bụng nó cứ ưỡn lên khóc mãi không thôi, nghi là bị giun chui cuống mật liền viết giấy cho đi bệnh viện. Bệnh viện sơ tán cách làng hơn chục cây số, Liễu chẳng kịp báo với nhà chồng mà mượn xe đạp cho con đi ngay, ứng Thị Sót ngồi đằng sau bế cháu. Liễu gò lưng đạp. Giữa đường thủng xăm phải tìm mãi mới nhờ được người vá. Đến phòng cấp cứu mới hay, thì ra thằng Khả bị đau ruột thừa phải mổ. Sáng hôm sau Liễu bảo bà Sót:
- U ở đây trông cháu, tôi phải về lấy thêm ít quần áo.
 
Nó đạp xe ra cổng bệnh viện lòng như lửa đốt vì từ sáng hôm qua đến giờ thằng Kha bị nhốt trong buồng chưa được ăn gì. Vừa mở cửa, cái Liễu bỗng lặng người. Thằng Kha nằm sấp, chân tay co quắp, cái đầu ngoẹo sang một bên. Nó khẽ chạm vào chồng nhưng thằng Kha đã lạnh. Mùi tử khí thoát ra làm cái Liễu rùng mình, vội chạy đi tìm bố chồng. Thật may lúc này Tào Văn Hỗ vẫn ở uỷ ban. Cô con dâu bỗng oà lên khóc:
- Thầy sang nhà, con có chuyện muốn nói.
- Việc gì cứ để sau, bây giờ chị phải lên bệnh viện với thằng bé đã.
- Không, thầy phải sang ngay, anh Kha...
- Hả? Chị bảo cái gì?
Về đến xóm Trại Cá Liễu vừa mở cửa Tào Văn Hỗ đã nhảy bổ vào. Nhìn tư thế nằm của thằng con trai, ông chủ tịch biết ngay nó chết bởi lên cơn sốt ác tính. Ngẫm nghĩ một lúc ông ta bảo con dâu:
- Đằng nào nó cũng chết rồi, chị không được nói với ai chuyện này vì khoá tới thầy dự kiến vẫn ra ứng cử đảng uỷ và hội đồng nhân dân.
Liễu quệt nước mắt, thổn thức:
- Con hiểu nhưng còn việc mai táng?
- Tạm thời phải liệm cho nó rồi để dưới hầm vậy, sau này hẵng hay.
Ký ức làng cùa -  Vĩ Thanh
1. Năm chín hai, làng Cùa xảy ra mấy sự kiện lớn làm cả vùng Ba Tổng xôn xao. Sự kiện thứ nhất là Trịnh Doãng được con trai bảo lãnh sang Pháp làm một chuyến du lịch mấy tháng. Chuyện bắt đầu từ việc thằng Dõng đi bộ đội được một thời gian thì có tin đồn là mất tích. Mất tích hay đầu hàng địch? Không ai bảo ai, từ cán bộ đến xã viên đều mặc nhiên nhìn vợ chồng hắn như là bố mẹ của kẻ phản bội.
Ban đêm, thỉnh thoảng thức giấc linh tính mách cho hắn biết, hình như có kẻ nào đó rình mò sau nhà.
- Mặc mẹ chúng mày! - Doãng chửi đổng - Có giỏi thì ngày nào cũng đến đây canh trộm cho ông.
Nói thế nhưng hắn cũng mài sẵn cây mác, rót thêm dầu vào chiếc đèn ló đề phòng bất trắc.
 
Giải phóng miền Nam được ba tháng, thanh niên Ba Tổng, trừ những trường hợp có giấy báo tử đều lần lượt kéo nhau về. Anh nào cũng mang theo chiếc khung xe đạp và con búp bê nhựa to đùng nhưng khá xấu. Riêng thằng Dõng, hết năm  bảy lăm qua năm bảy sáu vẫn bặt vô âm tín, cứ vài tuần Doãng lại đạp xe lên huyện đội hỏi, lần nào cũng vậy người cán bộ chính sách trả lời ”Chưa xác minh được”. Tuy không nói ra nhưng Doãng cho rằng nó đã hy sinh mà đồng đội không tìm thấy xác. Thật khổ cho nó. Con người ta chết được công nhận liệt sỹ còn con mình chết sao mà mờ ám thế?
Những ngày tháng chờ đợi càng dài niềm hy vọng của Doãng càng vơi. gặp người làng nếu ai vô tình gợi đến chuyện ấy là hắn nổi cáu:
- Ông đừng có mà xỏ xiên, nay mai người ta cấp bằng liệt sỹ cho thằng Dõng rồi khối đứa trắng mắt ra.
 
Doãng già đi trông thấy. Chưa đến bốn lăm mà tóc đã lốm đốm hoa râm, khuôn mặt nhằng nhịt những vết tàn nhang, bình thường vốn đã khó coi giờ nhăn nhúm như chiếc bị rách trông càng hãm tài. Đã thế cặp môi cá ngão dày hơn mức bình thường càng ngày thêm một giẩu ra đẩy lưỡi về phía sau làm hắn nói rất khó khăn. Thỉnh thoảng Doãng lại hỏi thằng Dung:
- Mày gặp các ông chỉ huy đơn vị thằng Dõng người ta bảo thế nào?
- Con đã nói rồi, thày cứ hỏi mãi. Họ bảo anh ấy có khả năng bị địch bắt rồi  chúng thủ tiêu.
- Thế có khốn nạn không cơ chứ. - Doãng thở dài thườn thượt- Đợi ít lâu nữa tao với mày vào trong ấy xem  sao. Chẳng nhẽ họ lại vô trách nhiệm với người lính đến như thế.
-Được rồi con đi. - Thằng Dung nhấm nhẳng- Nhưng thầy phải cưới cưới cái Nụ cho con.
- Mày ra điều kiện cho tao đấy hả?- Doãng nói lập bập - Con với cái.
 

Tiếp đó là hơn chục năm hợp tác xã nông nghiệp làm ăn thất bát. Làng Cùa xơ xác. Đói bụng đầu gối phải bò. Hơn bốn chục gia đình dắt díu nhau vào tận Đắc Lắc khai hoang trồng sắn để "tự cứu mình trước khi trời cứu” như ông Tổng bí thư đã khuyến cáo. Lũ con Trịnh Doãng lấy vợ ra ở riêng chẳng thằng nào theo nghề của bố. Thằng Dung kiếm được ít vốn chạy tuyến biên giới buôn hàng Trung Quốc. Thằng Dị cùng với mấy anh bạn đấu thầu khu đồng trũng gần rừng Hóp thả cá và nuôi vịt đẻ. Riêng thằng Dọi không chịu cảnh đất chật người đông chỉ độc canh cây lúa dắt vợ lên Tây Bắc lập nghiệp. Doãng vẫn túc tắc thả ống lươn kiếm đồng ra đồng vào. Có điều bí mật công nghệ đã bị đánh cắp, làng Cùa hình thành đội ngũ đánh bắt loại bò sát da trơn khá đông đảo, chuyên cung cấp hàng cho con buôn mang lên cửa khẩu Móng Cái , thành ra lươn ít dần có nguy cơ tuyệt chủng. Một hôm ngồi nhắm rượu với lươn om bên cạnh bà vợ kém mắt, Doãng than thở:
- Nghề của tôi mạt vận đến nơi rồi bà ạ.
Giữa năm, Doãng nhận được thư của thằng Dõng từ Pháp gửi về. Vậy là nó còn sống nhưng sao lại theo bọn thực dân đế quốc? Doãng giận lắm định xé thư đi nhưng thằng Dung ngăn lại:
- Thầy nóng tính quá, cứ đọc hết đi xem anh ấy nói gì đã.
Doãng lườm con:
- Nó bỉ mặt tao. Chuyện này mà lộ ra thì nhục với cả làng.
Dung càng đọc mặt ông bố càng tươi tỉnh. Hoá ra chuyện cũng đơn giản chứ không phức tạp như Doãng nghĩ.
 
Cuối năm bảy tư, trong trận đụng độ với một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ ở căn cứ Phước Tân, đại đội mười hai bị đơn vị thiện chiến này gây tổn thất nặng. Trung đội của Dõng toàn lính mới, tuy chiến đấu dũng cảm nhưng chưa có kinh nghiệm đối phó với địch ở địa hình bán sơn địa phức tạp nên hy sinh khá nhiều, số còn lại, trong đó có Trịnh Dõng bị trực thăng hốt, đưa về trại giam Phước Lộc. Hàng ngày lính ta phải lên rừng chặt gỗ khai thác đá ở sườn núi Ông Tượng. Một lần đi làm, nhận thấy bọn quân cảnh giám sát có phần lỏng lẻo, nhóm sơn tràng của Dõng đánh bị thương một tên, trói hai tên khác, nhét giẻ vào mồm rồi rủ nhau trốn vào rừng. Bọn quân cảnh truy đuổi ráo riết, ngay đêm hôm ấy tất cả đều bị bắt lại. Thằng Dõng nhận hết về mình, như thế có nghĩa là chấp nhận hình phạt xử bắn. Viên trung tá giám thị, người gốc Phát Diệm, thấy gã Việt Cộng trẻ măng, lanh lợi, lại có hành động nghĩa hiệp, trong lòng phục lắm, gợi ý:
- Tôi có thể miễn tội chết cho cậu nhưng với một điều kiện.
- Điều kiện gì?- Dõng nhìn viên giám thị đầy vẻ cảnh giác, hỏi cộc lốc.
- Đơn giản thôi, làm lính hầu cho tôi.
Dõng ngẫm nghĩ một thoáng rồi gật đầu:
- Tôi chấp nhận nhưng không được bắn những người kia.
- Cậu là thằng đầu têu mà tôi còn tha huống hồ anh em khác.
 
Cuối tháng chạp tay trung tá có dự cảm cuộc chiến sắp tàn, chế độ Sài Gòn khó mà trụ vững được nếu không thoát ra mau tất sẽ phải chung cảnh đắm tàu, bèn xin giải ngũ đem cả gia đình sang Pháp. Ông ta bảo Trịnh Dõng :
- Cậu được tự do nhưng theo tôi nên xác lập cho mình một tương lai chắc chắn ngay từ bây giờ.
- Trung tá nói sao?
- Từ nay đến lúc kết thúc chiến tranh không ai biết được chuyện gì xảy ra với những tù binh như cậu, cho nên, tốt nhất hãy di tản cùng chúng tôi.
- Nhưng còn bố mẹ, anh em tôi ở miền Bắc?
- Nhà cậu vẫn còn ba gã con trai đúng không?- Viên giám thị kiên nhẫn thuyết phục - Vả lại, Bắc Việt đang đói và còn rất lâu mới thoát ra khỏi ảnh hưởng tai hại của cuộc chiến tranh vô nghĩa này. Khi đã có chút ít tài sản trong tay, về nước lúc nào chẳng được.
Nghe ông ta tán, thấy cũng có lý, Dõng gật đầu:
- Thì cứ thử một chuyến xem sao. Ông bố tôi suốt đời làm nghề thả ống lươn, có lẽ nằm mơ cũng không dám nghĩ đến chuyện sang Pháp.
 
Sau mười tám năm tha hương, Dõng biết quê nhà đã có nhiều thay đổi. Chính quyền không còn định kiến với những người vì hoàn cảnh bắt buộc phải rời Tổ quốc kiếm sống ở phương trời xa. Nó dự định về thăm làng Cùa.
 
Mấy tháng sau, Dõng đưa vợ con về thật.  Vợ nó chính là con gái út viên trung tá giám thị trại tù binh Phước Lộc năm xưa. Vợ chồng Dõng ở nhà một tháng. Nó biếu họ hàng, làng xóm quà cáp chu đáo, giúp vốn các em làm ăn và cho bố mẹ đủ số tiền xây một căn nhà hai tầng đẹp nhất vùng Ba Tổng. Trước khi về Pháp. Dõng ra uỷ ban xin góp năm ngàn đô la để xây trạm xá. Chủ tịch xã Đoàn Kết bấy giờ là Nguyễn Đình Quyết con trai ông Nguyễn Đình Phán chỉ xấp xỉ tuổi thằng Dõng. Anh này tốt nghiệp đại học Nông nghiệp khoa quản lý ruộng đất mới trúng cử hội đồng nhân dân khoá mười hai hồi đầu năm.
 
Trịnh Dõng đương nhiên thành Việt kiều yêu nước. Lão Doãng bao nhiêu năm vì cái nghi án mất tích của con trai, nay được nở mày nở mặt với hàng tổng, trong lòng vô cùng tự đắc. Sau tết nguyên đán Dõng gửi giấy bảo lãnh cho bố sang Pháp chơi mấy tháng. Lão đến Paris cứ như người từ hành tinh khác xuống vậy. Gặp cái gì lạ lão cũng “ồ, à” chẳng khác gì dân làng Cùa ra thành phố nhìn thấy bọn manơcanh ăn mặc hở hang trong cửa hàng may đo. Thằng Dõng là chủ cửa hàng cơm bình dân với những món ăn thuần tuý Việt Nam , nổi tiếng nhất là lươn, ếch, ba ba. Lão không thể hiểu, ở cái xứ sở cách quê nhà cả chục ngàn cây số, quanh năm giá lạnh này mà chúng vẫn kiếm ra được những thùng lươn béo mẫm phục vụ khẩu vị của các thượng đế tha hương. Sang đây với con, Doãng đâm ra nghiện món bánh mỳ sốt vang thịt bò. Người lão đẫy ra. Những vết rỗ nhằng nhịt hình như đang lặn dần. Khuôn mặt nhăn nhúm vốn rất khó coi của lão giờ dãn ra bóng nhẫy, linh động đầy sinh khí. Hết đi thăm các danh lam thắng cảnh, lại ở nhà mở máy thu hình (Toàn chữ Tây người Tây) xem mãi cũng chán, Doãng đòi về. Vợ chồng Dõng giữ mãi không được đành phải chiều ông bố trái tính. Trước khi lên máy bay, Dõng đưa cho ông lão thả ống lươn ít tiền tiêu vặt, còn lại nó gửi theo lối phát nhanh để đảm bảo an toàn. Về đến nhà, như lời thằng Dõng dặn, Doãng trích ra năm ngàn đô la tặng xã để xây trụ sở theo gợi ý của chủ tịch Nguyễn Đình Quyết. Số tiền còn lại lão bàn vơí vợ đem gửi ngân hàng lấy lãi. Từ đấy Trịnh Doãng bỏ hẳn nghề thả ống lươn.
 
Trụ sở Uỷ ban xã xây hai tầng mặt tiền ốp cẩm thạch, mái chóp đẹp nhất huyện Nam Thành. Để ghi nhớ công lao của Trịnh Doãng có được người con trai làm vẻ vang cho quê hương, chủ tịch Nguyễn Đình Quyết đề nghị dựng tượng lão ở phía sau khuôn viên. Công trình hoàn tất, rất nhiều người đến xem và bình phẩm. Đó là một hình người thô kệch bằng chất liệu bê tông cốt thép, đứng ưỡn ngực trên bệ cao chiềng ra trước thiên hạ bộ mặt vênh váo do nhà điêu khắc Quang Đệ nổi tiếng lãng tử của Hội văn nghệ tỉnh sáng tác.
 
Dạo này bụng Trịnh Doãng mỗi ngày một to vì sâm nhung và các món cao lương mỹ vị. Bởi thế, sáng nào lão thả ống lươn cũng cưỡi chiếc xe Peugéot cánh trả qua lối cổng chùa Vĩnh Hưng lên đường trục liên xã sang Phố Phủ làm vại bia cỏ, bát tiết canh và tô phở bò. Vừa ăn Doãng vừa thả lời ong buớm tán tỉnh bà chủ quán phốp pháp tuổi cỡ tứ tuần có cặp mắt đa tình. Trên đường về lão ghé vào quán chị Nhài mua cho vợ cặp bánh dày giò rồi đạp xe chậm rãi như người tập thể dục dưỡng sinh. Đến trụ sở uỷ ban thế nào lão cũng vòng ra phía sau vườn ngắm tượng của mình, có lần ngắm xong lão chép miệng bảo:
- Cái tay Quang Đệ rượu vào nói phét một tấc đến giời. Tượng chẳng giống mình tý nào. Thật phí tiền.
 
2
 
Sự kiện thứ hai là thứ trưởng Lê Văn Nghiên về làm giỗ bố. Anh ta ngồi trên chiếc Toyota đời mới có cả thư ký riêng và nhân viên bảo vệ đi kèm. Hồi cuối năm ngoái, Nghiên đã cử người mang tiền về xây cho mẹ và anh ngôi nhà ba tầng ở đồng Chó Đá. Ngôi nhà thiết kế theo kiểu biệt thự Pháp thế kỷ mười chín, xung quanh có tường bao rất nổi nhưng lại khá lạc lõng ở một xóm nghèo người ở lẫn với ma và toàn những căn hộ lụp xụp, lợp rạ, tường trình bằng đất sét. Quan khách khá đông, phần lớn là ở Hà Nội về, toàn xe hơi xịn. Về phía địa phương, ông thứ trưởng mời toàn bộ ban thường vụ tỉnh uỷ, ban thường vụ huyện uỷ và tất cả các chức sắc xã Đoàn Kết. Những ông này phần lớn là người làng Cùa. Mấy hôm trước mưa to, đường làng toàn đất thó, nhão nhoét như cháo bột, có chỗ ngập sâu đến bụng chân lổn nhổn những gạch vỡ, vỏ ốc với phân trâu bò tạo thành một thứ hỗn hợp đặc biệt bốc mùi khăn khẳn, mới ngửi thấy đã phát lộn mửa. Có thể nói, những trục giao thông chính của làng Cùa lúc này đã biến thành các con kênh bùn vì vậy, tất cả các phương tiện sang trọng đều phải để ở sân đình, quan khách nhất loại tháo giầy vén quần lội ra đồng Chó Đá.
 
Sau ba mươi bảy  năm dịp này anh em họ Lê mới cải táng cho bố. Việc sang cát đáng lẽ được làm từ năm sáu tư. Lần ấy bà Hài đi chợ Cháy nhờ một thầy phong thuỷ xem hộ thế đất. Ông này mới đi tù về vì tội hành nghề mê tín dị đoan, xua tay chối bai bải:
- Bà về đi. Tôi giải nghệ rồi. Công an họ nhìn thấy thì chết.
 
Bà Hài phải đặt lễ hai đồng bạc, nói bã bọt mép ông ta mới chấp thuận.
- Bà chỉ cần nói ngày tháng năm sinh, năm mất và quê quán của ông nhà để tôi đoán xem sao đã.
- Dạ thưa thầy, nhà tôi tuổi ất Mão, sinh tháng tư, ngày mười bẩy , giờ Dần, mất ngày mùng bẩy, tháng giêng năm ất Mùi.
Ông thầy bấm đốt ngón tay tính toán một lúc rồi phán:
- Tôi đoán không nhầm thì người này bị hàm oan, bất đắc kỳ tử, cát táng lúc này không có lợi vì uất khí tích tụ lâu ngày chưa giải được, động vào sẽ bị thương tổn.
Đêm hôm ấy vào khoảng canh ba bà Hài đang thiu thiu chợt thấy một người mặc bộ bà ba nâu ngang lưng đeo khẩu pạc hoọc đi đôi giầy da cao cổ, đẩy cửa mạch lẻn vào. Bà ta sợ quá định kêu lên thì người ấy bảo :
- Vận đây mà, mình không nhận ra tôi sao?
- Ông đi đâu chừng ấy năm bây giờ mới về?
- Vẫn quanh quẩn ở đồng Đấu thôi.- Bóng ma thong thả nói- Tôi về báo để mình biết, chỗ ở hiện nay đang yên ổn, chưa nên rời đi nơi khác, đến năm Nhâm Thân hãy thay áo cho tôi.
 
Nằm dưới đất gần bốn mươi năm nhưng hài cốt của Lê Văn Vận vẫn còn nguyên vẹn, đen bóng như sừng trừ chiếc xương quai hàm bị vỡ vì trúng đạn. Công việc hoàn tất trước bốn giờ sáng do Trịnh Doãng chủ trì. Lão làm việc này không phải vì lợi mà vì nghĩa bởi thuở còn hàn vi Doãng và Nghiên đã có mấy năm cùng thổi kèn đám ma, cay đắng ngọt bùi đã từng nếm trải. Doãng phục Nghiên vì anh ta có học, soạn điếu văn nổi tiếng, sống với anh em rất có tình còn Nghiên quý tay thả ống lươn là người bộc trực có gì nói nấy, trọng nghĩa khí, khinh tiền của, không chịu khuất phục cường quyền.
 
Ngôi mộ Lê Văn Vận nằm bên cạnh ngôi mộ bà Hai Thoả đã được chuyển về từ đồng Mả Dứa làng Tảo An  năm Kỷ Hợi, nằm ở góc nghĩa địa đồng Chó Đá, xét về quy mô, thì nhỏ hơn nhiều so với những công trình đồ sộ của cha mẹ các trọc phú làng Cùa mới nổi lên mấy năm gần đây, nhưng lại được xây dựng rât có khiếu thẩm mỹ, vừa thanh thoát vừa thể hiện được lối kiến trúc á Đông truyền thống. Trên phiến cẩm thạch ốp mặt trên, giữa nền hoa văn, khắc chìm dòng chữ rất đậm:
 
Ông Lê Văn Vận
 
Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1915 ( Tức 14 tháng tư năm ất mão ), đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, chủ tịch uỷ ban hành chính huyện Nam thành, bị toà án Cải cách ruộng đất xử bắn ngày 30 tháng giêng năm 1955 ( Tức mồng bẩy tháng giêng năm ất Mùi ), được minh oan và phục hồi danh dự tháng 7 năm 1958.
 
 
Trịnh Doãng vừa bưng mâm cỗ đặt lên cái bệ cao giữa hai ngôi mộ chợt nhớ ra điều gì vội chạy về phía sau dẫn đến một ông già để râu dài, mặc bộ quần áo gụ nhưng lại đội chiếc mũ phớt Thượng Hải, vai quàng bị cói đến trước Lê Văn Nghiên hỏi:
- Ông thứ trưởng có còn nhớ ai không?
Nghiên nheo mắt cười:
- Bác lại còn phải thử tôi. Đây là Nguyễn Đình Phán, một cây trống nổi tiếng làng Cùa, cựu thành viên đội kèn hiếu của chúng ta chứ còn ai nữa.
 
Trịnh Doãng cười ha hả rất không hợp với không khí trang nghiêm của đám cải táng, cái cổ cò rướn ra quá mức trông rất hài hước:
- Thế thì còn đợi gì nữa. Đồ nghề đã có sẵn trong chiếc bị kia, anh em ta hôm nay phải hoà tấu một tang khúc thật trọng thể để chiêu hồn cho ông chủ tịch và cụ nhà.
Lê Văn Nghiên tủm tỉm cười:
- Bác vẫn nhớ nghề hay là mấy tháng nay sang bên Tây chén sốt vang thịt bò quên sạch rồi?
- Quên là thế nào. Ta bắt đầu chứ?
 
Trịnh Doãng thổi kèn Lê Văn Nghiên kéo nhị, Nguyễn Đình Phán ngồi bệt xuống cỏ, hai tay, hai dùi lúc cắc, lúc tùng như làm xiếc với mấy chiếc trống cơm. Bản “Lâm khốc” được tấu lên ở âm vực luôn thay đổi, lúc bổng lúc trầm, lúc khoan lúc nhặt với đủ các cung bậc tình cảm, nghe vô cùng thống thiết làm cho các vị khách ai cũng phải mủi lòng.
 
Vào đúng lúc phường kèn chuyển sang khúc “Lưu thuỷ”, Trịnh Doãng dạo đoạn mở đầu bằng những âm trầm “tò tí te...” thì người thư ký đến bên Lê Văn Nghiên khẽ nói:
- Có hai bà cụ muốn gặp thủ trưởng.
 
Phường kèn tạm ngừng. Hai bà gìa tóc đều bạc trắng như cước. Một bà xách làn mây, bên trong có mấy thẻ hương. Anh em họ Lê nhận ra ngay. Bà cả Huê và bà ba Lánh. Bà Cả tuổi quá chín mươi bị phong thấp, phải chống gậy nhưng mắt còn tinh, thong thả thắp hương, chắp tay vái ba vái trước mộ bà Hai Thoả và mộ Lê Văn Vận. Bà ba Lánh năm nay bước sang tuổi tám mươi mốt đi cùng với con trai là uỷ viên thường vụ, giám đốc sở công an tỉnh. Từ khi rời làng Cùa, phải năm mươi tám năm bà mới có dịp trở lại. Bà Ba lấy trong túi ra chiếc khăn xô, thong thả thắt lên đầu, bỏ thõng hai múi ngang lưng rồi bảo Lê Văn Nghiên:
- Các anh tế kèn đi để tôi thắp cho ông ấy tuần hương.
Nhìn thấy bà ba, bà Hài chống gậy bước đến nắm tay thì thầm:
- Cảm ơn dì, không có dì giúp đỡ thì anh em thằng Nghiên chẳng bao giờ có ngày hôm nay.
Buổi tối, sau khi quan khách về, Trịnh Doãng sang nhà bà Hài rủ Lê Văn Nghiên:
- Chú sang bên tôi chén lươn om củ chuối.
Ông thứ trưởng gật đầu:
- Nhắm với rượu Tây chứ?
Doãng nháy mắt :
- Dân nhà quê chỉ khoái món “cuốc lủi”, rượu Tây thằng Dõng có đem về mấy chai đấy nhưng uống chua như cứt mèo, phí cả món nhắm.
 
Bữa rượu toàn nhắm với những món nhà quê nhưng rất rôm rả vì có cả Nguyễn Đình Phán râu dài. Rất tiếc thiếu mất lão Mộc. Lão mất từ năm tám hai, năm làng Cùa bị đói đến mức nhiều nhà phải ăn cháo sắn. Thằng Thụt con ông xếp Đáy là gã cùng đinh, ban đêm rủ lũ bợm rượu ra đồng Quan moi con trâu của hợp tác xã chết vì bệnh nhiệt thán chôn từ tối hôm trước lên, xả thịt chia nhau. Lão Mộc vừa ở nhà Nguyễn Đình Phán về, thấy tay Ba Cò xách xâu thịt vừa đi vừa nhìn lấm lét như kẻ ăn trộm liền chặn lại hỏi:
- Thịt ở đâu đấy?
Ba Cò lấy tay ra hiệu:
- Bọn thằng Thụt đang mổ trâu ở đồng Quan, nhanh chân lên may ra còn.
 
Lão đánh gộc mò đến nơi được thằng Toan “quẳng cho một miếng phải đến hơn hai cân, toàn thịt nục. Thịt trâu chết toi nhưng xào tỏi cũng dậy mùi. Đã mấy ngày liền lão mộc toàn nhai sắn khô luộc, người nhão ra có miếng thịt tươi ăn vào đến đâu mát ruột đến đấy. Trưa hôm ấy tất cả bọn chén thịt trâu đều mắc chứng bệnh quái lạ. Toàn thân toát mồ hôi, bụng căng như quả bóng, không đi đại tiểu tiện được mà thỉnh thoảng đánh rắm phì ra một thứ mùi thối khẳn còn kinh khủng hơn cả cóc chết ba nắng. Y sỹ Phát, phụ trách trạm xá xã Đoàn Kết chịu không chẩn đoán ra liền gửi tất cả lên bệnh viện huyện. Hơn ba chục chiếc võng, kẻ thì khênh, người đèo lẵng nhẵng bằng xe đạp nối nhau trên đường 228 là hiện tượng chưa từng thấy ở vùng Ba Tổng xưa nay. Sau ba giờ hội chẩn các thầy thuốc mới tìm được nguyên nhân căn bệnh tập thể tai hại này là do bà con ta ăn phải thứ thịt trâu đã nhiễm khuẩn nên bị ngộ độc ở thể cấp. Mười ba nạn nhân tử vong, trong đó phần lớn là đàn bà và trẻ con. Số còn sống chủ yếu là bọn sâu rượu. Các bác sỹ chịu không thể giải thích được hiện tượng kỳ lạ trên, Còn dân làng Cùa thì cho rằng  rượu “cuốc lủi” giết chết vi trùng.
 
Thằng Nhặt lúc ấy mới xuất ngũ, chưa vợ, đang đóng gạch thuê ở Mao Điền, có người báo, vội bỏ công việc đạp xe sang bệnh viện. Cậu ta vào đến nơi thì lão Mộc chỉ còn thoi thóp thở. Những cơn co giật làm lão kiệt sức rất nhanh. Mọi người đang định đưa lão về làng thì từ bên ngoài, một người đàn bà trùm khăn mỏ quạ lặng lẽ lách vào. Bà ta tuột vành khăn, quỳ trước người đánh gộc ghé tai nói gì đó trong tiếng nấc. Vốn nặng tai lại sắp về với tổ tiên, hẳn là lão chẳng nghe được tiếng thì thầm của Chĩnh Con, nhưng khi nhìn thấy những giọt nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo, lão biết đó là những giọt nước mắt sám hối. Bằng một cố gắng cuối cùng, lão đánh gộc nhìn bà mẹ rồi đưa mắt về phía người con nuôi. Lúc ấy cậu ta đang ngồi cuối giường, bàn tay phải xoa nhẹ trên bụng lão...
Sang đến chén thứ ba , Trịnh Doãng đã ngà ngà hỏi Lê Văn Nghiên:
- Cậu phấn đấu thế nào mà lên đến cấp thứ trưởng, lũ thảo dân chúng tôi phục sát đất đấy.
Lê Văn Nghiên cười bảo:
- Gặp may thôi, chuyện của tôi chẳng khác gì chuyện Trạng Lợn.
 
Rượu vào lời ra, ông thứ trưởng thường trực Bộ X... hứng lên kể rất rành rọt đoạn đời thanh niên xung phong của mình. Năm bẩy mốt, một số đơn vị thanh niên xung phong giải thể, phần lớn anh chị em về địa phương, nhưng cũng có những người được bổ sung vào các công trường cầu đường bên Cục công trình 2. Lê Văn Nghiên về mỏ đá Trại Sen. Tại đây anh ta làm tổ trưởng tổ mìn, ba năm liền lao động tiên tiến, năm bẩy tư là chiến sỹ thi đua được bình chọn là đối tượng kết nạp đảng, nhưng lần nào cán bộ tổ chức về thẩm tra lý lịch Bùi Quốc Tầm cũng phê” Thành phần gia đình phức tạp. Bố đẻ bị tử hình năm 1955. Đề nghị không kết nạp” Phép vua thua lệ làng. Đảng uỷ xã Đoàn Kết đã nhận xét bằng giấy trắng mực đen như thế, dù lãnh đạo mỏ đá có nhiệt tình giúp đỡ đến mấy cũng đành chào thua.
Cuối năm bẩy lăm, Lúc ấy Lê Văn Nghiên đã sang tuổi bốn mươi mới cưới vợ. Vợ anh ta không phải ai khác mà chính là Thuỳ Dung. Lúc bị thương ở trạm Z35, Thuỳ Dung mê man bất tỉnh, bị bọn biệt kích kéo lên máy bay trực thăng mang về bệnh viện quân đội Việt Nam cộng hoà chữa chạy. Sau khi xuất viện, cô ta bị đày ra Phú quốc hai năm rồi được trao trả tù binh ngay đợt đầu. Tình cờ một lần qua Hà Nội, Lê Văn Nghiên gặp Thuỳ Dung ở ga Hàng Cỏ. Hai người mừng mừng tủi tủi ôn lại những kỷ niệm đầy máu và nước mắt.
 
Giải phóng miền Nam được hơn một năm. Hôm ấy rét lắm. Cả tổ đang đục lỗ mìn trên sườn núi đá chợt có chiếc Volga đen rẽ vào công trường. Một lúc sau, ông Quá, nhân viên hành chính ra gọi Lê Văn Nghiên bảo:
- Cậu tạm nghỉ xuống có người gặp.
 
Nghiên về đến lán thấy một người đàn ông còn khá trẻ, tay xách cặp da cùng với giám đốc đang ngồi chờ trong phòng làm việc. Anh ta hỏi bằng thứ giọng miền Trung khá nặng:
- Thưa... đồng chí là Lê Văn Nghiên, người làng Cùa?
- Vâng, tôi đây... ông là...- Anh thợ khoan thoáng giật mình cảnh giác dò xét vị khách lạ.
- Xin hỏi, đồng chí trước đây đã ở đơn vị thanh niên xung phong C9 và trạm Z35?
Nghiên xuýt bị choáng khi chợt nhớ đến cái chết của Chu Quang Sầm, nhưng rồi anh ta vẫn giữ được dáng vẻ tự nhiên bảo:
- Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được Tổng đội cấp giấy cho chuyển sang mỏ đá, nếu cần xác minh thêm xin mời các đồng chí về uỷ ban xã Đoàn Kết.
- Việc là thế này.- Người khách lấy trong cặp ra bức thư có dấu Quốc huy đưa cho Nghiên - Tôi được lệnh của chú Năm  mời đồng chí về Hà Nội.
Lê Văn Nghiên thở nhẹ:
- Ông Năm Khương ở bộ chỉ huy mặt trận R...?
- Dạ đúng. mời đồng chí lên xe, ta đi ngay kẻo chú Năm chờ.
 
Chuyến ấy, Lê Văn Nghiên đi làm cả mỏ đá xôn xao còn Thuỳ Dung thì phấp phỏng. Mãi đến tháng chạp năm sau anh ta mới về chuyển cho vợ vào Nam. Lúc ấy mọi người mới hay, Nghiên đã được kết nạp đảng và bổ nhiệm chức vụ phó tổng giám đốc tổng công ty Haticô. Thời kỳ xoá bỏ bao cấp, chuyển đổi cơ chế , anh thợ đá đảm nhiệm chức Tổng giám đốc Tổng công ty xây dựng cầu đường sau khi đã tốt nghiệp hệ chuyên tu khoa Thiết kế công trình cầu hầm. Năm tám chín, ở tuổi năm ba, tức là vào cái tuổi đáng ngại nhất trong đời, ông tổng giám đốc được điều về bộ giữ ghế thứ trưởng.
Nghe xong, Trịnh Doãng bảo;
- Đúng là người ta có số thật, mà cậu ăn về hậu vận, chứ cứ như những năm anh em mình thổi kèn đám ma thì thật sầu đời. Mà này, có còn nhớ cô Hảo làng Báng?
Nghiên đang vui chợt thở dài:
- Quên sao được, tính đến nay Hảo đã mất hai mươi nhăm năm. Ngày mai bác đi với tôi sang thắp hương cho cô ấy được không?
- Đi thì đi nhưng còn chuyện này chắc cậu chưa biết. Tay Thạc bây giờ là bí thư huyện uỷ Nam Thành.
- Thật à? Sao hôm nay không thấy anh ta đến?
- Chắc hắn còn ngượng với cậu về cái chết của cô Hảo
 
*
ở nhà được một tuần thì vợ chồng Lê Văn Nghiên và cậu con trai đang học lớp mười từ biệt mẹ và anh chị ra Hà Nội. Bà Hài cảm động lắm, cả cuộc đời chìm nổi, khổ ải mới có ngày hôm nay. Bà bảo Thuỳ Dung:
- Bố nó bận việc chính phủ thì không nói, còn mẹ con chị thỉnh thoảng phải về thăm nhà để bà cháu tôi còn được gặp nhau.
Thuỳ Dung ý tứ liếc nhìn chồng rồi gợi ý:
- Hay là mẹ lên Hà Nội ở với chúng con?
Lúc ấy Lê Văn Khải đang ngồi với Trịnh Doãng và Nguyễn Đình Phán vội bảo:
- Mẹ là mẹ chung, chú thím có thể đón bà lên chơi một thời gian, còn nếu ở hẳn thì không nên.
Thuỳ Dung tỏ vẻ thông cảm:
- Em hiểu rồi, bác yên tâm, hè này nhà em lại đưa bà về.
 
Lê Văn Khải lấy vợ năm bảy mươi mốt, vợ Khải là một cô trung cấp chăn nuôi, người vùng biển, xinh xẻo nhưng chua ngoa, coi mẹ chồng chẳng ra gì. Khải biết thân phận mình, phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Trong có tám năm, chị ta đẻ liền ba đưa con gái, đứa nào cũng giống mẹ, vừa đanh đá vừa thích đua đòi ăn chơi. Cuối năm, Lê Văn Khải xin nghỉ hưu trước tuổi vì mắc chứng hen phế quản. Dạo này anh ta bắt đầu để râu. Chỉ sau mấy tháng, bộ râu quai nón đâm ra tua tủa cùngvới mái tóc nghệ sỹ vừa dài vừa rậm chờm kín mang tai đã biến gã chăn bò có thâm niên hai mươi năm thành lão già tám mươi, mặc dù tính cả tuổi mụ anh mới tròn năm bẩy. Về vườn rồi viên bác sỹ thú y lại có thu nhập cao hơn nhiều so với hồi còn là công chức. ấy là nghề chữa trâu, bò, chó ,lợn, thậm chí cả mèo nếu có người thỉnh. Hàng ngày anh ta rong ruổi khắp vùng Ba Tổng trên chiếc xe máy “Bố già” có série từ đời tám hoánh nào chẳng ai biết, với hộp đồ nghề đựng trong túi bạt, phục vụ các ‘thượng đế” tại nhà rất tận tình.
 
Tháng chín vừa rồi, Lê Văn Khải được nhà nước tặng huy chương “Vì sự nghiệp an ninh tổ Quốc” sau một thời gian khá dài mang đống giấy tờ có bút tích của các ông công an mật,  giao nhiệm vụ đặc tình, gõ cửa các cơ quan hữu trách. Cùng với số tiền kèm theo hai trăm ngàn, anh ta làm mâm cơm mời bạn bè đến chia vui. Giấy chứng nhận và huy chương được lồng trong khung kính treo trang trọng bên cạnh chân dung ông bố do một thợ truyền  thần vẽ lại theo trí nhớ của bà Hài.
 
Trước tết Quý Dậu, Khúc Luận về làng. Cùng đi có Diễm Phương và cô con gái Mai Lan hai mươi mốt tuổi. Cô ta học luật nhưng bỏ nửa chừng nhảy sang lĩnh vực kinh doanh vũ trường. Khúc Luận ra Bắc chuyến này là để ký một hợp đồng với tỉnh về dự án nhà máy chế biến hoa quả xuất khẩu. Cả bí thư và chủ tịch đều tiếp đãi nhà Việt kiều yêu nước vô cùng nồng hậu. Trong dự án có những điều khoản rất ưu đãi mà tỉnh dành cho doanh nghiệp nhằm giải quyết đầu ra cho hàng ngàn hécta vải thiều đang có nguy cơ chặt bỏ vì mấy năm liền rớt giá. Nhà máy bắt đầu khởi công thì Khúc Luận cũng thương lượng được với ông Tam chuộc lại ngôi nhà cũ và rước bà cả Huê về ở. Sau bốn mươi tám năm ngôi nhà đã lần lượt sang nhượng qua tay nhiều chủ nhưng vẫn vững chãi đứng sừng sững bất chấp sự tàn phá của thời gian, chỉ cần quét vôi, trang trí lại nội thất là có thể ở được cả thế kỷ nữa.
 
Nhưng còn một việc rất đáng trách là anh ta không chịu đến thăm bà ba Lánh mặc dù lúc ấy cả hai mẹ con cùng ở một thành phố.
 
Ký ức làng Cùa
 
Vào một đêm mùa hè năm Mậu Ngọ có ngôi sao băng từ dải Ngân Hà rơi xuống phía đông nam làng Cùa kéo thành một vệt sáng chói như lưỡi kiếm kèm theo tiếng nổ rùng rùng như sấm động. Sáng ra, dân làng vô cùng kinh ngạc khi thấy dải đất trồng dâu đồng Bìm Bịp bị khối thiên thạch khoét thành một cái đầm lớn, nước đục ngầu vẫn còn sôi sùng sục... Cái đầm ấy giờ gọi là đầm Ma. Tất nhiên các  nhà khoa học không tin truyền thuyết này. Đầu những năm sáu mươi, một đoàn chuyên gia của Học viện Thuỷ lợi về khảo sát địa hình vùng Ba Tổng đã đưa ra kết luận, đầm Ma chỉ là một đoạn của sông Lăng. Nó được hình thành cách đây khoảng hai trăm nghìn năm khi dòng chảy quặt về hướng nam bởi một trận động đất kéo dài mười bẩy phút trên tám độ Rích te. Một thời gian dài người ta vẫn cho rằng đấy là kết luận có sức thuyết phục. Thế nhưng, đến tháng tám năm chín hai, một nhóm các nhà địa vật lý và cổ sinh học của Viện khoa học Việt Nam, nhân chuyến điền dã qua làng Cùa đã phát hiện ra đầm Ma có chỗ sâu hơn trăm mét nước. Tin này được đăng trên trang nhất của những tờ báo và  tạp chí lớn của cả nước làm giới khoa học xôn xao. Ngay sau đó, người ta tiến hành khảo sát rừng Hóp là khu rừng tự nhiên cách đầm Ma chưa đầy tám chục thước. Trong lúc tìm kiếm mẫu hoá thạch, một vị tiến sỹ địa vật địa lý ngẫu nhiên nhặt được hòn đá bằng già nửa lon sữa bò nhưng rất nặng. Ông ta nghi là quặng uranium liền gửi về phòng thí nghiệm phân tích. Kết quả cho thấy mẫu quặng trên không có nguồn gốc từ trái đất mà là một mảnh thiên thạch.
 
Hoá ra ký ức làng Cùa không sai, chỉ có điều khối thiên thạch rơi xuống không phải năm mậu ngọ mà đã viếng thăm hành tinh của chúng ta sáu mươi tư triệu năm trước, đúng vào thời kỳ  những con khủng long cuối cùng tuyệt diệt. Khối thiên thạch khá lớn, sau khi bị cháy gần hết trong quá trình rơi do ma sát với tầng khí quyển dày đặc, nó vẫn còn đủ năng lượng khoét được một cái đầm rộng hơn trăm hécta, sâu một trăm hai mươi tám mét, đất đá tung tóe khắp nơi tạo thành khá nhiều gò đống mà cái gò lớn nhất là rừng Hóp.
Chí Linh, 20/5/2005
Đặng Văn Sinh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức (Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, ...