Đi tìm bản Kinh thánh cuối
Giới thiệu truyện ngắn Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối của Đặng
Thơ Thơ dành cho VCV.(*) Mới khám phá thấy một đoạn văn bảnKinh thánh cổ xưa nhất. “Ai cầm gươm sẽ chết vì gươm, ai cầm bút sẽ chết vì
bút. Tôi viết kinh sẽ chết vì kinh”. Đặng Thơ Thơ - nhà văn tài hoa
của Văn học Di dân Việt Nam - đã viết như vậy trong truyện ngắn “Đi
tìm bản kinh thánh cuối” như một trải nghiệm cần thiết của nhân loại và dân tộc
mình.
Nhân vật Marie Madeleine trong Kinh Thánh, là hiện thân của
những quan niệm bất công mà con người áp đặt lên phụ nữ. Suốt chiều dài lịch sử
người nữ vẫn bị xem nhẹ, về chính trị bị tước quyền, về xã hội bị chèn ép, về
kinh tế thì cam chịu nghèo khổ, về văn hóa bị người nam áp đặt và
trong tôn giáo thường làm vật hy sinh. Thời Trung Cổ, người nữ từng là vật
dùng để tế thần như một cống vật, họ được xem là nguyên nhân của tội lỗi.
Tuy nhiên, nội dung truyện không chỉ dừng lại ở luận đề về
văn chương nữ quyền, mà còn nêu lên một vấn đề quan trọng khác: đó là mối
tương quan giữa Niềm tin và Tri thức. Tương quan giữa Giáo điều và Lương tri,
giữa Tình yêu và Mê muội.
Chính mối tương quan giữa giáo điều và lương tri bên
cạnh tình yêu sẽ quy định văn hóa sống của mỗi con người, bản chất của một thể
chế xã hội, rơi vào tín ngưỡng hay vươn lên bằng lý trí... Các nền văn minh đều
phải vượt qua thử thách này.
Trong truyện vừa “Đi tìm bản kinh thánh cuối”, nhân vật Tôi -
một giáo sĩ chép kinh - thuộc phái Tín giáo, tượng trưng cho Tín điều.
Nhân vật Mary Magdalene - giáo chủ Tri giáo - tượng trưng cho lương tri,
nàng cũng là người đàn bà duy nhất trong truyện - tượng trưng cho tình yêu.
Dùng chất liệu từ Kinh Thánh, Đặng Thơ Thơ dẫn dắt người đọc
vào một không gian hư cấu huyền ảo, không hiện thực huyền ảo mà thuần túy biến ảo
mê hoặc theo những truyền thuyết trong Tân Ước.
Kết luận của tác giả ở cuối truyện: Hành trình đi tìm
chân lý của mỗi dân tộc là phải đi ngược lại lịch sử của dân tộc đó cho đến ngọn
nguồn, bằng cách tự xoay lưng đi ngược. Không chân lý nếu không xét lại và
không thể trốn tránh nếu muốn tìm ra sự thật.
Một tác phẩm tầm cỡ phải chứa trong mình một nội dung sâu sắc,
Văn chương Việt giới thiệu truyện ngắn xuất sắc này. [Ban Mai giới thiệu].tôi
Tôi là thầy tu dòng Tín Giáo xuất thân từ chủng viện lâu đời nhất thế giới. Tôi
là người chép kinh thánh, viết bằng tay, cuốn kinh dầy cộm đi từ Cựu ước đến
Tân ước. Cửa sổ chỗ tôi ngồi viết nhìn xuống quảng trường thành phố nơi có những
tượng thánh đang tắm nắng. Phòng tôi ngồi viết ngay sát tháp chuông nhà thờ, ngọn
tháp cao vút như một thanh gươm xuyên thủng màn trời. Nhà thờ tôi ở là giáo đường
trung cổ lâu đời nhất châu Âu. Cuốn kinh thánh tôi chép nguyên thủy là bản xưa
GiaoDuong-Final nhất mà loài người còn nhớ.
Tôi sống nếp sống thời trung cổ vì tôi vẫn giữ thói quen lưu trữ văn bản bằng
cách chép tay, trên loại giấy làm từ vỏ cây là thứ giấy bền nhất có thể chịu đựng
được sự tàn hủy của thời gian. Tôi không thể đọc được thứ chữ in trên giấy. Tôi
càng sợ thứ chữ dán trên mạng, vì tôi đọc mà mất khả năng hiểu ý nghĩa. Chúng di
động, chúng trôi tuột, chúng không bám được vào trí nhớ, vì chúng không cố định
như văn bản chép tay. Những gì chép tay là những gì vĩnh hằng. Chữ chép tay là
mật mã riêng. Chính những mật mã này khiến việc chép kinh trở nên thú vị. Cầm một
bản kinh thánh chép tay có cảm giác hoàn toàn khác với cầm một cuốn sách in
trên giấy. Đó là cảm giác run rẩy, như tiếp cận một sự linh thiêng, và cuốn
kinh chúng ta cầm cũng đang run rẩy như một con vật sống đang ngọ nguậy.
Trên căn gác cổ này có mấy nghìn cuốn kinh viết trên giấy cói. Tôi bị đày ngồi
đây chép từ ngày này qua ngày khác. Những cuốn kinh không hiểu sau này có ai
tìm đọc không, nhưng chép thì vẫn chép. Thỉnh thoảng Đức Giáo Chủ đích thân
trèo 360 bậc thang hẹp lên thăm tôi. Ngài lướt mắt qua những bộ kinh xếp chồng
chất từ sàn lên đỉnh trần, kiểm tra cuốn kinh nguyên thủy, đối chiếu với trang
giấy tôi đương chép, khen tôi vài lời khích lệ. Rồi chúng tôi sẽ cùng quỳ gối đọc
kinh Sám Hối, luôn luôn là kinh Sám Hối mà không phải bài kinh nào khác. Khi
ngài đi xuống, cầu thang thường đã phủ đầy bóng tối. Ngài lần theo những vòng
thang xoáy, dẫn xuống chánh đường nơi những thầy tư tế đang thắp đợt nến chót
trong ngày, cả trăm ngọn nến lung lay như gió hiện hình trong nhà nguyện, như
những thiên thần đang trở về dưới dạng linh hồn. Đó là trước giờ cơm chiều của
chủng viện. Những lần thăm viếng như thế tôi có thêm rượu đỏ trong bữa tối, và
tôi đi ngủ sớm hơn lệ thường, dù không hẳn là say.
Tôi khấn nguyện ở đây trọn đời vì lòng kính mộ ngôi giáo đường này, vì nó là
nguồn gốc của tôi, như thể thân xác tôi bắt nguồn từ đá, từ chất đồng của
chuông, từ tiếng cầu kinh và tiếng đàn phong cầm cộng hưởng. Tôi cũng quyết định
ở đây trọn đời vì Giáo Chủ. Ngài là biểu tượng của niềm tin, của sự thật, của
trần thế, của thiên đàng. Uy quyền ngài không phải chỉ trong thời này, mà còn
kéo dài những thế kỷ tới. Nhiệm vụ chép kinh ngài giao phó cho tôi cũng là để
kéo dài niềm tin đến tương lai. Trong cái thư viện cổ xưa này, cổ xưa bằng chiều
dài lịch sử Đấng Cứu Thế, chúng tôi sẽ quyết định tương lai Tín Giáo, hưng thịnh
hay suy vong, thống trị hay phế thải.
Những bản kinh cổ mà tôi lưu trữ một ngày kia sẽ tan thành bụi. Chúng cần người
chuyển ngữ luôn luôn, nếu không sau này chúng sẽ chỉ là thứ ngôn ngữ chết và
như vậy thì niềm tin cũng chết. Không ai am tường việc dịch thuật bằng tôi. Tôi
dịch kinh từ tiếng cổ Hy-lạp sang nhiều thứ tiếng khác như Do-thái, La-tinh,
Ai-cập, Sy-ri để gieo giống niềm tin vào nhiều ngôn ngữ. Rồi sau này, qua nhiều
thế kỷ, chúng sẽ được hiện hình và tái sinh dưới nhiều thứ chữ, Sla-vic, Ả-rập,
rồi tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Nhật… tất cả những ngôn ngữ xa lạ của những đô
hội phồn thịnh phía bên kia biển lớn.
lời thề trên đỉnh tháp gô-tích
Lời thề của tôi với Giáo Chủ dưới tháp chuông xảy ra vào lúc giữa trưa. Lời thề
nguyện bảo vệ niềm tin của Tín Giáo bằng mọi giá. Vào thế kỷ đó, chúng tôi đứng
trên đỉnh chót vót của ngôi giáo đường bằng đá trắng pha những mảng xám đen
loang lổ – ngôi giáo đường mà mỗi lần chiêm ngưỡng đã khiến những nung nấu điên
cuồng trong lòng người dịu xuống. Sau lời thề tôi biết mình đã gắn chặt số phận
mình vào căn gác, vào đỉnh cao nhất của thế giới. Sống ở đây, tôi là kẻ gần nhất
với trời, với Chúa, với mây, và với vĩnh hằng. Đứng đây nhìn xuống, tôi thấy
mình cao cả hơn loài người bên dưới, vì sự tồn tại của tôi không hòa chung với
họ. Tôi có thể thấy trái đất đông dần lên như bột nổi bánh mì, thấy các lãnh địa
lân cận lan ra những vườn nho như mạch rượu, thấy những rừng ô-liu ép mình chảy
ra suối dầu vàng óng, thấy những biên giới vương triều trong nháy mắt rùng mình
hóa ra những di tích muối trắng chập chùng vào bất tận. Vào những hôm trời
trong vắt pha lê tôi còn thấy cả những thành phố mới mọc và sẽ mọc phía bên kia
biển lớn (gọi như vậy vì đây là mặt biển lớn nhất mà loài người khám phá được,
cho đến khi chúng tôi tìm ra một cái biển khác lớn hơn).
Lời thề của tôi hẳn đã động đến trời, vì ngay sau tiếng Amen là một trận mưa
chuông phủ xuống. Tiếng chuông ngân đã khuếch đại lời thề của tôi. Tiếng chuông
trên đỉnh giáo đường cổ xưa u ám này, âm sắc của chúng kiêu hãnh và hối thúc, đập
vào linh hồn tôi như một dấu chứng bất tử. Từ đó trở đi hồi chuông trưa trở
thành thông lệ của thế gian. Chuông giữa trưa là dấu ấn của Tín Giáo chúng tôi
khắc trên thời gian và gõ cửa không gian mải miết, trong một niềm tin không mòn
mỏi.
giáo chủ – kinh thánh – và tri giáo
Chúa đã nói với Phêrô trước khi chết: “Hãy nạp gươm vào vỏ, vì hễ ai cầm gươm sẽ
bị chết về gươm.”[1]
Đức Giáo Chủ cũng có một cây gươm, nhưng gươm của ngài vô hình. Ngài cầm nó
trong tay nhưng không ai trông thấy. Người ta chỉ cảm thấy thanh gươm, như thể
nó ở khắp mọi nơi. Tôi kính sợ Giáo Chủ không phải vì ngài có thanh gươm, mà vì
thanh gươm ấy vô hình. Không ai biết được đường đi của nó.
Nếu phải mô tả Giáo Chủ, tôi sẽ vẽ một chiếc áo chùng trắng thêu chỉ vàng, vẽ
mái tóc bạch kim óng ánh rủ xuống vầng trán khắc khoải, vẽ nét quả quyết trên
khuôn mặt uy nghi. Nếu phải dùng lời diễn tả, Giáo Chủ là biểu tượng tối cao về
quyền lực, thần uy hơn cả Chúa; vì mắt tôi không thấy Chúa nhưng tôi thấy ngài;
vì tai tôi chỉ nghe giọng ngài thay vì giọng Chúa. Đường đi đến Chúa sẽ phải
băng ngang ngài. Lời của Chúa sẽ được sàng lọc qua ngài. Kinh thánh là ý chí của
ngài, tàng hình trong lời Chúa.
&
Thời gian soạn bộ kinh thánh là thời gian căng thẳng trong quan hệ giữa Giáo Chủ
và tôi, vì cách chúng tôi quan niệm kinh thánh thật khác nhau. Khởi ngay từ định
nghĩa “kinh thánh” chúng tôi đã không nghĩ giống nhau rồi. Giáo Chủ bảo kinh
thánh là lời Chúa, vì Chúa đã phán như thế. Những vị thánh ghi lại những gì
Chúa nói, những gì Chúa làm. Tôi nói với ngài, các vị thánh cũng có thể ghi lại
những điều họ tưởng là họ nghe, họ nghĩ là họ thấy. Cũng có thể những điều họ
ghi chép là có thật, nhưng còn rất nhiều sự thật khác mà họ không thấy hoặc
không nghe. Ngay tên gọi kinh thánh đã là một điều khó hiểu, vì nó không chỉ là
một cuốn kinh, nó còn mang chất “thánh”, và từ “thánh” là điều khiến tôi suy
nghĩ. Tại sao “thánh”? Chỉ vì chúng được viết ra bởi những vị thánh? Ai là
thánh? Các thánh Phaolô, thánh Luca, thánh Gioan khi ngồi viết kinh vẫn chưa phải
là thánh. Họ chỉ là thánh sau này, khi họ đã chết, khi xác họ đã rã thối trong
hầm đá sâu trăm thước dưới chân tôi. Họ chỉ là thánh sau này, khi Giáo Chủ
phong thánh cho họ. Hành trình để một xác chết thành thánh có khi dài hơn thời
gian sống của một con người.
Thời ấy có rất nhiều kinh sách của Tri giáo[2], giáo phái đối nghịch với Tín
Giáo chúng tôi, lưu trữ trong thư viện do tôi quản thủ. Giáo phái này do Mary
Mađơlen thành lập, tuy cũng bắt nguồn từ khải thị của Giêsu, nhưng lại rẽ ra một
hướng khác hẳn. Họ đi một con đường khác dẫn đến cứu rỗi, họ dùng linh giác và
lương tri của họ, họ không dùng lòng tin của chúng tôi… Điều này khiến Giáo chủ
không vui. Giáo chủ nói bên Tri Giáo đặt nặng kiến thức và coi nhẹ niềm tin.
Ngài lên án họ là ngạo mạn khi quan niệm con người có thể tự thông công với
Chúa không cần thông qua giáo hội.
“Niềm tin là điều kiện cần và đủ cho sự cứu rỗi. Giêsu nói, ai tin ta sẽ đến được
cùng Cha. Tri Giáo đã đi lầm đường và đã xúc phạm niềm tin của chúng ta.”
Tôi thưa với ngài:
“Thưa Giáo Chủ, nếu chúng ta thật sự có niềm tin thì không ai xúc phạm được
chúng ta, vì niềm tin ở bên trên mọi xúc phạm và thương tổn.”
Lời nói của tôi khiến ngài hài lòng, nhưng tôi lại hồ nghi chính mình, vì niềm
tin của tôi đang thay đổi, ngoài ý muốn của tôi. Việc đọc những cuốn kinh khiến
tôi phải nhìn khác đi, nghĩ khác đi, trở nên một cái tôi khác, một thầy tu
khác. Chúng thật sự là những cuốn kinh khai ngộ, hiểu theo nghĩa đó. Hay chúng
là những cuốn sách tà đạo, cũng hiểu theo nghĩa đó.
Những gì tôi đọc là cánh cửa mở ra một con đường mới trong tôi. Một con đường
mòn đã phủ bụi thời gian, một con đường bị treo bảng cấm vào, một con đường mà
có người nói là ngõ cụt, có người nói dẫn đến thiên đàng. Giáo chủ nói đó là
con đường lầm lạc. Ngài phải nói vậy, vì Phê-rô đã trở thành dòng chính và đẩy
Mary đứng bên lề[3]. Thánh kinh cũng có những dòng chảy ngầm. Nó là câu chuyện
do những người đàn ông kể lại.Cái đầu của Mary MađơlenMary Mađơlen là người đàn bà có mình mà không đầu, hoặc có đầu
mà không mình, và người đời sau chỉ biết một trong hai thứ. Thoạt tiên tôi chỉ
biết cái đầu Mary. Cái đầu này chứa những khải thị huyền nhiệm và cả bản đồ chỉ
dẫn đường đi của linh hồn. Cái đầu này thông minh xuất chúng và người ta bảo nó
đã thu hết mọi lời Giêsu nói. Vì sợ nó gây thêm tổn thương cho niềm tin của
chúng tôi, Giáo Chủ đã dùng thanh gươm vô hình lia ngang cổ, chặt phăng cái đầu
đi. Từ đó truyền thuyết Mary người đàn bà không đầu đã biến Tri giáo thành một
giáo phái huyền bí và ma quái.
Nhưng thanh gươm của Giáo Chủ chỉ có thể cắt lìa mà không thể hủy hoại, cũng
không thể khiến những thứ bị cắt lìa biến mất vào hư vô. Những thứ này vẫn tồn
tại, nhưng trong một thể khác, trôi chảy lung linh hơn và dịch chuyển quỷ mị
hơn. Nguyên tắc chung của những bí mật là tính hữu hạn của chúng: theo một lời
nguyền của dòng Tri Giáo, thời gian lâu nhất để giữ một bí mật không thể quá
hai ngàn năm. Sau thời hạn đó những bí mật bị chôn dấu sẽ trồi lên và làm thế
giới ngỡ ngàng. Cái đầu của Mary chẳng hạn, nó vẫn lơ lửng giữa những cuộn kinh
dài như tờ sớ. Khi mở cuộn sớ sẽ thấy cái đầu nàng hiện ra, kỳ lạ như một điềm
báo về nghệ thuật Phục Hưng sau này: mái tóc từng lọn loăn quăn màu hạt dẻ phủ
quanh cần cổ dài, làn da trắng ngà như sữa cừu, tia nhìn thống thiết và ngời
sáng, một pha trộn giữa hy vọng và vô vọng. Và giọng nói của nàng, đau đớn rỉ rả
cất lên từ trang sách, là giọng nói nghèn nghẹn của một cổ họng đang chảy máu
không thể nào cầm.
Còn thân hình không đầu của nàng vẫn sống cuộc sống của người dân trong
thành Jerusalem. Thân hình này sẽ ra vào kinh thánh của chúng tôi 13 lần cả
thảy. Hành trình của thân xác thì cả thế gian đều biết, nó như một câu chuyện
điển hình của một người đàn bà tin Chúa: bắt đầu từ việc bị quỷ ám, lấy nước mắt
rửa chân Chúa và lấy tóc lau chân Chúa, chứng kiến Chúa bị hành hình đến khi thấy
Chúa sống lại. Rồi thôi. Nàng sẽ mất tích ngay sau đó, sẽ bước ra khỏi kinh
thánh và đóng sách lại như chúng ta sập một cánh cửa sau lưng.
Thân hình Mary làm mọi việc đó mà chẳng cần có đầu. Vì cái đầu thật ra không cần
thiết. Đầu và thân hình nàng là hai tự thể riêng biệt. Nàng mang thân xác phụ nữ
nhưng cái đầu nàng khước từ giới tính.
Vì Giêsu không bị ràng buộc bởi cái nhìn giới tính. Vì giới tính chỉ thuộc về
thân xác, nó là ảo ảnh và sẽ tan rữa khi chúng ta ngưng thở về với Chúa.
Nhưng đó là lời Chúa, tạ ơn Chúa.
Còn trong lời nguyền thì Mary sẽ bị cột chặt vào giới tính của
nàng, suốt hai mươi thế kỷ về sau.
kinh của riêng tôi
Tôi cũng có một cuốn kinh của riêng tôi. Cuốn kinh phát xuất từ chính tôi, từ
suy tưởng và chiêm nghiệm của tôi, một phần là chuyện của tôi với Giáo Chủ. Nếu
mai này tôi chết đi, và tôi được phong thánh, thì cuốn kinh tôi viết sẽ được kể
là kinh thánh.
Người đời sau cũng có thể đọc nó như nhật-ký, một thứ nhật-ký dòng tu, vì tôi để
vào đó nhiều tâm sự: tôi kể những chuyện hàng ngày, như tôi đã viết kinh ra
sao, đã dịch những kinh nào, những giấc mơ ban ngày và những gì xảy ra song
song với lời kinh, và định mệnh kỳ lạ của những bộ kinh tôi chép.
Ở trang đầu tiên tôi đã viết như sau: “Ai cầm gươm sẽ chết vì gươm, ai cầm bút
sẽ chết vì bút. Tôi viết kinh sẽ chết vì kinh.”
Từ đó việc viết kinh trở nên thú vị và mê hoặc hơn, vì những điều tôi viết ra,
những dòng chữ hiện hình dưới ngòi bút của tôi sẽ là mê lộ ngòng ngoèo dẫn tôi
về cái chết của mình. Tôi sẽ thành thánh nếu tôi chết khi đang viết kinh, một
buổi chiều đầy sương nào đó, sau giờ đọc kinh Sám Hối, giữa những hồi chuông
chiều riết róng, khi quảng trường bên dưới rực lên ánh đèn, khi loài người vẫn
còn ngơ ngác giữa niềm tin nhà thờ và niềm tin Chúa; khi những cơn mưa đổ đều
buồn bã lê thê trong lời nguyện, những ngọn nến cuối ngày thắp lên và Giáo Chủ
leo xuống 360 bậc thang gỗ phủ đầy bóng tối.
thể xác hay tinh thần?
Luôn luôn là một câu hỏi, người đàn bà thông minh hay người đàn bà đẹp, tinh thần
hay nhục thể, trí óc hay thân xác?
Đức Giáo Chủ nói, hãy chọn thân xác họ.
Tôi nghe lời Giáo Chủ, tôi chọn nhục thể, tôi yêu Mary
Mađơlen. Tôi yêu nàng từ khi đức Giáo Chủ ra lệnh cho nàng đi làm điếm.
Đó là một buổi sáng mùa thu vào thế kỷ thứ sáu sau Thiên
Chúa.[4]
Chúng tôi ngồi dưới ánh sáng lọc qua những vòm trần cao vút. Tiếng phong cầm và
dàn nhạc thánh ca nâng tâm hồn chúng tôi bay cao hơn những mái nhà. Giáo Chủ đứng
giữa điện thờ. Ngài uống nốt giọt rượu cuối đỏ bầm như máu đấng Cứu Thế. Ngài mở
đầu bài giảng ngày Chúa Nhật bằng một thông điệp mới. Tiếng ngài vang khắp
thánh đường:
“Vâng, các anh em, điều này đã rõ. Chính là Mary Ma-đơ-len. Người đàn bà này đã
xõa tóc lẳng lơ, đã lấy dầu sáp thơm thoa mình, đã để xác thịt phạm điều cấm kỵ.”[5]
Giới tăng lữ lặng người nghe sứ điệp, nét mặt họ trầm thống và hơi thở họ phập
phồng. Bên dưới lớp áo dòng những dương vật chợt cương cứng nhức nhối. Bài giảng
ấy là một thử thách và một rủa xả, nó bắt chúng tôi sinh lòng thèm khát. Ngay
giữa giáo đường chúng tôi chứng kiến một cảnh thoát y quái gở khi Mary thay áo
đổi vai từ một tông đồ sang một gái giang hồ. Tối hôm đó nàng tìm đến giường
chúng tôi, khỏa thân và tràn trề xác thịt. Chúng tôi đầu hàng và tận hưởng nhục
cảm nàng đem đến. Những nhục cảm không phải trả bằng tiền. Những nhục cảm trả bằng
một thứ gì khác hơn, pha trộn sự biết ơn thống hối và cả nỗi buồn đắm đuối. Mỗi
người trả bằng cái giá mà họ có. Ai có linh hồn thì sẽ trả linh hồn. Ai có quyền
lực thì trả bằng quyền lực.
niềm tin tuyệt đối
Cuộc sống tôi cứ thế trôi qua, lặng lẽ ngăn nắp bên ngoài và hỗn loạn nghi hoặc
bên trong. Ban ngày tôi đọc và biên tập kinh, ban đêm linh hồn tôi lẻn xuống quảng
trường gặp Mary. Thật khó khăn để tưởng tượng ra cách nàng đón khách thời trung
cổ. Những căn phòng hẹp tối và trần thấp, áo xống và chăn gối nồng mùi đồ lót
đàn bà, tiếng chuột rúc dưới gầm giường và những con bọ chét di chuyển qua lại
giữa thân thể chúng tôi đang đổ mồ hôi vào nhau. Nhân dáng nàng cũng thay đổi
tùy theo hứng tình của tôi. Nàng mảnh khảnh thanh tao như Donatello đã vẽ. Nàng
đầy đặn vun tròn như người mẫu của Titian. Nàng hiện thân thành người đàn bà tội
lỗi, cánh tay chắc nịch của nàng vít đầu tôi, ghì tôi vào bầu vú nàng căng mọng,
căng đến nỗi chỉ cần bấu nhẹ thì sữa nhục cảm sẽ ứa ra tràn trề. Đường dẫn đến
tuyệt cảm của tôi cũng dài như chiều cao nối căn gác này với quảng trường bên
dưới. Nó như chiều không gian thứ tư, chiều của khoái lạc và sự chết. Hơn nửa
thế kỷ trước một người nghệ sĩ điêu khắc đã leo ra ngoài tháp chuông để gắn bức
tượng trang trí mặt tiền nhà thờ, không may anh ta tuột tay rơi xuống, thân thể
tan nát và óc não văng tung tóe. Đáng lẽ chóp giáo đường sẽ còn cao hơn mấy
trăm thước nữa, nhưng để tưởng niệm nhà điêu khắc, Đức Giáo Chủ quyết định giữ
đúng chiều cao xây dang dở khi anh ta rơi xuống. Bây giờ dân thành phố mỗi lần
băng ngang chỗ xác chết đều phải ngước lên, chiêm ngưỡng bức tượng chót vót
trên không, và làm dấu thánh. Mỗi đêm khi tôi sắp rùng mình điếng ngất thì Giáo
chủ lại hiện ra. Bóng ngài lừng lững trên đỉnh tháp. Ngài vung thanh gươm vô
hình bổ dọc xuống, tách lìa tôi khỏi Mary. Chúng tôi văng ra hai mảnh, lúc đó hừng
hực dương vật tôi vẫn còn nằm gọn trong lãnh địa âm hộ của nàng.
Cũng có khi tôi ngủ qua đêm với Mary ngoài vườn đá khoảng hai dặm về phía nam
chủng viện. Đến hai thế kỷ sau khu vườn sẽ chỉ còn là một huyền thoại, nhưng
vào thời tôi sống nó chứa đựng nỗi ám ảnh cháy bỏng nhất và nhục thể nhất của
những kẻ tu hành khắc khổ – những người đàn ông sống không phải với một mà nhiều
bản án chung thân, một trong những bản án là lời thề đến chết không được gần phụ
nữ.
Vườn đá nằm khuất giữa những triền ô-liu bao quanh thung lũng. Những gái giang
hồ lẩn khuất chờ khách sau những vách đá dựng đứng cao hơn đầu người, họ chọn
nơi này hành nghiệp như một cách thách thức lại vụ án ném đá ngày xưa. Người ta
đồn rằng những người đàn bà tội lỗi mỗi đêm vẫn hành hương đến đây để lấy bớt
đi những viên đá cuội cho đến khi không còn đá để hành hình nữa.
Mary nằm xoải, ánh trăng chiếu qua tàng cây cằn cỗi rọi hình những chiếc lá nhọn
hoắt lên thân thể nàng như những vết khâu. Tôi ngậm mút những trái ô-liu chín
thẫm trên bầu vú nàng. Rồi chúng tôi làm tình trên tảng đá lộ thiên trơn nhẵn.
Nơi đây tôi không gặp cơn ác mộng bị cắt phăng dương vật; nhưng sẽ luôn có một
tai họa khác rình rập để trừng phạt tôi về tội tà dâm. Có điều khổ hình lại
giáng xuống đầu Mary. Nàng bị trừng phạt vì tội lỗi của tôi. Tôi ôm riết Mary,
tôi khao khát truyền sự sống vào nàng mà thân thể nàng cứ lạnh toát dần. Cần cổ
nàng ứa máu. Nàng nấc không thành tiếng. Máu tuôn ọc từ vết cứa ngang cuống họng.
Cơn khoái lạc của tôi tăng tốc theo sự mất máu của nàng cho đến khi đầu nàng
lìa khỏi cổ và âm hộ nàng thắt lại lần cuối, không nhả tôi ra nữa.
Những hoang tưởng ma quái cứ thế ám ảnh tôi. Cũng có lần tôi tham gia vào vụ
hãm hiếp tập thể với những người đàn ông khác trong thành phố. Họ là những nhân
vật chức sắc, những người khoác áo chùng đen đạo mạo. Họ tổ chức cuộc hành lạc
thành hai phần, xếp hàng chờ được ngủ với Mary, rồi sau đó lại luân phiên ném
đá nàng để tăng thêm khoái cảm. Nàng nằm lả trên nền đá, băng huyết và cửa mình
rách nát. Nhưng chẳng ai buồn quan tâm. Lời giảng ngày Chủ nhật đã trở nên kích
thích cùng cực. Họ hành động say sưa theo tập quán, như thể họ đang mê đi và
đang thực hành một nghi lễ sùng tín nhất.
Công việc của chúng tôi đã gần hoàn tất. Cuốn sách của loài người đang sắp
thành hình. Mỗi tuần một lần Đức Giáo Chủ trèo lên đỉnh gác chuông, đưa thêm
sách, dặn tôi chọn đoạn kinh này, bỏ cuốn kinh kia. Ngài vẫn kiểm tra những gì
tôi viết. Tôi vẫn bị giằng xé giữa lời thề và lương thức của mình. Ngài không
biết những gì tôi viết ra sẽ dẫn đến cái chết của tôi. Còn tôi thì đã chấp nhận
viết cho đến chết dẫu đó là một số phận bi thảm không ai muốn.
Kinh thánh là một bài toán nhức đầu nát óc. Một bài toán có thể sai đáp số
nhưng vẫn phải chấp nhận nó như đáp số duy nhất. Để soạn Kinh Thánh chúng tôi
không chọn tính cộng mà làm tính trừ, trừ hết những gì khác biệt. Kinh Thánh
không nên là một tập hợp của quá nhiều sự thật, như một phiên tòa là tập hợp của
nhiều nhân chứng, như một bài toán là tập hợp của tất cả các phép tính. Kinh
Thánh chỉ nên là 27 cuốn sách còn lại sau khi đã loại đi những kinh sách
khác[6].
Nhưng tôi không thể trừ loại niềm tin và lương giác của mình. Nếu chúng ta có
những định nghĩa khác nhau về niềm tin, thì mẫu số chung của niềm tin là gì? Chẳng
lẽ không thể có mẫu số chung mà chỉ có hiệu số của một bài toán trừ bất tận, niềm
tin này trừ khử niềm tin kia? Niềm tin nào giá trị hơn niềm tin nào? Niềm tin
thắng thế của kẻ mạnh chăng? Đây là điều dễ hiểu. Đức Giáo Chủ là người mạnh vì
cái nhìn của ngài thấu suốt tương lai thêm nhiều ngàn năm nữa. Còn cái nhìn của
tôi bị giới hạn trong căn gác này, giữa những cuốn kinh đầy bụi và những tiếng
nói tắc nghẹn của quá khứ. Tiếng nói của những cái đầu bị chặt.
Cuốn kinh thánh chúng tôi đang soạn sẽ tồn tại như một niềm tin tuyệt đối.
Và là niềm tin sau cùng.
Tín Giáo sẽ thiêu đốt, sẽ tận diệt Tri giáo trong một chuyến
hành hương về Jerusalem, đánh dấu một bình minh mới cho niềm tin của chúng
tôi. Một tháng trước lễ Phục Sinh, Giáo Chủ ra lệnh chuyển hết kinh sách tà đạo
về vườn Gethsemane để chất lên giàn hỏa. Ngài nói:
“Tro sách này sẽ rải đều những gốc cây trong vườn và bón cho cây tươi tốt. Những
cây ô-liu và cây dẻ sẽ lớn mạnh, chúng sẽ thành cổ thụ ngàn năm và tỏa bóng mát
đến những đời sau. Bóng của chúng sẽ vượt qua biển lớn. Hạt giống của chúng sẽ
lan tràn. Và niềm tin sẽ thuộc về Tín Giáo của chúng ta.”
Đức Giáo Chủ khéo chọn. Vườn Gethsemane là nơi Giuđa bán Chúa ngày trước. Việc
ngài chọn nơi này để đốt kinh khiến tôi nghi ngại. Tại sao không phải khu vườn
sau chủng viện, hay quảng trường bên dưới, mà lại là Gethsemane? Từ đây đến Gethsemane là
một hành trình diệu vợi. Mà Gethsemane là nơi từng chứng kiến sự phản bội tối
thượng trong lịch sử loài người. Tại sao lại phải quay về đó?
Tối hôm đó tôi cầu nguyện Chúa rất lâu. Tôi khóc và xin Chúa phán với tôi, xin
Chúa khuyên tôi phải làm gì, tôi phải chọn lựa điều nào, để cứu vãn sự hủy hoại
sắp sửa xảy ra. Tôi khóc rất lâu, vì đã lâu rồi tôi không khóc, nước mắt tôi
tích lũy nhiều năm ròng để chờ một dịp như thế này đổ xuống.
Rồi tôi nghe một tiếng nói ở trong đầu, một tiếng nói ở bên trong, từ một nơi rất
sâu, có thể nằm sau lồng ngực, có thể sâu hơn thế, sâu hút hoắm như biển thẳm.
Tiếng nói ấy bảo: “Này người kia, chỉ có ngươi mới cứu được ngươi. Hãy dùng
lương thức và tri giác của ngươi. Hãy chôn những bí mật và quên chúng đi. Hãy
phó mặc chúng cho bất trắc và quên lãng”.
Những ngày sau đó tôi thức trắng đêm để dịch kinh. Tôi dịch tất cả những cuốn
kinh Tri giáo mà Giáo Chủ chắc chắn sẽ đốt đi. Đức Giáo Chủ giỏi tiếng La Tinh,
tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp nhưng cũng may ngài không biết tiếng Ả Rập và tiếng
Ai Cập cổ xưa mà vùng này ít người thông thạo [7].
Tôi chuyển linh hồn Mary sang một thân xác mới. Một thân xác có đủ đầu lẫn
mình. Thân xác này sẽ nằm ẩn trong kinh, giữa những ký tự vòng vèo mà Giáo Chủ
sẽ tưởng là sách dạy về bùa chú. Tôi vừa dịch kinh dưới ánh nến vừa nghĩ tới
tháp Babel của Đức Chúa Trời, tới những mâu thuẫn gay gắt giữa màu da
và chủng tộc. Tôi nghĩ đến sự diệu kỳ của ngôn ngữ. Những tiếng nói đa chủng tưởng
như một trừng phạt, nhưng trở thành nơi lánh nạn của niềm tin. Chúa đã tạo
ra Babel và tạo ra tôi, để làm điều Chúa muốn.
câu chuyện ngoài vườn Gethsemane
Ngoài vườn Gethsemane hai ngày trước lễ Phục Sinh. Nắng ngả màu xanh
úa trên bãi cỏ. Khu vườn tỏa ra vẻ già nua dù đang mùa xuân và cây lá đang hồi
tươi tốt nhất.
Những chồng sách bìa da giấy cói đã xếp gọn trên giàn hỏa. Tôi đi ngang qua
chúng, như đi giữa những phế thải hôm nay và lửa thánh ngày mai.
Những hàng cây ô-liu chín mọng dẫn đường đến tảng đá lấp mộ Giêsu.
Một bên tôi là Đức Giáo Chủ và bên kia là bóng ma của Mary. Chúng tôi ba người
mà chỉ có hai chiếc bóng. Bóng hai chúng tôi đôi lúc nhập vào nhau lúc giữa
trưa, khó tách biệt như lời thề và bội phản. Nhưng sự phản bội không đến đột ngột
như tôi sợ. Nó đến từ từ, mỗi ngày nó tiến lại gần hơn. Sự phản bội biết cách
ngụy trang, nó đến như một chiếc hôn bí nhiệm yêu dấu nhất.
Chúng tôi ngồi nghỉ chân trên tảng đá phẳng nằm khuất dưới những vòm cây góc vườn.
Nơi đây Giêsu đã khóc và cầu nguyện trong cơn thống khổ. Chúng tôi gọi nó là tảng
đá hấp hối. Ánh nắng trưa Gethsemane nhuộm màu xanh lợt của lá ô-liu,
màu đen dịu của chùm trái chín, hòa thành một màu vàng ngọt óng của mật ong.
Ánh sáng thiên thần đổ xuống mái tóc bạch kim của Giáo Chủ lấp lánh như tơ, rủ
xuống vầng trán khắc khoải của Ngài. Bằng một giọng cực kỳ trìu mến, ngài âu yếm
gọi tên tôi rồi khẽ bảo:
“Lại đây nào.”
Hơi thở ngài gấp rút.
Tôi đến gần, quỳ xuống, úp mặt vào vạt áo ngài. Một hồi lâu, úp mặt xuống nhưng
tôi vẫn thấy màu nắng sáng lóa đàng sau, ánh nắng ràn rụa khắp thế gian và chảy
khắp người tôi nóng ran. Tôi biết đây là lần cuối. Một cơn gió mát thoảng qua,
rất nhẹ mà làm lay chuyển những cây cổ thụ ngàn năm. Những thân cây đã từng chứng
kiến cảnh tượng rợn người, bây giờ chúng lên cơn giận dữ, nhấc khỏi mặt đất,
đòi tự trốc gốc rễ mình. Mồ hôi tôi chảy đầm đìa lớp áo chùng. Tôi chăm chỉ hơn
và tận tình hơn bao giờ, tôi hiểu ý ngài, và phục vụ ngài với tất cả nỗi tận tụy
của một tên nô lệ. Ngài cũng đang yếu đuối. Bàn tay ngài uể oải lùa nhẹ vào tóc
tôi, mơn man da đầu tôi. Giây phút này chúng tôi sẽ nhớ mãi, dù không ghi vào
sách, cũng không ghi vào đời. Nó chỉ tồn tại giữa hai chúng tôi. Nó là gạch nối.
Nó như lời thề. Những cơn co giật của Giáo Chủ cũng dữ dội như những cây cổ thụ
ngoài sân. Người tôi cũng nóng hực run rẩy. Tôi nhớ Mary, nhớ những lần chúng
tôi vụng trộm, tôi khao khát nàng với nỗi khát ngang hàng sự chết. Giáo chủ lần
tay vào áo tôi, ngài rà soát thân thể tôi, nhưng điều ngài tìm kiếm không còn
thuộc về tôi nữa. Nó đã bị âm hộ Mary giam giữ. Bàn tay Giáo chủ đè nặng, uy
quyền ngài bấu nghiến bả vai tôi. Tôi cứng người, cảm nhận lưỡi kiếm mỏng tang,
hơi lạnh sắc mỏng tang, sự vô hình mỏng tang đang lướt dọc theo gáy. Ngài chỉ cần
buông tay…
sự phản bội tuyệt đối
Buổi tối cuối cùng trên căn gác mà tôi đã hứa nguyện cột chặt cuộc đời, tôi xếp
những cuốn kinh mới dịch sang tiếng Ai Cập vào tay nải. Tôi mang theo một bộ áo
thường dân để thay dọc đường và số tiền nhỏ tôi có. Bên trong lớp áo chùng đen
là tấm bản đồ dẫn ra sa mạc và Biển Đỏ.
Lộ trình của tôi vòng vèo, dọc theo bờ biển Địa Trung Hải nước xanh nhức mắt.
Tôi băng qua Biển Chết. Đến bờ biển phía tây bắc tôi cho kinh sách vào những
bình đất nung cao cổ, chôn rải rác trong những hang động khô khan đầy hơi muối.
Mười bốn thế kỷ sau một con dê nhỏ sẽ đi lạc vào đây và nhờ vậy người chăn dê sẽ
tìm thấy chúng. Rồi tôi băng qua núi Sinai, đến Ai Cập. Ở đây tôi đào hố chung
quanh ngôi làng Nag Hammad và giấu hết số kinh còn lại trong cát. Đến năm 1947
sẽ có người đào được tất cả những bí mật này. Những cuốn kinh lúc đó đã tả tơi,
lật mạnh sẽ tan thành bụi. Những cuốn kinh sẽ qua tay nhiều lái buôn đồ cổ trước
khi đến bên kia biển lớn. Ở đó sẽ có người đọc được thứ chữ này, họ sẽ nhận ra
nét bút của tôi, nếu đó là ý Chúa.
&
Còn cuốn kinh của riêng tôi, tôi đã chôn nó trong khu vườn đá ở phía nam chủng
viện. Sau này người ta sẽ gọi nó là cuốn Phúc âm Phản bội. Dầu sự phản bội
không phải ý tôi. Nếu Chúa không cho phép thì sự phản bội không thể xảy ra. Con
người sinh ra chỉ để làm điều nó phải làm. Chúa đã tạo Giuđa để làm điều Chúa
muốn. Sau này, những cây dẻ ngoài vườn Gethsemane đã kể lại tôi nghe
cuộc đối thoại rất cảm động giữa Giuđa và Chúa.
Chúa phán:
“Giuđa ngươi hãy bán ta đi, để giải thoát linh hồn ta
khỏi thân xác này, để ta làm trọn điều ta phải
làm.”
Giuđa nói:
“Lạy Chúa, xin tha cho tôi, đừng bắt tôi phản Chúa, kẻo linh
hồn tôi sẽ bị nguyền rủa đời đời.”
Chúa nói:
“Người nào giúp ta trở nên bất tử, người đó cũng sẽ bất tử
cùng ta.”
Giuđa nói:
“Lạy Chúa, tôi hiểu rồi, Chúa muốn tôi hy sinh vì Chúa, để
Chúa hy sinh vì người khác. Tôi xin nhận lãnh sứ mệnh này. Tôi nguyện làm cái
bóng muôn đời của Chúa.”
Đó là lời cuối trước khi Giuđa đi bán Giêsu lấy 30 miếng bạc, rồi thắt cổ tự tử
chết. Đó là một cái chết được sắp đặt trước. Toàn bộ thánh kinh Tân ước lấy cảm
hứng từ cái chết này. Tín Giáo của tôi cũng chịu ơn sự phản bội này. Nếu không
có Giuđa, Tín giáo chúng tôi biết tin vào điều gì đây?
Những cây dẻ và những cây ô-liu sẽ nói:
“Giá của một niềm tin tuyệt đối là sự phản bội tuyệt đối.”
&
Ai sẽ tin lời những cái cây này, ngoài tôi ra?
Tôi muốn đi tìm Giuđa để hỏi cái giá thật của sự phản bội, là 30 miếng bạc hay
sự bất tử đời đời. Nhưng sau khi chôn xong cuốn kinh cuối thì tôi đổi ý. Việc
chôn kinh khiến tôi gần mất trí. Tôi tưởng mình đã nhúng tay vào một vụ chôn cất
tập thể, tôi tưởng mình đã chôn đến người thân yêu cuối cùng. Tôi tưởng tôi đã
chôn chính tôi. Thần kinh tôi bị suy sụp gần như mất hết ý chí sống. Tôi không
biết đi đâu, sống cách sống nào, tin vào điều gì… Một ý tưởng nào đó đang đầu độc
tôi.
Thoạt đầu tôi ngồi trên vũng cát sa mạc giữa trưa, cổ họng khô rát dưới mặt trời
sáng rỡ, mắt bắt đầu thấy những ảo giác đẹp đẽ. Chung quanh tôi cát vàng đang
biến thành thời gian, chảy ùa đến chỗ tôi ngồi. Những con đường trên thế gian
tan vào trong cát. Trái đất là một bãi mênh mông không lối đi. Tôi chẳng cần đi
đâu. Tự tôi đã là khởi đầu và là kết thúc. Trong khi đó muốn tạo ra một lối đi
tôi phải gượng dậy, phải lê lết, phải rạch một đường mòn bằng thân xác kiệt quệ.
Tôi không còn sức để đi nữa. Tôi quay đầu nhìn lại và thấy mình đứng ở điểm khởi
đầu nhìn tới - chúng tôi đối diện nhau qua chiều dọc con đường.
Cũng có khi tôi đi tất cả mọi nơi cùng lúc và sống mọi cách sống cùng lúc trong
cái đầu hỗn loạn của tôi. Nhiều người cũng làm như vậy và thế giới trở nên chằng
chịt những con đường cho đến khi những con đường tràn vào nhau và biến trái đất
thành nhẵn thín như không có đường (như khi chúng ta dùng bút chì tô đậm một
hình tròn). Tôi đi lang thang trên các nẻo đường, chờ đón thanh gươm vô hình của
Giáo chủ đang bay đi tìm tôi. Thanh gươm ấy ở khắp nơi. Nó có mắt. Nó đã làm thế
gian này điên đảo. Nhưng khi nó tìm thấy tôi, nó sẽ dừng lại, nó sẽ ghim vào đầu
tôi và ở đó mãi mãi. Tôi sẽ sống để mà chờ nó.
Cũng có khi tất cả những con đường cổ xưa lại hiện ra, nhưng đó là những con đường
chết. Không ai có thể đi tới mà chỉ có thể bước lui. Hình thức di chuyển duy nhất
là xoay lưng đi ngược. Thử thách này đòi hỏi lòng tin tuyệt đối. Tôi cũng muốn
thử sức nên đã quay lưng lần hồi về lại thế giới cũ. Tôi đi nghịch chiều không
gian trong lúc đó thời gian vẫn đang tiếp diễn về phía trước (tôi biết điều này
vì tôi vẫn đang già đi), và mọi hiện hữu ở giữa bị kéo dãn đến độ đứt lìa. Khi
tôi trở lại chủng viện thì mọi thứ đã gần biến mất. Những cuốn kinh trên căn
gác cổ đang trở về hư vô. Chỉ còn lại một bản kinh thánh cuối rách nát nằm chờ
lửa liếm trên sàn gỗ. Để cứu vãn nó khỏi chu trình tàn hủy tôi phải học thuộc
lòng hết cuốn kinh, tôi phải đọc lui từng chữ một, đọc từ cuối lên đầu, đọc từ
sau về trước. Hành trình đọc hết thánh kinh để tìm ra chân lý là sáu ngàn năm
đi ngược [8].
Cuối cùng tôi cũng vượt qua được thử thách này.
Chú thích:
1. Phúc âm của thánh Mathew.
2. Gnostic – bắt nguồn từ chữ Gnosis – tiếng Hy Lạp nghĩa là kiến thức. Tri
Giáo như con đường giác ngộ, quan niệm rằng con người bằng lương thức và tri
giác sẽ tái hợp và hòa nhập cùng Thượng Đế, như Giêsu đã đạt được.
3 Trong sách Phúc âm của Mary Magdalene (Tri Giáo), Phê-rô đã nói với Giêsu:
Hãy nói Mary đi khỏi chúng tôi, vì đàn bà không xứng đáng được sự sống.” Mary
nói với Chúa: “Phê-rô làm tôi sợ. Phê-rô hăm dọa tôi và thù ghét giới chúng
tôi.” (Phúc Âm Đối Thoại Pistis Sophia)
4. Việc xảy ra vào năm 591, Giáo Hoàng Gregory Vĩ Đại tuyên bố điều này trong
nhà thờ Basilica San Clemente ở La Mã.
5. Lời của Giáo Hoàng Gregory trong bài giảng. Mãi đến năm 1969 Vatican mới lần
đầu lên tiếng cải chính, xác nhận Mary Madaglene không phải người đàn bà tội lỗi
trong sách Luke (Luca). Năm 1988 Giáo Hoàng John Paul II tuyên phong Mary
Madaglene là “tông đồ của các tông đồ” trong văn bản chính thức của Giáo Hội.
Nhưng Mary vẫn tiếp tục bị xử dụng như một biểu tượng về tội lỗi và tình dục,
như gái điếm trong nhạc kịch Jesus Christ Superstar; hay gần đây cuốn The Da
Vinci Code của Dan Brow đã tiểu thuyết hóa Mary chỉ với khía cạnh giới tính và
dục tính.
6. Tổng cộng các sách Phúc Âm trong Tân Ước là 27 cuốn.
7. Những văn bản tìm thấy sau này viết bằng tiếng Cóp-tích, là tiếng Ai Cập viết
bằng mẫu tự Hy Lạp.
8. Lần theo manh mối của thánh kinh thì trái đất và Adam đã xuất hiện khoảng
6,330 đến 6,576 năm, vào thời điểm 4,416 năm trước Công nguyên.
21/4/2008Đặng Thơ Thơ
.jpg)



.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét