Cần thêm một dấu hỏi
cho độc giả Việt?
(Với Mùa mưa ở Singapore của Linh Lê)
Tôi xin được bắt đầu với cuốn sách được gọi là “tiểu thuyết
triết lý” mang tên La Nausée (Buồn nôn) của Jean-Paul Sartre.
Với Buồn nôn J-P Sartre đã được trao Nobel Văn học
năm 1968. Nhiều người nghĩ đến Sartre là nghĩ đến chủ nghĩa hiện sinh
(existentialism[e]), và Buồn nôn chính là cuốn sách gối đầu giường của
hiện sinh.Linh Lê Vào những năm 1960-70 ở miền Nam có phong trào chạy
theo hiện sinh. Trước đó mươi năm, phương Tây cũng rộ lên phong trào hiện sinh,
khi lớp lớp thanh niên muốn tìm đến một lối sống tự do, phóng khoáng hơn. Đó là
lúc tác phẩm Buồn nôn của Sartre được Phùng Thăng dịch và An Tiêm in
lần đầu năm 1967 (dù tác giả hoàn thành nó từ tận năm 1938). Việc dịch một cuốn
tiểu thuyết triết lý của một kỳ nhân nước Pháp đã làm điên đảo cả miền Nam.
Sau 1975, những năm 1980-90, trào lưu hiện sinh cũng lan rộng, nhất là trong giới
trí thức cả nước.
Khoan hãy nói về việc người ta cho rằng chủ nghĩa hiện sinh
có từ thế kỷ XVII với Pascal Blaise, qua Kierkegaard rồi Nietzsche, Heidegger…
hay là hai trường phái hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần; cũng như là J-P
Sartre Sartre tự nhận mình là nhà hiện sinh nhưng cũng chính là người rất ham hố
chủ nghĩa Marx. Trước hết xin cùng tìm hiểu hiện sinh là thế nào và, sao việc
Sartre “buồn nôn” lại liên quan tới hiện sinh. Xin đến với cái khái niệm và
khái quát về hiện sinh do Trần Thái Đỉnh đưa ra trong cuốn Triết học hiện
sinh (in đậm hay gạch chân là tôi nhấn mạnh):
Nội dung của triết học Hiện Sinh không phải là con người phổ
quát, con người viết hoa của Aristote, mà là con người có xương có thịt đang
sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai đề tài
chủ yếu của triết học Hiện Sinh.
Triết học Hiện Sinh xây dựng trên chủ thể tính, không coi con
người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ như trong triết học cổ điển nữa mà coi
con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá
trị tùy quan điểm của mỗi người.
Con người hiện sinh là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào
sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình.
Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tự do lựa chọn, tự do quyết định.
Tự do ở đây là dám là mình. Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở trên bảo sao
tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống như một sinh vật,
chưa sống cái kiếp người của tôi. Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để sinh tồn, sống
như cây cỏ đó, Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi
là tầm thường. Và con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường đó thì phải vượt
lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique). Độc đáo ở đây không có
nghĩa lập dị mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt
chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc
đáo là tự xác định nhân vị của mình.
Chắc rằng mọi người đang sốt ruột muốn tôi đề cập ngay
vào Mùa mưa ở Singapore nhưng mà tôi vẫn cứ phải tiếp tục với Buồn
nôn cái đã.
Đây là một câu trong Buồn nôn (hãy chú ý, Sartre đã
viết hoa từ “buồn nôn”):
Tôi thấy quanh tôi những mầu sắc quay lòng vòng, một cách chậm
chạp, tôi muốn ói. Và như vậy đó: kể từ đó, Buồn Nôn tóm lấy tôi, quyết
không rời.
Buồn nôn đem đến cho chúng ta điều có thể gọi là văn
chương kết hợp với triết học về hiện sinh. Cái “giọt cà cuống” (từ của Hoàng Ngọc
Hiến) của hiện sinh là angoisse (trạng thái “âu lo/ bồn chồn/ lo lắng
không đâu/ sợ hãi vô cớ”, rất khó dịch ra tiếng Việt [dù tôi ưa từ “bồn chồn”
hơn cả]. Có nơi dịch là “xao xuyến” e không ổn). Nhưng mà, cái gọi là âu lo,
angoisse, ở triết gia người Đức Martin Heidegger là về hư vô; còn ở Sartre là về
hiện hữu. Đối với một con người cô đơn, hoàn toàn cô đơn, thì không phải là sự
sợ hãi hư vô, mà là sợ hãi hiện hữu.
Tinh thần “Buồn nôn” của Sartre là gì? Ông đã viết
trong Buồn nôn như định nghĩa:
Tout existant nait sans raison, se prolonge par faiblesse et
meurt par rencontre.
(Mọi hiện hữu đều phi lý, kéo dài do yếu đuối, chết vì ngẫu
nhiên)
Phi lý, đó là nhận thức về ý nghĩa cuộc sống của Buồn
nôn. Con người là một hiện-thực-ngẫu-nhiên. Tác phẩm Buồn nôn lúc ban
đầu cũng được Sartre đặt tên là Ngẫu nhiên (factum sur la contingence).
Tôn thờ hiện sinh, nên vào năm 1946 Sartre đã viết tiểu
luận nổi tiếng: “L'existentialisme est un humanisme” (“Chủ nghĩa hiện sinh là một
chủ nghĩa nhân bản”).
Thưa rằng, tôi đang nói về Buồn nôn nhưng mà cũng
là đang nói về Mùa mưa ở Singapore đấy. Nó có đầy đủ mọi yếu
tính của “Buồn nôn” và của hiện sinh.
Nhưng mà, trước khi vào “Mùa mưa” cũng xin quý vị gặp gỡ một
nhà thơ kỳ lạ, người Việt, ở miền Bắc. Xin hãy nghe đoạn thơ này:
Anh chưa đến hai mươi mà thấy mình già lắm
Sống thường trực của anh là lợm giọng
Chán chường muốn mửa cuộc đời ra
Mửa cả tiếng chim mửa cả màu hoa
Anh nhìn đâu cũng thấy điều đã quá nhiều lần nhìn thấy
Cả những con người cũng lặp đi lặp lại thành thiu
chảy
Anh quên dần kỉ niệm về sự mát tươi
Bất cứ cái gì cũng giống như miếng thịt hộp đã ôi
Có lúc anh căm hờn bọn làm tâm hồn anh chưa non mà đã cỗi
Bỗng sằng sặc cười lên: Cả sự căm hờn cũng cũ rồi, già nua
hàng triệu tuổi
Trong tay một cô gái tóc vàng một đêm anh tưởng mình khám phá
lại tình yêu
Sáng mù sương dậy não nề thấy những cái hôn cũng đã mốc meo
Hàng triệu tuổi trẻ như anh mỗi anh đều cô đơn như một sinh vật
từ chòm sao Thiên Nga đầu thai lạc
Trời, đất, cây, người đời với anh đều xa lạ, khác
Anh tự biết mình là tình cho của rỗng không
Mà gân anh săn mà máu anh hồng
Đó là những câu thơ khủng khiếp trong đoạn 3 của phần I mang
tên “Nơi gừ” khét tiếng (được chú thích: “Chữ NGƯỜI bị phá tung ra và chắp lại
thành NƠI GỪ”), trong bài thơ “Ta nhìn trời đêm nay và ta đọc” được tác giả viết
vào tháng 5 năm 1969. Tác giả nổi tiếng một cách kinh dị đó là Việt Phương (lúc
ấy là Thư ký riêng của Thủ tướng Chính phủ VNDCCH); tập thơ gây kinh hãi khắp
miền Bắc XHCN ấy mang tên Cửa mở, được xuất bản năm 1970.
Vậy là không thể nói miền Bắc lúc đó là một cô đảo. Cùng thời
với những cơn “Buồn nôn” rầm rộ ở miền Nam thì miền Bắc cũng có cơn “Buồn mửa”
khủng khiếp, cũng có “văn học hiện sinh” của mình.
Vâng, tôi đang muốn nói tới cái “tinh thần hiện sinh” hiển hiện
rõ nét trong Mùa mưa ở Singapore. Tiếp nối dòng chẩy “Buồn nôn” từ những
năm 1960 ở Việt Nam.
Các nhân vật ở đây đều mang tinh thần ấy.
Từ một nhân vật phụ:
“Minh Kha khái tính, cuộc sống với áp lực về tiền
bạc và sự phân biệt rõ nét giữa các tầng lớp xã hội ở Sing khiến
nó bức bối.”
Để một nhân vật chính đưa ra kết luận:
“Đất nước, nhiều khi là sự chạy trốn của con người.”
“Cuộc sống nhiều lúc chỉ là một quá trình dài của
sự bế tắc và bất lực. Người ta cứ đi kiếm tìm hoài sự giải thoát,
mà tìm không ra…”
Cái “Buồn nôn” kiểu Sartre hiện ra như giăng lưới, các thực-tại-hiện-sinh
cả vô thần lẫn hữu thần. Có lẽ ít ai để ý đến những câu thế này trong cuốn sách
của Linh Lê:
“Bố lại hỏi những câu hỏi quen thuộc, tôi lại trả
lời những câu hỏi như đã được lập trình sẵn.”
“Những chiếc thuyền cứ đưa khách du lịch đi vòng quanh
sông, rồi lại đưa về.”
“Nơi đâu cũng thấy nặng mùi “công nghiệp hóa”.”
“Nhiều lúc nơi đây cho tôi cảm giác như mình đang đứng
trên một mô hình đồ chơi hiện đại, mà chẳng biết xoay vần thế nào
để có thêm nhiều cảm hứng.”
"Người ta thờ Phật để mong sự giải thoát. Tôi
cũng theo Người, sao tôi mãi lơ lửng giữa những cơn ác mộng và một
thực tại mà ánh sáng mặt trời không bao giờ chiếu đến?”
“Hôm nay lại một thằng bạn người Việt của em bị quản
lý công trường đánh cho một trận nhừ tử, chỉ vì nó bị mệt, và
không đủ sức làm phần việc của ngày hôm nay. Em phát ốm với đất
cát, xi măng và những viên gạch thô kệch ở đây.”
“Đêm đến, tôi rủ bác Cheng ra chùa, ngồi uống những
cốc rượu trắng, nói với nhau về hội họa với thế tục, nói cả về
Phật giáo, rồi cuối cùng ai cũng im lặng thở dài, ngao ngán cho cái
phận buồn tẻ, leo lắt qua ngày của mình”.Bìa tác phẩm “Tớ không được lựa chọn gia đình cho mình, và càng thê thảm
hơn nếu để ai trông thấy nó. Chỉ có thể tự biết được rằng, ngôi nhà đó là một địa
ngục ma quái”.
Cú “Buồn nôn” này mới ghê rợn làm sao:
“Anh ta lại cười, giờ tôi mới để ý anh bạn cười theo
thói quen.”
Cảnh ân ái ở “khu công nghiệp” Geylang thêm một khắc họa sắc
nét:
“Bàn tay lão luyện và có vẻ sạm màu đi vì “hoạt
động” nhiều không làm tôi cương cứng đến độ sung mãn, khi tôi đi vào
trong, âm hộ cô tiết ra những chất nhờn lạnh buốt, và tiếng thét mang
đầy sắc thái giả tạo.”
Một cõi “Buồn nôn” đeo bám con người đến tận già:
“Các cụ già của tôi, bao nhiêu ngày tháng trôi qua
rồi… vẫn chỉ có quyền chi phối duy nhất với những quân cờ bé nhỏ,
vô hại.”
Cái thực tại của địa lý cũng như thể là mồi câu lý tưởng cho
tác giả khai triển thế giới hiện sinh “Buồn nôn” đến mức “quây kín” của mình:
“Từ ô cửa sổ nhỏ phòng tôi, có thể nhìn thấy một
góc thành phố, chỉ toàn là những tòa nhà cao tầng, lung linh bởi
ánh điện vàng đỏ. Sao đất nước này xét cho cùng cũng chỉ như vậy
thôi.”
“Đất nước bé nhỏ, tôi đi hết các nơi ở Sing chỉ chưa
đến một ngày.”
“Nhiều khi giữa những làn khói thuốc, tôi nhớ đến
những gương mặt xung quanh mình, lại càng thấy trống rỗng hơn.”
“Vài ba giọt mưa rớt xuống, xác lá bay tứ tung cả một khoảng
không gian tối mờ, heo hút.”
Cái “angoisse cà cuống” rõ nhất trong tác phẩm, gay cấn thay,
lại hiện lên lúc nhân vật nữ chính đang ân ái (được đặc tả trong những tiếng
rên), cũng là “cảnh nóng” duy nhất trong “bộ phim” này:
“Cô ấy bất giác quay mặt sang một bên, và rên lên những âm
thanh lạc giọng...”
“Tuyên thở hổn hển thành tiếng, cô ấy lại rên lên, những
thanh âm nhạt màu.”
“Tuyên ưỡn người lên, hơi thở gấp gáp, nói không thành tiếng,
rồi lại quay mặt sang một bên, rên lên những thanh âm khó hiểu.”
Có điều lớn là tác giả đã xây dựng nên một số nhân vật “hiện
sinh dấn thân” thực sự, như người ta có nói về hiện sinh với cái concept gọi là
“to overcome itself to become itself” (Tạm hiểu: vượt qua nó để trở thành chính
nó”).
Từ cái thực tại “Buồn nôn” định mệnh của những: “Đôi mắt
nhỏ bé”, “Sự kiêu hãnh tự kỷ” (Ý này lặp lại liên tục trong cuốn
sách), họ muốn “overcome” ra sao?
Trước hết là “overcome” trong ước muốn:
“Câu chuyện của cuộc đời tôi từ trước đến giờ là một
câu chuyện mang sắc màu nhàn nhạt, nhưng đan xen rối rắm. Tôi thèm một
cái gì mãnh liệt xuất hiện, kéo mình ra hẳn cái bầu khí quyển
này, tất cả những câu chuyện và những mối quan hệ này…”
Rồi đến hành vi:
“Đừng bao giờ khóc trước mặt người khác, nếu phải khóc, hãy
khóc trong mưa.”
Và là tư tưởng:
“Thế nào là thật? thế nào là dối? Dẫu sao chăng nữa, từ nhỏ đến
giờ, tôi được nghe, được chứng kiến quá nhiều sự thật rồi, mỗi lần nhớ tới vẫn
khiến tôi nổi da gà và muốn bỏ chạy, mỗi lần nhớ tới vẫn thấy mình khắc khoải
trong vô vọng.”
Kinh nhất là trong cảnh người cha của Minh Tuyên đánh xác vợ
(đây có lẽ là cú “overcome” kiểu “ác dâm” khá độc ở những típ người nhiều ẩn ức,
bất lực trước hoàn cảnh “Buồn nôn” của mình và xã hội, mà những người như họ
không ít):
“Ông ấy lôi cái roi sắt hay đánh mẹ trước đó, ông ấy lại đánh
mẹ lần nữa, lần này chỉ đánh được cái xác thôi, không còn tiếng van xin khóc
lóc thảm thiết nữa. Ông vừa đánh vừa gào to “đồ dâm đãng”, “đồ đĩ thõa”, “sao
mày không chết sớm đi”, hai chị em em ngồi ở một góc và ôm nhau khóc, hết lời
xin ông ấy dừng lại, nhưng ông cứ đánh vào cái xác đấy cho đến khi cả mặt, tay
chân và cơ thể mẹ em bật ra máu. Sau đó, cha lôi em ra, đưa cho em tờ giấy vẽ,
và bắt em vẽ lại gương mặt của mẹ lúc đó, phải vẽ chính xác hiện trạng lúc đó.”
Vậy, họ muốn “become” thế nào?
Đây, là cú “become” của một gái bao:
“Thì tôi đúng là “gái” mà. Có điều tôi khác họ. Tôi
sẽ là người chọn khách.”
Tình yêu “vô điều kiện” cũng là một sự dấn thân để “become”:
“Buổi chiều màu xám nhạt kết thúc trọn vẹn bằng một nụ hôn,
tê dại và nồng nàn, đồng thời mở ra một chương mới trong cuộc đời tôi, từ nay về
sau, tôi biết cuộc sống của mình sẽ hoàn toàn thay đổi. Tôi rạo rực, hồi hộp,
xen lẫn niềm hạnh phúc đến nghẹt thở. Từ nay về sau, tôi biết đây là tình yêu lớn
nhất và cuối cùng trong đời mình.”
Điều quan trọng, chúng ta thấy tác giả đã ngầm đưa ra một cuộc
hiện sinh “become” đích đáng: “hiện sinh vượt ngục”. Những cuộc “vượt ngục” khá
ngoạn mục, có thể nói là độc đáo, hay còn có thể nói là chưa từng có trong văn
học Việt.
Như là cái quan niệm tình yêu như gió:
“Yêu đương ở đời là gió. Nó chẳng mất đi và cũng chẳng theo
chân người lâu dài. Nó sẽ tan biến khi ta cứ say đắm mà níu giữ, và sẽ quay lại
khi ta chẳng mong đợi.”
Đến, hay đi, cũng là cả-cuộc-ngẫu-nhiên (Ha, rất là
“contingence”). Ấy thế mà, để đến với tình yêu, người ta cũng phải “vượt ngục”,
để đến với “cứu rỗi” chăng:
“Tuần tới chúng ta lại chơi tiếp, trận cờ hôm đó sẽ hay hơn
hôm nay, vì cô đã phá được một nhà tù trong tâm rồi.”
“Tất cả những cảm xúc yêu đương thế này, tôi nghĩ ai cũng từng
đi qua ít nhiều. Và cái thời khắc ấy, tôi tin ai cũng từng ít nhất một lần mong
nó kéo dài mãi! Chỉ cần một lần như thế, bất cứ ai trong chúng ta, cũng từng là
người rất tử tế.”
Thế rồi, để chia tay một tình yêu, người ta cũng phải “vượt
ngục”:
“Cô thắng rồi. Trong tâm cô chẳng còn lại nhà tù nào cả, chỉ
có một cái hồ rất sâu thẳm mà thôi.”
Giữa hai cuộc “vượt ngục” ấy, phải chăng “người đời” cần phải
suy nghĩ lại về cái quan niệm tình yêu như địa ngục của mình?
Thậm chí, đáng kể nhất còn phải là những cú “vượt ngục” kiểu
tự sát oanh liệt như một “chiến sĩ hiện sinh” của cô gái người Việt, Thúy Quỳnh,
hay nhất là của mẹ Minh Tuyên, một trong những bà mẹ người Việt đau thương nhất.
Tự tử, thật sự là một vấn đề triết học nghiêm túc, nhất là đối
với các nhà hiện sinh luận. Đó là một cú “overcome” để “become” một cách vĩ đại,
một trải nghiệm tao nhã nhất đời, khi mà trong cuộc dấn thân bất hủ của hiện
sinh, có lúc người ta còn sẵn sàng phớt lờ hay coi thường cả vũ trụ và Thượng Đế.
Với cuốn tiểu thuyết thứ hai này, Linh Lê đã bước lên một bước
tới triết lý.
Từ triết lý tâm linh:
“Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành. Cái này phát
sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành.
Cái này diệt thì cái kia diệt.”
“Đừng tạo ra bất cứ nhà tù nào trong tâm mình, sẽ
thấy thanh thản hơn.”
Đến triết lý xã hội và đời sống:
“Bọn người Việt Nam, cả đàn ông lẫn đàn bà, đều có máu phụ
tình.”
“Cái sau cùng của mọi điều trong cuộc sống, rất có thể
là…trống rỗng. Cái ta có được ở đời chỉ là cảm giác.”
Và, hãy nghe đây triết lý về tình yêu:
“Hãy yêu ai đó bằng một trái tim trống rỗng.”
Thưa rằng, quẻ Hàm, quẻ bàn về tình cảm nam nữ luyến ái
trong Kinh Dịch, cũng đã đề xuất hai chữ “hư tâm”.
Ấy là tôi vừa nói về cái mối liên quan giữa Mùa mưa ở Singapore với Buồn
nôn của Sartre và “buồn mửa” của Cửa mở. Có điều “angoisse” trong tôi
là sao tác giả không lao thẳng vào tâm linh độc giả Việt mà thêm một dấu hỏi
cho nhan đề, để nó thành “Mùa mửa ở Singapore” thì đột biến biết bao, thức
tỉnh chừng nào.
Hay là chúng ta được quyền nén mình chờ đợi cho mùa sau, một Mùa
mửa ở Sài Gòn [1] sẽ ra đời?.
Chú thích:
[1] Tác giả Linh Lê, sinh năm 1986,
đã từng du học tại Malaysia và Singapore, nay sống và làm việc tại
Sài Gòn.
22/8/2011 Đặng Thân
22/8/2011
.jpg)


.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét