Sự giống nhau trong tác phẩm
văn chương và sự hời hợt
của nhà
phê bình
Gần đây, dư luận văn học xôn xao vì sự trùng hợp của một số chi
tiết trong hai truyện ngắn: “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư và “Dòng
sông tật nguyền” của Phạm Thanh Khương (Văn nghệ quân đội số 643-644, tháng
4/2006). Chúng tôi xin giới thiệu một bài viết vừa gửi đến talawas về đề tài
tranh luận này.
talawas
Những ý kiến về sự “hao hao” giống nhau giữa “Cánh đồng bất tận”
(CĐBT) của Nguyễn Ngọc Tư và “Dòng sông tật nguyền” (DSTN) của Phạm Thanh
Khương đã làm lộ ra sự hời hợt của nhà phê bình và tạo nên sự hoang mang không
đáng có cho bạn đọc.
Đúng là hai truyện ngắn này na ná về cốt truyện. Một người đàn ông sông nước, bị
vợ bỏ, từ đó đâm ra thù hận đàn bà, ăn ở với nhiều người đàn bà khác rồi vứt bỏ
họ, để rồi chính con gái ông ta lại bị hãm hiếp, như là nhân quả hành động của
ông ta. Nhưng Nguyễn Ngọc Tư và Phạm Thanh Khương đã xây dựng cốt truyện ấy
thành hai tác phẩm có những đặc điểm rất riêng, không thể nói tác phẩm nào giống
tác phẩm nào.
Bối cảnh hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau: CĐBT lấy bối cảnh đồng bằng, sông
nước Nam Bộ. Người đàn ông trong truyện làm nghề nuôi vịt thả rong. Chất Nam Bộ
là đặc sắc trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư. Đặc điểm thẩm mỹ ấy thể hiện ở việc
miêu tả khá thành công bối cảnh cánh đồng, sông nước, nghề nuôi thả vịt rong,
cùng với vốn từ, cách nói năng Nam Bộ và tính cách con người Nam Bộ. DSTN lấy bối
cảnh sông nước Bắc Bộ, quê của tác giả. Phạm Thanh Khương thổ lộ: “Tôi sinh ra ở
Thái Bình. Dòng sông được đề cập đến trong tác phẩm là sông Sứ. Gia đình tôi là
gia đình thuyền chài nhiều đời. Đến đời tôi mới lên được bờ và lưu lạc qua rất
nhiều nơi. Tôi chính là chú bé con ông thuyền chài”. Nguyên mẫu nhân vật
Tôi là chính tác giả và gia đình tác giả. Chất Bắc Bộ cũng là nét rất riêng
trong DSTN, thể hiện ở việc miêu tả nghề chài mò rất chân thực, ở vốn
từ và kiểu ngôn ngữ Bắc Bộ, tính cách Bắc Bộ của nhân vật cùng với cái không
gian xã hội Bắc Bộ.
Về tư tưởng, hai câu chuyện thể hiện những chủ đề, tư tưởng rất khác nhau. Nguyễn
Ngọc Tư nhấn mạnh đến tư tưởng nhân quả: “sự trừng phạt, sự báo ứng” của ác
nghiệp. Ông bố vì thù hận vợ đã hành xử ác với những người đàn bà khác, để rồi
con gái ông bị hãm hiếp ngay trước mắt ông, như một sự báo ứng, sự trừng phạt.
Nguyễn Ngọc Tư kết thúc truyện bằng triết lý tình yêu thương, xoá hận thù để
hoá giải nhân quả. Nhân vật Tôi không thù oán, mà nghĩ đến tương lai của tình
yêu thương.
Phạm Thanh Khương không lấy báo ứng nhân quả làm tư tưởng chủ đề của tác phẩm,
cũng không cấu trúc truyện theo tư tưởng này, trái lại Phạm Thanh Khương miêu tả
sâu hơn, thực hơn về lòng nhân ái Việt Nam. Người đàn bà phụ chồng là một người
bất hạnh, hai lần bị lừa, bị phụ bạc, vẫn cố gắng sống tốt, nhưng yếu đuối
không tránh được sa ngã. Cả hai lần sa ngã đều do “sự khốn nạn ẩn chứa sau vẻ mỹ
miều, ngon ngọt“ của đàn ông, và hai lần tìm đến cái chết để xoá nỗi ô nhục.
Người đàn bà ấy dù đã chết vẫn để lại thư nhờ em (cô Hến) tìm cách trông nom
con và người chồng đã vớt cô (phần 5). Như vậy Phạm Thanh Khương đặc biệt miêu
tả nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam do hoàn cảnh sống gây ra, cùng với
những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của họ (nhân vật Mẹ có dáng nét của Người
con gái Nam Xương).
Cách thể hiện của hai tác giả cũng hoàn toàn khác nhau. Nguyễn Ngọc Tư miêu tả
căng thẳng, quyết liệt và cực đoan. Bối cảnh xã hội, đồng bằng, sông nước Nam Bộ
đã bị Nguyễn Ngọc Tư cắt xén hết bản chất hiện thực, để chỉ còn lại một vùng
hoang dã như thời mông muội, ở đó không có đạo lý, không có luật pháp, không có
tình người. Nhân vật hiện lên trần trụi, hiện sinh. Con người hành xử theo bản
năng nhiều hơn là ý thức xã hội. Nguyễn Ngọc Tư cố viết CĐBT như kiểu một tác
phẩm tư tưởng. Đấy là chỗ thất bại, là chỗ non tay của Nguyễn Ngọc Tư.
Nguyễn Ngọc Tư chưa đủ trình độ vươn tới sự sáng tạo có tính tư tưởng.
Phạm Thanh Khương không viết như vậy. Cách viết của Phạm Thanh Khương hiền
lành, quen thuộc và chân chất hơn. Không khai thác cực đoan cái ác, sex và sự
hoang dã bản năng như là thử nghiệm sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư. Bút
pháp của Phạm Thanh Khương là bút pháp hiện thực quen thuộc trong văn chương Việt
Nam, chủ yếu là tái hiện hiện thực, không hư cấu, không xây dựng tác phẩm trên
hệ thống tư tưởng, cũng không có ý thức vươn tới tính tư tưởng cho
tác phẩm. Cách viết có hậu. Người đọc sẽ thấy truyện của Phạm Thanh Khương “thật”
hơn, sẽ không bị sốc như truyện của Nguyễn Ngọc Tư.
Những ấn tượng để lại trong lòng người đọc của cả hai truyện cũng rất khác.
CĐBT để lại một nỗi u ám mênh mang về hiện thực. Người đọc có cảm tưởng rằng ở
miệt sông nước Nam Bộ những “thân phận làm đĩ“ nhiều quá. Cái ác thống trị
trong cuộc sống, trong tim con người và cả trong cách khai thác chất liệu của
tác giả. Tình người vắng bóng trong mối quan hệ gia đình và đồng loại. Thay vào
đó là những hành xử bản năng của loài thú hoang dã. Con người tuyệt vọng trước
“sự trừng phạt” của cái ác và sự hoang dã. Chính những điều này đã gây không ít
sự phản đối trong độc giả. “Tôi như cảm thông sâu sắc với người cha của Nguyễn
Ngọc Tư khi ông đọc bản thảo của con mình đã im lặng... Nguyễn Ngọc Tư của ông
đã là một cơn gió mát rượi của đất phương Nam bỗng trở thành cơn lốc, xoáy
lên, chướng lên trên cánh đồng bất tận thì ông đành phải im lặng và giấu sau đó
là một tiếng thở dài. Tiếng thở dài rất nhẹ mà tôi ngờ rằng một người rất nhạy
cảm như Nguyễn Ngọc Tư cũng có thể đã không nghe thấy, nhưng đó sẽ là một tiếng
thở dài bất tận nếu Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục thổi phồng lên, tiếp tục khai thác,
tiếp tục tô đậm phần ‘con’, phần cái ác, cái xấu, cái sex.” (Đỗ Hồng Ngọc, Tuổi
Trẻ, 31/11/2005).
DSTN không tạo ra những ấn tượng như vậy về hiện thực. Không có những “thân phận
làm đĩ” phải ray rứt. Người đọc sẽ cảm thương sâu xa cho tình cảnh người phụ nữ
lầm lỡ sa ngã trước những cạm bẫy của đàn ông. Tình người hiện lên sâu nặng
trong mối quan hệ vợ chồng, con cái. Cách hành xử của nhân vật không bị cái ác,
cái bản năng con vật hoang dã sai khiến. Trái lại, con người còn đấu tránh quyết
liệt để giữ lấy những giá trị làm người. Người mẹ đã phải hai lần tìm cái chết
để xoá đi những ô nhục do hoàn cảnh sống gây ra, dù phải chết đi nhưng và để lại
cái tình sâu nặng với con, với người chồng đã cứu vớt mình.
Hãy xem xét vài chi tiết thật giống nhau giữa hai tác phẩm. Trước hết là chi tiết
nhân vật Tôi có kinh lần đầu. Nương (CĐBT) kể lần đầu khi thấy máu chảy, “tôi
thụp xuống, bụm chỗ ấy lại. Thằng Điền bứt đọt chuối, tọng vào miệng nhai ngấu
nghiến, điên dại, để lấy bả rịt lại chỗ máu. Thuốc gò nghe nói cầm máu rất tốt,
cũng chẳng ăn thua. Hai đứa nhìn nhau khóc, tôi mơ thấy ngôi mộ của mình, như
chiếc giường giữa bốn bề sông nước”. Kể chuyện ấy Nương chỉ muốn nói đến tình cảnh
hai chị em phải tự học đủ thứ, có khi phải trá giá cao cho việc thấu đáo một điều
gì đó… Nhân vật Tôi của Phạm Thanh Khương kể: “Cái ngày đầu tiên tôi có tháng,
thấy máu tự nhiên chảy ra tôi lo đến thắt gan ruột. Tôi học cách người ta cầm
máu, vơ không biết bao nhiêu là lá, nhai rồi đắp đến mỏi cả mồm, căng cả bụng
nước, mà nó vẫn cứ chảy. Bực mình, tôi phải lấy cả một vạt áo cuộn nút lại mới
được. Tháng đầu tiên của người con gái tôi phải mất cả cái áo cánh trắng chĩn
chụm chắt bóp mãi mới có được… Giá tôi có mẹ thì làm sao tôi phải mất oan cái
áo như thế… Những lần như thế tôi giận mẹ lắm… giận thì giận tôi vẫn nhớ bà nhiều
lắm”.
Cả hai tác giả đều sử dụng cách cầm máu trong dân gian. Mỗi khi bị thương chảy
máu, người dân quê thường vơ nắm lá quanh mình bỏ vào miệng nhai, hoặc với tay
lấy nắm tranh mái nhà vò nát, đắp vào vết thương. Nhưng cách khai thác chất liệu
của hai tác giả rất khác nhau. Nguyễn Ngọc Tư chỉ rõ nhân vật của mình phải tự
học lấy kinh nghiệm sống một mình và phải trả giá cho kinh nghiệm ấy, còn Phạm
Thanh Khương dùng chi tiết có tháng của nhân vật để nhắc đến vai trò
của người mẹ, khơi lại những tình cảm mẹ con. Rõ ràng không thể kết luận rằng
hai tác giả giống nhau. Họ chỉ cùng sử dụng một kinh nghiệm dân gian, nhưng với
những mục đích khác nhau.
Chi tiết thứ hai là việc nhân vật Tôi bị hãm hiếp. Nguyễn Ngọc Tư miêu tả sự việc
Nương bị hãm hiếp ngay trước mắt người cha như một sự trừng phạt báo ứng của
cái ác do người cha gây ra đối với những người đàn bà. Còn Phạm Thanh Khương lại
miêu tả, sau khi đã hiểu rõ nỗi oan khiên và tình thương của mẹ, nhân vật Tôi bỏ
chạy khỏi nhà cô Hến, băng trên cánh đồng và bị bọn đánh dậm hãm hiếp. Việc ấy
xảy ra như một tai nạn khó tránh trong tình cảnh thân gái chỉ có một mình. Sau
đó cô gái đã trầm mình dưới sông, nằm ngay trong “mó bỏ mồi” của cha, giống như
mẹ cô ngày trước. Đó là một vòng tròn của kiếp nhân sinh, là thân phận của người
phụ nữ, trong những nỗi oan nghiệt do hoàn cảnh gây ra. Không có sự trừng phạt
nào cả. Trái lại chi tiết ấy nhắc cho người đọc về lòng nhân ái của người cha
lúc vớt và cưu mang mẹ cô gái, đồng thời, một lần nữa, lại đánh thức tình
thương con, tình người của người cha. Rõ ràng cách miêu tả, mục đích miêu tả và
hiệu quả thẩm mỹ, tư tưởng của hai tác giả là rất khác nhau. Sự việc một cô gái
thân cô giữa quãng vắng, gặp bọn lưu manh, bị hãm hiếp là điều thường thấy
trong cuộc sống. Hai tác giả cùng khai thác chi tiết ấy, vì thế không thể nói
hai tác giả giống nhau.
Tôi đồng ý với nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn rằng “giống nhau về cốt truyện có thể
chấp nhận được”, và nhà văn Sương Nguyệt Minh có lý khi biên tập DSTN. Ông nói:
“Tôi nghĩ, trong văn chương cũng có những sự trùng hợp ngẫu nhiên, các số phận ở
những vùng đất, làng quê nhiều khi có sự gặp gỡ”. Người đọc cần đặc biệt chú ý
đến những khác biệt rất xa giữa hai tác giả Nguyễn Ngọc Tư và Phạm Thanh Khương
trong cách khai thác chất liệu, mục đích miêu tả, tư tưởng chủ đề và hiệu quả
thẩm mỹ của hai tác phẩm.
Những ý kiến cho rằng “những chỗ nào DSTN giống với CĐBT lại là chỗ được nhất của
truyện. Còn lại, chỗ nào khác hoặc vụng về, hoặc sáo, hoặc xử lý hơi văn chương
ô mai” (Phạm Xuân Nguyên), hoặc “nếu có hai truyện ngắn giống nhau ở chi tiết
thì buộc tôi phải nghi ngờ” (Đỗ Hoàng Diệu),“tôi thấy hai truyện hao hao giống
nhau” (Nguyễn Bình Phương)... chỉ là những nhận định cảm tính, xuất phát từ
cách đọc tác phẩm hời hợt, và một thái độ cực đoan nào đó trong việc thẩm định
tác phẩm. Những ý kiến như thế có thể xúc phạm rất nặng đến lòng tự trọng của
Nguyễn Ngọc Tư và Phạm Thanh Khương, và gây ra những ngộ nhận đáng tiếc đối với
người đọc.
Ở ta, người ta thường nói đến tính điển hình, tức là nhà văn miêu tả những sự
việc, những nét tính cách chung, có nhiều trong cuộc sống. Cả Nguyễn Ngọc Tư và
Phạm Thanh Khương đều không miêu tả điển hình mà miêu tả cái riêng, nhưng những
cái riêng ấy có mặt ở nhiều nơi trong cuộc sống xã hội Việt Nam hiện nay, thành
ra người đọc tưởng như có sự giống nhau.
Sự giống nhau trong môtip truyện, trong việc khai thác chung một nguồn tài liệu
là chấp nhận được. Những môtip “vào ra hợp tác, “ta nhất định thắng, địch nhất
định thua” đã trở thành những công thức trong nhiều tác phẩm văn học
giai đoạn 55-75. Điều quan trọng là hai tác giả Nguyễn Ngọc Tư và Phạm Thanh
Khương khác nhau hoàn toàn về cách thể hiện, ngôn ngữ, chủ đề, tư tưởng và cả
những hiệu quả thẩm mỹ. Điều ấy khẳng định giá trị ngòi bút của mỗi nhà văn.
Không nên vì thích cách viết của Nguyễn Ngọc Tư mà nặng lời xúc phạm Phạm Thanh
Khương (Phạm Xuân Nguyên bảo rằng những chỗ “Dòng sông tật nguyền” giống “Cánh
đồng bất tận” là những chỗ được nhất truyện, chỗ nào khác hoặc vụng về, hoặc
sáo).
Nam Cao đã lấy câu chuyện con chó của lão Vlaxốp (tiểu thuyết Người mẹ -
Gorky) xây dựng thành một chi tiết rất đắt trong “Lão Hạc”? Nguyễn Công Hoan đã
lấy chi tiết Jean Valjean cướp đồng hào của chú bé (Những người khốn khổ -
V. Hugo) xây dựng thành một chi tiết chủ đề trong “Đồng hào có ma”? Tố Hữu đã lấy
hình tượng lửa (“Elsa ngồi trước gương” – L. Aragon) xây dựng thành hình ảnh lửa
trong “Hãy nhớ lấy lời tôi”? Nguyễn Minh Châu mượn hình tượng Elsa và chủ đề tư
tưởng về cái đẹp tồn tại ngay trong thời bi kịch (bài “Elas ngồi trước
gương” – L. Aragon) để xây dựng hình tượng Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng,
cũng vậy chi tiết Lão Khúng (truyện “Khách ở quê ra” – Nguyễn Minh Châu) giúp
chị Huệ sinh nở cả khi chị đã “rúc thật sâu vào sau cái gốc cây, không phải cái
gốc cây bên đường mà một cái cây to tận trong sâu, lại có hòn đá bên cạnh che
khuất hết cả người” cũng “hao hao” chi tiết nhân vật Tôi giúp chị phụ nữ khăn
vàng sinh nở trong buị rậm (truyện Một con người ra đời – M. Gorky)…
Những trường hợp “hao hao” ấy phải đánh giá thế nào?
Tôi nghĩ cần phải đọc tác phẩm với thái độ trân trọng và bằng những phương pháp
thẩm định có tính khoa học để nhận ra cho được những sáng tạo của nhà văn. Cách
đọc cảm tính chỉ là cách đọc để giải trí mà thôi. Nó chứa đựng quá nhiều sự hàm
hồ chủ quan.
1/7/2006 Bùi Công Thuấn
1/7/2006
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét