Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Gửi thương về Huế 4

Gửi thương về Huế 4

Tập IV: Huế một thời xưa
28- TỰU TRƯỜNG NĂM CHÓT
Mùa khai giảng năm ấy sao buồn lạ. Không khí không nhộn nhịp, náo động như hai năm trước. Thật vậy, hai năm vừa qua, Huế cũng như toàn quốc đã sống những ngày lịch sử thì kỳ tựu trường hai năm ấy cũng không thể là tầm thường.
1945. Cách mạng vừa bùng nổ, kháng chiến chống Pháp anh dũng khởi sự ở miền Nam. Những ngày khai giảng năm ấy sôi nổi, náo nhiệt vô cùng, có thể nói là những ngày chưa từng thấy từ trước đến nay ở thành phố Huế. Tôi còn nhớ rõ hôm rời quê vô Huế, thong dong lại trường Khải Định (Quốc Học) thì trước cửa trường đã thấy mấy anh Giải Phóng Quân nghiêm chỉnh đứng canh. Trên con đường Lê Lợi chạy dọc sông Hương ngang trước cổng trường thì từ nhà ga đến cầu Trường Tiền một dãy dài bộ đội đang ngồi đợi tàu lên đường "Nam tiến". Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu...bài hát của Lưu Hữu Phước chưa khi nào được vang dội đậm đà thấm thía như lúc nầy. Những thanh niên ấy lên đường đầy nhiệt khí, nhưng biết bao người sẽ trở về lại làng xóm quê xưa. Ngắm nhìn mấy anh Giải phóng quân trẻ măng, không lớn hơn mình bao lăm, tôi tuởng tượng đến cảnh chia ly khi họ từ giã gia đình, làng xóm mấy hôm trước, lìa bỏ tổ ấm tình quê để đi bảo vệ non sông. Tôi chạnh nghĩ đến bản thân mình, ngay hôm qua đã sống những phút gần tương tự, gần thôi vì tôi không nhập ngũ. Hồi ấy, tôi phụ trách một đội thiếu niên, thiếu nữ ở hai làng Mỹ Cang, Mỹ Xuyên, huyện Phong Điền. Hôm qua tôi phải từ giã bọn nhỏ lên tàu vô Huế học. Chúng nó tự động lên ga Mỹ Chánh tiễn đưa tôi. Với một tình thương vô tư trẻ dại nhưng thành thật biết bao, bọn nó sụt sùi nước mắt khi tàu chuyển bánh làm tôi cũng không cầm được giọt lệ. Những khách đồng hành ngạc nhiên hỏi: "Em còn nhỏ mà đã tình nguyện nhập Giải Phóng Quân rồi à?" Và văng vẳng mãi bên tai tôi câu hát Đoàn giải phóng quân một lần ra đi... Bây giờ họ ngồi cả đó, nghe nói từ tối hôm qua, người gục đầu ngủ trên bao, kẻ ăn nắm cơm nguội có lẽ do bà mẹ bới gói, có anh trầm ngâm nghĩ ngợi, chắc đang hồi tưởng đến thân thích gia đình hay đang tưởng tượng trận địa sắp giáp chiến nay mai. Ngày nay, hơn bốn mươi năm sau, hình ảnh những người chiến sĩ mang quân phục của thời đại mới vẫn còn in rõ trong trí óc tôi. Năm ấy, trường dọn vô trong Đại Nội : học sinh sáng học chữ, chiều đi tập quân sự, khai trương một kỷ nguyên mới.
1946. Sau Hiệp định Sơ bộ, vào kỳ khai giảng thứ nhì thì quân đội Pháp đã trở lại Huế. Khắp nơi, trước đồn lính, bên góc chợ, đằng đầu cầu, ở đâu cũng có hai quân binh Việt và Pháp đứng canh cạnh nhau. Bên phía Việt Nam thường là Dân quân Tự vệ. Thường ta đã cố ý chọn những anh đừng quá thấp cho đứng đối diện với tên lính Tây. Ở đầu cầu Trường Tiền, trước nhà hàng Morin Frères, nơi đông người qua lại, chiều nào cũng có một anh Tự vệ cao to lực lưỡng, mang súng đi lại rất là oai vệ. Hồi ấy một quân nhân Việt Nam ăn mặc chỉnh tề, nai nịt gọn ghẽ, súng trường trên vai, súng lục giắt lưng, là cả một mối hãnh diện cho dân chúng, nhất là cho giới học sinh trẻ tuổi như bọn tôi. Thỉnh thoảng một chiếc xe Jeep chở hai sĩ quan Việt và Pháp đi tuần tiểu, dàn xếp những bất bình xảy ra hằng ngày khắp thành phố vì ai cũng biết lúc ấy tình hình rất căng thẳng. Dạo ấy tôi ở nhà anh tôi cạnh cung An Định, nghĩa là rất gần trường Thiên Hựu, nơi tập trung người Pháp. Tối nào cũng có một toán Giải Phóng Quân lại ngủ trong nhà, sẵn sàng chiến đấu. Tối nào các anh cũng mở súng chùi đi chùi lại thành thử tôi cũng chẳng học hành gì được. Năm ấy trường Khải Định vẫn chưa mở cửa lại và học sinh phải qua học bên trường tiểu học Thượng Tứ. Nói là đi học chứ suốt mùa thu, đầu não đâu còn vấn vương chữ nghĩa . Các hội Hướng đạo tuy không còn nữa, các anh em vẫn tiếp tục gặp nhau học võ, truyền tin và nhiều bạn đã bắt đầu hoạt động trong các ban trinh sát hay liên lạc. Tình hình càng ngày càng trầm trọng cho đến đầu tháng 12, dân chúng được yêu cầu tản cư, ngay trước ngày khởi chiến...
Năm 1947, cảnh tượng hoàn toàn khác hẳn. Đến ngày tựu trường thì quân đội viễn chinh Pháp đã chiếm đóng thành phố Huế, mặt trận lùi về miền đồng quê hay ven rừng núi. Trường Khải Định vẫn còn bị quân đội trưng dụng, học sinh phải lại học trường Lê Lợi tức là trường Chaigneau cũ. Đối với tôi, trường nầy chẳng xa lạ vì hồi nhỏ đã lết ghế đây mấy năm. Bây giờ đi ngang trước trường, cảnh vật thấy không thay đổi gì lắm. Thiếu chăng là mùi bánh mì nóng hổi thơm phức từ nhà hàng Chaffanjon bay ra, mùi cà phê đen có vẻ ngọt ngào mà ông giáo viên môn Hán tự cứ đầu chiều là sai đem vô lớp một tách lớn. Năm ấy, ông giáo già đã nhường chỗ cho nhiều vị giáo sư trẻ tuổi. Tuy vậy, quang cảnh nhộn nhịp những năm qua không còn nữa. Thành phố im lìm, rầu rĩ. Hồi ấy nhà anh tôi dọn về trên bờ sông An Cựu, cạnh cầu Lò Rèn. Thường người ta bảo sông An Cựu nắng đục mưa trong, nhưng thật ra mưa càng nhiều, nước càng lên, đục ngầu cuồn cuộn sẵn sàng trào lên đường gây lụt lội. Nhưng trời không lạnh, học sinh thường mặc quần ngắn và đi chân không nên mặc sức lội nước. Cạnh nhà tôi có hai anh bạn, Phan Huy Tùng và Nguyễn Khắc Nhẫn, đều rất giỏi toán. Cả hai đều thi vào học đệ nhị khoa học A chuyên ngành toán, tôi thì đậu vào ban khoa học B nặng về vạn vật học. Chúng tôi là những học sinh mẫu mực, nghiêm túc nên hay đi lại với nhau khá thân thích. Chúng tôi thường gặp nhau để cùng học toán hay để đi dạo. Kỳ khai giảng năm ấy, đặc biệt có thêm hàng cô gái bán giấy, bút cạnh nhà. Từ cầu Lò Rèn đi dọc xuống theo bờ sông thì có một cái đường kiệt đối diện với Dòng Chúa Cứu Thế. Ở góc đường kiệt ấy và đường Bờ sông An Cựu (nay là đường Phan Châu Trinh) hết hè có dựng lên một cái chòi không vách, không phên, bên trong có một cô gái bán hàng.  Cả ba chúng tôi thường lại đấy mua dụng cụ mấy ngày đầu tựu trường. Lúc đầu thì mua thật, dần dần hết còn mua mà cô gái lại xinh nên chúng tôi cứ rủ nhau lại đó chuyện trò tán tỉnh. Cô gái trạc tuổi chúng tôi, hiền lành như cô gái Huế, thấy bọn trai mãi khen thì chỉ đỏ mặt, cúi đầu, có khi quá thẹn thì giả vờ sắp lại mấy tập giấy và cúi mặt xuống dưới quầy. Bên phần bọn tôi thì đứa nào cũng quá trẻ để nói lên một lời tỏ rõ cảm tình của riêng mình. Và cứ thế cho đến lúc khai giảng xa dần, chúng tôi ngày càng bận học, trời lại mưa lạnh nhiều hơn, chúng tôi ít còn lảng vảng lại nữa. Có lẽ khách hàng cũng thưa dần nên không biết vào lúc nào quán hết dọn ra. Sau nầy mỗi lần đi ngang qua đó tôi chỉ thấy cái chòi vắng tanh. Năm 1986, nghĩa là 38 năm sau, nhân lần đầu tiên về thăm quê cũ và là cũng là năm về dự Hội trường Quốc Học 90 năm, tôi không quên kiếm cách trở lại bờ sông An Cựu, viếng mái nhà xưa và thử tìm dấu vết cái chòi nhỏ thuở nào. Tôi đã từng viết tôi hơi tủi khi ngắm dòng sông vì chẳng có ai quen biết mình để nhận ra mình. Lẽ tất nhiên cũng chẳng có tin gì về cô gái bán hàng. Nhưng cô ấy, nếu còn sống, chắc cũng là bà nội, bà ngoại, con cháu đầy đàn. Tôi tự hỏi bây giờ nếu may mắn gặp lại cô ta, liệu tôi còn nhận ra nét mặt xinh xắn, đôi mắt trong sáng của thời trước không?
Năm 1947 là năm cuối cùng tôi sống cảnh tựu trường ở Huế vì qua năm sau tôi đi học trường Vô tuyến điện thuộc viện Đại học Sài Gòn và đi thẳng qua Pháp. Ở Paris có sông Seine, nước cũng dâng lên khi trời mưa nhưng không hẳn vào kỳ khai giảng như sông An Cựu. Trên bờ sông Seine có vô số quầy nhỏ bán sách, hình, tem,... nhưng không có quầy nào bán giấy, bút và nhất là không có quầy nào có cô bán hàng xinh xắn như cô gái Huế độ nào. Mấy chục năm sau, tôi còn đuổi tìm đôi mắt cô ấy như một chàng trai si tình.
Hắc Ký Ni Sơn mùa khai bút 1990
Đặc san kỷ niệm Quốc Học - Huế 95 năm 1896-1991
29- MỘT BỨC CHIẾU CẦN VƯƠNG
Nhân một bài phổ biến trong Tập san AFAO
Hội Người Pháp bạn Viễn Đông AFAO trong một tập san vừa qua (1) có cho phổ biến một bức chiếu Cần Vương thật - giả , một sử liệu chưa mấy ai biết, đóng góp thêm tài liệu cho một thời lịch sử của nước ta vào buổi ban đầu cuộc đô hộ Pháp.
Xin tóm tắt lại những biến cố quanh ông vua ái quốc triều Nguyễn nầy. Hoàng thân Bửu Lịch lên ngôi lấy niên hiệu Hàm Nghi ngày 2.8.1884 tức là ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân, lúc 14 tuổi, không đầy hai tháng sau Hòa ước Giáp Thân đặt nền đô hộ Pháp lên đất Việt Nam. Trước thái độ bất hợp tác của hai vị nhiếp chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, chính phủ Pháp bổ nhậm tướng Roussel de Courcy Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh kiêm Khâm sứ (2) muốn thôn tính cả Bắc kỳ lẫn Trung kỳ mà việc làm trước nhất là kiếm cách loại trừ hai vị nhiếp chính cùng các phần tử kháng chiến trong triều đình (3). Tướng de Courcy cầm quân từ Hải Phòng vô Huế, đòi gặp toàn thể Viện Cơ mật. Cả Tường lẫn Thuyết kiếm cớ thoái thác. Trước tình thế gay go, Thuyết ra lệnh tấn công quân Pháp ở Trấn Bình Đài (Mang Cá) và Toà sứ lúc đầu canh tư (1 giờ sáng) ngày 5.7.1885, tức là ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu. Suốt đêm quân ta đánh phá gan dạ nhưng vũ khí kém cỏi, đại bác ít công phá, cuộc phối hợp giữa các toán quân cũng hỗn độn nên đến sáng quân Pháp chỉnh đốn lại được hàng ngũ, phản công mảnh liệt, đốt phá doanh trại, giết hại thường dân. Có lẽ vào dịp nầy mà chiếc kiếm Thái A của vua Gia Long bị đánh cắp và đưa về trưng bày ở viện Bảo tàng Quân đội Invalides ở Paris. Bài vè Thất thủ Kinh đô kể lại sự kiện rất bi ai thống thiết.
Tránh thân cho khỏi súng Tây,
Mẹ con dắt chạy trời rày còn khuya.
Lao xao như cá trong đìa,
Tránh thân cho khỏi súng kia vào mình.
Thất bại trong cuộc đánh phá quân Pháp, Tường ra đầu hàng (2), Thuyết vào nội rước vua cùng Tam cung dời kinh thành ra Quảng Trị. Ngang đây, một số hoàng thân quan lại già yếu, phụ nữ có gia đình xin trở về lại Huế, còn lại các quan văn võ theo Thuyết phò vua lên Tân Sở, chuẩn bị một cuộc kháng chiến lâu dài. Chiếu Cần Vương hiệu triệu toàn dân hợp lực với đức vua được truyền ra ngày 13.7.1885 (2) dấy lên một phong trào chống Pháp khắp đất nước Việt Nam. Trong lúc quân Pháp càn quét, tìm diệt quân kháng chiến, vua Hàm Nghi từ Tân Sở lần lượt dời đi Bảng Sơn, qua Lào, về Ấn Sơn, Hà Tĩnh trước khi đi ẩn náu ở miền thượng du Quảng Bình. Nhưng đến ngày 1.11.1888 (3), vì Hiệp quản Trương Quang Ngọc và Suất đội Nguyễn Đình Trinh phản bội, một toán người Mường bắt vua nộp cho quân Pháp. Để bảo vệ vua, Thống chế Nguyễn Thúy và con trai út Thuyết là Tôn Thất Tiệp bị đâm chết. Vua Hàm Nghi lúc bấy giờ mới có 17 tuổi. Sau nầy, một đức vua khác, cũng vào tuổi ấy, đứng lên chống lại chính quyền Pháp và bị đày qua đảo La Réunion : vua Duy Tân. Phần vua Hàm Nghi thì bị đày qua Algérie, lấy vợ ở bên ấy, có một con trai và hai con gái, cho đến lúc băng hà ngày 4.1.1943 tức là ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Ngọ, ông rất mê văn chương và nghệ thuật Pháp.
Bức chiếu Cần Vương vừa phổ biến là một trong nhiều bức đã được phát đi khắp nơi. Theo Giáo sư Léon Vandermeersch, người đã dịch ra tiếng Pháp và phân tích chiếu chỉ nầy thì đây là một văn bản xác thực, viết trên một mảnh lụa rộng 57cm, dài 70cm, gồm có 266 chữ Hán sắp thành 10 cột. Về mặt trang trí, hai bên có hai con rồng bốn móng lẫn lộn với mây, ở giữa phía trên vờn lên một mặt trời; dưới là một đường viền trong ấy thấy có một cái quạt, một tập sách, một cái bầu của người hành hương. Nhiều ấn son xác thực văn bản: một ấn vuông Nghi Minh/ Bảo Ân, 11 x 11,5cm, chín ấn vuông đôi Hoàng/ Đế nhỏ hơn 1,8 x 1,8cm; ngoài ra còn có chín ấn tròn Phúc Minh/ Chi Ân đường kính 4,3cm.
Đại cương bức chiếu là một bản hiệu triệu kêu gọi kháng chiến chống Pháp. Lời lẽ khó hiểu đáng được phân tích. Chương trình dự định là lên đường đánh chiếm thành Gia định, nhưng vì Văn Tường phản trắc nên vua phải rút lui về đây. Bất chấp nhọc nhằn, vua gian nan liều chết qua Đức cầu viện (!). Trước mối thù đất nước, đau xót trước thời cuộc, vua kêu gọi dân quân quan lại đóng góp tiền của giúp nước, vua sẽ không quên ơn. Chiếu đề ngày 2 tháng 4 năm Hàm Nghi thứ 5, tức là ngày 6.6.1889. Vào lúc nầy, vua Hàm Nghi đã bị bắt và đày biệt xứ từ tám tháng nay. Theo Giáo sư Léon Vandermeersh thì rất có thể, như từ trước, Thuyết thừa mệnh vua thảo tờ chiếu nầy (1). Nhưng Thuyết đã qua Vân Nam cầu viện Trung Quốc vào khoảng tháng 8.1888. Vậy hoặc Thuyết cho phát chiếu chỉ từ bên Trung Quốc hoặc một vị đại thần nào khác trong Phong trào Cần Vương đã thảo trong lúc vắng mặt Thuyết.
Bức chiếu nầy thuộc tư liệu của gia đình Thierry d'Argenlieu (*). Gia đình nầy dính líu gì đến Việt Nam ? Georges Thierry d'Argenlieu vừa là một đô đốc thủy quân vừa là một tu sĩ Công giáo. Rất bảo thủ về chính trị lại muốn theo gương các đô đốc chinh phục thuộc địa ngày xưa (4), từ 16.8.1945 đến 5.3.1947, ông rời chủng viện nhậm chức Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Chính trong thời gian nhiệm kỳ của ông, nhiều sự kiện đáng tiếc đã xảy ra ở Việt Nam, khởi xướng một cuộc chiến tranh dài tám năm. Hiệp định Sơ bộ, ký ngày 6.3.1946 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại diện Hội đồng bộ trưởng Vũ Hồng Khanh và đại diện Cao ủy Pháp Jean Sainteny, nhắm mục đích tạo cơ sở "gây nên bầu không khí thuận lợi, cần thiết cho sự mở lập những cuộc đàm phán thân thiện và chân thành". Vậy mà đúng một tuần sau, trong một buổi họp của Hội đồng Tư vấn Nam kỳ, một cơ quan tối cao mà thực dân đã thành lập ở Sài Gòn, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh đề nghị và được chấp thuận lập xứ Nam Kỳ tự trị! Với tinh thần phá hoại Hiệp định Sơ bộ, Cao ủy Thierry d'Argenlieu đã làm khó khăn Hội nghị Trù bị Đà Lạt (từ 19.4 đến 11.5.1946). Sau đó Hội nghị Fontainebleau (từ 6.7 đến 12.9.1946) cũng không đạt được kết quả gì. Rút cuộc chỉ có một tạm ước được ký giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ngày 14.9. Trong thời gian ấy, ngày 1.6, chính phủ lâm thời Nam Kỳ ra đời, ngày 2.8 gia nhập Liên bang Đông Dương. Ngày 20.11, Pháp đánh chiếm Hải Phòng. Theo nhà sử học Philippe Devillers, Cao ủy Thierry d'Argenlieu thấy phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhất thiết không chịu nhượng bộ trước vấn đề thống nhất ba kỳ cũng như sự thành lập Liên bang Đông Dương thì dùng võ lực muốn loại trừ chính phủ Hồ Chí Minh (5). Dựa theo tài liệu lưu trữ của Pháp, ông xác định cuộc khủng hoảng năm 1946 ở Hải Phòng là do chính Cao ủy đã cố ý khiêu khích nhưng thất bại trong cuộc đảo chính ngày 19.12 tại Hà Nội. Từ đây bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, chỉ chấm dứt sau trận Điện Biên Phủ và hội nghị Genève năm 1954.
Không biết theo con đường nào và cách thức nào bức chiếu Cần vương nầy rơi vào tay Cao ủy Thierry d'Argenlieu. Dù sao, không có lý do gì để nó trở thành tư liệu của một gia đình. Vị trí của nó là trong một viện bảo tàng lịch sử, đặc biệt trong viện Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế. Nếu các sử gia đánh giá nó là một tài liệu quý báu thì các cơ quan phụ trách phải thương lượng cho nó trở về lại quê quán của nó. Biết đâu nhân cuộc họp thượng đỉnh Pháp ngữ tổ chức nay mai ở thủ đô Việt Nam, gia đình d'Argenlieu lại không có một cử chỉ hào phóng mà ta không khi nào quên. Tôi đã có dịp trình bày với một ông giáo sư cháu Cao ủy là nhân dịp lễ biếu tặng bức chiếu chỉ, gia đình d'Argenlieu có thể thanh minh với dân chúng Việt Nam lời trách là Cao ủy không hề muốn Việt Nam được độc lập: con cháu Cao ủy thường nhắc là chính tướng De Gaulle không cho phép Cao uỷ sử dụng danh từ độc lập đó! Còn nhiều đồ vật khác đang rải rác khắp nơi. Đầu năm nay, trong một cuộc triển lãm tại nhà hàng Bon Marché ở Paris, khán giả được ngắm cả ấn kiếm triều Nguyễn. Vị trí của chúng phải chăng cũng là ở viện Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế? Trong khi chờ đợi một giải pháp hợp lý có thể thực hiện, các đồ vật lịch sử có thể tạm thời trưng bày ở viện Bảo tàng Á Đông Guimet lớn nhất nước Pháp, sắp được tổ chức lại và nghe nói phòng Việt Nam sẽ rất là quan trọng.
Câu hỏi từng được đặt ra và cần được thảo luận là những đồ vật lịch sử thuộc quyền sở hữu của ai? Năm ngoái, nhân đi qua Château Chinon, tôi có ghé xem nhà triển lãm của toà đốc lý trưng bày những quà biếu Tổng thống François Mitterrand trong hai nhiệm kỳ của ông. Nếu lý luận rằng quà biếu là cho vị tổng thống chứ không phải là cho cá nhân ông Mitterrand thì việc ông tổng thống trao lại các quà biếu ấy cho toà đốc lý là đúng lý. Nhưng đến nay chỉ có Tổng thống Mitterrand là người độc nhất làm việc ấy. Vừa rồi cũng có tin phu nhân cố tổng thống là bà Danielle Mitterrand đem bán đấu giá những đồ nữ trang đã nhận được để lấy tiền bỏ vào quỹ Hội Pháp - Tự do mà bà là chủ tịch. Cử chỉ nầy nằm trong cùng lý luận.
Ai cũng còn nhớ cuối Đệ nhị Thế chiến, Pháp đã đòi Đức trả lại những tấm tranh mà các tướng Đức không ngần ngại cướp lấy trong thời gian chiếm đóng nước Pháp. Gần đây, viện Vạn vật học Venetia bên Ý đạt được một con thằn lằn hóa thạch của Đức. Cuộc mua lậu bất hợp pháp nầy đã gây tai tiếng trong giới cổ sinh vật học và rồi đây phải trả lại con vật hóa thạch kia (6). Những nước như Ai Cập, Hy Lạp, Trung Quốc từng mất mát nhiều các cổ vật của nước mình cũng đã lên tiếng muốn thu hồi một phần nào các cổ vật ấy. Có lẽ còn nên do dự nếu các cổ vật lịch sử kia được khách thập phương ngắm nghía, chiêm ngưỡng trong những viện bảo tàng có tiếng như Musée du Louvre hay British Museum, nhưng nếu chúng chỉ được trưng diện trong tủ kính gia đình hay, tệ hơn, tích trữ trong tủ sắt nhà băng thì thật là một sự vô nghĩa, hoang phí và lẽ phải buộc phải hoàn chúng về lại quê cũ.
Hắc Ký Ni Sơn mùa tuyết 1995
Huế Xưa và Nay 15 1995
(*) Chú thích (đăng sau bài Cuộc đương đầu Đề Thám - Galliéni) Huế Xưa và Nay 93/ 2009
Một bức chiếu Cần vương đã được giới thiệu trong Huế Xưa và Nay số 15, tháng hai 1996, gần đây lại được "phát hiện" trên báo chí Việt Nam. Trong một bài phỏng vấn, nhà nghiên cứu Phan Thuận An, anh bạn của tôi ở Huế, có nhắc lại lời tôi viết: "Nếu các sử gia đánh giá nó là một tài liệu qúy báu thì các cơ quan phụ trách phải thương lượng cho nó trở về lại" rồi đặt câu hỏi: "Song gần 13 năm trôi qua, tôi vẫn không nghe nhà chức trách hay nhà chuyên môn đề cập đến vấn đề nầy". Xin thưa: Sau khi gởi bài về Huế, tôi có hỏi ý kiến ông Jean Rouget (nay đã mất), vị công sứ Pháp cuối cùng ở Đà Lạt năm 1954, Phó Hội trưởng hội Những Người Bạn Viễn Đông AFAO, có lẽ người đã khởi xướng chuyện dịch và in tờ chiếu nầy trong tờ báo của hội, về chuyện "hồi hương" của bức chiếu, ông cho biết là khó vì gia đình Đô đốc Thierry d'Argenlieu hiện chưa sẵn sàng biếu tặng. Tuy vậy, tôi cũng viết thư cho gia đình Đô đốc và được gặp một người cháu của ông, Antoine L.R. Thierry d'Argenlieu, giáo sư sử học. Ông nầy cũng nói như ông Rouget, viện cớ là người Việt không thích Đô đốc vì bảo Đô đốc không chịu cho Việt Nam độc lập, thật ra theo ông, không phải thế, chính Tướng De Gaulle không cho phép Đô đốc dùng danh từ độc lập. Tôi vội nói ông cứ về Huế rồi nhân buổi tiếp tân, trong bài diễn văn, bày tỏ hư thật cho nhân dân Việt Nam. Muốn đề nghị của tôi thêm phần thuyết phục, tôi viết thư về Trung tâm Bảo tồn Di tích Huế. Lập tức, anh Thái Công Nguyên, lúc ấy là Giám đốc Trung tâm, nhờ tôi chuyển lại thư mời chính thức đại diện gia đình Thierry d'Arrgenlieu về Huế mang theo bức chiếu tặng cho Trung tâm. Sau một thời gian suy nghĩ, ngày mồng 2 tháng giêng 1998, ông Antoine Thierry d'Argenlieu nhờ tôi chuyển về anh Thái Công Nguyên một lá thư trả lời gia đình ông ta không tặng bức chiếu được vì muốn tập trung mọi kỷ niệm của Đô đốc lại một nơi. Tôi chỉ mong sau nầy sẽ có ai thành thạo ngoại giao thành công hơn tôi.
Hiện có phong trào các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp,... đòi các nước Tây phương trả lại những di vật đã cướp lấy ở nước họ trước đây. Điển hình là vừa rồi ở Paris có bán đấu giá hai hiện vật hình dung hai con thú do hai quân đội Pháp và Anh đã tự tiện đánh cắp đem về từ Bắc Kinh năm 1860. Một người Tàu đã mua nhưng không chịu trả tiền và hiện Trung Quốc đang đòi chủ nhân hoàn lại.
Tham khảo:
(1) Bulletin de l'Association Française des Amis de l'Orient AFAO, Paris 40 (1995), tr.1,4
(2) Nguyễn Thế Anh, Monarchie et fait colonial au Vietnam, L'Harmattan, Paris (1992), tr. 112,113
(3) Pierre Brocheux, Daniel Hémery, Indochine, la colonisation ambigüe, La Découverte, Paris (1995), tr.55,57
(4) Hoàng Xuân Hãn, Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa, Sài Gòn 23-24, (1971), AVAC in lại, Paris (1987), tr. 8
(5) Philippe Devillers, a) Paris, Saigon, Hanoi, Collection archives, Paris (1988), tr.285
b) L'angle indochinois ou les leçons de l'histoire, trong Approches Asie, Economica phát hành, Paris 12 (1994), tr. 50
(6) Sciences et Avenir, 586 (12.1995), tr. 101.
30- VÀI MẨU CHUYỆN XƯA
Học xong trường tỉnh Quảng Nam ở Vĩnh Điện, lần lượt được ông Đốc Kim, rồi thầy Trợ Sóc, thầy Trợ Hoằng khen thưởng, đậu bằng tiểu học khá cao, tôi tưởng chỉ ghi tên thi tuyển vào trường Trung học Khải Định (Quốc Học) là đậu ngay. Tôi không dè sĩ tử miền Trung khá giỏi, lại chỉ có ba mươi chỗ vào đệ nhất niên nên trong keo nầy tôi trượt vỏ chuối. Đây là bài học đầu tiên có ý nghĩa trong đời tôi : học giỏi, cố gắng, làm việc nhiều chưa đủ, còn phải học giỏi hơn, cố gắng, làm việc nhiều hơn mới mong thực hiện được chút ít tham vọng dù nhỏ mọn của mình. Bài học quý báu nầy theo dõi tôi suốt đời sau nầy, dù trong một cuộc chơi thể thao, chẳng hạn đấu bóng bàn cho đội tuyển làng Bures, hay trong ngành nghề, khi thi lên ngạch giám đốc ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp.
Để chuẩn bị một cuộc thi tuyển thứ nhì vì dù sao Khải Định là một trường công, phải thi vào cho bằng được, các anh tôi ghi tên cho tôi đi học trường dòng tư thục Pellerin (niên khóa 1942-43), cạnh nhà ga Huế. Sau nầy, so sánh với trường Khải Định tôi mới ý thức cách dạy dỗ ở trường dòng thật là công hiệu: học sinh ngữ thì phải nói (chẳng hạn giờ ra chơi cũng phải sử dụng tiếng Pháp, học sinh nào nói tiếng Việt bị chuyển tay một cái bảng, hết giờ còn cầm là bị phạt), học toán thì phải thực tập toán nhiều (sau mỗi định lý thầy dạy là cả một lô bài toán cần phải làm thêm ở nhà),... Đằng khác, ngoài sách vở, trường rất chú trọng về mặt thể thao. Chính ở đây mà tôi đã học chơi đủ môn, bóng tròn, bóng rổ, bóng chuyền. Năm ấy, "frère" Colomban vừa là thầy chính, dạy môn Pháp văn, cũng vừa là huấn luyện viên thể thao. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh, trưa thứ năm, trời nắng chang chang, một tay vén chiếc áo dòng đen dài, tay kia giữ gọng kính, đầm đìa mồ hôi, thầy chạy theo trái bóng, tranh thủ cho kỳ được với bọn trẻ.
Nhưng danh tiếng của trường Khải Định quá lớn nên mặc dầu những lời khuyên răn của "frère" Colomban, mặc dầu nhiều tình cảm gắn bó với trường dòng, cuối năm ấy tôi lại nộp đơn thi vào lớp đệ nhất trường nhà nước. Hồi ấy, song song với ngành sẵn có (học bốn năm thi bằng Thành chung, rồi tiếp hai, ba năm thi hai bằng Tú tài bán phần và toàn phần), trường còn mở hai ban Tây phương (học nhiều các tiếng La Tinh, Hy Lạp) và Đông phương (chuyên về chữ Hán): học sinh bắt đầu từ lớp đệ lục học lên đến lớp đệ nhất thì thi bằng Tú tài bán phần, rồi năm sau thi bằng Tú tài toàn phần. Rất tiếc là tình hình đã sớm chấm dứt tổ chức nầy, nhất là ban Đông phương, có lẽ ngày nay nước ta hiếm chuyên viên Hán Nôm một phần nào cũng vì thiếu đào tạo từ trung học.
Năm này (1943-44), giáo sư chính của lớp tôi là bà Chambon, dạy Pháp văn. Bà là vợ ông giám đốc nha bưu điện Huế và nghe nói bà ta đẵ có đậu bằng Brevet Elémentaire. Điểm tích cực là giọng nói của bà ta hoàn toàn Pháp. Có lẽ trí óc bà cũng giới hạn trong không gian Pháp nên bà ít chú ý tìm biết cách sống của người bản xứ quanh bà. Một hôm bà đưa ra đầu đề bài luận văn : Một cuộc đi săn. Tôi mừng thầm vì rất sành bắn chim thì chắc chắn bài tôi sẽ rất độc đáo. Tôi tỉ mỉ kể cách tìm nhánh cây hình chữ Y cân đối, chọn cao su dai mềm cột vào làm ná, lục lọi sạn tròn làm đạn. Sau đấy, với nhiều chi tiết thực tế về kỹ thuật bắn ná, tôi kể lại buổi đi săn chim. Ví dụ phải nhắm vào đầu chim: nếu chim nhỏ như se sẻ, chào mào thì cơ thể chúng mới khỏi bị xé tan: nếu là chim lớn như cu xanh, chim cốc thì nếu không bắn vào đầu, chúng chỉ bị thương, rơi xuống đất, xuống nước, có thể lủi vào bụi rậm hay lặn xuống đáy sâu trốn mất. Rất hiện thực - điều mà các thầy giáo ngày nay thường đòi hỏi ở các học sinh - tôi kể lại cuộc lùng bắt những con cu xanh ruột lòi khỏi bụng, máu chảy lai láng mà vẫn cố lẫn lút chạy thoát, mặc thây gai góc, rắn rết. Sau đó là nhóm lửa, nướng chim để ăn tại chỗ vì chúng tôi không quên đem theo một hộp diêm và tiêu muối. Hôm trả bài, tôi vô cùng thất vọng vì điểm rất xấu! Bà Chambon chờ đợi một cuộc săn dùng súng, cỡi ngựa, có chó săn chạy đuổi chim hay tha mồi về, một cuộc săn mà một đứa bé Việt Nam không thể thấy được. Đằng khác, bà ta trách móc bài luận đã diễn tả quá rùng rợn, chim chóc mất đầu, lòi ruột, máu me tràn trề,...
Cuối năm học, những lớp soạn thi cần giọng nói tiếng Pháp của bà để cho quen viết chính tả, bà được đổi lên dạy các lớp trên và thầy Nguyễn Lân xuống thế. Đó là dịp độc nhất để tôi được học với thầy mấy tháng. Một thầy khác cũng có tiếng nhưng tôi không từng được học là thầy Nguyễn Huy Bảo, giáo sư triết lý. Một hôm, nhân bà giáo sư Hamel bị dẹp bánh xe, thầy Đoàn Nồng, lịch sự với phụ nữ, liền lại bơm giùm. Thầy Bảo đi ngang, ngắm nhìn cảnh tượng rồi hài hước thả câu tả cảnh: "Monsieur Đoàn Nồng pompe Madame Hamel" (dịch sát nghĩa: "Ông Đoàn Nồng bơm bà Hamel") trước một đám học sinh cười rũ rượi. Gặp thầy Bảo ở Paris, tôi nhắc lại chuyện ấy, thầy mỉm cười như sống lại quá khứ xa xăm. Chính thấy là tác giả câu nhận định chơi chữ: "Học philo (triết lý) thật là folie (điên cuồng)".
Qua năm đệ nhị niên (1944-45), thầy Tăng Dục dạy Pháp văn, có phương pháp dạy khác hẳn với "frère" Colomban, thấy Lân hay bà Chambon. Thầy chú trọng nhiều về danh từ nên cứ mỗi buổi thầy cho một đầu đề như nhà cửa, bếp núc, trò chơi,...rồi lần lượt các học sinh giơ tay đề nghị những danh từ mình biết. Cái khổ là lần sau, khi trả bài, mỗi học sinh chỉ định phải đọc thuộc lòng danh sách các danh từ ấy theo thứ tự đã đề nghị trong buổi trước! Tôi không biết trước và sau chúng tôi thì thế nào chứ ở thế hệ chúng tôi không thấy có mấy ai giỏi học thuộc lòng. Nhưng dù sao, bài luận Pháp văn tôi được nhiều điểm nhất lại rơi vào năm ấy, đúng ngay trước cuộc đảo chính Nhật ngày 9.3.1945, nghĩa là từ nay hết còn làm luận Pháp văn ở trường Khải Định.
Cuối năm ấy, chương trình học chuyển qua Việt ngữ, Pháp văn trở thành sinh ngữ, sụt xuống ngang hàng với Anh văn, nhưng học sinh học thêm môn Nhật văn với một ông thông ngôn luôn bệ vệ với khăn đen áo dài. Thật ra, từ toán học qua Việt văn, từ vật lý qua sinh ngữ, buổi nào cũng học qua loa. Các giáo sư thích bàn luận thời sự hơn còn học sinh thì biết làm khó mấy thầy quanh chuyện nguyên tử, năng lượng. Tuy nhiên, kỳ nghỉ hè năm ấy đã đến trong nỗi hân hoan với những danh từ tự do, độc lập từ nay mặc sức bàn cãi. Các học sinh tản mác về quê trở thành những nhân viên thông tin, truyền bá quốc ngữ đắc lực.
Nhưng đâu có bàn cãi suông được vì chính vào hè năm ấy, cách mạng bùng nổ và nền độc lập thật sự đang bị đe dọa ở miền Nam. Một quân đội Việt Nam đang được xây dựng để gởi vào Nam giúp sức kháng chiến. Vào kỳ khai giảng năm đệ tam niên (45-46), nhà ga Huế cũng cũng như suốt đường Lê Lợi chật đầy bộ đội ngoài Bắc vào tụ tập với quân binh địa phương chờ đợi chuyến tàu thẳng đường Nam tiến. Trường Khải Đinh dành cho Giải Phóng Quân, học sinh phải dời qua học bên Đại Nội. Từ trước tôi đã có dịp đi viếng thành quách triều Nguyễn, nhưng đây là lần đầu tiên được vào tận cung cấm, nơi mà truớc kia mấy ai có thể tưởng tượng có ngày dậm chân. Chen chúc với các học sinh khác, tôi cũng đã từng chễm chệ lên ngồi trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, một vài giây đóng vai nhà vua nhìn ra Bái Đình, tưởng tượng chín hàng quan lại đang phủ phục quỳ lạy. Một thời vàng son đã qua và sẽ không bao giờ trở lại nữa.
Trong năm học nầy, chỉ có lớp buổi sáng, phần lớn buổi chiều dành cho huấn luyện quân sự. Danh từ to tát, thật ra chỉ là thể dục, học đi, học chạy, học nhảy, học ném lựu đạn,... Sáng học ở Đại Nội mà chiều phải qua tận bên Nam Giao để học những lớp nầy, nhà anh chị tôi lại ở gần An Cựu, trái đường, tôi kiếm cách ăn trưa ở một chỗ nào thuận tiện. Thường sống trong gia đình, tôi không quen đi tìm ăn ở ngoài. Sau cùng, tôi kiếm được một nơi lý tưởng, vừa ngon miệng, vừa mát mẻ, nhất là vừa rẻ tiền lại không bị người hầu bàn hỏi han phiền phức. Không phải là một khách sạn năm sao mà là nơi các phu xe lại ăn trước chợ Đông Ba. Những người nầy không bỏ được xe để đi mua phần ăn nên bà bán cơm dọn ngay quán trên lề đường. Bà chỉ có một món độc nhất là cơm với cá nục, đơm cho mỗi khách hàng một đọi rồi mỗi anh phu xe ngồi ăn trên chính xe của mình. Riêng phần tôi, học sinh độc nhất lạc lối trong đám phu xe, thì tìm một gốc cây phượng, lá hoa phủ mát, ăn xong còn có thể đem sách vở ra xem. Ngày nay, thói quen ăn quán cơm bình dân tôi vẫn luôn còn giữ mặc dầu sau mười lăm năm quán cơm sinh viên ở Âu Châu ăn toàn khoai tây luộc chán ngắt !
Năm tôi lên học lớp đệ tứ niên (1946-47), trường Khải Định lại dời về trường tư thục Việt Anh. Chuyện học hành dạo nầy lại còn trở nên ít quan trọng vì tình hình chính trị và quân sự rất trầm trọng. Trong thành phố, Giải Phóng Quân đóng ngay trong nhà thường dân. Nhà anh tôi ở cạnh trường Thiên Hựu, cạnh khu người Pháp, không khí còn căn thẳng hơn và qua đầu tháng 12, cuộc kháng chiến bùng nổ, cả trường lẫn học sinh đều phải tản cư về quê hay lên khu. Khi tôi vô lại Huế vào cuối xuân 47 thì quân Pháp đã chiếm đóng thành phố, ít nhất cũng ở trung tâm. Trường Khải Định lần nầy được mở ra ở trường tiểu học Thượng Tứ, nhỏ hơn trường xưa nhiều nhưng cũng còn lại rất ít học sinh. Bổn phận của bọn trẻ chúng tôi sau nhiều tháng tản cư là phải tự học ôn lại bài vở để cho kịp chương trình. Vì nguyên do chiến tranh, năm ấy không có tổ chức thi bằng trung học phổ thông. Tuy vậy, để cho có một mức học đứng đắn, trường cho biết sẽ tổ chức một cuộc thi tuyển vào hai ban đệ nhất khoa học A và B tương đương với lớp Seconde thời trước, một bên chuyên về toán, bên kia nặng phần vạn vật học. Hai môn có hệ số lớn là Việt văn và toán, vì vậy mặc dầu học sinh có thể tự học, mọc ra nhiều lớp dạy tư để luyện thêm hai môn nầy. Phần tôi không có tiền thì chẳng ghi học tư ở đâu được. Tạm dẹp Việt văn một bên, tôi cùng nhiều bạn rủ nhau tổ chức tự học toán theo kiểu trường dòng hồi trước, nghĩa là phải thực tập nhiều, không cần thầy. Chúng tôi họp nhau vài giờ mỗi buổi chiều, đã có ưng thuận với nhau trước tự học chương nào của cuốn sách toán Brachet-Dumarqué, khi gặp nhau chỉ đua nhau làm toán. Chúng tôi thấy tấn bộ rõ ràng, khi dự thi không chút mặc cảm. Riêng phần tôi đậu đầu vô ban khoa học B: mộng của tôi hồi ấy là học làm kỹ sư canh nông. Sau nầy tôi lại được học hóa học nhưng trong những bài báo khoa học gởi đăng trong nước tôi vẫn luôn còn hướng về cây cỏ với nhãn quan hóa học !
Qua kỳ khai giảng niên học 1947-48 thì trường Khải Định lại dọn về trường tiểu học Chaigneau cũ. Trường nầy đối với tôi là nơi quen thuộc quen thuộc vì hồi nhỏ đã có học ở đây hai năm dự bị và sơ đẳng. Năm học này, mặc dầu phải đi ở nhà người ta để dạy kèm hai đứa trẻ mà con nhà giàu thì phần đông là khó tánh, tôi thấy đầy thú vị vì học những môn mới lạ, nhất là về vạn vật học khi thầy Ngữ đi sâu vào tổ chức con người với ít nhiều khái niệm sinh lý học, mở ra cho trí óc một chân trời mà tôi chưa từng tưởng tượng đến. Sau nầy, khi bàn đến những hoạt chất trong cây thuốc, tôi luôn nghĩ đến những tính chất dược liệu của chúng và tác dụng của chúng lên các bộ phận của cơ thể. Trong năm học nầy, học sinh may mắn có được những giáo sư trẻ tuổi, có lẽ không uyên bác bằng những thầy cũ xưa, nhưng chắc chắn họ đầy nhiệt huyết của thanh niên thời mới. Chúng tôi còn chứng kiến được một mối tình chớm nở giữa hai vị giáo sư trẻ tuổi và hồi ấy tôi dành cho họ rất nhiều cảm tình. Họ vừa mới đậu bằng tú tài và đi dạy trong khi chờ đợi được đi học thêm xa. Thấy họ vui tươi đùa nghịch, thân ái ghẹo nhau, tôi cảm thụ tất cả hạnh phúc của một cuộc đời. Sau nầy khi anh chị qua Paris, anh đi học khoa học, chị theo trường thương mãi, tôi lại có dịp đi đón cháu bé đầu lòng ở trường mỗi khi bãi học sớm. Một gia đình đầm ấm như vậy tưởng sẽ tồn tại suốt đời, nhưng ông Trời đã dành cho họ một định mệnh khác...
Hồi ấy tôi chưa lớn nhưng cũng đã hết nhỏ. Mặt tình ái của tôi nằm vào mức người trai đang lớn lên như chàng Đẩu trong truyện Hoa vông vang của Đỗ Tốn. Trong ban đệ nhất khoa học (có nhiều lớp hai ban khoa học A và B học chung) có năm cô nữ sinh, điều lạ là ít thấy họ trò chuyện với các bạn trai. Cả năm cô chiếm trọn một bàn trước, không khi nào có một cô lùi lại bàn sau. Rút cuộc, ngồi sau chúng tôi chỉ thấy lưng mấy cô, riêng phần tôi thấy được lưng cô ngồi đầu bàn bên trái. Thôi thì có gì được nấy. Lắm lúc, khi thấy Ngô Văn Hân thao thao giảng giải văn thơ truyện Kiều, tôi trầm ngâm ngắm nhìn mái tóc thề của cô đổ xuống vai, uyển chuyển trên chiếc áo dài trắng rồi mặc sức mơ mộng. Một cái may cho tôi là hè năm ấy nàng đi học lớp Pháp văn của thầy Bùi Xuân Bào dạy thêm ở trường Thiên Hựu. Tình cờ vào lúc ấy tôi lại đi dạy kèm hai đứa trẻ ở Trạm thiên văn trước cửa trường. Thế là "ngẫu nhiên" tôi gặp nàng mỗi khi bãi lớp và có dịp đưa nàng về đến nhà ở tận trên Nguyệt Biều. Vắng bóng bạn bè, chúng tôi chuyện trò rất thân mật tự nhiên, từ học hành, thi cử đến thời sự, chiến tranh, về tương lai của một thế hệ thanh niên trong thời chinh chiến, nhưng không có một lời tình ái, một lần nắm tay. Hè năm ấy sao hồn nhiên tưng bừng đẹp quá mà cũng thật quá mau qua. Hết hè, biết tôi đậu vào học trường Vô Tuyến điện và sẽ rời Huế đi Sài gòn, nàng ân cần biếu tặng tôi cuốn Tuyết năm xưa do một Việt kiều viết về kỷ niệm ở nước Pháp, không dè cuốn sách ấy mở đầu cho cuộc Tây du của chàng trai sau nầy. Mười năm sau, tôi tình cờ gặp lại nàng trong một trại hè sinh viên bên Tây Ban Nha, vào lúc đó tôi vừa mới cưới vợ còn nàng thì đã tay ẵm tay bồng. Mái tóc đen còn đó, thấp thoáng đằng sau nét mặt dịu hiền một thiếu phụ vừa có con thơ, nhưng từ nay hết còn lắc lư trên vai áo dài trắng xóa năm xưa.
Cuối năm học ấy, không biết tương lai sẽ ngã về đâu, tôi tranh thủ học ôn chương trình đệ tứ niên để soạn thi bằng trung học phổ thông, một mảnh bằng không có bao lăm giá trị nhưng lỡ phải đi làm sinh sống thì cũng là một mảnh giấy cần thiết. Năm ấy, viện Đại học Sài Gòn mở trường Vô tuyến điện, không cần có bằng Tú tài cũng có thể dự thi. Trên đà thi cử, nhiều bạn đồng lớp soạn thi và một số đậu được thi viết. Vào vấn đáp chỉ có một môn toán, giám khảo lại là ông Harter, giáo sư toán học của chúng tôi trước kia ở năm đệ nhị niên. Rút cuộc năm anh em từ giã mái trường thân yêu cùng nhau lên đường du học Sài Gòn.
Ngày nay, trường đã lấy lại tên cũ là Quốc Học từ thuở ban đầu, nhưng đối với những học sinh lứa tuổi chúng tôi, trường vẫn luôn là trường Khải Định, nơi chúng tôi đã sống những ngày tưng bừng, rạo rực đầy kỷ niệm khó quên của một thời trẻ.
Hắc Ký Ni Sơn viết cho 100 năm Quốc Học
Người Sông Hương, xuân Đinh Sửu 1997.
31- ĐIỆU HÒ XỨ HUẾ

Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương
Mái nhì man mác nước sông Hương.
Tố Hữu

Tôi sống lên ở quê ngoại, làng Mỹ Cang, phía bắc thành phố Huế chừng 40 cây số, trên bờ sông Ô Lâu bốn mùa cuộn sóng xuôi dòng, tùy theo thời tiết khi trong khi đục, phản ảnh mây trời, mưa nắng. Lớn lên một chút, trường huyện quá xa, anh em chúng tôi đi vô Huế học, chỉ tết nhất, mùa nghỉ mới về đây thảnh thơi, vui đùa, gom góp những kỷ niệm êm đềm trước thời chiến tranh tàn phá quê hương. Nghỉ hè, trời nóng, chúng tôi đánh trần ngủ ngay ngoài hiên. Có những đêm quá nóng, lại chuyện trò hào hứng, cũng khó lòng nhắm mắt. Thế rồi, không biết bắt đầu từ bao giờ, khoảng 2-3 giờ sáng, một giọng hò vang lên trong đêm thâu. Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dai làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chúng tôi chỉ nghe được lời thổn thức của cô ta, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.
Biết đâu là cầu ô thước,
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngót tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng.
Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người. Và cứ như thế, ba bốn hôm một lần không có ước hẹn, định kỳ, chúng tôi lại được thưởng thức một vài câu hò mặn mà, trữ tình, vô tình kín đáo chia sẻ nỗi lòng của cô lái đò cô đơn. Lúc đầu chỉ để ý, dần dần từ để ý chúng tôi trở qua chờ đợi. Rồi có những đêm trăng sáng, trong cơn gió thoảng, chúng tôi tưởng như có tiếng mái chèo khua nước, đợt sóng vỗ mạn thuyền, nhưng tiếng hò thì tuyệt không, thế là mặc sức thao thức không sao ngủ được. Hết hè, trở lại Huế vào trường học, chúng tôi phải tạm biệt cô lái đò, tạm quên những câu hò đầy tình cảm, thương nhớ của cô gái quê không quen, không biết, chỉ gặp nhau trong không trung, khí quyển, qua gió, mây, sóng, nước.
Người dân xứ Huế thường dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống hằng ngày họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng câu hò có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng, khi đạp nước, đạp lúa, học cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đá nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hùng.
Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương,
Trai nam nhi đối đặng, gái nữ nhi xin kết nguyền.
Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.
Ru con con théc cho muồi,
Cho mạ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi nhất có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người , gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.
Trai : 
Em về ngược gió xô mưa,
Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
Em về anh cũng muốn về theo
Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm.
Gái : 
Cát nóng em đưa lưng em cõng
Đá dăm em lượm sạch đường anh đi.
Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay cầm chèo, giữ lái cho nên điệu hò lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.
Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Cách ngân nga của các điệu hò mái nhì, hò mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng như không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ò ơ à ơ, xem người hò như chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Khi một người chưa sành, bước vào hò là thấy hấp tấp như bị chạy đuổi, quên mất ngân nga. Có lẽ cũng vì cách ngân nga nầy không dễ thực hiện mà cũng không dễ học nên biết bao người biết hát mà không biết hò. Ngày nay, như múa rối nước từ ngoài Bắc lên đường Nam tiến, hát cải lương từ Nam Bộ lấn ven sông Hồng, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài. Các ca sĩ buộc phải hát những bài ba miền nên thính giả được nghe những nghệ sĩ quê Bắc, quê Nam cũng ca, hò Huế. Ngay ở đoạn ò ơ à ơ là đã thấy không ổn. Nếu ca trù không thể diễn tả với một giọng khác giọng miền Bắc, cải lương phải được hát với giọng Nam. Ai đi xem hát cải lương ở Hà Nội chỉ được nghe ngâm thơ, sẽ thất vọng không nghe được một câu vọng cổ là tinh túy của cải lương. Và hò Huế chỉ có thể biểu diễn với giọng Trung. Khi giả giọng Huế, thường ca sĩ hạ giọng quá đáng, cho nghe một giọng nếu không vương âm Nghệ Tĩnh thì cũng lai căng, buồn cười như khi nghe tài tử điện ảnh Pierre Fresnay trong vai Marius bắt chước giọng Marseillais ! Tôi chưa may mắn gặp được ai học hò mái nhì, hò mái đẩy qua nốt nhạc mà làm tôi rung động. Trái lại tôi đã được nghe những nghệ sĩ tuyệt diệu trong số những người thường hò trong đời sống hằng ngày từ thuở bé nhỏ, những người không có khi nào lại trường học hò !
Trước thế kỷ XIV, xứ Huế còn là vùng đất của người Chăm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ phía ngoài bắc mới dần dần vào hai châu Ô Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hóa Đại Việt. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng, một giai điệu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, ré non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán của Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quãng Bình, Quãng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam mà cũng không tràn ra miền Bắc. Đi xa hơn, các nhà nhạc học nhận thấy nhạc Champa chịu ảnh hưởng nhạc Ấn Độ mà âm giai nhạc Ấn Độ lại gần gũi với âm giai pélog đảo Java ở quần đảo Nam Dương (Indonesia). Giáo sư Trần Văn Khê đem so sánh thì thấy điệu hò mái đẩy rất giống điệu pélog có thể nguyên quán từ vùng Ba Tư-Ả Rập. Đằng khác, một cây đàn đá tiền sử đã được phát hiện ở Đắc Lắc mà âm giai lại cũng rất gần giống âm giai pélog. Thì ra âm giai hai điệu hò mái nhì, mái đẩy đã có sẵn từ trước ở Cao nguyên miền đất Trung Việt, chứng minh một sự giao lưu giữa Nam Dương và Việt Nam. Thảo nào, qua bên ấy, tôi thường được người bản xứ gọi tôi " người anh họ phương xa". Mối giao lưu nầy còn được mở rộng ra Ấn Độ-Nam Dương-Việt Nam khi tôi có dịp tham quan và ý thức những điểm tương đồng giữa ngôi tháp " Bờ biển " ở Mahabalipuram miền đông Ấn Độ và các tháp Chăm ở nước ta. Ưóc mong rồi một ngày nào những nhà khảo cứu giải thích được tường tận cách thức những mối giao lưu âm nhạc, nghệ thuật nầy.
Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp Việt, trong gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại lên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công chúng đất Thần Kinh một mặt văn hóa nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay trường Đại học Mỹ thuật Huế, ban Nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lại cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sân khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc cầu nguyện trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, u sầu của các điệu hò mái nhì, mái đẩy thay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất người thân.
Đêm năm canh ngày sau khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mạ kêu.
Muốn tìm mạ tìm răng được mạ,
Tây phương đất Phật mạ đi không về.
May thay, gần đây, hò Huế đã đem lại vui tươi trong một buổi chiều thu ấm áp ở thị xã Orsay trong thung lũng Chevreuse. Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, nhân dẫn đoàn Đào Tấn qua Đức diễn tuồng Đông Lộ Địch (phỏng theo vở Le Cid của nhà văn hào Pháp Corneille) của thân phụ, cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, trên đường về ghé qua Paris thăm bà con, bạn bè. Nhân đó, một buổi gặp mặt thân mật nhân đó được tổ chức hôm 3.11.2002 ở Phật đường Khuông Việt để nữ sĩ và anh Trần Văn Khê trình bày tuồng hát bội và những câu hò Huế. Duyên nợ của tôi và chị Hỷ Khương lùi lại mấy chục năm về trước, khi tôi được nghe chị hò trong một băng cát xét từ Sài Gòn gởi qua Paris. Bây giờ đây được nghe chị đích thân hò, lại có anh Khê đệm đàn tranh, tôi thấy không có hạnh phúc nào bằng. Chị luôn còn giữ phong cách một tôn nữ đất Thần kinh. Giọng chị có phần già dặn hơn, tuy hơi khan những vẫn gợi biết bao nhớ thương, làm nhiều khán giả phái nữ dụt sùi, ướm lệ. Riêng phần chị cũng xúc động khi ngâm thơ hay hò những bài của thân phụ mến yêu. Tiếng đàn tranh đã làm tăng giá trị câu hò nhưng, qua trí óc tôi, cũng như ngày nay trên các đò du lịch trên sông Hương, hò có đệm đủ các nhạc khí tranh, nhị, tam, nguyệt, đưa bài hò qua một hệ thống khác, loại thính phòng, đánh mất ít nhiều tính hoang vu, thôn dã của câu hò đơn độc trong đêm vắng trên sông.
Thì ra hò thật là một loại dân ca rất được truyền tụng ở Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú. Có thể nói Huế là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng ? Giờ đây, ngồi làm việc ở bàn giấy, tôi luôn có một dĩa hò nhẹ nhàng cho tỏa ra một bầu không khí ấm cúng quê nhà, làm dịu bớt nỗi nhớ nhung cả một thời thơ ấu êm đềm bờ sông Ô Lâu.
Đây quê mẹ ấp ủ tình thương
Đây xóm làng bao nỗi vấn vương...
Hắc Ký Ni Sơn tối mồng một năm Quý Mùi
Đoàn Kết 488-489 2003
32- LỐI NÓI TIẾNG HUẾ
Khi mô anh về thăm Huế xưa
Nhớ gởi giùm em một chút mưa
Gởi thêm mớ lạnh vào chân tóc
Buốt thấu buồng tim vẫn chưa bưa.
                      Hồ Đắc Thiếu Anh
Hồi mới rời Huế vào Sài Gòn du học, tôi thấy như đồng bào miền Nam không mấy hiểu cái giọng Huế đặc sệt của tôi, tuy rứa mà không phải rứa thật cũng không xa mấy dzậy mà không phải dzậy! Tôi bắt đầu làm một việc mà tự tôi không đồng ý với chính mình: giả giọng Nam, sử dụng một giọng nói lai căng như người mất nguyên gốc. Qua Pháp, đồng bào thường gặp không chỉ là người Nam, mà còn là người Bắc, người dân tứ chiếng nói đủ thứ giọng, giả giọng gì bây giờ? Mà tại sao mình phải giả giọng khác, sao những đồng bào khác không phải giả giọng mình ? Thôi thì cứ giữ giọng mình, mình hiểu người ta thì người ta phải cố gắng hiểu mình. Rốt cuộc rồi ai cũng hiểu tôi trừ số ít thiếu thiện chí, và như thế tôi yên lòng với lương tâm tôi.
Thật ra, tuy nhẹ hơn âm Nghệ Tĩnh, giọng Huế cũng có phần nặng. Nhưng khó lãnh hội một ngôn ngữ không chỉ vì giọng mà còn ở tiếng nói, lối nói. Tiếng nói, lối nói nầy, người Huế quên dần khi tiếp xúc bạn bè bốn phương, chỉ sử dụng khi gặp nhau, gần như để khẳng định mình không quên nguyên gốc giữa những người đã cùng nhau chia sẻ một lối sống trong thời gian qua. Mô, tê, răng, rứa là những từ thường được dùng để ám chỉ tiếng Huế. Eng hỏi tui mần răng mà như rứa, tui chẳng trộ nỏ biết chi hết, thôi thì chịu rứa chứ mần răng! Thật ra chẳng có gì khó hiểu lắm. Tuy vậy, nhiều khi có những từ ngữ là lạ, bất thường bắt gặp không biết giải thích ra sao. Có chuyện ông Toàn quyền Đông Dương đến Huế, ghé thăm vua Bảo Đại, sau đó xin sang thăm bà Từ Cung, mẹ của vua, ở tại cung An Định, vùng An Cựu. Ông Nguyễn Duy Quan, em ruột bà Hoàng hậu Nam Phương, lúc bấy giờ làm tại Ngự tiền văn phòng, được cử làm thông ngôn. Sau vài câu chuyện xã giao và trước khi ông Toàn quyền từ giã, bà Từ Cung kết thúc : "Tôi nay tuổi đã cao, hay nói tào lao xịt bộp, có chi sai xin quan Toàn quyền miễn chấp cho". Ông Nguyễn Duy Quan ngơ ngác, tuy được người hầu giải thích tào lao xịt bộp là nói chuyện bậy bạ, không biết dịch ra thế nào. Có thể từ ngữ nầy từ bốn chữ ta bà thế giới của nhà Phật nói sai lầm ra, hiểu theo tiếng Pháp là parler à tort et à travers (Ưng Luận, Huế Xuân Nhâm Ngọ, 2002). Cùng trong ý nghĩa, người Huế còn có những từ ngữ khác : ba xí ba tú (phát xuất từ pas du tout ?), ba xàm ba láp, ba hoa thiên địa, ba hoa xích đế, ba trợn ba dáng, ba nhảm tầm phào, tầm bậy tầm bạ,... xi lô xi la (như mấy ông Tây!).
Lối nói nầy có phần vui tai nữa là khác, nhất là khi mấy ôn, mấy mụ thích dùng chữ Hán: đa ngôn thì đa quá (nói nhiều thì lỗi nhiều), tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn (chứa lúa phòng đói, chứa áo phòng lạnh), tích khí tồn thần (giữ gìn nguyên khí), tích thiểu thành đa (dồn ít thành nhiều), đơn thương độc mã (một giáo một ngựa), bần cư trung thị vô nhơn vấn, phú tại sơn lâm hữu khách tầm (nghèo ngay giữa chợ không người hỏi, giàu tại rừng sâu có khách tìm). Có khi tích điển cũng được dùng, tỏ ra người nói biết nhiều về sử sách: đồ phản chủ đầu trâu (phản Trụ đầu Châu: bỏ nhà Trụ theo Châu Văn Vương), phản thục đầu tào (Phản Lưu Bị tức Thục, đánh nhau với Tào Tháo tức Tào), kéo cả bầy họ Tạ (trong tuồng Sơn hậu, nhờ có hai bà chị chánh cung và tam cung nâng đỡ nên Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình được làm tể tướng, thái sư và cả nhà họ Tạ làm quan lớn nhỏ trong triều đình của Tề Thiện Đế) (Mặc Khách, Sông Hương, 1982).
Trong giao thiệp giữa trai và gái, cô gái nhiều khi muốn thử chàng trai và đặt ra những câu hỏi lắt léo, trai mà đối đặng, ngựa xe em xin rước liền : Bánh cả gánh răng (sao) nói rổ bánh ít, trầu cả chợ răng bảo trầu không? Trái cau lửa răng gọi cau không nóng, tóc dợn sóng răng mà sóng không trào? Nước không chân răng kêu nước đứng, lửa không miệng răng bảo lửa cười? Con mèo không rách răng kêu mèo vá, con cá không thờ răng gọi cá linh? Chó đánh trên đầu răng nó kêu cẳng (chân), ngựa cột đằng trước răng hí sau hè? Con gà không rang răng bảo gà nổ, con chó không nướng răng kêu chó vàng? Con cá chưa tra (già) răng kêu cá móm, con cá giữa chợ răng gọi cá thu?. Mặt trời không lôn (trồng) răng bảo mặt trời mọc, mặt trăng không giận răng trách mặt trăng quầng?
Những câu hò giã gạo biến tấu tùy theo thể thức ướm lòng, trêu ghẹo hay ân tình, ly biệt. Những câu hỏi thử tài thường được thưởng thức nhất vì đòi hỏi bên phía trai những đối đáp tài tình, ý nhị không kém gì những câu hỏi bên gái.
Này anh ơi, chừ (bây giờ) em hỏi anh: Chữ chi là chữ chôn xuống đất? Chữ chi là chữ cất côi tra (giấu trên gác)? Chữ chi nặng không ai tha (mang) nổi? Chữ chi mà gió thổi bay đặng không bay? Trai nam nhi anh đà đối đặng, miếng trầu cay cho chàng. Hai chữ tiền tài anh chôn xuống đất. Hai chữ nhân nghĩa anh cất côi tra. Hai chữ nhớ thương phượng tha không nổi. Chữ tình chữ hiếu gió thổi bay đặng không bay. Trai nam nhi đà đối đặng, miếng trầu cay  (đâu) nào?
- Trăm trăm loại dầu, có dầu chi là dầu không thắp? Trăm trăm thứ bắp, có bắp chi là bắp không rang? Trăm ngàn thứ than, có than chi là than không quạt? Trăm ngàn thứ bạc, có bạc chi là bạc không tiêu? Trai nam nhi bên chàng đội đặng, dải lụa đào em trao. Trăm trăm loại dầu, có nắng dãi mưa dầu là dầu không thắp. Trăm trăm loại bắp, lắp bắp mồm, lắp bắp miệng là bắp không rang. Trăm ngàn thứ than, có than hỡi than hời là than không quạt. Trăm ngàn thứ bạc, có bạc tình bạc nghĩa là bạc không tiêu. Trai nam nhi bên chàng đối đặng, dải lụa điều thấy mô? (Bửu Biền, Câu hò tiếng hát xứ Huế, 2002).

Dân Huế thường được xem là người giàu tình cảm, cho nên khi gặp nhau trai gái đã có ngay những trao đổi mặn mà: Tới đây hò hát làm quen, ngày mai ai mô về nấy (ai đâu về đấy), chớ thả lòng quen bạn cười. Thương yêu như thế, anh còn nghi ngại gì nữa: Dạ ăn ở mần ri (thế nầy), anh còn bán tin bán nghi lẽ nàoHỏi em có thương anh không, hay là bán trâu lẻ bóng giữa đồng cho anh. Không ngại non sông cách trở, em theo anh bất cứ nơi nào: Trồng hường bẻ lá che hường, thương nhau bất quản đôi đường xa xôi. Nếu anh ra về không chút hứa hẹn: Rồi mùa tót rạ (phần thân cây lúa còn lại sau khi gặt) rơm khô, bậu (bạn) về quê bậu biết mô mà tìm! Chỉ còn lại một nỗi nhớ nhung: Bèo nhớ sen khi sương sa ấm gốc, sen nhớ bèo khi nắng tạt mưa vùi. Bây giờ nước lớn bèo vui, sen nâng niu ở lại, bèo xa rồi sen ơi. Nhưng em không khi nào nản lòng: Trái bòn bon trong tròn ngoài méo, trái thầu đâu trong héo ngoài tươi. Em thương anh ít nói ít cười, ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng. Tuy vậy, em phải chờ đợi đến bao giờ: Chờ anh bơ (cho nên) tuổi em cao, bơ duyên em lạt, bơ má đào em phai.
Đằng kia gặp nhau, mến nhau thì chàng vội vàng: Trúc thưa với mai, trúc đà lỡ hứa. Trúc hỏi mai rằng đã dựa mô chưa? Trúc hỏi thì mai xin thưa, cá còn ẩn vực (chỗ nước sâu) chứ chưa vào lừ (giỏ bắt cá). Đôi ta thật xứng đôi vừa lứa: Trầu vàng nhai với cau xanh, duyên em sánh với tình anh tuyệt vời. Cớ chi em nỡ bỏ ra về: Ra về răng dứt mà về, bỏ non bỏ nước bỏ mây thề cho ai? Nếu em biệt tăm mất tích: Thương em nỏ biết mần răng (chẳng biết làm sao), mười đêm ra đứng trông trăng cả mười. Anh chỉ biết sầu thảm một mình: Chiều chiều bóng bổ qua cầu, con ong say vì mật, con bướm sầu vì hoa. Không lẽ nào em quên bỏ anh: Cây cao đại thụ có khi rớt lá lọi (gãy) cành, đây chưa bỏ đó (anh chưa bỏ em), răng đó đành bỏ đây (sao em đành bỏ anh)? Em có biết anh buồn thảm đến mức nào: Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội, người xa người tội lắm người ơi. Nỏ (chẳng) thà không chộ (thấy) thì thôi, chộ rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn. Anh ăn ngủ không yên: Đêm năm canh anh nằm không yên giấc, ngày sáu khắc rục rũ khô héo lá gan. Anh chỉ còn van xin em : Tay bưng dĩa muối chén gừng, gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau. Và hy vọng một ngày nào: Cây quế Thiên Thai mọc nơi khe đá, trầm với vạn giả hương tỏa sơn lâm. Đôi đứa mình như quế với trầm, trời xui gặp gỡ sắc trầm trăm năm.
Mấy chục năm hiện diện của người Pháp đã để lại trong tiếng Việt nói chung, trong tiếng Huế nói riêng, nhiều danh từ phiên âm. Từ cà phê, phó mát, xà lách, qua xà phòng, cà vạt, mù soa, nhiều từ được thông dụng và lắm khi ta cũng chẳng nghĩ đến nguồn gốc của chúng nữa. Trong giới học sinh, cái "mốt" là chêm tiếng Pháp trong câu nói của mình (như người Ấn Độ chêm tiếng Anh): Moi (tôi) ra Poste mua tem, toa (mầy) có nhờ moa service gì không? Ở Huế, thầy Nguyễn Đức Đôn, một vị giáo sư trường Quốc Học, còn đặt ra một bài văn tế lẫn lộn hai thứ tiếng Pháp và Việt cho các học sinh làm biếng bị đuổi: "Nhớ các vu (vous) xưa, có cậu An Nam, có trò mê tít (métis), tư cách đã nuyn (nul), tính tình lại bệt (bête). Người thì pat xap tra vay (passable travail), kẻ lại mô ve công đuýt (mauvaise conduite). Lúc vào lớp sách vở nào nghĩ đến, ba vạc tú dua (bavarder toujours). Khi về nhà cơm nước chẳng lo gì a lê tút xuýt (aller tout de suite). Gặp những lễ Tút Xanh (Toussaint) tút xiếc, công giê (congé) rồi mặc sức cua ria (courir)... Ngoảnh mặt lại thẹn cùng lơ mét (le maỵtre), ơn tác thành nào có duyn ta (résultat). Quay về nhà tủi với pa răng (parents), công dưỡng dục đành không mê rit (mérite). Gạt đê (regarder)khắp sông Hương núi Ngự, non sông chung một vẻ đu lơ (douleur). Pat xê (passer) Thượng Tứ, Đông Ba, quang cảnh đã trăm chiều trit tét (tristesse). Than ôi! Vì nhác (làm biếng) mà hư, không lo thì chết. Hỡi ôi, thượng hưởng! " (*)
Vào khoảng 1948, cố nữ sĩ Thái Ngộ Khê có bài thơ song ngữ Đi chợ (Vần thơ dại, 1987) tặng học sinh đệ tam văn học trường Huỳnh Thúc Kháng:
Sáng sáng đôi anh đi Marché,
Vì cơm phải tự préparer.
Đôi phen cá cháy quelle tristesse!
Lắm lúc cơm khê muốn hurler!
Khốn nỗi không tiền impossible,
Tìm người nấu bếp để louer.
Làm trai hoá phải énergique,
Nếm khổ sau rồi có succès.
Sau cuộc đảo chánh Nhật ngày 9.3.1945, học sinh trường trung học Khải Định, trước kia và sau nầy là trường Quốc Học, bắt đầu làm quen với chương trình học hoàn toàn bằng tiếng Việt. Hân hoan tiếp xúc với danh từ khoa học mới mẻ, các thanh niên thiếu nữ không biết và cũng chưa muốn vượt ra khỏi biên giới những kiến thức mới lạ. Bài thơ Tình hoa toán của một học sinh ban toán (Nùng Lan) biểu lộ tâm tư học sinh hồi ấy (*):
Ai định nghĩa được lệ hoa man mác,
Xoay chiều nào cho thuận mối tình ta.
Biến thiên gì để hiểu cảnh bao la,
Để giải đáp phương trình ai vương vấn.
Ở tọa độ đừng cho hoa chất lớp,
Hãy xoay chiều cho hoa đẹp muôn phương.
Hãy đồng quy ôi đôi má màu hường,
Hãy rút gọn đừng triệt tiêu hoa nhé.
Hoa với tóc là hai đường giao tuyến,
Môi mỉm cười em vẽ một cung vui.
Đường về xa vô tận lắm bùi ngùi,
Không gian đấy thời gian đầy chấn động.
Kết hợp đấy để anh đừng vỡ mộng,
Em mơ màng tung độ biến thiên anh.
Hỗn hợp đi bao giấc mộng an lành,
Tình vô nghiệm là tình hoa bất diệt.
Văn chương ở Huế không chỉ giới hạn trong yêu đương, trong không gian những người có học thức, mà còn lan rộng ra cả quần chúng. Ví dụ, khi giận dữ, họ bày tỏ nỗi lòng trong các câu chưởi: chưởi nhẹ, chưởi xéo, chưởi giận, chưởi loạn, chưởi dai. Mất vài con gà, chủ nhân ra đường chưởi đổng, trình diễn cả một bản trường ca hàm hồ, hỗn xược, tục tĩu, bình thản mà đau điếng, dông dài mà thấm thía:
Cao tằng tổ dĩ, cao tằng tổ khảo, cố tổ gia tông, cả ông, cả bà, cả cha, cả mẹ, chú bác, anh em, họ nội, họ ngoại, xa gần ân ái, họ gái họ trai, dưới âm phủ đội mũ mà đi lên, trên thiên đàng xếp hàng mà đi xuống, bay hãy vén mái tai, gài mái tóc, đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngỏ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tao chưởi đây nầy: Tam canh mụ đội, xóm hội, xóm phường, xóm trước, xóm sau, xóm trên, xóm dưới, lư hương bát nước, chiếu trải giường thờ, tau bới mả cha bay rung rinh như thuyền mành gặp sóng, tau nín như nín địt, tau dập như dập cứt mà bay cứ bươi ra, bay chọc cho tau chưởi. Tau chưởi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn kiếp, cái quân vô hậu kế đợi đã ăn của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng. Bay ăn chi mà ăn ác nhơn ác nghiệp. Bay ăn bằng nồi đồng, bay ăn bằng nồi đất, bay ăn lật đật, bay ăn ban đêm bữa tối. Bay ăn cho chồng bay sợ, cho con bay kinh, bay ăn cho ngã miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết để một mình bây giờ bay ngồi đó bay ăn. Đồ cái quân ăn chó cả lông, ăn hồng cả hộ. Cái quân không sợ trời đánh thánh đâm, trời đánh thánh vật. Bây giờ mần răng mà ăn hết một chục rưỡi con gà (*).
Đi một vòng dù vội qua lời văn tiếng nói xứ Huế, chắc ai cũng công nhận vùng đất miền Trung nầy có nhiều từ ngữ lạ tai, có người cho là độc đáo, dễ thương, chính người Huế thì xem nó như là biểu trưng cho bản sắc của mình. Vì vậy, không những lúc gặp nhau huyên thuyên trò chuyện họ đua nhau dùng đủ thứ thổ ngữ, trong sách báo họ sử dụng đôi khi cũng quá nhiều. Ta không thể trách được những người từ chối quên bỏ quá khứ, sống tha hương mà luôn hướng lòng về quê nhà. Tuy vậy, cũng có người thấy bất tất phải dùng mô, tê răng, rứa hay phán câu yêu cầu "eng nớ, ăn xong eng ra xuốc cái cươi chút hí" vì "thiển nghĩ độc đáo chưa chắc là một điểm son, một điều hay, một cái đẹp" và bị trách không biết khai thác tiếng Huế của mình, của hiếm mà không tóm lấy cất dùng, phí của trời (Võ Đình, Văn học, 2000). Thật ra, sử dụng quá đáng không hay mà bỏ quên đi cũng là điều phí lãng. Không phải tình cờ mà bên cạnh những tờ Sông Hương, Người Sông Hương, Tiếng Sông Hương, Huế Xưa và Nay, Nghiên cứu Huế, những giai phẩm, đặc san Quốc Học, Đồng Khánh,... rất nhiều nơi trên năm châu đã đua nhau xuất bản những tập san, tuyển tập Nhớ Huế, ngay cả một bộ Tự điển tiếng Huế (*) cũng được công phu soạn thảo, hầu mong giữ vững lâu dài lối nói tiếng Huế, một khía cạnh văn hóa miền Trung đất nước.
Xô thành những ngày Tiểu hàn 2003
Đoàn Kết 494 2004
Chú thích:
(*) Bùi Minh Đức, 
Tự điển tiếng Huế, Nxb Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học 2001, ấn bản thứ ba 2009. Ai thích tiếng Huế nên kiếm đọc, cam đoan nhiều giờ thú vị.


33- LỖ TAI VÀNG LÀNG MỸ CANG
Tôi quê người Nam Phổ, đến nay tính ra đã được 12 thế hệ. Nhưng đến đời ông thân tôi làm ăn không đủ sinh sống nơi quê cha đất tổ nên đem vợ và đứa con đầu lòng về ở làng mạ tôi. Mỹ Cang là một cái làng nhỏ xíu, mà thường tôi gọi đùa nhưng rất đúng là thôn Mỹ Cang, nói tắt thôn Mỹ để nhái lại thôn Vỹ... Người trong vùng còn một tên gọi khác: Làng Hói vì một cái hói nhỏ nằm dọc phía nam. Cái làng nầy nhỏ đến nỗi ít thấy trong các bản đồ cũng như trong các bảng kê khai làng xóm. Thật ra, nó được cắt một mảnh từ xã Mỹ Xuyên ra, thành thử làng được xã bao quanh ba bề, sông Ô Lâu chạy dài theo phía tây. Năm 1946, để trang hoàng chòi tự vệ bên cạnh Bến Đình, chỉ một ngày, tôi đã sử dụng phương pháp hướng đạo (dùng địa bàn và đo bước chân) thực hiện một bản đồ làng đủ kích thước.
Làng có ba xóm: xóm trong, xóm dưới và xóm ngoài. Xóm trong là xóm của họ Lê mà một hậu duệ sau nầy được biết ở Huế là anh Lê Tư Sơn, nay đã mất. Xóm dưới chạy dài đến các làng Phước Tích, Phú Xuân, đóng góp một số thiếu niên, thiếu nữ trong đội của tôi, sau nầy có nhiều em đi làm liên lạc cho bộ đội. Xóm ngoài là xóm của họ Hồ, nằm dọc sông Ô Lâu gồm có một dãy mươi cái nhà tranh nằm giữa hai cái nhà ngói: nhà của cụ mạ tôi và nhà ông Tri Giồ sau nầy dời lên Phường Trung (Mỹ Xuyên). Tôi còn nhớ ông ấy đi đâu cũng chỉ nói "Lọt, lọt" nhái tiếng "alors" của Pháp mà ông đã từng nghe thời phiêu lưu tuổi trẻ. Lúc tôi chưa sinh ra, cụ mạ tôi đêm làm bánh kẹo, ngày khiêng đem bán cho công nhân đường tàu xe lửa xuyên Đông Dương, đoạn quanh Mỹ Chánh, từ Phò Trạch ra Quãng Trị, nhưng khi công trường đi quá xa thì không theo được nữa. Hồi ấy, nhà của họ cũng chỉ là một lều tranh như những nhà khác. Sau đó, mạ tôi quay ra bán đồ tạp hóa, từ kim chỉ, bút giấy, hương đèn qua thuốc lá, thực phẩm, vải vóc,... ở ngoài chợ, chật vật sáng gánh đi, tối gánh về. Mạ tôi thường nhắc :
Gánh khổ mà đổ lên non,
Cong lưng mà chạy, khổ còn đuổi theo!
Mạ tôi kể lại hồi đó bán chịu mà không biết chữ, bao nhiêu con số phải ghi trong đầu óc. Khi chị tôi lớn lên, học đọc học viết với các anh tôi, mới giúp bà ghi chép. Cái gen trí nhớ của mạ tôi phải chăng đã giúp tôi phần nào sau nầy học hóa học ở đại học. Rồi hai ông bà thêm vào việc buôn lúa (bán chịu khi lúa chưa lên, đến mùa thì nông dân trả nợ bằng lúa vừa gặt), nuôi bò (gởi nuôi ở vùng đồi, chia bò với người nuôi), buôn củi (mua củi từ vùng rừng núi, chở về bán ở thành phố). Do cần cù lao động và tháo vát, biết tính toán trong kinh doanh, đời sống trong gia đình được cải thiện và từ đấy mới xây dựng cơ ngơi, tậu thêm vườn, dựng nhà ngói. Công lao vĩ đại của cụ mạ tôi, hai người không có chút học thức mặc dầu mạ tôi là con cháu nhà quan, đối với đàn con bảy đứa là đầu tư cho đứa nào cũng học được chút ít chữ nghĩa hầu mong hiểu biết thêm trong cuộc sống, đồng thời có khả năng leo lên thang xã hội, may ra tránh được cuộc đời lam lũ cực nhọc mà họ đã sống. Ông bà lập một chương trình nhiều đợt đã được thực hiện có kết quả : cho anh cả chúng tôi vào làm y tá tập sự ở bệnh viện nhãn khoa ở Huế sau bằng tiểu học; khi có việc làm rồi thì anh lập gia đình, thuê nhà và lần lượt cho một, hai em vào ở học; dần dần các em lớn lên lo cho các em nhỏ,... Dân ta thường có câu tự hào:
Nước lã mà vã nên hồ,
Tay không xây dựng cơ đồ mới ngoan.
Ông bà sẽ hãnh diện biết bao nếu ngày nay thấy được một đứa con của ông bà đứng trên bục thính phòng ở viện Đại học Sorbonne giải thích trước các giáo sư những phương trình hóa học phức tạp dành cho những khảo cứu viên cao cấp...Con đường từ làng Mỹ Cang đến Sorbonne thật là dài dằng dặc và trải qua biết bao chướng ngại. Tôi nhớ lúc tôi bảy tuổi, các anh tôi đều đã vô Huế, chỉ một mình tôi là đứa con út cưng ở làng với cụ mạ tôi, chị tôi và ông ngoại tôi. Tôi đi học trường tổng với thầy giáo Yến, người làng Phước Tích, một năm rồi mà chẳng đọc, viết được thông thạo. Cụ mạ tôi cũng như chị tôi, ông tôi chẳng giúp tôi được. Thế là mấy anh tôi lấy một quyết định làm khổ tâm tôi: tôi cũng phải vô Huế ! Bảy tuổi mà phải rời cụ mạ, tổ ấm cưng chìu, một bà chị lo lắng cho tôi như một bà mẹ... Cách thay đổi lối sống nầy là bước đầu rèn luyện cho bản thân tôi để sau nầy có đủ khí giới tranh đấu với đời. Hằng năm, chúng tôi chỉ về làng trong những kỳ nghỉ Tết, Phục sinh và ba tháng hè mà cụ mạ tôi quen gọi là "ba căng" (vacances). Chao ôi, mỗi chuyến đi về có 40km mà thật là một hành trình như đi hằng trăm, hằng ngàn cây số bây giờ. Hồi ấy không có va li hay bị xách mà phải mang rương hòm vừa nặng, vừa kềnh càng. Nhưng bù lại, về đến nhà, đến làng là như trở lại chốn thần tiên ấp ủ cả năm mặc dầu tôi không khổ sở trong nhà anh tôi. Tôi còn nhớ mãi khi tàu về trễ mà không báo trước, mạ tôi hấp tấp chạy ra vườn hái vài ba lá rau là cả một bữa cơm thịnh soạn, trong mắt tôi, được dọn ra. Tráng miệng thì trong vườn có trái cây đủ thứ: chuối, cam, thơm, ổi, mít, dâu, mảng cầu,... Những hôm Tết là những ngày vui nhộn nhất, ăn uống, đánh cờ, đánh bạc. Sau nầy, một người anh tôi và tôi đi hướng đạo, muốn cải cách lối ăn Tết nhưng chẳng làm nổi. Ấn tượng nóng hổi còn lại bây giờ là những tháng hè. Mấy anh tôi tổ chức sáng học chiều chơi. Con trẻ trong làng đều được mời lại dự, sáng cũng như chiều. Những năm cách mạng, dưới sự điều khiển của một người anh tôi, lúc ấy làm hiệu trưởng trường huyện Phong Điền, lớp học nầy, với sự đóng góp của nhiều thanh niên trong làng, đã biến thành tòa soạn thực hiện một tờ báo làng độc nhất trong vùng, dán trên cửa đình làm người làng rất hãnh diện. Những nhà báo nghiệp dư vô tư kia cũng là những những nhân viên trong những đêm thông tin tuyên truyền, những thầy giáo dạy học, dạy viết trong các lớp truyền bá quốc ngữ buổi tối. Dưới ngọn đèn dầu leo lét, những mái tóc bạc cặm cụi nắn từng nét chữ thật là cảm động. Những tối sáng trăng là những buổi họp thiếu niên hồn nhiên hay những buổi tập quân sự tuy nghiêm túc nhưng vô cùng vui nhộn. Cuối chiều là những trận bóng chuyền, bóng đá hào hứng trên sân đình hay ở chợ cũ. Trong những đầu thập niên 40, một người anh tôi còn là học sinh ban thành chung, mạnh mẽ, đẹp trai, ham mê đá bóng, đến nghỉ hè là tổ chức những trận đấu giữa các làng vùng quê. Đáng buồn là trong một trận kia, anh rủi ro bị một cú đầu gối đánh vào thủng ruột và chết ở nhà thương Huế. Từ đấy mạ tôi cấm các anh tôi và tôi đá bóng. Tuy vậy, nhân ngày kỷ niệm một năm cách mạng, tôi cũng chịu nhận ra làm thủ môn cho một trong hai đội của bốn khu A,B,C,D liên xã Phong Lâu,... Chơi banh xong là nhảy xuống tắm sông. Nước sông sạch, mát, gội rửa mọi mệt mỏi vừa qua. Cũng là một dịp để bơi xa, lặn lâu. Tôi có người anh khi chơi trò trốn tìm, có khả năng ngồi lâu dưới đáy sông, lắm khi làm chúng tôi lo sợ hoảng hồn.
Đối với tôi, sông Ô Lâu để lại nhiều kỷ niệm êm đềm. Chính ở trên bờ sông nầy mà những đêm hè, cùng với các anh, tôi được thưởng thức những điệu ca Huế của một cô gái trẻ xinh, bà con bên chị dâu tôi. Là một tôn nữ con nhà nghèo khó, cô lại giúp việc nhưng vẫn luôn nuôi dưỡng một tấm lòng văn nghệ dồi dào... Mới xấp xỉ 15 tuổi mà cô biết hát hay tất cả các bài Nam ai, Nam bằng, Lưu thủy, Hành vân, Kim tiền ,Tứ đại cảnh,...làm người nghe, đặc biệt một thiếu niên mới dậy thì như tôi, không sao tránh khỏi một mối tình lãng mạn. Vì vậy, hơn một nửa thế kỷ sống bên phương trời Tây, tôi luôn còn xúc cảm với những làn điệu cổ truyền xứ Huế. Cũng có đêm nằm không ngủ, anh em chúng tôi vô tình lại được thưởng thức những câu hò mái nhì xao xuyến, trữ tình của một cô lái đò không quen biết trên sông. Rồi khi nghe quen thành thói, chúng tôi lại thất vọng vì đợi lâu mà không được gặp lại giọng hò quyến rũ kia... Còn có những trưa hè, mơ màng dưới bóng bụi tre sau vườn, tôi lại được ông ngoại cho nghe vài tuồng hát bội. Ông được xem như là một sinh viên vĩnh viễn. Từ nhỏ được cha là đô úy Hồ Đăng nuôi cho ăn học, ghi tên vào Quốc tử giám. Lớn lên khi trở thành mồ côi, ông may mắn được cô gái độc nhất là mạ tôi chăm nuôi mặc dầu nghèo nàn, túng bấn. Mạ tôi lúc trẻ có tiếng là đẹp, chịu lấy cụ tôi lớn tuổi nhiều hơn vì cụ chịu để ông ngoại tôi cùng chung sống. Tôi không khi nào được ông kể cho nghe chuyện khoa cử. Sức học của ông chỉ hiển hiện khi thỉnh thoảng ông lên truông tìm vài ba cây cỏ chữa một bệnh gì hay cho ra một vài câu học trong kinh sử. Ngoài ra, hình như ông thuộc rất nhiều các tuồng hát. Được chức ấm sinh vì là con cháu quan, ông tương đối có được cuộc đời nhàn hạ. Ông nghiện thuốc phiện, mỗi ngày hút đều đặn ba điếu. Những năm chiến tranh, hết còn thuốc hút, ai cũng tưởng ông dễ dàng lìa đời, không ngờ ông luôn vẫn mạnh, sống lâu, chỉ chết dưới lưỡi dao một tên lính lê dương vào một tối chạng vạng khi ông nghêu ngao trên đường làng.
Sức mạnh của ông phải chăng là di truyền của ông nội một thời đã danh vang vì ông nội là... Hồ Oai, một trung thần dưới triều vua Tự Đức. Lên ngôi năm 1847, vua bắt đầu cho xây lăng từ 1864 ở làng Dương Xuân cách thành phố Huế 7km. Sơn lâm ám khí, sốt rét ngã nước, ba ngàn thợ thuyền bắt buộc làm việc ở đó, đau lên sốt xuống nên hết sức công phẫn và kiếm cách kháng cự. Ở triều nhà Nguyễn tình hình cũng rối beng. Khi vua Thiệu Trị băng hà, thay vì lập con trưởng là Hồng Bảo, Trương Đăng Quế đưa em là Hồng Nhậm lên ngôi lấy niên hiệu Tự Đức. Hồng Bảo muốn chiếm lại ngôi, bị bắt, bị kết án chung thân và tự sát (1854). Cũng vào lúc ấy, một phần lớn triều thần lại bất bình vì nhà vua nhượng bộ cho Pháp mấy tỉnh miền Nam. Hồng Tập kêu gọi sĩ tử nổi dậy nên bị chém đầu (1865). Trong lúc ấy, nhà vua sức khỏe yếu, chỉ lo mài miệt kinh sử, thơ văn suốt ngày. Ở làng An Truyền cách Huế vài cây số, có Đoàn Hữu Trưng là một chàng trai thông minh, sáng sủa. Mồ côi cha sớm, anh làm ruộng nuôi mẹ và bảy đứa em. Tuy Lý Vương, một nhà thơ có tiếng, thấy Đoàn Trưng ham học, liền cho phép chàng và em là Đoàn Trực lại nhà học với các con. Không mấy chốc, chàng cũng thông thạo văn thơ và lọt vào mắt xanh của Thể Cúc, con gái Miên Thẩm tức Tùng Thiện Vương cũng là một nhà thơ lớn. Mặc dầu không môn đăng hộ đối, Tùng Thiện Vương chịu gả Thể Cúc cho Đoàn Trưng. Từ đây chàng làm quen vói đời sống vương giả, với những quan lại trong triều. Nhưng qua năm 1864, chàng trả vợ về lại nhà, lấy cớ nàng không phải là một cô dâu thảo, lập hội Đông Sơn Thi tửu là nơi gặp gỡ để bàn chuyện lật đổ vua Tự Đức. Được ba người em phụ tá, nhiều bạn bè, quan lại, quân binh cùng nhiều sư sải giúp sức, chàng chọn Đinh Đạo (tức là Ưng Đạo bị đổi tên), con Hồng Bảo, làm người kế vị và dựa vào sức mạnh của ba ngàn thợ thuyền cùng quân binh lấy chày vôi làm vũ khí cho nên có tên loạn Chày Vôi. Cuộc khởi nghĩa lấy chùa Pháp Vân làm địa điểm tập hợp. Chùa nầy nằm cạnh khu lăng mà tên đầu tiên là Vạn Niên, sau nầy vua Tự Đức đổi thành Khiêm Lăng vì Vạn Niên đã tượng trưng cho bất bình, bạo lực.
Vạn Niên là vạn niên nào,
Thành xây xương lính hào đào máu dân.
Mùa thu 1866, chùa Pháp Vân mở hội, đại trai đàn siêu độ cho chúng sinh và giải oan cho Hồng Bảo, có mặt đông đủ nghĩa quân và gia đình Đinh Đạo. Họ quyết định phát động ngày 16 tháng 8 tức là ngày trực của Hữu quân Tôn Thất Cúc làm nội ứng. Theo Bùi Quang Tung trong Bulletin des Etudes Indochinoises (1967) lược kể Gia Sơn Kiều Oánh Mậu trong Quốc triều ban nghịch truyện, nghĩa quân tiến rất mau vào thành nội qua Ngọ Môn, được Tôn Thất Cúc từ Đại Cung Môn đến dẫn đường qua Tả Dịch. Phó vệ úy Nguyễn Thanh và Chỉ huy sứ cản đường nhưng không nổi. Khi nghĩa quân tiến đến Duyệt thị đường, đến lượt Quyền Chưởng vệ Long Võ quân Hồ Oai ngăn chận thì bị Đoàn Trực chém vào tay trái. Mặc dầu bị thương, Hồ Oai đóng ngay cửa Tả Sương. Chạy đuổi bắt Hữu quân Đoàn Thọ là người điều khiển cuộc bảo vệ hoàng thành, Đoàn Trực chạy qua điện Thái Hòa hợp lực với Đoàn Trưng. Thừa lúc vắng mặt địch quân, Nguyễn Thanh và Cai đội Trần Đức Lý đóng cửa Dịch Môn còn Hồ Oai thì chạy tìm quân cứu viện. Trong lúc ấy Đoàn Trưng ra lệnh đem giá rước Đinh Đạo lên ngai vàng. Gặp Đoàn Trưng, Hồ Oai thét lên: "Nếu muốn sống phải cút đi" rồi hướng về thợ thuyền: "Các ngươi cũng theo giặc à?" làm họ bỏ chạy tán loạn. Thấy vậy, Hồ Oai và Cai đội Cai Văn Sâm vung kiếm chém Đoàn Trực buộc chàng quỵ xuống, còn Đoàn Trưng thì bị bắt sống... Loạn Chày Vôi thất bại. Đoàn Trưng, Đoàn Trực, nhà sư Nguyễn Văn Quý và một số nghĩa quân bị án tử hình, những người lãnh đạo kể cả Tôn Thất Cúc đã tự vẫn, bị cắt thành mảnh nhỏ, đầu bêu ngoài đường. Gia đình Đinh Đạo, mẹ, vợ, anh chị em, tất cả 8 người, bị kết án thắt cổ. Tùng Thiện Vương khi thấy mọi việc bại lộ liền trói con gái và các cháu ngoại lên dâng vua. Vua Tự Đức không kết tội Tùng Thiện Vương, chỉ trách không biết chọn rể, cắt lương bổng trong 8 năm còn Thể Cúc thì phải lấy họ mẹ và sống những ngày cuối đời trong một đạo đường.
Trong cuốn Biến động (nxb Thuận Hóa, Huế, 1984), nhà văn Thái Vũ cho thêm chi tiết về vụ Đoàn Trực chém Hồ Oai: "Hắn định chặn cửa không cho Tư trực tiến vào nhà Duyệt thị. Tư Trực như con mãnh hổ đang đà xông tới, đánh bạt lưỡi gươm của Hồ Oai làm hắn ngã nhoài xuống đất. Tư Trực thuận tay đưa đà gươm xuống chém vào cổ Hồ Oai, nhưng cái ngã đã cứu hắn thoát. Gươm của Tư Trực chém đứt tai bên phải của Hồ Oai, hắn ôm đầu gục xuống. Tư Trực tưởng hắn đã bị thương nặng nên không bồi thêm nhát nữa để kết liễu đời hắn! Anh nhảy qua người hắn cùng quân nghĩa xông thẳng vào nhà Duyệt thị, tìm cách đến cửa Tấu. Thực tình anh chủ tâm vào việc phá cửa Tấu để sang Càn thành hơn là giết một tên quan võ mà anh cho là một tiểu tốt vô danh chưa đánh đã ngã. Anh không hiểu được rằng đó chính là hành động thắng bại của hội Đông Sơn thi tửu khi đánh vào Đại nội". Trong sách Danh nhân Bình Trị Thiên (nxb Thuận Hóa, Huế, 1987), ở chương Đoàn Hữu Trung, tác giả Đỗ Ban kể có phần khác : "Đoàn Hữu Trung đang tìm vào cửa Tấu Môn, trực diện tiến thẳng vào giường ngủ của Tự Đức chỉ còn cách một bức tường nữa thì đến long sàng, gươm vua xa gươm ngụy gần, lính canh thấy quân kéo vào đông lo chạy trốn, thì chợt thấy Chưởng vệ Long Võ quân Hồ Oai xuất hiện: thấy nghĩa quân quá đông Oai hoảng sợ chạy lui về phía Tả Sương vội vàng đóng cửa lại để ngăn bước tiến của nghĩa quân, nhưng Đoàn Hữu Trưng đã nhanh chóng đuổi theo lùa gươm qua cửa khe, chém mất tai nhưng Oai vẫn ghì chặt cửa, Trưng ra lệnh thu quân về điện Thái Hòa để chờ lệnh mới". Dù Đoàn Trưng hay Đoàn Trực đã chém, một điều chắc chắn là Hồ Oai đã tỏ ra rất trung với vua và trong khi cứu vua đã mất một lỗ tai. Vua Tự Đức rất cảm kích cử chỉ một trung thần, khen công lớn, đã thăng ông chức Đô thống Tiền quân kiêm Doanh Long Võ, ban tước Nghĩa Dũng Tử, về quyền vẫn giữ Quan Lĩnh Thị vệ, chức Đại thần và tặng thẻ bài ngà mang ba chữ Vũ Dũng Tướng, một viên ngọc đeo, một nhẫn vàng có kham kim cương, 10 lạng vàng để làm lại một lỗ tai vàng (báo Ánh Sáng, Huế, 1935). Theo Thái Vũ, sau nầy Hồ Oai nhậm chức Tổng đốc Đại thần ở Nghệ An, bất lực trong việc trấn áp Văn thân chống Pháp và chống tà đạo khi vua Tự Đức đã hòa nghị nên bị giáng xuống Chưởng vệ, đổi về quê rồi chết. Nhà sử học Yoshiharu Tsuboi trong cuốn L'Empire vietnamien face à la France et à la Chine (Đế quốc Việt Nam trước nước Pháp và Trung Hoa, nxb L'Harmattan, Paris, 1987) xác nhận tài liệu nầy và cho biết thêm để giải quyết vấn đề nầy, vua Tự Đức phải gởi nhiều quân binh do Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đích thân điều khiển.

Làng Mỹ Cang có nhà thờ họ Hồ và ông Hồ Oai , ông cố ngoại bốn đời của tôi, đã được thờ ở đây. Cách đây mấy năm, anh Nguyễn Đắc Xuân, trong cuốn Chuyện các quan triều Nguyễn (nxb Thuận Hóa, Huế, 2001) có viết theo lời kể của ông Hồ Thu ở Tân Định những giai thoại về sức mạnh của Hậu quân Hồ Oai. Tôi không kể lại đây những thành tích khác thường của một người hùng nhưng tôi lại thắc mắc về tung tích của ông. Tôi có lại gặp ông Hồ Thu : ông tự hào là hậu duệ ông Hồ Oai nhưng không biết gì đến làng Mỹ Cang và nhà thờ họ Hồ ở đây. Hôm về thăm quê năm 1988, tôi ghé lại nhà thờ nầy nhằm chụp hình tấm bia kể công trạng ông cố của tôi. Đáng tiếc là tấm bia bị bom phá gãy và người ta đã vứt xuống hói. Lại lục lọi bờ hói , tôi chỉ tìm ra được một mảnh phía trên bia, không có chữ. May có người bà con trao cho tôi một bản sao chụp tấm bia. Đem về Pháp tôi nhờ anh bạn Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp, nay đã mất, đọc giùm. Tuy không rõ lắm, anh cũng nhận ra được đây là bài văn của Nội các ghi lời Dụ của vua ban ngày 24 tháng 8 năm Tự Đức (1866) về vụ loạn xảy ra ngày mồng 9 cùng tháng với những chi tiết về công lớn và thăng thưởng đã thấy ở trên. Họ Hồ ở Mỹ Cang chính thật đúng là dòng họ ông Hồ Oai. Nhưng như vậy thì ông Hồ Oai của ông Hồ Thu là ông nào? Có hai ông Hồ Oai? Tôi chỉ có một giải thích theo lời gợi ý của ông Hồ Thu: ông Hồ Oai có một bà vợ khác và bà vợ nầy không hay biết gì về bà ở Mỹ Cang. Bà nầy có thể xây dựng một nhánh ở Đồng Hới, nay như tuồng còn mộ ở làng Nại (Lương Yến) cách thị xã Đồng Hới 2km, có điều gia phả đã bị tiêu hủy, khó chứng minh. Chuyện nhỏ lặt vặt, ngày nay chẳng có gì là quan trọng, nhưng tôi chỉ yên tâm ngày nào tìm ra giải đáp. Chắc bên ông Hồ Thu cũng vậy.
Xô thành mùa Vu Lan nhớ Mạ 2004
Nhớ Huế 23 Huế Làng Xưa 2004
34- CHIẾC ÁO DÀI HUẾ
Áo trắng hỡi, thuở tìm em không đến
Nắng mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Thu Bồn
Thành phố áo dài trắng là tên một cuốn phim phóng sự về Huế chiếu cách đây mấy năm trên đài truyền hình ở Pháp. Hai năm trước đây, chị Xuân Phượng, một cựu nữ sinh Đồng Khánh, cũng lấy hai chữ Áo dài bằng tiếng Việt để đặt tên thiên bút ký-tiểu sử bằng tiếng Pháp của mình. Thì ra, dù là người Việt hay người nước ngoài, chiếc áo dài ngày nay là một biểu tượng đẹp đẽ, thật ra không chỉ cho xứ Huế, cho miền Trung, mà cho cả đất nước. Không có ai đi du lịch bên Việt Nam về mà trong lô ảnh không có một vài bức chụp một cô gái với chiếc áo dài tha thướt hoặc ngồi thẳng trên xe đạp hoặc lang thang trong cung điện.
Chuyện chiếc áo dài Huế dính liền với sự tích chiếc áo dài Việt Nam. Ngày trước bên ta, đàn ông đóng khố, đàn bà quấn màn (tên cái váy hồi xưa) bằng vỏ cây tapa (?) (Huard, Durand, Connaissances du Vietnam, 1954) sau được gọi là váy (làm bằng vỏ cây váy ?). Sau nhiều năm đô hộ Trung Quốc, đàn ông chịu mặc quần nhưng đàn bà vẫn giữ cái váy, nhất là sắc chỉ vua Lê Huyền Tông năm 1663, thời Trịnh Tạc, cấm đàn bà mặc quần như đàn ông. Thời Lê mạt Nguyễn sơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ Đánh đu:
... Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song...
đọc xem như một cặp trai gái đánh đu. Thật ra, theo Phượng Linh Đỗ Quang Tri, đàn ông không mặc quần hồng, bốn mảnh quần hồng đây chỉ bốn khổ vải hẹp may lại thành váy, thành ra hai cô gái đánh đu mới có hai hàng chân ngọc, hợp với giọng thơ lẳng lơ của Hồ Xuân Hương.
Năm Giáp Tý 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát, hay Nguyễn Phúc Hoạt (Trần Đình Sơn, Hoàng Anh, Tản mạn Phú Xuân, 2002), ông nội Nguyễn Ánh, dựa lên câu sấm "bát thế hoàn trung đô" nghĩa là tám đời trở lại kinh đô, dời thủ phủ về Phú Xuân, tự xưng Võ Vương, cải tổ cơ quan hành chánh, đúc quốc tỷ, dựng tông miếu, truy tôn tước hiệu, xác định triều phục: "Đổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the và trừu đoạn, còn gấm vóc thì nhất thiết không được theo thói cũ dùng càn. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì từ hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xé mở..." (Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục). Đặc biệt về phụ nữ thì cấm đàn bà mặc váy. Sau nầy, vua Minh Mạng có tiếng là nghiêm ngặt, nhất định thi hành nghiêm chỉnh pháp luật làm khổ những vợ chồng nghèo ngoài Bắc còn quen mặc váy:
Lệnh từ trong Huế ban ra,
Cấm quần không đáy đàn bà phải tuân.
Đi chợ mượn đỡ cái quần,
Chồng đành mặc váy che thân ngồi nhà.
Bổng nghe mõ gọi đằng xa,
Vội vàng đóng khố chạy ra ngoài đình.
làm phiền toái biết bao người:
Tháng tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Ra đi lột lấy quần chồng sao đang?
Có quần ngồi bán quán hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.
Thật ra, đến thời cách mạng, váy vẫn còn dùng ngoài Bắc, tuy áo tứ thân, quần lĩnh thâm đã rất được thông dụng. Trong Nam và nhất là ở miền Trung, Ngũ Quãng thì từ lâu đã được thịnh hành thói mặc quần và áo dài, một phần nào kết hợp hài hòa y phục rực rỡ các sắc tộc hay chiếc áo tứ thân duyên dáng ngoài Bắc với những tà áo dài tha thướt phụ nữ Chiêm Thành. Nhà biên khảo J.L. Dutreuil de Rhins, năm 1889, đã đưa ra hình ảnh chiếc áo dài xưa gọi là áo lá sen hơi giống như loại áo Thanh cát của các quan văn, quan võ thời nhà Lê, chỉ khác là ở các quan nầy miếng vải hình lá sen kết ở phía sau vai. Dân thường và học trò cũng được mặc áo Thanh cát mỗi khi tham dự việc công, dĩ nhiên là kiểu dáng không giống áo của quan lại, nhưng màu thì giống. Đó là màu xanh lam. Bình thường mặc áo Chuy y là áo màu đen. Màu áo Thanh cát cũng gồm hai màu khác nhau, xanh thẩm gọi là màu hòa minh, xanh nhạt gọi là màu vi minh... Một đặc tính tiêu biểu của y phục xưa, nhất là y phục Huế, đó là đặc tính kín đáo. Áo quần thường dài, rộng phủ trùm thân thể trừ mặt mũi và bàn tay, bàn chân ra, nơi nào cũng phải che kín bất kể thời tiết nóng lạnh. Truớc đây phụ nữ Huế, dầu thuộc giới bình dân, bán chè, bán cháo, buôn gánh bán bưng đều phải mặc áo dài... Khi các cô ra đường phải nhớ lời mẹ dặn: ra đường cúi mặt xuống đất, về nhà mới cất mặt lên trời, luôn luôn họ phải một tay giữ nón, một tay sẵn sàng ghép hai tà áo lại để bảo đảm tính kín đáo... Cái lối dùng nút thắt của Huế cũng là đáng cho ta khâm phục thái độ đề cao cảnh giác của các bà mẹ Huế. Nút thắt bằng vải là một loại cúc áo rất khó mở. Với các loại cúc bấm, Huế gọi là nút bóp, rất dễ tuột. Để tránh sự cố, các cô về sau xài nút bóp phải dùng thêm cái khuy cài bằng thép ở nơi eo. Chính vì đề cao sự kín đáo mà vua Minh Mạng mới cấm cái váy tức là cái quần không đáy.
Cái gì tồng bộng hai đầu
Bên ta thì có bên Tàu thì không?
Đó là câu đố về cái váy. Đã tồng bộng hai đầu thì còn làm sao mà kín đáo? (Tiêu Lang, Áo dài Huế, 1999).
Lẽ tất nhiên, những nữ tướng thời trước, những phụ nữ thao luyện võ nghệ thì phải mặc áo ngắn, quần túm gọn gàng. Đằng khác, các bà công chúa, hoàng hậu trong cung cấm cũng như các bà vợ quan, các cô gái vương giả thì áo quần không những rộng rãi mà còn phải may mặc phức tạp, tơ lụa quý giá, màu sắc rực rỡ, vừa làm vui mắt các đấng phu quân, vừa tô điểm thêm nơi cung đình, điện phủ. Ngày nay, ta chỉ thưởng ngoạn được những loại áo giới quý tộc, của nữ quan, như mạng quan, mệnh phụ, trong các viện bảo tàng, hay may mắn thì bắt gặp trong nhũng buổi diễn cổ truyền dân tộc. Trong dân gian, cái áo nói chung là để giữ kín con người, nhất là cơ thể đàn bà. Thời trước, vú phải có yếm dẹp lại, mông không được phô ra, áo dài lắm là đến đầu gối. Nhưng với sự tiếp xúc người Tây phương, đặc biệt phụ nữ Pháp, làm sao chống lại một cuộc đổi mới đi đôi với một trào lưu mỹ thuật ngày càng lên. Đúng vào lúc ấy, họa sĩ Nguyễn Cát Tường, xuất thân từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, qua hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay, vào những năm 1934-1935, gây một cuộc cách mạng văn hóa khi phát động kiểu áo tân thời Lơ-muya (tiếng Pháp le mur nghĩa là bức tường) bó sát cơ thể, vào bụng, vào ngực, tiền thân của chiếc áo dài ta thấy ngày nay. Có người tin là để vẽ kiểu nầy, Nguyễn Cát Tường đã hợp tác với họa sĩ Lê Phổ (Tiêu Lang, Áo dài Huế, 1999) cũng xuất thân từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, hay họa sĩ Ch. Mau's (tức Chu Hương Mậu) du học ở Pháp về (Phan Thứ Lang, Xưa và Nay, 1997). Tranh luận là kiểu áo tân thời có phải là do Nguyễn Cát Tường đầu tiên vẻ không vì trong Nam, từ 1932-1933, nhiều kiểu áo như Hoa hường giờ Tý hay Mặc Nàng của Dương Công Nam đã được trình bày trong các báo Tân Á và Khuê Phòng. Cũng dễ hiểu vì miền Nam tiếp xúc Tây phương trước hơn mọi nơi khác. Dù sao, "mốt" tân thời một khi "lăng xê" được mạnh dạn hưởng ứng, từ Bắc vào Nam, ngay cả ở Huế thường được xem là xứ bảo thủ, với những lễ giáo khắc nghiệt gia đình, tuy chậm chạp so với Hà Nội ngàn năm vạn vật và Sài Gòn viên ngọc Viễn Đông. Thật ra ở Huế, người ta lâu lắm vẫn còn nhìn chiếc áo mới với cặp mắt phê phán. Nhân cuộc trình diễn thời trang Lơ-muya ở Hội chợ Huế 1936, cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị có câu hò giã gạo giáo huấn:
Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời
Vỏ ngoài che đậy mà thôi
Tháo ngay trong dạ để gương đòi soi chung
biến chuyển thành câu hò trào phúng:
Giày o (cô) đi là giày cao gót
Áo o mặc là áo Lơ-muya
Tôi đây khác thế trò trìa
Thấy o chúm chím o cười chê tôi thẹn thùng.
Sau nhiều năm rầm rộ, áo Lơ-muya dần dần trở thành thói quen. Thực hiện tương đối khó khăn, nhiều cô nhiều bà trở lại với cách may mặc giản dị lúc trước. Nhưng cũng có những phụ nữ tiếp tục cuộc cách tân, cắt ngắn vạt áo, kéo dài nó ra, nâng cao cổ áo, rút ngắn nó lại, khi cổ kín khi cổ hở, hết cổ tròn đến cổ trái tim, nút gài bên mặt chạy qua bên trái, rồi trở về chính giữa,... Bà Trần Lệ Xuân, phu nhân ông Ngô Đình Nhu, trong tinh thần giải phóng phụ nữ, để tránh nóng những ngày hè rực nắng, đề nghị cắt bỏ cổ áo, khoét tròn đến hai vai không khác gì áo các cô đầm. Cũng vào khoảng thập niên 60, còn một loại áo mang tên Raglan, tay dài, ráp xéo vai để tránh nhăn, có lẽ cũng do ảnh hưởng Tây phương. Các kiểu nầy không tồn tại được lâu. Thật cũng may mắn ví chính những tà áo dài giản dị trông lại đẹp mắt hơn. Thường lúc trước áo chỉ một màu, giới lao động vải thô màu xẩm, tuy ở nhà quê có lúc thấy hai màu nâu-trắng chéo nhau, hài hòa trên những cơ thể chắc cứng các cô thôn nữ còn bên giới quý tộc thì lụa gấm màu hoặc  đậm hoặc sáng nhẹ hơn, yêu kiều trên những thân hình dong dỏng, mảnh dẻ các cô bà. Tôi còn nhớ thời tiền chiến, nữ sinh nội trú trường Đồng Khánh cứ mỗi chiều chủ nhật mới được đi dạo chơi, sắp thành hai hàng, áo đồng phục màu xanh hay màu tím trên quần trắng, đầu đội nón lá, chân đi guốc gỗ, những tà áo phấp phới trong gió như hai hàng bươm bướm rộn ràng trong tiếng cười khúc khích. Lẽ tất nhiên, bắt đầu từ cửa trường, trên lề đường không thiếu những cậu thanh niên, học sinh nghịch ngợm nói to những lời chòng ghẹo vui nhộn hay kín đáo trao chuyển một lá thư tình. Cảnh tượng trẻ trung tươi đẹp đó không còn nữa sau khi thái bình lập lại vì một lẽ giản dị là không còn bao lăm áo dài trên đất nước. Năm 1986, khi trở về nước lần đầu tiên, tôi chỉ thấy toàn áo cụt và áo cụt. Cũng may là vài năm sau, dần dần những chiếc áo dài được khôi phục trên cơ thể uyển chuyển của các cô gái Việt Nam, những cơ thể mà thời trang đã đặc biệt chế tạo cho chiếc áo dài. Thật vậy, áo dài đã được xuất cảng qua phương Tây nhưng tôi ít bắt gặp những cô gái tóc vàng tha thướt yểu điệu trong chiếc áo dài nước ta dần dần đang được đổi tên thành áo đài vì người Âu không biết nói âm d.
Tò mò, tôi đã đi dự một lần một cuộc thi áo dài ở Paris, quận 13. Nhập gia tùy tục, theo nhịp điệu rộn rã, các cô cũng nhún nhảy dưới ánh đèn chớp nhoáng như những người mẫu Tây phương trong một vũ trường ồn nóng. Có lẽ là người cổ hủ, tôi không biết theo dõi trào lưu và không biết thưởng thức cách trình bày không chút Á đông nầy. Nhưng quan trọng là các kiểu áo. Suốt buổi trình diễn, nhìn cách biến tấu, màu sắc sặc sỡ, đường thêu hình vẽ rằn rện trên cả áo lẫn quần, tôi tự hỏi tương lai chiếc áo dài Việt Nam sẽ đi về đâu. Tôi bổng dưng mơ về những tà áo đơn sơ độc màu phất phơ trong gió trên cầu Trường Tiền một chiều nắng hè mát dịu... Tôi không may mắn được dự những cuộc thi hoa hậu áo dài ở trong nước, nhưng được thấy phản ảnh qua một tập san bộ sưu tập áo dài Huế của nhà tạo mẫu Minh Hạnh. "... Bóng dáng của một tâm hồn Huế và những tình cảm hướng về nguồn cội của nhà thiết kế thời trang đã từng có những năm tháng lớn lên trên bờ sông Hương... Ở nhà thời trang nầy là mối giao hòa uyển chuyển giữa một cá tính mạnh, dữ dội với nét thâm trầm, tinh tế đầy nữ tính..." (Phan Bích Hà, Áo dài Huế, 1999). Qua một cuộc phỏng vấn Minh Hạnh, độc giả nhận ra nhà tạo mẫu quê Huế đã "thiết kế cách điệu - dựa lên loại áo dài cung đình, và sử dụng cả màu vàng hoàng tộc, màu vàng mà trước đây chỉ có vua chúa mới được dùng. Ngoài ra, gam màu chủ đạo vẫn các tông độ của sắc màu tím. Màu sắc và dáng kiểu cũng là những ẩn dụ về tính cách của người phụ nữ Huế - thanh nhã, dịu dàng, sâu lắng và rất nên thơ. Ngoài ra, màu tím vẫn được xem như là một biểu tượng của lòng thủy chung. Có thể người phụ nữ Huế đã thể hiện tâm cách của mình qua cái màu sắc trung trinh ấy?..." (Nhớ Huế tập 3: Áo dài Huế, 1999). Những tấm ảnh kèm theo bài phỏng vấn tăng phần thuyết phục cách hiện đại hóa chiếc áo dài của nữ sĩ Minh Hạnh, nhắc tôi những lời dạy của anh giáo sư Trần Văn Khê về âm nhạc, theo tôi hiểu : cách tân cần thiết nhưng phải dựa lên vốn cũ, cội nguồn. Tuy vậy, cảnh tượng buổi tan trường với những đoàn nữ sinh áo trắng ngày xưa khúc khích náo nhộn luôn ghi kỹ trong ký ức tôi một kỷ niệm hồn nhiên khó quên. Và ấn tượng một thời xa xôi còn đậm đà hơn qua câu thơ của nhà thi sĩ đa tình Hàn Mặc Tử:
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Xô thành trước thềm xuân Ất Dậu
Đoàn Kết 499 2005
35- DU LỊCH MIỀN ĐẤT CŨ
Cách đây đúng 20 năm, sau gần 40 năm cách biệt, tôi lại đặt chân lên miền quê cũ, nơi đã sống suốt thời tuổi trẻ. Náo nức, rạo rực, hân hoan, vui mừng... biết bao tính từ cho đủ để miêu tả thế giới nội tâm tôi trước, trong và sau khi đi viếng thăm đất nước. Về lại Pháp, bạn bè kế tiếp nhau hỏi han cảm tưởng và yêu cầu kể lại cặn kẽ chuyến đi. Thật ra, kể chuyện thì dễ, cảm tưởng khó trả lời. Tôi không phải là ông Tây đi du lịch Việt Nam, tham quan Huế với lối nhìn của cặp mắt người nước ngoài, tôi cũng không còn là một người Việt dửng dưng ngắm nhìn sông nước hữu tình quê hương như một phong cảnh thường thấy hằng ngày. Sau hơn một nửa thế kỷ sống nơi đất khách quê người dù sao đã dồn chứa trong đầu óc tôi những ấn tượng sâu sắc ngày nay chung sống với những kỷ niệm ngày xưa, tuy chỉ trong khoảng 20 năm tương đối ngắn ngủi nhưng đã được ghi tạc đậm đà trong đáy sâu tâm hồn như mọi hình ảnh của tuổi thiếu niên.
Ở Pháp, vào dịp nghĩ hè, khi đi về quê, tôi thường thích rảo bước qua những cánh đồng lúa vàng thơm phức vì ruộng lúa gây lên trong lòng tôi những kỷ niệm xa xưa. Đấy là lúc chân đạp lên những thảm cỏ xanh, ngây ngất trong cơn gió mát ban chiều, tôi hít vào cho đầy ngực không khí dịu lành của đồng quê. Đấy là lúc vào mùa gặt hái, tôi mải mê ngắm nhìn những cô thôn nữ khỏe mạnh, vui tươi, quần xắn lên quá bắp chân, đon đả chạy trên đê ruộng, hai vai nặng trĩu những bó lúa chín vàng. Vì vậy, một cọng cỏ tươi phất phơ trên bờ ruộng đối với tôi là một hình ảnh đẹp như một cô gái nõn nà. Hôm được đưa về Ưu Điềm xem bức tráng tường Chăm cổ trước chùa, tôi tự hỏi hai ông bạn dẫn đường đã nghĩ gì khi trầm ngâm nhìn tôi cặm cụi chụp hình một cây lúa đang trổ bông trong cánh đồng bát ngát. Du lịch đối với tôi lúc nầy không phải là thành trì, đền miếu, lăng tẩm, điện đài nhưng chính là ngọn cỏ đó, cây lúa đó mà tôi cam chắc sẽ không bao giờ ra khỏi ký ức tôi.
Thật ra, tôi về thăm quê hương không phải chỉ đi ngắm ngọn cỏ, cây lúa mà còn để đi tìm mọi hình ảnh thời xưa. Chỉ học ở Sài Gòn có một năm trước khi đi Pháp, bao nhiêu kỷ niệm của tôi hầu hết được giới hạn trong miền đất Huế. Sau nhiều năm xa cách, tôi không còn nhớ tất cả các nẻo đường mà nhớ sao được khi nhiều đường cũ đã bị hủy bỏ cũng như nhiều đường mới đã được mở ra. Con đường quen thuộc hồi nhỏ của tôi dẫn từ trường tiểu học Chaigneau trước nhà Bưu Điện, là nơi tôi học, về đến cầu Phủ Cam, là nơi nhà anh tôi. Ba năm liền, sáng, chiều đi về hai lần, vậy mà sau nầy trở lại, tôi chẳng tìm ra được một góc đường, một mẫu nhà để chỉ hướng cho mình. Cái nhà của một ông anh khác ở trên bờ sông An Cựu cạnh cầu Lò Rèn, bên kia Dòng Cứu Thế, nơi tôi ở trước khi rời Huế, ngày nay không còn núp bóng mấy cây dừa trồng ở vườn trước với cái sân bóng chuyền vang dậy tiếng nô đùa lúc cuối chiều mà đã nhường chỗ một số nhà nằm san sát nhau. Lưỡng lự mãi trên bờ sông, rút cuộc tôi không vào tận nơi : chắc mình chẳng còn tìm ra chút gì quen thuộc nữa và chắc cũng chẳng có người biết mình là ai ! Nhìn dòng nước đục ngầu thong thả chảy, tôi hồi tưởng lại những buổi tắm sông trước nhà, rồi trong trí óc tôi hiện ra hình ảnh quán bán giấy, viết của cô gái dựng lên bên nép đường vào dịp khai trường cuối cùng của tôi ở Huế: đôi mắt linh động đen lánh như còn mãi lén nhìn tôi. Sau hơn 50 năm mà sao hình ảnh vẫn còn rõ ràng như mới hôm qua. Cách đây mấy ngày, một ông giáo sư người Pháp vừa mới sống hơn một chục năm ở kinh đô Việt Nam về nói với tôi ông không muốn đi nghỉ hè ở Hà Nội vì ông sợ sẽ là người xa lạ trong một thành phố quá quen thuộc. Tâm trạng tôi mỗi khi về Huế cũng tương tự vậy.
Một nơi còn gợi nhiều kỷ niệm là ngôi trường lúc trước mang tên Khải Định. Biết bao danh nhân đất nước đã lết ghế ở đây. Kể chuyện cho bạn bè, tôi cũng tự hào đã từng ra vào ở đây trước kỳ chinh chiến. Những ngày biến cố 1945 rồi thời Cách mạng để lại cho tôi biết bao ấn tượng khó quên. Chính ở trong các lớp học nầy mà tôi viết những bài đầu tiên gọi là văn đăng trong tờ báo lớp vì những bài viết trước đó đều chỉ là những bài luận viết để nộp cho thầy. Chính ở đây đã học cô nữ sinh người Pháp Huguette Elule, sau nầy thành nhà văn sĩ Elule Perrin, mà tôi có dịp gặp ở Paris trong một bửa tiệc kỷ niệm ngày mồng 9 tháng 3. Đồng tuổi tôi, cô học trên tôi đến 3 lớp. Hồi ấy cô có viết một cuốn nhật ký kể lại đoạn đời bị giam lỏng ở trong trường Thiên Hựu sau ngày đảo chính Nhật. Yêu Huế hơn người gốc Huế, cô ta đã cảm kích tôi khi tâm sự nỗi lòng. Nhưng sau khi cô chết cách đây 2 năm, cuốn nhật ký được xuất bản : hỡi ôi, tôi vô cùng thất vọng vì tôi không thể tưởng tượng một đầu óc thực dân như vậy trong một cô gái trẻ còn ở tuổi học sinh. Tôi không quen cô ta ở trường Khải Định nhưng dù có biết nhau chưa chắc gì hồi đó có dịp hàn huyên như ở Paris. Đọc đến đoạn cuối khi cô tả cảnh quân đội viễn chinh đến "giải phóng" Pháp kiều, trong trí óc tôi hiện ra hình ảnh đoàn Giải phóng quân ta ngồi đợi lên tàu "Nam tiến" thành hàng dài dọc con đường Lê Lợi bây giờ, từ nhà ga xuống đến gần cầu Trường Tiền. Trong số những thanh niên nầy, bao nhiêu chiến sĩ đã ra đi mà không hẹn ngày về? Trước trường Khải Định, tôi trầm ngâm đứng ngắm đài Trận vong Tử sĩ oai nghiêm chế ngự cả một đoạn dài sông Hương, nhưng chẳng thấy có khắc tên những người anh hùng đã hy sinh cho đất nước.
Năm 1986, khi tôi về nước lần đầu tiên, cầu Trường Tiền còn bị gảy chỉ được tạm sửa. Tôi còn nhớ những ngày đi học lấy đò qua sông, học sinh vui vẻ chòng ghẹo nhau buộc mấy cô nữ sinh phải núp mặt sau chiếc nón lá bài thơ. Trong mấy năm liền vắng bóng những tà áo dài tung bay trước gió trên cầu, một hình ảnh mà khách du lịch nào cũng thèm ghi vào máy ảnh của mình. Trong chương trình Hội Người Yêu Huế hồi đó có đặt mục sửa chữa lại cầu nhưng phải đợi đến khi anh Hà Văn Lâu qua làm đại sứ ở Pháp mới có cơ hội bàn cải sâu rộng. Ngày nay, mặc dầu có cầu Phú Xuân rộng rãi, cầu Trường Tiền luôn vẫn còn tiếng thơ mộng. Trái với Paris có đến trên dưới ba chục cái cầu trên sông Seine, cầu Trường Tiền một thời đã là độc nhất trên sông Hương nếu không kể cầu tàu lửa Bạch Hổ xa xăm. Tôi thích thong thả bách bộ qua cầu, nhất là về cuối chiều, dừng chân đứng ngắm những con đò qua lại, có cái to lớn chạy bằng máy, chở hàng hóa nặng trịch nước lên đến gần mạn tàu, có cái mỏng manh lướt sóng với một cô lái đò độc nhất, tuy không nghe tôi cũng tưởng tượng ra một giọng hò văng vẳng trong tai. Đây là cảnh tượng hiếm có ghi lại trong trí óc những người xưa kia có được may mắn sống những giây phút chạnh lòng trên Hương giang muôn thuở.
Học sinh trường Khải Định hồi tiến chiến còn giữ nhiều kỷ niệm đi học trong Thành Nội vì trường được dành cho quân đội. Không còn vua chúa, cung tần mỹ nữ, những cung điện được giao phó cho bọn trẻ mặc sức tung hoành. Ngày nay muốn vào tham quan Đại Nội, phải mua vé, có giờ giấc, không được tự do đi lại mọi nơi, có chỗ còn cấm chụp hình : có ai dè một thời học sinh đã tự do đá banh ngay trên sân điện nếu không chen nhau chễm chệ ngồi lên ngai vàng. Nói thật ra, gọi là đi học, đầu óc học sinh những năm đó rất bận rộn với thời cuộc. Chế độ thuộc địa không còn nữa, đất nước đang vùng lên trên con đường độc lập. Thanh niên thiếu nữ nào vào lúc ấy ai mà không nghĩ đến tương lai đất nước dính liền đến tương lai của chính mình. Ngay trong tổ chức của lớp đã có những chương trình học hành sâu xa, phát họa những con đường chuẩn bị phát triển xã hội. Tôi còn nhớ mỗi học sinh được mời ghi lên giấy nguyện vọng của mình để rồi có người thu thập làm bản tổng kết, hy vọng sau nầy góp ý cho một chính phủ dân chủ độc lập. Rất tiếc là sáng kiến nầy không đi đến một kết quả nào. Hồi đó, mộng của tôi là học thành kỷ sư canh nông, cho nên khi thi vào lớp đệ nhị khoa học, tôi không chọn ban A là ban toán mà lại ghi vào ban B học nặng về vạn vật học. Thời cuộc dẫn đường tôi vào ngành hóa học nhưng những năm sau nầy, tôi lại đặt nhiệt huyết của mình vào những cây thuốc, thỏa mãn một mộng thời xưa. Đi dạo trong Tử cấm thành, tan hoang sau vụ cháy năm 1947, nay được xếp dọn lại ít nhiều, những năm đầu tôi về thăm đang còn là nơi hoang dại, lau lách um tùm, tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự tàn lụi của một vương triều, đến giá trị vĩnh cửu của sự vật.
Song song với kinh thành, lăng tẩm cũng được khách du lịch chiếu cố đến nhiều. Khái niệm lăng tẩm của các vua triều Nguyễn thật đặc biệt. Quần thể các lăng nằm quanh sông Hương, trong những rừng thông phía nam kinh thành, tương tự như Thung lũng các Nhà vua bên Ai Cập. Đằng khác, lăng không phải chỉ là nơi chôn cất thi hài nhà vua, thật ra không biết chôn ở đâu, mà lắm khi còn là nơi vua lại nghỉ ngơi, đọc sách, ngâm thơ, nghe nhạc,... trong lúc còn sinh thời. Hùng tráng nhất là lăng Gia Long, oai nghiêm nhất có lẽ là lăng Minh Mạng, nhưng lãng mạn nhất thì chắc chắn là lăng Tự Đức. Lăng của ông vua thứ tư triều Nguyễn thật là một vườn thơ, có thể xem như là một nhà nghỉ mát. Có ai dè đây lúc trước là nơi đầm lầy, sốt rét và thợ thuyền bị bắt lại xây cất bất bình nổi loạn, cùng với một số quan lại, sư sải dấy binh suýt giết chết vua. Ông cố ngoại Hồ Oai gia đình tôi đã có công điều khiển quân binh thành công dẹp được giặc Chày Vôi. Mỗi khi lên đi dạo ở đây, tôi lại có dịp suy nghĩ nhiều đến ông cố ấy, xuất thân từ một gia đình tầm thường, đã thành đạt trong cuộc sống. Tuy công trạng của ông ta không được tất cả sĩ phu các giới khen phục, ta phải chịu nhận ông là một người trung với vua, biết làm tròn bổn phận của một sĩ quan bảo vệ. Tôi cũng tự hỏi nếu ông Hồ Oai không thành công cứu được vua, tương lai tổ quốc ta đã đi về đâu vì ai cũng biết chính dưới triều Tự Đức mà nước Pháp đã đặt nền bảo hộ lên đất Việt Nam.
Về Huế, thấy thành phố trầm lặng trước kia của tôi bây giờ cũng học đòi đổi mới, theo đà tiến lên của dân tộc. Là một thành phố văn hóa hơn là kỹ nghệ, thương mãi, Huế rất có lý khi chú trọng nhiều về mặt du lịch. Quán cơm, khách sạn mọc lên như nấm. Mấy năm trước, dãy nhà cũ của người Pháp ở đường Lý Thường Kiệt chẳng hạn được sửa sang thành nhà khách, bây giờ những nhà khách ấy cũng nhường chỗ cho những khách sạn nhiều sao. Hồi tôi mới về chỉ có một khách sạn Hương Giang là lớn, bây giờ trong xóm nầy khách sạn lớn nhỏ đủ cở. Nhà hàng Morin Frères cũ cũng trở thành khách sạn Morin Saigon bề thế. Với những Festival liên tiếp hai năm một lần, ngành du lịch thấy phát triển rõ ràng đồng thời cống hiến nhiều việc làm cho người dân. Tôi chưa có về dự một Festival nào, chỉ có đọc chương trình, thấy có vẻ hấp dẫn. Câu hỏi là những tiết mục đặt ra, ngoài mục đích lôi cuốn du khách, đóng góp làm sao cho cuộc mở mang vùng Huế? Hương xưa làng cổ, nhà vườn Kim Long gợi lên những nét đặc sắc của văn hóa Huế thật đáng giới thiệu. Trình diễn nghệ thuật thủ công cũng cần được đề cao. Đằng kia, phục dựng lễ hội Nam giao chẳng hạn với đoàn Ngự đạo xuất cung, hồi cung cùng lễ tế trên đàn Nam giao với vua quan, võng lọng, cờ xúy, voi ngựa, tốn nhiều công phu, tiền bạc, liệu có được xem như một sự kiện lịch sử không hay chỉ xếp vào những loại tuồng hát? Vẫn biết trên thế giới có nhiều thành phố cũng phục dựng những cạnh tượng thời xưa nhưng không phải vì người ta làm thì mình cũng học đòi làm theo.
Dù sao, tôi vẫn mừng khách du lịch ngày càng đông tham quan Huế. Hy vọng họ vui thú khi viếng thăm đồng thời nâng cao kiến thức về một nơi lịch sử của đất nước Việt Nam quê hương mình. Mong mỏi ngoài khách sạn, quán cơm, những mục giải trí,... trình độ trí thức của những hướng dẫn viên cũng đạt đến một mức độ cao. Ngày xưa người ta kể chuyện buồn cười món canh gà Thọ Xương, ngày nay chính tôi được nghe vạc đồng nấu cơm cho cả một binh đoàn. Cũng có thể anh hướng dẫn viên nói để cười, vì đoàn khách cười thật, nhưng câu tiếng Pháp của anh không thể hiểu một cách khác. Những giải thích như thế đáng buồn và phải tránh. Trong cuộc xây dựng nền du lịch Huế cần phải nâng cao toàn bộ mới mong khách thích thú, say mê và hẹn ngày trở lại.
Xô thành nóng ngày hè nóng 2006
Nhớ Huế 30 Du lịch xứ Huế 2006.
Xô thànhTết Bính Tuất 2006
Võ Quang Yến
Theo http://chimviet.free.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Phật tính dân gian trong “Đời bọ hung” của Trần Bảo Định Từ việc phát hiện phương diện triết lý Phật giáo trong văn xuôi Trần Bảo Định n...