Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022
Gửi thương về Huế 5
Tập V : Huế qua trang sử
Từ thuở Tam Quốc, người châu Á
đã biết xây đồn lũy hình bốn cạnh, xung quanh có tường bằng đất hay đất nhồi
rơm, mỗi cạnh có trổ cửa nhỏ, mỗi góc có chòi gác hai tầng với lỗ châu mai tứ
phía. Trước đồn có thể thêm vài tiền đồn nhỏ gồm có phên giậu, cọc tre che
kín,... Trong rất lâu, hệ thống nầy đủ để bảo vệ ngày nào khí giới tấn công chỉ
là cung tên giản tiện. Khi thuốc súng được khám ra, nếu người Trung Quốc chỉ
dùng làm pháo bông hay pháo lửa, người Ả Rập rồi người châu Âu phát huy sáng
kiến quan niệm phóng đạn, mở ra kỷ nguyên pháo binh. Nhưng những súng ống người
Âu mang sang lúc ban đầu là những khẩu thần công nhỏ chỉ có khả năng phóng ra
những viên đạn 20-200kg thì những tường đất, xem như là những thành nuốt đạn,
dễ dàng chống đỡ. Dần dần súng ống Tây phương phát triển, đặc biệt những súng
thần công, súng cối, súng tàu biển đặt trên giá,... bắn những viên đạn vừa lớn
vừa có tầm súng xa thì công sự buộc phải thay đổi. Đã từng tranh đấu cạnh những
sĩ quan người Pháp, đã từng thấy thành tích xây dựng đồn lũy của họ ở miền nam,
vua Gia Long không ngần ngại yêu cầu những kỹ sư trình bày một kiến trúc phòng
thủ hằng hiệu nghiệm ở châu Âu. Từ cuối thế kỷ 17, qua nhiều thử thách, công sự
kiểu Vauban (*) đã được thông dụng ở Pháp cũng như ở châu Âu. Dựa lên những nguyên
tắc tấn công mà chính ông đã đề xướng, ông lập nền tảng cho việc xây cất công
sự. Công sự phải là nơi chỉ huy trận địa xung quanh, nơi dễ quan sát chiến
thuật quân địch, nhưng không nên ở ngay giữa đô thị. Theo ông, tuy cần nhưng
không nhất thiết phải ở vị trí cao hơn địch quân, vì vậy công sự nên thấp xuống
và có nhiều cạnh thay vì hình tròn để sự dụng tối cao súng pháo. Ông lại nhận
xét đập đất chịu đựng đạn đại bác tốt hơn thành đá. Nguyên tắc cần yếu là mọi
bộ phận trong công sự phải được bảo vệ ngang hàng nhau. Muốn vậy, mỗi bộ phận
phải có những điểm mạnh ngay trước mặt những phần cần bảo vệ. Sau người Pháp là
người Ý sử dụng có kết quả tốt, người Hòa Lan thêm vào những mặt nước và những
sườn dốc đất bảo vệ, hoàn hảo hệ thống Vauban. Dù sao, hình thức công sự phụ
thuộc rất nhiều địa thế vì đồng bằng và đồi núi cống hiến những địa hình khác
nhau, tất nhiên kiến trúc công trình mỗi nơi phải một khác.
Tuy nhiên nếu trong nam tổ chức hành chánh suôn sẻ, ngoài bắc sự việc không giản dị. Với chính quyền địa phương, mặc dầu đã có ký những quy ước, thỏa thuận đủ loại chẳng hạn để cấp đất đai xây lãnh sự quán, chỗ ở cho quân binh đúng vào nơi Trường Thi phải thương lượng... Viên lãnh sự không thể làm bất cứ gì cũng được. Trạm thuế quan dựng lên trên sông Hồng chẳng thu được gì vì chính quyền địa phương đã thu trước. Dù sao chẳng có mấy hàng hóa vì những hàng sản xuất nhiều như gạo, lụa,...không được phép xuất cảng. Trong khi ấy, ở Paris, chính phủ Albert de Broglie (1821-1901) không muốn ủng hộ cuộc chinh phục xa xăm, tốn kém. Phải đợi đến năm 1877, nhiều nhà chính trị như Jules Ferry (1832-1893) nuôi mộng xâm chiếm những không gian rộng lớn để du nhập một nền văn minh hiện đại, lấy kế hoạch thuộc địa làm lý tưởng cần thiết cho những nước Âu châu đồng thời nâng cao uy tín của nước Pháp. Trong mắt họ, Bắc Kỳ không chỉ còn là nơi làm bàn đạp để tiến vào Vân Nam mà trở thành một mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu, đồng bằng trồng trọt ngũ cốc, núi non cống hiến nhựa gỗ, bên cạnh biết bao hầm mỏ than đá, kim loại,...Tháng bảy 1881, quốc hội Pháp bỏ phiếu tăng gia ngân quỷ chiến tranh, tháng ba 1882 cho phép viên toàn quyền miền nam gởi quân ra bắc. Chỉ huy một toán 700 quân binh trên bốn pháo hạm nhỏ, đại úy hải quân Henri Rivière đánh chiếm Hà Nội ngày 25 tháng tư 1882 sau khi tối hậu thư đòi giải binh không đuợc thi hành. Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình) Hoàng Diệu (1828-1882) đốc quân chống giữ anh dũng nhưng chỉ cầm cự được hai tiếng đồng hồ, trong tình thế tuyệt vọng ông ra lệnh tướng sĩ giải tán để tránh thương vong. Còn lại một mình, ông chạy lên hành cung, cắn ngón tay lấy máu thảo tờ di biểu tạ tội dâng vua, lạy vọng về Triều rồi ra trước võ miếu theo gương Nguyễn Tri Phương dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử.
45- CUỘC ĐƯƠNG ĐẦU ĐỀ THÁM – GALLIENI
Tuy vậy, nghị viện mới vẫn tiếp tục biểu quyết cấp ngân quỷ và
gởi qua Đông Dương Toàn quyền Paul Bert, nguyên là một nhà sinh lý học có
tiếng, một chiến sĩ vô thần, một người luôn đề xướng trường học không tôn giáo.
Nhưng Paul Bert bị lâm bệnh sốt, sớm từ trần, nhường chỗ cho Toàn quyền Paul
Doumer, người xây dựng mở mang Hà Nội như ta thấy ngày nay. Ở Huế, vua Tự Đức
mất đi không có con thừa tự, Thượng thư bộ Hình Tôn Thất Thuyết và Phụ chánh
Đại thần Nguyễn Văn Tường mặc sức lần lượt lập phế các vua Dục Đức, Hiệp Hòa,
Kiến Phúc, mỗi vị vài ngày hay vài tháng, và sau cùng phong vua Hàm Nghi, 13
tuổi. Sau vụ tấn công đồn Mang cá thất bại hôm mồng 4 tháng bảy 1885, Tường và
Thuyết phò vua chạy ra Tân Sở, được xây dựng từ hai năm trước, và khởi động
phong trào Cần Vương chống Pháp. Trong luôn ba năm, cho đến lúc vua Hàm Nghi bị
bắt năm 1888, kháng chiến được sĩ tử tổ chức khắp nơi. Được biết nhiều nhất là
Phan Đình Phùng, nguyên là quan Ngự sử đô sát viện, người cương trực, ngay
thẳng. Vì bất đồng ý kiến với Thuyết, ông bị cách chức nhưng sau đó được phục
chức, bổ làm tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông được
vua phong tản lý quân vụ, lãnh đạo nghĩa quân xây dựng căn cứ ở Hương Sơn,
Hương Khê, thuộc Hà Tĩnh, có nhiều trí thức, nhà khoa cử lại góp sức. Khi biết
Trương Quang Ngọc làm phản để cho Pháp băt vua, ông đích thân đi bắt Ngọc và
chém đầu. Trong luôn mười năm, cho đến 1895, chết vì bệnh lỵ, ông đã bao lần
lần giao chiến và gây nhiều tổn thất nặng nề cho quân địch, một lòng một dạ
không hề chịu nghe lời dụ dỗ, mua chuộc. Nguyên Tổng đốc Bình Định, khét tiếng
sau vụ trấn áp ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thân được phong Khâm mạng Tiết chế Đại
thấn, lãnh toàn quyền suốt mấy tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
Với 4000 dân quân đầy đủ súng ống, ông thề sẽ đánh tan hệ thống Phan Đình
Phùng. Không bắt sống được người hùng được toàn dân kính phục và che chở, ông
chỉ còn biết quật mộ, đổ dầu đốt cháy thi hài thành tro, cho trộn vào thuốc
súng bắn xuống sông La. Mất chủ soái, một số tướng lãnh đau bệnh chết, chạy
trốn sang Xiêm hay ra hàng, phần lớn còn lại chiến đấu đến cùng, 23 vị chỉ huy
bị bắt và xử tử.
Trong thời gian nhập ngũ của ông, nhiều biến cố đã xảy ra. Sau ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước bảo hộ của Pháp, mời cụ Trần Trọng Kim thành lập một chính phủ thân Nhật rồi qua ngày 25 tháng 8 thoái vị và nhường quyền cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh. Khi thấy vua Bảo Đại trở thành Hoàng thân Vĩnh Thụy nhận chức Cố vấn cho chính phủ Hồ Chí Minh, các nhà chức trách Pháp không tin cậy ở vị Cựu hoàng nầy nữa. Ngày 16 tháng 8, Tướng De Gaulle bổ nhiệm Đô đốc Thierry d'Argenlieu Cao ủy đồng thời chuẩn bị một đạo quân gồm có nhiều binh đoàn từ Pháp, Đức, Madagascar để tái chiếm Đông Dương dưới sự điều khiển của Tướng Leclerc. Với một sư đoàn thiết giáp, Tướng nầy đổ bộ Sài Gòn ngày 5 tháng 10 thay thế quân đội Anh đã được Đồng Minh ủy nhiệm tước khí giới Nhật ở miền Nam Đông Dương. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Ai sẽ là đối tượng bên phía Việt Nam? Nên thành lập một nước cộng hòa hay vẫn nên giữ chính thể quân chủ? Cái tên Hoàng thân Vĩnh San luôn được nhắc đến. Ngay Đô đốc Decoux, Toàn quyền Đông Dương, cũng đã bày tỏ ý kiến: "Sự phục chế Hoàng đế An Nam sẽ trả lại cho dân tộc ông một yếu tố truyền thống trật tự và hòa bình. Đây không phải là một thí nghiệm mà là một sự tất yếu". Người ủng hộ mạnh dạn nhất giải pháp Vĩnh San là ông bạn Boulé. Từ Madagascar, ngày 11 tháng 6, ông gởi về bộ Thuộc địa ở Paris một bản tường trình rất dài trong ấy ông kê tất cả những điểm tích cực : Hoàng thân là một người tin chắc dân chủ, thật tình bạn của nước Pháp, hoàn toàn tán thành Tướng De Gaulle, uy tín quốc vương hợp pháp vẫn còn nguyên vẹn, lại đã được giáo dục để nắm giữ những chức vụ cao cấp. Nhưng bộ Thuộc địa trả lời ngày 4 tháng 7 là tình thế Đông Dương không cho phép khai thác giải pháp Vĩnh San và, hơn nữa, yêu cầu ông Boulé chấm dứt mọi hoạt động trong chiều hướng nầy.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Thy Nguyên và cuộc đối thoại nhà văn Tôi gặp Thy Nguyên lần đầu trong một cuộc vui bên hồ Đại Lải tại nhà anh Tiến Thanh. Chị tặng tôi ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét