Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Rồng Rắn 1

Rồng Rắn 1

Rồng Rắn - Rồng Rắn lên mây có cây xúc xắc.
Có thầy thuốc ở nhà không?
Thầy Thuốc - Có.
Thầy Thuốc - Rồng Rắn đi đâu?
Rồng Rắn – Rồng Rắn đi thuốc về cho con.
Thầy Thuốc – Con lên mấy?
Rồng Rắn - Con lên một.
Thầy Thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng Rắn - Con lên hai.
Thầy Thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng Rắn - Con lên ba.
Thầy Thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng Rắn - …
Thầy Thuốc - … 
Rồng Rắn - Con lên chín.
Thầy Thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng Rắn - Con lên mười.
Thầy Thuốc – Thuốc ngon.
Thầy Thuốc – Cho xin khúc đầu.
Rồng Rắn – Lắm xương lắm xóc.
Thầy Thuốc - Cho xin khúc giữa.
Rồng Rắn - Lắm máu lắm me.
Thầy Thuốc - Cho xin khúc đuôi.
Rồng Rắn - Tha hồ mà đuổi. 
(Đồng Dao Việt Nam) 

NGÀY GIỖ ĐẦU
Hội An là một một thị trấn nhỏ cách Đà Nẵng khoảng ba mươi cây số về phía Nam. Thành phố cạnh nhánh sông Thu Bồn đổ ra cửa biển, cửa Đại. Hội An ngày trước là hải cảng đô hội, nơi người Tây phương đặt chân lên Việt Nam đầu tiên, nơi người Nhật đến buôn bán vào thế kỷ mười bảy. Cũng nơi đây người Trung Hoa đã từng lập nên một phố Minh Hương để sinh sống. Cái vẻ nhộn nhịp của một thị trấn cửa biển ấy nay không còn. Ngày nay Hội An là một thành phố cổ kính với những con đường cơ hồ chỉ một chiếc ô tô chạy lọt. Những mái nhà ngói cong chìa ra hè phố như muốn che bóng mát cho khách bộ hành. Những ngôi nhà xây thấp lè tè dấu mặt bên trong những cổng tường có mái tam quan cũ kỹ. Những con đường chính của thành phố đếm chưa hết mười đầu ngón tay. Thành phố bé nhỏ có những tiếng guốc kêu leng keng ngoài hè phố mà trong nhà đã nghe. Mùi nhang đèn bay từ nhà hàng xóm bay sang ở một nơi có đầy dẫy những ngôi nhà từ đường. Giòng sông ở cuối phố thổi lên những ngọn gió làm mát dịu cơn nắng hè, làm trắng mịn da dẻ của những thiếu nữ. Hội An từng được khách phương xa âu yếm gọi là một “Hà Nội thu nhỏ” vì cái vẻ thân mật nhỏ hẹp và cổ kính của nó. 
Trời vừa đẫm hoàng hôn. Một bọn con nít tụ họp trên hè phố của con đường từ dưới bờ sông đi thẳng lên. Chúng trò chuyện giữa những người khách bộ hành thỉnh thảng dạt chúng ra để đi.
- Nhà thằng Thống ở đâu? Một đứa nói.
- Tao biết nhà hắn. Đứa khác nói, Nhà hắn ở gần đền thờ ông Mã Viện.
- Thờ ai. Đứa con trai đang đứng chắp tay sau lưng và dựa vào bờ tường nói.
Cả bọn quay sang nhìn đứa con trai.
- Mày mới về đây không biết đâu Quảng. Thằng bé ngồi chồm hổm dưới đất nói. Chỗ đó người Tàu thờ ông Mã Viện bên Tàu. Ông Mã Viện hồi xưa mang quân sang đánh hai bà Trưng mình đó.
    - Anh hai tao nói ông Mã Viện là sang đô hộ nước mình. Thằng bé có vẻ rành đền thờ ông Mã Viện nói. Có bữa anh tao với bạn anh tao lẻn vô bàn thờ lấy chuối tiêu. Quảng, mấy có dám đi lấy trộm chuối tiêu không.
Quảng, thằng bé trạc chín mười tuổi, mắt nhỏ, cao nhất bọn. Nó chờ cho nhóm khách bộ hành đi qua, rồi kéo ba đứa nhỏ sang phía bên góc đường chỗ không có người đi qua đi lại trước mặt. Quảng thầm thì với cả bọn. Mấy đứa nhỏ nhìn Quảng gật gù đắc ý.
Những người khách cuối cùng của đám giỗ đang lần lượt ra về. Bà Hòa chào mọi người ở trước hiên.
- Tui về nghe thím Hòa. Một người khách nói.
- Thím đừng có lo. Người khác vừa khác chào vừa nói. Về đây có họ có hàng có bà con chòm xóm. Bà con của thím cũng đông.
Người khách cuối cùng vừa bước ra khỏi cổng. Bà Hòa chưa kịp bước vào nhà, thì đã nghe giọng lơ lớ của một người đàn ông:
- Ngộ nói nị à. Nị hông nghe. Ngộ nói má nị đánh nị à.
Có những tiếng khúc khích cười và tiếng hát theo của bọn con nít:
Ngộ ở bên Tàu
Ngộ mới qua đây
Ngộ đạp cứt gà
Ngộ la làng xóm
Bà Hòa bước ra cổng. Bà thò đầu nhìn ra ngoài. Bọn con nít đi sau lưng một người Tàu say mèm chân nam đá chân bắc. Một đứa con trai đầu têu cho lũ trẻ hát theo.
- Quảng, bà Hòa gọi.
Một người đàn ông cũng vừa thò đầu ra khỏi cổng. Ông nói:
- Đứa nào đó. Thằng Quảng à.
Quảng thấy mẹ và bác xuất hiện nên kéo cả bọn de ra phía sau.
- Thằng Quảng vô đây bác biểu. Người đàn ông đã đe mắt gọi thằng nhỏ.
Quảng đi thụt lui lại. Và rồi đứng yên không nhúc nhích. Người đàn ông lại nói lớn:
- A cái thằng này to gan nhỉ. Có vào đây không.
Bà Hòa dịu giọng:
- Quảng. Con vào đi. Nghe lời bác, Khỏi bị đòn.
Quảng vẫn đứng yên. Cho đến khi ông Ty bước ra. Ông nắm lấy tay. Nó mới theo vào.
- Tại sao mẹ và bác gọi mà mày không vào.
- …
- Tại sao mày không kiêng nể gì ngày giỗ ngày kỵ bố mày cả.
- …
- Tại sao mày ưa chọc ông Tàu đó vậy.
- …
Mặc cho người bác nói gì thì nói. Quảng đứng cúi gầm, không trả lời. Đét. Đét. Đét. Quảng bị đét cho ba roi.
Buổi tối. Những người lớn đang còn ngồi quanh bàn uống nước trà và tán gẫu. Con nít đã nằm trên phản, trên giường đâu đó trong nhà.
Bà Hòa đang ngồi với mấy người anh em bên chồng. Bà đã đồng ý dọn về ở Hội An. Nhưng mấy đứa con của bà thì chưa ổn định.
- Thím lo liệu chuyện cửa hàng mới sang đi. Ông Ty, ông anh chồng nói. Cứ để hết ba thằng lớn ngoài Đà Nẵng cho tôi. Cho hai đứa con gái với thằng Phương ở đây với mẹ.
Hai chị em ruột đồng thời cũng là chị em dâu. Bà Xuân Tâm lập gia đình với ông Ty. Trong khi bà Xuân Hòa là vợ của ông Thạch, người em ông Ty. Hai anh ông Ty ngày trước ra Hà Nội học và lấy vợ ở đấy. Cưới vợ xong ông Ty về Đà Nẵng sinh sống. Vợ chồng bà Hòa chỉ mới vô lại Nam từ năm 1954, khi Cộng sản chiếm miền Bắc và xảy ra vụ chia đôi đất nước. Vào trong Nam chưa được một năm thì ông Thạch qua đời. Để lại bà Hòa một nách sáu đứa con ở Đà Nẵng.
Vợ chồng ông Ty không có con, nên bà Xuân Tâm rất mực săn sóc mấy đứa con của cô em ruột mình trong thời gian mọi người ở chung nhà của bà.
- Thời đâu. Ông Ty gọi đứa cháu đầu.
Thằng bé vừa nhổ giò, vừa qua tuổi tiểu học, mặt mũi sáng sủa. Ra đứng trước mặt bác.
- Thằng cháu cưng của bác mày, vợ ông Ty nói. Học hành thế nào tường trình lại cho mẹ mày nghe.
- Nó học Francais giỏi lắm. Ông Ty nói. Đâu, đọc lên cho mẹ mày và các chú các thím nghe.
- Tous les martins. Thời chụm mười đầu ngón tay nhìn lên trần nhà và đọc. Je me reveille a sept heures et demie, ensuite, je me lave dans la salle de la bains…
- Très bien. Très bien. Ông Ty khi Thời đọc dứt bài chính tả.
Ở một góc phòng. Trên chiếc phản. Ba thằng nhỏ đang nằm nửa thức nửa ngủ. Quảng đạp chân thằng em kế và nói:
- Hưng, Hưng có thích đọc dictée với bà Mary Saint Esprit không?.
- Không. Hưng nói. Bà đó dữ quá.
- Thì mình đừng có ra ở nhà bác Ty nữa.
- Rồi mình ở đâu?.
Sáng mai ngủ dậy, Quảng ghé sát vào tai Hưng và nói, mình vờ ốm. Mình đừng có đi ra nhà bác Ty nữa.
Hưng lơ mơ ngủ, không tiếp tục câu chuyện với Quảng. Quảng chưa ngủ, nằm nghe người lớn tiếp tục khen Thời, anh nó, những là ngoan ngoãn những là học giỏi.
ĐỨA CON GÁI TUỔI DẦN  
Kim Oanh ôm cặp băng ngang dãy lớp học. Không nhìn vào bên trong. Nó băng qua sân. Tiếng hát từ trong dãy phòng học vẳng ra: “Ngày xưa có hai anh em nhà kia, cùng yêu thương sống với nhau bỗng đâu chia lìa… Vì hai người cùng yêu mến một cô gái làng bên. Nhưng người anh được kết duyên… Người em lòng buồn rầu bỏ đi khỏi làng…”.
Tuần lễ cuối năm, thầy cô bận tập văn nghệ và lo lễ phát phần thưởng nên cho học trò nghỉ sớm. Oanh không thơ thẩn vì không có Bích Chi, bạn nó. Như những ngày khác, được nghỉ học là hai đứa tha hồ chơi dây thun, đánh chuyền, hoặc về nhà chơi đồ hàng. Hôm nay Oanh cũng không ở lại chơi với bạn gái nào khác. Nó đi một mạch vào nhà.
Oanh đẩy cánh cổng đi vào trong nhà. Phương, anh kế nó đi ra và nói:
- Lớp Oanh cũng được về sớm à.
Oanh quăng cái cặp lên hộc tủ và gật đầu:
- Ừ.
Phương dẫn chiếc xe đạp nhỏ ra sân.
- Oanh muốn ra sạp hàng của mẹ không? Anh chở đi.
- Không.
Phương mở mắt lớn nhìn em gái. Con em nó thường ham đi chơi. Khi nào rủ nó, chở nó đi đâu. Nó cũng gật đầu. Vậy mà hôm nay sao vậy.
- Bích Chi đâu?.
- Nó bận tập văn nghệ. Oanh đáp.
- Tập cái gì vậy.
- Tập bài Trầu Cau.
- Ủa sao Oanh không tập.
- Không.
- Hồi đó làm văn nghệ Oanh đã đóng với Bích Chi bài này mà.
- Hỏi. Hỏi. Hỏi. Mệt quá.
Oanh vùng văng đi ra sau. Vào phòng chị nó. Đóng cửa phòng lại. Chị Thanh đang học đệ lục. Có gương có lược có tủ áo riêng. Oanh bắc ghế, nhón người lên lấy cái gương đang treo trên tường xuống. Oanh ngắm nhln nó trong gương. Cái mặt nó làm sao mà thầy Dũng không cho nó đóng kịch. Sáng nay thầy vào lớp gọi mấy đứa đi tập văn nghệ. Nó hồi hộp. Nhưng rồi không được gọi tên. Mấy đứa được gọi tên vừa ra khỏi phòng, con Hương Mập ngồi sau lưng nó đã nói lớn: “Con Oanh không đẹp nên không được được đi tập văn nghệ”. Oanh tức lắm, quay mặt lại nói: “Mặt mày đẹp dữ. Đồ cái mặt bánh bèo”. Con Hương Mập chồm lên ăn thua đủ: “Còn mặt mi là mặt khỉ. Giống con khỉ Chùa Cầu. Xí. Bữa trước mi được đóng kịch trên chùa là tại mẹ mi quen trên chùa. Tại anh mi huynh trưởng. Nên mi mới được đóng. Bữa ni thầy Dũng chỉ lựa đứa nào đẹp thôi. Đừng tưởng bở”.
Oanh nhìn vào gương. Mắt nó to nhưng hơi lồi. Tóc nó dày và rậm. Lông mày nó mọc lộn xộn. Oanh vất cái gương trên bàn. Nằm vật xuống giường của Thanh. Oanh cảm thấy có cái gì nghèn nghẹn ở cổ. Nó cảm thấy ấm ức bức tức điều gì đó. Một điều gì đó mà từ nhỏ đến lớn đây là lần đầu tiên nó cảm thấy. Một lát sau Oanh thiếp đi.
Khi vừa tỉnh dậy, Oanh thấy đau bụng. Bụng nó quặn lên từng cơn một. Đau khủng khiếp. Oanh ôm lấy cái gối của chị kê lên bụng mà vẫn không hết đau. Oanh lăn lộn trên giường một lát. Rồi nó thấy cái gì ươn ướt phía dưới. Cái gì đo đỏ. Máu. Trời ơi máu. Oanh thét lên:
- Mẹ ơi. Mẹ ơi.
Thanh và Hưng vừa đi học về, nghe tiếng la của Oanh, vội chạy vào.
Thanh ôm em vào lòng.
- Cái gì vậy Oanh. Nói cho chị nghe.
Nhìn mặt mày Oanh xanh nghét. Thanh nói:
- Hưng chạy ra gọi mẹ về ngay. Làm thế nào đây.
Một ngày giữa mùa hè, sau khi thi đệ thất đậu, Oanh theo chị về quê nội chơi.
Quê nội của Oanh ở Duy Xuyên, cách Hội An mười mấy cây số. Thanh và Oanh về quê thăm các chú các thím, các anh chị em họ.
Hôm nay Thanh và Oanh phải sang bên kia sông thăm cô Bảy ở chùa. Cô Bảy là em của ba Oanh. Ngày trước cô cũng đã từng ra tỉnh học. Nhưng rồi không hiểu sao cô lại bỏ về quê. Người trong họ đồn cô thất tình một người đàn ông đã có vợ nào đó. Nên cô về quê, xuống tóc. Nay cô tu ở một ngôi chùa sư nữ nhỏ ở làng kế cận.
Thanh và Oanh mang sang chùa một ít quà và bánh trái biếu ni cô Diệu Hạnh, pháp danh của cô Bảy. Khi nghe Thanh thuật lại chuyện bữa Oanh có kinh lần đầu, làm cho cả nhà hoảng lên. Ni cô Diệu Hạnh vuốt tóc Oanh và nói:
- Vô đây. Cháu Oanh vô đây.
Ni cô bảo Oanh ngồi trước bàn thờ phật Quan Thế Âm. Thấy Thanh thập thò ở cửa, cô bảo với Thanh:
- Còn cháu. Cháu ra sau chùa nói với cô Diệu Tâm xếp sẵn một ít mướp hương mang về biếu mẹ. Cháu thích hoa ngọc lan thì xin cô Diệu Tâm. Đừng có hái trộm. Sư bà biết được sư bà rầy.
Thanh cười khúc khích rồi biến mất.
Ni cô Diệu Hạnh ngồi trước bàn thờ. Oanh quỳ khum người phía sau. Trên bàn thờ tượng phật bà sáng láng giữa những mâm đèn hoa quả. Ni cô Diệu Hạnh thắp nhang xong thì bảo Oanh tụng theo lời kinh của cô:
Đệ tử lâu đời lâu kiếp
Nghiệp chướng nặng nề
Tham giận kiêu căng
Si mê lầm lạc.
Nay nhờ cửa phật
Biết sự lỗi lầm
Thề tránh điều dữ
Nguyện làm điều lành
Ngửa trông ơn phật từ bi
Phép phật nhiệm mầu
Để mau ra khỏi luân hồi
Minh tâm kiến tánh
Trí huệ sáng suốt
Oanh lí nhí trong miệng tục theo tiếng kinh, mà mắt nó thì nhìn ni cô Diệu Hạnh không rời. Ở nhà các bác các chú nó bảo Thanh giống mẹ và Oanh giống bố. Mà bố của Oanh thì giống cô Bảy Phụng Thiên như đúc. Cũng cặp mắt hơi lồi, hai cánh mũi thấp, lông mày lộn xộn hơi có xoáy ở đằng đuôi. Oanh mà giống cô Bảy Phụng Thiên. Trời đất ơi! Oanh cứ nghĩ đến cái khuôn mặt của cô Phụng Thiên mà nó không biết ni cô Diệu Hạnh đang tụng niệm cái gì nữa.
Ni cô tụng xong và quay lại, thấy Oanh đã đứng lên. Oanh nhanh miệng:
- Cháu mỏi chân.
Tiễn chị em Thanh ra khỏi chùa, ni cô Diệu Hạnh còn dặn:
- Từ nay Oanh phải nhớ mỗi khi đau khổ buồn bực chuyện gì thì cháu cứ niệm ba lần “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” thì cháu sẽ cảm thấy lòng dịu bớt sầu khổ.
Hai chị em ra khỏi chùa. Băng qua mấy cái đồi dại hái du giẻ và hái sim. Oanh vừa đi vừa hỏi Thanh:
- Khi nào có, chị có đau không?.
Thanh vừa bỏ sim vào miệng ăn vừa nói:
- Hễ đau. Đi ngủ một giấc dậy hết đau liền.
- Chị Thanh. Oanh nói.
- Cái gì.
- Hôm qua em nghe chị Ngọc Mai nói mấy người thi đỗ vào Sài Gòn học có bồ ở lại luôn trong Sài Gòn hở.
- Sao mày còn nhỏ mà để ý mấy cái chuyện này làm gì. Thanh nói.
- Sao chị không vào chùa cầu.
- Cầu cái gì. Tao có gì đâu mà cầu với xin.
- Cầu cho anh Huấn thi rớt. Khỏi đi Sài Gòn ở lại Hội An với chị.
- Trời đất! Người ta cầu chuyện lành. Ai mà đi cầu chuyện ác đức như vậy bao giờ.
- Ừ. Oanh nói. Anh Huấn thi đỗ khoa này là đi luôn cho chị xem. Ở đấy mà nói.
LÁ THƯ KHÔNG ĐẾN
Mấy buổi chiều nay bà Hòa thường giao sạp hàng nhờ cô em chồng xem hộ. Bà về nhà sớm luôn ngóng mắt ra cổng. Hôm nay bà nấu sẵn một nồi măng vịt và bổ một trái mít thơm lừng nhà. Bà dọn sẵn các thứ lên bàn. Mong ngóng các con về.
Thời, đứa con lớn của bà đã đi Sài Gòn lên đại học. Nó là đứa ít quyến luyến bà mà gần gũi với hai bác hơn. Quảng và Hưng cũng trọ nhà bác Ty ngoài Đà Nẵng để đi học. Cuối tuần mới về Hội An.
Cứ như vậy mà đã sáu bảy năm trôi qua, từ ngày bố chúng nó qua đời. Mấy hôm nay Thanh và Hưng ra Đà Nẵng thi trung học. Thanh học chậm nên bây giờ cũng thi trung học với em. Nhưng đứa con mà bà mong đợi nhất hôm nay là Quảng.
Quảng đã thi tú tài một và đang chờ kết quả. Bà Hòa đã nghe phong phanh Quảng thi đỗ. Mấy tuần nay Quảng không về nhà. Bà Hòa căn dặn Thanh và Hưng trước khi đi: “Hai chị em thi xong. Ráng kiếm cho ra anh con. Bảo về nhà kẻo mẹ trông”.
Bà ngồi trên phản sau nhà, vừa nhặt sạn trong rổ đậu xanh, vừa nghĩ đến từng đứa con một. Bà thường tự nhủ: Con cái như bàn tay. Có ngón dài ngón ngắn. Mỗi đứa một chứng. Đứa nào cũng là con. Đứa nào bà cũng thương. Điều bà lo lắng là những ngày gần đây con bà đã lớn. Không biết rồi chúng sẽ ra sao.
Ngày ấy bà nhớ lại. Thạch còn là sinh viên Hà Nội. Thạch cùng học với Luận. Luận có hai cô em gái là Xuân Tâm và Xuân Hòa. Thạch và Luận là đôi bạn thân nhất trong một đám bạn gồm năm sáu người. Trong khi các bạn khác chăm chỉ học hành, Thạch và Luận hăng hái tham gia những cuộc biểu tình chống Pháp. Những cuộc họp để hội thảo biểu tình, rải truyền đơn thường diễn ra ở nhà Trí cách nhà Hòa hai căn phố. Hai chị em Hòa thường được giao nhiệm vụ là tiếp tế xôi chè và trông chừng ở cửa xem có kẻ lạ nào không. Hòa hay ngồi nghe các anh lớn bàn cãi. Cũng như phần lớn những người tham sự, Hòa bị lôi cuốn bởi những cuộc hùng biện của Thạch. Thạch lý luận vững chắc và có một giọng nói đầy khích động. Thạch phác họa những chương trình hoạt động để phá hỏng guồng máy đàn áp biểu tình và bắt bớ của chính quyền bảo hộ Pháp. Chàng sinh viên nói nhiều này đã khích động luôn tình yêu của một thiếu nữ mới lớn là Xuân Hòa, người vẫn thường là khán thính giả ngồi nghe chàng nói say sưa.
Hai người cưới nhau xong. Ăn ở với nhau có mấy mặt con. Thì một ngày kia Thạch, Luận và Trí quyết định vào Khu.
Những người đàn ông ra đi quyết không vương thê nhi. Đi vào Khu Tư chống Pháp. Đi vào Rịa để trở thành những cán bộ thông tin, cán bộ văn hóa, cán bộ y tế ở đấy.
Xuân Hòa ở lại Hà Nội tảo tần buôn bán nuôi con. Bấy giờ người đàn bà đã quen với cảnh những chuyến đi đi về về lén lút của chồng và các bạn. Họ là những thanh niên đầy lòng yêu nước. Sẵn sàng bỏ hết mọi thứ để đáp lại tiếng gọi của tổ quốc. Nhưng đến đầu thập niên 1950, cái chết đột ngột của người bạn thân tin của Thạch là Luận trong một chuyến hai người về Hà Nội công tác. Nửa đêm về sáng, Luận đang ngủ, một người quen gõ cửa rồi dẫn Luận đi luôn từ đấy. Thạch cho là đảng Cộng Sản đã phản bội Luận. Âm mưu thủ tiêu Luận rồi tri hô lên là mật thám Tây giết. Chàng cán bộ văn hóa trở về Thành với chứng lao phổi và kiết lỵ. Nằm luôn tại nhà cho đến năm 1954 chàng mang vợ con về quê nội Quảng Nam, đi di cư vào Nam lánh nạn Cộng Sản trên chuyến tàu Di Linh từ Hải Phòng về Đà Nẵng.
Thấm thoát như vậy mà nay các con bà đã khôn lớn. Ông Thạch vào Nam không được bao lâu thì đã qua đời bởi những chứng bệnh mang theo từ ngày vào Khu kháng chiến. Để lại cho bà một bầy con dại. Nay chúng lớn như thổi. Thời, đứa con đầu của bà, gần như chỉ sống với hai vợ chồng người bác ngoài Đà Nẵng. Đã thi đậu xong tú tài và nay đang học trong Sài Gòn. Cũng một tay ông bà Ty bao bọc mọi chuyện. Bà Hòa khỏi lo gì cả. Bà chỉ để tâm lo cho năm đứa con ba trai hai gái còn lại cũng bở hơi tai.
Có tiếng gõ yếu ớt ngoài cổng. Bà Hòa bỏ rổ đậu xuống đi ra cổng. Một con bé mắt tròn xoe, cột hai bím tóc xinh xắn đang đứng trước cổng.
- Thưa bác. Có Kim Oanh ở nhà không bác. Con bé lễ phép nói.
- Bích Chi đấy à. Vào đây với bác. Cái Oanh nó đi với anh Phương nó về quê chơi hôm qua.
Bích Chi đi qua sân, theo bà Hòa vào sân sau vào phòng ăn.
- Cháu ở đây chơi. Bà Hòa nói. Chờ anh chị của Oanh sắp về rồi ăn bún nhé.
- Cám ơn bác. Bích Chi ngồi lên tấm phản sát cửa và nói. Cháu định đến chào Oanh. Nhà cháu dọn ra Đà Nẵng ngày mai.
- Thế à. Bác có nghe cái Oanh nói. Cháu đi chúng nó buồn lắm đấy. Mấy đứa nhà này đứa nào cũng quyến luyến cháu. Con Oanh nghe cháu dọn đi cũng về nhà đòi ra ở với bác Ty để đi học chung với cháu.
Ở ngoài cổng đã có tiếng ồn ào của ai.
- Mày chờ tao. Để tao vào chào bà cụ xong lại đi ngay với mày.
Bà nhận ra tiếng thằng con trai.
- Cậu vào đây, Hưng. Bà nói. Mới đặt chân đến cửa nhà đã hẹn bạn đi thế kia à.
Cậu con trai ở tuổi dậy thì, đứng cao hơn mẹ cả cái vai, ào ào đi vào nhà.
- Mẹ. Con thi xong rồi. Chắc đỗ cao. Cậu ta vừa cười vừa vỗ vai mẹ. Ủa Bích Chi đến ăn khao rồi à. Oanh đâu.
Tiếng xích lô đậu trước nhà. Thanh đủng đỉnh đi vào.
- Về đến nhà sao mà khỏe. Cái xe đò trở chứng. Banh dọc đường mất hai lần. Mệt quá. Mẹ nấu cái gì thơm quá vậy. Con đói quá.
Những tô bún măng khói bay nghi ngút được bày ra trên bàn. Bà Hòa ngồi cạnh ngắm nhìn hai đứa con ăn không kịp thở.
- Ăn từ từ. Bà luôn miệng nhắc. Chúng mày ăn uống như bị bỏ đói lâu ngày.
- Mẹ nấu bún vịt ngon nhất thế giới tự do. Hưng nói.
- Ối giời. Cậu thì chỉ giỏi cái miệng. Thế còn anh con đâu. Sao nó chưa chịu về.
- Thanh kể cho mẹ nghe đi. Hưng nói.
- Hưng kể đi. Thanh đùn.
- Chuyện gì vậy. Bà Hòa lo lắng giọng.
Thanh vừa cúi đầu húp nước lèo vừa nói:
- Anh Quảng nói anh ấy bận cái gì ấy nên anh ấy về chưa được. Anh ấy biết tin anh ấy thi đỗ rồi.
- Bận cái gì. Mẹ không hiểu nó bận cái gì thì cũng phải về nhà một hôm chứ. Cả tháng trời không về nhà. Ở đâu không ai biết. Mẹ không biết nó ăn nó ngủ nó sống làm sao.
Thanh nói:
- Con đi qua tận bên Non Nước tìm anh Quảng. Anh ấy ở nhà ai lạ con không biết. Anh ấy cho cái địa chỉ ở đâu đâu này.
Bà Hòa cầm cái địa chỉ của Thanh trao. Không có số nhà không có tên đường. Chỉ là cái bản đồ chằng chịt ngõ hẻm. Bà đứng lên và nói:
- Để mẹ đi viết cái thư.
- Không có số nhà làm sao mà gửi thư. Thanh nói.
Bà Hòa quay sang Bích Chi đang trố mắt nhìn.
- Để mẹ nhờ Bích Chi mang thư này đến nhà bác Ty gái. Bà nói. Nhờ bác ấy đi kiếm hộ.
Bà Hòa đi vào trong buồng. Hưng quay sang nhìn Bích Chi vừa cười vừa ghẹo:
- Bích Chi sắp bị giao cho điệp vụ quan trọng lắm đấy nhé cô bé.
Lớp học là một cái chòi trống trơn vách. Những chiếc cột cây sơ sài chống đỡ lớp mái tôn cũ vừa được dựng lên trong cái sân trước cửa một ngôi nhà có mảnh sân trống khá rộng. Những hàng ghế gỗ nhám và những tấm gỗ làm bàn kê mấp mô. Nền nhà còn nguyên vẹn đất cát.
Học trò khoảng hơn ba mươi đứa con nít không đồng một tuổi. Có đứa to lớn như đã lên mười mấy. Có đứa trông như chỉ vừa lên sáu lên bảy. Chúng ngồi ép sát vào nhau. Đứa chép bài trên bảng xuống vở. Đứa ngồi nhìn bâng khuâng ra cái sân gạch nơi người đàn bà đang cầm cái chổi quơ cào lá. Đứa nói chuyện inh ỏi. Đứa đọc bài to tiếng. Một cái lớp học tư tạp lục ê a ồn ào giữa một buổi trưa hè nắng cháy trong một xóm lao động nghèo.
Một người đàn ông đứng tuổi, đeo mắt kính râm đen, đi đôi dép lẹp xẹp, mặc quần đùi và áo cụt tay, bước vào trước bảng đen. Ông ta quất chiếc roi lên mặt bàn. Lớp học bỗng im phăng phắc.
- Các trò nghe đây. Bữa ni có thầy mới. Ông ta nói. Chờ chút.
- Thầy mô rứa chú Bảy? Có đứa hỏi.
- Sao không có cô, chú Bảy?.
- Im. Người đàn ông lại la lớn. Tôi biểu các trò im.
Một thanh niên mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần nai nịt chỉnh tề đang bước vào sân. Anh ta tiến đến lớp học. Chú Bảy ra bắt tay.
Sau lời giới thiệu với Quảng về lớp học và trước khi kéo dép vào nhà trong, ông ta nói với người thanh niên còn đứng bỡ ngỡ trước mấy chục đôi mắt đang khảo bài vị thầy giáo mới:
- Đánh. Ông ta nói lớn. Hễ đứa mô không nghe em cứ đánh vô.
Quảng nhìn đám học trò. Hơn nửa lớp học đi chân đất, không giày dép. Phần lớn áo đứa nào cũng đứt cúc đứt bâu. Có đứa không còn một hột nút áo nào.
Chàng thanh niên cố nở một nụ cười trên môi. Quảng xoa hai tay vào nhau và lên giọng:
- Các em nghe đây. Hôm nay tôi đến thay thế cho Thầy Bằng. Tên tôi là Phan Quảng. Các em cố gắng học lên. Học cho giỏi để mai sau còn giúp ích cho xã hội cho gia đình và cho chính các em…
Quảng chưa dứt lời. Lũ bợm con đã nhao nhao:
- Thầy cho ra chơi thầy.
- Thầy sao không đeo mắt kiếng mù như chú Bảy thầy.
- Thầy… Thầy…
Cả lớp học ồn lên. Quảng lúng túng. Chú Bảy từ trong nhà ngang chạy băng vào lớp học. Chú ở trần. Chỉ mặc một cái quần đùi. Chú cầm cái roi quất vào mấy đứa con trai ngồi bàn thứ ba đang chơi trò lấn ép nhau về cuối bàn. Chú dí cái roi vào tay Quảng và nói:
- Đánh. Tôi đã nói với em. Phải trị bọn hắn bằng roi mới được.
Quảng chờ cho người đàng ông đi khuất. Chàng nhìn mấy đứa học trò vừa bị đánh và nói với một giọng ôn tồn:
- Các em nghe đây. Tôi không bao giờ muốn đánh các em. Tôi chỉ muốn đến đây để chỉ bảo cho các em học hành. Tôi sẽ bắt đầu ngày hôm nay bằng một câu chuyện. Tôi kể cho các em nghe câu chuyện Cờ Lau Tập Trận. Ngày xưa có một cậu bé tên là Đinh Bộ Lĩnh. Cậu bé còn nhỏ mà đã có lòng yêu nước. Nên cậu đã rủ các bạn cậu dùng cờ lau để chơi trò đánh giặc. Các em có biết trò chơi này thế nào không…
Mồng ba tết, Kim Oanh hẹn ra Đà Nẵng, đến nhà Bích Chi chơi. Hai đứa bây giờ đã lên đệ lục. Bích Chi dậy thật sớm và suốt buổi sáng trọng ngóng bạn đến.
Một chiếc solex đễ trước nhà. Anh Hưng chở Oanh lại. Oanh mặc chiếc váy đầm phồng ni lông hoa đu đủ be lá to xanh mới toanh.
- Tao ra xem xi nê. Oanh nói. Rạp Trưng Vương chiếu phim Tàu có Lâm Đại đóng. Hay lắm.
Hưng ngồi trên yên xe, nhìn hai con bé khoe áo mới xoắn xít với nhau.
- Bích Chi lái xe đạp được chưa. Hưng nói.
Bích Chi cười:
- Chưa. Tại hồi trong Hội An. Anh Hưng mới tập cho em được mấy lần. Làm sao mà em biết. Chừ ra đây đâu có ai tập cho nữa đâu.
- Bây giờ có muốn tập xe Solex không. Hưng cũng cười và nói. Tập cho.
- Mày còn được tập cho mấy lần. Oanh chêm vào. Còn tao tự động leo lên chạy một mình. Ngã quá trời. Vậy mà tao chạy được. Tao đạp ngon lành. Tao còn lén lấy cái xe đạp giàng của ông Quảng chở mày xuống con Lan chơi. Bị té rách quần nhớ không.
- A mày nhắc anh Quảng, Bích Chi nói, làm tao nhớ. Cái thư hôm nọ có đến tay anh Quảng không.
- Không. Oanh nói.
Rồi Oanh nhìn sang anh và nói:
- Anh đi đi. Em không đi đâu.
Quay sang Bích Chi, Oanh nói:
- Mày chỉ đường cho anh Hưng đến chỗ ông Quảng hộ đi. Mẹ tao có chuyện bảo. Tao qua nhà con Dần chơi. Một lát mày về. Ba đứa mình đi xem xi nê.
Bích Chi vào trong nhà thay một chiếc áo dài màu xanh da trời mới may để mặc tết. Rồi xin phép cha mẹ đi với anh của Oanh. Đối với anh chị em nhà Oanh, cha mẹ Bích Chi luôn luôn xem như những người anh chị của con gái. Bích Chi đã gần gũi với họ từ thuở còn bé đến bây giờ.
Hưng dẫn chiếc xe ra khỏi sân. Rồ máy xe xịt xịt khói bay mù mịt thức mây mãi mới leo lên yên được.
Xe chạy phon phon trên đường cái rồi Hưng mới nói:
- Lần đầu tiên mới thấy Chi mặc áo dài. Hôm nay trông Bích Chi lớn hẳn ra.
Bích Chi cười tươi và nói:
- Lần đầu tiên mẹ cho may áo dài màu đó. Anh Hưng thấy Bích Chi mặc áo dài giống mấy chị lớn đẹp không.
- Đẹp hơn. Hưng nói. Hôm nay Bích Chi đẹp như công chúa vậy. Để anh chở Bích Chi đi dạo phố một vòng nghe.
- Phải đi đến cái chỗ kia đưa đồ cho anh Quảng cái đã chứ.
- Bích Chi giỏi lo chuyện bao đồng nhỉ.
- Chuyện bao đồng là chuyện gì?.
- Là chuyện của thiên hạ đấy.
- Nói vậy là Bích Chi giận không đi nữa đâu à. Cô bé nhõng nhẽo.
- A thôi. Không nói nữa. Để anh ngậm miệng lại.
Những câu chuyện của một người muốn tỏ vẻ người lớn ghẹo một đứa con nít nổ dòn. Cô bé ngồi phía sau thỉnh thoảng ôm chặt lấy yên xe như sợ rơi xuống đường trong những lúc cười ngặt nghẽo.
- Anh Hưng biết gì không. Bích Chi nói, Bữa nào về Hội An đi biển nghe. Để em đi kiếm mấy cái vỏ sò. Bữa trước anh Hưng lượm cho em mấy cái vỏ sò vân hồng đẹp ghê. Em khoe với mấy đứa bạn bọn hắn thích lắm.
- Để hôm nào anh lăn xuống biển anh hốt cho Bích Chi một rổ. Hưng cười và nói.
Bích Chi ngồi phía sau đấm thùm thụp vào lưng Hưng.
- Anh xạo. Anh xạo. Cô bé cũng cười và nói.
Vậy mà cả hai đến địa chỉ tìm lúc nào không hay.
Hưng và Bích Chi đứng trước ngôi nhà. Chờ mãi vẫn không thấy người ra. Một lúc sau có thanh niên ở trần bước ra sân.
- Hỏi ai. Người thanh niên trạc tuổi Hưng vừa kéo nước ở cái giếng trong sân vừa hất hàm hỏi ra.
- Tôi muốn hỏi thăm anh Quảng. Hưng nói.
- Không có Quảng nào đây hết. Tên thanh niên không màng nhìn ra vừa tiếp tục kéo nước vừa trả lời.
- Hôm trước tôi hỏi thì có ở đây mà. Bích Chi lễ phép nói.
- Tết nhất. Quảng kiếc gì ở đây mà hỏi nà. Người thanh niên nói như nạt nộ rồi bước vào trong.
- Ê. Hưng lên giọng. Nói đàng hoàng.
Tên thanh niên quay lại và bỗng sừng sộ:
- Đ.M. Muốn cái gì Bắc Kỳ Còi.
- Muốn ra đây hỏi cái này.
Tên thanh niên xông ra. Và hắn bỗng dưng nổi cơn. Xắn tới lắc mạnh chiếc xe trên tay Hưng. Chiếc xe bị hất nằm chỏng bánh dưới đất. Hưng xắn tay áo. Bộp. Bộp. Bộp. Người thanh niên đấm vào mặt Hưng. Hưng co chân lên đá lại. Mọi việc xảy ra nhanh chóng và bất ngờ trước mắt Bích Chi.
Vài bóng người từ trong nhà đổ ra.
- Cái gì mà thằng Tam đánh lộn.
- Cái gì mà đầu năm đến nhà người ta đánh lộn.
Bích Chi nhận ra người đàn ông đeo mắt kiếng đen mà lần trước cô bé đã trao lá thư nhờ ông ta trao lại cho Quảng. Bích Chi kéo tay Hưng.
- Mình đi ra cho rồi anh Hưng.
Ra đến đầu ngõ, Bích Chi nói:
- Mấy người đó họ không nói anh Quảng ở đâu đâu. Hôm trước em đến họ cũng nói không có anh Quảng. Rồi lúc em ra về thì bất ngờ anh Quảng đi ra. Nên em mới biết anh Quảng có ở đây.
Nhìn có chút máu rỉ ra từ miệng Hưng. Bích Chi nhanh nhẹn trao cho Hưng chiếc khăn tay:
- Anh Hưng lau chiếc khăn này đây.
Hưng cầm chiếc khăn tay trắng viền chỉ xanh hồng tím đỏ công phu.
- Khăn mới quá nhỉ. Hưng cố nở nụ cười.
Bích Chi ấp úng hỏi:
- Anh Hưng đau không?.
- Ăn nhằm gì.
Và đưa tay xoa đầu Bích Chi trước khi rồ máy xe.
- Quên chuyện này đi nhé Chi. Hưng nói.
MỘT ĐÊM SÁNG TRĂNG
Phương đẹp trai nhất nhà. Cậu thiếu niên mắt sáng, trán cao, mũi dài và đôi môi hồng thắm dĩnh lên gợi cảm. Nhiều người vẫn khen ngợi cậu phúc hậu ở cặp mắt và nụ cười. Khuôn mặt cậu xương xương và giống mẹ. Phương ít bạn nhưng ai gần Phương cũng mến cậu bé khôi ngô, tính tình mềm mỏng, không bao giờ lớn tiếng với ai ngay cả những lúc cậu bất bình nhất.
Những ngày còn bé Phương nổi bật vì Phương có khiếu văn nghệ. Năm học lớp nhất, Phương nổi tiếng hát hay và đóng kịch cũng hay. Vở kịch được nhiều người khen cậu bé là hoạt cảnh Trầu Cau lần đầu tiên trình diễn trên sân khấu gia đình phật tử nhân dịp lễ Phật Đản. Phương đóng vai người anh trai. Oanh, em gái Phương, giả trai đóng vai người em. Và Bích Chi, bạn của Oanh và Phương, đóng vai người vợ. Sau đấy hoạt cảnh này được diễn đi diễn lại nhiều lần thể theo lời yêu cầu của khán giả.
Đã gần mười giờ đêm.
Mặt đường vắng lặng. Trời đêm. Gió từ giòng sông cuối phố thổi nhè nhẹ lên.
Mát.
Mùi hoa sứ trong những vườn nhà tỏa ra lòng phố. Thỉnh thoảng có những khách bộ hành thong thả kéo guốc kêu leng keng qua các ngả đường. Tiếng rao hàng ăn khuya vang lên đầu ngõ. Tiếng trò chuyện của những gia đình ngồi trước hiên nhà hóng gió sông thổi lên.
Con phố nhà Thanh là một trong những con phố chính của Hội An. Phía gần bờ sông tấp nập những hiệu buôn nhưng đoạn trên này phần lớn là nhà ở. Con phố rất hẹp. Cơ hồ nhà bên này đường bước qua nhà bên kia đường chỉ mươi bước.
Trước cổng nhà, Phương, Oanh và Bích Chi đang ngồi tụm đám. Phương cầm cây đàn thùng mới khảy mấy bản nhạc. Oanh luôn miệng nhắc:
- Phương đánh bài Sơn Nữ Ca đi.
- Phương hát bài… À, anh với con Bích Chi song ca bài Mùa Hợp Tấu đi.
Bích Chi nhìn theo Phương khảy đàn.
- Phương đàn giỏi ghê. Bích Chi nói.
- Bích Chi hát đi. Phương nói. Đàn cho.
Oanh thúc dục:
- Hai người đàn đại hát đại đi mà.
Bích Chi vừa lên giọng: “Bạn đường ơi nắng lên rồi gieo sáng ngời. Nhạc ngày xanh như chim lành tung đôi cánh…”.
Có tiếng guốc của chị Thanh đi chơi với bạn vừa về. Chị ngồi xuống cạnh đám nhỏ. Bích Chi ngưng hát, đưa tay lên miệng cười khúc khích.
Bên kia đường một thanh niên hàng xóm cũng lê guốc sang ngồi xuống nhập bọn.
- Chị Thanh với anh Trọng làm bể dĩa văn nghệ của người ta hết. Oanh nói lớn.
Trọng nhìn lên nền trời rồi nói bâng quơ:
- Bữa ni sáng trăng đẹp ghê hỉ.
- Anh Trọng đàn bài nghe chơi. Thanh mói.
- Phải có cái chi mới đàn chớ. Chè cháo chi mới đàn được. Tui đàn Thanh hát nghe.
- A có rổ đậu xanh mới ngâm chiều nay. Để Thanh đi nấu chè cho.
- Chị Thanh hát ai mà nghe. Oanh nói.
- Hát hay không bằng hay hát nghe nhỏ. Thanh ký đầu con em.
- Thôi mọi người đồng ca. Trọng vừa khảy một điệu nhạc vừa nói. Nè. Đây, một hai ba… “Đêm nay trăng sáng soi làng tôi một vài cô thôn nữ xay lúa lo ngày mai. Cười vui bên ánh trăng huyền lan đưa câu hò tình tứ lúa thắm bao mùi hương…”.
Cả đám cùng đùa giỡn. Ăn chè đậu xanh và đàn hát cho đến khuya mới đi ngủ.
Khoảng nửa đêm về sáng. Phương thức dậy. Căn nhà vắng lặng. Mọi người ngủ trong nhà. Chỉ có Oanh và Bích Chi ngủ quên trên phản trước sân. Phương ra trước cổng nhà. Ngồi tựa cổng và hút một điếu thuốc.
Có một điều là dạo gần đây Phương thích sự yên tĩnh của đêm khuya ở chỗ ngồi quen thuộc này. Phương thường ngồi một mình không đàn không hát thì cũng ngồi yên lặng tựa lưng vào cái bản lề cánh cổng. Mắt nhìn ra con đường vắng lặng và những căn nhà phố êm ả chìm trong giấc ngủ ngon lành. Chàng thiếu niên ngồi như vậy và suy nghĩ hàng giờ.
Phương nằm trên chiếc võng và thiếp đi một giấc. Khi vừa thức dậy bước ra trước hiên nhà. Phương đã thấy cái hình ảnh này dội vào mắt. Bích Chi và Oanh đang ngủ nghiêng trên phản gỗ kê trước sân. Ánh trăng sáng chiếu loang cả vườn. Chiếu ánh sáng mờ ảo trên khuôn mặt của thiếu nữ đang nằm nghiêng. Mái tóc của Bích Chi xõa dài trên chiếc gối trắng. Bích Chi say sưa ngủ. Tựa như đang say sưa thở làn gió mát và mùi hương êm dịu của những cây lá trong vườn thở ra.
Phương ngắm người bạn gái nhỏ nhít ngày nào. Trên khuôn mặt ấy giờ đang là một mảnh trăng sáng êm ả và một hơi thở nhẹ dịu dàng. Chàng thiếu niên bỗng thấy như vừa nhún mình nhảy vọt một cái vào một thế giới nào đó. Cứ nhìn mái tóc và khuôn mặt ấy mãi mà không chán. Phương cảm thấy tim hơi đập mạnh hơn thường ngày, tâm hồn tràn ngập một thứ cảm giác lâng lâng và xao xuyến đến hụt hẫng lạ kỳ.
TUỔI THƠ U UẨN
Liêm ôm cái giỏ vào bụng và đứng nhìn cái bảng hiệu cửa tiệm. Tiệm ảnh Tân Tân. Tấm bảng hiệu cũ. Nước sơn bạc thếch. Chữ “Tiệm Ảnh” mờ nhạt và tróc luôn nước sơn nên rất khó đọc. Liêm nhớ lời thím nó dặn: “Xuống xe đò. Hỏi người ta đi về cái chợ chồm hổm. Kiếm cái tiệm chụp hình Tân Tân. Ở trước tiệm Tân Tân có cái gốc cây bự”. Liêm nhìn sang thấy cây cổ thụ bên kia đường. Đúng là bự thiệt bự. Nó mới mạnh dạn bước vào tiệm chụp hình.
Một người đàn ông ngồi lúi húi trên ống kính ở phía sau. Bên cạnh là một đứa con trai cũng đang chăm chú trên một cái máy gì đó. Liêm mừng rỡ reo lên:
- Ơ đúng cái tiệm này rồi.
Đứa con trai nghe tiếng người, quay ra. Nó bỏ cái kính đeo trên con mắt xuống và cũng mừng rỡ:
- Ủa. Liêm. Ra hồi nào vậy.
Người đàn ông ngẩng đầu. Ông ta vội đứng dậy.
- Đứa nào đó. Người đàn ông nói.
- Cháu là Liêm. Liêm lập lại lời thím nó dặn. Bữa ni cháu ra gặp chú Soạn trao cái ni của thím Hội gửi cho chú.
Người đàn ông lật đật bước ra. Kéo Liêm vào phía sau nhà. Liêm đưa cái giỏ mây cho người đàn ông. Người đàn ông cấp tốc cầm chiếc giỏ vào trong cái buồng con sau nhà. Kéo sập cánh cửa sổ lại. Một lát sau người đàn ông trở ra và nói với Liêm:
- Bà thím dặn cháu tối nay ngủ lại đây. Sáng mai đưa đồ của chú gửi về cho thím.
Ông ta thay áo quần, rồi quay sang nói với thằng nhỏ:
- Coi tiệm nghe Tý. Hễ cô về thì nói là chú đi thăm anh Định. Tối nay chú ngủ lại bên đó. Sớm mai sáng chú về.
Người đàn ông đi rồi. Tý ngồi lại trước cái máy phóng ảnh. Liêm lại gần. Nó nhìn vào bàn ảnh. Tý vừa cầm cây viết sửa hình vừa nói chuyện:
- Người nhỏ mà đi xa rứa. Tý nói vui vẻ.
- Bà thím sai đi. Liêm nói.
- Má tui có nhắn gì không.
Liêm chợt nhớ ra, sờ vào túi áo.
- Có gửi hai miếng kẹo đậu phọng nè.
Liêm kể chuyện trong quê cho Tý nghe. Có lần Liêm ghé sát vào tai Tý và nói nhỏ:
- Thằng Thành nhảy núi rồi.
- Biết rồi. Tý nói.
- Sao biết.
- Hồi đó hắn rủ đi một lần. Mà không đi.
Khi Tý chăm chú đưa cây cọ sửa một tấm hình. Liêm chúi đầu nhìn Tý tôi đôi mắt của một người con gái.
- Làm cái chi rứa. Liêm hỏi.
- Sửa hình.  
- Sửa làm chi. 
- Sửa hình xấu cho thành đẹp. Già sửa cho thành trẻ.  
Liêm đưa tay lên che miệng vừa bật cười.
- Tại răng cười. Tý cũng mĩm cười và nói. Chú Soạn dạy sửa như rứa mới ăn khách. Ở đây chụp hình ai xong là chú cũng bắt sửa hết.
Liêm cầm tấm hình Tý vừa sửa xong nhìn một lúc rồi hỏi:
- Có cái chi sửa không được không.
- Có. Tý đáp. Có một cái không sửa được. Là buồn sửa cho thành vui.
Vài thiếu nữ ngấp nghé vào cửa tiệm. Tý đi ra tiếp khách.
Liêm đi ra sau vườn. Đến dưới gốc cây có cái xích đu. Nó Ieo lên sợi dây và đu qua đu lại. Nó nghĩ đến câu chuyện nó muốn nói với Tý mà nãy giờ nó vẫn chưa nói.
Ở trong Phú Thuận, Tý và Liêm học chung một lớp. Tý to cao nhất lớp. Tuổi Tý cũng lớn nhất. Nên năm nào Tý cũng được bầu làm liên đội trưởng. Tý có cặp mắt to và long lanh. Cái miệng của Tý hay cười. Khi nào cũng sẵn sàng nhoẻn miệng cười. Tý chỉ mới học hết lớp nhì đã phải nghỉ học để đi làm thuê kiếm tiền nuôi mẹ. Mẹ Tý có đến tám con. Hồi ra giêng, bà thím của Liêm sang nhà Tý và hứa với mẹ Tý sẽ giúp gửi Tý ra quận học nghề chụp ảnh. Tý ra học nghề đã được mấy tháng nay. Ở trong quê nhà Liêm gần nhà Tý nên hai đứa hay chạy qua chạy lại. Hay kể cho nhau nghe nhiều chuyện.
Tý chụp hình cho mấy người khách xong thì lại đến ngồi chỗ cũ sửa hình. Liêm cũng lại đến gần và kể chuyện. Chuyện nào đã xảy ra trong mấy tháng Tý xa nhà, Liêm đều kể cho Tý nghe hết. Cả chuyện thầy Đăng chết.
- Ông thầy Đăng bị ai bắn không biết.
Tý giật mình, quay sang nhìn Liêm và hỏi:
- Răng lạ rứa.
Tý không cười nữa. Mắt Tý chớp chớp. Thầy Đăng dạy lớp nhì. Hồi đó thầy Đăng rất thương Tý. Cho Tý cộng điểm hoài.
Liêm ghé sát vào tai Tý nói nhỏ:
- Thím Lang nói là thằng Phú đi du kích về bắn thầy Đăng.
- Má tui nói thiệt sao. Tý nói.
- Ừ. Má anh nói tại thầy Đăng không chịu cho treo cờ giải phóng lên cột cờ.
Mãi lâu lắm. Kể hết chuyện rồi Liêm mới bộ tỉnh và nói:
- Nói chuyện ni nghe.
- Chuyện chi. Tý nói.
- Sắp ra ngoài Đà Nẵng rồi.
- Nữa. Đi xe rứa.
- Bà thím biểu đi.
- Ra làm cái chi ngoài đó.
- Bà thím bắt ra ngoài đó học.
Tý ngồi im.
Một lát sau, Liêm mới nói.
- Lâu lắm mới về Phú Thuận.
Tý chăm chú nhìn lên cái ống kính phóng ảnh. Tý không nhe hàm răng ra cười như thường lệ.
Sáng ngày hôm sau trước khi Liêm ra xe đò, khi thấy không có người quanh quẩn, Tý rút một tấm hình ra cho Liêm và nói.
- Tặng Liêm đó.
Liêm cầm tấm hình lên nhìn, rồi nói:
- Hình này sửa lại chưa.
- Hình chụp hồi mới ra đây. Tý nói. Chưa có sửa.
Liêm ngắm hình Tý nhe răng cười. Liêm nhe răng cười lại.
- Về nghe.
Tý gật đầu. Và nhìn đi nơi khác.
Liêm ngồi cạnh bà thím Lang, nhìn bà nhai và đút cơm cho thằng nhỏ trên tay. Thằng Hải và con Sửu ngồi bệt dưới đất, cạnh chiếc võng của mẹ. Trên tay mỗi đứa một chén cơm. Thằng Hải ba tuổi mũi chảy thò lò. Vừa ăn vừa quệt mũi. Con Sửu lớn hơn miệng nhai chóp chép gọn gàng hơn. Trên chén cơm mỗi đứa chỉ vỏn vẹn tí canh bí đỏ và đậu phọng. Liêm nhìn thằng Hải xúc những muỗng cơm rơi ra ngoài.
- Đưa chị đút cho Hải. Liêm nói.
- Ừ. Bà Lang nói. Đưa chị Liêm đút cho ăn mau lên con.
Rồi bà hỏi tiếp Liêm câu hỏi hồi nãy đang để dỡ:
- Cháu thấy thằng Tý ra răng. Kể cho thím nghe với.
- Cháu thấy anh Tý cũng vậy.
- Hắn có khỏe không.
Liêm nhoẻn miệng cười.
- Thím muốn coi hình không.
Liêm rút trong túi áo ra cái hình của Tý.
Bà Lang đưa ra ngoài sáng để coi. Bà trầm trồ:
- Cha. Coi hắn cắt tóc lớn lên hỉ.
- Anh Ba hả má. Con Sửu chồm lên.
- Cho con coi hình anh Ba với. Thằng Hải cũng chồm lên.
May mà mấy đứa lớn đang chơi ngoài xóm, chưa về ăn cơm. Chứ không thì tấm hình của Tý cũng rách mất vì đứa nào cũng dành xem hình của anh.
Thằng Hải và con Sửu ăn xong bèn chạy ra ngoài sân chơi. Đứa nhỏ ngồi một lát rồi gục ngủ. Liêm ngồi cạch thím Lang một lúc lâu rồi mới thắp thỏm nói:
- Thím Lang, cháu muốn hỏi thím một chuyện.
- Hỏi cái chi.
- Có phải cha cháu tên Nhiêu. Mẹ cháu tên Cầm không?.
- Tên chi. Thím Lang nhíu mày. Tên chi lạ rứa.
- Chớ thím nói cha mẹ cháu tên chi.
- Tao chỉ biết tên cha mi là Sinh. Hình như là Trần văn Sinh. Mẹ mi tên Mai. Chớ bà Hội không nói rứa hả.
- Dạ thì mọi khi cháu nghe như rứa.
- Chừ thì răng.
Liêm quàng hai tay ra sau gáy, nhìn thím Lang và nói:
- Tự nhiên sáng hôm qua đưa cho cháu tờ giấy khai sinh có tên cha là Nguyễn Văn Nhiêu, mẹ là Lê Thị Cầm. Tên cháu cũng đổi luôn.
- Tên mi cũng đổi luôn.
- Tên mới là Nguyễn Thi Thu Hồng.
- Đổi làm cái chi rứa.
- Để cho cháu ra Đà Nẵng học.
- Bộ mi ra ngoài nớ rồi người ta không kêu mi tên Liêm như cha mẹ mi đã đặt nữa à.
Liêm lắc đầu.
Bà Lang đi ra sân rồi trở lại nhà bếp. Liêm chờ thím ngồi xuống rồi lại hỏi:
- Hồi đó thím thấy mẹ cháu chết thiệt hả thím.
- Chết chớ sống chi nổi. Bà Lang nói.
Bây giờ bà mới có một chút rảnh rỗi. Không có đứa con nào bên cạnh. Bà sổ mái tóc ra chảy và búi lại. Bà nhìn ra cái cửa phên và nói với Liêm:
- Mi ra đóng cái cửa lại đi.
Liêm le te chạy đi đóng cái cửa. Nó nhìn trước ngó sau như dò chừng có người nào ngoài kia không. Liêm đi trở lại bếp và ngồi xuống chỗ cũ, cạnh cái cửa bếp ra vào.
Bà Lang đun bếp nấu nước uống. Hơi nóng từ trong lò củi tỏa ra. Hai má của bà Lang đỏ lên. Hai má của Liêm cũng hồng hồng.
- Có biết mi sang đây không. Bà Lang nói.
- Không biết đâu. Liêm nói.
- Tao nói cái chi. Mi đừng nói lại. Bà mà biết được là tao ở không yên với bà.
Liêm nhìn bà Lang với cặp mắt không chớp. Con bé bó hai tay quanh đầu gối. Nó nhích người lại ngồi gần bà Lang hơn.
- Cháu không nói đâu thím. Giọng nó khẩn khoản. Thím kể chuyện về cha mẹ cháu đi.
- Tao biết chừng nớ. Kể đi kể lại mấy lần cho mi nghe rồi. Chừ mi muốn nghe cái chi.
- Thím nói tại răng mẹ cháu chết.
- Chỉ vừa sanh xong mi đươc hai tuần là mất. Mẹ mi bị làm băng. Máu ra nhiều lắm. Tao thương chỉ nên lặn lội chạy sang tuốt bên Đại Lộc mượn ông thầy cái sừng con tê giác để mài nước cho chỉ uống mà cũng không cầm máu. Tội nghiệp mẹ bay mất ai cũng nói người hiền lành lại chết sớm.
- Bữa trước cháu nhớ thím có nói là mẹ cháu bị cái chi sản sản đó mà.
- Tao nói hồi nào.
Bà Lang nhìn sang Liêm. Con nhỏ ốm nhoi xương vai. Khuôn mặt nó sáng sủa. Mắt mũi miệng đều rộng. Nhìn cũng được có điều khi nào cũng thấy nghiêm và hơi buồn.
- Lâu rồi. Liêm nói. Hồi đó có lần thím kể má cháu giận cái chi uất lên mà làm băng ồi mới chết.
- Con ni nhỏ mà nhớ dai. Bà Lang nói. Mi nhớ thì để trong đầu chớ mi mà hỏi bà Hội là chết. Tao coi mi như con cháu. Tao thương mẹ mi chết tức tưởi nên nói cho mi nghe cái chi thì mi để trong đầu. Lớn lên còn biết người này người kia. Cả như thằng Tý đây cũng vì nghèo khổ nên thím phải nhờ cậy người ta. Chớ dư ăn dư mặc thì thím cũng không để cho hắn đi. Ở đời người ta dò sông dò biển chớ ai dò được lòng người. Hồi nớ ai mà biết được bà Hội ra tay nuôi hai anh em bay bây chừ. Hồi nớ chị Mai mất ai cũng nói chỉ ghen lên rồi bị sản hậu mà chết. Mà tao cũng khuyên chỉ ghen làm chi cho khổ. Mà chỉ không nghe. Chồng mình đã như rứa ghen làm chi cho khổ thân mình. Ai đời mẹ mi đẻ mi còn nằm trong buồng. Mà ở nhà trên cha mi ngồi với bả sát rạt trên cái chõng tre giỡn với nhau như chỗ không người. Chướng chi lạ. Bả thì cười ra rả họng còn cha mi thì câm thin thít. Tao ra buồng sau thấy mẹ mi nằm cho con bú mà hai hàng nước mắt như mưa. Tao tức lắm mà cũng không biết nói cái chi an ủi. Mi nói cái chi. Ôi cái bà Hội mà ngán ai. Đến khi mẹ mi ghen lên cơn bả còn xuống chăm chút hỏi han cho một chục hột gà nữa.
Bà Lang dập tắt thanh củi trong bếp rồi tiếp:
- Tao cũng ớn bả luôn. Mẹ bay chết. Lập tức bả dẫn hai đứa bay về nuôi không nói năng nửa lời. Cha bay dọn sang ở với bả. Rứa mà đến lúc cha bay đi tập kết ra Bắc. Bả cũng không cho cha bay dẫn hai đứa bay về bên ngoại. Bả dành nuôi.
- Thím có biết bà ngoại cháu không?.
- Tao không biết. Có lần nghe mẹ mi nói ở chỗ mô trong Quảng Nghĩa xa lắm. Đi cả ngày mới đến.
Bà thở ra và tiếp:
- Tao thương mẹ bay. Hồi chỉ còn sống tao với chỉ miếng bánh ú cũng bẻ ra làm hai. Hồi chỉ sắp mất chỉ có nhờ tao trông coi hai đứa bay. Nghĩ mà thương hai đứa bay. Thân tao một bầy con sáu đứa còn nuôi chưa nổi. Biết làm răng mà làm theo lời chỉ trối trăn. Tao nói để cho mi biết mà liệu lấy thân sau này. Chớ bả gớm lắm. Hồi đó bà đi đặt bom cho Việt Minh. Đó cái bàn chân bả cụt hết mấy ngón là vì đặt bom đó. Nghe nói bả bị bắt người ta đổ xà bông vô miệng bả mà bả nhất định không khai. Bả được phong cho cái chức nữ anh hùng chi chi đó. Được đưa lên báo lên truyền đơn đọc trên loa phóng thanh cho bà con nghe. Nội cái xứ ni nói đến chị Sáu Hội ai không ớn.
Ở nhà thím Lang về, Liêm đi thơ thẩn ngang cái ngõ chè của ông Dậu. Liêm vừa quất quất lên hàng rào chè vừa nghĩ ngợi về những điều bà Lang vừa kể lại. Cả làng này, chỉ có bà Lang mới nói cho nó nghe về cha mẹ nó. Nhưng lần nào hỏi thím Lang cũng chỉ kể lại bấy nhiêu chuyện.
Bà Lang có một bầy con. Ông Mất, chồng bà Lang là người làm công cho bà Hội. Nhà thím Lang tường đất chớ không phải nhà tường gạch như nhà bà Hội. Liêm hay sang nhà thím Lang chơi. Có khi Liêm giấu bánh ú bánh in cho những đứa con bà Lang. Nó thích qua nghe bà Lang kể lại những chuyện xưa giữa mẹ nó và thím Lang. Thím Lang kể hoài không biết chán. Nó nghe hoài vẫn cứ muốn nghe. Chỉ có bà Lang mới kể những chuyện mà không ai kể. Chỉ có bà Lang mới tâm sự với nó những lời mà không ai dám tâm sự. Cả cái làng này, ai gặp Liêm cũng nói rặt một câu: “Bà Hội tử tế. Nuôi hai đứa bay mồ côi mồ cút rứa là bà tử tế lắm rồi đó”. Hoặc khi có bà Hội trước mặt, nó được nghe người ta ca ngợi bà Hội: “Anh em thằng Hạo con Liêm ở với chị vậy là có phước lắm rồi. Được chị nuôi nấng đầy đủ sung sướng rứa là may mắn lắm”. Liêm thấy dường như ai cũng nói tốt về bà Hội khi đứng trước mặt bà Hội. “Chớ không nói tốt sao được”. Bà Lang đã có lần nói nhỏ với Liêm. “Bả vậy đó. Ai mà dám mở miệng. Làm cái chi trái ngược ý bả có nước bỏ xứ mà đi. Chết ở đây dám không mồ chôn như cha con thằng Tèo đầu xóm”.
Liêm nghĩ đến cha con thằng Tèo mà mọi người vẫn truyền với nhau trong làng. Cha thằng Tèo là ông Bang ăn rồi uống rượu say sưa tối ngày. Ông chí có một con là thằng Tèo. Thằng Tèo đi làm công để nuôi một ông cha nghiện ngập. Không may thằng Tèo bị trúng gió chết. Bà Hội mua cái xác thằng Tèo. Đem về mổ bụng ra rồi dồn đạn vào trong đó. Chở đi tiếp liệu cho mấy người trong bưng, nên ở làng thằng Tèo chết mà không có cái mả của nó.
Có những chuyện Liêm chỉ nghe xầm xì mà không được chứng kiến tận mắt. Nhưng cũng có những chuyện mà Liêm có thể nhìn thấy trong những năm tháng nó lớn lên cạnh bà Hội.
Cái nghề bán thuốc tễ của bà Hội thực ra chỉ là cái nghề che đậy bên ngoài. Với cái nghề đi bán mấy viên thuốc đen trộn đường có mùi vị hăng hăng mà bà Hội thường quảng cáo là uống vào bổ lắm, mục đích của bà Hội là đi khắp làng này qua làng nọ, nhà này qua nhà nọ để tìm hiểu. Nhà nào bà Hội cũng biết có bao nhiêu con, chồng làm gì, vợ tên chi.
Bà Hội đã ngoài bốn mươi, to con mập mạp. Bà có một búi tóc to ở sau gáy, luôn luôn chải gọn gàng và bôi dầu dừa láng lẩy. Khuôn mặt người bà bẹt, hai con mắt sắc mỗi lần bà trợn trừng nhìn Liêm là Liêm phải nhìn đi chỗ khác. Hai hàng lông mày của bà luôn luôn được cạo láng sạch, rồi tự tay bà vẽ lên hai đường bút chì theo ý bà để giả làm lông mày.
Người đàn bà này không chồng, nuôi toàn con nuôi. Người ta đồn là thủa còn trẻ, cô Sáu Hội cũng có chồng và một con. Thời Pháp bỏ bom, hai vợ chồng và con đang ăn cơm trong hầm thì bị một quả bom nổ ở trên miệng hầm. Chồng và con của cô Sáu Hội bị trúng bom chết. Cô Sáu Hội thoát chết nhưng bị một mảnh bom vào trong bụng. Nên từ đấy cô không còn sanh đẻ gì được nữa.
Hai đứa con nuôi lớn của bà Hội đã đi theo Cách Mạng từ ba bốn năm nay bây giờ đã lên đến chức bí thư huyện. Còn Hạo, anh của Liêm, cũng theo Cách Mạng và được bà Hội gửi ra vùng Cát ở ngả Điện Dương hoạt động. Chỉ còn mình Liêm lâu nay vẫn ở quanh quẩn với bà Hội.
Liêm lớn lên trong ngôi nhà này, với người đàn bà mà nó gọi là thím này. Liêm đã chứng kiến nhiều chuyện mà nó biết nó không thể thố lộ được với ai. Từ khi nó có trí khôn, đã bao nhiêu lần bà Hội dí tay vào trán Liêm và cảnh cáo: “Đi ra ngoài nhà, ai hỏi chi thì mi phải nhớ im lấy cái miệng nghe chưa. Mi mà hé răng ra nói cái chi là bọn Ngụy hắn bắt mi bỏ tù đày ra Côn Đảo ở cho đến rục xương. Mi phải nhớ cái khẩu hiện Ba Không: Không Biết, Không Nghe, Không Thấy. Mi phải nhét vô trong đầu mi, in vô trong óc mi câu nói của Cách Mạng là ‘Kín miệng để cứu nước’ nghe chưa”. Mỗi lần dặn xong là bà thường lấy ngón tay trỏ dí mạnh lên trán Liêm một cái. Thiếu điều Liêm muốn té ngửa ra sau.
Ở sau vườn kia, nơi cái bụi chuối cạnh chuồng gà là mấy người Cách Mạng đang nằm dưới hầm. Cái hầm trú ẩn xây bằng gạch âm u ấy là chỗ chứa du kích xã. Có khi bốn năm người “Cách Mạng” trốn dưới đó. Chờ đến ban đêm họ mới đi ra khỏi hầm, đến những nhà trong làng kêu đi học tập. Cái hầm đó đã từng chứa truyền đơn, chứa cờ Giải Phóng. Và có khi là nơi dấu súng ống của mấy người du kích nữa.
Cứ ba tuần hay một tháng, bà Hội lại đi xa. Liêm không biết bà đi đâu, chỉ biết là bà Hội đi cất thuốc. Nhưng có những đêm đêm ở trong ngôi nhà này, bà Hội là đồng chí Cách Mạng. Vất mấy bao thuốc tễ qua một bên, bà Hội gặp người cán bộ này, giao xấp truyền đơn khác, đi giao liên chuyến này, giao phó trách nhiệm cho người kia. Từ năm Liêm học lớp ba, thỉnh thoảng Liêm đã phải làm giao liên, dẫn mấy người Cách Mạng từ xóm này sang xóm khác.
Cũng chính Liêm thường xuyên chứng kiến có những lúc cái miệng bà Hội thiệt tới ngon ngọt và trơn tru với mấy người lính Quốc Gia. Như bữa nọ, đang giữa trưa, trời nắng chang chang, có mấy người lính đi hành quân ngang nhà. Họ mới đi ngoài ngõ, bà Hội đã chạy ra đon đả: “Để tui hái buồng chuối hương ni biếu mấy chú. Các các chú về đây luôn, rứa mới yên được. Mấy cái thằng Cách Mạng mới không dám bén mảng về. Ta nói hễ mà bọn hắn về đây kêu dân đi học tập đi dân công một đêm mà nghe lính Quốc Gia các chú ngày mai lên là bọn hắn lo cút lẹ”. Đã có lần bà Hội ưu ái để cho cả tiểu đội địa phương ngủ lại trong sân vườn nguyên đêm. Bà còn nấu chè đâu đen mang ra tiếp đãi nồng hậu.
Lẩn thẩn ngoài ngõ một lát, Liêm đã về đến nhà. Mở cánh cửa khép hờ bước vào trong nhà, Liêm thấy có người đàn ông ngồi ở bàn ăn. Một người cao lớn ngồi phía trong và một người đeo mắt kiếng đen ngồi ngoài. Bà Hội thấy Liêm vừa về thì nói:
- Vô trong nhà ăn uống, tắm rửa, lo đi ngủ. Sáng mai đi với chú Bảy ra ngoài đó sớm.
Ảnh: Không rõ nguồn (Chú thích của tác giả)
MÙA HÈ KHÍCH ĐỘNG
Quảng đi ngang phòng giáo sư thì gặp ông Bích, giáo sư sử địa, kêu vào:

- Cậu này vào đây. Ông Bích nói.
Ông Bích và Quảng đi qua một phòng học trống. Ông hỏi thăm Quảng:
- Dạo này cậu học hành thế nào?.
- Dạ cũng thường, thưa thầy. Quảng nói.
Ông Bích ngoài địa vị là giáo sư sử địa của Quảng, ông còn là bạn đồng đảng với cha Quảng ngày ông Thạch còn sống. Hai người cùng quê. Ông Bích hoạt động ở vùng Quảng Nam lâu ngày. Ông còn là một khuôn mặt trí thức có tiếng ở quê nội Quảng.
Môn sử địa của ông Bích bao giờ Quảng cũng được điểm cao. Quảng là một học sinh xuất sắc, có trí nhớ tốt, và đặc biệt là thường xuyên chất vấn giáo sư về những biến cố lịch sử. Ông Bích thường dùng thành ngữ nổi tiếng về dân Quảng Nam để gọi cậu học sinh nhiều ý kiến nhất lớp “Cái cậu Quảng hay cãi bữa nay đâu rồi”, ông Bích thường nói hôm nào Quảng nghỉ học. Vì tuy Quảng nói lai tiếng Bắc của mẹ nhưng cậu có gần hết đặc tính nổi bật của quê cha. Một xứ nổi tiếng hay tranh luận, có tính tiếu lâm và có truyền thống bất khuất. Ông Bích vẫn thường nói trong lớp rằng ông thích những học sinh biết đặt vấn đề chứ ông không thích những học sinh chỉ học thuộc bài như vẹt. Quảng tuy bị ông hỏi thăm luôn nhưng là một trong những học trò cưng của ông Bích.
- Tôi mới gặp bác của cậu hôm trước, ông Bích nói. Nghe nói dạo này cậu bận rộn gì ghê lắm hả. Bây giờ cậu làm gì?.
- Dạ em đi dạy tư thêm chút đỉnh, thưa thầy.
- Phải cậu dạy ở cái trung tâm Sao Băng không.
- Dạ phải. Sao thầy biết hay quá vậy.
Ông Bích mỉm cười.
- Cậu dạy ở đó lâu chưa?.
- Dạ cũng gần một năm.
- Cậu biết gì về tay Bảy đó nhiều không?.
- Ông ta cũng kém. Ít học. Mà sao ở dưới tay ông ta cũng có nhiều người học hành đàng hoàng hùn hạp mở trung tâm luyện thi. Ông ta tài thật. Nước lã mà vã nên hồ là vậy.
- Ờ. Ông Bích bật một điếu thuốc, hít một hơi, rồi nói. Tay đó còn uy tín trên chùa lắm nữa phải không?.
- Dạ phải. Các thầy trên chùa cũng nể lắm, Quảng gật gù.
- Tay đó làm ăn cũng giỏi. Nổi tiếng làm chứng chỉ giả bán cho học sinh hay lắm mà.
Quảng ậm ừ:
- Dạ, cái vụ này em không biết.
- Cậu có biết năm ngoái trường này lộn xộn cái vụ cho mấy đứa học trò vào Đệ Thất là do cái trung tâm của tay này gây ra hay không?.
- Dạ cái này thì em hoàn toàn không biết, Quảng nói.
- Cái gì cậu cũng không biết, ông Bích gắt giọng. Cậu không biết thì cậu dạy làm quái gì.
- Dạ đâu có sao thầy. Mình sợ chi ai.
Quảng đã quen với cái lối thỉnh thoảng lên giọng gắt gỏng của ông Bích trong lớp.
Nhìn đứa học trò đang nhìn lại mình với con mắt đầy tự tin, ông Bích dịu giọng nói:
- Cậu làm tôi nhớ lại hồi bằng tuổi cậu tôi cũng coi trời bằng vung. Cũng thường dấn thân không màng nguy hiểm. Tốt. Tuổi trẻ như vậy là tốt.
- Thầy là người đầu tiên khen được một câu. Quảng hạ giọng. Ông bác em hễ mở miệng ra là chê tụi em ngu dại, bị dụ dỗ. Dụ dỗ cái gì. Ông bác em ưa xía vào chuyện của em. Em lớn rồi mà ông cứ xem như con nít.
- Rồi cậu sẽ học lấy bài học kinh nghiệm của chính mình, ông Bích tiếp. Với riêng cậu thì tôi thì tôi nói cho cậu là cái bài học thường tự mình học lấy. Có sờ vào lửa mới biết nóng là bài học đắt giá. Đời này nó vậy. Mấy ai học được kinh ngiệm của người khác.
- “Không vào hang hùm làm sao bắt được cọp”, đề luận của thầy Linh mới cho làm tuần trước đó thầy. Quảng cười và cắt ngang lời người thầy giáo. Vào hang hùm cũng có cái thú phải không thầy. Không sao đâu thầy. Em có nghe người ta xầm xì về chỗ em dạy thêm. Nhưng em thấy không sao đâu thầy. Em liệu được mà.
- Cậu biết gì để mà liệu. Giọng người thầy giáo bỗng trở nên kiên nhẫn.
- Không biết mới nhào vô cho biết, Quảng nói. Thầy sao bi quan.
Ông Bích đứng lên. Đứa học trò đang đứng trước mặt tuổi chưa đầy đôi mươi. Mặt mũi tay chân người ngợm chưa trổ hết mã mà từ nãy giờ nó cười khì khì về những điều ông nói. Xem những lời nói này chẳng ăn nhậu gì hết đến nó. Xem kinh nghiệm của ông là của ông. Chuyện của nó là của nó.
- Tôi chỉ muốn nhắc nhủ cho cậu biết rằng phải cẩn thận. Nguyên tắc làm việc đòi hỏi người ta phải ở trong guồng máy. Không có guồng máy công việc không chạy và khó đạt được kết quả. Tuy nhiên giữ được một đầu óc minh mẫn để nhìn ra guồng máy mình đang vướng mắc là tốt hay xấu là một điều không phải luôn luôn dễ làm. Tôi đã nói những điều tôi trải qua cho cậu nghe. Bác cậu nhờ. Phần còn lại là tùy cậu.
Quảng đứng lên, mĩm cười, chào ông Bích và nói:
- Bác của em vậy đó thầy ơi. Em chán ông này lắm. Ông ấy chỉ lo thủ thân. Lo thân mình nhà cao cửa rộng thiên hạ sống chết mặc bây. Lại còn muốn con cháu bắt chước như ông ấy. Ai mà muốn cả đời cạo giấy văn phòng như ông ấy đâu.
Thu Hồng mở giỏ, lấy trao cho Quảng một gói thuốc bắc và nói:
- Chú Bảy biểu đưa cho anh.
Rồi chào Quảng và vội vàng quay ra. Quảng nhìn theo vạt áo dài trắng thô sơ và cái nón lá không được mới lắm. Lòng nghĩ thầm con nhỏ ít nói và nghiêm trang quá.
Quảng vào trong bàn học. Sách vở ngổn ngang trên bàn. Sắp sửa đến kỳ thi tú tài hai. Thế, người bạn ở chung, vừa về quê sáng nay. Chỉ còn lại một mình Quảng đang học bài.
Quảng mở gói thuốc bắc ra. Bên trong không phải là thuốc mà là một xấp giấy ronéo vàng khè xấp xỉ màu giấy gói thuốc bắc. Quảng cẩn thận đi đóng cánh cửa lại. Những bài thơ chép tay, nét chữ nắn nót rất kiểu cọ và khép tay. “Mảnh Đất Nuôi Anh”, bài thơ đầy ắp tình tự quê hương. “Hai Thế Hệ Một Tấm Lòng”, đoản văn của người trẻ vô danh viết về nỗi khắc khoải trước những vấn đề của đất nước, Quảng đặc biệt chú ý đến một đoạn văn: “Họ là những thanh niên trên dưới hai mươi. Những người thanh niên hai mươi tuổi ấy tuy chưa có nhiều kinh nghiệm ở đời, nhưng biết rất rõ những nguyên nhân đau khổ của dân tộc và của nhân dân lao động là chế độ thực dân phong kiến. Họ sớm tìm được con đường đúng, có tinh thần anh dũng cao độ, trong tay không có một khẩu súng, kiên quyết đứng dậy đấu tranh đánh đổ những kẻ thù hung ác, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc. Họ lập ra chính đảng của giai cấp công nhân và định ra cương lĩnh giải phóng dân tộc Việt Nam. Họ từ bỏ gia đình, trường học, đi vào nhà máy, xóm thợ, thôn xóm vận động tổ chức lãnh đạo công nhân, nông dân đấu tranh. Họ phát động những cuộc đấu tranh của hàng nghìn hàng vạn quần chúng, làm lung lay chế độ thực dân, gây nên tiếng vang lớn trên thế giới.
Cao trào kháng Pháp cứu nước trong thời kỳ trên đã thu hút hàng vạn thanh niên thành thị và nông thôn. Thanh niên đóng một vai trò quan trọng. Vinh dự lớn của thế hệ chúng ta là thực hiện những mơ ước của ông cha và anh chị chúng ta. Bao nhiêu thế hệ trước chúng ta đã phấn đấu và hy sinh cho độc lập tự do của tổ quốc. Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, và còn biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ vô danh khác đã chiến đấu vô cùng oanh liệt đến hơi thở cuối cùng nhưng chưa giành được thắng lợi…”.
Quảng xếp xấp giấy lại và nhìn lên bức tượng trên bàn học. Cái bàn học của Quảng kê sát vào tường. Không cánh cửa sổ. Sát ngay trước mặt Quảng là những công thức toán, những công thức hóa học và vật lý, xen kẽ giữa những biến cố lịch sử đáng nhớ. Giữa những mớ bài vở luyện thi ấy là những tấm hình của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trần Hưng Đạo, Quang Trung mà Quảng đã cắt xén từ những quyển sách sử và đem dán lên tường. Những tấm hình tuy nhỏ và màu giấy cũ kỹ, đôi khi chẳng ra hình thù nào nhưng Quảng vẫn luôn treo giữ chúng một cách trân trọng.
Quảng dừng lại. Không đọc tiếp nữa. Chàng thanh niên đôi mươi nghe như những nhịp tim chạy thình thịch trong lồng ngực. Những dòng chữ đầy kích thích. Không hiểu sao mỗi khi đọc đến những đoạn văn thế này Quảng đều thấy như những giòng máu trong người rạo rực lên. Quảng nắm lấy xấp giấy trong tay mà tưởng chừng như nắm lấy trái tim của mình. Thanh niên. Tiên quyết. Thế hệ. Dân tộc. Anh dũng. Những danh từ vang dội và hùng vĩ bao la. Ôi có cái gì hấp dẫn và quyến rũ như cuồn cuộn những con sóng trong những danh từ trên. Nó khều lên những ngọn lửa dưới má dưới môi dưới da chàng. Nó mời gọi, thách thức và hứng đỡ được những bực dọc vô cớ trong người. Trong một lúc Quảng bỗng bật dậy, thở phào như tìm được lối thoát.
Quảng đứng dậy đi về phía cửa sổ. Nắng chiều đổ hơi nóng xuống. Quảng nhìn ra những mái tôn hàng xóm cũ kỹ nhấp nhô. Hiếm hoi lắm mới thấy được một góc nhà ngói.
Căn gác của Quảng ở một khu dân cư nghèo. Phần lớn là những căn nhà gỗ èo ẹp, hoặc phên thưa, nằm san sát nhau. Trẻ con và chó thay phiên nhau khóc và sủa. Buổi trưa ở cái xóm này không bao giờ là những buổi trưa êm ả mà là những buổi trưa đầy tiếng động. Tiếng la mắng con. Tiếng vợ chồng cãi cọ. Tiếng máy hát mở lớn. Tiếng chó sửa. Cộng với những tấn nắng trên trời đổ xuống trên những lưỡi tôn bùng vỡ ra làn nóng rung rinh mặt đất. Cái xóm đã nghèo trông còn khốn khó hơn.
Đã nhiều buổi trưa, Quảng đã phải ngưng giòng tập trung đầu óc để ôn bài thi. Chàng thanh niên thấy dậy lên những bực dọc khó hiểu. Tại sao người ta phải sống và phải chịu đựng những cảnh đời nghèo khổ như thế này mãi. Làm sao để mang đi sự khốn khó trước mặt.
Chàng thanh niên so sánh cảnh sống của người bác mình với cảnh sống của khu xóm này. Nhà của ông Ty là một cái biệt thự có cổng sắt, có người hầu, có xe hơi. Ông bác của Quảng luôn hãnh diện về sự đầy đủ của mình. Ông không màng đến những kẻ nghèo khó chung quanh. Đã bao nhiêu lần Quảng chứng kiến ông thản nhiên trước những người ăn mày đứng chờ trước cổngï Đã bao nhiêu lần Quảng chứng kiến ông xài xể và sai bảo những người làm trong nhà một cách trịch thượng. Người đàn ông này còn nổi tiếng dê xồm.
 Bao nhiêu người đàn bà làm việc trong nhà ông cũng không chừa. Cho đến cái ngày biến cố ấy xảy ra. Một chị người làm đã lất tất ôm khăn gói bỏ đi. Trước khi đi, chị Dung đã khóc lóc tâm sự với Quảng rằng chị không thể chịu đựng nổi nữa những sàm sỡ của ông chủ. Cứ thỉnh thoảng nửa đêm, lợi dụng lúc đi ngang qua nhà tiêu, người đàn ông ấy thường mò vào buồng của chị. Chị Dung bỏ đi ngày hôm trước, Quảng cũng dọn ra khỏi nhà ngày hôm sau. Không một lời giải thích.
Khi dọn về đây, Quảng đã tưởng thoát được cảm giác bực bội về một chỗ ở. Nhưng cái nơi chốn Quảng đang ở trọ có lẽ gây nên trong người thanh niên nhiều cảm giác phức tạp hơn. Ở nơi này Quảng thường xuyên bị khích động bằng một sự chống trả vô hình. Tại sao người ta lại khổ cực đến thế này nhỉ? Tại sao người ta lại khổ vì miếng cơm manh áo, vì nơi ăn chốn ở đến thế này? Mỗi lúc nghĩ đến những điều này, Quảng thấy nổi lên trong lòng một nỗi giận dữ khó chịu.
Lúc ấy vào khoảng đầu tháng sáu.
Thành phố Đà Nẵng nóng như một lò lửa.
Mùa hè năm nay có những tin tức đang loan truyền và có những biến cố đang xảy ra trong thành phố, khiến cho trời đất đang mùa nắng nóng lại càng say cơn lửa hạ hơn.
Người ta loan tin Phật giáo bị đàn áp sau vài vụ biểu tình của phật tử ở Huế, thành phố thủ cựu mạn bắc Đà Nẵng. Trong mùa phật đản, chùa Từ Đàm ở Huế tranh chấp với chính quyền về việc treo cờ trong chùa. Sau đấy các sư và phật tử phát động những cuộc biểu tình chống đối chính quyền đã can thiệp vào tôn giáo.
Tin chính quyền đàn áp phật giáo lan đi khắp nơi, lan ra các tỉnh miền Trung vào đến thủ đô Sài Gòn. Các ngôi chùa lớn bỗng trở thành những nơi tấp nập người ra kẻ vào. Các phật tử đến hỏi thăm về tình hình rất nhiều, mà cả những kẻ lâu nay không bao giờ đến chùa, nay nghe tình hình chính trị giữa các chùa với chính quyền đến hồi gay cấn, cũng đến chùa tham dự những cuộc biểu tình ủng hộ phật giáo.
Chùa chiền ở Đà Nẵng cũng nhập cuộc.
Những buổi tập họp. Những lên án chính quyền. Biểu ngữ giăng đầy đường phố. Sư sãi và phật tử kéo nhau ra đường. Từ chùa ra đường phố, ra sân vận động, ra bến xe, ra chợ, đã trở thành một biến cố lớn trong những ngày qua.
Ở bất cứ cuộc nói chuyện nào, đề tài sốt dẻo được mọi người bàn tán là những cuộc biểu tình đang xảy ra ngoài đường phố.

Cả đến những người đàn bà bán hàng trong chợ cũng nhập cuộc. Bà cụ Thục có gian hàng xén mấy hôm nay đi quyên tiền để cúng chùa. Đi đến đâu bà cụ cũng kể: “Các bà biết không, phật giáo mình bị đàn áp. Các thầy với phật tử đi biểu tình bị xe cán lớp chết lớp bị thương ở trong chùa Phước Tường ấy. Tôi phải vào trong làng quyên tiền. Tôi đi quyên được cả trăm ngàn đây để mua quan tài chôn mấy người chết”. Chị Hiếu bán chè góp ý: “Nghe nói biểu tình là tại vì tổng thống theo đạo Công giáo, đạo ngoại quốc. Còn các sư nói đạo Phật mới là đạo Việt Nam. Nên hai bên chống nhau. Nghe nói ở Cầu Đỏ lính Trung Đoàn Sáu ở trong nhà thờ bắn ra. Làm mấy người phật tử bị thương chi đó”. “Khổ thế! Bà Năm bán bún riêu bên cạnh cũng thêm lời. Chuyện người ta làm trong chùa sao cũng đến cấm cản làm chi cho sinh sự”.
Ồn ào nhất là khu chợ cá. Một đám cãi nhau chỉ vì mấy mụ giao cá là người Công giáo di cư Tam Tòa, Thanh Bồ. Còn những người bán cá lại là người Quảng Nam phật tử địa phương. “Tui theo đạo của tui. Người đầu nậu bán cá Tam Tòa vén quần lên và chỉ vào mặt người bán cá. Mụ theo đạo của mụ. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Chuyện sư sãi rập rượng mặc kệ họ. Mụ không muốn mua cá của tui nữa thì thôi chớ răng lại nói tui theo đạo thằng Tây mũi lõ”. “Mi nói ai rập rượng. Người đàn bà địa phương đứng dậy. Người ta ở trong chùa tu hành mà mi ăn nói như rứa”. “Tu chi rứa mà tu. Một người trong cái bang Tam Tòa xé giọng. Tu hú thì có. Tu chi mà không ở trong chùa. Tu chi mà còn biểu tình lên đường với xuống đường”. “Đồ cái thứ súc sanh ngạ quỷ. Cái bang kia trả đũa. Mi còn nói nữa ra đây tao vặn họng xé xác mi ra…”.
Đến cả bọn con nít trong trường học cũng chia phe. Đứa phật giáo ê a: “Chúa Giê Su đánh đu gãy cẳng”. Đứa công giáo đáp lại: “Phật Thích ca mười ba bà vợ…”.
Những cuộc biểu tình ở chùa Từ Đàm và bến Ngự Huế đã lan rộng lớn mạnh khắp miền Nam. Nhất là sau cuộc tự thiêu của thượng tọa Thích Quảng Đức ở Sài Gòn. Cơn sốt phật giáo trở thành cao độ. Ở các tỉnh người ta bắt đầu thấy có những cuộc tự thiêu của các sư ở Ninh Hoà, ở Huế.
Ngày thứ ba, một cuộc biểu tình vĩ đại chưa từng thấy diễn ra trên đường phố Đà Nẵng. Một rừng cờ phật giáo, biểu ngữ, áo lam, áo vàng. Những cánh tay đeo băng vẽ hình hoa sen. Đàn bà, đàn ông, trẻ con, sư sãi kéo ra đầy đường diễn hành khắp đường phố suốt ngày. Đến chiều lịnh giới nghiêm của chính quyền ban ra. Trong cuộc biểu tình đã có những vụ xô xát giữa cảnh sát và những người tham dự.
Trong số những người bị đưa về ty cảnh sát có Quảng.
Thường thì ông Bảy đã rất thân cận với các thầy. Nay xảy ra vụ biến động phật giáo, ông Bảy trở thành một cánh tay mặt của các thầy. Ông túc trực ở chùa để huy động phật tự tham dự những cuộc biểu tình. Ông đi từ chùa này sang chùa nọ, đi đến các chùa ở ngoại ô hoặc các quận các xã xa xôi để chuyển những kế hoạch của các chùa lớn về các chùa nhỏ. Ông lôi kéo được nhiều người vào sinh hoạt phật sự vào dịp này. Trong số đó có Quảng.
Bà Hòa ra Đà Nẵng gặp cậu con thứ.
- Mẹ van con. Bà Hòa nói với Quảng khi kéo được thằng con về bên nhà người bà con ở đường Hùng Vương. Con thi đỗ rồi. Vào Sài Gòn với anh cả lo thi cử vào đại học cho rồi.
- Mẹ để yên cho con. Quảng nói dịu giọng với mẹ.
- Mày làm sao mà không về nhà nữa.
- Con lớn rồi mẹ ạ. Mẹ đừng lo cho con nữa.
- Mày phải làm gương cho các em mày. Làm cái gì mà anh em bây giờ không nhìn mặt nhau. Mày với thằng Hưng đấm đá nhau trên trường làm sao mà bây giờ mỗi đứa hầm hầm một cái mặt.
- Nó là em. Sao can dự vào chuyện của con. Con làm gì mặc kệ con.
- Nó cũng chỉ nghe bác Ty nói lại. Mà không phải chỉ một mình bác Ty nói thôi con ạ. Bác mai cũng nói với mẹ là mấy người con giao thiệp ấy đều có hồ sơ bên ty cảnh sát hết.
Quảng nghiêm giọng:
- Con không muốn ai nhảy vào chuyện của con cả. Con đã bảo là mẹ đừng nhắc đến mấy ông bác gì đó trước mặt con nữa. Toàn là những ông già khiếp nhược thủ thân.
Bà Hòa nhìn con. Thằng con to cao hơn cả ông Thạch. Người nó đang tuổi lớn nên có phần thô kệch, tay chân lều khều, mặt đầy những vết mụn. Nhưng cái mũi hở, mái tóc rậm cứng, khuôn mặt trệt, mắt xếch. Nó giống ông Thạch quá. Nếu có phần không giống là cái phần khi nó mở miệng ra. Ông Thạch nhanh nhẹn liến thoắng. Ăn nói hoạt bát. Miệng lưỡi đỡ tay chân. Ai cũng mến cũng yêu cũng thích. Còn thằng con thì lầm lì ít nói, hay cãi, lại còn cộc. Nên ông Thạch dễ kết bạn bao nhiêu thì Quảng khó kết bạn bấy nhiêu.
- Mày không được như bố mày. Bà Hòa nói. Bố mày ra ngoài đời giao thiệp không mất lòng một ai. Thế mà rồi còn xôi hỏng bỏng không. Đi hoạt động bao nhiêu năm cuối cùng phải bỏ. Về nhà chết bệnh chết tật. Còn mày, mày không biết ăn biết nói. Nói ai nghe.
- Thôi, Quảng cắt lời mẹ. Mẹ đừng nói nữa.
Nhưng bà Hòa cũng đến sờ cái vết bầm trên mặt con.
- Đau không con. Khổ. May mà nhờ bác Ty mày xin.
Quảng quắc mắt nhìn mẹ:
- Cái gì.
- Mẹ nói may mà nhờ bác Ty mày xin. Không thì giờ này còn đuổi muỗi trong tù.
Mặt Quảng đanh lại. Quảng nói:
- Con không cần ai xin xỏ cho con cả. Xin xỏ. Hừm. Tởm.
Bà Hòa không hiểu được tại sao đứa con của bà lại xung khắc người anh rể đến như vậy. Bà không hiểu được lòng tức giận ông Ty ở đâu trong người nó mà lắm thế.
Sài Gòn cũng không khác gì Huế và Đà Nẵng. Thủ đô miền Nam giờ này cũng trằn mình vào những cuộc biểu tình Phật giáo. Cái chết của cô nữ sinh Quách Thị Trang bơm vào những náo loạn của thủ đô. Những tin tức sốt dẻo chạy tít trên báo hàng ngày. Chùa Ấn Quang bị khám xét. Chùa Xá Lợi hết làm lễ cầu siêu cho thượng tọa này xong lại nghe tin đạo đức khác vừa tự thiêu. Xen lẫn trong những tin tự thiêu là những tin mìn nổ. Lựu đạn nổ ở rạp chiếu bóng Vĩnh Lợi. Ngoài đường Lê Lợi kẻ chết người bị thương. Mìn nổ ngay chợ Bến Thành năm người chết. Sinh viên học sinh xuống đường lia lịa. Lệnh giới nghiêm được ban hành từ chín giờ tối đến năm giờ sáng.
Quảng vào Sài Gòn theo yêu cầu của mẹ. Sài Gòn trước mặt Quảng bây giờ là một hoạt cảnh náo loạn tò mò. Quảng lấy cớ là đi đến các đại học để xin đơn rồi la cà suốt ngày ngoài đường phố. Quảng có mặt hầu hết ở các cuộc biểu tình trước chợ Bến Thành, trường Luật, ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng… Có hôm thanh niên sinh viên biểu tình lớn trước chợ Bến Thành. Quảng nhập vào đám biểu tình. Cuộc biểu tình có xô xát ẩu đả. Cảnh sát hốt hơn ngàn thanh niên về Trung tâm Huấn Luyện Quang Trung. Quảng cũng bị hốt. Nhưng chỉ một ngày hôm sau là được thả vì số giam giữ quá đông.
Ra khỏi chỗ giam, Quảng không về nhà người cô họ. Mà đến nhà bạn ở. Thời, anh đầu của Quảng, vào Chợ Lớn tìm thằng em.
- Bác Ty có chuyện muốn nói với mày.
- Tôi không ở đây nữa đâu, Quảng nói. Tôi ra Huế học.
- Còn cái bourse bác ấy xin cho mày đi Pháp thì sao.
Quảng nhìn Thời và nói tỉnh:

- Anh là cháu cưng của bác. Lại hãnh diện là mình giỏi tiếng Tây. Sao anh không đi đi.
Thời lên giọng:
- Bác Ty xin cho mày vì muốn tống mày đi cho rảnh nợ mẹ. Biết chưa. Mày ở đây ăn rồi cứ sinh hoạt với biểu tình. Học hành không lo.
- Anh thì biết cái gì mà nói. Thằng em đáp lại. Đâu phải ai sống cũng ngập mặt nhìn xuống chỉ thấy bóng mình, chỉ thấy hạnh phúc sung sướng be bé của mình thôi. Đời của tôi không phải là một đời tầm thường. Tôi không bao giờ muốn làm một người tầm thường như người khác. Anh biết chưa. Anh cứ chống mắt lên mà xem. Rồi tôi sẽ làm những gì cho anh thấy.



Ảnh: Không rõ nguồn (Chú thích của tác giả)
BÍCH CHI
Ngôi nhà của gia đình Bích Chi ở ngay trung tâm thành phố. Từ nhà Bích Chi đi lại trường học không xa. Đi bộ ra bờ sông khoảng mười phút. Đi đến chợ cũng gần. Những công sở mặt trên mặt dưới đầy rẫy.
Suốt hơn một năm qua, Bích Chi chứng kiến vô số những cuộc biểu tình. Thoạt đầu Phật giáo biểu tình chống chính phủ. Học sinh biểu tình loạn xạ. Rồi Công giáo cũng biểu tình. Chỉ hơn một năm mà biết bao nhiêu là biểu tình và nghỉ học.
Bích Chi có con bạn mới. Gia đình nó vừa từ quê tản cư ra. Liễu và Bích Chi học cùng lớp. Nhà gần nhau nên thường đi học chung. Liễu mới dọn nhà ra, đi học chưa được một tháng mà nghỉ học liên miên. Nó chép miệng:
- Biểu tình. Biểu tình hoài. Sao người ta không chịu dẹp đi cho rồi.
- Mấy bà lớp lớn thích nghỉ học tha hồ đi ăn chè. Bích Chi nói. Đi biển Nam Ô hẹn hò bồ bịch. Mày không thích sao.
- Không. Liễu nói. Trong quê tao ở không yên. Ba mẹ tao phải dẫn tụi tao ra đây cho tụi tao yên ổn học. Ở đây cũng không yên nốt. Liễu chép miệng. Thời buổi này chẳng còn chỗ nào yên nữa.
Hai ngày qua những cuộc biểu tình của thanh niên sinh viên lên cao độ. Học sinh thanh niên Phật giáo chia phe với học sinh thanh niên giáo chống nhau. Xóm di cư Công giáo ở phía dưới kia phủ trùm một không khí rùng rợn. Những thanh niên đi rảo quanh xóm với gậy có khi cả súng. Họ nhìn những người lạ mặt với vẻ khiêu khích dò hỏi. Trong khi đó phía ngoài kia, ở trên phố, các nhóm thanh niên học sinh giăng đầy những khẩu hiệu của Mặt Trận Cứu Quốc chống Cần Lao, cũng biểu tình la hò và cầm theo gậy gộc và đá. Ở gần cổng xóm đạo một cơ sở của người Mỹ có đầy lính Mỹ đứng canh. Súng ống sẵn sàng.
Buổi trưa đã nghe phong phanh nhóm biểu tình sẽ kéo về hướng Thanh Bồ. Đến chiều. Trời tháng tám nhưng không nắng. Không khí nóng nực u ất.
Cả nhà Bích Chi đang dùng cơm chiều. Bỗng nghe những tiếng nổ hướng căn cứ Mỹ. Rồi tiếng la hét. Mọi người bỏ đũa chạy ra trước hiên. Đám biểu tình chạy tán loạn. Lính Mỹ trước cổng xóm đạo bắn chỉ thiên bắn thật không ai biết. Có tiếng người cầu cứu chạy về hướng nhà Bích Chi. Dưới kia thanh niên trong xóm tiến ra. Thanh niên ở ngoài tấn công vào.
- Đi. Đi vào trong nhà hết. Chị An kéo các con vào nhà.
Bích Chi đang đứng sau lưng cha. Trố mắt nhìn khói bốc lên ở phía xóm di cư.
- Cháy ở đó kìa cha, Bích Chi chỉ về hướng nhà cháy.
Một thanh niên chạy như băng về hướng nhà Bích Chi. Anh ta ôm lấy vai, mất cả dép. Ba thanh niên khác cắm cúi rượt theo. Thanh niên bị đuổi chạt tông đại vô nhà Bích Chi. Ra tận sau bếp. Anh ta nép vào sau cửa bếp. Cả nhà Bích Chi tá hỏa tam tinh. Im lặng thin thít. Ba thanh niên chạy vào đến hiên nhà. Vào đến phòng khách thì dợm chân.
- Hắn mô rồi.
- Ra đây con.
Rồi như ngượng vì tông vào nhà người lạ, ba thanh niên rút ra khỏi nhà. Chạy băng trở lại xóm đạo.
Người thanh niên mặt đầy khủng khiếp. Vai áo rách. Chân anh ta dẫm mảnh chai. Máu ứa ra dưới chân. Khi thấy những thanh niên kia chạy mất anh ta lấm lét đi về phía phòng khách nhà Bích Chi. Cả nhà đổ túa ra nhìn người thanh niên.
- Chân cậu chảy máu. Cha Bích Chi nói. Để tôi đưa cho miếng băng băng lại.
Bích Chi chạy vào trong mang hộp băng cứu thương ra. Cả nhà Bích Chi lùi ra phía sau đứng ngó. Bích Chi phụ cha lấy mảnh chai trong chân người thanh niên ra. Người thanh niên lẩm nhẩm cám ơn. Rồi bước ra hiên. Bích Chi đi với cha ra ngoài.
- Mẹ. Bích Chi trở vào và nói. Cho anh ta đôi dép. Không có dép đau chân chết.
Mẹ Bích Chi đi kiếm đôi dép. Trong khi Bích An thầm thì vào tai em:
- Mày lanh chanh. Con gái con giếc mà chỗ người ta ẩu đả cứ bương ra mà ngó với nhìn.
- Chớ người ta bị thương rồi làm sao. Bích Chi nói.

- Ở đó mà nói. Bà chị lớn lên giọng với cô em út. Tao muốn đứng tim luôn. Lỡ tụi nó phang nhau trong nhà này thì sao với trăng cái gì. Đã biểu đi vô nhà đóng cửa lại. Để cửa mở cho nó chạy vào.
Buổi tối khi leo lên giường nằm. Bích Chi nằm nghiêng một bên mới thấy nhức ở bên mông trái. Mới chợt nhớ ra khi người thanh niên chạy băng ra sau bếp nhà, anh ta đã tông vào người Bích Chi làm Bích Chi té xuống sàn nhà. Bây giờ mới thấy đau nhức. Đứa cháu gái nằm cạnh Bích Chi đang ôm gối ngủ ngon lành. Bích Chi muốn ngủ nhưng đầu óc sao mà nó tỉnh quá. Cuốn phim quay lại. Khuôn mặt người thanh niên đầy vẻ hãi hùng. Những người thanh niên kia hung tợn với những nhánh củi. Khói bốc lên sau buyn đinh Mỹ. Bầu trời ảm đạm. Khuôn mặt Liễu buồn rầu: "Không còn một nơi nào bình yên nữa". Bích Chi bỗng cảm thấy một chút lành lạnh và xao xuyến lướt qua trong đêm tối, lướt qua trong đầu óc bé nhỏ này. Lần đầu tiên Bích Chi cảm thấy có một điều gì bất ổn, lung tung, không trật tự gì cả. Nó không êm ả như trong tâm hồn người con gái nhỏ bấy lâu nay.
Photo: www.chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/
GUỒNG MÁY
Năm đầu tiên của Quảng ở Huế đầy hào hứng với lên đường và xuống đường. Quảng được ông Bảy giới thiệu đến ở trọ chung với Định, người cùng quê với ông. Định và Quảng ở Bến Ngự. Ông Bảy thỉnh thoảng ra Huế và ở lại đây vài ngày. Dạo sau này ông Bảy ăn mặc chỉnh tề hẳn ra. Áo sơ-mi trắng bỏ trong quần, nịt niếc gọn gàng. Nhưng ông vẫn mang đôi dép lạch bạch. Ông còn thỉnh thoảng đi Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Sài Gòn nữa.
Ông Bảy và Định hay nói chuyện về những người đồng quê, mà Quảng nghe mãi rồi cũng phải nhớ những cái tên ông Tề, bà Hội… Định Quảng cùng ghi tên học Khoa học. Nhưng suốt ngày bàn chuyện thời sự với Quảng. Định có khuôn mặt hô. Hô từ con mắt cho đến gò má, cho đến hàm răng. Định nói nhiều, hay nói về những gì liên hệ đến xứ Quảng. Mỗi lần có câu nhuyện nào liên hệ đến người xứ Quảng là Định thường nói: "dân cách mạng chứ giỡn à". Cha Định tập kết ra Bắc. Bây giờ chỉ còn mẹ Định ở quê. Ông Bảy là người chú đỡ đầu Định. Ông cung cấp tiền bạc cho Định ăn học.
Ông Bảy ra hai ngày thì ông đã hợp tác với các thầy trên chùa để làm biểu ngữ biểu tình. Ông đi mua vải và sơn về cho Quảng và Định viết khẩu hiệu bằng tiếng Anh. Ông rút trong túi quần ra mấy câu "Long Live Fighting Central Vietnam. Down With Colonialism. Defend National Sovereighnty. Long Live Democracy".
- Sao lại phải viết tiếng Anh. Quảng nói. Viết tiếng Việt người mình mới đọc được chứ.
- Viết. Cứ nghe lời tao viết đi. Ông Bảy ông dục.
Quảng hơi ngạc nhiên. Nhưng rồi cũng hì hục viết.
Sau mấy tuần lễ, ông Bảy từ Đà Nẵng ra mang theo một bài báo tiếng Anh. Không rõ ông lấy từ đâu. Ông trao cho Quảng và Định.
- Tụi bây thấy nè, ông nói. Lên báo Mỹ rồi nè. Đứa nào dịch ra thử coi.
Quảng thấy quả thật có những khẩu hiệu tiếng Anh do chính tay mình viết. Những câu biểu ngữ đi trước những rừng người biểu tình. Nhưng cả Quảng và Định không đứa nào giỏi tiếng Anh nên không buồn dịch xem thử trong đấy nói gì.
Nhưng có một tấm hình khác làm cho Quảng nổi cơn giận.
Một ngày chủ nhật, bà Hòa đột ngột từ Hội An ra. Bà mở ra từ túi áo, trao cho Quảng một tấm hình đen trắng nhỏ. Tấm hình Quảng đang làm loa tay lên miệng hô to khẩu hiệu trong một cuộc biểu tình.
- Bác Ty mày trao lại. Bà Hòa nói.
- Ai chụp đây, Quảng hỏi.
- Mẹ không biết. Bác Ty nói người ta trao cho bác ấy để về dặn với mẹ là lo bảo cho con nên để ý chuyện học hành. Đừng đi biểu tình nữa. Tránh xa những vụ gây náo loạn. Người ta cảnh cáo cho biết như vậy.
Cả một buổi chiều, bà Hòa hết ngồi rồi đứng. Hết khóc rồi im. Bà kể lể với con. Bà năn nỉ với con: "Con ơi con, con nghe lời mẹ. Con đừng theo đám biểu tình ấy nữa. Ở nhà học hành đi con".
Chiều tối, bà Hòa sưng đỏ mắt. Ra bến xe. Về lại Hội An.
- Tụi mật vụ chó đẻ ấy chụp chớ ai nữa. Ông Bảy nói khi ba người ngồi bàn về bức hình mẹ Quảng mang ra. Mày bị theo dõi rồi.
- Tôi làm gì mà họ theo dõi, Quảng nói. Ai cũng biểu tình. Cả trăm ngàn người biểu tình chứ đâu phải một mình tôi.
- Chú em nghe đây này. Ông vỗ vai Quảng và nói. Chú em đừng có lo. Có cái gì thì nói cho qua biết.
Ông Bảy không đeo kính. Con mắt mù của ông ta mấp máy. Con mắt không mù của ông liếc ngang.
- Mười tuổi qua đã đi tù. Ông ta nói nhỏ với Quảng và Định. Đời qua vô tù vào khám sơ sơ hơn hai mươi lần.
Quảng nhìn ông Bảy. Ông ta mặc cái quần đùi và cái may-ô bẩn. Đi chân không. Ngồi chồm hổm trên cái ghế và xúc cơm ăn. Trên cánh tay ông ta có một vết sẹo dài mà ông nói là bị người ta chém hụt. Cởi bỏ hết lớp áo quần bên ngoài, người đàn ông này hiện rõ là một thân hình lùn, lực lưỡng của một người lao động tay chân. Người đàn ông này vẫn thường tuyên bố ông chỉ mới biết đọc biết viết. Vậy mà người đàn ông này mở trường dạy học. Người đàn ông này năm ngoái bị bắt hai lần mà vẫn được thả. Người đàn ông này có mặt ở mọi nơi. Đà Nẵng biểu tình cũng có mặt. Huế biểu tình cũng có mặt. Người đàn ông này thật nhanh nhẹn và tháo vát. Ở người đàn ông này có cái gì kỳ cục. Cái gì đó mạnh mẽ. Có gì đó bí mật. Đầy tò mò. Khó hiểu nhưng lôi cuốn.
Kể từ ngày ông ta trao cho Quảng một bản đánh máy mà ông ta cười và nói: "Tao có biết nó viết cái gì ở trong đó đâu". Sau đấy không thấy Quảng nói gì, ông Bảy mới bạo dạn nói chuyện với Quảng về những chuyện thời sự và những câu chuyện có lập trường của phía "bên kia" hơn.
Quảng có nghe những tin đồn đãi rằng ông là cộng sản nằm vùng. Nhưng một người như Quảng thì chẳng bao giờ sợ hãi một sự thật nào. Tại sao người ta lại nói về cộng sản như một thứ gì kinh hoàng ghê gớm, Quảng nghĩ. Quảng chưa biết con người cộng sản là gì. Nhưng không bao giờ Quảng tin những điều người khác nói. Quảng chỉ có thể tin chính mình. Chính cái lúc mà Quảng nhìn rõ, va chạm và nắm bắt những sự việc của thực tế bằng tất cả thể xác và linh hồn chàng, lúc bấy giờ Quảng mới chứng thực được những ý nghĩ, hoặc những mơ hồ trong chàng. Đó là mối đam mê của Quảng. Một điều mà chàng đã kiêu hãnh từ những ngày còn bé nhỏ.
Buổi tối khi hai thằng nằm cạnh nhau, Quảng nói:
- Ba mày ở "bên kia". Mày đang ở bên này. Vậy mày theo bên nào.
Định trầm trầm giọng và nói:
- Nếu mày đã từng là một thằng nhà nghèo như tao. Từng có thời tuổi nhỏ ăn cơm với đậu phụng và nước mắm cả tuần lễ. Được một cái quần đùi và áo cánh để đi học quanh năm. Về đến nhà là phải ở trần để dành áo đi học. Mày mới thấy nỗi căm hận với những thằng nhà giàu. "Bên kia" dù sao cũng là một xã hội không có vấn đề giàu nghèo.
Trong bóng tối, Quảng nằm co người lại. Quảng nhớ tới khuôn mặt người bác. Quảng nói:
- Tao cũng thấy có những người hơi giàu có một tí là đã hưởng thụ, an thân, ích kỷ. Tao không biết thế giới này ra sao nếu mọi người đều giàu có. Nhưng có vẻ như con người thích hợp với sự nghèo khổ. Sự nghèo khổ cho con người ta sự tranh đấu, hy vọng và mơ ước.
- Mang tiếng là sinh viên, Định nói, là thành phần trí thức, mày phải đi tiên phong dẫn đường. Mày nhìn coi, trí thức mình thiếu anh hùng. Anh hùng của mình toàn anh hùng áo vải kiểu Lê Lợi. Ở trong quê tao, tao đã từng gặp những người không học hành già cả. Mà họ anh dũng hành động nhiều việc làm mình phải ngưỡng mộ. Đó. Những người học hành giỏi giang, những bậc trí thức không dấn thân, không dám đi tiên phong lãnh đạo quần chúng. Sau này những kẻ hy sinh gian khổ sẽ lên lãnh đạo là chuyện thường. Bởi vậy mày mà không dám dấn thân, rồi mày cũng sẽ trở thành như bọn họ. Thử tưởng tượng mày cứ học hành đều đặn, đỗ đạt bằng này bằng kia. Ra trường khéo thì khỏi đi lính. Không khéo thì nướng thân cho chiến trường này chiến trường nọ. Rồi đến năm mày bốn mươi lăm tuổi, chắc mày cũng là ông quan cạo giấy văn phòng hay không xanh cỏ thì đỏ mai hay trở thành ông giáo sư ê a trong lớp mà về nhà thì sợ vợ hơn trời…
Một hôm Định cầm về một tờ báo "Vì Nhân Dân Chống Mỹ" do Hội Liên Hiệp Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng Thành Phố Huế phát hành. "Của mấy anh em sinh viên ở Huế đây. Định nói nhỏ. Mày coi đi. Nếu thích tao sẽ dẫn đi giới thiệu".
Quảng đọc đi đọc lại mấy lần và không nói gì.
- Mày chưa muốn đi gặp thì khoan đã. Định nói. Nhưng trí thức mà không dám làm dấn thân cho những điều mình tin tưởng như vậy ở xứ Huế này có được một số khá đông.
Mấy ngày sau, Định lại trao cho Quảng những bản ronéo và những quyển sách in giấy vàng khè do nhà xuất bản Giải Phóng phát hành.
- Mày đọc thử những thứ này. Định nói. Nhớ bảo mật tối đa.
Định đưa tay cắt ngang cổ. Cái dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng. Quảng mĩm cười.
Một buổi tối khoảng tháng mười. Miền Trung vừa qua một cơn bão lụt. Quảng đang nằm ngủ một mình trong phòng. Định về quê chưa ra. Cảnh sát ào ập vào khám xét. Họ tìm được một thùng tài liệu sách báo cộng sản dưới gầm giường. Quảng nói đó là những thùng sách của Định mà chàng không hề hay biết nó là những thứ gì trong đó. Nhưng người ta vẫn giải Quảng về Lao Thừa Phủ Huế.
Ở MỘT GÓC VƯỜN KHÁC
Trong căn phòng khách. Hai người đàn ông, một già một trẻ ngồi ở chiếc bàn ăn.
- Tình hình dạo này gay quá, thưa anh. Người thanh niên trẻ khoảng hai mươi mấy nói.
- Em mới ngoài Huế về à. Người đàn ông này lớn tuổi nói.
Rồi ông quay vào trong nhà và gọi:
- Bích Chi.
Người đàn ông lớn tuổi chính là ông Hoài Sơn, cha Bích Chi. Người đàn ông nhỏ tuổi là Kỉnh, giáo sư của con gái ông.
Bích Chi bước và nhìn vị thầy giáo.
- Chào thầy ạ.
- Mang ấm trà ra đây con, ông Sơn nói.
- Học khá lắm anh. Kỉnh nhìn theo cô học trò, mĩm cười và nói.
Tuy hai người một già một trẻ – người đàn ông lớn tuổi đã ngoài năm mươi nhưng họ vẫn xưng hô anh em. Lối xưng hô của những người cùng đảng phái chứ không phải lối xưng hô theo địa vị hoặc tuổi tác.
- Em đi ngoài đó về thấy thế nào. Người đàn ông lớn tuổi hỏi.
Kỉnh xoay người trên chiếc ghế.
- Em thấy sao kỳ kỳ. Kỉnh lắc đầu.
Ngừng một lát, Kỉnh tiếp.
- Anh em thì quyết định ủng hộ các thầy bên chùa Từ Đàm và Diệu Đế. Thứ bảy này lại đại hội Miền Trung ngoài đó. Nhưng em kiếu từ về.
Một lúc sau, lại tiếp:
- Tối hôm qua em ở nhà thằng Thành Mập. Tụi em ngồi nói chuyện tổ chức lại lực lượng trong anh em sinh viên. Thằng Thành hắn nói về vụ nổ ở trước Đài Phát Thanh Huế tuần trước.
- Nghe nói Thành cũng bị thương sơ sơ phải không. Ông Hoài Sơn nói.
- Hắn nói bị người ta xô đập đầu vào xe cảnh sát. Bị thương sơ sơ trên đầu. Giờ cũng đỡ rồi.
- Hắn nói cái chi?.
- Hắn thắc mắc vụ nổ này lắm. Thành nói trong đời hắn cũng đã nghe súng đạn nổ nhiều. Nhưng chưa bao giờ hắn nghe tiếng nổ lớn và lạ như vậy. Hắn nói hắn nghi ngờ tiếng nổ này, Kỉnh nói. Phải có bàn tay bí mật. Ai là bàn tay bí mật quăng trái nổ này. Và hắn cứ nghi ngờ hoài. Mấy hôm nay không còn hào hứng đi biểu tình như trước. Em ra mấy hôm, hắn nằm nhà.
- Chắc có bàn tay khá hoại của bọn nào đây. Không bên kia thì cũng bên này. Không cộng sản thì cũng bọn Mỹ đây.
- Tại sao người Mỹ.
Người đàn ông lớn tuổi điềm tĩnh nói:
- Ở đời chuyện gì cũng có mặt sấp và mặt ngửa. Khi suy nghĩ chuyện gì, chúng ta cũng nên đặt giả thuyết cả hai mặt em ạ.
Bích Chi bưng ấm nước trà ra và nghe cha nàng nói.
KẺ ĐI NGƯỜI Ở

Tin Quảng bị bắt và bị biệt giam bay về đến Hội An những ngày vừa tạnh cơn lụt. Mùa đông ở đây thường xuyên lụt lội. Gió liên miên cả tuần lễ. Mưa giông trời giông đất. Nước sông lên cao. Cả khu phố gần sông ngập nước. Chợ búa phố xá trường học ngưng đọng. Năm nay miền Trung bị cơn bão nặng thiệt hại lớn lao. Cả thành phố Hội An ra sức dọn lụt.
Tin Quảng bị bắt về đến nhà làm bà Hòa đang cảm cúm trở thành liệt giường luôn. Thanh phải thay mẹ chăm sóc hết mọi việc ngoài cửa hàng.
Mọi người trong nhà đã quá quen với những tin đồn đâu đâu liên quan đến Quảng kể từ ngày Quảng dọn ra khỏi nhà ông Ty. "Chuyện trong nhà chưa tỏ ngoài ngỏ đã tường", bà Hòa thường chép miệng nói như thế mỗi khi nghe người từ Huế hoặc Đà Nẵng về mang theo những tin tức động trời về đứa con trai nay đã tung cánh xổ lòng bay xa. Lần này thì chính đứa cháu gái đưa tin: "Cô Hòa, Bé nói, người ta đồn anh Quảng bị bắt vì hoạt động cho Cộng Sản". Bé cũng đang học ngoài Huế với Quảng, khi nghe tin này đã hớt hơ hớt hãi nhanh chân lẹ cẳng chạy về báo tin cho bà Hòa hay.
Thanh và Hưng đang học thi. Thanh viết thư cho Huấn, người yêu đang học ở Sài Gòn.
"Anh Huấn, có lẽ em phải nghỉ học. Hết ôm mộng vào Sài Gòn đi học với anh. Mấy tuần lễ nay lụt lội chắc anh đã nghe tin. Cửa hàng nhà em buôn bán ế ẩm. Mẹ em lại đang bệnh. Em muốn giúp gia đình. Có lẽ em phải hy sinh việc học quá.
Em cũng mơ ước thi đỗ để vào Sài Gòn học thành cô dược sĩ. Em thính thành cô dược sĩ mặc áo trắng ngồi bốc thuốc trông thanh tao sang trọng chứ không lam lũ như cô hàng xén ngồi bán đường bán gạo bán dép cao su ngoài chợ. Nhưng thôi bây giờ thì đành phải dẹp hết. Hết Sài Gòn hết Huế hết đi đâu nữa. Em thương mẹ thương anh thương em thương mọi người trong nhà này nên em xung phong biếu hết tình thương cho người nhà em trước khi dành cho anh và cho em! Thôi em ở lại Hội An. Ai đi đâu thì đi đi. Anh muốn đi đâu thì anh cứ đi. Nhưng anh học ra trường rồi mà không xin đổi được về Hội An là coi chừng đấy nhé! Chúng mình hết tái hồi Kim Trọng luôn. Em nói là em làm dù anh có viết mười tờ pelure xanh nói thương em nhất đời…".
Thanh thấm nước miếng sau phong bì, lấy xe đạp chạy ra bưu điện bỏ cái thư xong. Vừa về đến nhà thì thấy Trọng, người thanh niên nhà hàng xóm lù lù kéo guốc sang.
- Về bao giờ, Thanh nói. Vậy mà không sang nói để người ta nhờ chuyển cái thư hộ. Làm mới chạy ra bưu điện bỏ thư.
- Nghe Hội An lụt trôi nhà trôi cửa, Trọng cười và nói, nên về thăm. Chớ ai biết chuyện chi mô hè. Mà gửi thư cho ai rứa. Gửi cho thằng Huấn hả. Bữa hôm kia có gặp hắn. Hắn lăng xăng nói để gửi thư gửi quà chi đó cho Thanh. Mà rồi tôi quên mất.
Thanh ngúng nguẩy. Cô gái dậy thì trắng trẻo mịn da mát thịt. Khuôn mặt tươi tỉnh vô ưu. Điệu nghệ thường ngày là ưa vén cao mái tóc sau gáy bằng một cái kẹp mới và có tiếng bắt mắt nhất trong bọn con gái là thân hình nhấp nhô nẩy nở chín đều dưới những lớp áo cánh mỏng đơn giản.
- Vậy mà cũng nói. Thanh nguýt dài.
- Đi mô mà lẹ rứa. Trọng nói. Có cái ni cho Thanh.
Trọng cắp hai tay sau lưng bây giờ mới xòe ra.
- A ổi xá lị, Thanh reo lớn.
Thanh vân vê trái ổi. Trọng mĩm cười nhìn cô bạn ở trước nhà cùng lớn lên cạnh nhau, gần như biết rõ mọi chuyện của nhau ngay cả đến những sở thích.
Buổi tối ngày hôm sau, một bọn con trai con gái tụ họp trước nhà Thanh.
- Đi dọn lụt. Trọng nói. Tối ni xuống nhà thằng Báu dọn lụt.
- Để Thanh đi nấu chè đậu xanh. Dọn lụt xong về đây ăn chè nghe.
Thanh ngồi với Mai và Cúc trước nhà trong khi chờ bọn con trai đi dọn lụt trở về.
- Chắc Thanh nghỉ chơi với anh Huấn quá. Thanh tâm sự với bạn.
- Nữa. Cúc nói. Đổi ý nhanh rứa. Bữa trước nghe mi nói định vô Sài Gòn học với anh Huấn mà.
- Mi đưa thư anh Huấn nói muốn cưới mi vô Sài Gòn ở mà. Mai nói.
Thanh cúi đầu xuống tựa lên đầu gối, nói nhỏ:
- Anh Huấn nói thương Thanh mà lại không muốn về sống ở đây. Mà Thanh thì không thể bỏ Hội An đi. Thanh bỏ nhà này lại cho ai đây. Thanh còn mẹ còn gia đình Thanh nữa.
- Thanh nói vậy. Mai nói, chứ con gái lớn lên lấy chồng theo chồng là chuyện thường.
- Nhưng Thanh không đi đâu hết. Giọng cô gái quyết liệt. Thanh ở Hội An này đến già đến chết thì thôi chứ không đi đâu hết.
- Vậy rồi ai thương mi muốn cưới mi thì làm răng. Cúc nói.
- Ai thương Thanh ai muốn cưới Thanh thì phải về Hội An này ở. Thanh vậy đó. Ai thương thì thương không thương thì thôi.
Phương ở trong nhà đi ra, nói với chị:
- Em xong việc của em rồi. Bây giờ em đi lại nhà bạn.
- Mẹ ngủ chưa.
- Ngủ rồi.
- Ấm thuốc của mẹ đến đâu rồi.
- Chị vào xem hộ. Em không biết sắc thuốc làm sao.
Thanh hờn mát giọng:
- Đi. Đi cho hết đi. Ai cũng đi hết đi.
Hưng đang học năm cuối trung học, đang chuẩn bị thi tú tài hai. Niên học bị gián đoạn bởi những cuộc biểu tình thời cuộc ngoài đường. Ban đầu Hưng cũng như nhiều bạn đồng lớp, leo cửa sổ ra hò hét với đám biểu tình, tụ tập bạn bè trong sân trường hoặc đầu đường phố bàn chuyện thời sự nào nóng hổi sốt dẻo nhất, nhét vỏn vẹn một quyển vở vào túi quần đến lớp ngồi mà mắt dớn dác ngó chừng ngoài đường hô hoán là bên trong ứng.
Từ hơn hai ba tuần nay Hưng không còn đi theo đám biểu tình nữa.
Kể từ khi nghe tin Quảng bị bắt ngoài Huế, Hưng tránh những đám đông, xa hẳn những biểu ngữ với biểu tình. Có đứa bạn thấy vậy thì tra hỏi:
- Lạ thật! Thằng Hưng mà lại tránh biểu tình. Rét rồi hả mày.
Hưng nhìn thằng bạn và nói:
- Im nghe mày.
Thằng bạn còn cưới to lên:
- Hô hô. Thằng Hưng nhát gan. Thằng anh mày ngon hơn mày nhiều nghe Hưng.
Hưng nắm lấy ngực áo thằng này:
- Mày câm miệng lại. Có muốn ăn quả đấm không.
Bà Hòa thường nhìn thằng con cao gần đụng nóc cửa nhà, mặt mũi tươi tỉnh, nước da ngăm ngăm. Trên miệng luôn luôn sẵn một nụ cười. Nói to và ăn khỏe là Hưng. Học giỏi nhất nhà cũng là Hưng. "Thằng Hưng có cái chân đi. Bà thường nói. Ăn xong là đi mất đất. Chả bao giờ phụ cho mẹ được cái gì". Hưng ham đi chơi và ngủ nhà bạn có khi đến sáng sớm mới về. Có hôm Hưng mang về xâu cá hồng, hí hửng nói với mẹ: "Con biết mẹ thích cá hồng. Con và mấy thằng bạn đi Cù Lao Chàm bắt được cá mang về cho mẹ". "Gớm, bà Hòa nói, cậu làm như cậu thương mẹ lắm". "Thương chứ. Hưng ôm vai mẹ và nói. Con thương mẹ nhất đời". Bà Hòa cảm động nói giọng ngùi ngùi: "Đừng cứ như hai thằng anh mày. Một thằng thì chả còn nhớ gì đến mẹ. Một thằng thì chỉ làm cho mẹ lo tối ngày".
- Trời. Hưng nói. Con thế này làm sao mà giống hai ông kia được.
Vào một ngày giữa mùa hè, Hưng vừa thi xong kỳ thi tú tài. Chiều cuối cùng Hưng làm xong bài sớm, ra bến xe về Hội An. Hưng đi thẳng ra cửa hàng của mẹ.
- Thi cử thế nào. Thanh vừa đong gạo cho khách vừa hỏi em.
- Dễ lắm, Hưng nói. Thế nào cũng ưu hay bình. Muốn thi không em kèm cho chị thi khóa hai.
- Hàng quán thế này ai trông cho mà thi với cử.
- Mẹ đâu.
- Ủa. Mẹ ra ngoài ấy mà. Hưng không ghé nhà bác Ty sao.
- Có. Nhưng không nghe bác Ty nói mẹ ra.
- Lạ nhỉ. Mẹ đi đâu sao không nói vậy kìa.
Thanh ngẫm nghĩ một lát, rồi lẩm bẩm:
- Thôi đúng rồi. Thế này là mẹ đi Huế rồi. Hôm trước bà cụ Tiệm đến rủ mẹ đi chùa. Nghe bà ấy thầm thì với mẹ rằng bà ấy có người con rể làm lớn lắm ở ty cảnh sát Thừa Thiên. Kiểu này là mẹ ra Huế lo cho anh Quảng rồi.
- Sao chị không ngăn mẹ.
- Ngăn thế nào được. Mẹ khóc mẹ nhắc anh ấy tối ngày. Chẳng chịu ăn uống thứ gì cả. Thuốc bổ hốt về rồi cũng không uống. Mấy hôm nay hen nói không ra tiếng nữa.
Hưng đứng dậy, bỏ áo trong quần. Thanh lật đật hỏi:
- Hưng định đi đâu đấy.
- Đi Huế. Hưng đáp cộc lốc.
Hưng ào ào đón xe ra lại Đà Nẵng. Ra đến ngã ba đón luôn xe đi Huế.
Ngày hôm sau Hưng gặp mẹ đang ngồi ở cửa hàng một người lạ trong cửa chợ Đông Ba. Hưng nắm tay mẹ và cố nói giọng nhẹ nhàng:
- Con đưa mẹ về.
- Con làm gì mà nóng thế Hưng. Mẹ đâu đã gặp anh con.
- Người như vậy còn đi tìm đi kiếm làm gì nữa. Con bảo mẹ về. Về ngay lập tức.
- Ai sinh đẻ ra con thấy con tù tội mà không đau xót. Người mẹ nói. Nó là anh mày chứ ai xa lạ gì ngoài đường đâu.
- Không anh em gì nữa. Con mà gặp thì biết tay con.
- Mày làm gì nó. Bà Hòa nói.
- Giết được con cũng giết.
Đứa con trai của bà nói.
Người đầu tiên Hưng báo tin là Bích Chi.
Bích Chi bây giờ đã là thiếu nữ mười sáu. Mảnh mai và cao trung bình. Mái tóc đen sợi mượt mà ngang vai. Mắt nhỏ mà môi cũng nhỏ. Miệng không tô son mà môi bao giờ cũng hồng. Trời nắng nóng là hai má Bích Chi ửng au lên. Bích Chi được các bạn tặng cho biệt hiệu là Chi Búp Bế vì có khuôn mặt nhỏ nhắn mà lóng lánh hoàn hảo như búp bế biết khép và mở mắt.
Hưng đến bất ngờ. Buổi chiều hè, nắng xiên chiếu qua các thảm bóng mát của những tàn cây trong vườn cũng đã đủ đổ mồ hôi nhem nhép khắp người. Bích Chi mặc áo cánh ngắn đang nằm đong đưa trên võng dưới bóng lá cây đọc truyện Tự Lực Văn Đoàn.
- Đi chơi với anh không. Hưng rủ.
- Không có mẹ ở nhà. Bích Chi chưa xin phép.
- Tí xíu nữa về anh xin phép sau cho.
Hai người đi ra khỏi nhà. Bích Chi hỏi:
- Đi đâu mà ra tận bến xe đây.
- Đi biển chơi. Hưng nói. Bữa nay đi chơi xa xa một chút.

Ngồi ở hàng nước ngoài bãi. Sóng nước bạc trắng vỗ xào xạc những nhịp trầm đều ru ru. Ngoài không vẫn còn nắng chiều oi ả. Những làn gió biển xanh trong từng cơn từng đợt ùa lên tóc tai mặt mũi. Ngồi một lát đã thấy ngây ngây duỗi người ra với gió và sóng quạt mát hầu hạ no nê da thịt. Người con trai ngồi cạnh người con gái im im.
- Sao hôm nay anh Hưng lặng im lạ thường. Bích Chi nở nụ cười và bắt chuyện.
Hưng gọi một ly bia.
- Còn gọi bia nữa. Lại tiếp.
Người con trai lúc lắc ly bia vàng sóng sánh bọt, nói:
- Anh đi lính.
Bích Chi tròn mắt:
- Hả!.
- Xong xuôi thủ tục hết rồi. Thứ hai tuần tới đi trình diện.
- Hết việc làm rồi sao.
Hưng im lặng uống một hớp bia. Bích Chi cũng nhấp một ngụm xá xị.
Cho đến khi chiều xuống. Đã êm ả làn cát biển dưới chân. Bích Chi bỏ guốc ra. Hai người đi dạo bộ dọc theo bãi biển. Bích Chi nói ít và thỉnh thoảng đưa mắt nhìn cái khuôn mặt đỏ kè, biến mất những bắt còng những chòng ghẹo như thường lệ mà hôm nay lại còn làm ra vẻ nghiêm trang dễ sợ.
- Vào trong ấy thế nào anh cũng viết thư về cho Chi. Người con trai nói.
Bích Chi thỏ thẻ hỏi sang chuyện khác:
- Nghe nói bác Ty cũng định xin cho anh cái bourse đi du học như anh Thời mà.
- Đi xa vậy lỡ nhớ nhà hoặc nhớ ai quá về không được. Hưng giỡn lên chút chút.
Bích Chi làm tới:
- Anh Hưng đi lính thật sao.
Hưng mĩm cười quay sang xoa mái tóc dài một cái.
- Hỏi lần thứ mấy rồi đấy. Hưng nói. Thật chứ. Chi tưởng anh nói đùa sao.
- Lính có gì hấp dẫn.
- Có chứ.
- Cái gì.
- Chi là con gái. Không hiểu nổi đâu.
Bích Chi quay sang và nói:
- Anh đi vậy mẹ buồn lắm nhỉ.
- Hm. Sao Chi biết hay vậy.
- Em biết. Vì em là con gái.
Cả hai cùng bật cười.
Câu hỏi vẫn không rời. Lần cuối cùng Bích Chi lại hỏi:
- Tại sao anh Hưng lại đi lính. Anh vừa đậu cao. Cả nhà đang mong anh vào Sài Gòn học y khoa hay kỹ sư mà.
Hưng bỗng bất ngờ nói lớn:
- Thôi. Không được bàn đến chuyện này nữa.
Bích Chi khựng lại. Lần đầu tiên thấy Hưng bất ngờ giận dỗi. Một điều chưa bao giờ Hưng tỏ lộ trước mặt nàng từ trước đến nay.
Trên đoạn đường rời bãi biển để về lại thành phố. Người con trai hạ giọng và nói với đôi chút ngập ngừng:
- Không phải Bích Chi là người đầu tiên hỏi câu hỏi này. Không hiểu sao anh lại nổi nóng với Chi. Anh chỉ có thể nói riêng với Chi một điều là vào lúc này anh chỉ muốn rời khỏi nơi này tức khắc. Anh không còn chịu được cái cảnh nhìn thấy bà mẹ khốn khổ vì những chuyện đâu đâu. Một thằng con bị bắt vì bị tình nghi là theo Việt Cộng. Làm cái gì mà phải giấu giấu diếm diếm. Làm cái gì mà phải sợ hãi Việt Cộng đến như thế. Việt Cộng là cái quái gì mà ai nhắc đến cũng có vẻ run rẩy vậy…
Rồi cũng là bất ngờ của lần đầu choàng cánh tay qua vai Bích Chi:
- Anh xin lỗi Bích Chi. Người con trai nói thật gần trên mái tóc.
Bích Chi ngỡ ngàng. Nhưng tiếp theo là một bàn tay to lớn mạnh mẽ khác đã như trăn vây quấn quanh người. Không còn kịp một lời nói nào nữa. Hơi thở nồng nàn quyện kín trên mặt, trên tóc váng vất hương vị mằn mặc của muối biển trên môi.
Qua khỏi niên học lớp đệ ngũ. Kim Oanh nằng nặc đòi đổi trường.
- Con nhất định ra Đà Nẵng học. Oanh nói với mẹ. Con thích ra ở nhà bác Ty trọ học như các anh vậy.
- Mày đi nữa, bà Hòa nói, lấy ai phụ việc nhà. Vả lại nhà này còn ai nữa đâu. Sao mà vắng vả thế này.
- Con đi. Oanh nói. Con nhất định đi.
Bà Hòa cản không nổi đứa con gái út. Mùa tựu trường năm ấy Oanh dọn ra ngoài Đà Nẵng vào học đệ tứ trường tư thục Sao Mai.
Trong thâm tâm Oanh thích Đà Nẵng hơn Hội An. Ra đây tha hồ ăn diện, tha hồ rong chơi với bạn bè khắp nơi. Oanh mê nhất là nhảy đầm. Không còn gì hào hứng hơn là một tối thứ bảy hoặc một chiều chủ nhật được ăn diện thật vừa ý, nhập với một bọn con trai con gái cùng gu đi bát phố rồi về nhà mở ball riêng nhảy nhót xả láng với nhau. Oanh trở nên ghiền mấy mục này. Gặp lúc lính Mỹ vừa đổ quân lên đây. Những điệu nhạc thịnh hành từ bên trời Âu trời Mỹ du nhập vào với bước chân của người lính viễn chinh. Oanh học nhảy thật nhanh. Nhảy giỏi thật lẹ. Một hai ba bốn. Oanh lột xác liền liền. Tống hết mấy cái áo dài. Giờ chỉ đầm ngắn. Giờ chỉ quần ống túm bó đùi bó mông cho gồ ghề lên.
Mỗi lần về lại Hội An, dù đã dấu bớt son phấn và áo quần thời trang nhất, Oanh vẫn nghe mẹ phàn nàn:
- Con à. Cái váy đầm con đang mặc nó ngắn quá.
Hoặc Thanh la lên:
- Mày ăn mặc hở hang vừa vừa thôi. Ra ngoài kia mà mặc. Mày phải nhớ là xứ Hội An này không có tới nửa cái bar Mỹ nghe chưa.
Về là đi. Về là đi. Oanh không muốn, không chịu nổi cái thành phố êm ả hiền lành này được nữa. Ngoài kia Đà Nẵng xô bồ đông đảo náo nhiệt quay cuồng. Ở đấy Oanh sống thỏa thuê tung hê sao mà dễ chịu, sao mà hấp dẫn vô cùng.
Những quả đạn Việt Cộng pháo kích đêm đêm bay về thành phố dạo chơi. Trúng nhà nào nhà ấy ráng chịu. Đêm trước cách nhà Thanh bốn căn, một quả đạn pháo kích rơi vào sập nửa căn nhà. Người mẹ và đứa con gái bị thương nặng.
Những cuộc tụ họp bạn bè trước nhà Thanh bây giờ cũng thưa thớt hẳn đi. Bạn bè Thanh và Hưng qua khỏi trung học lớp học xa, lớp đi lính, lớp lấy vợ lấy chồng. Bạn bè Oanh không còn đến kiếm. Chỉ thỉnh thoảng Phương vẫn còn ngồi đàn hát với một hai người bạn thân trước nhà.
Thanh chỉ còn Mai hay lê guốc sang nhà chơi. Ngọc Mai cũng ở nhà phụ ba mẹ buôn cửa hiệu. Vị hôn phu của Mai vừa học xong sư phạm và đang xin đổi về gần Hội An nhưng chưa được. "Chắc Mai bắt chước Thanh. Mai tâm sự với bạn. Lấy chồng Hội An. Cắm đất Hội An. Anh Vinh đổi đi tận Phan Thiết. Đổi chi mà xa rứa ai đi theo được. Còn chàng Huấn của Thanh bộ thôi luôn rồi sao".
- Dạo sao này tụi Thanh không liên lạc thường xuyên nữa. Anh Huấn nói sự nghiệp của anh chỉ thành tựu được ở thủ đô Sài Gòn. Không thể nào về lại xứ Hội An nhỏ bé này đâu. Nên Thanh thôi rồi.
Hai người con gái cùng đồng tình biểu quyết giữ vững lập trường, ngồi êm đềm trước hiên nhà hứng gió sông với nhau, an ủi nhau.
- Thôi để cho người ta đi Thanh ơi. Mai nói.
- Giữ người ở lại chứ ai giữ người đi đâu nhỉ. Thanh nói.
Và khi chợt nhớ ra một điều đắc ý, Mai vỗ vai Thanh một cái đau điếng.
- Hay là để tao giới thiệu ông anh họ cho mi. Ông Châu đó. Thanh nhớ cái ông chuẩn úy mới ra trường mà Thanh gặp bữa trước ở nhà Mai không. Gia đình ở Tiên Phước. Ông ấy đóng ở Vĩnh Điện về Hội An dễ như chơi.
Mai dẫn Châu đến giới thiệu. Châu quen Thanh thì chiều chiều hay về Hội An. Ít lâu sau họ trở thành một đôi.
Khi đã thân nhau hơn. Họ cũng hay ngồi dựa vào cái cổng gỗ trước nhà Thanh trò chuyện và hứng gió.
- Anh là lính, Châu nói, nghèo rớt mồng tơi lại bất an. Em không ớn sao.
Thanh ngước mắt nhìn lên bầu trời đêm. Mắt chớp chớp, khuôn mặt không gợn chút suy tư, giọng bình thản vang vang:
- Sống chết có số. Ông trời ổng làm nhiều chuyện mình đâu biết được. Lo sợ làm gì cho khổ tấm thân. Chuyện duyên nợ cũng thế. Hễ có duyên có nợ thì thành. Không duyên không nợ thì lo mấy cũng không thành.
Số Thanh vậy mà nên duyên vợ chồng với Châu.
Châu và Thanh làm một cái đám hỏi nhỏ. Chờ mãn tang bên nhà trai xong, qua tết mới làm đám cưới.
Những ngày cận tết, bạn bè đi học đi làm ở khắp nơi đổ về. Ai cũng xúm lại hỏi thăm đám cưới của Thanh.
- Sao Thanh không báo sớm cho tụi này hay. Cúc nói. Đợi được thiệp mới biết.
- Thì ông Châu, Thanh nói, ông anh họ của con Mai đấy chứ ai lạ đâu.
- Sao Thanh làm nhanh thế.
Thanh cười lỏn lẻn:
- Tiền lính tính liền mà.
Cúc nhìn Thanh và bỗng ngâm thơ Hàn Mặc Tử:
- "Ngày mai trong đám xuân sanh ấy.
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi".
- Cái này không phải con Cúc tự động ngâm đâu. Kim Xuyến, cô bạn cùng đi học xa về nói. Thanh biết không, hôm nhận được thiếp của Thanh ở trong Sài Gòn có người buồn lắm Thanh ơi. Người ngâm hai câu này tê tái lắm đó.
- Cái ông Huấn đấy hả. Thanh nói. Ông ấy bây giờ du dương ở trong Sài Gòn với con Kim Nhỏ học dưới lớp tụi mình. Thanh ở đây mà Thanh biết hết. Thôi đừng bộ tịch. Buồn làm cảnh ấy mà.
Kim Xuyến tủm tĩm cười:
- Không phải ông Huấn đâu.
- Cái ông hàng xóm mi đó. Cúc nói.
Mai chỉ sang ngôi nhà bên kia đường và nói:
- Tụi hắn nói cái người ở trước nhà Thanh kia kìa. Ngày hôm qua ông Trọng đến nhà Mai chơi với anh Mai. Mấy ông tụ họp có Mai ngồi đó. Ông Trọng uống rượu quá trời. Coi thảm lắm Thanh ơi. Mấy ông trách Mai quá chừng. Mai nói làm răng Mai biết ai thương ai.
Cúc nói:

- Bữa trước ngồi trên máy bay ông Trọng tâm sự với tao là định nói mà chưa kịp.
Thanh tròn xoe mắt nghe mấy con bạn kể đầu đuôi câu chuyện. Rồi vừa cười vừa nói giọng như mếu:
- Trời đất ơi. Cái ông Trọng. Thương người ta thì phải nói chứ ai mà biết. Ở gần quá. Không nói làm sao người ta biết.
Đêm hôm ấy, khi các bạn ra về hết, Thanh khép cánh cổng lại và đang định đi vào trong nhà ngủ. Chợt nghe vang vang tiếng đàn và giọng hát của ai từ bên kia đường. Đúng là giọng lồ ồ của chàng hàng xóm: "Hôm nay trời xuân bao tươi thắm. Dừng gót phiêu lưu về thăm nhà. Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi. Tôi đã hình dung nét ai đang cười…".
Thanh quay ra sân. Ghé mắt nhìn qua cái lổ con của chiếc cổng gỗ. Trọng ngồi trước cổng nhà, ôm cây đàn và nhìn xuống hướng bờ sông. Nhưng Thanh có cảm tưởng như người thanh niên hàng xóm đã ngó thấy Thanh đang nhìn sang đấy từ bao giờ.
- "Cô láng giềng ơi. Giọng hát lồ ồ lại vang lên trong đêm khuya. "Tuy cách xa phương trời tôi không hề. Quên bóng ai bên bờ đường quê. Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về…".
Đám cưới Thanh và Châu xong, Châu dọn về nhà vợ. Sáng sáng ra đơn vị ở Vĩnh Điện, chiều chiều về Hội An phụ vợ trông nom cửa hàng.
2/11/2006 
Lê Thị Huệ
Theo http://www.gio-o.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...