Gió không thổi từ biển 1
PHẦN I
Mấy bữa nay xuất hiện ở trước chợ Vườn Chuối một người đàn ông
bán thuốc nam. Nhìn vẻ ngoài anh ta chẳng có gì đáng chú ý. Tuổi anh ta, vì nước
da mai mái nên thật khó đoán. Tóc anh ta để dài, rồi xoăn, người tầm thước. Hai
con mắt nhìn vừa hiền lành, vừa rụt rè như tất cả những người dân cao nguyên một
năm đôi bận xuống thành phố mua bán. Nếu có gì khác chăng, thì là việc các môn
thuốc của anh ta thường được nhiều người mua, nhiều người tới ngó nghiêng.
- Cái nhà anh này làm ăn coi bộ thiệt thà.
- Dùng thuốc của anh trị bịnh cho con nít thì khỏi liền.
- Tiền nong ông cũng lấy chừng mực lắm, không mắc như mấy người
khác đâu.
Bà con đi chợ thường nói về anh như vậy. Có người khen ngay
trước mặt, anh chỉ cười. Cái cười ngượng nghịu như chỉ quen với núi đồi hoang vắng
mà không quên phô bày tình cảm ở trước phố chợ đông người, để lộ hàm răng xỉn
màu ngồ ngộ như cái cười của đứa trẻ sún răng.
Dáng ngồi làm lũi của anh thật tương phản với cảnh chợ nhức mắt
những sắc màu, những ồn ào chát chúa của hàng rẫy quán tiệm, của những tốp lính
người Việt, người ngoại quốc xộc vào, xộc ra, nghiêng ngả và của tất cả những
âm thanh hỗn tạp, kì quái vốn có của một cái chợ tràn ngập hàng hóa. Màu áo
chàm của anh càng tương phản với tòa cư xá Mỹ cao vòi vọi ở gốc phố bên kia đường.
Vào những lúc xế chiều, cái dáng nhỏ nhoi hơi khập khiễng của anh bị bóng rợp
tòa nhà làm bạc đi xiêu vẹo. Anh ngước nhìn lên một chút, mặt hơi nhăn lại như
bị ngộp thở rồi lại cúi xuống chậm rãi cất từng bước một.
Người bán thuốc đi tìm chỗ nghỉ đêm.
Vào những lúc ấy, nếu anh bớt rụt rè đi một chút hoặc giả có
ai đó đột nhiên gọi lại đưa nốt số tiền mà anh quên chưa lấy, có lẽ anh sẽ bắt
gặp một đôi mắt từ xa đang dọi thẳng vào gáy mình. Dưới đôi mắt ấy là cái miệng
mím chặt và phía trên vàng trán vuông căng ra, kéo đôi mắt xếch lên.
Chỗ nghỉ đêm của anh thường phụ thuộc vào tiết trời mưa hay tạnh.
Mưa thì ngồi bó gối thu lu trên sạp hàng, tạnh lại nằm cong queo dưới bất cứ một
mái hàng hiên nào. Gặp bữa kiếm được khá tiền, anh thường ghé vào cái quán trọ
lợp mái tôn, tường ghép bằng vỏ đồ hộp gần bùng binh. Cũng có đêm trời trở lạnh,
những người lính quân cảnh hoặc cảnh sát dã chiến đô thành đôi lúc gặp anh đi
thơ thẩn nơi này nơi nọ cũng như tất cả những đứa con bụi bặm của đêm không có
mái lá che thân. Tóm lại chẳng có gì đáng lưu tâm.
Riêng đêm nay anh lại nghỉ ngơi trong một ngôi nhà nhỏ dưới
chân cầu xa lộ. Đang trên đường đến bến xe với ý định nghỉ tạm qua đêm để sáng
mai xuôi về Thủ Đức bán nốt số thuốc còn lại thì bà má từ trong ngôi nhà đó hớt
hải chạy ra nằn nì mời anh vào nhà chữa bệnh cho thằng cháu chưa đầy hai tuổi.
Thằng bé ba hôm nay sốt cao, lên cơn co giật, người ta mách ở
Tân Bình có ông lang zếch chữa các bệnh trẻ con hay lắm. Chưa chạy đủ tiền đưa
con đi nhà thương, nghe vậy mừng quá, chị tất tả định đi luôn. Bà mẹ lắc đầu:
“Tối rồi. Đường đất bây giờ hỗn độn lắm. Đàn bà con gái một thân một mình đi
không có được đâu. Để mẹ chạy ra chợ xem ông thầy thuốc nam còn đó thì rước về”.
Nghe má nói phải nhưng nóng ruột, chị không chờ được. Vả lại, ông thầy thuốc
nam đó mới nghe nói mát tay chứ thực hư đã biết thế nào.
Còn lâu mới tới giờ giới nghiêm mà đường phố đã vắng người
qua lại. Thời buối nhá nhem này, không ai dại gì ra đường buổi tối. Không gặp
phải mấy người cảnh sát, quân cảnh giữ lại hạch xách cũng đụng bọn du thủ du thực
làm rầy. Đó là chưa nói đến chuyện mấy cha lính Mỹ nhậu say rồi không cón đếm xỉa
gì đến phép tắc giao tiếp với người bản xứ nữa. Tốt nhất là cứ kín cửa cái
then, không hay không biết gì cả.
Chị đi như chạy. Những cơn co giật của đứa con làm ríu chân
người mẹ. Chị đi mà không cần biết cái gì đã xảy đến với mình. Tuy nhiên tới đầu
một cái hẻm tối hun hút, bước chân chị hơi chựng lại: hẻm Đầu Bò! Cái tên này
bao lâu nay thường gây lo âu cho những người qua đường. Người ta nói những dân
dao búa tối nào cũng tụ bạ ở đây ăn uống nhậu nhẹt sau một ngày tỏa ra làm ăn
trên khắp các ngõ ngách trong thành phố. Và cũng tụ bạ luôn cả những cô gái
làng chơi. Hình như cứ ở đâu có du đãng là ở đó có cái loại gái này. Nó tồn tại
như bóng với hình, nương tựa, bổ sung cho nhau. Người non gan, ban ngày đi qua
đây còn thấy rờn rợn chứ đừng nói ban đêm. Ngay cả cảnh sát an ninh nhiều khi
cũng kiếm cớ lảng tránh hoặc phóng xe ào qua cho xong chuyện. Dính với đám này
lằng nhằng lắm. Đã từ lâu, hẻm Đầu Bò tồn tại như một vương quốc riêng, ngoài
vòng pháp luật.
Tất cả những điều tồn tại ấy chị đều biết nhưng bộ mặt tái
xám của đứa con không cho phép chị phung phí thêm một phút giây nào nữa. Chị đi
qua những căn nhà tối tù mù, bước trên những khối gạch, đá, xi măng xù xì, hốc
hoắm. Một bóng đàn ông từ trong bóng tối tiến ra:
- Đi đâu đó? Lại đây cô em!
Không thèm trả lời, chị vẫn bước, để mặc cái bóng đàn ông ấy
chưng hửng giữa đường. Chị đang đi gần tới một cửa tiệm mờ khói thuốc, có ba
người đàn ông ngoảnh mặt nhìn đăm đăm ra cửa. Có lẽ họ ngồi đây đã lâu và bây
giờ không còn gì để nói với nhau nữa nên âm thầm đốt thuốc. Chai lọ, chén bát nằm
ngả ngốn đầy bàn. Người ngồi giữa nhỏ con, chìm trong bóng tối, đầu chùn xuống
vai như ông già, chỉ riêng đôi mắt là ánh lên cái vẻ ranh mãnh, lì lợm. Đôi mắt
ấy vấp phải người đàn bà và nheo lại.
- ủa con nhỏ nào kia?
- Lạ hoắc! - Người ngồi bên trái mặc áo lính Mỹ rộng thùng
hơi nhao đầu ra cửa, trả lời. Không phải bọn con gái tao bao ở đây.
- Chắc vậy không? Con nhỏ này trông được quá!
- Dạ chắc! Tôi nhớ kỹ mặt từng đứa mà anh Hai.
- Kỳ hè. Gọi lại đây coi.
Người thứ ba trung tuổi, thân thể to cao, đen đúa đứng dậy. Tầm
lưng đồ sộ của anh ta che lấp cả khuôn cửa sáng đèn, phủ chụp luôn lên cái dáng
mảnh khảnh của chị vừa sững lại.
- Cô kia đi đâu?
Nhìn lên một chút, không trả lời, chị tránh qua một bên định
bước tiếp.
Cái bóng cao to chặn lại.
- Phép ở đây đã hỏi là phải trả lời. Đi đâu?
- Tôi đi mua thuốc cho con - Chị cau mày.
- Vậy chớ! Sao đi lối này?
- Đường phố là của chung mọi người. Tôi đi lối nào tùy tôi,
ông tránh ra.
- Ai cha! Nói năng nghe cứng cỏi gớm hà. Thế cô có biết chỗ
này là chỗ nào không?
- Biết! Nhưng có can hệ gì đến tôi? Tôi đi mua thuốc cho con
tôi.
- Thế cô có biết người ngồi trong kia là ai không? - ông ta
chỉ vào người ngỗi giữa có cặp mắt ranh mãnh.
Chị thoáng lạnh người. Chả nhẽ đó lại là Hai Băng Giá? Tay du
đãng có tính tình lạnh lẽo mà cả Sài Gòn biết tiếng? Gầy guộc... nhỏ con... u uẩn...
Đúng hắn thật rồi. Hắn đang ngồi đó với cái đầu không lay động, đôi vai so lên
và đôi mắt nhìn chị mới sắc lẻm làm sao. Còn chị, lúc này toàn thân chị đã lộ
ra dưới ánh đèn ống xanh lét, trong bà ba đen bình dị mà đã lâu lắm rồi các cô
gái Sài Gòn không quen dùng. Chị chưa đầy ba mươi tuổi, nước da trắng xanh, đôi
mắt đã sớm có cái nét buồn buồn, ẩn ức của những người đàn bà ít gặp may trong
cuộc đời, song lại khiến cho khuôn mặt của chị toát lên vẻ đoan trang, nhân hậu
cũng hiếm gặp ở cái thời buổi đàn bà con gái cứ thích đi diễu ngoài đường với
son phấn trét đày mặt mày. Đôi mắt rất đẹp ấy rọi thẳng vào khuôn mặt xương
xương của hắn.
- Biết.
- Biết là biết thế nào?
- Một người đàn ông nhiều tai tiếng.
- Cái gì?
- Ông đừng quát lên như thể. Để tôi đi! Con tôi đang đau nằm
nhà.
Tên cao lớn giật mình nhìn sang người ngồi giữa. Người này vẫn
không nhúc nhích, riêng đôi mắt thì mở to nhìn chăm chú vào người đàn bà pha một
chút ngỡ ngàng.
Chị hất phăng mấy ngón tay nhờn nhờn của gã vừa mơn man lên cầm
mình, lặng đi. Một cái gì uất nghẹn lên ngực. Khi bàn tay đó định ngó nguậy vào
cằm chị một lần nữa, chị né mặt sang bên rồi tiến tới trước mặt Hai Băng Giá,
nhìn thẳng vào tròng mát sâu hút của hắn.
- Tôi đã nghe nói nhiều về ông nhưng tôi nghĩ ông khá hơn
kia, không đến nỗi trắng trợn như thế này. Giữa đêm hôm khuya khoắt, tôi là đàn
bà thân cô, thế cô, các ông muốn làm gì chẳng được. Thật yêng hùng! Nhưng các
ông không được đụng đến phẩm giá của tôi. Mấy ông đừng tưởng đàn bà con gái
chúng tôi ai cũng lòng dạ như các ông cả. Cuộc sống này khiến cho các ông không
còn biết phân biệt ngay gian, phải quấy gì hết - Giọng chị trở nên giễu cợt -
Nói vậy thôi chứ mấy ông làm chi có phẩm giá mà hiểu được phẩm giá của người
khác. Đây! Tôi đã vào rồi đây. Mấy ông định giở trò gì thì giở đi.
Không khí trong phòng lắng lại. Hai Băng Giá vẫn đăm đăm nhìn
chị như nhìn một cái gì lạ lẫm. Tiếng chị lại vang lên, có chiều khẽ khàng hơn.
- Có thể các ông không có vợ con, các ông không hiểu. Nó
đang... Tôi cần mang thuốc về ngay cho cháu. Nếu các ông thử có một đứa con...
Con mắt Hai Băng Giá hơi xẫm lại, khiến cho khuôn mặt càng
thêm u tối. Người mặc áo lính hắng giọng cười nhạt:
- Đây không phải rạp hát mà diễn tích tuồng cải lương nghe
cô. Cô đáo để vừa vừa thôi, ờ, có thể cô là con gái nhà lành thứ thiệt, nhưng
đã lỡ đưa chân vô đây là coi như rồi. Không lấm đầu cũng lấm chân. Luật mà. Luật
sinh tồn của tụi tôi đó cô Hai. Cô Hai giáng cảm phiền nghen! Lâu lâu mới được
nghe một giọng nói ngang ngang, một vẻ người sạch sẽ thế này, cô Hai chớ làm tới
để bọn tôi phải lặng tay, tội nghiệp!
- Không!... Các ông để tôi đi - Tiếng nói của chị đã chớm có
cái vẻ chờn chợn và chị ngoắt mình đi ra đường.
- Ý! Đâu có được! - Gã cao lớn vội đưa tay chặn lại. Gã nhìn
hau háu vào ngực chị.
Trong thoáng chốc, chị cảm thấy như nút áo mình bị bật tung
ra. Chị co người lại và lóng ngóng đưa tay che ngực. Không! Chính cái câu nói của
gã mới làm chị nổi gai lên.
- Sẽ có người đi mua thuốc cho thằng nhỏ con cô. Bây giờ cô cứ
bình tâm ở lại đây. Cần thiết, thằng nhỏ sẽ được chở đi bệnh viện hoặc gọi bác
sĩ riêng tới nhà. Cô ngồi xuống đây. Nhậu! Nhậu lai rai. Nhắp chút cũng được. Đừng
ngại chi hết. Tối nay ông Hai có nỗi buồn, cô có thể giúp cho ông vui lên được
đó. Chỉ một đêm thôi, sớm mai cô sẽ thấy con người mình khác hẳn đi, thèm khát
yêu, thèm khát sống hơn, và cô lại có mặt bên thằng nhỏ với đầy đủ thuốc men,
tiền bạc trong tay. Tuyệt! Ráng chiều lòng ông, cô sẽ có lợi.
Trông dáng dấp cô, chác cũng không khá giả gì, người nghèo ta
giúp lẫn nhau. Nào ngồi xuống đi! Ngoan đi!
Chị vẫn đứng im, mắt nhìn xuống, bàn tay xanh xao bấu chặt
vào cạnh bàn. Tư thế ấy khiến gã đàn ông to con không thể không đặt bàn tay gân
guốc vào eo ếch chị với ý định kéo sát vào mình. Mắt gã mờ đi... Bỗng gã ngật mặt,
lặng người lùi trở lại. Chính những ngón tay nhỏ nhắn kia đã văng vào giữa mặt
hắn một cái tát rất gọn. Rất đỗi kinh ngạc, gã trẹo miệng không ra mếu, không
ra cười rồi với một cái khịt mũi trơ trẽn, gã lại nghêu ngoao vươn tay tới nữa.
Rõ ràng cuộc đời gã đã không ít lần bị sưng mặt như thế này. Lúc ấy, mặc dù
trên tay chị, chai rượu rỗng đã được đặt trước ngực để sẵn sàng vung lên tự vệ
nhưng những người xung quanh vẫn không khỏi thầm lo cho cái thân hình nhỏ nhắn
của chị khó mà thoát được sự nghiến ngấu bởi cánh tay đồ sộ của gã đàn ông đang
cay đòn. Gã lại khịt mũi cái nữa to hơn, phả cả mùi rượu lẫn mùi hành tỏi vào mặt
chị... Đúng lúc chị cầm lấy cái chai định vung lên thì Hai Băng Giá lặng lẽ đứng
dậy.
- Thôi đủ rồi!
Nghe tiếng nói ấy, gã khổng lồ sững lại rồi len lét đi về chỗ.
Chị hơi giật mình: đến lúc này chị mới nhận ra người này còn quá trẻ, chỉ trạc
tuổi chị hoặc hơn một chút. Chân tay mảnh dẻ như một thần ký. Khi anh đứng dậy,
tất cả vẻ ủ dột, già nua gần như truội xuống nằm ở chỗ cũ, cái còn lại là một
khuôn mặt cân đối, thư sinh, thậm chí khá đẹp nếu không tiều tụy, u sầu quá, giống
khuôn mặt của người đau bao tử kinh niên.
Anh ta khẽ hất cằm. Hai gã đàn ông ngoan ngoãn đi ra không
nói một lời nào. Riêng gã đàn ông cao lớn còn quay lại nhìn chị trong một cái
cười hiểm ác “Nhẹ không ưa. Nào! Bây giờ đối mặt với ổng mi còn đáo để được nữa
thôi”. Anh ta lại hất cầm cái nữa. Đám người tò mò lố nhố đứng bên ngoài cũng vội
vã tản ra.
Trong phòng chỉ còn một mình chị với con người ghê gớm ấy.
Ngõ vắng lại trở về sự vật vờ bình thường như mọi tối khác, ông trùm trẻ tuổi vẫn
nheo nheo mắt nhìn chị không nói. Trước cái nhìn của con đười ươi ngắm nghía
con mồi để chuẩn bị xé xác ấy, chị bất giác thấy lạnh buốt chân tay và toan tìm
đường tháo chạy. Nhưng phía sau, cánh cửa sắt đã đóng lại từ lúc nào. Chị lùi lại,
dựa lưng vào tường chờ đợi...
Người ấy chỉ tiến thêm lên về phía chị một bước rồi dừng lại.
Thế rồi, không có một chút xao động trên nét mặt tưởng như cả đời phiền muộn,
anh ta nói nhỏ, tiếng nói mềm mại lạnh lẽo như của một người nào khác.
- Chị có thể đặt lại cái chai ấy trên bàn được không?
- Không đặt! - Chị quác mát trả lời và càng xiết chặt cái
chai trong tay hơn. Trời! Chị nghĩ - Thà hắn cứ quát toáng lên như thằng vừa rồi
lại đỡ sợ hơn.
- Chị đi mua thuốc ở Tân Bình phải không? - Anh ta vẫn nhẹ
nhàng hỏi.
- Không! - Chị càng nép sát vào tường. Hắn định giở trò gì
đây? Chị cán chặt môi và càng chú ý phòng ngừa.
- Chị đừng sợ - Anh ta lắc đầu thiểu não rồi đứng lui lại -
Chả nhẽ tôi lại đáng sợ đến thế sao? Thôi được! Tôi sẽ không cần nói gì nữa.
Bây giờ ta đi!
- Đi mua thuốc cho thằng nhỏ con chị - Anh ta trả lời bình thản
- Tôi sẽ đưa chị đi cho nhanh, vả lại đi một mình qua ngõ này không tiện.
Không cần chờ chị trả lời, anh ta uể oải lấy từ dưới gối một
vật gì đó nhét vào túi áo khoác rồi vẫn uể oải bước tới chiếc Vespa đậu ở lề đường.
Trong nhà, chị vẫn đứng im, mát mở to, cái chai trên tay từ từ hạ xuống...
Khi trước Vespa tháng lại trước nhà, chị đã nghe thấy trong
nhà đang vang lên tiếng nói lơ lớ của ông thấy thuốc nam mà chác má chị đã đón
được về. Chị khẽ thở phào, quay lại người đàn ông.
Tới nhà rồi. Cám ơn ông Hai. Thiệt phiền ông quá!
Tôi tên Lầm. Phan Hồng Lẩm. Cùng quê Bến Tre với chị. Chị cứ
gọi như vậy tiện hơn.
- Dạ! Anh Lầm cho tôi hoàn lại số tiền mua thuốc hồi nãy.
- Không có chi. Mai mốt nếu có gì cần chị cứ cho gọi. Đất Sài
Gòn này không sừng sỏ không sống được, chị đừng ngại, ở đây tôi không có ai là
người thân thuộc. Lúc mới gặp chị, nhìn vào mắt chị, tôi đã thấy có cái gì khác
với... Thôi tôi về. Chị vô với cháu đi.
Chiếc Vespa đã phóng vút đi. Chị đứng lại một chút, tần ngần.
Hai Băng Giá... Hai Băng Giá là con người này sao?... Nhưng tiếng khóc của con
đã đẩy nhanh chị vào nhà.
Trong nhà thằng Chu Anh đang oằn người trong lòng bà nó và cạnh
bên, ông thầy thuốc nam đang bón từng thìa thuốc sóng sánh như mật ong vào cái
miệng nhỏ xíu có đôi môi nóng đỏ của nó. Thấy tiếng động, anh ta quay ra gật đầu
chào chị rồi lại quay vào gượng nhẹ với thìa thuốc, nhưng ngay sau đó anh lại
quay ra và lần này thì thìa thuốc trên tay anh chao đi...
- Chào chú! Chú mới tới - Chị sà đến cạnh con - Má ơi, con đã
mua thuốc rồi đây. Toàn loại tốt cả.
- ừa - Bà má gật đầu - Bay đi lâu về, tao lo quá. Cứ để trị đủ
liều thứ thuốc này đã. Từ tối tới giờ có vẻ êm.
Người bán thuốc vẫn đứng sững nhìn chị. Thấy chị nhìn lại,
anh vội chớp mắt quay đi. Cặp mắt ấy hấp tấp dán vào khuôn mặt thằng bé. Từ vầng
trán anh, có một cái gì như một sự bàng hoàng dội lên. Có vẻ mỏi, anh không còn
cầm vững thìa thuốc trên tay nữa, đành đứng dậy.
Chị... Chị bón cho cháu. Từ giờ tới sáng uống hai lần nữa. Mỗi
làn hai thìa... Tui...
Tui...
Chị quay lại, hơi ngạc nhiên. Chao! Một người miền núi mà sao
có giọng nói ngọt ngào làm vậy. Và hình như... Cũng không có vẻ gì lơ lớ cả.
- ô, thằng nhỏ bị đau cái phổi mà - Bắt gặp cái nhìn hồ nghi
của chị, anh nói vội - Đau nặng đấy nhưng không sao đâu. Cái thuốc của tôi nó
thiêng lắm, chỉ mai là đỡ liền thôi.
Chị nhẹ người. Không hiểu nhẹ vì bệnh tình của con có chiều
thuyên giảm hay vì tiếng nói ngồ ngộ vừa rồi đã xóa đi hết cái băn khoăn của chị.
Thằng Chu Anh bỗng ợ một cái rồi quần quại ho mấy tiếng khô
khỏng, mặt nó đỏ vang. Nhanh hơn cả chị, anh nhao ngay người tới bế xốc nó lên
cho thuốc khỏi trào qua miệng. Nét mặt anh giây phút ấy nhăn nhúm lại trông thật
khổ sở. Cánh tay bế đứa nhỏ lập cà lập cập. Trong thoáng chốc rất nhanh, chị thấy
anh ghì sát đứa nhỏ vào ngực, mắt tối đi trong tiếng lắp bắp nơi cửa miệng
không rõ câu gì. Thấy người lạ âu yếm, quý yêu con mình, người mẹ nào không mát
ruột. Chị định lại đỡ lấy con nhưng như bị một làn sóng vô hình ngăn cản, chị
chững lại. Trời! Bàn tay... Bàn tay trái... Sao lại giống bàn tay trái của anh
thế? Bàn tay có những ngón vuông bè bè, có ngón trỏ bị lụi đốt trên cùng. Chị vội
nhìn lên. Rờn rợn... Nhưng không! Không phải khuôn mặt ấy. Kia chỉ là một khuôn
mặt thật thà, xa lạ và nước da xạm cháy. Không! Làm gì có chuyện ấy. Chị lại thấy
nhẹ nhõm và cười thầm mình sao độ này cứ hay ám ảnh vu vơ. Chị đưa tay đỡ lấy
con. Cũng lúc ấy, chị bắt gặp ánh mắt của anh. Ánh mắt cháy bỏng, hun hút, thẫn
thờ. Tim chị chợt đập rộn lên. ôi! Con mắt... Sao giống con mắt... Không! Ngay
lúc đó, đôi mắt kia đã dài dại đi rồi. Lại bậy nữa. Lần thứ hai chị tự trách
mình. “À ơi! Ngủ đi con. Đừng ho nữa... Con ho má thương lắm! Con đừng trách má
không dòm ngó nhiều đến con, không đi kiếm kịp thuốc cho con... Bây giờ má chỉ
có mình con, má không thương con thì thương ai. Ngủ đi! Đừng ho nữa, sớm mai ngủ
dậy là con của má sẽ khỏi liền thôi. À ơi...“
Tiếng nựng con của người mẹ như có sức hút kỳ lạ khiến người
bán thuốc chao đảo, cứ muốn nhao về phía hai mẹ con, nhưng bằng một sự gắng gượng
nhọc nhằn, anh lại lùi dần về phía cửa. Nhìn tinh thấy khuôn mặt anh méo xệch
đi.
- Tui... Tui xin phép bà và cô tui... tui đi.
Anh hấp tấp vơ quàng lấy túi thuốc.
- Ý, đâu có được ông thầy! - Tiền nong tôi đã trả đâu.
- Dạ thôi... Mai mốt tôi lấy cũng được mà. Tiền chút chút
mà... Dạ, tui đi!
Lần này bà má giằng cái tay nải lại, vừa năn nỉ vừa kiên quyết.
- Ông thầy đi đây giờ này? sáp giới nghiêm rồi, quân cảnh họ
bắt đó.
- Không có bắt đâu. Tui quen hết rồi mà.
Anh xin lại cái tay nải, mát nhìn dáo dác như kẻ định chạy trốn.
Anh tránh không nhìn vào mắt chị nhưng tiếng chị đã khẽ khàng cất lên:
- Chú làm ơn ở lại với gia đình tôi một đêm, mai hẵng đi! Lỡ
nửa đêm về sáng, cháu nó trở chứng, tôi biết đi gọi ai? Nghe má con tôi một
chút đi chú.
Câu nói khiến anh đứng im, tay thõng xuống. Anh nhìn đứa bé
giây lâu rồi gật đầu.
Cùng với người bán thuốc, chị cũng không ngủ.
Tối nay sao nhiều việc xảy đến với chị quá. Thái độ bí hiểm của
Hai Băng Giá, bệnh tình thằng nhỏ - nỗi lo láng tới tuyệt vọng của chị mấy bữa
nay - bỗng như được trời phật phù hộ mà đỡ đi trông thấy, rồi cả sự tận tâm
cũng như cung cách đối xử lạ lung của ông thầy thuốc người Thượng nữa... Cái mắt
nhìn... Bàn tay thiếu đốt... Cố xóa đi mà cứ thấy đầu óc nôn nao, cố quên đi mà
quãng đời cũ cứ thấp thoáng hiện về. Bên kia vách, chị đoán biết người thầy thuốc
cũng chưa ngủ. Lát lát, anh ta lại khẽ khẽ cựa mình. Mỗi lần thằng bé lên cơn
ho, tiếng cựa mình lại mất đi, như con người ấy đang nín thở và để rồi tiếng cụ
cựa lại vang lên mạnh hơn. Rõ ràng chị cảm thấy có cái gì đó vừa vô hình vừa cụ
thể cứ lớn mãi lên, sắc nét mãi ra, giống như sợi giây hư ảo nối liền giấc ngủ
của đứa bé vào giấc ngủ của người ấy. Có phải như vậy không? Nhiều khi chị cũng
nín thở... Chị bỗng sợ nghe tiếng cựa mình của người đó. Nó khơi dậy trong chị
biết bao nhiêu điều chị đang cố quên đi. Nó đang hiển hiện ở bên kia vách, gần
lắm! Sao ông không ngủ đi, hay ráng mà nằm im cũng được. Chao! Con mắt... Bàn
tay...
Ngài đô trưởng bỗng thấy sáng nay trong người vui vẻ. Đêm qua
ngài đã ngủ được một giấc ngon lành. Viên bí thư tin cẩn của tổng thống, người
anh em đồng hao với ngài, trong buổi họp báo chiều qua đã nói riêng với ngài rằng:
ý định đứa ngài về làm tư lệnh một sư đoàn đóng ở vùng I của tướng Tổng tham
mưu trưởng (vốn không ưa gì ngài) đã bị tổng thống phế bỏ. Cha! Chút nữa thì
binh nghiệp của ngài tiêu ma đó. Từ ngày thụ huấn ở Mỹ về đến giờ, cả năm năm
nay, ngài đâu có quen xông pha trận mạc. Đưa nhau ra đấy để mà nướng nhau ư?
Chà! Cái lão đại tướng này thiệt... Ngài đã quen công việc ở đây rồi. Với cái
đô thành chói chang ánh điện này, ngài đã từ từ, tất nhiên phải tốn biết bao
công sức và lọc lõi, leo lên từng nấc để có cái chức tư lệnh thành phố mà bạn
bè cùng lứa với ngài có ước mơ cũng không dám. Chính vì cái tin hết sức thú vị
đó mà sớm nay, một tớ báo đã cho chạy trên trang nhất câu tuyên bố trong lúc
cao hứng của ngài: “... Tôi cho rằng, trong khoảng từ ba đến năm năm tới đây,
thành phố của chúng ta sẽ hoàn toàn được đảm bảo an ninh. Những bóng ma Cộng sản
trước kia thường lấn quất ở đây, bây giờ, sau cái tết ghê gớm vừa qua, có thể
nói chắc rằng đã bị quét hết ra nghĩa địa, rừng rú...” Ngài lắc lắc đầu mỉm cười.
Được đấy chứ! Nói trong khi ngà ngà mà nghe cũng được đấy chứ. Nói thiệt! Làm
đô trưởng một thủ đô như vầy mà để cho một thằng cha võ biền nào nói năng cục mịch
đâu có được. Ngoài cái đảm lược về điều binh khiển tướng, đô trưởng còn là sinh
khí, là bộ mặt của toàn thành phố. Không phong lưu mã thượng, không lịch duyệt
thông thái, bọn có học nó có coi ra cái gì. Ngài ngắm nhìn khuôn mặt sáng sủa,
bộ tóc chải cao và tẩm thân mạnh mẽ ẩn sau bộ quân phục cấp tướng với vẻ hài
lòng. “Có một nụ hồng hé nở ngoài kia. Tôi muốn ngắt tặng em nhưng e lại mất đi
một chấm đỏ vào trời xanh”. Nếu không có ông bạn giáo sư ngồi bên thì có lẽ
ngài hứng chí đọc to lên mấy câu thơ ấy của Hai-nơ rồi. Tuy vậy, sự có mặt của
giáo sư lúc này thật tuyệt! Đã bị quét hết ra rừng... Chà! Dùng chữ quét vào
đây thật gọn. Nó bao gồm cả thế lẫn lực mà nghe không sao. Tuy nhiên, không nên
nói ba năm, một năm, hai năm thôi là vừa. Ba năm là hơi bốc. Nhưng cũng chẳng
sao. ông Thiệu còn nói tới những năm năm kia mà.
- Anh Luân! Anh uống đi chớ - Ngài vui vẻ - Tôi biết anh xưa
nay vẫn bị bệnh đau bao tử, nhưng không sao đâu. Rượu nhẹ, đàn bà uống còn lắc
đầu mà.
Ngài ngồi hẳn xuống, dáng bộ trân trọng - Tóm lại là thế này.
Tôi rất rõ anh đang bận bù đầu với cái công trình: “Sự tồn tại dai dẳng của các
cộng đồng dân tộc vùng Đông nam Á”. Nhưng cũng xin anh nể tình bằng hữu giữa
tôi và anh, anh bới ra ít ngày viết cho tôi cái “quân sử” về Sài Gòn của chúng
ta trong và sau Mậu Thân. Tư liệu và phương tiện, anh sẽ có đủ. Còn công sức?
Cái này chẳng nên nói với anh nhưng người Mỹ rộng rãi lắm. Cần phải cho thế giới
biết về thực lực họ và thực lực của ta. Tất nhiên cả sức mạnh và khả năng quân
sự của người Mỹ nữa. Anh cười đó à? Đừng, xin anh đừng cười. Anh vẫn giữ được
cái kiểu cười chết người như ngày trước. Nhưng tôi yêu cái lối cười đó. Nó
thông minh lắm. Thế nhé! Phải chính tay anh nhúng bút mới được. Không gì vinh hạnh
cho những người lính chúng tôi một khi chiến công của mình được một giáo sử học
danh tiếng như anh động bút vào. Chậc! Kể ra mặc cho tên Tổng cục chiến tranh
chính trị họ làm cũng được, nhưng cái thằng cha đại tá trưởng phòng quân sự ấy
dở ẹc. Lại khô khan, hời hợt toàn số liệu chết cứng cho coi. Uống! Đúng ra phải
điều lão ta trở về đơn vị cầm súng mà choảng nhau. Ngồi ở trung tâm mà chẳng có
một chút đầu óc nào cả. Kìa! Anh lại cười nữa rồi. Bao giờ đứng trước anh tôi
cũng có cảm giác mình đang làm một điều gì quê kệch.
Giáo sư Luân chậm rãi đi ra cửa sổ nhìn xuống mặt đường. Ngược
lại với ngài đô trưởng, ông thấy không vui. Trong thâm tâm, không muốn nhưng được
mới gọi hai, ba lần, cực chẳng đã ông đành tới căn nhà đầy lính gác rần ri này.
Xưa nay ông vốn không thích nhìn những bộ quân phục màu tráng hay màu xám, dù ở
bên này hay bên kia. Và vả lại... ông cũng có một chuyện riêng tư của gia đình
có thể cần phải nhớ đến tiếng nói của người bạn đeo lon tướng này.
- Người ta chỉ đưa vào sử những cái đã qua, không lặp lại
trong hiện tại. Anh tin rằng vùng đất này không còn lộn xộn nữa sao? - Giáo sư
hỏi mà không quay lại.
- ít nhất cũng được mươi năm không có lộn xộn lớn.
- Tức là anh hoàn toàn tin ở người Mỹ?
- Về tâm địa thì không. Nhưng về lực thì trước hết phải thừa
nhận họ biết làm ăn.
- Phải chăng quân đội các anh không bao giờ biết làm ăn?
- Anh vẫn có những câu hỏi phản đề khó trả lời.
- Như vậy, anh mặc nhiên thừa nhận phía bên kia họ mạnh hơn
các anh.
- Thôi! Thôi! Tôi là con nhà võ, anh tha cho tôi. Hồi còn đi
học, có bao giờ tôi nói lại anh đâu. Tôi thèm cái đầu óc của anh. Bây giờ tôi cần
anh giúp tôi trong chuyện này. Anh bằng lòng chớ?
- Tôi đã trả lời rồi thôi.
- Tôi không hiểu.
Viết lại thực trạng những ngày Mậu Thân tôi không làm được.
Đó là công việc của báo chí, thông tin. Còn viết sử, tôi sẽ chắc không làm anh
hài lòng đâu. sử phải trung thành với mọi sự kiện nhỏ nhất, trung thành với sự
thật. Sự thật bên trong các hiện tượng chứ không chỉ là kết quả. Nghĩa là tôi sẽ
chứng minh rằng thắng lợi của ông Thiệu vừa rồi là vô nghĩa. Và nếu cho rằng họ
thất bại thì cũng hết sức thiếu khoa học. Cái còn lại là sự hiện hữu của người
Mỹ trên đất nước này. Sự hiện hữu của một lực lượng khách quan không nằm trong
mối quan hệ nội tại của cộng đồng dân tộc. Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn này
không thể thừa nhận người Mỹ như là một động lực phát triển chính thống. Vậy
thì sự thắng và sự thua cũng chưa có luận cứ để khẳng định. Điều này sử học bất
lực. Có lẽ đó là một phương diện đơn thuần về chính trị với tất cả những ưu thế
của nó: lạnh lẽo, quay ngoắt và vụ lợi.
- Được! - Ngài đô trưởng thoắt trở nên hào hứng - Tôi xin được
tranh luận với giáo sư. Giáo sư muốn nói kết quả của sự biến cố Mậu Thân vừa
qua thành bại còn đang nằm trong hư thực phải không?
- Không phải một mình tôi nghĩ thế.
Thật là ngây thơ... Xin lỗi! Tôi muốn nói, anh Luân ạ, anh vẫn
trong tráng và tốt bụng như trước. Anh nhìn vấn đề bao giờ cũng tròn trịa. Sau
cái đòn này, ít nhất phía bên kia cũng choáng váng rất lâu mới gượng lại được.
Ví dụ tình hình an ninh khả quan của thành phố chúng ta những tháng qua. Điều
đó thua thắng thuộc về ai đã được lý giải rồi. ít nhất cũng là về mặt quân sự.
Nhưng tôi biết chính phủ còn rất lâu mới hết giật mình.
Choáng váng hay giật mình chỉ là hai mặt của một tâm trạng. Và tâm trạng chiến
tranh mới quyết định kết quả chiến tranh. Nếu anh không cáu, tôi xin nói thật:
Ngay buổi họp báo chiều qua của anh cũng là dấu hiệu của sự giật mình. Người thực
mạnh không bao giờ đại ngôn. Họ tỉnh táo nhìn nhận cú đấm của đối phương khá nặng,
thậm chí gây đau nhức không chịu được nhưng họ cũng biết nện lại những quả đau
nhức không kém, hoặc đau nhức hơn. Theo tôi, thắng lợi của biến cố vừa qua và
cái trật tự an ninh hiện nay thực chất chưa lấy gì làm đảm bảo. Anh không cho
tôi là ảnh hưởng tư tưởng biện chứng của Mác chớ?
- ô không! Sự thật dù phũ phàng vẫn thích nghe hơn lời ngọt
ngào dối trá. Anh cứ tự nhiên. Dân chủ mà. Tôi rất thích nguyên tác này. Nó có
tác dụng mở rộng tầm nhìn. Tốt lắm.
Vâng! Tôi vẫn muốn được nghe nhắc lại: điều hệ trọng hơn hết
là tâm trạng. Tâm trạng của con người. Và con người luôn luôn gắn với môi trường
nó tồn tại. Môi trường bây giờ xáo trộn quá! Mọi giá trị luân lý đều bị đảo ngược,
mọi nề nếp, chuẩn mực đều bị lật nhào. Đâu đâu cũng thấy đồng tiền, đồ vật và sắt
thép chế ngự lên tất cả. Hoang mang và bất lực, con người sống cấu thả, sống bừa
phứa. Một khi đã mất tin ở tương lai, tất yếu sẽ sống vội trong hiện tại.
- Anh đang nói về đức tin?
Đúng! Do không yêu và không tin vào một cái gì cả nên hàng
ngày con người tự tước bỏ đi cái phần người nhất của mình là hoạt động. Chỉ sống
không thôi thì chưa phải là con người anh ạ! Sinh vật nào mà chả sống. Do đó thật
khó nghĩ rằng những con người nhợt nhạt như thế lại gánh được những trọng
trách, bảo vệ được sự sống còn ở chính thể mà các anh trải qua bao cuộc đảo
chính, cách mạng mới thiết lập nên được. Tất nhiên con người ở phía bên kia tôi
không được rõ lắm. Có thể họ cũng là những kẻ cuồng tín đang lao theo một mưu đồ
chính trị mà quên đi cái lý tưởng nhân văn. Nhưng xét đến cùng, bất cứ một dân
tộc nào để xảy ra nội chiến vì những bất đồng của một cá nhân, của một nhóm người
thì hết sức phản lịch sử. Nhất là dân tộc lại chấp nhận để cho một kẻ khác đứng
ngoài xúi bấy, thậm chí tiếp sức. Anh thử lang thang ra đường phố một ngày coi!
Nhô nhuế không còn ra cái gì nữa. Như thành phố của một quốc gia khác. Điên đảo.
Quay cuồng. Một quốc gia mà cái nền nã nhất của dân tộc đang mất đi. Một lối hiện
sinh bản năng đang ngự trị. Chính vì thế mà tôi không tin vào sự ổn định trong
vòng hai, ba năm lại đây của anh.
Ngài đô trưởng giơ hai tay lên trời cười vang tỏ vẻ thú vị.
Nhưng ngay sau đó, ngài bỗng tràm ngâm.
- Xưa nay tôi vẫn biết anh không ưa thích chính trị. Nhưng quả
thật, tất cả những lập luận của anh vừa rồi khiến tôi chông chiêng. À, những
ngày lộn xộn ấy anh ở đâu? - Ngài quay đi búng tàn thuốc, làm như vô tình hỏi
câu đó.
- Ngay tại đây thôi. Viết sách, nghe súng nổ, ngắm nhìn thời
cuộc và nếu có thể thì rút ra một vài kết luận. Chức năng nhân chứng mà.
- Tóm lại anh không muốn cộng tác với tôi trong chuyện viết sử
này?
- Để... Để tôi suy nghĩ thêm - ông đắn đo một chút rồi nói khẽ
- Độ này tôi đang bận tâm vì thằng Hải, thằng con độc nhất của tôi, chác anh
còn nhớ?
- Hả?... Không! Có! Có nhớ chứ - Đột nhiên ngài tỏ ra lúng
túng - Sao lại không nhớ. Môt nhac sĩ thời danh.
- Tên tuổi vì nghệ thuật thì ít, vì chơi bời xả láng thì nhiều.
Suốt đêm ngày chỉ đắm nhìn trong nức nở và ái tình. Một thằng đàn ông cạn khô,
mất hồn người, thiệt là rầu. Anh ạ! Tôi...
- Tôi hiểu - Ngài đô trưởng thân mật vỗ vỗ vào tay ông, cắt
ngang - Thì ra chính vì cậu con nghệ sĩ mà ông bố mất tin ở con người, ở xã hội.
Chết thật!
- Không hẳn như vậy, nhưng... Cũng rất có thể như vậy. Vì nó
là sản phẩm của môi trường. Với môi trường này, tôi e rằng nó sẽ không lấy lại
được bình thường. Ngày trước, nó là một thằng bé khá, có tâm hồn, trung thực và
nhiều khát vọng lành mạnh. Bây giờ nó sống vật vờ như cái bóng. Nó không cần biết
nó là ai, không hoàn toàn làm chủ được bản thân mình. Một thế hệ trôi nổi và dựa
dẫm. Anh ạ! Tôi có một chuyện muốn...
- Anh lại rơi vào bi lụy rồi - Ngài đô trưởng cát ngang - Tôi
thì nghĩ khác. Cậu con anh đang thực hiện cái phần tự do nhất, cái phần người
nhất của nó. Giai đoạn này con người cần phải có lối sống thực dụng. Lối sống
này sẽ tạo nên sức mạnh cần thiết cho quốc gia. Chà! Nếu anh biết được lối sống
ép xác của những người phía bên kia? Thật là kinh khủng.
- Tôi chưa thật tin - ông nói và nghĩ rằng mình không nên đem
chuyện riêng ra nhờ vả lúc này - Xã hội ta bây giờ đang sao chép lối sống Mỹ một
cách sống - sít thì đúng hơn. Có quốc gia nào tự tồn tại bởi những con người
chuyên đi bắt chước những cái bên ngoài. Thà cứ sống khổ hạnh như phía bên kia
lại giữ được bản ngã của mình. Anh hiểu dùm, đây tôi không nói chuyện chính trị.
Thú thực tôi không hiểu những người cách mạng lắm và tôi cũng chưa có ý định
tìm hiểu.
- A! Thiệt vừa dịp - Ngài đô trưởng bật ngón tay đánh tách một
cái - Ngay bây giờ tôi sẽ cho anh tiếp xúc với một mẫu người cách mạng. Hắn là
một sĩ quan đặc công có một thời đánh đấm khét tiếng. Nhưng rồi hắn vẫn là hắn.
Tức là hắn vẫn thèm làm một con người ăn uống, ngủ nghê, như mọi người bình thường
khác. Một con người hoàn toàn đánh mất lòng tin. Nói chuyện với hắn anh sẽ thấy
thú. Còn cái mục kia... Hả? Tùy anh, tôi không ép đâu.
Ngài đô trưởng bấm chuông. Một đại úy còn rất trẻ, có ria mép
hiện ra ở ngưỡng cửa.
- Thiếu tá Xanh còn chờ ngoài đó không anh Thuần?
- Dạ còn.
- Tốt lắm! Anh mời hộ thiếu tá vào đây.
Có tiếng giầy bước rất êm đi vào. Giáo sư Luân nhìn lên. Đó
là một người đàn ông tầm thước, Bộ âu phục màu xám nhạt cát rất khéo, vầng trán
vuông lúc nào cũng căn g ra như muốn kéo đôi mắt xếch lên. Cái miệng anh ta nhỏ,
mỏng, luôn mím lại như sắp bật nói ra một điều gì mà cũng không bao giờ định
nói ra điều gì cả. Kín bưng và buông thả. Và đôi mắt nữa, mặc dù trong phòng
sáng choang ánh điện nhưng nó cũng không sáng lên được chút nào. Một thứ mắt
dõi nhìn vào trong. Mỏi mệt, man dại và căng thẳng. Tóm lại, thoạt trông, người
đàn ông tầm thước này dễ gây ấn tượng, mau khêu gợi sự tò mò của người khác.
Giáo sư chăm chú nhìn anh ta. Còn anh ta không nhìn ai. Với
cái dáng của một người đã quá quen những con mắt lạ lẫm nhìn vào mình, anh ta
ung dung đi lại bàn, ngồi xuống. Và cũng rất ung dung, rút một điếu thuốc đưa
lên miệng. Giáo sư quay mặt đi. Hình như ông đã gặp con người này ở đâu một lần
rồi thì phải? Ngài đô trưởng tự tay rót cho anh ta một ly rượu mạc-ten đầy. Anh
ta đỡ lấy uống một cách thận trọng hơi có phần lơ đễnh nhưng không dấu được cảm
giác ngon lành. Đây là một kiểu người khép kín, biết tận hưởng khoái lạc cuộc đời
nhưng... không tập trung vào một cái gì chính yếu cả. Bằng con mắt nghề nghiệp,
giáo sư thầm đánh giá. Và bất giác ông lảng tránh tia nhìn của anh ta đột ngột
phóng tới. Cái nhìn rờn rợn này, hình như ông cũng thoáng gặp ở đâu.
Như giới thiệu một người bạn tri kỉ, lại như khuếch trương một
món hàng quý, ngài đô trưởng quàng tay ôm lấy một bên vai anh ta rung nhẹ.
- Đây! Thiếu tá Xanh đây, người hùng của Việt Cộng và bây giờ
cũng là người hùng của chúng ta. Một người thức thời. Hy vọng tới đây anh sẽ phụ
giúp giáo sư một cách đắc lực để hoàn tất cuốn quân sử độc đáo này. Một tài liệu
sống vô giá đó anh Luân!
Thiếu tá Xanh chợt đứng dậy:
- Thưa thiếu tướng! Tôi có chuyện cần trình gấp lên ngài.
Chắc không phải chúng ta sắp mở một cuộc tổng tấn công nữa chớ?
ồ! Vậy thì cứ chậm rãi. Ngày rộng tháng dài, lo gì. Hình thành cho được một bộ
quân sử lúc này là cần nhất.
“Cần cho cái ghế của ông chứ gì”, viên thiếu tá nghĩ.
- Dạ! Tùy thiếu tướng.
Rõ ràng anh ta tỏ ra khó chịu khi có mặt vị giáo sư gầy yều
ngồi đây. Giáo sư Luân đọc được ý nghĩ đó và ông nhận xét: một phong độ giả tạo,
một giọng nói giả tạo, không thật. Ông đứng dậy cầm lấy ba toong.
- Các ngài cứ luận bàn công việc. Tôi phải đến Vạn Hạnh. Bữa
nay có tiết giảng.
- ủa! Còn cái chuyện tôi nhờ anh?
- Mấy bữa nữa tôi sẽ “phôn” cho anh.
- Thế anh không ở lại dùng cơm trưa với tôi sao? Đã lâu lắm rồi
chúng ta... Bữa cơm gia đình, có cả thiếu tá Xanh đây nữa. Tôi đảm bảo tiếp xúc
với ông ta, giáo sư sẽ thay đổi được khá nhiều quan niệm.
Ngài đô trưởng bắt tay giáo sư thật chặt.
Ra tới cửa, ngài nói nhỏ vào tai giáo sư:
- Tình hình này phải biết giữ mình. Không phải ai cũng hiểu
anh được như tôi đâu.
- Tôi nói vậy chác anh hiểu.
Giáo sư Luân nhún vai không nói và đi luôn. Ra tới đường ông
mới vỡ lẽ ra rằng mình chưa hề gặp con người tên Xanh ấy bao giờ cả, nhưng vẻ mặt
anh ta thì ông không lạ, tất cả những kẻ tráo trở đều có những nét hao hao giống
nhau. Và ông mừng thầm đã không đưa việc cậu con trai ra lúc ấy.
Ông không đi đến đại học Vạn Hạnh mà lộn trở lại nhà. ông thấy
có chuyện cần phải nói với đứa con trai. Nói ngay hôm nay chứ không thể để một
buổi nào khác. Nếu vẫn thế thì đầu tuần sau nó đã phải đi rồi. Điều ấy... Đau đầu
vô cùng.
Cùng lúc đó, trên căn phòng có tường cách âm ông vừa rời khỏi,
ngài đô trưởng nghiêng hẳn đầu về phía thiếu tá Xanh để nghe cho rõ.
- Nó đã xuất hiện được bữa nay. Thằng Xuân! Dạ thằng Xuân!
Tôi không thể lầm được, mặc dù nó đã cải trang trông giống hệt một gã người Thượng.
- Một gã người Thượng? ông không nhầm đấy chớ?
- Đối với người khác thì nhầm nhưng với tôi thì dù cho nó có
cải trang thành quỷ tôi cũng nhận được. Đây là một thủ đoạn cải trang hoàn toàn
mới lạ của chúng nó. Một gã người Thượng ngồi bán thuốc nam giữa phố chợ nghẹt
người! Chà. Thoạt đầu tôi cũng không để ý vì nó khác quá! Khác hẳn. Một bộ mặt
được là ủi kĩ lắm mới có thể được như thế. Nhưng dần dần tôi thường thấy nó hay
làm bộ lảng vảng ở khu cư xá Mỹ. Một thằng bán thuốc thông thường thì chỉ muốn
bán chác cho nhanh rồi lo cuốn xéo về nhà ôm vợ. Thằng này buôn bán khủng khỉnh,
không có vẻ gì ham lời ham lãi cả. Nhưng tới khi tôi nhìn thấy bàn tay nó đếm
tiền, hai bàn tay có chín ngón thì tôi đã ngờ ngợ. Và đến lúc nhìn vào mắt nó
thì... Con mắt lạ lắm! Chỉ có nó mới có thể có con mắt kì lạ như vậy.
- Sao anh nói sau khi trốn tu nó đang bị... A, bị treo giò ở
hậu cứ?
- Dạ! Chính thế mà tôi vẫn chưa đoán chắc.
- Lúc này nó đang ở đâu?
- Đêm qua nó vào một gia đình ở chân cầu xa lộ cho thuốc một
đứa bé bị bệnh rồi ngủ luôn đấy. Sáng nay nó lên xe lam ngược xa lộ đi đâu
không biết. Tôi đã cho bám.
- ô kê! Anh tinh nhanh lắm. Nếu không có những người từ trong
ruột chúng nó chun ra như anh thì quỷ mới biết được. Chà! Lảng vảng ở khu cư xá
Mỹ à? Chuyện không còn đơn giản nữa rồi. Một tuần nữa cuộc lễ quan trọng sẽ diễn
ra ở đó. Nè! Có thể ở đâu đó phía bắc xa lộ nó có cơ sở? Và ngay cả cái gia
đình hôm qua biết đâu cũng là một thứ trạm cung cấp tin tức? Phải đặt ra nhiều
giả thuyết, phải tung lực lượng phong tỏa khắp nơi và phải hết kín đáo. Nhưng
mà... Sao có thể nhanh thế được? Tôi chưa thật tin lắm. Hay là...
- Ngài cứ yên tâm - hắn chau mày - Bằng cách nào đó tôi sẽ
đích thân kiểm tra lại.
-Tôi tin ở thiếu tá. Thế còn gia đình ở chân cầu đó là gia
đình nào? Chắc là thân cộng hay người nhà Việt cộng chớ?
-Thưa ngài! Một gia đình máy may bình thường mới dời nhà từ Bến
Tre lên được gần năm nay. Để tôi điều tra thêm.
Thiếu tướng đi lại trong phòng, đầu gật gù.
- Chà! Bán thuốc! Bán thuốc à? Ghê gớm thật. Coi chừng ông bạn
trí thức của tôi lại có lí hơn chúng ta, ông Xanh! ông toàn quyền hành động,
không cần phải viện đến bên Tổng nha nữa, chậm chuyện, ông nên nhớ: coi như nó
có mặt ở Sài Gòn này giờ nào là giờ đó không yên đâu.
Hoàng Xanh cúi thấp đầu xuống nói nhỏ như nói với riêng mình:
- Dạ! Cái đó thì tôi hiểu...
-Còn cái ông bạn giáo sư của tôi nữa? Cũng thật là khó hiểu.
Có lẽ tôi phải qua bên ông đại tá cảnh sát trưởng một chút. Tất cả đều có thể xảy
ra.
Tới nửa đường, Thiếu tá Hoàng Xanh ghé vào một tiệm cà phê
váng vẻ, kiếm chỗ kín đáo ngồi. Ngồi chưa ấm chỗ, hắn lại đứng dậy. Li cà phê bốc
khói vừa mang đến, hắn móc túi trả tiền rồi đi luôn. Tưởng con người này đang
có gì vội vã nhưng ra đến cửa, hắn đứng lại nheo nheo mắt nhìn người qua lại một
lúc rồi chặc lưỡi đi tát qua đường. Rõ ràng điểm hắn định tới chỉ mới xuất hiện
trong đầu. Một chiếc xe lôi phóng qua phun khói vào người hắn. Mặt Hắn nhăn lại:
Nhăn lại không phải vì khói mà vì tiếng động cơ rền rĩ như một tràng đại liên bắn
gần xoi xói vào óc. Hắn lững thững đi đến căn nhà nhỏ nằm khuất trong một ngõ
váng có nhiều bóng me. Dừng lại một chút ở cách cổng phủ đỏ bông giấy, hắn tiếp
tục bước đi. Đến đầu ngõ không hiểu ngẫm nghĩ thế nào hắn lại lộn lại. Tiếng
chuông rè rè nghe lạc lõng. Một thiếu phụ không còn trẻ trung nhưng khá đẹp ra
mở cửa. Thấy Hắn thiếu phụ reo khẽ lên một tiếng rồi vội đuổi con chó Nhật sắp
xù lông ra sủa.
... Hắn ngả người trên sa lông, chân duỗi thẳng, mắt nhìn
dính vào tấm gương to treo ở giữa phòng. Điếu thuốc không được rít, khói cay
xông lên làm Hắn chớp mắt. Thằng người trong gương chợt hiện ra. Hắn đấy ư?
Trông cũng được đó chớ. Trán cao, vai rộng, mặt cương nghị. Có lẽ mình mặc bộ
này hợp hơn mặc quân phục? Hắn nhướng mắt to lên rồi lại vội nhíu lại ngay. Lâu
nay hắn không quen nhìn thẳng vào mắt mình. Hắn đứng lên đi ra cửa sổ rồi lại
quay vào, ngồi xuống. Hắn thấy trong lòng sao cứ bồn chồn. Đôi mắt ấy... Phải
chính đôi mắt ấy cứ lửng lơ ở trước mặt hắn. Đi một mình ngoài đường không được,
hắn phải đến đây cũng như sau mỗi lần thấy có điều gì bất ổn trong đầu, hán lại
tìm tới ngôi nhà này. Thiếu phụ đang cúi xuống nhìn hắn, đôi mắt mơn trớn. Hắn
lầm lì đứng dậy đi những bước ngắn và chậm trong phòng.
Đến cạnh thiếu phụ, hắn chững lại, không chủ đích. Một thoáng
tần ngần... Bằng một động tác cũng rất quen thuộc và thành thạo, Hắn nhẹ nhàng
xoay vai thiếu phụ vào lòng mình... Nhưng đúng vào cái lúc đáng lẽ đưa bàn tay
ám khói ra phía đầu giường tắt đèn thì hắn lại từ tốn đứng dậy, rồi cũng rất từ
tốn hắn lặng lẽ đi ra khỏi phòng.
Thiếu phụ mở bừng mắt không hiểu... Hồi lâu, thì vật mình xuống
nệm, mặt vẫn còn đỏ lựng.
- Thằng điên!
Hắn nhìn đồng hồ.
Chưa tới giờ nhận báo cáo. Đi đâu bây giờ? Hắn thật không muốn
ngồi vào cái bàn sắt nặng nề màu xám trong phòng làm việc của hắn một chút nào.
Hắn định tạt vào tiệm ăn gọi mấy món đồ nguội song không thấy đói. Mấy hôm nay,
kể từ lúc tình cờ gặp người bán thuốc ở chợ, Hắn cứ thấy nôn nao như sắp gặp một
điều gì ghê gớm. Song có lúc, chính cái điều ấy, hắn lại cảm thấy như mình đã
trải qua rồi. Rượu không làm cho hắn bình tâm. Từng bước một, đế giầy Hắn tỉ mẩm
đếm gạch trên hè phố.
Vậy là hắn đã trở về cái thành phố này gần trọn năm rồi. Một
năm trôi qua kỳ lạ đến nỗi nhiều đêm thức dậy, hắn bàng hoàng không hiểu mình
đang ở đâu. Lí lịch hắn cũng khúc khuỷu như tâm trạng hắn. Ba năm làm thư ký
cho chủ tịch nghiệp đoàn Taxi, hai năm thoát li ra rừng, lại ba năm vào thành với
danh nghĩa một kí giả trẻ tuổi và tháo vát. Hắn đã mặt hầu hết ở tất cả các trận
đánh và chưa hề thất bại lần nào. Hồi ấy cách mạng dâng cao như thác lũ. Với chỗ
đứng của một chiến sĩ biệt động đô, đã có một thời kì hắn là tượng trưng cho
lòng quả cảm, trí sáng tạo, và ý chí không khoan nhượng với kẻ thù trước con mắt
đồng đội. Cấp trên tin cậy năng lực chiến đấu của hắn. Toàn bộ phẩm chất người
chiến sĩ biệt động cũng hàm chứa trong cái năng lực đó. Người ta tiếp tục trao
cho hắn những nhiệm vụ ngày một nặng nề hơn. Hắn hoàn thành trót lọt. Có đợt, Hắn
nằm lì ở thành tới cả nửa năm trời để theo đuổi một mục tiêu. Không sao! Thế
nào rồi con người ấy cũng sẽ tìm được một cách đánh mới lạ. Họ không từ chối bất
cứ một lời yêu cầu nào của hắn. Đồng đội cũng không tiếc gì, kể cả tính mạng,
tù đày để hắn chú tâm vào công việc.
Cũng chính trong thời gian đó, hoàn toàn vượt ra ngoài ý muốn
của hắn, cái tâm bên trong hắn dần dần bị mềm đi. Thành phố như một cái xoáy nước
khổng lồ làm cho hắn chóng mặt. Những lần trở về hậu cứ, bạn bè thấy Hắn ít nói
hơn. Và những khó khăn trong các trận đánh qua miệng hắn cũng nhiều dần lên. Ai
có thể, kể cả hán, ngờ được rằng, trong quá trình tẩn công vào kẻ thù, người
lính ấy đã từng phút bị bản chất kẻ thù tiêm nhiễm trở lại mà không hay. Từ nhức
óc với nhịp điệu cuồng loạn của phố phường, đến chỗ thấy Dần dần quen tai. Từ
xót xa với lối sống đàng điếm, mất hết sinh khí đến chỗ hắn bỗng thấy thương cảm
để rồi chặc lưỡi: “Biết làm sao khác được! Chân lí còn nằm ngoài tầm tay của họ”.
Lạ lùng hơn nữa, những thằng mặc áo lính Quốc gia, áo lính ngoại quốc, những thằng
người mà trước đây mỗi lần thoáng nhìn thấy là hắn muốn xiết cò ngay, bây giờ
trong hắn chỉ nảy sinh một cảm giác xa lạ. Xa lạ thường là cái đi của sự gần
gũi. Và nổi lên trên tất cả là những trận đánh nối tiếp mãi không thôi, biết chừng
nào mới là trận cuối? Tuổi tác hắn cũng không còn trẻ nữa, lại thêm những vết
thương sau mỗi trận lại nhiều hơn. Rồi cuộc đời sẽ đi đến đâu? Đám sương mù ảm
đạm ấy lờn vờn trước mắt hán. Thế là hắn quên. Quên dàn màu lá rừng, quên dần khúc
sông nước lớn lại ròng nuôi hắn bằng cá bằng rau, quên luôn cả những khuôn mặt
xanh xao thiếu nắng của đồng đội. Nếu nhớ thì hắn chỉ còn nhớ bộ mặt lạnh như
tiền của người đội trưởng, cấp trên trực tiếp của hắn. Trong một trận đánh, hắn
tự động bác bỏ phương án của viên đội trưởng này. Đó là một lối đánh thí mạng,
không có hiệu quả và phơi bày toàn bộ bí quyết binh chủng. Hắn nói thế và bộ mặt
lạnh như tiền kia trút xuống đầu Hắn cả một đống quan điểm, lỗi lầm này nọ “Tôi
không hèn trước chúng nó thì tôi cũng không thể hèn trước anh. Mệnh lệnh của Đảng,
tôi xin chấp hành”. Hắn nuốt giận lao vào trận... Trận đánh thất bại, hai người
không trở về. Chính Hắn cũng bị thương. Hôm sau hắn làm lì nhận một kỉ luật tạm
đình chỉ công tác sau khi đã giáng thẳng cánh vào mặt người đội trưởng ấy một
cái tát. Nửa tháng sau, bộ tư lệnh thành xác minh phương án của hắn là đúng và
quyết định điều viên đội trưởng ấy về phía sau. Nhưng muộn rồi. Lại thêm một sự
u uất vào trong cái bã bời đang hình thành trong hán. Hắn sống trầm đi, tách biệt
mọi người. Mưa bao giờ cũng gợi mung lung. Mưa trong rừng càng mờ mịt. Còn phải
sống cảnh này đến bao giờ nữa? Kẻ thù sao sống dai thế? Giết được thằng này nó
lại mọc thêm thằng khác, ác ôn hơn. Bạn bè cũ quay đi quay lại hy sinh phần lớn.
Bao giờ đến lượt ta? Thôi thì cứ đến cho xong. Chờ đợi điều bất hạnh còn ghê gớm
hơn chính sự bất hạnh. Nhưng nó chưa đến thì hắn phải nghĩ cách thức làm sao
tránh được nó. Đêm chụp xuống, hắn đã nghĩ đến chuyện vín vào sức khỏe để được
về phía sau. Hoặc cố tạo ra một vết thương trầm trọng nào đó để có cớ lên cơ
quan hậu cứ ngồi. Hay là... Hắn đã nghĩ loáng thoáng đến chuyện nếu bị bắt?
Nhưng sáng ra, khi trên sông tràn ngập ánh nắng, hắn lại không làm gì cả. Hắn
thấy mình tỉnh táo hơn và dưới kia, Sài Gòn với những mục tiêu, với những con
người, phố xá... lại kích thích trí tưởng tượng của hắn. Nhưng rồi chỉ vài ngày
sau, những ý nghĩ u ám ấy lại trở về. Những trận đánh không còn hiệu quả. Những
tin tức thưa dần đi. Bạn bè thông cảm với hán. Cấp trên cũng chẳng nghĩ gì. Kẻ
thù ngày càng có kinh nghiệm hơn, nghề đánh giặc đâu phải chỉ toàn có chiến
công. Nắng trong rừng thật mỏng. Số phận Hắn sao mỏng manh. Số phận tất cả những
người trong rừng đều mỏng manh. Dằng dặc quá. Những tòa nhà cao tầng, những âm
thanh phố phường lẻn về ùa ngọp trong cái đầu trống rỗng của hán. Hắn thèm được
sống cái cuộc sống đời thường, không lo láng, sáng dậy uống li cà phê nhàn tản,
đêm lên giường nằm nghe sương rơi.
Hắn khát khao được sống như những con người yên hàn trong kia.
Khao khát được gần gũi, được làm chủ hoàn toàn cô người tình của hắn. ôi chao!
Sao ở đời lại có một người đàn bà ghê gớm đến thế được? Thị đã từng sống với
hai đời chồng Mỹ. Và cứ sau vài năm, thị lại trở thành góa phụ. Nhưng số tài sản
dành cho một góa phụ Mỹ lại nhân lên. Những cuộc nhân duyên ấy đến nay đối với
hắn vẫn còn là điều bí mật. Hắn cũng chẳng cần biết làm gì. Miễn là mỗi làn gặp
thị, hắn được chiều chuộng, được âu yếm. Thị là tất cả, là khát vọng, là bù đắp,
là nơi nương tựa linh hồn của hán. Tòa nhà một tầng xinh xắn ở ngõ vắng với rượu,
thuốc thơm. Con chuồn chuồn không bứt nổi ra khối nhựa mít nữa. Không hề gì.
Nhiệm vụ và ái tình là hai cái khái niệm tách rời, không có khả năng tác động đến
nhau. Hắn biện luận thế.
Ngày trước, hắn muốn trở về sau trận đánh sáng rực như một vị
anh hùng. Nhưng núi rừng u tịch không có chỗ cho hắn phát sáng. Và làm sao mà
sáng mãi cho được. Thật là ấu trĩ! Hãy sáng cho chính mình là đủ rồi. Cuộc đời
có ai thương mình ngoài mình thương mình ra. Anh hùng và ti tiện, kẻ tháng và
người thua cũng đều bình đẳng với nhau dưới mồ. Cuộc đời ngắn ngủi. Bản thân cuộc
đời không có giá trị gì. Người thông minh là người biết tạo ra cái vui trên cái
không có giá trị ấy. Đày đọa thân mình làm gì cho nhọc xác. Mát bên trái hắn
nhìn sự vật rạch ròi ra, nhưng mắt bên phải lại tối xầm lại. Trái tim hắn cũng
chia hai phần nóng lạnh không rõ ràng.
Và rồi sự giằng xé ấy hứng đón cả cuộc tổng tấn công Mậu
thân. Như một chi tiết máy, hắn vận động cùng với guồng. Vận động vô tri và xọc
xạch. Đồng đội ngã xuống nhiều. Hắn vẫn sống. Kẻ thù phản kích ác liệt. Hắn vẫn
sống. Nhưng cái buổi sáng quái ác hắn và đội trưởng ba Xuân, người thay thế
viên đội trưởng cũ, bị bủa vây bốn phía không còn một tấc sắt trong tay thì cái
chi tiết mấy ấy bị văng ra. Những ngày trong khám tối, phần lạnh đen trong tim
hắn đã hoàn toàn ngự trị. Hoảng hốt, không còn biết phải bám víu vào một cái gì
nữa, hắn chỉ cần sự hiện diện của mình trên mảnh đất này, hiện diện dưới dáng vẻ
nào cũng được, miễn là tồn tại. Và tối hôm ấy, để mặc người đội trưởng bê bết
trên vũng máu của những trận đòn thù, hắn gõ cửa xà lim để xin được bước sang một
thế giới khác. Giây phút cuối cùng, hắn còn kịp nhận thấy đôi mắt của người bạn
tù trân trân nhìn mình. Đôi mắt...
Bước chân hắn vẫn đếm ngạch trên hè đường. Đã tới giờ hắn cần
có mặt ở công sở để nhận báo cáo. Có lẽ tới đây phải xin thiếu tướng đặt một trụ
sở riêng hoặc tự chọn địa điểm liên lạc với tay chân cho tiện làm việc. Hắn rất
cần đơn độc. Hay nói đúng hơn, hắn không muốn tiếp xúc nhiều với những nhân
viên an ninh cùng phòng. Họ cười đó, nói đó, tâng bóc hắn om xòm đó nhưng vẫn
thấy giả tạo thế nào. Không ít làn hắn đã thấy những ánh mắt càu cạu thoáng
chút giễu cợt hướng về mình. Láo trung tá trưởng phòng có lần vỗ vai Hắn thật mạnh:
“Chú mày làm ăn khá đó. Mới nhập cuộc có hơn nửa năm mà đã có vẻ con nhà lắm.
Ráng lên! Cứ đà này chỉ vài tháng nữa là chú mày vượt đàn anh dễ ợt”. Hắn bỗng
thấy tê tái. Sao hắn có thể vỗ vai mình như vỗ vai một kẻ làm thuê như vậy được?
Mình có phải em út của hắn đâu mà đàn anh với chẳng đàn em? Mà lại rặt một bọn
giỏi chơi gái hơn giỏi đánh đấm nữa chớ. Mình trở về đây như trở về với một
chính kiến kia mà. Ngấm ngầm, hắn một bên và đám người kia một bên, khinh ghét
lẫn nhau. Hắn còn tím ruột với câu nói của đại úy Thuấn, nghe nói sắp là con rể
của tướng đô trưởng “Cốt cách của người lính, dù ở phe phái chính trị nào, là ở
cái bền. Thiếu tá ráng ở với chúng tôi bền bền một chút nghe”! Quái! Nó ám chỉ
gì vậy? Bất cứ một thằng oắt con nào cũng giám giở giọng dạy bảo, xỏ lá ra với
Hắn sao? Hắn hụt hẫng nhưng Hắn nén nhịn. Thực tâm hắn chỉ muốn về với căn nhà
trong ngõ vắng ấy làm một người chồng bình thường. Nhưng ngay ngày hôm sau khi
trở về hắn được đủ các quan chức gặp mặt, báo chí hỏi han. Thế rồi sau một
tháng được du hí thỏa thích ở Cấp, ở Đà Lạt, người ta mời hán về Sài Gòn làm việc.
Còn từ chối sao được nữa. Chỉ cần một cái nhăn trán bướng bỉnh thôi là Hắn tức
khắc phải quay lại khám tối để suốt đời nghe chin chít tiếng chuột gặm những vấy
máu trên tường, ừ, thì nhận, chậm rãi tính toán sau. Nhưng người ta đâu cho hắn
thì giờ tính toán. Một tuần sau hắn lại trở thành một chi tiết trong guồng máy
khác, cồng kềnh hơn. Thỉnh thoảng vào những đêm trằn trọc, Hắn mới thảng thốt
nhớ lại những năm tháng ở rừng. Hắn giật mình và cố không bao giờ để suy nghĩ của
mình buông trôi như thế nữa...
Chính lúc này, Hắn gặp ông thầy bán thuốc nam. Hắn bỗng rùng
mình. Và cố tự biện hộ rằng đó không phải là Xuân, người đội trưởng có đôi mắt
kì lạ cùng bị bắt với hắn. Rằng đó chỉ là một gã người Thượng mặt mày nhăn nhúm
không hơn không kém. Xuân đang bị treo giò trong rừng già núi thẳm kia mà. Đến
khi biết gần như chắc chắn là Xuân rồi (gần thôi) hắn lại muốn lẳng lặng bỏ đi.
Hắn sợ con người này như sợ chính cái bên trong u uất của con người hắn. Anh, với
vẻ người lam lũ, đã như một bóng ma phủ chụp lên giấc ngủ của hắn. Không! Hắn
không muốn biết sự có mặt của anh trong thành phố này. Hắn đã từ bỏ tất cả để
không nghe, không nhìn thấy gì cả rồi kia mà. Tại sao anh lại cứ xuất hiện trước
mặt hắn với đôi mắt như thế. Hắn thật sự không muốn chạm trán với anh, dù cho hắn
chỉ cần búng tay một cái là cái hình hài méo mó kia sẽ bị bầm dập tan tành
ngay. Nhưng cái bóng ấy vẫn ngày ngày lởn vởn trước mặt hắn. Đã nhức nhối lắm rồi,
hắn muốn quên đi tất cả kia mà. Mi không cho ta cái quyền được quên nữa hay
sao? Thế là hắn nổi điên lên và nhất quyết phải tiêu diệt con người này như
tiêu diệt chính cái bất ổn trong con người hắn. Bỗng nhiên hắn cho rằng tất cả
những nỗi khổ sở vừa qua, không ai khác, chính là do anh gây ra.
Giữa khu chợ đã vắng người, anh tỉ mẩn thu dọn đồ đạc để đi
kiếm một bữa ăn trưa. Nước da anh nhăn nhúm, cặp môi anh thâm đen và bàn chân
to bản cóc cáy những vết nứt rạn. Với cái cười chất phác, anh lầm dầm đếm lại số
tiền kiếm được từ sáng đến giờ ở cái chợ Thủ Đức này. Vuốt thẳng lại những đồng
tiền năm chục, một trăm tờ cũ tờ mới. Anh lơ láo xò xét xung quanh rồi đút tụt
vào túi áo trong. Vậy mới ổn. Lơ mơ kẻ gian nó lấy mất. Vẻ thỏa mãn hiện lên
trong mắt anh. Cũng cẩn thận như thế anh lôi từ túi áo bên trái một gói thuốc
rê lôm xôm xanh lè đưa lên mũi hít hít. Định xé một miếng giấy cuốn nhưng chợt
nhớ ra, anh lấy từ trên mang tai một điếu thuốc thơm không rõ loại gì lóng
ngóng gắn lên miệng. Rõ ràng điếu thuốc sâu kèn đầu to đầu mút nó quen thuộc với
anh hơn. Anh thận trọng đốt lửa rít một hơi và ngửa cổ thở ra khoan khoái. Bà
má bán hàng bên cạnh nhìn anh tủm tỉm. Anh gửi bà mấy bó lá cây thuốc rồi phủi
tay đứng dậy.
Ngơ ngác trước một quán ăn nhỏ nhất, bày biện sơ sài nhất
nhưng lại đông khách nhất, anh rụt rè đi vào tìm một cái bàn ở góc phòng đày những
vết nhờn nhẫy của biết bao lưng người tì chịn ở trên tường, ngượng ngập ngồi xuống,
ông chủ quán dáng cao, có hàm râu rất phong trần cười như lệnh vỡ:
-Cha! Bữa nay bộ ông bán hàng chạy hay sao mà ghé quán tôi vậy?
Nào! Xài thứ gì cho biết? Làm bậy một xị nghe.
-Dạ. Tui còn phải đi mà - Anh trả lời bẽn lẽn, mặt đỏ trước
những cái nhìn thích thú của mọi người - Chú cho tôi xin đĩa cơm.
-Được! Không sao. Quán này bình dân mà. Ăn cỡ nào cũng được hết.
Lát sau ông mang đến cho anh một đĩa cơm đày ụ, trên có mấy miếng thịt heo rán
vàng rộm, thêm một chút nước rưới và vài củ hành non búng.
-Ông có mang theo cho tôi lạng sa nhân tôi dặn không đó?
-Dạ! Có chớ.
-Ngon heng! Mụ nhà tôi mà mê thứ thuốc tiêu mỡ của ông bạn lắm
đó. Còn, để cho liều nữa đi. Giá cả khỏi bàn - Dựa vào những tiếng náo nhiệt
đang nổi lên khắp phòng, ông đổi giọng trong khi thoăn thoát thu bát đĩa trên
bàn - Tư Thanh đến rồi đó. Chút nữa ông quay lại - ông vung tay - Bộ ông bạn muốn
lấy vợ Thủ Đức hay sao mà bữa nay ăn vận dòm chững chạc “dậy”?
-Vợ con chi nữa chú. Tồi vầy ai thèm ngó.
Anh ngúc ngoắc đầu trước một vài tiếng cười vui vẻ và vẫn ăn
ngốn ngấu từng thìa cơm đầy, thỉnh thoảng lại cắn một miếng ớt to. Anh ăn ngon
lành không để ý gì đến xung quanh như nhịn đói đã lâu. Mùi xào nấu từ trong bếp
bay ra ngào ngạt khiến anh nhỉnh nhỉnh cái mũi. Chỉ đến lúc đó có một người đi
qua đụng khẽ vào chân, anh mới ngẩng lên. Đó là một người trung tuổi ăn mặc quý
phái, trán hói, nước da hồng hào, đeo kính trắng, dáng bộ bệ vệ như một chủ
hãng buôn ở Sài Gòn ghé qua. Thấy người này, ông chủ quán vội vã chạy ra:
- Thưa ông! Chúng tôi đã làm xong món nem. Mời ông vào nhà
trong. Tôi đã cho cháu đi lấy la-de.
Người này lặng lẽ gật đầu đi vào căn phòng nhỏ dành riêng cho
loại khách sộp.
Phòng ngoài, người bán thuốc đã vét đến thìa cơm cuối cùng,
Miệng nhai chóp chép, anh đứng dậy móc tiền ra đếm.
- Tui trả tiền chú!
Ông chủ quán quay lại xua tay:
- Thôi! Ăn uống chút chút vậy, tiền bạc cái nỗi gì. Cái công
chữa bệnh cho con nhỏ con tôi còn chưa trả được đây. Bữa nào đi qua cứ ghé vô,
ăn nhậu thoải mái, đừng ngại gì hết trơn.
-Dạ!... Chú cứ cho tui trả mà. Tui có tiền, nhiều tiền.
-Rồi! Muốn trả thì còn nhiều dịp. Bây giờ chú vô trong nhà
nghỉ đỡ đi, nhân tiện chờ bà nhà tôi về xem có nhờ cậy chú thuốc men gì không.
Nói thiệt! Nhờ thuốc của chú mà mụ trông đỡ lắm. Hà! Hà.
Người bán thuốc lưỡng lự một chút rồi xách túi đi vào. Sau
anh, khách ăn uống vẫn tấp nập vào ra. Dân buôn ở xa đến ghé vào tiệm ăn nghỉ
cũng là chuyện thường, không ai để ý, ông chủ quán mồ hôi đã vã đầy mặt nhưng
không ngớt nói cười rổn rang. Có lẽ người ta ưa cái giọng cười sảng khoái của
ông hơn chính những món nhậu ông làm.
Phòng trong này nhỏ, thông với phòng ngoài bằng một tấm rèm
ni lông ken xít. Người từ trong nhìn thấu tận đường nhưng người ở ngoài nhìn
vào mù tịt. Góc phòng có một khuôn cửa nhỏ ăn ra sân, từ đó có cái ngách một
người đi lọt dẫn tới phía sau chợ, có ruộng vườn kín bưng.
Đến trước ông đeo kính, người bán thuốc hỏi luôn:
- Sao chú Tư? Mong chú hoài.
-Ngồi xuống đi! - Người này nói nhỏ nhưng rành rẽ - Bộ tư lệnh
đã thông qua phương án đánh vào khu cư xá sĩ quan không quân Mỹ của cậu. Nhưng
có một điểm cần xem lại: đóng giả một tổ quân cảnh rượt bắt du đãng qua cửa cư
xá có ổn không?
-Ồn! Rất ổn. Hàng ngày bọn quân cảnh thường chia từng tốp tuần
tra quanh cư xá, thậm chí có thằng còn mời thuốc bọn Mỹ đứng gác cửa nữa mà.
-Mình biết. Mình cũng đã có đi qua. Nhưng cách đó cũ rồi. Thằng
phản bội có cách đánh nào của ta mà nó không nám được.
-Chính thế mà tôi dùng cách này. Trong khi thằng Xanh dấn sức
đề phòng một cách đánh khác, mới hơn mà nó chưa trải qua thì ta bất ngờ quay lại
cách đánh thô sơ, nhất định nó không kịp đề phòng.
-Táo bạo nhưng còn phiêu lưu. Rất có thể kẻ thù cũng suy nghĩ
trùng với ta. Nên nhớ đây là trận đánh lớn, phải thắng mới gây được lòng tin
trong quần chúng, mới tạo đà cho những trận sau. Cậu thử nghiên cứu kĩ lại coi.
Xuân hỏi nhỏ:
- Đâylà ý kiến của chú hay của Bộ tư lệnh?
-Của Bộ, tất nhiên trong đó cớ tôi.
Tiếng nói của Xuân chìm đi:
- Đảng vẫn chưa tin tôi.
-Nè! Cậu nói cái gì vậy?
-Tôi biết tổ chức vẫn chưa tin tôi. Chính ra tôi không nên
xung phong đánh trận này và chú cũng đừng ủng hộ tôi. Một thằng vừa ở tù ra mà.
-Đừng có nói tầm bậy! Tin hay không, không phải ở cái dám
đánh hay không dám đánh mà điều chính yếu là phải đánh tháng.
Nhà ngoài, có tiếng ông chủ quán nói to:
-Chu cha! Bữa nay lại có cả mấy thầy ghé quán. Hân hạnh quá!
Mấy thầy dùng chi cho biết, tôi xin hầu tiếp. Nhỏ đâu! Chạy sang bà Tư mập lấy
một lít đế thiệt ngon nghe mầy!
Chú Tư lấy kính đeo vào mắt.
- Ngồi lâu đây bất tiện, sáng mai cậu gặp tôi ở căn nhà số 1
tại Búng bàn thêm. Có thể cậu nói đúng.
Nói xong, ông đứng dậy nhón một cái tăm rồi thong thả đi ra.
Xuân cũng lẹ làng tuồn theo ngách nhỏ ra bưng.
Nắng xế trưa gay gắt, cả đồng bưng không còn có một ai. Tìm một
vạt cỏ khuất dưới lùm cây lúp xúp, anh đặt lưng nằm xuống. Trên cao, một vài
đám mây trắng xốp lững lờ trôi. Anh nhắm mắt lại. Phải như khi khác thì anh
đánh thẳng luôn một giấc tới chiều. Ngủ ở đây hoàn toàn bảo đảm cũng như ngủ ở
đầu hè xó chợ mọi khi. Nhưng anh làm sao mà ngủ được. Có đúng vậy không? Mấy
anh không tin mình hay phương án mình đưa lên không chuẩn? Ngày trước có đâu đến
nỗi phương án hai, ba lần đưa lên đều bị gạt như thế này. Ngày đó anh là một đội
trưởng có uy tín, phụ trách hai vùng Tây và Nam đô thành. Bây giờ anh chỉ còn
là một trinh sát viên bình thường, phải nằn nì mới được vào trận. Cái buổi chiều
quái ác trong đợt tiến công cuối cùng ấy, giá anh không bị thương! Giá thằng
Xanh đừng rời vị trí hỏa lực của nó, giá mà... Nghĩ đến cùng, những ngày bị đưa
đi hết nhà tù này đến nhà tù khác, anh chưa có một câu nào, một cử chỉ nào làm
tổn thương đến cách mạng, đến đồng đội. Biết anh là người chỉ huy biệt động,
chúng đã không từ một thủ đoạn nào hòng làm anh lung lạc, kể cả sử dụng tên phản
bội Hoàng Xanh. Nghị lực và ý chí của anh vón cục lại, ấn chìm lắng sâu, cái
còn lại là một thân xác tả tơi, rách nát và bình thản. Chỉ có một làn anh đã
không nén được sự uất hận khi thằng phản bội mang non thiếu tá sáng sớm vào
khám mời anh lên lầu uống cà phê. Cũng may, nếu không có hàng rào cHắn B40 cản
lại thì cả nó và anh đều lăn xuống mặt đường cao 50 mét rồi. Tên phản bội không
chết thì anh phải chết. Luật trả giá đó tưởng áp dụng vào anh khi chuyến tàu chở
tù đi Côn Đảo đã há mõm chờ ở bến. Chính cái quân cảng lộn xộn lính tráng và ngổn
ngang sát thép ấy đã giúp anh nhảy vào lòng nước trốn chạy. Đằng nào cũng chết.
Nhưng lại sống để ngày hôm sau đã lẻo khẻo có mặt ở hậu cứ. Màu xanh cây rừng
và hơi thở nồng ấm của dòng sông đã nhanh chóng hồi phục thể lực trong cái thân
hình ọp ẹp của anh. Chính vào cái nhức nhối khác ập đến. Cuộc tẩn công vừa rồi
đã bộc lộ gần trọn các lực lượng biệt động trong thành phố, nay thằng Xanh lại
điên cuồng dẫn lính đi triệt phá những cơ sở còn lại. Sự tổn thất đau xót đó
khiến cho một số người, ngay cả trong bộ phận chỉ huy, bắt buộc phải nhìn lại
những ngày trong tù của anh. Và quyền đội trưởng đội biệt động của anh bây giờ
là một cán bộ đứng tuổi tạm bổ sung từ bên quân báo sang. Buồn, anh treo võng
suốt ngày thở khói thuốc rê vào vòm lá. Một mình sống sót trở về, biết ai làm
chứng cho bây giờ. Một chiều nước lớn, chú Tư Thanh tìm đến lán của anh và như
những ngày xưa, chú chân tình tâm sự với anh tới tận lúc con nước bắt đầu ròng.
Chú buồn bực báo rằng dưới đó độ rày chúng kiểm soát gắt gao quá, để làm ăn
nhưng không lọt, nhiều người đã không trở về. Không thể ngờ thằng Xanh lại phát
huy được bản chất xấu xa của nó đến cao độ như vậy. Trong thành đã lâu lắm rồi
không còn nghe được một tiếng nổ lớn nào nữa. Bà con thất vọng, kẻ thù càng được
dịp tuyên truyền khoác lác. Chú nói bằng giá nào cũng phải tạo nên một tiếng nổ
ra trò. Rất có thể lần này, chính chú sẽ đi thử một chuyến. Ngồi trong rừng
hoài, đau đầu. Nghe vậy Xuân chồm dậy.
- Chú còn tin ở tôi không?
-Tin chớ!
-Tại sao các chú lại xử tệ với tôi như vậy?
Đừng nóng. Nguyên tắc là nguyên tác. Làm cách mạng là phải có
gan chịu sự chi phối nguyên tắc cách mạng. Nguyên tắc đó có khi thuận, có khi
nghịch, người thực sự là cách mạng phải biết vượt lên trên nó. Đừng vội vì một
chút cái thuận, cái nghịch đó mà hí hửng hay kêu rên. Bản lãnh thằng lính biệt
động cũng là ở chỗ đó. Trong cuộc đời nhiều khi cũng nên chịu sự vấp váp nhọc
nhằn một chút, con người sẽ chững chạc lên. Cái gì cũng thuận cả có khi hỏng
người. Nhất là những lúc gian nan, ai cũng đầy áp những tâm tư như thế này. Cứ
tạm nghỉ ngơi đi! Kẻ thù còn đó, cậu còn dư thời gian chứng minh lòng dạ của
mình. Có một điều: cậu không được nghĩ tụi mình đánh đồng cậu với thằng Xanh
nghe! Một bài học đau xót cho tất cả chúng ta. Chúng ta còn dốt quá! Vùi đầu
vào đánh giặc, ta chỉ thông thạo quy luật chiến tranh mà ngây thơ về quy luật
tình cảm con người.
Thôi nhé! Mắc võng thấp xuống cho đỡ kích.
Xuân đốt thuốc liên miên để mặc cho cái chân xương xẩu của
chú Tư đặt ngoéo lên bụng mình... Không chờ cho trời sáng, cùng với tiếng chim
kêu, anh lay người tư lệnh phó dậy.
- Tôi nghĩ kĩ rồi chú Tư. Để cho tôi đi. Tôi sẽ có cách đối
phó với chúng nó, với tâm địa của thằng Xanh. Tôi sẽ gây được tiếng nổ. Xin chú
nói với Bộ hãy giao việc cho tôi. Nguyên tắc cao nhất lúc này là gây được tiếng
nổ vô sọ chúng nó. Đảng có thể còn nghi ngờ tôi nhưng Đảng đừng bắt tôi ngồi
không. Bằng chính cuộc sống của tôi và của vợ con tôi, tôi xin đảm bảo với Đảng.
- Có tin gì của má con nó không? Chú Tư trầm ngâm hỏi.
-Nghe nói nhà cũ bị bom phá hư, bây giờ chuyển đi đâu không
rõ. Không hiểu có bị bắt bớ giết chóc gì không? Mà thôi, đừng tính tới chuyện
đó nữa. Gặp vợ con lúc này đâu có lợi. Để làm ăn cho được một trận rồi tính.
Chú Tư cũng ngồi dậy, nhìn mãi ra cái vạt lau mọc cô đơn bên sông.
Trở về chỗ ngồi, lòng dạ anh cứ rối bời như thế. Đến nỗi mấy
bà, mấy cô bạn hàng phải nháy nhau chăm chú nhìn. Sao vậy cà? Chắc lại bị thằng
khốn nào đó lừa rồi. Thiệt khổ! Con người hiền lành tốt bụng thế cũng không ở
yên được với cái thời buổi này. Hay là bị móc túi? Họ chép lưỡi, thở dài nhìn
anh thương cảm. Chợt bắt gặp những cái nhìn đó, anh vội rảo bước, trên môi lại
thoáng hiện một cái cười ngờ nghệch.
Tới bên bà, má bán bánh trôi nước, anh nói lí nhí:
- Má cho tôi xin lại mấy bó thuốc. Có ổ bánh mì, má mang về
cho thằng nhỏ ăn chơi.
Bà má níu anh ngồi xuống.
- Cám ơn chú! Bữa nào gặp là cũng quà bánh. Chú ngồi xuống ăn
chén bánh rồi đi.
-Dạ, tui ăn hết nổi rồi. Cái bụng nó nhỏ, đĩa cơm nó lớn mà.
-Nè chú! - Bà má nhìn anh sang bên kia đường, nói nhỏ - Tôi
không biết chú ngay hay gian nhưng từ lúc chú đi đến giờ, có mấy người ngồi ở
tiệm cà phê bên kia đường cứ ngó lom lom sang. Ráng cẩn thận nghe!
Một chút nữa thì anh quay phát đầu nhìn lại đằng sau.
- Ráng cẩn thận nghe chú! Bà má lại dặn - Tôi cũng không biết
họ là loại người nào nhưng giữ mình vẫn hơn. ôi chao! Tháng trước cũng ở chợ
này, họ dẫn qua một người nói là Việt cộng hay phá hoại gì đó, máu me đày mặt.
-Cám ơn má. Nhưng không sao đâu má - Anh đứng dậy vươn vai
nói to. Bánh của má ngon, muốn ăn nhiều. Nhưng tui phải đi đây. Nhớ cái nhà, nhớ
con vợ nhiều hơn.
Nói xong, anh xoay lưng bước thấp bước cao đi dọc chợ, cái
tay nải đập đập vào tấm lưng ố nhòe mồ hôi.
- Mua kí lô bánh về làm quà cho sắp nhỏ ông thầy ơi!
-Vải bền lắm. Mua ít thước về làm quà cho bà xã ở nhà đi.
- Thứ nón nỉ này rẻ lắm chú.
Anh chỉ dạ dạ đáp lại lời mời chào của những người bán hàng
mà không dừng lại. Giả đò cúi xuống thát lại nút tay nải, rõ ràng anh nhìn thấy
có những con mắt người, có những con mắt kính đang bám nhằng theo mình thật. Chẳng
lẽ chúng nó lại phát hiện ra? Mình có để xảy ra điều gì sơ suất không? Hay là lại
thằng Xanh? Thằng Xanh... Đáng nhẽ anh phải bóp chết con chó ghẻ ấy khi bất ngờ
đụng nó ở chợ. Phải chăng... Bao nhiêu câu hỏi quay lộn trong đầu anh. Đến một
đám đông xúm quanh một người đang nuốt kiếm, anh lách nhẹ vào và lợi dụng những
cái đầu đang ngó nghiêng, phóng mắt nhìn trở lại. Từ trong tiệm cà phê bên kia đường,
có hai gã đàn ông nhao ra, nhớn nhác nhìn về phía anh.
Lộ thật rồi! Thế có khốn nạn không? Anh lặng người. Biết chắc
hai gã đàn ông đang đi nhanh lại phía mình, anh khéo léo chen sát vòng người
trong cùng và ngồi thụp xuống tỏ vẻ thích thú tột độ khi nhìn lưỡi kiếm sáng
loáng đang từng nấc chui tụt vào bụng người mãi võ. Chờ cho tiếng hò reo tán
thưởng vang lên, anh lết sang phía đối diện, bên kia vòng người và lách luôn ra
ngoài. Chắc chúng nó đang tìm ở chỗ cũ! Anh đi thẳng vào chợ.
Sự việc này khiến anh thay đổi kế hoạch. Gấp rồi, không cần
trinh sát lại mục tiêu nữa. Sáng mai gặp chú Tư, anh đề nghị cho đánh ngay.
Đành phải đánh trước ngày lễ kỉ niệm “Một năm ngày chiến thắng Mậu Thân” của
chúng nó. Cứ đánh theo phương án đó. Lúc này mà còn chần chừ là đổ bể hết.
Ngồi trên chiếc xe lam chật ních người xuôi về Sài Gòn, anh cứ
trừng trừng nhìn xuống mặt xa lộ, quên cả hiện trạng của mình. Anh không thể
hay biết rằng, trong cái đám người lố nhố ngồi ăn bưởi ở ngã tư Hàng Xanh có một
kẻ vụt đứng dậy trèo lên Hon đa, nổ mấy bon theo.
Sao bây giờ hè? Anh vẫn loay hoay chưa quyết được. Có thể nhảy
xe ở Ngã Bảy lên Lái Thiêu nghỉ tạm đêm nay rồi sớm mai, nếu yên ổn được đến chỗ
hẹn. Nhưng... Còn thằng nhỏ và người mẹ ấy? Thằng bé bị sưng phổi! Anh đã nhận
lời với má nó tối nay quay lại nhà cho thuốc lần cuối. Trời! Cái thân hình nhỏ
nhoi nóng hầm hập... Tiếng ho non nớt đến não ruột... Anh cần phải quay lại! Bằng
giá nào cũng phải quay lại. Biết đâu ngày mai... Anh mềm người ra. Thế là đáng
nhẽ phải xuống ở ngã Bảy, anh lại xuống luôn ở đầu đường Phan Thanh Giản, sau
khi biết chắc không có ai bám theo mình. Nhưng kẻ thù khôn khéo không để rớt mục
tiêu. Nó đang đậu ở cây sáng cách đó không xa.
Đáng nhẽ anh không nên đến đây. Không nên đến ngôi nhà này.
Đêm qua anh đã tự vượt được mình, còn đêm nay? Anh không biết.
Anh không muốn biết. Đáng nhẽ trưa nay trong tiệm ăn, anh phải thú thật tất cả
với chú Tư. Nhưng anh đã im lặng, đúng hơn là cần phải im lặng. Anh không muốn
cấp trên thêm nghi ngờ nọ kia. Im lặng đến đây và bây giờ im lặng lãnh đủ những
giằng xé tưởng không chịu đựng nổi.
Gian bên, chỉ cách một tấm vách mỏng ghép bằng vỏ đồ hộp, chị
vẫn bế con đi lại lặng lẽ. Thằng bé đã đỡ nhiều, tuy vậy gian nhà hầm hập nóng
cũng khiến nó ọ ẹ thức giấc luôn. Ngoài đường, xe hủ tiếu bán muộn nhất đã lọc
cọc đẩy về nhà. Thỉnh thoảng một chiếc xe quân sự phóng vút qua hoặc tiếng giầy
của lính quân cảnh gõ uể oải trên mặt đường. Đèn pha từ quân cảng quét những lưỡi
sáng dai dẳng lên bầu trời, liếm qua những kẽ hở vào trong phòng loang loáng.
Ngột ngạt. Mỗi làn xe rền bánh, đứa bé lại bật khóc. Tiếng chân người mẹ bước
nhanh hơn. Đứa bé lịm dàn trong tiếng ru dịu ngọt...
-... À ơi... Cha con đánh giặc phương nào - Nắng mưa bao bận
mẹ thao thức chờ... À ơi!
Lời ru quấn chặt lấy ngực anh xiết mạnh. Anh vùi đầu xuống
chiếu. Tiếng ru vẫn lan tỏa vô tình.
-... Ngày ngày ra đứng bờ bưng - Nhìn sông sông chảy, nhìn rừng
rừng xa...
Anh lật người trở lại. vết đòn tra cũ trên đầu nhức ong ong.
Không có gì đâu. Không sao đâu. Trở trời đó thôi. Anh tự nhủ và cố nhám nghiền
mát lại. Nhưng mí mắt cay sè.
-... Bao giờ con biết gọi cha - Bao giờ con biết ba ơi ba về...
À à. Ngủ đi con. Ngủ ngoan đi con. Má thương! Má thương con nhiều mà. Sớm mai
má mua cháo nè! Mua kẹo nè! Mua bánh nè! Mua thật nhiều thứ cho con ăn. Ăn no
mau lớn, ba về...
Tiếng nói của bà mẹ khoan sâu vào lòng anh. Lại như cơn gió lớn
thổi đầu óc anh bay lên chơi vơi. Bằng giấc ngủ, anh cố xua đi những vùng hồi ức
ủ dấm trong người từ lâu cứ dồn dập hiện về, rõ nét...
... Chiếc xe chở thuốc nổ lừ lừ áp sát vào tòa nhà đang tỏa
ra ánh đèn trắng lóa. Ngồi trước tay lái, anh hất đầu ra hiệu. Hoàng Xanh với bộ
rằn ri lính dù, bật người đứng thẳng trên thành xe lia những loạt tiểu liên
ngán. Bóng những thằng Mỹ to cao đứng trước cổng tòa nhà rạp xuống. Anh giật nụ
xòe, phóng người nhào xuống đường. Đạn găm chiu chiu xung quanh. Chiếc xe vẫn lừ
lừ tiến đến như con trâu say. Xanh vừa lùi vừa nhả đạn, miệng cười tươi. Bóng
Xanh đã khuất ở đầu phố. Thoát! Men theo những gốc cây, anh chạy mang theo nỗi
chờ đợi đến mụ người. Một tiếng sét giáng xuống kinh hoàng. Vỡ đổ ầm àm. Anh bị
bốc lên cao, rồi quật mạnh xuống đất. Nổ rồi! Trời! cả trăm thằng chứ ít đâu.
Vùng dậy. Một thân xác nặng nề chồm lên. Khét nồng. Tiếng còi rú lộng óc. Khói
cay sộc vào mũi. Vùng dậy. Hai bóng đen từ phía trước bổ tới. Lẩy cò. Một bóng
không động đậy, một bóng tạt vào vườn hoa. Chát! bả vai trái anh sả xuống. Máu
trườn xuống đầu ngón tây buồn buồn, ủa! Xanh đâu rồi? Phải yểm trợ cho mình chứ.
Cụp cụp! cốp cốp! Một đám đen ngòm đang ào tới phía sau. Cắc! Bỏ mẹ, hết đạn!
Anh móc từ ngực ra khối sắt hình cầu lạnh buốt. Reng! Chốt an toàn bung ra,
trái tạc đạn bay tới. Lửa bùng lên. Đám đen vợi đi. Tiếng rên la rống rít trộn
vào tiếng xi măng gạch ngói rơi vỡ. Anh đã thoát ra ngoài quầng sáng lửa. Máu vẫn
trờn xuống, cửa mở! Một bàn tay mềm ấm kéo tuột anh vào nhà. “Má ơi! Má đừng đuổi
người này đi. Anh đang bị thương... Ảnh vừa phá sập nhà hàng sĩ quan Mỹ đó”. Giọng
ai? Im lặng. Mái tóc bạc lung lay. Bàn tay già nua lẩy bấy gài then cửa. Bàn
tay mềm dìu anh vào phòng. Anh đã nằm trên giường mùi chăn chiếu thơm nồng. Tiếng
màn buông sột soạt. Tiếng thở mạnh ở mép giường “Ráng nằm im nghe anh. Chịu đau
đừng rên. Chút nữa em băng cho” Giọng ai? Im ắng... Đế giầy đảo ngược xuôi
trong ngõ. Ánh đèn pin bấm xeo xéo, xanh lét rờn rợn. Đế giầy dừng lại nặng nề
“Mở cửa! Mở cửa! cho xét nhà”. Thân hình ai mềm mại nép sát vào anh. Hơi thở
nóng ran trong tấm đáp. Nhà ngoài bàn ghế xô nhau. “Bà có thấy ai chạy vô đây
không? Hả? Xét nhà!” cửa phòng bật tung. “Ai nằm trong mùng kia?” Có ai đâu,
con nhỏ con tôi”’ “Sao lại có hai người? “Dạ, thằng chồng nó đi lính dù về
phép”. Giọt đèn dừng lại trong màn xăm xoi nóng như giọt thép. Cánh tay mềm ghì
chặt lấy anh. Nín thở... Nếu mày hất chăn ra... Anh nghĩ đến những cú đẩm, cú đạp.
“Lính dù à? Má nó! Thằng thì lộn ngược lộn xuôi, thằng thì ôm vợ. MẹiCũng là kiếp
lính. Thôi đi! Đừng nói lạp xạp mày. Đừng có dính vào mấy thằng lính dù mà dại.
Đi! Đi sang nhà khác” Lặng tờ... Cánh tay mềm luống cuống rời ra. Nửa đêm về
sáng, bà má gói cho anh hai ổ bánh mì, cô gái đưa anh bằng lối tát ra sân banh.
Anh nhìn cô không nói...
-... Bao nhiêu cái lạ cái quen Anh mang đi hết còn em một
mình...
Tiếng ru của người mẹ chìm đi trong đêm tối như một lời tâm sự
không thể không nói ra. Đứa bé đã ngủ rồi mà sao chị vẫn còn ru? Có phải anh đó
không? Sao anh không nói! Người dưng nước lã có thể lầm nhưng đã là chồng là vợ
thì sao có thể lầm được anh. Sao anh im lặng. Anh sợ má con em làm hư công chuyện
của anh sao? Anh nhẫn tâm quá! Người mẹ ôm con ngồi nhẹ xuống giường...
... Sau lần ấy, ba tháng sau anh mới trở lại. Chị không nhận
ra anh trong bộ điệu một chủ tiệm may, chủ tiệm đồng hồ nào đó nữa. Anh đã khỏi
đau chưa? Đêm ấy em lo quá! -Anh cười. Chỉ có nụ cười là giống như cũ thôi. Em
ưa nhìn anh khi cười. Anh có hàm răng đều và đẹp - Sau này chị nói thế. Lúc đó
chị chỉ mở to mắt nhìn anh. Em tên gì? đêm ấy anh lú lẫn quên cả hỏi tên. Chẳng
may chết đi thì hối cả đời - Chết rồi còn biết hối gì nữa -Em tên gì? Hỏi má ấy
- Má ơi! Cô ấy khi con quá! - ôi! Con nhỏ... Nó tên Nhàn, Thanh Nhàn. Tao đẻ nó
ra ở Thanh Nhàn tận ngoài Hà Nội kia, mày không biết đâu - ủa! Má quê ngoài đó
má? Hèn chi... - Mày bảo cái gì hèn chi? - Dạ! Là con thấy dáng đi dáng đứng, lời
ăn tiếng nói của cô cứ... cứ nhẹ như không hà - Ý. Đừng nghe anh nói xạo má ơi
- Đừng nghe anh nịnh má ơi. Rồi! tôi không nịnh nữa. Vậy sao má vô đây? Thằng hỏi
gì kì. Đói thì vô mần ăn chứ sao. Trước tao ở Dầu Tiếng kia, ông già nó bị mủ
cao su ăn lõm xương nằm xuống. Buồn quá! Tao dọn về đây sinh sống qua ngày. Hai
đứa bây ngồi đó đi. Tao đi kiếm cái gì cho mà ăn. Cô gái cúi mặt xuống - Nhàn
có đi chợ giúp má không? - Em đi học - ủa! Nhà vậy vẫn đi học được sao? - Má
thương em lắm. Má không muốn em sau này vất vả như má - Nhàn học mấy rồi? - Em
đang học văn khoa. Ý mà em học dốt lắm, anh Xuân hỏi mác cỡ chết! - Đêm ấy Nhàn
có sợ không? - Sợ! - Sợ tại sao Nhàn cứu tôi? - Trước kia ba em cũng giấu một
chú Việt minh trong nhà... vả lại... Trong một đám đánh lộn, thấy người thân cô
thế cô, ai chẳng thương! Tự nhiên thôi. Cái gì cũng phân tích, cũng cắt nghĩa
thì đêm ấy anh bị với chúng rồi.
Anh nhìn chị rất lâu. Mình vẫn còn nhớ như in cô gái trong
bóng tối nhập nhoạng hôm đó. Cánh tay mềm ấm vòng qua cổ... Cô ấy có còn nhớ một
chút nào không? Hiểu được cái nhìn của anh, cô gái thoát đỏ mặt.
-Anh nhìn gì em mà nhìn dữ vậy? Nhàn! Tôi muốn chúng ta hiểu
nhau hơn. Không! Xin lỗi, tôi không muốn nói cái ý ấy. Tôi... Tôi muốn Nhàn
giúp chúng tôi làm một cái gì đó chẳng hạn... Giúp đỡ cách mạng ư? Cô gái thảng
thốt và bất giác ngước nhìn lên bàn thờ. Trên ấy khói hương đang tỏa ra thơm
thoảng. Cô ấy theo đạo! Anh tự nhủ và thôi không nói tiếp nữa.
Sau đó thỉnh thoảng anh ghé thăm cô. Lúc trong nhà, lúc ngoài
đường. Khi đóng giả người này, khi đóng giả người khác. Và thật tức cười! Chính
vào cái lúc cô hồi hộp chờ cái điều anh chàng đạp xích lô máy, mũ phớt chùm hụp,
chiếc quàn soóc lửng để hở ra hai đầu gối bánh chè đen cháy. Anh nói anh sắp đi
xa, đi học tập cái gì đó tận miệt biên giới. Và trước lúc đi. Nhàn ơi! Anh muốn...
Thế là, giữa buổi trưa nắng gắt, anh chàng đạp xích lô máy ấy, trong tiếng nổ ầm
ầm và khói um, lần đầu tiên nói thật lòng mình với cô sinh viên thanh tú vận áo
dài trắng ngồi đằng trước.
Điều đó đến, cô không lấy làm lạ. Cũng bởi lẽ, ngay sau cái
đêm kì lạ đó, cô đã run rảy chờ đợi nó rồi. Lần đầu tiên ôm một người đàn ông
trong tay, lần đầu tiên tiếp xúc với một hơi ẩm xa lạ, lần đầu tiên... Và những
giọt máu ấy, những giọt máu thẩm ra chiếc áo bà ba của cô mà cô đã cất kĩ đi, cất
kĩ cho sau này, cất kĩ suốt đời.
Nhưng một chuyện khác cùng đến khiến cho cô ngỡ ngàng. Bằng
những câu nói vội trong những lần gặp cũng rất vội, và bằng chính tấm lòng chân
thành, mộc mạc của mình, anh đã lộn xộn kể cho cô nghe về những trận đánh, về đồng
đội và về cuộc sống trong rừng. Anh nói những nỗi buồn vui, những ước mơ và nói
cả những lần cắn răng lại mà sống... Được trớn, anh nói luôn về cách mạng, về kẻ
thù, về nền văn hóa đô thị hiện nay, về ý hướng thanh niên lúc này cài gì là
thiết yếu và về trăm ngàn thứ khác mà hình như đã một lần lâu lắm, cô đã được
ai nói cho nghe. Anh diễn đạt khó nhọc, có khi nổi nóng, có khi tắc lại giữa chừng
nhưng cô hiểu cả. Cô chỉ cần được nghe anh nói. Lời nói vụng nhưng chân thật
bao giờ cũng có sức thuyết phục. Anh đã cố thuyết phục cô bắng chính cuộc đời
gian truân của anh, nên cô tin.
Cuối cùng anh lại đề nghị cô giúp một vài việc. Lần này cô
không ngước lên nhìn bàn thờ nữa, mặc dù nhang khói má vẫn không quên tháp suốt
đêm ngày. Thế là cùng một lần ấy, giữa đường phố đầy đồng phục cảnh sát, cô đã
nhận lời anh. cả hai điều đều hết sức can hệ đến cuộc đời.
Đó là vào những ngày Mỹ bắt đầu đổ quân ồ ạt vào miền Nam.
Cùng với những trận đánh tới tấp của đồng đội anh, cô vẫn ngày ngày đến học đường,
nhưng trong cái cặp da xinh xinh của cô, thỉnh thoảng lại có một ít truyền đơn,
một ít tài liệu tin tức do chính cô thu lượm được khi qua lại những mục tiêu
các anh cần. Cô vui lắm! Bỗng thấy mỗi ngày trôi qua có ý nghĩa hẳn lên. Cô
hăng say lao vào các cuộc hội thảo, xuống đường, làm báo bí mật. Cô mường tượng
mình như là nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết lãng mạn vào đó đang xả
thân cho tình yên và sự thật. Cô đã được gặp chị phụ trách tổng hội sinh viên.
Con người ăn nói mới rắn rỏi làm sao. Cô muốn được như chị. Cô cũng đôi bận được
đưa đón mấy chú ở ngoài vào, ở trong ra. Chị phụ trách nói cô ráng đừng để lộ mặt
còn hoạt động lâu dài. Cô nghe lời. Cô muốn làm được thật nhiều việc, những việc
thật kì lạ nữa để khi anh về có chuyện nói với anh. Anh đi xa đã quá nửa mùa
khô rồi. Đêm nào cô cũng nghĩ đến anh như nghĩ đến những điều ngọt ngào nhất.
Giờ này anh ở đâu? Anh có biết không, em không muốn đi học nữa.
Cũng không muốn hoạt động dấm dúi thế này mãi. Không phải em thích đánh nhau
đâu, man rợ lắm. Nhưng em muốn được như anh, ở sát cạnh anh trong những trận
đánh. Chết em không sợ, bị thương, bị bắt em cũng chẳng run. Em chỉ sợ sự lẻ
loi. Soi vào anh em muốn tự hiểu mình. Anh Xuân!
Em yêu anh! Yêu ngay từ ngày đầu gặp anh. Em muốn hòa tan vào
anh. Muốn anh nhỏ lại, thật nhỏ để cho em được bế được bồng, được hoàn toàn độc
quyền anh. Nếu không, chính em sẽ bé tí xíu để anh phải chiều em, phải chịu đựng
những nhõng nhẽo triên miên cúa em.
Vắng anh, cô gái mới yêu làn đầu cứ thì thầm đêm đêm như thế.
Cũng có khi, cô đã phạm phải hai điều sai làm như hàng ngàn điều sai lầm khác
mà tuổi trẻ thường phạm phải. Lần thứ nhất cô đã nhảy ra tranh cãi quyết liệt với
viên hiệu trưởng khi hắn đang thao thao phủ nhận vai trò của những người Việt
minh trong kháng chiến chín năm. Viên hiệu trưởng ngớ ra ngồi im lặng. Nhưng
cái máy ảnh nhỏ xíu trên tay một sinh viên ăn lương của Tổng nha đã chớp. Lần
thứ hai, cô leo tuốt lên sân thượng tung truyền đơn giữa giờ ra chơi. Truyền
đơn bay rất đẹp nhưng cô đã tự bộc lộ mình ở tầng cao đó. Trong khi sở mật vụ
đang lập hồ sơ để theo dõi cô sinh viên có học lực ưu tú đó thì cô được tổ chức
cho tạm lánh. Một đêm thao thức không ngủ. Sáng hôm sau cô xin phép má đi thăm
một nhà chị em có đám tang ở tỉnh xa. Má gật đầu gói gém quần áo cho con gái.
Cô gái cắn chặt môi. Khi lên xe rồi mới bật khóc nức nở. Má ơi! Má thương con,
má đừng giận con. Nếu con nói thiệt má chẳng nghe đâu. Má chỉ rầy con học hành
vừa vừa kẻo độ này ốm quá. Tuần nào má cũng đi chùa, một con sâu, con kiến má
cũng không nỡ hại, một lời nói dối má cũng chẳng phạm bao giờ.Má thường dạy con
như thế. Và cô gái cứ khóc sướt mướt theo đường như đi dự đám tang thật.
Xe dừng. Núi Thị vải mờ mờ hiện ra cùng với những đám mây
trôi lênh đênh ra biển.
Những ngày ở hậu cứ là những ngày hết sức mới mẻ đối với cô.
Không ngờ dãy núi âm u nhìn xa như muôn đời hoang vắng này lại có một thế giới
người. Những con người mặc một màu áo, mang một màu da như nhau. Những con người
xa lạ khi thoạt gặp nhưng lại ấm áp gần gũi chỉ sau ba đôi câu chuyện trò. Dần
dần tất cả những điều rối rắm anh kể được hiển hiện ra trước con mắt ngỡ ngàng
của cô. Họ đấy! Những con người cách mạng thật sự đấy. Chú Tư ơi! Tất cả đây đều
là Việt cộng sao? - Thì cháu cũng là Việt cộng từ lâu rồi đó thôi. Cô gái chóp
chóp mắt. ôi! Còn anh? Anh đã trở lại Thành chưa hay vẫn còn ở trên miệt rừng
xanh nước độc? Liệu anh có biết mình đang ở đây không?
Nhưng những phút lắng qua rất nhanh. Cuộc sống khấn trương ở
hậu cứ cuốn cô đi. Lần đầu tiên cô gái con nhà theo đạo ấy ăn cơm chỗ đông người,
hát bài ca cách mạng và họp hành phát biểu tối ngày mà không sợ ai ghi tên, ai
chụp ảnh. Tuy phải một cái bực nhất là người nào cũng che mặt chỉ được hé mỗi
con mắt. Anh nào đó phát biểu trúng quá nhưng chẳng hiểu già hay trẻ? Chị ngồi
kia ngâm thơ tiền chiến ấm thiệt nhưng ngoài cái thân hình nhỏ thó ra, còn lại
chẳng biết một tí gì. Rồi đến bữa, cũng có người mang cơm đến từng lán, im lặng.
Hết ngày về lan riêng của mình được bỏ mạng ra nhưng trời cũng vừa sụp tối.
Nhưng vẫn vui. Hai tháng trời trôi vụt qua lúc nào không hay. Đêm trong rừng
hơi lạnh. Gió lao xao bất tận. Cô ao ước được gặp lại anh. Em bây giờ khá lắm rồi
nghe anh! Em hiểu ra nhiều điều lắm, anh không biết đâu. Nếu chịu khó, anh cứ
ngồi cả ngày nghe em diễn giải cũng không hết. Cứ gọi là lé mắt.
Tháng cuối cùng theo lời năn nỉ từ đầu, cô và vài người nữa
được chuyển qua học khóa quân sự binh chủng đặc biệt. Kĩ thuật, chiến thuật làm
cô mệt nhoài nhưng khi được tập bắn súng, tập cải trang, tập võ thuật, sử dụng
dao găm, sử dụng các loại xe cơ giới, cô tỏ ra say mê và có năng khiếu thực sự.
Anh giáo viên có dáng người tàm thước,đôi mắt màu xám nhạt ló ra khỏi tấm mạng
tỏ ra rất hài lòng về cô học viên thông minh và táo báo của mình, chỉ phải cái
anh quá nghiêm khắc. Nếu ai làm sai cái gì, anh bắt làm đi làm lại bằng được mới
thôi, thỉnh thoảng lại còn bẳn gắt nữa. Ngoài giờ lên lóp, anh không bao giờ ngồi
lại trò chuyện với ai một câu, nhất là cô. Thảng hoặc lắm, vô tình cô mới bắt gặp
đôi mắt màu chì của anh hơi đăm chiêu nhìn mình. Tức cười thiệt!Sao mấy anh ở
đây, anh nào cũng có đôi mắt na ná nhau. Xanh xanh, xám xám phảng phất màu lá rừng.Buổi
trưa váng lặng, soi mình dưới suối, cô bỗng giật mình. Trời đất! Mới vài chục
ngày mà trông cô béo trắng hẳn ra. Cơm ăn toàn với rau rừng, tươi lầm thì được
dăm ba miếng thịt thú vậy mà bữa nào cô cũng xới đều đề ba, bốn bát. Mai mốt
xong việc trở về, liệu má có nhận ra mình nữa không? cô nôn nao cả người.
Một buổi trưa, thật là bất ngờ, người giáo viên ít nói, lặng
lẽ ngồi xuống thân cây đổ cạnh cô. Anh hỏi mà mát nhìn ra sông - Học xong, chị
có thích trở lại Thành không? Có chớ! không vô thì học làm gì anh...à thủ trưởng!-
Đừng! Gọi anh nghe thích hơn. Cô học giỏi lắm. Giá cô taappj trung hơn thì còn
khá nữa - Dạ! tôi hứa sẽ không phân tán - Này cô, tôi tôi... Anh dừng ngay lời,
đôi mắt mở to nhìn thẳng vào cô đến nỗi, dưới ánh nắng rung rinh dệt qua kẽ lá,
cô thấy bóng mình trong đó. Bất giác cô hơi nhích người ra. Anh nói nhẹ như thở
- Còn mấy ngày nữa là hết khóa học. Chúng ta sắp phải chia tay nhau. Tôi muốn
nói...Anh lại ngập ngừng và như bực với chính mình, anh đứng dậy bỏ đi. TÙ buổi
trưa ấy, cô tránh nhìn thẳng vào ngươi giáo viên. Và tránh luôn những lần trò
chuyện tay đôi. Bằng linh cảm chẳng mấy khi sai của người con gái, cô muốn giúp
anh tránh được những lời anh sẽ nói ra mà dứt khoát cô không thể đáp ứng được,
Thật may cũng sau buổi trưa ấy, anh lại trở lại nghiêm nghị như xưa, thậm chí
không cả nhìn cô nữa, khiến cho cô gái ngỡ rằng, câu nói ngập ngừng khi đó
không phải của anh. Cô thấy mình như người có lỗi.
Đêm liên hoan baĩ khóa chỉ có lửa rừng cháy dưới tán cây và
sương rơi làm ướt mặt lá. Cô gái đứng giữa đồng đội hát về nỗi lòng người vợ có
chồng đi kháng chiến nơi xa. Bài hát quen thuộc mà ngày xưa thường hát, cũng
bowirvif mọi người cứ yêu cầu cô ca bài đó.
...Một chiều ra đứng bờ bưng Nhìn sông sông chảy, nhìn rừng rừng
xa Bao giờ con biết gọi ba Ọuê hương hết giặc thì ba mới về Giọng cô ấm và đầm.
Cái mạng che mặt càng làm cho giọng hát sâu hơn. Cô đã hát biết bao lần trong
những cuộc hội thảo, những đêm liên hoan nhưng cưa bao giờ cô cảm thấy mình hát
say sưa thế này. Phải chăng khung cảnh lãng mạn của núi rừng, của bao la không
gian đã nhập hồn vào câu hát. Ngày mai trở vào lòng địch, bao nhiêu điều rủi
ro, bao nhiêu điều may mắn sẽ chờ đợi cô và những đồng đội của cô? Đêm nay hãy
hát cho thả cửa, hát cho hết lòng. Lửa rừng pharleen vằng trán cô màu nắng sớm
mai tỉnh khiết hồng hào... Người ta đề nghị cô hát lại. Cô chối từ. Tiếng vỗ
tay thúc giục.Chỉ có một mình anh giáo viên binh chủng là ngồi im trong khoảng
tối.Nhưng ánh mắt anh lại sáng hơn lửa. Cô chợt thấy thương anh. Nếu hôm đó anh
nói hết câu đó thì, còn cách nào hơn nữa, cô bắt buộc sẽ phải làm cho anh buồn.
Cám ơn anh nhiều và cô lui về chỗ.
Khuya rồi mà cô không thể ngủ được. Trước lúc ra đi cứ thấy bồn
chồn khó tả. Ngày mai...Ngày mai... cô sắp thiếp đi thì thoảng nghe tiếng chân
người dẫm nhẹ lên lá khô.Ai vậy? cô nhổm dậy kêu to ngọn đèn... Từ cửa sổ,
không nói, chỉ có đôi mắt người thầy giáo chiếu thẳng vào. Bỗng nhiên cô thấy
khó chịu. Giá đừng lại đây có hơn không? Tôi sẽ kính trọng anh suốt đời. Hiểu
cái chau mày ấy, đôi mắt ngoài cửa sổ chơm chớp rồi lại như buổi trưa nào, anh
lẳng lặng quay đi.
Sáng hôm sau, trông số những người theo tiễn ra cửa rừng,
không thấy có anh. Một chút ngậm ngùi, thương thương nhưng trong người cô thấy
nhẹ nhõm.
Chú tư Thanh phó tư lệnh nắm chặt tay cô như dặn dò như người
cha dặn con gái đi làm ăn nơi xa. Cô bỗng trào nước mắt. Những ngày ở rừng đẹp
quá! Trôi nhanh như một giấc mơ. Liệu có một làn được trở lại với những đồng đội,
đồng chí ấm áp thương yêu như thế này nữa không? Chú Tư kín đáo bỏ vào tay cô một
phong thư nhỏ dán kín và bảo xuống tới chân núi hãy đọc. Hỏi thư của ai? Chú chỉ
mỉm cười.Cô thoáng nghĩ tới người giáo viên tận tụy. Sao lại thế được? khó nghĩ
quá nhưng không nỡ chối từ, cô cầm thư rồi chào chú ra đi.
Tới chân núi trời cũng vừa chập choạng tối. Trong khi chờ
giao liên đi bám đường, ngồi thả chân trong lòng suối, chợt nhớ, cô giở thư ra
đọc. Bức thư chỉ có mấy hàng chữ viết vội bằng bút bic.
Em!
Anh rất muốn tiễn em tới tận đường. Cũng như mấy tháng qua,
anh muốn nói thật với em tất cả. Nhưng đôi mắt của em, hay đúng hơn, lý tưởng của
chúng ta đã ngăn anh lại.
Anh không ngờ lại được sống bên em từng ấy ngày hạnh phúc nhất
của anh. không ngờ em mau trưởng thành như vậy. Hôm nay em đồng đội thực thụ của
anh rồi. Cầu mong cho cô nữ chiến sĩ biệt động gặp nhiều may mán trong công việc.
Công việc của chúng mình hiểm nghèo lắm. Ráng giữ gìn nghe em! Em về trước. Mấy
bữa nữa xong việc anh cũng sẽ về. Gặp nhau nói chuyện nhiều. Yêu em lắm!
Anh Xuân Đóithằng bé lại khóc rồi. Sao hôm nay xe quân sự
chúng nó đi lại nhiều thế này? Tự dưng, xót xa cho giấc ngủ của con, anh thèm
được nhảy ra giữa đường lia một loạt đạn vào những tiếng gầm rít kia. Tiếng ru
của người mẹ đã tắt lịm từ lâu nhưng anh vẫn nghe âm vang da diết trong đầu. Âm
vang xa xôi mà cứ gợi lên những kỷ niệm buồn vui của hai người. Ngực anh ngột
ngạt. Đáng lẽ anh không nên đến đây, không nên ở lại thế này. Anh rút cái gối
kê đầu áp chặt vào mặt. Nhưng rồi anh lại ngồi nhổm dậy, mắt mở thao láo nhìn
xuyên vào bóng tối. Trời! Nếu không có cuộc hẹn gặp sáng mai, không có cái mục
tiêu đã đeo đuổi cả tháng trời, không có sự đụng độ với bọn người lạ mặt trưa
nay và không có tiếng xe xích nghiến lên mặt đường ngoài kia, chắc anh đã lao
ra ghì chặt lấy con và không bao giờ rời ra nữa. Nhàn ơi! Anh mấp máy môi trong
bóng tối. Anh đâu có biết em ở đây, đâu có biết con đau ốm thế này. Vì công việc
anh không có quyền lộ diện với em. Vâng! Ngay cả với em, người vợ yêu thương nhất
đời mà anh đã bặt tin gần năm trời. Đừng ru nữa! Anh biết cả rồi. Đừng làm buốt
xé ruột gan anh. Anh không chịu nổi đâu. Ráng chờ anh thêm vài bữa nữa. Xong việc,
anh sẽ trở vè với má con em, sẽ... Anh gượng nhẹ ngả người nằm xuống. Và thay
vì cô ngủ, anh cố tập trung soát lại tât cả những chi tiêt trong phương án.
Không thẻ chần chờ được nữa đâu các đồng chí ơi! Có thể tôi bị lộ rồi. Thằng
Xanh có vẻ đã nhận ra tôi.Nó là một thằng láu cá và chịu suy nghĩ. Chậm ngày
nào là không ổn với nó ngày ấy đâu... ồ! Sao im lặng thế này? Con đã ngủ rồi
sao con? ừ, ngủ đi! Mai này hết giặc, ba về bù đắp lại cho con tất cả. Luống
suy nghĩ anh lại tản mạn bay ra khỏi những gì thuộc về trận đánh.
Ngoài này, dường như hiểu được nỗi khổ sở cưa anh, chị không
bê con đi lại nữa. Chị thay má thắp thêm một nén nhang lên bàn thờ rồi cũng khe
khẽ đi nằm. Cái giát giường cũ kêu lên một tiếng cót két. Tiếng mái tôn đã nghe
lộp độp tiếng mưa rơi. Trời Sài Gòn chợt nắng, chợt mưa. Thằng bé chóp chép miệng
đòi ăn trong giấc ngủ. Gió lạnh đập vào cửa đều đều. Hơi thở của nó phả vào cổ
chị ấm ran. Chị thở dài ôm chặt lấy con. Tội nghiệp con tôi! Người ấy đâu có phải
là ba con. Người ấy là dân bán thuốc nay đây mai đó, con khóc làm chi. Ba con
đâu có vô tình đến thế. Một nỗi giận dỗi bâng quơ trào lên dưng dưng mắt chị.
Không hiểu sao càng ngày chị càng nghĩ rằng người đó chính là anh. Nhìn tất cả
không phải là anh nhưng tách ra từng chi tiết thì lại là anh. Chị đã gửi gẩm tất
cả nỗi lòng vào tiếng ru con, đã nhiều lần tìm sâu trong mắt anh, đã nghe anh
nói, đã nhìn anh cười... Anh vẫn lúc gần lúc xa, khi mờ khi nhạt. Chập chờn. Giờ
đây chị biết anh cũng không ngủ. Lát lát lại thấy anh cựa mình, thấy anh đốt
thuốc hút khan. Sao anh không ngủ? Anh ngủ đi! Anh ngủ, em sẽ theo cái nét ngủ
mà nhận ra anh. Trong giấc ngủ anh cũng chép chép miệng giống con. Tiếng gáy của
anh đùng đục êm êm, em đã quen nghe lắm rồi. Và cả những câu nói mơ giấc gần
sáng nữa... Anh ngủ đi, ngủ đi!... Chỉ riêng mình em biết khi ngủ anh sẽ như thế
nào thôi. Nhưng người bán thuốc vẫn không ngủ. Tiếng hắng giọng đùng đục vẫn
đôi lúc vọng ra. Hay không phải là anh? Nước da anh màu bánh ít, phẳng phiu chứ
đâu có sàn sùi méo mó thế này? Anh bị chúng nó đày đi Côn Đảo kia mà. Gần đây
em lại nghe tin anh chết trong tù! Thực hư không hay, em chỉ biết ôm con khóc
hoài. Sao lại giống anh đến thê? Nhất là đôi mắt. Hay là anh thật? Chỉ anh mới
có ngón tay cụt đốt ấy thôi. Cho dù bàn tay này thô ráp đen đúa hơn nhiều. Anh
không chết và bây giờ vì đang theo đuổi công việc mà phải giấu mặt vợ con. Hay
là tù ngục đã bẻ gãy được ý chỉ anh. và chúng nó đã thả anh ra để đến nỗi nhục
nhã quá, anh phải giấu mặt với đời lam lũ kiếm sống qua ngày. Hay là... Không!
Dù thế nào đi nữa, vinh hay nhục, em vẫn là vợ anh, vẫn là, như anh nói, nơi ẩn
trú cuối cùng của đời anh.
Chập tối chị có hỏi anh quê ở đâu? Anh nói xa lắm, tận Lâm Đồng,
ông thấy có vợ chưa? Chưa mà. Vậy sao ông thấy bế con nít rành vậy? Chữa bệnh
cho con nít nhiều, bế hoài nó quen đi. Chị lại hỏi sao ngón tay anh cụt? vô núi
kiếm thuốc, cái nọc con rắn hổ nó ngầm đó. Chị nhìn thẳng vào anh. Ba thằng nhỏ
này cũng có ngón tay cụt giống ông thầy, chẳng hiểu bây giờ ở đâu, còn sống hay
đã chết? Anh cười rộng miệng. Nếu tôi là bà bói tôi bị trúng liền. Nhưng mà con
người khó có chết được đó. Tôi nè! Hổ vồ, rắn cán, đạp mìn hoài hoài mà vẫn sống
nhăn như khỉ đó thôi. Chị hỏi nữa nhưng lòng không yên.
Suy nghĩ quấn quanh khiến chị dần dần thiếp đi. Bỗng chị lại
mở bừng mắt. Anh có một vết thẹo ở bắp tay phải, dài hai đốt ngón tay, màu nâu
sẫm, ở giữa lõm xuống một chút mà chị còn nhớ rất rõ. vết thương đêm ấy, cái
đêm mà chị đã giấu anh trên giường, đã rửa ráy băng bó cho anh và sau này, thỉnh
thoảng được ở bên nhau, chị lại cà má vào đó cho anh nhột. Chao ôi! Nếu người
đó để lộ bắp tay ra một chút thôi... Sáng mai, nhất định sáng mai...
Ngoài trời mưa vẫn đụng mái kém tinh tang. Mệt mỏi, chị lại dần
dần thiếp đi...
Bỗng cánh cửa mở tung. Một vệt sáng bay vào giống tia chóp.
Chị choàng dậy: trên khuôn cửa in rõ ba bóng đen lừng lững như từ trên trời rơi
xuống. Chị chưa kịp hiểu gì thì cả căn nhà đèn đóm đã được bật sáng trưng.
Lúc này họ đang ngồi trước mặt nhau.
Một bên trắng trẻo, vuông vắn và xanh xao. Bên kia, lem luốc,
xệch xoạc và ngơ ngác. Họ nhìn nhau. Cái nhìn của viên thiếu tá khoan xoáy lạnh
lùng. Ánh mắt người bán thuốc rong lúc xẫm lúc sáng, có chiều run rẩy. Tuy vậy
họ vẫn nhìn nhau... Thì ra cuối cùng rồi cũng là mày hả Xanh? Thú thật tao kinh
ngạc đó. Tao không còn nhận ra thằng Xanh mình trần cá trắm, hay nói hay cười
quanh năm chỉ độc một chiếc quàn xà lỏn sau cái vẻ ngoài hào nhoáng của mày nữa.
Chao! Mày nhìn tao mới khiếp chớ! Mày đang cố tìm cách móc ruột, móc gan tao ra
chứ gì. Hay là, cũng có thể lắm chứ, qua tao mày sống lại cả quãng đời trước của
mày? Buốt ruột quá! Không! Tao không buốt ruột vì cái đêm mày quyết định gỡ cửa
xà lim ấy, tao đã không bóp chết mày như bóp chết một con chó ghẻ đâu. Tao chỉ
xót xa sao tao lại có thể ngù ngờ mụ mị đến nỗi bây giờ để lọt vào tay mày. Lỡ
làng hết vì mày thôi Xanh a! Mắt anh lóe lên rồi dịu lại ngay.
Mí mắt thiếu tá Xanh hơi động đậy và như bị chói nắng, hắn
nhìn xuống một giây rồi lại nhướn lên. Không nhằm nhè gì đâu anh bạn ạ! Ghế anh
bạn còn cách xa bàn tôi lắm, đừng động đậy, mất công. Vă lại giữa chúng ta có một
cái bẫy ngâm đó, tất nhiên không nông lắm. Tôi biết! Nếu được thì bàn tay mất
ngón kia đã không tha cái cần cổ của tôi rồi. Là tôi, tôi cũng sẽ làm như vậy
thôi. Kẻ phản bội đáng băm vằm hơn ngàn lần kẻ thù đã có sẵn, phải vậy không?
Ai chà. Nhìn đi đâu thế kia? đây có phải rừng núi đâu mà làm bộ ngó nghinh đón
ánh mặt trời. Hắn cố tạo một cái cười khẩy để tự củng cố lòng tin rằng con người
xa lạ ngồi kia chính là Xuân, Đặng Đình Xuân, đội trưởng biệt động của hắn ngày
trước chứ không phải ai khác. Cười khẩy hình như chưa đủ, Hắn buột miệng luôn thành
lời:
-Cải trang được lắm đó anh Ba ạ! Nếu không phải là tôi, kẻ đã
cùng ăn cùng ở với anh chút ít thì chẳng còn ai nhận nổi.Tự nhận thấy giọng nói
của mình chưa được tự nhiên, hắn chìa hộp thuốc ra - Mời!
Xuân vẫn nhìn Xanh thầm lặng. Hắn bỗng chột dạ trước cái nhìn
thoáng vẻ xót xa ấy. Bỗng dưng hắn thấy mình nhỏ bé hắn đi. Hắn xẵng giọng.
Hút đi! hút rồi ta nói chuyện với nhau.
-Dạ!.. Tui không quen hút thuốc loại đó. Xin phép quan lớn...
Anh thọc tay vào túi áo. Xanh vội đứng dậy.
- Ngồi im! Bỏ tay ra!
Nhưng anh đã bình thản lôi ra túi thuốc rê cáu bẩn.
- Xin phép quan cho tôi hút cái thứ này. Buôn tôi trồng đó Hắn
ngồi xuống, mặt hơi sượng lại.
- Tôi không ngờ anh vẫn còn sống. Tất nhiên... Tất nhiên... Vâng!
Sau làn đó và ngay cả bây giờ có thể anh rất khi tôi. Đó là quyền của anh.
Nhưng tôi cũng có quyền của tôi. Quyền được tìm lôi đi riêng cho mình. Trên đời
có trăm ngả đường đi, hà cớ chi mà để mát đến nhau. Lẽ ra anh không nên trở lại
đây. Anh có tin không thì tùy, thú thật tôi không mong được gặp lại anh như thế
này. Vô duyên lắm! Mà theo tôi, tốt nhất hai ta không nên duyên nợ. Bởi vì, còn
cách nào khác, tôi với anh phải dàn mặt ăn thua đủ. Có lễ thế này: để dễ làm việc,
tôi yêu cầu ta quên hẳn chuyện cũ dằng dịt. Có thể tôi rất cởi mở, có thể tôi sẽ
rất hà khắc với anh. Điều đó phụ thuộc vào sự thông minh và biết điều của anh
đó. Còn mai đây, nếu do một sự vận động trái chiều nào đó của cuộc sống, tôi với
anh cùng ngồi chung trong một cơ chế, chúng ta sẽ lại uống rượu với nhau.
- Dạ!...Quan nói cái gì tôi nghe hổng có kịp - Anh trố mắt ra
- Dạ... uống rượu ạ?
- Kết lại thế này - Hắn không để ý đến câu lắp bắp của anh -
Tôi đã biết rẩt rõ anh là ai, biết ngay từ lần gặp thứ hai ở chợ (Chính ra tao
phải nhét đầu mày xuống cổng ngay hôm đó, anh nghĩ) và anh vô đây nhằm mục đích
gì. Tốt nhất anh cứ nói thiệt. Thiệt hết. Sự chân thành nhiều khi cứu được cả một
đời người. Tất nhiên...Tất nhiên. Tôi không muốn chế độ tù ngục đến với anh.
Trò kẻ nít hù kẻ non gan. ở anh, tôi kêu gọi sự từng trải.
-Từng trải như mày hả Xanh. Tao chỉ muốn đâm vỡ mồm mày ra,
cho mày biết thế nào là từng trải. Nhưng anh vẫn tròn mắt ngơ ngác.
-Từng trải ạ? Quan nói cái chi từng trải ạ? Tui...Tui...
-Anh uống chút rượu - Xanh vẫn làm ra vẻ như không nghe thấy
gì - Thứ rượu đề mà ngày trước chúng ta thường nhậu sáng đêm trong rừng.
-Rượu ạ! Dạ, cám ơn quan.
Anh lập cập nâng li rượu bằng cả hai tay uống cạn một hơi rồi
liếm mép, tỏ ý thòm thèm.
- Cứ uống! Anh tự rót, tùy ý. Tôi biết tửu lượng của anh quá
mà - Mắt hắn chóp sáng.
Mày muốn đổ rượu để làm mụ óc tao hả? Đâu có được! Mụ một lần
thôi chớ. Được! Đưa đây. Anh cầm cả chai tu ừng ực. Chỉ thấy cái cần cổ của anh
đưa lên hạ xuống và bong bóng rượu ùng ực lưng chừng chai. Còn lại một góc, anh
đặt xuống, quệt miệng cười.
- Khà... Rượu của quan ngon quá! - Anh ợ nhẹ một cái rồi bắt
đầu nấc cụt - Đâu ạ?
- Cái gì đâu?
-Người bệnh.
-Người bệnh nào?
-ơ!... Tưởng quan gọi tôi tới cắt thuốc cho người bệnh.
-Ba Xuân! - Hắn cười gằn - Đừng làm bộ vờ vịt nữa, mất thời
giờ lắm. ít nhất anh cũng hiểu tôi ở trong ruột các anh ra chớ. Những cái trò
con nít này bịa đặt ra mệt lắm. Đừng đóng kịch. Tốt cho anh và tốt cả cho tôi.
Anh cũng biết: thằng người sinh ra đời không thú vị gì mà hức đầu vào những trò
vớ vẩn thế này. Cái gì cần làm thì làm cho xong, như một thú thủ tục ở đời, rồi
còn lo việc khác lâu dài thiết thực hơn.
-Thì ra sự phản bội về nhân cách của mày cũng là một thứ thủ
tục đó sao? Xuân không muốn nghe hắn nói nữa. Anh sợ rằng, nghe thêm mấy tiếng
nữa, anh sẽ không còn giữ được bình tĩnh. Người anh bỗng rũ xuống, mắt lờ đờ.
Phải vậy thôi. Cũng phải ý thức ra một chút chứ. Xanh thầm
nghĩ. Nó bắt đầu tàn tạ giống như mình ngày xưa. Đúng là cái luật đời không áp
dụng cho riêng ai. Cái chính là phải hiểu được chiều sâu bên trong của con mồi.
Hét lác, khảo tra với loại này thì chỉ thêm lố bịch. Hắn nhìn đồng hồ. Mười
phút nữa thiếu tướng và ngài cố vấn nội vụ Giôn sẽ tới. Cần phải đạt được kết
quả tốt trước khi các ngài đó có mặt. Kết quả một lần này nữa thôi, và sau
đó... Cũng lạ! Hắn đã thực sự cHắn ngấy những cảnh này và bao giờ cũng mong chấm
dứt nhanh cho rồi. Ấy vậy mà mỗi khi vào việc, hắn lại cảm thấy say. Cái thằng
người hiếu thắng và vụ lợi trong hắn chồm lên không để hắn yên. Lúc đó, hắn
điên cuồng muốn được chế ngự đối phương bằng bất cứ giá nào để rồi sau đó cái
thằng người thật trong hắn lại trở về sự rỗng roãng thường ngày. Riêng lần này,
hắn muốn làm thật tốt, thật hoàn chỉnh và sau đó có cớ để... Gút Bai ráo trọi.
Còn ý định leo cao, thoát mọi công việc tẻ nhạt này ư? Hắn đã từ bỏ nó rồi. Nó
sẽ không bao giờ xảy ra với hắn, một kẻ lộn sòng. Điều này không phải hắn đã nhận
biết từ lâu. Và bản tính hắn trước kia cũng vậy, không làm thì thôi, đã làm là
dốc tận lực. Bằng lí trí và bằng cả linh cảm nghề nghiệp, hắn biết rằng giờ
đây, trước con người lì lợm kia, hắn lại sẽ sắp là người thắng cuộc.
- Đừng ngại chi hết anh Ba! - Hắn cất tiếng nói êm ái như muốn
đẩy đưa cái thân hình kia rũ rượi ra hơn nữa - Tôi rất hiểu anh và kính trọng anh.
Sự ràng buộc vào một lí tưởng khiến cho tôi thông cảm với anh và mến phục anh.
Cách đây một năm, tôi cũng có những tâm trạng giống như của anh. Nhưng có lẽ tất
cả là sự tự ý thức về sự tồn tại của mình. Anh đang tồn tại như một người không
nám bắt được quy luật. Hôm nay tôi chỉ muốn giúp anh nám bắt (như các cán bộ
chính trị của chúng ta trươc kia thường gọi) được cái quy luật ấy, quy luật về
chiến tranh, về cuộc đời. Còn mọi vẩn đề khác, vẫn là thủ tục, anh khỏi bận
tâm. Tức là tôi muốn nhác câu của ông cha mình ngày trước: đừng làm trái mệnh
trời! Tôi và anh đã có một thời làm trái mệnh trời nên rốt cuộc mỗi thằng đều
phải trả giá bằng chính máu xương đổ xuống vô ích của mình - Hắn nói nhanh, tiếng
sau muốn xóa dư âm của tiếng trước, lối nói của người không tin ở chính điều
mình nói ra và rất sợ cái im lặng sau khi không còn gì để nói nữa - Anh có thể
cứ thoải mái phát biểu chính kiến. Có thể anh trúng và cũng biết đâu anh trật?
Ta cứ cãi nhau, to tiếng cũng được nhưng ráng đừng chệch khỏi trọng tâm.
Chợt giọng hắn cụt ngẫng. Bên kia bàn, người bán thuốc đầu
cúi gục xuống ngực, môi dưới trễ ra và một tiếng ngáy ngon lành vang lên.
- Ngẩng lên! - như bị tát trái vào mặt, hắn đấm mạnh tay xuống
bàn, làm những đồ vật rung lên. Nể tình cũ, tao chân tình tử tế mà...
Người bán thuốc choàng tỉnh, run bắn người, môi miệng dấp
dính nói không ra hơi.
- Chết tui... Dạ, xin quan tha cho! Suốt đêm hồi hôm tôi
không có ngủ... Bị rượu nó đánh mà. Dạ... Hì!
-Tha cái con... Đêm qua mày làm gì ở đó? Mày vô đây có việc
gì? Bọn mày có mấy đứa, địa chỉ ở đâu? Mày chỉ có một đêm nay để trả...
Hắn bất chợt dừng lại. Mặt hắn chảy ra. Bậy rồi! Bậy hết rồi.
Mình vừa hỏi những câu ngớ ngẩn gì vậy? Công toi ráo cả bây giờ. Chắn nó đang
ngạo mạn cười thầm mình trong bụng. Mẹ kiếp! Hắn dò xét nhìn lên... Không! Hắn
vẫn chỉ thấy con mắt lấm lét sợ sệt nhìn lại. Chà! Nhìn đôi mắt thao láo của nó
kìa! Hay không phải? Hay sự ám ảnh đã khiến ta... Nhưng làm sao có thể nhầm được.
Mà nhầm cũng phải làm. Lỡ rồi. Chỉ còn dăm phút nữa. Hắn dịu giọng:
- Xin lỗi... Dạo này tôi không được khỏe, nóng lạnh bất thường.
Lỗ mãng quá! Xin anh cứ ngồi xuống, anh Ba!
-Dạ!... Tui, tui muốn ngủ quá trời! Quan không cần chữa bệnh,
quan cho tui về. Mai mốt cho gọi, tui lại đến.
Hắn ngả người ra, nhắm mắt lại. Đến lượt Hắn không muốn nghe
cái giọng van nài lải nhải kia nữa. Hắn thấy chân tay ngứa ngáy tưởng có thể
điên lên được.
Vừa lúc đó tướng đô trưởng bước vào. Theo sau là viên đại úy
có ria mép. Ngài giơ cao hai tay trong một dáng điệu rất vui vẻ.
- Sao! Xin chúc mừng cuộc gặp mặt của đôi bạn. Tôi có thể rót
rượu mừng cho cuộc gặp gỡ tốt lành này được chớ? Thời buổi này cái gì cũng
phiên phiến thôi các ông ạ! Găng nhau mệt lắm. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ vấn vơ:
đôi khi chỉ cần một ngọn gió đêm trong lành mang theo một mùi hương nào đó là
có thể xui khiến cho hai dòng lí tưởng gặp nhau và cùng chảy về một phía.
Thiếu tá Xanh đứng thẳng người.
-Thưa thiếu tướng! Rất tiếc là chúng tôi chưa thỏa thuận được
với nhau.
-ủa! Vậy hả? - Ngài hơi nhăn trán lại một chút nhưng vẫn giữ
nguyên cái cười dễ dãi. Không sao. Rồi sẽ thỏa thuận được thôi. Các ông chưa
băm vằm nhau ra đã là một tháng lợi rồi. Ông Xanh! Tôi cần nói chuyện với ông -
Ngài quay sang nguời bán thuốc - Xin lỗi ông bạn nghen!
-Rõ! Lính đâu! Đưa người này sang phòng bên. Dọn cơm rượu
đàng hoàng. Xanh gọi ra cửa.
-Thoáng nhìn thấy cái cười ý nhị của đại úy Thuần. Xanh cau mặt
lại.
-Lẹ lên! Còn đứng đó mà cười cợt hả? Đồ con bò!
Bị mắng oan, viên trung sĩ trực nhật không hiểu gì cả vội lôi
anh kéo tuột đi.
Ngài đô trưởng ngồi xuống hỏi nhỏ:
-Chắc chắn là nó chớ?
-Dạ! chắc tới chín mươi phần trăm.
-Như vậy vẫn còn mười phần trăm. Nhiều khi cái phần trăm nhỏ
bé đó sẽ có khả năng gây động đất kia đấy. Trong chiến tranh hãy hết sức coi trọng
những điều tiết đó.
-Mi bao giờ cũng sách vở nhưng mà... đúng! Xanh thường hay
nóng mặt khi bị dạy khôn, dù bất cứ là của ai. Nhất là cái mỉm cười của gã oắt
con kia cứ bám nhằng vào đầu óc hắn. Nó đến đây làm cái trò gì kia chứ!
-Thưa tư lệnh! Ngài cứ yên tâm! Riêng đối với tôi thì không
có cái mười phần trăm nào cả, một phần trăm cũng không có nữa. (Quái lạ! Hình
như nó vẫn cười) Tôi xin phép được dùng phương án 2.
Ngài gật đầu. Nói chung đôi khi ông ta cũng hài lòng với gã
thiếu tá này. Chính một phần nào nhờ sự hoạt động xuất sắc của gã trong năm qua
mà cái ghế đô trưởng của ngài được dựng thẳng trở lại. Tuy vậy mỗi lần phải tiếp
xúc, ngài vẫn cảm thấy có cái gì không thực ổn trong giọng nói, đôi mắt, trong
từng cử chỉ nhỏ nhặt của gã. Tác phong giữ đúng quy cách, tốt! Rất có tự trọng,
tốt! Song sao cứ thấy một chút ngang ngang, một chút khinh bạc toát ra. Gã thật
không giống bất cứ một sĩ quan nào dưới quyền, càng không giống một kẻ đầu hàng
nào khác. Do đó ngài chỉ cần gã mà không ưa gã. Và nếu có dịp là ngài lại tế nhị
nhắc nhở Hắn nhớ rõ vị trí của mình.
-Nếu cái gọi là phương án hai của ông cũng không có kết quả?
-Dạ! Cũng có thể có khả năng không có kết quả nhưng nó sẽ gây
hiệu quả cho phương án sau cùng.
-Nếu cái sau cùng cũng bể nốt?
-Thì tức là tôi lầm, thưa thiếu tướng. Và tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Xanh trả lời gọn lỏn. Hắn không ưa những câu hỏi dồn dảy như
thế. Ngay cả trước kia, không ít lần hắn cũng đã gay gắt cãi vã với người đội
trưởng mặt lạnh như tiền đã bị đuổi đi, những điều tương tự. Tại sao bị dồn dảy,
phải dạy dỗ? Tôi là tôi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những việc làm của
tôi. Tôi không bao giờ là một cá nhân nô lệ, lệ thuộc đối với bất cứ ai, bất cứ
cái gì. Xanh buông sõng:
-Báo cáo ngài tư lệnh, ngài cho tôi được bắt đầu thực thi nhiệm
vụ.
-Được! Ông đại úy đây sẽ giúp ông một tay. Vốn liếng tâm lý học
mang từ Mỹ về ông chưa có dịp được thi thố đó. Tôi hi vọng sự hiệp tác này sẽ hữu
hiệu.
Xanh búng tàn thuốc, im lặng. Nhãi con! Chỉ vướng giò. Hừ! Hiệp
với chả tác. Nó chỉ rình có cơ hội là cười vào mũi mình chứ hiệp tác cái con mẹ
gì. Có lẽ một lúc nào đó, gã phải nói thẳng vào mặt thằng công tử cậu này thôi.
Còn bây giờ thì... Từ ngày trở về đây, hắn đã tập được thói quen im lặng trước
những cái tưởng như không im lặng được.
-Ông Giôn có tới không thưa ngài? Hắn hỏi.
Không! Ông trao toàn quyền cho chúng ta và đặc biệt tin cậy ở
tài năng của thiếu tá. Mà chính thiếu tá cũng muốn vậy phải không? (Xạo! Chính
ông không muốn cho lão Giôn già tới đây thì có. ông không tin tôi, ông muốn
đánh con bài nước đôi, thua phần tôi, được phần ông chớ gì). Tôi nhất chí với
thiếu tá, có những việc người Mỹ dính vào chỉ thêm rối chuyện. Thay vào ngài cố
vẩn Giôn, tôi có mời một người mà thiếu tá đã được gặp: Giáo sư sử học, kiêm
dân tộc học Đặng Văn Luân, bạn tôi. Khoan! Thiếu tá đừng vội phật lòng. Nghiệp
an ninh của ta không chỉ ru rú trong bốn bức tường, cũng cần cho người đời
thông cảm mới được, ồ! Biết đâu đây lại chẳng là một đoạn hay minh chứng về khả
năng có thể thay đổi được bản chất của con người trong đầu ông giáo sư và trong
cuốn quân sử sắp tới của chúng ta.
-Hai tiếng chúng ta ngài nhấn mạnh mà vẫn được độ tự nhiên.
Tuy thế, Hoàng Xanh vẫn không thể không nhìn lảng đi...
Cửa mở. Giao sư Luân bước vào. ông gật đầu chào mọi người.
-Nghe nói tôi được mời lên đây để xem một cuộc đối chất?
-Một màn kịch thì đúng hơn. Mời anh ngồi. Ngài nói, anh sẽ chứng
kiến một người sắp đánh mất bản ngã của mình. Bắt đầu đi thiếu tá!
Cửa ngách mở. Người bán thuốc nam xuất hiện vởi vẻ mặt no nê
thỏa mãn. Thấy đông người, anh ta lúng túng, không ra đứng, không ra ngồi, cất
tiếng chào lí nhí vừa đánh lưỡi vào chân răng lóp chóp.
Xanh hỏi độp luôn:
-Anh là ai?
-Dạ!.. Tui, tui nói hoài rồi mà.
-Trả lời: anh là ai?
-Tui bán thuốc. Tiếng nói người miền núi nằng nặng, rõ ràng
là không bằng lòng.
-Anh ở đâu về đây?
-Dạ!...Từ Lâm Đồng tôi đi Phước Long.
-Huyện?
-Dạ! Phước Thành.
-Chắc lại xã Phước Tín nữa hả?
-Dạ không! Xã Phước Tân. Phước Tân rồi mới tới Phước Tín đó.
Xa lắm.
-Anh người dân tộc gì?
-Tui người Kor.
-Tại sao cụt ngón tay?
-Rắn độc nó cắn đó. Còn nhiều nốt nữa mà.
-Hừ! vẫn lưu loát như xưa - Hoàng Xanh nhếch nhẹ một bên mép.
Rõ ràng tất cả những câu hỏi vừa đầu đến giờ, Hắn chỉ hỏi cho qua chuyện, thậm
chí cũng không nghe kĩ câu trả lời nữa. Hắn quay ra cửa - Cho vào!
Chị bước vào. Gian phòng với những đồ đạc nặng nề như lèn chặt
lấy thân hình nhỏ nhoi của chị. Chị ngơ ngác nhìn quanh, khẽ gật đầu chào mọi
người. Cặp mắt chị dừng lại ở khuôn mặt anh, ngỡ ngàng. Cái nhìn của thiếu tá
Xanh loáng qua loáng lại trên khuôn mặt hai người.
-Anh có biết người đàn bà này không?
-Ui! Biết mà. Biết rõ mà. Tui chữa bệnh cho thằng nhỏ con bả
mà. Anh trả lời vui vẻ như bỗng dưng gặp lại người quen ở chốn xa lạ.
-Còn chị?
-Dạ! Ông đây chữa bệnh mát tay cả khu đều biết - Chị trả lời
rành rẽ, mát không nhìn ai - Hồi hôm ông bị bắt đi, tôi chưa kịp trả tiền.
-Chưa kịp trả tiền à? Lại còn cái chuyện đó nữa - Hắn đăm đăm
nhìn vào chị như cố lục tìm trong trí não một bóng dáng xa xôi nào. Hắn lại
nhích môi một cái nữa và quay hẳn sang phía người bán thuốc:
-Cởi áo ra!
-Cởi...Cởi làm chi? Tui chỉ có chút chút tiền thôi.
-cởi!
Người bán thuốc giật nảy mình với tiếng quát của viên thiếu
tá rồi ngượng ngập cởi tấm áo chàm bạc trắng ra khỏi mình, để lộ nước da đen
hun và bộ ngực rắn chắc. Khi chiếc áo được vất xuống đất, thì trên bắp tay trái
của anh để lộ ra một vết thẹo màu hồng nhăn nhúm. Hoàng Xanh đột ngột nhìn xoáy
vào đó. vết thẹo nào đó hè? Sao mình không biết? Khốn nỗi. Mỗi làn về hậu cứ có
được tắm chung với nhau trong một khúc sông đâu và thực ra một năm cũng chỉ gặp
nhau đôi ba bận, ai để ý đến thẹo thọt làm chi. Hắn bỗng tiếc ngẩn người. Nếu
biết trước được cái thẹo đó thì cuộc đấu đã sớm kết thúc ngay từ giây phút này
rồi. Hắn chợt thấy căm ghét hết sức cái thẹo đó. Thiệt như gai đâm vào mắt.
-Múa đi! - Hắn tung ra một câu cụt ngẫng.
-Múa gì ạ?
-Múa một điệu mà người Kor các anh thường múa.
-Dạ múa?...Múa ở đây?
-Phải! Chính ở đây.
-Hì...Hì... - Người bán thuốc cười thực sự -Quan lại giỡn rồi.
-Múa!
Nhìn nét mặt lạnh lùng của hắn, người bán thuốc chưng hửng.
Cái cười tắt ngang miệng thành ra một nét mều khổ sở. Sau khi đã hiểu người ta
không đùa với mình, anh rụt rè lùi lại. Tới giữa phòng, anh quay lại nhìn một lần
nữa vào những người có mặt để hy vọng họ nói chơi.Nhưng không, cả mấy cặp mắt,
đang chụm nhìn anh. Anh thần mặt ra một lát rồi hơi ngửa đầu về phía sau như
hít thở khí rừng. Không gian im lặng, chỉ có những màn khói nhẹ bay quẩn quanh
đầu tàn thuốc. Anh chợt liên tưởng đến màn sương trong thung lũng mỗi khi trời
trở lạnh, và đâu đó trên đỉnh cao có những đốm lửa lập lòe...Chính ở đó anh và
đồng đội đã trải qua hết một mùa rèn luyện để trở lại được bất ngờ gặp chị trên
dải Thị vải; Nơi đó, trong những ngày lúa mới, trong những đêm hội hè, anh đã
cùng với trai làng lực lưỡng mê say lao vào vòng múa đâm trâu thâu đêm qua sáng
và cũng chính nơi đó, sau khi nhận nhiệm vụ, anh đã dầm bùn phơi nắng cho đen
da, đã tập sưu tàm những vị thuốc quý của rừng, đã tập nói, tập bán rắn...Nơi
đó...Anh thấy toàn thân mình bốc nóng dần lên. Một niềm vui ngạo nghễ đột ngột
ùa vào lòng anh. Đốm lửa cháy bùng lên thành nhiều cây lửa lớn. Những màn sương
vây bủa những màn sương. Trùng điệp... Bao la... Thác trắng... Rừng già. Anh hú
vang lên một tiếng man rợ. Tiếng hú âm vang như chiêng cồng trong thung sâu
khích động lòng người. Cùng với tiếng hú, bàn chân anh dậm mạnh xuống đất, tay
trái anh vung lên tạo dáng một cánh chim rừng và thế là anh múa. Anh múa một điệu
múa dân gian lâu đời của vùng Tây nguyên hùng vĩ. Điệu múa kể lại một dũng sĩ
buôn làng đi chiến đấu với mặt trời. Lửa trời nhiều phen làm anh gục ngã nhưng
cuối cùng, nhờ có đất mẹ hà hơi, anh đã gượng dậy kéo vầng mặt trời xuống biển
làm xanh tốt lại cỏ cây... Càng múa, cặp mắt anh càng dần dần chuyển thành sáng
rực. Những tia rượu cần thơm nồng hương nếp vẫn ào ạt tuôn vào ngực anh. Tấm
thân trần nở nang của anh rung lên trong những bước nhảy mạnh mẽ nhịp nhàng, cảnh
vật trong phòng quay lộn. Bốn khuôn mặt thành nhiều khuôn mặt.Chỉ có khuôn mặt
của ai lượn mãi theo vòng. Như không hay không biết, anh vẫn múa mỗi lúc một
nhanh hơn, thỉnh thoảng lại hú lên một tiếng hoang dại đắc thắng. Giá bây giờ
có một người nào đó đặt vào tay anh một ngọn giáo thì chắc rằng cái thân hình
loang loáng kia sẽ phóng qua cửa sổ mà lao thẳng về phía mặt trời như một dũng
sĩ trong huyền thoại thật.
Điệu múa sôi nổi cuốn hút chị. Từ ngoài cửa sổ một vệt nắng
vàng tươi chiều vào khiến nửa thân mình anh ánh lên như tượng. Mồ hôi đã bắt đầu
rịn ra trên đôi vai vạm vỡ của anh. Đôi vai!... Bộ ngực... Sao thấy thân thuộc
quá! Có phải đó là bộ ngực đã bao lần, sau những trận đánh trở về, chị đã gục đầu
vào tin cậy, yêu thương? Còn cái gì kia? Chị bỗng lặng đi trong sự choáng váng
đến rủn người, vết thẹo trên bắp tay anh hút chặt lấy mát chị. Có phải... Trời!
Không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là anh rồi, anh thiệt rồi! Anh Ba! Sao anh lại
giấu em? Sao anh không nhận mẹ con em? Anh nỡ đối xử với em như thế sao? Vết thẹo
kia chính em đã chữa chạy cho anh, cái đêm ấy... Người ta có thể quên được anh,
nhưng vợ anh làm sao có thể quên được... Anh Xuân! Anh vẫn còn sống thiệt sao?
Vậy mà em và con đã tưởng không còn bao giờ được gặp anh nữa! Nước mắt chị rưng
rưng. Chị muốn chạy bổ tới ôm chặt lấy anh, áp mặt vào bộ ngực cường tráng của
anh như ngày xưa. Thốt nhiên, chị thấy nhồn nhột ở mang tai. Không cần quay lại
chị cũng thừa biết những ai đang hau háu nhìn vào mình. Mắt hơi nhìn chếch lên
trên một chút, chị vội thở ra một hơi dài. vẻ bình thản trở lại trên khuôn mặt
chị. Và đến lúc đó chị chợt hiểu, hiểu tất cả. Anh Xuân! Chúng nó bắt anh lột
áo để coi nước da trên thân thể anh, bắt anh múa xem anh có đúng là một người
dân xứ núi không? Bán tín bán nghi, chúng nó lại đưa em tới để làm anh nao
long, để em nhận ra anh, và cũng để biết em có phải là vợ anh không. Không!
Chúng mày đừng có hòng.
Sau lần anh bị bắt, em hoàn toàn bị mất liệc lạc, đành đưa
con trở về quê. Tình hình tạm yên, em lại lộn lại Sài Gòn thay đổi chỗ ở, ngày
ngày đi tìm kiếm tin anh, tìm kiếm cơ sở mà không gặp. về sau, thất vọng và mệt
mỏi quá, em đã thây kệ tất cả, nằm im nuôi con và đếm ngày tháng trôi qua. Anh!
Gặp lại an hem mừng quá! Bắt đầu từ bây giờ em lại là đồng đội của anh, sát
cánh với anh. Anh múa đi! Múa nữa đi! Hãy tin ở em, chúng nó sẽ không tìm được
gì trong điệu múa của anh đâu.
Thế là rồi cuối cùng anh cũng không giấu được em. Chúng nó sẽ
làm tất cả để nhận ra anh, để đánh gục anh nhưng anh cũng đã chuẩn bị tất cả để
vào đây. Chúng nó sẽ không bao giờ nhận thấy gì hết. Nhưng em, em lại nhận ra
anh, nhận ra vết thẹo trên tay anh. Anh không ngờ thằng Xanh lại bắt cả em tới
đây. Thoạt nhìn thấy em trong phòng này, tay chân anh cứng lại, tưởng như không
cất nổi lên nữa. Nhưng lại chính đôi mắt em, khuôn mặt, hình dáng em đã cho anh
sự bình tĩnh, thôi thúc anh hành động. Anh múa cho chúng nó xem! Có kì cục thế
này bao giờ không em? Đừng trách anh. Anh sợ không làm chủ được tình cảm của
mình nếu gặp em và con, anh phải cắn răng làm ngơ. Xong trận này, anh cũng định
cậy người đi tìm em và con. Hiểu cho anh. Sau Mậu Thân đến giờ, chúng nó thâm độc
và xảo quyệt lắm. Và thằng Xanh nữa! Em không biết mặt nó đâu. Khi nó về đội
thì em đã chuyển sang hoạt động hợp pháp trong thành rồi. Nó đang ngồi kia. Nó
đang rình mò chúng ta đó. Em hãy nhận mặt nó cho rõ và tỉnh táo lên em!., ôi!
Anh thương con quá! Bệnh tình của con ra sao rồi em?
Anh múa say sưa như chỉ múa riêng cho mình chị xem. Và chị
thì vẫn đứng xem thản nhiên như một du khách ở đô thị lạc về vùng sơn cước.
Nhìn kỹ, mới thấy thỉnh thoảng bờ môi chị hơi nhợt đi và bộ ngực đưa lên hạ xuống
dồn dập hơn. Người vợ đang gắng gượng chống đỡ lại tình cảm thực của mình. Bằng
con mắt, chị vẫn nói với anh những lời thầm lặng và chỉ có mình anh mới hiểu nổi
mà thôi. Chị ân hận quá. Giá đêm hôm kia chị đừng giữ anh và đêm sau nữa, cũng
đừng kêu anh trở lại. Em nhớ anh quá, anh biết không? Chưa biết rõ anh là ai,
em không thể để anh im lặng ra đi được. Em lũ lẫn mất rồi! Vòng quay của anh chậm
dần lại, cánh tay anh trải ra đỡ cái lưng oằn xuống. Chàng dũng sĩ đang quần quại
dưới ánh nắng thiêu đốt của lửa trời... Em đừng ân hận gì cả. Tất cả là do anh.
Anh cảm thấy cần phải quay lại với em và con. Chị cúi xuống. Không! Em có lỗi.
Em không ngờ đưa anh vào bẫy để chúng nó bắt anh. Anh tha lỗi cho em. Mắt chị mờ
đi...
Lê Thuấn, viên đại uý có ria mép nhìn sang Hoàng Xanh bật
ngón tay đánh tách. Y ngả người châm thuốc hút, mặt không giấu được vẻ mãn nguyện.
Trong thâm tâm, không muốn ngón đòn này của Xanh thành công. Thằng cha Việt
Công cải giáo này đã nhiều làn chơi trội quá rồi.Nhìn khuôn mặt của Hoàng Xanh
đang sạn cứng từng mảng theo đà kết thúc của điệu múa hắn thấy hởi long hởi dạ.
Ngài đô trưởng ghé sát vào tai ông bạn già hỏi nhỏ:
-Thế nào giáo sư? Hắn múa có hồn đấy chứ Giáo sư Luân vẫn còn
nguyên nét xao động trên mặt. Trong suốt điệu múa vừa qua, ông đã vô tình gõ
tay nhè nhẹ xuống mặt bàn làm nhịp cho từng tiết tấu. Có lúc hào hứng, ông nhổm
cả người dậy, bàn chân đong đưa lại không ngớt.
Tôi không rõ anh bắt người này múa để làm gì, nhưng đây quả
là một điệu múa rất tuyệt. Giàu bản sác dân tộc và người thể hiện cũng tài. Tôi
e rằng nếu còn đánh nhau liên mien, nếu còn có sự hiện diện của người Mĩ ở bên
này lâu thêm chừng mươi năm nữa, chác cHắn không còn tìm đâu ra được một điệu
múa như thế này nữa. Chao! Con người dám phủ nhận mặt trời, thật là đẹp. Cách
đây mươi năm, trong một chuyến đi sâu vào khảo cứu văn hoá dân gian thuộc vùng
chiếu thuật I, tôi cũng đã được xem những điệu múa như thế này. Lửa đốt sang rừng...
Con trâu mập ú xoay tròn ở giữa... Những bộ ngực vuông vức và lưỡi mác bay
ra...Xin lỗi! Người đàn ông Kor này làm tôi xúc động. Hồi ấy chúng ta đều còn rất
trẻ...
Ngài đô trưởng khẽ nhún vai ngầm tỏ ý cHắn nản rồi nhìn sang
Lê Thuấn. Viên đại uý mỉm cười gật đầu, nói nhỏ:
-Thưa thiếu tướng! Không còn nghi ngờ gì nữa. Đây đúng là một
hình mẫu người Thượng xét cả về hình dáng, ngôn ngữ, tâm lý và phong tục. vả lại
với lối múa ấy, có thể cho phép nghĩ rằng, hắn đã bắt đầu múa từ nhỏ. Còn người
đàn bà kia - Hắn lại mỉm cười - đôi lúc tỏ ra có những dấu hiệu xúc động khác
thường nhưng vẫn là loại xúc động bình thường trong một hoàn cảnh đặc biệt. Tôi
thấy chưa có những kết luận xác thực được.
Khi đó, chỉ riêng thiếu tá Xanh vẫn không rời mát khỏi người
đàn bà. Vì đã có chủ định riêng nên hắn bỏ ngoài tai tất cả những lời rì rầm
xung quanh và cả cái cười mỉm đểu cáng của viên đại uý nữa. Thực tâm, hắn không
tin chị là vợ của Ba Xuân. Hình dáng mặt mũi chị, hắn mới được anh ta tả sơ qua
một lần, lâu lắm rồi, hồi còn ở hậu cứ: Đẹp, mảnh mai, mát to và sâu. Thế thôi,
người đàn bà này nhìn kĩ cũng có những nét tương tự, nhưng... dân đô thị nhàn
du thiếu cha gì những người như thế: mảnh, mắt to và sâu! Nhưng tại sao một người
hoạt động có kinh nghiệm như Ba Xuân lại có thể sơ ý ghé vào nhà thị tới hai lần?
Tất nhiên là đứa bé... Nhưng dứt khoát phải có một sức hút gì ghê gớm lắm: Tình
nghĩa vợ chồng, cha con, nhân tình hoặc đồng đội đồng chí chẳng hạn. Song cũng
có thể không phải, chỉ là một câu chuyện mua bán kiếm ăn bình thường. Đã nghi
là cứ bắt. Một ngàn cái nghi chỉ cần đem lại một cái trúng là lãi rồi. Đêm qua,
sau khi anh bị giải đi, Hắn đã lén ở lại coi kỹ mặt đứa bé nhưng ngó qua ngó lại,
hắn chỉ thấy khuôn mặt bé đó có vài nét hao hao giống má nó thôi. Hắn không tìm
thấy một nét nào của ba nó ngày xưa, một khuôn mặt trẻ trung đẹp đẽ mà giờ đây
luôn luôn bị một khuôn mặt xấu xí khác chồng chéo lên. Được ăn cả ngã về không.
Tâm lí con mồi càng được tác động từ nhiều phía càng dễ xét đoán. Hắn quá rõ,
không ai giàu tình nghĩa thuỷ chung như những người lính ở trong rừng. Chỉ cần
một sứt mẻ đau đớn dù rất nhỏ đến người than, bạn bè là họ đã tưởng như không
chịu nổi rồi trong khi chính họ có thể chịu đựng được ngàn lần hơn. Hắn cũng phải
thừa nhận rằng, lần đầu tiên thằng đại uý ranh con có được một nhận xét, dù sặc
mùi xỏ lá, nhưng mà đúng. Thằng ranh con vẫn đang còn lảm nhảm cái gì vậy? Chác
nó sướng trong bụng lắm! Thật khốn nạn nếu lần này mà rụm nữa. Hắn quyết định
chuyển sang phương án hai.
-Thôi được rồi! Dừng lại.
Hắn đủng đỉnh tiến đến trước anh, miệng cười cười nhưng quai
hàm lại nghiến chặt. Chao ôi! Nếu có thể được, Hắn đã dùng răng cắn nát bộ ngực
vênh vênh kia ra rồi. Bộ ngực như vách đá ấy đang đưa lên đưa xuống dồn dập
trong những hơi thở dốc. Cái thẹo... Hồi nãy trong một thời khắc rất nhanh, hắn
đã kịp phát hiện ra một chút biến sắc trong mắt chị khi anh để lộ ra cái thẹo
này. Tất cả mọi bí mật nằm gọn trong cái vết thẹo vu vơ đó. Có thể lắm chứ. Phải
có một quan hệ hết sức thân thuộc mới biết được những tì vết sâu kín của nhau.
Đáp lại cái nhìn gườm gườm của tên phản bội, anh mở miệng cười,
vẫn cái cười lành hiền, dè dặt pha chút ngạo nghễ. Hắn thực sự muốn cho một quả
đấm vào cái miệng đó, cho từng chiếc răng lả tả rơi xuống, cho nó biến đi đâu
thì biến để hắn khỏi phải làm những việc kế sau đó nữa. Hắn nhắm mắt lại định
thần một giây. Hắn biết, chỉ nóng nảy bộp chộp một chút thôi là cái miệng có
ria mép đằng sau kia lại mấp máy ngay. Khi mở mắt ra, như một sự thách đố, điều
đầu tiên hắn nhìn thấy lại là vết thẹo. Một ngẫu nhiên hay ngay từ đầu, con mắt
hắn đã dán chặt vào đó? Mắt Hắn vằn lên. Có phải nó đây không? Cái dấu ấn may mắn
đã tạo nên tình yêu của mày mà đêm trước Mậu Thân chính mày đã kể cho tao nghe?
Mà sao lúc ấy tao lại không đòi xem tận mát? Nếu vậy bây giờ tao sẽ xem và cả
con đàn bà đang ở trước mặt mày cũng xem luôn. Vầng trán vuông căng ra kéo đôi
mắt hắn xếch lên. Rồi như một ấn ức lâu ngày vô tình tìm được lối thoát, cái lối
thoát mà cách đó nửa giờ không hề có trong dự tính, Hắn vơ quàng lấy con dao rọc
giấy mỏng ở trên bàn cắm thẳng vào cái sẹo xam xám đang nhớt nhát mồ hôi đó.
Thân hình anh giật mạnh một cái trong tiếng hộc phát ra từ trong cổ họng. Đau
quá! Anh lảo đảo chực quỵ xuống nếu không có bức tường cản lại. Bằng một phản xạ
tự nhiên, anh định đá mạnh vào cái mặt trắng trẻo đang chập chờn trước mắt,
nhưng tiếng rú kinh hoàng của chị đã giữ chặt lấy anh. Bắp chân anh rung lên từng
chập. Anh giơ tay định rút con dao ra khỏi vết thương cũ. Biết trước ý định đó,
Hoàng Xanh chặn ngay.
-Cứ để yên như vậy! Nếu động đậy tao bắn.
-Khẩu súng nhỏ xíu trên tay Hắn găm vào ngực anh nhưng con mắt
lại chiếu về phía chị.
-Chị nói đi! Người đàn ông này là ai?
-Không! Không... Tôi không biết.
-Nhưng sao chị lại hoảng loạn thế kia?
-Không...Các ông ác quá! Người này tốt với bà con...Đã chữa
khỏi bệnh cho con tôi... Các ông nỡ nào. Không! Tôi không biết. Các ông cho tôi
về.
-Nếu chị nói thiệt, chồng chị sẽ sống.
Tiếng “chồng” hắn nhấn mạnh, kéo dài khiến chị sa sấm mặt mày
như có cái gì đang reo xoang xoảng trong đầu...ôi! Em không thể...! Máu anh ra
nhiều quá! Đau lắm phải không? Anh cứ hét to lên! Hét thật to lên, nó sẽ đỡ đi.
Đừng! Anh đừng nhìn em như thế. Em không thể chạy lại băng bó cho anh như trước
được đâu. Vâng! Em hiểu. Em sẽ không làm gì không nói gì hết.
-Các ông đừng nói như vậy oan cho người ta. Chị nói rắn rỏi -
Chồng tôi đi lính quốc gia chết hồi Mậu Thân rồi, cả khu phố đều biết. Vô cớ
các ông bắt tôi đến đây rồi gán vợ gán chồng. Kỳ cục quá! Thôi, các ông cho tôi
về.
Hoàng Xanh cười nhạt. Hắn im lặng giây lát. Máu vẫn sủi bọt ứa
ra chảy theo cánh tay anh đọng thành vũng dưới đất. Nước da xạm nắng của anh đã
chuyển thành màu chàm, hai hàm răng nghiến lại, mắt như muốn lồi ra, anh loạng
choạng đứng không vững nữa. Bỗng anh hét lên một tiếng lạc giọng, giống tiếng gầm
của con thú bị thương.
Giáo sư Luân từ nãy quay mặt đi không dám nhìn cảnh này, bây
giờ xô ghế đứng dậy, giọng hụt đi:
-Ông thiếu tướng! Đây là một cuộc sát sinh, nó không thuộc những
vấn đề tôi nghiên cứu. Tôi sẽ không giúp gì được ông đâu và rất tiếc là đã đến
đây - Ra tới cửa, ông còn quay lại, dõng dạc, mắt nhìn thẳng vào thiếu tá Xanh
- Chính các ngài mới là người đánh mất bản ngã.Con người không nên hành hạ con
người như thế, trun cổ lắm! ông đi nhanh ra hành lang như kẻ chốn chạy.
Với một sắc mặt không mấy vui vẻ, ngài đô trưởng hất cằm về
phía Xanh. Hắn hiểu đã đến lúc phải sử dụng đến cái tiểu tiết cuối cùng. Hắn bước
đến gỡ hai bàn tay đang bưng mặt của chị ra. Hai mắt chị mở to, khô khốc.
-Các người gan góc lắm. Lính đâu! Vô băng bó lại cho nó. Và bảo
nó im đi, đứng rống lên như vậy nữa.
Đại uý Lê Thuấn vừa rồi ngả người ra thành ghế mắt nhắm hờ
như ngủ, nghe Hoàng Xanh nói vậy, hắn ngồi thẳng dậy che miệng khẽ ngáp dài một
cái. Cái trò meo! Cú ngáp như đám nước miếng lầy nhầy bắn thẳng vào mặt Xanh.
-Thượng sĩ! Sáng nay anh có ăn gì không mà lề mề vậy hả?
Không biết dồn cáu giận vào đâu, hắn bèn đổ lên đầu người thượng sĩ to lớn, đen
mun như người chàm đang bậm bịch đi vào phòng. Bằng những động tác thô bạo và cục
cần, trong nháy mắt, gã đã làm xong phần việc được sai khiến của mình. Bị mất
máu nhiều, Xuân ngồi lả người đi trên ghế, môi se lại, cổ lệch sang một bên.
Hoàng Xanh đặt mạnh trước mặt anh một trai nước ngọt.
-Chưa xong đâu.Uống đi! Uống một chút cho lại sức mà chứng kiến
cảnh đời.
Anh ngước cặp mắt đầy oán trách nhìn lên, lắc đầu. Xanh cười
khẩy. Hắn xỉa tay về phía chị, thản nhiên nói với ngã thượng sĩ. - Mấy bữa nay
chú vất vả nhiều, tôi thưởng công cho chú đó.
Mắt tên lính hực lên một vết loé man dai. Gã dập gót giày một
cái cốp tỏ ý không phản đối. Nán lại một chút rồi bằng những bước đi dài và nặng,
gã lừ lừ tiến đến. Bóng hắn cao to đen đúa, còn cách xa chị mà đã như muốn phủ
chụp lên cái thân thể mảnh dẻ ấy rồi. Chị lùi lại và chợt nhận ra đó là người lính
đứng lừng lững ở cửa hồi hôm đến bắt anh. Chị run bán người lên. Không! Đó
không hẳn là sự sợ hãi, sau này nghĩ lại chị mới cho là thế, nhưng cũng không hẳn
là nỗi giận dữ đến ghê tởm trước miếng đòn hiểm của kẻ thù. Cũng có thể là cả
hai. Lúc ấy chị chỉ biết co người lại, chụm hai tay lên ngực như một phản ứng tự
vệ bản năng. Bước chân của tên hung thần khua mỗi lúc mỗi to hơn bên tai chị...Đằng
này, dựa vào thành ghế, anh bỗng bật người đứng dậy, hơi nhào về phía trước.
Cùng lúc mũi súng của Hoàng Xanh đã rung rung ở sát khuy áo ngực anh. Tiếng nói
của hắn vẫn bình thản nhứ không:
-Bây giờ tới lượt anh. Nói đi! Anh là ai? Người đàn bà kia là
ai? Chỉ thế thôi là mọi việc lại sẽ trở về không khí ban đầu. Tôi không thích hỏi
suông và cũng không thích nghe những câu trả lời suông. Anh biết đó.
Nghe hắn nói, anh thấy một mùi tanh tanh bốc lên nồng nặc. Khốn
nạn quá! Điều này anh hoàn toàn không thể ngờ tới. Sự khinh bỉ và căm giận khiến
con mắt anh thốt nhiên đỏ ngầu dữ tợn.
Hắn hơi chếch nòng súng lên... Vấp cái nhìn xăm xoi của Lê
Thuấn, Hắn lại hạ xuống, khàn giọng.
-Thế nào?
Anh cất tiếng nói nặng nề:
-Bà này không có tội vạ chi. Các người cứ giết chết tui đi
cho hả cơn ác độc. Các người ác hơn con hổ trên rừng, con trăn trong khe núi.
Các người làm vậy, xuống tới địa ngục, con ma con quỷ cũng theo xuống hút máu
không tha đâu.
-Khoan đã! Chuyện địa ngục, chuyện ma quỷ nói sau. Chị chỉ
còn biết nhìn về phía anh. Không chịu đựng nổi cái nhìn ấy, anh nhắm nghiền mắt
lại. cả hai người lúc này đều không kịp nghĩ được điều gì nữa. Một tích tắc
trôi qua...
-Tiếp tục!
Tiếng hắn văng ra như một viên đạn và tiếng đế giày tán đinh
ri-vê của gã xiết vào ngực anh. Tên lính đã đến sát chị... Chính cái giây phút
anh còn chưa biết xử lý ra sao thì như một điều quá vô lí: Bốp! Bốp! Gã hung thần
bật lùi trở lại đưa bàn tay lên ôm cứng lấy cổ. Gã ngơ ngác nhìn chị như nhìn một
điều không có thật rồi méo miệng cười. Gã hoàn toàn không thể tin rằng, người vừa
cho gã ăn đòn lại chính là con mồi bé bỏng và ngon lành kia. Và khi đã hiểu ra,
hắn lại chồm lên nữa. Nhưng lần này, cũng vẫn như là một điều không có thật, hắn
lại loạng choạng dạt sang bên, một phần ngực hắn đau nhói. Mặt mày thôn ra, Hắn
quay lại Hoàng Xanh tỏ ý không hiểu -Đồ ăn hại! Zô tiếp đi!
Giọng hắn không căng hơn nhưng có sức đe dọa sác lạnh bên
trong. Không dừng được, gã thượng sĩ thở phì phì và lại bước tới, những bước thận
trọng chậm chạp như dò mìn. Đối phương của gã lúc này như con gà mái, mát quác
lên, sẵn sàng cán xé tất cả. Gã cười hề một cái vô nghĩa rồi khom lưng xuống, định
túm hai chân nâng bổng chị lên. Chính vào lúc chị quyết định chuyển mạnh đầu gối
về phía trước, phía cái mồm đang thở phì phì như con rán hổ đó thì như một chớp
lóe, hình ảnh vết thương đang nhỏ máu của anh ngăn chị lại. Nếu để lộ mình bây
giờ, dù chỉ là một thế võ tự vệ thôi, sẽ lỡ làng hết. Trong tích tác do dự ấy,
bất thình lình đất dưới chân chị hẫng xuống rồi vòng tay gã ác quỷ đã xiết chặt
lấy hông nâng bổng chị lên từ lúc nào. Ngay cạnh đó, khuôn mặt Hoàng Xanh hiện
ra chập chờn, méo xẹo. Chị cố quằn quại tuột khỏi tay ram ráp rắn như gỗ lim của
gã thượng sĩ...
-Nhàn ơi! anh rú lên trong đầu. Hàng ngàn vòi ong đang nhằm
ngực anh châm đốt. Anh đứng chết trân, miệng há ra như trúng gió. Nhàn ơi! Anh
không chịu nổi nữa rồi! Không cần gì hết. Chết cùng chết, sống cùng sống. Nước
cuối cùng còn đắn đo gì nữa. Quân chó má! Tao giết sạch tất cả lũ chúng mày rồi
muốn ra sao thì ra.
Thằng đồ tể vác chị đi nhanh vào một cửa ngách ăn thông sang
phòng tối. Chị chỉ còn biết ngoái lại nhìn anh, đôi mắt bạc đi. Không kịp nghĩ
ngợi gì thêm, anh định cúi xuống dùng cánh tay còn lành lặn giằng mạnh chân một
chiếc ghế quay vung ngang đầu... Đừng! Anh đừng mắc bẫy chúng nó! Đôi mắt thống
thiết của chị chạm mạnh vào tay anh. Chiếc ghế màu xám chì sắp bay ra thì dừng
lại. Thằng đồ tể đã đưa một chân vào khoảng tối.
Chiếc ghế lại chực bung ra. Anh không nghe em, em chết ngay
trước mặt anh đây nè! Một lần nữa chiếc ghế rung mạnh trong tay, vang một tiếng
khô khỏng trên nền nhà. Cái nhìn cuối cùng của chị đã làm anh oải người ra, muốn
ngồi phịch xuống đất...Một tiếng cười ai đó ré lên lảnh lót bên tai anh. Anh chợt
tỉnh. Chưa, chưa mà. Tao đã bại đâu. Bằng một cố gắng phi thường, anh gượng đứng
dậy nhặt chiếc áo, khoác vào người. Ngay lúc đó từ phòng bên vang ra tiếng giãy
đạp, tiếng gầm gừ...Im lặng giây lát. Đại úy Lê Thuần ngọ nguậy trên ghế, đưa
lưỡi liếm môi một cách tiếc rẻ. Lại tiếng thở hổn hển, tiếng vải bị xé rách,
hình như có cả tiếng nói nho nhỏ đứt quãng...chiếc áo trên tay anh rơi xuống.
Anh cúi nhặt lên nhưng lại rơi. Anh cắn chặt răng vào môi để khỏi rên lên một
tiếng. Đã bao giờ anh phải chịu đựng một nỗi khổ đau ghê gớm đến như thế này
không? Lửa ở đâu kéo đến rùng rùng bùng cháy trong đầu anh! Lửa cháy xèo xèo
trong vết thương vừa được băng bó. Mồ hôi anh nhỏ giọt mà chân tay anh thấy lạnh
ngắt đi. Tuy vậy, một góc nào đó trong đầu, anh vẫn biết có sáu con mắt đang
găm thẳng vào mình. Nhưng anh cũng biết, nếu bây giờ mà chị gọi tên anh một tiếng,
phải chỉ cần một tiếng thôi, là anh không còn cần kìm nén gì nữa hết. Do cố sức,
máu trên bắp tay anh lại nhòe ra đẫm băng. Anh bấu chặt những đầu ngón chân xuống
sàn để tránh một sự bật lên điên loạn. Tiếng thở, tiếng giãy đạp trong kia mỗi
lúc một chìm dần...Có cái cối nào đang xay ù ù trong đầu? Anh lẩy bẩy đi ra cửa
sổ và cố ngước mắt lên nhìn trời. Trời đang rách toác! Anh nhìn xuống đường. Đường
phố đang thở hổn hển. Anh cố nghĩ sang một chuyện khác...Cái chuyện ấy quần
lên! ừ...ừ phải rồi! Phải rồi...Cái cư xá Mĩ. Cái cư xá Mĩ...phải rồi. Cái gì
đây? Không! Không có gì cả. Cái cư xã Mĩ đó! Thật kì lạ! Giây phút ấy, trong đầu
anh thoát hiện lên cái cư xã Mĩ màu xám thật. Hiện về một giây thôi nhưng cũng
giúp cho thần kinh anh khỏi đứt tung ra. Tựa như trượt trên một đà dốc đứng,
anh vội vã bíu lấy cái điểm mấu chơi vơi ấy. Anh gồng mình lên cố dồn tụ mọi
suy nghĩ vào đấy... Thằng nào cười đó? Tiếng cười của bọn Mĩ trên những chiếc
xe GMC, trên xác đồng đội, trên những tòa cao ốc...Tiếng cười vang lên ngay
trong căn phòng này. Đông lắm. Phải đánh bỏ mẹ chúng nó đi! Phải cho nó cháy
lên. Cháy to lên. Bùng bùng...Thằng Xanh! Cái gì đó? Cái gì kêu đó? Không,
không, anh không muốn nghe những âm thanh ở phòng bên dội sang. Nhưng không được.
Tiếng thở nghe nhỏ dần... Lại một tiếng nói đứt quãng cất lên... Tiếng đàn ông
hay đàn bà? Tai anh nhức buốt như lặn xuống nước sâu. Trời ơi! Sao bỗng im lặng
vậy? Sao không còn ai nói gì vậy nữa? Toàn thân anh cóng buốt lại. Có con rắn
nào đang quẫy lộn trong ngực điên đảo. Thôi rồi! Khổ em rồi, Nhàn ơi! Chính vào
cái lúc đầu óc anh quay cuồng thì cánh cửa phòng bỗng mở. Lặng ngắt... Lát sau,
gã thượng sĩ lù lù đi ra. Hắn vừa bước vừa xốc lại bộ quân phục đã đứt tung gần
hết khuy. Mặt mũi hắn đầm đìa mùa hôi. Đến trước bàn, gã trừng trừng nhìn thẳng
vào mặt Hoàng Xanh:
-Thiếu tá không tốt! Các ông không tốt!
-Cái gì? - Hoàng Xanh ngớ ra.
-Thiếu tá sao lại kêu tôi làm điều xấu?
Người đàn bà này không có tội mà. Người đàn ông kia tốt đấy.
Nó chỉ lo bán thuốc thôi. Tui cũng là người Thượng, tui hiểu cái bụng nó nhiều.
Người Thượng cái bụng nghĩ thế nào, cái miệng nói thế ấy, nó không biết nói dối
đâu. Tui cũng không muốn làm điều xấu đâu. Có tội đấy.
-Hả? Mày nói cái gì? - Lần đầu tiên Hoàng Xanh gầm lên - Thằng
mọi mày nói cái gì?
-Tui không phải là thằng mọi. Tui là người Thượng ông thiếu
tá kêu tui là mọi, tui thù đó.
Nói xong anh ta lầm bàm đi ra.
-Đứng lại! Đi đâu?
Một chai rượu bị quật mạnh vào tường, kê tấm lưng bè bè của
người thượng sĩ. Những mảnh thủy tinh bay lên rồi rớt xuống lạnh tanh. Anh lính
không quay lại.
Vừa lúc đó một giọng cười vang lên ở độ cao. Giọng cười sảng
khoái, vui vẻ không có một chút vướng bận gì cả. Giọng cười của ngài đô trưởng.
Thoạt tiên ngài còn cười nhỏ, sau mỗi lúc một to hơn. Lê Thuấn đang dõi nhìn
vào phía phòng tối, thấy vậy cũng cười theo. Một lát, lấy khăn tay chẩm chẩm mắt,
ngài đứng dậy, cơ mặt vẫn nháy nháy.
-Thôi đủ rồi. Thử thách đến vậy đủ rồi. Một màn kịch hay, kết
thúc bất ngờ nhưng không có hậu. Thật đáng tiếc cho ông bạn giáo sư gàn dở của
tôi không ở lại. Mà cũng may. Chút nữa thì Ooc - giơ. ông Xanh! Phải thừa nhận
bữa nay ông không gặp may rồi đó! Thôi! Stop lại đi! Thế nào, vui vẻ đấy chứ
ông Thuấn?
-Dạ! Rất ngoạn mục - Thuấn cất giọng đưa đẩy - ông Xanh đây tỏ
ra là một người dàn kịch có tài nhưng phiền nỗi kịch bản lại không hay. Dạ!
Thưa thiếu tướng, đến bây giờ tôi có thể kết luận được là ông Xanh nhàm.
Ngài nghiêm mặt lại.
-Hãy để cho ông Xanh kết luận ông Thuấn ạ! ông Xanh ở lại giải
quyết nốt hậu quả. Nói văn phòng nó cho mỗi đứa ít tiền. Mà chi cho kha khá
vào, nói là lệnh của tôi, để chúng nó quên chuyện này đi. Tôi không muốn bọn
báo chí nó dòm ngó vào quá nhiều những vụ như thế này nghe thiếu tá. Còn tên
Thượng này - Ngài vẫy Xanh lại gần - Tùy, nếu vẫn còn nghi ngờ, ông hiểu ý tôi
chớ?
-Dạ hiểu.
-Thôi ta đi, ông bạn chuyên gia tâm lí không may.
-Dạ! Đúng là không may.
Lê Thuấn trả lời với cái cười đầy ngụ ý rồi đi theo ngài Tư lệnh
ra khỏi phòng. Tiếng giày đi đến hành lang rồi mà vẫn còn nghe thấy một tiếng
cười nhỏ của y vọng lại.
-Đồ đĩ rựa!
Hoàng Xanh bật chửi và gieo người xuống ghế.
-Thượng sĩ! Thả ra! Thả cả ra. Thả ngay bây giờ. Thả hết! Con
mẹ nó!
Nhưng hắn lại vội nhổm dậy, mắt lóe lên một tia ma quái.
Chưa! Chưa xong đâu ông bạn ạ. Sự đời đâu có đơn giản đến thế.
Xuống tới đường rồi mà chị vẫn còn mơ. Gió lạnh lùa vào những
miếng vải rách trên người khiến chị co rúm lại. Khuya rồi. Liệu ảnh có được thả
ra ngay không? Nép vào một góc me già, chị có ý chờ. Một tiếng quát từ trong
chòi gác vọng ra.
-Chị kia! Muốn trở lại ngồi tù hay sao mà còn đứng đó? Đi đi!
Chị giật mình rời khỏi gốc cây, chẳng bao giờ hắn cho anh ra
cùng đâu. Mà có ra cùng chăng nữa thì cũng vậy. Làm sao dám gặp. Nấn ná ở đây
chúng sinh nghi. Thôi, đã giữ thì giữ cho trọn. Nhưng... Làm sao có thể đi được
khi chưa biết rõ số phận anh ra làm sao?
Chị còn đang lưỡng lự thì một chiếc xe Vespa trờ tới đậu sát
ngay lề đường. Người đàn ông ngồi trên xe nhẹ nhàng nhảy xuống.
-Chị! Chị lên xe tôi đưa về nhà.
-Ông... ông là ai?
Người đó chưa kịp trả lời, dưới ánh đèn cao áp sáng xanh, chị
đã thoáng nhận ra khuôn mặt xương xương của Hai Băng Giá.
-Ông Lẩm... Có phải ông Lấm...
Nét mặt Lẩm sáng bừng.
-Chị vẫn còn nhớ tên tôi! Bây giờ đi đã. Chị khoác tạm cái áo
này cho đỡ lạnh.
Cầm cái áo blu-dông của Lấm trên tay, chị ngần ngừ chưa muốn
lên xe. Chị không thể đi mà chưa nhìn thấy anh, nhìn từ xa, nhìn chút xíu thôi
cũng được.
-Lên xe đi chị! sắp tới giờ giới nghiêm rồi - Lẩm giục.
Anh Xuân ơi! Em về trước đây. Cầu mong cho đêm nay anh được
yên lành. Em sẽ tìm được anh... Nhìn lại lần cuối cùng ô cửa sổ sáng đèn, chị
đành để chiếc Vespa mang mình lao vút đi. Gió lạnh không làm chị tỉnh táo hơn.
Tiếng Lấm nói gì ào ào trước gió chị cũng không Nghe thấy. Trước mắt chị chỉ có
hình ảnh anh với bắp tay nhòa máu chập chờn... Ngồi đằng sau, chị để mặc cho nước
mắt trào ra.
Chiếc xe dừng sát lề đường.
-Đến nhà tôi rồi sao? Chị giật mình -Chưa, nhưng chị cần ăn một
chút gì cho lại sức.
-Cảm ơn...Tôi không đói. Anh đưa giùm tôi về nhà luôn.
Chiếc xe lại nổ máy bon đi. Lẩm quài tay lại đằng sau in lặng
đưa cho chị chiếc khăn tay gấp nhỏ thoang thoảng mùi nước hoa. Người này biết
mình khóc! Thấy cần phải nói một điều gì đó với Lẩm, chị hỏi:
-Anh đi đâu mà gặp tôi ở đó?
-Đi đón chị.
-Đón tôi?...
-Đêm hồi hôm chúng nó bắt chị đi, tôi cũng có mặt ở trước cửa
nhà chị. Tôi mang thuốc đến cho thằng nhỏ...Chúng nó đánh chị không?
-Không...Không!
-Làm sao chị bị bắt?
-Không biết nữa. Họ nghe tôi là cái gì đó.
-Còn tay bán thuốc?
-Tôi cũng...Giọng chị tắc lại.
-Coi chừng chúng làm tiền đó. Tôi đã nhớ rõ mặt thằng đến bắt
chị. Trán nó cao và vuông. Tôi sẽ cài đàn em đập cho nó một trận chết bỏ.
-Đừng... Đừng! Không có chi đâu.
Chị biết câu vừa rồi của Lẩm là thật lòng và chị không nghi
ngờ về sự tốt bụng của anh. Xe phanh êm.
-Tới rồi! Cảm ơn anh Lẩm nhiều.
-Chị vào đi! - Giọng Lẩm dịu dàng khác thường.
-Nếu tới đây thì có gì, chị cứ cho gọi tôi, tôi xin hết lòng,
ở cái Sài Gòn này, gặp được một người có tư chất như chị không dễ đâu. Không hiểu
sao...Thôi! Chị vào đi.
Vào đến trong nhà nhìn ra, chị vẫn thấy chiếc xe của Lẩm đậu
nguyên ở đó. Thầm lặng.
Nửa tiếng đồng hồ sau, anh cũng xuống tới mặt đường, vết đau ở tay bây giờ mới tấy lên nhức nhối. Anh dừng lại ngẩn ngơ một chút. Đường vắng tanh, chỉ còn lại vài ba bong dáng người đi lại vội vã. Nơi ngã năm có mấy chiếc xe quân cảnh phóng vụt qua. Anh nén một hơi thở dài, đặt tay nải lên vai đi ngược trở lại. Không thấy chị đâu cả. Và dù đã biết chắc chị không còn đấy nhưng anh vẫn hun hút nhìn theo con đường dẫn đến ngôi nhà nhỏ ở chân cầu. Cái bóng của anh hắt xuống mặt đường xiên xẹo. Cuộc hẹn với chú Tư thế là lỡ. Chắc chú mong lắm. Bây giờ hãy đến bùng binh ngủ tạm một đêm, mai tính. Anh lê chân từng bước, đầu óc suy nghĩ mien man. Con mắt thông thiết của chị cứ lơ lửng trước mắt... Em đã về tới nhà chưa? Dọc đường có bị sao không? Mong rằng giờ này em đang ở bên con. Tội nghiệp con! Xa mẹ lâu chắc con khóc nhiều lắm. Tất cả cơ sự này đều do anh, tại anh, tại cái tính gàn dở của anh. Nếu trận này làm ăn trot lọt, anh sẽ chuộc lại tất cả, sẽ nói với em thật nhiều, ôi! Nếu em biết rằng những ngày xa nhau, những ngày trong tù, anh đã nghĩ về em và con cồn cào đến mức nào. Một phần máu thịt của anh ở ngoài đời, anh không thể để cho chúng nó muốn đưa anh đi đâu thì đi. Anh càng không thể chết. Anh sợ... Chính mẹ con em đã giúp anh tìm về được với sự sống. Anh cần phải quay lại. Ôi! Đôi mắt của em, đôi mắt hay ngước nhìn lên bàn thờ. Lúc ấy, thằng lính to lơn kia... Chắc anh sẽ phát điên lên. Thật là trời phù hộ chúng ta phải không em? Anh chỉ còn điều an ủi, sau cơn hoạn nạn, em đã trở về với con nguyên lành. Thương em! Kính trọng em nhiều! Còn anh? Anh bất chấp tất cả. Dù thế nào anh cũng không bỏ dở công việc đang làm. Vì em và con, vì những bạn bè không còn nữa, vì những tên phản bội bấn thỉu trên đời này và vì tất cả, anh phải thiêu thành tro khu đóng quân đó. Chao! Giá có em bệnh cạnh như những trận đánh trước kia, có em bên cạnh trong những phút giây căng thẳng hiểm nghèo... Em đã đi nằm chưa? Em có nhớ cho con uống thuốc đúng liều? Anh vẫn đi chậm rãi để mặc cho lòng bịn rịn vô chừng, vết thương trên tay dường như nương vào đó mà dịu lành đi.
15/1/2016 Chu Lai
15/1/2016


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét