Ăn mày dĩ vãng 2
CHƯƠNG 9
- Có phải thiệt như vậy không anh?
Sương hỏi khi trận càn đã đi qua được một ngày, lúc bóng đêm
nhức nhối vừa nhẹ phủ tấm vải liệm màu đen xuống cánh rừng nồng máu. Mẩu cơm vắt
chấm muối tiêu ngắc cứng lại nơi cổ, anh nhổ phì ra, chiêu một ngụm nước suối
phảng phất mùi lưu huỳnh, lại nhổ nữa.
- Thật. Thằng Tuấn nói đúng nhưng chưa đủ.
- Trời!… Sao anh lại…
- Không sao lại gì hết - Hùng cười gằn - Chẳng thằng nào đẻ
ra đã là anh hùng. Mà anh hùng không biết sợ chết, không biết chao đảo, không
biết đôi lúc ngã lòng rồi cắn răng gượng lại thì không phải anh hùng. Tôi không
có trái tim dã thú trong lồng ngực.
- Không… ý em không nói thế. Em sợ chiều nay, cái lúc Tuấn
nói hỗn, anh… anh không kiềm chế được… Ôi! Con mắt anh lúc ấy sợ lắm! Lại giống
con mắt thú đang ăn đèn.
Hùng cười. Lần này thì anh cười thật sự. Đúng là suy nghĩ của
đàn bà. Nhưng mà đúng vậy. Nếu khi đó không có mặt Sương thì sự việc có thể sẽ
khác đi chút ít. Cái vẻ mặt du côn của nó, cho dù anh cố tình để nó hiện được
ra cái mặt ấy, cũng dứt khoát không thể nhơn nhơn được như vậy. Quái dị! Hùng
thoáng một suy nghĩ chua chát! Trong chiến tranh chả lẽ con người ta có thể đôi
khi căm hận đồng đội hơn căm kẻ thù? Đồng đội là cụ thể, sự xúc phạm có hình có
khối, kẻ thù là khái niệm, sự xúc phạm là mơ hồ, lúc có lúc không.
- Thực ra anh là một thằng người yếu đuối Sương ạ! - Tiếng
nói anh xen vào gió rừng như một lời thú tội trước thánh đường - Không phải một
lần đâu. Đã ít nhất trên ba lần anh thực hiện cái động tác khốn nạn đó. Chiến
tranh mờ mịt, bạn bè chết hết lớp này đến lớp khác, ngày kết thúc đang còn nằm
trong vô vọng, nhiều lúc anh muốn chạy trốn khỏi nỗi nhọc nhằn, khủng khiếp mà
sức con người có hạn, không thể mãi chịu đựng. Nhưng lại không có gan chạy trốn
đến tận cùng bằng tự sát. Càng không thể làm trò ô nhục đào ngũ hay chiêu hồi.
Anh chỉ đủ can đảm tự thương. Tức là vẫn muốn níu giữ một chút hợp pháp, một
chút thanh thản trong cái trò chơi man trá này. Mất một chân, thậm chí hai chân
nhưng anh còn cả cuộc đời sau này. Dù cuộc đời có tàn tạ thế nào chăng nữa. Anh
đã hành động giống như thằng Tuấn, giống như không ít kẻ khác một khi đã đánh đến
trận thứ mười mà chưa chết. Một cuộc đời tật nguyền, không vợ không con, không
tương lai, không niềm vui nỗi buồn, vô tri vô giác nhưng còn ngàn lần hơn vĩnh
viễn chui vào lòng đất, câm lặng. Phải là thằng cầm súng thực sự, phải đánh
nhau đến trận thứ mười thì mới nảy sinh được cái suy nghĩ này. Hiểu anh không?…
- Thôi!… Đừng nói nữa anh. Em… em hiểu. Nếu anh rủi có làm
sao, em sẽ vẫn thương anh. Thương… Thương hơn cả bây giờ.
- Anh biết là em sẽ nói như thế. Và nói chung, trong những
trường hợp như thế này, tất cả những người đàn bà tốt bụng đều nói như thế. Nói
hơn thế. Lãng mạn! Hơn em gần chục tuổi, anh biết đó chỉ là bột phát lãng mạn tức
thì. Hiện thực nghiệt ngã hơn nhiều. Rồi em sẽ cảm nhận được.
- Không!… Em khác. Em không giống…
- Đừng tranh luận, em. Không có thì giờ tranh luận đâu. Ngồi
thấp xuống! Sắp đến giờ nó rót cầm canh… Những trái pháo cầm canh, những quả
bom mồ côi bao giờ cũng đểu cáng hơn những trái rơi trực diện. Để anh nói hết.
Biết đâu sớm mai không còn kịp nói nữa? Sớm mai thực sự vào cuộc.
- Em nghe…
- Vậy mà súng đạn nó kiềng anh, nó nhất định không chịu cho
anh thành què cụt. Chắc nó muốn xơi gọn anh cả một lần cho gọn. Thế là anh đi
tìm sự què cụt khác. Ở giữa những vòng rào thép gai đầy mìn trái, không biết đã
bao lần nằm âm thầm ở giữa nó, trong anh đã nảy sinh một ham muốn tột độ là
đánh động. Ho một tiếng, khịt mũi một tiếng, chạm rào, sôi bụng, thậm chí cả
trung tiện một cái ngay trước mũi thằng gác. Thế là xong. Chúng sẽ bắn ra vài
tràng, quẳng ra vài trái tạc đạn, bấm con cóc mìn cho nổ tứ tung… Chết thì
thôi. Không chết, sáng ra sẽ được chúng nhặt về, băng bó đánh đập theo đúng thủ
tục chơi rồi sau đó sẽ đày ra Côn Đảo, Phú Quốc… Đâu cũng được, bao lâu không
thành vấn đề, miễn là không chết. Vậy mà vẫn không xong. Sự may mắn, hay nói
cách khác là cái què cụt vẫn không chịu đậu vào vai anh. Nó còn muốn hành anh.
Còn thích thú được nhìn anh tiếp tục gồng lên, giằng xé, hoảng loạn hết trận
này sang trận khác, hết mùa này sang mùa kia. Dần dần cái ngây ngất sau một lần
đánh thắng, cái đau buồn sau một lần chiến bại trong anh không còn nữa. Tất cả
vón cục lại thành nghĩa vụ, thành bản năng tự vệ và một chút tự trọng đàn ông.
Lý tưởng ư? Mục đích ư? Giải phóng miền Nam ư? Vẫn có cả đó nhưng nó đã lặn vào
đâu đó trong người sâu lắm rồi, không dễ mỗi lúc mà moi ra nhấm nháp như thứ
lính chuyên ngồi văn phòng, lính phía sau, cách cái chết nửa vòng trái đất.
Đó, sự thật về anh, về tên Việt Cộng sừng sỏ thiên hạ đang nể
trọng là như thế đấy.
- Em biết… Em hiểu… Em…
- Chưa hết! Vào giây phút hiểm nghèo nhất, anh đã hiện nguyên
hình là một tên ăn cắp. Ăn cắp một hộp sữa dành cho thương binh…
- Anh Hùng… Em không nghe nữa đâu - Cô gái vội lấy tay bịt
tai lại.
- Em phải nghe! - Con mắt Hùng cháy lên trong một vẻ hứng
khoái man rợ - Cũng trong một khu rừng như thế này, cũng bom đạn và cũng đói
như thế này, buổi sáng, anh đã quyết định khai trừ ra khỏi Đảng một chiến sĩ
gan dạ nhưng đã tự tiện ăn hết phần gạo dữ trữ quy định. Gạo lúc đó là máu, là
danh dự, là sống còn, xẻo vào gạo là xúc phạm đến tất cả. Nhưng em biết không?
Về đêm, chính anh đã lợi dụng bóng tối bò sang lán thương binh móc bồng ăn cắp
một hộp sữa. Sữa còn quý hơn gạo. Không dao, không kéo, chỉ bằng hai hàm răng,
anh đã cạp thủng nắp hộp và mút một hơi, đến đáy… Sáng ra, bên ấy nháo lên, dằn
hắt, nghi ngờ, sỉ mạ nhau. Còn bên này, anh cắm đầu xuống im lặng. Im lặng cho
đến tận bây giờ. Hết! Anh là như thế. Bây giờ đến em. Em có quyền khinh anh, xa
lánh anh, bỏ anh, tuỳ!
- Không! - Sương nói sau một phút cúi nhìn xuống đáy hầm, nơi
có con chôm chôm bị gẫy giờ đang lê lết tìm vào góc kín - Em thương anh… Càng
thương. Trước đây thương anh nhưng… vẫn ngại. Anh xa cách, anh khó hiểu, anh…
sao ấy. Bây giờ gần anh hơn, dễ hiểu hơn, như đã thấy anh, gặp anh, trò chuyện
với anh ở đâu đó nhiều lần rồi. Em thương cả sự yếu đuối của anh.
Đôi mắt Đức Mẹ nhìn chúa Hài đồng cũng chỉ vời vợi yêu thương
đến thế là cùng. Hùng tự dưng muốn ngủ, ngủ thật say, ngủ luôn trong không gian
loà sáng ánh hào quang vô biên đang từ đôi mắt của cô không ngớt toả ra. Và anh
ngủ thật… Một cái hôn nhẹ vào trán. Tiếng nói ai dịu nhẹ, mơn man:
- Ngủ đi! Ngủ một chút đi anh!… Đã hai ngày hai đêm nay, anh
chưa chợp mắt chút nào rồi. Em sang hầm chị Hai đây. Em sợ vết thương của chị
nhiễm trùng. Tức cười ghê cơ! Vết thương của mình không lo, cái sống của mình
không lo, lại cứ đi lo cho tiểu đoàn anh Tám ở bên kia sông. Chờ nhen! Em sẽ
quay lại ngay…
Sương đi rồi, thiếu vắng hơi ấm của cô, anh bừng tỉnh. Lạnh.
Và trống trải. Anh áp má vào thảm lá còn vương lại chút hơi ấm của cô, khẽ mỉm
cười bâng quơ… Ôi chao! Nếu những ngày này không có em, không có cái dịu dàng
cam chịu, cái thấu đáo thăm thẳm nhân hậu của em, cuộc đánh càn này, cả cuộc
chiến đấu này sẽ nhạt nhẽo và khiên cưỡng biết chừng nào!
Đầu hầm đằng kia, Tuấn đã tỉnh dậy, im lìm, chỉ thấy tàn thuốc
rê chốc chốc chấm lửa vào đêm. Anh nhìn đăm đăm vào đốm ma chơi ấy… Từ lúc đó đến
giờ, Tuấn tỏ ra sợ anh, lảng tránh anh. Và anh cũng không có ý định làm một điều
gì đó để cái đầu hỗn hào kia bình thường trở lại. Nó đã hỗn thì nó phải trả
giá. Thậm chí anh muốn cái vật thể kia biến đi, biến đi khỏi cánh rừng này, biến
vĩnh viễn. Cuộc đời ngớ ngẩn. Đứa ưu tú ngon lành thay nhau chết rụi. Thằng dở
người dở ngợm lại cứ sống nhăn. Nói cho cùng, vị trí cái chuôi đạn màu xanh
dương kia đáng lẽ phải nằm ngược trong bụng mày chứ không phải bụng thằng Bảo
đâu, Tuấn ạ! Đồ khốn!… Chao! Ngày hôm nay, mới chỉ là khúc dạo đầu của bản nhạc
tử thần mà đã hụt đi ba thằng. Hai chết, một bị thương. Ngày mai, ngày mai nữa?
… Thêm thằng nào? Hết sạch bách hay vẫn còn rơi rớt lại mấy thằng bố láo như
mày? Trong số đó có tao không? Giả dụ sau cuộc càn, chỉ còn lại mình tao với
mày trong khu rừng trống hoác này thì… hay đáo để. Hai thằng. Một thằng giơ
chân, thằng kia giơ tay, rút cục chả thằng nào mất đi cái gì, chỉ tiêu vong niềm
kiêu hãnh ít ỏi của dân lính chiến mỗi khi nhìn vào mắt nhau. Kiêu hãnh!… Hơ!
Tao là mày, mày là tao. Hai thằng hai mảnh gương vỡ phản ảnh nhau, soi thấy lục
phủ ngũ tạng, cứt đái trong bụng nhau. Cho nên trong căn hầm này, trong cánh rừng
hoang dại đang bị huỷ diệt này, dù mày đã tỉnh lại, một phần trong tao đã tỉnh
lại, nhưng sự có mặt của mày, của chính tao trong mày, cũng khó chịu quá thể.
Tiếng cười quái dị không rõ nghĩa của Hùng khiến thằng người
đầu hầm bên kia giật nảy. Hắn quay phắt lại. Nòng AK rung nhẹ…
- Định cướp cò nữa hả? Hay chủ bóp cò? - Hùng nói lạnh lẽo -
Quay mặt lại! Tiếp tục canh chừng phía cửa rừng. Quay!
- Tất nhiên là sẽ quay - Cái cổ đã vẹo đi nhưng cái giọng làu
bàu vẫn rớt lại - Tôi sẽ vẫn làm nhiệm vụ của tôi, thằng lính. Làm vì tôi, vì
cái mạng sống của tôi trước đã. Anh đừng nặng giọng như thế. Nếu tính thanh
toán với tôi, anh cứ thử đi.
Cay đắng chưa? Thằng ôn con đã anh anh - tôi tôi từ lúc nào
thế này? Lại còn cái giọng đao búa kia nữa? Phải chăng cứ lao vào chém giết, dù
nhân danh điều này nghĩa nọ, cái tính du côn thảo khấu đã ngấm trở lại nó rồi
ư? Nếu thế thì…
- Im cái mồm! Bây giờ không phải lúc giở giọng lưu manh. Cút!
Chạy đi báo cho hai mũi trưởng đến đây hội ý ngay! Chú ý nghe tiếng pháo đề-pa!
- Rõ! - Tuấn trả lời theo đúng điều lệnh rồi băng mình vào
bóng tối.
Xem ra nó có vẻ khá hơn rồi đấy. Hùng nhìn theo, nghĩ thầm.
Tuy vậy nó cũng làm hỏng mất cái buổi tối hôm nay của mình, một buổi tối chuyển
tiếp sang cái chết sớm mai, một buổi tối còn vương lại hơi ấm thân thể em trên
đám lá vừa đứt cuống. Giờ này em đang ở đâu? Em đi sao lâu về thế!…
Ầm!… Một trái cối mồ côi không biết từ đâu quất thẳng vào mớ
suy nghĩ rối nhằng của Hùng. Vừa kịp thụt đầu vào, anh đã thấy tất cả tối sầm,
đất đá rùng rùng chảy về lèn chặt, bóp nghiến lấy hai bên sọ não… Hùng mê đi với
một đốm sáng vàng khè tắt lịm trong đầu: Vậy là cuối cùng, số phận ta cũng đã tới
điểm chót!… Nhưng sao ta lại chết trước em? Chết trước lời tiên đoán ấy?… Vĩnh
biệt!
… Nhưng một lần nữa cái chết lại vuột khỏi vai anh như một sự
giỡn đùa độc ác. Thời gian câm lặng trôi qua bao lâu không biết nữa. Chỉ mang
máng nhớ rằng sau một khoảng thời gian ngừng thở, khối đất đá bủa vây quanh anh
bỗng nới lỏng dần ra rồi một tiếng gọi ở nơi nào xa lắm vẳng đến. Tiếng gọi rõ
hơn, hào hển, run run, uất nghẹn… Tiếng gọi xen vào tiếng cào đất cồn cột của
những móng chân lượn rừng mỗi lúc mỗi hối hả. Tôi đây… Tôi đây… Ai gọi đấy? Tiếng
trả lời quánh đặc trong cổ, chỉ có những bong bóng màu sủi ra ở mũi ở mồm. Anh
lại mê đi… Ta chết!… Chết thật rồi! Nhưng sao lại nhẹ nhàng khoan khoái làm vậy?
Dễ chịu biết bao! Tại sao phải chờ đến tận lúc này mới chết? Thật là ngờ…
Ít phút sau, thân thể anh được lôi lên khỏi lòng đất, xây xát
bầm dập hết cả nhưng không có vết máu. Một đôi môi ẩm ướt và nóng bỏng của ai gắn
chặt vào miệng anh hút mạnh… Hút nữa… Tấm màn đen trong đầu bị xé rách từng mảng.
Từ đáy vực xoáy nước, anh cảm thấy rõ ràng mình đang từ từ nổi lên. Bồng bềnh.
Buốt lạnh… Đôi môi ấy không hút nữa. Nó bồn chồn chuyển lên mắt, lên mặt, trán…
Vẫn nóng ướt và vội vàng… Hùng mở mắt ra… Khuôn mắt Sương đang phả xuống anh
làn ánh sáng xanh dịu, vỗ về, hân hoan, xa xót. Anh gượng ngồi dậy. Đến lúc ấy
anh mới chợt nhìn thấy khuôn mặt thứ hai, khuôn mặt của Tuấn. Nó không nói gì,
chỉ nhìn anh im lặng. Tiếng nói của Sương thốt lên:
- Trời ơi!… thế là anh sống rồi!… Sống thiệt rồi, Tuấn ơi!
May quá! Nếu lúc ấy Tuấn không về kịp móc bới anh lên thì…
Cô bật khóc rấm rứt. Hùng quay đi, nhìn trở lại lỗ đất đen
ngòm khẽ rùng người…
Chính giây phút kỳ lạ của sự choáng ngợp giữa hai làn sóng
tình yêu và tình đồng đội, sự sống và cái chết, lòng đất và bầu trời cùng lúc
ào tới, trong cái đầu đang còn nhức ong ong của người chỉ huy đặc nhiệm vùng
căn cứ lõm đột nhiên bật lên một ý tưởng táo bạo.
- Tuấn ơi! - Anh quay sang nắm chặt lấy bàn tay hai người -
Ngay đêm nay, chúng ta sẽ đột kích vào đầu não của chiến đoàn Mỹ 52. Chỉ có như
thế mới tránh được cái chết chùm đã quá rõ ràng. Các bạn hãy ủng hộ tôi.
Tuấn lặng lẽ gật đầu. Còn Sương, cô khẽ khẽ thở ra… Đột kích
ư? Huỷ diệt ư? Cả cái tên chiến đoàn 52 trúc trắc ấy nữa ư? Cô không cần biết.
Không thích biết. Giờ đây đối với cô, chỉ có anh đang hiện diện, đang thở, đang
nói, đang nhìn cô, thế là đủ. Anh đang đúng là anh, tột cùng xa lạ và cùng tột
cùng gần gũi như ngày nào.
CHƯƠNG 10
Thời buổi thiên hạ đang tự thoát xác để lao vào làm ăn, rình rập,
cạnh tranh, cuồng nộ, nắm bắt, lao lên, mọp xuống, náo động, âm thầm, bộc trực,
độc địa, vấp ngã, vọt thẳng, nhà tù, vinh hoa… còn gầm gào dữ dội và chết chóc
hơn cả những trận B52 rải thảm dạo nào, tìm được Tuấn, một chủ hãng tư nhân nắm
trong tay ba, bốn tổ hợp sản xuất, kinh doanh như Ba Thành nói, đâu có dễ dàng
gì.
Một vi-la kiểu điền trang nhưng có nhà tầng, có vườn cây râm
mát bao quanh? Tất nhiên! Một biệt thự êm đềm có đàn chó nằm phục bên thềm đá,
có vòm hoa giấy đủ màu phủ kín những ban công trang nhã? Tất nhiên! Và cũng tất
nhiên luôn cả cái chuyện Tuấn không có nhà, đang bận đi ký một cái hợp đồng béo
bở gì đó ở tận đâu, buộc tôi phải lủi thủi quay ra hẹn lúc khác trở lại mà tịnh
không có một lời mời chào nán lại uống ly nước, ly trà hay dùng tạm bữa cơm dưa
muối rau cà cái đã. Tất nhiên và ngẫu nhiên. Cuộc đời chả bao gồm một chuỗi những
ngẫu nhiên cay đắng hay tất nhiên ngọt ngào, cũng có thể ngọt ngào đó là gì? Vả
lại, biết đâu nhà người ta lại nghĩ đến mình đến nhờ vả, xin xỏ như bao kẻ thất
cơ lỡ vận khác đã từng đến đây hoặc sẽ đến đây mỗi sáng mỗi chiều. Chả lẽ với bộ
mặt rách rưới, bộ cánh hôi xì lại vô lối vỗ ngực nói rằng ngày xưa, ngày ấy, đã
có một thời tôi là sếp của ông chủ ngôi biệt thự đây? Chưa đâu. Trong trái tim
võ vàng bệnh tật của tôi vẫn còn một chỗ rắn câng không cho tiếng nhục chui luồn
vào được. Nhục! Nói cho cùng, cũng là một thứ nguỵ biện thoi thóp thôi. Cuộc đời
tôi kể từ ngày ra khỏi rừng, đã chịu nhục quá nhiều rồi, chịu đến nỗi thành
quen. Thì đang không lại mở cuộc hành trình ngớ ngẩn đi tìm sự thật về người
đàn bà đó chẳng là một hành vi quá ư nhẫn nhục quá nhiều rồi, chịu đến nỗi
thành quen. Thì đang không lại mở cuộc hành trình ngớ ngẩn đi tìm sự thật về
người đàn bà đó chẳng là một hành vi quá ư nhẫn nhục đó thôi? Lạ lùng! Giống
như canh bạc về sáng, càng nhọc nhằn, càng cam chịu, ý muốn diễn đạt đến đích ở
tôi càng thôi thúc.
Đã có lúc, vào những đêm khuya khoắt không ngủ được, chấp chới
trong tôi một ám tượng: phải chăng sự báo oán của Sương (nếu như em chết thật)
của bao nhiêu linh hồn vất vưởng khác thuộc bên này hay bên kia, do chính tay
tôi hoặc mệnh lệnh của tôi gây nên đã khiến cho tôi giờ đây thành thân tàn ma dại
dường này? Trong chục năm cầm súng, tôi đã giết bao mạng người? Mười ư? Không
chắc. Mười lăm? Chưa phải. Hai mươi… Hai nhăm? Những mốc ngày tháng, mốc sự kiện,
những trận đánh, những khuôn mặt trai có gái có, già trẻ đều có, chợt hiện lên,
diễu hành như sương khói trong đầu… Cuối cùng tôi nổi gai người khi danh sách
âm hồn ấy được ấn định ở con số 55! Năm mươi nhăm mạng người cả da vàng lẫn da
trắng cho mười năm, cho hàng núi khổ ải kinh hoàng. Để rồi kết thúc bằng sinh vật
người cuối cùng lại là em? Không! Không thể như thế dẫu rằng mọi chuyện khủng
khiếp nhất vẫn có thể diễn ra như thế. Năm mươi lăm! Cứ mỗi người bên này đốn gục
năm mươi lăm người bên kia và ngược lại thì con số sẽ lên đến bao nhiêu? Những
linh hồn vất vưởng sẽ thực hiện hành vi báo oán cho tới tận bao giờ? Ai báo oán
ai? Hay trận đòn thù chất ngất khí lạnh hờn căm lại tiếp tục xảy ra nơi địa ngục?
Tất nhiên, thưa bạn đọc! Khi trong người thấy khỏe, tôi cũng
đủ tỉnh táo để nghĩ rằng, giết đi một lực lượng đại diện cho cái ác thì có
nghĩa là anh đang làm điều thiện, vậy thì oán cái nỗi gì? Nhưng nhỡ ở dưới đó, ở
đâu đó, nơi âm ty tăm tối hay vùng đất đai xa lạ, những linh hồn kia lại cãi họ
mới chính là đại diện cho điều thiện thì sao? Không biết! Nhức đầu lắm. Tương đối
hết! Kệ cho cuộc đời phân xử, cho thời gian chỉ rõ trắng đen. Lúc này tôi đang
lận đận đi tìm cái mảnh linh hồn bé nhỏ của tôi đang ký gửi vào em kia mà.
Tuy vậy, năm mươi lăm mạng người… Thế cũng là nhiều, quá nhiều
cho một đời cầm súng, nhiều tới nỗi, nói ra điều ấy xin những người cộng sản
chân chính trong cuộc bỏ lỗi cho, tỉnh uỷ và tỉnh đội phát xót ruột. Chao ôi!
Cũng xin một lần thể tất. Nồi da nấu thịt, kẻ ngã xuống dù ở tuyến này hay tuyến
kia, đều là con dân của một vùng đất nào đó, có ai xót ruột giùm không? Câu
chuyện này rồi đây sẽ gây phiền rất nhiều cho tôi mà nếu bạn đọc cho phép, tôi
sẽ có dịp trở lại.
Còn bây giờ, trong khi chờ tối để trở lại nhà Tuấn theo lời hẹn
rụt rè của một bà má nói tiếng nói tiếng Bắc có nét mặt hao hao giống ai mà tôi
không tài nào nhận ra được, tất nhiên là không giống như Tuấn, trong dạ dày chỉ
có mấy bắp ngô đỡ lòng, tôi lững thững ra bờ sông.
Dòng sông mùa này nước đục. Bên kia sông là một khu đất cao rộng
chừng ba héc-ta mà trí nhớ tôi không đến nỗi tồi thì đó chính là căn cứ của Bộ
tư lệnh chiến đoàn 52 Mỹ trước đây, hiện giờ được phủ kín bằng màu xanh mướt mắt
của những rặng điều. Còn phía sau, lần này lại thuộc về con mắt quan sát của
tôi chưa đến nỗi già nua cổ hủ lắm thì đó là vương quốc của ái tình được ngự
trong những căn chòi dạng cam-pinh nằm kín hở trong xôn xao lá cành.
Một bên là rung giạt lịm hồn, một bên là chiến tranh đẫm máu,
bên này là hiện tại rì rầm, bên kia dĩ vãng xa ngắt, phía trước là nỗi đau tột
cùng, đằng sau lại là hứng cảm tột độ. Tôi chơ vơ đứng giữa, để mặc cho thân
mình chìm nghỉm xuống vùng ký ức lạc lõng có lấm tấm những hạt nắng đang nhẩy
nhót trên lá bèo lục bình…
… Mờ sáng hôm đó, chúng tôi đã có mặt ngay bên cạnh nách đối
phương, trong một lùm bụi rậm rạp đầy gai mắc cỡ. Mắc cỡ gì nữa ơi loài hoa
trinh nữ? Chỉ giây lát nữa thôi, tất cả sẽ rừng rực lửa khói, hoa có khép nép
xiêm y lúc này cũng chả để làm gì.
- Sao anh không đưa chị Ba đi cùng? - Tuấn hỏi vào tôi nóng hổi
- Lúc ra khỏi cửa rừng, chị ấy nhìn theo anh cái kiểu gì mà nếu là em thì dứt
khoát hai giò sẽ dính lại.
- Sương cũng muốn đi nhưng Hai Hợi không cho - Tôi trả lời, đầu
óc dịu đi trong ý nghĩa về Tuấn, về tình cảm đồng đội, huynh đệ đã được thiết lập
trở lại - Cô ấy bảo chỗ của Sương là ở phía sau, ở hầm cứu thương, ở trong quả
tim đàn ông chứ không phải ở ngoài cái bãi đầy cứt Mỹ và nước đái điếm ấy. Ghê
chưa?
- Anh Hai…
- Gì nữa? Căng mắt mà nhìn đi!
- Em vẫn nhìn. Hồi đêm em…
- Biết rồi. Bỏ qua đi! Thằng lính nào chả có lúc khùng điên.
- Không!… Không phải chuyện ấy.
- Chuyện gì?
- Em… Em vừa được ngủ với đàn bà xong. Lạ lắm!
- Hả?… Ngủ với đàn bà?
- Vâng! Đàn bà.
- Khi nào?
- Khi đêm. Lúc chúng mình chuẩn bị xuất phát.
- Ai thế?
- Cô… Cô Thu giao liên.
- À, con nhỏ mới đưa công văn xuống khi tối. Trẻ trung, béo tốt,
răng hơi hô một tí, ngực căng, mắt lúng liếng… Được đấy. Nhưng tại sao lại
nhanh thế? Đã bao giờ tao nghe mày nhắc đến nó?
- Thì em cũng vậy. Cứ như là nằm mơ ấy. Đến bây giờ em vẫn
chưa tin là thật. Năm thì mười hoạ mới gặp Thu một lần. Lúc ở địa bàn, khi ở hậu
cứ, chỉ thấy con mắt hay hay, cái miệng có duyên, đường hông ngon ngon, vậy
thôi. Cô ấy thiếu gì các bố sĩ bóng bẩy, nhiều tiền trên bộ tham mưu bám vào, sức
ấy một thằng lính quèn, đang có án kỷ luật giết bạn, lại tròn ủng xấu xí như em
dám mơ màng.
- Khẽ! Chúng nó bắt đầu lục tục trở dậy. Chuẩn bị đi!
- Chưa đâu. Mới có 4 giờ 30. Còn nửa tiếng nữa. Em kể nốt.
Tôi nhìn nhanh sang nó. Đúng là nó cần phải kể cho xong thật.
Nếu không được nói, được kể, bằng vào đôi mắt ngây ngây cháy sáng kia, nó dám vỡ
tim ra mà chết mất.
- Nói nốt đi! Nhưng nhanh lên. Miệng kể, mắt phải nhìn.
- Rõ! Cái lúc bới móc được anh lên, hai bàn tay sưng tấy, đau
quá, không ngủ được, em bèn mò ra suối với ý định ngâm tay vào nước lạnh cho dịu
đi. Bất ngờ lại gặp Thu đang tắm ở đó. Tắm truồng hoàn toàn. Chắc là vượt trên
mười cây số đồng bưng tới đây nực nội quá, cô ấy phải tắm cho mát. Nhìn thấy
em, cô ấy chết sững. Còn em, đang lẽ phải quay lên mới ra cái thằng đàn ông có
học nhưng lại cũng chết sững luôn. “Lên đi! Ra đây làm gì! Dơ!”. Cô ấy nói cáu
kỉnh. Tự dưng bị chửi, em cũng vặc lại luôn: “Ra ngâm tay. Ngày hôm nay cô có
biết ở đây đã xảy ra cái gì không? Hai chết, hai bị thương, cũng sắp chết! Suối
này của cô đấy à?” Cô ấy im lặng một chút rồi nói khẽ: “Xin… Xin lỗi! Vậy anh
ngâm lẹ lên để tôi còn tắm. Sắp tới giờ chúng đánh pháo rồi”. Trời đất! Anh bảo
lúc ấy còn thiết ngâm nga gì nữa. Mắt em cứ dán vào bả vai, bộ ngực đêm tối như
thế mà vẫn cứ trắng sáng lên. Một cái pháo sáng oằn oèo rơi xuống khiến cho em
thoáng thấy đôi mắt Thu nhìn em lạ lắm. Nhìn vào cái băng trắng trên đầu, vào bọ
quần áo tơ tướp, vào hai bàn tay cong quèo, nhìn hết. Em lúc đó chắc giống một
thằng ăn mày. Rồi đột nhiên cô nói nhỏ: “Sao cứ đứng thế? Kỳ giùm tôi cái lưng
một chút có được không?”. Tất nhiên là… Em lội xuống liền, vấp ngã giúi giụi.
Chà! Lần đầu tiên được đụng tay vào một cái lưng con gái, tay em run bắn, cứ kỳ
trượt lung tung ra ngoài. Mà này, buồn cười lắm cơ! Hoá ra cái lưng của họ cũng
chả khác cái lưng bọn mình bao lăm. Cũng xương sống, cũng xương sườn, cũng thịt
da chỗ ráp, chỗ nhẵn, chỉ có cái khác là trắng hơn thôi. Thế mà cứ tưởng cái
lưng họ mềm lắm, mịn màng lắm, sờ vào nóng bỏng tay? Hồi lâu, chắc bị nhột, cô ấy
bỗng quay mặt lại… Thế là mắt em mù luôn, không còn trông thấy gì nữa, vội vơ
quàng lấy cái màu trắng trắng tròn tròn ấy siết chặt… ướt quá!
- Thôi, biết rồi! - Vừa nóng ruột thực sự vừa pha một chút
ghen ghen, tôi càu nhàu ngắt lời. Nhớ là phải nện ngay khi chúng vừa ló đầu ra
khỏi hầm nghe chưa?
- Nghe rồi. Nện ngay! Nhưng còn tí nữa, nói nốt đã. Nhỡ chốc
nữa không còn mồm mà nói thì sao? Thế Tuấn nuốt nước bọt khan - Lần đầu tiên… ấy,
đúng là lần đầu, thề thần phật, em không còn biết xoay xở ra sao cả. Nhất là lại
ở trong nước, Thu cứ trơn tuột, cứ giãy ra, em bế thốc Thu lên bờ. Đặt xuống cỏ.
Nằm đè lên… Lúc này Thu không giãy đạp nữa, chỉ thì thào: “Dơ, dơ hết anh… Găng
võng!”. Thế là chạy như điên về hầm lấy võng. Ra đến nơi, Thu không còn ở đấy nữa.
Say máu rồi, em lao thẳng về hầm cô ấy. Cũng không có nốt! Nhưng lại ngửi thấy
mùi xà bông Ba Bê quanh quất ở đâu đó. Như con hổ đói mồi, em sục vào từng gốc
cây, bụi rậm… Và cuối cùng tìm thấy Thu đang đứng run như thằn lằn đứt đuôi ở một
gốc săng máu. Em ào tới… Thu nhủn người ngã vào tay em, miệng lắp bắp: “Từ từ
chớ anh!… Đừng làm em sợ!”. Tai ù đặc, còn nghe được cái gì nữa, em bế Thu trở
lại võng…
- Xong chưa? - Tôi hỏi.
- Sắp xong. Chỉ tại cái võng, không thì xong rồi.
- Võng làm sao?
- Võng - đúng là …võng, cứ lùng nhà lùng nhùng không làm sao
xoay xoả nổi, hết ngồi lên lại nằm xuống, mồ hôi mồ kê vã ra như tắm. Mà thân
thể nóng bốc khói lên rồi. Cuối cùng em đã nghĩ ra được một cách, hay chính
Thu, bằng mắt, đã gợi cho em cách đó. Chết mất thôi, nói anh đừng cười nhé! Em
đã phải dùng cả hai tay nắm chặt đầu dây võng đu rướn người lên. Mỗi lần rướn
là mỗi lần lôi cả thân hình Thu lên theo tới nửa mét. Rồi lại buông xuống. Cứ
thế, rướn rồi buông, buông rồi lại rướn, hai đứa miết vào nhau, quay cuồng đảo lộn,
thây kệ cho vải võng kêu như pháo rít. Mà pháo có rít thật lúc ấy cũng mặc, thậm
chí nếu anh có đứng bên cạnh mà quát: “Đồng chí Tuấn! Tôi sẽ khai trừ Đảng đồng
chí!” thì em cũng đành để bị khai trừ quá?
- Chà! Chúng nó có vẻ đông đấy.
- Đông chứ! Thằng Mỹ nào mà chả đông… Rồi mọi việc cũng kết
thúc. Thu ngồi dậy, mặc quần áo, gục đầu xuống đầu gối khóc: “Tuấn đừng khinh
tôi. Tôi không phải đứa con gái… Thấy Tuấn khổ quá, ngày mai lại lao vào chỗ chết
nên… nên tôi không nỡ. Mà cũng tại Tuấn cơ. Người gì mà tàn bạo, tôi… tôi không
thể cưỡng…”. Em cũng mếu máo lại: “Khinh gì? Sao lại khinh? Chính tôi là kẻ
đáng khinh thì có. Nếu Thu khóc nữa, tôi nhảy xuống sông tôi chết để tin nhau”.
Khí… Khí! Nói là nói thế chứ xuống biển cũng chả chết nữa là
xuống sông. Rồi em ngớ ngẩn hỏi tiếp: “Nhỡ … Nhỡ có chửa thì sao? Liệu… chửa
không?”. Đến lúc ấy Thu mới gạt nước mắt, gượng cười: “Anh khoẻ quá! Cứ như
đánh giáp lá cà với biệt kích Mỹ. Cạch đến già”. Em nói…
- Thôi, đủ rồi!
- Tí nữa. Em nói, Thu ơi, đây là lần đầu, đau đau thế nào ấy
nhưng còn sống trở về, nhất định anh sẽ hỏi Thu làm vợ. Cô ấy không trả lời. Thế…
Thế anh bảo Thu có yêu em không?
- Yêu - Tôi nói cho qua.
- Vậy thì xong rồi. Em nói đủ rồi. Anh ra lệnh đi! Cần thịt
bao nhiêu thằng nào?
- Ngồi im tại chỗ, tạm dẹp hình ảnh con nhỏ sang bên, nghe nổ
lệnh là quất hết cơ số đạn. Tao bò sang tổ thằng Vượng và tổ thằng Hân một
chút.
- Khoan! Để em xem nào - Tuấn lầm bầm tính toán - Tất cả có 9
người tổng cộng 45 trái B40, 72 trái lựu đạn, 540 viên đạn nhọn, được, dư sức
xoá sổ cái đầu con rắn da trắng này. Anh đi đi!
… Trận tập kích bằng hoả lực sáng hôm ấy chậm mất hai tiếng
so với ý định ban đầu. Đối phương đã phá bỏ lệ càn vào giấc sớm. Tám giờ, nắng
đã lên chói chang rồi mà trong chốt vẫn chưa có dấu hiệu gì là sắp hành quân,
trừ vài thằng đi đái, đi ỉa. Một thằng lính da đen cao to tới thước tám, cởi trần,
mặc quần vải lừ lừ tiến đến ngay trước mặt tôi, chỉ cách một bụi rậm. Nghĩ rằng
nếu nó tiến tới nữa thì chỉ còn cách thọc một mũi dao vào cái bụng thây lẩy,
đen nhễ nhại kia, nhưng không! Hắn chạng chân, vạch quần ra đái tồ tồ, vừa đái
vừa ngáp như đứa trẻ nửa đêm bị bắt phải ra đái ở thúng tro đầu hè. Từ dòng nước
vàng đục ấy, mùi rượu và mùi nước giải khai nồng xộc thẳng vào mũi tôi đến muốn
hắt xì hơi. Tuấn chun mũi thì thào: “Mẹ nó! Đái như trâu đái. Cái dái gì mà to
quá cỡ, căng chằng chằng, phải gấp đôi người mình”. Tôi không nhận ra cái gấp
đôi ấy bởi lẽ tâm trí đang dồn cả ra bìa sông. Thằng này xuất phát chậm một
chút không sao, càng chậm càng tốt nhưng còn hai thằng kia, thằng dưới sông và
thằng trên trời có chậm theo không? Hay là nó cứ y kế hoạch nện trước thì cánh
Hai Hợi, Ba Sương sẽ ứng phó ra làm sao? Chợt hận mình không phải là dân đặc
công để khỏi phải nằm im ngửi nước đái, cứ lẻn vào quất rụi chúng ngay trong hầm.
- Chợt từ phía Biên Hoà có ba chiếc cán gáo đang è è bay lên,
nặng và tròn như ba con nhặng no mồi vụt bay từ đống phân trâu. Tôi thốt lạnh
xương sống. Vậy là chúng bắt đầu triển khai trò chơi huỷ diệt! Khốn nạn! Tự
dưng lại bỏ trận địa ra đây để thúc thủ ngồi nhìn chúng nó tiêu diệt từng anh
em mình trong cụm rừng đó!… Ơ! Nhưng sao chúng lại bay đến đây? Tính đổ thêm
quân để quyết ăn gỏi đối phương một lần à? Tốt thôi! Một đống lúc nhúc chưa đủ
sao mà lại còn phải thêm mới nếm? Giàu thế, các người anh em ngoại quốc? Tốt
thôi! Để bọn này quạt cả thể cho đã tay. Ba chiếc trực thăng sà xuống thấp, nới
rộng vòng lượn, chao cánh chuẩn bị hạ càng… Tôi thở phào. Dù sao cũng nhẹ đi một
việc. Chỉ trách Hai Hợi ù lì, thích bám cứng lấy cụm rừng đó, nói rằng để tiện
bắt liên lạc với người của Tám Tính bên kia sông khi có tình huống xấu xảy ra.
Ba chiếc cán gáo đã hạ càng, bụi đỏ bốc lên mù mịt như ở đó
đang xuất hiện một cơn lốc máu, sức gió táp rát mặt những thằng lính đang lăm
lăm đặt tay vào cò súng ở chiến tuyến bên này. Từ trong các lô cốt thép cơ động,
những căn lều bạt trấn bao cát, những thằng người vâm vam to tát dường như đã cồn
cào chầu chực từ lâu, chỉ đợi có thế là túa ra đủ màu trắng đỏ đen. Chắc những
thằng con nhà giàu này chạy ra đón bia, rượu đồ hộp hay đón một viên tướng nào
đó lên uý lạo chúng trước cuộc càn? Ngực tôi bỗng rung lên bởi một niềm vui gần
như khoái trá sắp được nhả đạn hết cỡ tay vào một đối phương đích đáng đang sắp
hiện ra bằng xương bằng thịt. Cái khoái trá bản năng của những sinh vật đã chịu
đựng biết bao u uất, khổ ải đang cần được giải toả vào sự tiêu huỷ những hình
bóng lờ mờ, xám đục, không rõ hình thù, không thành ranh giới chứ hầu như có rất
ít tia sáng lý trí rọi vào. Giải toả xong là em, trở về với em, được tắm táp,
được ăn một chén cơm thật nóng và sau đó là một giấc ngủ bên em, ngon lành. Thế
thôi.
Nhưng không phải! Nhảy xuống từ ba cái lồng sắt dữ tợn chẳng
hề có một thùng thực phẩm, một viên tướng hai sao, ba sao nào. Như cái trò đùa
dớ dẩn, chỉ có một đống những đứa con gái Việt Nam da vàng, ăn mặc đủ kiểu, trắng
hồng phấp phới, mini jupe phướn lên, ống quần loe xoạc rộng, rốn hở, đùi hở, ngực
phây, mông mẩy bay ra, bị lôi ra, kéo tuột, xốc nách, vác lên vai, cắp ngang bụng,
ngầy ngậy, nhốn nháo, phát rồ, biến mất tựa những con nhái đã lột trắng nhễu
vào lều, vào hầm, vào bụi, vào sau gò đất, vào tất cả những nơi có thể hạ được
cái lưng con gái xuống để làm trò đực cái… Tưởng chừng cả khu chốt rung giật từng
cơn, bụi mù, nghiêng ngả trong cơn tình dục quá đỗi khát thèm của bầy vượn
nhung nhúc, nhếnh nháng và đám gái đĩ trét bự phấn từ Sài Gòn bay lên. Tưởng chừng
nghe trong ngọn gió tinh khiết có lẫn cả tiếng rên rỉ, cấu cào, hồng hộc của những
con nái đi tơ, những con đực động mùa… Trước khi vào trận, chúng cũng đòi hỏi
được sống tận cùng cuộc sống để biết đâu không trở về nữa? Tôi nhìn sang Tuấn.
Mắt nó trợn trừng, gò má nó tái nhợt đi trong một vẻ u uất khó tả. Những con điếm
nội địa và hình ảnh thằng da đen đái bậy vừa rồi có liên quan gì đến nhau trong
suy nghĩ của nó không? Hay cái võng thần tiên đêm qua đã gợi cho nó sự nhức nhối
trước cơn dục tình mù mịt này?
- Chuẩn bị nhé! - tôi nói - nện ngay vào những nơi chúng vừa ẵm
nhau vào. Nện thật căng!
- Khoan đã anh - Tuấn thần mặt, nước miếng đặc quánh ở khoé
miệng - Chậm lại một chút có được không? Chúng nó đang…
- Đang cái gì? Tôi quắc mắt nhìn nó - mày thương à? Không nỡ
à? Diệt hết! Diệt luôn bọn điếm dơ dáy ấy. Chúng nó còn đáng chết hơn những thằng
ngoại quốc đang nằm trên bụng chúng. Sẵn sàng chưa? Bắn!
Cùng một lúc, 45 trái 40, 72 trái tạc đạn US, 540 viên AK có
đầu đạn phá… giội lửa xuống, đốt cháy, xuyên thấu, xé nát những thân thể trần
truồng căng rướn, quấn chặt. Cơn động tình nghiền nát bản năng. Cái tỉnh táo
tiêu diệt cái mê cuồng. Cái không có gì tiêu huỷ cái đáng có tất cả… Cuối cùng
là đều không có gì. Cả khu chốt bỗng chốc bị san thành bình địa như nơi đây đã
hàng ngàn năm chưa hề có dấu chân người qua lại. Một mảnh của khung cảnh đại hồng
thuỷ, của ngày tận thế hiện ra trước mắt tôi: nhà bạt cháy rụi, lô cốt rách
toang, máu đọng thành vũng bầm đỏ như tiết đông, xương thịt ngào trộn bùn đất,
những thân người chết gục, những thân hình giật giật, cái mất chân, cái mất đầu,
cái chỉ còn là một đống thịt băm có trộn cả hành răm, húng tỏi… Và ở đâu đây,
như vọng lên từ địa ngục, có những tiếng rên rỉ đau đớn đang lịm dần, tạo nên
cái vĩ thanh đối lập và tất yếu của những tiếng rên la đến tột cùng hứng khoái
trước đó. Bầu trời trên cao cũng đỏ lòm, những áng mây phản ánh sắc máu chung
chiêng dừng lại…
Cạnh tôi, Tuấn đã bắn hết đạn, bắn lên trời hay găm xuống đất,
cái đó không quan trọng, miễn là đã bắn hết, đang ghì chặt cây súng như hoá đá,
con mắt bạc đi nhìn vào trận địa.
- Sao thế Tuấn? Rút chứ! Muốn ăn phản pháo à?
- Kệ mẹ tôi. Anh rút trước đi.
Tôi nắm ngực áo nó đứng dậy:
- Lại định giở trò hả? Rút!
- Đồ dã man!
Nói thế nhưng nó cũng xách súng đứng dậy. Sự phẫn nộ của nó
thật quá! Thật tới nỗi tôi chỉ còn cách nhìn vào mắt nó im lặng. Ngay bây giờ
nó có thể gí súng vào giữa ngực tôi nếu tôi máy mồm nói thêm một điều gì lắm chứ.
Tôi lao người xuống chân đồi.
Thằng Tuấn lao theo, bậm bạch, xiêu đảo, mũi AK lom khom chĩa
về phía trước… Gáy tôi thoắt tê lạnh. Nó nổ này… Nó có thể nổ lắm… Biết đâu đấy.
Cái gì chả có thể xảy ra với những cơ số đạn vô nghĩa đó sao? Thêm một vài viên
cũng vô nghĩa nữa, có thấm tháp gì!…
Nhưng nó không bắn. Chúng tôi, những người lính miền Đông
khoác áo giải phóng, dù thần kinh có hư hỏng đến như thế nào cũng chẳng bao giờ
nã đạn vào lưng nhau như mấy vị cầm bút ở phía sau hay cố tình sắp đặt vào cho
câu chuyện thêm vẻ lâm ly, trần trụi, nhân văn, nhân bản.
Nó không bắn nhưng khi trở về đến cửa rừng, cuộc đời đã bắn
vào nó bằng một viên đạn chí tử. Cô gái của nó bị toán biệt kích Mỹ mai phục
trên đường mòn dẫn về hậu cứ giết chết!
Khi chúng tôi bám ra đến nơi, Thu chỉ còn là một cái xác loã
lồ, chân tay dẹo dọ nằm trong một tư thế kỳ dị. Rừng xanh, đất xanh, trời xanh…
Da thịt sao trắng thế? Mái tóc xoải dài, chấm ngọn xuống suối, đen đến tức tưởi.
Tưởng như cô đang nằm ngủ hớ hênh sau một đêm giao liên dẫn khách kiệt sức và sắp
tỉnh dậy, cười thẹn thùng, vấn lại tóc nếu như giữa cặp đùi trắng muốt hơi
chăng ra của cô, ở chỗ kín, không có một chiếc cọc sần sùi, vạt nhọn cắm sâu
vào, xuyên tới đất… Máu đổ như sơn nhểu xuống tận bắp chân bắn từng giọt lên bụng,
lên gò ngực vẫn no tròn cái sự sống mới nứt, tạo thành những cánh bằng lăng ma
quái vừa ở đâu đó trên cao rụng xuống.
Tuấn lầm lì xua đi tất cả mọi người rồi còn lại một mình, nó
cúi xuống, mắt mở trừng trừng, mặt cứng đanh, lặng lẽ và quyết liệt rút mạnh
cái cọc ra khỏi thân hình cô gái quẳng xuống suối. Mặt suối loang ra một chút sắc
hồng rồi trôi theo dòng nước. Vẫn lầm lì, nó tháo bỏ hết quần áo trên người đắp
hờ lên da thịt cô gái, quỳ xuống, gục đầu rất lâu… Khi ngẩng lên, con mắt nó vẫn
khô ráo, dài dại, không có một chút nước mắt. Cười lên một tiếng ghê rợn, nó
chĩa khẩu AK lên trời siết một tràng dài sằng sặc.
… Cứ để cho nó ở lại một mình em ạ! Tôi nói thầm với Sương
lúc ấy đang rũ người ra như một tàu lá héo. Về đi! Nếu thằng Tuấn biết trước được
cảnh này, hồi nãy nó đã chẳng nhìn vào cơn dục tình của kẻ thù với đôi mắt như
thế. Chiến tranh là một luật chơi tàn bạo. Biết làm sao khác được. Về đi… Về đi
em! Đừng nhìn lâu vào đó.
Rừng xanh quá, sao thịt da trắng thế…
Thưa bạn đọc! Tôi đâu có biết rằng, màu trắng nhức nhối của
thịt da người con gái giao liên nằm chết giữa rừng xanh hôm nay và hình ảnh búi
giun đũa vấy máu ngoằn ngoèo bơi trong bể nước này hôm qua đã là lý do sâu xa để
tôi ghi lại những dòng này chứ chưa hẳn vì người đàn bà bí hiểm chết đi lại sống
lại kia. Hay cũng có thể do cả hai mà viết tới đây, chính tôi cũng chưa thật biết.
Cuộc càn đã được kết thúc tức tưởi ngay sáng hôm đó, tất
nhiên không thể không kể đến phần trợ lực đáng kể của tiểu đoàn Tám Tính khi
chính anh đã dẫn một thê đội cảm tử thọc vào giữa đội hình ba chục chiếc xe bọc
thép của chúng. Vậy mà mãi đến tận nửa đêm, tôi mới tạm xong mọi việc để ngồi
bên em. Sau dông bão, em càng bé nhỏ, đôi mắt đã to lại dường như mênh mông
hơn, ngổn ngang, xao động chất chứa đủ điều. Con chim non ốm yếu sẽ còn chịu được
bao mùa dông bão nữa? Thương em rời rã cả người, định kéo em vào lòng, ôm chặt
lấy em, dùng tất cả sức lực còn lại sau một ngày đã tiêu huỷ đi gần hết để hà
hơi, tiếp nhiệt cho em, có biết bao điều để nói nhưng em khẽ đẩy tôi ra, giọng
nói toàn nước mắt:
- Chị Hai… bỏ đi rồi! Có lá thư chị để lại cho em…
Tôi vội cầm lấy tờ giấy học trò nhăn nhúm dính đầy đất cát,
có những hàng chữ thô kệch ngoằn lên ngoằn xuống bấm đèn pin đọc:
“… Sương yêu của chị!
Chị đi đây! Anh ấy chết rồi, chị chả còn lý do gì để ở lại rừng
nữa. Chỉ tiếc chị không kịp có một đứa con với ảnh. Ra đi lúc này, chị tự biết
có trọng tội với mọi người, với em, với các chú các bác Cách Mạng. Nhưng dù còn
ở lại, chị cũng chỉ là con vô tích sự thôi. Ba hiểu cho chị, chị đâu có ngán
đánh đấm, ngán hy sinh, cực khổ cỡ nào cũng chịu được, cái chết đối với chị chả
có nghĩa gì, vậy mà chị phải đi để ngày ngày khỏi phải nhìn thấy ảnh có mặt ở
ráo trọi những gốc cây, bụi rậm, bến sông, đường mòn… Chị khổ lắm! Giả dụ chị
có thể chết thay cho ảnh, chết theo ảnh được… Chị là tên phản bội, tên chiêu hồi,
con đảo ngũ khốn nạn!… Em hãy chửi chị, nguyền rủa chị đi nhưng hãy thương chị
với Ba nhé! Chán cuộc đời đen bạc, chị vô rừng. Tính ở rừng mãn kiếp, ở rừng tới
chừng trúng đạn ngã xuống là rồi đời ai dè lại gặp ảnh! Bắt đầu chị chỉ chấp nhận
ảnh để giúp ảnh ra khỏi căn bệnh ghê người. Miết rồi, con người thô bạo, bị mọi
người sợ hãi xa lánh đó đã làm chị sống lại mọi ước mơ, hy vọng, làm chị dần dần
tìm lại được cái tâm tính đàn bà tưởng đã vĩnh viễn chôn chặt đi với tay đại uý
đó và cùng với những trận đánh dữ tợn sau này. Ngược lại, chị cũng tìm thấy ở ảnh
một khí chất đàn ông toàn vẹn, hơi méo mó nhưng vẫn toàn vẹn. Ảnh cần có chị và
chị cũng cần có ảnh. Vậy thôi. Bây giờ ảnh không còn nữa, chị phải lội trở lại
với cõi đời đen bạc vậy. Ba ơi! Đừng cười chị, cho rằng vì chuyện đực cái mà
nay vào mai ra. Hổng phải đâu. Trăm điều xấu xa hơn thế nhiều mà chị không biết
cách diễn đạt thế nào cho trúng. Chị là đàn bà. Đã là đàn bà thì còn lắm nỗi đa
đoan vượt ra ngoài mọi chuyện đâm chém chết chóc kia em ơi!
Cho chị Hai quỳ xuống tạ tội cùng em, cùng mọi người, cùng
anh Hùng. Đừng để mất Hùng nghe em! Đó là người đàn ông ngon lành nhất chị chưa
hề gặp kể cả bên này lẫn bên kia. Ra ngoài đó, nếu sống nổi, chị sẽ đêm đêm cầu
nguyện cho hạnh phúc của em, cho sự anh toàn của mọi người và nếu có thể giúp
được gì cho mấy em, chị sẽ không tiếc gì hết.
Chỉ mình em biết chị đi. Đối với thiên hạ, chị là kẻ mất
tích, bị bắt, bị giết trong trận càn mà chị đã vĩnh viễn mất ảnh này…”.
- Tám Tính chết hồi nào vậy?
Tôi hỏi sau một phút chìm lắng ê ẩm. Sương nhìn lên, cái nhìn
côi cút và đầm đìa nước mắt:
- Chết ngay từ loạt đạn đầu khi dẫn đội cảm tử đi trợ lực cho
mấy anh. Từ bên kia sông, người ta báo qua đây bằng điện đài…
- Biết tin, Hai Hợi bỏ cuộc luôn à?
- Không! Chị chỉ chui xuống hầm khóc âm thầm một lúc rồi dẫn
mọi người ra mặt lộ chặn đánh bọn bảo an sắp tràn vào. Trời! Chưa khi nào em thấy
chỉ đánh giặc kỳ cục như vậy. Đánh để chết, đánh khơi khơi, đánh không cần biết
ai vào ai, xài hết loại súng này tới loại súng khác, vừa bắn vừa gừ gừ cái gì
trong cổ nghe sợ lắm!… Cả đại đội ác ôn gần trăm đứa rạp gần hết mà chỉ vẫn bắn,
bắn đến kiệt sức, vấp mặt xuống sình, mọi người phải vực lên mới thôi. Và đến tối
thì chị…
Sương khóc. Khóc nức nở như một đứa trẻ bị bỏ rơi giữa chợ.
Khẽ khàng ôm em vào lòng, lau nước mắt cho em, tôi chợt thấy lòng buồn man mác…
- Thế là mất đi hai tay súng thiện chiến, hai con người trung
hậu. Sương ơi!… Rồi mai đây cuộc chiến tranh còn ngặt nghèo hơn nhiều nữa, em
có bỏ tôi mà đi không?
- Không!… Em ở lại với anh. Suốt đời… Đến chết!
Tuần lù lù đi tới, mặt mày đã có thần sắc hơn.
- Cái gì đó anh Hai?… Chị Ba?
- Hai Hợi bị chúng bắt mang đi rồi.
Tôi trả lời.
Ông Hùng bừng tỉnh dậy. Trời đã tắt nắng từ lâu. Bên kia
sông, khu chốt Mỹ đang chuyển màu xám dịu, hiu hắt buồn, như thể câu chuyện diễn
ra trong óc ông vừa rồi là không có thật, là chuyện cổ tích xa xưa mà không mấy
ai còn nhớ.
Phía sau ông, những đôi trai giá vẫn tiếp chui ra và chui và
cam-pinh.
Bất tận không mệt mỏi, không biểu cảm thái độ gì. Trong những
đôi đó, đôi nào là tình nhân? Đôi nào là trốn chúa lộn chồng? Đôi nào là hợp đồng
đĩ điếm? Và trước mặt ông, muôn vàn những con sóng ký ức đớn đau, nhọc nhằn, cả
êm dịu không ngừng xô đập vào người.
Tối trời nên không một ai hay biết ông già vận áo quần nhàu
nát, có bộ dạng thần kinh đó đang lặng lẽ đứng khóc một mình…
CHƯƠNG 11
Tuấn vẫn chưa về. Toà nhà hai tầng có vườn cây bao quanh mang
dáng dấp một điền trang u tịch vẫn im lìm sau cánh cổng sắt đóng kín. Liệu đêm
nay nó có về không? Hay mai? Hoặc mốt? Mai hay mốt tôi có thể nán chờ được
nhưng lâu hơn nữa thì sao?… Một sự mệt mỏi trộn lẫn hoài nghi xâm chiếm lấy
tôi, đến tận từng kẽ răng. Chờ ư? Cái đó dễ rồi. Thất nghiệp, về hưu, đang đi
tìm kế sinh nhai, thời gian là của mình, thời gian dài đến thê lương, có gì mà
vội. Ấy nhưng chờ chỉ để hàn huyên, để thi nhau lục lại mọi kỷ niệm nọ kia (mà
chắc gì nó đã thích lục?) để nhậu, để vỗ đùi vỗ về, cười hả hả, cười méo mó,
khen nhau, chê nhau, đánh trận này, đập trận kia, thằng này sống, thằng kia chết…
mệt đầu lắm mà chả được cái tích sự gì. Có khác gì phải đánh nhau khổ sở trở lại
trong cùng cuộc chiến tranh ấy. Tôi muốn gặp nó chỉ để hỏi tung tích về Sương.
Bởi lẽ cái đêm cướp xác chôn xác ấy, nó cũng có mặt. Chỉ có nó mới xác định
giúp tôi thật giả thôi. Nên vừa muốn gặp vừa muốn không. Tôi lo sợ khi nghe nó
bảo cô ấy đã chết, càng lo sợ khi nó nói cô ấy còn sống. Đối với tôi hai cái đều
quá đỗi dở dang. Hoặc giả, giống như thằng Quân, thằng Ba Thành, nó lại cười
phì phì vào mũi tôi mà kêu tôi là rồ dại, là mắc bệnh hoang tưởng, thì lại nhức
cái đầu hơn.
Số tiền ông già đại tá cho tôi vẫn còn, gần như còn nguyên vẹn.
Về đây là coi như trở về nhà, ghé bất cứ chỗ nào, nơi nào, cũng có thể có cơm
nuôi được… mười năm. Nhưng tôi ngại lắm. Tôi không muốn bạn bè cũ, người quen
xưa nhìn tôi, một kẻ đã từng được mệnh danh sáng giá là Người hùng Việt Cộng lại
thê thảm nhàu nát thế này. Chính vì thế mà, trừ một vài anh em thật chí cốt,
tôi chẳng muốn quét rộng luồng ra đa thăm hỏi và dò tìm ra làm gì. Gặp ông tỉnh
đội trưởng nay là bí thư tỉnh uỷ ư? Hay gặp ông bí thư nay vì một nguyên cớ tế
nhị nào đó lại đang làm một phó thường dân? Hay gặp bà trưởng ban tổ chức tỉnh
uỷ vốn trước kia là cấp trên trực tiếp của cánh Hai Hợi, Ba Sương? Hoặc… Mà
thôi, điểm làm gì. Cuộc chiến đấu giành đất trong những cánh rừng năm xưa giờ
đây đang được chuyển hoá khốc liệt thành cuộc chiến đấu giành ghế ngoài đời,
các vị ấy còn một góc tĩnh lặng nào đâu để nhớ về dĩ vãng, nhớ về bạn bè một
thuở, những người sống và những người chết! Vả lại, đây mới là nguyên cớ chính,
tôi thực sự không muốn giáp mặt họ một khi ngày trước, giữa tôi với họ bao giờ
cũng có một khoảng cách e dè không dễ lấp đầy. Suốt chục năm lăn lóc, tôi chỉ
là một đối tượng cần nhưng kiềng của họ. Cần ở khả năng xả thân giữ đất nhưng lại
rất kiềng ở tính nguyên tắc và thái độ không khoan nhượng với sự xúc phạm đến
những đạo lý làm người.
Chiến tranh càng cần phải gìn giữ tính người chứ chiến tranh
đâu có phải miếng đất bẩn thỉu cho thú tính tràn vào. Cho nên… Chao ôi! Sau mười
lăm năm, người lính gần như còn sống sót duy nhất lặn lội trở lại địa bàn xưa
mà sao lắm cho nên, lắm xa lạ đến thế? Những mái nhà ấm cúng đang toả ra làn
khói bữa cơm chiều kia, những cửa hàng sang trọng, những đường phố trải nhựa rộng
dài mịn như lụa kia, những cô cậu học trò tươi xinh mơn mởn, những con người
ngày trước chỉ lo trốn tránh, ngày trước có tội, có nợ máu với bà con và cả những
vị ngày nào còn cùng chui hầm ở bụi, còn bám dính đằng sau bộ độ đột ấp kiếm từng
hạt gạo bây giờ quyền uy chất ngất, tiền vàng ngập hòm ngập tủ kia óc hay rằng
cả thời trai trẻ của tôi, của lũ xa quê chúng tôi thay nhau gục xuống với tất cả
nỗi niềm lãng mạn chân thành để hôm nay trở lại trở thành xa lạ đến thê thảm thế
này không?
Khát thôi mà không ấy đói, dẫu rằng cả ngày mới lót bụng có độc
một đĩa cơm nông choèn ngoài chợ. Tôi kiếm một quán nước mía nằm xế xế ngôi nhà
của Tuấn, ngồi xuống. Thôi thì, Tuấn ơi! Ngoài những đứa đã chết, những đứa còn
sống nhưng đang ngắc ngoải, trong đội hình năm ấy ít nhất cũng được một mình
mày là còn ra người. Một mình mày đại diện chung cho cả một thế hệ khổ đau và
oanh liệt vậy. Ít còn hơn không, một thằng còn hơn sạch bách, tao cũng mừng.
- Ông bác chắc vừa ở xa đến? - Chị hàng nước mía mặc áo màu mỡ
gà, còn trẻ, tóc vấn cao, mau mắn hỏi.
- Vâng! Nhưng… Sao chị biết?
- Ôi dào! Thị trấn vẻn vẹn vài trăm người, ai lạ ai quen biết
liền à. Vả lại, thiên hạ bây giờ ở tuổi bác, không ai mặc đồ lính như thế. Chỉ
có dân cựu trào hay dân ở ngoài kia vào đây làm ăn sinh sống mới mặc vậy thôi.
Cháu nói thiệt, dòm tội lắm!
Vận đồ quân phục mà tội ư? Trong đầu tôi phực lên một chút
chua chát nhưng rồi lại gượng mỉm cười:
- Thế chị bảo tôi là dân cựu trào hay là là dân tứ chiếng đi
làm ăn?
- Bác ấy ạ? Cũng khó… Cái dáng lững thững nhàn tản là của mấy
ông cách mạng, nhưng vẻ mặt ốm o lại là của mấy người đi làm ăn.
Lấy cái vui của chị hàng chừng trên ba mươi tuổi, tôi ướm:
- Thế chị thử đoán tôi… chừng bao nhiêu tuổi nào? Đoán vui
thôi.
- Bác ấy ạ? - Chị hàng nhìn xeo xéo vào mặt tôi - Chắc cũng tới
sáu mươi. Ba cháu ngày xưa trạc tuổi bác, cũng có những nét hao hao như bác.
- Thế à!
Tôi vục miệng vào cốc nước đá có màng bọt vàng vàng, che đi
cái nhếch môi méo mó. Thế đấy! Gần năm mươi tuổi, không vợ không con, không nhà
không cửa, tứ cố vô thân lại được một mẹ xề trên ba mươi tuổi kêu bác bác cháu
cháu ngon lành. Không sao! Cũng phải thôi, may mà mẹ chưa gọi mình bằng cụ.
- Này, ông chủ cái nhà to to kia ấy mà, thế ông ta thường
xuyên đi vắng à?
- Ông Tuấn hả bác?… Dạ, chẳng mấy khi có nhà.
- Thế thằng cha ấy sống có khá không?
- Ối trời! Hết biết đâu mà nói. Cái nhà này chỉ là một thôi
đó. Ổng còn một ở Biên Hoà, một ở Sài.. ý quên! Một ở thành phố nữa kia. Mỗi
nhà là một bà vợ nhỏ.
- Như vậy là bà cả ở đây, căn hộ trung tâm?
- Đâu có. Ông ở một mình với một bà thím ở ngoải vô. Hai bà
kia kêu là vợ nhưng thực chất là nhân tình. Ông tuyên bố chưa đến lúc lấy vợ,
chỉ cặp bồ thôi. Ổng bảo còn lo làm ăn, không có thời giờ cho bầu đoàn con cái.
Mà ổng làm ăn giỏi lắm bác ơi! Hồi mới về đây, chỉ có độc túp lều lợp tôn. Thế
rồi chẳng rõ vốn liếng ở đâu, ổng nhảy vô rừng buôn gỗ. Bắt đầu là làm thuê,
sau là ông chủ xe Reo. Rồi cứ vậy phất lên. Tới nay ổng có ba cơ sở sản xuất ở
ba nơi cháu nói. Cái thì đồ mộc xuất khẩu, cái thì xà bông, cái thì ti vi điện
tử gì gì đó, giàu lắm! Kia, cái trường học cấp hai mái bằng đẹp nhất tỉnh kia
là ổng giúp không cho thị trấn đó - Chị hàng ghé sát khuôn mặt bầu bầu xuống
tôi, hạ giọng - Nghe nói ổng trước cũng làm lớn lắm, sau bị đánh bật ra. Mấy
ông người Bắc ở trong nay, trước sau cũng bị bật, người nào khôn ngoan lắm mới
trụ lại được.
Không muốn nghe thêm cái điều đã trở thành nỗi nhức nhối quá
nhàm chán ấy, tôi trở lại cái chi tiết đã neo bám vào đầu tôi từ hồi nãy:
- Chị nói ông ta chỉ ở với bà thím thôi à? Bà thím nào vậy?
Thế ông già bà già của ông ta đâu?
- Nghe nói ông bà già bị bom chết cả ở ngoài đó. Chỉ còn bà
thím này, mà cũng không phải thím bà con đâu. Người ta nói bả là mẹ của một liệt
sĩ ngày trước cùng đơn vị với ổng. Mà người liệt sĩ này chết khổ lắm, chết khi
đang ở trong căn cứ, chết lúc đang nấu cơm…
- Thằng Bảo rồi! Tôi buột miệng thốt lên.
- Sao kia ạ? Chị hàng nhìn lên ngơ ngác - Thiệt mà. Ông không
chỉ đưa bà thím mà còn đưa cả mấy người bà con của bả vô sắp xếp công ăn việc
làm đâu vào đấy hết. Ổng thường kêu bả bằng mẹ.
- Không!… Là tôi tính nói cảm ơn chị không cho tôi là kẻ xấu,
là kẻ gian đi dò chuyện thiên hạ nên chị mới xởi lởi kể hết như thế.
- Mèng đéc ơi! - Chị hàng cười giòn tan, hai hàm răng trắng
bóng - Tạng người như bác, có quẳng vàng vào người cũng chẳng biết đường mà
mang chứ nói chi đến chuyện trấn lột, lừa đảo của ai. Mà thời buổi cơ chế thị
trường, nói chẳng nói thật có gì đâu mà phải giấu, bác! Nói giỡn chơi, em ngồi
ngoài này tiếp xúc va chạm nhiều, kẻ gian người ngay, chỉ cần nhìn thoáng qua
là biết à.
- Cảm ơn! - Tôi đứng dậy định móc túi giả tiền nhưng không hiểu
sao lại nói thêm. - Ngồi đây, nếu cậu Tuấn về, nhờ cô nói giúp là có người cùng
đơn vị cũ đến tìm chơi.
- Thế… Tên bác là gì ạ?
- Cứ nói tôi là Hùng. Hùng tàn bạo.
- Khí… khí… khí… Bác mà tàn bạo? Tàn bạo với con sâu. Nhưng ổng
muốn tìm bác thì tìm ở đâu, để em còn biết đường mà nói.
- Ờ… Có thể tôi lang thang ít bữa. Đêm nay tôi đang ở nhà Ba
Thành, chắc nó biết đấy.
- Dạ! Em nhớ rồi. Ông bác cứ yên tâm.
- Cô tốt bụng và vui quá! Ly nước bao tiền để tôi trả.
- Khỏi mà bác. Bạn của ổng mà em lại lấy tiền ư? Cái quán này
là ổng cho vốn đó.
- Thôi, tôi đi! Cám ơn!
- Dạ! Không có chi. Chào ông bác… Tàn bạo!
Có chứ! Tôi nghĩ trùng với tiếng cười khúc khích của chị
hàng. Rút cuộc tôi cũng được nghe chữ em ở một người đàn bà kém tôi có chục tuổi,
đáng cám ơn lắm chứ. Bởi vì, nhỡ ta trong mấy ngày trở lại miền Tây tính giáp mặt
trực điện với người đàn bà đó tới đây, người ta cũng kêu tôi bằng bác xưng cháu
thì sao? Hơn nữa, tôi nhẹ cười, chỉ cần nhìn cái mắt, nghe cái cách nói của cô
khi nhắc đến nó kể về nó, cái thằng Tuấn ấy là tôi, tuy lẫn cẫn, cũng đủ hiểu
con người của nó đang là cái gì đối với cô rồi. Cám ơn!
*
- Ba Thành về đi! Để tôi ở lại đây một mình.
- Rồi mày về cách sao? Những bảy cây số lận.
- Bảy mươi cây cũng vậy thôi. Ngày xưa…
- Dẹp cha nó cái ngày xưa đi cha nội! Mày như cái thằng ăn
mày ngày xưa. Lúc nào cũng ngày xưa, nghe chán thấy mẹ! Xưa khác, nay khác, hiểu
chưa? Thời thế này dễ có thằng con mẹ nào nghĩ đến ngày xưa hết trọi.
- Đối với tao không khác. Không bao giờ khác hết. Và tao cũng
không phải là một thằng ăn mày. Hiểu chưa? Về đi! - Tôi nói bật căng như bị chạm
nọc.
- Hiểu cái con khẹc! Thôi được, muốn thân làm tội đời thì cứ
việc. Nhưng tao chờ ở quán nhậu đầu xã, nhớ đó.
- Tuỳ!
Nó phóc lên xe cun cút phóng đi, để rớt lại mấy tiếng làu bàu
sền sệt hơi rượu.
Tôi lặng lẽ bước vào nghĩa trang liệt sĩ của huyện, tâm trạng
chia hai thật là khó chịu. Nếu em chết thật rồi lại đi một nhẽ, tôi sẽ hun hút
ngồi xuống bên em cho tới sáng. Nhưng em nửa sống nửa chết, buộc tôi phải nửa
buồn nửa nghi, nửa mê nửa tỉnh trong cái hành vi đáng ra chỉ nên độc tôn một trạng
thái cảm xúc này thôi. Cho nên bước chân tôi vừa hăm hở lại vừa ngại ngần.
Không thể không đi nhưng thực chất đi cũng chỉ để mà… đi!
Nghĩa trang ban ngày đã vắng, giờ này càng cô quạnh. đời, có
lẽ cái gọi là bị quên lãng không nơi đâu có độ đậm đặc như nơi này. Một nghĩa
trang liệt sĩ trong hàng trăm nghìn nghĩa trang nằm rải rác khắp nước. Vì một
lý do chính trị hay xã hội bức bách nào đó, không loại trừ cả lý do nghĩa tình
sâu xa, người ta vội vàng thu gom về đây những mảnh hài cốt vương vãi ở khắp
các chân bãi, xô rừng, có cái có, có cái chi hàm nghĩa tượng trưng rồi xây
trát, rồi cắt băng khánh thành, làm lễ truy điệu, đọc đôi lời ai điếu ròn rảng
hoặc mùi mẫn và sau đó là hết. Hết nhẵn cho một thời kỳ thương khó. Cỏ lác lại
mọc lên, tường vôi tróc lở, hương hoa cả năm chỉ xuất hiện vài lần gọi là, thân
nhân người tới người không, có nhiều người không bao giờ tới được. Đường sá xa
xôi, tuổi cao sức yếu, tiền nong eo hẹp, ngồi một chỗ đã không sống nổi huống hồ
còn đi đâu! Chỉ có những người cắt cỏ, người ghé vào nghỉ trưa lại thường xuyên
có mặt cùng với tiếng con chim già kêu mãi ở ngọn cây cụt mạn bắc nghĩa trang…
Với chiếc đèn pin Thành cho mượn, tôi bước hụt hẫng qua từng
nấm mộ để tìm em mà lại không phải tìm em(?).
Chiều nay, thể theo yêu cầu khẩn thiết của tôi, Thành đã lóc
cóc đạp xe lên phòng thương binh xã hội. Năm tiếng đồng hồ sau, Thành trở về, mồ
hôi mồ kê như đi phát rẫy, cười khề khề: “Đã bảo rồi mà chú mình không nghe
anh..."
"...Chết! Chết đứ đự! Hỏi ba thằng thì cả ba thằng đều
phát cùng một giọng như phát với ông già nhà nó: Chúng tôi đã tìm kiếm, đã bốc
cốt, đã đưa về nghĩa trang, đã làm đúng thủ tục, đã cho vào danh sách, đã… Đã
cái con khẹc nhà nó hay sao lắm đã thế? Sợ cái đầu dở hơi của mày chưa tin, tao
bò tiếp lên ban chính sách tỉnh đội, ban tổ chức tỉnh uỷ, gõ cả cửa lão bí thư,
cha đại tá tỉnh đội trưởng, cha giám đốc công an nữa. Các cha đều khẳng định rằng
con nhỏ đã chết. Thậm chí có cha còn hỏi lãng xẹt: “Sương nào hé?… Có phải
Sương… ấy không?” Ha! Sương ấy thì đến ông cố nội tao cũng chịu. Mẹ con mẹ họ!
Song được cái cũng còn ngon, cha nào cũng nhớ ra tao cả. Mà không nhớ thế chó
nào được khi hầu hết mấy cha đều được tao lột truồng, chữa vết thương, vết bỏng
cả. Tức cười! Tới sở công an, gặp cha đại tá giám đốc đang ngồi chễm chệ trên
chiếc Ford xanh biếc bon ra cổng, tao chặn lại hỏi. Nó xuống xe, nói lần đó
không nhờ có tao thì nó đã chết vì miếng đạn M79 rồi. Mẹ! Cha này hồi ở rừng
tao lạ gì. Phó ban an ninh, chơi gái thành thần, nhát như thỏ đế, được cái đọc
báo cáo kêu như mìn nổ nên thăng tiến hoài. Thôi được, chú khoẻ anh mừng, miễn
là thời buổi tham nhũng đầy trời này, chú phải làm ăn cho cẩn thận.
Nói xong, Ba Thành chui tọt vào bếp, quất đầy nhóc một bụng
cơm nguội với dưa leo chấm mắm nêm rồi sang lối xóm mượn chiếc xe máy cà tèng
chở tôi đi tiếp.
Trôi theo dòng bi thảm, tôi hỏi đường đến nghĩa trang với hy
vọng cuối cùng. Và giờ đây, trong khuya khoắt rợn mình, tôi vật vờ đi giữa cái
thế giới vô hình và hữu hình của người chết… Nguyễn Văn Hùng, quê Lạng Giang -
Hà Bắc. Hy sinh ngày… Đặng Tuấn Bảo… Nghiêm Xuân Khiển… Quê quán… Hy sinh ngày…
Quê quán… Mắt tôi nhoà đi. Những hàng chữ khắc trên bia nhảy nhót, phồng lên, nở
ra, dài ngoằng thành những thân người, mặt người lạ lẫm và thân thuộc. Tất cả đều
còn trẻ, rất trẻ, đều mang bộ đồ quân phục sắc xanh lá rừng, thịt da trắng như
sáp, tất cả đều tráng kiện, vạm vỡ, miệng cười tươi tỉnh, duy có đôi mắt chỉ
hai lỗ trũng sâu vô định… Cây đèn trong tay tôi tắt lịm. Tôi lo sợ. Tôi ngợp.
Chết nhiều quá! Trẻ quá! Hầu hết là trai tân, hầu hết ở ngoài kia vào. Họ xuất
hiện mỗi lúc một đông, dàn hàng ngang, xếp hàng dọc, rùng rùng lay động, bóng
thấp bóng cao, cái nét, cái mờ. Hơi thở của họ lạnh buốt, con ngươi trong hố mắt
họ đỏ lòm…
Tôi rảo chân bước nhanh. Những cái bóng bước theo đuổi kịp,
vây bủa chân lướt ràn rạt không chạm đất. Tiếng chụp, đậu lên vai, luồn vào
tóc, chui cả vào ngực nhồn nhột, không mùi không vị: “Thủ trưởng ơi! Có nhận ra
chúng tôi không? Có ân hận vì đã để chúng tôi chết chùm chết đống trong khi
mình vẫn còn sống không? Hay thủ trưởng đi tìm ai, tìm cái gì, để chúng tôi
mách cho. Biết mà, chúng tôi biết rồi thể nào cũng có một lần thủ trưởng sẽ đến
đây. Chúng tôi vẫn chờ. Chờ gần hai mươi năm rồi. Lâu quá! Chậm thế? Chả lẽ
quên phứt anh em bè bạn rồi ư thủ trưởng? Ấy, đừng đi. Đứng lại tí đã…”. Tôi
càng đi nhanh. Cái bóng của Viên vượt lên, hơi thở ram ráp liếm vào tai tôi:
“Anh quên em rồi sao anh Hai? Giá như đêm ấy anh đừng lệnh đi thì em đâu có chết!
Em biết là sẽ chết nhưng không thể nói ra, không dám nói. Em sợ anh đánh giá em
là hèn nhát. Em chỉ còn cách dùng cái chết để biện minh. Khổ vậy. Chị Ba thế
nào rồi anh? Có đúng như lời em tiên đoán không? Sao anh lúc này trông cơ khổ
thế?…” Bóng Viên biến mất, cái bóng của Bảo thay thế, cũng hơi thở ram ráp:
“Sao lại chôn vội thế thủ trưởng ơi! Lúc ấy giá anh cứ cho rút bỏ cái chuôi đạn
ác nghiệt ra khỏi bụng tôi, tất nhiên ruột gan sẽ theo ra cả đống nhưng biết
đâu tôi chả có thể sống? Sao ác thế? Anh đâu có nghĩ đến tôi, đến mọi người,
anh chỉ nghĩ tới trận đánh, tới nhiệm vụ người ta trao sẽ bị ảnh hưởng thôi,
đúng không? Cái bóng của Khiển xồ tới, tanh nồng và rách rưới: “Anh khỏi áy
náy. Tại tôi cả thôi. Tại tôi mụ mị, tôi ngơ ngáo. Đánh tới trận thứ mười mà
chưa chết thì cũng thành ngơ ngáo mụ mị thôi phải không anh? Nếu đêm ấy, trước
khi đi, tôi được gặp vợ tôi, hoặc bất kỳ một người đàn bà nào đó thì chắc tôi
đã không nhét cái đồ giết người vào ngay túi áo ngực như thế. Tại tôi…” Một cái
bóng khác, cái bóng khác nữa… Rồi lại một cái bóng… Xào xào, rin rít, khò khè.
Không chịu nổi sức ép quá tải của những tấm bia đá, tôi rơi người ngồi bệt xuống,
lịm đi, tay chân từng chập run lên, mỏi rã rời. Một cái bóng khác thấp đậm hơn
không biết từ đâu lướt tới, che chắn, ngồi xuống bên tôi nhẹ như chiếc lá, từ
đó phả ra cái hương vị hoi hoi ngầy ngậy của đàn bà. Tôi bừng mở mắt. Cái bóng
biến mất, chỉ còn vương lại một tiếng nói mơ hồ, oai vệ, nửa nam, nửa nữ: “Dẹp!
Dẹp tất cả đi bọn bay! Đây không phải là lúc làm nhàm kêu khổ. Đừng hành lão ta
nữa. Bọn bay thử mở to mắt ra mà coi: Lão ta có còn ra người nữa đau. Này lão!
Ngày xưa lão thế nào mà bây giờ nom khổ đến thế? Khổ! thôi tha cho lão. Lão sống
đó mà có hơn gì tụi mình đã chết. Sống để được như lão thì sống làm khỉ gì. Chết
như tụi ta lại hay. Trẻ nguyên, trẻ mãi và chẳng phải bận tâm về cái sống nhiễu
nhương nặng nề. Lão đi đi!… Tiếng cười, tiếng nói, tiếng thở từ dưới thảm lá
khô, từ trên lả lướt ngọn dương rì rầm dội lên. Tôi sững sờ nhận ra đó là giọng
của Hai Hợi! Trời ơi! Sao cô ấy lại ở đây? Cô ấy chiêu hồi rồi kia mà? Và nếu
có chết thì không thể nằm xuống ở chốn này. Phải chăng ở dưới kia, mọi đường
biên, mọi đẳng cấp, cách ngăn, mọi học thuyết cách biệt đều bị xoá nhoà, đêm
đêm chỉ có những linh hồn bè bạn vất vưởng tìm đến thăm nhau? Hay là… Một phán
đoán chợt loé đẩy tôi bật dậy. Hai Hợi ơi! Có phải cô Hai đó không? Dừng lại
cho tôi hỏi một tý, một tý thôi… Nhưng cái bóng thấp đậm, cái tiếng nói khàn
khàn nửa nam nửa nữ đó đã không còn nữa và dưới ánh đèn pin run rẩy của tôi,
trong hàng trăm những nấm mồ đứng xếp hàng như chuẩn bị làm cuộc xuất kích công
đồn nơi đây, tịnh không một tấm bia nào có chữ Hợi cả. Thế Sương đâu? Có tất cả
sao không có giọng Ba Sương? Em ở đâu? Thử hiện ra một chút coi! Thà hiện ra
giây lát để tôi được nghe em nguyền rủa, em giễu cợt, em khinh miệt còn hơn em
vẫn biến mất trong mờ mịt sương đêm thế này!
Không còn sức lực, tôi lại buông rơi người xuống thảm cỏ ướt
rượt. Bất chợt tiếng nói hách dịch của Hai Hợi lại bay đến: “Đi đi lão già khốn
khổ! Có phải hàng quân đâu mà lão làm động tác điểm danh. Lão tưởng bọn này chết
rồi mà vẫn thích nghe lệnh lão để tiến lên à? Còn lâu! Trước thì có đấy nhưng
bây giờ thì… Còn lâu. Lão đi đi! Tôi không có ở đây đâu. Tôi có ở tất cả. ở bất
cứ chỗ nào lão đặt chân tới. Đi đi! Đi tiếp một đoạn nữa, quẹo tay mặt, cái mà
lão định tìm và không bao giờ tìm được đang nằm ở đó, sát bìa chân rào. Chia
tay nhé! Lão già tội nghiệp!”.
Như kẻ hoàn toàn mất hồn, tôi thập thững đưa chân theo lời
mách bảo vô hình… Và một dòng chữ khắc vội chói gắt đập vào mắt:
Phạm thị thanh Sương
Hy sinh ngày…
Quê quán…
Dòng chữ quê quán đã bị thời gian làm cho xói mòn nhìn không
rõ nhưng tôi cũng lờ mờ đoán ra địa danh của một huyện, một xã nào đó dưới miền
Tây. Như vậy là cô ấy khi xưa đã nói đúng về nơi chôn rau cắt rốn của mình và tấm
bia này càng củng cố thêm niềm tin trong tôi rằng người đàn bà bí hiểm kia chỉ
có thể là cô ấy. Tôi tắt phụt ngọn đèn. Nghẹn thở. Lại vội bật lên. Lại tắt. Lại
bật… Dường như muốn mượn cái độ sáng loá của dòng điện pin để xoá đi, để khẳng
định thêm cái cảm giác chới với cho rằng những hàng chữ kia chỉ là một ảo ảnh.
Những dòng chữ vẫn còn đó, xù xì, giá buốt. Cuối cùng tôi ngồi im, chìm người
vào vũng tối, đầu óc muốn rữa chảy.
Nhưng ở đây? Phạm Thị Thanh Sương… Tư Lan… Sao lại trớ trêu đến
thế? Tấm bia đá giống như một sự trêu ngươi phũ phàng, thật hư, nóng lạnh đang
lặng lẽ giễu cợt tôi, không cho tôi được chìm lịm đi trong một chút khoái cảm
nhỏ nhoi. Tuy vậy, tôi vẫn thấy lòng mình sao mà tê tái quá thể. Dù sao dưới
đó, dưới tấm bia câm lặng này cũng có một nửa em, một nửa sự thật và cả một đời
trận mạc của tôi trong đó.
Giá như cái buổi sáng ấy cả hai đừng trằn trọc lâu như thế,
em không ngượng ngùng ngồi lên và tôi không dằn em xuống, vồ vập, ngấu nghiến?
Giá như khi trái mìn màu xanh lá cây sắp nổ, tôi đủ tỉnh táo đẩy em lên trước,
đủ can đảm để, và đây mới là cái điều khốn nạn nhất, không vùng dậy chạy cắm cổ
cắm đầu phó mặc em phía sau mà chỉ cần nhìn lại một lần thôi, một lần ngay sau
đó chứ không phải vọt qua bên suối rồi mới ngó sững trở về? Giá như… Vâng, cả
cái giá như ba đêm sau lấy được xác, tôi tĩnh trí vượt qua được cái mặc cảm hãi
sợ tồi tệ để nhìn kỹ vào mặt em, vào bàn tay thiếu ngón của em thì giờ đây, tôi
đâu có đến nỗi lòng dạ phải ngược xuôi chia nửa bên mộ em! Mộ em hay là mộ của…
Chợt một ý định bạo liệt nổ ra nhoáng trong đầu như một viên
đạn phá… Nhưng ngay liền sau đó tôi lại phải chua chát lắc đầu. Muộn rồi, quá
tuổi rồi, hết khí lực để thực hiện hành vi đào mồ rồi. Đào mồ!… Chao ôi!… Cách
đây hai mươi năm, tôi đã đào mồ chôn em xuống, và giờ đây, sau hai mươi năm,
tôi lại nảy ý định đào mồ moi em lên để phân rõ thực hư ư? Sống nhọc nhằn mà chết
sao cũng nhọc nhằn quá vậy? Đào mồ… Khi ấy, nếu bàn tay phải của em chỉ còn lại
một nhúm xương còng queo phải rảy rượu mới nổi lên, thiếu đi một lóng xương trỏ
thì tôi sẽ sẵn sàng tin rằng người đàn bà đang quay cuồng trong cơn hãnh tiến
kia chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, rất ngẫu nhiên. Và như thế tôi sẽ thanh
thản chịu riêng một bề ân hận mà chẳng oán thán ai, oán thán cái gì. Nhưng nếu
dưới ấy, hai bàn tay em vẫn còn nguyên lành mười nắm xương co quắp thì em là
ai? Hay không phải là ai? Thậm chí không phải là cái gì, không có cái gì hết,
trống không, vô nghĩa mà sự hiện diện nơi đây chỉ là một thứ tượng trưng đau đớn
như thường xảy ra tại các nghĩa trang liệt sĩ thời hậu chiến? Nếu vậy lại càng
buồn! Buồn lắm! Thà chỉ có một nửa em, một nửa sự thật được đất đai che giấu, đồng
loã còn hơn cái khối hư không hình chữ nhật kia.
Lại một cái bóng thấp đậm từ ngoài cổng lệt quệt đi lại. Kệ mẹ
bóng! Mày có đến hay đi thì mày cũng chỉ là một nửa hình hài. Tao cũng chỉ là một
nửa tao. Tất cả đều một nửa. Chán lắm rồi! Chính ta cũng đang là một cái bóng
tanh tưởi, u tối hơn bất cứ một cái bóng nào đây. Tôi gườm gườm nhìn nó. Thằng
nào thế? Lại trách móc, lại làu bàu báo oán ư? Báo đi! Ta đếch cần. Chính ta
cũng có cái để báo đây. Xin mời!… Cái bóng vẫn tiến đến, chân bước vòng kiềng,
miệng thở phì phò, thỉnh thoảng lại vấp đánh hự! Mẹ, hồn ma bóng quế mà cũng vấp
à? Xoàng thế? Lại còn hơi rượu phả ra nồng nặc nữa. Hiện đại thật!! Dưới ấy mà
cũng có cả dịch vụ rượu chè thì đã thật. Sướng! Cái bóng đã tiến sát… Bực mình,
tôi bấm đèn vào giữa mặt nó… Trời đất! Hoá ra thằng Ba Thành! Nó đứng chạng
chân, nhìn tôi trợn trừng trợn trạo:
- Biết mấy giờ rồi không cha? Cha tính để tôi ngồi nốc hết cả
chục lít rượu ở đó hay sao mà ngồi hoài đây vậy? Ngủ à? Giấc ngủ ngàn năm à?
Khóc à? Hay táo bón kiết lỵ không rặn không ỉa ra được?
Tôi đứng dậy, đũng quần ướt đẫm sương nhưng lòng dạ tự nhiên
thấy ấm lại:
- Ờ… Đang táo bón. Táo bón quá khứ mãn tính. Nhưng… Xong rồi.
Về đi.
Sáng hôm sau, tôi từ biệt Ba Thành nhảy xe đò trở lại miền
Tây. Đưa cho tôi một túi giấy bóng to những bánh mỳ, giò chả, trái cây, thuốc
lá và cả một chiếc võng chiến trận còn giữ được, Thành nhăn nhó:
- Mà tao vẫn không hiểu mày lộn trở lại đó làm cái con khẹc
gì? Ừ! Thì cứ cho mày trở lại chính quê gốc cô ta để biết cổ còn sống thiệt đi
(Tất nhiên làm đếch gì có chuyện đó) nhưng mụ nhất định không nhận mày, chối bỏ
mày thì chả lẽ mày lăn đùng ngã ngửa ra đó mà ăn vạ à? Mà giở trò nọ kia à? Dơ
thấy mẹ! Dẹp đi! Nghỉ cho khoẻ.
- Kệ tao. Tao phải đi. Sau đêm hôm qua tao càng không thể
không đi, thế thôi. Tao không ăn vạ, tao đi tìm sự yên ổn ở trong tao. Đã chót
lao vào vòng luân hồi nhân quả, dừng lại lúc này là tao sẽ tự nghiền nát tao, sẽ
vữa nát thần kinh luôn.
- Sẽ con mẹ gì nữa. Thần kinh mày đã vữa nát ra rồi. Tao là
thầy thuốc, tao nói thiệt đó. Ráng an thần, đừng nghĩ ngợi quá sức rồi chết
sông chết chợ không ai biết mà tìm nghe cha!
- Yên trí! - Tôi nói vui để yên lòng nó - Chết tao khó lắm.
Mà chết được đã may. Tao sẽ trở về. Chỉ xin mày một thẻo đất trồng dăm chục gốc
điều sống qua tuổi già.
- Mày nói giỡn hay nói thiệt? - Mắt Ba Thành sáng lên.
- Thiệt.
- Hay! - Ba Thành vỗ vào đùi tôi cái bách - hai con sói già
cô đơn dựa vào nhau, quắp lấy nhau, sống và nhậu tối ngày. Nhậu cho tới khi nhắm
mắt. Đã! Cha chả là đã! Má mày! Thế mới gọi là chiến hữu bang giao chí cốt chớ.
Ý! … Chắc mày cà trớn rồi! Bộ thằng Tuấn nó nỡ để cho sếp của nó phải nai lưng
ra đặng kiếm miếng cơm à? Nó là thằng biết trước biết sau, nhất định nó sẽ kéo
thủ trưởng về nuôi không, ngày ngày hút thuốc thơm và nốc bia lon mệt nghỉ.
- Chưa chắc. Và nếu chỉ cần có như thế, tao đã không đến nỗi
lếch thếch tha phương cầu thực như thế này. Nó về, mày nhớ nói tao đến.
- Được! Trong khi mày ở dưới đó, tao với nó sẽ tìm đến chỗ thằng
cha đại uý tình nhân của Hai Hợi coi nó về chưa? ở đâu? Vì nỗi lòng ngớ ngẩn của
mày và vì cả nỗi lòng ngớ ngẩn của tao chớ thực tình tao ngán gặp hắn lắm. Có
gì mới tao sẽ điện.
Trên đường đi ra bến xe, chẳng ngờ tôi lại gặp Quân.
- Ủa! Về hồi nào đó anh Hai? Sao hổng ghé thăm em?
Chiếc LADA màu kem phanh kít trước mặt tôi và khuôn mặt tươi
mởn của nó ló ra hỏi um sùm, không kể gì đến ánh mắt của những người dân hai
bên đường ngó lại lom lom. Họ ngó lại là phải. Một quan chức cỡ sang trọng như
nó mà phải thắng xe lại, chào hỏi lễ độ một kẻ khố rách áo ôm giống kẻ vừa ở tù
ra như tôi, âu đó cũng là chuyện lạ đời nay lắm chứ.
Biết tôi lại định đi đâu, Quân giơ cao hai tay lên trời, lắc
đầu:
- Khổ! Lại vẫn thế! - Em tưởng anh qua cơn rồi. Cuộc sống giờ
đây đang hết sức xô bồ, thiên hạ phải lấn nhau từng bước, giành giật nhau từng
miếng để khỏi chết đói mà anh lại cứ loay hoay vào ba cái chuyện đó hoài! Thôi
được! - Nó phẩy tay - Anh đã muốn thì em sẽ cho cái xe này đưa anh đến tận nơi
rồi quay về. Chịu không?
- Không - Tôi giãy nảy - Ai lại làm phiền cậu thế? Vả lại, tớ
lủi thủi một mình đã quen, dính dáng vào xe cộ, hỏng việc.
- Anh còn tiền không?
- Còn.
- Dóc! Ghé cơ quan em, cầm tạm vài trăm xài đỡ. Đi!
- Được rồi, khi nào thiếu mình sẽ tới.
Tôi nói thế nhưng thừa biết mình sẽ không bao giờ tới cả.
- À này - Như chợt nhớ ra điều gì hệ trọng, Quân kéo tôi vào
một quán cà phê bên đường, gọi hai ly đen, một gói Hê rô rồi hạ giọng – Người
đàn bà mà anh đang đi tìm đó nay đã là phó chủ tịch rồi. Phó chủ tịch kiêm giám
đốc sở nông lâm. To phe lắm! Kiểu này còn lên nữa.
- Thế à? - Tôi cố làm ra vẻ tỉnh bơ - Mừng thôi.
- Mừng gì. Cái thế tuy vậy coi ra rất chênh vênh.
- Chênh vênh sao? - Tôi hỏi với vẻ quan tâm thật sự.
- Một là lên rất cao, hai là phá sản, xuống rất thấp.
- Nói đi! - Tôi đặt vội ly cà phê xuống như chính mình sắp
phá sản thật.
- Qua làm việc mấy lần, nhất là lần đầu tuần vừa rồi, em thấy
bả táo bạo thông minh, nhạy bén, dám quyết, dám chịu trách nhiệm nhưng táo bạo
quá, táo bạo đến đôi khi không hiểu gì cả, bỏ qua cả những nguyên tắc kinh tế tối
thiểu mà đáng ra ở cương vị ấy, bả phải hết sức thận trọng.
- Ví dụ?
- Trời! - Quân phì cười - Anh làm cái gì như quan thanh tra
thế? Ví dụ hả? Thế mạnh của bả là rừng, là lâm sản. Thiên hạ tìm đến liên doanh
liên kết, làm ăn với bả cũng trên thế mạnh ấy. Nhưng vừa rồi không hiểu bả nghe
ai xúi dại mà cho phá trụi ráo trọi giống cà phê, bạch đàn đi, trồng toàn điều.
Loại này hiện nay đang có giá, dễ ăn, vốn đầu tư ít nhưng một khi giá điều trên
thị trường hạ xuống, mà hạ để ghìm nhau, chơi khăm nhau là thường chớ, bả sẽ
rơi vào tình trạng trắng tay, trong khi giống cà phê, bạch đàn tuy khó ăn đôi
chút nhưng thị trường hồi nào cũng cần. Bả nóng vội quá.
- Thế thôi à? - Tôi nhẹ thở phào trong lồng ngực.
- Chưa hết. Bả khá bốc đồng. Không lượng sức tỉnh nhỏ, táo tợn
vươn tay tùm lum ra cả nước ngoài, mới ngửi thấy cái lợi là vung tay ký kết
lung tung, ký kết không cần biết nó chơi với mình có thật bụng hay là chỉ thăm
dò, dền dứ, chưa nói tới chuyện nó tìm cách khai thác triệt để sự ngớ ngẩn
thích ăn xổi ở mình. Trong làm ăn đầu tư, liên kết, thiên hạ lo giữ miếng nhau
nhiều chớ thân tình mấy. Nhưng nguy hại nhất là người ta nói bả đang choáng
váng trước bước đường công danh đang thăng tiến vù vù, không biết ta biết mình,
không thích nghe lời khuyên thật, chỉ ưa nghe lời ngon ngọt. Kiểu dùng người
như thế, theo kinh nghiệm của em, sẽ bị phản hồi nào không hay. Trong thương
trường và trong chính trường của bọn em, người như vậy kêu bằng hãnh tiến.
- Thôi! - Tôi chóng mặt thật sự vì hàng loạt những mệnh đề và
phản đề rắc rối từ miệng nó luôn ra một cách quá lạnh lùng, sắc sảo.
- Về đời tư thì nghe nói gần đây - Có vẻ thoả mãn thấy thái độ
của tôi, nó làu bàu nói tiếp - Cũng chỉ là nghe nói thôi heng! Bà bắt đầu sanh
tật cưa sừng làm nghé. Tức là cặp bồ toàn loại trai trẻ, vâm con, vừa phục vụ
công việc vừa đáp ứng sinh lý luôn. Hồi xuân mà.
- Kệ mẹ cái hồi xuân ấy - Tôi sầm mặt, bỗng dưng gắt lên - Cậu
nói cái chuyện đó ra ở đây làm gì? Tôi muốn biết rồi Sương… Rồi bà ấy sẽ đi đến
đâu?
- Đi đến đâu à? - Nó cười ngoác miệng - Sao nổi nóng ngang
hông vậy anh Hai. Rất đơn giản: Theo nghiệp vụ kinh tế thì bả sẽ mất hết. Còn
theo nghiệp vụ thanh tra thì chắc chắn bả sẽ được ra điều trần trước toà.
Tôi đứng phực dậy, toàn thân rung lên:
- Một chuyện như thế mà cậu có thể nói năng ráo hoảnh vậy được
à? Đáng lẽ là chỗ làm ăn đi lại thì cậu cũng phải nhắc bà ta mấy câu chứ.
Nó cũng đứng lên, gần như ôm lấy vai tôi:
- Ôi! Hoá ra ông anh tôi còn nặng tình nặng nghĩa dữ! Ngày
trước thế nào, bây giờ vẫn thế. Yên tâm đi! Những thông tin đó có thể đúng, có
thể không mà cho dù có đúng đi nữa thì với một người như bả, thiếu gì những cái
ô che chắn. Em nói đại như vậy để anh Hai nản, anh Hai bỏ phứt cái chuyến hành
hương vô vọng về dĩ vãng này đi. Vô lý, vô bổ và vô cùng! Thôi, lên xe, ta làm
một chầu ăn sáng cho ấm bụng. Nào mời anh!
- Không! Chính thế tôi càng cần phải đi. Cám ơn cậu.
CHƯƠNG 12
Như một sự sắp đặt quái ác của số phận, chiếc xe tốc hành đi về
miền Tây hôm ấy đáng lẽ bon thẳng theo xa lộ Đại Hàn, nó lại cắt chéo vào đường
rừng để đón thêm khách.
Thế là, dù muốn hay không, một lần nữa tôi phải nhìn lại, sống
lại cái mảnh đất ngột ngạt những ký ức này. Lại gốc cây ấy, ngã ba kia, thằng
này sống, đứa kia chết… Lại ong ong những nhức nhối và hờn tủi trong đầu và lại
buộc phải xin các bạn độc giả kiên tâm dừng lại với tôi một chút mà chưa thể về
ngay cái vùng sông nước, nơi mà tôi hy vọng rằng cuộc hành trình của tôi sẽ vào
hồi chung cuộc. Dù thuận hay nghịch.
Vâng! Từ đầu câu chuyện đến giờ, tôi đã cố né tránh để khỏi
phải nghĩ, phải nhắc đến cái đêm… Không! Sao lại là đêm? Chả lẽ cứ động đến buồn
đau là nhất thiết phải gắn chặt với bóng đêm cho thêm phần bi luỵ ư? Vâng! Đúng
ra là vào chính cái buổi sáng mùa khô năm ấy…
Những ngày sau hiệp định Pa ri 73 là những ngày tột cùng cô
đơn và cũng tột cùng khốc liệt đối với đám lính bám trụ vùng giáp ranh chúng
tôi. Cái dòng gian nan, chết chóc thà cứ chảy suốt một luồng lại còn dễ chịu đựng.
Đang chảy, chạm khắc 73 thái bình, tưởng rằng thế là xong, là không còn chết
chóc ở phía trước nữa nhưng rồi nó lại tiếp tục chảy, gian nan hơn, chết chóc
hơn, thật là kinh khủng. Ấy vậy, không hiểu do thần phật độ trì hay do nghệ thuật
bám trụ đã thành tinh, hay do chính cái ý chí duy vật kiên cường chống lại điềm
tâm linh bi thảm khi dính dáng chuyện tình ái với Sương mà tôi vẫn tồn tại,
chưa chết, chưa tự sát, tự thương? Đúng là một điều kỳ lạ, một kỷ lục hiếm có về
khả năng kéo dài sự sống trên vùng đất ít ai giữ được cái gông trên cổ ngoài
sáu tháng này. “Tại vì anh yêu em và được em yêu lại. Tại vì thần chết, dù có
chai sạn nhất cũng chẳng nỡ chia lìa lứa đôi một khi cái lứa đôi ấy yêu nhau đã
gần trọn năm năm mà vẫn chưa có dịp hiểu về nhau ở nơi tận cùng xác thịt. Đúng
không?” Tôi thường trả lời Sương như thế mỗi khi lâu lâu gặp lại vẫn còn nhìn
thấy nhau sống sót nguyên lành trước mắt mình. Khi ấy, em chỉ khẽ gật gật đầu,
để mặc cho nước mắt trào ra…
Thời gian này, cùng với độ dài chiến tranh tưởng chừng như vô
tận, Sương đã thay đổi, đã cứng cáp hơn lên chút ít nhưng vẫn thế, rụt rè, bé bỏng
và hay tha thẩn ngồi một mình. Riêng đôi mắt em nhìn ra cửa rừng có nhiều nắng
là hơi già đi. Sau khi Hai Hợi chiêu hồi, Sương rơi người vào một khoảng lắng
chìm khá lâu. Rồi em bừng tỉnh, nhận làm xã đội trưởng thay chị. Đánh được vài
trận, trên đề cử làm bí thư. Em lắc đầu. Và xin thôi chức xã đội trưởng luôn để
tiếp tục trở về làm cô y tá như xưa kia. Tại sao vậy? Một lần tôi hỏi, em trả lời:
“Ráng đánh thắng ít trận để chuộc tội lỗi cho chị Hai thôi, Sương không ham”.
Còn đơn vị tôi, không biết đã bị xoá phiên hiệu đi, xoá lại đến
lần thứ mấy nữa? Bi kịch được lặp đi lặp lại nhiều lần nó cũng trở thành nhàm,
thậm chí thành hài kịch. Sau hiệp định Pa ri, thực sự những kẻ cầm súng trực tiếp
như chúng tôi sống trong một màn bi hài kịch đẫm máu. Mỗi lần bị xoá là mỗi lần
mấy đứa còn lại lủi thủi theo giao liên ngược lên rừng già nhận thêm quân ở
ngoài kia mới vào. Có quân là có việc làm, có mục tiêu để nổ súng và để lại tiếp
tục ngã xuống, ngã xuống đến người chót cùng. Nhưng trận đánh ngày càng xa dần
cái bến sông hiu quạnh đã ngậm ngùi chôn nhau ngót nghét không dưới năm chục
mang người, xa dần em để xuống sâu hơn nữa. Ai chết cứ chết, đơn vị nào bị xoá
phiên hiệu cứ xoá, nhưng đường đi bao giờ cũng vươn về phía trước, chỉ có phía
trước, nơi vầng sáng đô thành Sài Gòn đang hắt lên không trung những ánh màu đầy
ma quỷ song cũng thật là quyến rũ. Do đó mà suốt độ dài năm năm dằng dặc, tôi
và Sương chẳng mấy khi được gặp nhau, được có dịp chiến đấu bên nhau như cái thời
kỳ trước, trong và sau Mậu Thân hồi nào. Phải chăng, tôi lặng người đi trong một
suy nghĩ, phải chăng chính sự xa cách đó đã cưỡng lại được cái lời tiên tri độc
địa của Viên. Tôi chưa chết và em cũng chưa làm sao. Nhưng còn em, em lại nghĩ
khác. Giụi đầu vào ngực tôi một lần gặp lại, em đã nói: “ Tại vì ở đâu, lúc
nào, gần anh hay xa anh, đêm cũng như ngày, Sương đều cầu nguyện cho anh, nhớ về
anh nên thần phật thương, thần phật không nỡ bắt anh Hùng phải đi như những người
khác. Thần phật không nỡ để em lủi thủi một mình trong những cánh rừng trụi lá
toàn bom đạn…”. Tôi hôn em, nụ hôn giữa rừng trộn nước mắt mặn chát. Trong những
trường hợp như thế, tôi phải gồng mình làm giá đỡ tinh thần cho em: “Nếu mai mốt
còn sống, anh và Sương sẽ kết hợp làm một luận chứng khoa học nhằm đả phá tan
tành bọn duy tâm bói toán mà bằng chứng hùng hồn là sự tồn tại nghiễm nhiên của
cả anh và em đây. Số má ư? Làm gì có. Chả lẽ hàng trăm người chết trong một trận
B52 rải thảm, một trận bị phục kích cỡ trung đoàn lại cùng chung một số, một
ngôi sao chiếu mệnh ư? Láo toét hết. Cứ mời các vị chiêm tinh phòng khách ấy
vào đây một lần, nếm qua bom đạn một tí, chôn nhau một tí, nã súng vào ngực thằng
thù một tí là mọi mớ lý thuyết han rỉ, sản phẩm của một trái tim yếu đuối, một
bộ não phù nề bị phá sản ngay. Ví như anh. Số anh cầm tinh con gì? Ngày sinh tháng
đẻ ra sao? Ai là quý nhân phù trợ mà có muốn cũng chả dễ gì chết được. Nào! “Đừng…
Đừng nói trước điều gì hết, anh. Em sợ lắm! Chiến tranh còn dài, đã biết bao giờ
kết thúc đâu. Nhưng nếu ở đời có cái chuyện quý nhân phù trợ ấy thì em xin là
người phù trợ cho anh. Phù trợ bằng cả tính mạng mình…”.
Song, chuyện tình của hai đứa tôi không phải khi nào cũng một
màu sắt son lãng mạn pha cả ngậm ngùi bi thương như thế. Mặt trận chuyển động
không theo quy luật, có bận chúng tôi phải hoạt động xa nhau cả năm trời. Và
cũng cả năm trời ấy, em không thèm viết cho tôi lấy một chữ, nhắn nhe cho tôi lấy
một câu. Nhớ em quá! Và lòng dạ cũng nghi hoặc quá, nhân lúc rảnh rang chưa vào
mùa đánh giặc, tôi liều mạng một mình cắt rừng hai đêm, vượt qua ba con lộ máu,
chục cái bốt gác dữ dằn để đến với em nhưng em lại giữ bộ mặt thản nhiên như
chuyện gặp nhau vẫn xảy ra cơm bữa. Sao vậy? Cái gì đang xảy ra trong cái đầu
nhỏ nhắn của cô thế? Tôi trợn mắt hỏi, em chỉ lắc đầu cười buồn: “ Em mệt! Em mệt
lắm! Đừng hỏi, đừng hành hạ em thêm nữa”. Thế là về! Lại hai đêm cắt rừng, ba
con lộ… Gió sông gió đồng thổi vào đầu lồng lộng mà sự tê tái bao phen cứ chực ứa
ra thành nước mắt!
Gần đây, theo những nguồn tin vừa tin cậy vừa không tin cậy,
người ta bảo em đang dính dáng đến một sĩ quan ở ban tham mưu quân khu đẹp
trai, cấp hàm cao, vừa học ở Nga về, lại có gia đình làm ăn khá giả tại Sài
Gòn, mỗi lần móc nối được, tiền của xài cả mùa không hết. Lần khác lại nghe nói
em đang quan hệ với chính ông tỉnh đội trưởng chưa đầy bốn mươi tuổi. Ông này dự
kiến đưa em ra Hà Nội đào tạo bác sĩ hay trường Đảng cao cấp, đặng trở về làm
rường cột cho quê nhà một mai khi bước vào thời hậu chiến. Lần khác nữa lại có
tin đồn em công khai gắn bó tình cảm với một cậu du kích kém mình năm tuổi, vốn
là sinh viên luật mới ở Thành chạy vào, gắn bó trên danh nghĩa em nuôi. Em
nuôi!… Mẹ, chao ôi sao chỉ một mình em là lắm lời đồn đại thế? Cái nào đúng cái
nào sai? Đúng cả hay sai cả? Sự thật hay miệng đời khốn nạn dệt thêu? Cao cấp
uy quyền ư? Trẻ trung học vấn ư?… Phải thôi! Toàn những miếng thăn miếng nạc,
thơm da thơm thịt cả. Bì làm gì với cái thằng tôi ở dưới này, sần sùi, cóc cáy,
dai nhanh nhách, chân tay hồi nào cũng nhớp nháp máu người và ngày một ngày hai
sẽ đến phiên chết giúi giụi trong bờ trong bụi hay chết banh xác trên mặt đường.
Dại gì! Đúng thôi. Nước đời bao giờ chẳng thế! Mẹ!… Tôi ném tiếng chửi ra mặt
sông nhạt thếch màu hoa bèo. Hoá ra trong những cánh rừng bom đạn, cái sống cái
chết cách nhau không tày gang tấc, ái tình cũng được cân đong cẩn thận đáo để.
Tôi chỉ là một hình ảnh loà nhoà đi qua cánh rừng bên sông ấy. Qua rồi là biến
nhẹm, là thôi luôn sau khi đã góp phần lấp đầy một phút trống trải cho đứa con
gái ấy. Sau tôi lại tiếp tục những kẻ khác, lại lấp đầy rồi lại qua đi, chỉ có
cô ta là còn lại như là cái nơi tập kết của những tình yêu giả trá khoác màu thống
khổ. Khốn nạn! Vậy thì cóc cần, cả mạng sống, cả cuộc đời còn dám quăng vào
ngang ngửa, một chút tình bạc nhạc con con, sá gì. Tốt nhất là tiếp tục vùi đầu
vào công việc chém giết cho khuây.
Nhưng quái lạ! Càng thế càng không làm sao khuây được. Càng
ác liệt, càng gian truân, càng mỏng manh sự sống, đêm về mắc võng nhìn lên khoảng
trời nhỏ bé đầy gió và sao, hình ảnh em lại càng níu buộc, thuốn xoáy, giằng ra
chừng nào, lại xô vào chừng ấy, ngấm chìm, lặn hụp vào trong…
Tình trạng chông chênh lúc có lúc không ấy làm tôi mệt nhoài,
thậm chí dẫn đến sự héo tàn rồ dại chưa lường được nếu một ngày kia phân đội
trinh sát chúng tôi không được lệnh trở lại chính cái địa bàn đó...
...để kết hợp với cơ sở nội tuyến tìm diệt đám thám báo, gián
điệp có nợ máu vừa thực hiện xong hành vi chỉ điểm đánh phá có hiệu quả vào căn
cứ ba xã trọng điểm.
Nhận nhiệm vụ, chúng tôi nhìn nhau im lặng. Lại tổn hại! Lại
teo tóp! Sau hiệp định hoà bình, ai dè sự tổn hại, sự teo tóp lại diễn ra thê
thảm hơn cả hồi Mậu Thân? Nản lắm, nhiều khi muốn lỏng tay cầm súng lắm mà
không thể nói ra. Tuy vậy ở riêng tôi, tôi cũng có một chút bồi hồi khi biết rằng
mình sẽ trở về nơi ấy, sẽ gặp lại con người ấy. Rất bồi hồi.
…Chuyến đi diệt ác này, tất nhiên, có cả bán đội du kích của
Sương đi cùng với tư cách là lực lượng địa phương dẫn đường. Sương vẫn làm y tá
nhưng do cậu xã đội trưởng mới ngã xuống khi đêm nên cô ấy lại phải tạm thay,
làm luôn cả hai chức năng.
Buồn quá! Lâu lắm mới gặp nhau mà em chỉ lạnh nhạt khẽ chào.
Chào như chào một đồng đội không hề quen biết đến làm nhiệm vụ phối thuộc. Bị
chạm tự ái nặng nề, tôi cũng khinh khỉnh quay đi. Cả hai giữ nguyên trạng thái
căng thẳng cố tạo đó, ít nhất cũng là ở tôi, cho đến khi dẫn được đám tù binh
trở về.
Họ gồm bảy người, cả chủ lực lẫn bảo an, cả nam lẫn nữ, cả cảnh
sát lẫn tình báo phượng hoàng. Họ bị bắt gọn trong lúc đang tụ tập ở tại nhà
viên trung uý xã trưởng để bàn tính chỉ điểm đánh ta một đòn chí mạng nữa vào
ngay căn cứ tỉnh uỷ. Trong số đó, tôi thoáng để ý thấy một thanh niên dong dỏng
cao, đeo kính trắng, trán đẹp, mặt đẹp, khôi ngô, có dáng một sinh viên hay
giáo sư trung học hơn là một tên thám báo, chỉ điểm. Hắn ngồi hơi tách riêng ra
một chỗ, mắt nhìn xuống đất, đăm chiêu chứ không đến nỗi đờ đẫn, cóm róm vì một
ám tượng hãi hùng đang có khả năng ập xuống như sáu người kia. Có một cái gì đó
rất lạ không gọi được tên bất chợt nhen lên trong tôi như một sự mách bảo, lại
như một giao cảm vô hình, bảng lảng thường xuất hiện trong chiến tranh giữa hai
kẻ nằm hai bên chiến tuyến hận thù. Tôi gọi hắn riêng ra một chỗ.
- Tên anh là gì? - Tôi hỏi vừa đủ nghe.
- Dạ… Thưa tôi tên Tường - Tiếng trả lời nhỏ nhẻ, thanh
thoát, rung nhẹ.
- Anh người ngoài đó?
- Dạ… Ba má tôi người Hải Dương.
“Thì ra anh ta là đồng hương với tôi!”. Một chút nữa tôi buột
miệng thốt lên điều đó nếu không chợt nhìn thấy con mắt hắn sau đôi kính loé
lên một tia sáng khó hiểu. Tuy vậy, giọng tôi cũng chùng xuống:
- Anh là cái gì trong đám ác ôn sặc máu này? Tại sao anh lại
có mặt giữa bọn họ?
Cái ngây ngô của tôi, một gã lính chiến quen đánh vỗ mặt mà
không biết đường dò tìm ngóc ngách trong nghệ thuật hỏi cung, nằm chính trong
câu hỏi gần như nối giáo, gần như gợi ý cho đối phương này. Hắn nhìn nhanh sang
đồng bọn, một cái cúi đầu trả lời khẽ khọt:
- Dạ… Chỉ là một sự ngẫu nhiên. Tôi… Tôi về thăm nhà rồi chẳng
may… Tôi thực sự không biết những người kia là ai. Dạ…
Về thăm nhà? Chả lẽ hắn là người bà con hay anh em họ hàng ruột
thịt gì đó với thằng cha trung uý xã đội trưởng trông giảo hoạt kia? Thăm nhà?
Rất có thể lắm chứ. Cái gì chả có thể xảy ra trong cuộc chiến tương tàn này.
Tôi định hỏi thêm hắn mấy câu nữa nhưng lại thôi vì lúc đó Sương đang đi tới.
Thì ra, trời ạ, vừa rồi chẳng qua tôi hỏi chỉ để mà thôi, chứ thực ra hỏi để khỏi
phải nhìn thấy ánh mắt trống trải xa lạ của em và cũng vì tôi thấy hắn có cái
gì đó là lạ, không giống những tù binh khác.
Một tiếng nổ đầu nòng bất thần vang lên ở phía thị xã bên kia
sông.
Tiếng Sương cất lên mệt mỏi:
- Sắp đến giờ pháo kích. Mấy em cho tù binh xuống hầm lẹ đi!
Như bị cái tiếng nói dửng dưng ấy xúc phạm, bỏ quên, tôi cũng
ẩy mạnh vào vai gã đeo kính, quát trở lại:
- Xuống hầm! Lẹ lên!
Giây phút đó tôi đã không biết rằng hắn chưa hề bị trói trở lại
như đứa khác. Và thưa bạn đọc, cái không biết đó có đúng là không biết thật
chưa? Mãi sau này, mỗi khi kiểm nghiệm lại, chính tôi, tôi cũng không thật rõ nữa.
Sau đợt pháo kéo dài gần một giờ đồng hồ, trời lại bắt đầu hửng
sáng.
Tuấn, khi đó đã là đội phó của tôi, từ chạc cây gác nhảy xuống,
lắc đầu chán nản:
- Chúng nó đã lố nhố đen đặc của cửa rừng rồi, anh Hai? Thế
là bị bao vây con mẹ nó rồi. Nhanh thật! Chúng tính trả đũa cái vố bị hốt gọn
đám thám báo khi đêm đây. Tính sao anh?
Tôi biết tính sao là ý hắn muốn hỏi cái khoản tù. Theo nhiệm
vụ, nếu bắt sống được số này, bọn tôi bằng giá nào cũng phải giải được lên trên
để điều tra xét hỏi. Bây giờ tình thế xoay chuyển bất ngờ, ngay đến chúng tôi
cũng chưa chắc đã lên trên được huống chi là chúng nó!
Tuy vậy, tôi vẫn nói Tuấn dẫn một tổ tinh nhuệ cắt thử một đường
rõ thật bất ngờ xem có lọt không. Nửa giờ sau, nghe có tiếng súng nổ rộ rồi Tuấn
trở về, quần áo rách bươm, kêu hết xí quách rồi! Một con chồn lùn cũng chẳng thể
lọt qua. Chưa hết hy vọng, tôi xách tiếp một tổ đi nữa. Cũng không ăn thua!
Chúng nắm tay nhau đứng giáp vòng như đi xem hội, khó lắm! Ai đời, một khoảnh rừng
bé xíu chưa đầy hai sào ruộng mà chúng rùng rùng kéo đến án ngữ tới ba tầng, cả
bộ binh, thám kích và cơ giới. Đúng là đánh nhau kiểu công tử con nhà giàu cũng
nhàn thân thật.
Tình thế mới đẩy tôi phải bước đến hầm của Sương mặc dù tôi
chưa hề muốn đến lúc này.
- Chào đồng chí! - Tôi đứng nghiêm như một chú lính kèn.
Sương nhìn lên tôi khẽ rùng mình một cái.
- Anh... Chào anh! Có việc gì không... anh?
- Tất nhiên là có việc. Tôi đến để bàn với đồng chí một việc
hệ trọng (Đôi mắt đen im lặng của Sương chỉ hơi nhướng lên). Nếu bây giờ ta quyết
định giải tù binh đi theo phương án thì chết hết. Chết cả người giải lẫn người
bị giải. Đó là điều chắc chắn.
- Dạ!... Tiếng dạ rõ ràng tỏ ra lơ đễnh.
- Cho nên, nếu đồng chí đại diện chính quyền địa phương thống
nhất (những tiếng này tôi nhấn mạnh đến nỗi vầng trán xanh xao của em phải chau
lại) tôi chính thức đề nghị, xét theo tội trạng đã rõ mười mươi của từng tên và
căn cứ vào hoàn cảnh đặc biệt của địa bàn, ta có thể tiến hành xử tử hình ngay
tại chỗ.
Có lẽ đến lúc này Sương mới nghe thủng câu chuyện, vẻ mù mịt
trong đôi mắt biến mất, em đứng dậy, ngỡ ngàng:
- Tử hình?... Tử hình ai?... Sao lại tử hình, anh Hai?
Trời! Hỏi nghe mới sướng chưa? Như cái kiểu hỏi đối với một
thằng cha trẻ trung, cấp hàm cao, lắm tiền nhiều của nào đó. Tôi càng nhấn giọng:
- Đơn giản: Có thể không trúng như lệnh trên nhưng lại bảo
toàn được lực lượng. Vô lý khi chỉ vì ba cái đứa ác ôn có nợ máu này mà ta phải
hy sinh thêm nữa, thậm chí hy sinh tất cả. Đồng chí có hiểu tôi nói không? Nếu
bất cứ ai vào địa vị tôi, dù là ông tư lệnh Miền hay ông tư lệnh Bộ, chắc cũng
phải hành động như tôi thôi. Hết!
- Khoan đã - Sương chới với trước những loạt đạn bắn thẳng dồn
chứa mọi sự ấm ức từ lâu của tôi - Em... Em thấy chưa cần phải làm như thế. Đề
nghị đồng chí xem xét lại coi. Biết đâu...
- Trong chiến tranh không thể có cái chuyện gọi là biết đâu ấy
- Cáu vì tiếng 'đồng chí' khô khốc của cô hơn là những lập luận ấp úng đó, tôi
càng áp đảo.
- Là người chỉ huy cao nhất ở đây, tôi muốn đồng chí trả lời
chính xác. Trong hai khả năng, ta chỉ có thể chọn một.
- Không! - Bất thần nét mặt em đanh lại dễ sợ - Tôi sẽ chọn cả
hai. Tại sao đồng chí không tiến hành mở một trận tập kích nhỏ như tập kích chiến
đoàn 52 Mỹ ngày trước, thu hút lực lượng của chúng để dãn cách vành đai án ngữ
ra?
- Hả?...
Tôi thoáng chột dạ. Chột dạ vì cái giọng nói đột biến trở nên
uy lực kia hơn là nội dung câu nói, dẫu rằng dù muốn hay không, cũng phải công
nhận rằng đó là một sáng kiến có giá. Chà! Gớm cho đàn bà chân yếu tay mềm một
khi đã đi qua chiến tranh đều có thể trở thành đáo để, sắt thép hết. Sắt thép từ
khi nào thế này, cô bé? Đã vậy thì tôi chỉ còn cách phải... mềm lại thôi.
- Đúng, tôi đã nghĩ đến điều đó. Nhưng ngày trước chúng chỉ
có một vòng vây mà lại vòng vây lính Mỹ ngơ ngáo, còn bây giờ là ba vòng toàn bọn
sư 5 lọc lõi, ranh mãnh đã quá quen với các ngón nghề của ta rồi. Muốn tập kích
hay phục kích, lực lượng ta đòi hỏi phải gấp mười hay chí ít cũng gấp năm thế
này.
Sương im lặng. Trước kia, thường những lúc tôi cố ý lái sang
những vấn đề, những thuật ngữ quân sự rắc rối thì bao giờ em cũng im lặng.
Trong thoáng chốc, cô lại trở về cái hình hài con chim sẻ tội tình ưa ngồi nơi
râm mát ngày nào. Em gượng lên một lần nữa:
- Giả dụ... Giả dụ ta cứ trụ lại, trụ lại cùng với tù binh
vài ngày nữa rồi lựa thế tìm cách ra sau? Được không?...
- Thế là tự sát! - Tôi cười không thèm giấu đi vẻ giễu cợt cứ
lồ lộ hiện ra - Nhúm người chúng ta sẽ rơi vào tình trạng thù trong giặc ngoài,
hết đường chống trả.
Lại im lặng. Im lặng rất lâu... Thực lòng tôi khao khát được
chìm mãi vào vùng không khí lặng tờ này mà không phải nghe, không phải nói gì hết.
Dường như trong im lặng mông lung, em mới có dịp trở lại là em, yếu mềm, cây cỏ...
Sương bẻ ngón tay, bẻ thầm, bởi vì còn có cái gì trong xương trong cốt nữa mà
kêu.
- Thôi thì tuỳ... tuỳ anh. Tuy vậy tôi... tôi...
- Yên tâm đi! - Tôi cười nhạt - Tôi sẽ hoàn toàn chịu trách
nhiệm về sự việc này. Nếu sau đây có gì rầy rà, tôi sẽ trả lời rằng, đây hoàn
toàn là hành động đơn phương mặc dù đồng chí đại diện địa phương đã khăng khăng
phản đối.
- Không... Không phải thế! Anh không...
Giọng nói cô khổ não như sắp khóc. Kệ! Tôi muốn trả thù. Lấy
câu chuyện tù binh để trả thù chứ chưa hẳn câu chuyện này là nguyên cơ gay gắt
áp đảo nhau.
- Tuấn đâu! - Tôi gọi khẽ.
Tuấn đi đến, nét mặt vẫn tỏ ra căng thẳng:
- Anh Hai gọi.
- Cậu thay mặt bà con và thay mặt cách mạng khử chúng đi! Khử
hết!
Nét mặt nó rạng lên:
- Em biết trước là thế nào anh cũng phải buộc lòng quyết định
như thế. Nhưng... Khử bằng gì ạ? Bắn vào sọ thì không ổn rồi. Ở đây có đánh rắm,
địch cũng nghe thấy. A... Xin lỗi chị Ba...
- Bằng gì tuỳ cậu. Miễn là gọn. Xong chôn cất từng người đàng
hoàng. Nhớ đánh dấu từng tên để sau này nếu trong chúng ta thằng nào còn sống,
biết đường mà báo cho gia đình người ta. Nói rằng đây là việc làm bất đắc dĩ,
ta muốn họ chết ở đây hơn là để họ chết lăn lóc bởi chính những viên đạn của
phía bên họ trên mặt lộ. Thế thôi.
- Rõ!
Tiếng rõ của hắn nghe không được mạnh mẽ lắm. Cũng như câu ra
lệnh của tôi cũng cố gồng lên mà ra lệnh. Nói đùa, nếu vừa rồi Sương tỏ ra
thương cảm hơn một chút, bất lực và yếu đuối hơn một chút thì chưa biết chừng
tôi đã thay đổi ý định rồi, dẫu biết rằng phải trả một cái giá thật đắt cho sự
thay đổi đó.
Để mặc Sương ngồi đó với ánh mắt nhìn lên tôi đượm vẻ ngỡ
ngàng, ai oán, tôi quay lưng bước đi, lòng dạ không thể không cộm lên một chút
xốn xang, day dứt. Xót ruột lắm ư cô gái? Xót ruột hộ những người ở phía bên
kia vừa gây thương tổn không lấy gì bù lại được của đồng đội cô à? Cuộc chiến
tranh này là cuộc chiến tranh gì vậy? Sự thương xót từ trong vô thức mờ mịt
không thể hiểu được kia là thế nào đấy? Thế còn hàng trăm, hàng ngàn những người
đồng hương của chúng tôi thay nhau ngã xuống bón đất cho vùng sông này thì sao?
Chuyện đùa, chuyện trẻ con chắc, hở cô đảng viên nòng cốt của Đảng Nhân dân
cách mạng miền Nam?
Tuấn huỳnh huỵch chạy đến, mặt mày ngơ ngác:
- Anh Hùng!... Sao chỉ còn có 6 đứa? Hồi hôm ta tóm gọn cả 7
cơ mà?
- Hả? - Tôi chột dạ - Thằng nào thoát?
- Không thấy cái thằng đeo kính trắng nói giọng Bắc đâu hết.
- Thằng Tường?... Tôi bất giác thốt lên và định nhào đến cái
hầm khi đêm tôi vừa đẩy nó xuống đó nhưng rồi vẫn đứng lặng. Không cần thiết nữa.
Chắc chắn là hắn đã trốn mát rồi. Và một ý nghĩ chớp sáng rất nhanh trong đầu,
tôi cả cười, nói át đi - Sáu đứa là đủ. Cái thằng kia là giáo học hay sinh viên
gì đó, vô hại, cho nó sống, giữ lại làm gì.
- Anh thả nó ư? - Tuấn tròn mắt nhìn tôi.
- Không thả nhưng... Cũng coi như thả. Chặc! Nó về thăm nhà ấy
mà. Biết đâu lại đỡ đi được một oan hồn vất vưởng?
Đến đây thì cái thân hình con gái đang xiêu lả kia lẳng lặng
đi tới, tiếng nói cô nặng nề dội vào tai tôi như dội vào tôn thiếc:
- Trời đất ơi! Đồng chí có biết đồng chí vừa làm một việc rất
vô nguyên tắc không? Tên Tường ấy chính là một tên nguy hiểm, phái viên của tiểu
khu phái xuống chỉ đạo bọn này.
- Thế à?...
Tôi buông một tiếng hỏi vô nghĩa rồi chết lặng. Đã trót nói
là thả thì không thể nói lại là vô ý. Nhục lắm! Tôi lảng mắt đi để tránh cái
nhín không thể chịu được của Sương, rồi đột nhiên tôi nổi khùng:
- Vâng! Rất có thể tôi đã vô nguyên tắc và tôi cũng xin chị
trách nhiệm luôn về cái vô nguyên tắc này. Đồng chí Tuấn! Tiến hành đi! Lẹ lên!
Không còn thời gian để tranh cãi nữa đâu.
Nhìn theo cái bóng chắc đậm của Tuấn khuất đi rồi, tôi mới thấy
lo. Lo vì chuyện khử tù binh tắt đã đành nhưng cái đáng lo hơn lại thuộc về sự
bảo toàn căn cứ và sinh mạng của anh em một khi thằng phái viên kia đã từ trong
ruột mình chạy ra và dứt khoát sẽ dẫn quân đánh trở lại. Đúng là tự dưng lại
dâng gọn cả sơ đồ phòng thủ căn cứ cho nó xơi ngon lành! Khốn nạn!... Bất giác
tôi đưa mắt nhìn về phía Sương... Em đang ngồi đó, quay mặt ra sông, nước mắt lưng
tròng, giống một bé gái bị mẹ mắng đang tủi thân tủi phận.
Tôi ngần ngừ định đến nói với em một câu gì đó để trấn tĩnh
cho em, trấn tĩnh cả cho tôi nhưng chẳng ngờ, như đón bắt được những suy nghĩ
chộn rộn trong đầu tôi, em chủ động đứng dậy, bước đến gần, tiếng nói rầu rầu
cam chịu:
Anh... Việc đã rồi, đành vậy. Cái cần trước mắt là ta phải xé
vòng vây chuyển đến dự bị ngay không thì chết hết.
Tôi im lặng không nói gì chỉ nhìn chăm chú vào mắt em. Chao
ôi! Tất cả những cái vừa rồi vớ vẩn và vô nghĩa làm sao trước cái nhìn buồn phiền,
hun hút, thật hư không rõ rệt này. Cái nhìn hoàn toàn tách khỏi thực tại. Cái
nhìn của đàn bà đang khắc khoải... Nếu cái nhìn này đã thuộc về kẻ khác, thuộc
về ai đó mà không còn là của riêng tôi nữa, vĩnh viễn không phải là của tôi nữa
thì cái căn cứ này, đám tù binh kia và cả cái án kỷ luật chắc rằng sẽ rất khắc
nghiệt đang treo lơ lửng trên đầu ấy, tất cả sẽ trở nên nhạt thếch hết.
- Yên tâm đi Sương! - Lần đầu tiên kể từ lúc gặp em đến giờ,
tôi mềm giọng - Thằng này sẽ không chỉ điểm dẫn lính vào đây đâu. Nhìn vào
trong mắt nó, nghe giọng nó nói, tôi biết chắc điều đó...
... Những thằng lính cầm súng thực thụ, dù ở bên nào, cũng có
cách đọc trong mắt nhau mà không mấy khi sai. Và dù nó có dẫn thì đã sao? Ta sẽ
tương kế tựu kế, đặt bẫy ngay trên đường nó đi vào.
Tôi khoát tay, cắm một điếu thuốc rê ướt nhoét lên miệng ra ý
bảo câu chuyện trao đổi công việc đến đây là chấm dứt và thực chất cũng chỉ là
trao đổi công việc.
Lúc ấy, cả tôi và Sương đều không ngờ rằng cái con người đeo
kính trắng một lần đến rồi đi tưởng như mờ nhạt này lại đã gắn bó với chúng tôi
mãi đến những năm tháng sau này!
Nhưng đó là sau này. Còn bây giờ, công việc xử giảo khủng khiếp
ấy đã xong. Tuấn đang ngồi bên sáu cái ụ đất đỏ tươi vừa được đắp điếm bằng những
xẻng đất vội vàng. Một trong sáu ụ đất đó, trên bề mặt vẫn còn vương lại mấy lọn
tóc dài của đàn bà. Một ngọn gió thổi qua, máy lọn tóc dính đất quằn lên, vật vờ
nhưng vẫn không chịu rời khỏi chỗ. Tôi hất hàm ra ý hỏi. Tuấn nhìn lên, hai
tròng mắt âm u, thất thần và bợt bạt, như không phải đang nhìn tôi mà là nhìn
vào một cái gì đó mịt mùng lắm! Tiếng nói của nó cũng âm u không thoát ra được:
- Con phượng hoàng tóc dày quá... Đập mãi không chết... Phải...
- Thôi, không nói nữa! Đứng dậy, về hầm!
Tôi gắt. Thực ra là gắt với chính mình để xoá đi cái hình ảnh
ghê rợn vừa rồi.
Cái buổi sáng hôm ấy...
Vâng! Tôi vẫn nhớ cái thời điểm ấy nhưng chưa thể kể về nó liền
mạch được. Tôi muốn nói lướt qua những buổi sáng chiến tranh bình thường khác để
dẫn đến cái buổi sáng chiến tranh cuối cùng tôi còn được gặp em. Và trước khi để
đi vào mảng ký ức đau buồn cuối cùng kia, tôi không thể dừng lại một chút với
những gì đã xảy ra sau lần tìm và diệt gọn tốp thám báo nguy hiểm đó.
Đúng như tôi đã dự đoán bằng trực giác, thằng đại uý Tường đó
đã không hề chỉ điểm cho lính đánh thốc trở lại. May cho tôi và cũng may cho
nó. Bởi lẽ, nếu nó thực hiện hành vi này thì biết đâu cả hai đứa đều rất có thể
ngã xuống và như vậy còn có gì để mà kể, còn ai mà kể nữa? Thêm một lần tôi khẳng
định tính chính xác trong trực cảm của người lính, thứ trực cảm thường xuất hiện
giữa lằn ranh mỏng tang của cái sống và cái chết mà không thể có bất cứ một luận
thuyết khoa học thần bí nào lý giải nổi. Cái chết tức tưởi của Viên là một ví dụ.
Năm ngày sau, vào giữa ngày rằm, để thoát ra được khỏi vòng
vây và quật lại chúng một đòn đáng kể, khiến cho ba vành đai án ngữ tan tác,
gây vụn, khiến cho phong trào chiến tranh nhân dân toàn địa bàn tồn tại thêm được
ít ngày, đơn vị tôi lại mất thêm gần một phần ba quân số. Phần còn lại, ngơ
ngáo có chín thằng, phải nói là đã bại hoại sức chiến đấu, chỉ có thể làm được
một động tác duy nhất là ôm nhau ngồi thở.
Chưa kịp thở cho hoàn hơi, ngay chiều hôm ấy, cái dáng đi
chúi về phía trước của ông tham mưu phó phân khu đã đột nhiên xuất hiện ở cửa rừng.
Không hiểu ở các địa bàn khác, ở các quân binh chủng khác thì sao chứ ở đây, cứ
mỗi lần có cấp trên xuống là mỗi lần có ác liệt, chết chóc xuống theo. Đó là một
con người đánh giặc đến cùng, một anh hùng quân đội, trưởng thành từ thằng lính
lầm lũi mà lên. Y như rằng, chưa kịp uống cạn ca nước, ông đã chính thức truyền
đạt mệnh lệnh của Bộ chỉ huy: tìm mọi cách san bằng bằng được cái chi khu Phú
Thuận, nơi xuất phát của mọi cuộc hành quân phá hoại hiệp định hoà bình của đối
phương.
Mới nghe tôi đã thấy nhợn sống lưng. Hít một hơi thở thật sâu
vào ngực để lấy lại bình tĩnh, tôi nói:
- Báo cáo! Mệt mỏi, mất mát có thể khắc phục được, dẫu rằng
cái mất mát này đã lên đến mức quá sức chịu đựng nhưng có một trở ngại không phụ
thuộc vào ý chí tuyệt đối của con người là ánh trăng. Bí quyết tác chiến của
chúng tôi là bóng tối. Giữa đêm rằm, chín mống, mống nào cũng chỉ còn nửa sức lực,
phải đánh vào một vật rắn hàng trăm quân có dư thừa phương tiện phòng thủ thì
có nghĩa là tự sát. Thưa, tôi nói thật lòng.
- Biết! - Ông tham mưu phó còn một mắt trả lời nhẹ nhàng, thấu
hiểu, theo cái kiểu trả lời của những người lính chiến với nhau - Rất biết
nhưng tình hình quá gấp, để chậm hơn, chúng nống ra, ta sẽ mất hết đất.
- Mất một ít đất còn hơn mất toàn bộ con người...
Tôi chợt dừng lại khi thoáng gặp ánh mắt của Sương. Một ánh mắt
đau đáu, không nói lên điều gì. Cô ta muốn cái gì trong cái nhìn ấy? Khích lệ
à? Hay dè bỉu? Hay thương tình?... Được thôi! Tính bất cần và kiêu hãnh nhiều
khi đến cuồng dại đã trở thành cố tật sau mọi gian truân của bọn lính chiến ven
đô trong tôi trỗi dậy mãnh liệt, tôi bật ngón tay cái rốp:
- Được! Tôi chấp hành lệnh dù cái lệnh này không có chút xíu
nhân đạo nào.
Ông tham mưu khẽ gật đầu và đến lúc ấy, vẫn với thái độ không
vui vẻ gì hơn, ông lôi từ trong bồng ra một chai rượu nếp thang gọi là quà của
Bộ chỉ huy mừng chiến công đã phá tan vành đai án ngữ địch của chúng tôi. Uống
ly rượu như ly máu. Khốn nạn! Vì một chút danh dự mà thí thân đồng đội đã chả
ra làm sao, vì ánh mắt trống rỗng của một con đàn bà mà nhào vô bất kể sống chết,
lại còn tồi tệ hơn. Thôi, đã trót rồi, thử thời vận một keo nữa xem sao? Chết
trẻ khoẻ ma. Đằng nào cũng chết. Không chết vô lý trận này thì cũng chết vô lý
trận khác, vậy cả thôi, hơi đâu mà tranh luận, đắn đo sau trước. Uống! uống đi
bọn bay. Còn sống phút nào cứ uống cho đã phút đó. Mắt tôi mờ đi và chắc là lúc
ấy trông ghê rợn lắm nên ánh mắt đàn bà quái ác kia tuy đã hai, ba lần tìm bắt
nhưng không gặp.
- Trận này tôi sẽ đi cùng với các cậu - Ông tham mưu nói - Chết
cùng chết nhưng làm thằng lính cách mạng, ráng đừng để chết mới ngon. Nào, làm
hết đi rồi ta bàn công chuyện.
Tôi ngước nhìn ông giây lâu. Chà! Đến lúc đó tôi mới chợt nhớ
ra cái ông sĩ quan tham mưu một mắt này vốn đã từng có thời kỳ tập kết và người
vợ hiện giờ của ông đang sống ở ngoài đó là một người đàn bà thắt khăn mỏ quạ.
Tự dưng tôi nắm lấy bàn tay xương xẩu của ông, siết nhẹ.
Nhưng rút cuộc, chúng tôi đã trả giá tức thì cho tính kiêu
hùng nhưng thực chất là tính nhu nhược hàm nghĩa vị kỷ của mình. Ngay đêm đầu
tiên đi nghiên cứu, bộ đội của tôi, dù đã lựa những đứa thiện chiến, còn sức lực
nhất nhưng vẫn có người ngất xỉu ngay trong vòng rào gai đầy mìn trái của cái
chi khu quái quỷ ấy. Cả chục ngày vắt kiệt sức mình lo diệt ác, phá vây, lo tập
kích, phục kích... Lại cả chục năm (Nếu ai đó may mắn sống sót được chục năm)
luôn luôn đói ăn, đói muối, luôn luôn chỉ vận độc một chiếc xà lỏn đánh hết trận
này qua trận khác, hết mùa mưa qua mùa khô, hết ngày tạnh sang ngày ướt, cái
chuyện đang bò mà giụi đầu ngất đi kia, âu đó cũng là chuyện dễ hiểu.
Lạ thế! Khi đã vào cuộc rồi, mọi cái hỗn mang đều vất lại đằng
sau hết, trong đầu chỉ phừng lên ngọn lửa quyết chiến xen lẫn hận thù tàn bạo.
Đêm thứ hai, hệt một con thú bị thủng ruột, say máu, liếm máu, chính tôi dẫn
hai tay súng nữa ra đi.
Lần này có khá hơn một chút ở giai đoạn đầu. Nhưng rồi cái kết
cục bi thảm vẫn không thể tránh khỏi. Sắp vào đến hàng rào chót cùng, tức là sắp
sờ được vào gan ruột phổi phèo của nó để chuẩn bị thọc dao kết liễu thì bất ngờ
người lính bò đầu bật ho lên một tiếng. Trời ơi, giữa đêm khuya vắng lặng, nằm
sát ngay chân thằng gác, chỉ cần sôi bụng, đánh rắm lên một cái cũng đủ bỏ mạng
huống chi đây lại là ho! Lạnh quá mà ho, yếu quá sinh ho hay kiệt sức, chán đời,
mệt mỏi quá mà ho lên một tiếng rồi chết đi cho đỡ khổ? Chưa ai đoán chắc được
điều gì và cũng có thể có tất cả mọi điều, chỉ hay rằng, lôi được cậu ta ra
ngoài hàng rào thì mặt mày đã tím bầm, sưng tấy, mồm miệng nhoe nhoét những dãi
dớt trộn máu, trộn đất. Ở giây phút cuối cùng, cậu ta đã âm thầm tự nhét đất,
nhét cỏ vào đầy cổ họng mình đến tắc thở để cho tiếng ho thứ hai khỏi phụt ra
kéo theo cái chết của bạn bè!
Tôi gằn giọng nói vào mặt ông tham mưu phó tuy hai đêm vừa rồi
có đi theo nhưng không quyết định được điều gì:
- Ông thấy cả rồi chứ, ông trung tá? Nữa hay thôi?
- Tuỳ! - Ông ta trả lời như người bị mộng du bệnh hoạn.
- Tuỳ hả? - Tôi bấu chặt tay vào hai đùi để tránh một hành động
bột phát không kiềm chế được - Vậy thì đồng chí có thể báo cáo thẳng lên trên,
tôi, Lê Văn Hùng, đội trưởng đội đặc nhiệm quyết định huỷ bỏ mục tiêu. Rút!
Đi sau cái cáng tử sĩ trên đường về cứ, cái bóng gầy guộc của
ông ta cứ ngã lên ngã xuống, thỉnh thoảng lại làu bàu: “Cái cậu này... Cái cậu
này... Đã có gì đâu mà dữ vậy...”.
Rất may là hai đêm nay không có Sương đi theo - Cô ấy đang
lên cơn sốt rét - Nếu không, bằng cái nhìn nhức nhối không thể hiểu nổi của em,
bằng sự mệt mỏi, chán ngán đến tận kẽ răng và bằng cái nỗi đau hai sinh mạng đi
tong không nguyên cớ, tôi dám quay lại xách cổ ông ta dậy quẳng mạnh về phía
trước lắm. Nhưng một khi đã không quẳng thì lại thấy thương. Nói cho cùng ông
ta cũng chỉ là chi tiết máy trong một guồng máy chiến tranh không thể cưỡng được.
Nghĩ vậy, tôi lui lại, giúi vào tay ông ta cái đèn pin và không muốn nói thêm một
lời nào nữa.
Năm 73 là năm xấu chơi của kẻ thù, là năm trục trặc nếu không
muốn nói là bất hạnh của dân tộc, cũng là năm quá đỗi nhọc nhằn của riêng tôi,
tất nhiên đối với kiếp lính thì năm nào chả nhọc nhằn, ê ẩm.
Mười ngày sau cái đêm ho hen ấy, cậu bé giao liên nhanh nhẹn
và sống dai nhất trong màng lưới giao liên toàn địa bàn đã làm một cú cắt rừng
tuyệt vời để đến được nơi tôi với cái lệnh triệu tập khẩn không mấy tuyệt vời
trên tay. Cùng được triệu tập lên trên với tôi, cậu ta cho hay còn có Ba Sương
và ông Ba Tiến.
Cuối cùng cậu ta ghé tai tôi nói nhỏ: “Bình tĩnh nghe anh
Hai!... Em nghe xì xào kỳ này mấy chú ở trên tính mần thịt anh đó. Anh Hai tính
sao thì tính nhưng ráng giữ cái đầu cho ngon nhen! Em cũng nghe người ta nói,
không có anh Hai chịu chơi thì ba cái cụm rừng giáp ranh này sức mấy mà giữ được.
Em phục lắm. Cánh giao liên ngang dọc tụi em cũng phục lắm. Cho nên không ai muốn
anh Hai gặp khó dễ trong vụ này đâu”. Tôi ôm ghì lấy cậu bé, thơm vào má nó một
cái rõ kêu mà lòng dạ trào lên cái mùi vị cay đắng xen lẫn chút bùi ngùi. Tới
đây, dù số phận tôi có hẩm hiu như thế nào, dù còn sống hay chết, song ít nhất
tôi cũng có một số đông bạn bè hiểu tôi, thương tôi và tin cậy ở tôi. Cậu bé
giao liên đáng yêu này tên là Quân, mười bốn tuổi, cha mẹ đều chết hết trong
phong trào đồng khởi. Sau lần này, Quân được trên cho đi học văn hoá ở đâu
không biết, tôi không có dịp gặp lại nữa.
CHƯƠNG 13
Tới thủ phủ miền Tây kỳ này, vì là để mở một trận đánh cuối
cùng với quá khứ nên tôi quyết định sẽ cải biến con người mình thành một hình
hài khác hẳn. Và tôi cũng quyết định huỷ bỏ cái ý định lần tìm về quê quán thật
của Cô ta như trên mộ chí đã ghi. Tìm về làm gì khi tôi biết chắc ở đó thông
tin lại còn mù mờ hơn.
Để có thể đối diện và đối thoại, trước hết tôi cần phải biết
chắc chắn cô ta có mặt ở cái thành phố này không đã. Đơn giản thôi: Gần tới giờ
làm việc buổi sáng, tôi đón lõng một cô gái mặc áo dài xanh vừa xuống xe đạp ở
trước cửa nhiệm sở rồi bằng một giọng Nam Bộ rặt mà chưa đến nỗi quên nhiều lắm,
tôi hết sức lễ độ hỏi:
- Thưa cô! Dạ... Nếu có thể được, cô cho phép tôi hỏi bà giám
đốc đây đi họp ở Hà Nội về chưa? - Thoáng thấy con mắt khá đẹp sau gọng kiếng
mát nhìn tôi nghi ngại, tôi tiếp luôn - Mong cô bỏ lỗi! Tôi vừa ở Rạch Giá lên,
tàu xe vất vả dữ quá!
- Về rồi. Có việc chi vô trỏng mà hỏi, ai lại đi hỏi ở giữa
đường giữa phố thế này.
Nói rồi cô ngoắt người dắt xe tọt vô cổng luôn. Cha! Tôi hơi
nhếch mép. Gớm cho cái ngữ cán bộ thời nay, nói năng với thiên hạ mới bảnh choẹ
làm sao chứ. Cứ làm như là phu nhân tổng thống hay thủ tướng cả một giuộc không
bằng. Thôi, thế cũng xong.
Sau khi đã kiểm kỹ lại toàn bộ số tiền chẵn, tiền lẻ còn lại
trong túi, tôi khoan thai ghé vào một cửa hàng quần áo cũ bày bán ngay vỉa hè để
chọn một bộ cánh kiểu ký giả màu cà phê sữa đặng hợp với thời trang quan dạng
bây giờ. Một ý nghĩa chợt loé: Khéo không lại si đa thì bỏ mẹ! Nhưng một ý nghĩ
khác chồm lên phủ nhận ngay: muốn mắc si - đa tưởng dễ à? Phải nhiều tiền, nhiều
của, phải nghễu nghện vào được những hotel sang trọng, nơi có những con điếm cỡ
quốc tế hành nghề thì hoạ may mới mong dính được cái bệnh rửng mỡ con nhà giầu
này. Chứ còn cái anh nhà nghèo ấy ư? Giỏi lắm thì cũng chỉ mắc được ba cái bệnh
giang mai, hậu lậu của gái đứng đường. Còn lâu. Lo bò trắng răng. Vớ vẩn. Thế
là sau gần nửa giờ đồng hồ nhấc lên, hạ xuống, găng một tý, mềm một tý, giả vờ
bỏ đi rồi lững thững quay lại, lại bớt lại lộn... cuối cùng tôi cũng có càu
nhàu, thậm chí té tát của thằng cha chủ hàng. Vậy là trúng. Bán mà còn chửi,
còn càu nhàu tức là mua được giá. Chỉ sợ trao hàng xong nó cười toe toét, khen
mình đẹp trai, mặc vào trẻ đến hai chục tuổi thì mới bỏ mẹ! Trừ đi bốn chục,
trong túi vậy vẫn còn gần hai chục ngàn. Rủng rẻng chán. Làm tới luôn. Ăn chơi
là phải tốn kém. Cuộc đời là cái chó gì. Tôi bỗng phì cười vì câu nói cách điệu
quen thuộc ám chỉ dân xứ nghèo đó rồi tạt thẳng vào cái nhà vệ sinh công cộng
có những bãi phân hoang to bằng cả cái vành nón mà bất cứ kẻ nào bị đại tràng
táo bón đều nhìn mà phát thèm... Năm phút sau, không phải tôi mà là một lão già
khác hẳn, nom vừa đỏm dáng vừa nát nhàu từ nhà vệ sinh bước ra và vẫn bằng cái
dáng đó, hắn khủng khỉnh rẽ vào một tiệm hớt tóc bình dân có lấy ráy tai nhưng
không có mát-xa thông thường.
Thêm nửa giờ đồng hồ nữa, chỉ mất có năm ngàn cả tắm lẫn gội,
khi bước ra đường, lén nhìn vào tấm kính của một cửa hàng mỹ phẩm, tôi mới thấy
mình bắt đầu có vẻ có hình hài một con người thật sự. Tóc húi cao vừa phải, vầng
trán rộng và đẹp ra dáng, lại thêm những lọn tóc bạc thanh cao điểm xuyết hai
bên thái dương, quần áo thẳng ly, màu thật trang nhã chứng tỏ chủ nhân của nó
là người có gu, có chữ nghĩa và dưới chân là một đôi dép dự án màu mận chín,
cái màu lịch sự nhất cho những người đứng tuổi, có quai hậu đàng hoàng. Tóm lại
cái thằng tôi, sau khi vứt ra có chưa tới năm chục ngàn mà đã thấy nhân cách,
nhân quyền lên nhiều đáo để huống chi là người khác. Giờ đây, nói mình là thanh
tra, là trưởng phòng, là giám đốc chứ là bộ trưởng thì thiên hạ cũng cứ tin. Vải
vóc! Mẹ nó, phải nói là hay thật! Ấy! Hình như vẫn còn thiếu thiếu một cái gì nữa?
Đây rồi! Làm tới cho nó đủ comple luôn! Tôi xỉa mười ngàn nữa lấy một cây kiếng
đổi màu biết chắc là thứ rởm của một gã vận quần áo bò lẵng nhẵng bám theo tôi
từ nãy.
Đâu đó, tôi hắng giọng, nhúc nhích người một cái cho thứ gì
vào thứ ấy rồi ngẩng cao đầu bước vào quán cà phê nằm xế trước cửa toà nhà năm
tầng. Tôi lặng lẽ kiếm một chỗ khuất ngồi xuống rồi gọi một ly đen để nhìn nó
nhỏ giọt đếm thời gian. Thời gian bây giờ là của tôi. Bao giờ cũng là của tôi.
Từ giờ đến tối còn cả một buổi trưa và buổi chiều, thong thả chán. Ấy, sau ly
cà phê cho thư giãn thần kinh này, tại sao tôi lại không tự cho phép mình húp
thêm một tô hủ tiếu hoặc một ổ bánh mì chấm thịt bò kho nhỉ? Chả dại gì mang
cái bụng sôi óc ách vào trận đánh cuối đời, thua hay được nó cũng khổ sở ra. Dẫu
rằng do cuộc sống lang bạt bấy lâu, một ngày ăn một bữa, hai ngày, ba ngày ăn một
bữa, rồi cả tháng không tắm giặt, cả tuần không đặt lưng xuống giường ngủ... đối
với tôi cũng chả lấy làm điều. Đó cũng là dấu vết một thời đánh đấm còn lưu lại.
Giống như cái dấu vết ấy giờ đây đã làm sống dậy trong cái đầu óc lười nhác mụ
mị của tôi những thủ đoạn tiếp cận, những biện pháp an ninh lắt nhắt, và cả những
ngón tấn công, phòng thủ gọi là để thực hiện cú đột nhập khá phiêu lưu sẽ xảy
ra ngày hôm nay, đúng hơn là tối nay, đêm nay.
Tôi vẫn ngồi. Ôi chao! Đối với cô ấy, với người đàn bà đã có
một thời gian gắn bó hơn máu thịt ấy, ai dè lại có một ngày phải ngồi rình rập
như rình rập quân hằn thù trong vùng căn cứ lõm thế này!
Tôi gọi thêm mấy điếu Hêrô và rít thật sâu từng khói. Kệ! Cứ
hút cho đã đời. Chỉ cần đủ tiền xài từ giờ đến chiều, còn ngày mai, nếu ngã
ngũ, dù theo chiều hướng nào, có phải đi ăn mày cũng cam. Gần năm chục tuổi đầu,
đã nếm trải đủ mọi vinh nhục, đắng cay, nghèo tàn nghèo mạt có, sang trọng chức
quyền cũng có, khốn khổ khốn nạn hơn thế này, đã nếm... Để rồi lúc này đây, tôi
chỉ một chiều khát thèm sự yên tĩnh trong tâm, yên tĩnh tối thiểu và cái sự yên
tĩnh này lại phụ thuộc một phần đáng kể vào sự thật về người đàn bà kỳ bí kia.
Thế đấy! Nếu cuộc đời của tôi suôn sẻ hơn, nếu tôi biết lựa
thời mà sống, mà mềm mại đi đôi chút thì giờ này tôi đâu có phải ngồi com róm ở
đây, biết đâu tôi chả là thượng khách của bà ta, là thượng khách của cả cái ban
lãnh đạo tỉnh này. Biết đâu? Vâng! Biết đâu...
Từ lúc vào đây đến giờ, tôi đã để ý nhưng tịnh không thấy
bóng dáng ông cựu đại tá thường trực đâu. Ông nghỉ ca, nghỉ phép hay nghỉ hẳn
vì không được lòng bà chủ, không được lòng cái gã Phản ngực kia? Càng tốt. trở
lại lần này, tôi thực lòng không muốn gặp ông. Người xấu không muốn gặp đã đành
nhưng lạ thế, người tốt quá ta cũng ngại ngần khi phải giáp mặt lần thứ hai.
Không muốn gặp lại cái giây phút thảm hại của chính mình. Trận đấu thô bỉ này
tôi muốn chỉ mình tôi được biết và nếu có thua thì chỉ mình tôi lãnh đủ. Có một
ai đó, dù thân thiết thế nào chứng kiến cũng không ổn. Bởi lẽ gọi là trận đấu
nhưng nó có ra cái hình hài trận đấu đâu. Gặp ông, tôi rất ngại ông lại buông
ra những lời can gián, những lý lẽ thương tình có thể khiến tôi ngã lòng hoặc nổi
khùng lên, nhỡ việc.
...Buổi chiều, sau ly cà phê thứ năm, tôi lại tự thưởng cho
mình thêm một đĩa sườn nữa. Chao!... Phải nói rằng đã khá lâu rồi tôi mới lại
có một buổi ăn ung dung thong thả như thế này! Nếu trong số bạn đọc một ai đó
có chút xíu máu lãng du thì tôi thành thực khuyên hãy cố tạo cơ hội để có một bữa
ăn đầu hè xó chợ trong một vùng đất thật xa lạ như tôi lúc này. Ngon ư? Dĩ
nhiên. Lạ ư? Dĩ nhiên. Nhưng cái chính là qua đĩa cơm xa xứ, trong lòng mình bỗng
nhen lên nhiều suy nghĩ lạ lẫm về cuộc đời, về con người, về ý nghĩa sự sống mà
nhiều khi toàn bộ giá trị của nó chỉ là một thìa cơm nóng và vào miệng...
Bà chủ quán thấy tôi ngồi quá lâu, lại ngó không chớp mắt
sang toà công sở phía bên kia đường, cũng tỏ ý ngại, cứ bồn chồn đi ra đi vào
nhưng không tiện nhắc. Thấy vậy, tôi mỉm cười trấn an: “Bà yên tâm đi. Tôi có đứa
con gái đang làm việc ở toà nhà kia, nhân viên tài vụ, tính chờ cháu cùng về
luôn. Chặc! Có chút việc gia đình”. Bà ta gật đầu chả rõ có tin thật hay không
nhưng sau đó kêu cô con gái mặt tàn nhang có bộ ngực khổng lồ mang cho tôi
phích nước và bộ đồ pha trà.
Tối. Đèn đường, đèn nhà dường như cùng một lúc bật sáng.
Thành phố về đêm giống một ả đàn bà dạn dày bỗng trở nên bí hiểm và thơ mộng
hơn. Tôi nhìn lên và đột nhiên chột dạ. Căn phòng quen thuộc nơi tầng năm, căn
phòng mà suốt mười giờ đồng hồ qua, dù cố căng mắt nhưng tôi vẫn không hề thấy
một khuôn mặt, một cái đầu đàn bà nào ló ra giờ đây vẫn tối om om! Thế là thế
nào nhỉ? Bà ta chưa một lần ra khỏi nhà, kể cả đi bách bộ buổi chiều hay đi chợ
kia mà? Hay đi rồi mà trong một tích tắc lơ đãng, tôi đã không biết? Còn nếu vẫn
ở nhà thì chỉ có người hủi mới ưa ngồi trong tăm tối giờ này. Tôi hơi hẫng
trong dạ. Chết cha! Kiểu này mà phải nán lại thêm một ngày nữa thì quá căng.
Căng cả thần kinh lẫn túi tiền. Chờ thêm nửa tiếng nữa vẫn không có gì khác
hơn, tôi quyết định cứ sang, vào trận rồi thì tối hay sáng đâu có nhằm nhè gì.
Vừa lúc đó, như động lòng trắc ẩn với kẻ tha phương, cửa sổ
căn phòng đột ngột bừng sáng cái ánh sáng của cửa thiền. Thế là thắng bước đầu.
Thở ra một hơi dài để nén sự hồi hộp, tôi chỉnh lại quần áo, nhằm thẳng cổng
toà nhà bước tới. Trời đất! Mới có thế mà chân tay đã muốn ríu vào nhau như cái
anh bị phong giật. Nửa đời trận mạc, hàng trăm lần ngửi thấy cái chết nhưng khốn
khổ, đã có lần nào chân tay tôi lóng ngóng như thế này? Bình tĩnh! Bình tĩnh lại
đi! Nào, thẳng cái lưng già nua lên mà bước tiếp! Chú mình!...
Cánh cổng sắt sơn nhũ đóng kín như cửa khám Chí Hoà. Nhìn qua
khe cửa, tôi thấy một cô gái mặc áo dài xanh, tóc xù, khá xinh, đang nâng tô mỳ
lên ngang miệng nhai nhồm nhoàm. Cô bé ăn ngon đến nỗi, đang trong trạng thái bồn
chồn đó mà tôi cũng buộc phải nuốt nước miếng theo ừng ực. (Thì ra cái giới đàn
bà kiêu sa e ấp như thánh thần, nếu chỉ có một mình, họ cũng nhồm nhoàm, ngấu
nghiến như bất cứ một đấng mày râu hoặc kẻ tà dục nào). Tôi thầm nghĩ và sau một
chút ngần ngừ, đưa tay lên định bấm chuông thì một tiếng quát dường như có cả
hành cả tỏi nhừa nhựa bay ra, khiến tôi giật nảy người:
- Ai đó? Ai hỏi chi đó?
- Tôi. Tôi đây đồng chí. Đồng chí giám đốc có nhà không?
- Không có giám đốc giám điếc gì giờ này cả. Có chuyện chi, mời
mai tới.
- Tôi nhắc lại: Cô Tư Lan có nhà không?
Có lẽ bị ngợp bởi cái giọng đầy oai vệ của tôi, cô ta vội
buông tô mỳ, lấy đũa quệt ngang miệng cái rẹt rồi nhon nhót đi ra. Nửa khuôn mặt
thanh thanh ló ra ở khoen tròn cánh cổng:
- Ai? Ai đó ạ?
Tốt! Chí ít cũng phải thế chứ. Tôi dấn thêm ga:
- Mở cổng đi! Tôi là thanh tra trên thành phố mới xuống, muốn
gặp cô Tư có việc cần.
... Biết ngay mà. Cái cụm từ “thanh tra” lâu nay đã trở thành
chiếc chìa khoá vạn năng cho cái lưng của các vị quan chức biết gập xuống, đã
trở thành con ngáo ộp, ông ba bị, vừa là hung thần vừa là đấng cứu tinh của ráo
trọi mọi cơ quan, xí nghiệp trong cả nước và chính tôi cũng từng là nạn nhân của
cái đấng toàn năng ấy cho nên mới nghe vậy, cô ta đã dạ dạ rối rít rồi cánh cổng
nặng nề được từ từ mở ra. Tôi nhanh chóng lọt vào, làm bộ phiền muộn:
- Chết thiệt! Thế cô Tư không dặn gì đồng chí à? Việc như lửa
cháy mà lần khân quá! Coi chừng đổ bể hết bây giờ.
Ý này tôi lựa theo thông tin của Quân mới cung cấp mà phát nổ.
Cô bé càng cuống cà kê, vội đánh lưỡi chẹp chẹp cho cái cọng rau thơm hay một sợi
mỳ nào đó lẩn ra đằng sau răng.
- Dạ! Dạ!... Bà giám đốc đang nghỉ ở trên lầu, mời... mời đồng
chí thanh tra lên. Ý! Hay là để em kêu điện thoại mời bả xuống?
- Thôi khỏi! Chuyện này đâu có thể trao đổi bậy bạ chỗ nào
cũng được. Để tôi lên. Có ai hỏi bả, cứ nói đi vắng nghe!
- Dạ... Cứ nói... đi vắng ạ!
Cầu thang xoáy trôn ốc màu huyết dụ hiển nhiên mà mắt tôi lại
toàn nhìn ra màu xám tro, y hệt ngày xưa, càng gần nguy hiểm, lòng dạ càng yên
tĩnh. Rõ thê thảm chưa? Chả lẽ đến với em hôm nay lại như đến với kẻ thù thật sự
hôm qua ư? Tuy vậy tôi vẫn bước những bước dài theo nhịp thở yoga để tránh cho
lồng ngực ọp ẹp khỏi quặn lên vì cơn hen suyễn có thể nổ ra bất thần do phải vận
sức leo cao...
Rồi tầng thứ năm cũng hết. Tấm biển con kẻ chữ vàng óng ánh
chắn ngang mặt đã báo cho tôi biết đang đứng trước cửa phòng giám đốc. Cửa
phòng cũng đóng kín như suốt đời chỉ đóng kín. Đây là phòng làm việc. Phòng ở
chắc là nằm bên trong hoặc chỉ ngăn cách nơi làm việc bằng một tấm ri-đô kín
đáo theo thói thường mà một giám đốc độc thân ưa xếp đặt. Giống như tôi của bảy
năm về trước, cũng một tầng lầu lộng gió Hồ Tây, cũng một phòng làm việc kiêm
phòng ở như thế này. Tôi thoáng lưỡng lự giây lát và thấy rõ ràng trái tim mình
co thắt chậm lại. Ở trong kia, sau cái cánh cửa quyền uy ảm đạm này, em đang
làm gì? Đọc kinh điển hay rà soát lại đống công văn giấy tờ? Sắp đặt bài tham
luận ngày mai cần đọc trong một buổi hội thảo khoa học về rừng hay tường trình
những vấn dề nhân sự gay cấn trước phiên họp thường vụ sắp tới? Hoặc em đang
không làm gì cả, không nghĩ suy gì cả, chỉ tần ngần ngồi bên cửa sổ chải tóc và
vơ vẩn nghĩ tới thời con gái tóc rụng từng đám ở rừng mà trạnh lòng cho thân phận
đàn bà quan chức chẳng chồng con, chẳng gia đình hôm nay?
Ôi!... Một lát nữa đây khi đẩy cửa bước vào, khi buộc phải giở
thói côn đồ bạo liệt, cớ sao lòng dạ ngổn ngang, vừa muốn đấy là em lại vừa muốn
không phải là em!
Không thể sử dụng cái lối gõ cửa trịnh trọng thông thường,
tôi đưa tay xoay nhẹ nắm đấm... Cánh cửa hé mở vừa đủ cho một vệt sáng xanh lét
tựa luồng đạn B40 bay ra, bên tai tôi chợt vang lên chói lói một cái giọng đàn
ông khẽ nồng: “... Tôi cần ngay cái giấy đó. Vấn đề chỉ là một chữ ký của em.
Hai trăm héc-ta điều đang bị hoang hoá, công nhân bỏ việc, cỏ đang mọc lút đầu,
không tìm cách bán đổ bán tháo đi thì mất hết!”. “Bán cho ai?”. Một giọng phụ nữ
khẽ khàng hỏi lại. Vẫn cái giọng mềm ấm, vuốt nhọn ở âm tiết cuối cùng tại nhà
hàng đêm ấy. “Thiếu gì thằng ngu chui đầu vào để mong kiếm được món hời, ví như
thẳng, liên hiệp trồng lúa phía bắc sông của tỉnh bên cạnh chẳng hạn. Họ chưa nắm
được cái thông tin về giá điều trên thế giới đang tụt xuống thảm hại như thế
nào. Còn dụ được họ”. “ Vậy ư?”. Giọng nói càng khẽ khàng hơn. “Thôi đi! Đến
lúc này mà em còn mất công đi lo giùm cho thiên hạ. Thời buổi chụp giật này, thằng
nào biết cách nhích lên trước thằng khác nửa bước thì thằng ấy tồn tại”.
“Thôi... Tôi không thích nghe mãi một thứ lập luận ấy. Tôi chỉ ngại hai trăm
héc-ta đất ấy bán được rồi, trồng cà phê, bạch đàn trở lại liệu có ăn không hay
lại thất thu, lại bị động với giá thị trường?”. “Thất thu hay bội thu, thây kệ!
Hơi đâu mà chạy theo các ngón chơi của mấy cha tư bản. Đó thuộc về cái ngây ngô
của Nhà nước, cái trách nhiệm cụ thể của mấy tay giám đốc dưới quyền, em là cấp
chỉ đạo chung, lấy gì làm bằng. Mà, đến lúc ấy, biết đâu em đã lên ghế chủ tịch
rồi?”.
Tiếp liền là một tiếng cười vón cục, tiếng cười quen quen,
nghe một lần thấy ngứa ngáy mãi. Hành lang đang trống không. Tôi ghé mắt nhìn
vào... Cha! Thảo nào! Không ai khác mà chính là thằng Phản ngực đang đứng trước
mặt cô ta, ngực áo mở toác, mồ hôi mồ kê, mặt mũi đỏ gay, chiếc quần bò ôm cứng
lấy cặp giò căng mẩy. Chao! Giá đừng phải nghe, đừng có đối thoại gì cả thì gã
đàn ông râu ria, to tát và gân guốc kia đúng là một con đực chính hiệu, chắc chắn
sẽ luôn luôn gợi nhắc nỗi thèm thuồng đến nhểu nước miếng của mấy mẹ sồn sồn và
biết đâu trong đó có... Lồng ngực tôi bỗng bị thúc mạnh! Chả lẽ người đàn bà
kiêu hãnh, nhất mực uy quyền kia cũng là một thứ con mồi của hắn ư? Cái lối
xưng hô bỗ bã giữa nhân viên và thủ trưởng ấy là cái gì vậy nếu không phải là
cái lối xưng hô của một cặp tình nhân cái đực? Phải chăng câu nói tưng tửng của
thằng Quân, phản ánh cái khía cạnh này? Chà!... Nếu thế thì...
“Thì sao nào?” - Giọng gã Phản ngực như tiếp nối được cái mạch
nghĩ đang rối rắm trong đầu tôi. “Cô mất gì nào? Chỉ mất một chữ ký như cô đã từng
mất mà đổi được cả danh dự, uy tín và đường công danh rộng mở mai này”.
Trong phòng im lặng một chút rồi người đàn bà từ từ đứng lên,
giọng nói mất hẳn đi cái vẻ khẽ khàng cam chịu lúc đầu, nghe rõ những âm tiết
cuối vuốt nhỏ như tiếng kim khí va nhau:
- Anh Địch! Anh nói thiệt đi! Trong chuyện này anh được gì?
Người ta hứa trả cho anh bao nhiêu?.
- Hả? - Gã ngớ ra, hơi lùi lại - Cô nói cái gì? Ai trả và trả
cho ai? Tôi làm việc này và ráo trọi những việc trước là vì em, vì... tình yêu
của chúng ta.
- Tình yêu ư? - Người đàn bà cười nhạt (Trời ơi! Vẫn cái kiểu
cười khi cãi vã về chuyện tù binh năm nào!) - Tình yêu!... Vậy trong trái tim gớm
guốc kia, ông đang chứa chấp mấy chục loại tình yêu cỡ như vậy? Thôi được, tôi
nghe anh bấy lâu thế là đủ rồi. Bây giờ anh về đi. Đã đến lúc tôi nghĩ không hiểu
có nên gắn bó tiếp với anh nữa hay không? Một thứ duyên máu chứ không phải duyên
nợ. Còn chuyện hai trăm héc-ta điều nghèo kiệt cũng như mọi chuyện khác về uy
tín, về danh dự, tôi sẽ có cách lo của tôi, lo đàng hoàng. Và nếu không lo được,
tôi sẽ sẵn sàng trả giá. Thực chất ngay từ khi gặp lại anh, cái gọi là danh dự
của tôi đâu có còn nữa. Anh phá huỷ nó đi từng ngày và tôi cũng tự phá huỷ nó,
phá huỷ mà không cần viện đến những công chuyện làm ăn nọ kia.
Đột ngột cái thân hình cao chừng một mét tám mươi, và nặng
cũng chừng tám mươi ký của gã óp xọp lại, gã gần như quỳ xuống:
- Tư Lan!... Chị Tư Lan! Đồng chí Tư Lan!... Đồng chí nghĩ lại
đi! Đây đâu có phải chỉ là hai trăm héc ta rừng làm ăn thua lỗ mà nó còn có khả
năng làm đổ bể toàn bộ công chuyện của tôi, của... chúng ta. Khách sạn ba sao
đang có nguy cơ rạn nứt chân móng, bốn bản hợp đồng ký tắt với Hong Kong,
Singapore có nhiều dấu hiệu mất cả chì lẫn chài, chuyến tàu chở hàng điện tử đổi
bằng ba ngàn khối gỗ đang bị bọn đặc nhiệm trung ương...”.
- Thôi, đủ rồi! - Tiếng nói người đàn bà vang lên ảo não -
Cái gì thuộc về anh, anh chịu. Cái gì thuộc về tôi, tôi không chối từ. Tuy vậy
tôi cũng xin nói trước, tất cả mọi chuyện đều vẫn có thể cứu chữa được phần nào
nếu ta biết dừng lại, biết chỉnh lại cái cách làm ăn điên cuồng chỉ chạy theo lỗ
lãi của mình. Anh về đi! Tôi đang mệt...
Gã Phản ngực nhao người lên định nói một điều gì nữa nhưng thấy
nét mặt của người đàn bà quá mệt mỏi nên đành phẩy tay quay ra. Tới cửa, gã còn
nói vớt lại:
- Tuỳ bà. Nhưng bà chỉ cần nhớ rằng, nếu có chuyện gì xảy ra
thì người chết đầu nước sẽ là bà chứ không phải là tôi. Không bao giờ là tôi, một
bóng ma quá khứ như bà thường nói. Chào! Chúc ngủ ngon. Sáng mai tôi sẽ quay lại
và khi đó, tin rằng bà sẽ tỉnh táo, biết điều hơn.
Mải nghe, mải nhìn, đến khi gã đột ngột xoay nắm đấm cửa thì
tôi không còn kịp lánh đi đâu hết nếu như chẳng lanh chân tạt vào sau cánh cửa
vừa được bung ra phía ngoài... Không hề hay biết, gã thở phì phì, sặc mùi bia
rượu, văng tục một tiếng rồi nhảy từng ba bậc thang một xuống tầng dưới, dáng bộ
hệt một nhà thể thao hay một tên găng-xtơ có hạng. Hú vía! Đang lúc cáu sườn u
uất, chẳng may bắt gặp tôi, chưa biết chừng gã có thể tiện tay quẳng nhẹ cái
thân xác không đầy 45 kilogram này qua cửa sổ xuống dưới đường như một chiếc
bao tải tã lắm!
Chờ cho tiếng giày hắn im hẳn ở phía dưới, hít một hơi dài
cho đầy ngực rồi nhè nhẹ thở ra, tôi lặng lẽ bước vào... Bà ta đang ngồi bên cửa
sổ, xoay lưng lại phía tôi, điếu thuốc thơm cặp hờ giữa hai ngón tay toả khói
thơm ngậy khắp phòng. Tôi khép cửa lại, gài chốt thật khẽ. Chà! Cũng đã hút thuốc
rồi kia đấy. Trước đây... tôi còn nhớ cứ mỗi lần ngồi bên cạnh người hút thuốc
là cô lại muốn nôn khan cơ mà? Hay là không phải? không phải cô ấy?... Vớ vẩn!
Để tránh cái phân vân phải hay không phải trở đi trở lại trong đầu dai nhách
như một chú vắt xanh bám nhằng vào trí não bao ngày nay, tôi lạnh tanh mặt
trong một sự xác định thẳng thừng: Đã lọt chân vào vòng rồi, phải hay không phải,
không quan trọng, cái chính lúc này là tiến đến đích.
- Anh vẫn chưa về à?
Chắc bà ta tưởng tôi là thằng cha kia quay trở lại. Tôi không
trả lời. Im lặng... Chờ cho cái khoảnh khắc im lặng ấy kéo dài vừa đủ, tôi bất
thần cất tiếng gọi:
- Ba Sương!
Cái bóng kia khẽ giật lên rồi nhớn nhác quay mặt lại... Trong
cái thoáng nhớn nhác đó, tôi thú vị nhận ra rằng có cả sự đóng góp không thể
không quan trọng của bộ cánh, cái tóc và cặp kiếng mát hợp thời trang của tôi.
Nhưng liền đó rất nhanh, nét mặt kia cùng một lúc chuyển dịch
qua ba trạng thái: sửng sốt... kinh ngạc... và cuối cùng là giễu cợt hay cố làm
ra vẻ giễu cợt.
- À! Lại ông đó à?
- Vâng! Lại tôi đây! - Khó khăn lắm tôi mới giữ được cho tiếng
nói của mình khỏi rung lên.
- Mời ông khách ngồi! Ông tới có việc gì vậy? Hay là vẫn cái
chuyện lầm lẫn ấy?
Khẩu khí thì có vẻ khoan thai nhưng những âm tiết cuối lại có
vẻ hụt hẫng thế cô bạn? Tôi nhếch mép cười, tiến sát lên một bước nhìn thẳng
vào mắt bà ta, lặng lẽ lắc đầu. Trong giây lát đó, tôi thấy rõ con ngươi trong
mắt bà ta co thắt lại, bợt bạt đi rồi nở phình ra chứa đựng tất cả những ánh
sáng đèn rọi tới. Toàn thân bà cũng co rúm lại... Khi ấy, trước mặt tôi mọi cảnh
vật đều biến đi, chỉ còn dáng hình kia trẻ trở lại mười sáu năm về trước, vận
bà ba đen, khăn rằn, đôi vai chim sẻ, nón tai bèo, thân thể mỏng mảnh đi giữa
những cánh rừng dông gió...
Phiên họp quân chính thời chiến bất thường có cả ông bí thư tỉnh
uỷ và ông phó chính uỷ phân khu đến dự đó đáng ra sẽ trôi qua rất nhanh nếu
ngay từ đầu tôi nhận tất cả lỗi lầm về mình và làm bộ nhận một hình thức kỷ luật
nặng nhẹ nào đó mặc dù biết rằng dẫu có nặng nhất, người ta cũng không thể cách
chức tôi, nhổ tôi ra khỏi cái địa bàn trọng điểm ấy. Bởi lẽ, người ta đang cần
tôi. Nếu tìm được ai thay thế, họ đã thay tôi từ lâu rồi.
Song tôi không thể hèn như thế. Danh dự lính chiến và nhân phẩm
buộc tôi không thể phản bội lại chủ thuyết lý tưởng trong sạch, phản bội lại bạn
bè thân yêu.
Do thế phiên họp kéo dài đến gần cả ngày. Đại loại các đồng
chí ấy phê phán tôi là kiêu ngạo, có một chút thành tích, một chút cống hiến đã
đâm ra chủ quan, coi thường mọi người, coi nhẹ tổ chức, vi phạm chính sách tù
hàng binh nghiêm trọng, ảnh hưởng đến công tác binh địch vận toàn Miền, có chủ
đích chống lại mệnh lệnh cấp trên (cụ thể là trận đánh giữa đêm rằm), coi thường
và xúc phạm đến cán bộ Đảng. Cuối cùng ông chính trị viên tỉnh đội kết luận:
Ngoài tất cả những sai lầm không thể tha thứ được đó ra, tôi còn nêu gương xấu
cho bộ đội trên các mặt sinh hoạt, tác phong, phát ngôn và tư tưởng, động cơ
anh hùng cá nhân suy thoái...
Tóm lại, các đồng chí ấy nói nhiều lắm, có cái đúng, có
cái... chưa thật đúng, có giọng truy chụp nhưng có cả giọng ôn hoà nhân ái,
song tựu trung là họ muốn tôi phải thuần chủng, biết thân biết phận và thề nguyện
từ đây sẽ là một sinh vật cầm súng khác hẳn những ngày đã qua. Phải nói thật, từ
đáy lòng, tôi cảm ơn và xúc động trước mối thâm tình của những người trong cùng
một cảnh ngộ chiến tranh đó nhưng cũng tự đáy lòng, tôi không thể thực hiện một
hành vi giả trá khác mình cốt để yên thân. Nếu có thể sống khác mình, gần chục
năm trời làm sao tôi có thể trụ vững với tư cách người cầm súng trên một địa
bàn hóc hiểm? Nếu khác mình, giờ đây tôi đã có thể ngồi êm đềm dưới mái lá
trung quân của một cơ quan nhàn nhã nào đó ở phân khu hay ở tỉnh đội chứ đâu đến
nỗi mới chớm bước vào tuổi hai mươi bảy mà tóc đã bạc đi từng đám, thần kinh hư
hỏng quá nửa và vài ba tháng lại vĩnh biệt bạn bè trong thảm hoạ bị xoá phiên
hiệu một lần? Chao ôi! Những sai lầm không thể tha thứ được đổi bằng những năm
tháng như vậy đấy ư?...
Cơn u trầm tựa một dòng tham thạch ngàn độ chảy dọc sống lưng
lên đầu. Không còn nghĩ đến chuyện kiềm chế nữa, tôi đứng thẳng dậy, nói liền mạch
những suy nghĩ chất chứa bấy lâu như một tràng đại liên nã thẳng:
- Là người lính, là một đảng viên cộng sản, tôi xin được nói
một lần để hy vọng không bao giờ phải nói nữa. Chúng tôi, những con trai con
gái từ hậu phương lam lũ và đau thương tình nguyện từ trái tim chân thật vào
đây để thực hiện ý tưởng giải phóng quê hương chứ không phải là quân viễn chinh
Bắc Việt mở cuộc hành chính đi tiếm quyền, tiếm đất. Như vậy, chúng tôi là công
cụ của Đảng chứ không phải là công cụ vô tri của một Đảng bộ riêng tư nào.
Chúng tôi đã ngã xuống, sẽ còn ngã xuống và có thể ngã xuống tới người cuối
cùng nhưng không hề oán thán, không hề đánh mất đi lòng kiên trung và sự lãng mạn
trong tâm hồn mình. Song, không phải vì thế mà chúng tôi đi cam tâm chấp nhận
mình là nạn nhân của một thứ chủ nghĩa địa phương hẹp hòi. Nó sẽ có tác dụng
đau xót là làm thuyên giảm nhuệ khí chiến đấu, làm chậm tiến trình đi đến thắng
lợi của cuộc kháng chiến hôm nay và nguy hại hơn, nó có thể làm rệu rã lòng người,
làm tan nát cơ đồ ngày mai. Không thể có sự vô lý nào hơn một khi hàng triệu
thanh niên ưu tú ngã xuống để cho bờ cõi nối liền nhưng lòng người lại chia
hai! Thử hỏi, bao đau thương xảy ra ngày hôm nay phỏng còn có ý nghĩa gì?
Vâng! Tôi đã phạm những lỗi lầm, thậm chí có những lỗi lầm
không nhỏ nhưng với tư cách người lính cách mạng, tôi không hề hổ thẹn. Tôi
chính thức xin từ chức đơn vị trưởng đơn vị đặc nhiệm vùng sông. Từ chức nhưng
không phải để lui về phía sau làm kẻ cầu an bảo mạng trong một cơ quan tham
mưu, chính trị hay hậu cần nào. Tôi từ chức để xin được xuống làm người lính ở
vùng vành đai sát Sài Gòn, nơi mà con người ít khi tồn tại được quá ba tháng, nơi
không mấy ai dám xuống và các đồng chí bao năm nay vẫn chưa tìm được ai để điều
xuống cả. Hết!
Cuộc họp bỗng chìm đi trong không khí ngột ngạt, nghe rõ tiếng
những tàu buông sắc cạnh cọ lá vào nhau... Ông bí thư tỉnh uỷ trắng trẻo và đẹp
trai cúi xuống với điếu thuốc rê trên tay quấn mãi không tròn. ông tỉnh đội trưởng
day mặt nhìn ra sông hắng giọng khan, đồng chí phó chính trị viên tỉnh đội khịt
khịt mũi, luôn tay lần giở đống giấy tờ. Chỉ có ông phó tham mưu trưởng gầy gò
là ân cần đưa cho tôi một điếu thuốc Bastô mồi lửa sẵn, con mắt lành nhấp nháy
nhìn tôi như muốn nói: “Bình tĩnh! Bình tĩnh chú em! Chuyện đã có gì đâu mà làm
ồn lên thế?”... Khoảng cách ngột thở ấy, tôi chợt thấy lòng mình mềm lại, yếu
đuối. Tôi vừa nói những điều gì ấy nhỉ? Có căng quá, có cạn tầu ráo máng quá
chăng? Có làm cho những con người đang ngồi đây, những con người mà xét đến
cùng cũng tận cùng gian khổ như tôi phải đau lòng không? Tự dưng muốn nói một
câu gì đó làm chùng không khí lại, một câu xuê xoa, một câu xin lỗi chẳng hạn nếu
như không có cô ấy ngồi bên cạnh tôi, hơi thở dồn dồn, hai bàn tay đan xoắn vào
nhau, cặp mắt buồn thăm thẳm như một sự thương tình lại như một sự thách thức.
Tôi im lặng. Và tình thế nếu có phải nói thì tôi chỉ nói một câu, nói riêng với
em thôi: “Vì em đấy. vì em tất cả đấy Sương ạ! Sao ư? Vì dù em có thay lòng đổi
dạ, em không còn là của tôi nữa nhưng trước em, tôi cần phải khẳng định tôi là
một thằng người biết cầm súng chứ không phải là cái máy biết nhả đạn”.
Đúng lúc ấy thì Sương đứng dậy, mặt hơi tái đi một chút...
Nào! tôi biết rồi thế nào em cũng sẽ nói và tôi cũng đang có ý chờ em phê phán
đây, phê páhn rõ mạnh vào, chỉ nghe một mình em thôi. Là người trong cuộc, lại
hiểu biết tận cùng căn nguyên những khuyết tật gan ruột của tôi, chắc rằng tiếng
nói của em sẽ có sức thuyết phục đáng kể với những đồng hương của em đang im lặng
ngồi kia. Xin mời! Bất giác tôi hơi vươn người ngồi thẳng lên như sẵn sàng hứng
đón.
- Thưa các chú... Các anh, các đồng chí! - Cô mở đầu nghèn
nghẹn, những âm tiết cuối cùng vuốt mỏng ra, run rẩy - Cháu không biết gì về
tác chiến cũng như về những nguyên nhân động cơ, tư tưởng gì sâu xa nhưng có
nhiều dịp được cùng sống, cùng đánh giặc với đồng chí... với đơn vị đồng chí
Hùng, cháu thấy đồng chí ấy được hết thảy bộ đội du kích, bà con trong ấp chiến
lược hết sức thương yêu, kính trọng và tin cậy. Nhiều bà má, ông già đòi được
mang đầu heo củ kiệu ra rừng tế sống ảnh. Nói thiệt tình, nếu thời gian ác liệt
qua không có anh thì cháu nghĩ đơn vị đặc nhiệm đã mất sức chiến đấu từ lâu rồi
và phong trào giành dân giữ đất ở dưới đó có nguy cơ bị tan rã. Còn... Còn...
thú thiệt! Cháu không biết sao mà nói nhưng lúc này mà không có ảnh ở dưới thì
cháu e rằng mọi việc sẽ... sẽ hư hết. Còn... Còn... ba cái chuyện đụng độ với cấp
trên, chuyện phát ngôn, chuyện sanh hoạt gì gì đó, đề nghị mấy anh mấy chú nghĩ
lại giùm. Dạ!... Phải ở trong hoàn cảnh ấy kia, hoàn cảnh mà người ta cứ phải
ráng cười lên cho khỏi khóc thì mới hiểu được. Dạ, cháu xin nói vậy... Còn chuyện
này nữa: việc vi phạm chính sách tù binh, cháu cũng chịu trách nhiệm vô đó một
phần, phần lớn. Vì cháu đã thay mặt xã đội và địa phương... tán thành. Nếu
không thế thì bữa nay cả cháu, cả đồng chí Hùng và hết thảy anh chị em dưới kia
đều đã nằm sâu dưới ba thước đất rồi. Nếu... Nếu có kỷ luật, cháu... cháu xin
chịu chung với ảnh. Và tất cả đơn vị đặc nhiệm cũng như xã đội cũng chịu chung
luôn. Dạ!... đây là chữ ký của mọi người dưới đó.
Nghe Sương nói, tôi đã lặng người đi, lúc này nhìn tờ giấy ố
vàng Sương đưa ra với những con chữ loằng ngoằng quen thuộc, mắt tôi nhoà hẳn...
chao ôi! Phải chăng đây chính là niềm an ủi thiêng liêng và ngọt ngào vô giá
cho suốt những năm tháng nhọc nhằn của tôi?... Cám ơn! Cám ơn em! Cám ơn tất cả
bạn bè! Tôi không muốn trắng án, tôi không cần được nhẹ tội nhưng những con chữ
chân thật này mới là tất cả đối với tôi.
Cuộc họp tạm nghỉ mười phút để lãnh đạo hội ý, giống như giấc
nghỉ giữa chừng của một phiên toà để cho các vị chánh án, thẩm phán luận tội bị
can.
Và lời luận tội được gói gọn vào mấy từ sau của đồng chí
chính trị tỉnh đội: “Bàn giao đơn vị cho cấp phó rồi nhanh chóng lên khu nhận
nhiệm vụ khác”. Nhiệm vụ gì? Hơi sững người, tôi hỏi nhưng nó đúng nguyên tắc,
không một ai trả lời.
Trời ơi! Nếu lúc ấy tôi biết rằng tôi sẽ rời bỏ đồng đội, rời
bỏ em, rời bỏ những cánh rừng quen thuộc, rời bỏ tất cả vĩnh viễn để lếch thếch
đeo bồng lên rừng già nhận một cái chân thu dung, cái chân phế thải, treo giò,
ngồi đếm thời gian trôi trên nương rẫy thì tôi đã nổi cơn điên khùng và khổ đau
tuyệt vọng đến thế nào! Nhận công tác khác... Nhanh chóng bàn giao... Vậy đó!
Tôi cay đắng nghĩ. Xét đến cùng người ta đâu có thật cần tôi. Họ sẵn sàng hy
sinh tôi, bỏ quên một vùng đất, thẳng tay san bằng một tư tưởng một chiều để khẳng
định uy quyền và tính nguyên tắc bất di bất dịch của mình kia mà. Biết thân phận
chưa hả cái thằng tôi chỉ khư khư đi ôm lấy cái giá trị trung thành với lý tưởng
mà lơ đi biết bao điều vặt vãnh khác!
Trên đường trở về địa bàn hôm ấy sao bầu trời ảm đảm thế? Dường
như đi sau tôi, Sương chỉ cúi đầu im lặng đếm bước chân. Và đi trước tôi, cậu
giao liên tên Quân cũng chẳng hề răng nói một lời, chỉ thỉnh thoảng khẽ liếc
nhìn tôi ái ngại.
Đến một cái muội nước nằm xa toạ độ pháo, Quân cho đoàn tạm dừng
lại nghỉ. Gió mát quá, cảnh vật về đêm trải ra mênh mang thật thái bình. Không
dừng được, tôi đến bên em, ngồi xuống.
- Sương!... Sắp xa nhau rồi. Lần này có thể xa lâu... Xa mãi.
Muốn hỏi em một câu, trả lời hay không tuỳ em: Tại sao em lại làm thế trong cuộc
họp vừa rồi?
Sương cúi xuống giây lâu rồi hất nhẹ mái tóc nhìn lên, đôi mắt
to đựng cả bầu trời đêm địch hậu buồn vời vợi. Tiếng em nhỏ như gió thoảng:
- Sắp có trăng rồi!... Trăng đêm nay mồng năm. Giá mà được ngồi
đây nhìn trăng khi nó từ từ lên? Chắc là đẹp lắm!
- Sương chưa trả lời câu tôi vừa hỏi?
Lúc này em mới quay lại, ánh trăng xanh ngà như từ khuôn mặt
em toả ra, chờm ngợp... Em nói như đang chờ để nói, như đã ủ dấm sẵn từ lâu
trong lồng ngực:
- Vì em thương anh!... Khi nào cũng chỉ thương có một mình
anh.
Tôi lặng người đi trước câu nói tôi không hề chờ đợi nhưng lại
hằng mong muốn đó. Cầm lấy tay em, tôi thoắt run người lên trong một cảm giác
mình có thể sắp tan chảy:
- Sương... Tại sao đến bây giờ... Người ta bảo em...
Em vội đưa bàn tay gầy gầy có những ngón lạnh buốt, thoảng
mùi dầu sả lên bịt ngang miệng tôi.
- Đừng! Đừng nói nữa... Em hiểu! Không có chuyện đó đâu.
Không bao giờ có hết. Tự em tung ra để anh giận, anh điên, anh sẽ từ bỏ em.
- Tại sao?
- Em sợ... Sợ anh cứ dính đến em hoài, anh sẽ... sẽ chết mất
như miệng thế gian rủa độc.
Một trái cối nổ tung trong ngực tôi. Bất chấp sự có mặt của
Ba Tiến, của cậu bé giao liên và của một vài người khách đang đứng ngồi lố nhố
gần đó, tôi ghì chặt lấy vai em, nước mắt ứa ra...
- Trời ơi! Chỉ có vậy thôi ư? Tội nghiệp em! Chỉ có vậy mà em
nỡ làm khổ em, làm khổ tôi. Khổ lắm! Mà sao tới tận lúc này em mới nói, lại
nói?
- Mai mốt anh lên an toàn khu, chắc sống rồi, chẳng còn sợ nữa
nên em...
- Anh hiểu! - Tôi càng ghì chặt em hơn.
- Kìa! Bỏ em ra! Người ta...
- Mặc người ta! Mặc tất cả! - Tôi cúi xuống siết chặt vào môi
ướt lạnh của em một cái hôn tức tưởi và ngùn ngụt yêu thương chất chứa lâu nay
- người ta có cần biết sự có mặt của anh, của em, của hai đứa mình trên đời này
đâu. Em biết không? Cuộc họp vừa rồi đã tước đoạt của anh đi rất nhiều nhưng lại
trả lại cho anh một cái còn nhiều hơn. Đó là em. Lúc này đây, chỉ cần có em, có
tình yêu chân thật và không bao giờ có thể mất đi nữa của em, một mình anh cũng
sẵn sàng tiến hành cả một cuộc chiến tranh, sẵn sàng lập ra cả một chủ thuyết
chính trị, một tổ chức siêu quần của riêng hai đứa mình để tôn thờ và để chết
cho nó.
Tuấn đứng bực dậy, con mắt trợn trừng lên. - Không! Không thể
có chuyện như thế được! Nếu người ta nhất quyết điều anh đi thì tất cả bọn em
cũng sẽ tự động rời bỏ vùng sông này theo luôn. Rồi muốn ra sao thì ra. Buồn cười!
Vô lý hết sức!
Tôi im lặng nhìn Tuấn rồi nhìn vào từng khuôn mặt bạn bè...
Thế là lại chỉ còn có bảy! Vẫn bảy! Đơn vị chưa khi nào nhích được lên con số
chuẩn ba mươi. Và may mắn có lên tới thì chỉ ít ngày, rất ít, chiến tranh lại bỡn
cợt giật xuống những con số ít ỏi như thế này, hơn thế này. Bảy người! Trong bảy
người chỉ mình Tuấn là còn sống sót lại với tôi từ ngày đầu. Bảy người cho cả
mười năm. Bảy người cho cả chiều sâu lẫn chiều rộng của một địa bàn ác liệt nhất
miền Đông. Đứng đằng sau con số bảy này là bao nhiêu những con số bảy thê lương
khác? Ẩn đừng sau bảy khuôn mặt thân yêu đây còn biết bao khuôn mặt khác không
bao giờ còn hiện diện trên đời này nữa? Nếu hôm nay về tựu về đây đông đủ quân
số của cả mười năm thì sẽ là bao nhiêu con người? Cái vạt rừng cháy sém này có
chứa đủ không hay là phải đứng lên gò, đứng tràn xuống mí sông? Hai trăm, ba
trăm hay bốn trăm? Bốn trăm chỉ còn lại bảy! Bốn trăm trừ đi bảy là bao nhiêu?
Rồi chia đi cho mười là bao nhiêu nữa? Mai mốt tôi đi rồi, cái con số bảy ngậm
ngùi nay sẽ còn rút xuống bao nhiêu? Ai sẽ dò tìm được những nấm mồ vô danh
trong sâu lùm bụi, hang hốc một khi cả bảy con người còn lại này không một ai sống
sót?...
- Không! Em không nhận nhiệm vụ thay anh đâu - Tuấn vẫn đứng
sừng sững - Bất cứ ai làm thay anh lúc này đều là phản bội cả. Không phải chỉ
phản bội anh mà còn phản bội hết thảy những thằng đã nằm xuống.
Cũng may nói tiếng choác choác của Tuấn đã có tác dụng ngăn
không cho những giọt nước mắt của tôi chực chảy ra. Tôi ghìm giọng để tiếng nói
khỏi oà vỡ:
- Đừng nói thế, Tuấn! Việc gì ra việc đó, đừng nên nhập vào.
Chính vì mình, vì đơn vị, vì những thằng sống và những thằng chết, Tuấn phải
thay mình. Chúng ta, dù cuộc sống có khốn nạn đến dường nào đi nữa thì cũng
không được quên rằng, bọn mình là những thằng lính cách mạng có ý thức chứ
không phải là đám tứ chiếng giang hồ. Nhé!
Tuấn quay đi, hai má chảy ra. Tôi biết nó chưa chịu nhưng giờ
phút này nó không muốn cãi tôi. Sáu anh em kia cũng vậy, họ chỉ im lặng bập thuốc,
đăm chiêu không nói, không cả nhìn vào người chỉ huy sắp từ giã họ ra đi của
mình. Rồi đây... những con người này, liệu tôi có một lần được nhìn lại, được
thấy lại hay là...
Mới chỉ kịp nghĩ đến đó, nước mắt tôi đã trào ra không thể
kìm được nữa. Thấy tôi khóc, họ cũng khóc, khóc âm thầm, có người khóc nấc lên,
người khác bỏ chạy ù vào hầm...
Bạn đọc thân mến! Nếu như tôi ra đi ngay buổi sáng hôm ấy,
cái buổi sáng ướt đầm nước mắt của những tay súng thiện chiến hầu như không bao
giờ biết nhỏ nước mắt, mà đừng nghe Sương khuyên nên nán lại một đêm để vào ấp
chào hỏi bà con cô bác lần cuối thì cái mốc câu chuyện, cái sự việc đau thương
đó chắc sẽ không xảy ra.
Vâng! Tức là tôi đang đi vào điểm mấu chốt của câu chuyện xuất
hiện ngay vào buổi sáng hôm sau, khi tất cả vừa từ ấp chiến lược trở về.
Xin lỗi! Không hiểu trong số các bạn đã có ai trong cuộc đời
từng đột ấp chiến lược một lần chưa? Đột rất dễ chết nhưng nếu không chết thì
đó lại là cả một ngày hội của những năm tháng rừng ảm đảm. Được sống lại một
khoảnh khắc thân thương của đời thường với mái lá, tiếng chó sủa, mùi rơm rạ,
phân trâu bò, nhang khói, tiếng trẻ thơ, cái cười của những bà má, đôi mắt của
những cô gái dậy thì nhìn lên anh Việt Cộng với sự tò mò đến nao lòng... Đó là
bát cơm nóng ăn với cá kho tiêu, lát dưa leo mát rượi chấm với nước mắm thứ thiệt,
điếu thuốc Ru-bi thấm nồng hút với ly cà phê sữa pha đặc quẹo, bánh tráng cuốc
khổ qua, bánh tráng cuốn nhân dừa... Chính cái món bánh tráng cuốn nhân dừa đặc
sản phía nam này đã làm cho miệng lưỡi chúng tôi bị lưà. Càng ăn càng thèm,
càng chấm càng mềm môi, đến khi hơi ngan ngán rồi thì bụng dạ đã chình ình ra
không thể đi lại bình thường được nữa. Càng chình ình càng khát nước. Uống bao
nhiêu khát bấy nhiêu. Nước và bột thay nhau bóp nặn, làm tình làm tội cái dạ
dày vốn xưa nay chỉ quen với lá cây ngọn cỏ trong rừng. Và dường như mọi hiểm
hoạ sáng hôm ấy cũng bắt đầu từ cái miếng bánh tráng mỏng dính này mà ra.
Gần sáng, công việc chào hỏi từ biệt đã tạm xong xuôi, lại mỗi
đứa mỗi bồng đầy nhóc những đồ ăn thức uống, chúng tôi tính ra về thì bất chợt
một cô bé cơ sở hớt hải chạy đến báo xung quanh ấp lính đã bao vây đen đặc vòng
trong vòng ngoài rồi! Mọi người nhìn nhau sững sờ. Chết rồi! Trời sắp sáng, đi
không được, ở lại không xong, làm sao đây? Mà tại sao chúng lại biết chúng tôi
lọt được vào ấp mà bao vây nhỉ? (Lý do này mãi về sau tôi mới được biết chứ lúc
ấy tâm trí hoàn toàn rối bời, không phân tích được cái gì đến đầu đến đũa cả).
Kiểu này chỉ càn một vài giờ nữa thôi, khi trời đã sáng hẳn, từng đứa chúng tôi
dù có giỏi giang cỡ nào cũng lần lượt bị đối phương lượm về bắn bỏ ngon lành
như lượm con cá con cua trong hom, trong giỏ! Cha trời! Vì một phút ngẫu hứng
mà phải trả một cái giá như thế này thì đắt quá! Tôi tránh không nhìn vào mắt
Sương, đôi mắt lúc ấy đang tỏ ra ân hận đến khổ sở. Không sao đâu Sương ạ! Tôi
an ủi em và tự an ủi mình, chuyện đi ấp đêm nay cũng là ý của anh, của mọi người
kia mà. Yên tâm đi! Để cho anh tĩnh trí một chút là sẽ tìm ra cách ngay thôi.
Đây vẫn chưa phải là tình huống nan giải nhất. Sương không nói gì, chỉ khẽ gật
gật đầu.
Và không đầy mươi phút sau, không phải tôi mà là chính em đã
tìm được cách xử lý táo bạo, bất ngờ. Ém lại ngay trong lòng ấp anh ạ! Sương
nói. Ém bằng kiểu nào? Tôi hỏi. Tại bìa vườn sầu riêng còn bốn căn hầm đào từ
năm Mậu Thân em còn nhớ được. Anh! Trong khi em theo má Sáu ra kiểm tra lại,
anh nhớ dặn mọi người nếu xuống hầm thì phải tuyệt đối bí mật. Cứ hai người một,
xen kẽ bộ đội và địa phương thành một cặp kèm nhau. Hầm nào biết hầm đó, hầm
nào lộ hầm ấy tự chịu, không biết được hầm thứ hai để nếu trong trường hợp bị
tra tấn quá dữ buộc phải khai báo ra. Còn em? Tôi hỏi. Em sẽ... Sương thoắt bối
rối rồi nói lướt đi, người chỉ huy lực lượng sẽ ở chung hầm với người chủ trì địa
phương để tiện bàn bạc công việc. Rõ! Tôi nói. Và không thể không nhìn theo
bóng hình em khuất vào bóng tối đầy chết chóc với một chút xao xuyến rất lạc
lõng trước tình thế mỏng manh này.
Thật là may khi Sương trở lại báo tin cả bốn căn hầm đều còn
dùng được. Và vào lúc tiếng xe bò đầu tiên lăn bánh lọc cọc ra bưng để vô tư bắt
đầu một ngày đồng áng, chúng tôi đã nhanh chóng thực hiện xong cái công việc độn
thổ bất đắc dĩ của mình. Một lát nữa đây chúng sẽ xộc vào, sau vài giờ lùng sục,
sau mấy câu tra hỏi bà con gọi là, không thấy gì, chúng sẽ tiếc ngẩn người cho
rằng Việt Cộng đã tìm được đường riêng thoát hiểm và đành hậm hực bỏ đi. Lúc
đó, chao ôi, tôi sẽ có một ngày hay ít nhất là một buổi với em trong lòng đất
êm đềm, sẽ nói với em tất cả những gì đáng nói để rồi khi màn đêm buông trùm, tất
cả sẽ trở lên mặt dất, ra khỏi ấp, thong thả về rừng tiếp tục cuộc chia tay
chưa biết bao giờ gặp lại vừa bị kẻ thù làm gián đoạn. Thế thôi. Chỉ cần một giờ,
một ngày như thế thôi cũng đủ thay cho cả một đời...
- Ngủ đi một chút anh! Thức cả đêm rồi, mệt lắm! Tối nay anh
còn phải... đi.
Giữa lòng đất bốn bề ảm tối, tiếng Sương càng ngậm ngùi dìu dịu.
Ngủ? Trời! Làm sao có thể ngủ được khi có em sát cạnh thế này? Tôi khẽ cựa mình
nằm ngửa, nhìn trân trân lên hầm. Bên tôi, Sương vẫn ngồi ôm gối, thu nhỏ mình
hết cỡ để khỏi đụng chạm vào tôi. Cả hai dường như chỉ còn nghe thấy hơi thở của
nhau, hơi thở nhọc nhằn và dập dồn hơn trên mặt đất... Trong các căn hầm chiến
tranh đã trải qua, chưa có thứ hầm nào gợi cho tôi nhiều xúc cảm trái chiều
nhau như loại hầm mật này. Nằm lọt thỏm giữa dân, giữa địch, cả căn hầm chỉ rộng
bằng nửa tấm chiếu con, nằm một người hơi rộng, nằm hai người lại quá chật, nằm
tráo trở đầu đuôi thì tạm gọi là. Tối lạ lùng! Toàn bộ ánh sáng chỉ trông vào mấy
cái lỗ thông hơi nhỏ bằng đồng xu từ đỉnh hầm rọi xuống lúc có lúc không, lúc mờ
lúc ẩn. Cửa hầm đã đóng kín, khít khao như người ta nút cái nút chai bằng mút để
nếu có ai đi qua, ngồi lên, thậm chí nằm xuống cũng không hề biết ở dưới mình
là cái gì. Và nóng. Nóng kinh khủng! Giữa cái lòng đất ẩm mà nóng nóng như
trong lò nung mới lạ! Cái nóng của đất hay cái nóng của thân thể đàn bà còn
trinh nguyên toả ra, tôi không thật rõ nhưng chỉ hay rằng, một con người bình
thường mà phải sống liên tục ở loại hầm này chừng ba tháng, khi lên, chân tay bỗng
trở nên thừa thãi, da thịt trắng hếu như bạch tạng.
- Anh cười gì thế? - Sương hỏi nhỏ.
- Anh đang mường tượng ra cảnh hai đứa mình nếu nửa năm nữa mới
lên khỏi đây thì chắc hoá thành ông Tây bà Đầm.
Sương không cười. Em cúi xuống có vẻ đang mải nghĩ ngợi một
điều gì đó không thấy ngẩng lên nữa. Tôi nắm lấy tay em, bóp nhẹ:
- Nằm xuống đi em! Nằm nghiêng, quay mặt vào nhau hay cùng
quay mặt vào vách cũng được. Vừa đó.
Em lắc đầu.
- Hay anh ngồi dậy cho em nằm nhé! Hai đứa cứ thay nhau, một
đứa gác, một đứa ngủ và ngược lại có được không?
Em vẫn lắc đầu. Cái lắc đầu âm thầm đó đã kéo tôi ngồi dậy,
nhẹ kéo đôi vai gầy mảnh của em vào ngực mình. Ở nơi đó, tôi cảm nhận rõ có một
rẻ xương của em tì vào ngực tôi nhói đau.
Này! - Tôi cố nói một câu vui vui để em cười lên - Ước gì hai
đứa cứ ngồi thế này mãi, ước gì cửa hầm đẫ bị nêm chặt như cửa hầm Thạch Sanh,
ước gì chiến tranh đừng bao giờ kết thúc trên miệng hầm, anh và em hai đứa sẽ
hoá thạch hay thành bộ xương khô ôm cứng lấy nhau nhỉ? Nói đùa, có khi thế lại
hay hơn đấy nhé! Được không?
Em vẫn im lặng.
- Em sao vậy? Hay lại linh cảm thấy một điềm gở gì chăng?
Thôi, bỏ quách những cái linh...
- Không phải thế - Đến lúc này Sương mới khẽ cựa mình, giụi
giụi mặt vào cổ tôi, hơi thở bỏng rát và tinh khiết như hơi thở trẻ thơ - Em
thương anh.
Siết chặt em hơn, môi tôi cuống quýt lần tìm môi em nhưng em
vội lấy tay che miệng lại:
- Đừng... Em sợ lắm!
- Sợ gì? - Tôi nói trong nhịp đập bấn loạn của trái tim trong
ngực - Giờ đây trên thế gian này, trong cả lòng đất mênh mông này chỉ có hai đứa
mình.
- Không... Không phải thế đâu.
- Anh yêu em!
Lần đầu tiên tôi nói ra câu đó bằng tất cả sự dồn nén ngột ngạt
bấy lâu trong lòng. Em hơi rướn ngực lên một chút rồi thở dài nhè nhẹ:
- Anh có trách em giữ anh lại để bây giờ phải đến nỗi như thế
này không?
- Anh ngược lại phải cảm ơn em, cảm ơn đất trời thần phật mới
đúng.
- Cảm ơn?
- Nếu không, làm sao anh có được em ở bên cạnh thế này.
- Còn giận em gần một năm qua làm mặt lạnh với anh không?
- Không! Càng yêu hơn. Yêu nhiều lắm!
- Em... Em thương anh! Yêu anh.
Yêu! Cũng là lần đầu tiên em nói ra với tôi câu đó và thả nhẹ
bàn tay che miệng ra. Tôi nhột nhạt cúi xuống... Em khẽ rùng người, lả đi trong
vòng tay nhớp nháp mồ hôi của tôi và để mặc cho hai đôi môi gắn chặt vào nhau
ngỡ ngàng, run rẩy, vội vàng, tức tưởi...
Bị nỗi đam mê lâu lắm mới lại có đốt cháy, tôi bất giác lần mở
khuy áo ngực em. Chính lúc đó em choàng tỉnh, đẩy mạnh tay tôi ra, giọng hổn hển
hụt hơi:
- Không!... Chưa nên. Đêm nay anh đi rồi, em sợ... sợ lỡ xảy
ra chuyện gì, mình em ở lại, tội nghiệp!
Chỉ cần một câu ấy thôi cũng đủ làm tôi tỉnh táo hoàn toàn trở
lại.
- Sương!... Anh hỏi thật: đây là lần đầu tiên em va chạm với
đàn ông phải không?
Sương không trả lời, chỉ cầm bàn tay tôi đưa lên miệng cắn cắn...
Vết răng con gái, vết răng của sự vụng dại, trinh trắng lan nhanh vào thân thể
tôi mát lạnh. Tôi lại ngả người xuống, nhắm mắt... Ở đây, trong căn hầm này,
cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào, trưa nay, chiều nay, lát nữa... nên
thương nhau quá, trân trọng nhau quá mà không nỡ làm điều gì xúc phạm đến nhau.
Nhưng cũng vì trưa nay, chiều nay, lát nữa hoặc ngay bây giờ có thể chết mà tiếc
gì cho nhau, không nỡ làm nhau thất vọng. Có lẽ tôi sẽ chọn mệnh đề thứ nhất. Mệnh
đề không thật phù hợp với tôi nhưng lại thích hợp với con người như em. Vì em,
vì những kỷ niệm ngọt ngào và cả cay đắng đã có với em, vì những ngày xa cách mịt
mùng trước mắt, tôi buộc phải nén đi cái phần thật nhất đang sôi réo trong con
người mình. Để thực hiện được ý định quá đỗi khó khăn ấy, tôi xoay người giụi mặt
vào vách hầm ẩm mốc mong tìm được sự trợ lực của đất.
- Anh ngủ một tí đây - Tôi nói - Em có thể yên tâm.
Em nhìn xuống tôi lâu lắm, môi mím chặt, không gật đầu. Và đến
đây hậu quả cái món bánh tráng với cà phê khi đêm bắt đầu xuất hiện, như một sự
đến trước dự báo cái tai hoạ sắp sửa giáng xuống. Tôi trằn trọc mãi, thực lòng
muốn chợp mắt một chút nhưng không sao chợp được. Cà phê đêm qua pha quá đặc lại
một bọng nước óc ách có nhu cầu đòi được phóng toả ra ngoài nên hết nằm ngửa lại
nằm nghiêng mà mắt cứ trơ thao láo. Cuối cùng tôi dán chặt bụng vào vách đất có
ý nhường chỗ cho em rồi đành nhắm mắt để đấy. Thời gian lãng đãng trôi qua những
lỗ tròn thông hơi. Giọt sáng đã có vẻ gắt hơn, tức là đã quá nửa buổi rồi mà
trên mặt đất vẫn chưa thấy có động tĩnh gì. Vẫn tiếng gió thổi mơ hồ, tiếng bò
kêu, tiếng trẻ con gọi nhau í ới, một vài tiếng chân người qua lại và tiếng
cành khô rơi lạo xạo xuống miệng hầm... Vô lý! chả lẽ bọn đói ăn này lại dễ
dàng buông tha con mồi béo bở đến thế? Hay chúng đã biết chắc chúng tôi không
thể thoát được nên giở cái trò dền dứ phong toả của con đười ươi khi vớ được mồi?
Được thôi! Cứ dền dứ, cứ phong toả đi các chú lính! Phong toả một ngày, hai
ngày... bao nhiêu ngày cũng được, càng dài càng tốt miễn là chớ có đánh điểm
vào một căn hầm nào. Như thế tớ càng được ở bên cô bạn gái của tớ nhiều hơn,
cám ơn lắm chứ!
Tôi chợt thấy một bên lưng ấm sực lên rồi từ từ mát lạnh như
có một chiếc khăn ướt vừa dấp vào... Không cần nhìn lại tôi cũng biết đó là em.
Em đã lén nằm xuống bên tôi theo lối nằm tráo trở đầu đuôi quen thuộc. Tức là
chân tôi ở phía đầu em và chân em chạm nhẹ vào vai tôi. Cái ấm sực rồi lại mát
lạnh ấy chính là nơi bắp đùi của em kê khẽ vào. Tôi nằm cứng người và để em có
thể chợp mắt được một chút lấy sức lực dự trữ cho cả ngày nay nếu tình huống xấu
xảy ra, tôi giả vờ ngáy nhè nhẹ... Em cũng thở đều đều dù rằng tôi thừa biết em
chưa hề ngủ.
Thường trong một căn hầm ngột ngạt và chật chội như thế này,
làm thằng đàn ông nhiều bề dễ xử hơn. Hắn ta cứ việc cởi trần, vận quần đùi thoải
mái. Còn đàn bà con gái ư? Thật trăm sự rườm rà. Nằm cạnh thằng đàn ông xa lạ
không phải là chồng mình, đâu có thể hở hang thoải mái được dù có bức sốt như
thế nào. Chỉ còn một cách là nén chờ anh bạn cùng hầm ngủ say đi cái đã rồi mới
dám từ từ rón rén vén bớt quần áo lên. Nhưng quần cũng chỉ dám vén lên đến trên
đầu gối, còn áo thì hất lên đến ngang bụng, thế thôi, miễn là cho dịu thoáng
hơn một chút.
Tuy đã gí cái mũi vào thật sát vách đất nhưng nghe tiếng sột
soạt thật nhẹ đằng lưng, nhẹ như gió lùa ngọn tóc, tôi cũng đoán được em đang
thực hiện cái động tác thông thường và muôn thủơ của những người ít nhất trong
đời cũng có đôi lần chui hầm mật đó... Kỳ lạ! Trong mùi đất mốc mác bị bỏ quên
lâu ngày dường như tôi ngửi thấy cả cái mùi ngai ngái của phần da thịt đàn bà để
hở. Chao! Cái phần da thịt ấy chắc là trắng lắm, tròn lắm, mát lắm và... gần xiết
bao nếu tôi chỉ quờ tay qua một chút, một chút thôi... Nhưng tôi vẫn nín thở nằm
yên. Hơn lúc nào hết tôi hiểu rằng nếu giờ đây tôi chỉ vô tình hay cố tình đụng
chạm em thêm một lần nữa hoặc giả cựa mình quay lại là chiếc cầu dao điện dòng
cao thế sẽ được bung nổ ngay mà thực lòng tôi lại chưa muốn bung nổ gì cả hay
chí ít cũng là vào lúc này. Hãy để cho nó êm trôi qua cái giờ tử này đã. Sau đó
chúng tôi còn cả một buổi trưa và một buổi chiều kia mà. Khi đó, cái gì cần xảy
ra nó sẽ xảy ra, đừng ép.
Có lẽ đã nắm bắt được cái mạch nghĩ xốn xang trong đầu tôi hay
là chính trong đầu em cũng cùng chung mạch nghĩ đó, Sương khẽ thở dài rồi nắm
nhẹ lấy tay tôi, giống như một tín hiệu ma-níp:
- Ngủ đi!... Ngủ đi anh! Chóng ngoan.
Không ngờ cái tín hiệu buồn buồn giống như một lời ru đó đã
khiến cho tôi tĩnh lặng và thiếp đi một chút thật. Khi chợt tỉnh hoặc tôi buộc
mình phải tỉnh vì kẻ thù đang còn ở phía trên, thời gian được thức bên em là
quý giá khôn cùng, tôi vô tình đạp phải cái ống lon để ở đằng chân kêu cái
reng!... Đây chính là ống sắt tây dung tích chừng một lít dùng để chứa nước tiểu
trong trường hợp cần thiết mà chưa thể lên được.
Chết thôi! Tiếng lon kêu kích thích cái bụng đang óc ách của
tôi đòi giải toả dữ dội. Khẽ liếc nhìn sang, tôi thấy hai mắt em đang nhắm hờ,
nhịp thở đều đều, thỉnh thoảng lại vấp nhẹ trong thanh quản hệt một đứa bé lăn
ra sau khi đã bú no sữa mẹ. Đoán chừng mệt quá em đã thiếp đi, bằng những động
tác hết sức gượng nhẹ, tôi chống tay rón rén ngồi dậy. Em vẫn thở sâu. Tốt rồi!
Tôi hơi quỳ xuống, kê nhẹ... cái của mình lên thành lon rồi nín thở... Dòng nước
thải do được kê kích, được định hướng đàng hoàng nên dẫu rằng không gian ắng lặng
đến mấy, nó cũng chỉ phát ra những âm thanh ri ri rất nhỏ không nhận biết được
loang thành lon rồi tản dần xuống đáy. Tuy vậy tôi vẫn chỉ có thể cho ra cầm chừng.
Thả rồi bóp... Bóp rồi thả... Trong đầu xốn lên cái ý nghĩ hài hước: Đúng là vừa...
đái vừa run! Đâu có, dĩ nhiên là đâu có dám thoải mái phóng ra hết, tôi lại làm
động tác mèo vờn chuột trên mái nhà hạ lưng... không, hạ cánh sườn xuống cho trở
về trạng thái ban đầu, bụng dạ nhẹ tênh tang như cả thế kỷ nay chưa hề nhồi
nhét một thứ gì vào đó cả.
Em vẫn nằm nguyên trong tư thế cũ, phần da thịt để trống miết
vào lưng tôi rờn rợn. Tôi nằm im để cho cái rờn rợn đó lan chảy khắp người, rôn
rốt xuống tới tận đầu ngón chân... Và con mắt cay xè của tôi không thể không dừng
lại ở mấy cái rẻ xương sườn mỏng mảnh đang nhô lên, đôi bắp chân một bé gái mới
chớm bước vào tuổi dậy thì đang duỗi thẳng của em. Tim tôi thắt lại! Tội tình
và bé bỏng làm sao một dáng nằm con gái thời chiến tranh như thế! Đoán rằng em
chưa ngủ, em không ngủ, ngủ thế nào được khi Hai Hợi đã có lần nói rằng em thường
mắc bệnh mất ngủ cả đêm. Nhưng tôi không muốn, không nỡ đánh động em dậy chỉ vì
những cử chỉ, những lời nói yêu thương đang từng đợt, từng đợt dội lên trong
lòng mình. Tôi hôn nhẹ vào mấy cái rẻ xương đó và ngả đầu xuống.
Trên kia vẫn lặng tờ. Một sự lặng tờ khác lạ mà kinh nghiệm
bám trụ vùng ven lâu ngày đã cho tôi biết nó đang chứa đựng những hiểm nguy
không thể lường trước được.
Sương khẽ cựa mình... Lại cựa mình nữa... Em muốn nói chuyện
với tôi chăng? Hay em cũng đang cùng một dự cảm kinh hoàng về hiểm hoạ như
tôi?... Không phải! Cái cựa mình của em không hàm chứa một sự giao cảm tâm lý.
Nó là một thứ cựa mình hoàn toàn mang tính chất sinh học, bất an, bồn chồn...
Tôi chợt hiểu: cái hậu quả của cà phê và bánh tráng mặn cũng đang làm tình làm
tội em, có thể làm tội từ lúc đầu nhưng vì là đàn bà con gái nên em không thể
tuỳ tiện hành động như tôi được. Thế là tôi chỉ còn một cách lại giả vờ ngủ, ngủ
thật say. Và tôi bắt đầu cất tiếng ngáy. Ngáy to dần, ngáy cả bằng mũi lẫn bằng
mồm, ngáy thật sâu, ngáy nhọc nhằn như thật, ngáy sao cho ra cái phường uý tử
phàm phu càng tốt, thỉnh thoảng lại đệm một tiếng è è trong cổ, vài tiếng hự hự
trong mồm...
Đúng như tôi dự đoán. Chỉ một lát sau, tôi bỗng thấy lưng
mình trống trếnh, dường như có cả hơi mát thổi vào. Tôi biết rằng em đã ngồi dậy.
Tiếp liền là một chút sột soạt của vải, một chút lục cục của khớp xương va
nhau, một chút dừng lại... Và sau đó là im lặng. Im lặng giả tạo đến nỗi gai
người. Rồi giữa cái im lặng mênh mông đó, một tiếng xoè bật ra hân hoan, nới mở
nhưng lại tắt ngay. Im lặng sâu hơn. Như vĩnh cửu. Như không cùng... Rồi lại
xoè. Tiếng xoè dài hơn một chút. Rồi lại tắt... Lại xoè... Tắt... Xoè... Xoè...
Tắt! Khốn khổ! Có ai hiểu thấu cho người đàn bà trong chiến tranh phải chịu cơ
cực như thế. Một cái ống lon trong hầm mật? Chuyện thật đơn giản nhưng lại vô
cùng phức tạp đối với họ. Đã vậy, cái âm u huyền bí trong lòng sâu lại cứ đùa
dai, khuyếch đại lên ngàn lần thứ âm thanh quỷ quái đáng lẽ phải xoá chìm đi ấy.
Tắt xoè, tắt xoè... Thử hỏi trên hành tinh này, trong mọi cuộc chiến tranh của
mọi quốc gia, của mọi thời kỳ lịch sử, đã có nơi nào xuất hiện và tồn tại những
âm thanh tức tưởi và nao lòng đến rã rời tâm can như thế không? Không, chắc chắn
là không! Tôi có thể quả quyết như vậy.
Tôi không ngáy được nữa. Chẳng phải vì cái cổ đang có chiều
hướng rát bỏng lên mà chính vì sự nhọc nhằn mang tính chất trẻ thơ của âm thanh
ấy vừa làm tôi thương cảm lại chút nữa thì khiến tôi phì cười.
Càng nhịn cùng với tiếng tắt xoè mỗi lúc mỗi dồn dập hơn kia,
tiếng cười càng muốn bùng ra. Và cuối cùng, không nhịn nổi nữa, tôi đã để mặc
cho tiếng cười phì ra khỏi miệng. Phì rung cả người... Tiếng xoè đột ngột ắng lại
như từ nãy đến giờ, từ ngàn xưa đến nay, chưa hề có thứ tiếng động nào như thế.
Một cái véo vào đùi tôi đau điếng, tiếp liền là một cú phát vào lưng rát bỏng...
“Đồ quỷ! Vậy mà làm người ta...” Em nói và mặc dầu không nhìn lại, tôi cũng biết
chắc mặt em đang đỏ rần lên.
Tôi không cười nữa:
- Trời! Làm thì làm đại đi mà! Cứ tắt xoè, tắt xoè mãi, nghe
như tiếng rút chốt tạc đạn, ớn cái xương sống lắm!
- Kỳ! Ai bảo nghe? Ngáy ngủ mà nghe tinh thế? Dơ!
Lại một cái véo chết người nữa. Lại đỏ mặt. Thế là cười xoà.
Chẳng ngờ cái âm thanh đó, cái phát, nhéo, câu chữa ngượng đồ
quỷ và cái cười xoà đó đã xoá nhoà đi cả mọi lằn ranh giới tính, đã đốt cháy mọi
đắn đo sau trước, đã xích hai đứa lại gần nhau trong một sự cuồng nhiệt đợi chờ
có sẵn trong tâm tưỏng. Tôi ngồi nhanh dậy, không cần biết cái gì sẽ xảy ra
trên kia. Cái gì sẽ xảy ra sau đó, cồn cào ghì siết em vào người, hối hả đỡ em
nằm xuống và lấy băng đạn kê đầu cho em khỏi lấm tóc. Em chỉ kêu rên khẽ lên một
tiếng sâu thẳm trong lồng ngực rồi duỗi dài chân ra, nhắm mắt lại... Hàng khuy
áo được bong dần từng cái. Chao ôi! Dưới ánh sáng huyền ảo mơ màng của ba giọt
thông hơi, tôi hoàn toàn không thể ngờ ngực em lại đẹp thế! Nhỏ nhắn, no tròn
và trắng đến loá mắt. Dường như toàn bộ sức sống tuổi hai mươi nơi em đều dồn tụ
vào cả khuôn ngực trinh nữ này? Tôi gục mặt vào đó, nghẹt thở, yên bình, ngào
ngạt hương thơm cây trái và tan rã... Gục mặt vào màu trắng tươi nguyên, màu trắng
khổ đau và màu trắng của sự thanh cao tuyệt đỉnh. Tôi khóc...
Thế rồi chính trong khoảnh khắc đôi mắt được rửa sạch bằng những
giọt nước mắt chân thành đó, bất thần tôi đã nhìn thấy đôi nốt ruồi đen, nhỏ, nằm
e ấp trên khuôn ngực trái của em như hai con mắt hiền lành, nhỏ xíu của con
chim câu đang sắp vỗ đôi cánh trắng bay vút lên khỏi hầm.
Tôi phủ nhanh người xuống cái màu trắng đó, để ràng níu, để
giữ buộc, để không cho nó bay tan đi mất, bắt nó phải là sự thật chứ không thể
là ảo ảnh trong lòng sâu. Lặng lẽ và mềm mại, bằng một cử chỉ vị tha khắc khoải,
em hơi rướn người lên, thẳng căng cái độ căng của dây cung sắp cho mũi tên rời
khỏi ná rồi liền ngay đó lại chùng xuống... chùng xuống nữa, chìm nghỉm, vô
hình... Buổi sáng hôm đó, với tất cả sức lực của tuổi trẻ, của mười năm dồn
nén, của hết thảy những khổ đau, mất mát và dịu ngọt đã trải qua, sắp trải qua
hay không bao giờ còn dịp được trải qua nữa, chúng tôi, hai sinh vật của thời
loạn đi vào nhau trọn vẹn, đam mê tột cùng và cũng ngậm ngùi tột độ... Một giọt
sáng hay một chút màu hồng tươi vương dính vào góc chiếc khăn rằn rải dưới đất
đã thúc mạnh vào mặt tôi sự chói gắt của trinh tiết và lòng biết ơn sâu thẳm
không thể nói ra được. Em khóc... Những giọt nước mắt cũng rơi ra lặng lẽ, âm
thầm.
- Sương ơi!... Cầu mong cho mọi việc qua đi, chiến tranh rồi
sẽ tới ngày cùng, khi ấy dù thế nào, ở đâu, anh cũng sẽ tìm đến em để xin cưới
em làm vợ.
Tôi hôn cạn những giọt nước mát trên má em mằn mặn rồi cúi xuống,
rên trên ngực em lời nguyện cầu chắt ra từ máu.
- Em chết mất! - Em thốt lên rồi cắn vào bả vai tôi đến rớm
máu.
Phải chăng đó chính là câu trả lời tuyệt diệu nhất của người
đàn bà trong những trường hợp như thế này? Không nói gì nữa, cả hai ngồi im lặng,
trần truồng, nhơm nhớp mồ hôi, lắng nghe hơi thở và nhịp tim đập thật mệt mỏi
nhưng cũng thật êm ả nơi ngực nhau...
Thời khắc bồng bềnh lãng quên đi tất cả đó, ai dè đôi cánh
nghiệt ngã của số phận đã qua lỗ thông hơi để lạnh lẽo đậu xuống bờ vai của cả
hai đứa chúng tôi! Sau một loạt những tiếng xăm hầm sột sột như thuốn vào chính
màng tai mình, là một tiếng nói âm âm khoái trá vang lên từ loa điện trên mặt đất:
“Lên đi các bạn Việt Cộng! Chúng tôi đã biết các bạn đang ở dưới đó rồi. Tốt nhất
là tự mở nắp hầm chui lên đầu hàng để tránh cho chúng tôi khỏi phải dùng đến những
biện pháp cứng rắn. Lời hứa danh dự của người lính quân lực Việt Nam cộng hoà sẽ
bảo đảm an toàn tính mạng cho hết thảy mọi người, cả nam lẫn nữ, cả địa phương
lẫn chủ lực, cả Việt Cộng lẫn cộng sản Bắc Việt, hết thảy! Trung uý đồn trưởng
đang kêu gọi các bạn đây...”.
Giống như bị quẳng từ trên độ cao ngàn mét xuống nước, chúng
tôi sững sờ nhìn nhau... Vậy là cái điềm báo xấu nhất đã xảy ra, xảy ra ngay
sau khi, bằng cánh tay thần bí của mình, thần phật đã đẩy chúng tôi nhập vào với
nhau! Đểu thật! Nhưng tại sao chúng lại tìm ra? Ai chỉ điểm? Hay đã có một hầm
nào bị lộ rồi?... Trời đất! Thì ra chính cái lúc chúng tôi đang cuộn chặt lấy
nhau để mơ những giấc mơ vĩnh cửu thì thần chết đã ngồi chồm hỗm ở ngay trên miệng
hầm rồi! Sao đây? Tôi siết chặt bàn tay của em đang run run mặc lại quần áo vào
người. Cái lãng mạn đang vón cục lại thành cái nặng nề quá tải. Sự chơi vơi từ
bên trong đã thoát ra thành sự hoảng loạn ụp từ bên ngoài vào...
“...- A lô! Các bạn còn chần chừ gì nữa? - Vẫn cái tiếng nói
khoái trá và hãi hùng lọt xuống từng chập như tiếng gào của ma quỷ dưới địa ngục
- Dù muốn hay không, các bạn cũng chỉ có một con đường đầu hàng hay tan xác? Ba
trái mìn cực mạnh đã được đặt trên nắp hầm, dây đã ròng xong, chỉ còn chờ thái
độ của mấy người là phát nổ...”.
Lửa bừng lên trong đầu cùng với hình dạng những trái mìn
clâymo bay lãng đãng như những chiếc quan tài màu xanh. Giơ thử tay đẩy nhẹ nắp
hầm thấy nặng trịch, tôi biết chúng không đùa. Thế là cùng đường. Chỉ cần một
chứ không cả ba trái mìn hình cong như viên gạch kia thổi vào cửa hầm là chúng
tôi cũng đủ vỡ óc, giập ngực, lòi con ngươi chết ngay. Đã bao phen chúng tôi
đánh vào giữa giấc ngủ của kẻ thù để đến bây giờ, kẻ thù lại đánh vào chính cuộc
tình của chúng tôi. Như một luật chơi sòng phẳng, lại như một sự báo oán khắc
nghiệt. Chỉ buồn một nỗi, nếu như trước kia phải đánh cho chủ thuyết, đánh vì
lý tưởng thì tôi lại hoàn toàn ở trong thế chủ động, lúc này tôi mới có dịp
đánh cho em, cho tình yêu của tôi thì lại phải đánh trong tư thế thúc thủ.
Bất giác tôi nhếch mép cười. Mẹ mày! Con ạ! Chết đối với tao
nào có nghĩa gì mà mày dậm doạ thế? Đáng lẽ thằng cha mày phải chết rồi, chết từ
lâu rồi kia, bây giờ mới tới lượt là hơi chậm, quá chậm, quá lãi rồi các con ạ!
Nhưng còn Sương?... Mặt tôi nhăn quắt lại. Tôi không đành lòng để em cùng tan
biến vào cái thế giới hư vô nhọc nhằn tất yếu của tôi được, nhất là sau mọi
chuyện đã xảy ra vừa rồi.
“...Đù mẹ bọn mọi ăn đất cát! - Bây giờ là tiếng chửi tục tằn
vọng xuống - Nhẹ không ưa, ưa nặng. Cơm không muốn ăn, ăn cứt! Thân con lừa! Vậy
tao cho bọn bay chết mẹ luôn. Lính đâu? Tao đếm từ ba đến một, không lên, bấm!".
Gấp rồi, không thể chần chừ được nữa, tôi rút chốt sẵn hai
trái dự án láng USA cầm ra hai tay rồi nói nhanh với Sương:
- Lên nhé! Đằng nào cũng chết, thử lên xem. Anh bật nắp hầm
tung tạc đạn xong, em nhảy lên ngay, cứ hướng suối mà chạy, anh sẽ lần sau...
Không! Anh phải lên trước dẹp đường, em lên sau, hết sức nhanh.
(Thế là cái sai lầm thứ nhất đã xảy ra ở ngay cái cách phân
công sau trước như thế! Trời ơi! Nếu như tôi nói ngược lại thì kết cục đâu đã đến
nỗi bi thảm như vậy?)
Không rõ em nghe có hiểu thấu lời tôi dặn không mà chỉ thấy
đôi mắt to nhìn lên tôi vời vợi như tách thoát ra khỏi hoàn cảnh, như là em
đang đứng với tôi trong một bầu trời lộng gió giữa đồi trăng. Em hỏi:
- Thế... Thế chúng mình gặp nhau ở đâu?
- Anh chờ bên kia suối, chỗ ruộng khổ qua. Nhớ rằng bằng giá
nào anh cũng chờ. Cầm lấy cây súng này, vừa chạy vừa bắn thật mạnh. Nào, chuẩn
bị nhé! Thật bình tĩnh nhé! - Tôi đặt vào tay em khẩu K.54 mát lạnh rồi đặt vội
một cái hôn vào môi em - Em là sự sống của anh. Em không được chết. Vĩnh biệt!
Đến lúc này thân thể em mới run lên như đã cảm nhận thấy hết
tầm nguy hiểm của sự việc. Em cuống quýt kéo tôi lại, vừa khóc vừa hôn lên khắp
mặt tôi. Một giọt nước mắt chảy vào miệng tôi mặn như máu.
- Nhớ chờ em với nhé! Em sẽ chạy kịp anh, không chết đâu! -
Em nói.
Nhớ chờ em với... Tôi sẽ suốt đời mang theo lời nói non nớt
này vào trong ký ức buồn đau của mình mà không tài nào dứt ra được.
“... Bắt đầu! - Tiếng loa trên kia rền lên như bão - Ba!...
Hai!...”
Con mẹ mày! Nữa đi! Tôi nghiến chặt răng để nuốt đi sự bất lực
gần như tuyệt vọng... Một! Không để cho thằng đồ tể kia đếm tiếp đến tiếng sau
cùng, vẫn với hai trái dự án láng nắm chặt, tôi vận sức dùng cả hai tay đấm mạnh
nắp hầm lên. Một vuông sáng táp vào mắt chói loà. Chỉ chờ có thế, tôi vươn tay
tung mạnh hai trái tạc đạn có sức công phá dữ dội sang hai bên, về phía những
thằng người có lẽ đang đứng ngồi lố nhố trong cảm nhận trực giác rồi tung người
vọt lên theo...
Tôi chạy giữa đất trời nắng gió chan hoà... Trong cái trạng
thái cuồng nhiệt đó, tôi vẫn còn kịp nhìn thấy những thằng người màu xám chì hoảng
loạn giạt ra, rẽ ngược, kêu thét, lăn lông lốc, bẹp xuống... để tránh xa cái chết
từ hai khối tròn lành hiền đang lọc cọc lăn tới. Lựa cái thế thông thoáng nhất
thời đó, tôi phóng giò chạy thêm được mươi bước nữa rồi mới chịu nằm xuống, để
mặc cho thân thể gần như tung lên khỏi mặt đất trong một sự hứng khoái khác lạ
do hai tiếng nổ chát chúa vừa tạo ra. Đất đá bay như ngày tận thế, không gian
mù mịt khói vàng, khói xanh, khắp mọi nơi khét lẹt mùi pháo đêm giao thừa. Ngon
rồi! Ít nhất cũng đốn gọn dăm con. Tôi hét lạc giọng trở lại: "Lên lẹ đi
Sương ơi!...” rồi lao người ra khỏi chỗ trống, nơi rất dễ hứng đủ đạn của đối
phương một khi chúng tỉnh lại. Trước lúc chạm được bìa suối, kỳ lạ, cái tôi
nhìn thấy cuối cùng không phải là em mà lại là một khuôn mặt quen quen, trẻ
trung đeo kính trắng trong đội hình chúng nó đang la hét nhau lồm cồm chồm dậy.
Anh ta là người duy nhất đủ điều kiện để kịp rê mũi súng bám theo tôi nhưng
không hiểu sao, do khói đạn hay đất đá bay lên che chắn, khi bốn mắt đụng nhau,
cái họng súng toang hoác đen ngòm kia lại từ từ hạ xuống?...
Từ hầm đến suối chỉ ước chừng hai trăm mét. Chạm suối rồi, lợi
dụng một bụi tre gai xoắn bện đạn bắn cũng không lọt qua, tôi thảng thốt đôi mắt
lại tìm em... Trời! Em kia rồi! Sương của tôi kia rồi! Em mới vừa lên khỏi hầm
và đang cố gắng lao về phía tôi.
Cái dáng người nhỏ nhắn trong bộ bà ba đen lúc ẩn lúc hiện
trong đám khói đang tan loãng như bay như lượn, tóc xoã tung, hai ống quần giạt
về sau đập phần phật... Và khẩu súng nhỏ xíu trên tay em thỉnh thoảng lại nảy
lên một phát đi đâu đó như cô nữ sinh tinh nghịch đang bày trò chơi trận giả với
đám con trai. Lồng ngực tôi muốn vỡ tung trong nỗi vui sướng và lo sợ đến tột
cùng. Đội hình chúng chưa hoàn hồn, em còn có thể chạy được nhưng mà nhanh,
nhanh nữa, thật nhanh lên mới được! Và bắn, bắn mạnh vào, cứ nhác thấy thằng
nào đang chĩa súng vào em mà bắn! Trời ơi!...Kìa! Phải chạy dích dắc chữ chi chứ
ai lại cứ lao thẳng thế! Hay lắm! Cố lên! Ráng lên! Sắp tới rồi. Năm chục thước...
bốn chục thước... ba mươi lăm thước... Ba mươi... Còn một đoạn nữa thôi. Nào, sắp
tới rồi. Anh đang ở đây. Sang được bên kia bờ, lẩn vào ruộng mướp đắng bạt ngàn
thì có mà trời tìm...
Nhưng tất cả đều đã không kịp! Chính cái gấu quần bà ba gợi một
nét lãng mạn ấy đã hại em. Em đã không kịp xắn lên, dưới đó tôi đã quên không
nhắc em xắn lên, để bây giờ sức lực con gái yếu mềm, em đã không kịp nhảy tránh
cái gốc tầm vông tệ hại chìa ra cản đường, đã không kịp làm gì cả... Sau một tiếng
soạt não nùng, thân thể em đang bay là là đến cõi sống bỗng đập mạnh người xuống
đất, khẩu súng văng bắn sang bên... Khi em trở dậy được thì hàng chục mũi AR15
và đế giày bốt-đờ-sô đen trũi đã bao quanh mất rồi!...
Hộc lên một tiếng đau đớn, tôi dằn mạnh trán xuống đá sỏi để
biết rằng đó là sự thật, là mình đã hoàn toàn bất lực. Cái sai lầm thứ hai của
tôi lại nằm chính ở chỗ đó. Giá như cái lúc vừa nhìn thấy em vật xuống, tôi phải
bung ra, phải la hét, phải ào tới đỡ em dậy, nhặt lấy cây súng của em, phải bắn
chí chạp về mọi phía, thậm chí phải chạy ngược lại để thu hút hoả lực của
chúng, làm chậm bước xung phong của chúng và như vậy biết đâu sẽ kịp cho em vọt
qua được bờ suối bên này, rồi cùng lắm có hy sinh thì hy sinh cả hai. Vậy mà
tôi vẫn nằm im, mắt mở thô lố, lầm rầm tin ở một phép lạ nào đó sẽ đến cứu giúp
em, sẽ sà xuống đỡ nâng em ra khỏi cái vòng tục luỵ. Khốn nạn!... Khi tôi mở được
mi mắt nhức bỏng ra thì em đã bị trói giật cánh khuỷu lại rồi. Những báng súng,
những đế giày, những tiếng gầm rít hận thù cứ nhằm cái thể xác mảnh mai của em
mà đổ ập xuống, nghiêng ngả... Lần này thì trái tim rách nát của tôi không còn
chịu nổi nữa, không thể tin vào một cái gì khác ngoài mình nữa, tôi quyết định
lao ra đấm đá, phanh đập, cắn xé bằng bất kể thứ gì, sẽ trả lại vào thể xác
chúng tất cả những gì em đã phải nhận nhưng... từ khuôn mặt sưng húp, đầm đìa
những máu, một tia sáng còn sót lại trong mắt em hướng về tôi, ngăn cản tôi, vừa
khắc khoải van nài, vừa nghiêm nghị đến rợn người. Chính cái tia sáng thôi miên
đượm vẻ đau buồn đó đã làm tôi tê dại hoàn toàn. “Anh không được ra, không có
quyền ra, nếu thật lòng thương em, anh hãy chạy đi, hãy trả thù cho em! Em yêu
anh! Xin vĩnh biệt anh!...”.
Vừa lúc các làn đạn nhọn, đạn cầu vồng và cả những bóng xám
nhằm thẳng vào tôi phóng đến...
Ba ngày sau, mặc kệ cho nhiều người can gián, mặc kệ cho chiếc
điện đài PRC25 đã nhắc nhở tôi ít nhất là hai lần phải có mặt đúng ngày trên phòng
chính trị phân khu, mặc kệ cho tâm trạng đang rơi vào khoảng chán ngán, bã bời,
thấy mọi sự ở đời đều vô vị, vô nghĩa và vô cùng, tôi vẫn quyết định nán lại để
đi lấy xác... không, ai cho mày lấy? Đúng hơn là đi cướp xác em.
Cơ sở mật báo ra xác em đang bị chúng phơi trên mặt lộ, giữa
ngã ba chợ đông người để răn dạy, để trả thù những tên phiến Cộng khác còn đang
ẩn nấp ở trong rừng rắp tâm phá hoại hiệp định Hoà bình mà cả bốn bên đã ký kết
một cách rạch ròi, nghiêm túc.
Chao! Kể lại cái đêm đi cướp xác này lại cả một đoạn đường
thê thảm mà tôi không muốn nhớ lại nữa nếu như không có cái chuyện hoang đường
về người đàn bà bí hiểm kia ám ảnh. Chỉ biết rằng, nhờ có lực lượng của Tuấn
(thực chất tôi đâu có còn là chỉ huy, là quân số của đơn vị nữa) tình nguyện hỗ
trợ, mặc dù tôi muốn thực hiện một mình như hoàn tất một hành vi cá nhân, một
trách nhiệm tình cảm hoàn toàn riêng tư. Sau đó có một đêm chúng tôi đã mang được
xác của em về rừng. Trận ấy chỉ một mình em là ngã xuống và lúc đó, em không
còn là em nữa. Sưng tấy, rách nát, bầm máu và bắt đầu đã có mùi hôi khẳm...
Trong trời đêm địch hậu lất phất mưa bay, ôm xác em gói tròn trong tấm nilon dã
chiến, mắt tôi khô cạn, không dám nhìn sâu vào cái vật thể mới cách đây có mấy
chục tiếng đồng hồ đối với tôi còn là tất cả! Trời!... Con người ta khi sống
sao nhiều buồn tủi, khổ đau lẫn thật nhiều trăn trở mà khi chết lại ngon lành
nhẹ thỏm, lại chỉ còn lại một đống những thứ bùng nhùng như thế này thôi ư?
Chúng tôi âm thầm đào hố chôn em ở bìa rừng. Bẻ một cành bằng
lăng làm dấu xong, lợi dụng bóng đêm còn đang chìm sâu thẳm, lợi dụng cả tình cảm
của anh em trước nỗi đau thống khổ của mình, tôi đưa nòng súng AK lên trời nã đủ
một băng. Ba mươi mốt viên đạn mang theo ba mươi mốt phần máu thịt của tôi xé lửa
vào không gian im lặng...
Sáng hôm sau, uống với đồng đội mỗi người một nắp bi đông rượu
nhạt, tôi thất thểu như kẻ mất hồn theo giao liên về nơi có một cái án kỷ luật
đang chờ. Và để lại đằng sau một cái án số phận đã được thực hiện xong theo lời
tiên đoán của Viên - Em đã chết trước tôi.
CHƯƠNG 14
Chuông đồng hồ treo tường gõ chín giờ. Tôi tiến lên một bước nữa,
vẫn chỉ nhìn không nói. Chắc cái bản mặt tôi khi đó nhìn lạnh lẽo, cô hồn lắm
hay sao mà toàn thân người đàn bà bỗng chao đi, rùng mạnh nhưng vẫn không đứng
lên, đôi mắt đen im lặng cũng nhìn tôi trân trân trở lại. Trời ơi, đôi mắt! Nó
giờ đây đã kiêu sa, từng trải lắm nhưng dù có ai chọc cho nó mù loà đi, nung
cho nó nát bét ra thì tôi vẫn không thể không nhận ra vẫn là chính nó.
Nhớ chờ em nhé!... Cái tia sáng non nớt chắt ra từ mắt em
sáng hôm đó làm sao có thể nhấn chìm đi được?
Biết rằng nếu bước thêm một bước nữa, con người đang cố làm
ra cái bộ điềm tĩnh, bề trên kia sẽ chuyển mình thét váng, tôi kịp dừng lại, kiếm
một chiếc ghế đối diện ngồi xuống:
- Vâng! Bà đoán đúng thưa bà giám đốc. Vẫn là cái chuyện lầm
lẫn đáng xấu hổ đó - Tôi không nói giọng Nam nữa mà trở về cái tiếng nói năm
xưa quen thuộc của mình - Và hy vọng rằng, tôi quả tình là lầm lẫn thật như vậy
tốt cho bà và tốt cho cả tôi hơn.
- Ông nói gì tôi không hiểu?
- Cũng mong rằng bà không hiểu.
- Kỳ cục quá! - Bà ta đứng dậy, đôi lông mày được tỉa rất đẹp
cau lại - Tự dưng đêm hôm ông tới đây rồi nói với tôi những lời lạp xạp là tại
sao?
- Xin lỗi bà - Tôi cũng nhẹ nhàng đứng dậy - Bởi vì không còn
một cách nào khác. Tôi là một linh hồn vất vưởng, một tấm thân tàn tạ, gặp được
bà khó lắm. Gặp được rồi, tôi chỉ muốn thông qua bà, rất nhanh chóng thôi, để
tìm hiểu một sự thật. Xin bà cứ tin rằng sự có mặt đột ngột của tôi là hoàn
toàn thiện chí. Tìm được, tôi sẽ đi luôn và không bao giờ quay lại.
Có vẻ không chịu nổi cái nhìn căng thẳng đến mê dại cảu tôi,
bà ta chớp chớp mắt như bị chói nắng rồi bối rối nhìn xuống, tiếng nói mềm mại
lại, hơi rung lên ở âm tiét cuối:
- Thôi được! Đã đến đây rồi, mời ông cứ ngồi chơi, rồi chuyện
xảy ra như thế nào, ông có thể kể lại cho tôi nghe. Nhưng xin nhớ cho là tôi,
xin lỗi, có rất ít thì giờ. Ông uống gì tôi pha? Trà hay cà phê? Nhìn ông, tôi
cũng biết ông là người lương thiện đang có nhiều tâm sự uẩn khúc.
Tôi chợt thấy hoang mang. Chả lẽ cho đến tận lúc này, chỉ có
hai người trong tư thế mặt giáp mặt mà bà ta vẫn đủ trầm tĩnh để giữ được cái lối
nói tỉnh uỷ đang tiếp dân như thế à? Hay là không... Kệ! Đã vào đến đây rồi, dù
thế nào cũng phải nổ súng. Nổ một lần cho mãi mãi.
- Cám ơn bà đã quá chu đáo. Song, cũng mong bà hiểu cho rằng,
hôm nay tôi đến đây thực lòng không phải để tâm sự. Tôi đến để được nhìn kỹ lại
bà một lần. Thật kỹ, thế thôi.
Vang lên một tiếng cười nhỏ trong cái miệng hơi héo héo:
- Ông kỳ quá! Ông làm như tôi và ông đang sống trong một tích
tuồng cải lương mùi mẫn không bằng. Mời ông hút thuốc đi, cứ hút rồi nhìn gì
thì nhìn. Nhìn kỹ coi tôi có phải con ngáo ộp hay một nhân viên tình báo, một nữ
phản gián có hạng không?
Lại một tiếng cười nữa, tuy có phần nhỏ hơn, chìm hơn. Cái cười
không để lộ ra chiếc răng lẫy bên khoé miệng như ngày nào. Đâu rồi? Nhổ đi rồi
à? Trám bạc vào rồi à? Mà sao có thể nói năng ráo hoảnh như thế nhỉ? Vô lý!...
Bậy! Không thể là ai khác được. Thì đấy, đôi mắt buồn buồn có dám nhìn thẳng
vào tôi, một lão già vô tích sự và quá ư đàn hiền đâu, trong khi cũng với đôi mắt
ấy, bà ta có thể khinh bạc nhìn thẳng vào hàng ngàn những khuôn mặt khác.
Thấp thỏm chưa thật tin vào cái nhận xét còn mang màu sắc vô
đoán ấy, tôi hạ nóng bắn thẳng một loạt đạn ria:
- Bà không phải là một cái gì hết. Đúng thế. Bởi vì bà chính
là Ba Sương. Y tá Ba Sương! Xã đội trưởng Ba Sương của ba xã vùng hạ lưu sông
Sài Gòn cách đây hai mươi năm.
Một thoáng xao động vút qua rất nhanh trong đôi mắt mở to, một
chút chuyển màu trên đôi môi không son phấn, một chút rung giật ở gò má phơn phớt
hồng... Tất cả những tín hiệu đó đã được thu nhận chuẩn xác vào con mắt một thời
là lính trinh sát nơi tôi. Lạnh lẽo, tôi bồi tiếp một loạt nữa:
- Bà có muốn nhận bà là Ba Sương hay không. Tuỳ! Đó là quyền
của bà. Nhưng tôi, tôi lại cần phải biết tại sao một xác chết đã chôn sâu ba
thước đất mà lại có thể còn sống lại? Hiểu cho riêng tôi, cho nỗi giày vò và ân
hận của riêng tôi. Ngoài ra không để làm gì hết. Vì rút cuộc, bà vẫn là bà và
tôi vẫn là tôi, xa lạ, tách rời, không quá khứ, không hiện tại, tương lai.
- Thôi đi! - Bất ngờ người đàn bà hất mặt lên đầy quyền uy và
khắc nghiệt - Sau một ngày làm việc mệt nhọc, lúc này tôi đang cần nghỉ ngơi.
Xin lỗi! Tôi không đủ thì giờ để ngồi nghe những lời nói rồ dại, ngớ ngẩn của
ông. Mà thực chất ông là ai nhỉ? Ông nhân danh ai, nhân danh cái gì để cho mình
được cái quyền đến đây hạch sách tôi? Cơ quan sắp đến giờ đóng cửa, ông nên đi
xuống kẻo nhân viên bảo vệ họ lên lại phiền. Mời ông!
Bà ta đi đến mở rộng cánh cửa, ra ý bảo tôi đi ra... Chà! Lại
những âm tiết cuối cùng rít lên khi xúc động. Lại còn tính mang bảo vệ, mang
công việc ra doạ nhau nữa kia đấy. Được! Trái thủ pháo hạng nặng tôi thủ từ nãy
không còn lý do gì nữa để không bung nổ. Cái giọt máu lính chiến còn sót lại
duy nhất ở một góc sâu kín nào đó trong cơ thể tôi bất thần chuyển động. Tôi lấy
chân đóng sầm cửa lại, dùng bàn tay hất mạnh bà ta về chỗ ngồi cũ rồi cười nhạt:
- Nếu giờ đây tôi buộc phải làm một cái gì đó thô bạo với bà
thì cũng là vì tôi muốn được dọn dẹp quá khứ cho thanh thản lương tâm. Mong bà
cảm phiền!
Nói rồi tôi từ từ tiến đến, hai bàn tay run run lên bần bật...
- Cái gì? Cái gì? Ông định làm gì vậy? Tôi sẽ gọi cảnh sát
ngay bây giờ - Bà ta nói và đi đến chiếc máy điện thoại đặt trên bàn.
- Có gọi ông giời! - Tôi đã nắm được một bên vai con mồi.
- Buông ra không tôi... Đồng chí bảo vệ đâu? - Tiếng gọi
không đủ to để bay được ra khỏi cửa phòng.
Tất nhiên là tôi không buông và cũng tất nhiên tôi phải nhận
một cái tát nảy đom đóm. Giọt máu man dại đã vọt lên đến đỉnh đầu, gào réo. Tôi
đẩy mạnh bà ta vào sát tường nói sít răng:
- Bà không dám kêu đâu, bà cũng không dám gọi gì hết. Nếu
đúng là bà thì bà đang làm một hành động khốn khổ là chạy trốn quá khứ. Kẻ chạy
trốn có mấy khi la làng. Bây giờ đến lượt tôi. Xin lỗi bà!
Rất nhanh, tôi đưa tay giật phăng mảnh áo màu hồng nhạt che
ngực con mồi. Vẫn chỉ là bề vỏ, tôi nghiến răng giật tiếp cái xu chiêng màu trắng
có thêu ren nơi mép vải... Một mảnh trăng sáng chói vỡ oà, vút mạnh vào mắt
tôi, quýnh quáng. Trời ơi! Vào cái tuổi này mà bà ta vẫn còn giữ được bộ ngực của
đứa con gái chớm bước vào tuổi dậy thì. Tôi bất giác nhắm mắt lại rồi bừng mở
ra ngay, sục sâu tia nhìn vào vùng ánh trăng bên trái... Sâu nữa, mò mẫm, dừng
lại, lướt đi... Rồi bùng lên một tiếng nổ khoái trá, sững sờ và buồn thảm. Nó
đây rồi! Cuối cùng rồi nó cũng hiện ra trước mắt tôi, đôi mắt lành hiền, nhỏ
xíu của con chim câu đang vỗ cánh chực bay lên ấy. Tôi lại nhắm mắt lại, toàn
thân lả đi trong cái cảm giác đến đích mệt mỏi và ê chề rồi để rơi người xuống
mặt ghế, mồm miệng tự dưng thấy khô khát lạ lùng. “Thôi, thế là có thể chết được
rồi!”. Trong đầu tôi vang lên một tiếng nói ngậm ngùi và có cả phần viên mãn.
Trước mặt tôi, đứng sát vào tường, toàn thân co rúm, hai bàn
tay lập cập cầm chiếc áo che ngực mà không đủ sức mặc vào, hai gò má xanh lượt,
mái tóc xổ tung. Ba Sương, vâng, từ bây giờ trở đi, tôi sẽ gọi là Ba Sương chứ
không cần phải gắn với một cái tên họ dài dòng nào khác, giương đôi mắt thất thần
nhìn tôi, con ngươi không động đậy...
Lạ lùng sao! Hàng ngàn những câu hỏi, hàng núi những ngạc
nhiên, day dứt muốn đổ ập xuống em, muốn nghiền nát em ra lúc này nhưng tôi vẫn
ngồi im, cười gằn và khốn nạn hơn nữa, đôi môi khô nẻ của tôi lại phải hứng đựng
cái vị mặn chát của hai dòng nước mắt đang lặng lẽ chảy xuống... Tôi khóc ư?
Sao lại khóc? Khóc cái gì lúc này? Hả? – Nỗi nhọc nhằn chất chứa gần mười sáu
năm qua đã chạm phải cái kíp nụ xòe của sự tủi hổ hôm nay, đột nhiên tạo thành
sự thèm khát thèm nóng bỏng chảy ngược chiều với những giọt nước mắt. Màu trắng
bờ vai, sức căng của cặp vú, nét rung của làn môi đã lôi ngược đầu óc tôi trở lại
cái buổi sáng ân ái, cái buổi sáng tình yêu và tình dục tưởng đã vĩnh viễn quên
đi. Không! Sao lại Có thể chết được rồi? Tiếng nói thứ hai trong tim tôi bật phản
trở lại. Như thế là em không chết. Tức là tôi không giết em, tôi vô tội, tôi trắng
án trong tòa án lương tâm, vậy thì tôi có quyền trở về với em, giữ chặt lấy em,
cướp lấy tình yêu một thuở và muôn thuở của tôi, nuốt lấy kỷ niệm vào họng, ngấu
nghiến, mãnh liệt, tươi nguyên như ngày nào, hơn ngày nào.
Tôi đứng dậy, chơi vơi và nóng bức, từng bước tiến lại những
cánh rừng quá khứ đang hiển hiện ở chân tường. Mắt tôi mờ đi, còn mắt em vẫn mở
to, kinh sợ và hình như có cả chờ đợi...
Đúng lúc đó, trong phòng chợt vang lên một loạt những tiếng cối
nổ chát chúa, hỗn hào. Cánh rừng tắt lặng. Tiếng cốt nổ biến thành tiếng đập cửa
dồn dập. Em vẫn đứng, bất động, mắt hơi ánh lên một chút mừng rỡ tê dại. Chính
cái chút ánh lên đó đã khiến cảm xúc nơi tôi cũng tê liệt theo. Tức là giữa tôi
và em không còn gì hết. Hoàn toàn xa lạ và ngăn cách hận thù, chỉ còn lại mối
quan hệ hình sự giữa hung thủ và nạn nhân. Tôi dừng lại, buông hai tay xuôi,
nghe máu trong người đang tháo chạy xuống chân.
Ổ khoá rung lên dữ dội, then cửa oải ra, gãy gục và liền đó
cánh cửa nặng nề bị bật tung. Thằng Phản ngực xuất hiện, cao một mét tám mươi,
nặng tám mươi kg, đứng che gần hết bề ngang cánh cửa. Bằng đôi mắt của kẻ sắp uống
máu người, nó nhìn xoáy vào tôi rồi nhìn sang bà chủ của nó... Rồi nó cất tiếng
cười gằn, man dại:
- A! Hoá ra lại là mày, thằng thanh tra khốn nạn! - Nó tiến về
phía tôi một bước - Thoạt đầu tao cũng chỉ nghĩ mày là một thằng ăn xin cao cấp,
ăn xin theo cái kiểu lên thẳng phòng các sếp đặt vấn đề tình thương yêu giai cấp,
lập trường dân tộc, lại nhân danh đồng chí, đồng đội nọ kia để moi tiền. Nhưng
cuối cùng - Hắn tiến lên một bước nữa và nắm lấy ngực áo tôi xoắn mạnh - Mày chỉ
là một thằng lưu manh đốn mạt, một thằng cưỡng dâm bẩn thỉu!
Búp!... Tôi chưa kịp hiểu gì thì toàn thân đã bị đánh bật vào
tường, đầu va cạnh cái kệ sách nghe đến cóc như vừa ăn gọn một viên đạn nhọn
vào đó, choáng lộng muốn xỉu ngay người xuống...
- Kìa!... Thôi, cậu Địch! Đừng...
Tôi nghe láng máng tiếng cô ta ở đâu đó... Say máu, thằng Phản
ngực tiếp tục ra đòn nữa, những miếng đòn xem chừng có vẻ quen thuộc như tôi đã
từng va đụng ở một nơi nào đấy, một thời nào đấy? Chát!... Mang tai tôi ù lên
và liền đó đã thấy mặt mình vập mạnh xuống nền nhà, chả hiểu máu hay nước mũi
chảy ra nhòe cả mắt. Ở cái tư thế thảm hại đó, tôi nhác thấy cái mũi giày nhọn
hoắt của hắn cụ cựa chuẩn bị văng ra... Chưa kịp tránh, mạng sườn tôi đã bị xoáy
mạnh rồi lật nghiêng, dường như nghe có cả tiếng xương gãy bên trong.
- Trời!... Tôi đã bảo thôi!
Tiếng đàn bà lại văng vẳng bên tai... Tôi biết đó là tiếng của
em, cố giương mắt để nhìn em nhưng không nhìn thấy gì cả, chỉ thấy loàng nhoàng
một màng đỏ che chắn.
- Mẹ mày? Biết thân chưa con!
Thằng Phản ngực chưa buông tha tôi, hắn rít giọng, nắm ngực
áo tôi dựng dậy như dựng một con bù nhìn rơm rách nát có đôi chân quờ quạng
không dính đất. Cái miệng có hàng râu như kẽm gai gí sát, bắn cả nước bọt lẫn
mùi men rượu, mùi cóc chết thum thủm vào mặt tôi. Hắn hỏi cô ta:
- Nó đã kịp làm gì em chưa?
Cô ta lúc này đã kịp mặc lại áo và mắt tôi cũng kịp nhìn thấy
cái đầu cô lắc khẽ:
- Chưa, chưa, thôi! Tha cho người ta. Ông không có ý gì đâu.
Ông lầm lẫn chút thôi. Tôi xin Địch...
- Tha này!
Một cú giơ-nu nhằm bụng tôi thúc mạnh. Ruột gan tôi lộn lên,
phèo phọt, vỡ nát... rồi ói ra một búng máu lẫn cả dãi đờm. Mẹ nó! Tôi thầm
nghĩ trong cơn mụ mị. Mình có phải trái banh đâu mà nó chơi đầu gối dữ vậy? Hà
cớ gì mà nó đánh mình mải miết như định trả mối thù ngàn năm thế nhỉ? Đây không
thể chỉ là đánh ghen, đánh trừng phạt những ai tính xúc phạm đến thân thể chủ
nó, đây là kiểu đánh cho chết, đánh để phi tang đi một cái gì. Phải chăng qua
vài lần đụng mặt, nó đã hiểu mình là ai? Mình lùng sục tới đây thực chất để làm
cái gì? Nó là ai? Thằng nào?... Cái mùi tanh nồng của búng máu nằm dưới đất xộc
lên khiến tôi tỉnh lại. Máu của tôi đang tràn ra ướt láng sàn nhà! Tại sao lại
máu của tôi? Cả cuộc đời binh lửa, tôi đã bị ai đánh đến nỗi bò lê bò càng, nhục
nhã như thế này đâu? Và tại sao nó lại đổ ở đây, giữa mùi bia rượu và mùi đàn
bà mà không đổ cùng với bạn bè trong những năm tháng oanh liệt ấy? Tại sao!...
Giọt máu nóng cuối cùng còn sót lại trong trái tim bệnh tật của tôi vỡ ra, nhớp
nhầy, xộc lên óc ngây ngất. Bằng một cố gắng cuối cùng của thói quen tự vệ đã bị
quên lãng, của một mẩu ý chí và tự trọng cuối cùng còn sót lại, vừa lúc cú đầu
gối thứ hai của hắn chực bay lên, tôi tựa lưng vào tường, lấy đà bật trở lại,
húc mạnh đầu vào cái hàm râu kẽm gai đen nhức đang chập chờn trước mắt... Một
tiếng cành khô gẫy rắc, lại một tiếng hộc tột cùng đau đớn của con heo lửng bị
thọc dao vào cổ họng. Thằng Phản ngực ôm mặt, dội ngược người trở lại, máu tứa
qua những kẽ ngón tay hồng hào có đeo nhẫn. A!... Thằng Mỹ đen, thằng Mỹ trắng
có cái dương vật thây lẩy to tướng đái vào mặt tôi dạo nào đang loạng quoạng!
Chết cha mày này!... Bằng một cú đá dữ tợn đột nhiên thức dậy sau mười sáu năm
im ngủ, tôi vận sức ở cả bắp vế, gân đít, thịt lưng bả vai, cần cổ... tung mu
bàn chân để trần, xương xẩu của mình vào đúng cái ám tượng thây lẩy giữa hai ống
quần bó chặt của thằng người không hiểu là quá khứ hay hiện tại kia... Sướng!
Nó rú lên, bưng chặt lấy cái của quý trời cho mà chắc về mặt kích thước ngang dọc
cũng không thua kém gì thằng Mỹ đen ấy, nhảy tưng người vào cạnh cửa rồi lăn ệch
ra sàn, đôi mông ngồn ngộn cứ nảy lên, quay đảo hệt một con đực đang nhập vào
cơn hưng phấn. Ấy thế mà cái giọt máu sát nhân lạc loài trong tuỷ sống tôi vẫn chưa
đông cạn, nó đòi được tồn tại nữa, thúc tôi nhào lên định kết liễu đời con đực
cũng bằng một ngón đòn thù hận ngàn năm vào yết hầu nhưng... cái vạt áo ký giả
khốn khổ của tôi bỗng bị níu chặt, rồi tiếng con đàn bà ướt sũng bên tai:
- Anh Hùng!... Tôi xin anh! Xin anh tha cho nó...
Khoái! Cùng một lúc tôi nhận thức được ba cái khoái. Thứ nhất,
trong suốt quá trình nó lê lết, hình như tai tôi chưa phải nghe một lời can
gián nào trong khi nó nện tôi thì lại văng vẳng nghe những hai lần. Như vậy là
tôi hơn nó một lần về mức độ thương xót. Hai, khi được can, tôi dừng liền. Tức
là tôi biết điều, tôi cao thượng hơn nó và giọt máu sát nhân ở tôi cũngnhẹ nồng
độ hơn. Và thứ ba là anh Hùng!... Khoái!
Kiệt sức, tôi rơi người ngồi bệt xuống nền nhà, ngay cạnh mấy
cái răng dính máu nằm nhớp nhua trong vũng nước đái vừa són ra của con bò cạp.
Tự dưng tôi bật cười, cười mà nước mắt trào ra... Ô hô! Hùng tha cho nó...xin
nó hãy tha cho Hùng... Quá khứ và hiện tại, hai thằng đàn ông, hai cuộc tình,
hai mạng sống hôi thối đều được xin tha! Khốn nạn! Tôi quay mặt lại... Trời!
Cái bản mặt tôi lúc ấy máu me chết chóc lắm sao mà vừa nhìn thấy, cô ta đã bưng
chặt lấy mắt, lùi bắn ra phía sau kệ sách? Kệ! Sợ cho sợ luôn. Cô đã ghê sợ tôi
suốt hai mươi năm nay rồi còn gì nữa? Có đúng không?
- Ba Sương! - Vẫn ngồi phệt dưới đất, tôi nói - Tóm lại em là
một con đàn bà độc ác, nếu không muốn nói là phản bội. Độc ác nhất trong mọi
con đàn bà độc ác. Trước đây mới chừng vài phút, tôi cầu mong em còn sống để gạt
bỏ được mọi giày vò khổ sở đeo đuổi tôi bao năm nay và cũng bởi vì tôi còn...
còn... Nhưng bây giờ, sau khi biết được mọi sự thật, tôi lại tiếc rằng tại sao
em không chết đi, chết hẳn đi trong cái buổi sáng ma quái ấy - Tôi đứng dậy,
xiêu vẹo bước ra cửa, chân không giày dép - Bây giờ mới là hết. Hết thật sự. Hết
quá khứ, hết những năm tháng trận mạc khổ mà vui, hết tình yêu, tình đồng đội
và cả tình đồng chí. Hết nhẵn! Tựu trung mọi sự chỉ là trò đùa của quỷ. Để
không bao giờ gặp lại, em có thể yên tâm một điều: Sự bí mật về đời em, dù hiểu
theo khía cạnh nào đi nữa, cũng hoàn toàn được chôn chặt. Xin hứa lời hứa danh
dự của người... đã chết. Bởi vì chả để làm gì cả. Chào bà giám đốc, chúc bà gặp
được nhiều tốt lành trong cuộc đời chắc là rất ít tốt lành này.
Tôi đóng sầm cửa lại. Cái tôi nhìn thấy cuối cùng trong phòng
là một đôi mắt mở to, mọng nước, khắc khoải nhìn theo...
Trong các bạn đã có ai nếm trải một lần thất tình? Thất tình
với một người đàn bà mà mình yêu thương hơn cả cuộc sống? Tôi đang ở trong tâm
trạng ấy. Đau hơn tâm trạng ấy.
Vì lẽ tôi không chỉ mất riêng một người đàn bà, mất riêng chỉ
một tình yêu. Lòng dạ trống rỗng, đầu óc chơi vơi, chân bước thập thững trên hè
phố về đêm, bỗng nhiên tự trách mình sao không đi tìm em, gặp em từ trước, từ
cái thời còn đang xênh xang trong cái ghế bao người thèm ước của một nhiệm sở
quan trọng để bây giờ, thân tàn ma dại rồi mới lại gặp em! Trời già quỷ quyệt.
Số phận cợt đùa!
Đường phố lúc này đã thưa thớt bóng người, bóng xe qua lại. Từ
bến sông, ngọn gió thổi dọc theo hai bên hè, thi thoảng dừng lại ngả ngớn ở các
ngã ba, ngã tư, ở các cây trụ đèn, góc rẽ.
Một chiếc xe đạp phanh kít trước mặt tôi rồi tiếp đến một giọng
nói lễ độ đến mủi lòng: Chú Hai về đâu để con chở, chú Hai?
Tôi nhìn lên: Một thanh niên có nét mặt khôi ngô, nhẹ nhõm
đang nhìn đau đáu vào tôi, đợi chờ...
- Cám ơn! Tôi đi... Đi dạo bộ thôi. Cảm phiền nghe!
- Dạ! Không có chi. Con đi, chú!
Anh con trai chao người đạp đi, cái màu trắng của chiếc sơ mi
còn vương vãi trên mặt đường nhập nhoà tối sáng. Chao! Nếu cuộc đời không còn
chỗ dung thân tạm gọi là yên hàn nào nữa, sắm một chiếc xe tàng tàng rồi tối đi
mời chào khách vãng lai như cái cậu có vẻ là sinh viên đi kiếm tiền học thêm
kia cũng được chứ sao. Giống như ngày nào sau cái lần xin từ chức và nói năng
quyết liệt bị người ta đẩy lên rừng già phụ trách trồng cà, trồng bí, mình chả
đã ao ước được trở thành một anh chàng người Thượng, lấy một cô vợ người Thượng
và đẻ những đứa con người Thượng để rồi cũng xong một đời người đó sao?
Một chiếc hon đa cúp giảm tiếng động ngay phía sau lưng tôi rồi
dừng hẳn lại... Tôi giật thót. Chết mẹ! Coi chừng bọn đàn em thằng Phản ngực rượt
theo đánh đòn thù? Theo phản xạ bản năng, tôi vội dé chân chèo bước xuống lòng
đường... Không phải! Đằng sau quầng đèn pha xe máy là một khuôn mặt con gái rực
rỡ phấn son.
- Anh Hai!...
Cô gái bước xuống xe, tắt máy, gọi khẽ. Đang u uất, cho rằng
đây lại là một ả giang hồ cỡ trung lưu đi kiếm khách làng chơi, tôi gắt xẵng:
- Hai, ba cũng vậy thôi. Tôi đang bận. Tôi không có tiền.
Bật lên một tiếng cười trong vắt, ắp đầy nữ tính:
- Ơ hay! Em có đòi tiền nong gì đâu!
- Không cũng vậy mà có cũng thế - Tôi trở giọng nói mát - Xin
lỗi! Cô nhầm đối tượng rồi cô bé xinh đẹp ạ!
- Xinh đẹp nữa kia à! Ác nhỉ? - Lại khúc khích - Anh Hai thử
nhìn kỹ lại em út một lần coi em có phải là cái loại gái ấy không?
Tôi miễn cưỡng nhìn lên và lần này thì nhận ra đó chính là cô
bé nhồm nhoàm húp hủ tiếu sau cánh cổng sơn nhũ hồi chiều. Trong tôi bỗng gợn
lên một điều gì đó mơ hồ, nhột nhạt. Tôi hỏi phập phồng:
- Xin lỗi!... Có việc gì thế?
- Anh quên cái chứng minh thư và đôi dép. Cô Tư nói em đuổi
theo đưa lại.
- Chỉ vậy thôi?
- Chứ còn gì nữa? Anh Hai còn quên thứ gì nữa à? Tội nghiệp
hôn! - Rõ ràng là trong giọng nói có cả cái cười nụ ẩn núp.
- Không... Không quên cái gì hết và nói chung - Tôi bỗng gắt
lên - Là tôi không quên cái gì cả. Cả đôi dép và cái chứng minh vô tích sự này.
- Ý! Sao lại thế anh Hai?
Tôi cười chua chát, tiếp tục bước đi. Thì ra là thế. Chỉ là
thế. Vậy thì hà tất chi mà lại không phải chính bà ta mang ra? Nghĩ được điều ấy
trong đầu, tôi mới chợt nhận ra rằng, suốt từ lúc bước ra khỏi căn phòng đó tới
giờ, tuy làm bộ không cần gì hết, không thiết gì hết, nhưng tại một góc nào đó
sâu lắm trong lòng, tôi vẫn thắc thỏm thèm vô vùng một tiếng gọi da diết của bà
ta ở đằng sau.
- Tối nay anh Hai tính nghỉ đâu? - Lần này cô gái hỏi với vẻ
thành thực và vẫn dong xe đi bên cạnh tôi.
- Bến tàu, nhà ga vỉa hè, mái hiên, công viên... Bất cứ chỗ
nào.
Im lặng giây lát, cô nói tiếp:
- Nếu có thể được, em xin phép được mời anh Hai vô nhà khách
hay một hotel nào đó nghỉ ngơi, tắm giặt. Lên xe em chở đi!
Hơi bị bất ngờ, tôi dừng lại, nhìn sâu vào mắt cô ta để mong
tìm được một ẩn ý gì trong đó... Tuyệt nhiên không! Chỉ có một nét mặt và ánh mắt
chân thật, hồn nhiên.
- Xin lỗi cho hỏi một câu: Cô mời hay bà giám đốc của cô?
- Trời! Câu nệ chi anh Hai! Ai mời chả vậy. Ít nhất tối nay
anh Hai cũng là khách của sở, khách của bà giám đốc. Hồi chiều, chính anh Hai
chả nói thế là gì. Thôi lên xe đi, anh!
- Cám ơn! - Tôi lắc đầu - Nhờ cô về nói lại với giám đốc của
cô rằng, tôi rất cám ơn nhưng cái đời nằm võng ở rừng ở rú quen rồi, nằm khách
sạn không hạp.
- Không - Cô gái bỗng xị mặt - Hổng có cám ơn gì hết. đây là
nhiệm vụ của em, chức trách của em, làm không tròn, em sẽ bị quở trách, bị phê
bình, thậm chí bị... cho thôi việc.
- Cha! Bà thủ trưởng của cô dữ thế kia à?
- Ừa! Dữ lắm đó! Anh Hai không chịu, em theo đến sáng luôn.
Nhìn cái miệng cô ta trề ra, cái mũi chun lại, dù biết đấy chỉ
là cách thức nhấn mạnh thái độ, tôi cũng bất giác bật cười. Thôi thì cũng chả
nên cố chấp làm gì, một liều ba bảy cũng liều, nhân cách đã xuống tới đáy rồi,
có gồng lên thì vẫn là đáy mà thôi. Vả lại, cũng mệt mỏi quá rồi. Những cú đòn
huỷ diệt của thằng cha kia đến lúc này mới ngấm. Tôi cần ngủ, cần lót bụng cái
gì một chút, cần hạ tấm lưng đau nhức xuống rồi sau đó điều gì sẽ xẩy ra, kệ mẹ
nó.
Tôi lóng ngóng xỏ đôi dép vào chân và ngồi lên sau xe. Chắc
giống một ông bố già ở quê ra tối nay được con gái rong đi chơi phố phải biết.
Trong phòng ăn tầng hai ở một khách sạn bảy tầng.
Trên mặt bàn trải khăn trắng trống trơn không có một thứ gì
ngoài mấy cái bát, mấy đôi đũa, tập giấy thơm lau tay và cái ly thuỷ tinh nhỏ đựng
một thứ rượu gạo trắng nhờ.
- Bữa nay đãi anh Hai món đặc sản miền Tây, thứ đặc sản chỉ
dùng để tiếp thượng khách. Mong anh Hai nhậu thiệt tình.
Đâu? Đặc sản miền Tây đâu? Thiệt tình, thượng khách gì đâu mà
ngồi cả tiếng đồng hồ rồi vẫn không thấy gì hết trơn. Chà! Giá lúc này mà được
một tô cơm tú ụ với khúc cá kho tiêu, dăm quả cà muối xổi, bát canh chua thì tốt
biết bao! Húp sì soạt, nhai rau ráu một chập là xong có phải khoẻ không, cần
chi cứ phải là đặc sản với đặc...nhiệm. Cách rách quá! Vậy mà vẫn phải nán ngồi,
che miệng ngáp mà ngồi, gượng ho gượng cười, gượng cả cơn đau đang dội len từ bốn
phía thân xác mà ngồi. Cứ ngồi để thử xem sau cái trò này là cái gì? Biết
đâu... Vâng! Biết đâu người đàn bà ấy sẽ... Sẽ gì? Sẽ gì chính tôi cũng không
rõ nữa! Chàng màng hy vọng và chàng màng đợi đón, thế thôi.
Rút cục là cô ấy đã không chết, không chết trước tôi như lời
thằng Viên đã tiên đoán, và tôi, tôi cũng chả chết chóc gì cả như câu rủa của bạn
bè trong rừng. Hay là tôi đã chết, cô ấy cũng đã chết? Chết dần chết mòn, chết
mà không biết mình chết? Phì...
Khẹc!... Tôi giật nảy người bởi một tiếng rắn hổ phi ngay dưới
chân. Nhìn ra đã thấy một gã trai nửa già nửa trẻ, cao lòng khòng, cái đầu cũng
nhọn như một con rắn đang khật khưỡng bước tới.
Điều đáng nói là hai bàn tay sần sượng vết răng rắn độc của
gã liên tục đưa lên tát trái tát phải vào hai mang tai một con rắn hổ dài chừng
một thước đang vừa khẹc ghê rợn vừa bò quằn quèo trên sàn nhà, tiến sát về phía
chân tôi. Khẹc!... Khẹc!... Con rắn bị đau càng khẹc to, cái lưỡi nhọn hoắt
nháy ra nháy vào như tia lửa hàn xì. Tôi bất giác co chân lên
Cô gái cười to và xua tay:
- Thôi đi ông! Biểu diễn vậy đủ rồi, ớn thấy mồ!
- Em đâu có tính biểu diễn - Gã trai vừa đánh tay chậm lại vừa
càu nhàu cãi - Em đánh vậy để phân nó dồn xuống dưới đó chớ.
Nói rồi, chừng như đã thấy đủ, gã nắm nhẹ cổ con rắn lên, để
mặc cho thân hình nhầy nhụa của nó cuộn chặt vào bắp tay. Bắp tay đen, thân rắn
đen, giống hai con rắn cuộn nhau. Cùng lúc một cô gái vận mini juýp trắng từ
đâu đó bước ra với một cái thớt xinh xắn và con dao sáng bạc trên tay. Thành thạo
và dẻo quẹo như một nhà ảo thuật đao phủ, rất nhanh, gã kê ngay cái đầu rắn
đang ngáp ngáp xuống mặt thớt và... Bụp! Cùng lúc với cái cục tròn nhọn gớm ghiếc
lăn xuống sàn nhà, gã dốc ngược cái cổ cụt ngấc của con rắn vào miệng ly rượu.
Huyết rắn chảy ra, từng giọt tong tả đỏ tươi... Chỉ một loáng, ly rượu màu trắng
đã chuyển dần sang màu hồng. Ly máu! Chưa hết! Vẫn bằng con dao mà cô gái mặc
váy ngắn nhưng lại có cặp đùi dài giữ vai trò như một y sĩ tiếp dụng cụ đưa
cho, nhà giải phẫu ma quỷ nhứ nhứ định vị một chút rồi... Sụt! Hơi chếch xuống
dưới một chút cái đoạn cổ cụt của con vật, theo lưỡi dao tòi ra một trái tim thật
nhỏ màu hồng nhạt, có hai cánh rung khẽ. Trái tim rắn cũng được thả nốt vào ly
rượu. Máu và tim của một thể xác bắt gặp, ngào trộn, rủi bọt rồi lặng tờ chìm
xuống. Trái tim chết chìm trong máu. Kỳ lạ hơn, khi chìm đến đáy, nó bắt đầu đập
thoi thóp, thoi thóp khôn nguôi cùng với cái mình con rắn đang lặng phắc dần dần,
duỗi ra, mềm oặt.
- Đây chính là khách sạn của tỉnh do cô Tư chủ quản, đồng thời
cũng chủ trương xây dựng - Cô gái nói, mắt vẫn không thôi nhìn đăm đăm vào trái
tim rắn đang thập thõm. Anh chàng kia là ông thầy rắn thuê từ Minh Hải lên, mỗi
tháng trả hai triệu.
Dường như đã hoàn tất xong màn dạo đầu cụp lạc, gã ảo thuật
“hai triệu” cúi gập lưng chào tôi rồi đi xuống, vẫn khật khưỡng như lúc lên. Đến
lượt hai cô đầu bếp váy ngắn thi nhau băm chặt, xào nấu thi thể con vật ngay
trên cái bếp lò đặt chính giữa bàn. Và chúng tôi cầm đũa. Cần đến đâu, bỏ lò đến
đó. Thịt rắn mềm như thịt ếch, thơm như thịt chim mà lại dai như thịt bò. Đúng
là đặc sản. ấy vậy nhưng nhìn trái tim rắn đập thoi thóp trong lòng máu suốt bữa
ăn, tôi lại cảm giác mình đang nhai nuốt những miếng thịt người. Chao ôi! Cả
thân xác con vật đã biến thành những mảnh vụn trộn hành xả thơm tho, riêng trái
tim là vẫn chẳng chịu yên cho. Trái tim khổ đau, tan rã nhưng chưa được chết để
phải chứng kiến cái biến đi của toàn thể. Trái tim chết hai lần. Trong lòng rượu,
trong lòng cuộc đời, trái tim như nhỏ máu, như khóc than. Đôi cánh sen hồng nhạt
đập lả dần, lả dần... Và cho đến khi con người buông đũa không gắp vào cái phần
thân thể của nó nữa, trái tim mới lặng lẽ ngừng đập!
- Anh Hai uống đi! - Cô gái chỉ ly rượu - Cái này là thứ quý
nhất, bao giờ cũng thuộc về khách.
- Hả? - Tôi ngẩn người.
- Cả huyết, cả tim, bổ dữ lắm! Anh Hai đừng ngại, trái tim nó
đã được luộc chín tái rồi.
- Không! - Tôi đẩy ly rượu ra xa - Tôi không uống. Tôi không
phải là thượng khách và tôi cũng không cần là thượng khách.
Cô ta cười cười đứng dậy, lấy góc khăn chấm miệng:
- Tuỳ anh Hai! Nhưng dù sao nó cũng bị luộc chín rồi. Chín
tái. Nó chẳng bao giờ còn đập được nữa đâu, quên nó đi thôi đồng chí thanh tra
đa cảm ạ! Chúc anh Hai ngủ ngon! Sáng mai gặp lại.
Nói xong, cô ta ra quầy nói nhỏ cái gì đó với người cửa hàng
trưởng rồi hướng mặt về phía tôi, đưa ngón tay lên miệng bai và uyển chuyển đi
xuống...
Thất thểu trở về căn phòng có gắn máy lạnh, tôi không thể nào
chợp nổi mắt. Bữa tiệc rắn diễn ra quái dị và chóng vánh quá khiến tôi không kịp
hỏi, không kịp nói và cũng không kịp ăn gì cả, cái bụng vẫn đói nguyên. Chín
tái!... Cái gì chín tái? Rắn hay người? Trái tim tôi hay chính traí tim của người
đàn bà độc ác đó? Sao lại quên? Cô bé mặt trát bự phấn có cái cười bí hiểm định
nói điều gì trong cái trái tim rắn đập thắc thỏm tội tình suốt bữa ăn đó? Ả nói
hay ả nói lời của bà ta? Chín tái!... Ha ha! Trái tim chín tái, cuộc đời chín
tái, tình yêu chín tái, ráo trọi mọi sự trên đời đều chín tái hết. Khốn nạn!...
Sáng ra, cô hầu phòng có dáng người đẫy đà, ngực đùi căng
ninh ních đưa tôi một túi du lịch căng phồng, mới tinh, nói của cái cô gì tối
hôm qua gửi cho.
- Cô ấy đâu? Có... bà nào đi cùng không? - Tôi hỏi vớt vát.
- Dạ không! Cô đi một mình. Về lâu rồi.
Tôi lặng người đi. Thế là tia hy vọng cuối cùng trong tôi đã
lụi tắt. Bất thần lục túi xách không thấy có một mẩu thư nào, một lời nhắn gửi
nào, tôi quăng ráo trọi cả mấy bộ quần áo, cây thuốc, hai đôi dép, gói tiền,
chiếc đồng hồ mạ vàng... trở lại túi đồ.
- Cô bé! - Tôi nói - Cho cô. Của cô cả đấy. Coi như tôi cám
ơn cô đã tạo cho tôi một đêm ngủ ngon lành. Chào!
Để mặc cho cô gái đẫy đà dứng như trời trồng ở đó với chiếc
túi mang trị giá chục triệu đồng, tôi bước ra hành lang.
Đã sáng bảnh. Cái nắng sông Hậu vốn sánh vàng tươi rói mà sao
sớm nay lại có màu chín tái!
Khoảng tám giờ sáng thì bạn bè tìm được tôi ở bến xe tốc hành
về thành phố.
Từ chiếc LADA màu xanh dương nhảy xuống là một người đàn ông
to lớn, bệ vệ, chừng bốn mươi tuổi, bụng đã bắt đầu phinh phính, ria mép tỉa gọn,
đeo kiếng gọng vàng, mũ phớt, vận comple màu hạt dẻ, trông trẻ trung, sang trọng
hệt một chuyên gia Nhật Bản, Hong Kong hoặc Đài Loan mà gần đây họ đã bắt đầu
xuất hiện nhan nhản theo làn sóng đầu tư nước ngoài trên khắp các đường phố
phía Nam.
Anh ta đứng sững nhìn tôi. Tôi cũng nhìn lại anh ta, miệng
còn ngậm miếng xôi sầu riêng tanh ngóm và thoáng nghĩ rằng, lại thêm một đệ tử
nữa của cô ta hay gã Phản ngực đến tìm mình?
Nhưng hình như không phải. Gã người nước ngoài chất đầy một đống
hàng ngoại trên vai này từ từ tiến đến rồi bất ngờ dang hai cánh tay béo trắng
ôm ghì lấy cái thân hình bầm dập, hôi hám của tôi, miệng thốt được mỗi một tiếng:
- Thủ trưởng!...
Thủ trưởng nào nhỉ? Hay là ông ta nhầm? Mà lại nói quá sõi tiếng
Việt nữa! Đang ngơ ngác và ngượng cả với những người xung quanh đang ngoái lại
nhìn, Ba Thành đột ngột thò cái đầu bù xù ra khỏ buồng lái hét toáng lên, làm
như dây chính là vườn tược nhà nó.
- Ê!... Biết ai đó không?
Ai? Tôi quay đầu nhìn lại gã đàn ông quý tộc và lắc đầu, chịu,
không nhận ra? Thành xuống xe, bậm bạch đi tới, đứng chen vào giữa hai người,
thấp củn, giọng vẫn oang oác:
- Chưa hả? - Hắn giật mạnh cái mũ trên đầu gã đàn ông, để lộ
ra một cái trán đẹp nhưng hơi hói - Ra chưa?
- Cũng thấy quen quen... Tôi nói.
- Đ. mẹ! Thằng Tuấn đó chứ ai.
Trời đất! Tôi trố mắt. Thằng Tuấn! Thằng Tuấn mà lại thế này
ư? Chả còn một chút gì bóng dáng của một thằng Tuấn quần xà lỏn năm xưa nữa cả!
Dẫu rằng đã hình dung ra trước dáng dấp một ông chủ liên tổ hợp tư nhân ở nó
nhưng lúc này tôi vẫn bị quýnh quáng. Còn nó, nó lại đứng im phỗng sau khi rời
tôi ra, nước mắt lưng tròng:
- Anh Hai... Em nghe anh Ba kể về anh nhưng tuyệt nhiên em
không ngờ anh lại đến... nông nỗi này! Hai mươi năm...
- Trông như cái thằng Bù Chao chốn lính ngày nào ở bìa sông hở?
Tôi cố nói một câu vui để tự che đi những giọt nước mắt của
mình cũng đang chực chảy ra.
- Tóm lại - Tiếng Ba Thành - Đi suốt đêm, sáu giờ sáng bọn
tao mới tới đây. Kéo luôn đến sở nông lâm tìm mày. Một con nhỏ mông núng nính
nói mày đi rồi và nghe đâu, trước khi đi mày còn cho một thằng to con nào đó rớt
ba cái răng xuống đất thì phải. Ngon! Phải vậy chớ! Thỉnh thoảng cũng nên vung
tay vài cái cho chạy máu, cho mấy thằng ăn cháo đái bát hôm nay đừng quên rằng
nhờ ai mà chúng trơn lông đỏ da như thế. Ngứa mồm, bọn tao hỏi thăm luôn mụ
giám đốc. Con nhỏ cũng bảo bà đi họp rồi. Mẹ! Bộ cứ giám đốc là hổng biết làm một
cái gì khác ngoài họp à? Bộ tưởng rằng cứ họp là sẽ thay đổi được số phận dân tộc
à? Còn khuya! Nhưng giám đốc cũng kệ cha hắn, bọn tao chỉ muốn ngó qua cái mặt
của nó chút xíu coi yêu quỷ cỡ nào mà làm cho mày khốn khổ khốn nạn dữ vậy.
Đang nói ào ào, hắn đột nhiên chững lại, hai vai nhún lên rồi
hạ xuống như lão gà Tây già - Chết mẹ! Còn cái này nữa. Bất lịch sự với bạn bè
quá! Đi! Đi ra xe, xem mày có nhận ra ai đây không?
Ai? Chả lẽ lại một thằng đơn vị còn sống đi tìm tôi nữa. Thằng
nào?... Nhưng rút cuộc chẳng phải thằng nào cả mà trước mặt tôi, ngồi trong xe
là một người đàn ông ngoại quốc già, quần bò, áo sơ mi nâu bình dị, cả tóc và
râu đều bạc trắng.
- Một người Mỹ à? - Tôi hỏi.
- Sao mày lại biết là Mỹ?
- Đánh nhau với chúng nó mãi, chỉ cần ngửi hơi cũng biết.
- Thằng này khá! Nhưng mà mày biết thằng đó không?
- Buồn cười! Làm sao tao có thể biết được.
- Thôi được rồi, vào xe để tránh thiên hạ dòm ngó đã, tao sẽ
nói.
Chiếc xe do Tuấn lái đi được một đoạn ra hướng bờ sông, ba
Thành gần như ngồi xổm lên đệm xe, tay vỗ vỗ vào vai người Mỹ bồm bộp:
- Thằng cha này tên là Giôn, đúng không? (Người Mỹ cười hiền
lành, gật đầu) Thằng Hùng! Mày có nhớ trong chiến dịch Mậu Thân đợt ba, nửa đêm
mày còn dẫn xác lên tao hỏi thăm thằng Tám Tính chết thật hay chưa?
- Nhớ!
- Thằng Tám lúc ấy cáng đi rồi, nhưng thay vào chỗ nó là một
thằng Mỹ vừa ôm dái vừa la khóc câu gì, nhớ không? Câu gì ấy nhỉ? ờ, ờ... Câu
gì mà tao hỏi mày có biết tiếng Anh không, dịch cho nghe thử một cái vì nó la lối
suốt đêm nhức đầu quá, mày nói có biết sơ sơ, đại thể là ối giời ơi! Tôi mất
dái rồi! Tôi mất con c... rồi!...
- Ai-vơ-lôtx-mai-cớke! Nhớ rồi! - Tôi bật cười - Mai-cớớc-kờ!
Đúng không? Chính là người này đấy à?
- Hắn đấy! Cơơc-kơ! Ha! Ha! - Thành vỗ hai tay vào nhau cười
ha hả như đứa trẻ nít vừa tìm ra được cái gì lý thú lắm - Mất dái rồi!
Cơơc-kơ...
- Êm!... Lôtx-mai-cơơc-kơ! - Người Mỹ già cũng ngả người ra
thành xe cười to, cười rất lâu, cười ra cả nước mắt rồi trọ trẹ bắt trước tiếng
Thành - ối giời ơi!... Tôi mất dai rồi... Mất rôi!
Tuấn cũng cười. Cả xe cười nghiêng ngả, tôi cũng gượng cười
theo. Một chút nữa thì Tuấn cho xe húc vào vỉa hề nếu không kịp đánh tay lái lại.
Một người đi đường chửi vóng lên: “Đ. mẹ bọn tham nhũng rửng mỡ!” Lại cười. Người
Mỹ cười to nhất và lôi chai Uytski nhỏ xíu ở trong túi ra, chìa cho mỗi người một
hớp. Ba Thành bá vai Giôn, nói:
- Thằng cha này có con giống ngon lắm! Vậy mà lại ăn đạn vào
cuống. Không biết thằng nào bên mình bắn độc thế? Có khi chính thằng Hùng cũng
nên. Tao nhớ khi băng cái củ ấy cho nó cực nhọc vô cùng. Khi băng, nó cương
lên, vòng quấn rất chặt. Đâu đó rồi, nó lại xẹp xuống, băng tuột trọi trơn. Đ.
mẹ! Băng đi băng lại hoài không băng nổi mà thằng chả lại cứ ôm cứng lấy rên rỉ:
“Cơơ-kơ... Mai-lôtx-cơơc-kờ!”
Lại cười rộ lên một chập rồi, có vẻ lõm bõm hiểu và nói được
tiếng Việt, Giôn chỉ sang tôi nói trọ trẹ:
- Ông nay là ai?... Tôi thấy ông buồn?
- Là ai hả? - Ba Thành trả lời - Người hùng của Vi-ci đó Giôn
ạ!
Người anh hùng hiểu chưa? Tay này đánh sập bộ chỉ huy chiến
đoàn 52 của các cậu đó. Năm hai, hiểu chưa? - Thấy vầng trán của người Mỹ nhăn
lại khó nhọc, Ba Thành huých vào hông tôi - Hùng! Mày dịch cho hắn nghe đi. Cho
hắn ngán.
- Chiên đoan năm mươi há? Tôi hiếu - Thấy tôi vẫn ngồi im lặng
phóng tầm mắt đi đâu, người Mỹ lên tiếng - Người hùng? Ô kê, tốt lăm! Tôi hiếu...
Xin hói ông Hung, ông đang... đang đau ốm à?
Tôi mỉm cười lắc đầu, nói một câu tiếng Anh tỏ ý xin lỗi. Và
chính Thành lại lanh chanh diễn giải, làm như hắn mới là người thông thạo tiếng
ngoại quốc ở đây:
- Tức là hắn bảo mày là anh hùng anh liếc gì mà trông thảm hại
thế? Tức là hắn muốn nói... Chúng mình cũng chịu chung hội chứng chiến tranh
tâm thần bấn loạn như chúng, đúng không? Hùng! Mày dịch lại cho cậu ta nghe: thằng
lính Việt Nam sau hậu chiến khổ thật, khổ như chó nhưng chả có tâm thần tâm thiếc,
sám hối sám hiếc gì cả. Nếu phải oánh nhau lại một lần nữa, vẫn oánh hết ga. Dịch
đi! Không họ lại thương hại mình. Ráo trọi những thằng tỏ ra sám hối, tỏ ra bệnh
hoạn đều là lính rổm hết, đều là nô lệ cho cái mốt đương đại hết, chúng nó chưa
bao giờ là một thằng lính thực thụ cả.
- Kìa! Anh Ba! - Tuấn nhắc và khẽ đưa mắt nhìn về phía Giôn.
- Ba, tư gì! - Ba Thành gắt và tiếp tục bốc máu như vẫn thường
bốc máu trong trường hợp đụng chạm đến cái bản chất của cuộc đời, của con người
tương tự - Thằng cha Giôn này dù sao nó cũng là một người lính thực thụ vì nó từng
bị thương, hết chiến tranh rồi, bây giờ hắn là bạn. Không một ai dễ chấp nhận kẻ
thù hơn là những thằng lính đã có thời nện chí chạp vào mặt nhau. Thoáng lắm!
Nhưng cũng không thể như mấy cha ở thành phố hay ngoài Hà Nội kia! Việc gì phải
xun xoe, phải xoắn vào, phải tâng bốc rằng cuộc chiến tranh nào cũng ghê tởm, rằng
suốt cuộc chiến tranh tôi toàn bắn chỉ thiên lên trời, rằng chúng ta, cả xâm lược
lẫn tự vệ đều là trò chơi của chính trị, đều là con vật của lịch sử... Nghe ngứa
cái tai lắm! Chúng muốn gì, những gã trí thức nửa mùa, những thằng cựu chiến
binh bàn giấy ấy? Muốn được một chuyến đi Mỹ à? Muốn tỏ ra mình là có tầm nhìn
nhân đạo toàn nhân loại à? Hay là đứng trước những kẻ giàu có bỗng thấy ngốt
người, thấy hèn cái đầu đi. Quan niệm của tao ấy à? Ngày xưa oánh nhau vỡ mặt,
bây giờ không oánh nữa thì là bạn, bạn sòng phẳng, đến nhà sẽ được tiếp đón cẩn
thận, nhưng dù muốn hay không, mi cũng phải nhớ rằng ngày xưa mi là thằng bại
trận. Có thế mới ngồi với nhau được. Có phải không Giôn?
Ba Thành quay qua Giôn cười hề hề. Giôn cũng gật đầu cười hề
hề:
- Phai rồi... Ngày xưa đanh nhau... Bây giờ là ban... Là bạn
đàng hoang! Thanh kiu!
- Cho nên - Thành nói tiếp - Tao chán, chán cái tư cách người
đời hôm nay, tao bỏ về nửa chừng. Hả? Bỏ về cái gì ấy à? Đ.mẹ, quên. Chả là có
cả đoàn cựu chiến binh Mỹ sang Việt Nam, mấy cha ở thành phố có biết tao đã từng
chữa chạy cho những thương binh Mỹ thời chiến tranh nên mang xe xuống rước tao
lên. Và gặp lại lão Giôn này ở đó. Vừa gặp tao, lão đã nói, tất nhiên là qua
phiên dịch: “Cám ơn ông! Tôi vẫn thường hỏi thăm về ông. Không có ông đốc-tơ kỳ
tài ngày đó thì tôi đâu còn có ngày hôm nay quay lại Việt Nam để tìm về kỷ niệm,
để đi tìm sự yên ổn lương tâm, biết ơn ông nhiều nhiều”. Có phải vậy không
Giôn? (Người Mỹ tru miệng, tròn mắt lắng nghe khó nhọc từng từ nhưng rồi cũng
hiểu chút ít, gật gật đầu). Tao mới nói: “Khỏi cám ơn! Tôi đâu có ý cứu ngài.
Đang đánh nhau hy sinh thấy mẹ, cứu ngài làm gì. Nhưng tôi cứu... con giống của
ngài. Cái cơơc-kơ đó. Con giống của ngài quả tình đẹp quá, giống ra giống nhé!
Tiếc thì cứu, thế thôi!”. Thế là hắn cười ầm lên, ôm lấy tao: “Tôi là một ký giả,
tôi đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng tôi chưa thấy ai nói một câu hay như
thế cả. Rất văn hoá, rất đàng hoàng, chỉ có những người lính chân chính mới có
được những suy ghĩ ấy. Tôi đã có hai con, một trai, một gái, con trai tôi đặt
tên là Thành để ghi nhớ công lao của ông. Cả nhà tôi đều hay nhắc đến ông. Rất
mong được một lần mời ông qua đó chơi ít ngày”. Nghe cũng khoái cái lỗ tai,
nhưng tao nói: “Tôi già rồi, yếu rồi, vợ con ngài có qua đây thăm tôi thì qua
chứ tôi chả muốn đi đâu hết. Qua đây, chính tay tôi sẽ nấu những món ngon nhất ở
Việt Nam cho mà ăn. Có phải không Giôn? (Người Mỹ lại tròn mắt gật đầu) Biết
tao với thằng Tuấn tính đi miền Tây tìm mày. Giôn cũng đòi đi, nói rằng có thằng
bạn đã chết ở vùng này, muốn đến thăm cảnh vật rồi về kể lại cho cha mẹ hắn
nghe! Đ. mẹ! Ba cái thằng cha Mỹ này cũng tình cảm ghê. Trong khi bọn mình ở
ngay tại chỗ mà bây giờ vẫn có những gia đình chưa tìm được mồ mả tung tích của
con em.
- Nói nhiều quá! - Tuấn trêu - Bây giờ đi đâu anh Ba?
- Đi ăn sáng. Kiếm một món ăn Việt Nam nhất đãi Giôn, cho thằng
Hùng ăn luôn, dòm nó như cái thằng chết đói mười năm vừa sống dậy, sau đó đưa
Giôn trả lại cho hội cựu chiến binh tỉnh rồi... tất cả hành quân lại sở nông
lâm.
- Cái gì? Tôi hỏi - Sao lại về đó?
Tuấn vừa lái xe chầm chậm vừa lầm rầm nói gì đó bằng tiếng
Anh với Giôn, và chắc là đang nói về tôi vì cứ thấy đôi mắt nâu của Giôn nhìn
tôi đăm đăm, đầu gật gật liên tục, thấy tôi hỏi bèn trả lời:
- Em nghĩ rằng, tại đó biết đâu sẽ phát hiện ra được một điều
gì đó người đàn bà kia? Nếu đúng là chị Ba thì có hoá thành quỷ cũng không qua
nổi mắt em. Còn nếu trật, mời anh Hai yên tâm trở về, nhậu.
- Không cần nữa đâu - Tôi nói âm thầm - Mình đã gặp rồi, gặp
kỹ rồi. Cô ấy đã chết. Hoàn toàn chết hẳn.
Vậy thì ô-kê! - Ba Thành vỗ đùi cái đét - Ăn sáng xong, ta bỏ
mẹ nó vùng sông nước nhạt hoét này, trở về rừng luôn. Nhân bảo như thần bảo mà:
việc gì qua cho qua, đừng đào mồ quá khứ lên nữa. Mà dù cô ta có sống lại thiệt
thì cũng coi như đã chết. Quên đi! Phải biết quên! Quên! Đó là biểu hiện nhảy vọt
về nhận thức, về tâm sinh lý của đám lính chiến ủ ê hay ngoái đầu gặm nhấm dĩ
vãng chúng ta. Tớ nói thế có phải không Giôn?
Chả biết có hiểu không nhưng bị hỏi bất ngờ, Giôn cũng vội gật
gật đầu, mái tóc màu bạch kim xoã từng lọn xuống vầng trán trắng ngà, trông đẹp
như một học giả thời cổ đại Hy Lạp. Tuấn mỉm cười:
- Anh Hùng ạ! Em vừa nói với Giôn là anh đang đi tìm một người
tình đã chết cách đây hai mươi năm. Giôn bảo anh lãng mạn quá, phải chăng chính
vì thế mà sau chiến tranh người lính Việt Nam ít kẻ phát điên? Giôn có vẻ thích
anh lắm, muốn viết một bài về anh...
Tôi cười chua chát, nắm lấy bàn tay hồng hào của Giôn bóp mạnh.
Điên ư? Đây là một chứng khoa học khó có thể kết luận ngay được. Điên! Sau cuộc
đâm chém tàn canh, lại tiếp một thời kỳ tàn tệ, người lính nào không điên, chỉ
có biểu hiện cái điên đó ra theo cách thức nào, khả năng tự kiểm toả ra sao.
Buông tay người cựu chiến binh Mỹ ra, tôi hỏi một câu bấy lâu
vẫn ám ảnh trong đầu:
- Ba Thành ơi! Cái gã đại uý gì đó, đã... đi cải tạo về chưa?
- Về rồi! Về lâu rồi nhưng thực ra tao không muốn đi tìm.
Ba Thành trả lời và ánh mắt hắn đột nhiên sẫm buồn.
Sau một đêm ngủ cũng tạm gọi là yên giấc, không mộng mị,
không chập chờn trong toà nhà của Tuấn, mới hửng sáng, Ba Thành đã đập cửa ầm ầm:
- Dậy! Dậy đi! Tiếp tục hành quân.
Hắn đứng chạng chân ngay trước cửa phòng tôi, mình trần trùi
trụi, trắng núng, quần đùi dài đến khoeo chân, dây rút lòng thòng, để lộ cái
thân thể đã xệ ra ở khắp mọi chỗ. Kỳ lạ! Với cái thân thể này mà hắn vẫn thức
khuya dạy sớm, vẫn đi lại nhanh nhảu như hồi ở rừng được? Chắc thằng cha lại nổi
cơn hứng nhậu nhẹt gì đây? Vẫn nằm ườn trên giường, tôi thờ ơ hỏi:
- Hành quân đi đâu? Hai thằng cứ đi tự hiên. Tao hơi nhức đầu.
- Hai thằng nào? - Đến sát giường tôi, hắn đưa tay kéo tuột tấm
chăn đang đắp trên người tôi vất xuống cuối giường rồi tay chống nạnh, hai đầu
gối củ lạc chạng ra - Sao lại hai thằng? Đi việc của mày mà hai thằng nào?
Tôi ngồi dạy, ngáp một tiếng rõ to:
- Việc của tao? Việc gì?
- Đi gặp thằng cha đại uý. Tao hỏi ra được chỗ ở của hắn rồi.
Long Khánh.
- Đại uý à?... Gặp làm gì. Muộn rồi.
- Thôi đi cha nội! Đừng giả bộ nữa. Trong cái sọ nhàu nát kia
nghĩ gì tưởng không biết sao? Cha nội vẫn canh cánh về ả đàn bà đó, đúng không?
Tức là vẫn chưa thật thoả mãn cái chuyện dớ dẩn ả còn sống hay đã chết - Thấy
tôi im lặng, hắn cười khồ khồ - Mẹ họ! Thằng Ba Thành này ít nhất đã đụng dao
kéo vào thân thể mày trên ba lần, chả lẽ con mắt mày nghĩ gì tao lại không biết
sao? Hớ! Nó chết rồi! Chết thật rồi! Cái miệng mày nói vậy nhưng con mắt mày lại
méo sang hướng khác. Chết rồi thì thôi nhưng hà cớ gì mà cái bản mặt mày lại ủ
ê như vừa đánh mất trứng dái thế? Chú mày đã quên rằng tao từng là bác sĩ tối
cao của ráo trọi các loại nội ngoại khoa và cả tâm thần phân lập rồi à? Đi! Quyết
rồi.
Vừa lúc Tuấn bước vào, xúng xính trong bộ pyjamas màu ghi nhẹ
cùng với mùi nước hoa thơm ngàn ngạt:
- Mời hai đại ca ta đi ăn sáng rồi lên đường.
- Ủa! Mày cũng tính đi? - Ba Thành hỏi.
- Chớ sao không.
- Bậy mày ơi! Ở nhà. Làm ăn. Phát đạt. Một ngày bây giờ đối với
mày là tiền, là vàng, đi lòng ròng theo tụi tao, những thằng phế loại, có mà hư
người. Cứ cho mượn một cái xe máy phân khối lớn là xong, vài bữa trả lại.
- Anh mới tầm bậy thì có, anh Ba! Anh nhìn nhận thằng em sao
xoàng quá vậy? Có kiếm tiền vàng cũng là để cho thiên hạ khỏi khinh khỏi chê những
thằng lính trong rừng ra chỉ biết đâm chém, ăn no vác nặng chứ tiền vàng thay
thế thế quái nào được cú hội ngộ này. Ba ngày, bảy ngày, nửa tháng, cả tháng, cả
năm -Tuấn cười hóm - Công tư kết hợp một chút. Đến nơi hai anh cứ vào trước, thằng
em tranh thủ bay ra Vũng Tàu xem cái 500 khối gỗ xuất cho thằng Xanhgapo đã bốc
xong lên tàu chưa. Hì!
- Kệ mày với cái đống gỗ của mày. Mày đi một ngày, một tháng,
một năm cũng được - Ba Thành nói vẻ nôn nóng - Miễn là đưa được tao với Hai
Hùng đến chỗ đó... Nhìn gì tao chằng chằng vậy mày, Hùng? Bộ tao lạ lắm hả?
Tôi giả vờ đánh đầu bẻ cổ để che đi một cái cười khó giấu. Với
tính khí mang hổ lửa của thằng cha cựu bác sĩ này, nếu tôi lì lợm nhìn hắn thêm
một chút nữa là dễ ăn chửi té tát vào mặt lắm. Dễ thường chuyến đi này chỉ là
vì tôi như hắn nói chứ không phải vì cả mối tình tuyệt vọng của hắn với Hai Hợi
nữa chăng? Cái thằng! Tính khí kỳ cục! Xấu tốt, nổi chìm cứ lộ tuốt luốt ra
ngoài.
Chao ôi! Đã lâu lắm rồi tôi mới lại có một chuyến đi dễ chịu
như thế. Đường êm, xe tốt, gió mát, bạn bè chân tình ruột thịt, thiên hạ đủ màu
sắc xuôi ngược hai bên thành xe cũng hiền lành, thuần phác biết bao!
- Năm ấy, sau khi anh đi rồi, tụi em ở lại còn mấy người, buồn
thối ruột - Tuấn vừa vặn lái vừa để cho dòng tâm sự bây giờ mới có dịp chảy ra
- Tình hình lại xấu đi, rất xấu. Lác đác lại có người chiêu hồi, đầu hàng như dạo
cuối trào Mậu Thân. Nản dữ lắm. Anh em đã tính rủ nhau cắt rừng trở về đội hình
chủ lực để nếu có chết cũng chết trong không khí người nhà, chết đàng hoàng, chết
trong danh dự người lính chứ không phải chết lủi thủi ở dưới cái vùng sông ấy.
Nhưng chạnh nghĩ đến anh, đến con người, công tích và những thiệt thòi của anh,
nghĩ đến những đứa đã ngã xuống, những thằng thương tật, rồi nghĩ đến ngay cả
những đồng đội người ở đây cũng đang từng phút hy sinh, khổ đau chẳng kém gì
mình mà bảo nhau cắn chặt răng trụ lại. Nói cho đúng, đơn vị ta khi ấy vẫn là
đơn vị của anh mà không có anh. Rồi mọi việc cũng kết thúc. Còn năm thằng. Ba
thằng chống nạng ra Bắc. Một thằng ở lại lấy vợ vốn là cơ sở cũ. Được vài tháng
thì vào tù vì ra chợ nhậu xỉn, bắn chết người. Có gì đâu. Cũng chỉ là chuyện
khích bác Bắc Nam thông thường. Thằng này nói: “Về má chúng mày đi! Ở trong này
hoài, đem theo cái nghèo, cái lạnh vào theo”.
Thằng kia nổi sùng: “Đ. mẹ! Vậy thì hồi chiến tranh, mày rúc
vào l... con đĩ ngựa nào để bây giờ ngu si hưởng thái bình lại còn nhảy ra nói
láo?”. Thằng kia chồm lên. Thế là bắn.
- Nếu phải tao, tao cũng bắn như vậy - Ba Thành nói âm thầm.
- Còn em - Tuấn nói tiếp - Được tin cậy hơn, họ cho chuyển ra
làm huyện đội phó, huyện đội trưởng rồi chủ tịch và sau đó là bí thư huyện. Công
việc đang đà tiến triển tốt với vị trí ở một huyện vững mạnh về mọi mặt của
toàn tỉnh. Trong chiến tranh hay trong hoà bình, những thằng lính may mắn còn
sót lại như em thực sự coi mảnh đất này như quê hương ruột thịt của mình. Ấy vậy
mà - Tuấn nhếch mép cười, đột nhiên nhấn ga cho xe tăng tốc vọt nhanh lên một
đoạn - Kỳ đại hội lần thứ hai, em bị đánh bật ra khỏi cấp uỷ rất vô cớ. Tội vạ
gì ư? Chả có gì hết. Nếu có thì chỉ là cái tội cả tin, không chịu vào một ê-kíp
nào, công tâm, yêu quý tất cả mọi người, làm việc không kể ngày đêm, không chịu
được sự khuất tất của kẻ này hay kẻ khác và liêm khiết đến từng điếu thuốc lá của
công quỹ... Khốn nạn! Hồi chiến tranh, người ta cần mình đứng ra lấy ngực hứng
tên, hứng đạn. Yên hàn rồi, họ lại sợ mình tiếm quyền, sợ mình làm một cuộc xâm
lược văn hoá và trí tuệ trở lại. Khổ!
Nhìn nhanh vào gương chiếu hậu, tôi bấm vào lưng Tuấn. Chẳng
dè Ba Thành nhìn thấy, hắn văng luôn:
- Bấm mẹ gì. Để cho nó nói. Bộ chúng mày nghĩ tao là thằng
Nam, thằng Nam rặt thì tao cũng cùng một giuộc như chúng nó hả? Mẹ! Thử xét
nghiệm máu, thử lục lại gia phả coi, tao đảm bảo rằng ráo trọi những thằng
thích phân biệt nhất đều chảy dòng máu Bắc kỳ thứ thiệt trong người, đều là dân
Bắc kỳ từ đời ông đời cha, đời ông cố nội, ông tằng tổ đói kém quá mà di dân
vào đây chứ vinh vang con mẹ gì.
Ngoài kia nghèo, đói, rét ư? đúng! Cả trí tuệ bảo thủ ư?
Đúng! Nhưng phải hiểu tại sao lại như thế kia chứ. Vắt kiệt sức mình cho hai cuộc
chiến tranh thì bố thằng nào mà chẳng đói, chẳng rét. Tất nhiên các cha cũng phải
bớt bớt cái ì ạch, trì trệ đi và mấy cha Bắc mới vào trong này sau 75 cũng phải
gạt bớt cái tham lam đi. Tham quá, đãi bôi quá, cái miệng và cái bụng không ăn
khớp, tệ hại hơn là lại còn xỏ nhau, lục đục với nhau làm xấu cả những thằng Bắc
thứ thiệt khác. Tao nói vậy có trúng không, Tuấn?
- Trúng. Y giọng Ban tuyên giáo Trung ương - Tuấn cười.
- Cà trớn mày! Không cẩn thận thì thành một hố sâu ngăn cách
không sửa được đâu. Chất địa phương cát cứ trong này là biểu hiện của tư tưởng
nông dân văn hoá thấp nhưng chất đãi bôi, tham vặt, ưa dòm ngó nhau ngoài kia
cũng là tư tưởng manh mún, văn hoá thấp nốt. Hai thằng nông dân trong một nước
nông dân nhất định đụng chạm nhau. Tao là một thằng nông dân, tao cứ nói đại thế,
trúng thì nghe, không trúng thì bỏ. Tao nhớ hồi tập kết ra ngoải, dân ngoải thì
xin mời, mấy cha Bắc nhường hết. Lại muốn làm ông to bà lớn nữa ư? Cứ tự nhiên,
chả ai tranh giành, tốt bụng vậy chớ. vậy mà bây giờ thái bình rồi lại đáp
nghĩa bằng sự hẹp bụng, coi kỳ lắm, hổng biết điều. Nhưng cũng đừng chấp. Ngoài
đó dù muốn hay không vẫn là cái nôi văn hoá, cái văn minh Mẹ. Mai mốt cuộc sống
khá lên, tự nhiên mọi sự kỳ thị tầm bậy tầm bạ rồi cũng biến mất thôi. Ráo trọi
đều khởi nguyên từ cái sự nghèo. Nghèo là hèn. Có anh hùng, có triết nhân vẫn
hèn. Tao nói vậy nghe được không?
- Được! - Tuấn nói - Lần này thì hệt một nhà sử học kiêm dân
tộc học... Bắc kỳ. Có khi phải lo kiếm cho anh Ba một cô vợ Hà Nội cho nó đã.
- Hà Nội hả? Hà Nội thì số dách rồi. Ở ngoài đó mọi thứ còn xập
xệ dữ lắm nhưng con gái lại quá đẹp. Trắng nõn, răng đều chằn chặn không như
cái cười toàn răng giả ở trong này. Phải không Tuấn?
Tuấn không hưởng ứng câu nói của Ba Thành, cái nhìn ra ngoài
nắng trở nên đăm chiêu:
- Lắm lúc nghĩ cũng buồn. Có được đất đai dài rộng ngày hôm
nay cho dù có điểm này điểm nọ chưa tương đồng nhưng người ít suy nghĩ nhất
cũng phải thấy rằng đó là kết quả bằng máu của cả hai miền cùng đổ xuống ròng
rã mấy chục năm chứ. Ngẫm lại câu nói của anh Hai hồi ở rừng mà thấy thấm!
"... Hàng triệu thanh niên ưu tú của cả nước ngầm xuống để tới đây có một
bờ cõi nối liền nhưng coi chừng lòng người lại chia hai...” Nhỡn tiền bây giờ
đang phân hoá thành hai thật. Hai nền văn hoá, hai kinh đô, hai vùng dân cư và
rất có thể sẽ là hai hệ tư tưởng. Cái manh nha trong chiến tranh lúc này đã trở
thành một nguy cơ thật sự. Nếu không có điều này thì cuộc đời của anh Hai đâu
ra nông nỗi này và cuộc sống của bao nhiêu người khác sẽ dễ chịu biết bao.
- Tuấn! - Tôi nhắc khẽ - Bỏ qua đi!
- Bỏ qua lúc này là tự sát. Không hiểu các cụ ở trên có thấy
không?
Bài học tan rã vì xung đột lãnh thổ ở Đông Âu chưa đủ là một
bài học đau đớn sao? Buồn thật! Kỳ thị xét đến cũng là sự sợ hãi và phân biệt
xét đến cùng cũng là vị kỷ. Chiến tranh mất còn thì quyền lợi chịu chung. Mới bập
vào làm kinh tế, vào trò chơi đầu tư với tư bản là đã lợi ích tranh giành, ruồng
bỏ nhau.
- Đ. mẹ! Không nói chuyện chính trị, đau cái đầu lắm - Ba
Thành la lên - Nói chuyện chính trị lúc này là ba cái thằng đã ngã xuống chúng
nhất loạt đội mồ lên đòi máu bây giờ. Tao nói bay nghe một kỷ niệm về điếu thuốc
nghe chơi. Cái dạo đó phẫu tao thèm thuốc gần chết. Thèm đến nỗi giá ai cho một
điếu thuốc rê thì hút xong sẵn sàng lìa đời. Bỗng một cô gái trong ấp lập cập
quần mang ra cho được một cục thuốc bằng trái ổi. Sướng quá, tao đem chia đều.
Cái gì đã xảy ra nào? Thằng khu Năm nửa đêm trèo lên ngọn cây cao hút, nhả khói
vào lá cành. Thằng Nam Bộ khá hơn chút. Sáng sớm chèo ghe ra giữa sông giả đò
đi ỉa rồi mới lặng lẽ châm thuốc, nhả khói vào sương sữa cho tan luôn. Cuối
cùng chỉ mấy thằng Bắc được hơn cả: ngồi tại võng, nhịp giò hút phì phèo, thằng
nào hết rồi, thèm quá, cho ké một hơi. Tao dẫn chứng vậy là nghĩa gì? Vấn đề
không phải là một điếu thuốc mà vấn đề là nền văn hoá từng vùng. Văn hoá nào thì
nó phản ánh lối sống thế đó.
A-lê! - Hắn chợt kêu lên - Thời buổi cuộc sống bấp bênh, cuộc
đời đen bạc này, thằng nào chủ trương phân biệt, thằng nào thích Nam Bắc phân
tranh thì cứ phải đem ra mà bắn bỏ như bắn một tên tội phạm lịch sử, một tên
đái vào mồ mả ông bà. Còn chúng tao, những thằng lính thiệt thòi, những thằng
dân thường khốn khổ, chúng tao đ. có cái kỳ thị của bọn ham tiền của, ham quyền
uy ấy. Tao nói vậy nghe có tầm bậy không?
Tôi nắm lấy bàn tay chuối mắn của hắn siết nhè nhẹ. Để có được
những suy nghĩ gan ruột thẳng băng như thế, trái tim hắn phải có những nhịp đập
lành hiền, trong trẻo thế nào với bạn bè, với đồng đội thân yêu đã cùng sống chết
trên mảnh đát này. Giá như, vâng, cũng chỉ là giá như thôi, ở đâu đó trên cao
kia người ta cũng có hay cũng giữ được nhịp đập ấy thì mười mấy năm hậu chiến
đã làm gì đến nỗi.
- Stop! – Ba Thành bỗng đập vào vai Tuấn cái đét khi xe chớm
đến ngã ba Dầu Giây – Dừng lại đã. Thằng Tám cọp hình như ở đâu gần đây? Thái
bình, trời yên biển lặng, ghé nó nhậu bậy cai coi. Mười bảy năm rồi.
- Ô-kê!
Tuấn nói - Còn anh Hai cũng ô-kê chứ?
Tôi gật đầu. Qua Tám Tính, tôi cũng muốn biết thêm về Hai Hợi,
qua Hai Hợi biết đâu tôi chả lần ra cái đầu mối bí mật của cô ta. Chắc phải có
một điều gì đó ghê gớm lắm thì cô ta mới chạy trốn quá khứ, chạy trốn tôi, trốn
mọi người dữ dội như thế.
Hoá ra tôi vẫn không thể quên được người đàn bà này, như
không thể quên được một bí mật kỳ lạ có liên quan đến chính cuộc đời tôi. Mọi sự
vận động thật bẽ bàng. Thế nào mà trong cùng một thời điểm, kẻ ăn mày quá khứ
và đứa chạy trốn quá khứ lại cùng song hành ngược chiều nhau. Liệu rồi tới đây
có va chạm nhau không? Và nếu va chạm thì sẽ nổ ra một cái gì?
Hoá ra nhà Tám Tính cũng dễ tìm. Đó là một căn nhà lợp ngói rộng
chừng bốn chục mét vuông nhưng bù lại là một khu vườn sum sê cây trái có những
căn lều lợp lá xinh xắn nằm e ấp đó đây, thoạt nhìn đã thấy cái mùi vị rạo rực
phong tình.
Chẳng ngờ con cọp đen một thuở ấy giờ đây lại thay đổi nhiều
đến thế. Cậu ta đã hoàn toàn hoá thân thành một ông lão làm vườn hiền lành, cần
mẫn: quần bà ba, áo bà ba, khăn rằn trên trán, râu để ba chòm cái đen, cái trắng,
đặc biệt là cái cách nói năng, đi đứng đã ra chiều an phận lắm rồi. Duy chỉ có
mấy cái bắp thịt ở tay, ở vai lộ ra còn giữ được dấu vết một thời dọc ngang sức
vóc.
Tay cầm một cái kéo to tướng từ trong vườn bước ra nhìn thấy
chúng tôi, cậu ta chỉ khẽ gật đầu chào, hỏi một câu lãng xẹt làm như vẫn thường
gặp nhau, mới xa nhau có tháng trước, năm trước. Hơi hẫng một chút, sau đó lại
chính Ba Thành lên tiếng trước:
- Sao? Độ này mấy vợ rồi?
Con cọp cười hiền, mấy chiếc răng nơi cửa miệng gẫy gần trọn:
- Một. Vẫn một từ năm 75 tới giờ.
- Cha trời! Thằng Tám cọp coi ra tu nhân tích đức dữ!
- Vẫn Ba Thành sồn sồn - Thế con cái đi đâu hết?
- Đứa đi học, đứa đi mẫu giáo, đứa theo mẹ đi làm - Tiếng trả
lời không hào hứng hơn.
- Tóm lại là bao nhiêu cái tàu há mồm?
- Mười hai.
- Trời đất quỷ thần ơi! Mỗi năm tòi ra một đứa. Giỏi! Định mấy
chục thì dừng?
- Trời cho đẻ cứ đẻ, biết nhiêu mà tính?
Sau đó là im lặng. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau... Ba Thành chỉ
tôi:
- Còn nhớ thằng này không?
- Nhớ! - Đôi mắt hùm hụp của hắn không sáng hơn lên một chút
nào - Hai... Hai Hùng, đội trưởng đặc... đặc nhiệm. Người yêu của... Ba Sương.
Đấy là cái giọng của một thằng dở người, bị giam vào hầm tối
lâu ngày, Thành lại chỉ Tuấn:
- Thế còn thằng này?
Đôi mắt mờ mịt của hắn dừng lại hơi lâu hơn một chút:
- Quen quen nhưng không thật nhớ. Hình như ở... ban kinh tài
huyện uỷ?
Ba Thành cười rống lên:
- Kinh tài cái con mẹ họ! Đ. mẹ! Tại thằng này béo tốt nên nó
mới nói như vậy. Giỏi! Thời chiến hay thời binh, cứ kinh tài là người ta lập tức
có ấn tượng chuột sa chĩnh gạo liền. Mở to mắt ra! Thằng Tuấn, dân Hải Phòng,
cướp cò B41 hạ gục thằng Bảo, sau đó thay thằng Hùng, nhớ chưa?
- Nhớ.
Hắn nói nhớ mà mắt hắn rõ ra cái điệu không nhớ gì cả. Phun
nước miếng một cái phèo xuống đất, hắn bảo mọi người cứ ngồi chơi tự nhiên rồi
lẳng lặng dắt xe máy ra cổng, một chiếc suzuki cũng lem nhem cóc cáy như chủ
nhân của nó.
- Chắc nó đi đón con hay vợ - Tôi nói - Ta nên đi đi. Xem chừng
mình tới không đúng lúc. Để khi khác.
- Khoan đã - Ba Thành cản - Chả lẽ cuộc sống tồi tệ này đã
làm cho hắn quên hết nghĩa tình bạn bè rồi à? Được thôi, nhưng cũng phải chờ nó
về dậy dỗ nó vài câu. Mẹ! Bọn nhà giàu, bọn tham nhũng, bọn quan chức quên bạn
bè còn bỏ qua được, đến thằng lính trần thân trận mạc như nó mà cũng ngơ ngơ là
láo! Rất láo! - Nói láo nhưng cái miệng của Ba Thành lại ngoác ra cười - Biết
thế cái dạo nó bị thương thập tử nhất sinh, toàn thân chỉ còn là cái giẻ rách,
tao bỏ mẹ vào bụng nó một cục bùn cho rồi. Hớ! Thuốc rê! Nhà cửa đâu đã đến nỗi
gì mà sau gần hai mươi năm gặp lại, chiến hữu lại bỏ thuốc rê ra mời? Tuấn! Đưa
tao gói ba số để lát nữa nó về, tao sẽ mời lại nó. Nhưng mà này, Hai Hùng ạ! -
Đột nhiên Thành chuyển giọng như phải gió - Cái Hà Nội của mày ấy mà, cũng phải
nhanh chóng thay hình đổi dạng đi. Năm kia tao ra, nhìn mà rầu thúi ruột. Thủ
đô gì mà nghèo tàn nghèo mạt, bụi bặm bay khắp trời, đường sá, nhà cửa lúp xúp
không bằng cái phố huyện ở đây. Nếu tao là các cụ cốp ở ngoài đó ấy à? Hàng
ngày phải nhìn thấy cái Thủ đô ngổn ngang bừa bãi như cái chợ trời ấy thì mắc cỡ
lắm, nhục lắm, ăn ngủ không ngon được kia. Đằng này chỉ thích ngồi trên các bàn
chủ tịch nói những điều cao siêu chẳng dính dáng gì đến quốc kế nhân sinh cả. Ấy,
các chú ơi! Nhiều khi chính cái bộ mặt của quốc gia, cái trung tâm văn hoá,
chính trị (chứ không phải kinh tế) của cả nước ấy sẽ quyết định đến sự tồn tại
của thời kỳ thị Bắc Nam đấy.
- Hút thuốc anh Ba! - Tuấn chìa ra trước mặt Ba Thành gói
Malboro chưa bóc - Nói hay quá! Không dè ông anh tôi nhìn nhận mọi việc cứ sáng
trưng, đáng ra phải ngồi ghế cầm cân nảy mực.
- Bậy mày! - Thành thoắt tỏ ra bối rối - Tao mà ghế ghiếc gì.
Và tao cũng thèm vào ghế. Ghế ngồi càng cao, tư cách càng méo, ăn thua mẹ gì.
Có cái ghế bệnh viện trưởng quèn mà còn bị cúp cua thì hỏi còn nước mẹ gì mà
ham. Thời nào cũng vậy, chả ai dại gì đi sử dụng cái đứa mạnh mồm. Vậy tao về.
Sống với nhân dân, buồn vui sướng khổ cùng với nhân dân như hồi chiến tranh là
đã nhất, cái miệng cũng mạnh và cái óc cũng mạnh. Khoẻ! Ủa! Nhưng sao đang
không lại nói chuyện chính trị vậy hè? Nè, không có nói chuyện chính trị nữa mấy
cha... Đó, thằng Tám cọp nó về rồi kìa! Coi nó có vồ được con nhép con nào về
theo không.
Tám Tính lụi hụi dắt xe vào cổng, đằng sau buộc một bó rau
lang cao chất ngất.
-Ủa! - Ba Thành kêu lên - Bữa nay mày tính đãi bọn tao món
rau lang luộc chấm muối này đó hả? Ngon vậy mày?
- Nuôi heo - Tám Tính trả lời trống lổng - Nhà nuôi chục con
heo, mỗi ngày phải mất hai bó như thế này. Đỡ giùm tao cái túi này chút, Ba
Thành!
- Hả? Cái gì nữa đây? Cám hả?
Tám Tính cười hiền, rút khăn lau cái cổ nhếnh nháng mồ hôi:
- Bà xã đi vắng. Nhậu bậy ba cái đồ nguội mua sẵn ở chợ đỡ
đi.
Nói rồi, trước con mắt ngạc nhiên và thích thú của ba đứa
chúng tôi, bằng bàn tay đầy sẹo nhăn nhúm, hắn lôi từ cái túi xách to tướng ra
một con gà luộc sẵn vàng ươm cỡ ba cân, một cân giò nạc, bịch bún, mớ rau thơm,
một tảng thịt heo quay cỡ hai ký đỏ au... Hắn lôi tiếp ra hai chú cá lóc đã bỏ
lò, mỗi con ước chừng cũng phải tới cả ký, bịch củ kiệu, nước chấm có củ đậu
thái nhỏ, tệp bánh tráng, nửa ký chả quế, một cây thuốc Caravena... Và cuối
cùng hắn quài tay lại phía sau tháo ra một cái hộp được quấn bao tải kín mít.
Chao ôi, cả một két bia Heneken xanh biếc nằm xếp lớp như một trung đội lính
kèn sắp hành quân ra lễ đài.
Đứng trước đống đồ ăn ngồn ngộn như cả một cửa hàng thực phẩm
được chuyển về đây, Ba Thành trớ mắt, méo miệng nhìn hai đứa tôi ra ý bảo: “Thấy
chưa? Thằng lính bao giờ cũng vẫn là thằng lính. Chỉ có cái tình cảm nó nổi ra
ngoài hay lặn vào trong”.
Trong bữa nhậu, Tám Tính trở nên linh hoạt hơn. Như thể suốt
mười sáu năm qua anh ta phải tạm đánh mất mình trước gánh nặng của cuộc đời
sinh nhai, nay bỗng chốc gặp lại bạn bè một thuở, hắn thoắt sống lại những ngày
đau thương lãng mạn xưa kia, một cánh rừng, một cây súng, một bầu trời, một mạng
sống, một đối tượng, một cánh võng thoáng đãng, nhẹ tênh. Sau ly thứ nhất, hắn
bắt đầu cười. Sau ly thứ hai, hắn bắt đầu nói. Sau ly thứ ba, hắn trẻ lại mười
tuổi và sau ly thứ tư thì hắn đã hiện nguyên hình phần nào cái dáng bộ thằng
Tám cọp đánh giặc khét tiếng ngày xưa. Kiểu này tôi e rằng, chỉ cần qua ly thứ
năm là hắn có thể lồng ra phố vồ con gái nhà người ta lắm.
- Tóm lại là thế nào? - Ba Thành đã uống khá nhiều, càng uống
càng tỉnh, miệng lưỡi càng nhọn hoắt - Ai cũng nghĩ mày chết rồi. Vậy tại sao
còn sống?
- Chết thiệt rồi còn gì nữa - Tám Tính ngừng uống, chống hai
tay lên cằm, mặt mũi bỗng trở nên trầm ngâm, Mười bảy vết thương vào người,
trong đó có tám vào chỗ hiểm, phẫu đi phẫu lại tới hàng chục lần thì còn gì nữa
mà chẳng chết. Nói điều này tụi bay có thể không tin, khi chuyển lên quân y viện
Rờ, tao chỉ còn nằm chờ chết. Bỗng một buổi sáng sau hàng chục buổi sáng hôn
mê, tao lơ mơ tỉnh dậy, cảm thấy có ai đang cúi xuống bên sạp, sạp chứ không phải
giường đâu nghe! Gượng mở mắt ra nhìn thì đó là khuôn mặt của cô y sĩ từ ngoài
Bắc mới hành quân vào. Tưởng tao vẫn hôn mê, cổ không cần giữ gìn ý tứ gì cả, vừa
cặp nhiệt, vừa kiểm tra lại băng, vừa vô ý chịn cả cái bộ ngực chắc nịch, thơm
ngậy vào giữa mặt tao...
- Sắp chết mà vẫn còn ngửi được cái mùi thơm ngậy?
- Ba Thành cười hóm chêm vào.
- Sao không thơm mày - Tám Tính cãi một cách ngây thơ - Sắp
chết cái đầu chớ cái mũi nó có sắp chết đâu. Nói tiếp: Tao khi đó đúng là mười
phần đã chết chín nhưng riêng... cái kia lại gần như sống nguyên. Sống bù cho
những phần đã chết nên mạnh mẽ dữ lắm! Thu tàn lực, tao mới nhè nhẹ hít lấy cái
mùi thơm quen thuộc đó, hít một lần cuối để chết mà. Tao lại còn cố mở hé đôi mắt
sưng mọng nhìn vào cái ngấn trắng rợn mình đó nữa.
- Có thấy trắng không hay là thấy thâm sì?
- Trắng. Tao cố mở mắt nhìn lần nữa và kỳ lạ! Tao bỗng thấy tỉnh
hẳn, toàn thân rần rần chuyển động như có kiến bò vào tận từng lóng xướng, mạch
máu. Cô ấy đi rồi, tao mới láng máng nghĩ: “Cuộc đời còn đang đẹp thế, đàn bà
con gái còn đang nhiều quá trời, thơm tho thế, chết uổng lắm, ráng mà sống, sống
què quặt cũng được”. Thế là, cùng với mỗi buổi sáng được hít thở, sức khoẻ tao
hồi phục dần. Tao như đứa trẻ sài đẹn ngày ngày được uống sữa từ bộ ngực ấy mà
cô không hề biết. Tất nhiên không thể không kể đến sự hỗ trợ của thể lực và tuổi
tác nữa.
Tám tháng sau tao ra viện, gầy xọp đi đến gần hai chục cân,
giò cẳng khẳng khiu nhìn muốn chảy nước mắt luôn. Trước lúc đi, tao nói: “Đồng
chí y sĩ ơi, nếu không có bộ ngực của đồng chí hà hơi tiếp sức cho tôi thì giờ
đây tôi đã ngoẻo củ tỏi rồi. Suốt đời thằng Tám Tính này mang ơn đồng chí. Sau
này dù ở đâu, làm gì, tôi cũng xin phép được kêu đồng chí là mẹ đỡ đầu...”. Cô
ta đỏ bừng mặt và bỏ chạy vào lán. Một năm sau, sát ngày giải phóng, khi đó người
ngợm trông ra cũng được được, nhân một lần đi công tác qua, tao đã ghé vào
thăm. Cô ấy nhìn tao lom khom. Khi nhận ra, cô rơm rớm khóc. Tao cũng rơm rớm...
Và hai tháng sau, tao chính thức ngỏ lời cầu hôn.
- Nàng nhận lời? - Tuấn hỏi với vẻ bị cuốn hút thực sự.
- Không! Bảo rằng nghe đồn về tao đủ thứ kinh lắm, e rằng
không có hạnh phúc.
- Đồn trước kia hay sau khi ra viện? - Tôi cũng buột miệng hỏi.
- Sau khi ra viện.
- Trời đất! – Ba Thành vỗ đùi – Chỉ còn bộ xương khô mà vẫn...
vồ!
- Vẫn! – Tám Tính gãi đầu – Cái đó nó ăn vào máu rồi, xương cốt
thì ăn nhằm gì vào đây.
- Rồi làm sao nữa?
- Chả làm sao cả. Vì tấm lòng của người mẹ đỡ đầu, tao cắn
răng chừa. Bắt đầu thì khổ sở lắm. Như cái đứa lên cơn nghiện thuốc phiện, ngủ
không được, ăn không được, bắp thịt oải ra, thần kinh nhão nhoét, chẳng thiết
làm thiết ăn gì nữa. Sau quen dần. Vì tình yêu và lòng biết ơn với cô ấy mà
quen. Nửa năm sau, thấy trong mình sạch sẽ rồi tao mới ngỏ lời một phát nữa.
Nàng nhận lời. Hai tháng sau Sài Gòn giải phóng và thế là từ đó đến nay, cứ đều
đều năm một. Dự định đến đứa thứ mười bốn, sao cho trai gái cân bằng thì dừng.
Chao, mười bốn đứa con cân bằng trai gái! Trước ba thằng đàn
ông chưa có con hoặc vợ con lỡ cỡ, con số này nghe mới ngợp ngụa làm sao! Thả
ra một câu triết lý, Tuấn nói:
- Rút cuộc, bệnh của anh Tám thực chất là căn bệnh của chiến
tranh, đáng yêu thôi. Cũng như thói trầm uất là bệnh của tất cả nhưng ai đã một
lần cầm súng, chả đáng yêu chút nào. Lòng biết ơn và tình yêu như anh nói chỉ
là một phần thôi. Đúng ra, thái bình, không chết chóc mới làm cho bệnh anh tiêu
tan. Khi đó, năng lượng khủng khiếp của con đực không rải ra bốn phương mà gom
tụ về một hướng thì mười hai hay mười bốn con vậy vẫn là ít.
CHƯƠNG 15
Vừa lúc ấy, có hai đôi trai gái ăn vận trẻ trung, sặc sỡ, gái
váy ngắn, trai quần thụng đúng mođen 90 phóng Dream ve ve vào ngõ.
- Có khách – Tám Tính nói rồi đứng dậy – Cứ nhậu đi! Hết bia
chuyển sang đế. Bia hoài, mắc đái thấy mồ.
Dáng bộ rất khoan thai ông chủ, hắn hắng giọng đi ra dẫn
khách lách sâu vào khu vườn rậm lá. Tôi còn kịp nhìn thấy đôi cặp giò trắng nuột,
thon thả của cô bé vận soọc đen bước sau cùng. Trước khi khuất sau vòm lá, cô
bé còn ngoắt đầu nhìn chúng tôi một cái vừa nghi ngại, vừa thăm dò lại vừa
thách thức.
Lát sau Tám Tính trở ra, mặt tỉnh như không, có pha thêm một
chút phiền muộn nơi khoé mắt.
- Cái gì thế? – Ba Thành hỏi – Không phải đám bạn của con mày
à?
- Bạn mẹ gì. Dân chơi. Trai gái từ thành phố, từ thị xã lên
đây mướn phòng chơi.
Tới đây thì cái vẻ sồn sồn và cái điệu bộ làm ra vẻ sành sỏi
của anh bác sĩ già biến mất, đành phải nhường cho tuổi trẻ lên tiếng.
- Thuê ngày hay thuê giờ anh Tám? – Tuấn hỏi thản nhiên.
- Ngày giờ như nhau, ráo trọi đều hai mươi đồng. Thang giá
ngoại thành vậy thôi.
- Mấy chòi?
- Mười. Đang tính phát triển thêm năm cái nữa.
- Hết công suất chớ? – Tuấn vẫn hỏi xoắn.
- Hết. Ngày nghỉ, ngày lễ, ngày... nói chung là ngày động
tình, thường là thiếu. Có khi một chòi phải gối ba, bốn lượt người ra vào.
- Xin lỗi hỏi thêm anh Tám: trong chòi có trang bị gì?
- Trống trơn. Một cái bàn uống nước tay tao đóng lấy, một cái
giường xếp, một cái xô, nếu có khách tao sẽ cho mấy đứa nhỏ xách nước đổ đầy.
- Xem nào! - Tuấn lôi chiếc máy tính chạy pin nhỏ xíu ở trong
túi ra, sự khôn ngoan chạy rần rần trên trán. Cứ cho là cả 15 chòi đều có sử dụng
trong một ngày đi. Mỗi chòi hai chục, mười lăm chòi là 450, tức gần nửa triệu.
Trung bình mỗi tháng nhét túi 15 triệu, chưa kể ngày lễ, ngày nghỉ rồi đồ ăn thức
uống bán thêm, mua thêm cho khách, rồi lại còn thứ khách sộp, khách sang hào
phóng puộc - boa thêm. Tóm lại là món kinh doanh này ít vốn mà lãi dữ quá, bền
nữa, khỏi cạnh tranh chơi xấu, chơi xỏ nhau. Móc tiền lên từ chính đất đai vườn
tược của mình. Anh Tám! – Con mắt hấp háy của nó sáng lên – Ta thử bàn cách làm
ăn chung đi. Em sẽ bỏ vào đây chừng năm trăm triệu để mở rộng vườn, thiết kế
cam-pinh nửa dân tộc nửa hiện đại, có bể bơi, có sân chơi tennis, có suối có rừng
và có cửa hàng ăn đặc sản. Trời ơi! Con người càng ngày càng có nhu cầu đòi hỏi
được sống hết cái phần người của mình, đã vào tới đây thì đều là dân giàu rửng
mỡ hay bọn thanh niên con nhà tham nhũng, không tranh thủ rút ruột chúng còn
rút ruột ai? Làm đi? Không thất thu đâu. Năm trăm triệu! đảm bảo sau sáu tháng
lấy lại vốn. Từ đó về sau lãi chia đôi, anh Tám chịu không?
- Ờ... ờ! – Tám Tính gật đầu nhưng không nói gì.
- Tao có ý kiến – Ba Thành giơ cao tay y như một cuộc họp Đảng
ở trong rừng – Thêm cả dịch vụ mát xa nữa để như bọn Tây. Sắp tới, cứ cái đà này,
chúng sẽ lũ lượt kéo vào như quân viễn chinh Mỹ ngày xưa cho coi. Cả khách Việt
kiều nữa. Nếu chúng mày ưng, tao xin tình nguyện làm chân bác sĩ da liễu kiêm bảo
vệ mà không cần lương, chỉ cần cơm ăn ba bữa thuốc hút cả ngày, rượu mỗi lần mười
ly thôi. Sao? Tao nói vậy nghe được không Hai Hùng.
Tôi gật đầu cười gượng gạo. Chả lẽ cuộc sống hôm nay nó xiết
chảy đến nỗi gạt hẳn tôi ra khỏi dòng rồi chăng mà mới chỉ nghe hai tiếng
cam-pinh đã thấy lòng dạ tui tủi. Hình ảnh dây cam-pinh rung bần bật bên dòng
hoài niệm khổ đau ở khúc sông hôm nào lại hiện lên, nắn bóp trái tim tôi đau thắt.
Song chả lẽ lại cứ giữ bộ mặt đưa đám trong lúc bạn đang vui vẻ dường kia. Tôi
nói mà biết rằng điều nói ra sẽ lạc lõng:
- Cho mình hỏi một câu, Tám Tính! Hai Hợi thế nào? Còn sống
hay đã chết? Nếu sống, hiện giờ ở đâu?
Bàn nhậu ắng đi một chút như có một phát súng nổ đột ngột dưới
gầm bàn. Tuấn nhìn lên ngọn cây, nhả khói thuốc. Tám Tính hạ cốc bia định uống
xuống, mắt buồn hẳn đi. Riêng Ba Thành nhìn sang tôi, khe khẽ gật đầu. Thì ra từ
đầu đến giờ, mọi sự ồn ào cười nói của nó chỉ là giả vờ, chỉ là che đậy cái điều
hắn nóng lòng muốn hỏi nhưng lại không tiện hỏi, cái điều mà nó chắc mẩm trước
sau gì tôi cũng phải bộc lộ ra.
Uống một hơi hết nửa ly bia còn lại, Tám Tính đưa mu bàn tay
nhăn nhúm quết bọt ngang miệng, nhìn xuống mặt bàn một lúc lâu rồi mới ngẩng
lên nói:
- Sau khi thoát chết, tao được người ta điều về phòng hậu cần
Quân khu. Thì tụi bay lạ gì, cứ thằng nào thương tật, thằng nào bể bai hết xài
được là lập tức được đưa về đó. Thời gian ấy, không hiểu sao Hợi lại biết tao
còn sống nên tìm mọi cách móc ráp để lên thăm tao được một lần. Vừa nhác thấy
tao, cô đã khóc ầm lên rồi ôm lấy tao kể lể đủ chuyện. Thương quá, tao cũng
khóc. Tới lúc đó tao mới hiểu vì sao, chỉ vì tưởng tao đã chết nên cô mới bỏ
vào ấp chiêu hồi. Hai Hợi bữa đó đẹp dữ dằn, dòm như một ả tư sản thường vào rừng
buôn bán với Việt Cộng. Cổ mặc một bộ bà ba nâu bằng cải xoa, tóc chải bồng
theo kiểu dân thành thị, gò má có thoa một chút phấn nên mặt mày cứ hồng rực
lên như đào xi-nê, đặc biệt chân tay da dẻ trắng nõn mịn màng, chả còn một chút
nào cái cô Hai Hợi ngày trước nữa và lời ăn tiếng nói xem ra đã rất mực dịu
dàng. Cổ nói không biết tại sao, chỉ trở về làm dân có chưa đầy một năm mà người
ngợm thay đổi đi nhiều đến thế? Hỏi cổ bây giờ làm gì sống? Hợi không trả lời
nhưng tao biết, với cái tính khí ấy, cổ nhất dịnh không chịu cam phận làm cái
anh lam lũ kiếm miếng ăn nhọc nhằn. Tao có hỏi về bọn mày và địa bàn bên sông.
Hợi bảo trước đó thỉnh thoảng còn biết tin, thỉnh thoảng có cơ hội lại tranh thủ
gửi thực phẩm, thuốc men vào trỏng, kể cả một vài tin tức quân báo cần thiết nữa.
(Tôi lặng lẽ gật đầu). Nhưng sau năm 73, hổng biết các cha ở trên ký kết trật
giuộc thế nào mà các địa bàn nơi ấy bị đánh tróc gần hết. (Tôi lại gật đầu) Và
từ đó Hợi bặt tin luôn.
Nghĩ cổ cũng tội! Chỉ có hai sợi dây ràng níu với cách mạng,
với cuộc đời chiến đấu là cô em bà con tính nết như thiên thần, lời của cổ, và
tao. Cô em mất tin không hiểu chết hay sống, cổ dồn cả tình thương vào tao; kêu
tao ra ngoài sống và dưỡng bệnh, cổ sẽ nuôi, nuôi suốt đời. Tao lắc đầu. Làm
sao mà không lắc đầu được. Cổ cáu, nói tao là cuồng tín, đánh giặc đến thân tàn
ma dại, đủ rồi, anh hùng lắm rồi, thoả chí trai và hết phận sự rồi, lúc này
hoàn toàn có quyền nghỉ. Quốc gia nào, chính thể nào cũng không nỡ bắt thương
phế binh phải ở mãi nơi hòn tên mũi đạn. Tao lắc đầu nữa. Bí bách quá! Cổ nói bừa:
hay là cổ lại bỏ ráo trọi như dạo nào, cùng vô rừng chịu cực lần nữa, sống chết
có nhau? Không thể lắc cái đầu lần thứ ba và trong ruột cũng không muốn làm khổ
cổ thêm nữa, thu hết can đảm, tao nói thiệt mọi chuyện, từ chuyện tại sao tao
thoát chết, đến chuyện từ đó mang nặng cái ơn cứu tử ra sao. Nghe xong, cổ thầm
lặng khóc và cũng thầm lặng ở lại với tao cho tới sáng hôm sau. Trời ạ! Đêm đó,
chúng mày biết máu tao rồi đó, tao mò sang giường Hợi. Cổ đẩy ra và nói: “Đời
em bị phản bội nhiều rồi. Em không muốn một ai khác chịu cảnh ngộ như em, nhất
lại là một người như chị y sĩ ấy. Nhớ cho em hỏi thăm chỉ...”. Sớm hôm sau Hợi
đi luôn, đi một mạch. Không ngờ đó lại là lần cuối cùng tao còn nhìn thấy cổ.
Nghe nói lại rằng thời gian đó, cô bỏ quê lên thị xã mần ăn phát đạn lắm nhưng
rồi bị bạn hàng hãm hại. Sau 75, tao có đi hỏi thăm nhiều nơi nhưng không một
ai biết gì hơn. Chuyện chỉ có vậy, biết thế nào tụi bay cũng hỏi nên tao đã có
ý nhớ và sắp xếp lại cho khỏi lộn xộn.
Ba Thành đứng dậy lẳng lặng bỏ đi. Nhìn đằng sau thấy cái đầu
to tướng có vầng trán hói của hắn chúi xuống... Chúi xuống... Tôi hiểu nó vừa
trải qua một cú sốc khá mạnh, đang cần sự trấn tĩnh.
- Vợ mày bây giờ làm ở đâu?
Tôi cũng tự trấn an mình bằng câu hỏi thừa thãi và nhạt thếch
ấy. Câu chuyện về Hai Hợi có tác dụng xoáy sâu trở lại cái hình ảnh cô em họ
còn đang sống sờ sờ kia mà tôi đang cố quên đi, cố bứt ra nhưng chưa được. Càng
cố bứt, nó càng bám dính nhằng nhằng, cái nỗi bám dính chẳng có đầu mút để có
thể sờ thấy, ngửi thấy, nếm thấy mà tháo gỡ cho xong một sớm một một chiều.
“Không! Chúng mày lầm rồi! Tất cả lũ chúng mày, cả tao, cả Hai Hợi đều lầm thảm
hại, đều bị lừa dối đến tột cùng. Cô ta không chết, chưa bao giờ chết cả” Giây
phút ấy, giữa bàn nhậu đặt trong bạt ngàn cây lá, tôi muốn hất đổ tất cả mà gào
lên như thế. Nhưng rồi lại đâu dám mở miệng, đành để tiếng gào tụt trở lại lồng
ngực, quậy phá ê ẩm ruột gan mình.
Khốn nạn chưa? Một cái chết giả dẫn đến những cái chết thật,
đến những giày vò đau khổ thật. Thế là thế nào? Chết cũng là đùa? Đau cũng chỉ
là đùa thôi ư? Phải chăng, nếu cuộc đời hiện tại bớt khắc nghiệt đi một chút,
những phi lý trái ngang đừng lộng hành như một đạo lý hiển nhiên và bản thân cuộc
sống của tôi, của từng thằng không đến nỗi thống khổ dường này thì cái sống hay
chết của người đàn bà ma trơi kia đâu có tạo nổi một sức dội nặng nề trong cái
đầu đã quá rộc rạc của tôi như thế!
- Vợ tao làm bác sĩ sản khoa ở bệnh viện huyện – Tám Tính trả
lời. – Lương không đủ cho tao hút thuốc lá một ngày nhưng bù lại là tính tình
nhân ái, phúc đức, cái mà lúc này tao đang cần.
- Chán nhỉ? – Tuấn góp chuyện vẫn bằng cái giọng hơi cụ non của
nó – Có ba cái nghề cao quý nhất là dạy người, cứu người và giết người, tức là
thằng lính thì lại là hẩm hiu nhất.
Lát sau Ba Thành từ ngoài vườn đi vào, mặt mày cô hồn như vừa
ở chỗ đâm chém trở về. Đến trước mặt Tám Tính, hắn dừng lại:
- Mày... Mày là một thằng tồi Tám cọp ạ! Đáng lẽ mày không
nên nói như thế, không được để cổ ra đi như thế. Mày chỉ biết ăn sống nuốt tươi
con người ta thôi chứ trong cái đầu đặc sệt tinh trùng của mày không còn khoảng
hở nào để mày hiểu rằng, khi người đàn bà tuyệt vọng thì họ có thể làm được ráo
trọi mọi điều như thế nào. Thằng khốn!... Tao... Tao...
Toàn thân Ba Thành rung lên, hai mắt xám xịt. Tám Tính bất
giác lùi lại không hiểu, đưa mắt nhìn sang tôi dò hỏi và cầu cứu.
- Coi như xong – Tôi buộc phải đứng dậy, to giọng – Tuấn dọn
dẹp đi! Ba Thành nhảy xuống sông trầm mình một cái cho tỉnh. Thằng Tám Tính chắc
sắp đến giờ đi đón con? Đi đi! Chà mười hai đứa? Đón bằng xe ca hả mày?
May mắn, bằng câu nói vô duyên đó, tôi đã kéo được những cái
đầu đang nóng giãy dòng nham thạch ký ức mau chóng trở về với đời thường lắm vặt
vãnh lo toan.
- Ừ, dẹp cha nó đi! – Ba Thành chợt xẹp xuống như một trái
bóng xì hơi – Xong rồi. Có cà phê ngon, thằng Tám cho mỗi đứa một ly rồi lên đường.
Tuấn bỗng kêu khẽ:
- Ai như bà chị đã về?
Tất cả nhìn ra cổng. Một người đàn bà không còn trẻ nhưng nở
nang, đường hông vống ra hơi thái quá, khuôn mặt hồng hào tươi tắn đang nhẹ dắt
chiếc Hon đa 50 vào cổng. Tự dưng, tôi dừng mắt vào cái miệng cười khá tươi và
bộ ngực vẫn còn căng tròn hơi quá cỡ ấy. Chao, bộ ngực của một người đàn bà có
mười hai con, bộ ngực đã cứu sống một thằng đàn ông ngắc ngoải và ghê gớm hơn,
đã làm thay đổi hoàn toàn tâm tính của một con thú hoang dã đó ư? Tự dưng,
không ai bảo ai, tất cả chúng tôi đều đứng dậy kính cẩn chào chị như kính cẩn đứng
trước một tượng đài vĩnh cửu về lòng nhân hậu và sức sống bất diệt của người
đàn bà đi qua trận mạc.
Bà chủ nhà hé mở hàm răng đều và trắng chào chúng tôi rồi bước
vào sân trong. Tám Tính vội vàng chạy theo đỡ cái xe cho vợ rồi quay lại nhìn
chúng tôi, lắc đầu cười...
Thưa bạn đọc! Chắc tôi cũng như các bạn, đang đều cùng chung
một nỗi sốt ruột hết sức chính đáng rằng, vậy thì người đàn bà bí hiểm kia tại
sao lại không chết?
Vâng. Tôi sẽ xin trả lời ở những dòng sau đây, dẫu rằng ngay
từ những trang đầu tiên, tôi cũng đã có thể thoả mãn các bạn được điều khúc mắc
ấy. Bởi lẽ, mong bạn đọc thông cảm, ở đây thực lòng tôi không có tham vọng làm
một nhà tiểu thuyết hình sự chuyên đi đào bới những xác chết rồi đem chứng nghiệm
pháp y. Tôi ao ước khôn nguôi rằng, đằng sau cái chuyện hồn ma sống lại đó, tôi
sẽ nói được một điều gì đó ngoài chứng lý hình sự. Và rủi có đôi chỗ sa vào
hình sự thì mong bạn đọc cũng thông cảm cho.
Vâng! Sau khi tạm biệt đôi vợi chồng có mười hai và khả năng
là mười bốn con ấy ra đi, chẳng ngờ chỉ có mỗi mình tôi tiếp tục được cuộc hành
trình. Tuấn xuôi luôn Vũng Tàu như lời cậu ta nói, còn Ba Thành đột ngột lên
cơn đau đầu dữ dội phải nằm lại bệnh viện Long Khánh. Cả hai dường như ý nhị
tìm cớ thoái thác để tôi được tự nhiên sống lại với phần hồn của mình mà họ
đoán hiểu sẽ buồn nhiều vui ít nếu không muốn nói trắng ra rằng, đó chỉ là một
hành động ném đá lên trời.
Kệ! Tôi ra đi một mình như thể số phận đã luôn luôn sắp xếp
tôi phải đi một mình, phải chứng kiến cái kết cục bi thảm của màn kịch cuộc đời
ấy chỉ một mình, đúng thế.
Phải lận đận suốt ba ngày trong cái chòm xóm nằm sâu dưới
chân núi cách xa đường quốc lộ ấy, tôi mới đón gặp được viên đại uý kia. Anh ta
trốn, không muốn tiếp ai hết. Đến ngày thứ tư, tôi đành phải sục vào phòng ngủ
của anh ta giấc giữa trưa, khi biết chắc rằng con người ở ẩn này đang có mặt tại
nhà.
Đó là một người đàn ông chừng bốn mươi lăm tuổi, dáng nho
nhã, luôn luôn đeo kính trắng, nói bằng một cái giọng Bắc lai tạp, nhỏ nhẹ mặc
dù trên thân hình vẫn còn khoác nguyên bộ quần áo làm vườn lấm lem đất cát. Lại
làm vườn? Vườn tược đất đai trong này sao sẵn quá! Vài trăm gốc điều, mấy trăm
gốc cà phê, buổi sáng chim hót, tối về tắc kè kêu... Tất cả những cái đó sẽ cho
anh một cõi sống yên hàn, no đủ và thoát tục. Chỉ cần thế thôi chứ kiếp đời còn
đòi hỏi cái gì hơn nữa. Người đàn ông này sau một đoạn đời chật vật chắc cũng
đang sống trong hoàn cảnh điền viên thơi thoáng mà lợi tức hàng năm bật ra từ
điều, từ rặng cà phê lúc lỉu trái đỏ trái vàng kia. Chao, tuổi trẻ, con người
ta hay nghĩ đến bầu trời và biển cả, về già lại chỉ hun hút thâu tóm cảm xúc
mình vào mấy miếng đất hắt hiu màu cỏ dại thế này thôi sao?
Mải nhìn ngắm lòng mình qua mảnh vườn mát rượi, tôi không để
ý thấy đôi mắt cận queo nằm sau cặp kính trắng đang ngó tôi trừng trừng.
Tôi cũng ngó lại và... thoáng chốc bỗng nhợn người! Quen lắm!
Quen quá! Dường như đã gặp, đã nghe ở đâu rồi? Trong rừng?
Ngoài Hà Nội? Vùng Tây Đô sông nước hay trên đường phố Sài Gòn?
- Thưa... Xin hỏi - Anh ta rụt rè - Ông có phải là... ông
Hùng? Chỉ huy đội đặc nhiệm ở vùng tây nam sông Sài Gòn?
Một vệt sáng loé lên trong đầu tôi:
- Có phải anh là... là cái người đã trốn trong số bảy người
hôm ấy?
- Dạ!
Tiếng dạ trầm trầm đó đã đục toang tất cả. Tôi đưa bàn tay ra
cho anh ta nắm lấy... Trời đất! Tay đàn ông gì mà mềm ẹo, dấp dính mồ hôi?
- Chà! Một khoảnh khắc nhập nhoạng ấy mà anh vẫn còn nhớ được.
Giỏi!
- Người chịu ơn nhớ người ra ơn chứ mấy khi ngược lại, huống
hồ đây lại là một cái ơn cứu tử, thưa ông.
- Cám ơn! Nhưng thực ra bữa ấy anh chỉ ăn may thôi.
- Tôi hiểu. May hay không nhưng ít nhất nó cũng bộc lộ cái
con người thật của ông.
- Thôi bỏ qua chuyện cũ – Tôi cười gượng – Sao, khoẻ chứ?
- Dạ!... Ông Hùng khác đi nhiều quá! Duy đôi mắt và cặp lông
mày rậm là không thay đổi mấy. Hồi đó ông khoẻ và mạnh như một dũng sĩ da đỏ, gặp
một lần nhớ mãi, phục mãi. Khi trở về thành, thỉnh thoảng kể lại cho mấy đứa bạn
ruột nghe, họ nói “Việt Cộng cỡ vậy, làm sao ta thắng?”. Và riêng tôi, sau lần
gặp và được ông vô tình giải thoát ấy, hình như bên trong mình cũng bỗng nhiên
cảm thấy cần phải thay đổi đi một cái gì đó.
- Cám ơn! – Tôi lại buông ra một tiếng cám ơn chua chát – Tuy
vậy, cái bận anh trốn thoát đó, ở lại, tôi chịu bao nhiêu phiền phức, cũng rầy
rà lắm, nói lại nghe vui. Rồi sau đó anh đi đâu?... May mà không dính đạn của
nhau.
- Dạ! Tôi vẫn ở đó. Sau đấy có gặp lại ông một lần nữa...
- Gặp tôi? Lần nào?
- Dạ!... Nhắc tới thêm buồn. Cái lần ông và một người đàn bà
vừa nhảy lên khỏi căn hầm mật đang bị đánh mìn ở giữa ấp...
- Thôi đừng nói nữa!
Tôi vội xua tay và thấy lồng ngực mình nóng hực lên. Vệt sáng
thứ hai chém thẳng vào ngực tôi, khuấy đảo. Tôi quay đi khỏi phải nhìn vào cặp
mắt cận lúc này đang tỏ ra rất hiền lành ở ngay trước mặt. Có một cái gì đó mơ
hồ nhưng cũng lại rất rõ ràng như những vụn sáng lấp lánh ở tất cả mọi chuyện vụt
lả tả rơi xuống dòng cảm nhận của tôi.
Tôi nhè nhẹ thở ra để giọng nói của mình khỏi rung lên:
- Thế anh là người chỉ huy trận ấy?
- Dạ!...
- Sao? – Tôi tiến lên một bước – Chính anh là người cho mìn đặt
ở miệng hầm và cũng chính anh đã bắn bỏ...
- Xin ông bình tĩnh – Anh ta cúi xuống - Đúng là chỉ huy
nhưng tôi chỉ là cố vấn chỉ huy. Ra những mệnh lệnh trực tiếp khi ấy là người
khác. Hoàn toàn khác.
- Phải chăng... – Mắt tôi dịu lại – Anh là cái người tôi nhìn
thấy vào giây phút chót cùng khi quay đầu lại?
- Dạ!...
- Thế đấy! Chà, trận ấy mấy anh làm dữ quá! Chút nữa thì banh
xác cả một đơn vị chúng tôi – Tôi nói để làm chùng không khí xuống – Nghĩa là
trận ấy anh chỉ giữ vai trò cố vấn.
- Dạ! Không được như cố vấn – Anh ta cười nhẹ – Nói vậy, dễ
thường ông nghĩ rằng tôi đang cố tình chạy tội. Sau hơn chục năm đi cải tạo về,
tôi còn gì nữa đâu để chạy. Tôi đã trả giá đủ bằng sự trắng tay của mình hiện
giờ. Chỉ huy trực tiếp bữa đó là một trung uý nổi tiếng hung tàn, có thể tôi sẽ
có dịp nói đến con người dã thú này sau. Còn tôi, lúc ấy, trước đây và mãi mãi
sau này, tôi chưa bao giờ được họ tin dùng để một lần cầm gậy chỉ huy trong khi
phía các ông lại luôn luôn ấn tượng rằng thành phần cố vấn bao giờ cũng nguy hiểm
hơn thành phần trực tiếp giết chóc, nên cần phải cải tạo kỹ càng hơn. Oan!
Nhưng thôi, không nên nói lại chuyện cũ. Bây giờ tôi hài lòng với cuộc sống hiện
tại của mình tuy vợ tôi không chờ đợi nổi đã bỏ đi lấy chồng, chồng cách mạng,
làm to hẳn hoi. Thôi, cũng mừng cho cô ấy dẫu rằng, biết tin tôi về, cô ấy đã
khóc xin được trở lại. Tất nhiên tôi không thể chấp nhận. Sang năm, nếu ông có
dịp vào đây, mời ông dự đám cưới tôi, một đám cưới muộn mằn. Tôi cưới một người
đàn bà goá, vợ một chiến sĩ cách mạng. Cuộc đời đan chéo, hạnh phúc đan chéo,
ông thấy số phận sắp xếp lạ không?
Không để cho anh ta nói tiếp, tôi cắt ngang:
- Người đàn bà lên khỏi hầm cùng với tôi có chết không?
Mặt anh ta bất thần sựng lại, có một chút chấp chới ẩn sâu
trong đáy mắt. Một lát...
- Dạ!... Chết!
- Không đúng! Anh trả lời không đúng!
Anh ta nhìn tôi một lúc lâu như thăm dò, như nắm bắt, như
không nhìn gì cả rồi kéo tôi vào nhà, lặng lẽ lôi vò rượu rắn ra...
- Ông vẫn giữ được cái lối hỏi thẳng băng, ghê gớm như hai
mươi năm về trước. Bây giờ tôi xin kể hết với ông như tư cách hai người đàn
ông, hai người lính, hai con người ít gặp may trong cuộc đời này – Giọng anh ta
chậm rãi, buồn buồn - Ông dùng với tôi một ly! Rượu tôi nấu lấy, rắn tôi tự bắt
trên rừng, uống cũng được. Mời ông! Dạ, ngay từ hôm đầu ông tới, thoạt nhận ra
ông, tôi đã giật mình lo ngại nên tôi tránh. Vì tôi dư biết ông tìm đến đây là
vì cái gì. Tôi muốn ông phải thất vọng trở về. Nhưng nhìn dáng điệu tội quá, lại
trạnh nhớ đến con người và đức độ của ông ngày xưa nên tôi cầm lòng không đặng.
Vâng! Ông làm ly nữa? Tuổi tác chúng ta bây giờ không thể thiếu được cái thứ
này. Đáng lẽ tôi sẽ im lặng, im lặng đến lúc chết nhưng riêng với ông, tôi lại
có nhu cầu thổ lộ như một lời bộc bạch với chính mình. Cuộc đời đã xô đẩy cho
tôi và ông giống nhau, gặp nhau ở một điểm nào đó mà nếu thiếu nó thì con người
ta chẳng nên sống làm gì nữa. Đó là tình yêu. Dạ, cứ gọi trắng ra như thế dù
cho đối với tôi lúc này hai tiếng đó nghe xa vời, lạc lõng dữ lắm rồi. Tôi sẽ kể,
thà tôi mang lỗi với người kia còn hơn mang tội với ông. Duy có điều này ông nhớ
hộ: ngoài tôi ra, chuyện này chỉ có một mình ông biết. Thì cũng là một cách tôn
trọng lời hứa với người ta. Nhưng điều hệ trọng hơn là tôi không thể xúc phạm đến
hương hồn người quá cố – Cô Hai Hợi.
Bạn đọc thân mến! Từ đây trở đi cho đến lúc cái thảm kịch kia
xẩy ra, tôi không còn việc gì để kể với các bạn nữa. Câu chuyện của người đàn
ông này sẽ nói giúp cho tôi mọi điều. Mời các bạn!
Thưa ông, tôi xin được bắt đầu từ Hợi, người đàn bà đã tạo
cho tôi một tình yêu quá nhiều thống khổ nhưng cũng không thiếu ngọt ngào.
Như ông đã biết, tính tình của Hợi thật là kỳ quặc. Như thể ở
cô ấy hội tụ hết thảy những đen trắng, xấu tốt, tàn bạo vị tha, cứng cáp yếu mềm,
thánh thiện và quỷ sứ của một người đàn bà. Tôi vốn là dân Bắc di cư, học hết
tú tài và võ bị Đà Lạt. Thú thật, ngay từ phút đầu gặp cô ấy, tôi đã như kẻ bị
hớp mất hồn. Mà cũng khỗng hiểu tại sao nữa? Đẹp thì cũng không phải là đẹp, tài
cũng chưa ra tài, cách thức đưa tình gợi cảm còn kém các cô gái sành điệu xa.
Mãi về sau, khi Hợi không còn nữa, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, toàn bộ sức quyến rũ
đối với cánh đàn ông của cô ấy là cách sống và yêu hết mình, yêu tận đáy, yêu tận
tuỷ, cho hết, yêu không giữ lại cho mình một cái gì cả. Có thể vì thế mà khi bị
phản bội, cô ấy cũng trả lại sự hận thù cũng bằng một cường độ không kém, có
khi còn tàn bạo hơn. Tôi nghĩ cái tâm hồn đó là dấu vết của một vùng đất hoang
sơ, bạo liệt in hằn lên, vùng đất ở cực tây Nam Bộ. Xin lỗi ông, tôi đâu có muốn
luận bàn về đàn bà cho dù tôi cũng khá tường tận về họ và từng bị họ làm cho
điêu đứng khốn khổ. Sĩ quan Đà Lạt ga-lăng có tiếng và chịu chơi ngất trời, chắc
ông không lạ. Còn tôi, vì một nguyên cớ nào đó mà bản thân tôi cũng chưa ý thức
hết được, tôi đã may mắn, hay bất hạnh khi lọt được vào mắt Hợi. Sau này, sau một
đêm thức trắng với nhau. Hợi đã nói: “Tường biết không? Dạ tên tôi là Tường, bọn
đàn ông bâu quanh em đâu thiếu, cứ vo ve suốt ngày đêm như nhặng vàng nhưng em
chỉ thương một mình Tường. Tường có đôi mắt lạ lắm! Nhìn vô lâu có thể khóc được.
Giống đôi mắt của con nai con lạc mẹ trong vườn thú. Con đàn bà như em có thể
ngủ với cả chục thằng, khoái với vài trăm thằng nhưng thương thì chỉ có một
thôi. Vì thương còn mạnh hơn yêu. Thương là vợ thương chồng, mẹ thương con,
thương vô điều kiện, miễn là người được thương thấy hạnh phúc”. Tôi tin điều Hợi
nói mặc dù biết em nói chưa đủ. Những giờ khắc có được ở bên nhau, tôi bị cái
tình thương ấy trào ra đến ngạt thở, không còn biết mình là ai, ở nơi nào, đang
làm gì nữa. Mạnh mẽ, nghệ thuật, thô rám như gỗ nhưng lại mềm như tơ, từng nhịp
thở, từng tế bào đều tận cùng dâng hiến. Hợi đã tạo cho tôi một cảm giác lần
nào cũng như lần đầu, đói khát, ngấu nghiến như chưa hề một lần biết mùi đàn
bà. Xác thịt và linh hồn của cô ấy hoà quyện vào nhau nhuyễn như một. Nói thật,
tôi đã đi qua đời không ít các thiếu nữ và cũng khá nhiều các thiếu phụ nhưng
lúc gặp Hợi, tôi mới chưng hửng: Hoá ra mình chưa biết một tí gì về đàn bà cả.
Ông đừng cười tôi dài dòng tâng bốc. Tôi có tâng bốc nữa thì
cũng chưa thể nói hết được những gì Hợi có đâu. Có Hợi rồi tôi không màng đến một
cái gì khác. Phẩm hàm tướng tá, công danh địa vị, tất cả đối với tôi đều không
bằng một cái cười đắm đuối của cô ấy. Tôi đã tính vất bỏ hết thảy: xe hơi, nhà
lầu, bỏ những trận đánh không mục đích và, cái này mới tệ hại, tôi sẵn sàng bỏ
luôn cả cô vợ lộng lẫy, văn hoá cao, vốn là con gái rượu một vị tướng ở Bộ Tổng
tham mưu và nhờ có cô, tôi đã được thăng cấp tước trước thời hạn, cũng như sẽ hứa
hẹn cho tôi một tương lai hết sức sáng sủa. Bỏ hết, để được ngày ngày ở bên cạnh
Hợi. Đàn bà lạ lắm, ông thấy không? Đối với chúng ta, giá trị của họ không phụ
thuộc bao nhiêu vào sự danh giá, kiến thức và dòng dõi. Thậm chí họ dốt một tí,
ngơ ngơ, đêm tối một tí càng hay, càng có cớ để ta chống gậy đi thăm dò.
Biết tính Hợi quyết liệt và sòng phẳng, tôi đâu dám nói vụ vợ
con. Nhưng rồi cô ta cũng biết, biết qua một tay thượng sĩ dưới quyền tôi.
Chính hắn, để tâng công và để tìm đường lọt vào cõi lòng đang trống rỗng đau khổ
của vợ tôi, đã lén chụp được toàn bộ những cảnh yêu đương, ân ái, dạo chơi của
hai đứa tôi đem cống nạp cho cô ấy. Một màn đối chất độc địa theo kiểu Hoạn Thư
được dàn dựng. Tất nhiên Hợi không bao giờ để mình rơi vào vị trí bẽ bàng của
nàng Kiều nhưng thế cũng là đủ. Từ đó Hợi hoàn toàn cự tuyệt tôi, cho tôi là xảo
trá, hèn hạ, không xứng đáng với tình yêu của Hợi. Mặc cho tôi van xin khóc
lóc, cả đập đầu xin lỗi nhưng cô ấy đuổi thẳng tôi ra khỏi cửa. Mấy ngày sau, Hợi
cuốn tém các thứ đi vào rừng, chẳng để lại cho tôi lấy một chữ gọi là.
Đó cũng là thời kỳ bị chuyển sang làm đặc phái, làm cố vấn của
tôi. Nói theo cách nói của các ông thì có nghĩa là tôi bị treo giò, bị mắc-kê,
bị theo dõi, cần thử thách thêm. Lý do rất đơn giản: Không có Hợi, tôi chả còn
thiết gì nữa, kể cả phận sự đao binh. Đời tôi bắt đầu tuột dốc. Vợ tôi công
khai đi lại với gã thượng sĩ bò đực để trả thù tôi nhưng vẫn không chịu bỏ tôi
vì có lẽ... vẫn còn yêu tôi. Nói thêm một chút về gã thượng sĩ này: Thằng cha
cao to như lính Mỹ nhưng lại mang trái tim của lính Đại Hàn, một loại lính khát
máu chắc ông đã biết. Gã nói năng bặm trợn, trên dưới chả nể sợ ai, rất vũ phu
nhưng cũng rất mềm mại tuỳ lúc và có niềm say mê diệt Việt Cộng... xin lỗi, diệt
đối phương khét tiếng. Sức vóc trận mạc cũng như vóc làm tình của hắn chắc dữ dằn
lắm nên mỗi lần hắn đi chém giết trở về, tôi để ý thấy người ngợm cô vợ tôi cứ
gầy rạc đi. Tôi thây kệ. Ả trả thù vậy chứ trả thù nữa, tôi cũng coi như không.
Vậy mà oái ăm, chúng tôi vẫn phải là vợ là chồng, vẫn không dám đả động tới
chuyện ly hôn. Không hiểu bằng cách nào đó, cũng có thể do thằng người tình vâm
con kia cung cấp, vợ tôi nắm được tư tưởng phản chiến của tôi trên tất cả những
bằng chứng cụ thể nhất. Nếu tôi giở trò, ông bố vợ có cái nhìn lạnh như tiền nhất
định cho điệu cổ tôi ra toà án binh ngay.
Tưởng làm vậy sẽ khiến tôi đau khổ nhưng thấy tôi vẫn trơ ra,
ả giận điên lên và nói thẳng vào mặt tôi: “Anh chỉ là một thằng đàn ông liệt
dương khốn nạn!”. Đúng, tôi liệt thật nhưng ả đâu có biết rằng toàn bộ ngọn lửa
tâm sinh lý của tôi đã bị hút vào cụm rừng bên kia sông cả rồi. Ả ta vẫn yêu
tôi. Càng bị lạnh lùng, càng bị phản bội càng yêu, đàn bà họ kỳ thế. Và nói cho
cùng, đối với vợ con, tôi là một thằng đàn ông khốn nạn, chả ra gì, cô ấy phỉ
nhổ tôi là phải. Cuối cùng, không chịu nổi thằng cha bò mộng kia nữa, ả chán nản
chấm dứt cuộc trả thù tôi bằng cách máy móc ráp tống cổ gã xuống đơn vị với chức
phận trung đội trưởng thám kích.
Rồi một thời gian khá lâu sau đó, tôi bị bắt và may mắn được
gặp ông. Chắc ông sẽ nghi ngờ mà nghĩ, đang trong tâm trạng ủ ê thế mà sao tôi
vẫn có thể chỉ đạo tốp thám báo đánh phá rừng ác liệt như vậy?
Dạ! Bao nhiêu lý do tế nhị khó kể ra một lúc nhưng chỉ biết rằng
chiến tranh luôn có những niêm luật khắt khe vượt ra ngoài mọi ý muốn của con
người.
Đau nhất là thời gian này tôi lại không hề biết Hợi đã bỏ rừng
ra ấp. Cái đêm trốn khỏi tay các ông, tôi chưa dám trở về tiểu khu ngay. Chắc
cũng giống như bên các ông thời ấy thôi: đã bị bắt rồi mà còn dẫn xác ra được
là hết độ tin cậy, không còn ra người nữa, huống hồ một người dù không bị bắt
cũng đã quá ít độ tin cậy như tôi. Tôi ghé qua nhà má nuôi tôi ở cùng một xã với
Hợi để nghỉ ngơi, vừa là để thử nghe ngóng động tĩnh ra sao. Chẳng ngờ tôi lại
gặp chính cô ấy ở đó. Kinh ngạc và xúc động đến ứa nước mắt nhưng cũng lại thấy
thật buồn! - Xin phép cho tôi nói thật: không hiểu cuộc sống ở rừng thế nào,
cũng không hiểu các ông rèn luyện con người ta theo lối ép xác ra sao mà Hợi đổi
thay nhiều đến dễ sợ, không còn nhận ra nữa, đến khi nhận ra rồi, lại cứ mong
là không phải cô ấy. Nhưng tôi vẫn đem lòng yêu. Yêu cái cô Hợi óng ả, đắm đuối
này xưa đang còn tiềm ẩn trong cái cô Hợi đầy vẻ phong trần, bụi bặm hôm nay.
Tôi yêu một người rừng.
Vậy mà trớ trêu thay, Hợi lại vẫn hoàn toàn dửng dưng với
tôi, như thể mọi chuyện trước đây giữa hai người chỉ là trong mộng. Ngay từ
phút đầu gặp lại, Hợi đã không muốn chuyện trò, nhắc tới cái gì hết. Cô ấy bảo
mình đã có chồng rồi, một người chồng tuyệt vời, tìm cả gầm trời này không có.
Hơn nữa, cô ấy bực mình nói thêm: “Trong mọi điều chán ngán ở đời, cái trò yêu
lại là chán ngán nhất”. Tôi biết thế là không còn hy vọng gì nữa. Cô ấy là đàn
bà nhưng tính khí nam nhi, không khi nào nói hai lời.
Tình cảnh hai đứa lúc đó lại rất nguy nan. Hợi thì bị chính
quyền gọi lên gọi xuống, đe doạ, thẩm tra, dụ dỗ, kêu sẽ đưa lên cục an ninh
quân đội, lên Tổng nha cảnh sát, Tổng nha chiêu hồi để xác minh thêm. Hợi trả lời:
“Mời! Cứ đưa lên ông Thiệu luôn cho gọn một lần”. Cuối cùng viên trung uý chi
khu trưởng yêu cầu cô vẽ sơ đồ căn cứ bên sông và dẫn lính đi. Ông biết Hợi trả
lời sao không? Cô ấy đứng giữa công sở nói to: “Tôi chán chiến tranh, chán cách
mạng, chán luôn cả Quốc gia nên tôi mới vứt súng trở về làm người mần ăn bình
thường. Bây giờ mấy ông tính sử dụng tôi vào trò chém giết nữa thì tiểu nhân
quá! Vậy thì cứ mổ bụng, moi gan tôi ngay đi cho rảnh nợ - Tôi đang muốn chết
mà chưa tìm cách nào chết cho lẹ đây”. Nói rồi cô ấy xé toang ráo trọi quần áo,
xé cả đến nịt ngực và mảnh quần lót cuối cùng, đổ người nằm ngửa giữa nhà, mắt
nhắm lại tỉnh bơ... Thế là họ ngán, họ bỏ qua luôn. Chính thể nào cũng chẳng dại
gì xô đẩy người đàn bà đến bước đường cùng, nhất lại là một người đàn bà nổi tiếng
liều lĩnh và táo tợn như cô ấy, phải không ông? Về phần tôi, sau khi ra trình
báo với tất cả những bằng chứng không mấy thuyết pục, cơ quan an ninh quân đội
cũng tạm tin mà không nỡ hành lên hành xuống gì nhiều. Chắc cũng do cái tạng
người của tôi, họ nghĩ rằng dù ở bên này hay bên kia, tôi cũng chả làm nên trò
trống gì. Chỉ có bên các ông sau này lại đánh giá tôi hơi cao nên... xin lỗi,
giam giữ kỹ quá!
Mời ông uống thêm một ly nữa! Thứ rượu này chỉ tạo ra sự ngây
ngất chứ không nhức đầu, sảng khoái lắm. Dạ, đã lâu lắm rồi tôi mới lại có được
một buổi nói chuyện thành thật như thế này, lại nói chuyện trước ông, một nhân
cách tôi hằng kính trọng từ lâu. Sau Paris, có lẽ cả hai bên đều đã thấm mệt
nên mọi nguyên tắc sắt thép có phần phi nhân được áp dụng trước đây bỗng trây
ra, mềm èo trở lại. Tất mhiên ông tiểu khu trưởng, tức tỉnh trưởng, nguyên là
thầy học của tôi cũng góp một lời bảo lãnh. Ông này cũng đã được ra khỏi trại
và hiện đang sống với vợ con ở Sài Gòn. Ông ta có tiêu chuẩn bảo lãnh đi Mỹ
nhưng không đi, trong khi đó, nói cái chuyện này ra cứ thấy tức cười; rất nhiều
người trước đây tìm mọi cách để không phải đi cải tạo, để không bị liệt vào diện
ác ôn nhưng từ khi có chế độ bảo lãnh chính trị này, ai cũng kêu to lên rằng
mình trước đây có nợ máu, có mối thù thâm căn cố đế với Cộng sản, có vào diện cải
tạo lâu dài... Mục đích chỉ để được người Mỹ gọi đến tên. Lố bịch!
Trở lại cái chuyện tôi tạm thời không bị nghi vấn. Lắm lúc
tôi bạo nghĩ: giá như dân mình đánh lộn nhau chừng mươi năm nữa thì dám vừa
ngáp vừa nổ súng quá, và rồi cuối cùng tự ôm lấy nhau dàn hoà.
Được tự do nhưng Hợi càng hắt hủi tôi, có bận hắt hủi rất sỗ
sàng, đúng với tính khí của cô ấy, vậy mà tôi không nản. Trong cái chuyện trai
gái này, nó phải duyên phải số, nó bắt tinh bắt thóp, nó được tiền định xếp đặt
thế nào ấy, lạ lắm, càng bị khước từ, tôi càng lao tới.
Giai đoạn này Hợi không ở quê nữa mà lên hẳn thị xã lập nghiệp.
Ông có mường tượng ra cô ấy lập nghiệp thế nào không? Mở quán bán bar. Cuộc chiến
đang vào giai đoạn cuối, thanh niên bị bắt lính càng nhiều, và đã mang áo lính
rồi thì hầu hết đều lao vào cờ bạc, rượu chè, trai gái để đốt cháy những ngày
tháng hãi hùng, đốt cháy nỗi chán chường. Quán bar của Hợi lại nằm gần sân bay
nên khách khứa ra vào dữ lắm. Chả mấy hồi mà cả quân khu, cả tỉnh, cả vùng đều
nức tiếng cô chủ quán Việt Cộng chịu chơi hết sẩy! Quán mang tên Đêm rừng. Tôi
hiểu chắc không thể là ngẫu nhiên mà Hợi đặt cái tên ấy cho quán của mình. Đến
với Đêm rừng có đủ các loại người. Tướng tá có, dân thường có, nhà giàu nhà
nghèo, kẻ lưu manh, người đứng đắn, dân trí thức, đứa vô học... có hết. Và
trong số khách đến quán thường xuyên, tôi thấy có cả gã thượng sĩ nữa mà hắn đã
đeo lon trung uý, nghe đâu sẽ còn lên nữa. Vùng tiền đồng ác liệt đã không giết
chết được hắn mà chỉ tôi rèn thêm cái chất tàn bạo, đểu giả trong hắn mà thôi.
Sau một số công trạng gần như đã trở thành một huyền thoại người hùng, hắn được
trở lại vùng này để tiếp tục đánh phá. Hắn thường lai vãng ở quán không phải vì
ba cái đồ nhậu bình dân khô khan lại chẳng có món đực cái này. Hắn đến chính là
vì cô chủ quán. Ngay từ buổi đầu chợt nhìn thấy đôi mắt ngầu ngầu của hắn dòm
như muốn dứt tung quần áo của cô ấy ra, tôi đã dự cảm có điều gì đó không tốt
lành.
Xin lỗi đã làm ông mệt đầu vì tôi cứ đi kể lể mãi về người
đàn bà này trong khi tôi biết ông đang muốn tường tận về người đàn bà khác. Thực
chất nó là một mà tinh một chút, ông sẽ đoán ra phần chót của câu chuyện.
Thấy tôi tội nghiệp quá, và cũng chân thành quá, dần dần Hợi
không xua đuổi tôi nữa nhưng từ trong gan ruột, cô vẫn chỉ coi tôi là bạn. Bạn
để tâm tình. Một lần ghé lại, tôi ngạc nhiên thấy Hợi đang thầm lặng làm đám giỗ
một mình. Trên bàn thờ không thấy hình ai, chỉ có một tấm võng ni lông đã cũ được
gọi gọn trong giấy bóng kính đặt trên đó, tôi hỏi, cô không trả lời. Mãi mười
ngày sau, vào một buổi tối mưa tầm tã, nhân quán bar phải tạm đóng cửa để sang
sửa đồ đạc do bọn lính biệt động dù thất trận về đây phá phách, ăn nhậu, bắn lộn
nhau, Hợi đã kể lại cho tôi nghe trọn vẹn mối tình của cô với một người thứ tám
tên gì đó tôi không nhớ hồi ở trong rừng. Vừa rồi là giỗ đầu của con người ấy.
Tin tôi và vẫn còn đôi chút quý tôi, cô tâm sự: “Nhớ rừng quá! Nhớ con nhỏ em
và bạn bè ở trỏng quá! Dù thế nào, những ngày ở rừng vẫn là những ngày đàng
hoàng nhất. Nhiều phen muốn trở lại nhưng trót lỡ rồi. Trở lại lúc này, lúc
tình thế cách mạng đang lên, nhục lắm!”.
Hợi có kể rất nhiều về Ba Sương, cô em bà con cùng ở miền tây
dắt díu nhau lên đây mần ăn từ hồi nhỏ. Cô ấy bảo Ba Sương là một cô gái dễ
thương nhất trong tất cả các cô gái sinh ra trên đời này. Vừa kể cô ấy vừa
khóc, nói không hiểu bây giờ cô em ấy sống chết ra sao. Tất nhiên có kể cả về
ông. Về mối tình lãng mạn giữa ông và cô em ấy. Tôi không dám nói lại cái lần gặp
ông và Ba Sương ở trong rừng, sợ cô trạnh lòng, thêm chán ghét tôi. Thú thật,
phải đến lúc ấy tôi mới chợt nhớ ra hai chị em có những nét giống nhau đến lạ
lùng, mặc dầu nhìn kỹ lại hoàn toàn khác, mặc dù tôi mới thoáng nhìn thấy Ba
Sương đôi lần vào cái đêm rùng rợn ấy.
Thưa ông! Cuộc đời của Hợi sẽ cứ trôi chảy trong sự làm ăn
ngày một khá giả, trong nỗi nhớ rừng và cô em gái âm thầm cho tới tận ngày ngừng
bắn nếu như không có một biến cố xảy ra.
Ấy là cái lần Hợi đột nhiên đóng cửa quán bỏ đi đâu tới ba, bốn
ngày trời, khiến thiên hạ đã quen ăn hàng xôn xao cả lên. Khi trở về, người ta
thấy cô buồn rũ rượi, buồn rầu hơn cả cái đận cô ấy mới ở rừng ra. Hợi như người
mất hồn, mặt mày phờ phạc, hai tròng mắt trống lỗng, suốt ngày đêm không bước
chân ra khỏi nhà. Khi tôi đến, mà cũng chỉ mình tôi có thể đến, đã không còn thấy
cái bàn thờ dựng ở sát tường nữa. Tấm võng ni lông cũng bị quăng vào góc nhà, mặc
cho mạng nhện chăng đầy. Linh cảm mách bảo cho tôi hay một cái gì đó đã xẩy ra
với Hợi nhưng không dám hỏi, không tiện hỏi.
Ngày hôm sau, như cô ấy kể, gã trung uý mò tới. Lâu nay gã đã
nhằng nhẵng theo đuổi cô bằng tất cả những trò gì gã có thể có được. Lúc ngọt dịu,
lúc dữ dằn, tuần này đau đớn ủ ê, tuần sau đã lại gầm gào, giơ móng giơ vuốt,
khi thì kêu nghèo, kêu bất hạnh, lúc lại đổ lên người cô hàng lạng vàng, lạng
đá quý... Tất thảy đều bị Hợi gạt bỏ trong cái nhìn khinh bỉ, căm ghét, thậm
chí có lần còn hất cả một chậu nước hành kinh vào mặt gã khi nửa đêm gã dám đường
đột trèo qua cửa sổ vào giường ngủ của cô. Ai đó còn nói, cô thường có súng
phòng thân và không ít lần bằng tay không đã đánh gục những thằng đàn ông ngứa
nghề như gã. Hợi bảo tôi: “Anh là bạn của Hợi, tình nguyện làm vệ sĩ cho Hợi, vậy
mà anh lại nhắm mắt làm ngơ cho cái thằng khốn nạn đã cướp vợ của anh ngày nào
cũng vác mặt tới quấy rối à?”. Vốn tính nhu nhược từ bé, càng đi sâu vào trận mạc
càng nhu nhược, lại tự biết rằng dính tới bọn côn đồ vô học như gã là rất mệt,
thường là thất bại ê chề nên tôi đành cúi mặt làm thinh, dù biết thế là nhục,
là đào sâu thêm cái hố ngăn cách tình cảm giữa cô và tôi.
Chẳng ngờ cái triết lý phủ nhận bạo lực làm thinh hèn yếu đó
đã góp phần đẩy cô ấy đến một bi kịch không cách nào cứu chữa được.
Tôi nói tiếp cái chuyện ngày hôm sau gã trung uý mò đến quán
đêm rừng. Lần này hắn đến với một bộ dạng hoàn toàn khác - vẫn lời của cô ấy -
Quân hàm, quân hiệu, sao gạch, súng ống, mũ mãng đầy đủ. Hắn đến để thực thi
công vụ, để toan tính làm một cái cú áp-phe ái tình. Không cần biết thái độ của
Hợi ra sao, vào một cái, hắn gài ngay cửa lại rồi độp luôn: “Thế nào? Tôi đến
đây để nói một lần cuối cùng là tôi thương em, thích em, muốn ăn đời ở kiếp
cùng em và chờ câu trả lời của em ngay tại đây, ngay bây giờ!”.
“Cút đi!” Cô ấy quát. Hắn cười: “Lần khác thì có thể đấy
nhưng lần này thì không!” Nói rồi hắn xỉa ra giữa giường một tập ảnh, toàn những
bức hình chụp gọn chuyến đi vào rừng vừa rồi của cô ấy. Cô gặp ai, nói chuyện với
người nào, cô khóc, cô cười, ngồi trong lán, ngồi bên suối... đều có. Đặc biệt
bức hình nào cũng dính đến cái con người mang thứ Tám kia. Tám... Hoà? Không,
Tám... Tính, vâng Tám Tính, tôi nhớ ra rồi!
Để cho Hợi sững sờ nhìn chán tập ảnh, gã mới quật ngửa lá
bài: “Một là em sẽ bị bắt ngay bây giờ giao cho bọn an ninh quân đội, sẽ bị tra
khảo, bị nhốt chuồng cọp, bị rắn độc chui ống quần, chui cửa mình, bị đánh đến
tắt kinh, đến tuyệt đường sinh đẻ, bị hãm hiếp hội đồng... Hai, em sẽ là của
tôi, mãi mãi và cũng ngay bây giờ. Chọn đi!”.
Lúc ấy là vào buổi sáng. Cô ấy thẫn thờ rất lâu rồi quay đi
trả lời: “Anh khốn nạn và đê tiện lắm nhưng thôi được rồi! Tối nay anh quay trở
lại đây. Ai lại làm cái trò đó giữa ban ngày ban mặt, kỳ lắm!” “Ô kê! - Gã nói
- Buổi tối. Nhưng cô Việt Cộng trớ giở trò gì và nhất là đừng có bỏ đi đâu.
Quanh nhà đã có người của tôi canh chừng, động dạng gì là bị bắn bỏ ngay, bắn bỏ
như bắn bỏ một phần tử nguy hại đối với Quốc gia có đầy đủ tang chứng!”. Và hắn
đi.
Lát sau thì tôi đến và đấy là tất cả những gì Hợi kịp kể cho
tôi nghe. Không ngờ rằng đấy lại là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy cô, được
nghe cô ấy nói!... Tôi hỏi: Em tính sao? Chả lẽ lại đành... Hợi nhìn thẳng vào
ánh mắt tôi rất lâu rồi hỏi lại: "Anh có dám mạng đổi mạng để cứu thoát em
ra khỏi vòng tay của hắn không?”. Tôi gật đầu mặc dù chưa biết cứu cách nào? Hợi
cười buồn: “Nói giỡn thế thôi. Anh không làm gì nổi đâu. Và nếu có định làm thì
anh cũng không phải đối thủ của nó. Ôi, ông đại uý chuyên ngồi văn phòng của
tôi!”. Thằng đàn ông trong tôi dẫu có èo uộc thế nào đi nữa thì lúc ấy cũng phải
chồm dậy: “Tất nhiên, không ai có thể là đối thủ của bọn lưu manh, nhưng – Tôi
rút khẩu ru-lô ra khỏi vỏ vung lên – Nếu cần, tôi cũng sẵn sàng vì em mà làm kẻ
lưu manh hơn hắn. Tôi quyết định sẽ ở đây cùng em dến tối!”. Em cười, tiếng cười
vang lảnh lói, cười rất lâu cho đến tận bây giờ bên tai tôi vẫn văng vẳng tiếng
cười kinh dị và đau lòng đó. Khi em không cười nữa thì nước mắt bắt đầu chảy
ra. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến em khóc nên đầu óc tôi muốn tan chảy
thành bèo bọt luôn. Hợi bảo tôi ra đóng cửa lại rồi lên giường nằm với cô ấy.
Và cũng là lần đầu tiên tôi được nghe từ em một giọng nói rất đỗi dịu dàng: “Tường
ơi! Nếu trước kia em thương Tường được là vì anh là người Bắc. Anh tế nhị, dịu
dàng, anh biết yêu biết chiều em. Trái tim nổi loạn và thô rám của em nghĩ rằng
có thể ngủ bình yên trong tâm hồn đôn hậu, mềm mại của anh, của hầu hết những
người con trai xứ Bắc mà đàn ông trong này không có được. Nhưng nay cũng chính
vì anh là người Bắc, chất người hay đắn đo sau trước, chất người ít dám quyết định
một cái gì ngoài bản thân mình, chất người không hợp với chiến tranh, với những
hoàn cảnh bạo liệt nên em buộc phải xa anh, em không thể thương anh được nữa mà
cái chuyện anh dối em rằng chưa có vợ có con kia chỉ là một biểu hiện. Cũng vì
thế mà em không muốn anh dính vào cái chuyện trung uý này, nó làm hư anh đi, nó
làm anh không còn đúng là anh nữa. Em muốn ít nhất trong một vài chuyện đục ngầu,
anh có quyền được đứng ngoài với cái vẻ hiền hoà, trong trắng vốn có ở anh, cái
vẻ mà em đã hằng yêu thương. Thế nghen! Quên em đi! Dính đến em làm gì cho cực
thân. Có thể ngày mai mỗi người mỗi ngả, có thể hổng bao giờ gặp nhau nữa, em
cho anh được hưởng lại tất cả những gì còn có ở em. Anh nằm xuống đi. Lẹ lên! Lần
cuối và chẳng bao giờ nữa...”.
Ông bảo, đến nước ấy thì tôi còn có lòng dạ nào làm cái chuyện
ấy nữa. Tôi có cần cô ấy sự thoả mãn nhục dục đâu? Càng không cần chấp nhận
tình cảm nhất thời của em bằng một hành vi làm tình tức tưởi, làm lấy được, làm
cho xong, làm để chết, làm cho đỡ tủi. “Này anh!” Hợi nói và lật mình ôm siết lấy
tôi, hôn tôi thật lâu. Trong cái hôn nóng rát và mềm oặt đó, tôi nghe tiếng Hợi
thì thào: “Vĩnh biệt cuộc đời! Vĩnh biệt tình yêu! Vĩnh biệt tất cả những người
đàn ông xấu tốt đã yêu ta và ghét ta. Vĩnh biệt anh... Đêm rừng!...”.
Chính hai tiếng cuối cùng đó khiến tôi lạnh giá người lại
trong nỗi tự ái ùa vào bất chợt mà không kịp để ý đến chiều sâu câu nói. Khổ
quá! Cho đến tận phút cuối cùng cô cũng vẫn chỉ yêu có một người. Vì người đó
mà cô bỏ rừng, vì người đó mà cô âm thầm cúng giỗ, mà lặn lội đi tìm và nay
cũng vì người đó mà cô vứt bỏ cuộc đời. Người đó là ai? Hắn là người nào? Là
người nào mà có được tình yêu ghê gớm của người đàn bà cũng ghê gớm này? Tôi
ghen kinh khủng và cũng tò mò kinh khủng với cái sinh vật đàn ông vô hình vô ảnh
kia. Trong đầu tôi thoáng hiện ra một người con trai cao lớn, tóc bồng bềnh, mắt
sáng rỡ hay nhìn lên bầu trời mơ mộng, có tiếng nói thật ấm và mỗi khi vào trận
thì chớp sáng như thiên thần hay ít nhất con người đó cũng phải được như ông
cái năm tôi gặp. Có đúng vậy không ông...? Kìa sao ông lại cười? Ôi, giá mà tôi
được gặp con người đó, dù chỉ một lần!
Tôi là một con người nhu nhược, một sĩ quan bất đắc chí nhưng
khi cần thiết, mà một đời người hy hữu cũng chỉ cần đôi ba lần cần thiết như vậy,
tôi cũng biết hành động thế nào để đạt được ý định của mình.
Tôi hối cậu xế nhấn mạnh ga. Biết đâu vào giờ phút chót, gã
trung uý quỷ quái kia sẽ thay đổi thái độ, cho xe phóng đuổi theo để cướp lại
con mồi, đặng có hình hài cụ thể chứng minh công trạng với thượng cấp? Nhưng
không, đằng sau xe chỉ có bụi đường vẩn lên cuồn cuộn và xa nữa, cái ấp vừa xảy
ra chết chóc kia vẫn đang nằm im lìm sau hàng dừa xanh ngắt. Sau này tôi mới được
biết đám thám báo hùng hổ kia không săn thêm được một con mồi nào nữa. Người ta
bảo trước khi đám này ập được tới thì căn hầm ấy và cả những căn hầm khác đã được
bà con hay cơ sở nội gián gì đó của các ông gài ngay trong đội hình bảo an đánh
tháo được rồi. Còn ông, tôi biết ông chắc chắn sẽ thoát. Với cái sức vóc và độ
chạy như con thú hoang đó, không có một luồng đạn nào, một lực lượng nào có thể
đuổi theo được. Tôi chỉ áy náy có một điều: không hiểu lúc đó ông có biết gì về
người bạn gái của ông bị vấp ngã phải nằm lại không? Và nếu biết thì chắc ông
cũng đành phải chịu thôi. Tôi hiểu, dù can đảm thế nào, lanh lợi đến mấy, ở trường
hợp đó, nếu nói theo khái niệm quân sự đơn thuần thì cũng chỉ có thể bó tay, trừ
trường hợp trong lòng đang ngự trị một thứ tình cảm siêu nhiên nào đó như tình
mẹ con, tình vợ chồng. Bản năng tự vệ và khát vọng tồn tại bao giờ cũng mạnh
hơn quan hệ cộng đồng. Kìa!... Ông sao thế?... Dạ, xin ông bỏ quá cho những nhận
định có thể là rất hàm hồ, thiếu tế nhị của tôi. Chà, trước sau gì rồi tôi vẫn
chỉ là một gã đàn ông bạc nhược không hơn không kém. Mong ông...
Xin trở lại câu chuyện
Xe phóng được một đoạn dài thấy có vẻ ổn, tôi kêu cậu lái giảm
bớt tốc độ lại, cần hết sức tránh những ổ gà. Tôi sợ cô gái đang nằm kia bị chấn
động mạnh sẽ tử vong mất. Cách đây mươi phút, trong nanh vuốt của gã trung uý,
tôi thầm mong cô cứ hôn mê bất tỉnh, thậm chí có chết thật đi cũng được, giờ
đây tôi lại muốn cô cụ cựa, kêu to lên, rên la thật dữ để chứng tỏ sự sống
trong cái cơ thể ấy vẫn chưa tắt hẳn. Song cô vẫn nằm thoi thóp, hai mắt nhắm
nghiền. Trong lòng tôi bỗng trào lên một nỗi thương cảm lạ lùng. Thương cảm một
thiếu nữ gầy yếu long đong trận mạc để rồi cuối cùng phải nằm quằn quại trong
vũng máu, thương cảm vì cô gợi nhớ đến Hợi, gợi nhớ đến sự xâu xé vô nghĩa của
con người, thế thôi. Tôi không thế nói dối lòng rằng, ít nhất cũng đã có một lần
mình tỏ ra thương cảm chân thành một con người đứng ở chiến tuyến bên kia. Nói
thế không ổn. Tình thương đồng loại đâu có phụ thuộc vào chính trị và những chủ
thuyết khô cằn, phải không ông?
Đặt tay lên mũi cô vẫn còn thấy hơi nóng phả nhẹ ra, ghé sát
tai vào ngực vẫn nghe tiếng tim đập rời rạc, mừng quá, tôi vội kê cho đầu cô
cao lên, rút tất cả bông băng dự phòng của tôi, của cả cậu tài xế quấn bịt vết
thương cho cô ấy. Xe tròng trành khiến cái lưng nhỏ như lưng con nít của cô hơi
lật nghiêng, để lộ ra ở chỗ đó một vũng máu đã đông lại. Thú thực với ông, ở rừng
ăn uống kham khổ như vậy, tầm vóc lại quá nhỏ bé, không hiểu cô ấy lấy sức lực
đâu ra để cầm súng, để chịu đựng được những vết đau kinh khủng đến người khoẻ
cũng phải tử vong như thế?
Nhấp xong một chút nước đường, cô ấy khẽ chuyển người rên lên
một tiếng rồi từ từ mở cặp mắt sưng húp ra... Sống rồi! Tôi thầm reo lên và kêu
xe gia tăng tốc độ. Khi đó, bên kia sông, trời đã chuyển sang chiều.
Thưa ông! Tôi mạn phép nhận xét rằng, ông có vẻ mệt. Tôi hiểu,
để nghe trọn được câu chuyện này, ông đã phải cố gắng nhiều lắm. Để kể xong được
câu chuyện này, sức lực tôi cũng quá tải. Nhưng thôi, nghe một lần và kể một lần
để không bao giờ phải nghe, phải kể nữa, như hoàn tất một thủ tục không muốn
hoàn tất nhưng phải hoàn tất.
Tôi nói đến đây, có thể ông đã đoán ra đoạn kết câu chuyện, một
đoạn kết gay cấn, như xi-nê-ma, như không có thật phải không ông? Tuỳ! Người
ngoài cuộc họ muốn nghĩ sao tuỳ họ, cơ bản những người trong cuộc chấp nhận nó
đúng là nó, ví như tôi với ông.
Cái đoạn kết có thể nói gọn lại một câu: ngay tối hôm ấy, với
sự trợ giúp của anh lái xe vốn là người thân tín và anh bạn cùng quân trường,
tôi đã đánh tráo xác hai người đàn bà, hai chị em cô ấy. Xác Hai Hợi được đưa về
tiểu khu với lý do: đã chết dọc đường vì những vết thương quá nặng, tất nhiên
sau khi đã cải trang chút đỉnh, thay quần áo và thực hiện những chi tiết tương
tự. Còn xác Ba Sương nhanh chóng được chở về Sài Gòn, gửi gắm cho một anh bạn
bác sĩ có danh tiếng vốn tốt nghiệp ở Pháp về. Một phép hoán vị đơn giản vậy
thôi nhưng tôi đã làm tròn lời trăng trối của cô ấy ở một góc độ khác. Hợi đã
chết cho người em gái vô cùng thân thiết có cơ hội sống lại. Và suy cho cùng đến
nhẽ, xác cô ấy cũng được chôn ở bìa rừng, cạnh Sương, cạnh những kỷ niệm một thời
và cạnh... Buồn cười! Tôi đã tránh không muốn nhắc đến tên cái người đàn ông ấy
nhưng rồi vẫn cứ phải nhắc, lại vẫn như một định mệnh, một nghiệp chướng. Khác
một điều, cái điều khiến tôi khổ tâm suốt những tháng năm sau này, xác của Hợi
ngay sáng hôm sau được người ta đem phơi giữa ngã ba xa lộ, gần chợ, mặc nắng mặc
mưa, mặc dòng người, dòng xe qua lại suốt ngày đêm nhìn ngó. Họ muốn dựng một
bài học sống động bằng thân thể đàn bà. Thân thể đàn bà... Ông có thể tưởng tượng
được ra cái thân thể ấy chỉ cần đến ngày thứ hai thì biến dạng phồng tấy, ruồi
nhặng đêm ngày vo ve như thế nào?...
Cám ơn Hùng đã tế nhị không ngắt lời tôi trong suốt buổi chuyện
trò, trong khi tôi biết trong mắt ông luôn luôn vẩn lên những câu hỏi nhức nhối,
những đau buồn nặng nề. Bởi lẽ, nếu như ông tìm đến tôi ngay sau những ngày
ngưng bắn đầu tiên, khi tôi chưa phải đi tập trung thì có nghĩa là ông đã biết
cái xác đó không phải của Ba Sương. Tôi được biết chính ông và chiến hữu của
ông đã làm một vụ cướp xác động trời có đèn pha rọi sáng, có ổ phục kích tầm xa
và có lính gác nằm dày đặc vòng trong vòng ngoài mà báo chí Sài Gòn đã đua nhau
đăng tải, họ cho rằng hành vi ấy mang tính huyền thoại, rất ít có khả năng thực
hiện. Còn bây giờ, sau hơn mười sáu năm ông mới tìm đến tôi thì có nghĩa là ông
vẫn đang trên đường tìm sự thật. Đúng thế không? Kể ra như thế cũng là quá muộn
nhưng dù sao ông cũng đã đến. Mười sáu năm qua, nói thật lòng, tôi vẫn có ý chờ,
dù ở ngoài hay ở trong trại tù. Chờ chả để làm gì, vô nghĩa nhưng vẫn không thể
không chờ, như một sự bàn trao, một món nợ còn đang mắc. Nói cho cùng, trong
chuyện này, chỉ có tôi với ông mới là hai người mất mát thật sự, mất mát một
người đàn bà mà suốt đời đi tìm cũng không có nữa. Ông có hiểu ý tôi không?
Tóm lại là cô ấy, cô Ba Sương của ông ấy vẫn còn sống. Sau cả
nửa năm chạy chữa ở Sài Gòn với những phương pháp tân kỳ nhất, Sương đã gượng dậy
được, duy vết thương nơi đỉnh đầu là vẫn còn nguy hiểm. Động mạnh một chút hoặc
trái gió trở trời, bị xúc động mạnh một chút là có thể lăn ra ngất xỉu.
Thời gian qua, tôi chỉ được gặp cô ấy có hai lần. Một lần trước
khi đi cải tạo và lần gần đây nhất, cách đây ba năm, khi tôi từ trại cải tạo về.
Lần thứ nhất cô khuyên tôi cứ bình tĩnh mà đi và tỏ ý tiếc là trong hoàn cảnh
cô hiện nay, cô không có cách nào bảo lãnh cho tôi được. Hoàn cảnh gì? Tôi hỏi.
Cô ấy không trả lời, chỉ nói phức tạp và tế nhị lắm. Mãi sau cô ấy mới cầm tay
tôi, nói như khóc: “Cuộc đời khổ quá! Đáng lẽ anh Tường để yên cho tôi chết
ngày ấy có khi lại đỡ nặng nề hơn. Nhưng thôi, anh Tường đã cứu tôi một lần,
lúc này anh Tường hãy cứu tôi một lần nữa bằng cách quên tôi đi, coi như tôi đã
chết thật rồi, trong mọi câu chuyện, nếu có ai hỏi, có ai muốn biết về tôi, anh
hãy im lặng, im lặng tuyệt đối, kể cả cái người...”. Nói đến đó thì cô ấy dừng
lại nhưng tôi biết là cô ấy muốn nhắc đến ông. Nhìn trong mắt cô, tôi thấy cô vẫn
còn nặng nợ với ông lắm, thấy hình ảnh ông vẫn còn in rõ. Hồi đó mới giải
phóng, tôi không thật hiểu về con người cũng như về đặc điểm tư tưởng, tổ chức
bên phía các ông lắm nhưng tôi cũng mường tượng ra cô ấy muốn làm lại tất cả từ
đầu, làm ở nơi khác, vô danh và vô hình. Cô ấy muốn sửa lại những lỗi lầm của
người chị họ và đồng thời lại muốn đáp đền tấm lòng của người chị họ ấy. Có thể
như thế, và cũng có thể không phải như thế. Nói gọn lại, dường như tôi cảm thấy
cô ấy đã quyết định tự đặt mình vào chiều trái cuộc đời để yên ổn hướng tâm hồn
về chiều phải.
Lần thứ hai cô cũng tự tìm đến tôi, chính trong căn nhà này,
lúc biết tin tôi được trở về. Lần này nhìn cô ấy khác lắm! Khác hẳn với những dự
đoán của tôi. Khác thế nào, tôi chắc rằng ông cũng đã biết. Cô đến tỏ ý chúc mừng
tôi đã hoàn tất thời hạn cải tạo trở về tốt lành. Và cảm ơn tôi về sự thật của
cô cho đến nay vẫn hoàn toàn được giữ kín. Sau đó cô ngượng nghịu đưa tôi một cục
tiền, nhiều lắm, bảo rằng để tôi làm vốn sinh nhai mà nuôi vợ con. Trời đất! Vợ
con nỗi gì nữa! Trước khi về, cô ấy còn hứa mỗi quý sẽ gửi cho tôi một số tiền
cố định khoảng năm, sáu trăm ngàn gì đó gọi là tri ân nghĩa cũ tình xưa. Tất
nhiên là tôi không nhận. Đời tôi tuy nghèo thật, tuy lắm bất hạnh thật nhưng
làm sao tôi có thể ngửa tay đi nhận cái tiền trả công cứu tử ấy. Tôi nói: “Thưa
chị – Vâng, với dáng bộ sang giàu và vầng trán nhiều suy tư đó, tôi không thể gọi
cô được nữa – Chị lầm rồi chị Ba ạ! Hôm ấy tôi không chủ đích cứu chị mà tôi chỉ
thực hiện lời trối trăng của Hai Hợi thôi. Đối với chị, tôi không có công cán
gì và đối với tôi, chị cũng không có nợ nần gì hết. Coi như xong! Chỉ xin chị ở
đâu, làm gì, cũng thỉnh thoảng trở về hương khói cho Hợi để hương hồn cô ấy đỡ
trống trải”.
Cô ấy cúi đầu nhìn xuống chân, mắt rất buồn. Trong cái nhìn
buồn đó, tôi đọc thấy cuộc sống hiện tại của cổ, dù vẻ ngoài có bề viên mãn, vẫn
có điều gì đó bất ổn. Cái cười, cái nhìn, cách nói của cô có vẻ thảng thốt, nó
không thật tương xứng với cái vẻ bên ngoài. Tôi mạnh dạn khuyên cô ấy nếu có điều
kiện, có nhiều tiền nên bỏ ra một ít tu tạo lại phần mộ của Hai Hợi. Ba Sương gật
đầu nhưng mấy tháng sau, khi có việc phải đi qua đó, tôi vẫn thấy nấm mộ ấy y
nguyên, sạt lở một góc. Ông thấy đấy, ngay cái chuyện ai đang nằm dưới mộ ghi
tên cô ấy kia cũng là một lý do sâu xa và bất cập để cô ấy tự chối bỏ mình.
Gần đây có một sự kiện gây cho tôi sự kinh ngạc lạ lùng đến nỗi
cho đến tận lúc này, tôi vẫn không hiểu được hoặc đổ tại mắt mình nhìn nhầm. Đó
là bữa tôi về Sài Gòn – Xin lỗi cho tôi dùng tên cũ, gọi thành phố Hồ Chí Minh
nghe dài dòng quá, gọi không khéo lại dễ xúc phạm đến Cụ – thăm hai cháu. Vừa
chạm đầu đường Phan Thanh Giản, ý, đường Điện Biên Phủ chứ, thì một chiếc Lađa
vụt qua ngang mặt với một tốc độ khá lớn, tí tẹo nữa thì hất tôi vào vỉa hè. Vừa
gượng dậy được, định cự lại anh lái xe mấy câu cho bõ giận thì tôi chợt nhìn thấy
khuôn mặt sang trọng, đẹp đẽ của cô ấy sau cửa kính xe. Điều kỳ dị hơn, ông có
thể hình dung ra nổi không, người ngồi bên cạnh có dáng điệu rất ông chủ, một
tay khoác qua vai cô ta lại chính là... gã trung uý giết người năm ấy. Thời
gian qua lâu rồi, tuy gã có béo tốt, bộ điệu quý tộc hơn nhưng tôi vẫn nhận ra
gã qua bộ ria mép cứng quèo để theo kiểu người hùng và cặp mắt cô hồn đang trờn
trợn nhìn về phía trước. Chắc cả cô ta lẫn hắn đều không nhận ra tôi vì còn
đang bận nói cái gì đó với nhau nên chiếc xe chỉnh lại đường lượn rồi vút đi
ngon lành. Trời! Ông lại đang làm sao thế? Chân tay ông đang run lên kia kìa! Lại
còn mồ hôi tháo ra đầy trán nữa! Cảm mất rồi. Thôi ông vào nhà nằm nghỉ đi, để
tôi kêu bà thím nhà bên cạnh sang đánh gió giùm cho, khỏi liền. Sao?... Không
phải cảm ạ? Vâng! Có thể ngồi lâu quá, những vết thương cũ của ông nó hành?
Nhìn ông lúc này yếu quá! Khổ! Không còn lại một chút gì ngày xưa cả. Chiến
tranh...
Dạ chắc không nhận ra tôi nên chiếc xe ấy vẫn đi. Còn tôi thì
đứng lặng trên vỉa hè, ngơ ngác. Thế là thế nào nhỉ? Tại sao lại có thể như thế
được nhỉ? Đùa hay thật đấy? Đúng hắn hay tôi quáng mắt? Và nếu đúng là hắn thật
thì tôi không còn hiểu cuộc đời này nó ra làm sao nữa! Quỷ ngồi với người, kẻ
sát nhân ngồi với người bị sát hại, tội ác khoác vai nạn nhân, bình thản, tình
tứ... Hay chính là cô ta cũng đã trở thành quỷ rồi?...
Sau này tôi được biết gã giết người đó không hề phải trải qua
một ngày cải tạo. Giải phóng xong, gã được một người bà con nào đó làm lớn lắm
trên thành phố bảo lãnh hoặc chính hắn khôn khéo thoát được vòng cương toả để
được nhận vào làm ở một công ty quan trọng ngay từ những ngày hỗn độn ban đầu.
Rồi sau đó là cái gì nữa thì tôi chịu, không sao biết được. Bỗng thấy buồn. Buồn
ghê gớm. Buồn vì cái quan hệ bí hiểm giữa gã và cô ta một phần, phần khác là buồn
cho chính tôi. Rút cuộc, ở đâu, cuộc đời nào, thể chế gì đi nữa thì kẻ độc ác
khôn ngoan vẫn có chỗ dung thân. Chỉ tội tình cho những kẻ thật thà không biết
một mảy may tự vệ như tôi. Thôi, cái gì đã qua. Tôi chỉ nhức nhối không hiểu tại
sao gã biết cô ấy còn sống? Và tại sao gã lại biết chỗ cô ấy mà tìm đến trong
khi chính tôi, ân nhân của cô ấy như chính cô nói, lại không hề biết cô ấy ở
đâu, làm gì? Tôi linh cảm thấy có một cái gì khuất tất ghê gớm lắm bên trong
cái khoác vai đó, dẫu rằng nó chưa lên hình lên nét, vẫn đang còn nằm trong dự
cảm thôi, song dứt khoát là có.
CHƯƠNG 16
Vâng! Tên gã trung uý đó là Địch. Sĩ quan thám báo Đặng Thanh
Địch.
Nghe xong, sau khi hứa sẽ giữ kín câu chuyện này như giữ một
chút danh dự lính chiến còn lại trong mình, ông Hùng lặng lẽ đứng dậy, âm thầm
bỏ đi ra ngoài.
Đêm đã về khuya. Gió thổi nhẹ. Xôn xao. Thanh vắng. Chưa có
sao nhưng bầu trời vẫn bàng bạc trắng, có lẽ do khoảng trống khoáng đạt và huyền
diệu từ mặt đất hất lên.
Cái kết thúc của câu chuyện đượm vẻ ma quái này đôi lúc đã thấp
thoáng ẩn hiện trong dự đoán của ông nhưng thực sự ông không thể ngờ rằng nó lại
diễn ra nghiệt ngã và thương tâm đến thế! Câu chuyện đã làm ông yên tĩnh trở lại
rất nhiều nhưng cũng lại khiến ông nuối tiếc cồn cào không kém. Giá cứ để nó
trong dạng giả thuyết sơ khai có khi lại còn dễ chịu hơn, đâu có cái gì mập mờ ở
phía trước mà dò tìm? Nay mọi sự rạch ròi trần trụi ra rồi, lòng dạ tự dưng rơi
tõm vào trạng thái nghịch, trạng thái yên tĩnh nặng nề.
Kiếm một vạt cỏ mịn, ông ngả người nằm xuống, hai tay khoanh
lấy đầu, mắt nhìn lên vòm cao trống rỗng. Lâu nay ông thường có thói quen nằm
kiểu này, nằm rất lâu, có khi qua đêm để đầu óc tan toả ra với thiên nhiên rộng
lớn, để đầu óc không phải suy nghĩ gì cả.
Vậy mà đêm nay, giữa thiên nhiên bao la hơn mọi đêm, mọi bộn
bề cứ ồn ã dội về, càng nằm lâu, càng cố thư giãn, bên trái đầu càng ong ong nhức.
Ông ngồi dậy đốt thuốc... Giụi thuốc... Lại nằm xuống... Lại đứng lên... rồi thất
thểu đi tiếp. Cái câu hỏi ấy lại quay lại, vật vã trong đầu. Ừ, thì cứ cho là
do một trường hợp ngẫu nhiên kỳ lạ mà cô ấy không chết nhưng tại sao cô ấy phải
chạy trốn, phải chối bỏ quá khứ quyết liệt như vậy? Cái cẳng tay vấy máu khoác
lên bờ vai cô ta kia là như thế nào? Thằng Phản ngực có tên là Địch trời đánh ấy
có tác động gì vào câu chuyện này không? Chắc chắn là có rồi nhưng tại sao lại
có thể như thế được? Chuyện đùa cả à? Ai đùa? Vô lý!... Bỗng dưng trong đầu ông
sôi lên một nỗi giận dữ vô cớ và mãnh liệt. Ông quay người đi nhanh trở lại.
- Anh Tường ạ! - Ông đẩy mạnh cửa bước vào.
- Anh không đi dạo nữa? - Ông tường đã chuyển cách xưng hô mà
không tự biết – Anh thấy cảnh vật nơi đây dễ thương không? Nó hao hao giống cảnh
vật sông Sài Gòn: đất trời, mùi của gió, của nước, cây cỏ...
- Tôi biết nơi cô ấy ở và làm việc - Ông Hùng ngắt lời.
- Vâng! Tôi cũng đoán ra điều đó - Ông Tường trả lời bình thản.
- Biết cả cái gã thượng sĩ ấy nữa. Một cán bộ tin cậy của cô
ta.
- Vâng, hình như thế. Một con người như vậy, thời nào, ở đâu
nó cũng sẽ tạo được một độ tin cậy nhất định. Xã hội càng bất ổn thì thân phận
hắn càng ổn. Ông cha ta vẫn gọi là “đục nước béo cò”.
- Vậy thì sao nào? - Ông Hùng bỗng hơi lớn giọng trước cái vẻ
mặt quá ư lãnh đạm của người nói chuyện - Nó đã cướp vợ anh, đã không ngừng hãm
hại anh, đã giết Hợi, đã đánh đập Sương và chính nó đã đẩy cô ấy vào ngõ cụt trốn
tránh bạn bè, chối bỏ quá khứ và cũng chính nó, tôi biết, đang tìm cách hãm hại
và khống chế cô ta trong những hành vi làm ăn phi pháp không lường được.
- Vâng, vậy thì sao nào? - Đến lượt ông Tường hỏi lại - Trừng
phạt ư? Thanh toán ư? Bắt nó trả mọi nợ nần ư? Hay tố giác? Hay tìm cách cảnh tỉnh
cho cô ấy biết? Tôi đã có nghĩ, giống như ngày xưa nhiều lần tôi cũng đã có
nghĩ nhưng rồi lại buông trôi. Không ổn đâu. Muộn mất rồi. Lũ chúng ta bao giờ
cũng muộn so với bọn ác tâm thất đức. Vả lại, chuyện cách đây đã gần hai mươi
năm, mọi ân oán giang hồ đã bị thời gian đánh nhoà, khơi lại tôi thấy khó khăn
lắm. Cũng có thể đó là suy nghĩ của một kẻ bạc nhược, bạc nhược cho đến lúc chết
nhưng tôi nghĩ cái hôm qua là của ngày hôm qua, mục nát, lên mùi rồi, còn cái
hôm nay là của ngày hôm nay, của lớp người hiện tại, của dòng chảy nháo nhào
không cần biết trắng đen, phải quấy ra làm sao. Mình khơi lại, dù bằng bất cứ
hình thức nào, biết đâu chả làm trò cười cho người ta. Chúng ta, xin lỗi, có lẽ
hết phận sự rồi.
- Tại sao lại hết phận sự? - Ông Hùng run giọng lên – Thằng
khốn nạn ấy không phải chỉ là của ngày hôm qua. Nó chính là của ngày hôm nay,
nó đang luồn lách phá nát thêm hiện tại, nó là cái nọc độc còn sót lại và đang
gặp thời phát triển. Tôi đã là một thằng bạc nhược, bạc nhược đến xấu hổ mà anh
lại còn bạc nhược hơn. Thôi được, cứ cho là hắn không dính dáng gì đến ngày hôm
qua đi nhưng lúc này thằng Địch nó đang hiện diện như một tội ác bên cạnh cô ấy,
một cái ác cần loại bỏ mà không ai khác, chính những kẻ thiệt thòi không tin cậy
như tôi với anh phải tiến hành.
- Tức là...
- Tức là không cần biết nó là ai, trước kia đốn mạt như thế
nào, chỉ biết giờ đây nó đang xúc phạm đến chúng ta, đến những kẻ lương thiện
khốn khổ, tôi và anh, chỉ cần tôi với anh thôi, ngày ngày mai sẽ thu xếp lên gặp
nó. Ít nhất cũng cứu được cô ta.
- Ông vẫn còn yêu người đàn bà ấy đến thế ư?
Câu hỏi thoảng nhẹ cùng với ánh mắt chân thành kia khiến ông
thoắt bối rối.
- Không!... Buồn cười! Thực chất đây không còn là chuyện cá
nhân nữa mà nó thuộc về... Mà thôi, có lẽ ông nói đúng, ông Tường ạ! Trước ông,
tôi không thể giấu: tôi vẫn còn... yêu mặc dù trước đây mới một tuần, sau khi
khám phá ra cái nốt ruồi đen tren phần ngực trái của cô ấy, tôi tưởng trái tim
mình đã hoàn toàn nguội lạnh.
Nét mặt ông Tường chợt chuyển sang bùi ngùi:
- Tôi hiểu anh, anh Hùng ạ! Tôi đã trải qua. Chỉ khác trái
tim tôi mềm yếu hơn anh và, nói chung, chúng tôi đều mềm yếu hơn các anh, điều
đó lý giải phần nào cái sự việc các anh đã là kẻ chiến thắng. Vâng! Đi gặp tên
trung uý, đó là một ý hay nhưng anh hãy để cho tôi suy nghĩ thêm. Đã lâu quá rồi,
trong cái đầu đã trở thành hoang hoá, sình lầy của tôi không còn chừa một chỗ
nào cho hai chữ hận thù ẩn nấp cả. Khổ!
- Ban đêm ở đây ổn chứ? - ông Hùng quay đi, ngáp khẽ một tiếng.
- Theo nghĩa nào kia?
- Mọi nghĩa. Trước hết là an ninh, trật tự.
- Anh có thể yên tâm - Ông Tường cười – Về chuyện này thì các
anh làm cừ hơn chính quyền cũ rất nhiều. Nhưng để làm gì?
- Tôi muốn đi dạo xa một chút. Đêm nay tôi muốn đi dạo đến
sáng, một mình.
- Tôi hiểu và tôi xin chia sẻ tâm trạng của anh. Trước đây
tôi cũng thường có những buổi lang thang ban đêm một mình như vậy. Anh có thể
đi ra ngoài bến xe. Một xã hội sống động đang vón cục lại ở đó. Họ thức suốt
đêm, có cả quán nhậu hợp khẩu vị người Bắc. Tiền đây, anh cầm đi mà tiêu. Xin lỗi,
tôi biết anh nghèo. Tất cả những người thoát chết đi ra từ cuộc chiến tranh đều
nghèo, dù bên này hay bên kia. Chúc ông một đêm nhẹ nhõm.
Ông Tường móc túi lấy ra mấy tờ bạc 5.000 đồng đặt lên bàn.
Ông Hùng định cầm lấy nhưng rồi lại thôi. Ông hiểu rằng đêm nay, mình sẽ không
còn lòng dạ nào dùng đến tiền.
Lúc ấy ông không ngờ rằng mọi việc sẽ được kết thúc rất gọn
ngay trong đêm ấy mà cuộc đời không cho ông kịp lang thang để nhâm nhi nỗi buồn
man mác của mình.
Bởi vì, thả bộ gần đến bến xe, dưới ánh sáng nhập nhoà của
đèn đường, của các quán tiệm hắt ra, của mấy ngọn đèn xe máy vút tới, ông
thoáng nhìn thấy một người đàn bà đầu quấn khăn rằn che gần kín mặt, vai khoác
túi du lịch màu đen, bộ quần áo vận trên người cũng màu đen, có vẻ vừa xuống
xe, vội vàng kêu một chiếc hon đa ôm phóng ngược lại phía mình.
Tần ngần nhìn theo chiếc xe đang chìm dần vào vũng tối rừng
cao su, ông linh cảm thấy có một điều gì đó có liên quan và quyết định huỷ bỏ
chyến dạo đêm, quay người đi ngược trở lại.
Cảm giác ấy ở ông đã không nhầm. Đến đầu ngõ rẽ vào nhà ông
Tường, ông đã nhìn thấy chiếc hon đa có tiếng nổ như đại liên kia gầm gừ lộn trở
lại. Đi tiếp thêm một đoạn nữa, vừa chớm bước vào sân, ông thoáng nghe được tiếng
đàn bà vang khẽ ở trong nhà. Tiến nói quen thuộc lắm. Nhợn người, ông thảng thốt
dừng lại và qua khe cửa khép hờ, ông đã sửng sốt nhận ra đó là ai.
Trước mắt ông, khác hẳn với một Sương giám đốc, Sương tỉnh uỷ,
Sương phó chủ tịch ngày hôm qua, tối nay trông cô thật bình dị, thật gần gũi
trong bộ quần áo bà ba đen và khuôn mặt không hề tô thêm một chút phấn son nào.
Cô gần như đã trở lại hoàn toàn là cô cách đây của hai mươi năm về trước, chỉ
hơi già đi và mập ra một chút. Đứng ngoài cửa, ông Hùng như bị hút chặt vào
khuôn mặt ấy, dáng hình quen thuộc một thuở ấy, bước vào không xong mà lùi ra
cũng không được nữa. Một cảm giác ngộp thở của những lần sập hầm ùa vào ngực
ông, đục phá ông quyết định cứ đứng nguyên như thế, cố cưỡng lại ý muốn được gõ
cửa bước vào. Ông muốn chứng kiến toàn cảnh, được nghe mọi chuyện một cách
khách quan, nếu mạo muội bước vào bây giờ là mọi chuyện có cơ lại rối tinh lên
hết. Và ông chờ...
- Chị Ba bữa nay nhìn khác quá, tôi nhận không ra – Trong
nhà, tiếng nói ông Tường vang ra đều đều, vẫn phảng phất một nét bình thản cố hữu
– Nhưng cũng lại giống ngày xưa quá! Cho phép tôi nêu một hận xét: Các chị cứ
ăn vận thế này là đẹp nhất.
Ba Sương tháo chiếc khăn rằn xuống, nét mặt buồn buồn như bao
giờ cũng buồn như vậy, lại tiếng nói vuốt nhỏ ở những âm tiết cuối:
- Tôi hiểu ý anh nói. Nghĩa là tôi cứ là tôi của hai mươi năm
về trước, một con bé Việt Cộng gầy guộc lang thang trong rừng sẽ hợp hơn.
- Lang thang? - Ông Tường để rơi ra một tiếng cười nhỏ – Nếu
chị gọi đó là lang thang. Chị uống nước đi! à, mà chị Ba đã cơm nước gì chưa để
tôi đi nấu? Nhanh thôi, thức ăn đã có sẵn.
- Cám ơn, tôi chưa ăn nhưng không đói, không thể ăn được cái
gì bây giờ hết - Cô nhìn nhanh ra sân, vẻ bồn chồn khác lạ, tưởng như giây phút
ấy, ánh mắt cô đã va mạnh vào ánh mắt ông – Anh... Anh có thể khép bớt cửa lại
được không? Tôi... tôi lạnh.
Ông Tường đi ra gài cửa, vẫn vô tình chừa cho ông một chút
khe hở để nhìn vào.
- Tôi thấy chị có vẻ bệnh? - Ông Tường lo lắng hỏi.
- Không. Anh Tường... - Cô đảo mắt nhìn quanh nhà - Anh vẫn
đang ở một mình đó chớ?
- Ý chị muốn nói là...
- Không, tôi muốn hỏi... Thôi được, tôi xin hỏi thẳng luôn: Mấy
bữa nay anh có thấy một người khách lạ nào đến tìm anh không?
- Lạ?
- Dạ! Cao, gầy, dòm tiều tuỵ, u uẩn, có dáng của một người
suy nhược thần kinh.
Ông Hùng bất giác giật thót. Cô ta đang hỏi về mình. Nếu bây
giờ ông Tường nói có, có đấy, thì không còn cách nào khác, ông buộc phải xuất
hiện. Nhưng có đúng là cô ta đang hỏi về mình không? Có lẽ cùng một cảm nhận ấy,
lại gặp nhau ở cái vẻ trầm tĩnh, từng trải của người già nên ông Tường hỏi lại:
- Chị cứ nói thẳng ra đi! Người đó là ai?
- Anh tên là Hùng. Hai Hùng, bạn bè cũ của tôi trào đánh Mỹ.
Tôi cần gặp ảnh bàn chút công chuyện. Có không anh?
Có! Tiếng trả lời của tôi rung vang trong lồng ngực nhưng đôi
chân tôi vẫn cứng vào đất. Trong nhà, để cho câu hỏi lắng đi một lúc, ông Tường
mới nhìn sâu vào đôi mắt mở to chờ đợi của người đàn bà, chậm rãi gật đầu.
- Trời! Anh đâu? – Cô ta đứng nhanh dậy khỏi ghế, dợm chân
như muốn bước vào nhà trong.
- Đi dạo rồi. Có thể qua sáng mới về.
- Anh có hỏi gì không và anh có nói gì không? Tôi... Tôi muốn
nói là...
- Tôi hiểu - Ông Tường đốt thuốc, nhả khói bình thản -Anh ấy
có hỏi và tôi trả lời. Trả lời hết. Với một con người như anh ấy, im lặng tức
là có tội mặc dù làm vậy tôi đã không phải với chị, đã thực hiện sai cam kết
cùng chị. Anh ấy có bảo, nghe để biết, để yên tĩnh linh hồn, sẽ giữ kín như giữ
một chút danh dự lính chiến ít ỏi còn lại mình. Đó là một con người có tư cách.
Xin chị Ba tha lỗi, và bây giờ tuỳ chị, trừng phạt thế nào tôi cũng chịu.
Ba Sương hơi ngửa đầu ra sau, mắt nhìn lên kèo nhà, buông một
tiếng thở dài mệt nhọc:
- Mọi cam kết cho đến giờ không còn ý nghĩa gì nữa. Chính tôi
phải xin lỗi anh. Tôi đến đây không phải vì cái đó. Chậm mất rồi! Tôi đến để gặp
ảnh. Tôi đoán ảnh sẽ tới đây, nhất định sẽ tới và chính tôi sẽ nói với ảnh mọi
chuyện. Nhưng anh đã nói rồi thì thôi, cám ơn anh, tôi không còn việc gì phải ở
đây nữa.
Còn! Còn nhiều chuyện để nói lắm. Em không thể đi dễ dàng như
thế được!... Tiếng nói trong ngực ông lại rung lên nhưng vừa lúc ông Tường đã dứng
phắt dậy:
- Sao? Chị tính đi luôn? Đi trong đêm?
- Dạ? Nhờ anh nói lại, tôi đã có lỗi rất nhiều với ảnh. Lỗi cả
trước kia, hiện tại và sau này. Gần hai mươi năm qua, tôi biết ảnh vẫn nghĩ về
tôi, vẫn thỉnh thoảng hỏi tin tôi ở chỗ này, chỗ kia, thậm chí ảnh còn ghé thăm
mộ... tôi nữa. Còn tôi, tôi lại im lặng dù rằng, suốt trong khoảng thời gian
đó, ảnh làm gì, ở đâu, đường vợ con công danh lận đận thế nào, tôi đều biết,
tôi đều... Nhờ anh...
- Không! Không có nhờ gì hết. Lần này tôi không thể cho chị
nhờ gì cả - Ông Tường khoác vội cái bludông và người – Chị ở đây, tôi sẽ đi kêu
anh ấy về ngoài bến xe, nhanh thôi, chỉ mười phút. Anh ấy cần gặp chị lắm! Rất
cần. Anh ấy vẫn yêu chị.
Người đàn bà khẽ rùng mình một cái, giọng thoảng đi:
- Thôi, khỏi cần anh à! Gặp cũng chả để làm gì. Muộn rồi! Gần
hai chục năm trời, mọi sự đã thay đổi quá nhiều, gặp thêm bẽ bàng, khó nói. Đối
với ảnh, tôi muốn tôi bao giờ cũng chỉ còn là một cái xác. Vả lại – Cô liếc
nhìn đồng hồ đeo tay – Tôi phải về gấp, làm sao trưa mai đã có mặt ở dưới đó rồi.
Người ta đang chờ tôi. Tôi đến đây như một sự trốn để đến. Hơn nữa, tôi... tôi
sợ giáp mặt ảnh. Cũng như tôi đã từng sợ giáp mặt với nầm mồ chị Hai, nấm mồ của...
tôi!
- Người ta là ai?... Chả lẽ lại cái gã trung uý đồ tể ngồi
chung xe với chị dạo nọ? Cái gã đã...
- Thì ra anh cũng biết hắn?... Trời! Thôi, cũng chả sao. Rồi
tất cả mọi điều sẽ được biết hết. Nhưng riêng lần này thì không phải là hắn.
Đông hơn hắn, khủng khiếp hơn hắn nhiều. Họ là...
Một tiếng xe máy rồ qua khiến Sương đột ngột chựng lại, mắt lộ
vẻ bồn chồn nhìn nhanh ra ngoài, rồi lầm bầm một câu không đâu vào đâu:
- Làng quê mà sao cũng đến là nhiều xe máy...
Bạn đọc thân mến! Chắc các bạn đã từng có một lần chui vào tấm
đắp dù xông lá thơm mỗi khi trời bắt cảm cúm? Đứng chết trân ở ngoài cửa, hình
dáng y hệt một tên ăn trộm đêm thảm hại, nhân vật chính của chúng ta cũng đang ở
trong trạng thái ấy. Mồ hôi ông toát ra đầm đìa, da thịt khi nóng khi lạnh, khi
lại trơ ra không còn cảm giác gì nữa. Mỗi một câu nói, một cử chỉ, một cái nhìn
của bà ta là một luồng hơi cay xộc thẳng vào mũi ông, đẩy nhanh ông vào một
tình thế chơi vơi, mềm oặt không cưỡng lại được. Ông thả người ngồi phệt xuống
bậc hè, không muốn hay không dám nhìn vào trong nữa. Ông sợ lồng ngực ọp ẹp của
mình nổ tung lên dưới một áp lực đa chiều biết là không cách nào chịu thấu.
Từ nơi đó, tiếng nói trầm trầm, hay vuốt nhọn ở những âm tiết
cuối vẫn khe khẽ vẳng ra, mỗi lúc một dồn dập:
- Tôi có lỗi với anh, với chị Hai, với tất cả bạn bè trong rừng.
Chính vì điều đó, vì hương hồn chị ám ảnh mà tôi phải bỏ xứ ra đi, phải ráng
quên đi hết thảy...
- Nhưng mọi người và cả tôi...
- Xin đừng ngắt lời tôi. Đây có thể là lần cuối cùng, cứ để
tôi nói hết, nói một lần... Ngày ấy, khi nghĩ rằng tôi đã chết, tổ chức và mọi
người đã coi tôi như một người anh hùng. Họ ca ngợi tôi là một nữ sĩ kiên cường,
một đảng viên trung kiên đã nêu một tấm gương hy sinh ngời sáng cho lý tưởng Cộng
sản. Họ tuyên truyền, họ ghi vào sử sách, họ rao giảng trong các trường học,
các nhà máy, công sở, các vườn trẻ, mẫu giáo một gương tuẫn tiết hào hùng, làm
vẻ vang cho quê hương. Người ta còn định tạc tượng tôi, lập phòng bảo tàng về
tôi... Trước vầng hào quang không có thật ấy, tôi biết phải làm thế nào? Chả lẽ
tôi lại ra đầu thú rằng tôi vẫn còn sống, rằng cái người đang nằm dưới mộ kia
chỉ là một phần tử chiêu hồi ra làm nghề bán bar rồi bị lính hiếp chết? Tôi sợ...
Tôi không nỡ làm mọi người, những con người thật tốt đối với tôi phải hụt hẫng,
phải thất vọng. Họ sẽ phải làm một cuộc cải chính trên toàn bộ công luận, phải
tẩy sạch ấn tượng trong tâm hồn bọn trẻ nhỏ, phải... Phải nhiều lắm. Tôi đã chẳng
may đi vào lịch sử rồi, một khi muốn đi ra, đâu có dễ. Còn cá nhân tôi? Tôi chả
là cái gì, tôi sẵn sàng dẹp bỏ hết thảy nhưng rồi tôi vẫn sẽ bị lục vấn, bị hạch
sách đủ điều, sẽ quật mồ con Việt Cộng bán bar chiêu hồn lên để thay tôi vào đó
hay sẽ nhắm mắt bỏ qua mọi chuyện? Tôi sẽ phải đứng trước những thủ tục rườm
rà, những khai báo trở lại, những bằng chứng lôi thôi, nhất là một khi những bằng
chứng đó liên quan đến anh, một đại uý tâm lý chiến, đến ông thiếu tá bác sĩ bạn
anh, đến chị Hai Hợi và đến... cả anh Hùng, con người dù không có tôi cũng đang
khốn khổ đủ điều. Tôi không thể xúc phạm các anh, càng không thể động chạm đến
vong linh chị Hai, người chị đã chết thay cho tôi. Tôi không thể... Xin anh cho
tôi ly nước! Dạ, cám ơn. Chính vì lẽ đó mà tôi phải chạy trốn, phải chối bỏ tất
cả, chối bỏ bạn bè, chối bỏ quê hương, chối bỏ cả người đàn ông mà cho đến nay,
sau bao nhiêu vui buồn, ngang ngửa, tôi vẫn không bao giờ nguôi được những kỷ
niệm đã có. Không nguôi được nhưng tôi vẫn phải im lặng vì tôi đâu có còn xứng
với người ấy nữa! Kìa... Cái gì đập lách cách thế? Anh đã gài kỹ cửa chưa?
- Không sao. Gió đấy. Đêm nay đài báo có thể có bão. Chị cứ
yên tâm.
- Dạ! Cách đây ít ngày, người ấy có đến tìm tôi. Trời ơi! Tôi
không thể ngờ con người ấy giờ đây lại có thể tiều tuỵ như thế được, trong khi
tôi... Hình như tôi lại làm cho người ta khổ thêm. Làm sao lại đến nông nỗi thế?
Anh có biết không, tệ nhất là dần dà rồi chính tôi cũng ngây ngất với vầng hào
quang giả dối ấy. Tôi bắt đầu sanh tật ngắm nghía, thưởng thức bản thân mình
như chính mình là một người anh hùng lưu truyền sử xanh thật. Và vậy là tôi buộc
phải chọn giữa hai nhẽ: can đảm đứng ra rũ tuột vinh quang để được bạn bè, được
sự yên tĩnh suốt đời hoặc tiếp tục im đi để có tất cả, cả cuộc sống và cả niềm
vinh quang của người chết. Tóm gọn lại là, anh có văn hoá cao, tôi không muốn
nói chữ nghĩa nhưng nó đúng như vậy, con người khốn khổ của tôi bao nhiêu năm
trời cứ luôn tách ra làm hai: cái phần sống nếm náp mùi vị ngọt ngào của phần
chết và cái phần chết lại không ngừng day dứt làm tình làm tội phần sống. Tôi
đã hèn nhát chọn nhẽ thứ hai bằng cách giạt hẳn về quê cũ, về cái nơi không một
người nào biết tôi là ai để đầu thai làm một người khác.
Tiếng người đàn bà nhỏ lại như bị hụt hơi. Im lặng một lát rồi
tiếng ông Tường hỏi:
- Nhưng ở đó người ta không điều tra, không tìm hiểu gì về tiểu
sử của chị ư? Bộ máy tổ chức của các chị chặt chẽ lắm kia mà?
- Thời hậu chiến ngổn ngang, trăm sự còn đang rối mù, cái xấu
cái tốt, cái giả cái thật dựa dẫm vào nhau cùng tồn tại, người nào lo phận người
đó đã kiệt sức rồi, còn hơn sức đâu để ý, quan tâm đến kẻ khác nữa anh.
- Nhưng chị lại là...
- Là cán bộ đầu ngành, là cấp uỷ cao nhất, chắc anh Hùng đã
nói lại với anh? Mấy giờ rồi nhỉ? Trời, đã gần mười hai giờ rồi kia à? Không
sao, vẫn còn kịp. Vấn đề là ở đó. Nếu tôi chỉ về làm dân, lấy chồng rồi sanh
con thì dễ quá. Nhưng khốn nỗi, tôi lại muốn sống sao cho tương xứng với cái vầng
hào quang vừa thật vừa giả của mình. Hơn nữa tôi cũng muốn làm một điều gì khả
dĩ có thể chuộc lỗi cho chị Hai, cho hương hồn chị nằm ở dưới đó được yên ổn và
cũng muốn chuộc lỗi cho chính sự trốn chạy bạc bẽo của tôi trước quá khứ. Song
tôi đã lầm. Nhưng đó là ở đoạn sau. Còn lúc ấy, để có cơ hội thực hiện được ý định
đau đáu của mình, tôi buộc phải nói hết với người bà con duy nhất còn lại là
ông bác ruột, vốn là bí thư khu uỷ đã về nghỉ mất sức. Chính ông bác này tạo điều
kiện cho chị em tôi chuyển cư lên miền Đông để trốn tránh sự truy bức của chính
quyền xã hội đó. Ông bác tin tôi cũng như đã rất tin ở tư chất gia đình tôi (Ba
má và hai anh trai tôi đều hy sanh hết trong thời kỳ đánh Pháp và đầu đánh Mỹ),
đã đứng ra bảo lãnh cho tôi trước tổ chức địa phương với một nguyên cớ có thể tạm
chấp nhận được: Tôi vốn là cơ sở nội thành Sài Gòn hoạt động trong giới thủ
công, bị bắt từ hồi Sáu Tám rồi bị địch đày ra Hố Nai, Côn Đảo hay Phú Quốc gì
đó, mãi cho đến Bảy Ba mới được trao trả, vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ
cách mạng và người đảng viên cộng sản ở trong tù. Tất nhiên không động đến cái
địa bàn bên sông Sài Gòn để tránh những liên hệ tất yếu về khía cạnh tổ chức sẽ
xảy ra. Đang thiếu nhân cốt cách mạng, lời giới thiệu của ông cựu bí thư khu uỷ
được tổ chức ỏ đó dễ dàng chấp nhận. Thế là tôi lao vào công việc với tất cả sức
lực và nỗi khát khao được bù trừ cho mọi khiếm khuyết của bản thân. Vốn được học
xong trung học từ trước, lại tương đối tháo vát do những năm cọ xát liên tục với
kẻ thù ở trong rừng tạo nên, tôi đã làm tốt tất cả mọi việc, dù khó khăn đến mấy.
Rồi tôi được đi đào tạo ở nước ngoài, được tin cậy, được cất nhắc đảm trách những
cương vị nhất định.
Nhưng tôi đã lầm. Đang khi nỗi dằn vặt vì mặc cảm quá khứ đã
vơi nhẹ đi được phần nào thì như một tiền định khắc nghiệt, hắn bỗng đột nhiên
xuất hiện.
Nghe tới đây, ông Hùng không thể ngồi yên chỗ cũ được nữa. Có
một lực rất mạnh lại hút chặt tầm mắt ông vào khe cửa ban đầu. Sương vẫn ngồi
nguyên chỗ, da nhợt đi, trán lấm tấm mồ hôi, hai ngón tay của bàn tay cụt ngón
đưa lên bóp bóp thái dương.
- Trong nhà có sẵn xê-đuy-xen hay B6 gì đó không?
- Chị đau đầu? - Ông Tường ái ngại hỏi.
- Hơi nhức một chút. Vẫn vết thương cũ. Năm rồi được sang Đức
chữa chạy, tưởng khỏi, chẳng dè lại trở lại như cũ, có chiều nặng hơn.
- Nhà không có sẵn, để tôi chạy ù ra phố.
- Thôi, không kịp đâu mà... tôi cũng đã đỡ rồi.
Ở ngoài, ông Hùng bất giác sờ tay vào túi áo ngực. đau đầu ư?
Những người ra khỏi chiến tranh ai chẳng đau đầu. Trong túi ông lúc nào cũng trữ
sẵn hàng vốc thuốc đau đầu đây. Ông quyết định bước vào. Dù câu chuyện kia có
thể bị lỡ dở, dù bản chất sự thật sẽ không còn được nguyên vẹn khi có mặt ông
nhưng ít nhất ông cũng sẽ giúp cho cô ta về một phương diện y tế rất cần thiết
trong lúc này. Nhưng một lần nữa cái ý định đó lại không thực hiện được. Ông
chưa kịp đưa tay lên gõ cửa thì cái tiếng nói buồn buồn ấy lại tiếp tục cất
lên. Khổ thật! Kết cục là người đàn bà ấy ngại giáp mặt với ông trong khi chính
ông cũng đang ngại ngần giáp mặt với cô ta.
- Còn chừng mười lăm phút nữa, anh nhớ nhắc tôi nhé! Tôi, bằng
giá nào cũng phải về kịp thành phố sớm mai, từ thành phố, tôi còn phải xuôi...
Tôi kể tới đâu rồi nhỉ? Trời, độ này đầu óc tôi hay lú lẫn lắm à, tôi đang nói
về sự xuất hiện của hắn. Hắn nói là hắn, chỉ mình hắn thôi là biết tôi còn sống.
Khi quyết định mang xác tôi ra bêu giữa chợ (tức là xác chị Hai) hắn đã phát hiện
ra cái xác này không có bàn tay cụt ngón như hắn vô tình để ý thấy trong cuộc
vây ráp đó. Kiểm tra kỹ lại, hắn nhận ra đó chính là Hai Hợi, người đàn bà chưa
bao giờ thuộc về hắn nhưng hắn lại thuộc lòng cái hình dáng ấy không thiếu một
chi tiết nào. Nhận ra nhưng hắn buộc phải im lặng bởi vì xới tung câu chuyện
này lên, với tư cách là kẻ chỉ huy trực tiếp cuộc càn, chính hắn sẽ bị cấp trên
rầy rà, chưa nói đến một việc còn hệ trọng hơn: dù có bằng chứng Hai Hợi là một
con Việt Cộng nằm vùng đi nữa, song cái tội hãm hiếp chết người còn chưa biết
đường phi tang vẫn treo lơ lửng trên đầu hắn. Nhưng kể từ đó, hắn bắt đầu gắt
gao theo dõi anh, tìm ra mọi sơ hở của anh để kiếm cách vô hiệu hoá, thậm chí để
thủ tiêu. Không phi tang được người chết thì hắn quay ra phi tang người sống. Hắn
dò hỏi được chỗ quân y viện tôi nằm, hơn nữa, đã có lần đến thăm tôi mà tôi mê
man không hề hay biết. Tình hình chung lúc này rất bất lợi cho hắn. Nếu phải đi
cải tạo thì với tất cả những tội ác đã phạm phải, hắn tự coi như rồi đời. Hắn đột
nhiên nảy ra ý định nắm giữ tôi để làm vật bảo chứng sau chiến tranh.
Giải phóng xong, hắn bỗng biến đi đâu một thời gian, tới khi
mọi việc ở tôi đã tạm ổn, hắn xuất hiện trở lại và yêu cầu tôi bảo lãnh, cưu
mang. Kinh khủng hơn, hắn muốn có một lý lịch trong sạch, đã từng chiến đấu
ngoan cường, hắn muốn có công ăn việc làm để bắt đầu một cuộc đời lương thiện,
hắn muốn được ở dưới quyền tôi, được giao những trọng trách trong công việc
buôn bán kinh doanh. Nghe miệng hắn nói, nhìn mắt hắn, tôi hiểu ra rằng tôi
không có đường từ chối. Từ chối ư? Lập tức mọi bí mật giữ kín lâu nay sẽ bị bật
tung ngay. Và còn điều này nữa mà tôi chỉ có thể lộ riêng với anh: hắn muốn là
tình nhân của tôi! Hắn nói tôi đẹp, tôi cao quý, tôi gợi nhớ đến người chị bà
con đã làm cho hắn điêu đứng một thời. Quá kinh tởm, nếu có thể bắn hắn được
thì tôi đã bắn chết hắn ngay lúc ấy nhưng... Tất nhiên là tôi khước từ, chỉ khước
từ riêng cái gọi là tình yêu của hắn.
Sau rốt, do công việc phải va chạm nhiều, lại thường có những
chuyến đi công tác dài ngày cùng hắn, hơn nữa hắn xét đến cùng cũng là người
năng nổ, giúp tôi được khá nhiều vụ việc nan giải, rồi nhận thấy hắn cũng có vẻ
muốn tu chí làm ăn sửa đổi lại lỗi lầm cũ thật, tôi đã, nói điều này có thể anh
sẽ khinh miệt tôi, tôi đã dần dần xiêu lòng. Khi đoạt chiếm được tôi rồi, hắn bắt
đầu lộng hành, tung phá, đưa đẩy tôi vào những vụ làm ăn phi pháp nhân danh Nhà
nước, nhân danh cơ chế mà tôi thực sự không biết. Và cũng không cưỡng lại được.
Vậy là tôi bị kẹt ở giữa danh dự công dân và danh giá đàn bà. Thú thật, đã nhiều
lần tôi muốn chia tay hắn, muốn cảm hoá, muốn nói chuyện sòng phẳng với hắn, thậm
chí thách thức hắn nhưng rồi lại bất lực. Hắn đã nắm được tôi. Còn tôi, tôi lại
đi nhân nhượng với hắn vì nghĩ rằng, cũng như tôi, hắn cũng là một nạn nhân của
cuộc đời nhiều sóng gió này. Hắn như một con rắn độc, lợi dụng lúc lòng dạ tôi
đang trống vắng, cô đơn, đã bò vào đời tôi quá sâu, không rút ra được nữa.
Thế rồi mọi trò đen tối cũng được người ta sờ tới. Cả tôi và
hắn, hai sinh mạng mang hai lý lịch giả, đều sẵn sàng bị đặt trên giàn lửa chưa
biết chết lúc nào. Đúng lúc căng thẳng ấy, anh Hùng xuất hiện.
Hết mười lăm phút chưa? Sắp à? Chết! Khéo lỡ mất. Chuyến xe tốc
hành cuối cùng chạy lúc 12 giờ. Tôi nói nốt câu nữa rồi phải đi thôi. Tôi sợ
lúc này... Không, trưa mai tôi phải làm việc với đoàn thanh tra của Bộ. Tôi sẽ
thú nhận tất cả, dù vô tình hay cố ý làm sai. Hắn đoán biết được điều đó và mấy
bữa nay theo sát tôi từng bước. Hắn muốn tôi làm ngược lại, hắn bảo không muốn
vào tù và cũng chẳng có chứng cớ gì để vào tù cả. Còn tôi, tôi đã quyết định và
không thay đổi nữa. Tôi muốn vào giờ phút chót, tôi sẽ ráng làm dược một cái gì
đó để tạ lỗi với bạn bè, với cuộc đời này. Cho dù hắn ập vào đời tôi như một thứ
bóng ma của quá khứ, có lúc nằm ngoài, có lúc nằm ngay trong tôi. Khốn nạn! Vậy
mà đã có những ngày tôi đã... yêu, đúng, tôi đã yêu hắn như yêu chính cái phần
đen đúa của bản thân mình.
- Hắn có biết chị đi đâu và có biết cái nhà này không? Ông Tường
hỏi cắt ngang.
- Biết. Hắn đã theo tôi đến đây một lần nhưng không vào. Tôi
sợ rằng tự nhiên không thấy tôi, hắn sẽ đoán ra và mò đến đây. Cho nên...
- Thôi được. - Ông Tường đứng dậy - Tôi sẽ đưa chị ra bến xe.
Nếu không có xe, tôi đưa thẳng chị về Sài Gòn.
- Anh tốt quá! Bao giờ cũng tốt. Anh Hùng cũng vậy. Mà sao đến
lúc này ảnh vẫn chưa về?... Anh Tường biết không? Cuộc họp trưa mai, tôi có thể
trắng án vì các bằng chứng đều được hắn tinh ranh hợp lý hoá hết nhưng từ buổi
gặp ảnh, gặp anh Hai Hùng đó, tôi bỗng bị phá vỡ hoàn toàn vỏ bọc. Nhìn con người
anh hôm nay lại nhớ đến hình ảnh tuyệt vời đẹp đẽ của anh ngày hôm qua, tôi đã
khóc và thấy mình không thể sống như cũ được nữa. Tôi quyết định trở về con người
thật của mình vào ngay buổi trưa mai, dù cho có phải trả giá thế nào.
Điều cuối cùng, sáng mai anh Hùng về, rất tiếc là tôi không
chờ được, anh nói giùm, tôi đã không xứng đáng với tình cảm của ảnh, xin ảnh
tha lỗi như tha lỗi cho một đứa em gái dại khờ và suốt hai mươi năm qua, đứa em
gái đó vẫn không quên được người anh trận mạc của mình. Chúc ảnh mạnh giỏi và
quên tôi đi! Chào anh!
- Không! Không đi đâu cả! - Ông Hùng xô cửa bước vào, giọng
nói tắc lại.
- Trời!... Anh Hai! – Ba Sương lùi người trở lại, hai tay bất
giác đưa lên che đỡ lấy ngực như hôm nào.
- Sương! Em cứ ở đây. Ngày mai tôi sẽ đưa em về - Ông Hùng đứng
chắn ngang cửa, cặp mắt trũng sâu sáng lên – Nếu cái đoàn thanh tra ấy muốn,
chính tôi sẽ trả lời, nhân danh những người chết và những người sống, tôi sẽ trả
lời thay em.
Sương càng lùi lại, miệng lắp bắp:
- Không... Không được đâu anh. Đừng anh...
- Bởi vì dù đêm nay em không đến đây, ngày mai chúng tôi, có
cả Ba Thành, cả thằng Tuấn, cả anh Tường đây cũng sẽ xuống đó. Sẽ xuống với một
đồng đội đang cần được bảo vệ như ngày xưa kia.
- Không...
- Hay là em sợ hắn? Đêm nay cứ để cho hắn đến đây. Chính anh
đang muốn gặp thằng khốn nạn đó để thanh toán sòng phẳng. Thay mặt mọi người để
nói chuyện với hắn một lần cho dứt.
- Cám ơn... anh. Cám ơn các anh nhưng muộn rồi! Muộn mất rồi!
- Không bao giờ là muộn cả nếu trong lồng ngực mình vẫn còn đập
một trái tim trong sạch. Tôi, em, anh Tường đây, chúng ta chưa đến nỗi bị cuộc
đời khốn nạn biến trở thành thú vật.
- Nhưng... Kìa! Cái gì thế?
Sương bỗng tái mét mặt, chân tay run lẩy bẩy khi từ ngoài đường
đang bay vào một ánh đèn pha xe máy cùng với cái tiếng nổ cùng cục như đại liên
xả xuống sình hồi nãy.
Hai ông chưa kịp hiểu ra điều gì, đã thấy một bóng người cao
lớn nhảy khỏi xe đi nhanh vào nhà. Tiếng đế giày hối hả, tự tin như đi vào căn
hộ nhà mình...Thằng Địch! Vâng, hắn chính là thằng Địch. Sơ mi nâu, quần bò
nâu, mũ phớt, hai cánh tay kềnh kệnh, hắn hiện diện trước cửa căn nhà lá như hiện
thân của hung thần. Bằng đôi mắt bắt ánh đèn sắc lẻm, hắn nhìn lướt qua mặt tất
cả mọi người rồi dừng lại ở khuôn mặt Ba Sương sau khi buông ra một tiếng cười
nhạt:
- Thế là hội tụ ráo trọi tại đây những con người bất hạnh của
cái buổi sáng nổ hầm. Bravô! Định phận khéo xếp đặt dữ ha - Hắn ung dung tiến
lên một bước - nhìn trong mắt các vị, tôi biết các vị vừa nói cái gì và trong đầu
các vị đang nghĩ gì. Các vị đang nguyền rủa tôi, đúng không? Có đúng vậy không
hở bà giám đốc? Hắn ngồi xuống châm thuốc hút rồi quẳng cả gói ra bàn – Tốt
thôi. Vẫn như cách đây hai mươi năm, tôi là phần tử lẻ loi. Một trên ba. Nhưng
bao giờ tôi cũng là kẻ mạnh, trước kia cũng như hiện nay. Hình như dáng điệu
nhàu nát của các ông đã nói rõ điều đó. Có đúng không ông đại uý? Ông đội trưởng
đặc nhiệm?
- Anh im đi! – Tiếng ông Tường ngột ngạt – Ít nhất khi đến
nhà người khác, anh cũng nên tỏ ra lễ độ một chút.
- Lễ độ? – Hắn cười phá lên một tiếng khô gọn – Dạ, tôi xin lỗi
về sự lỗ mãng mà từ xưa, ông đại uý trí thức đây đã khinh bỉ sâu sắc. Cảm phiền
giùm đi – Hắn rút từ túi áo ngực ra một tập hoá đơn chìa trước mặt Sương - Kẻ lỗ
mãng vô học này sẽ đi ngay đây nếu như bà giám đốc làm ơn ký hết cho tôi tập giấy
này, ký từng cái. Vậy thôi.
Sương lúc này đã lấy lại được vẻ mặt bình thường, cô hất mạnh
mái tóc đã có lác đác những sợi tóc bạc ra phía sau, tiếng nói rung mạnh ở những
âm tiết cuối:
- Anh lại mặc cả? Suốt đời anh chỉ làm độc một việc là đi mặc
cả với mọi người, với cuộc đời thôi ư? Thiệt quá sức ghê tởm!
- Được, cứ cho là thế đi – Hắn cười nham nhở – Nhưng tôi hứa
với em (Tiếng em nhấn mạnh để khẳng định chủ quyền) đây là lần mặc cả cuối
cùng. Sau lần này em sẽ không bao giờ phải nhìn thấy mặt tôi nữa. Thế là rũ sạch,
nhẹ người, đúng không?
Hai tiếng “đúng không” lặp đi lặp lại đầy vẻ trịnh thượng của
hắn đã là cú hích cuối cùng vào cơn giận đến lịm người đi của ông Hùng. Trước mắt
ông, hắn loà nhoà trở lại nguyên hình là tên trung uý năm xưa đang lấy đầu gậy
hất hất cánh tay bị gẫy quẹo của Sương ra khỏi lưng... Tôi đếm từ ba đến một...
Nhưng cái gì đã khiến hắn có thái độ tự tin dường kia khi hắn biết mình đang đối
diện với những kẻ đang căm ghét hắn tột cùng? Chỗ dựa Ba Sương hay điểm tựa cơ
chế, pháp luật? Hoặc hắn chắc mẩm rằng động vào hắn chính là động vào danh dự
cô ấy, chả dại gì?... Từ ba đến một... Cả một biển máu bầm tím đang dâng lên...
Những linh hồn vất vưởng kêu khóc trong nghĩa trang... Cánh tay con quỷ đang
quàng qua vai con chim sẻ... Từ ba đến một... Ông biết, chỉ cần một giây nữa,
khi bàn tay ông chạm được vào cổ hắn thì có nghĩa là số phận hắn đã được định
đoạt. Ông đưa tay ra, những ngón tay có bộ móng cáu bẩn tiến sát dần đến cái cổ
bò mộng có cục yết hầu to tướng đang trồi lên trụt xuống... Sát nữa.
- Dừng lại, anh Hùng!
Tiếng ông Tường đột ngột vang lên phía sau lưng khiến ông
chưng hửng lại một giây. Thế là thế nào? Sao lại cản? Chả lẽ khi cần, người ta
lại đứng về phía nhau như bản chất chăng? Ông quay lại và ngỡ ngàng khi nhìn thấy
trên tay ông Tường đang có một khẩu súng nhỏ xíu. Tiếng nói ông vẫn nhột nhạt:
- Địch! Cả một đời cầm súng ta chưa biết bắn ai. Nhưng hôm
nay ta sẽ bắn ngươi. Đừng ngạc nhiên. Biết rằng trước sau gì số phận cũng bắt
ta đụng ngươi một lần nữa nên ta vẫn lưu giữ khẩu súng này. Giữ để chờ và hôm
nay ngươi đã đến... Thiên hạ có thể cho ta là bạc nhược, suốt đời bạc nhược
nhưng ít nhất, dù chỉ một lần, ta sẽ không bạc nhược với ngươi.
Gã tội đồ hoàn toàn bị bất ngờ trước tình huống này. Hắn đứng
chết trân, đôi mắt hùm hụp hết nhìn họng súng lại nhìn gương mặt Sương, ảo não.
Có lẽ hắn đã bắt đầu hiểu cái con người hiền lành đến nhu nhược này một khi đã
biết giương súng lên là không hạ xuống nữa. Ông Tường lùi xuống nửa bước, nòng
súng vẫn rung nhẹ, từ từ chếch lên nhằm giữa ngực hắn. Hắn ríu chân định lùi ra
cửa nhưng cánh cửa đã bị đóng chặt. Hắn đành trượt theo tường như một con tê
giác, lưng áo miết vào vôi vữa sàn sạt... Trời! Nếu như đúng lúc đó khẩu súng
kia phát nổ hoặc ông Hùng không cho hắn chuyển động thêm nữa thì thảm kịch ấy
đã có thể không xảy ra. Bởi vì sự chuyển động đã đưa hắn đến gần Sương. Vừa lúc
ngón tay ông Tường siết vào vòng cò thì cũng là lúc Sương nhao người lên chen
vào đứng giữa hai người:
- Đừng! Xin đừng bắn!... Sẽ có pháp luật. Đừng...
Ông Hùng đột nhiên thấy tê dại trong người. Thì ra vào giây
phút chót cùng, cô ta vẫn có ý bảo vệ cho hắn. Nét mặt sợ hãi, lo âu thật sự
kia đã nói lên tất cả. Khốn nạn...
Khoảnh khắc ngưng đọng ấy đủ để hắn kịp chộp lấy mái tóc vừa
xổ ra của Sương kéo giật về phí mình. Tấm thân người đàn bà đã ngoài bốn chục
tuổi nhưng vẫn lẳn gọn như con gái bỗng chốc trở thành tấm mộc che chắn kín đáo
để tạo nên một lỗ hở trống hoác trong đầu ông.
- Hú vía! – Hắn nhe răng cười – Chút nữa chết bởi tay thằng
cha nước lợ này thì quá uổng. Nước lợ bao giờ cũng là nước lợ chứ không trong lại
được đâu ngài đại uý ạ! Đúng ra thằng bắn tao, thằng có quyền bắn tao là đồng
chí đội trưởng đặc nhiệm kia chứ không phải là mày, một thằng sĩ quan phản lại
đội ngũ. Ân oán giang hồ, trận tuyến chưa hợp nhất, nó chỉ ngấm ngầm đổi dạng
thôi các ông bạn đồng chí ơi!
Trong cánh tay ghì chặt của hắn, Sương bỗng thốt lên một tiếng
đau đớn, cổ ngoẹo xuống, mắt trợn lên, bộ ngực thở giật giật... Ông Hùng nhao
người lên:
- Bỏ cô ấy ra! Bỏ ngay ra rồi cút đi đâu thì cút! Mày không
thấy cô ấy đang có một vết thương ở đầu à? Bỏ!
- Biết chớ nhưng bỏ sao được mà bỏ – Hắn nhìn xuống thân thể
Sương rất nhanh rồi nhìn lên, ánh mắt đanh lại, man dại – Rất tiếc trận ấy tao
để sổng mày, thằng đặc nhiệm ạ! Còn bây giờ đến lượt mày sẽ phải để sổng tao.
Sòng phẳng, như cũ, chỉ có một cái khác: thi thể người đàn bà này sẽ không bao
giờ bọn mi còn có dịp tráo đổi nữa. Chào! Tiên sư chúng mày!
Bằng sức vóc bò mộng, hắn đẩy mạnh Sương về phía hai người rồi
lao văng vào bóng đêm... Để mặc cho bạn ở lại với nạn nhân vẫn đang từng hồi co
giật, ông Hùng giằng lấy khẩu súng vội vã đuổi theo... Khốn khổ thay, mười mấy
năm trời chỉ quen ngồi ỳ một chỗ gặm nhấm cay đắng, buồn vui, bây giờ làm sao
có thể đuổi kịp hắn? Mới chạy theo được một đoạn, hai đầu gối ông đã muốn nhủn
ra. Chạy thêm đoạn nữa, hai chân ông ríu vào nhau rồi hoàn toàn khụy hẳn. Ông
đành dừng lại, thở dốc nhìn hút theo con lộ mênh mang vắng lặng, để mặc cho hai
dòng nước mắt cay đắng, bất lực chảy ra...
Xiêu vẹo đi trở lại, vừa đến bậu cửa, ông đã được nghe tiếng
ông Tường thông báo:
- Cô ấy chết rồi! Vết thương cũ trên đỉnh đầu không chịu nổi
cú sốc này.
Ông nhủi người ngã vật xuống.
Bạn đọc thân mến!
Câu chuyện về một mảng đời trong cuộc hành trình tìm về dĩ
vãng của tôi có thể kết thúc được ở đây. Còn điều gì đáng nói nữa khi tôi phải
tạm biệt nơi này, ngôi nhà trong vườn cà phê với một tâm trạng quá đau buồn như
thế.
Sau khi đã miễn cưỡng hoàn tất các thủ tục làm chứng của một
vụ án hình sự giết người thông thường, chúng tôi, lúc ấy đã hội tụ đầy đủ cả bốn
người, bảo nhau đưa Sương lên xe riêng của Tuấn mang về chôn cất ở bìa rừng năm
xưa, cách nghĩa trang liệt sĩ không xa lắm.
Vậy là cái khoảng đất cao ráo tại bìa rừng ấy đã hai lần đón
em vào lòng. Một lần giả, một lần thật. Em sẽ không bao giờ có lại trên đời này
nữa! Sương ơi!... Thế là thằng Viên nó nói vẫn đúng: Số phận hai đứa gắn bó với
nhau thật nhọc nhằn và rồi cuối cùng em vẫn đi trước tôi! Cớ sao trời lại cứ bắt
phải như thế mà không đổi ngược lại được?.
Dàn hàng ngang, mỗi người cắm một nén nhang lên mộ em xong, tột
cùng u uất và thấy chả còn gì dính líu đến mảnh đất này nữa, tôi nói ngày mai sẽ
tạm biệt tất cả để lên đường trở ra ngoài kia. Sao lại trở ra ư? Tôi đã tính di
cư vào ở hẳn trong này để sống nốt những năm tháng chót cùng với vùng kỷ niệm của
mình kia mà? Biết trả lời với bạn bè thế nào đây? Nghẹn lời lắm! Có lẽ tốt nhất
là chưa nên trả lời gì cả.
Cản giữ không được, ba người bạn đành gật đầu và nói tôi cứ
yên tâm đi rồi nhanh chóng trở lại, chuyện thằng giết người kia ở lại họ sẽ lo,
nếu chính quyền không tìm ra thì nhất định họ sẽ lùng được hắn, nhân danh đồng
đội, nhân danh những người đã ngã xuống và những người đang sống vất vả trên đời
này, với thằng như thế không thể nào để cho tồn tại được.
Họ bịn rịn đưa tôi lên Sài Gòn, quyết định làm một tiệc nhẹ
chia tay rồi từ đó tiễn tôi lên tàu. Bạn bè bảo tôi là chủ xị, để mặc cho tôi
cái quyền được chọn cửa hàng. Khổ! Xứ lạ quê người, tôi có biết cửa hàng nào
đâu? Và giây phút bất chợt đó, tôi bỗng nhớ đến cái nhà hàng lần đầu tiên gặp
em nằm cách đây ba trăm cây số. Thật rụt rè, tôi để lộ ý này. Họ ưng thuận
ngay.
Thế là cả bọn kéo về chốn cũ, căn phòng cũ, chỉ thiếu có Quân
và... bóng hình cùng tiếng nói vuốt nhọn những âm tiết cuối cùng của em. Buồn
man mác, nước mắt lại muốn trào ra... Nhanh quá! Mới chỉ có hai tháng, tôi còn
ngồi đây, kẻ ăn mày dĩ vãng, em còn đứng ở đó, người trốn chạy quá khứ, vậy
mà... Mới chỉ có hai tháng thôi!
Thấy phòng bên có tiếng hát quen quen, tiếng nhạc nhè nhẹ,
như có sự mách bảo của vô thức bên trong, tôi bần thần đứng dậy nhìn sang...
Nhưng ngay sau đó lại ngồi xuống. Ở đó, ngồi cạnh một gã đàn ông trạc tuổi tôi
nhưng hồng hào, béo tốt, cô bé người Hoa xinh đẹp dạo nào cũng lại đang cho
ngón tay cái của gã vào miệng nhá nhá và nước mắt cũng đang lăn ra. Có một tiếng
nổ nhỏ ở trong đầu, tôi đứng dậy:
- Bữa nay mình là chủ xị phải không?
- Còn bàn cãi gì nữa – Ba Thành nói.
- Vậy dẹp đi! Và bây giờ lên xe trở lại nhà thằng Tuấn. Sẽ nhậu
tại đó
- Còn chuyến tàu? – Tuấn hỏi.
- Cũng dẹp luôn! Tao sẽ ở lại với chúng mày để tìm bằng được
tên giết người đó.
- Hay! – Ba Thành kêu to – Vậy mới đúng là mày. Tất cả lên
xe! Tao chỉ huy.
Tất cả đi ra hết, tôi còn nán lại một chút với dáng hình em
vương vấn ở đâu đó. Tôi muốn nói với em một lời: cuộc chiến tranh vừa qua có thể
là trò đùa nhưng sự mất mát lại là có thật. Cuộc đời hôm nay có thể chỉ là tấn
tuồng nhưng nỗi buồn không bao giờ là một màn kịch cả. Phải vậy không em?.
Chính thế mà tôi ở lại.
14/11/2014 Chu Lai
14/11/2014


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét