Cầm, Tiêu, Sáo, Ðịch
Trong văn thơ, DN thấy cầm sáo tiêu đàn đã được dùng rất phổ
biến để miêu tả tâm sự con người hay quan niệm nhân sinh. DN tình cờ tìm thấy
một cuốn sách nói về cầm, nên post lên đây cho mọi người cùng tìm hiểu về cái
thú tiêu khiển này nha.Trong những thú vui tao nhã của ta, người xưa xếp tứ thứ phong lưu lên đầu mà đứng đầu tứ thứ này là cầm, nghĩa là chơi đàn. Những lúc thư nhàn, những khi đêm khuya thanh vắng với một niềm tâm tư vui buồn riêng, dạo một khúc đàn, thổi một bản sáo để tự tỏ nỗi vui hoặc giải nỗi buồn, quả thật là thú vị. Sự trầm lặng yên tĩnh càng tăng vẻ tao nhã của thú chơi. Tiếng đàn thánh tha thánh thót như những cung bực của niềm vui, mà cũng có thể như những tiếng nói để lộ nỗi buồn u uất.
Đàn tuy là một thú tiêu khiển, nhưng trong đạo trị dân của người xưa, đàn, hay đúng hơn, nhạc cũng là một trong những điều quan trọng, vì điệu đàn là tự lòng người mà hiện ra. Qua điệu đàn của một địa phương, có thể biết được phong hóa thịnh suy, chính trị mờ tỏ.
Sách Lễ Ký có nói rằng: Nhạc giả thông luân lý giả đã, nghĩa là nhạc thông với luân lý. Tiếng nhạc thanh tao êm ái có thể biến thành khêu gợi dâm đãng. Người xưa chơi đàn gìn giữ chánh thanh, cố giữ điệu đàn không có âm thanh biến thể để chánh thanh hóa dâm thanh.
Đàn tuy tao nhã, nhưng chỉ tao nhã với khách phong lưu; với những người đạo đức kém, người xưa cho là gia hữu cầm, nữ tử dâm, (thật là khắc khe quá ha)
Đàn hay dở lợi hại là do người, người học đàn phải biết tự điều khiển mình, tiếng đàn mới hữu ích và không di hại.
Người xưa thường dùng đàn để chỉnh tâm dưỡng tánh, để khuyến thiện, răn ác với mục đích sửa cho ngay lòng người. Vua Thuấn xưa gảy cây đàn năm dây, ca bài Nam Phong đem sự đại trị lại cho thiên hạ, đức Khổng Tử khi ở nước Tề, nghe nhạc Thiều mà quên ăn.
Tại nước ta, đàn nhạc đã có từ lâu và vua Lê Thánh Tôn đã quy luật âm nhạc bằng cách đặt ra bộ Đồng Văn và bộ Nhã Nhạc để hòa nhạc và xướng hát. Trong các cuộc tế lễ từ Triều đình đến dân gian, bao giờ đàn nhạc cũng điều hòa nghi lễ.
Đàn đã ăn sâu vào phong tục của ta, đàn đã là một thú tiêu khiển thanh tao, và đàn cũng đã gắn liền với một phần đời sống của nhiều người, từ nơi dân giả tới hàng quý tộc.
BÁT ÂM
Đàn hay dở do âm thanh, khéo điều hòa âm thanh thì tiếng đàn thánh thót thanh cao êm ái, điều hòa vụng, âm thanh rối loạn, và như vậy tiếng đàn cũng biến theo.
Để phát ra âm thanh, ta dùng tám thứ tiếng phát ra tám vật khác nhau, gọi là bát âm, do đó các phường nhạc của ta xưa còn được gọi là phường bát âm.
Bát âm gồm:
Kim: tiếng loại kim khí, thường là tiếng đồng như tiếng chuông, tiếng bạt (loại chuông nhỏ), tiêng chiêng, tiếng nao, tiếng bão bạt, tiếng sinh tiền v.v...
Thạch: tiếng đá, thường là tiếng khánh.
Thổ: tiếng đất sét nung, thường là tiếng huân, một thứ nhạc dùng để thổi, tiếng còi và có khi tiếng bát.
Ti: tiếng phát ra do dây tơ, thường là tiếng các thứ đàn: cầm, sắt, tỳ bà, tranh, nguyệt v.v...
Trúc: tiếng các loại tre, thường là tiếng các loại sáo, loại tiêu ...
Bào: tiếng trái bầu, trái bí, thường là tiếng kèn. Cổ nhân thường dùng các loại bầu bí làm kèn.
Cách: tiếng da thuộc căng thẳng, thường là tiếng trống
Mộc: tiếng gỗ thường là tiếng mõ, tiếng phách.
Những nhạc khí chế tạo bởi các nguyên liệu trên phát ra mỗi loại một thứ tiếng khác nhau, nhiều âm thanh có thể đi đơn độc trong các bản độc tấu, nhưng thường trong một buổi hòa nhạc, phái có sự hòa hợp pha trộn giữa nhiều âm thanh của nhiều nhạc khí. Tiếng gọi là bát âm, nhưng trên thực tế rất ít khi phường bát âm dùng đủ các nhạc cụ với đủ tám thanh âm của tám nguyên liệu nói trên, nhứt là gỗ, thiệt ít khi được dùng đến. Thường trong những buổi đàn hát, các âm thanh của ti, trúc, cách và kim được dùng đến nhiều, và những nhạc khí cũng được thay đổi tuỳ từng trường hợp, nhiều nhạc khí như kèn trống đám táng không đem dùng trong buổi tế lễ, mặc dầu các bản nhạc không giống nhau.
Trong trường hợp có một bản nhạc hòa nên bởi cả tám nhạc khí, bản nhạc gọi là bát âm nhã nhạc. Thường phường bát âm xưa chỉ chơi những điệu có sẵn như lưu thủy, ngũ đối, tứ đại, nam ai, nam bình, tẩu mã... rất ít có bản mới.
NHỮNG ĐIỀU KỴ
Người xưa chơi nhạc có sáu điều kỵ gọi là lục kỵ, những điều kỵ này đều về thời tiết. Các nhạc cụ là những đồ lúc làm cần tỉ mỉ để giữ cho cung điệu được đúng, sai một chút là lạc âm thanh. Kỹ thuật chế tao. nhạc cụ của ta xưa dù sao cũng chưa hoàn toàn tinh vi, nhất là thân nhiều nhạc cụ đều bằng gỗ hoặc tre, rất dễ chịu ảnh hưởng của thời tiết.
1. Kỵ đại hàn: trời lạnh thường làm mọi vật se lại, co lại, và trong lúc đó khí trời cũng khô lạnh. Gặp kỳ đại hàn, nước còn đông lại, đàn không thể hay được.
2. Kỵ đại thử: trái với lạnh, gặp nóng vật gì cũng nở ra, và trong lúc đó khí trời như bốc lửa. Đàn gảy lên không phản ảnh đúng được cung bực của bản đàn, đàn không hay.
3. Kỵ đại phong: gió lớn làm rung bầu không khí, những âm thanh phát ra cũng bị rung động theo, đàn trong cơn đại phong cũng không lột hết được ý đàn.
4. Kỵ đại vũ: mưa to, nước đổ như trút, tiếng nước đổ át tiếng đàn, đàn không hay. Đây là chưa kể không khí có nước làm âm thanh có thể sai lạc và dây đàn cũng chịu ảnh hưởng sự ẩm thấp của khí trời.
5. Kỵ sấm sét: khi sấm sét vang trời, đàn không hay
6. Kỵ đại tuyết: khi tuyết phủ đầy đường, đàn không hay. Nước ta không có tuyết, nếu có cũng rất hữu hạn và cũng có chỉ có ở các tỉnh biên giới miền Bắc nơi có núi cao.
Sáu điều kỵ trên của các tài tử phương Đông thời xưa, các cụ ta vẫn hằng theo. Xét cho kỹ những điều kỵ đó cũng đúng, nhất là đối với các nhạc khí của người mình chế tạo, tuy có tinh vi nhưng cũng không hoàn toàn thoát khỏi được ảnh hưởng của thời tiết
Ngày nay với những nhạc khí Tây phương của nền tân nhạc, chế tạo bởi nhưng nguyên liệu chọn lọc qua một kỹ thuật tân kỳ, không hiểu lục kỵ trên có còn chăng? và các nhạc sĩ cổ điển ngày nay có còn giữ những điều kỵ của người xưa?
NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐÀN
Gặp những khi thời tiết kỵ với những tiếng đàn, người ta không đàn, nhưng ngoài những trường hợp đại kỵ nêu trên, cũng còn những trường hợp khác người tao nhã không đàn. Những trường hợp này có bảy và người xưa gọi là Thất bất đàn. Bảy trường hợp này hoặc nằm trong khuôn phép sử thế của người lịch thanh cao, người chơi đàn thường cố giữ gìn để tránh chê trách của bậc tri thức thượng lưu, hoa* vì tôn trọng ngón chơi, nâng cao nghệ thuật.
Thất bất đàn là:
1. Tang tóc không đàn
2. Khi nhạc có chuông trống ồn ào không đàn
3. Khi tâm trạng bối rối không đàn
4. Khăn áo không chỉnh tề không đàn
5. Không xông trầm không đàn
6. Trong mình không sạch sẽ không đàn
7. Không gặp tri âm không đàn
Tang tóc không đàn vì sự buồn rầu; chơi đàn là để giải trí, giải trí trong lúc có tang không hợp với đạo đức của phương Đông. Các cụ còn nói nghe tang không đàn, tang đây có thể là tang của người khác, như được một tin buồn của người khác, người lịch sự không có quyền vui với đàn địch trong khi người khác đau xót.
Khi nhạc có chuông, có trống không đàn vì tiếng chuông tiếng trống sè át hẳn tiếng dàn, đàn dù có hay mấy cũng không ai biết thưởng thức và chính mình cùng không tự thưởng thức được tài nghệ của mình, lại khi tâm trạng bối rối, đàn làm sao mà hay được.
Khăn áo không chỉnh tề, trong người không sạch sẽ, không xông hương, xông trầm không đàn chính vì lý do nâng cao nghệ thuật.
Không gặp tri âm cũng không đàn, vì đàn lên ai là người nghe, ai là người thấu được tâm trạng của mình qua tiếng đàn.
DN nghĩ hầu hết tất cả các bạn nơi đây đều đã đọc qua sự tích Bá Nha, Tử Kỳ, nhưng vẫn nhặc lại để chứng tỏ đàn mà có tri âm, người chơi đàn mới thật là mãn nguyện.
SỰ TÍCH BÁ NHA, TỬ KỲ
Bá Nha người nước Tống làm quan đến chức Thượng Đại Phu, chơi đàn rất giỏi, nhưng chưa gặp người hiểu đàn để thưởng thức ngón đàn tuyệt vời của mình. Một ngày kia ông đi sứ nước Sở về, qua một quãng sông, gặp đêm trăng trong, gió mát, lại thêm cảnh vật nên thơ, Ông cho ghé thuyền vào bờ sông Hàm Dương lấy đàn ra gảy. Lúc ấy ở trên bờ sông có Tử Kỳ vừa đốn củi về, nghe tiếng đàn dừng lại nghe trộm. Bá Nha đang gảy đàn, đàn bỗng đứt dây. Bá Nha đoán có người nghe trộm tiếng đàn của mình, và Ông nghĩ, quãng sông vắng vẻ, rừng núi chập chùng, kẻ nghe trộm đàn ắt không phải thiện nhân. Ông cho quân sĩ lên bờ tìm bắt. Tử Kỳ lên tiến nói:
- Tôi là người đốn củi, qua đây, thấy đại nhân gảy khúc đàn hay nên lắng tai nghe, tôi không phải là kẻ bất lương.
Bá Nha không tin một gã tiều phu lại thưởng thức nổi tiếng đàn của mình, hỏi lại:
- Vừa rồi ta đàn bản gì?
Tử Kỳ đáp ngay:
- Ngài đàn bản Đức Khổng Tử thương tiếc ngài Nhan Hồi.
Thấy Tử Kỳ am hiểu tiếng đàn của mình, Bá Nha có lòng trọng, mời xuống thuyền, rồi lên dây gảy một bản đàn khác. Trong lúc đàn, Bá Nha nghĩ đến non cao, Tử Kỳ khen hay và nói:
- Tiếng đàn cao vút, chí của Ngài vòi vọi ở chốn non cao.
Bá Nha lại đàn một bản khác, tâm trí nghĩ đến dòng nước chảy, Tử Kỳ lại khen hay:
- Chí của Ngài cuồn cuộn như dòng nước chảy.
Thấy Tử Kỳ biết thưởng thức ngón đàn của mình, Bá Nha nhận thấy thiệt là tri âm và quý mến lắm. Hai người cùng nhau đàm đạo về đàn, về nhạc thân mật và tương đắc.
Bá Nha muốn mời Tử Kỳ cùng về Kinh đô nước Sở với mình để cùng chung hưởng sang giàu, nhưng Tử Kỳ từ chối vì còn cha mẹ già phải phụng dưỡng, không thể bỏ cha mẹ ra đi, trái đạo làm con.
Hai người hẹn nhau đến năm sau cùng hội ngộ ở nơi đây.
Năm sau, y hẹn, Bá Nha xin phép vua Tống trở về thăm nhà, đi qua chỗ cũ đem đàn ra gảy. Đàn gảy lên, Bá Nha không thấy Tử Kỳ, tiếng đàn lại nghe như sầu não oán thán. Bá Nha nghi hoặc, tìm đến nhà Tử Kỳ, hỏi ra mới hay Tử Kỳ đã mất, Bá Nha buồn rầu thương tiếc, xin đến mã để thăm người bạn tri âm lần chót .
Đến mộ Tử Kỳ, Bá Nha đem đàn ra gảy một bản đàn ai điếu nghe bi thảm não ruột sau khi đà bày đồ lễ trước nơi an nghỉ cuối cùng của người tri kỷ. Bá Nha khóc than thảm thiết và khi đàn xong, Bá Nha đập vỡ đàn, thề trọn đời không đàn nữa, vì người duy nhất biết thưởng thức đàn của mình là Tử Kỳ đã chết.
Qua sự tích trên, phải nhận rằng chơi đàn đã là một cái thú, gặp người biết thưởng thức ngón đàn của mình lại càng thú vị hơn.
BÁT TUYỆT
Đàn hay, khách chơi đàn cần phải có tri âm và khi đã đạt tới mức của Bá Nha, ngón đàn phải là tuyệt diệu.
Theo người xưa, cái tuyệt trong đàn có tám điều gọi là Bát Tuyệt, và tám điều này, đạt được thực ra rất hiếm người.
Bát tuyệt là:
Thanh: đàn hay, người chơi đàn khiến được tiếng đàn. Gặp cây đàn tiếng đục, lúc chơi tiếng đàn cũng hóa trong.
Kỳ: Đàn hay thật là kỳ ảo, biến hóa vô cùng trong đục rõ rệt và nghĩ tới đâu, tiếng đàn như theo tới đó, như khi Bá Nha đàn cho Tử Kỳ nghe, lúc lên non cao, lúc theo dòng nước.
U: Tâm hồn người chơi đàn nằm trong tiếng đàn nếu có chuyện gì u trầm, trong tiếng đàn có thể hiện ra. Sách xưa ghi lại truyện đức Khổng Tử đánh đàn. Lúc Ngài đang đàn, có thầy Tăng Tử cùng thầy Tử Cống đứng bên cửa nghe. Khi Ngài đàn xong, thầy Tăng Tử nói rằng: "Trong tiếng đàn dường như có sát khí, sao mà bất nhân thế!"
Thầy Tử Cống nhắc lại lời thầy Tăng Tử với đức Khổng Tử. Ngài bảo rằng:
- Sâm (tên húy của thầy Tăng Tử) thật là người hiền trong thiên hạ, đã quen thẩm âm rồi. Khi ta đang đàn có một con chuột chạy ra, con mèo thấy, mắt lăm le, chân nhẹ nhẹ rình bắt con chuột, ta muốn cho bắt được, điều muốn của ta đã hiện trong tiếng đàn.
Nhã: Tiếng đàn vui vẻ mà hòa nhã, không hấp tấp, lụp chụp.
Bi: Trong tâm có điều gì bất như ý, tiếng đàn nghe sầu não ai oán.
Tráng: gặp chuyện đắc ý, tiếng đàn nghe mạnh mẽ hùng tráng.
Du: Ý người đánh đàn ở non cao hay vực thẳm, tiếng đàn biểu hiện được nơi đó hoặc cao xa hoặc thăm thẳm.
Trường: Ý người đánh đàn tại chỗ sâu xa, tiếng đàn nghe dài dặc, cuồn cuộn như dòng nước.
Chơi đàn đạt được bát tuyệt, ngón đàn thật là tinh vi, và người sành đàn được thưởng thức tài nghệ thuật này cũng lấy làm thú vị.
Nhạc Khí
Chơi nhạc, người sử dụng nhạc khí này, người sành nhạc khí khác, mỗi cây đàn, cây sáo, cây nhị, âm thanh mỗi khác. Tình cảm của người chơi nhạc biểu lộ qua cung đàn, điệu sáo, nhưng mỗi ngón đàn nhạc lại nói lên mộc cách tâm hồn của người chơi cũng như lại diễn tả một tính cách, tính tình khác nhau? Có tiếng đàn gảy nên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên những điệu êm đềm mơ mộng nhẹ nhàng. Có người chỉ giỏi về một cây đàn có người tài nghệ có thể diễn hiển trên đôi ba nhạc khí.
Nhạc khí của ta rất nhiều từ đàn đến sáo, từ sáo tới nhị - ở đây xin không nhắc tới những loại thanh la, nào bạt, chuông trống, chiêng khánh, thường chỉ được sử dụng trong những cuộc tế lễ.
CÁC LOẠI ĐÀN
1.ĐÀN BẦU: Cây đàn hoàn toàn Việt Nam, nặng tính chất Việt Nam nhất phải kể là cây đàn bầu. Đàn bầu được chế tạo một cách hết sức giản dị, và chỉ có một dây, do đó đàn còn có tên là độc huyền cầm.
Dây đàn căng thẳng trên trống đàn, một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm thanh khi nhạc sĩ khảy đàn. Đàn không ngựa, không phím, và trên mặt trống chỉ có ba gạch trắng, chia đàn làm bốn cung thay vì năm cung như các đàn khác. Các nhạc sĩ thành thạo, không cần đến vạch trắng, họ đã hiểu cung nào ở chỗ nào.
Tuy đàn chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm thanh và tiếng đàn nghe tha thiết buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người.
Người xưa cho những bản nhạc của đàn bầu là tục nhạc, là dâm thanh vì tiếng nhạc dễ gợi u hoài và tạo niềm sầu cảm.
Ca dao có câu:
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.
Đàn bà con gái bị cấm nghe đàn bầu chính vì sức quyến rũ của những bản đàn.
Những đêm khuya thanh vắng, tiếng đàn như rót vào tâm hồn con người và có một sức khêu gợi mãnh liệt, người có tâm sự buồn nghe đàn càng thấy buồn thấm thía, trách chi những thiếu phụ, nữ lang sống cô độc một trong khuê phòng làm sao tránh khỏi ảnh hưởng của âm thanh sầu man mác và đầy quyến rũ.
Nhớ lại hồi nhỏ tôi đã được nghe một tay đàn bầu, vừa đàn vừa ca bài Tiễn chân anh Khóa của Á Nam. Nhạc sĩ đà khéo diễn tả cái cảnh chia ly trên cung bực với những tiếng đàn nỉ non thánh thót, người nghe như có cảm tưởng đang sống trong một cảnh chia ly:
Anh Khóa ơi! Em tiễn chân anh đến tận bến tàu,
Hai tay em đỡ cái khăn trầu em lấy đưa anh.
Tay câm trầu giọt lệ chạy quanh,
Anh sơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương.
Anh Khóa ơi! Cái bước công danh ngoắt ngoéo đủ trăm đường,
Anh đi một bước tấm gan vàng em xẻ làm hai
Kìa người ta bè bạn vui cười,
Hai anh em ta thương nhớ chỉ ngậm ngùi mà đứng thương nhau!
Bài hát của nhà thơ đã in sâu vào tâm khảm người nghe lại thêm tiếng đàn rấm rứt như than vãn não nề, ôi buồn sao mà buồn vậy!
Đàn bầu để nằm và người chơi ngồi thẳng, một tay gảy, một tay cầm cây trụ để điều khiển âm thanh.
Đàn bầu thường chỉ độc tấu, vì đàn rất khó hòa âm với các đàn khác. Chính vì tiếng đàn độc tấu nên nghe càng rền rĩ nỉ non, và do đó sức khêu gợi, quyến rũ càng mãnh liệt.
2.NHỊ hay ĐÀN CÒ
Nhị cũng là một nhạc khí hoàn toàn Việt Nam, và được gọi là đàn cò ở miền nam. Gọi là đàn, nhưng khi chơi nhị tài tư/ không phải gảy vào dây hay đánh vào thỏi ở trên như các loại đàn khác, mà dùng mã vĩ cọ sát vào hai dây nhị. Nhị hơi giống vĩ cầm của Tây phương, và sự phát âm thanh của nhị cũng như của vĩ cầm.
Nhị còn có tên là Hồ cầm. Nhị có bốn phần: thùng, cần, ngựa và dây.
Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt. Một con ngựa được gắn trên trống thùng, để căng hai dây qua.
Cần nhị dài chừng nửa thước và cắm chặt vào thùng. Hai dây nhị được buộc từ đầu cần xuống tới ngựa, những dây này ăn vào hai trục để len dây, và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần, khuyết là một vòng đồng.
Mã vĩ làm bằng đuôi ngựa hoặc bằng tóc buộc vào một cung tre, dây mã vĩ được đặt vào giữa khe của hai dây nhị. Khi chơi nhị, cầm chiếc chung tre kéo mã vĩ. Sự cọ sát giữa mã vĩ và dây nhị tạo nên âm thanh và âm thanh được rung mạnh trên một mảnh cây tùng hương.
Chơi nhị gọi là kéo nhị. Những nghệ si tài hoa khi kéo nhị, tiếng nhị nghe êm tai hòa với các tiếng đàn khác. Những người mới tập, khi kéo nhị, âm thanh phát ra như xé vào tai với những tiếng the thé chát chúa.
3.ĐÀN CẦM
Cầm là một loại đàn cổ từ Trung Hoa truyền sang ta. Theo sách cổ để lại thì đàn do vua Phục Hy sáng chế ra đầu tiên. Sách kể lại rằng: Xua vua Phục Hy thấy chim Phượng Hoàng đậu trên cây Ngô đồng, ngào cho cây Ngô đồng là loại ây quý nhất, nên ngài sai đốn ngã cây Ngô đồng xuống lấy cưa làm ba khúc, và gõ thử từng khúc một: khúc ngọn tiếng quá trong, khúc gốc tiếng quá đục, chi/ có khúc giữa đủ tiếng nặng nhẹ đục trong. Nhà vua đem ngâm khúc giữa này ở dòng nước chảy 72 ngày rồi sai người thợ khéo là Lưu Tử Kỳ đẽo ra làm thành đàn đặt tên là Diêu Cầm. Đàn dài ba thước sáu tấc sáu phân, trước rộng tám tấc, sau hẹp bốn tấc, trục ngọc, phím vàng. Đàn có 13 phím, 5 dây.
Về sau, Bá Ấp Khảo con vua Văn Vương nhà Chu thêm một dây, đến đời vua Võ Vương lại thêm một dây nữa. Bảy dây của đàn cầm mang tên: cung, thương, trốc, chủy, vũ, văn, võ.
Qua những dòng trên, lúc đầu đàn cầm chỉ có bảy dây nhưng về sau các nhà sành nhạc thêm bớt đặt ra đàn này đàn khác từ một tới chín dây: Nhất huyền cầm, tam huyền cầm, ngũ huyền cầm v.v...
Chơi đàn cầm có nhiều bài, và danh tiếng nhất là khúc Phụng cầu Hoàng.
Sử sách chép lại, những tay chơi đàn cầm hay thủa xưa là Bá Ấp Khảo, Bá Nha, Tư Mã Tương Như...
Theo ông Thạc Nhân thì đàn cầm là đàn Nguyệt Cầm, còn gọi là đàn kim, tương tự như đàn Mandoline của Tây Phương. Đàn nguyệt cầm này khác hẳn đàn cầm của vua Phục Hy.
4.ĐÀN SẮT
Cầm sắt thường đi đôi với nhau, cả hai đều dùng dây tơ. Theo sách cũ chép lại thì đàn sắt nguyên của Bào hy Thị sáng chế ra, dài bảy thước hai tấc, hai mươi lăm dây.
Ông Thạc Nhân trong bài viết Dương cầm sắt đã đề rằng:
"Dương cầm sắt là một thứ cổ nhạc khí của đồng bào người Việt gốc Miên. Đàn được cấu tạo bởi những thanh sắc dẹp, đặt khít nhau trên một cái đàn bán cung, theo thứ tự âm thanh từ thấp lên cao. Mỗi thanh sắt là một âm. Người chơi đàn luôn luôn ngồi thẳng hai tay cầm hai thanh gỗ có mấu đánh cùng một lần xuống những thanh sắt. Do đó mỗi lần gõ đều có một hợp âm bởi hai thanh. Đặc biệt sự chế biến âm thanh cho dương cầm sắt này là người ta đục rỗng ở dưới thanh sắt nhiều ít tùy theo mỗi âm thanh..."
5.ĐÀN TRANH
Đàn tranh bằng gỗ đục rỗn lòng máng, có 16 dây, 16 dây tùy theo nhu cầu của âm thanh, căng chùng, dài ngắn khác nhau và tất cả tất cả đều bằng đồng. Những dây này máng trên những ngựa gắn ào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đầu ngón tay phải có móc những móc sắc mà gảy, giống nhu* người chơi Hạ Uy cầm; tay trái nhấn trên các sợi dây để lựa âm thanh.
Theo sách xưa để lại, đàn tranh dài sáu thước, mười hai dây, cao ba tấc.
6.ĐÀN TỲ BÀ
Đàn tỳ bà có bốn dây, gồm một thùng đàn trông tựa như thùng đàn mandoline nhưng nhỏ hơn. Đàn có 14 phím gắn trên thùng từ gần lưng chừng thùng đến hết cần đàn, mỗi phím là một âm thanh. Âm thanh dài ngắn tuỳ theo tay nhấn của phím. Chơi đàn, nhạc công phải ôm đàn vào lòng, tương tự như chơi mandoline ngày nay. Âm thanh được tạo ra bởi tay gảy vào dây, dây rung lên.
Người xưa cho đàn tỳ bà nguyên người Hồ làm ra, do đó còn mang tên là Hồ cầm. Người Hồ khi đi ngựa thường chơi đàn này, lấy tay vẩy ngược lên kêu là Tỳ, nẩy xuôi xuống kêu là Bà, đàn được đặt tên là Tỳ Bà vì vậy. Đàn tỳ bà được người xưa trổ gỗ Ngô đồng ra mà làm, bụng như rùa, cổ như phụng.
Từ đời Nguyên tới nay, đàn tỳ bà làm bằng gỗ, đầu công, cổ dài, có bốn trục vặn bốn dây, ở giữa có 14 phím.
7.DƯƠNG CẦM
Đàn còn mang tên là Đả cầm hình như trái cật, dài 1 thước 5 tấc, bề ngang một thước, có 42 dây đồng, chia làm 14 bậc, mỗi bậc 3 dây.
Khi chơi đàn, để đàn trước mặt dùng hai thanh tre có mấu mà đánh, do đó gọi là đả cầm.
Đàn này mới có từ đời nhà Thanh.
Tại Việt Nam còn có Dương cầm gỗ cũng giống như Dương cầm sắt đã nói ở trên, chỉ khác ở chỗ những thanh sắc đục rỗng được thay thế bằng những thanh gỗ cứng, dày mỏng tùy theo nhu cầm của mỗi âm thanh, Dương cầm tre với những thanh tre thay thanh sắt. Ngoài ra còn có Dương cầm đồng trình bày và cấu tạo cũng gần như các dương cầm trên, nhưng "có điểm đặc biệt là thay vì những thanh sắt hay gỗ, người ta làm những chiếc chiêng đồng nhỏ, dày mỏng cũng tùy theo nhu cầu của mỗi âm thanh. Lối chơi cũng như các loại dương cầm trên."
8.ĐÀN NHẬT
Đàn này ngoài Bắc Việt còn gọi là đàn tứ vì có 4 dây. Thùng đàn hình tròn như mặt trời, cần dài 7 tấc, mặt thùng rộng 8 tấc. Đàn có 10 phím, 4 dây, 2 dây chập một.
9.ĐÀN NGUYỆT
Đàn nguyệt hình mặt trăng, còn được gọi là Nguyệt cầm. Đàn này thùng rộng 8 tấc rưỡi, dày một tấc rưỡi, hoàn toàn kín, cần dài 1 thước 7 tấc, 8 phím, 4 dây, 2 dây chập một như đàn nhật. Người xử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 âm thanh tùy theo tay rung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.
10.ĐÀN TAM
Tên đàn do ba dây của đàn. Đàn giống như đàn nguyệt nhưng bé hơn. Thùng cũng bằng gỗ, rộng 5 tấc, dày 2 tấc, hai bên bịt bằng da trâu thay vì bằng gỗ mỏng như đàn Nhật và đàn Nguyệt. Cần đàn dài 1 thước 5 tấc, có 3 trục để níu ba dây; giữa mặt đàn có con ngựa, dây căng qua, và dây cũng luồn qua một chiếc khuyết ở giữa cần như dây nhị, chiếc khuyết này bằng ngà hay bằng xương có xoi ba lỗ cho ba dây. Khi chơi đàn, nhạc sĩ ngồi xếp bằng, ke đàn trên đầu gối chân mặt, tay trái ôm cần mà nhấn trên dây, tay mặt cầm một miếng ngà dài chừng hai tấc, rộng chừng 8 phân hoặc miếng đồi mồi mà gảy.
11.ĐÀN CẦM NAM
Đây là một cây đàn đặc biệt, có thể ăn theo với mọi điệu hát cung cao và cũng là một cây đàn hoàn toàn Việt Nam. Theo tài liệu của cụ Hoàng Yến trong Cầm học tầm nguyên đăng ghi rằng đàn này do Luân Quốc Công, tên húy là Dục đặt ra. "Ngài là một tay rất mực phong lưu, tinh thông nhã nhạc; phàm điệu hát, câu hò, khúc lý, về tay ngài sửa sang lại, phần nhiều Ngài thấy điệu hát mình cung cao lắm, đàn xưa ít ăn theo, Ngài mới hiệp cả Cầm, Sắt, Tỳ Bà lại một, chế ra cây đàn mới, kêu là Nam cầm. Đàn này thùng dày, hình như quạt lá vả, cần dài 3 thước, 8 dây. Nam Bắc truyền bá ai cũng cho là hay."
12.ĐÀN ĐÁY
Đàn đáy còn gọi là đàn nhà trò, vì được dùng nơi cầm ca, do các kép gảy khi ca nhi hát ả đào. Đàn mặt sau khoét rỗng, nên còn được gọi là vô để cầm . Đàn thùng vuông, cần dài ba thước và cũng có 3 dây, căng từ cuối thùng đàn lên đầu cần đàn, nơi có 3 chiếc trục để vặn ba chiếc dây, hình thức gần như đàn cầm nam. Có người cho rằng đàn đáy chính là biến thân của đàn nam cầm mà hình dáng được sửa đổi lại.
Đàn đáy gảy theo điệu hát của các ca nhi, cao thấp mau chậm, nhặt khoan tùy theo điệu hát, thật là hay. Ngày xưa, người Nghệ An chơi đàn đáy rất tuyệt diệu, được tiếng khắp trong nước, và trong các tài tử có Cửu Đạm đàn thật cao nên ngày nay nhắc tới, những người quán ở tỉnh này còn nhớ.
Tương truyền rằng đàn đáy do ông Lý Thiết Quải, một vị trong bát tiên sáng chế ra: Xưa có hai vợ chồng nhà đốt than ăn ở rất nhân từ mà vẫn nghèo, cho đến một hôm được một ông già cho một cây đàn và bảo hai vợ chồng tập đàn ca sè giàu có.
Hai vợ chồng mang đàn về nhưng không biết đàn, lại tìm đến ông già ấy dạy cho hàng ngày cho tới khi biết sử dụng đàn. Vừa hay lúc ấy gặp lễ Vạn Thọ vua Hán Vũ Đế. Hai vợ chồng đến đàn hát.
Bày tôi vua Vũ đế có ông Đông Phương Sóc, nghe tiếng đàn điệu quen, đã từng được nghe. Hỏi thì hai vợ chồng nhà này nói rõ đầu đuôi và tả hình dạng ông già. Đông Phương Sóc lúc đó mới nhớ lại là bản đàn của Lý Thiết Quải gảy ở cung tiên.
Do sự tích trên mà sau này tại các làng có nghề nhà trò, khi cúng tế, thường tế vua Hán Vũ Đế, ông Đông Phương Sóc và ông Lý Thiết Quải, như ở Làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vậy.
Các nhà chơi đàn của ta xưa, trong các loại đàn nêu trên, thường lấy 5 cây đàn làm ngũ điệu: Đàn Tranh, đàn Nguyệt, đàn Tỳ Bà, Nhị và đàn Tam. Các phong lưu tài tử xuất sắc thường biết chơi cả năm cây đàn trên.
Chơi nhạc, người sử dụng nhạc khí này, người sành nhạc khí khác, mỗi cây đàn, cây sáo, cây nhị, âm thanh mỗi khác. Tình cảm của người chơi nhạc biểu lộ qua cung đàn, điệu sáo, nhưng mỗi ngón đàn nhạc lại nói lên mộc cách tâm hồn của người chơi cũng như lại diễn tả một tính cách, tính tình khác nhau? Có tiếng đàn gảy nên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên những điệu êm đềm mơ mộng nhẹ nhàng. Có người chỉ giỏi về một cây đàn có người tài nghệ có thể diễn hiển trên đôi ba nhạc khí.
Nhạc khí của ta rất nhiều từ đàn đến sáo, từ sáo tới nhị - ở đây xin không nhắc tới những loại thanh la, nào bạt, chuông trống, chiêng khánh, thường chỉ được sử dụng trong những cuộc tế lễ.
CÁC LOẠI ĐÀN
1.ĐÀN BẦU: Cây đàn hoàn toàn Việt Nam, nặng tính chất Việt Nam nhất phải kể là cây đàn bầu. Đàn bầu được chế tạo một cách hết sức giản dị, và chỉ có một dây, do đó đàn còn có tên là độc huyền cầm.
Dây đàn căng thẳng trên trống đàn, một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm thanh khi nhạc sĩ khảy đàn. Đàn không ngựa, không phím, và trên mặt trống chỉ có ba gạch trắng, chia đàn làm bốn cung thay vì năm cung như các đàn khác. Các nhạc sĩ thành thạo, không cần đến vạch trắng, họ đã hiểu cung nào ở chỗ nào.
Tuy đàn chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm thanh và tiếng đàn nghe tha thiết buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người.
Người xưa cho những bản nhạc của đàn bầu là tục nhạc, là dâm thanh vì tiếng nhạc dễ gợi u hoài và tạo niềm sầu cảm.
Ca dao có câu:
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.
Đàn bà con gái bị cấm nghe đàn bầu chính vì sức quyến rũ của những bản đàn.
Những đêm khuya thanh vắng, tiếng đàn như rót vào tâm hồn con người và có một sức khêu gợi mãnh liệt, người có tâm sự buồn nghe đàn càng thấy buồn thấm thía, trách chi những thiếu phụ, nữ lang sống cô độc một trong khuê phòng làm sao tránh khỏi ảnh hưởng của âm thanh sầu man mác và đầy quyến rũ.
Nhớ lại hồi nhỏ tôi đã được nghe một tay đàn bầu, vừa đàn vừa ca bài Tiễn chân anh Khóa của Á Nam. Nhạc sĩ đà khéo diễn tả cái cảnh chia ly trên cung bực với những tiếng đàn nỉ non thánh thót, người nghe như có cảm tưởng đang sống trong một cảnh chia ly:
Anh Khóa ơi! Em tiễn chân anh đến tận bến tàu,
Hai tay em đỡ cái khăn trầu em lấy đưa anh.
Tay câm trầu giọt lệ chạy quanh,
Anh sơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương.
Anh Khóa ơi! Cái bước công danh ngoắt ngoéo đủ trăm đường,
Anh đi một bước tấm gan vàng em xẻ làm hai
Kìa người ta bè bạn vui cười,
Hai anh em ta thương nhớ chỉ ngậm ngùi mà đứng thương nhau!
Bài hát của nhà thơ đã in sâu vào tâm khảm người nghe lại thêm tiếng đàn rấm rứt như than vãn não nề, ôi buồn sao mà buồn vậy!
Đàn bầu để nằm và người chơi ngồi thẳng, một tay gảy, một tay cầm cây trụ để điều khiển âm thanh.
Đàn bầu thường chỉ độc tấu, vì đàn rất khó hòa âm với các đàn khác. Chính vì tiếng đàn độc tấu nên nghe càng rền rĩ nỉ non, và do đó sức khêu gợi, quyến rũ càng mãnh liệt.
2.NHỊ hay ĐÀN CÒ
Nhị cũng là một nhạc khí hoàn toàn Việt Nam, và được gọi là đàn cò ở miền nam. Gọi là đàn, nhưng khi chơi nhị tài tư/ không phải gảy vào dây hay đánh vào thỏi ở trên như các loại đàn khác, mà dùng mã vĩ cọ sát vào hai dây nhị. Nhị hơi giống vĩ cầm của Tây phương, và sự phát âm thanh của nhị cũng như của vĩ cầm.
Nhị còn có tên là Hồ cầm. Nhị có bốn phần: thùng, cần, ngựa và dây.
Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt. Một con ngựa được gắn trên trống thùng, để căng hai dây qua.
Cần nhị dài chừng nửa thước và cắm chặt vào thùng. Hai dây nhị được buộc từ đầu cần xuống tới ngựa, những dây này ăn vào hai trục để len dây, và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần, khuyết là một vòng đồng.
Mã vĩ làm bằng đuôi ngựa hoặc bằng tóc buộc vào một cung tre, dây mã vĩ được đặt vào giữa khe của hai dây nhị. Khi chơi nhị, cầm chiếc chung tre kéo mã vĩ. Sự cọ sát giữa mã vĩ và dây nhị tạo nên âm thanh và âm thanh được rung mạnh trên một mảnh cây tùng hương.
Chơi nhị gọi là kéo nhị. Những nghệ si tài hoa khi kéo nhị, tiếng nhị nghe êm tai hòa với các tiếng đàn khác. Những người mới tập, khi kéo nhị, âm thanh phát ra như xé vào tai với những tiếng the thé chát chúa.
3.ĐÀN CẦM
Cầm là một loại đàn cổ từ Trung Hoa truyền sang ta. Theo sách cổ để lại thì đàn do vua Phục Hy sáng chế ra đầu tiên. Sách kể lại rằng: Xua vua Phục Hy thấy chim Phượng Hoàng đậu trên cây Ngô đồng, ngào cho cây Ngô đồng là loại ây quý nhất, nên ngài sai đốn ngã cây Ngô đồng xuống lấy cưa làm ba khúc, và gõ thử từng khúc một: khúc ngọn tiếng quá trong, khúc gốc tiếng quá đục, chi/ có khúc giữa đủ tiếng nặng nhẹ đục trong. Nhà vua đem ngâm khúc giữa này ở dòng nước chảy 72 ngày rồi sai người thợ khéo là Lưu Tử Kỳ đẽo ra làm thành đàn đặt tên là Diêu Cầm. Đàn dài ba thước sáu tấc sáu phân, trước rộng tám tấc, sau hẹp bốn tấc, trục ngọc, phím vàng. Đàn có 13 phím, 5 dây.
Về sau, Bá Ấp Khảo con vua Văn Vương nhà Chu thêm một dây, đến đời vua Võ Vương lại thêm một dây nữa. Bảy dây của đàn cầm mang tên: cung, thương, trốc, chủy, vũ, văn, võ.
Qua những dòng trên, lúc đầu đàn cầm chỉ có bảy dây nhưng về sau các nhà sành nhạc thêm bớt đặt ra đàn này đàn khác từ một tới chín dây: Nhất huyền cầm, tam huyền cầm, ngũ huyền cầm v.v...
Chơi đàn cầm có nhiều bài, và danh tiếng nhất là khúc Phụng cầu Hoàng.
Sử sách chép lại, những tay chơi đàn cầm hay thủa xưa là Bá Ấp Khảo, Bá Nha, Tư Mã Tương Như...
Theo ông Thạc Nhân thì đàn cầm là đàn Nguyệt Cầm, còn gọi là đàn kim, tương tự như đàn Mandoline của Tây Phương. Đàn nguyệt cầm này khác hẳn đàn cầm của vua Phục Hy.
4.ĐÀN SẮT
Cầm sắt thường đi đôi với nhau, cả hai đều dùng dây tơ. Theo sách cũ chép lại thì đàn sắt nguyên của Bào hy Thị sáng chế ra, dài bảy thước hai tấc, hai mươi lăm dây.
Ông Thạc Nhân trong bài viết Dương cầm sắt đã đề rằng:
"Dương cầm sắt là một thứ cổ nhạc khí của đồng bào người Việt gốc Miên. Đàn được cấu tạo bởi những thanh sắc dẹp, đặt khít nhau trên một cái đàn bán cung, theo thứ tự âm thanh từ thấp lên cao. Mỗi thanh sắt là một âm. Người chơi đàn luôn luôn ngồi thẳng hai tay cầm hai thanh gỗ có mấu đánh cùng một lần xuống những thanh sắt. Do đó mỗi lần gõ đều có một hợp âm bởi hai thanh. Đặc biệt sự chế biến âm thanh cho dương cầm sắt này là người ta đục rỗng ở dưới thanh sắt nhiều ít tùy theo mỗi âm thanh..."
5.ĐÀN TRANH
Đàn tranh bằng gỗ đục rỗn lòng máng, có 16 dây, 16 dây tùy theo nhu cầu của âm thanh, căng chùng, dài ngắn khác nhau và tất cả tất cả đều bằng đồng. Những dây này máng trên những ngựa gắn ào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đầu ngón tay phải có móc những móc sắc mà gảy, giống nhu* người chơi Hạ Uy cầm; tay trái nhấn trên các sợi dây để lựa âm thanh.
Theo sách xưa để lại, đàn tranh dài sáu thước, mười hai dây, cao ba tấc.
6.ĐÀN TỲ BÀ
Đàn tỳ bà có bốn dây, gồm một thùng đàn trông tựa như thùng đàn mandoline nhưng nhỏ hơn. Đàn có 14 phím gắn trên thùng từ gần lưng chừng thùng đến hết cần đàn, mỗi phím là một âm thanh. Âm thanh dài ngắn tuỳ theo tay nhấn của phím. Chơi đàn, nhạc công phải ôm đàn vào lòng, tương tự như chơi mandoline ngày nay. Âm thanh được tạo ra bởi tay gảy vào dây, dây rung lên.
Người xưa cho đàn tỳ bà nguyên người Hồ làm ra, do đó còn mang tên là Hồ cầm. Người Hồ khi đi ngựa thường chơi đàn này, lấy tay vẩy ngược lên kêu là Tỳ, nẩy xuôi xuống kêu là Bà, đàn được đặt tên là Tỳ Bà vì vậy. Đàn tỳ bà được người xưa trổ gỗ Ngô đồng ra mà làm, bụng như rùa, cổ như phụng.
Từ đời Nguyên tới nay, đàn tỳ bà làm bằng gỗ, đầu công, cổ dài, có bốn trục vặn bốn dây, ở giữa có 14 phím.
7.DƯƠNG CẦM
Đàn còn mang tên là Đả cầm hình như trái cật, dài 1 thước 5 tấc, bề ngang một thước, có 42 dây đồng, chia làm 14 bậc, mỗi bậc 3 dây.
Khi chơi đàn, để đàn trước mặt dùng hai thanh tre có mấu mà đánh, do đó gọi là đả cầm.
Đàn này mới có từ đời nhà Thanh.
Tại Việt Nam còn có Dương cầm gỗ cũng giống như Dương cầm sắt đã nói ở trên, chỉ khác ở chỗ những thanh sắc đục rỗng được thay thế bằng những thanh gỗ cứng, dày mỏng tùy theo nhu cầm của mỗi âm thanh, Dương cầm tre với những thanh tre thay thanh sắt. Ngoài ra còn có Dương cầm đồng trình bày và cấu tạo cũng gần như các dương cầm trên, nhưng "có điểm đặc biệt là thay vì những thanh sắt hay gỗ, người ta làm những chiếc chiêng đồng nhỏ, dày mỏng cũng tùy theo nhu cầu của mỗi âm thanh. Lối chơi cũng như các loại dương cầm trên."
8.ĐÀN NHẬT
Đàn này ngoài Bắc Việt còn gọi là đàn tứ vì có 4 dây. Thùng đàn hình tròn như mặt trời, cần dài 7 tấc, mặt thùng rộng 8 tấc. Đàn có 10 phím, 4 dây, 2 dây chập một.
9.ĐÀN NGUYỆT
Đàn nguyệt hình mặt trăng, còn được gọi là Nguyệt cầm. Đàn này thùng rộng 8 tấc rưỡi, dày một tấc rưỡi, hoàn toàn kín, cần dài 1 thước 7 tấc, 8 phím, 4 dây, 2 dây chập một như đàn nhật. Người xử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 âm thanh tùy theo tay rung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.
10.ĐÀN TAM
Tên đàn do ba dây của đàn. Đàn giống như đàn nguyệt nhưng bé hơn. Thùng cũng bằng gỗ, rộng 5 tấc, dày 2 tấc, hai bên bịt bằng da trâu thay vì bằng gỗ mỏng như đàn Nhật và đàn Nguyệt. Cần đàn dài 1 thước 5 tấc, có 3 trục để níu ba dây; giữa mặt đàn có con ngựa, dây căng qua, và dây cũng luồn qua một chiếc khuyết ở giữa cần như dây nhị, chiếc khuyết này bằng ngà hay bằng xương có xoi ba lỗ cho ba dây. Khi chơi đàn, nhạc sĩ ngồi xếp bằng, ke đàn trên đầu gối chân mặt, tay trái ôm cần mà nhấn trên dây, tay mặt cầm một miếng ngà dài chừng hai tấc, rộng chừng 8 phân hoặc miếng đồi mồi mà gảy.
11.ĐÀN CẦM NAM
Đây là một cây đàn đặc biệt, có thể ăn theo với mọi điệu hát cung cao và cũng là một cây đàn hoàn toàn Việt Nam. Theo tài liệu của cụ Hoàng Yến trong Cầm học tầm nguyên đăng ghi rằng đàn này do Luân Quốc Công, tên húy là Dục đặt ra. "Ngài là một tay rất mực phong lưu, tinh thông nhã nhạc; phàm điệu hát, câu hò, khúc lý, về tay ngài sửa sang lại, phần nhiều Ngài thấy điệu hát mình cung cao lắm, đàn xưa ít ăn theo, Ngài mới hiệp cả Cầm, Sắt, Tỳ Bà lại một, chế ra cây đàn mới, kêu là Nam cầm. Đàn này thùng dày, hình như quạt lá vả, cần dài 3 thước, 8 dây. Nam Bắc truyền bá ai cũng cho là hay."
12.ĐÀN ĐÁY
Đàn đáy còn gọi là đàn nhà trò, vì được dùng nơi cầm ca, do các kép gảy khi ca nhi hát ả đào. Đàn mặt sau khoét rỗng, nên còn được gọi là vô để cầm . Đàn thùng vuông, cần dài ba thước và cũng có 3 dây, căng từ cuối thùng đàn lên đầu cần đàn, nơi có 3 chiếc trục để vặn ba chiếc dây, hình thức gần như đàn cầm nam. Có người cho rằng đàn đáy chính là biến thân của đàn nam cầm mà hình dáng được sửa đổi lại.
Đàn đáy gảy theo điệu hát của các ca nhi, cao thấp mau chậm, nhặt khoan tùy theo điệu hát, thật là hay. Ngày xưa, người Nghệ An chơi đàn đáy rất tuyệt diệu, được tiếng khắp trong nước, và trong các tài tử có Cửu Đạm đàn thật cao nên ngày nay nhắc tới, những người quán ở tỉnh này còn nhớ.
Tương truyền rằng đàn đáy do ông Lý Thiết Quải, một vị trong bát tiên sáng chế ra: Xưa có hai vợ chồng nhà đốt than ăn ở rất nhân từ mà vẫn nghèo, cho đến một hôm được một ông già cho một cây đàn và bảo hai vợ chồng tập đàn ca sè giàu có.
Hai vợ chồng mang đàn về nhưng không biết đàn, lại tìm đến ông già ấy dạy cho hàng ngày cho tới khi biết sử dụng đàn. Vừa hay lúc ấy gặp lễ Vạn Thọ vua Hán Vũ Đế. Hai vợ chồng đến đàn hát.
Bày tôi vua Vũ đế có ông Đông Phương Sóc, nghe tiếng đàn điệu quen, đã từng được nghe. Hỏi thì hai vợ chồng nhà này nói rõ đầu đuôi và tả hình dạng ông già. Đông Phương Sóc lúc đó mới nhớ lại là bản đàn của Lý Thiết Quải gảy ở cung tiên.
Do sự tích trên mà sau này tại các làng có nghề nhà trò, khi cúng tế, thường tế vua Hán Vũ Đế, ông Đông Phương Sóc và ông Lý Thiết Quải, như ở Làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vậy.
Các nhà chơi đàn của ta xưa, trong các loại đàn nêu trên, thường lấy 5 cây đàn làm ngũ điệu: Đàn Tranh, đàn Nguyệt, đàn Tỳ Bà, Nhị và đàn Tam. Các phong lưu tài tử xuất sắc thường biết chơi cả năm cây đàn trên.
CÁC LOẠI SÁOĐàn nhị thường đi với sáo. Trong một phường bát âm không thể không có sáo được. Tiếng sáo hòa với tiếng đàn khiến khúc nhạc càng êm ái và càng diễn tả rõ cái hay của bản đàn. Tiếng sáo bao giờ cũng thanh nhã. Tiếng sáo tạo nên do không khí chịu hơi thổi mà ra.
Sáo cũng có nhiều loại với nhiều tên khác nhau, có thứ thổi ngang, có thử thổi dọc. Chẳng hạn như:
1.HOÀNG: là một ống sáo có cái lưỡi gà, khi thổi tiếng phát ra do cái lưỡi gà, và âm thanh trầm bỗng tùy theo các lỗ sáo.
2.TIÊU: bằng trúc có sáu lỗ, năm lỗ ở mặt trước và một lỗ ở mặt sau
Tục văn hiến thông khảo nói rằng ống Tiêu được chế ra từ đời nhà Minh, dài một thước 9 tấc 5 phân, tròn 3 tấc, đầu ống khoét một lỗ gọi là Sơn khẩu.
Ống Tiêu ta hiện thổi bi giờ hình thức cũng vậy nhưng nhỏ và ngắn hơn.
3.ĐỊCH: có bảy lỗ tức là ống sáo ta thổi bi giờ.
4.QUẢN: nhạc khí này ta thường gọi lầm là Địch. Quản chế ra từ đời nhà Đường có 7 lỗ ở bên cạnh, lỗ này thường được dán lại bằng lụa ruột cây tre để cho tiếng reo lên, là trợ thanh. Ngày nay khi thổi sáo, ta thường lột lụa mo cau hoặc lụa củ hành mà dán lỗ này.
5.TRÌ: giống như ống Địch có đáy, thổi ngang, sáu lỗ.
6.HUÂN: Đây chính là cái còi bằng đất có 2 lỗ, một lỗ thổi hơi vào, một lỗ là lối hơi thoát ra tạo nên tiếng còi.
Cái Huân người xưa làm bằng đất to như trứng gà, tròn 5 tấc rưỡi, dài 3 tấc, 6 lỗ.
7.KÈN: cũng là một nhạc khí mà âm thanh tạo nên do hơi thổi làm chuyển động không khí trong kèn. Kèn thường như một ống loa, trên thân kèn có những lỗ, số lỗ nhiều ít theo nhu cầu của âm thanh, mỗi lỗ có 2 âm thanh cao và trầm.
Miệng kèn nhỏ như một tổ sâu, có cái lưỡi gà để tạo âm thanh. Kèn phải thổi dọc.
Xưa kèn chi? thường được dùng trong việc tế lễ, nhất là tang lễ. Tang lễ có một loại kèn riêng gọi là kèn đám ma, thổi lên kêu tò te tí te, tiếng thật là buồn, nhất là đêm hôm, khi con cháu khóc người chết có đệm tiếng kèn thật là ảo não.
8.SINH TIỀN: đây là một nhạc khí Việt Nam làm bằng hai thanh gỗ gắn vào nhau, trên mỗi thanh gỗ có lồng những đồng tiền đồng, do đó tên là sinh tiền. Nhạc sĩ sử dụng sinh tiền đập mạnh, tiếng những đồng tiền chạm vào nhau vang lên, để tăng nhịp điệu cho bản nhạc được hòa tấu bởi các nhạc khí khác. Các thanh niên chơi sinh tiền trong phường bát âm thường có những điệu bộ như điệu múa và đôi mắt đưa theo những đồng tiền lên xuống và chạm vào nhau trông thật khả ái.
9.PHÁCH: làm bằng hai thanh tre dùng để đánh vào nhau theo nhịp đàn và làm nhịp cho câu hát. Các ả đào khi hát thường đánh phách.
10.BÁT: chính là chiếc bát lớn dùng để gõ nhịp khi có ca hát đàn địch.
11.TRỐNG: trong các buổi tế lễ thường có tiếng trống và trống dùng trong những dịp này thường là trống to.
Trống có nhiều loại, mỗi loại được dùng một cách riêng, có loại dùng một dùi trống, có loại dùng hai dùi trống, và có loại chỉ cần bàn tay vỗ vào mặt trống là phát ra âm thanh.
Trống bao giờ cũng hình ống có khi hai đầu và giữa bằng nhau, có khi ở giữa khum khum, hai đầu nhỏ hơn. Trống có hai phần:
Thành Trống" thường bằng gỗ, thường rỗng ở giữa.
Mặt trống: ở hai đầu thành trống, được bịt bằng da, ta thường dùng da trâu. Hai đầu bịt này là hai mặt trống.
Đánh trống phải có dùi, dùi to nhỏ tùy theo loại trống.
Trống Cái: là trống đại, thường đình làng nào cũng có. Trống này bề cao có khi tới hai thước và mặt trống có khi rộng tới một thước. Trống dùng để điểm vào trong các cuộc tế lễ, cùng đi với tiếng chiêng.
Trống Cơm: là một loại trống hoàn toàn Việt Nam, mình dài mà nhỏ, khi đánh trống không dùng đến dùi mà dùng hai tay vỗ vào hai mặt trống. Trên hai mặt trống, lúc chơi thường có hai nắm cơm nếp nhỏ, có lẽ do hai năm cơm nếp này mà trống được mang tên là trống cơm. Cũng có nơi như làng Đình Bảng, làng Phù Đổng, tỉnh Bắc Ninh chẳng hạn, nhạc công lại không bao giờ đính cơm nếp lên mặt trống, họ chỉ để nguyên da trống như vậy mà biểu diễn thôi.
Trống cơm được coi là một nhạc cụ cần thiết trong các phường nhạc bình dân. Từ những bản nhạc dạo hành khi rước thần hoặc đưa ma đến những đám hát chèo ta đều nghe có tiếng trống cơm, và bao giờ tiếng trống cơm cũng giữ nhịp cho điệu nhạc.
Tiếng trống cơm nghe cũng đặc biệt, bùng bập bùng, không trong lanh lảnh và cũng không trầm như chìm xuống. Tiết điệu trống cơm thật là phong phú và cách biểu diễn tiết tấu cũng rất tài tình. Tiếng trống cơm với tất cả những âm thanh trầm bỗng như nặng hồn dân tộc bên trong.
Trống Bưng: Có ai đã dự một cuộc thi đô vật ở các hội quê miền Bắc chưa? Và có ai đã dự một buổi đánh cờ bơi hoặc đánh cờ người trên sân khấu chưa? Đã dự những cuộc này, ắt phải để ý tới một người cầm một chiếc trống nhỏ có cán đi sát các đấu thủ gõ lên những tiếng tong tong tong để khuyến khích các đô vật hoặc thúc dục các kỳ thủ khi cuộc vật đi vào lúc gay cấn hoặc khi các kỳ thủ đang nghĩ nước cờ. Tiếng trống thúc dục này đánh trên trống bưng. Có lẽ gọi như vậy vì người sử dụng phải bưng cái trống trên tay, mặc dầu bưng đây không có đúng hẳn với nghĩa, vì trống được cầm bằng một cái cán ở tay trái, còn tay phải cầm dùi trống đánh vào mặt trống.
Trong các buổi cúng lễ của các pháp sư đạo Lão, ngoài tiếng tiu, tiếng cảnh cũng có tiếng trống bưng, còn được gọi là trống khẩu.
Trống Ếch: đay là thứ trống trẻ em chơi. Ở nhà quê, khi ăn thịt ếch, người ta lột da và có người dùng da ếch bịt lên một ống tre, một khúc gỗ nhỏ khoét rỗng, phơi khô cho trẻ em chơi làm trống gọi là trống ếch. Danh từ này về sau được dùng để chỉ loại trống nhỏ, mặt cũng được bịt bằng da trâu, dùng cho trẻ em chơi trong những khi chơi tế lễ rước xách, nhất là khi có múa sư tử vào dịp Trung Thu ở Bắc.
Trống Bản: tiếng trống nghe trầm và rất ăn với tiếng kèn. Trống này gọi là trống bản, và nôm na hơn người ta gọi là trống đám ma. Trống Bản cũng như trống cơm, khi sử dụng nhạc công phải dùng dây đeo qua vai và để trống phía trước mặt và đánh trống có hai dùi. Trống thấp độ 2 tấc rưỡi ta, mặt rất rộng đường kính trên 8 tấc.
Trống Ngũ Bộ: giống như trống nhưng khuôn khổ nhỏ hơn, thành trống cao độ nửa thước, và mặt trốn đường kính bằng hai phần ba thành trống.
Không hiểu sao lại gọi là trống ngũ bộ? Phải chăng trống này hoài cùng với tiếng nạo bạt đánh lên dịp năm, như phường trống ở làng Thị Càn, huyện Võ Giang tỉnh Bắc Ninh. Phường trống này thường gồm 4 người, hai người đánh trống và hai người chơi nạo bạt.
Nhạc công chơi trống cũng dùng quai, nhưng lại đeo thòng ngang vai, để trống mé cạnh sườn. Đánh trống cũng phải dùng hai dùi.
Tại nhà các cô dầu, trống dùng để đánh chầu đệm theo câu hát, điệu đàn, tiếng phách là loại trống hình thể giống trống ngũ bộ, chỉ khác khi đánh trống, quan viên thường bịt trống để tiếng trống nghe tom tom thay vì tung tung.
Ngoài mấy loại trống kể trên, còn nhiều trống khác như trống bỏi, trống thầy cúng.
Nhạc
Nhạc là một cái gì đó nhiệm màu thiêng liêng và người xưa cho rằng chỉ những thiên tài mới chế được ca nhạc, và do đó phương Ðông chúng ta lại quan niệm rằng nhạc là sự điều hòa giữa trời đất. Nhạc lại có thể cảm lòng người và thay đổi được phong tục. Lễ nghi không có nhạc thiếu vẻ trang nghiêm, và để giữ gìn mỹ tục, để bảo tồn lễ nghi, người xưa dùng nhạc trong các buổi tế lễ.
Ngoài các buổi tế lễ, người ta còn dùng nhạc để tiêu khiển mua vui cùng nhau. Năm ba bạn bạn trẻ, có khi do một người nhiều tuổi đứng đầu họp thành một ban nhạc, để cùng nhau luyện các bản nhạc và hòa tấu với nhau những khi gió sớm, lúc trăng chiều. Cũng có những người với một nhạc cụ, một cây đàn nhật hoặc đàn bầu, vừa đàn vừa hát những bản nhạc mà mình ưa thích. Những lúc thư nhà, hoặc đêm khuya thanh vắng buồn bã một mình, thì mượn tiếng đàn giải muộn. Hoặc đàn nguyệt, đàn thập lục dạo một vài câu lưu thủy, hoặc gảy chơi một câu tứ đại, nam ai... Tiếng đàn thánh tha thánh thóc, ti tỉ như dế kêu sầu cũng đủ tả tấm lòng ngao ngán.
Ðêm tâm tư gởi vào khúc nhạc, dùng nhạc để quên nỗi u buồn, dùng nhạc để nói lên niềm vui, nhạc thật là một thú tiêu khiển thanh cao tao nhã.
Thường thì các bản nhạc được giới nhạc công nhận là có giá trị chia ra thành hai loại: bản Bắc và bản Nam tức là là những khúc nhạc cung Bắc và cung Nam.
NHẠC CUNG BẮC:
Ðây là những bản nhạc linh hoạt, một phần phóng tác theo nhạc Trung Hoa, nhưng xoang điệu mang sắc thái Việt Nam. Thực ra cũng có những bản gốc Trung hoa, cũng có bản gốc Viet, ngày nay lẫn lộn, khó mà phân biệt:
1. Cổ bản:
Một bản nhạc cổ rất nhiều xoang điệu. Nhạc nghe êm tai, nhưng nội dung không rõ là gì. Cổ bản còn được gọi là bản ca Bắc hoạc ca Lý, xuất xứ không rõ ở đâu nhưng người Huế hay ca cùng với các điệu ca khác. Bài này có 6 vần làm thành 6 khổ:
Duyên thắm, duyên càng đượm vì giống đa tình,
Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh.
Bực khuynh thành thực là tài danh,
Song duyên kia đừng phụ, nào trách mình.
Chỉ non thề nguyền cùng trời xanh!
Lòng dặn lòng cho đành
Nỗi kết minh, kết minh!
Thư nhạn đưa tin tháng ngày
Nguồn ân ái dám đâu vơi đầy
Thương càng bận, làm bận lòng đây
Vấn vương tình tự vì đây
Tơ hồng khéo xe thực là may
Trăng rọi thềm hoa
Lầu ngọc sáng lòa,
Hương thương ngút nhà;
Khắp gần xa,
Tiếng đàn hòa ca.
Ngâm vịnh mấy chén quỳnh,
Say sưa cùng mình
Sáng tay vai,
Nhân ngãi lâu dài,
Thực là vui, dám nào phai,
Tâm đầu ý hợp như rứa mấy người
Ngọc Vô Hà, Biện hòa mới hay!
Một ngay tương tri, tình si ấy là ai
Muôn vàn không ngại mua ngay tiếng cười
Gọi mười người như người.
Anh hùng có đâu, có là đâu
Thôi thôi đừng, đừng năn nỉ suy nghĩ thêm sầu;
Mặc ai dầu,
Lại hầu thương yêu, mặn nồng bao nhiêu!
Ðường còn lâu, chút tình sâu!
Vui lòng ưng chịu, danh lỵ chỉ cầu.
2. Lưu thủy:
Lưu thủy là nước chảy. Bản nhạc gây cho thính giả một cảm giác êm ái, điệu nhạc như trầm lặng nhưng nhanh nhanh buồn buồn. Bài ca có 4 khổ tạo nên bởi 4 vần:
Kể từ ngày gặp nhau,
Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau
Dây tơ mành xe chặt lấy nhau.
Xe không đặng đem tình thương nhớ,
Cảm thương người ngẫm nghĩ ba thu.
Xa các nhau đêm nằm vẫn thấỵ
Thấy là thấy chiêm bao,
Biết bao vấn vương bên mình,
Mình giật mình đòi cơn.
Biết bao lại quan sơn một đường,
Tình thương tơ vương mọi đường,
Xin cho trọng cương thường.
3. Hành vân:
Hành vân là mây bay. Qua hai chữ hành vân ta hình dung đám mây trôi xa xa giữa bàu trời xanh ngắt. Nghe bản nhạc hành vân, ta cảm thấy nhè nhẹ, êm êm, thanh thản.
Một đôi lời
Nhắn bạn tình ơi!
Thề non nước giao ước kết đôi,
Trăm năm tạc dạ
Dầu xa cách, song tình thương chớ phụ thì thôi.
Niềm trọng niềm xin đừng sao nhãng
Trước kia định nợ ba sanh
Ðẹp duyên lành,
Trọng niềm phu phụ, bậc tài danh.
Dầu tiên có tại non Bồng,
kết mối tơ hồng,
Ấy chẳng trông!
Nghĩa sắt cầm,
Hòa hợp trăm năm,
Bởi vì xa cách, nhắn nhe cùng bạn tri âm.
4. Kim tiền:
Bản nhạc gọi theo tên nhạc khí, kim tiền tức là sinh tiền dùng để đập nhịp. Nội dung và xoang điệu bản nhạc đi rất mạnh. Nghe bản nhạc thính giả cảm thấy cái gì hăng hái, say sưa, mạnh mẽ. Trái hẳn với xoang điệu thanh thản của các bản lưu thủy, hành vân, xoang điệu bản kim tiền đi nhanh, dồn dập, réo rắt và hùng mạnh.
Bắt tay ngồi lại đây,
Không mấy khi ta gặp bên này,
Cho đó rõ niềm Tây,
Lời đắng cay,
Tuy xa đàng, không xa mặt,
Chung tình lại càng vui
Càng thêm vui ...
Ai khéo xui mình gặp,
Một cặp đa tình,
Thiệt tại trời xui mình,
Hay là lối ba sanh,
Hai đó là lối ba sanh,
Xin cho bền dạ, giữ dạ,
Dầu gặp người quen
Xin cho bền dạ, giữ dạ
5. Bình bán:
Bản này dung hợp cái chậm rãi và cái dồn dập của hai bản lưu thủy và kim tiền, xoang điệu vừa mau vừa chậm, vừa trầm vừa hùng. Nội dung bản này có thể là đoạn đầu lưu thủy và đoạn sau là kim tiền.
Non nước, nguyền non nước
Xin ai sánh vai đừng ngại
Quyết lâu dài, sum vầy trúc mai,
Mấy lời phụ người,
Chùng nhau trước sau cho vẹn.
Trăm năm chờ đem tình, tình lợt phai,
Dẫu lạt vàng phai, dám nề sai,
Có đâu dời đổi tình ai!
Nhắn khuyên bạn ân tình hãy còn lâu.
Lại dụng lòng ta, nhớ ngươi xa,
Bóng trăng tà, gió lồng hơi ba.
cầm ca, ngân nga tiệc quỳnh,
Trằn trọc, xa mối vàng đá dựa màn loan,
Giận duyên, buồn riêng,
Trạnh niềm tây, đắng hóa cay
Châu rơi tương tư càng nặng,
Khéo thay là, những lại qua
Ðêm thanh vắng, tình người ngọc,
Thở than thêm phiền!
Buồn tủi phận, lận đận bèo mây,
Trăng gió, trăng gió đưa tình,
Vừa gặp mình, thiệt trời khéo dành
6. Tẩu mã:
Bản này diễn tả nhịp ngựa phi, do đó vừa dồn dập, vừa nhanh, vừa mạnh. Ðiệu tẩu mã thường được sử dụng trong các vở tuồng với những vai anh hùng, tráng sĩ. Ðiệu này nguyên trước đây là một điệu của người Tàu cho ne6n cũng gọi là ca khách, và bản nhạc gọi là nhạc khách.
Cành bèo sen, đà hiệp duyên,
Trăng thề một bên, vầy bạn tiên,
Lúc say tỉnh mảnh trăng tàn,
Chuyện hiệp tan, màn loan,
Bấy lâu đợi chờ,
Chút duyên tình cờ
Lúc tình cờ, bây giờ thấy đây!
Một lòng càng xinh,
Có tình với mình ấy ai?
Ngậm ngùi lúc hương nguyền
Rượu nghiêng tiệc quỳnh,
Mấy nỗ đá vàng
Ðêm thâu người đâu, người đâu?
Người đâu đã thấy nhau còn ngờ!
Người đâu lại thấy bây giờ!
Ngày xưa, mưa gió thêm nồng,
Song đã vương vấn, vương vấn tơ hồng
Thề non, thề chớ sai lời!
7. Tứ đại cảnh:
tứ đại cảnh là cảnh của bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông trong một năm. Nội dung bản nhạc diễn tả cảnh sắc của bốn mùa. Bản nhạc này tuy được xếp vào các bản nhạc cung Bắc, nhưng nhiều người cho rằng tác giả bản nhạc này là vua Tự Ðức vì bản nhạc này được phổ biến nhất ở Huế và vua Tự Ðức là một nhạc sĩ có tài lại có tâm hồn nghệ sĩ, đàn giỏi, thơ haỵ
Thương trăng tròn, thương trăng khuyết,
Thương tha thiết, trăm mối bên lòng,
Thương đóa hoa vừa nở, dập dì ông bướm ong,
Thương đóa hoa tàn lạt phấn phai hương
Nào ai kẻ buồn trông?
Thương mây bạc, gió đưa xiêu lạc, không biết về đâu!
Thương nước trôi bèo dạt, bèo dạt trôi nơi nao!
Thương số ba đào, chìm nổi lao đao,
Ðời vất vả biết là bao?
Thương chim nhạn đêm đông kiếm bạn
Bao quản tuyết sương!
Sương tuyết sương dày dạn, tiếng nhạn kêu thảm thương!
Thương kẻ si tình, theo dõi người thương.
Trông mòn mỏi ngày xanh,
Ðành đành thương trông núi Ngự chiều đông.
Thông reo não nùng
Mưa gió không ngừng,
Nào bạn tác ngày xuân, ai chịu lạnh cùng không?
Ngùi ngùi thương, ca nhi giữa sông Hương
Véo von gọi tình năm canh,
Dầu giãi sương gió sương?
Cái thương sao cứ quanh bên mình,
Thương chi trọn trăm nghìn mối thương,
Thương đâu vẹn trăm nghìn mối tình thương
NHẠC CUNG NAM
Ðây là những bản nhạc sản xuất ở miền Nam từ thời chúa Nguyễn, chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhạc khúc Chiêm Thành. Từ nhạc thường buồn ai oán sầu bi nhưng rất có giá trị.
1. Nam ai:
Nam ai là thương Nam, xót Nam. Ðây là bản nhạc buồn nhất, ai oán nhất trong các bài nhạc cung Nam.
Với bản nhạc Nam ai, rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ đặt lời ca, tùy theo hoàn cảnh cảm xúc và ý nghĩa của từng người. Thường bản ca Nam ai có 3 vần, tạo thành ba khổ. Ví dụ:
Khuyên ai gắn bó báo đền công trình thầy mẹ
Ân nặng nhường sông, nghĩa chất non cao
Ôn cúc dục cù lao,
Sinh thành lo sợ xiết bao,
Lo cơm bữa nhường nao,
Ẳm bồng ra vào
Nâng niu, bú mớm đêm ngày xem tày vàng ngọc,
Hay chạy, hay đi, lúc nắng, lúc mưa.
Từ xưa đến giờ.
Lúc hãy còn thơ,
Ðến bây giờ,
Chịu nhuốc nhơ,
Biết bao nhiêu mà!
Trông năm trọng ngày qua.
Da mồi, tóc bạc, mày xa,
Khuyên trong cõi người ta,
Thảo ngay mới là!
Xoang điệu của bản Nam ai chậm chậm để diễn tả nỗi buồn thảm cực độ, do ảnh hưởng của Chiêm Thành.
2. Nam Thương:
Nam thương nghĩa là buồn nam, mến nam. Ðây là một bản nhạc cổ điệu buồn nhưng không buồn bằng Nam ai. Bản nhạc cũng chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành, xoang điệu đi chậm nhưng một vài chỗ âm thanh có vẻ réo rắt, hàm ý thương tiếc nhớ nhung, đau khổ buồn buồn.
Ôi! Tan hợp xiết bao, tháng ngày đợi chờ non nước,
Ngàn dặm chơi vơi!
Mấy lời nào dễ sai lời;
Ai ơi! Chớ đem dạ đổi dời,
Y¨ ưng tình thêm càng ưu ý
Thiệt là đặng mấy người.
Lại sai lời
Tương tri cho đá vàng thêm lại yêu vì
Nhớ khi cuộc rượu câu thi
Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì!
Nặng vì tình, tình đôi ta, duyên trao nợ, rằng ai.
Buộc lại người sinh,
Lời hẹn ba sinh
Vấn vương tơ tình
3. Nam xuân:
Ðây là một bản nhạc ít buồn và có đượm cái vui, tuy cái vui vẫn như thể bị ái nối buồn tiếp. Phải chăng đây là cái buồn truyền kiếp của một quốc gia đã bị diệt vong mà ảnh hưởng ăn vào âm nhạc của Việt Nam. Xoang điệu bản nhạc tuy buồn nhưng có nhiều nét thướt tha duyên dáng, cái thướt tha duyên dáng của hình bóng cô gái Chàm đi lả lướt trên bóng chiều.
Nhắn nhe vườn hạnh, ngồi chờ chim xanh
Khéo đưa tình,
Ðưa tình đưa lại cho ta, lại cho ta,
Trót đã nặng mà!
Ðã gần xin bạn đừng xa
Sớm đào tối mận lân la,
Trước còn trăng gió, còn trăng gió,
Sau ra đá vàng!
Loan ôm phụng, phụng ôm loan,
Biết bao giờ cho hiệp mặt mơ màng.
Ðã lo toan vầy hiệp nhân đoan,
mây hồng đưa gởi thơ nhàn, gởi thư nhàn,
Ðưa sang tình tự thiếp chàng,
Ðôi đàng thương nhớ,
Thiếp với chàng, đồi đàng thương nhớ
Thương nhau phải băng ngàn!
Trót cưu mang, xin cho toàn.
Chớ đem dạ phụ phàng!
Mảnh trăng thề vằng vặc soi chung,
Dầu thu hết, sang đông, đông xin chờ!
Mối chỉ hồng, cậy cùng Ông Tơ,
Xe giây Bà Nguyệt
Cho duyên này hiệp mặt sum vầy,
Ðài gương suốt đó đây phỉ nguyền!
4. Nam bình: Ðây là một bản nhạc không buồn không vui, âm thanh đi đều đều . Có thể nói đây là một bản nhạc nam cung được hòa hợp bởi ba bản Nam ai, Nam thương và Nam xuân cho nên nội dung pha lẫn buồn vui, nhưng cái buồn vẫn nhiều hơn.
Bốn bản nhạc trên, tuy nhạc chỉ có một bản, nhưng mỗi bản lại được phổ thành nhiều ca khúc bởi nhiều tác giả, mỗi ca khúc nội dung khác nhau tùy cảm hứng của từng tác giả.
Thương nhau vì nợ tri âm,
Mối tình thâm!
Buộc ràng đây đó,
Vầy cuộc ca ngâm,
Dưới trần như đã riêng phần!
Ðể riêng phần!
Mặc duyên may hay là nợ với nần.
Chi bằng ưu ý,
Nợ hay duyên, hỏi người thanh khí,
Ai là kẻ xoay vần?
Tuổi xuân xanh, chưa từng cái nợ phong trần,
Vương vào cuộc ái ân,
Càng cay đắng, đắng cay muôn phần.
Ðược như lời ước mong,
Cho thỏa tình tư tưởng.
Tưởng rồi trông,
Ngồi tựa bên sông,
Thỏa mùi bông,
Vấn vương tơ lòng.
Ơi người Việt ơi!
Gặp khi thời lai...
Ngọn đèn kiến thức
Bừng rạng muôn nơi,
Trí tài đua kịp theo người,
Kịp theo thời sánh bước chung vai ...
Cho xứng mặt giống nòi
Sống đời khang khái...
Bước quanh vinh ta càng hăng hái,
Thêm vững thêm dài,
Hết chông gai... Tung cánh bằng bay lượn khắp trời.
Nhân dân chờ một tương lai...
Mừng nay đến, đến trong mọi người
vững một niềm an vui...
Ðô thị cùng thôn dã đặng hòa lai,
Rạng ngời ánh mai... cảnh càng tươi
Ý dân là ý trời...
Nhạc là một cái gì đó nhiệm màu thiêng liêng và người xưa cho rằng chỉ những thiên tài mới chế được ca nhạc, và do đó phương Ðông chúng ta lại quan niệm rằng nhạc là sự điều hòa giữa trời đất. Nhạc lại có thể cảm lòng người và thay đổi được phong tục. Lễ nghi không có nhạc thiếu vẻ trang nghiêm, và để giữ gìn mỹ tục, để bảo tồn lễ nghi, người xưa dùng nhạc trong các buổi tế lễ.
Ngoài các buổi tế lễ, người ta còn dùng nhạc để tiêu khiển mua vui cùng nhau. Năm ba bạn bạn trẻ, có khi do một người nhiều tuổi đứng đầu họp thành một ban nhạc, để cùng nhau luyện các bản nhạc và hòa tấu với nhau những khi gió sớm, lúc trăng chiều. Cũng có những người với một nhạc cụ, một cây đàn nhật hoặc đàn bầu, vừa đàn vừa hát những bản nhạc mà mình ưa thích. Những lúc thư nhà, hoặc đêm khuya thanh vắng buồn bã một mình, thì mượn tiếng đàn giải muộn. Hoặc đàn nguyệt, đàn thập lục dạo một vài câu lưu thủy, hoặc gảy chơi một câu tứ đại, nam ai... Tiếng đàn thánh tha thánh thóc, ti tỉ như dế kêu sầu cũng đủ tả tấm lòng ngao ngán.
Ðêm tâm tư gởi vào khúc nhạc, dùng nhạc để quên nỗi u buồn, dùng nhạc để nói lên niềm vui, nhạc thật là một thú tiêu khiển thanh cao tao nhã.
Thường thì các bản nhạc được giới nhạc công nhận là có giá trị chia ra thành hai loại: bản Bắc và bản Nam tức là là những khúc nhạc cung Bắc và cung Nam.
NHẠC CUNG BẮC:
Ðây là những bản nhạc linh hoạt, một phần phóng tác theo nhạc Trung Hoa, nhưng xoang điệu mang sắc thái Việt Nam. Thực ra cũng có những bản gốc Trung hoa, cũng có bản gốc Viet, ngày nay lẫn lộn, khó mà phân biệt:
1. Cổ bản:
Một bản nhạc cổ rất nhiều xoang điệu. Nhạc nghe êm tai, nhưng nội dung không rõ là gì. Cổ bản còn được gọi là bản ca Bắc hoạc ca Lý, xuất xứ không rõ ở đâu nhưng người Huế hay ca cùng với các điệu ca khác. Bài này có 6 vần làm thành 6 khổ:
Duyên thắm, duyên càng đượm vì giống đa tình,
Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh.
Bực khuynh thành thực là tài danh,
Song duyên kia đừng phụ, nào trách mình.
Chỉ non thề nguyền cùng trời xanh!
Lòng dặn lòng cho đành
Nỗi kết minh, kết minh!
Thư nhạn đưa tin tháng ngày
Nguồn ân ái dám đâu vơi đầy
Thương càng bận, làm bận lòng đây
Vấn vương tình tự vì đây
Tơ hồng khéo xe thực là may
Trăng rọi thềm hoa
Lầu ngọc sáng lòa,
Hương thương ngút nhà;
Khắp gần xa,
Tiếng đàn hòa ca.
Ngâm vịnh mấy chén quỳnh,
Say sưa cùng mình
Sáng tay vai,
Nhân ngãi lâu dài,
Thực là vui, dám nào phai,
Tâm đầu ý hợp như rứa mấy người
Ngọc Vô Hà, Biện hòa mới hay!
Một ngay tương tri, tình si ấy là ai
Muôn vàn không ngại mua ngay tiếng cười
Gọi mười người như người.
Anh hùng có đâu, có là đâu
Thôi thôi đừng, đừng năn nỉ suy nghĩ thêm sầu;
Mặc ai dầu,
Lại hầu thương yêu, mặn nồng bao nhiêu!
Ðường còn lâu, chút tình sâu!
Vui lòng ưng chịu, danh lỵ chỉ cầu.
2. Lưu thủy:
Lưu thủy là nước chảy. Bản nhạc gây cho thính giả một cảm giác êm ái, điệu nhạc như trầm lặng nhưng nhanh nhanh buồn buồn. Bài ca có 4 khổ tạo nên bởi 4 vần:
Kể từ ngày gặp nhau,
Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau
Dây tơ mành xe chặt lấy nhau.
Xe không đặng đem tình thương nhớ,
Cảm thương người ngẫm nghĩ ba thu.
Xa các nhau đêm nằm vẫn thấỵ
Thấy là thấy chiêm bao,
Biết bao vấn vương bên mình,
Mình giật mình đòi cơn.
Biết bao lại quan sơn một đường,
Tình thương tơ vương mọi đường,
Xin cho trọng cương thường.
3. Hành vân:
Hành vân là mây bay. Qua hai chữ hành vân ta hình dung đám mây trôi xa xa giữa bàu trời xanh ngắt. Nghe bản nhạc hành vân, ta cảm thấy nhè nhẹ, êm êm, thanh thản.
Một đôi lời
Nhắn bạn tình ơi!
Thề non nước giao ước kết đôi,
Trăm năm tạc dạ
Dầu xa cách, song tình thương chớ phụ thì thôi.
Niềm trọng niềm xin đừng sao nhãng
Trước kia định nợ ba sanh
Ðẹp duyên lành,
Trọng niềm phu phụ, bậc tài danh.
Dầu tiên có tại non Bồng,
kết mối tơ hồng,
Ấy chẳng trông!
Nghĩa sắt cầm,
Hòa hợp trăm năm,
Bởi vì xa cách, nhắn nhe cùng bạn tri âm.
4. Kim tiền:
Bản nhạc gọi theo tên nhạc khí, kim tiền tức là sinh tiền dùng để đập nhịp. Nội dung và xoang điệu bản nhạc đi rất mạnh. Nghe bản nhạc thính giả cảm thấy cái gì hăng hái, say sưa, mạnh mẽ. Trái hẳn với xoang điệu thanh thản của các bản lưu thủy, hành vân, xoang điệu bản kim tiền đi nhanh, dồn dập, réo rắt và hùng mạnh.
Bắt tay ngồi lại đây,
Không mấy khi ta gặp bên này,
Cho đó rõ niềm Tây,
Lời đắng cay,
Tuy xa đàng, không xa mặt,
Chung tình lại càng vui
Càng thêm vui ...
Ai khéo xui mình gặp,
Một cặp đa tình,
Thiệt tại trời xui mình,
Hay là lối ba sanh,
Hai đó là lối ba sanh,
Xin cho bền dạ, giữ dạ,
Dầu gặp người quen
Xin cho bền dạ, giữ dạ
5. Bình bán:
Bản này dung hợp cái chậm rãi và cái dồn dập của hai bản lưu thủy và kim tiền, xoang điệu vừa mau vừa chậm, vừa trầm vừa hùng. Nội dung bản này có thể là đoạn đầu lưu thủy và đoạn sau là kim tiền.
Non nước, nguyền non nước
Xin ai sánh vai đừng ngại
Quyết lâu dài, sum vầy trúc mai,
Mấy lời phụ người,
Chùng nhau trước sau cho vẹn.
Trăm năm chờ đem tình, tình lợt phai,
Dẫu lạt vàng phai, dám nề sai,
Có đâu dời đổi tình ai!
Nhắn khuyên bạn ân tình hãy còn lâu.
Lại dụng lòng ta, nhớ ngươi xa,
Bóng trăng tà, gió lồng hơi ba.
cầm ca, ngân nga tiệc quỳnh,
Trằn trọc, xa mối vàng đá dựa màn loan,
Giận duyên, buồn riêng,
Trạnh niềm tây, đắng hóa cay
Châu rơi tương tư càng nặng,
Khéo thay là, những lại qua
Ðêm thanh vắng, tình người ngọc,
Thở than thêm phiền!
Buồn tủi phận, lận đận bèo mây,
Trăng gió, trăng gió đưa tình,
Vừa gặp mình, thiệt trời khéo dành
6. Tẩu mã:
Bản này diễn tả nhịp ngựa phi, do đó vừa dồn dập, vừa nhanh, vừa mạnh. Ðiệu tẩu mã thường được sử dụng trong các vở tuồng với những vai anh hùng, tráng sĩ. Ðiệu này nguyên trước đây là một điệu của người Tàu cho ne6n cũng gọi là ca khách, và bản nhạc gọi là nhạc khách.
Cành bèo sen, đà hiệp duyên,
Trăng thề một bên, vầy bạn tiên,
Lúc say tỉnh mảnh trăng tàn,
Chuyện hiệp tan, màn loan,
Bấy lâu đợi chờ,
Chút duyên tình cờ
Lúc tình cờ, bây giờ thấy đây!
Một lòng càng xinh,
Có tình với mình ấy ai?
Ngậm ngùi lúc hương nguyền
Rượu nghiêng tiệc quỳnh,
Mấy nỗ đá vàng
Ðêm thâu người đâu, người đâu?
Người đâu đã thấy nhau còn ngờ!
Người đâu lại thấy bây giờ!
Ngày xưa, mưa gió thêm nồng,
Song đã vương vấn, vương vấn tơ hồng
Thề non, thề chớ sai lời!
7. Tứ đại cảnh:
tứ đại cảnh là cảnh của bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông trong một năm. Nội dung bản nhạc diễn tả cảnh sắc của bốn mùa. Bản nhạc này tuy được xếp vào các bản nhạc cung Bắc, nhưng nhiều người cho rằng tác giả bản nhạc này là vua Tự Ðức vì bản nhạc này được phổ biến nhất ở Huế và vua Tự Ðức là một nhạc sĩ có tài lại có tâm hồn nghệ sĩ, đàn giỏi, thơ haỵ
Thương trăng tròn, thương trăng khuyết,
Thương tha thiết, trăm mối bên lòng,
Thương đóa hoa vừa nở, dập dì ông bướm ong,
Thương đóa hoa tàn lạt phấn phai hương
Nào ai kẻ buồn trông?
Thương mây bạc, gió đưa xiêu lạc, không biết về đâu!
Thương nước trôi bèo dạt, bèo dạt trôi nơi nao!
Thương số ba đào, chìm nổi lao đao,
Ðời vất vả biết là bao?
Thương chim nhạn đêm đông kiếm bạn
Bao quản tuyết sương!
Sương tuyết sương dày dạn, tiếng nhạn kêu thảm thương!
Thương kẻ si tình, theo dõi người thương.
Trông mòn mỏi ngày xanh,
Ðành đành thương trông núi Ngự chiều đông.
Thông reo não nùng
Mưa gió không ngừng,
Nào bạn tác ngày xuân, ai chịu lạnh cùng không?
Ngùi ngùi thương, ca nhi giữa sông Hương
Véo von gọi tình năm canh,
Dầu giãi sương gió sương?
Cái thương sao cứ quanh bên mình,
Thương chi trọn trăm nghìn mối thương,
Thương đâu vẹn trăm nghìn mối tình thương
NHẠC CUNG NAM
Ðây là những bản nhạc sản xuất ở miền Nam từ thời chúa Nguyễn, chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhạc khúc Chiêm Thành. Từ nhạc thường buồn ai oán sầu bi nhưng rất có giá trị.
1. Nam ai:
Nam ai là thương Nam, xót Nam. Ðây là bản nhạc buồn nhất, ai oán nhất trong các bài nhạc cung Nam.
Với bản nhạc Nam ai, rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ đặt lời ca, tùy theo hoàn cảnh cảm xúc và ý nghĩa của từng người. Thường bản ca Nam ai có 3 vần, tạo thành ba khổ. Ví dụ:
Khuyên ai gắn bó báo đền công trình thầy mẹ
Ân nặng nhường sông, nghĩa chất non cao
Ôn cúc dục cù lao,
Sinh thành lo sợ xiết bao,
Lo cơm bữa nhường nao,
Ẳm bồng ra vào
Nâng niu, bú mớm đêm ngày xem tày vàng ngọc,
Hay chạy, hay đi, lúc nắng, lúc mưa.
Từ xưa đến giờ.
Lúc hãy còn thơ,
Ðến bây giờ,
Chịu nhuốc nhơ,
Biết bao nhiêu mà!
Trông năm trọng ngày qua.
Da mồi, tóc bạc, mày xa,
Khuyên trong cõi người ta,
Thảo ngay mới là!
Xoang điệu của bản Nam ai chậm chậm để diễn tả nỗi buồn thảm cực độ, do ảnh hưởng của Chiêm Thành.
2. Nam Thương:
Nam thương nghĩa là buồn nam, mến nam. Ðây là một bản nhạc cổ điệu buồn nhưng không buồn bằng Nam ai. Bản nhạc cũng chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành, xoang điệu đi chậm nhưng một vài chỗ âm thanh có vẻ réo rắt, hàm ý thương tiếc nhớ nhung, đau khổ buồn buồn.
Ôi! Tan hợp xiết bao, tháng ngày đợi chờ non nước,
Ngàn dặm chơi vơi!
Mấy lời nào dễ sai lời;
Ai ơi! Chớ đem dạ đổi dời,
Y¨ ưng tình thêm càng ưu ý
Thiệt là đặng mấy người.
Lại sai lời
Tương tri cho đá vàng thêm lại yêu vì
Nhớ khi cuộc rượu câu thi
Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì!
Nặng vì tình, tình đôi ta, duyên trao nợ, rằng ai.
Buộc lại người sinh,
Lời hẹn ba sinh
Vấn vương tơ tình
3. Nam xuân:
Ðây là một bản nhạc ít buồn và có đượm cái vui, tuy cái vui vẫn như thể bị ái nối buồn tiếp. Phải chăng đây là cái buồn truyền kiếp của một quốc gia đã bị diệt vong mà ảnh hưởng ăn vào âm nhạc của Việt Nam. Xoang điệu bản nhạc tuy buồn nhưng có nhiều nét thướt tha duyên dáng, cái thướt tha duyên dáng của hình bóng cô gái Chàm đi lả lướt trên bóng chiều.
Nhắn nhe vườn hạnh, ngồi chờ chim xanh
Khéo đưa tình,
Ðưa tình đưa lại cho ta, lại cho ta,
Trót đã nặng mà!
Ðã gần xin bạn đừng xa
Sớm đào tối mận lân la,
Trước còn trăng gió, còn trăng gió,
Sau ra đá vàng!
Loan ôm phụng, phụng ôm loan,
Biết bao giờ cho hiệp mặt mơ màng.
Ðã lo toan vầy hiệp nhân đoan,
mây hồng đưa gởi thơ nhàn, gởi thư nhàn,
Ðưa sang tình tự thiếp chàng,
Ðôi đàng thương nhớ,
Thiếp với chàng, đồi đàng thương nhớ
Thương nhau phải băng ngàn!
Trót cưu mang, xin cho toàn.
Chớ đem dạ phụ phàng!
Mảnh trăng thề vằng vặc soi chung,
Dầu thu hết, sang đông, đông xin chờ!
Mối chỉ hồng, cậy cùng Ông Tơ,
Xe giây Bà Nguyệt
Cho duyên này hiệp mặt sum vầy,
Ðài gương suốt đó đây phỉ nguyền!
4. Nam bình: Ðây là một bản nhạc không buồn không vui, âm thanh đi đều đều . Có thể nói đây là một bản nhạc nam cung được hòa hợp bởi ba bản Nam ai, Nam thương và Nam xuân cho nên nội dung pha lẫn buồn vui, nhưng cái buồn vẫn nhiều hơn.
Bốn bản nhạc trên, tuy nhạc chỉ có một bản, nhưng mỗi bản lại được phổ thành nhiều ca khúc bởi nhiều tác giả, mỗi ca khúc nội dung khác nhau tùy cảm hứng của từng tác giả.
Thương nhau vì nợ tri âm,
Mối tình thâm!
Buộc ràng đây đó,
Vầy cuộc ca ngâm,
Dưới trần như đã riêng phần!
Ðể riêng phần!
Mặc duyên may hay là nợ với nần.
Chi bằng ưu ý,
Nợ hay duyên, hỏi người thanh khí,
Ai là kẻ xoay vần?
Tuổi xuân xanh, chưa từng cái nợ phong trần,
Vương vào cuộc ái ân,
Càng cay đắng, đắng cay muôn phần.
Ðược như lời ước mong,
Cho thỏa tình tư tưởng.
Tưởng rồi trông,
Ngồi tựa bên sông,
Thỏa mùi bông,
Vấn vương tơ lòng.
Ơi người Việt ơi!
Gặp khi thời lai...
Ngọn đèn kiến thức
Bừng rạng muôn nơi,
Trí tài đua kịp theo người,
Kịp theo thời sánh bước chung vai ...
Cho xứng mặt giống nòi
Sống đời khang khái...
Bước quanh vinh ta càng hăng hái,
Thêm vững thêm dài,
Hết chông gai... Tung cánh bằng bay lượn khắp trời.
Nhân dân chờ một tương lai...
Mừng nay đến, đến trong mọi người
vững một niềm an vui...
Ðô thị cùng thôn dã đặng hòa lai,
Rạng ngời ánh mai... cảnh càng tươi
Ý dân là ý trời...















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét