Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

Tản mạn bên tách cà phê 1


 Tản mạn bên tách cà phê 1
Lời thưa 
Thưa bạn đọc thân mến, 
Những bài viết trong sách này phần lớn đã được đăng trên Phố Văn, báo Trẻ và rải rác trên các trang web. Nay tác giả gom lại như những miểng vụn của hồi ức, đem in thành sách gởi đến các bạn để đọc những lúc nhàn hứng một mình, và rồi biết đâu cũng tìm được đôi điều thích thú, có thể là một nụ cười, đôi khi là một giọt lệ. 
Mặt khác, cũng cần nói thêm là những bài trong sách không nhất thiết theo trình tự thời gian, và bạn có thể đọc bài nào trước cũng được, tùy theo không gian, tiết trời và hoàn cảnh, tâm cảnh của bạn lúc bấy giờ. Có bài đọc lúc nắng sáng, có bài đọc lúc mưa đêm hay trong cảnh tuyết rơi, thunderstorm kéo qua bầu trời. Hoặc giả, đọc lúc ngồi trên xe buýt, máy bay, ở phòng trọ, khách sạn… 
Lại nữa, đề tài của những bài viết thay đổi tùy theo ngẫu hứng của tác giả. Một tiểu muội của người viết có lần phán: Anh viết toàn chuyện trên trời dưới đất, đọc có khi phát 6 taûn maïn beân taùch caø pheâ buồn cười. Mà quả có thế. Có những chuyện trọng đại như nội chiến Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam, mái nhà thế giới, cách mạng văn hóa bên Trung Hoa, cách mạng nhung ở Tiệp Khắc... Cũng có những chuyện về những sinh vật hèn mọn như con ve, con dế, bầy chim én, con hải âu… hay những vật tưởng như tầm thường - cánh diều, cái chong chóng, hòn đá, chiếc lá vàng, ngọn rau con cá trong vàm, cái nhẫn cỏ… 
Lại có những bài viết về các món ăn hấp dẫn: thịt chó và phở, rau càng cua, bát canh hoa lý, món giả cầy ăn trong một chiều trở lạnh, măng hầm chân giò và miến xào lươn, món crawfish ăn ở tiệm Golden Corral cùng với cô ca sĩ một đêm mưa lái xe lạc đường. Ngoài ra còn nhiều thứ khác nữa… 
Tản Mạn Bên Tách Cà Phê in thành hai cuốn: Cuốn I và cuốn II. Cuốn II sẽ phát hành trong đầu năm tới. Một điều hết sức đáng tiếc là bài không có những bức hình chụp cảnh thực, người thực đi kèm theo như trên báo và các website. Thôi đành vậy. Mà cũng không dám hẹn tới kiếp nào. 
Bây giờ mời người bạn thân mến của tôi đọc chơi một hai bài xem sao, rồi đọc tiếp nếu thấy thích. Và nếu có thể, cho tác giả biết ý kiến thì quý giá vô cùng. 
Trân trọng 
Chiều tím một bông trăng 
... Có một thời, sau khi đất nước đổi chủ, kẻ sĩ lang thang trên đường phố với xe đạp và túi xách. Chỉ thiếu cái gậy Trân trọng. đả cẩu. Nào Trần Lê Nguyễn, Phạm Kiều Tùng, Thế Viên, Trụ Vũ, Thế Phong... Và còn nhiều nữa - trong đó có cả Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng…, những tác giả đã góp phần làm nên diện mạo văn học một thời. Lại có kẻ - như Nguyễn Đình Toàn - lui về căn nhà cũ, ở Làng Báo Chí, “Này em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải/ Nơi mỗi sớm nằm nghe nắng dòn trên mái…” Và ai, ai đã nghĩ tới Nguyễn Du lúc ẩn thân ở Ngàn Hống mà xót cho phận mình. Nguyễn Du về Ngàn Hống/ ngắm mảnh trăng non Đoài/ tôi chiều hái rau sam ngoài bờ ruộng/ chiều tím một bông trăng... Thật ra kẻ này không dám tự nhận mình là kẻ sĩ nhưng cũng ngày ngày cưỡi xe đạp đi bán chữ. Từ những dặm đường gió bụi này hình thành một phác thảo lấy tên Vầng Trăng Và Chiếc Xe Đạp Của Tôi. Ôi, phác thảo cho tới ngày hôm nay vẫn còn nằm trong hộp sọ, chưa bao giờ thành chương khúc hẳn hoi. Trí tưởng mê hoảng của tôi lúc đó hình dung mình như Dante trong Thần Khúc nhờ thi sĩ Virgil dẫn đường lần tới inferno. Thế đây, xã hội trước mắt lúc bấy giờ chẳng phải là một thứ lò luyện ngục - inferno đó sao. Không có ai dẫn đường, tôi nhờ vầng trăng chỉ lối. Và cứ như thế, đi qua đi qua những dặm trường, và tới phố Ôn Như Hầu: Hồn trà mi/ phố khuya/ tôi đi từ cổ độ/ về qua lối phù dung/ thấy mảnh trăng vô thường cháy/ trên nóc mái đường thi... 
Ôi, chiều ở đâu, chiều tím một bông trăng. 
Hôm nay có phải là thu 
Hôm nay có phải là thu... Có vẻ như đây là một câu hỏi, khá là bâng quơ, không biết hỏi mình hay hỏi ai. Và khi vừa cất tiếng lên là thấy ngay bầu trời chập chùng của mùa thu và nghe vang lên trong đầu những câu thơ của Đinh Hùng ngày nào. Đồng thời cũng nhớ lại những ca khúc đã làm nên tâm cảm của mình một thời tuổi trẻ. Vậy hôm nay nhân buổi nhàn hứng, gặp lúc hè vãn thu về, Nguyễn tôi xin được cùng bạn đọc bàn phiếm đôi dòng về những hương sắc không bao giờ nhạt phai trong tim người. 
Hôm nay có phải là thu… Câu thơ của Đinh Hùng quả thật đơn giản như một lời nói, ấy vậy mà gợi lên trong lòng biết bao cảm xúc. Vâng. Hôm nay có phải là thu/ Mây năm xưa đã phiêu du trở về... Mình đọc và thuộc bài thơ từ thuở còn Tung học ở Huế, nghĩa là lúc mộng chưa phai tàn, đời chưa vấp ngã đòi phen và vòng kim cô Cộng Sản chưa thít chặt lên đầu dân tộc. Bài thơ mùa thu thật đẹp ấy đã ở lại trong đầu qua suốt năm chục năm, bất chấp những đợt sóng bể dâu, không thèm biết đến những hệ lụy nhân sinh và áo cơm hành hạ. 
Hôm nay, bầu trời Dallas nhiều mây xám, và hình như có mưa thưa, tiếng sấm chuyển bụng ì ầm đâu ở cuối chân trời. Trí óc lại trở về với những câu thơ mùa thu của Đinh Hùng bèn ngồi chép ra giấy gởi qua làn sóng hư không về nơi phương trời viễn mộng để ai đó đồng cảm đồng tình thì đưa tay đón nhận. Em đi hoài cảm một mình/ Hai lòng riêng để mối tình cô đơn/ Hôm nay tưởng mắt em buồn/ Đã trông thấp thoáng ngọn cồn bóng sương/ Lạnh lùng trăng gió tha hương/ Em về bên ấy ai thương em cùng... Vâng. Cảm ơn thi sĩ Đinh Hùng. Cảm ơn mùa thu. 
Nói về những bài thơ mùa thu thì nhiều lắm. Hàng ngàn bài, khởi đi từ Thu Hứng của Đỗ Phủ rồi đến Cảm Thu Tiễn Thu của Tản Đà. Ngoài ra, kẻ nào đã có cắp sách đi học lại không thuộc lòng Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư (thật ra, bài này chẳng để lại dấu tích gì bao nhiêu trong đầu óc kẻ này). Rồi nào là Chanson d’Automne Thu Ca của Paul Verlaine, Automne Malade Mùa Thu Ốm của Guillaume Apollinaire… Âm nhạc cũng vậy, ít ra cũng có tới hàng trăm bài nhạc viết về mùa thu. Phải nói hầu hết đều hay. Ai không yêu Giọt Mưa Thu, Buồn Tàn Thu, Thu Quyến Rũ, Em Ra Đi Mùa Thu, Mùa Thu Chết, Les Feuilles Mortes The Falling Leaves của Joseph Kosma?... Thế nhưng, riêng đối với kẻ này đặc biệt có hai bài thân thiết nhất và dấu yêu nhất mỗi khi lòng bâng khuâng tự hỏi “hôm nay có phải là thu”. Đó là Thu Vàng của Cung Tiến và Nhìn Những Mùa Thu Đi của Trịnh Công Sơn. Em sẽ hỏi, hơi cao giọng và ray rứt: Tại sao? Tại sao? Thì đây là câu trả lời: Chẳng tại trăng tại sao gì cả. Hay chỉ tại vì hai bài vừa nói có dính chút xíu tới những năm tháng màu xanh của kẻ này. Thu Vàng với năm đầu tiên làm sinh viên trường Luật - có cả Hồ Đăng Tín và Cung Tiến chung lớp, chung bàn. A, những chiều xưa, gõ bước đi dưới hàng cây sao đường Duy Tân, lòng chưa yêu ai và chưa vướng bận những tính toán dung tục của cuộc đời. Nhạc của Cung Tiến đã tạo nên không gian trong sáng ấy. Có nhớ bâng khuâng, có chút chán chường nhưng chưa hề biết tới u sầu, tuyệt vọng. Chiều hôm qua lang thang trên đường/ Hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương/ Chiều hôm nay trời nhiều mây vương/ Có mùa thu vàng... Vâng. Mùa thu vàng tới là mùa lá vàng rơi... Cung Tiến viết “Thu Vàng” là để tặng Hà Nội thời thơ ấu của ông. Với kẻ này, Thu Vàng cũng là một loại les premières fleurs... những bông hoa đầu tiên trong cuộc đời. 
Và Nhìn Những Mùa Thu Đi. Theo tài liệu của Đặng Tiến và Hoàng Nguyên Nhuận (tức Hoàng Văn Giàu, khét tiếng đấu tranh thời thập niên 60, ở Huế) thì Trịnh Công Sơn sáng tác bài này vào năm 1967. Hoàng Nguyên Nhuận còn chú thích thêm một câu xanh rờn: “Năm 1967, giữa lúc chúng tôi (tức anh ta và đám phản chiến đi theo MTGPMN) còn lận đận trong tù vì chiến dịch Nước Lũ, thì Trịnh Công Sơn vẫn còn mơ màng nhìn những mùa thu đi”. Thế đấy. Nhưng thôi mặc xác chiến dịch Nước Lũ con quỷ sứ gì đó của anh chàng Hoàng Nguyên Nhuận, chúng ta nhìn bài ca dưới một ánh sáng khác. Nhìn những mùa thu đi/ Anh nghe sầu lên trong nắng... Năm 1967, triết học hiện sinh và phong trào hippie cùng lối sống bụi đã quét qua đời sống thanh niên ở các đô thị miền Nam. Thế nhưng, ca từ trong “Nhìn Những Mùa Thu Đi” vẫn chứa đầy tình và mộng. Cùng với sầu lên trong nắng, còn có tháng ngày chết trong thu tàn, có lãng quên và mộng nhạt phai... Có điều cần ghi nhận là ở đây, nỗi sầu chưa đậm nét, chưa tới độ chin muồi đau đớn của “đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời/ như một lời chia tay”... Không gian trong bài ca có nắng trên hàng cây công viên, có gió heo may se lạnh và đặc biệt, có màu tím loang trên hè phố, mang nỗi buồn lãng du bụi bặm của thời đại. Từ màu vàng của mùa thu Hà Nội bầu trời Cung Tiến, chuyển qua màu tím buổi chiều xác xơ buồn của Huế, ta thấy dường như tâm hồn vừa bước qua một ngưỡng nào đó, trước khi đi dần vào thế giới của cơn ác mộng chiến tranh, mang khuôn mặt dữ dằn, khốc liệt. 
Dẫu thế nào đi nữa, với Nguyễn tôi, thì Hôm Nay Có Phải Là Thu, và Thu Vàng, cùng với Nhìn Những Mùa Thu Đi, là cả một thời đầy xúc cảm trong sáng và mơ mộng không bao giờ mất dấu tích. 
Giàn thiên lý đã xa 
Những ngày này nắng rực rỡ trên phố xá, công viên. Trong khu chung cư Nguyễn ở đêm đã thấy mảnh trăng non mọc sớm. Không hiểu sao nhìn trăng Nguyễn thường nghĩ đến mẹ mình. Và nghĩ đến mẹ, nhất là trong những ngày hè, là nhớ tới giàn hoa thiên lý lấp lánh nắng trong khu vườn ở Vỹ Dạ ngày xưa. 
Dạo ấy, cái thuở Nguyễn còn nhỏ như con cún, trong sân nhà có trồng một giàn hoa thiên lý. Cái giàn hoa ấy tỏa bóng mát khi nắng hè rực lên ngoài bãi sông và những nụ nhỏ bắt đầu hé nở. Nguyễn và cô bé nhà bên gọi chúng là những ngôi sao xanh. Những chiều hè, mẹ thường bảo chị Thoa hái bông thiên lý vào nấu canh. Canh hoa thiên lý nấu với tôm tép ngọt ơi là ngọt, lại thoang thoảng mùi ánh trăng (ấy là sau này Nguyễn tưởng tượng ra thêm khi nhớ tới con bé mắt nâu ngày xưa). 

Nhưng như mọi thứ tốt đẹp ở đời… Giàn thiên lý đã xa/ đã rời xa… Những buổi chiều hè ấy không còn nữa. Lớn lên, cô bé hàng xóm theo cha mẹ lên lập vườn cà phê trên Ban Mê Thuột. Không còn hoa lý rụng trong chiều hè nữa. Thỉnh thoảng viết về cho Nguyễn mấy chữ cô hàng xóm ngày nào cho biết hoa cà phê thơm nhưng không ở lâu như hoa thiên lý và không có “mùi của ánh trăng”. 
Giàn thiên lý năm xưa giờ đã xa khuất cuối chân mây. Chiều nay nhớ đến mẹ và chị Thoa và cô bé nhà bên cùng những chùm hoa thiên lý trong bát canh ngày xưa, Nguyễn lên lưới gõ vào Google mấy chữ “hoa thiên lý” và đọc được những đoạn văn sau đây, bèn chép lại gởi tới những ai yêu hoa thiên lý như Nguyễn, gọi là chút tình cố hương mong manh như ánh trăng. 
“Hoa thiên lý thường nở vào mùa hè còn có tên gọi là hoa dạ lài hương. Là loại dây leo, lá hình tim, hoa mọc thành chùm, lúc nở có màu vàng xanh và thoang thoảng hương về đêm. Ở quê tôi đa số các nhà thường trồng dàn hoa thiên lý trước hiên nhà để che nắng, đồng thời làm nguồn thực phẩm để chế biến các món ăn. 
Hoa thiên lý có thể chế biến thành nhiều món như lẩu mắm hoa lý, hoa lý nấu canh chua, hoa lý xào tôm, hoa lý luộc nhưng phổ biến nhất vẫn là hoa lý nấu canh và hoa lý xào thịt bò. 
Canh thiên lý dễ nấu, không cầu kỳ có thể nấu suông hoặc nấu với tôm, thịt... Dù nấu với thịt, cá hay tôm, thứ nào cũng ngon nhờ vị ngọt tự nhiên và cái chất bùi bùi, ngòn ngọt của hoa lý, nhai vào cảm thấy giòn giòn mới thật thú vị. Nhưng có lẽ canh hoa thiên lý nấu với cua đồng là đúng điệu nhất. 
Cua đồng bóc mai, bỏ yếm, rửa sạch, cho vào một thìa muối, xay nhuyễn. Lọc xác cua với nước sạch qua rây từ 3 đến 4 lần, gạn bỏ cấn để làm nước dùng. Đun nước dùng cua đến khi nước sôi lăn tăn, dùng muỗng khuấy đều theo một chiều để xác cua đông kết tạo thành gạch cua và gạch không bị bám vào đáy nồi và không bị vỡ nát. Nước sôi, cho hoa thiên lý vào nấu chung, đảo nhẹ tay để hoa không bị nát cánh. Khi nước sôi lại là được múc ra bát, ăn nóng.  Bưng bát canh thiên lý nấu với cua đồng nóng hổi trên tay, nhìn những những cánh hoa xanh nõn đã thấy người sảng khoái, muốn ăn ngay để cảm nhận vị ngon ngọt, đậm đà. 
Đoạn văn trên là của Hoàng Oanh. Sau đây là một đoạn văn khác: “Mùa gió chướng về đem theo cái nóng như nung làm người ta bức bối. Chợt một sáng nào, thấy trong giàn thiên lý mát dịu những chum hoa xinh xinh xanh nõn. Và ngoài chợ cũng đã có những mâm hoa vun đầy mời mọc, sẵn sàng dâng hiến cho ta những món ăn bình dị mà ngọt ngào. Nhưng không phải ai cũng biết ngoài cái mùi hương thoang thoảng trong giàn lá mướt xanh, hoa thiên lý còn được dùng chế biến thành những món ăn hấp dẫn, vừa ngon mắt lại vừa ngon miệng. 
“Trước hết phải kể đến những món ăn được nhiều người ưa thích là canh hoa thiên lý nấu giò sống. Tô canh nóng thoảng nhẹ mùi hoa, những cánh hoa xanh rập rờn trong làn khói mỏng, điểm quanh đây đó là những lát giò nâu hồng gợi cảm. Chỉ có thế mà cái nóng nung người của trưa hè đã như lùi xa… “ 
Giờ đây… Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa … Ở xứ người không thiếu gì kỳ hoa dị thảo, nhưng với Nguyễn hoa thiên lý vẫn là thân thiết nhất. Đôi lúc mình lẩn thẩn tự hỏi ở Vương Phủ bây giờ có còn ai trồng hoa thiên lý?  
Chiều tím. New Orleans 
Chiều tím New Orleans. Nghe như tựa đề một bài thơ, nhưng không phải vậy. Đây chỉ là một vài hình ảnh chập chờn, trôi nổi về New Orleans tôi ghi lại để gởi đến người. Và cũng không phải chiều tím trên New Orleans hay người lưu lãng đến New Orleans vào lúc buổi chiều dâng màu tím. Chỉ là tên một quán cà phê gợi cảm xúc ở vùng New Orleans 
Trước hết về New Orleans. Tôi đã được nghe nói, được đọc về miền đất này và đem lòng yêu mến nó. Hồi còn ở bên nhà, sách giáo khoa Anh ngữ đôi cuốn cũng có đề cập tới vùng đất ghi dấu văn hóa Pháp một thời. Và tình cờ một hôm có trong tay một tạp chí hải ngoại (bản photocopy, lẽ tất nhiên) trong đó in bài thơ của Trần Hồng Châu viết về nhạc Jazz New Orleans. Tôi đọc và yêu bài thơ, yêu luôn người và đất New Orleans, và trong tâm trí còn như nghe vang vọng điệu buồn của The House Of The Rising Sun. Cách đây nhiều năm, hồi chưa xảy ra trận bão Katrina, nhân anh con trai đi nhận việc vùng này, tôi theo và có dịp nhìn thấy, dù chỉ trong một vài buổi ngắn ngủi, cảnh và người New Orleans. 
Đây là vùng đất của những đầm lầy và truông phá. Những cây cầu dài mút mắt - có cây dài tới 24 miles bắc qua mặt hồ lớn, hình như có tên là pontchartrain, một cái tên mang âm hưởng Pháp như nhiều tên khác ở đây - nối liền các bến bờ. Cảng New Orleans từng nổi tiếng với những con tàu nằm mơ sóng trùng khơi. Người Việt bỏ xứ, ra đi từ những làng chài lưới ven biển quê hương, tụ tập về đây sống thành từng làng với nhau và còn giữ nếp sống của quê nhà. Đặc biệt ở khu Versailles, có những dãy phố của người Việt. Ở đây, người ta thấy có sự nhếch nhác quen thuộc, chứ không được khang trang như ở Cali hay Houston, Dallas. Có những xe tôm, xe rau bán ở vỉa hè. Có những thanh niên tóc dài, những người đàn ông mặt mày xiêu xó - hình như là lính tráng thời xưa. Họ ngồi uống bia trên góc phố và chào người qua lại. Ở đây, người ta gặp cả người da đen, da màu vào ra mua bán. Chung quanh, trong khu làng người Việt, người mình trồng rau đằng trước và đằng sau sân nhà, gợi những hình ảnh quen thuộc đã mất hút trong thời gian. Nhiều nhà có tượng Đức Mẹ trước sân. Tôi và bà xã đã đi xem chợ chồm hổm của người Việt trong khu Versailles. Chợ họp từ 5 giờ sáng và tan sau 8 giờ. Ở đây, người mình bày bán đủ thứ -rau, trái cây, tôm cá, lòng heo, bánh mì thịt, gà vịt... Có những bà cụ già ăn mặc theo lối Bắc cổ truyền, ngồi với mớ rau, trái mướp, trái bầu... Bán chừng đó đâu được bao nhiêu, nhưng các cụ vui vì có dịp sống lại không khí làng xóm quê nhà. Tiếng nói cười dậy cả một vùng. Như ở chợ Vườn Chuối, chợ Hòa Hưng ngày nào. 
Tới New Orleans, tiếc rằng tôi chưa được nghe nhạc jazz Một điều nữa rất lấy làm tiếc là không ghé thăm được anh Nguyễn Khánh Hòa, anh Hữu Việt và chị Nhật Nguyễn. Chỉ nói chuyện qua điện thoại. Cũng chưa kịp ngồi uống cà phê ở Chiều Tím như mong ước từ đầu. Lần tới... Lần tới... 
2003  

Đường bạch dương chiều không quán trọ 
Mưa tháng bảy. Mưa của đất trời. Mưa trên cõi người. Những tiếng mưa buồn dội xuống mái âm dương, nơi những hồn chết trở về thăm chốn cũ. Và thơ chiêu hồn cũng thấm cái lạnh nghìn trùng của những giọt mưa rơi. Mà nói tới thơ chiêu hồn là phải nói tới trường thi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du. 
Năm 1979, ở Thành Đá Xanh, trại tù thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, trong không khí của Chiêu Hồn Ca tôi viết Thảo Nguyên, trong có mấy câu: 
Cha đã đi qua vùng thảo nguyên 
những năm ấy. trời làm đói khổ 
kẻ sống người chết đều trơ xương 
lại thêm khắp bốn bề giặc giã 
muôn oan hồn dấp dúi lang thang 
nương trăng. nơi đầu sông cuối bến   
ngày gầy xơ. lất phất mưa phùn 
đường bạch dương. chiều không quán trọ 
hành nhân. hành nhân. đêm thu phân 
Tất nhiên, người đọc cũng thấy tôi đã mượn mấy chữ "đường bạch dương" của Nguyễn Du trong CHCTLCS. Có thể nói, Chiêu Hồn Ca là tuyệt tác của Tố Như, bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh. Nó còn gần với dân tộc hơn, và mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo. Đời sau, các thi sĩ khi viết tả không khí bi thương ảm đạm của mùa thu, nơi âm dương chập choạng, kẻ chết và người sống chừng như đã hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình từng mang theo xuống lòng đất - trong bầu khí thê lương mưa thu lạnh buốt ấy, ít ai không nghĩ tới thơ chiêu hồn của Nguyễn Du. 
Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng bảy mưa thu, nên chăng chúng ta cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong CHCTLCS. Đọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua. 
Để mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du viết: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt/ Toát hơi may lạnh buốt xương khô/ Não lòng thay, buổi chiều thu/ Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng... Đường bạch dương bóng chiều man mác/ Ngọn đường lê lác đác mưa sa/ Lòng nào lòng chẳng thiết tha/ Cõi dương còn thế nữa là cõi âm... Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra - cõi trường dạ tối tăm trời đất...- những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du -như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh -nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao -chí những lăm cất gánh non sông...- nhưng gặp "thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở" để rồi "máu tươi lai láng xương khô rụng rời... " Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng... đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ -Khi thất thế tên rơi đạn lạc /Bãi sa trường thịt nát máu rơi ... Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua - Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng "Nước khe cơm vắt gian nan/ Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời/ Buổi chiến trận mạng người như rác/ Phận đã đành đạn lạc tên rơi/ Lập lòe ngọn lửa ma trơi/ Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!.." Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: "Cũng có kẻ mắc đường tù rạc/ Gửi mình vào chiếu rách một manh ..." Đọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển - Cũng có kẻ vào sông ra bể/ Cánh buồm mây chạy xế gió đông/ Gặp cơn giông tố giữa dòng/ Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê- chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ... Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy. 
Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Đông... Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên...
Em ơi. hoa sữa của em làm khổ anh 

Tôi yêu hết thảy các loài hoa, ngoại trừ hoa sữa. 
Trên đây là tuyên ngôn của Cu này, phát đi vào một buổi sáng mùa thu như sáng hôm nay trời có mưa thưa và thunderstorm, và cây sage trước hiên nhà bắt đầu nở những bông hoa màu tím gợi nhớ một chuyện tình rất điên của ai đó đã lãng phai. Tôi yêu hết thảy các loài hoa, ngoại trừ hoa sữa. Nghe ghê chưa, có vẻ arrogant tợn, có thể làm những người có tâm hồn lãng mạn đã trót yêu hoa sữa đùng đùng nổi giận. Đành chịu thôi. 
Thật ra, trước 1975, Cu này không hề nghe ai nói tới hoa sữa. Văn chương lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn không nghe nhắc tới. Và các nhà văn, nhà thơ giã từ miền Bắc, như Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu... cũng không hề ca tụng hoa sữa trên những trang viết của mình. Có nghe nói nhiều tới hoa hoàng lan thì có, nhưng hoa sữa thì chưa bao giờ. Hoặc giả cái đọc của Cu này quá hẻo và quá giới hạn chăng? Nếu thế, xin các bạn đọc nhiều, nhớ kỹ chỉ giáo giùm cho. Đúng là, phải sau năm 1975 mới nghe ca tụng hoa sữa. Như trong nhiều ca khúc, nào là “hoa sữa thôi rơi/ em bên tôi một chiều tan lớp”, hay “Em ơi Hà Nội phố/ Ta còn đây mùi hoàng lan/ Ta còn đây mùi hoa sữa”. Đến như ông Trịnh Công Sơn cũng ca tụng, “Mùa hoa sữa về thơm từng cơn gió..” Ôi, hoa sữa là hoa cái chi chi mà nghe tình và romantic tợn vậy. Thành thật mà nói, Cu tôi rất tôn trọng những mối tình có mùi hoa sữa của nàng và... chàng. Thế nhưng cứ thắc mắc mãi, không biết mùi hoa sữa ra sao, mà văn chương trước 1975 không nói tới. Bèn đi hỏi người này, người khác trong số những bạn bè thân quen từ trước. Không ai biết. Thậm chí có ông còn trả lời rất chi là cà chớn: “Thì mùi của nó giống mùi sữa của gái đẻ con so mà ông chồng nào cũng nghiện!” Ối giời ơi, thế này thì Cu này cũng dám có lần phê mùi hoa sữa... vợ rồi mà không biết. 
Một hôm gặp Dương Nghiễm Mậu, liền níu lấy hỏi. Nghiễm nói: “Cái loại hoa này, hồi trước có ở Hà Nội, nhưng không ai chú ý. Mùi của nó khai nồng bỏ cha, ông ơi.” Gần đây có dịp trức tiếp hỏi Nguyễn Đình Toàn, Toàn cũng chung một ý đó. Thế là Cu này vỡ mộng về hoa sữa, nhưng lòng riêng vẫn cứ ấm ức. Có thể ông Nghiễm và ông Toàn nói bậy. Nó phải có cái gì đó, đặc biệt lắm, ít ra thì cũng phải “sâu lắng” như mùi... của người yêu thì mới mê mẩn khiến anh chàng nọ đã sang tới Canada, tới Úc rồi mà vẫn còn mê. 
Cho tới khi đọc được một bản tin website của báo Tuổi Trẻ trong nước rồi thì mới biết mấy ông Dương Nghiễm Mậu và Nguyễn Đình Toàn là có lý. Bản tin viết: “Vì quá yêu những ca khúc viết về Hà Nội với hương hoa sữa nồng nàn, nên cây hoa sữa được các tỉnh thành miền Trung - đây chém chết cũng do ý mấy cha nội cán bộ “đề xuất”- đồng loạt trồng trên các đường phố mới. Nhưng sự háo hức ban đầu nay đã nhường chỗ cho những khó chịu do mùi hoa sữa gây ra. Báo Tuổi Trẻ cho biết thêm: Hoa sữa trồng nhiều nhất là trên những con đường như Nguyễn Văn Linh, Trường Chinh, Đống Đa, Trần Cao Vân... với mật độ khá dày (cách 5 m mỗi cây). Hiện thành phố Đà Nẵng có ít ra là hơn 1,000 cây hoa sữa từ 2 đến 7 năm tuổi. Trong đó, tập trung ở hai quận Hải Châu, Thanh Khê. 
Mùa Thu về, hoa sữa nở bung trên các đường phố. Mùi thơm của hoa sữa trong buổi sáng còn có thể chịu được, nhưng về chiều thì nồng và càng về khuya thì càng trở nên đậm đặc và gây khó thở. Phố cổ Hội An vốn nhỏ hẹp, lại có đến hơn 300 cây hoa sữa đang chen cành rợp bóng và thi nhau trổ hoa trên các đường phố mà lòng đường rộng không quá 3 mét. Tại thị xã Tam Kỳ đã hơn 5 năm nay, hàng nghìn người dân và hành khách đi qua đường Huỳnh Thúc Kháng đều luôn miệng kêu trời mỗi khi hoa sữa trổ bông. Để chung sống với mùi hoa sữa, người dân sống dọc hai bên đường đành phải đeo khẩu trang suốt ngày hoặc đóng kín cửa nhà để tránh mùi thơm bất đắc dĩ mà họ đã phải gánh chịu mỗi khi trời trở gió heo may... 
Ôi, thế này thì chịu đời sao thấu. Mấy hôm nay, chuyện được bàn tán râm ran ở Tam Kỳ là chuyện “đi kiện” cây hoa sữa. Người thì bảo nên chặt bỏ. Lại có người chất vấn: “Chặt bỏ thì được, nhưng thiệt hại hàng trăm triệu đồng ai chịu trách nhiệm?” Người dân la trời, viết đơn đi “kiện”, còn chính quyền địa phương thị xã Tam Kỳ thì bối rối không biết phải xử sao đây. 
Thế đấy, mùi hoa sữa lãng mạn trong các ca khúc về Hà Nội. Ôi, các em Thu Phương, Mỹ Linh, Trần Thu Hà ơi... Cái mùi hoa sữa của các em đang làm khổ anh đây. 
Tháng 11 năm 2004  
Chim én không về San Juan Capistrano 
Bạn nhỏ ơi 
Chim én đã không về San Juan Capistrano 
Tin báo cho biết như trên, bạn nhỏ có buồn không? 
Ngồi nhớ lại con đường từ San Clemente, đi theo hướng bắc xa lộ 5 khoảng 6 miles, exit rồi rẽ trái tới đường Ortega Highway, sẽ gặp khu nhà thờ cổ của thành phố biển San Juan Capistrano. 

Ở tu viện này có một hiện tượng được thế giới biết đến là hàng năm vào khoảng cuối tuần lễ thứ ba của Tháng Ba, ngày Mùa Xuân bắt đầu ở Bắc bán cầu là hàng ngàn chim én trốn Mùa Đông từ Goya, Argentina (Á Căn Đình) cách đấy hơn 6,000 miles bay về thánh đường. Loài chim thiên di này có tên là Cliff Swallow (Petrochelidon pyrrhonota) chúng làm tổ bằng loại bùn màu xám trên tường ngay dưới mái nhà thờ bị sụp đổ, mỗi tổ chim có một cái lỗ để ra vào phía dưới. “Đất lành chim đậu”, tu viện nằm gần hai con sông nên có nhiều côn trùng làm thức ăn cho chim quanh năm và làm tổ dưới mái giáo đường rất kín đáo và an toàn. Linh Mục O’Sullivan theo dõi sinh hoạt của loài chim và ghi nhật ký từ Mùa Xuân cho đến Thu suốt hai thập niên ông ở đây. 
Ngày 13 Tháng Ba năm 1939 để loan tin chim én đã trở về, chương trình phát thanh đã trực tiếp truyền thanh từ sân nhà thờ bài nhạc “When the Swallows Come Back to Capistrano” của Leon René đã ngẫu hứng sáng tác. Bài hát đứng đầu nhiều tuần trên làn sóng phát thanh thời ấy. Ngày nay trong tu viện có gian phòng lưu giữ bản chụp bản gốc nhạc phẩm trên, cây đàn dương cầm ông dùng để sáng tác và một số đồ gỗ như bàn ghế do gia đình ông René hiến tặng. Hàng năm chính quyền thành phố San Juan Capistrano bảo trợ 2 tuần lễ hội “Fiesta de las Golondrinas” được tổ chức tại tu viện San Juan Capistrano vào khoảng 19 Tháng Ba (Lễ Thánh Joseph) để đón chim trở về và 23 Tháng Mười (Lễ Thánh John) để tiễn chim bay về Nam. 
Bây giờ thì Nguyễn mời bạn nhỏ một lần ghé lại thăm giáo đường xưa San Juan Capistrano để thấy lòng mình lắng đọng, nghe tiếng thời gian chừng như trở lại trên từng mái ngói, tường vôi. Và bạn nhỏ hãy cầu xin những điều mình ước nguyện với tất cả niềm tin và lòng thành. Dư âm vang vọng đâu đây ca khúc “When the Swallows Come Back to Capistrano” của Leon René: 
Hôm xưa 
khi đàn chim én lên đường 
bay qua biển xa 
em thì thầm bên tai tôi 
lời tạm biệt 
và hứa 
sẽ về lại Capistrano 
khi đàn chim én trở về... 
Và cũng hôm xưa, Nguyễn có làm bài thơ “Nói với chim én ở San Juan Capistrano”. Xin chép lại ở đây tặng bạn nhỏ: 
Ngọn gió santa ana 
thổi trên trí nhớ 
của những chùm bông giấy 
kêu. bằng hợp âm 
san juan capistrano 
ôi. chim én 
đã về. dưới mái nhà thờ ngói đỏ 
thành phố biển 
san juan capistrano 
như niềm vui của trời 
này chim én 
hãy là những chú bé. cô bé 
cười reo 
chúc phúc mọi người 
bởi cuộc đời 
những giọt lệ long lanh 
xin hãy dệt 
những chiếc áo bằng cỏ tơ
cho hai người 
lỡ khi mùa thu. biển động 
xin bắc những cây cầu 
qua trí tưởng mù sa 
cho ngày nắng ửng 
và xin là lá. của bầu trời  
hoa mặt đất 
để những kẻ yêu nhau. 
anh và em. 
không phải nói. 
những lời chia tay 
hỡi chim én 
san juan capistrano 
xin chớ bay đi 
xin chớ bỏ người 

Bài thơ làm năm 2003 với lời cầu xin chim én đừng bỏ đi. Vậy mà hôm nay chim én đã không về San Juan Capistrano, bạn nhỏ ơi! Một bài báo đăng trên tờ Los Angeles Times ra ngày 22 tháng 3. 2009 ghi nhận như sau: Trong hình, Mike Gastelum đang rung chuông ở nhà thờ Mission của thành phố San Juan Capistrano. Mike là cháu gọi Paul Arbiso là ông, người rung chuông năm xưa. Chuông rung suốt tuần lễ mà không thấy những con chim én huyền thoại ngày nào trở về. Người dân địa phương nói đã có thời gian cứ vào mùa xuân là những con chim nhỏ bé này trở về. Chúng bay rợp trời như một đám mây. Chúng trở lại những cái tổ của chúng ở ngôi giáo đừng cổ kính khi những hồi chuông ngân vang. Nhưng năm nay, không thấy bóng chúng trở lại khi Lễ Hội Chim Én (Festival of the Swallows) đã được cử hành và chấm dứt hôm 23 tháng 3. Một vài kẻ hoài nghi thì lại cho rằng việc chim én trở về hàng năm có lẽ không xảy ra đúng như truyền thuyết. Không có bằng chứng khoa học nào nói rằng chim én di cư về chỗ cũ hằng năm. Những người khác lại cho rằng nguyên do chim én không về bởi tại tổ của chúng đã bị phá khi giáo khu mở cuộc trùng tu. Mặt khác, một số nhà điểu học cũng cho rằng nguyên do chim én không về San Juan Capistrano bởi tại những khu thương xá được dựng lên ở nhiều nơi trong vùng làm cho chim én sợ hãi bỏ đi nơi khác. Tuy nhiên, câu chuyện thần kỳ về những con chim én trở lại khu giáo đường ngày nào vẫn không giảm sút trong những cư dân của thành phố lịch sử này. “Khi bạn nghĩ về huyền thoại xa xưa của vùng California là bạn phải nghĩ đến những con chim én.” Lisa Paul, 51 tuổi, đã nói như thế. Bà lái xe từ San Francisco về dự lễ hội hàng năm mừng chim én trở về. “Hình ảnh chim én bay từng đàn từng đàn trên bầu trời đã in sâu vào tâm trí tôi.” 
Nhiều năm qua, dân địa phương đã cố gắng một cách tuyệt vọng để quyến rũ đàn chim về lại. Họ tham vấn các chuyên gia, làm những cái tổ bằng gốm ceramic và cho phát những khúc ghi âm tiếng hót của loài chim. Nhưng mọi cố gắng đều vô hiệu. Những đàn chim én ít ỏi giờ đây bay về vùng nam Orange County ẩn trú dưới mái những ngôi nhà của một đại học, ở những vòm khuất nẻo của những cái mall chung quanh và ở dọc xa lộ 5 cắt đôi thành phố. Năm 2000, Charles R. Brown, giáo sư sinh học của đại học Tulsa và là chuyên viên về chim én cliff awallows, đã đến thăm tu viện và đề nghị một số ý kiến để gọi đàn chim én trở về, trong đó có việc làm những chiếc tổ. Tu viện cũng đã xây một số tổ nhưng rồi dỡ xuống vì không hợp với truyền thống lịch sử của nhà thờ. Trong khi đó, lễ hội mừng chim én trở về vẫn tiếp tục. Có một số chim én trở về nhưng rồi lại bay đi. Dẫu vậy, người dân địa phương nói rằng luôn luôn còn những năm sau. Nguyễn cũng tin như vậy. Và chắc bạn nhỏ cũng mong như vậy. Một ngày kia chim én sẽ trở về dưới mái nhà thờ ngói đỏ ở San Juan Capistrano. Trở về để làm đẹp những đám cưới nơi vùng cận duyên có hoa giấy đỏ. Trở về để những cuộc tình còn tiếng ca và hy vọng.
April 2009  
Đêm. 
Phố Lầy 
Trời sang thu. Tháng chin rồi. Tháng chin, với nhóm bạn thân ở đây, là tháng giỗ Phạm Chi Lan. Lan ra đi mới đó mà đã ba năm. Lan ra đi để lại những trang Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng và Nhóm Quạ Ô Thước. Vừa qua, trong Hội Ngộ Văn Học Nghệ Thuật khi Hoàng NgọcTuấn và Hoàng Đình Bình về hát ở thành phố Garland này (Nguyên Nhi gọi là Phố Ga), kỷ niệm và hình bóng Phạm Chi Lan lại hiện diện khiến Nguyễn nghĩ tới cuộc họp mặt cách đây dăm bảy năm ở Phố Lầy. 
Phố Lầy, anh em gọi đùa như thế, chứ thật ra tên gọi của địa điểm họp mặt các bạn Quạ hồi nẳm là Foley. Đây là một thành phố nhỏ của tiểu bang Albama, nơi cư ngụ của đôi trai tài gái sắc Hoàng Đình Bình - Khánh Vy. Lẽ tất nhiên, không phải tất cả các bạn quạ đều có mặt. Và không phải những người tới dự đều ở trong nhóm Quạ của Phạm Chi Lan, tức là nhóm Ô Thước -ngoại trừ Thận Nhiên, Tôn Thất Phương, Đinh Yên Thảo cùng đi trên “chuyến xe đò Hoàng lãng tử” hôm ấy. Nguyễn và bà Xã chẳng hạn, đâu có là quạ. Và Nguyên Nhi, Nhật Hoàng chắc cũng không. Chẳng qua là chuyện cùng thanh khí, và vì mến chủ nhân, nên tìm đến với nhau, dẫu phải đi xuyên qua hai tiểu bang. Cái "vạn lý tình" ấy cũng đáng kể lắm lắm, phải không các bạn? Cho nên, ngày 6 tháng 10, anh chị em ở Dallas đã lên đường tới Alabama. Khởi hành từ 8:30 sáng, mãi tới 10 giờ đêm mới tới nhà Bình và Vy. Xe vừa vòng vào driveway đã thấy lố nhố bóng người ở sân chờ đợi. Ngôi nhà nằm bên bờ hồ đèn đuốc sáng trưng. Kẻ này vừa xuống xe thì đã thấy Nguyễn Viện đợi sẵn. Nguyễn Viện, tác giả Thời Của Những Tiên Tri Giả, từ Việt Nam qua, đang vui chơi ở Pensacola, nghe có anh em tụ họp ở đây thì cùng với Hài, em rể, tìm tới. Kế tiếp, Nguyễn được gặp họa sĩ Nguyễn Đại Giang, người lập ra trường phái “Lộn Ngược” Up-Side-Down, rất được giới thưởng ngoạn tranh Hoa Kỳ chú ý. Anh Giang vui vẻ, cởi mở, rõ là người đáng mến. Nguyễn cũng được gặp Hoàng Ngọc Tuấn từ Úc qua. Hoàng Ngọc Tuấn dạy âm nhạc ở một Đại học của Sydney, cùng với Nguyễn Hưng Quốc chủ trương Tiền Vệ Online, và viết sách lý luận văn học. Ngoài ba vị trên mới lần đầu tương kiến, còn ngoài ra đều là quen biết cũ như Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Tư Phương, Nguyễn Ngọc Châu... 
Đến nơi, các bạn một số lớn tụ nhau lại ở thềm nhà, nơi có đặt những cái bàn đá. Chuyện trò bắt đầu nổ. Mỗi người trên tay đều có ly bia hoặc ly vang đỏ. Hoàng Ngọc Tuấn nói về Quách Tấn và những bài thơ tục dịch từ chữ Hán của tác giả Mùa Cổ Điển. Nguyễn Viện kể những cuộc vui chơi ở cà phê vỉa hè Sài Gòn cùng với Thận Nhiên, Trịnh Cung, Lan Phương... Hấp dẫn nhất, và cũng đầy dưỡng chất trần gian nhất, là bên trong nhà chỗ cái bếp. Tại đây, Khánh Vy đang trổ tài yến tiệc với sự hỗ trợ của Bà Xã và Thư (bạn của một bạn Quạ). Được thưởng thức nhiều nhất có lẽ là các món hến xúc bánh tráng, gỏi chân gà... Nguyên Nhi cầm lên một chai rượu đỏ, nói: "Hình như kỳ họp mặt trước cũng loại này. Đã bốn năm rồi mà độ rượu vẫn vậy, không tăng lên được chút nào?" Gớm, cứ ỡm ờ - sao không nói mẹ nó ra cho được việc, anh em biết tỏng là anh chàng muốn đòi rượu mạnh. Riêng Nguyễn thì rất bằng lòng với ly vang đỏ. Nhưng nâng ly lên mà không biết hướng về đâu, hướng về quê nhà thấy "em đi trong mưa cúi đầu nghiêng vai", hướng về Laguna lớp lớp sóng trào cuốn theo cành hoa lavander tím thẫm, hướng về bờ Đông gió thổi rừng tà dương ố đỏ và bóng chim sơn ca run rẩy trong màu lá thu vàng. Hướng về… 
Khuya Phố Lầy... Lại được nghe Hoàng Đình Bình hát "Bài Tình Tháng Giêng". Tháng giêng rồi đó em/ bài tình này đoạn cuối/ tháng giêng rồi đó em/ những ngọn buồn gió thổi/ anh làm mây trên đồi... Bây giờ không là Tháng Giêng, mà là Tháng Mười tây và Tháng Tám ta. Đêm Trung Thu. Một lần nữa, Nguyễn lại được nhìn trăng trên sông Mississippi khi chiều xuống xe qua cây cầu cao trước khi tới Hammond. Ôi, vầng trăng trên sông Mississippi/ trăng soi qua đời anh đời em/ để thấy rừng cẩm khê lau tím/ để thấy Wallessa mùi hoa cam thơm trong đêm... Trăng, trên hồ Foley. Trăng, quanh ngôi nhà của Bình Vy. Và tiếng đàn thùng, giọng hát của Hoàng Ngọc Tuấn. Nguyễn yêu biết bao bài Nhịp Ba, thơ Thanh Tâm Tuyền do Hoàng Ngọc Tuấn soạn thành ca khúc. Nhịp ba nhịp ba nhịp ba/ Sài Gòn Hà Nội Huế/ Nhịp ba nhịp ba nhịp ba/ Đạn bắn thủng ngực tôi/ Không chết... Và cũng yêu biết bao những ca khúc phổ thơ Tuệ Sỹ. Người ở lại với bàn tay bạo chúa/ Cọng lau gầy chĩu nặng bóng tà dương. Ngoài ra còn phải kể đến bài thơ của Tagore (quên tên) đầy mùi hương xoài và tiếng khánh tiếng chuông. Và rồi, hạnh phúc biết chừng nào khi được gặp lại Maria Rilke trong ca khúc của Hoàng Ngọc Tuấn: Một người bỗng nhiên bỏ dở bữa cơm chiều, đứng lên đi về hướng đền thờ... Sao vậy cà, sao người bỏ sự êm ấm trần gian để đi tìm cái gì nơi xa kia, và rồi gặp được không... Tự nhiên, nghe hát, lòng Nguyễn bỗng trào lên bao đợt sóng thủy triều và muốn rơi nước mắt. Trong đêm ấy, Phạm Chi Lan ít nói, chỉ ngồi lặng cười xúc động. 
Giữa khuya, Nguyễn bỏ bạn bè, bỏ tiếng hát tiếng đàn, mở cửa sau ra đứng nhìn hồ. Trăng sáng khắp nơi. Trăng in bóng xuống hồ nước rực rỡ. Những ngọn đuốc cháy sáng từ nhà xuống tới sát bờ nước. Chưa bao giờ Nguyễn nhìn thấy một cảnh lung linh, huyền ảo tới thế. Giữa lúc ấy, Vy cũng ra sân sau nhìn hồ, bảo sẽ đi tắt các ngọn đuốc. Nghe thế, Nguyễn bảo khoan đã, rồi chạy vào nói với anh em, “này hỡi các hiền giả, hãy nhìn qua khung cửa kính xem những ngọn đuốc đang cháy, chúng ta hãy ra hồ chơi đi, kẻo lát nữa đây Khánh Vy tắt hết đuốc, uổng lắm..." Nghe thế, anh em ngừng đàn ngừng hát, nhìn ra phía hồ, rồi tất cả theo lời Nguyễn kéo nhau ra xem. Nguyễn Tiến Dũng thuật lại như sau trên website Cầu Khỉ: "Đẹp thật! Ánh đuốc soi chiếu trên dòng nước sau nhà. Hồ quá rộng làm mình liên tưởng đến dòng sông với những ngọn đèn hột vịt của Thận Nhiên. Trời lạnh, cả bọn co ro đi ra cầu thủy tạ của Bình. Yên bình quá! Vy vào nhà mang ra vài cái áo khoác để ai có lạnh thì mặc vào. Đứng tán róc một chút thì có tiếng chèo khua dưới nước. Thì ra Bình đang chèo thuyền. Có ai đó đòi xuống thuyền. Thuyền trôi đi. Hạnh phúc quá! Xa xa là những ngôi nhà ngả bóng xuống nước vì trăng tròn và sáng. Đêm Trung Thu! Cứ nhắc đến nó để tưởng mình chỉ bằng tuổi con mình." Và rồi những ngọn đuốc dần tắt. Chỉ còn ánh trăng mênh mông trên hồ nước. 
Chừng đó, thiết tưởng cũng đủ đóng lại những trang viết về Phố Lầy. Tất nhiên, còn vô số những cuộc vui tiếp diễn. Điểm tâm, có cà phê, hủ tíu Nam Vang ngon tuyệt vời của Vy nấu. Rồi tắm biển, đi dạo phố, trở về nghỉ ngơi, để tới chiều xem triển lãm tranh của Nguyễn Đại Giang, Đinh Trường Chinh. Thích nhất là những bức chân dung anh Giang vẽ Bùi Giáng, Hoàng Ngọc Tuấn. Chinh cũng có một cái chân dung vẽ Tuấn thật đẹp. Buổi tối văn nghệ, hát xướng, đọc thơ, với những trò chơi thông minh, vui nhộn, nghịch ngợm của Hoàng Đình Bình. Xin hãy nghe: Ở Phố Lầy có cái này/ trông xa như công múa, trông gần giống cái chày đâm tiêu. Cam đoan đây là bản quyền của Đinh Yên Thảo, Nguyễn tôi không dám dự phần. 
Vậy đó, nhưng dẫu thế nào sáng chủ nhật cũng đến. Giờ chia tay. Mùi hương của Phố Lầy còn đọng trên người. Mùi của rượu bằng hữu, nhạc và thơ, mùi của những đĩa cơm cháy nhân tôm thịt xối mỡ hành do Vy làm đãi bạn bè đêm qua, mùi của tô mì và cà phê sáng. Trên tất cả, mùi hương của Phố Lầy trở nên quyến rũ bội phần là nhờ có văn nghệ và tình bạn. Lúc chia tay trở về Dallas, anh em đứng chung quanh xe và hát: Lên xe tiễn anh đi, chưa bao giờ mừng thế... 
Cùng ra nơi quan ngoại 

Hôm nay, ngày thứ hai tuyết rơi đầy trời, phủ trắng mái nhà, bờ rào, đường sá đóng băng. Nguyễn tôi phải ngồi bó gối ở nhà, mở máy ra gõ, báo tin cho người xa biết: 
Tuyết vẫn rơi 
những bông fleuries 
nhẹ như tơ trời 
nhẹ như tình tui… 
Nhưng còn cả ngày dài, không lễ cứ ngồi gõ thơ, gõ mãi e cũng có lúc bí chớ. Bèn lật lại chồng báo Phố Văn cũ ra xem, tình cờ bắt gặp bài viết cách đây cũng đã nhiều năm - bài “Cùng Ra Nơi Quan Ngoại”. A, được đây. Tuyết rơi, ngồi đọc chuyện Chưởng, mơ màng nghĩ tới người đẹp ở Tiểu Kính Hồ, còn gì thú bằng. Vậy, ta cùng “luyện chưởng” chơi nha các bạn. 
Có thể nói, trong số 100 người đọc sách ở lứa tuổi biết được mệnh trời thì có đến 99 người từng đọc và mê Kim Dung. Kẻ này cũng là một người trong số đó. Còn nhớ, hồi còn trong quân trường Thủ Đức, vớ được cuốn Cô Gái Đồ Long đọc ngày đọc đêm. Chỗ ngồi đọc, còn nhớ như in, là dưới mái hiên cuối dãy nhà trại, nhìn sang Câu Lạc Bộ Diệm Song. Đọc không rời mắt khỏi trang sách. Đọc lúc giữa trưa hay trong đêm khuya, dưới ánh đèn vàng. Đọc, có lúc mê quá đến độ phải nín tè. Từ Cô Gái Đồ Long, đọc tới Thần Điêu Đại Hiệp, Lục Mạch Thần Kiếm, Tiếu Ngạo Giang Hồ v.v... Cuốn nào cũng hay, cuốn nào cũng hấp dẫn. Trí tưởng tượng của Kim Dung quả là khủng khiếp. Ông dựng lên những mối tình cổ kim hiếm có, trong đó phải kể tình yêu của Đoàn Dự với Vương Ngọc Yến, Kiều Phong với A Châu rồi A Tử, kéo theo luôn cả anh chàng Du Thản Chi tội nghiệp. Trong tình yêu của Kiều Phong và A Châu, kẻ này nhớ một câu A Châu nói với Kiều Phong về ước nguyện của hai người, là sau này khi bốn biển sóng yên gió lặng, sẽ cùng ra nơi quan ngoại, tháng ngày chăn dê và yêu nhau. Ôi đẹp thay. Có đôi lứa nào yêu nhau, yêu nhau thực sự chứ không vì cái gì cả, mà không ước mơ được sống mãi bên người mình yêu. Hoặc là cùng chết - như Tiêu Nhiên và Mỵ Cơ, Roméo (chớ đọc là Rô Méo) và Juliet... Nhưng những chuyện tình vừa nói có lẽ chỉ có trong thơ và tiểu thuyết, còn thực tế e rằng hơi khác, vì tình yêu của chúng ta chưa đủ nồng cháy mãnh liệt để vượt qua cái chết (tôi quên chuyện tình của nhà danh họa Modigliani và nàng Jeanne Hébuterne. Hai người yêu nhau trong cảnh nghèo, và khi Modigliani chết vì bệnh lao, Jeanne đã nhảy từ lầu cao xuống chết theo chàng). Ngày nay, người ta yêu nhau chỉ trong một tháng một năm, rồi good-bye nhau đi xây mộng giàu sang. Còn nhớ đêm xưa (chuyện trong tiểu thuyết hay phim ảnh?) chàng hỏi nàng có giám bỏ hết tất cả đem nhau ra một hòn đảo - Cancun chẳng hạn - sống với nhau yêu nhau, và sau đó uống thuốc rầy cùng chết, như đám người ở San Diego năm sao chổi Ha-lây xuất hiện, đã nằm chết bên nhau ngay hàng thẳng lối, thật bình yên thanh thản. Nghe câu chàng hỏi, nàng run rẩy, không phải vì cảm động mà vì hoảng sợ trước một tình yêu định mệnh (Tây gọi là amour fatal). Thế, thế đấy, nhưng làm sao trách được, vì cuộc đời vốn mạnh hơn chúng ta, mạnh hơn tình yêu. 
Trở lại với mối tình của Kiều Phong và A Châu, A Tử. Trong bài tạp ghi nhan đề Đoạn Cuối Một Cuộc Tình, đăng trên Phố Văn số 14, nhà văn Phan Lạc Phúc có viết: "... Kiều Phong đánh một trận trời long đất lở (với quần hào Trung Nguyên) nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, Kiều Phong suýt chết, sau nhờ được một cao nhân cứu thoát, nên Kiều Phong mới đem được thân hình sống dở chết dở của người yêu A Châu đến Tiểu Kính hồ...." Ở một đoạn khác tác giả lại viết: "... Ở Tụ Hiền Trang, Tiết Thần Y không chịu chữa, Kiều Phong thân bại danh liệt, đem được A Châu chạy đến Tiểu Kính hồ... " 
Một độc giả (không cho biết tên) viết thư nói ông không nghĩ như vậy. "Theo pho truyện tôi đọc được trước 75, hồi còn ở VN, thì sau khi A Châu lẻn vào chùa Thiếu Lâm đánh cắp pho sách "Dịch Cân Kinh" bị chưởng môn Thiếu Lâm đánh một chưởng bị thương rất nặng. Kiều Phong bồng A Châu đi khắp nơi chạy chữa nhưng vô hiệu, cuối cùng ông bỏ nàng lên xe đẩy đến Tụ Hiền Trang để nhờ Tiết Thần Y chữa trị. Tại đây đã xảy ra một cuộc ác chiến long trời lở đất giữa Kiều Phong và quần hùng Trung Nguyên. Dù võ công xuất chúng, nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, Kiều Phong suýt bị quần hùng Trung Nguyên giết chết, may nhờ một ân nhân bịt mặt cứu. Vị ân nhân này đưa Kiều Phong đến một hang động hẻo lánh xa xôi để dưỡng thương, trong khi đó thì A Châu vẫn còn nằm tại nhà Tiết Thần Y ở Tụ Hiền Trang chứ "Kiều Phong không đem được thân hình chết dở sống dở của nàng theo...” Mãi về sau, nhờ Bạch Thế Kính, Trưởng lão Cái bang, nhận lời ủy thác của Kiều Phong, dùng áp lực buộc Tiết Thần Y phải chữa bệnh cho A Châu. Khi lành bệnh, nàng cải trang làm Tiết Thần Y trốn thoát khỏi Tụ Hiền Trang và tìm đến Nhạn môn quan, chờ đợi năm ngày năm đêm mới gặp lại Tiêu Phong. Lúc này thì bệnh tình của A Châu đã hoàn toàn bình phục, hai người bàn nhau quay lại Trung Nguyên để tìm cho được gã 'thủ lãnh đại ca' để báo thù. Hai người đến tìm Từ trưởng lão, Triệu Tiền Tôn, Đàm Bà, rồi Trí Quang đại sư...Và cuối cùng A Châu cải trang làm Bạch Thế Kính đến gặp Mã phu nhân (vợ của phó bang chúa Mã Đại Nguyên) để tìm cho ra sự thật. Không ngờ hai người lại sa vào bẫy của Mã phu nhân, nghe theo lời lừa gạt của mụ tìm đến Tiểu Kính hồ và gặp Đoàn Chính Thuần ở đây, và cũng tại đây, Kiều Phong lỡ tay đánh chết A Châu trong khi nàng cải trang làm họ Đoàn để thế mạng cho cha mình. 

Và cũng tại đây, Kim Dung lại "đẻ” thêm một nhân vật nữ thứ hai là A Tử, em ruột của A Châu. Cô bé tinh nghịch này, sau đó lại phóng độc châm toan hại Kiều Phong nên bị ông đánh cho một chưởng thập tử nhất sinh. Ở giai đoạn này, Kiều Phong mới ẵm cái xác dở sống dở chết của A Tử đi khắp mọi nơi tìm cách chạy chữa nhưng đều vô hiệu. Cuối cùng, ông lạc đến núi Trường Bạch gặp bộ lạc Nữ Chân rồi sau đó lạc sang kinh đô nước Đại Liêu, nhờ dược liệu quý hiếm của hai nơi này mà bệnh tình của A Tử mới chữa khỏi..." Người viết xin cảm ơn vị độc giả ẩn danh đã góp ý. 
Viết thêm sau khi đọc lại: Nguyễn tôi nhân ngày tuyết rơi, nhàn rỗi, có lên lưới xem lại Hồi 19 và 20 của “Lục Mạch Thần Kiếm” (muôn vàn cám ơn Website Đặc Trưng nha!), bắt gặp Kiều Phong chở A Châu đến Tụ Hiền Trang rồi xảy ra ác chiến… Ôi, tuyết vẫn rơi. Tuyết trắng ngần tinh khiết có rửa sạch những mối oan cừu trong thiên hạ không? 
Tháng 3.2003 
Tháng 2. 2011 
Nói với các chú ve nhỏ 
Một buổi trưa đã lâu lắm rồi. Không gian đầy nắng. Những cây hải đào nở đỏ. Tôi buông bút, bước ra khu lùm cây cạnh con suối cạn lòng, phía sau tòa soạn báo Vietnasm Weekly News của Trần Lộc. Hồn tôi không tĩnh lặng mà say lảo đảo như biển chập chờn. Chợt tôi nghe tiếng ve ran trong bóng mát khu lùm cây. Tiếng ve? Có thật không? Ở xứ này mà cũng có ve sao? Tôi vẫn biết trong từ điển có tiếng cicada chỉ con ve. Nhưng có tiếng không có nghĩa là có trong hiện thực chung quanh. Từ lotus, hoa sen, cũng có trong sách vở đấy, nhưng mắt tôi chưa từng nhìn thấy cây bông sen mọc trên nước Mỹ. 
Tiếng ve mùa hạ. Đây rồi hồn ta. Một hôm có nắng bỗng nhớ tiếng hát em, hỡi chú ve nhỏ. Nắng bâng khuâng hoài...* Tôi nhớ lắm chứ. Thảo nào, hồi nãy nhìn thấy màu nắng và hoa trúc đào, à không, hoa hải đào màu đỏ, tôi bỗng thấy nhớ một cái gì đó mà chưa định tiếng, định hình được. Thì ra là tiếng ve và màu hoa phượng. Những thực thể tầm thường như vậy trong đời sống mà tôi và bạn và em đã vĩnh viễn mất đi. Muốn lại được nghe thấy, nhìn thấy nó, ta phải vượt trùng dương, băng qua nhiều ngàn dặm trở về. Có hy vọng nào làm được như thế không? Cho nên, buổi trưa nghe tiếng ve, dù không bừng cháy da diết như tiếng ve trong những vườn nhãn ấu thời ở Huế, trên những hàng cây bên trường Lê Ngọc Hân ngày nọ hay trong công viên Tao Đàn Sài Gòn, nhưng thứ tiếng đầy âm vang đó đủ khiến tôi bồi hồi suốt một buổi. Thật là nhảm, đại nhảm. Nhưng biết làm sao. Rằng quen mất nết đi rồi... Trong nỗi xúc động ấy, buổi chiều, tôi báo tin vui cho người bạn thơ, rằng tôi vừa nghe tiếng ve kêu trong bóng mát lùm cây ở Dallas. 
Tiếng ve. Có lần, tôi đã viết về tiếng ve ở những khu vườn rợp nắng buổi đầu đời. Nó vang dậy, như một dàn đại hợp xướng, chỗ này vừa lặng tiếng, chỗ khác đã rộ lên, cứ thế không dứt. Và Trần Dạ Từ đã viết như thế này, hơn năm chục năm về trước, khi cùng bà Trần Thy Nhã Ca ngồi trong một khu vườn chùa tĩnh lặng ở Huế: Lần đầu ta ghé môi hôn, Trăm con ve nhỏ hết hồn kêu vang... Cái ông Trần Dạ Từ này sao tỉnh đến thế? Ông hôn người yêu mà còn nghe được tiếng những con ve nhỏ kêu thì thật là siêu. Lúc đó chỉ có mê đi mà thôi, cho dù triều biển tím có dậy ầm ầm chung quanh. Nói đến biển và ve, lại nhớ câu thơ tuyệt vời của Tô Thùy Yên: Ve kêu như biển lâng lâng dậy, Xô giạt hồn ta mộng chập chờn... 
Hỡi các chú ve nhỏ... Tôi yêu các chú biết bao. Vậy mà thuở ấu niên bé xíu, tôi đã có lần phạm lỗi đối với chú. Thật là ngu xuẩn. Chuyện như thế này: Hồi đó, cũng mùa hè nắng cháy vàng hoe tóc khét da, tôi theo mấy đứa bạn rắn mắt, đi chơi khắp làng khắp xóm. Nghe tiếng ve kêu ran đầu cành, một thằng hỏi: tụi bây có muốn bắt ve không? Rồi cả lũ kéo nhau đi chặt ống tre và mấy cành trúc. Tôi được phân công trèo lên cây bông sứ, chặt đọt cho chất mủ trắng chảy ra rồi hứng vào ống tre nhỏ. Một thằng khác có phận sự đem ống tre ấy nung vào lửa cho cháy khét lên. Mủ bông sứ đổi ra màu sô la, biến thành một thứ nhựa thơm, rất dính, đem bôi vào đầu ngọn trúc để bắt ve thì hết sẩy. Chú ve nhỏ đang hồn nhiên ca hát trên cành nhãn thì bỗng dính nhựa ở đầu ngọn trúc, hết đập được cánh để bay đi. Chú không hát nữa, mà vùng vẫy cố thoát khỏi lòng bàn tay tôi. Tất nhiên rồi tôi cũng thả chú ra, sau khi đã chùi chất nhựa dính trên đôi cánh mỏng manh. Chú ve bay lên, loạng quạng trong nắng, rồi lẩn vào cây lá. Không biết chú sẽ bay xa đến đâu, qua được mùa hè không? Chú ve của tôi ơi, tôi viết những dòng này cũng là để tạ tội với chú cũng như với ấu thơ tôi. Tôi biết tôi có nhiều lỗi lầm với chú cũng như với chú cu cườm trong vườn cây Vương Phủ ngày nọ. Tuổi nhỏ u mê và nghịch ngợm, khiến tôi nghĩ lại mà chẳng an tâm chút nào. 

Thật lòng thì tôi yêu các chú ve nhỏ lắm lắm. Các chú là những nghệ sĩ giữa cõi đời bụi bặm này. Kẻ nào ghét chú, hay không yêu chú, thì đúng là kẻ đáng thương. Cho nên tôi chẳng ưa bài ngụ ngôn Con Ve Và Con Kiến của ông La Fontaine chút nào. Ông này, gọi là khôn thì cũng khôn đấy, nhưng thực dụng một cách thô thiển. Tôi chẳng thể nào yêu được những con người thực dụng kiểu như thế. Nghĩ cho cùng, những ông thi sĩ nhạc sĩ chúng tôi cũng là đồng hội đồng thuyền với các chú ve mà thôi. Chú ca hát suốt một mùa hè. Cho hoa lá, cho đất trời, cho tuổi nhỏ rong chơi, và cho những đôi lứa hôn nhau dưới bóng cây mùa hạ nọ. Chú không mang đến cho lời ca buổi tôi còn nhỏ nhít ấy một nét ưu phiền nào cả, cũng như chú đã không mang đến cho tình yêu của thời thanh xuân con người một giọt lệ buồn nào. Lệ chỉ rỏ sau đó khi cuộc đời chia cách... et la vie nous sépare... và cuộc đời chia cách chúng ta ** 
Xin các chú ve hãy cứ ca hát trong những mùa hè ở đất nước tôi. Dù xa dưới ngàn mây trắng, khi nhìn về ấu thơ, tôi vẫn thấy vô cùng thân thiết với các chú, và hết lòng tạ lỗi cũng như biết ơn. Bởi không có các chú, tuổi thơ tôi mất đi vẻ đẹp, vẻ sáng. Cũng như không có các thi sĩ, nhạc sĩ thì trái đất này sẽ trần trụi và khô khan biết mấy. Nó sẽ không còn là quả cam màu xanh, nơi cư ngụ bình an của con người.
Viết thêm, sau khi đọc lại vào một ngày đầu hè của năm 2010: Bài này, cũng như bài Mộng Hái Sen, Nguyễn viết đã lâu, nay nhân buổi hè sang bèn lục ra đưa lên báo để những bạn yêu ve, yêu phượng, yêu sen và mơ theo mây trắng, có dịp cùng chia sẻ. Riêng về các chú ve sầu, Nguyễn sẽ có dịp trở lại trong một bài khác. 

*Lời nhạc Trần Tiến 
**Thơ Apollinaire 
Mùi hương xoài 
Tháng 6 là mùa xoài ở Sài Gòn. Nhớ năm nào bạn cho biết: Nhiều nhất là cát Hòa Lộc. Bán theo ký thay vì theo chục 12 trái, 14 trái như hồi xưa. Xoài cát Hòa Lộc trung bình từ 15.000 đồng - 20.000 đồng/ký. Xoài bán trong các sạp trái cây, dọc theo đường phố, trên những chiếc xe đẩy. Những trái xoài vàng lườm, cầm lên thấy mát tay, áp vào má càng dễ chịu, đưa lên mũi hít -ôi chao, mùi thơm nhẹ thoảng nhưng ngất ngây… Cũng bạn viết từ Sài Gòn: Mới mua mấy trái xoài về cúng Phật, không biết làm sao gửi cho người ở xa… Nguyễn cũng là người mê xoài. Hắn cảm nhận được mùi hương của loài trái cây nhiệt đới này từ hồi còn bé như con cún. Thuở ấy, nhà Nguyễn ở tận bên xứ Lào, một thị trấn nhỏ cạnh con sông rừng nước chảy xiết. Ở đó, Nguyễn không học hành gì bao nhiêu, suốt ngày rong chơi với cái đầu húi cua. Lội sông, trèo me, hái khế, bắt ve, chơi bông vụ, lang thang hết vườn này qua vườn nọ. Có khi vào cả vườn chùa. Mùa hoa xoài rụng thơm ngát tuổi thơ. Cho tới bây giờ Nguyễn còn hình dung ra mặt đất đầy bông xoài lấm tấm vàng lẫn với nước đái ve, mùi hương ngái nồng say lan khắp khu vườn. Mùa xoài chín là mê ly nhất. Những trái xoài vàng ửng trên cây, đong đưa đong đưa dưới cái cuống màu xanh mỏng manh, gặp cơn gió lớn rụng xuống mặt đất. Nguyễn và lũ bạn cứ thế lượm và cạp, ngon ơi là ngon, ngọt sao là ngọt. Có đêm, nằm trong nhà nghe tiếng xoài rụng đánh rầm một cái trên mái tôn, vội vàng lao ra nhặt, đem vào để ở đầu giường. Trong giấc ngủ thoảng mùi hương xoài. Những hôm trời không gió, đứng dưới gốc nhìn lên những trái xoài đong đưa mà phát thèm. Cây xoài lớn và cao, Nguyễn không trèo nổi. Mấy thằng bạn tài lanh mách nước: lấy dao đục một lỗ vào thân cây xoài rồi nhét vào một bụm muối. Xong, cứ đứng dưới gốc huýt sáo, một lát gió nổi lên, xoài rụng ăn không hết. Mà quả thật có lúc gió nổi lên thật, nhưng thường thì huýt sáo đến chu mỏ, mỏi miệng mà trời vẫn lặng im. 
Những ngày thơ ấu dại khờ rồi trôi qua. Ở Huế không thấy có cây xoài. Phải tới khi vào tới xứ xoài Bồng Sơn và Sài Gòn thì mới được ăn xoài đã chỉ. Thích nhất là xoài Cát, xoài Thanh Ca. Thơm, ngọt và thanh. Kẻ này nghe hiền nội kể những năm sau 75 - khi Nguyễn còn ở trong những trại tù miến Bắc - nàng thỉnh thoảng dẫn hai chú bé về quê bạn ở Cao Lãnh ăn xoài thôi ngon hết biết. Ở Sài Gòn được ăn xoài nhưng ít được hít thở mùi hương hoa xoài rụng. Chỉ đôi khi đạp xe về Gò Vấp vào tận Cầu Hang thăm bạn thơ TTY hay đi thăm chùa Già Lam thì mới được gặp lại “mùi hương buổi ấu thời”. Mùi hương xoài ấy mê ly lắm chứ. Thế nhưng ít thấy nhà thơ nhà văn Việt Nam nào nói tới mùa xoài và những kỷ niệm đã có dưới gốc cây xoài. Chỉ có trong thơ Tagore là hầu như lúc nào cũng có bóng những vườn xoài toả xuống với mùi hương xoài thoang thoảng. Ôi, sở dĩ Nguyễn tôi hôm nay say sưa nói về mùi hương xoài là vì vừa mới đọc được một đoạn văn của Nguyệt Hạ trên báo của Mặc Bích viết về mùa xoài ở Sài Gòn. Xin trích một đoạn gởi đến các bạn nhé: “Đi chơi vườn Miền Tây mùa hè chỉ xoài là nhiều. Bảo đảm ngọt đủ cỡ: ngọt đậm thì xoài Cát chu, ngọt hơi chua là cát Hòa Lộc (còn gọi là cát trắng), ngọt sắc mà thơm tới bến là cát đen. Cát chu (gọi vậy vì chỗ cuống chu ra) hơi nhỏ trái dù hột lép, hai má no tròn. Cát trắng và cát đen thì gần cả ký một trái. Thèm mấy cũng chơi một trái là buông... dao. No ứ hự. Xoài gòn, xoài cóc, xoài nghệ, xoài thơm... không bõ dính răng, kẹt lắm mới “gì” một vài trái. 
Không đi Miền Tây, ngồi nhà Sài Gòn mà muốn ăn xoài cũng không khó. Tháng Tư, Tháng Năm, xoài về Sài Gòn nhiều hơn rau cỏ. Người ta đổ đống, cân ký thay vì bán chục như xưa. Trái xoài không bị dú khí đá. Vỏ hườm hườm. Cứ mua về, hai hôm đã ăn được. Vợ chồng con cái cơm nước xong, mỗi người một con dao nhỏ, lôi xoài ra hành quyết riêng. 

Nhìn người ăn xoài cũng biết được tính cách đấy. Tao chỉ mày (thư này Nguyệt Hạ viết cho Mặc Bích, bạn thân - Ng.) ba chiêu coi tướng... ăn xoài của dân miền Nam. Mày nghiệm xem có đúng không nhé. Người lý tưởng là người gọt vỏ tử tế, đường dao đi thẳng gọn, miếng vỏ mỏng vừa. Gọt xong lùa dao vào hai má xoài, gần sát hột, tách ra hai miếng má, xong trở dao qua làm luôn hai miếng cạnh. Người rốp rẻng, dứt vạt, hơi rộng tay trong chi xài, cư xử có phần thô thiển nóng nảy nhưng ruột ngựa là người cầm trái xoài lên không gọt mà cắt luôn hai miếng má. Lấy dao rạch ngang dọc thịt xoài, rồi lộn ngược ra, kề vô miệng... cạp. Hết hai miếng má, cạp sơ sịa cái hột còn lại. Miệng dính xoài tèm lem, cười hề hề, buông gọn một tiếng Ngon! Người keo nặng kẹo là người gọt vỏ thực mỏng, lạng thực sát, gặm đến nỗi cái hột xoài trắng toát, trụi cả xơ!”  
Các bạn nghe Nguyệt Hạ tả ăn xoài có phê không, và thấy đúng không. Riêng kẻ này xin thú thực, cách đây dăm bảy năm thì ăn xoài theo lối 2, tới bây giờ ăn theo lối 1. Như vậy, suy theo Nguyệt Hạ, “tính cách” của kẻ này có thay đổi, nghĩa là ngày xưa thì ẩu tả, phóng đãng, giờ theo tuổi tác mà nghiêm túc hơn chăng. Để hỏi lại vợ mình xem sao. 
Qua nước Mỹ, tưởng rằng không còn được dịp thưởng thức trái cây nhiệt đới này nữa. Ai ngờ! Thì ra ở Mỹ cũng có xoài vậy. Tất nhiên là thứ xoài bán ở các chợ. Xoài Mễ, xoài Florida. Xoài Mễ thì kẻ này ít thích vì cái mùi của nó không hợp với cái mũi bảo thủ của mình. Còn xoài Florida? Ô, gọi là xoài Thanh Ca (?) đựng trong những thùng giấy, mỗi thùng từ 12 trái trở lên tùy lớn nhỏ, mang nhãn hiệu Marathon. Xoài này ăn cũng mê lắm chứ, phải không bạn? Và ai ơi còn nhớ trái xoài thơm buổi ấy đã cùng nhau ăn chung từng miếng, chung cả cái hột xoài, trong ngôi nhà đầy bóng nắng. Ôi, mùi vị xoài ngát thơm môi miệng, hỏi làm sao quên! 
Mùa thu, và… thịt chó, và... phở 
Mùa thu và thịt chó. Mùa thu và phở. Gớm cái ông Nguyễn này bộ hết chuyện nói rồi sao mà kết hợp mùa thu với thịt chó và tô phở. Dạ thưa, thú thiệt Nguyễn này đôi khi cũng bí đề tài, đâm ra nói chuyện trên trời dưới đất, không đâu vào đâu cả và cũng chẳng theo một logic nào ráo trọi. Thế nhưng, chuyện mùa thu và thịt chó, và phở có cái lý riêng của nó đấy. A, cha này lại loạn ngôn rồi, vị nữ lưu xinh đẹp la lên. Ông ơi, nhà văn nhà báo gì mà dung tục. Mùa thu đẹp thế, rực rỡ thế vậy mà liên tưởng tới thịt chó và tô phở. Rõ ràng là tham ăn tục uống. 
Quả đúng là dung tục. Nhưng không phải tự dưng Nguyễn này xắn quần vào chợ đâu. Do người ta nói, và mình bắt chước nói leo đấy thôi. Nói có sách mách có chứng nhé - về cái khoản mùa thu và thịt chó ấy mà. Sau đây là đoạn văn ghi lại cuộc trò chuyện giữa hai nhà văn, Phan Thị Như Ngọc và Dương Nghiễm Mậu hiện ở Sài Gòn. "Bố Dương mở túi hồng (của PTNN mang tới biếu) ngắm lặng lẽ những mặt trời ấm áp... Tầm này mùa thu miền Bắc đang có cốm, có hồng như hồng này. Trời thu ngoài ấy cũng mát. Rất dễ chịu. Bầu trời cao lên... Tôi liến thoắng nói leo "Và nắng vàng ngoài bụi ruối. Mặt ao xanh, vườn cũng xanh. Ngồi đầu thềm, thở không khí tĩnh lặng của nhà quê, người thấy bứt rứt buồn buồn. Giá mà có miếng..." Bố Dương ngắt lời, thịt chó chứ gì. Vâng! Nhưng sao bố biết con định nói thịt chó. Thế sao cô lại định nói thịt chó? Không phải tự con nghĩ, mà là nói theo ông nhà văn Nam Cao thôi. Trong truyện ngắn "Trẻ con không được ăn thịt chó” ông Nam Cao tả tâm trạng một anh thèm "rờ tờ cờ" (rượu, thịt chó) rỏ dãi, phải làm thịt con chó nấu riềng mẻ, mua rượu, mời bạn... Chung quy cũng chỉ vì trời thu bàng bạc, nắng thu như mật ong, không khí thu tĩnh lặng, bứt rứt tay chân...” 
Đó... Đó... Mùa thu và thịt chó. Đã nói "cảo thơm lần dở trước đèn..." mà! Có phải do kẻ này bịa ra đâu. Cái chuyện "Thu năm nay tôi lại đi trên con đường vắng này..." hay "Hôm nay có phải là thu/ Mây năm xưa đã phiêu du trở về” của thi sĩ Đinh Hùng - hoặc nữa, chuyện "Nhìn những mùa thu đi/ Anh nghe sầu lên trong nắng " của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn... chỉ là chuyện văn chương nghệ thuật, đôi khi chẳng có dính dáng chút xíu nào đến máu thịt của đời sống. Muốn cảm nhận thấm thía cái hồn và cái hậu của mùa thu e phải nhờ tới các ông nhà văn miền Bắc rặc ròng, không pha tạp chút xíu nào với các trường phái văn chương từ lãng mạn, siêu thực, tới hiện sinh và hậu hiện đại... Nguyễn muốn nói đến những ông như Tô Hoài, Nam Cao... chẳng hạn. Đối với các ông nhà văn miền Bắc này thì cứ mỗi độ thu về, nắng thu như mật ong, không khí thu tĩnh lặng, bứt rứt tay chân.... là tự nhiên thấy thèm thịt chó. Lúc bấy giờ, một bát dựa mận, hay một miếng thịt chó luộc đi kèm với lát gừng cay và lá mơ non, rồi hớp thêm hớp rượu quốc lủi hay quốc mù gì đó... là mùa thu chung quanh chợt tưng bừng, hiển lộng (hình như từ này của ông Mai Thảo?).
Thôi, lại ra ngoài đề nữa rồi. Xin vui lòng đóng phạt và trở lại với Mùa Thu, và Phở. 
Này nhé, xin các bạn cùng Nguyễn tưởng tượng chút xíu, nhé. Lúc này, nơi mình ở là 4, 5 giờ chiều. Trời nhiều mây, gió thu lành lạnh, lá vàng bay trên đường. Bụng chợt thấy đói. Bèn rủ bạn ra quán phở ở ngã tư Plano-Beltline làm một tô chín gầu vò viên nóng hổi. Sướng ơi là sướng. Mùa thu và phở đấy, một bản ballad rộn ràng. Ôi, mùa thu. Ôi, phở. 

Nói tới phở, tức là nói tới những gì thân thiết gần gũi nhất của đời sống. Nói tới tâm tình và văn hóa. Sao không? Ai không nhớ bát phở ăn hồi nhỏ, ở một góc phố nào đó khuất sau màn sương của trí nhớ. Bát phở của một gánh phở rong thơm lừng đường phố. Và qua màn sương vừa nói, lung lay ánh lửa của nồi nước lèo trong khuya. Rồi tiếng rao theo gió lạnh chạy dài trên khu phố. Tô phở ăn vào lúc khuya khoắt ấy trong đêm mùa đông ngồi học bài, thấy nóng ấm cả người. Vị ngọt của nước phở, cay của ớt, nồng của hành khiến cơ thể và trí óc bàng hoàng. Hồi ức của tô phở hồi còn nhỏ tỏa ra ánh sáng của yên vui và hạnh phúc, điều sau này ít thấy trong đời. Sau này, qua cuộc “đổi đời” (chứ không phải “lên đời” như mấy ông bên nhà), trên đường lưu lãng, phở và hồi ức về phở càng thêm nồng thêm ấm. Cho đến nỗi nhà văn Huy Phương - người cũng có tâm hồn ăn uống như Nguyễn - phải thốt lên: “Những ngày đi đâu ở xa về, qua một chặng đường dài trên máy bay, xuống tới đất, làm một tô phở là thấy tỉnh cả người. Mùi vị của phở làm cho người ta đói, và làm cho những người xa quê thấy nhớ nhà. Ở đất khách, nhiều vùng dân mình không tập trung đông đúc, người ta phải lái xe năm bảy chục miles để kiếm một tô phở, ăn cho đỡ... thèm”. 
Hôm xưa, trong hội thoại trên đài phát thanh về việc ăn phở từ trong nước ra đến nước ngoài, Nguyễn tôi có nhắc tới những tô phở ở Sài Gòn. Có thể nói, rất chủ quan và đầy thách thức, phở Sài Gòn là ngon nhất. Ấy là vào thời điểm trước 1975. Phở Pasteur, Hiền Vương, Công Lý. Phở 79, phở Xe Lửa, Tàu Bay. Sau này có Phở 2000, nơi nghe nói Tổng Thống Bill Clinton từng ngồi ăn khi đến thăm Việt Nam. Ngoài ra còn có xe phở của Bà Nhẫn ở trước nhà đường Hòa Hưng, kẻ này và tiện nội không thể nào quên được. Những đêm mưa Sài Gòn, ngồi ăn tô phở của Bà Nhẫn, có thêm đĩa xíu quách thơm lừng, phải nói hạnh phúc nằm chính trong khứu giác và vị giác của ta khi nó được đánh thức tưng bừng. 
Phở từ Hà Nội xuôi Nam, tới Sài Gòn rồi tỏa đi các nơi khác. Con đường đi của phở tất yếu là như vậy. Ai không đồng ý thử chứng minh ngược lại xem. Từ Sài Gòn, phở đến Mỹ Tho. Những năm cuối thập niên 50 và đầu 60, kẻ này dạy học ở đó thấy có tiệm phở của một ông Bắc Kỳ to béo, râu ria, là có vị phở hơn cả. Đó là Phở Bắc Hải, nằm trên bờ sông, chỗ gần Cầu Quay. Ngoài ra, sau lưng trường Nguyễn Đình Chiểu, ở kiosk sát bến xe, cũng có một tiệm phở. Phở ở đây có mùi và vị củ cải, và bánh phở là bánh hủ tíu. Không có gì gọi là chính thống cả, hoàn toàn Nam Kỳ, ấy vậy mà ăn vào rất ngon. Các bạn Phan Ngọc Lâm, Nguyễn Ngọc Hy, Đỗ Trung Ruyên... hẳn chưa quên tiệm phở này. Còn cô học trò, hiện là cô giáo ở Irvine, ngày ấy mới mười ba, giờ ra chơi còn buộc hai vạt áo lại nhảy lò cò với bạn dưới bóng cây me tây, cô làm sao biết được tiệm phở đó - cũng gần nhà cô thôi, chừng mươi phút đi bộ. Giờ đây, làm sao ta về lại bến sông xưa, và biết tiệm phở ấy còn không? 
Ở Đà Lạt cũng có mấy tiệm phở ngon. Trước hết là phở Ga Xe Lửa, nơi mỗi sáng các giáo sư Võ Bị - những Hứa Hoành, Nguyễn Thạc, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Minh Diễm... thường ghé ăn cho ấm bụng trước khi vào lớp giảng bài. Rồi phở Bằng đường Hàm Nghi, sau này có thêm tiệm phở Cao Nguyên ở Khu Hòa Bình. Còn nữa, phở Ngọc Lan ở bến xe. Ở đây, đặc biệt miếng thịt chín gân thái rất to, và tô phở lúc nào cũng đầy áp, hậu hĩnh. Nói tới phở Đà Lạt mà quên tiệm phở của ông Chín dưới chân Đài Phát Thanh là cả một thiếu sót lớn. Không biết Uyên và Phương mỗi tuần lên thâu chương trình Mây Cao Nguyên có ghé ăn tô phở ông Chín không. Chứ còn như Yến và Ngọc Hân thì ăn thường xuyên, chính mắt kẻ này trông thấy. Ăn sáng, ăn trưa và có khi ăn chiều. Phở không ngon lắm, nhưng lúc bụng đói, làm một tô cũng thỏa dạ. Rồi nhìn chim én lượn bay dưới mái Hotel du Parc... 
Phở Sài Gòn, phở Mỹ Tho, phở Đà Lạt - đối với kẻ này - là như thế. Còn thiếu sót rất nhiều, cố nhiên, nhưng đó là những nơi đầy bóng vang của tuổi xanh tôi, không bao giờ tìm lại được. Từ ấu thơ, phở đã cùng tôi đi qua suốt hành trình dài dặc của kiếp nhân sinh - vui có, nhưng buồn thì vô số kể. Giờ đây, ở xứ người, lại ăn phở. Có người sẽ hỏi, phở ở Mỹ, ở Úc ra sao. Xin hẹn một kỳ sau, nếu còn thấy hứng để viết. 
Hải đường và trà mi 
Nhớ năm nào, đã lâu lắm, Thái Kim Lan ở Munchen tận bên nước Đức gởi cho tấm ảnh chụp bàn tay đang nâng hai bông hải đường đẹp như hai hồn yêu nhau. KL cho biết hai bông hải đường đó hái từ vườn nội ở bên Linh Mụ đối diện với Nguyệt Biều là làng ngoại của Nguyễn. Hai bông hải đường màu đỏ rực rỡ, giữa lòng hoa có chen nhụy vàng. Điểm nữa tăng thêm vẻ thanh quý là chiếc vòng cẩm thạch trên cổ tay KL. Cô cho biết: Chiếc vòng ngọc là của mạ đeo cho từ hồi xửa hồi xưa, bây giờ cổi ra không được nên cứ đeo hoài. Té ra hết thảy là từ ấu thơ, hỏi răng không quý không đẹp. 

Vâng, ấu thơ của Nguyễn cũng có bóng dáng của bông hải đường.Thuở ấy, như đã nói ở trên, nhà ngoại của Nguyễn ở làng Nguyệt Biều. Nhà cất bằng gỗ, lợp ngói âm dương, bên hiên nhà có trồng hai cây hải đường. Suốt ấu thời, Nguyễn và con bé hàng xóm thường đùa chơi trên sân đất gần bên. Và những cây hoa trở thành hình ảnh thân thiết. Hải đường ra hoa rất đẹp, màu đỏ và hồng làm Nguyễn mê đắm. Mỗi lần hải đường nở hoa như vậy là ngoạiï lại bảo chị Thoa hái ít bông đặt trên một cái dĩa sứ trắng tinh dâng lên cúng Phật. Những bông hải đường thời thơ ấu ấy, Nguyễn không bao giờ quên, cũng như không bao giờ quên những trái vải chín ửng trên cành mỗi độ hè sang. Cô bé hàng xóm ngày ấy giờ này cũng đang ở một thành phố nào đó của Âu châu, không biết cô còn nhớ những bông hải đường và những trái vải vườn xưa không. Để rồi như Thái Kim Lan cứ thao thức mãi khi nhìn ra ánh nắng của khu vườn ở Munchen mà tưởng như nắng ngày xưa. 
Rồi tuổi nhỏ qua đi. Không còn ai chơi đùa bên cạnh cây hải đường nơi hiên nhà nữa. Nguyễn lên thành phố theo đuổi việc học, tâm hồn bắt đầu mở ra với sách vở. Những chân trời khác, những cuộc đời khác và những con người khác. Không còn bóng ngoại, bóng chị Thoa hay cô bé bên hàng xóm. Nhưng những bông hải đường vẫn còn. Nguyễn lại tìm thấy nó trong thơ Nguyễn Du và thầm cảm ơn những vẻ đẹp mà cuộc đời đã hiến tặng. 
Hải đường lả ngọn đông lân 
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà 
Bông hải đường kia đã chứng kiến mối tình của Kim Kiều nảy nở. Và giờ đây nó chưa ngủ, đang lả ngọn sang tường đông như chờ đợi. Trong khi đó nàng Kiều một mình nhìn trăng nghĩ ngợi xa gần. Và rồi cô quyết định. Bóng trăng tưởng chừng như cũng đồng lõa với Kiều khi cô “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” tìm sang nhà Kim Trọng. Hải đường ơi, xin che chở bước chân nàng. Nguyễn nghĩ tới người con gái trong một cuốn phim xem đã lâu kể về cuộc đời Franz Schubert, tác giả bài Serenade bắt hủ. Yêu chàng nhạc sĩ mắt sâu, ban đêm cô gái đi bộ qua nhiều dãy phố đến đứng dưới của sổ nhà chàng nghe chàng đàn. Không có bông hải đường đồng lõa đâu nhưng có hoa hồng và hyacinth tỏa hương thầm lặng trong đêm. Hoa hải đường giống hoa trà nhưng hoa trà màu trắng, không thơm. Hoa hải đường hương thơm, có thể màu vàng, đỏ nhạt. Nhụy hoa màu vàng. Cành cây mềm, dáng điệu xử nữ. Trong văn học cổ, hoa Hải đường dưới cơn mưa diễn tả người đẹp u sầu. Mới đây, đọc được một câu chuyện ghi trong sách vở, càng khiến yêu hải đường hơn bởi nó gợi cho Nguyễn bóng dáng người vương phi yêu dấu thuở nào. Dám cuộc nếu được Nguyễn xin làm thái giám để được sớm tối gần kề nàng. Chuyện kể trong Đường Thư hẳn hòi và liên quan đến nàng Dương Quý Phi. Thời Đường Minh Hoàng, nhà vua gọi cung phi Dương Quý Phi là Hải đường. Truyện kể một buổi sáng, Đường Minh Hoàng ghé thăm Dương Quý Phi, thấy nàng ta còn đang ngủ thì cất tiếng hỏi rằng: ”Hải đường thụy vị túc đa?”, nghĩa là “Hải đường ngủ chưa đã sao?”. 
Ôi qua những mẩu chuyện như thế, hoa hải đường lại càng đẹp. Nó đẹp nùng diễm, đầy nét gợi cảm và vẻ xuân tình, như Nguyễn Du từng viết: Hải đường mơn mởn cành tơ/ Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng… Ấy, là thế đó, vẻ đẹp thiên kim của các trang quốc sắc thời xưa. Mà này, từ lúc tóc hãy còn xanh cho tới tóc đã trắng như mây, Nguyễn yêu hải đường và chỉ biết hải đường đẹp mà không cần tìm hiểu sâu xa nó là loại hải đường nào, trong vườn nhà ở Nguyệt Biều hay tận xứ thơ Đường không bao giờ tới được. 
Hải đường đẹp rực rỡ, và chuyện hải đường thì đẹp não nùng, thế còn trà mi? Trà mi, như tên chữ, ắt phải diễm lệ lắm, chứ không thì ai dùng để gọi những trang đài các. Viết tới đây, lại nhớ tới Trà Mi ở đường Hàng Me, Huế, thời Nguyễn mới vào trung học. Đúng là “nổi danh tài sắc một thì”, Trà Mi đẹp nhất trong mấy chị em và khiến bao chàng thấy mình trở thành thi sĩ (nhưng trong đó không có Nguyễn đâu đấy nhé, vì lúc ấy Nguyễn còn bé lắm các anh ơi!). Đẹp kiều mị và kiêu sa nhưng cũng chỉ được một thời. Sau này, không còn nghe ai nhắc tới Trà Mi nữa. Thôi đành tìm trà mi trong cổ văn vậy. Ôn Như Hầu cũng có diễn tả vẻ đẹp của trà mi nhưng dưới cái tên gọi rất Trung Hoa là “đồ mi”, để tả cảnh ái ân hoan lạc cực kỳ: Cái đêm hôm ấy đêm gì/ Bóng dương lồng bóng đồ mi chập chùng 
Hải đường và trà mi. Trong thơ Nguyễn Du, chỉ có hai loại hoa này được nói đến. À không, còn hoa lê và hoa đào nữa chứ. Thế nhưng chỉ có hải đường và trà mi là được trân trọng và tô điểm đặc biệt. Thật ra, câu thơ ai cũng thuộc “tiếc thay một đóa trà mi” chỉ làm ta thương cảm vì nó cói tới một nhan sắc như nàng Kiều bị dập vùi dưới bàn tay một tên thất phu - hay đúng hơn, dưới bàn tay của định mệnh tàn khốc. Chính ở câu sau đây, vẻ đẹp của trà mi mới thật là phê: 
Chim hôm thoi thóp về rừng 
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành 

Đẹp. Đẹp. Như hình ảnh trong chuyện tình Romeo và Juliet hay trong Hồng Lâu Mộng. Nhưng trà mi là hoa gì? Theo Tố Nghi (Ôi, Tố Nghi. Mừng em đã rời giường mổ trở về nhà bình an) trong Mùa Thu Nói Chuyện Trà đăng ở PV so 68, trà mọc thành bụi lớn. Lá dày bóng. Hoa lẻ và to, nhiều màu trắng hồng đỏ, sắc đậm lạt tùy theo. Chuyện về trà mi còn chép trong sách sử: nàng Josephine kiều diễm của Napoleon Bonaparte mê trà mi đến độ thường cài hoa trà lên ngực áo và nón đội đầu, tạo thành cái mode cho tất cả các mệnh phụ phu nhân thời ấy, rồi từ từ mode này lan rộng. Trong Trà Hoa Nữ (La Dame Aux Camelias) của Alexandre Dumas, nàng Marguerite cũng thích cài hoa trà mi lên ve áo. Nhưng thú vị hơn cả là chuyện tình trong Lục Mạch Thần Kiếm. Nàng Vương Phu Nhân yêu Đoàn Chính Thuần ở xứ trà Vân Nam nhưng tình yêu không toại, Vương Phu Nhân ôm trái tim tan nát cùng giống trà Đại Lý về Giang Nam. Tại đây nàng lập nên một trại trà đặt tên là Mạn Đà Sơn Trang để sớm tối tưởng nhớ tời người tình bạc bẽo trăng hoa. 
Tới đây, chợt nhớ một lần hồi mới đến Mỹ, qua Nam Cali chơi, được Nguyên Khai đưa đi thăm Vườn Nhiệt Đới ở Hungtington Beach. Ở đây, lần đầu tiên Nguyễn được thấy bông trà mi, tức camellia. Đẹp nhưng không huyền ảo như mình nghĩ. 
Thành ra, với Nguyễn, cuối cùng có lẽ chỉ có hải đường là nùng ảo, diễm lệ mà thôi. Bởi nó là thơ ấu của mình cùng những mảnh tình trong mơ. Ôi, hải đường ơi hỡi thanh xuân.
70 năm ‘Cuốn Theo Chiều Gió’ 
Gió vẫn thổi. Những trận gió vẫn đi qua bầu trời Georgia. 
Và “những ngọn gió” - Windies, cái tên những người yêu tác phẩm Gone With the Wind - Cuốn Theo Chiều Gió tự đặt cho mình - đang hướng về Atlanta những ngày này. Bởi sắp tới đây, vào ngày thứ sáu 13 và thứ bảy 14 tháng 11, tại thành phố Atlanta quê nhà của bà Margaret Mitchell sẽ cử hành trọng thể lễ kỷ niệm ‘70 năm Cuốn Theo Chiều Gió’. Dịp này, hình bóng những diễn viên đóng trong phim “Gone With the Wind” sẽ hiện về (chỉ có hình và bóng thôi vì tất cả đã không còn ai), cùng với buổi dạ vũ trang phục thời xa xưa ấy (những năm của cuộc nội chiến Hoa Kỳ). Ngoài ra còn có diễn đàn về Margaret Mitchell, chiếu phim Gone With the Wind, thăm lại ngôi nhà và khu điền trang Tara từng được dùng làm bối cảnh cuốn phim. Quả thật chưa có tác phẩm văn học và điện ảnh nào có được cái vinh dự nhường ấy. 
Những ngọn gió, những người đến dự lễ kỷ niệm 70 năm tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió mang theo trong lòng nhiều suy nghĩ, thao thức. Những câu hỏi được nêu lên: cuộc nội chiến Nam Bắc diễn ra như thế nào trên vùng đất Atlanta Georgia, điền trang Tara ra sao, có thực hay chỉ được đạo diễn cuốn phim phục chế, dựng lại như một bản sao, tác giả Margaret Mitchell là ai và đã viết “Cuốn Theo Chiều Gió” như thế nào, ngoài ra các diễn viên trong phim, đặc biệt là Vivien Leigh đã phải làm những gì để có được vai Scarlett O’Hara huyền thoại v.v... 
Trước hết, xin nói về Cuộc Nam Bắc Phân Tranh của Hoa Kỳ. Nhiều cuốn sách và phim đã nói về cuộc nội chiến này - nó được dùng làm bối cảnh của tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió”. Tuy nhiên, Nguyễn thích đoạn văn sau đây của Julie Nguyễn, nó cô đọng và sâu sắc khi nói về cuộc xung đột lịch sử đã diễn ra trên vùng đất Georgia. 
“Trong cuộc Nội Chiến Nam Bắc (1861-1865), Atlanta đã từng là thủ phủ của miền Nam. Là đầu não chỉ huy, và cũng là xương sống nuôi dưỡng quân đội Miền Nam (gồm 11 tiểu bang liên kết chống lại chính sách Giải Phóng Nô Lệ Da Đen). Atlanta dễ dàng trở thành mục tiêu tấn công tối hậu của quân đội liên bang miền Bắc. Nhiều trận giao tranh đẫm máu đã nổ ra xung quanh Atlanta như Kennesaw Battle Fields, Battle of Peachtree Creeks, Battle of Atlanta, Battle of Ezra Church. Ngày 1 tháng 9 năm 1864, tư lệnh chiến trường Liên quân miền Bắc John Bell Hood đã chọc thủng phòng tuyến sau 4 tháng bao vây. Vừa vào tới Atlanta. ông đã vội vàng ra lệnh lập tức đốt cháy các cơ quan chính quyền và tất cả các tòa nhà công cộng. Qua ngày sau, thị trưởng Atlanta là James Calhoun tuyên bố đầu hàng. Một tuần sau, Tổng Tham Mưu Liên quân William T. Sherman vào đến Atlanta, nhìn thấy tiềm năng quá lớn của thành phố liền ra lệnh thiêu rụi cả thành phố đề phòng mầm mống phục hồi mạnh mẽ của cả miền Nam. Lịch sử ghi lại trận lửa thiêu Atlanta cháy kéo dài hơn một tuần lễ. Đây là một quyết định hết sức khó khăn. Sir Williams Sherman gặp sự chống đối từ nhiều phía từ một người lính quèn cho tới chính quyền trung ương ở Washington DC. Kêu lính đi đốt nhà dân ư? Thà ra lệnh cho họ nhảy vào lửa dễ hơn. Ví như một người phải đi đến quyết định chặt bỏ chân tay. 

“Nhưng Atlanta không phải nổi tiếng trong lịch sử vì trận lửa được ghi trong lịch sử. Mà nó mê hoặc người ta bằng một trận lửa khác. Một trận lửa cháy trên giấy mà mãi mãi sẽ không bao giờ tắt. Ngọn lửa trong cuốn tiểu thuyết “Cuốn Theo Chiều Gió”. Nữ văn hào Margaret Mitchell, một cư dân Atlanta đã viết lại toàn bộ cuộc chiến trong tác phẩm của mình theo cách nhìn của một người miền Nam. Tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió” lập tức trở thành một best-seller, đoạt nhiều giải thưởng và được dịch ra hàng trăm thứ tiếng. Ba năm sau,1939, tác phẩm được dựng thành phim. Bộ phim “Cuốn Theo Chiều Gió” do đạo diễn Victor Fleming và với các diễn viên lừng danh Clark Gable, Vivien Leigh, đã đoạt 10 giải Academy Awards và cuốn phim đứng trong 100 bộ phim danh tiếng nhất thế giới. 
“Người ta yêu thích “Cuốn Theo Chiều Gió” không những vì tính cách sống thực của cuộc chiến trong tác phẩm mà còn vì ý chí quật cường, sức làm việc bền bỉ và cái nỗ lực đầy hy vọng của nhân vật nữ Scarlett O’Hara xây dựng lại tất cả sau chiến tranh. Đây cũng là đặc tính của người Mỹ. Họ dành thời giờ và công sức cho việc xây dựng hơn là cứ nhìn đăm đăm vào quá khứ. Kết thúc tác phẩm, Margarett Mitchell đã để toàn bộ cuộc chiến cuốn theo chiều gió, và mở ra cho độc giả một niềm hy vọng không bao giờ tắt. “Tomorrow is another day.” Điều này luôn luôn đúng. Những gì của ngày hôm nay sẽ là quá khứ. Ngày mai là một ngày mới. Cuộc sống vẫn luôn là những cơ hội đang chờ đón người ta ở phía trước. 
Cuộc chiến ở Atlanta, Georgia rộng lớn và khốc liệt trong bóng ảnh của điền trang Tara. Trong tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió” của Margaret Mitchell, điền trang Tara nằm ở gần Jonesborough (tức Jonesboro bây giờ). Nhà văn Margaret Mitchell dựng lên Tara mô phỏng theo trang trại thời kỳ tiền nội chiến, đặc biệt là đồn điền ở Clayton County, ở đó bà ngoại của Mitchell, vốn là con gái của một di dân Ái Nhĩ Lan đã sinh ra vá lớn lên. Một khu điền trang lân cận là Twelve Oaks (Mười Hai Cây Sồi) cũng được nhắc đến trong tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió”. Khu điền trang Tara được tái dựng lại trong truyện đã mang linh hồn của Miền Nam. Nó chính là Miền Nam trong khói lửa chiến tranh và ngay hiện thời. Một điều đặc biệt là chính tại ngôi nhà (mansion) của bà ngoại ở Clayton County, Margaret Mitchell trong buổi ấu thời đã nghe kể lại bao điều về cuộc nội chiến khi ngồi trước cổng nhà. “Tôi nghe kể về những cuộc giao tranh và những thương tích của đôi bên. Và về sức chịu đựng và nỗ lực của các phụ nữ làm việc trong bệnh viện. Ở đó, mùi của các vết thương mưng mủ thối hoại bốc lên. Tôi nghe nói về những trận lửa và những vụ cướp bóc ở Atlanta. Tôi nghe đủ mọi chuyện, ngoại trừ cuộc thất trận của Miền Nam. Lúc bấy giờ tôi chỉ có 10 tuổi.” Bà Margaret Mitchell tâm sự: ”Quả thật là một chấn động lớn lao đối với tôi khi nghe tướng Lee bị đánh bại.” 
Trong “Cuốn Theo Chiều Gió”, điền trang Tara đã có một thời cực thịnh, nhưng rồi nó dần dần suy tàn vì cuộc bao vây của quân Miền Bắc và sự đòi hỏi đóng góp của lực lượng Miền Nam, trong khi đó những nô lệ trở nên biếng nhác hoặc dần bỏ đi, cộng thêm tình hình bán bông vải qua nước Anh bị đứt đoạn. Từ đó, Tara rơi vào sự tan rã, nghèo đói. Chính Scarlett O’Hara đã kiên trì và dũng cảm làm việc, giữ cho khỏi sụp đổ. 
Từ hình ảnh trong tiểu thuyết, bước vào không gian của điện ảnh, điền trang Tara có nhiều thay đổi. Nó được nhà sản xuất phim David O. Selznick phục chế và tái tạo lại với những hàng cột (pillars) cao lớn và đại sảnh lộng lẫy. Những người hâm mộ gọi tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió” của Margaret Mitchell là “Cuốn Thánh Kinh của Nước Mỹ”. Họ hình dung thấy điền trang Tara như một trong những dinh cơ đồ sộ của thời tiền chiến tranh nằm dọc theo con sông Mississippi hùng vĩ. Thế nhưng người ta kể lại rằng khi xem phim, Margaret Mitchell đã không nhận ra ngôi điền trang như bà miêu tả trong truyện. Tuy nhiên hình ảnh Tara như trong phim đã gây ấn tượng lớn, không bao giờ quên đối với khán giả năm châu qua hàng chục năm nay. Họ nhìn thấy sự hồi sinh của Tara sau chiến tranh, với dinh cơ tráng lệ và những đồn điền đất đỏ chung quanh. Tuy nhiên, trong tòa nhà sang trọng bây giờ, Scarlett không còn cảm thấy bình yên và hạnh phúc. Những năm tháng đẹp đẽ đã trôi qua, giờ đây Scarlett cảm thấy lòng trống vắng. Nàng xót xa cho mối tình đầu của mình với Ashley, và đau đớn vì đã đánh mất đi tình yêu của Rhett cũng như cái chết của con gái nhỏ Bonnie. Nhiều nhà phê bình nói rằng điền trang Tara chính là hình ảnh của Scarlett, từ hồn nhiên trong hạnh phúc xa hoa rồi bỗng mất đi tất cả để rồi bây giờ hồi sinh giàu có nhưng bóng hạnh phúc một thời đã bay xa. 
Tháng 11. 2009 
Dạ quỳnh hương... ở pleiku 
Dạ quỳnh hương mà ở... Pleiku - có người sẽ hỏi khó: thật không đó cha nội, hay ông lại hứng chí bất tử phịa ra như thế. 

Xin thưa: Không dám đâu là không dám đâu. Câu chuyện có thực, đầu đuôi như thế này: Hồi làm việc ở Đà Lạt, kẻ này thỉnh thoảng lại được qua Pleiku gọi là đi công tác. Gì chứ qua Pleiku, đối với người viết, là điều gì đó rất đỗi thân thuộc và đầy hứng khởi. Bỡi lẽ giản dị là ở đó khuôn mặt chiến tranh tỏ lộ với những đường nét sần sùi mà thơ mộng. Và đó là nơi nhiều bạn bè từng lưu trú, hoặc ngắn hoặc dài: Kim Tuấn, Diên Nghị, Triều Hoa Đại, Tô Mặc Giang, Chinh Yên, Hải Phương, Vũ Hữu Định, Miên Đức Thắng... Và trong một chuyến sang Pleiku công tác ở báo Cao Châu năm 1970, mình được Thiếu Tá Bùi Xuân My, trong một dịp hiếm có trên đời, mời về nhà uống trà xem hoa quỳnh nở trong đêm trăng sáng trên đồi. Thật là nhiệm màu: Từ giữa cuống lá, đúng vào lúc nửa đêm, những cánh hoa như san hô bừng nở, tỏa mùi hương thanh khiết. Các bạn của tôi ơi, hãy tưởng tượng trong khi hỏa châu thắp sáng thành Pleime và tiếng trọng pháo từ xa ì ầm dội về, giữa lúc có những người lính chong mắt canh chừng từng lùm cây bụi cỏ để kịp thời phát hiện dấu vết của địch, và đâu đó trên những vùng đồi xa chuyến trực thăng tải thương cuối cùng cất cánh bay lên...., đúng vào giây phút đó hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh nở như niềm vui trong cõi đá vàng, khiến người ta thấy hết lẽ vô thường của trời đất. Chợt trong giây phút ấy, kẻ này nghĩ tới Lê Thị Nguyệt Hạnh - cô học trò diễm lệ ngày xưa đã chết trên chiếc vận tải cơ C130 bốc cháy trên vùng đồi núi Ban Mê-Kontum. Nguyệt Hạnh đã đi vào chiến trận và không về nữa. 
Dạ quỳnh hương năm ấy... bây giờ mình được sống lại khi nghe tiếng hát Bảo Yến trong một ca khúc của Phạm Anh Dũng. Không, chỉ là hoang tưởng thôi. Không có chút gì liên hệ giữa khúc hát Dạ Quỳnh Hương với những ảnh bóng của quá khứ có hoa quỳnh nở giữa đêm trăng ở Pleiku và Lê Thị Nguyệt Hạnh. Không, không có gì hết. Nevermore... 
Cây ngọc lan, mặt trăng và bóng mẹ 
Ngọc lan… Không hiểu vì đâu khi gọi tên hoa ngọc lan là Nguyễn nghĩ tới ánh trăng. Có lẽ vì màu hoa như màu trăng chăng? Hay vì hương hoa ngọc lan về trong một đêm trăng nào đáng ghi nhớ trong đời mình. Và nhìn trăng thì Nguyễn nghĩ tới mẹ giờ đã ở sau làn mây trắng. 
Nhưng xin bắt đầu lại từ đầu với hoa ngọc lan. Vừa qua, lang thang trên các trang web, Nguyễn được đọc mấy câu thơ rất hay của Huệ Trân: 
Nhìn dấu vết cây ngọc lan trên nền sân rêu cũ. 
Vẫn ngào ngạt hương của trăm hoa. 
Dù cây ngọc lan không còn đó. 
Cây ngọc lan đã đi xa! 
Cây ngọc lan? Cây ngọc lan nào thế nhỉ? Có phải cây ngọc lan trong vườn chùa ngày nọ mà cô bé Thảo của nhà văn Bách Hợp thường nhắc tới. Thuở ấy, theo lời kể của Bách Hợp, khi tóc còn hớt ngắn, còn ham chơi ô quan và nhảy dây, những ngày rằm, mồng một, Thảo thường theo mẹ lên chùa Phú Thọ lễ Phật. Vườn chùa nhiều cây cao bóng mát và chim chóc, Thảo thích nhất cây ngọc lan trên sân gạch của nhà chùa. Thỉnh thoảng, chú điệu tên Hậu dùng sào tre hái cho Thảo mấy bông ngọc lan để Thảo mang về ép vào sách. Thảo thích lắm. Bông ngọc lan thơm dịu dàng, màu hoa ngọc lan trắng như ngón tay chị Như. Thảo không ép bông ngọc lan vào sách mà cài trên đầu, Vào lớp, những đứa bạn ngồi gần Thảo cứ hỏi sao tóc Thảo thơm thế. Chúng đâu biết tóc Thảo cài hoa. 
Cây hoa ngọc lan trên sân chùa theo Thảo suốt thời con gái. Nó gợi lại kỷ niệm cùng mẹ đi lễ chùa. Cho tới lúc đi lấy chồng, Thảo mới tạm biệt cây hoa thời nhỏ. Nhưng thỉnh thoảng, trong cuộc đời làm vợ làm mẹ, mỗi khi tình cờ có ai cho một chùm ngọc lan, Thảo lại sung sướng và cảm động, cất giữ trên bàn trang điểm để sáng chiều còn ngửi thấy mùi hoa. Và nhớ lại ngày xưa còn bé dưới gối mẹ cha. Những năm tháng ấy mẹ đã già, tóc trắng như mây. 
Và rồi quốc biến. Cộng Sản vào chiếm miền Nam. Thảo và chồng con phải ra đi. Xa bố, xa mẹ, xa cây ngọc lan. Rồi bố qua đời, ngày ấy Thảo không về được. Sau mấy năm mẹ cũng theo bố. Thảo về tới nơi thì tay chân mẹ đã lạnh giá, chỉ còn đôi mắt nhìn Thảo thật sâu. Thảo cầm tay mẹ, có cảm giác những ngón tay mẹ cử động thật nhẹ thật êm. Rồi mẹ nhắm mắt, hai giọt lệ trào ra trên khóe. Chuyện của Thảo ngừng ở đoạn ấy, nhưng mùi hoa ngọc lan mãi còn vương trong gió. Riêng Nguyễn cũng có một cây ngọc lan, trong sân chùa Già Lam, là nơi năm nào Nguyễn đã gởi lại nắm tro tàn của mẹ cha. Cách đây dăm năm, bạn văn N. Ngọc đã tới thăm và hái ít bông ngọc lan để trên trang thơ của Nguyễn, rồi chụp hình gởi qua. Nhìn những bông hoa trong hình, Nguyễn siết bao cảm động. Viết đến đây, Nguyễn chợt nhớ ca từ một bài nhạc của Thanh Tùng: Lối cũ ta về/ vườn xưa có còn/ thoảng bay trong gió/ mùi hoa ngọc lan... Với Nguyễn, kỷ niệm về mẹ cũng có hoa ngọc lan đấy, ngoài ra còn có một vầng trăng. Tại sao lại là vầng trăng? Nguyễn không cắt nghĩa được. Chỉ biết lúc nhỏ phải đi học xa mẹ, Nguyễn thường ngồi khóc dưới vầng trăng. Sau này, lớn lên, mải theo đuổi mộng đời, có lúc lạc mất vầng trăng của mẹ. Nhưng mỗi lúc thất bại, vấp ngã trong đời, lại thấy vầng trăng và hình bóng mẹ hiện ra. Ý nghĩ này không phải độc sáng của Nguyễn mà thiền sư Nhất Hạnh và nhà văn Võ Đình đã nghĩ tới. Thầy Nhất Hạnh nói rằng hễ nhìn thấy vầng trăng là thấy mẹ. 

Đêm nay, khi Nguyễn viết những dòng này, cũng có một vầng trăng trên ngọn cây sồi già. Chợt nhớ một câu trong Vầng Trăng Của May khi hai mẹ con vừa đi dạo dưới trăng về: “... từ nay ánh trăng sẽ theo John suốt cả cuộc đời. sẽ che chở, bảo bọc nó, nhất là những lúc cần tĩnh tâm nhìn lại.” Mẹ ơi, mẹ chính là vầng trăng chiếu sáng đời con. Đêm nay, một đêm trăng ở thành phố Garland, ước chi Nguyễn có được một vài bông ngọc lan để đặt lên bàn thờ mẹ. 
Bên cầu Woodbridge 
Mùa thu đã về trong nắng. Tiết trời bắt đầu hơi lạnh rồi đấy. Cái lạnh, tuy vậy, chưa thấm qua chiếc áo màu tím lilac khoác trên người đâu. Vừa đi cô vừa ngước nhìn lên hàng cây bắt đầu ngả sang màu vàng mơ. Rồi nhìn xuống mặt hồ. Hồ thì xanh như màu trời ngày ấy. Một đám mây trắng, như bông, nằm trong đáy nước. Những chú vịt con vẫn bơi lội tung tăng bên vịt mẹ. Cô không nghĩ đây là bầy vịt khác. Cô không muốn thay đổi mọi trật tự đã được thiết lập riêng đối với cô và người ấy. Cho nên cô vẫn cho là bầy vịt con năm xưa dường như chúng chưa bao giờ lớn từ ngày chia tay. 
Đi dưới hàng cây buổi đầu thu, cô nghĩ tới nhiều chuyện. Từ bờ hồ, cô đi về phía cầu Woodbridge. Những trái thông khô rụng đầy hai bên bờ cỏ. Trên cầu lúc này có đôi tình nhân đứng bên nhau, tay trong tay. Cô chợt thấy lại khung cảnh cách đây ngoài năm năm. Lần chia tay trên cầu ngày ấy hóa ra là vĩnh biệt. Sẽ không bao giờ nhìn thấy nhau nữa. Cô nhẩm lại lời ca: Em ra đi mùa thu... Hình như mắt cô chợt bắt gặp một hình ảnh khi nhìn sang bên kia cầu, chỗ đậu xe dưới hàng cây phong trước tiêm sách Barnes and Noble. Vẫn còn ai đứng đó, yên lặng nhìn về phía cô. Và có tiếng gọi ơi… ơi… trong gió. Rồi trong chớp mắt, tiệm sách biến mất, bãi đậu xe biến mất. Chỉ còn hàng cây phong với những chiếc lá đổi màu lả tả bay. Một mình cô đứng lặng dưới trời thu... 
Những cánh bướm 
Mùa xuân năm 2008, Nguyễn cùng với gia đình và cháu gái Nguyệt Quỳnh đi chơi ở vườn hoa Arboretum, cạnh hồ White Rock Lake ở Dallas. Đây là dịp vui mỗi năm mới có một lần. Vườn Arboretum có tới mấy trăm ngàn bông tulip và thủy tiên vàng nở rộ. Người đi chơi như trẩy hội, có ban nhạc kèn trống vang lừng. Cùng với tiếng nhạc bay lên, những cánh bướm màu vàng cũng lượn vòng trên những vạt hoa. Nguyễn trông thấy, vội nắm tay bé Nguyệt Quỳnh đuổi theo từ bờ cỏ này sang bờ cỏ khác. Ôi vui quá là vui. Đoạn phim ngắn ấy, do mẹ của bé quay, lâu lâu lại được chiếu lên cho cả nhà xem. Thỉnh thoảng trong những buổi sum họp gia đình bố mẹ bé lại nhắc tới. Riêng Nguyễn, tự nhủ với mình: “Hãy luôn luôn để cho những cánh bướm nhắc nhở chúng ta về ấu thời và những ngày tươi đẹp trong đời”. 
Giờ đây, trời lại vào xuân, và Nguyễn lại nhớ tới những cánh bướm. Mùa đông vừa qua, nhân xem tờ phụ trương của báo “Dallas Morning News”, Nguyễn tình cờ đọc thấy cái tựa đề hấp dẫn “Vine keeps butterflies happy in winter”. 
Quái lạ nhỉ, mùa đông lạnh thế mà bướm cũng hạnh phúc nhởn nhơ được nhỉ, mà sở dĩ được thế là nhờ những cái hoa trên thân cây nho. Bài báo viết: “Mùa đông và bướm thường không đi song đôi với nhau trong trí nhiều người. Tuy nhiên, nhờ đem trồng những cây nhiều hoa trong cảnh quan chúng ta nên làm thay đổi được thói quen của loài bướm, khiến chúng có thể bay suốt bốn mùa trên những vùng đất của miền Bắc Texas này.” 
Ở trên, chúng ta có nói đến loại hoa của cây leo như cây nho. Hoa này có tên passionflower (hoa đam mê), gồm có loài passionflower của bản địa, có tên maypop và yellow passionflower, và loài lấy giống từ Brazil có tên blue crown passionflower. Chính loại blue crown passionflower này đã rù quyến những cánh bướm màu sặc sỡ của vùng vịnh có tên là Gulf fritillary về trong mùa đông nhờ những vùng lá xanh tươi và hoa nhiều nhụy. Mặc dù bạn phải chờ tới mùa hè mới thấy loài cây blue crown passionflower mọc đầy, nhưng giữa mùa đông tại vùng Bắc Texas này thỉnh thoảng bạn cũng thấy một dải mầu xanh điểm hoa vàng nhạt quyến rũ bướm về. Người Mỹ yêu hoa và chim chóc. Chẳng những thế, họ còn yêu bướm. Và có thể nói xứ đồng cỏ Texas là thiên đường của loài bướm. Mùa đông, như đã thấy trên, người ta trồng cây blue crown passionflower trong vườn để giữ bướm. Mùa xuân, dân Texas có cây cỏ sữa xứ Mễ (Mexican milkweed) để dụ loài bướm chúa monarch bay về. Năm nay, đàn bướm chúa trú đông từ Mễ Tây Cơ lại làm chuyến lãng du qua miền đất này. Trên phụ trang Guide Daily của tờ Dallas Morning News ngày 12 tháng 3 vừa qua đăng hình một con bướm chúa tuyệt đẹp. Nó đậu trên những chùm hoa trúc đào đỏ rực, nổi bật trên những vùng lá xanh. Đôi cánh của bướm chúa màu hổ hoàng (ocre jaune) thật rực rỡ, chung quanh viền đen. Ở hai đầu cánh là những đốm vàng đỏ. Nguyễn xem kỹ và đếm từng chấm một. Ôi, sao những đốm màu này đều nhau thế, ở hai bên đầu cánh. Có họa sĩ nào vẽ được một cánh bướm như thế không. Vườn hoa Arboretum tới đây sẽ đầy bướm chúa. Bé Nguyệt Quỳnh lại có những giây phút tưng bừng chạy theo những cánh bướm màu sặc sỡ. Nguyễn mong rằng tất cả các bé trên thế gian này đều được vui như vậy. Và sẽ không có bé nào bị đói, bị lạnh hay đi lang thang cù bơ cù bất. 

Trở về với những cánh bướm trong đời. Hồi làm phát thanh ở Đà Lạt, có lúc Nguyễn và Châu Trị thuê phòng ở cuối đường Hoàng Diệu, gần những vạt cỏ đồng. Đêm, trời mưa, bướm từ bên ngoài bay qua cửa sổ vào phòng tìm hơi ấm của ánh đèn. Trời, đẹp ơi là đẹp. Những cánh bướm bằng bàn tay đậu trên tường, tạo thành một bức họa trang trí chưa nơi nào có. Đặc biệt, Nguyễn còn nhớ một cánh bướm màu nhung tím, điểm những chấm vàng và đỏ chói lọi. Nó là hình ảnh của ai thế nhỉ? Sophia Loren trong Orchidée Noire chăng. Hay Juliette Greco khi đứng hát ở Café Tabou đầy khói thuốc và nhạc Jazz trong khu Saint Germain. Hoặc giả đó là người về từ viễn phố? Không biết là ai nữa nhưng cánh bướm màu nhung tím thời trẻ ấy đã mang lại cho Nguyễn biết bao cảm xúc. Những năm đi tù ở Hoàng Liên Sơn ngoài Bắc, Nguyễn lại gặp những cánh bướm như thế nhưng nó bay vào cõi oan khốc với đá xanh và đất tù pha màu máu. Hồi ở trại Z30C Hàm Tân, Nguyễn và các bạn trong những buổi chiều mùa xuân đứng cuốc đất ven rừng lại thấy từng đàn, từng đàn bướm đủ màu từ rừng xa bay về. Chúng như trôi dưới nắng chiều. Có con còn chậm bước, bay tới đậu trên đầu cán cuốc khiến Nguyễn nhớ tới bài thơ Haiku của một nhà thơ Nhật Bản (hình như là Basho?). Con bướm trong bài thơ đậu trên đầu gậy và theo thiền sư vào cõi không màu an nhiên tĩnh tại. Tới đây, có nên nhắc tới cánh bướm của Trang Chu không nhỉ? Thật sự, Nguyễn không biết làm người vui hay làm bướm vui. Nhưng nhìn bướm bay thì vui thiệt. Và Nguyễn chợt nhớ tới một chi tiết lý thú trong Trăm Trăm Năm Cô Đơn (One hundred Years of Solitude) của Gariel Garcia Marquez: Một nhân vật nữ trong truyện hiện thân của nhan sắc nùng diễm khiến ai nhìn cũng mê (hiểu theo nghĩa đen) đến nỗi khi nàng tắm (chắc là vây màn tắm ngoài trời) bướm từng đàn đủ màu sặc sỡ bay về đậu quanh nàng, tạo thành một bức tranh tuyệt tác. 
Tới đây, Nguyễn nhớ lại một truyện ngắn và một giấc mơ. Một đêm, người chồng trong truyện (hình như là Bóng Người Trong Sương Mù của Nhất Linh) đang lái tàu qua vùng đồi núi bỗng nhìn thấy một bóng người áo trắng bay lượn trước tàu. Hoảng hốt, người lái tàu cho tàu từ từ ngừng bánh thì thấy trên tấm kiếng một cánh bướm màu trắng nằm chết. Tiếp theo, tin tức cho biết cây cầu trước mặt đoàn tàu đã bị gãy xuống sông. Cũng trong đêm đó, bà vợ của người lái tàu hấp hối và qua đời trong ngôi nhà của hai người. Đó là chuyện về cánh bướm hóa thân từ linh hồn của người chết. Sau đây là giấc mơ của Nguyễn, có lẽ là giấc mơ an bình qua bao nhiêu lớp sóng đời vùi dập. Nguyễn mơ thấy mình đi chơi ở một công viên có cơ man là bướm bay về. Vui thật là vui, Nguyễn chìm giữa biển đầy những cánh bướm, nhìn sang bên, thấy bóng một nữ lang áo trắng đang lau những cây cọ dính đầy sơn màu và rũ cười. Là ai vậy nhỉ?... 
Xin được dùng giấc mơ về những cánh bướm để kết thúc bài tạp văn hoang tưởng này. 
2008  
Một buổi sáng của trí nhớ 
Sáng nay, bầu trời Texas trong và cao. Một vài giải mây trắng bay như không bay. Nắng chảy trên những ngọn đồi xa. Cảnh vật trong sáng của một ngày bình yên khiến Nguyễn nhớ tới một buổi sáng cách đây bảy năm, cũng dưới bầu trời Texas này. Đó là sáng ngày 1 tháng 2. 2003. Hôm nay, Nguyễn xin một lần nữa ghi lại buổi sáng hôm ấy, kẻo mai đây e không còn ai nhớ tới những người đã ra đi vĩnh viễn theo chiếc phi thuyền Columbia tan vào mây trắng. Họa chăng chỉ có những người thân của họ. 
Ba giờ sáng, ngày thứ bảy đầu tháng 2 
Ngày 1 tháng 2. Ba giờ sáng. Tự nhiên tỉnh giấc, ngồi bật dậy. Dường như có tiếng u u trong sọ rỗng. Không phải. Nó là tiếng gió hút qua ống khói lò sưởi. Này nghe. U… u… tím những bông sầu đông thời nhỏ dậy học bài nhìn qua khung cửa, thấy bóng tối trên những mái nhà Vương Phủ 
Ba giờ sáng. Tỉnh dậy rồi không ngủ lại được. Bật đèn. Tìm lại hương lưu trong áo. Nghe như có tiếng đọc thơ giọng khê đặc, vang vang. Thơ ai? Dường như thơ Ôn Như Hầu được viết lại: Hồn trà mi/ phố khuya/ tôi đi từ cổ độ/ về qua lối phù dung/ thấy ngọn lửa vô thường. cháy Nhìn qua cửa sổ. Trăng khuya đã xuống sát đường chân trời, sắp lặn. Mặt trăng tím đỏ như trái mận (plum) chin. Ngồi vào bàn viết. Mở máy. Tiếng gõ trên bàn phiếm như mưa rào. Bắt đầu chương thứ 10 của Sử Ca: Lý Công Uẩn Dời Đô Về Thăng Long 
Tám giờ sáng, ngày thứ bảy đầu tháng 2. 2003, phi thuyền Columbia trên đường về, nổ tung giữa trời Texas. 

Tám giờ sáng. Thứ bảy ngày 1 tháng 2. Ngừng gõ chữ trên bàn phiếm. Vén màn cửa sổ nhìn ra trời rộng trên những mái nhà đường White Swan. Một ngày mới bắt đầu. Một ngày trong xanh như thủy tinh khiến người ta cảm thấy yêu cuộc sống biết bao và được sống ở thế gian này là một ân sủng. Bầu trời trải rộng trong màu thiên thanh tinh khiết không một gợn mây. Mặt trời đã lên, nắng ấm chan hòa mặt đất. Một ngày tưởng chừng như sẽ rất bình yên với bao ước mơ, hy vọng, dự tính tốt đẹp. 
Nhưng không. Thảm kịch đã giáng xuống, vào lúc 8 giờ ngày thứ bảy định mệnh đó. Đầu tiên, trên màu xanh vô tận của bầu trời miền đồng cỏ, người ta thấy một vệt trắng như lông ngỗng kéo dài rồi bỗng bung ra, lao nhanh xuống. Tiếp theo là tiếng nổ dội về làm cho khung kính cửa sổ những ngôi nhà ở một thị trấn miền đông Texas rung lên. Phi thuyền Columbia, trên chuyến bay trở lại mặt đất, đã nổ tung giữa không gian và những mảnh vụn của nó rơi vãi khắp vùng biên giới từ Texas tới Louisiana. 
Vậy là, cái chết thảm khốc lại xảy đến vào một ngày đẹp trời ngập tràn ánh nắng. Trí óc người dân Mỹ còn đau nhức khi nhớ lại, cũng vào một buổi sáng như thế này, thảm kịch đã nổ tung trên đầu mọi người: Đó là hôm 11 tháng 9 cách đây hơn một năm khi cái chết từ trên trời đâm bổ xuống Nữu Ước, Hoa Thạnh Đốn và vùng đồng quê của Pennsylvania. Và lịch sử Ngành Không Gian Hoa Kỳ còn ghi: Ngày 28 tháng Giêng năm 1986, phi thuyền Challenger đã nổ tung trước mắt các em bé học sinh nước Mỹ đang hân hoan theo dõi một ông thầy của chúng cũng có mặt trên con tàu đi vào vũ trụ. Và rồi tất cả đã không còn gì, những người ra đi không bao giờ về nữa. 
Tình cờ hay định mệnh, phi thuyền Columbia cũng chở bảy người như chiếc Challenger năm nào. Họ gồm 5 nam và 2 nữ, đều còn rất trẻ và rạng rỡ. Nhìn họ tươi cười, hớn hở vẫy tay chào, bước vào con tàu, ta biết họ yêu đời và tin tưởng biết bao. Thế mà... Làm sao trí óc con người có thể nghĩ đến một kết thúc thảm khốc như đã xảy ra vào một sáng thứ bảy cuối tuần. Truyền hình trong ngày đã chiếu đi chiếu lại hình ảnh 7 phi hành gia mặc bộ đồ bay màu vàng cam đang nhìn mọi người với ánh mắt và nụ cười thân ái. Với họ, chúng ta không cùng màu da, huyết thống, nhưng cũng thấy niềm cảm mến lẫn xót thương dâng lên trong lòng. Huống chi với đồng bào của họ, là người dân Mỹ ruột thịt. Nhà báo Leslie Garcia viết trên tờ “Dallas Morning News” những dòng tưởng niệm sau đây: Nhìn họ đi, và chúng ta sẽ nhận chân ra họ. Nhìn vào khuôn mặt của 7 phi hành gia dũng cảm trên con tàu Columbia đã chết vào một ngày thứ bảy đẹp trời khi bay qua bầu trời trên đầu chúng ta. Vâng, trong trí họ lúc bấy giờ có những ý nghĩ sâu thẳm mà chúng ta không thể dò tới, có những lời chúng ta không thể nào biết được. Thế nhưng, hãy nhìn thật gần vào khuôn mặt của họ - những khuôn mặt màu da nâu, đen, trắng, nam và nữ, ra đời ở một thị trấn bụi mù trên đường chúng ta lái xe tới Colorado, hoặc sinh ra ở một xứ sở mà chúng ta chỉ đọc thấy trong sách báo. Họ là hình ảnh của nước Mỹ; họ là chúng ta. Đúng vậy. Chúng ta nhìn thấy họ mỗi ngày - họ chính là một phần của chúng ta. Chúng ta nhìn thấy họ đang lựa trái cây ở một chợ gần nông trại. Chúng ta thấy họ đang hát quốc ca ở một trận đấu bóng. Chúng ta thấy họ đang đẩy chiếc xích đu của một em bé. Họ có thể là hàng xóm chúng ta, bạn đồng nghiệp của chúng ta, là bố mẹ những đứa trẻ bạn của con chúng ta. Cũng như chúng ta, họ xuất xứ từ những bối cảnh khác nhau, có những niềm tin tôn giáo dị biệt. Nhung cũng như chúng ta, có một điều gì đó đang ấp ủ, với họ điều đó là lòng yêu không gian vũ trụ, và chính điều này đã đưa họ đến với nhau. Tôi phải lấy làm hổ thẹn mà nói rằng, trước khi chiếc phi thuyền phát nổ, tôi chỉ biết có một phi hành gia trên chuyến bay Columbia: một đại tá người Israel. Trước kia, tôi không để ý tới cái tên ông ta, nhưng giờ đây sau buổi sáng thứ bảy ấy thì tôi biết đó là Ilan Ramon. Và tôi cũng biết là ông đã có vợ và 4 con trai. Mẹ và bà của ông là những nạn nhân sống sót của trại tập trung Holocaust. Bác sĩ phẫu thuật Laurel Clark thì có một con trai 8 tuổi. Tôi được hay rằng Trưởng phi hành đoàn Rick Husband là người rất mực kiên trì không hề bỏ cuộc: Ông đã ba lần ghi danh để được chọn làm phi hành gia, và cuối cùng ông được tuyển vào năm 1994. Còn Michael Andersen thì nối bước thân phụ trong Ngành Không Quân Hoa Kỳ trước khi được NASA chọn làm phi hành gia. Tôi đã nhìn thấy ảnh của họ - hình chụp chung các viên chức NASA, nhưng nói nhiều hơn hết thảy là những bức ảnh cá nhân trong một cuộc họp báo hồi đâu năm nay. Cái cách David Brown quay đầu lại nhìn với vẻ chăm chú gợi tôi nhớ lại hình ảnh người anh của tôi. Tôi tự hỏi không biết William McCool đã nói gì với ba con trai của ông vào cái đêm trước ngày ông lên đường vào chuyến bay. Tôi cũng hình dung thấy Rick Husband đang cắt cỏ trong sân nhà, và tôi còn nghe được tiếng cười dòn của Bác Sĩ Clark. Họ là những người anh hùng rất gần gũi với đời sống chúng ta, nam cũng như nữ họ là những hình ảnh đẹp nhất của nước Mỹ. Thì xưa nay, các phi hành gia vẫn được nghĩ tới như những anh hùng. Họ bay qua các vì sao, vào khung trời của những chuyện thần kỳ và những giấc mơ. Họ trông cậy vào tài năng của mình, vào trí óc và niềm tin - niềm tin ở mỗi người và ở chính mình. Và, tôi thích nghĩ như thế này, là họ tin vào một sức mạnh vượt lên trên chúng ta.
Giờ đây, chúng ta hãy nhìn lại họ một lần nữa. Bảy phi hành gia của phi thuyền Columbia vẫn tươi cười rạng rỡ ngay trước mắt chúng ta. Họ như vẫn còn ở thế giới này, chừng nào con người còn có một trí nhớ và trái tim. Với người dân Mỹ ở khắp nơi, họ là những anh hùng rất mực gần gũi, thân yêu. Với chúng ta hiện có mặt trên đất nước này, chúng ta hoàn toàn đồng cảm với những người chung quanh, trong niềm xót thương và kính trọng. 
Một đoạn vỹ thanh: 
A, biển lãng quên. sóng gào. 
Ngày hôm nay, sau 7 năm, còn ai nhớ tới những phi hành gia đã ra đi? Có đấy, ít ra là những người thân yêu của họ. Những người vợ trẻ, những đứa con... Evelyn chẳng hạn. Đã bao năm qua, cô vẫn còn nhớ như in sáng ngày thứ Bảy 1 tháng 2 ấy, khi cô và hai con nhỏ là Matthew và Laura có mặt ở Trung Tâm Kennedy, chờ đón Rick Husband trở về lại mặt đất. Thế rồi điện thoại reo... Evelyn đã khóc khi phi thuyền con thoi và bảy cuộc đời tan ra từng mảnh. Cô và hai con đã khóc khi nằm trên chiếc giường cạnh đống đồ đạc của Rick. Những giọt nước mắt tiếc thương rơi xuống. “Chúng tôi nhắc tới Rick hoài hoài,” Evelyn tâm sự. “Ảnh của Rick vẫn chưng trong nhà và trông anh vẫn trẻ như ngày nào.” 
Vào ngày thứ Sáu 1 tháng 2. 2008, Evelyn và hai con lại có mặt ở Trung Tâm Không Gian Kennedy. Để cảm ơn các nhân viên NASA đã nâng đỡ mẹ con cô và để nói lên điều này: Rick đã dạy cô rằng bầu trời là vô hạn. 
Tháng 2. 2010 
Chuyện dế 
Hình ảnh của dế chính là hình ảnh tuổi thơ mà ai cũng trìu mến. Chính vì lẽ đó, các thi sĩ và nhà văn viết về dế bằng những lời thật đẹp. Đối với trí óc bất bình thường của kẻ này, thi sĩ nào không có đôi câu về dế về ve thì chưa phải là thi sĩ chân chính, đích thực. 
Hết ve rồi đến dế. Gớm cái ông Nguyễn này rõ là lẩm cẩm. 
Vâng, đúng vậy. Không hiểu sao hôm nay, mắc chứng gì mà Nguyễn tôi bỗng dưng cảm thấy một nỗi lòng nostalgia, muốn kể lể chuyện tuổi thơ. Chuyện về con dế, chẳng hạn. Nhưng trước khi nghe kể về những con dế trong ấu thời - và trong cả văn chương - xin mời độc giả trước hết đọc mẩu tin sau đây để xem có xúc cảm gì không nha: Dân nhậu sành điệu rất khoái món dế bởi thịt dế béo như tôm sú, ngọt như thịt cua, vừa thơm ngon, bổ dưỡng lại chữa được nhiều bệnh như đau nhức, tê thấp, béo phì... Giá một con dế trong nhà hàng là 10.000 đồng. 
Dế có thể chế biến được nhiều món như chiên xù, xào lăn, kho tiêu, ram mặn, nướng kẹp bánh mì, lẩu, gỏi... 
Hiện ở TPHCM giá 1kg dế có thể bán tới 250.000 đồng (bán lẻ 10.000 đồng/con). Ở một số nước, dế được coi là món ăn “cao lương mỹ vị” và chỉ dùng để đãi khách quý nên ở Thái Lan, giá 1 kg dế lên tới 40 đô la, ở Mỹ là 60 đô la. Vốn là một loại thức ăn bổ dưỡng, dế rất hấp dẫn du khách Việt kiều, Nhật Bản, Đài Loan, Australia... đến Việt Nam. 
Cũng như bất cứ loài động vật hoang dã nào, dế đã trở thành món đặc sản trong các nhà hàng hay các quán nhậu, nhất là ở TP HCM.” 
Trước hết, trong mẩu tin trên có hai sự kiện cần xét lại: thứ nhất, ông nhà báo trong nước nói thịt dế bổ dưỡng và chữa được nhiều bệnh như đau nhức, tê thấp, béo phì... Có thật không đó cha nội, hay cha tự phịa ra để cổ vũ việc ăn thịt dế? Thứ hai: Căn cứ vào đâu cha dám nói ở Mỹ 1 ký dế bán được 60 đô la? Nguyễn này ở đây đã hơn mười năm chưa nghe nói nhà hàng Mỹ nào bán thịt dế. Không hiểu bạn đọc thân mến đọc xong bản tin có suy nghĩ gì, chứ riêng Nguyễn tôi rất lấy làm phẫn uất. Trời, hết thứ nhậu rồi sao mấy cha nội ở Việt Nam bây giờ lại nhậu thịt dế đến trở thành phong trào. Trong lúc ăn nhậu như thế không biết có bao giờ mấy cha nhớ tới tuổi thơ của mình từng làm bạn với dế không? Chắc các cha - đặc biệt những khứa trên 50 - đã có lần thuộc nằm lòng câu hát trong bài Thằng Cuội của Lê Thương: Có con dế mèn suốt trong đêm khuya hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ... Và nếu có chút ít sách vở trong đầu, chắc mấy cha cũng biết một cuốn truyện từng làm tuổi nhỏ say mê - cuốn Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài. Vậy thì mấy cha nỡ nào ăn thịt những con dế dễ thương và tội nghiệp ấy. Trong thơ Hà Huyền Chi nghe nói cũng có tả thịt dế béo ngậy: “Nghe tiếng dế cơm gáy rền ru giấc ngủ. Tưởng đến những con dế đại tướng quân mập ú. Đen bóng, nâu hồng. (Ngắt đi cái đầu, láng cóng. Nhét vào hột đậu phọng. Đem chiên.) Hạnh phúc đến hồn nhiên. Tiếng dế gáy ròn tan… béo ngậy. Ôi chu choa, thơ của Hà Huyền Chi thì hay lắm, thế nhưng mấy câu tả thịt dế béo ngậy và tỏ ra hẩu xực như trên, thì ngu si quê mùa như Nguyễn tôi đây không thể chịu được. Bèn phải bày tỏ lập trường ra vậy, họa may còn có ai ngây thơ khờ dại cùng chia sẻ chăng. Kẻo oan hồn những con dế không thể nào siêu thoát. Mới đây, lại tình cờ thấy trên một website quảng cáo món dế đóng hộp, sản xuất đâu bên Đông Âu, với hình hai con dế trên nhãn hiệu. Ô hô ai tai, đúng là kiếp nạn, Nguyễn này đến phải làm một bài ai điếu cho loài dế thôi. Nhưng dẫu cho thế giới này có điên đảo đến đâu, Nguyễn vẫn thành thực nghĩ rằng con dế cũng như chú ve sầu là những sinh vật quá chừng dễ thương và vô tội, chỉ biết ca hát làm vui cuộc đời - cũng như các nhà nghệ sĩ ấy mà - vậy nỡ nào đem làm thức ăn, đồ nhắm cho được.

Bây giờ lại xin viết tiếp về những con dế. Như đã nói ở trên, trong tuổi thơ của mỗi người đều có hình ảnh con dế. Ở những xứ châu Á gió mùa, và cả ở châu Âu châu Mỹ, e cũng vậy thôi. Còn nhớ hồi ở Trung Học kẻ này có đọc một đoạn văn của Charles Dickens - không nhớ trích ở sách nào - viết rất hay về những chú dế crickets bu lại dưới ánh đèn khuya. Mới đây, một bà mẹ ở Mỹ, nói về tuổi thơ của con trai mình cũng nhắc tới những con dế. Như vậy, dế có mặt khắp nơi, tham dự vào những tuổi thơ hạnh phúc cũng như tủi cực. Như bao trẻ khác, tuổi thơ của Cu tôi nơi sằng dã cũng đã từng bắt dế, nuôi dế, say mê nghe dế gáy... Muốn bắt dế phải lần theo tiếng dế gáy. Có thể dế nằm dưới một tấm bửng trong vườn cỏ mọc đầy, chỉ cần lật lên là tóm được vài ba chú. Nhưng thường dế ở trong hang và cất tiếng gáy re re, nhất là trong những đêm trăng. Trường hợp này, phải lấy lon múc đầy nước đổ vào lỗ, thế là dế ta ngộp thở trồi đầu lên, cứ việc tóm lấy râu là bắt được. Dế ăn cỏ. Nguyễn bắt về cho vào hộp diêm nuôi để đêm nghe nó gáy. Nghe chán, dăm ba ngày, thả dế ra lại. Các con của Nguyễn hồi còn bé xíu cũng rất thích chơi dế. Vườn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ Đà Lạt chỉ toàn đất sỏi và gốc thông, ít cỏ nên không có dế. Vợ Nguyễn phải ra chợ mua dế về cho hai chú con chơi. Hai đứa như hai hòn bi, suốt ngày làm bạn với dế, cho dế ăn, cho uống nước. Mặt hai đứa cứ đỏ gay, hết bứt sợi tóc này đến sợi tóc khác, buộc vào dế rồi quay để cho dế hăng tiết đá nhau. Mỗi đứa có ít ra là mươi con. Đêm trong phòng ngủ dế gáy ran khiến đôi lúc bực mình, Nguyễn tính đem liệng hết nhưng nghĩ tội nghiệp cho hai chú nhóc bèn ráng chịu trận. 
Hình ảnh của dế chính là hình ảnh tuổi thơ mà ai cũng trìu mến. Chính vì lẽ đó, các thi sĩ và nhà văn viết rất nhiều về dế bằng những lời thật đẹp. Đối với trí óc bất bình thường của kẻ này, thi sĩ nào không có đôi câu về dế về ve thì chưa phải là thi sĩ chân chính, đích thực. Tiếng dế thường vui, cùng với những kỷ niệm ấu thời - Đây rồi chú dế giang hồ ấy/ Vẫn hát say sưa dưới cỏ buồn/ Nghe tiếng chân người chợt nín lặng... (Tô Thùy Yên). Dẫu vậy, tiếng dế cũng thường đượm buồn do ở hoàn cảnh con người. Ôn Như Hầu viết: Đâu ngờ tiếng dế than ri rỉ/ Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng... Nguyễn Khuyến tả cảnh đêm mùa hạ cũng có tiếng dế kêu thiết tha. Các thi sĩ thời nay viết về dế như một lời tự tình bi thảm. Con dế mèn tự tử giữa đêm sương... (Du Tử Lê). Nguyễn này, hồi mới đi cải tạo về, đói rách và tuyệt vọng, nghe tiếng dế từ trong vườn xưa như một nỗi niềm ai oán: cháy trong vườn lãng quên/ chiều nghiêng đốm lửa/ người tù xa lâu năm trở về/ bên mái nhà và bờ ao/ mùa thu tàn ố/ khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên/ nấm mộ đá ong/ dế khóc... 
Chuyện lảm nhảm về dế xin được kết thúc bằng bài thơ của Barbara Trần. Sinh năm 1968 tại New York, Barbara Trần nhận văn bằng Cao học Nghệ thuật tại đại học Columbia. Cùng với Monique Trương, D.Trương và Lưu Trường Khôi, Barbara từng là đồng chủ biên của tuyển tập Ngấn Nước, gồm thơ văn của người Mỹ gốc Việt. Nguyễn tôi rất thích bài thơ Con Dế của cô. Con dế ở đây không là biểu tượng của tuổi thơ, mà là thực tại của cuộc ân ái giữa Barbara và chồng. Ôi, sao tình thế. Riêng Nguyễn này chỉ muốn được cùng ai như con dế nọ trên cánh đồng cỏ xanh: 
Đêm tôi nằm 
dụi người vào chồng 
hy vọng trốn chạy chính mình 
gắn chặt thân thể chàng 
như thể khi mơ 
chàng có thể nghĩ rằng tôi 
như con dế 
trên lá cỏ 
của mảng lưng chàng. 
Dế và cỏ cùng 
đu đưa 
trong gió, 
nhẹ như hơi thở, 
chúng tìm ra một vùng đất. 
Tôi bỗng thấy mình cô độc 
trên cánh đồng này. 
Chú thích khi xem lại bài: Từ “con dế” dùng để chỉ nhiều thứ lắm. Hồi ở trại tù, thiếu thuốc, thèm quá nhiều anh em đã phải đi nhặt tàn thuốc hút lại, gọi là nhặt dế. Gần đây, ở Việt Nam trong đám sinh viên cũng có danh từ con dế. Thí dụ: Hình như con dế của cô (không phải dế của anh?) đang gáy. Đố các bạn biết nó là cái gì? Cái cell phone đấy. Ngoài ra từ “dế” cũng dùng chỉ một thứ khác nữa. Nhưng Nguyễn này chẳng dám nói ra đây. Mắc cỡ lắm! 
The House of The Rising Sun, nơi thanh xuân nghèo khổ của tôi bị hủy hoại 

Có một ngôi nhà như thế 
ở New Orleans 
tên gọi 
The House of the rising Sun 
nơi thanh xuân. của bao chàng trai. cô gái 
bị hủy hoại 
và bao nhiêu dòng lệ 
đã rơi 
New Orleans... 
Đây là vùng đất đã trở thành quen thuộc đối với Nguyễn nhưng dường như vẫn còn nhiều điều ẩn giấu trong lớp sương mù của đầm lầy và gió biển, Nhớ ngày nào Nguyễn đã viết về căn lều trên sóng của anh chàng da đen có tên là Larry và tiếng đàn guitar của Johnny bên bờ rào gỗ trong một buổi trưa vàng. Rồi cây cầu cao bắc ngang sông Mississippi ở Baton Rouge nơi một buổi chiều Nguyễn nhìn thấy trăng lên lồng lộng như khuôn mặt ai ngời trên sóng nước. Và cây cầu Pontchartrain dài mút mắt với cánh hải âu bay vút vào chân trời. Rồi ngôi chợ chồm hổm của đồng bào người Việt ly hương và cà phê Chiều Tím ngày nào cùng quán rượu giang hồ của vợ chồng Việt Nguyễn trên đường Bourbon trong khu Pháp Cổ - French Quarter. Nhiều, nhiều nữa, trong đó có bức tượng di dân đứng bên con đường dạo chơi moonwalk và tiếng kèn trumpet của người nhạc sĩ da màu trên quai de brume (cầu sương mù)... Và tất nhiên, phải có quán Café du Monde. 
New Orleans... 
Còn nữa những điều ẩn bóng. Và hôm nay, Nguyễn xin viết về một nơi gọi là “The House of the Rising Sun”, cũng ở New Orleans. 
The House of the Rising Sun (Ngôi Nhà Mặt Trời Mọc)... 
Tên gọi này, Nguyễn đã được nghe ở đâu đó, trên sách báo hay trong một buổi nói chuyện với bạn bè. Và biết nó là tựa đề một bài hát. Nguyễn cũng được đọc cụm từ này trong một cuốn truyện của Trường Sơn Lê Xuân Nhị (không nhớ tên truyện) nói về giới giang hồ ở bến cảng New Orleans và một nhà tù ở đây. Một lần, ngồi ở Café du Monde trong khu French Quarter ở New Orleans, tình cờ một người hát rong da đen với cây đàn guitar cũ đứng ngay trước quán cất giọng đau đớn hát: There is a house in New Orleans/ They call the Rising Sun… Từ đó, Nguyễn bị ca khúc kỳ lạ này ám ảnh. Một dịp, cùng hiền nội đi nghe nhạc blues và Jazz ở tiệm Swan Court trong vùng Richardson Dallas, Nguyễn đã yêu cầu ban nhạc chơi “The House of The Rising Sun”. Trong hơi rượu ngà ngà, Nguyễn ngồi lắc lư thả hồn theo điệu nhạc, mơ tới những cảng sương mù và vùng đầm lầy mịt mịt của New Orleans. Và tháng 6. 2009, ở một sân khấu nhỏ ấm cúng ngay trên con tàu Carnival đi trong vùng biển vịnh Mexico, trong một chương trình đặc sắc về New Orleans, các ca nhân nghệ sĩ vũ công đã trình diễn một vở nhạc kịch tuyệt vời tên “The House of The Rising Sun”. Diễn viên ca sĩ ăn mặc kiểu truyền thống của các quán rượu giang hồ nơi bến cảng, hát múa theo tiếng đàn piano và tiếng kèn kêu khóc trên một bối cảnh là nhà tù với song sắt và mái ngói xám nâu. Chưa bao giờ Nguyễn được xem một buổi diễn chuyên nghiệp và nghệ thuật lộng lầy đến như thế. 
Và mới đây, hồi tưởng lại những năm tháng đầy bóng ảnh đã qua, một buổi trưa ui ui, mở máy ngồi nghe ban nhạc The Animals hát The House of The Rising Sun, lòng Nguyễn rưng rưng muốn khóc. Ôi, tiếng đàn thùng rải trên tiếng organ ngân lên rời rã. Một giọng hát rất mâle, rất đàn ông, quánh đặc nỗi đau, than thở về những mảnh đời trẻ tuổi tan nát ở New Orleans, trong The House of The Rising Sun. Ôi, The House of the rising Sun/ Nơi tuổi thanh xuân nghèo khổ của tôi bị hủy hoại/ Mẹ tôi làm thợ may/ Cha tôi là gã cờ bạc/ Ở nơi đó, vùng New Orleans/ Mẹ ơi, hãy nói với các con của mẹ/ Đừng bao giờ làm những điều như con/ trong tội lỗi và nghèo khó/ Ở ngôi nhà mặt trời mọc The House of the Rising Sun... 
Vâng, một chân trên thềm ga/ Một chân trên con tàu/ Tôi đang về lại New Orleans/ để tra chân vào xiềng xích 
There is a house in New Orleans 
They call the Rising Sun 
And it’s been the ruin of many a poor boy 
And God I know I’m one 
My mother was a tailor 
She sewed my new bluejeans 
My father was a gamblin’ man 
Down in New Orleans... 
Oh mother tell your children 
Not to do what I have done 
Spend your lives in sin and misery 
In the House of the Rising Sun 
Well, I got one foot on the platform 
The other foot on the train 
I’m goin’ back to New Orleans 
To wear that ball and chain 

Theo Wikipedia, the free encyclopedia, “The House of the Rising Sun” là một bài hát dân gian của Hoa Kỳ. Bài hát cũng có tên “House of the Rising Sun” hoặc “Rising Sun Blues”, kể về một cuộc đời tan nát ở New Orleans. Ca từ hay nhất, thành công nhất (trích dẫn ở trên) là của ban nhạc rock The Animals thâu năm 1964. Bài hát một thời đã vào hàng top hit ở Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển và Canada. 
Vậy nguồn gốc của The House of The Rising Sun như thế nào? Giống như những bài hát rong (ballads) cổ điển, The House of The Rising Sun có một nguồn gốc rất mơ hồ về người sáng tạo ra nó. Một vài nhà nhạc học cho rằng bài hát này dựa trên truyền thống của những bài ballads trên hè phố cũng như bài Unfortunate Rate của thế kỷ 18 được những di dân đầu tiên đưa vào Mỹ. Rồi truyền thống của nhạc blues trộn lẫn vào, trong đó người ca nhân kể lại một câu chuyện buồn và nó đã có hiệu quả trị liệu những thương tích của tâm hồn. Alan Price của The Animals thì nhận định rằng ca khúc này có nguồn gốc từ một bài dân ca của Anh nói về nhà thổ Soho (ở Westminster, London - Anh), và những di dân gốc Anh đã đem The House of The Rising Sun vào nước Mỹ, tại đây nó được phóng tác trên cái nền của cảnh quan vùng New Orleans. 
Ca khúc The House of The Rising Sun có nguy cơ chìm vào bóng tối lãng quên nếu nó không được Alan Lomax giữ lại trong bộ sưu tập về Âm Nhạc Dân Gian Mỹ cho thư viện The Library of Congress năm 1932. Trong một chuyến đi cùng với vợ về miền đông Kentucky, Lomax ngồi tại ngôi nhà của một người bạn là ca sĩ, đã cho thâu ca khúc The House of The Rising Sun với giọng ca của Georgia Turner vào ngày 15 tháng 9. 1937. Lomax, trong cuốn “Our Singing Country” (1941), xác định ca từ bài hát là của Turner. Tiếp theo, ở những năm 1950 và 1960, nhiều ca sĩ đã hát và cho thu âm ca khúc “The House of The Rising Sun” - trong số đó có Frankie Laine, Bob Dylan, Joan Baez… 
Mới đây, trong một đêm chờ cơn giông tới, Nguyễn đã mở nghe Eric Burdon của The Animals, Bob Dylan và Joan Baez hát The House of The Rising Sun. Trong ba ca sĩ trên, Eric Burdon hát tới nhất và phê nhất, ca từ của The Animals, theo Nguyễn nghĩ, hay và thích hợp hơn cả (đã dẫn trên). Nhân vật chính trong ca từ là một chàng trai nghèo khổ, có người mẹ làm thợ may và người cha cờ bạc, đã để cuộc đời tàn trong The House of The Rising Sun. Trong ca từ của Bob Dylan, nhân vật chính là một cô gái, có mẹ làm thợ may và người yêu là gã cờ bạc say sưa ở các quán rượu. Tữ đó, đời cô vỡ nát. Và cô nhắn lại cô em nhỏ đừng làm như cô và hãy tránh xa Ngôi Nhà Mặt Trời Mọc. 
Vậy, Ngôi Nhà Mặt Trời Mọc có thật không và ở đâu? Cụm từ The House of The Rising Sun thường được hiểu là ẩn ngữ để chỉ một nhà thổ nhưng người ta không được biết có một ngôi nhà như được mô tả trong bài hát hay không, hay đó là hư cấu. Một lập luận khác giả dụ có một cô gái giết cha là một tay cờ bạc hút xách đã đánh đập mẹ mình. Do đó Ngôi Nhà Mặt Trời Mọc có thể là một nhà tù. Và vì ca khúc này thường được giọng nữ hát nên Ngôi Nhà… là nơi các gái điếm được tạm giữ để chữa bệnh lậu! 
Mặt khác, có hai tài liệu có tính cách lịch sử cho rằng cụm từ The Rising Sun đã được tìm thấy trong cuốn niên giám thời xưa. Tài liệu thứ nhất nói đến một khách sạn chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn trên đường Conti Street ở Khu Pháp Cổ vào những năm 1820. Khách sạn này đã bị cháy rụi vào năm 1822. Một cuộc khai quật và những tài liệu tìm được vào đầu năm 2005, gồm một quảng cáo chỉ dấu đây là một nhà thổ với nhiều ống son và mỹ phẩm được tìm thấy chung quanh - tất cả là bằng chứng hỗ trợ cho lập luận về sự có mặt của một lữ quán giang hồ mang tên The House of The Rising Sun. Tài lệu thứ hai nói về một tòa nhà mang tên Rising Sun Hall ở ở trên bờ nước của khu Carrollton có vẻ là một Hội Quán Vui Chơi (Pleasure Club), tuy nhiên không nghe nói đến bài bạc hay đĩ điếm. Một lập luận khác nữa cho rằng The House có thật vào giữa những năm 1862 và 1874, do một phụ nữ Pháp thường được gọi là Madam Marianne Le Soleil Levant điều hành. Từ “Le Soleil Levant” có nghĩa là Mặt Trời Mọc. Ngôi Nhà được ghi nhận là ở 1614 Đại Lộ Espalanade, New Orleans. Và cũng có thể The House of The Rising Sun được dùng với gợi ý những trại nô lệ trong đồn điền, hoặc chính những đồn điền này từng là đề tài cho những bài blues truyền thống. Nhạc sĩ Dave van Ronk trong tự truyện nói rằng đã nhìn thấy tấm hình của một Trại Giam Phụ Nữ ở New Orleans, lối vào trại tù này có vẽ hình một mặt trời mọc. Phải chăng vì vậy nhà tù được mang tên The House of The Rising Sun? 
Như vậy, The House of The Rising Sun có thể là một nhà tù. Hay một lữ quán của sòng bài, rượu và gái. Ở ngay giữa 90 taûn maïn beân taùch caø pheâ lòng New Orleans. Mà cũng có thể đó là một địa danh tưởng tượng nào đó mang vẻ đẹp tàn khốc. Điều thực nhất trong bài ca là tuổi trẻ nghèo khổ bị hủy hoại vì ánh phù hoa và những lỗi lầm. Nỗi đau khổ ở đây là có thực. Cho nên nó đã gợi lên trong Nguyễn lòng thương cảm. Xin cảm ơn các nhạc sĩ ca sĩ và New Orleans đã đặt The House of The Rising Sun trong tâm cảm con người. Cảm ơn… 
(theo Wikipedia)  

Đêm cuối năm, 
ngồi chờ nghe đôi khúc hát 
Tiệc đã tàn 
những ngọn nến đã tắt 
giờ đây. chỉ còn anh với em 
trên đường khuya 
những bước chân lang thang 
kìa. rạng đông màu xám. đã lên 
ở phía chân trời 
Những câu trên là thơ của tôi viết, từ lời ca của ban Abba, với chút tưởng tượng riêng, theo bài Happy New Year. Khúc thơ viết đã lâu, bây giờ nghe lại vẫn còn bâng khuâng, nghĩ ngợi. 
Vâng. Cứ tưởng tuợng tiệc đã tàn. Bình minh màu xám đục bắt đầu. Cả anh và em đều cảm thấy chút gì hoang vắng. Nhưng không giống ngày hôm qua đâu - hiện tại lúc này chính là thời khắc để chúng ta cùng chúc nhau Happy New Year! Happy New Year! Và có lẽ chúng ta có trong trí tưởng một viễn ảnh nào đó về một thế giới mà mọi người đều là bạn của nhau. Và có lẽ chúng ta có cả những hy vọng, ước nguyền để thực hiện. Nếu không như thế, ta sẽ ngã xuống và từ giã thế giới này thôi, cả anh và em! 
Nguyễn nhân dịp này cũng muốn mượn những lời trên của ban nhạc Abba để gởi đến bạn bè, bên này và bên kia biển rộng, lời cầu chúc Happy New Year - một năm mới thật tốt lành. Phải chăng, hỡi bạn nhỏ thân yêu, chúng ta trong đời viết lách, đã có lúc mơ ước rằng mỗi ông hàng xóm đều là bạn của mình (every neighbor is our friend). Lúc bấy giờ sẽ không còn ngăn cách, hận thù, không còn chiến tranh và những trại tập trung. Vậy đó, nhưng một thế giới như thế bao giờ sẽ đến, và liệu nó có trên trái đất này không. Dẫu sao thì ta vẫn có quyền ước mơ, phải không bạn nhỏ? 
A, Nguyễn quả đã để cho trí tưởng của mình đi qua nhiều ngã đường, trong đêm xám và ánh ngày rạng dần. Bài Happy New Year với âm nhạc và tiếng hát của ban ABBA đạ chắp cánh bay trên khắp bầu trời. Bây giờ, xin nói tới bài hát Auld Lang Syne sắp vang lên trên quảng trường Times Square. Vừa mới đêm qua đây thôi, Nguyễn mở Youtube nghe lại bài hát trong Waterloo Bridge tức La Valse Dans L’Ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ). Đó là thời gian giữa hai cuộc Thế Chiến, Roy Cronin (Robert Taylor) và Myra Lester (Vivien Leigh) gặp nhau và yêu nhau. Họ trải qua những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi trong âm vang của của ca khúc “Auld Lang Syne” với tiếng đàn violon. Từng ngọn nến tắt. Và cuối cùng cái hôn bắc cầu cho tình yêu. Nhưng hỡi ôi, tình yêu đã chết bên cầu Waterloo chỉ còn điệu nhạc đêm nào. 
Trong đêm New Year’s Eve sắp tới đây, như thông lệ tại quảng trường Times Square ở Nữu Ước, hằng triệu trái tim người sẽ náo nức, hân hoan và cảm động nhìn trái cầu từ từ rơi xuống và đồng hồ điểm mười hai giờ, để được cùng nhau hát lại bài ca “Auld Lang Syne” của tình bạn ngày xưa thân ái. “Này bạn ơi, liệu ta có thể nào quên đi những thân tình cũ, và không bao giờ hồi tưởng lại nữa? Không đâu, bạn nhỉ, thời gian trôi qua (và dẫu cho giữa chúng ta là biển lãng quên sóng gào), nhưng chúng ta hãy cùng nâng ly cho tình thân ái ngày xưa.” Đại ý lời của bài Auld Lang Syne là như vậy, về sau người ta còn đặt thêm nhiều lời nữa để diễn tả với nhiều ảnh tượng hơn về những tình thân ái của một thời được gọi “The Old Good Time”. Chẳng hạn, ca từ nhắc lại thời bạn bè chạy chơi trên các ngọn đồi và hái những bông cúc trắng cũng như bơi thuyền trên sông hồ từ sáng cho tới chiều hôm. Vậy mà giờ đây xa cách ngàn trùng, nhưng thế nào rồi cũng có lúc bạn bè hội ngộ, nếu không trong thực tại thì cũng trong ý nghĩ tưởng nhớ. 
“Auld Lang Syne” nguyên gốc là một bài hát rong Tô Cách Lan (Scots Ballad), ca từ được đặt ra khoảng năm 1677. Về sau, thi sĩ Robert Burns của xứ Tô Cách Lan nhuận sắc lại và ông đã gửi một bản cho Bảo Tàng viện Anh quốc với lời ghi chú: “Bài hát sau đây nguyên là một ca khúc xưa chưa bao giờ được in ra dù dưới dạng bản thảo...” Và cứ như thế, bài hát được truyền đi khắp mọi nơi trên thế giới. Theo tập tục của Tô Cách lan, “Auld Lang Syne” được hát lên trong đêm New Year’s Eve. Ở Bồ Đào Nha, và ở VN trước 1975, nó được hát lúc chia tay, đặc biệt trong phong trào Hướng Đạo Sinh. Ở Đài Loan, sinh viên tốt nghiệp ra trường cùng nâng ly rượu mừng hát “Auld Lang Syne”, và ở một vài nơi người ta cũng hát nó lúc cử hành tang lễ. Riêng tại Mỹ, ca khúc “Auld Lang Syne” từ lâu đã là ca khúc được hát lên trong đêm New Year’s Eve, đêm giao thừa giã từ năm cũ đón mừng năm mới. Điều này đã trở thành truyền thống. Khởi đầu là do một nhạc sĩ gốc Tô Cách Lan tên là Guy Lombardo, cho rằng bài ấy hợp với Giao Thừa, là thời điểm để người ta nhìn lại thời gian qua, tìm thời gian đã mất, nên ông soạn lại bài hát và năm 1929 thì có dịp trình tấu trong Đêm New Year’s Eve tại New York. Từ đó, “Auld lang syne” trở thành “bài ca của đêm New Year’s Eve”, gợi lên trong lòng hàng triệu người tâm trạng buồn vui lẫn lộn. 
Và bạn nhỏ ơi, trong đêm New Year’s Eve này, bạn hãy nhìn vầng trăng xanh huyền hoặc và nghe lại bài Auld Lang Syne, để cảm nhận thân tình ấm áp từ phương xa này gởi tới.
Tháng Tư 2012
Nguyễn Xuân Thiệp
Theo http://www.vietnamvanhien.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...