Những cơn mưa phùn Sáng nay, mưa phùn ở Dallas. Mưa thật nhẹ, dưới bầu trời mây thấp. Mưa phùn bay chứ không rơi. Bay qua những mái nhà, những hàng cây khô, bay qua những niềm vui nỗi buồn của đời người. Mình đã gặp mưa phùn ở đâu nhỉ? Trong thơ đường hay trong những tạp văn của Lỗ Tấn? Hay trong các tiểu thuyết, truyện ngắn của Tự Lực Văn Đoàn. Đúng rồi. Nhưng mình còn gặp nó trong đời này nữa.
Lần đầu tiên được nhìn thấy mưa phùn là ở Huế. Vào độ giêng, hai. Mưa phùn trên những mái tranh, những cây rơm, những ngọn sầu đông. Trời rét căm căm. Trong nhà, bà cô và mẹ và bà, mỗi người có một cái “lồng ấp” đốt lên, ôm vào lòng sưởi ấm. Lồng ấp là chiếc lồng đan bằng tre, ở trong để một cái trách đất nhỏ đựng than, trời lạnh đốt than lên thế là tha hồ ấm. Hồi ấy làm gì có lò sưởi, có hít (heat) như bên nay bây giờ. Điều khá lạ là ở Mỹ, ngay tại tiểu bang Florida, cũng có người dùng lồng ấp. Đó là họa sĩ/ nhà văn Võ Đình. Chị vợ anh Trần Long Hồ ở DC kể cho Nguyễn nghe câu chuyện sau đây: Hai vợ chồng tới thăm Võ Đình, gặp mùa đông mà trong nhà lại không mở hít, lạnh muốn chết nhưng thấy Võ Đình vẫn ung dung: thì ra họa sĩ đã ôm một cái lồng ấp cháy đỏ trong lòng.
A, đi xa đề rồi. Vậy, xin trở lại. Từ giã mưa phùn Huế, Nguyễn vô Sài Gòn. Ở đây không có mưa phùn. Chỉ khi lên Đà Lạt, Nguyễn mới gặp lại những cơn mưa phùn. Những cơn mưa phùn Đà Lạt. Ôi, bao giờ quên được. Mà nhiều người, rất nhiều người cũng không quên. Có thể kể ra đây một vài tên tuổi: Đinh Cường, Khánh Ly, Lê Uyên, Diễm Liên… Còn Bích Hường, cô gái Sài Gòn, từng viết trong blog của mình: Em yêu Sài Gòn, yêu cả màu nắng và tiếng rao hàng trong đêm. Vậy mà khi lên Đà Lạt, gặp cơn mưa phùn ở đây, là em mê. Mưa phùn, hương cà phê và lửa ấm… Riêng Nguyễn này đã từng viết trong Mưa Ở Đây Như Mưa Ở Quê Nhà khi đi qua hồ sen ở Thanh Chương Nghệ Tĩnh trên bước lưu đày:
Những quán cà phê mở cửa dưới mưa phùn
rộn rã áo mưa và nón dạ
ở một vỉa hè. cô đôc. người thợ sửa giày ngồi kể
cuộc phiếm du. và những con đường
ơi cô bé bán ngô. trong khuya. bán cho ta những
bắp ngô. vàng ngon trên ngọn lửa
Đúng như Bích Hường viết, những cơn mưa phùn ở Đà Lạt mang hơi ấm của những ngọn lửa cà phê. Khi đi tù ra miền Bắc, ở trại Cẩm Nhân, Nguyễn lại gặp những cơn mưa phùn. Mưa phùn ở đây chẳng có gì là thơ mộng hay gợi cảm, Nó là nỗi cơ cực thấm vào phận người. Các bạn của Nguyễn từng sống ở trại này hẳn không thể nào quên được. Nó còn bám trong tâm trí mỗi người. Nhớ không, trước mặt trại là ngọn núi cao ngất. Mùa đông các bạn và Nguyễn leo men theo những con đường mòn dốc đứng trơn trượt dưới mưa, vượt qua bên kia núi. Lên tới đỉnh, chúng tôi dừng lại dưới cây đồng thụ ít phút để sưởi. Cây đồng thụ - đã có lần Nguyễn nói đến trong một bài viết- mùa hè và mùa thu, khi gió đến, nó reo lên bài ngợi ca thiên nhiên và quý tiết. Bây giờ, mùa đông, nó đứng im lặng trong mưa. Chẳng thể đứng lâu, vì sau lưng là tiếng quát nạt của bảo vệ. Vậy là đứng lên, tiếp bước và trượt dài xuống chân núi bên kia. Rồi từ chỗ rẫy sắn, mọi người tay cầm dao quắm, vai vác cuốc, tỏa ra cùng mưa phùn. Buổi trưa, sau khi nuốt vào bụng chén cơm độn khoai hay mấy khúc sắn luộc, tu nước trong bình đông mang theo, chúng ta tìm những mô đất, leo lên ngồi như những nấm mộ đá hay những gã chăn cừu thời cựu ước, dưới mưa. Mưa phùn miền Bắc rơi nhẹ như tơ. Thật nhẹ và thật êm. Trong đời, Nguyễn chưa thấy mưa nào như thế. Ở Huế hay Đà Lạt đều không có thứ mưa này. Không tiếng vang, cứ như mơ vậy, mà thấm lạnh tới tim gan. Nó nhẹ nhàng mà cực độc. Tưởng không phải là mưa nữa, chỉ là khói, mà phút chốc đã ướt tóc, ướt vai, hòa vào hơi thở. Ôi những cơn mưa phùn ngày ấy, còn theo nhau cho hết kiếp.
Từ những cơn mưa phùn ấy, tôi đi…
Những trái mận
Những trái mận xưa. màu tím
có còn không. hở em
Những năm ở Đà Lạt, thỉnh thoảng Nguyễn có đi thăm các vườn mận ở Trại Hầm. Tưởng tượng một vùng trắng hoa mận mùa xuân và biếc xanh pha tím vào mùa thu - biếc xanh của lá và tím của trái trên cành. Mận Trại Hầm nổi tiếng là ngon. Thế nhưng, dưới chân đèo Prenn cũng có một vườn mận trái ngon tuyệt vời. Một buổi chiều Nguyễn đưa người yêu tới thăm vườn mận này. Không biết em còn nhớ không những trái mận thơm ngày ấy - những trái mận mới hái từ trên cành xuống còn vương phấn và mùi của lá cây. Cho tới bây giờ anh vẫn còn hình dung thấy bàn tay cầm trái mận tím mọng, đưa lên ngửi. Và rồi hé miệng, những chiếc răng trắng cắn sâu vào trái mận... Ôi chao, ngon quá là ngon! Sẽ không bao giờ nữa ta được ăn những trái mận như thế trong đời. Ở Mỹ cũng có mận (plum), trái thật to nhưng dường như không có được vị ngọt và thơm của mận Đà Lạt. Có phải do lòng tư hương không mà với Nguyễn bất cứ thứ trái cây nào của quê nhà (xoài, chẳng hạn) cũng đều tuyệt vời, không nơi nào bằng.
Nói đến mận, cây mận, Nguyễn có đọc một bài viết rất hay và cảm động của Thái Kim Lan từ bên Đức gửi qua cũng đã khá lâu.
Bài đăng ở Phố Văn số 68. Sau đây là một vài trích đoạn gởi bạn bè ở xa đọc chơi giữa mùa hè này.
“Khi chúng tôi dọn nhà đến vườn này, cây mận đã đứng đó, sau khóm trường xuân (Efeu), mở cửa ra vườn đi mấy bước là đã đến cạnh gốc cây, và chén trà sớm bên hiên thường có bóng nhánh mận gần nhất nghiêng vào lân la gợi chuyện. “Không biết nó đã bao xuân, có vừa bằng tuổi cây mận trẻ trong khu vườn hoang dại của xứ Schwaben xa xôi ấy của miền Đông Nam nước Đức, vào một đêm “trăng xanh tháng chín, dưới gốc mận còn xuân... tôi ôm nàng... như một giấc mơ êm...” của B. Brecht một thời với mối tình đầu? Tôi không muốn nói mận xứ Bayern không tình tứ thơ mộng bằng mận Schwaben. Nhưng về chuyện nói, hát ra thơ, thì hoa mận vườn Obermenzing của xứ Munchen chúng tôi mới chính là đám mây trắng “thiên tải không du du” của cả trời thơ Âu Á.”
Và Thái Kim Lan cho biết cây mận trong vườn là hình ảnh rất đỗi thân quen với người Đức. Nó vương bóng dáng phụ nữ Tây phương dưới mái nhà, trong thiên nhiên. Âm vang “mận” thấp thoáng hình ảnh người phụ nữ Đức vào ra chăm sóc vườn tược với má hồng, môi thắm, nước da trắng mướt, tóc vàng lúa mì, khỏe mạnh, vừa đảm vừa ngoan...
Và đây là những trái mận của Thái Kim Lan: “Những trái mận da tím sẫm ửng đỏ hồng quân chất thịt lẩn trong đám lá xanh lục, bất ngờ như một bức tranh tĩnh vật ai vừa đem ra treo giữa trời làm dịu mắt và lắng xuống những nổi sôi bèo bọt, háo hức phiêu bồng. Tím kề bên xanh, âm vang màu sắc chuyền trong đám lá, bàng hoàng lay hoài niệm, phất phơ áo tím bên bờ sông xanh màu lục thúy một thời nào. Bỗng nhận ra, đã mấy mươi năm trời mình có mắt như mù, mãi đến hôm nay mới thấy và hiểu thấu. Tím nằm bên xanh là âm giai sắc màu của nhịp rung cảm Huế, sâu lắng ái ngại lẫn với bi thương êm ái, tâm tình của mẹ! Nhưng mẹ không làm thơ đâu, ai hoài hơi!” Thái Kim Lan cũng cho biết: Nhờ mẹ, cây mận trong vườn còn đứng đó và đưa chùm lá lẫn với chút trời xanh rung động trong chén nước trà buổi sớm mai... Cô viết: “Này đây... nếu nhớ không lầm, từ đó, cây mận dần dà không còn là cây mận Đức ở vùng Obermenzing xứ Bayern thuần chất. Lúc nào không hay, kể ra đã hơn mấy mươi năm trời, cây mận như lấy vóc dáng của bà cụ có đầu tóc bối với đường rẽ lệch xanh mướt, mỗi sáng là người đầu tiên ra vườn, siêng năng công việc không thua phụ nữ Đức. Chỉ khác, mỗi sáng mai, cái ngẩng nhìn đầu tiên ấy, hình như chỉ có cây mận biết, mong ngóng một điều chi nơi giọt nắng hừng đông trên đọt cây.”
Và dưới mắt Thái Kim Lan, cây mận tuồng như vươn cao lên một chút, để hứng cho được giọt nắng đầu tiên từ phương Đông xa vời vợi ấy đưa vào mắt người có cái cổ trắng thanh tao đang ngóng đợi. Mẹ đã thương cây mận hết lòng... và mận cũng thương...” Nhưng rồi mẹ ra đi về miền mây trắng. Nhớ mẹ, và thương cây mận, Lan ra vườn mỗi sáng.
Vâng, đó là cây mận trong vườn ở Munchen của Thái Kim Lan. Với Nguyễn, chỉ có những cây mận vườn người ở Đà Lạt, dưới chân đèo Prenn. Còn mẹ của Nguyễn, nay cũng ở trên vùng mây trắng miên viễn, thì chỉ có cây chanh trong vườn xưa: Mẹ già tưới cây chanh bên bờ dậu/ để một mai đời ngát lộng hương chanh/ mẹ còng lưng mà trời cao vời vợi/ dẫu một ngày giọt nắng rụng xa cành… Tuyết
Hết mưa phùn rồi tới tuyết.
Những ngày của tháng hai này tuyết phủ trắng khắp miền Đông và Đông Bắc nước Mỹ. Những mái nhà, những con đường và hàng cây chìm trong tuyết. Tuyết cũng rơi ở Garland, Texas. Trong cảnh tuyết phủ mênh mông ấy, người ta mơ tới những ngọn nến trắng được thắp lên và tỏa ấm như trong thơ của Pasternak. Cũng như nó được thắp lên một đêm tuyết rơi trong câu chuyện của nhà văn Nga nổi tiếng Konstantin Paustovsky Nguyễn kể lại sau đây. Xin được xem nó như ngọn nến nhỏ trao đến anh em bạn bè trong những đêm mùa đông giá buốt này.
Trong Thế Chiến II, một phụ nữ trẻ người Moscow tên là Tatyana Petrovna cùng với con gái Varvara, tản cư về một thành phố nhỏ và ngụ tại nhà một người đàn ông già tên Potapov. Một tháng sau khi Tatyana đến, ông Potavov qua đời.
Lúc đầu cô không ưa cái thị trấn này, và cảm thấy hối tiếc rằng đã rời bỏ nhà hát ở Moscow để về đây. Nhất là vào những sáng những chiều, khi thời tiết xấu, lũ quạ kêu quang quác, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trụi lá. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, cô dần quen với ngọn đồi bạch dương và dòng sông uốn lượn bên đồi. Cô cũng đã bắt đầu đi trình diễn ở các trạm quân y trong vùng. Cuối cùng thì cô đâm ra thích cái thị trấn nhỏ bé và êm đềm này, nhất là khi tuyết phủ. Và cô bắt đầu quen sống trong ngôi nhà của một người lạ với những đồ vật lạ. Potapov có một người con trai hiện đang phục vụ trên một chiến hạm trong vùng Hắc Hải. Tatyana ngắm nhìn tấm ảnh của anh treo trên tường, cảm thấy đã gặp chàng trai này ở đâu, dường như đã lâu lắm trước cuộc hôn nhân thất bại của cô, nhưng cô không thể nào nhớ ra được.
Những bức thư tiếp tục gởi về cho Potapov, tất cả đều cùng một người viết. Tatyana xếp những cái thư ấy trên bàn viết của gia chủ. Một đêm, khi trời đổ tuyết, Tatyana không thể nào ngủ được. Tò mò, cô mở một cái thư ra xem. Người con trai của Potapov là Nikolai cho biết rằng anh vừa hồi phục sức khỏe trong bệnh viện sau khi bị thương nhẹ. Anh ta hy vọng rằng khi rời khỏi bệnh viện anh sẽ có thể xin nghỉ phép về thăm cha già. Người con hình dung ra cảnh vật lúc anh trở về: Tuyết rơi trên những con đường đi tới vườn cây chỗ đình phong ngày nào sẽ được dọn sạch, chiếc đàn dương cầm cũ xưa sẽ được lên dây lại, và trên mặt đàn vẫn còn bản nhạc lúc anh rời nhà ra đi -đó là khúc mở đầu (overture) của tác phẩm “The Queen of the Spades” của Tchaikovsky, và những ngọn nến cháy dở vẫn còn trong giá nến. Anh ta còn tỏ ý thắc mắc không biết cái chuông treo trên cửa có còn ngân vang như ngày xưa.
Tatyana cảm nhận được rằng một ngày nào đó người con sẽ trở về. Thật là khó cho anh ta khi thấy rằng những người ở trong ngôi nhà và mọi vật không còn như anh mong đợi. Tuy vậy, sáng hôm sau Tatyana cũng ra dọn sạch tuyết trên lối đi tới vườn cây. Cô cũng sửa lại cái chuông treo ở cửa và mướn người đến lên dây đàn. Cô tìm lại những mẩu nến cháy dở và đem cắm vào giá nến. Varvara nhìn mẹ lăng xăng làm việc, lấy làm ngạc nhiên lắm.
Và rồi Nikholai được xuất viện. Anh đã về đến ga xe lửa, mong gặp lại cha mình. Anh chỉ có thể ở lại nhà 24 tiếng đồng hồ. Và anh buồn biết mấy khi người trưởng ga báo cho anh biết cha anh đã qua đời. Nikholai dạo bước lang thang, nhưng không có ý định về thăm lại ngôi nhà của cha mình. Anh chỉ đến thăm lại vườn cây và cái đình phong ngày xưa nơi lối đi đã được dọn sạch. Đang đứng trầm tư trong tuyết thì một thiếu phụ trẻ bước đến - đó là Tatyana. Cô thân ái mời anh vào nhà.
Trong nhà, chuông cửa vẫn hoạt động, những ngọn nến và cây đàn dương cầm vẫn ở đó - mọi vật trước mắt đúng như anh tưởng tượng. Nikholai cùng ngồi dùng trà với Tatyana. Cô nói dường như cô đã có gặp anh ở đâu đó một lần.
Đêm hôm ấy, Nikholai nằm ở sopha không chợp mắt. Anh cố thức tận hưởng từng phút giây trong ngôi nhà xưa.
Sáng hôm sau, Tatyana đưa anh ra ga xe lửa. Trước khi anh bước lên tàu, cô bảo anh là hãy viết thư về. Sau cùng, cô nói, cô và anh đã là người một nhà.
Vài hôm sau, Tatyana nhận được thư của Nikholai. Anh nói anh nhớ ra rồi nơi họ đã gặp nhau. Đó là vào năm 1929, trên vùng Crimea. Hôm ấy, Nikholai đang đi dạo trong công viên. Gần đó, một thiếu nữ đang ngồi trên ghế đá với cuốn sách trên tay. Cô đứng dậy và đi ngang qua mặt anh. Anh dừng lại, nhìn theo cô, nghĩ rằng cô sẽ là người thay đổi cuộc đời anh và mang đến cho anh niềm hạnh phúc tuyệt vời. Anh có cảm tưởng số mệnh đã đưa cô đến với anh, nhưng hồi ấy cô không theo anh. Và số mệnh một lần nữa lại mang cô, ôi Tatyana, về lại với anh. Và nếu quả cô cần có anh thì anh nguyện sẽ hiến dâng cuộc đời anh cho cô.
Tatyana gấp bức thư lại đặt xuống bàn và cô tự nghĩ: Mình chưa bao giờ sống ở Crimea. Nhưng điều đó có quan trọng gì đâu?
(theo Konstantin Paustovsky)
Tháng 2. 2011
Bên biển Destin, đọc chơi vài trang văn Võ Đình
Mùa hè năm 2010, Nguyễn, cùng với gia đình, về chơi vùng biển Destin, Florida. Đứng trên khách sạn nhìn ra, lại nhớ đến mấy câu thơ đã viết hồi năm rồi khi có Nguyên Nhi, Phạm Chi Lan, Nhật Hoàng, Đinh Yên Thảo ngồi uống rượu ở balcon, ngắm pháo bông đêm July 4 bay sáng ngời mặt biển. Ấy là thời gian tiền Thế Vận Hội Mùa Hè Bắc Kinh.
Chiều
destin
nghe chim biển kêu
và mưa rơi
mưa. rơi
trên ngọn trúc đào
ảo ảnh. ôi cánh buồm lermentov
ngoài khơi xa
tìm bình yên trong bão tố
và đêm
đêm
anh nhìn pháo bông. rực sáng. đầy trời
thấy vạn lý trường thành trong mây
thấy thiên an môn. gạch. và máu
thấy con đường tơ lụa
thấy em là cánh chim bay ngang
Trở lại Destin lần này, chỉ có gia đình, không có bằng hữu. Vẫn bờ cát trắng và nước biển xanh màu emerald ngọc bích. Vẫn con đường bờ biển với hoa trúc đào nở đỏ màu áo ai trong chiều. Vẫn những con diều giấy của trẻ bay lượn dưới trời. Và cánh buồm màu trắng ngoài khơi, xa. Và chim biển mà cháu Nguyệt Quỳnh cứ nhất định cãi với ông là chim nhà.
Trở lại Destin lần này, đặc biệt Nguyễn tôi có mang theo hai cuốn sách của Võ Đình. Lầu Xép với lời ký tặng của tác giả và Huyệt Tuyết. Ôi, Võ Đình vừa mới ra đi! Nguyễn này với anh vốn là đồng hương. Có quen biết nhau nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Chị Trần Thị Lai Hồng - vợ của Võ Đình - cùng học ở Quốc Học ngày xưa, trên Nguyễn hai, ba lớp. Nhớ hồi năm 1999 đến Orlando, Florida để giới thiệu tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa vừa ấn hành, có hẹn với Võ Đình sẽ đến thăm anh chị, và Triều Hoa Đại đã hứa chở đi. Võ Đình nói sẽ cho ăn những món đặc biệt “cây nhà lá vườn”. Nhưng rồi Triều Hoa Đại ngại đường xa không đưa tới, làm anh Võ Đình giận cành hông. Không tới thăm Võ Đình được, Nguyễn tôi lấy làm tiếc lắm. Bây giờ anh không còn nữa, nhìn mây biển lớp lớp xây thành, lòng không khỏi chạnh buồn.
Dẫu không được như Đinh Cường, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc thường xuyên lui tới viếng thăm, Nguyễn này cũng có lòng yêu mến và kính trọng Võ Đình. Ngoài tình đồng hương, Nguyễn tìm thấy ở anh những điểm hợp với mình trong suy nghĩ và cách viết. Chẳng hạn cái tựa đề Xứ Sấm Sét của một tập truyện của anh. Nguyễn đã mượn cụm từ này để gọi xứ Texas nơi mình ở bởi đây là một vùng thường xuyên có thunderstorm và đôi khi có báo động màu da cam về một trận tornado gào thét qua đồng cỏ. Hơn nữa, Oklahoma Texas Kansas Arkansas Mississippi cùng nằm trên hành lang bão tố. Mặt khác, Võ Đình yêu cỏ cây, Nguyễn cũng vậy, nhưng Nguyễn tôi không được như Võ Đình bỏ công chăm sóc và trồng cả một vườn cây xanh tốt. Cũng như Võ Đình, Nguyễn có kỷ niệm về một cây bàng và đặc biệt yêu bài văn Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh. Cây bàng của Nguyễn ở Vương Phủ, Vỹ Dạ và Nguyễn xa nó đã bốn mươi tám năm, có thể còn lâu hơn Võ Đình xa cây bàng của anh. Và có lẽ chẳng bao giờ Nguyễn còn có cơ hội gặp lại nó trong đời. Sau đây là đoạn văn Võ Đình viết về cây bàng của anh:
“Xe vừa rẽ vào đường hẻm, tôi đã nhận ra ngay cây bàng. Tức thì nhớ lại “Nhặt Lá Bàng” của ông Nhất Linh. Như vậy là hơn bốn mươi năm rồi tôi mới lại thấy cây bàng. Nó đứng lơ láo giữa khúc quẹo ngã ba của con hẻm nhỏ. Rễ trơ trụi, trồi lên mặt đất. Thân gầy gò, cành xác xơ. Lá úa vàng. Trời nóng đổ mồ hôi hột nhưng tôi kịp nhớ ra rằng đang ở tháng chạp dương lịch, giữa mùa đông Sài Gòn. “Chuyến bay từ Singapore về đúng giờ. Nhưng cũng mất gần hai tiếng đồng hồ mới ra khỏi hải quan. Trên đường về nhà từ phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi thấy một ngôi nhà lớn, mặt tiền căng biểu ngữ “Người Về Từ Nghìn Trùng”. Người về từ nghìn trùng thật. Tôi bàng hoàng xúc động trong niềm vui thấy mặt những người ruột thịt thân yêu. Tôi choáng váng trong nắng, gió và bụi Sài Gòn. Nhưng cây bàng trong hẻm đã cứu lấy tôi. Nó bốc tôi ra khỏi nỗi bàng hoàng, choáng váng đó. Nó làm tôi nhớ lại cái vị chua chua chát chát của những trái bàng còn xanh của thời thơ ấu.”(Chuyện Cây Bàng. Lầu Xép)
Đơn sơ mà hay, phải không các bạn? Và sau đây là một đoạn tả tuyết rơi trong một đêm ở miền gần núi:
“Tin mười giờ tối báo trước rằng nửa đêm sẽ có tuyết lớn. Khi tắt đèn đi ngủ, đồng hồ chỉ quá mười hai giờ rưỡi. Thế nhìn ra trời vẫn chưa thấy tuyết. Tuyết chưa rơi nhưng chàng cảm thấy có sự khác thường. Không gian im lìm, cỏ cây bất động, sững sờ. Từ xa, phía trên rừng, một tiếng hét đột ngột vang lên rồi tắt ngay. Thế tự nhủ, lại cái giống chim đêm kỳ quái, tiếng kêu ngắn, sắc, lanh lảnh như tiếng người.
“Thế tỉnh giấc, nhìn đồng hồ dạ quang trên bàn nhỏ cạnh giường. Ba giờ sáng. Nghe có tiếng lao xao rì rào bên ngoài, đoán là tuyết đang rơi, rơi mạnh. Thế khẽ vén chăn, ngồi dậy, khua chân kiếm dép, rón rén lần ra phía cửa sổ. Vườn sau đã trắng xóa. Mái nhà, thấp hơn từ mặt hậu nên dễ thấy, cũng trắng xóa. Cứ xét bề dày biết tuyết đã rơi mạnh liên tục, khá lâu. Thế nghĩ nếu cứ thế này thì đến khi mặt trời lên, tuyết có thể dày tới ba bốn chục phân. Nghĩ vậy, chợt thấy lo lắng, nhưng thế không nghĩ tiếp, quay trở lại giường chui vào chăn. Vợ chàng ú ớ mấy tiếng khẽ, rồi thở đều, coi bộ ngủ say.” (Huyệt Tuyết)
Và đây là một đoạn ngắn, cực ngắn, rất nổi tiếng của Võ Đình, tả về sự phục sinh của hồi ức qua hình ảnh một vũng nước trên đường: “Không hiểu tại sao, tôi liên tưởng đến vũng nước mưa vẩn bùn ở chân thành cửa Thượng Tứ. Vũng nước đã thuỷ chung không biến dạng, đã chờ đợi tôi suốt một phần tư thế kỷ, để hôm ấy, rất tình cờ, tôi dừng chân cúi xuống, và vũng nước nhỏ ngước lên chào đón một kẻ quy cố hương.” (Chiếc Vòng)
Hay khi anh tả cây chanh mà anh đã trồng trong chậu, giam nó trong nhà suốt hai mươi năm khiến nó héo hắt, bây giờ nó được đem ra trồng ngoài trời:
“Tôi bước ra vườn sau thăm cây chanh lần nữa trước khi tắt đèn đi ngủ. Trăng sao vằng vặc. Tôi mân mê thật nhẹ mấy cái chồi non nhỏ xíu. Thế là cây chanh nó đã về đến nơi đáng ra nó đã trở về hơn hai mươi năm trước. Trên đầu có sao. Dưới chân có đất.
“Tôi từng nghe nói: Không ai thương bằng cơm thương. Tôi nghĩ, thật ra, nên nói rằng: Không ai thương bằng trời đất thương.” (Cây Chanh)
Chỉ mới đọc một vài đoạn ngắn cũng thấy được Võ Đình rất tinh tế trong cảm xúc, chữ nghĩa, viết lách. Tiếng Việt của anh, như Trương Vũ nói “… khi anh viết hay khi anh nói, nếu không biết không ai dám nghĩ rằng kể từ năm 17 tuổi cho đến quá tuổi tri thiên mệnh, cho đến những ngày cuối cùng, anh chỉ sống ở Việt Nam tổng cộng có vài tháng. Không phải chỉ hay thôi, nó đạt đến phần vi tế nhất của ngôn ngữ mà những nhà văn tài hoa và khó tánh nổi tiếng về cách dùng tiếng Việt cũng phải khâm phục.”
Thật ra, Võ Đình yêu thơ văn và có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ. Lúc thiếu niên, anh đã chịu khó đóng một cuốn tập để chép thơ. Và anh là người chịu khó sưu tập, gìn giữ những ấn phẩm thời xưa (in ở Hà Nội những năm 30-40). Nguyễn tôi thấy mình cũng giống anh, thời nhỏ ở Vương Phủ đêm đêm cũng cặm cụi chong đèn dầu chép thơ, rồi những năm đi học cũng chịu khó sưu tầm những sách của Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác. Nhưng Nguyễn tôi không làm được như Võ Đình là giữ những cuốn sách ấy cho đến bây giờ. Rồi trong những năm sống ở Pháp và ở Mỹ, Võ Đình cũng viết và theo dõi sinh hoạt văn học trong nước. Nghĩa là anh luôn sống trong không khí sách vở, chữ nghĩa, nghệ thuật của quê nhà. Là người yêu văn chương từ nhỏ, có tâm hồn, giàu xúc cảm, uyên bác, Võ Đình viết văn hay là phải.
Bên biển Destin, tiếp tục đọc vài trang văn Võ Đình
Những ngày ở bãi biễn Destin, ngoài thời gian tắm biển và dạo chơi, Nguyễn nằm dài đọc văn Võ Đình. Thật sự, anh đã đưa Nguyễn vào thế giới của cảm xúc, suy tưởng, khai mở cho mình nhiều điều. Càng đọc, Tim tôi càng phục sự hiểu biết cũng như quý mến nhân cách của anh. Rồi lại lẩn thẩn tự trách: Một người như thế mà sao những năm qua mình không tìm gặp.
Có những chiều nhìn mây biển giăng giăng như thành trì và nhìn cánh buồm trắng nhấp nhô ngoài khơi xa, không hiểu sao Nguyễn lại chìm vào trầm tư của Michail Lermontov rồi nghĩ tới Võ Đình cùng nhiều bạn bè khác trong cơn giớ lớn của một thời. Về đâu, về đâu khi gió mùa... Chúng ta đã đi tìm gì, ới bằng hữu - niềm vui hay hạnh phúc? - và rồi ta đã gặp gì, phải chăng cuối cùng là bình yên trong bão tố - in storm lurked calm and peace?
Tìm hiểu và viết đôi trang về Võ Đình, Nguyễn thấy có một điều không giải thích được. Xin sẽ nói rõ sau. Người ta nói Võ Đình khó tính (thuộc loại “khó tính tiền sử”). Khó tính và chuộng cái cổ. Cũng như ông Hai Lâu (Low Tech, nhân vật của VĐ), Võ Đình không mấy ưa cái máy lạnh, máy nóng, cái TV, cái còm-pu-tờ. Không dùng máy sấy mà thích phơi áo quần ngoài nắng gió. Nắng lòng tôi, em đem áo ra phơi? Vợ của nhà văn Trần Long Hồ kể, một hôm đến thăm Võ Đình vào một ngày mùa đông. Ấy vậy mà nhà của Võ Đình không mở “heat”, làm cả bọn rét co ro. Khi nhìn lại Võ Đình thì thấy anh đang ôm cái “lồng ấp”, thảo nào . Cả bọn tự nhủ: Thế này thì ông anh chỉ còn thua ông cọp chớ thua ai! A, cái “lồng ấp”? Nguyễn biết nó từ thời nhỏ, ở Huế. Nó là một cái lồng đan bằng tre, bên trong đặt mộc cái trách đất nhỏ có đựng tro. Mùa đông mưa phùn gió bấc, muốn sưởi ấm cứ việc cho vài cục than cháy đỏ vào trong trách, xong ủ (ấp) cái lồng ấy trước bụng, phủ áo lại, tha hồ mà ấm. Tim thấy các bà cô của Nguyễn hay dùng cái lồng ấp ấy vì trong nhà không có bếp hoặc lò sưởi. Tuy nhiên, ngày nay ở Huế hầu như không còn ai dùng nó nữa. Rõ ràng Võ Đình đã sống theo lối cổ, khác với mọi người.
Trong sinh hoạt thư từ, Võ Đình thích viết thư tay cho các bạn văn, và anh lưu giữ hầu hết thư từ bằng hữu gởi đến. Mãi tới sau này, thỉnh thoảng lắm anh mới dùng email. Về thơ, anh yêu thích và hay trích dẫn cũng như ngâm thơ tiền chiến: Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thâm Tâm Trong các bài viết của anh mà Nguyễn được đọc, không thấy anh trích dẫn bất cứ nhà thơ hiện đại nào. Về hội họa, anh là người nhìn thấy vẻ đẹp trong nét vẽ của các họa sĩ cổ điển Trung Hoa cũng như anh đã yêu hình ảnh cây mai trước sân nhà (Đêm qua sân trước một cành mai?).
Ở trên, Nguyễn có nói khi tìm hiểu cá tính và văn chương, nghệ thuật của Võ Đình, Tim thấy có một điều không giải thích được: Võ Đình có tinh thần chuộng cổ trong lối sống và thưởng ngoạn văn chương nghệ thuật nhưng quan điểm sáng tác của anh lại rất mới. Chẳng hạn, khi nói về viết và vẽ, Võ Đình đưa ra nhận định:
“Lại có lúc tôi đọc sách, thấy viết trật tùm lum. Trật về văn phạm, trật về cú pháp. Trật cho đến cái chấm, cái phết. Nhưng trật mà hay. Trật mà đọc thật khoái. Sau này, ngồi nghĩ lẩn thẩn, tôi suy ra rằng: Cái đẹp, cái hay không nằm ở cái đúng. Và đúng là một cái gì tương đối. Đúng ở thời nay mà sai ở thời khác, đúng ở nơi nọ mà sai ở nơi kia. Còn cái đẹp, cái hay, chúng đẹp, hay, tự thân. Nếu ta không thấy được cái hay, cái đẹp là lỗi ở tại ta. Vì ta không, hay chưa có khả năng thấy được. Rồi lại nghĩ: nếu dở về văn phạm, về cú pháp mà có thể viết truyện, làm thơ và làm cho người đọc thích thú thì một người không rành về “nghề” vẽ cũng có thể vẽ được. Mà đã vẽ được thì một ngày có thể vẽ đẹp, vẽ hay.” (Chuyện Vẽ Tranh)
Như vậy, theo Võ Đình, ai cũng có thể vẽ được mà không cần học “nghề” vẽ! Miễn là có đời sống nội tâm tương đối phong phú, có óc tưởng tượng và tò mò. Và đừng quá lệ thuộc những quan niệm hay thiên kiến đã có về nghệ thuật hội họa.
Võ Đình là họa sĩ và là nhà văn. Có vẻ anh nghiêng về họa hơn về văn, nhưng mọi người lại thích văn của anh hơn. Về họa, Võ Đình không chuộng con đường hàn lâm. Theo anh, các trường mỹ thuật chỉ sản xuất ra những giáo sư dạy vẽ, những công chức vẽ. Vincent Van Gogh, Paul Cezanne đâu có học ở trường Mỹ Thuật mà đều là danh họa thế giới.
Có một nhóm người Mỹ, khoảng mươi người, đủ mọi thành phần và lứa tuổi, đều không biết vẽ, nhờ Võ Đình hướng dẫn về hội họa. Mỗi tháng họ gặp nhau một lần, tại nhà bà Katrina, dưới chân núi South Mountain ở Maryland.
Đây là cái cách Võ Đình chỉ dẫn họ:
“Tôi cầm một cây cọ mềm, nhúng nước, thấm một chút màu vàng, bôi lên giấy một hình tròn, Và hỏi mọi người: Cái gì đây?”
Người thì nói trái chanh. Người khác nói mặt trăng, mặt trời, lòng đỏ một quả trứng, cái bông tai Võ Đình nói tất cả đều sai. Đây chỉ là một vũng nước có pha màu. “Nó là một thực tại khách quan. To draw một hình tròn, rồi tô màu vàng lên, rồi gọi đó là trái chanh, cũng được, không ai cấm. Nhưng đó không phải là hội họa, painting. Đó là tô màu, coloring. Họa là bôi màu vàng lên giấy hay lên vải, rồi cho phép nó biến hóa. Là chơi giỡn, là làm việc với thực tại này, vũng nước màu vàng này, là làm cho nó đầy, ướt thêm, làm cho nó khô, nhỏ bớt đi. Là kéo nó dài ra, là rút nó ngắn lại, quét nó đi, đồ nó lại, là thêm một chút đỏ vào cho nó ửng sắc cam, là thêm một chút xanh vào cho nó đậm sắc lục, v.v... Cho phép nó, xúi giục nó, biến hóa thành hình tượng khác. Cho nó hiện hữu một mình hay giao tiếp với những màu khác. Theo dõi, điều nghiên, chuyển hóa những màu sắc, và tương quan giữa chúng để tạo thành hình tượng, đó là cốt tủy của hội họa, painting.”…
“Sau một thời gian, không cần lục lạo tìm tòi, vò đầu bứt tóc gì cả (như chính tôi đã làm, những năm còn là “họa sĩ trẻ”), mỗi người trong nhóm tự nhiên có một đường đi riêng. Bút pháp mỗi người một khác. Vô tình mà có người gợi nhớ Klee. Có người không biết rằng mình làm nghĩ đến Braqua. Người thì Pullock. Kẻ thì de Kooning. Lại có người, như bà lão Katrina, đôi lúc vẽ như một thiền sư Á đông (mặc dù không biết gì đang kể về Thiền, hoặc về hội họa cổ truyền Hoa, Nhật). Có người hỏi: Vì sao vậy? Tôi trả lời: Bởi vì mỗi người, khi cầm bút vẽ, đã có sẵn những hình tượng cá biệt ấy trong thân tâm. Những master-image, những archetype, nói theo Jung. Trầm tư với hình tượng thì chúng hiển lộ. Thế thôi.”
Và Võ Đình gút lại bằng một đoạn như thơ:
“Tôi nhìn lại các tác phẩm. Màu sắc, nét vẽ, xuất phát từ những tâm hồn phong phú, những tâm hồn biết yêu đời, yêu người, yêu lá cây ngọn cỏ, yêu cái vỏ sò nhỏ mọn, cánh bướm khô tàn, yêu cả viên sỏi nằm bên lề đường. Những tâm hồn của chốn trời Tây có cơ duyên tắm gội trong con suối róc rách chảy sâu đã lâu từ nguồn Đạo của phương Đông.”
Võ Đình viết về hội họa quả là hay. Sau đây, Nguyễn trích thêm một hai đoạn nữa: “Ngày xưa, ở Trung Quốc, có vị họa sư được vua vời vào cung vẽ cảnh mùa thu. Họa sư vẽ mấy cây đen điu, cành gầy trơ trụi. Vua phán: Sao thu mà không thấy lá son đỏ thắm đâu cả. Họa sư tâu: Có lá phong đấy ạ. Rồi sai bắt con gà, nhúng hai chân vào chậu son, đoạn thả gà chạy loanh quanh trên mặt tranh. Chân gà in son đỏ lên mặt giấy hệt lá phong rơi rụng tơi bời. Vua vuốt râu cả cười, truyền đem vàng lụa thưởng người họa sĩ độc đáo.”
Cũng thuộc giai thoại làng họa, Võ Đình kể chuyện về họa sĩ Jackson Pullock ở New York những năm 1940 đã đục vài lỗ lớn nhỏ dưới đáy thùng sơn rồi cho sơn chảy lòng thòng rơi tung tóe lên mặt bố trải phẳng trên sàn nhà và tạo thành tranh, trở thanh “họa sĩ lớn nhất” của Hiệp Chủng Quốc.
Không cần thông ngữ pháp cũng có thể viết văn hay, không cần biết nghề vẽ cũng có thể vẽ giỏi. Quan niệm của Võ Đình quả là mới mẻ. Riêng về hội họa VN cận đại, Võ Đình đặc biệt chú ý tới hai người: Đỗ Quang Em và Nguyễn Trung. Xem tranh Đỗ Quang Em, anh nhìn thấy được cái ướt ở khóe mắt nhân vật, vẻ mịn và mát của gấm lụa, cái cứng cái khô của khúc tre già, cái quý của viên gạch, cái uy nghi của cây đèn dầu. Cũng như anh cảm được cái ánh sáng và không gian vắng vẻ, hiu quạnh trong tranh Đỗ Quang Em. Ông cũng thưởng thức tranh Nguyễn Trung trong những đường nét thanh nhã, màu sắc óng chuốt, đầy chất thơ - thưởng thức nhưng không phục. Cho tối khi Nguyễn Trung làm cuộc thay đổi bất ngờ và triệt để vào năm 1990, lúc bấy giờ Võ Đình mới thật sự ngưỡng mộ. Anh viết: “Không còn những màu xanh xám, nhợt nhạt trong veo. Không còn những người nữ “liêu trai” đờ đẫn trong một không gian vắng lặng cô đơn, những thiếu nữ ngực trần thanh tân, núm vú hồng tươi nhưng nét mặt xa xăm, huyền hoặc. Không còn những con cá con chim huyền ảo thấy được trong mơ. Không còn những hình ảnh lãng đãng “như gần như xa” đã làm nên tên tuổi Nguyễn Trung thời trước 1975. Chỉ có những mảng nâu, đen, đậm đặc, mịt mùng. Hình tượng giản đơn cùng cực, đường nét thô lậu, thô bạo, chất liệu dày cộm, sần sùi. Tôi không biết những gì đã xảy ra trong tâm thức Nguyễn Trung và khiến ông thay đổi đến như vậy... Tôi chỉ ngờ rằng dứt khoát đi sâu vào con đường trừu tượng “vật chất” (VĐ dịch từ “matter”, “matière”.NXT), triệt để và toàn diện, ông khẳng định thế đứng của mình giữa một thế giới muôn chiều, muôn ngả, một thế giới đảo điên.”
Chiều rơi trên biển. Trúc đào nở hoa đỏ rực. Hải âu bay và kêu thét. Cánh buồm xa chấp chới. Nguyễn nghĩ tới Võ Đình, họa sĩ và là nhà văn tài hoa, đã đóng góp nhiều cho văn chương và hội họa. Là bông hoa, là cánh hải âu hay cánh buồm. Có thể những hình ảnh thật đẹp vừa kể, một ngày nào đó sẽ mất đi, nhưng rồi về lại trong không gian và thời gian. Một sớm mai đó, hành giả đến từ phương Đông bước vào một quán sách sẽ đọc lại Xứ Sấm Sét hay Huyệt Tuyết hay Lầu Xép. Hoặc giả một chiều chớm thu, bước vào một bảo tàng viện ở New York bất chợt dừng lại chiêm ngưỡng một họa phẩm của Võ Đình. Và rồi hình bóng người bao năm cũ sẽ chợt sống lại như đã sống, đã sáng tạo, đã yêu thương và hờn giận trong cuộc khóc cười của nhân gian.
Đêm, nghe quạ kêu
“Vùng đất, nơi bà Margaret ở, trong truyện kể dân gian gọi là đất của quạ và diều. Mỗi sáng mỗi chiều, mở cửa sổ nhìn lên ngọn đồi Twelve Oaks, em đều thấy quạ họp từng đàn bay rợp, đáp xuống và kêu la. Và có đêm trăng sáng, nhìn ra vườn khuya, thấy bóng một con diều hâu (hawk) đậu trên ngọn cây khô, im lặng và cô đơn…” Đoạn văn trên là trong email của người bạn nhỏ gởi tới, gợi cho Nguyễn viết bài văn này khi đêm qua vừa nghe vẳng một tiếng quạ kêu trong vườn khuya.
Từ Ô Y Hạng rủ rê sang
Bóng lẩn đêm thâu tiếng rộn ràng…
Chắc chắn bóng quạ đen kêu đêm qua trong khu vườn trụi lá của tôi chẳng phải là những con quạ đến từ bài thơ đường luật của Quách Tấn tiên sinh, lại càng không phải là những chú quạ từ Ngõ Áo Đen (Ô Y Hạng) nào đó, nơi những bác thợ nhuộm ra vào sớm tối. Cũng không phải là bóng ác điểu đậu trên nấm mồ Bích Khê ở Thu Xà Quảng Ngãi, như thi sĩ đã có lời tiên tri lúc sinh thời. Chú quạ trong bài thơ không kêu một tiếng nào - dường như là vậy. Chú im lặng. Tuyệt im lặng. Như cái chết. Như mệnh số của thiên tài.
Mệnh số. Có không? Không ai biết. Như Edgar Poe, chỉ còn nghe nevermore (trong The Raven - Con Quạ). Only this, and nothing more… Nó là vọng âm Lenore, tên người yêu yểu mệnh của thi sĩ. Từ nay mãi mãi không thấy nhau. Mãi mãi. Trong âm vang của tiếng gọi Lenore, Nguyễn cũng muốn gọi về một mảng quá khứ của thời xanh xưa. Hỡi nàng Đường Uyển trong Vườn Thẩm bên cầu cùng Lục Du - chỉ có những trái thông khô lăn bên triền dốc. Và bóng quạ chợt bay qua, tiếng kêu vọng lại dưới trời đêm. Nevermore. Thơ ai khắc trên đá tảng và trên vỏ cây còn mùi nhựa ngái. Còn không? Nevermore. Chỉ là mùi hương đã ở ngoài trí nhớ người.
Ô hay! Tôi lại làm thơ nữa rồi. Lòng những tưởng sẽ dừng lại ở dòng viết này. Như một khúc ly ca. Nhưng hốt nhiên, tiếng quạ trong vườn khuya đêm qua khiến liên tưởng đến nàng Lenore của Edgar Poe và nàng Đường Uyển của Lục Du. Đồng thời nó cũng gợi lên những bóng quạ đen trên lưu đày thời miền Nam đổi chủ. Và bóng quạ đen trên sân nắng một buổi trưa khi còn ở Mira Mesa, San Diego. Như vậy tại sao không viết tiếp để gom tất cả lại thàng một Tứ Đại Oán thời nay. Vậy xin tiếp nối sau đây.
Thi sĩ Phạm Công Thiện đã “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và đã nhìn thấy những bóng quạ đen. A, những con quạ đen - ở đâu vậy cà, Greenwich Village, NY - hay từ ngõ áo đen Ô Y Hạng - những con quạ đen vừa đi vừa té ngã, xiêu vẹo - như bóng triết gia ngộ chân lý (?) - lại có những con đầu trọc chừng như vừa qua khổ dịch đội đá bắc cầu cho đôi lứa yêu nhau ngày nọ?
Thi sĩ Phạm Công Thiện “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và thấy được những hình ảnh vừa âm u vừa thơ mộng, lại vang vang tư tưởng của triết gia. Riêng Nguyễn và các bạn đồng hội đồng thuyền đã đi qua hết cả ba ngàn đêm hoang vu trên mặt đất quê nhà thời đổi chủ và đã thấy những bóng quạ đen như ác mộng trên phần kiếp của mình. Thuở ấy, những thân tù xanh lướt như rau tàu bay, như ngải đắng của vùng gió Mán mưa Tày, soi bóng xuống mặt nước xanh chàm của Thác Bà cùng với bóng những cây trầm thủy. Những cái bóng ấy, dừng lại một hai nơi, rồi lại đi khi có “lệnh trên” (đây là trên “khung”, bộ chỉ huy trại tù của VC) vì kẻ thù từ Trung Quốc tràn qua bám theo đuôi ngựa. Đi, đi… Qua đồi sắn, nương khoai, ruộng bậc thang và bóng nhà sàn vọng tiếng mỏ trâu trong chiều, qua những đồi cọ dưới trời Hà Tuyên nắng rực trên vai áo rách bạc màu, hướng về những đồi chè Bắc Thái. Dừng lại rồi đi tiếp vì kẻ thù vẫn bám riết. Đi, qua ngã ba Đồng Lộc về tới Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ.
Vâng. Ngày ấy, năm 1979, Nguyễn và các bạn làm thơ làm nhạc bị giam ở Thanh Chương, Nghệ Tĩnh - có Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm, Tô Thùy Yên, Chu A Hạnh, Nguyễn Trung Dũng, Xuân Bích…- cùng khoảng một ngàn anh em khác. Thanh Chương là vùng đất khô cằn, núi đá trùng điệp, ngay bên cạnh trại cũng có một ngọn núi đá. Từng ngày, tiếng mìn phá núi vang dội, đôi khi có cả những cục đá to rơi kinh hoàng trên mái trại. Từng ngày, anh em bạn tù dung xe cải tiến (xe cút kít) đi xúc đá, chở đá. Cả một vùng đá núi khô cằn, cỏ cây xơ xác. Và những cơn gió Lào trong mùa nắng cháy không ngớt thổi về làm đỏ hoe con mắt, khô héo ruột gan tù. Ở đây, chỉ khoảng một năm, đã có ba ban tù rũ áo: Lê Thơm, Hậu và một người nữa không nhớ tên (có phải là Nghĩa?). Đây là đất của diều và quạ. Đêm thường nghe vọng
Ác điểu ngày đêm gào xáo xác
Dường như cả thế giới lâm chung
Mùa hè năm 2010, Nguyễn, cùng với gia đình, về chơi vùng biển Destin, Florida. Đứng trên khách sạn nhìn ra, lại nhớ đến mấy câu thơ đã viết hồi năm rồi khi có Nguyên Nhi, Phạm Chi Lan, Nhật Hoàng, Đinh Yên Thảo ngồi uống rượu ở balcon, ngắm pháo bông đêm July 4 bay sáng ngời mặt biển. Ấy là thời gian tiền Thế Vận Hội Mùa Hè Bắc Kinh.
Chiều
destin
nghe chim biển kêu
và mưa rơi
mưa. rơi
trên ngọn trúc đào
ảo ảnh. ôi cánh buồm lermentov
ngoài khơi xa
tìm bình yên trong bão tố
và đêm
đêm
anh nhìn pháo bông. rực sáng. đầy trời
thấy vạn lý trường thành trong mây
thấy thiên an môn. gạch. và máu
thấy con đường tơ lụa
thấy em là cánh chim bay ngang
Trở lại Destin lần này, chỉ có gia đình, không có bằng hữu. Vẫn bờ cát trắng và nước biển xanh màu emerald ngọc bích. Vẫn con đường bờ biển với hoa trúc đào nở đỏ màu áo ai trong chiều. Vẫn những con diều giấy của trẻ bay lượn dưới trời. Và cánh buồm màu trắng ngoài khơi, xa. Và chim biển mà cháu Nguyệt Quỳnh cứ nhất định cãi với ông là chim nhà.
Trở lại Destin lần này, đặc biệt Nguyễn tôi có mang theo hai cuốn sách của Võ Đình. Lầu Xép với lời ký tặng của tác giả và Huyệt Tuyết. Ôi, Võ Đình vừa mới ra đi! Nguyễn này với anh vốn là đồng hương. Có quen biết nhau nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Chị Trần Thị Lai Hồng - vợ của Võ Đình - cùng học ở Quốc Học ngày xưa, trên Nguyễn hai, ba lớp. Nhớ hồi năm 1999 đến Orlando, Florida để giới thiệu tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa vừa ấn hành, có hẹn với Võ Đình sẽ đến thăm anh chị, và Triều Hoa Đại đã hứa chở đi. Võ Đình nói sẽ cho ăn những món đặc biệt “cây nhà lá vườn”. Nhưng rồi Triều Hoa Đại ngại đường xa không đưa tới, làm anh Võ Đình giận cành hông. Không tới thăm Võ Đình được, Nguyễn tôi lấy làm tiếc lắm. Bây giờ anh không còn nữa, nhìn mây biển lớp lớp xây thành, lòng không khỏi chạnh buồn.
Dẫu không được như Đinh Cường, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc thường xuyên lui tới viếng thăm, Nguyễn này cũng có lòng yêu mến và kính trọng Võ Đình. Ngoài tình đồng hương, Nguyễn tìm thấy ở anh những điểm hợp với mình trong suy nghĩ và cách viết. Chẳng hạn cái tựa đề Xứ Sấm Sét của một tập truyện của anh. Nguyễn đã mượn cụm từ này để gọi xứ Texas nơi mình ở bởi đây là một vùng thường xuyên có thunderstorm và đôi khi có báo động màu da cam về một trận tornado gào thét qua đồng cỏ. Hơn nữa, Oklahoma Texas Kansas Arkansas Mississippi cùng nằm trên hành lang bão tố. Mặt khác, Võ Đình yêu cỏ cây, Nguyễn cũng vậy, nhưng Nguyễn tôi không được như Võ Đình bỏ công chăm sóc và trồng cả một vườn cây xanh tốt. Cũng như Võ Đình, Nguyễn có kỷ niệm về một cây bàng và đặc biệt yêu bài văn Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh. Cây bàng của Nguyễn ở Vương Phủ, Vỹ Dạ và Nguyễn xa nó đã bốn mươi tám năm, có thể còn lâu hơn Võ Đình xa cây bàng của anh. Và có lẽ chẳng bao giờ Nguyễn còn có cơ hội gặp lại nó trong đời. Sau đây là đoạn văn Võ Đình viết về cây bàng của anh:
“Xe vừa rẽ vào đường hẻm, tôi đã nhận ra ngay cây bàng. Tức thì nhớ lại “Nhặt Lá Bàng” của ông Nhất Linh. Như vậy là hơn bốn mươi năm rồi tôi mới lại thấy cây bàng. Nó đứng lơ láo giữa khúc quẹo ngã ba của con hẻm nhỏ. Rễ trơ trụi, trồi lên mặt đất. Thân gầy gò, cành xác xơ. Lá úa vàng. Trời nóng đổ mồ hôi hột nhưng tôi kịp nhớ ra rằng đang ở tháng chạp dương lịch, giữa mùa đông Sài Gòn. “Chuyến bay từ Singapore về đúng giờ. Nhưng cũng mất gần hai tiếng đồng hồ mới ra khỏi hải quan. Trên đường về nhà từ phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi thấy một ngôi nhà lớn, mặt tiền căng biểu ngữ “Người Về Từ Nghìn Trùng”. Người về từ nghìn trùng thật. Tôi bàng hoàng xúc động trong niềm vui thấy mặt những người ruột thịt thân yêu. Tôi choáng váng trong nắng, gió và bụi Sài Gòn. Nhưng cây bàng trong hẻm đã cứu lấy tôi. Nó bốc tôi ra khỏi nỗi bàng hoàng, choáng váng đó. Nó làm tôi nhớ lại cái vị chua chua chát chát của những trái bàng còn xanh của thời thơ ấu.”(Chuyện Cây Bàng. Lầu Xép)
Đơn sơ mà hay, phải không các bạn? Và sau đây là một đoạn tả tuyết rơi trong một đêm ở miền gần núi:
“Tin mười giờ tối báo trước rằng nửa đêm sẽ có tuyết lớn. Khi tắt đèn đi ngủ, đồng hồ chỉ quá mười hai giờ rưỡi. Thế nhìn ra trời vẫn chưa thấy tuyết. Tuyết chưa rơi nhưng chàng cảm thấy có sự khác thường. Không gian im lìm, cỏ cây bất động, sững sờ. Từ xa, phía trên rừng, một tiếng hét đột ngột vang lên rồi tắt ngay. Thế tự nhủ, lại cái giống chim đêm kỳ quái, tiếng kêu ngắn, sắc, lanh lảnh như tiếng người.
“Thế tỉnh giấc, nhìn đồng hồ dạ quang trên bàn nhỏ cạnh giường. Ba giờ sáng. Nghe có tiếng lao xao rì rào bên ngoài, đoán là tuyết đang rơi, rơi mạnh. Thế khẽ vén chăn, ngồi dậy, khua chân kiếm dép, rón rén lần ra phía cửa sổ. Vườn sau đã trắng xóa. Mái nhà, thấp hơn từ mặt hậu nên dễ thấy, cũng trắng xóa. Cứ xét bề dày biết tuyết đã rơi mạnh liên tục, khá lâu. Thế nghĩ nếu cứ thế này thì đến khi mặt trời lên, tuyết có thể dày tới ba bốn chục phân. Nghĩ vậy, chợt thấy lo lắng, nhưng thế không nghĩ tiếp, quay trở lại giường chui vào chăn. Vợ chàng ú ớ mấy tiếng khẽ, rồi thở đều, coi bộ ngủ say.” (Huyệt Tuyết)
Và đây là một đoạn ngắn, cực ngắn, rất nổi tiếng của Võ Đình, tả về sự phục sinh của hồi ức qua hình ảnh một vũng nước trên đường: “Không hiểu tại sao, tôi liên tưởng đến vũng nước mưa vẩn bùn ở chân thành cửa Thượng Tứ. Vũng nước đã thuỷ chung không biến dạng, đã chờ đợi tôi suốt một phần tư thế kỷ, để hôm ấy, rất tình cờ, tôi dừng chân cúi xuống, và vũng nước nhỏ ngước lên chào đón một kẻ quy cố hương.” (Chiếc Vòng)
Hay khi anh tả cây chanh mà anh đã trồng trong chậu, giam nó trong nhà suốt hai mươi năm khiến nó héo hắt, bây giờ nó được đem ra trồng ngoài trời:
“Tôi bước ra vườn sau thăm cây chanh lần nữa trước khi tắt đèn đi ngủ. Trăng sao vằng vặc. Tôi mân mê thật nhẹ mấy cái chồi non nhỏ xíu. Thế là cây chanh nó đã về đến nơi đáng ra nó đã trở về hơn hai mươi năm trước. Trên đầu có sao. Dưới chân có đất.
“Tôi từng nghe nói: Không ai thương bằng cơm thương. Tôi nghĩ, thật ra, nên nói rằng: Không ai thương bằng trời đất thương.” (Cây Chanh)
Chỉ mới đọc một vài đoạn ngắn cũng thấy được Võ Đình rất tinh tế trong cảm xúc, chữ nghĩa, viết lách. Tiếng Việt của anh, như Trương Vũ nói “… khi anh viết hay khi anh nói, nếu không biết không ai dám nghĩ rằng kể từ năm 17 tuổi cho đến quá tuổi tri thiên mệnh, cho đến những ngày cuối cùng, anh chỉ sống ở Việt Nam tổng cộng có vài tháng. Không phải chỉ hay thôi, nó đạt đến phần vi tế nhất của ngôn ngữ mà những nhà văn tài hoa và khó tánh nổi tiếng về cách dùng tiếng Việt cũng phải khâm phục.”
Thật ra, Võ Đình yêu thơ văn và có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ. Lúc thiếu niên, anh đã chịu khó đóng một cuốn tập để chép thơ. Và anh là người chịu khó sưu tập, gìn giữ những ấn phẩm thời xưa (in ở Hà Nội những năm 30-40). Nguyễn tôi thấy mình cũng giống anh, thời nhỏ ở Vương Phủ đêm đêm cũng cặm cụi chong đèn dầu chép thơ, rồi những năm đi học cũng chịu khó sưu tầm những sách của Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác. Nhưng Nguyễn tôi không làm được như Võ Đình là giữ những cuốn sách ấy cho đến bây giờ. Rồi trong những năm sống ở Pháp và ở Mỹ, Võ Đình cũng viết và theo dõi sinh hoạt văn học trong nước. Nghĩa là anh luôn sống trong không khí sách vở, chữ nghĩa, nghệ thuật của quê nhà. Là người yêu văn chương từ nhỏ, có tâm hồn, giàu xúc cảm, uyên bác, Võ Đình viết văn hay là phải.
Bên biển Destin, tiếp tục đọc vài trang văn Võ Đình
Những ngày ở bãi biễn Destin, ngoài thời gian tắm biển và dạo chơi, Nguyễn nằm dài đọc văn Võ Đình. Thật sự, anh đã đưa Nguyễn vào thế giới của cảm xúc, suy tưởng, khai mở cho mình nhiều điều. Càng đọc, Tim tôi càng phục sự hiểu biết cũng như quý mến nhân cách của anh. Rồi lại lẩn thẩn tự trách: Một người như thế mà sao những năm qua mình không tìm gặp.
Có những chiều nhìn mây biển giăng giăng như thành trì và nhìn cánh buồm trắng nhấp nhô ngoài khơi xa, không hiểu sao Nguyễn lại chìm vào trầm tư của Michail Lermontov rồi nghĩ tới Võ Đình cùng nhiều bạn bè khác trong cơn giớ lớn của một thời. Về đâu, về đâu khi gió mùa... Chúng ta đã đi tìm gì, ới bằng hữu - niềm vui hay hạnh phúc? - và rồi ta đã gặp gì, phải chăng cuối cùng là bình yên trong bão tố - in storm lurked calm and peace?
Tìm hiểu và viết đôi trang về Võ Đình, Nguyễn thấy có một điều không giải thích được. Xin sẽ nói rõ sau. Người ta nói Võ Đình khó tính (thuộc loại “khó tính tiền sử”). Khó tính và chuộng cái cổ. Cũng như ông Hai Lâu (Low Tech, nhân vật của VĐ), Võ Đình không mấy ưa cái máy lạnh, máy nóng, cái TV, cái còm-pu-tờ. Không dùng máy sấy mà thích phơi áo quần ngoài nắng gió. Nắng lòng tôi, em đem áo ra phơi? Vợ của nhà văn Trần Long Hồ kể, một hôm đến thăm Võ Đình vào một ngày mùa đông. Ấy vậy mà nhà của Võ Đình không mở “heat”, làm cả bọn rét co ro. Khi nhìn lại Võ Đình thì thấy anh đang ôm cái “lồng ấp”, thảo nào . Cả bọn tự nhủ: Thế này thì ông anh chỉ còn thua ông cọp chớ thua ai! A, cái “lồng ấp”? Nguyễn biết nó từ thời nhỏ, ở Huế. Nó là một cái lồng đan bằng tre, bên trong đặt mộc cái trách đất nhỏ có đựng tro. Mùa đông mưa phùn gió bấc, muốn sưởi ấm cứ việc cho vài cục than cháy đỏ vào trong trách, xong ủ (ấp) cái lồng ấy trước bụng, phủ áo lại, tha hồ mà ấm. Tim thấy các bà cô của Nguyễn hay dùng cái lồng ấp ấy vì trong nhà không có bếp hoặc lò sưởi. Tuy nhiên, ngày nay ở Huế hầu như không còn ai dùng nó nữa. Rõ ràng Võ Đình đã sống theo lối cổ, khác với mọi người.
Trong sinh hoạt thư từ, Võ Đình thích viết thư tay cho các bạn văn, và anh lưu giữ hầu hết thư từ bằng hữu gởi đến. Mãi tới sau này, thỉnh thoảng lắm anh mới dùng email. Về thơ, anh yêu thích và hay trích dẫn cũng như ngâm thơ tiền chiến: Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thâm Tâm Trong các bài viết của anh mà Nguyễn được đọc, không thấy anh trích dẫn bất cứ nhà thơ hiện đại nào. Về hội họa, anh là người nhìn thấy vẻ đẹp trong nét vẽ của các họa sĩ cổ điển Trung Hoa cũng như anh đã yêu hình ảnh cây mai trước sân nhà (Đêm qua sân trước một cành mai?).
Ở trên, Nguyễn có nói khi tìm hiểu cá tính và văn chương, nghệ thuật của Võ Đình, Tim thấy có một điều không giải thích được: Võ Đình có tinh thần chuộng cổ trong lối sống và thưởng ngoạn văn chương nghệ thuật nhưng quan điểm sáng tác của anh lại rất mới. Chẳng hạn, khi nói về viết và vẽ, Võ Đình đưa ra nhận định:
“Lại có lúc tôi đọc sách, thấy viết trật tùm lum. Trật về văn phạm, trật về cú pháp. Trật cho đến cái chấm, cái phết. Nhưng trật mà hay. Trật mà đọc thật khoái. Sau này, ngồi nghĩ lẩn thẩn, tôi suy ra rằng: Cái đẹp, cái hay không nằm ở cái đúng. Và đúng là một cái gì tương đối. Đúng ở thời nay mà sai ở thời khác, đúng ở nơi nọ mà sai ở nơi kia. Còn cái đẹp, cái hay, chúng đẹp, hay, tự thân. Nếu ta không thấy được cái hay, cái đẹp là lỗi ở tại ta. Vì ta không, hay chưa có khả năng thấy được. Rồi lại nghĩ: nếu dở về văn phạm, về cú pháp mà có thể viết truyện, làm thơ và làm cho người đọc thích thú thì một người không rành về “nghề” vẽ cũng có thể vẽ được. Mà đã vẽ được thì một ngày có thể vẽ đẹp, vẽ hay.” (Chuyện Vẽ Tranh)
Như vậy, theo Võ Đình, ai cũng có thể vẽ được mà không cần học “nghề” vẽ! Miễn là có đời sống nội tâm tương đối phong phú, có óc tưởng tượng và tò mò. Và đừng quá lệ thuộc những quan niệm hay thiên kiến đã có về nghệ thuật hội họa.
Võ Đình là họa sĩ và là nhà văn. Có vẻ anh nghiêng về họa hơn về văn, nhưng mọi người lại thích văn của anh hơn. Về họa, Võ Đình không chuộng con đường hàn lâm. Theo anh, các trường mỹ thuật chỉ sản xuất ra những giáo sư dạy vẽ, những công chức vẽ. Vincent Van Gogh, Paul Cezanne đâu có học ở trường Mỹ Thuật mà đều là danh họa thế giới.
Có một nhóm người Mỹ, khoảng mươi người, đủ mọi thành phần và lứa tuổi, đều không biết vẽ, nhờ Võ Đình hướng dẫn về hội họa. Mỗi tháng họ gặp nhau một lần, tại nhà bà Katrina, dưới chân núi South Mountain ở Maryland.
Đây là cái cách Võ Đình chỉ dẫn họ:
“Tôi cầm một cây cọ mềm, nhúng nước, thấm một chút màu vàng, bôi lên giấy một hình tròn, Và hỏi mọi người: Cái gì đây?”
Người thì nói trái chanh. Người khác nói mặt trăng, mặt trời, lòng đỏ một quả trứng, cái bông tai Võ Đình nói tất cả đều sai. Đây chỉ là một vũng nước có pha màu. “Nó là một thực tại khách quan. To draw một hình tròn, rồi tô màu vàng lên, rồi gọi đó là trái chanh, cũng được, không ai cấm. Nhưng đó không phải là hội họa, painting. Đó là tô màu, coloring. Họa là bôi màu vàng lên giấy hay lên vải, rồi cho phép nó biến hóa. Là chơi giỡn, là làm việc với thực tại này, vũng nước màu vàng này, là làm cho nó đầy, ướt thêm, làm cho nó khô, nhỏ bớt đi. Là kéo nó dài ra, là rút nó ngắn lại, quét nó đi, đồ nó lại, là thêm một chút đỏ vào cho nó ửng sắc cam, là thêm một chút xanh vào cho nó đậm sắc lục, v.v... Cho phép nó, xúi giục nó, biến hóa thành hình tượng khác. Cho nó hiện hữu một mình hay giao tiếp với những màu khác. Theo dõi, điều nghiên, chuyển hóa những màu sắc, và tương quan giữa chúng để tạo thành hình tượng, đó là cốt tủy của hội họa, painting.”…
“Sau một thời gian, không cần lục lạo tìm tòi, vò đầu bứt tóc gì cả (như chính tôi đã làm, những năm còn là “họa sĩ trẻ”), mỗi người trong nhóm tự nhiên có một đường đi riêng. Bút pháp mỗi người một khác. Vô tình mà có người gợi nhớ Klee. Có người không biết rằng mình làm nghĩ đến Braqua. Người thì Pullock. Kẻ thì de Kooning. Lại có người, như bà lão Katrina, đôi lúc vẽ như một thiền sư Á đông (mặc dù không biết gì đang kể về Thiền, hoặc về hội họa cổ truyền Hoa, Nhật). Có người hỏi: Vì sao vậy? Tôi trả lời: Bởi vì mỗi người, khi cầm bút vẽ, đã có sẵn những hình tượng cá biệt ấy trong thân tâm. Những master-image, những archetype, nói theo Jung. Trầm tư với hình tượng thì chúng hiển lộ. Thế thôi.”
Và Võ Đình gút lại bằng một đoạn như thơ:
“Tôi nhìn lại các tác phẩm. Màu sắc, nét vẽ, xuất phát từ những tâm hồn phong phú, những tâm hồn biết yêu đời, yêu người, yêu lá cây ngọn cỏ, yêu cái vỏ sò nhỏ mọn, cánh bướm khô tàn, yêu cả viên sỏi nằm bên lề đường. Những tâm hồn của chốn trời Tây có cơ duyên tắm gội trong con suối róc rách chảy sâu đã lâu từ nguồn Đạo của phương Đông.”
Võ Đình viết về hội họa quả là hay. Sau đây, Nguyễn trích thêm một hai đoạn nữa: “Ngày xưa, ở Trung Quốc, có vị họa sư được vua vời vào cung vẽ cảnh mùa thu. Họa sư vẽ mấy cây đen điu, cành gầy trơ trụi. Vua phán: Sao thu mà không thấy lá son đỏ thắm đâu cả. Họa sư tâu: Có lá phong đấy ạ. Rồi sai bắt con gà, nhúng hai chân vào chậu son, đoạn thả gà chạy loanh quanh trên mặt tranh. Chân gà in son đỏ lên mặt giấy hệt lá phong rơi rụng tơi bời. Vua vuốt râu cả cười, truyền đem vàng lụa thưởng người họa sĩ độc đáo.”
Cũng thuộc giai thoại làng họa, Võ Đình kể chuyện về họa sĩ Jackson Pullock ở New York những năm 1940 đã đục vài lỗ lớn nhỏ dưới đáy thùng sơn rồi cho sơn chảy lòng thòng rơi tung tóe lên mặt bố trải phẳng trên sàn nhà và tạo thành tranh, trở thanh “họa sĩ lớn nhất” của Hiệp Chủng Quốc.
Không cần thông ngữ pháp cũng có thể viết văn hay, không cần biết nghề vẽ cũng có thể vẽ giỏi. Quan niệm của Võ Đình quả là mới mẻ. Riêng về hội họa VN cận đại, Võ Đình đặc biệt chú ý tới hai người: Đỗ Quang Em và Nguyễn Trung. Xem tranh Đỗ Quang Em, anh nhìn thấy được cái ướt ở khóe mắt nhân vật, vẻ mịn và mát của gấm lụa, cái cứng cái khô của khúc tre già, cái quý của viên gạch, cái uy nghi của cây đèn dầu. Cũng như anh cảm được cái ánh sáng và không gian vắng vẻ, hiu quạnh trong tranh Đỗ Quang Em. Ông cũng thưởng thức tranh Nguyễn Trung trong những đường nét thanh nhã, màu sắc óng chuốt, đầy chất thơ - thưởng thức nhưng không phục. Cho tối khi Nguyễn Trung làm cuộc thay đổi bất ngờ và triệt để vào năm 1990, lúc bấy giờ Võ Đình mới thật sự ngưỡng mộ. Anh viết: “Không còn những màu xanh xám, nhợt nhạt trong veo. Không còn những người nữ “liêu trai” đờ đẫn trong một không gian vắng lặng cô đơn, những thiếu nữ ngực trần thanh tân, núm vú hồng tươi nhưng nét mặt xa xăm, huyền hoặc. Không còn những con cá con chim huyền ảo thấy được trong mơ. Không còn những hình ảnh lãng đãng “như gần như xa” đã làm nên tên tuổi Nguyễn Trung thời trước 1975. Chỉ có những mảng nâu, đen, đậm đặc, mịt mùng. Hình tượng giản đơn cùng cực, đường nét thô lậu, thô bạo, chất liệu dày cộm, sần sùi. Tôi không biết những gì đã xảy ra trong tâm thức Nguyễn Trung và khiến ông thay đổi đến như vậy... Tôi chỉ ngờ rằng dứt khoát đi sâu vào con đường trừu tượng “vật chất” (VĐ dịch từ “matter”, “matière”.NXT), triệt để và toàn diện, ông khẳng định thế đứng của mình giữa một thế giới muôn chiều, muôn ngả, một thế giới đảo điên.”
Chiều rơi trên biển. Trúc đào nở hoa đỏ rực. Hải âu bay và kêu thét. Cánh buồm xa chấp chới. Nguyễn nghĩ tới Võ Đình, họa sĩ và là nhà văn tài hoa, đã đóng góp nhiều cho văn chương và hội họa. Là bông hoa, là cánh hải âu hay cánh buồm. Có thể những hình ảnh thật đẹp vừa kể, một ngày nào đó sẽ mất đi, nhưng rồi về lại trong không gian và thời gian. Một sớm mai đó, hành giả đến từ phương Đông bước vào một quán sách sẽ đọc lại Xứ Sấm Sét hay Huyệt Tuyết hay Lầu Xép. Hoặc giả một chiều chớm thu, bước vào một bảo tàng viện ở New York bất chợt dừng lại chiêm ngưỡng một họa phẩm của Võ Đình. Và rồi hình bóng người bao năm cũ sẽ chợt sống lại như đã sống, đã sáng tạo, đã yêu thương và hờn giận trong cuộc khóc cười của nhân gian.
Đêm, nghe quạ kêu
“Vùng đất, nơi bà Margaret ở, trong truyện kể dân gian gọi là đất của quạ và diều. Mỗi sáng mỗi chiều, mở cửa sổ nhìn lên ngọn đồi Twelve Oaks, em đều thấy quạ họp từng đàn bay rợp, đáp xuống và kêu la. Và có đêm trăng sáng, nhìn ra vườn khuya, thấy bóng một con diều hâu (hawk) đậu trên ngọn cây khô, im lặng và cô đơn…” Đoạn văn trên là trong email của người bạn nhỏ gởi tới, gợi cho Nguyễn viết bài văn này khi đêm qua vừa nghe vẳng một tiếng quạ kêu trong vườn khuya.
Từ Ô Y Hạng rủ rê sang
Bóng lẩn đêm thâu tiếng rộn ràng…
Chắc chắn bóng quạ đen kêu đêm qua trong khu vườn trụi lá của tôi chẳng phải là những con quạ đến từ bài thơ đường luật của Quách Tấn tiên sinh, lại càng không phải là những chú quạ từ Ngõ Áo Đen (Ô Y Hạng) nào đó, nơi những bác thợ nhuộm ra vào sớm tối. Cũng không phải là bóng ác điểu đậu trên nấm mồ Bích Khê ở Thu Xà Quảng Ngãi, như thi sĩ đã có lời tiên tri lúc sinh thời. Chú quạ trong bài thơ không kêu một tiếng nào - dường như là vậy. Chú im lặng. Tuyệt im lặng. Như cái chết. Như mệnh số của thiên tài.
Mệnh số. Có không? Không ai biết. Như Edgar Poe, chỉ còn nghe nevermore (trong The Raven - Con Quạ). Only this, and nothing more… Nó là vọng âm Lenore, tên người yêu yểu mệnh của thi sĩ. Từ nay mãi mãi không thấy nhau. Mãi mãi. Trong âm vang của tiếng gọi Lenore, Nguyễn cũng muốn gọi về một mảng quá khứ của thời xanh xưa. Hỡi nàng Đường Uyển trong Vườn Thẩm bên cầu cùng Lục Du - chỉ có những trái thông khô lăn bên triền dốc. Và bóng quạ chợt bay qua, tiếng kêu vọng lại dưới trời đêm. Nevermore. Thơ ai khắc trên đá tảng và trên vỏ cây còn mùi nhựa ngái. Còn không? Nevermore. Chỉ là mùi hương đã ở ngoài trí nhớ người.
Ô hay! Tôi lại làm thơ nữa rồi. Lòng những tưởng sẽ dừng lại ở dòng viết này. Như một khúc ly ca. Nhưng hốt nhiên, tiếng quạ trong vườn khuya đêm qua khiến liên tưởng đến nàng Lenore của Edgar Poe và nàng Đường Uyển của Lục Du. Đồng thời nó cũng gợi lên những bóng quạ đen trên lưu đày thời miền Nam đổi chủ. Và bóng quạ đen trên sân nắng một buổi trưa khi còn ở Mira Mesa, San Diego. Như vậy tại sao không viết tiếp để gom tất cả lại thàng một Tứ Đại Oán thời nay. Vậy xin tiếp nối sau đây.
Thi sĩ Phạm Công Thiện đã “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và đã nhìn thấy những bóng quạ đen. A, những con quạ đen - ở đâu vậy cà, Greenwich Village, NY - hay từ ngõ áo đen Ô Y Hạng - những con quạ đen vừa đi vừa té ngã, xiêu vẹo - như bóng triết gia ngộ chân lý (?) - lại có những con đầu trọc chừng như vừa qua khổ dịch đội đá bắc cầu cho đôi lứa yêu nhau ngày nọ?
Thi sĩ Phạm Công Thiện “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” và thấy được những hình ảnh vừa âm u vừa thơ mộng, lại vang vang tư tưởng của triết gia. Riêng Nguyễn và các bạn đồng hội đồng thuyền đã đi qua hết cả ba ngàn đêm hoang vu trên mặt đất quê nhà thời đổi chủ và đã thấy những bóng quạ đen như ác mộng trên phần kiếp của mình. Thuở ấy, những thân tù xanh lướt như rau tàu bay, như ngải đắng của vùng gió Mán mưa Tày, soi bóng xuống mặt nước xanh chàm của Thác Bà cùng với bóng những cây trầm thủy. Những cái bóng ấy, dừng lại một hai nơi, rồi lại đi khi có “lệnh trên” (đây là trên “khung”, bộ chỉ huy trại tù của VC) vì kẻ thù từ Trung Quốc tràn qua bám theo đuôi ngựa. Đi, đi… Qua đồi sắn, nương khoai, ruộng bậc thang và bóng nhà sàn vọng tiếng mỏ trâu trong chiều, qua những đồi cọ dưới trời Hà Tuyên nắng rực trên vai áo rách bạc màu, hướng về những đồi chè Bắc Thái. Dừng lại rồi đi tiếp vì kẻ thù vẫn bám riết. Đi, qua ngã ba Đồng Lộc về tới Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ.
Vâng. Ngày ấy, năm 1979, Nguyễn và các bạn làm thơ làm nhạc bị giam ở Thanh Chương, Nghệ Tĩnh - có Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm, Tô Thùy Yên, Chu A Hạnh, Nguyễn Trung Dũng, Xuân Bích…- cùng khoảng một ngàn anh em khác. Thanh Chương là vùng đất khô cằn, núi đá trùng điệp, ngay bên cạnh trại cũng có một ngọn núi đá. Từng ngày, tiếng mìn phá núi vang dội, đôi khi có cả những cục đá to rơi kinh hoàng trên mái trại. Từng ngày, anh em bạn tù dung xe cải tiến (xe cút kít) đi xúc đá, chở đá. Cả một vùng đá núi khô cằn, cỏ cây xơ xác. Và những cơn gió Lào trong mùa nắng cháy không ngớt thổi về làm đỏ hoe con mắt, khô héo ruột gan tù. Ở đây, chỉ khoảng một năm, đã có ba ban tù rũ áo: Lê Thơm, Hậu và một người nữa không nhớ tên (có phải là Nghĩa?). Đây là đất của diều và quạ. Đêm thường nghe vọng
Ác điểu ngày đêm gào xáo xác
Dường như cả thế giới lâm chung
(Tô Thùy Yên)
Đêm qua. trăng chết đầu ngọn khuya
Quạ quắp. trái tim ta. lên núi
(NXT)
Như thế đấy, bóng quạ kêu trong đêm nguyệt tận nào phải “nguyệt minh tinh hi… ô thước nam phi” như trong bài phú Tiền Xích Bích của ông Tô Tử ngày xưa. Cũng không phải tiếng quạ trên bến cây phong “nguyệt lạc ô đề…” Ôi, tiếng quạ kêu dưới những lán trại xác xơ trong thành đá xanh ngày ấy. Rồi cũng ở Thanh Chương Nghệ Tĩnh, những trưa tù đốt rừng, hừng hực nóng, khói và sâu bọ cuồn cuộn lên, khiến lũ quạ bay đảo đầy trời. Chúng kêu rân, họng đầy máu… Tiếng kêu của những phù thủy áo đen ấy, tưởng như báo điềm gở, làm cho bầu trời lạnh băng, không gian chợt tối lại.
Giã từ tiếng quạ của đất tù ngày ấy, tôi đi… qua biển rộng, qua những chiếc cầu hoàng hôn, những bến cảng sương mù, những xa lộ thời gian… Để đến trên ngọn đồi Penasquitos
buổi trưa nhìn nắng xế
trên sân. bóng quạ què
kêu. kêu. từng giọt máu…
Như vậy đó, ôi cuộc hành trình nhân sinh và đời đã qua biết mấy nhịp cầu. Để gặp lại tiếng quạ trong vườn khuya trụi lá đêm qua. Phải chăng đã hoàn thành một Tứ Đại Oán để gởi người thời nay? Tháng 7. 2010
Chiếc nhẫn cỏ
Em,
Đã lớp lớp thời gian trôi qua
Hoàng hôn còn rong chơi trên ngọn đồi ngày ấy
Em còn nhớ chiếc nhẫn cỏ anh đeo vào ngón tay em một
buổi chiều.
Chiếc nhẫn cỏ ấy giờ không còn nữa nhưng cái
hồn của cỏ vẫn còn đâu đó. Cho nên anh xúc động tới rưng
rưng khi nghe ca khúc Chiếc Nhẫn Cỏ của Hữu Xuân.
Chiếc nhẫn được tết từ sợi cỏ non ngắt ở bên hồ
Anh lồng vào tay em hương cỏ thơm và xanh mãi
Nhưng rồi anh đã ra đi...
Anh nhớ không, anh nhớ không
Chiếc nhẫn cỏ ngày xưa?
Rồi một ngày
Em phải lên xe hoa
Ngón tay lồng vào nhẫn cưới
Em quay đầu nhìn lại
Trong trang sách học trò
Chiếc nhẫn cỏ dần khô...
Đêm qua. trăng chết đầu ngọn khuya
Quạ quắp. trái tim ta. lên núi
(NXT)
Như thế đấy, bóng quạ kêu trong đêm nguyệt tận nào phải “nguyệt minh tinh hi… ô thước nam phi” như trong bài phú Tiền Xích Bích của ông Tô Tử ngày xưa. Cũng không phải tiếng quạ trên bến cây phong “nguyệt lạc ô đề…” Ôi, tiếng quạ kêu dưới những lán trại xác xơ trong thành đá xanh ngày ấy. Rồi cũng ở Thanh Chương Nghệ Tĩnh, những trưa tù đốt rừng, hừng hực nóng, khói và sâu bọ cuồn cuộn lên, khiến lũ quạ bay đảo đầy trời. Chúng kêu rân, họng đầy máu… Tiếng kêu của những phù thủy áo đen ấy, tưởng như báo điềm gở, làm cho bầu trời lạnh băng, không gian chợt tối lại.
Giã từ tiếng quạ của đất tù ngày ấy, tôi đi… qua biển rộng, qua những chiếc cầu hoàng hôn, những bến cảng sương mù, những xa lộ thời gian… Để đến trên ngọn đồi Penasquitos
buổi trưa nhìn nắng xế
trên sân. bóng quạ què
kêu. kêu. từng giọt máu…
Như vậy đó, ôi cuộc hành trình nhân sinh và đời đã qua biết mấy nhịp cầu. Để gặp lại tiếng quạ trong vườn khuya trụi lá đêm qua. Phải chăng đã hoàn thành một Tứ Đại Oán để gởi người thời nay? Tháng 7. 2010
Chiếc nhẫn cỏ
Em,
Đã lớp lớp thời gian trôi qua
Hoàng hôn còn rong chơi trên ngọn đồi ngày ấy
Em còn nhớ chiếc nhẫn cỏ anh đeo vào ngón tay em một
buổi chiều.
Chiếc nhẫn cỏ ấy giờ không còn nữa nhưng cái
hồn của cỏ vẫn còn đâu đó. Cho nên anh xúc động tới rưng
rưng khi nghe ca khúc Chiếc Nhẫn Cỏ của Hữu Xuân.
Chiếc nhẫn được tết từ sợi cỏ non ngắt ở bên hồ
Anh lồng vào tay em hương cỏ thơm và xanh mãi
Nhưng rồi anh đã ra đi...
Anh nhớ không, anh nhớ không
Chiếc nhẫn cỏ ngày xưa?
Rồi một ngày
Em phải lên xe hoa
Ngón tay lồng vào nhẫn cưới
Em quay đầu nhìn lại
Trong trang sách học trò
Chiếc nhẫn cỏ dần khô...
Sóng Danube
Sắp đến ngày Father’s Day… Sống trên đất Mỹ, lòng của bất cứ người con nào lại không gợn lên một thoáng nghĩ đến cha -cho dẫu là cha đã khuất hay còn sống. Nhất là với con gái, tình yêu cha là vô cùng thân thiết. Tình cảm ấy vốn tự nhiên và bình thường. Như chim hót hoa nở dưới trời. Tự nhiên và bình thường nhưng thấm sâu. Thời nhỏ cô bé Kathleen trong Purple Tulip chẳng yêu bố, đeo theo bố là gì và ngày nay những lúc cô đơn cô vẫn thường nghĩ tới bố để cho nước mắt rưng rưng. Tình yêu cha không phai mờ. Gần đây, đọc những trang tạp bút của Vi Vi đăng trên báo Trẻ, Nguyễn lại càng cảm nhận sâu xa điều ấy. Và chợt nhớ lại đoạn phim “Father and Daughter” được xem ngày nào cùng những mẩu chuyện cảm động kèm theo cuốn phim ngắn, đơn giản nhưng vô cùng đặc sắc này. Vậy xin kể lại sau đây.
Nhưng trước hết cần ghi nhận một điều: Nguyễn được xem phim Father and Daughter là nhờ một hôm váo weblog của một cô gái có nick là Carie. Đọc générique thấy ghi: Kịch bản phim và đạo diễn là Michael Dudok de Wit. Nhạc nền của cuốn phim là bản “Les Flots du Danube” tức “The Danube Waves” (Sóng Danube) của Iosif Ivanovici. Bấm vào để xem phim, khởi đầu nghe tiếng phong cầm réo rắt, dần dần ngân lên tiếng dương cầm thánh thót gợi ra một vùng sóng biếc mênh mông. A, bản nhạc mình hằng ưa thích: Les Flots du Danube - Sóng Nước Biếc.
“Father and Daughter”, là kiệt tác của đạo diễn người Hòa Lan, từng đọat giải Oscar phim ngắn hay nhất năm 2001. Nó kể lại với chúng ta bằng những nét vẽ hoạt hình đơn giản về mối tình cảm động giữa cha và con gái. Trong 8 phút ngắn ngủi ta được thấy hình ảnh hai cha con đi dạo chơi bằng xe đạp tới một bờ sông thơ mộng. Dựng xe bên một gốc cây, hai cha con chạy nhảy, cười đùa với nhau thật hạnh phúc. Thế rồi bỗng một hôm người cha chia tay với con gái ra đi, có lẽ là theo mộng hải hồ. Phải rồi, như lời một nhà thơ Pháp: Gió lên rồi/ thử sống xem sao... Ta tin ông đi để sống những giấc mơ của mình. Trước khi bơi thuyền ra khơi, người cha nhấc bổng con gái lên quay tròn trong vòng tay. Và dường như chính lúc ấy, ông đã ghé tai con thì thầm: Cha sẽ trở về. Thời gian trôi qua. Mùa xuân rồi mùa hạ, chim bay hoa nở. Thu và đông, lá rụng để trơ những cành khô trong tuyết trắng. Cô bé vẫn ngày ngày trở lại bến sông xưa tìm cha. Vòng bánh xe lăn đều, quay quay, đi và về trên con đường ngày nào. Cô bé lớn lên trong nỗi đợi chờ mòn mỏi. Và rồi, một hôm kiệt sức, cô nằm xuống chiếc thuyền mục trên bờ sóng, nhắm mắt lại. Thế nhưng, sự thực hay chỉ là ảo giác đây, cha cô đã trở về mà không hẹn trước. Bước ra khỏi thuyền, người cha chạy nhanh qua hàng dương, tới ôm con gái trong tay quay vòng trên bờ cát. Thế là cuối cùng ông đã giữ lời hứa về lại với con gái thương yêu. Tất nhiên là cô bé đã khóc và kêu lên những tiếng kêu hạnh phúc. Kết thúc như vậy là mở ra một bầu trời đầy sao láp lánh, trong khi nhạc phim “Sóng Danube” vút lên cao rồi tỏa dần.
Phim cảm động. Bạn nào muốn xem, xin vào Google, gõ hàng chữ Father and Daughter Film, trên màn ảnh sẽ hiện ra một dọc những tựa đề, bạn chỉ cần chọn Father and Daughter-Youtube, bấm vào đó và thưởng thức phim.
Bây giờ, Nguyễn xin được nói về cô Carie. Carie viết trên blog như sau để chia sẻ với mọi người xem phim và để nói lên tình yêu đối với cha mình:
“Tôi nhớ mình xem xong một lần thì ngồi khóc. Khóc đã, xong rồi chạy vào restroom rửa mắt, coi lại lần nữa rồi viết comment cho anh Hưng là người đã post bộ phim lên. Bây giờ thì anh đã xóa hết các bài viết trước nên cũng không còn link để share với mọi người nữa. Tôi lên Youtube kiếm lại...
Khi ấy trong lời comment tôi hỏi anh rằng anh có tin một người cha sẽ luôn giữ lời hứa với con mình không và rằng tôi luôn tin điều đó. Anh comment lại “Anh tin”. Chỉ hai chữ thôi mà tôi thấy rất vui, và tôi còn vui hơn khi rất nhiều comment khác, một người bạn ngoài Hà Nội comment rất ngắn, ba chữ thôi về câu hỏi của tôi, rằng “Em cũng tin”.
... Rồi Carie cho biết thêm: Theo những vòng xoay bánh xe đạp đi về trên con đường ấy, từ lúc nhỏ cho đến khi người con gái lớn lên, tôi có cảm giác bồi hồi như khi ngồi xem lại những cuốn album ảnh của gia đình.
Ba tôi chụp hình rất nhiều, và càng lớn thì tôi càng thấm thía lời ba nói rằng thời gian sẽ cuốn trôi tất cả, chỉ có những tấm ảnh là cái duy nhất giúp ta ấp ôm những phút giây kỷ niệm, những khoảnh khắc dấu yêu trong cuộc đời...
Tôi có hoang tưởng không, có “làm quá” không khi từ việc xem một bộ phim mà lại liên tưởng tới một cuốn album bạn nhỉ? Nhưng thật sự đó là cảm giác thật nhất, là hình tượng so sánh sống động nhất mà tôi có thể chia sẻ cùng các bạn...
Bộ phim không lời, nhưng khi xem tôi cứ như đang nghe có trăm nghìn lời nhắn nhủ, như bao la hồi ức quay về... Phải chăng người ta gọi đó bằng cụm từ là “đồng cảm?” Phải chăng vì đó mà tôi khóc? ... Có lẽ khung cảnh trong phim là một miền quê xinh tươi nào đó ở Hòa Lan, nhưng tôi thấy nó gần gũi như con đường Nguyễn Huệ đâm ra bến Bạch Đằng, như con đường ra triền sông quê má. Tôi nghĩ mình hiểu cái cảm giác của cô con gái chờ mong ba trong tin yêu và hi vọng, trong khắc khoải và nhớ thương, như thể đó là cái neo duy nhất của cuộc đời...
Rồi Carie kể lại kỷ niệm đi xe gắn máy phân khối lớn với cha mình. “Ôi, tôi lại lan man nữa rồi... Chỉ vì các bạn biết không, tôi luôn nhớ cảm giác đội mũ bảo hiểm và ngồi sau lưng ba trên những chiếc xe mà tiếng máy nổ ấm rền vang đủ làm nao lòng người... Ba luôn ẵm tôi lên xe, nhấc bổng hẳn lên ấy, như người cha trong đọan đầu phim... Cái cảm giác đó khó diễn tả lắm các bạn à. Mà tôi thật là ngớ ngẩn nhỉ, cần gì diễn tả, ai cũng hiểu cảm giác bình yên, sung sướng khi bay bổng khỏi mặt đất trong một vòng tay yêu thương... Rồi thì người cha đã giữ lời hứa... Tôi đã khóc trong nỗi vui sướng cùng cô gái khi gặp lại cha. Tôi đã khóc trong niềm tin cháy bỏng rằng một ngày nào đó tôi cũng sẽ có được niềm vui sướng ấy...” Cũng như cô gái trong Sóng Danube, Carie phải xa lìa người cha thân yêu. Cô viết: “Đã 7 năm nay, tôi sống với nỗi khát khao quay về một vòng tay âu yếm. Tôi đã trải qua thời kỳ trưởng thành về cả thể chất lẫn tâm hồn với niềm khát khao, chờ đợi, hy vọng ấy...
Rồi Carie tìm kiếm. Và có lẽ suốt cuộc đời cô sẽ tìm kiếm hình ảnh của cha như cô bé trong Sóng Nanube.
Phượng
Trong phim Ba Mùa (Three Seasons), xem cách đây đã lâu, có một cảnh hoa phượng đỏ đẹp tuyệt vời. Hải, bằng chiếc cyclo của mình, chở Lan đến dưới hàng phượng, như đưa nàng trở lại thời mơ mộng thuở xa xưa, khi phấn son chưa làm hoen ố tâm hồn ấy. Màu hoa phượng đỏ trở thành một thứ nước thánh, thanh lọc hết mọi ố tạp của cuộc đời.
Nhìn kia. Những cánh phượng bay trong gió, như một trận mưa màu đỏ. Ta chợt nhớ tới một lời ca rất đẹp của Trịnh Công Sơn: Đường phượng bay mù không lối vào... Có phải lối vào trường em ngày xưa cũng có cơn mưa màu đỏ như thế, làm chúng ta như lạc vào một giấc mơ. Giấc mơ đó còn không?
Nó vẫn còn đó. Không ai quên được, dù đã cách xa cả một biển thời gian. Bên kia trời, phượng vẫn nở. Chỉ cần ngoảnh mặt nhìn lại là thấy ngay màu đỏ rực rỡ, chói chang. Không một loài hoa nào nồng thắm và bao la như phượng. Nó không nở cho riêng một ai, dù kỷ niệm của mỗi người là riêng tư. Và nó có một đời sống dài lâu trong trí tưởng của anh, của chị, của em. Cái cô bé ngày ấy, nay đã là mẹ của một đàn con, và có thể đã có thêm những đứa cháu, vậy mà nhắc tới hoa phượng một thời lòng vẫn còn rưng rưng.
Xin cho tôi được về, dẫu chỉ một lần, đứng dưới màu đỏ của hoa phượng. Thế đấy, phượng đối với ta thân thiết biết chừng nào.
Mộng hái sen
Mộng Hái Sen. Viết xuống những từ này lòng chợt bồi hồi nhớ đến “Mộng Đắc Thái Liên” của Nguyễn Du. Cùng cô hàng xóm nhỏ đi hái sen ở Hồ Tây, Nguyễn biết bài thơ Hái Sen của Nguyễn Du cũng đã khá lâu. cho nên khi được đọc bài của Nguyễn Huệ Chi do Bùi Huy (Tô Thẩm Huy) gởi đến thì lại càng tràn đầy xúc cảm. “… trong một bài thơ làm thời kỳ đã ra làm quan với nhà Nguyễn, Nguyễn Du bỗng mơ về cái thời trẻ trung ở Thăng Long. Ông nhớ đến một người đẹp, cô bạn hàng xóm, đã cùng ông đi hái sen ở hồ Tây. Một Nguyễn Du khác lạ bỗng đâu hiện về làm mờ hẳn Nguyễn Du già nua trước mắt. Sự xuất hiện bất thần của cô bạn gái được nhà thơ gợi tả thông qua cái bóng của cô lung linh dưới mặt nước khiến cho cảnh vật chợt bừng sáng, thời gian đảo ngược từ dĩ vãng trở thành hiện tại.”
Khẩn khúc thù điệp quần,
Thái liên trạc tiểu đĩnh.
Hồ thủy hà xung dung,
Thủy trung hữu nhân ảnh.
Thắt chặt quần cánh bướm,
Hái sen thuyền nhỏ bơi.
Nước hồ sen trong vắt,
Trong nước có bóng người… *
Ôi, mộng hái sen… Còn gì tuyệt vời bằng.
Nhưng trước hết, Nguyễn xin được nói một chút về hoa sen trong đạo học và văn học Đông phương. Bông sen xuất hiện khắp các nước Á châu và được xem là hoa của những người theo Ấn giáo và Phật giáo (flowers of Hindus and Buddhists). Từ những thời xa xưa, hoa sen được xem là tượng trưng cho những gì là thuần khiết thuộc về tinh thần. Ấn giáo tôn thờ hoa sen trong hình ảnh các nữ thần Vishnu và Lakshmi thường xuất hiện trên một đóa sen hồng. Trong Phật giáo, hình ảnh Đức Phật ngồi trên tòa sen đã trở thành quen thuộc. Còn khi Phật cầm cành hoa chỉ vào mặt trăng cho ông Ca Diếp xem, Nguyễn nghĩ cành hoa đó chỉ có thể là bông sen.
Hoa sen đẹp, nhất là trong vùng nước xanh với bóng cô gái hái sen. Trong bài thơ “Mộng Đắc Thái Liên”, Nguyễn Du cũng cho ta thấy vẻ đẹp ấy khi hẹn với cô gái nhà bên buổi sáng đi hái sen, và nào là người chưa đến mà đã nghe tiếng cười, và hoa sen thì đẹp và cuống sen có những sợi tơ vương vấn.
Ấu thời của Nguyễn cũng gắn liền với bông sen. Tắm ở ao sen đầu làng. Những bông sen mẹ mua về cắm trên bàn thờ, hương thơm thoang thoảng khắp căn nhà lợp tranh. Có một lần Nguyễn được cùng với chị Thoa bơi chiếc thuyền thúng hái sen trên hồ Thủy Đình lúc trăng chiều vừa mới lên. Gió nhẹ thổi lá sen rào rạt. Hai chị em vừa bơi thuyền vừa cười giỡn vô tư. Rồi chị Thoa đi lấy chồng làm Nguyễn nhiều buổi nghẹn ngào nhớ chị. Và trí óc mông lung của Nguyễn còn bóng bài thơ Hái Sen (Cueillir des Lotus) bằng tiếng Pháp của ai đó, hình như cũng kể chuyện ngày xưa được cùng chị hái sen trong đầm nước xanh. Kỷ niệm với chị, nhất là chị họ, bao giờ mà chẳng đẹp và long lanh ngấn lệ. Ôi tình xưa như nhãn và sen/ Dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn...
Huế là nơi trồng rất nhiều sen. Sen dưới hào nước chung quanh tường thành. Lê Văn Ngăn kể nhiều đêm thanh vắng, đi qua cầu vào cổ thành, chợt nghe một tiếng soạt dưới đầm, nhìn xuống thấy một bông sen nở trắng. Tôi nghĩ chắc ông thi sĩ tưởng tượng thêm vì Ngăn nổi tiếng là nhà thơ duy cảm. Và hồ Tịnh Tâm, nơi sen nở có người chờ đợi trước. Hạt sen hồ Tịnh Tâm là thứ quý như vàng, Thỏ nấu chè cho Cu ăn một mùa hè bãi trường về thăm nhà ở Vương Phủ, em còn nhớ hay em đã quên, hay là cũng do Nguyễn tôi tưởng tượng mà thôi... Và em có biết, Sen xa hồ sen khô hồ cạn/ Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng... Còn anh xa em thì sao, ở hai bên bờ Tây và bờ Đông, có nhánh hoa lavander nào tàn úa không, hay chẳng có gì cả, dửng dưng như không, vì đời đã quen với những lúc xa nhau?* *
Sang Mỹ, nhiều lúc thấy nhớ bông sen và lá sen. Nhớ lạ lùng. Bông như môi và lá như tay. Xin cùng Nguyễn đọc lại câu thơ rất hay của Nguyên Sa: Vẫn biết lòng mình là hương cốm/ Chẳng biết tay ai làm lá sen… Ôi, trong đầm gì đẹp bằng sen. Nhưng tìm đâu thấy? Vừa mới đây thôi, trong lúc trò chuyện với những chú ve nhỏ, kẻ viết những dòng vẩn vơ này có nói tới hoa sen. Đó chỉ là một liên tưởng, và hắn có nói là mắt chưa từng được thấy cây bông sen ở xứ này. Lời ấy đã không còn đúng nữa rồi: Trong một chuyến đi đọc thơ ở Florida, mắt hắn đã được thấy cả một hồ sen nở ngát. Hồ sen của Trần Đệ.
Thật là tuyệt vời. Anh bạn văn Trần Đệ - quê ở Mỹ Tho nơi hắn đã có một thời để sống và để mơ... - anh Đệ đã chống thuyền đưa hắn ra giữa hồ hái những bông sen trắng, sen hồng. Và trong một thoáng ngắn ngủi, hắn nghĩ đến cô bé Kiến An trong phim Ba Mùa - em đã có xem phim này, chắc em còn nhớ - cô bé nửa đêm bơi thuyền trên hồ sen bát ngát đến thăm nhà thơ bất hạnh. Cái ánh lửa từ những ngọn đèn rơi trên nước, những vùng lá và bông sen xô giạt dưới nhịp chèo, mái tóc dài bay trong gió tối... những ảnh bóng đó còn đọng trong tâm trí hắn cho tới phút giây này.
Giờ đây, hái sen đối với hắn không còn là một giấc mộng nữa. Dẫu chẳng được như Lý Bạch “đọc nát vạn cuốn sách” nhưng hắn cũng là gã lãng du, mê sách mê tranh, từng đi hết vạn dặm đường. Cô gái Hàng Châu thấy Lý Bạch chèo thuyền tới thì núp bóng vào vùng lá và bông sen, nhưng cô gái Phượng thành trên trang văn của hắn thì “từ dưới vùng nước xanh ao sen mùa hạ bước lên, hai tay ôm đầy bông sen đỏ, tóc và quần áo đẫm nước dán vào da thịt”... Thế thì Lý Bạch, và cả Vương Xương Linh, Bạch Cư Dị... chắc gì có diễm phúc hơn gã thơ lãng du kiết xác, bụi bặm này. Có lẽ hắn chỉ thua Nguyễn Du, không được cùng người đẹp Tây Hồ chèo thuyền con đi hái sen thôi. Nhưng biết đâu, ở kiếp sau... Chúng ta cùng hẹn nhé?
* Nguyễn Huệ Chi
** Ca từ Trịnh Công Sơn
Bông hoa và hòn đá
Một hôm, bé Nguyệt Quỳnh, lúc đó mới 4 tuổi, đi dạo chơi với bà trong khu cư xá Emerald ở Ponchatoula, Louisiana. Trời nắng nhẹ, tiếng chim hót trong cây. Mùa xuân sắp trở về. Nhìn những bông hoa dại màu tím và vàng nở bên vệ cỏ, bé Quỳnh thích lắm. Bé cúi xuống hái một bông cầm trên tay và nói: “Quỳnh hái về cho ông”. Rồi bé tiếp tục đi tới cái circle, chỗ có trồng mấy cây lê bắt đầu nở đầy hoa trắng. Thấy một viên đá màu lam thật đẹp nằm dưới cái ghế gỗ, bé Quỳnh bèn cúi xuống nhặt lên, nói: “Quỳnh nhặt về cho ông”.
Thế là khi trời báo hiệu vào xuân, thì Nguyễn này đã có được một bông hoa dại và một hòn đá. Từ đó gợi hứng cho Nguyễn viết bài văn này với ước mong một ngày kia hoa sẽ mọc trên đá. Cũng như từ những trái tim khô cằn, bỗng vang lên tiếng nói yêu thương và hy vọng.
Một lần nọ khi đến thăm trái đất này, tôi đã trồng ở đây một cây bông hồng. Đó là lời của Hoàng Tử Bé, nhân vật tưởng tượng của nhà văn St. Exupery. Thế mới biết bông hoa dù ở đâu, ở một hành tinh nào khác hay trên trái đất này, cũng đều quý cả. Và dù trong gian khổ nhọc nhằn, hoa cứ vẫn nở. Cho đến nỗi Ông Sơn Núi đã có lần thốt lên một lời bất hủ: Đụ mẹ/ Cây bông/ Hắn không/ Lao động/ Ai trồng/ Chật chỗ/ Mày nhổ/ Xem sao/ Máu trào/ Thiên cổ. Và Tô Thùy Yên cũng có hai câu thơ rất hay: Cảm ơn hoa đã vì ta nở/ Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Vâng. Hoa đem niềm vui đến cho người. Thử tượng tượng mặt đất này không có những bông hoa và những cái cây. Lúc bấy giờ nó không còn là quả cam màu xanh nữa mà là một trái cầu lửa. Do đó, con người cần phải biết gieo hạt giống hoa và trồng cây. Nguyễn còn nhớ đọc một cái tin trên báo kể chuyện cô bé Cindy ở California cứ mỗi năm lại cùng các bạn nhỏ Hướng Đạo đi gieo giống hoa poppy trên các đồi cỏ. Kết quả, giờ đây mỗi lúc xuân sang, hoa poppy nở như một tấm thảm rực rỡ nhiều nơi tại Cali. Nước Mỹ nhiều hoa, và hoa nở khắp nơi, chính là nhờ những bàn tay như vậy.
Vậy nhé, Nguyễn xin tiếp tục về những bông hoa. Easter về… Mấy hôm nay, trời Dallas nắng đẹp. mình được dịp cùng gia đình đi chơi ở vườn Arboritum, xem hoa. Chưa bao giờ trong đời, được nhìn thấy nhiều hoa như thế. Có đến mấy trăm ngàn bông tulip đủ màu và daffodil vàng rực trên khắp các lối đi. Ở đây, Nguyễn thật sự được nhìn thấy những con người hạnh phúc cùng nhau đi dạo chơi, ngồi nằm trên thảm cỏ, ăn uống và nghe nhạc. Đủ màu da: trắng, vàng, đen, đỏ Rất tiếc, có ít người Việt di xem hội hoa. Ở đây, xin cho phép Nguyễn được lộng ngôn: Không đi xem hoa tulip và daffodil mùa này ở Arboritum là bỏ một dịp vui hiếm có trong đời. Hội hoa còn kéo dài qua tới tháng Tư lận. Người ơi, xin đừng lãng quên
Hoa đem đến cho người niềm vui .Vâng, đúng như vậy Viết tới đây, Nguyễn bỗng nhớ tới một câu hát của Lê Uyên Phương: Như hoa đem tin ngày buồn Có thế sao? Là khi tình yêu tan vỡ, người yêu bỏ ta đi? Có bao giờ bạn thấy thế chưa? Riêng Nguyễn cũng có một đôi lần thấy hoa không là hiện thân của niềm vui. Ấy là hồi mới đến Mỹ, khoảng 1996 - 1997 (xin lỗi, không nhớ đích xác), Nguyễn về thăm thành phố Oklahoma sau trận Tornado. Cả một thành phố như cảnh mặt trăng. Vậy mà trên đống đổ nát của một khu nhà ở vẫn có những bông đồng thảo (violets) mọc lên. Thì ra vẻ đẹp và sự sống, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng cố gắng đến với người như một an ủi và hy vọng. Ngày Mother’s Day, khi đến nhà thờ cầu nguyện, Nguyễn thấy trên ngực áo các con chiên đều cài bông cẩm chướng, như để tưởng niệm những người mẹ và người con không bao giờ về nữa.
Bông hoa và hòn đá/ hành giả trên đường khuya/ trăng lên/ dế khóc Có vẻ như thơ haiku. Thưa không, đó là do Nguyễn liên tưởng khi nhìn thấy những tảng đá nằm trong các thảm hoa uất kim hương và thủy tiên trong arboritum. Chính những tảng đá đó làm cho hoa càng rực rỡ và sinh động hơn. Một bên là sự mềm mại, một bên là vẻ sù sì, vậy mà có thể nằm cạnh nhau, và tạo thành một thực thể đẹp, hoàn chỉnh. Cũng tựa như một nhan sắc nùng diễm đi bên một gã gồ ghề, bặm trợn. Từ đó, ta hiểu được nghệ thuật vườn cảnh của Nhật Bản, nơi đá đóng một vai trò quan trọng.
Nói riêng về những hòn đá thì Nguyễn hiện cất giữ ít ra là năm hòn. Xuất xứ từ nhiều nơi: từ đâu bên Trung Quốc có, từ Ngũ Hoành Sơn quê nhà có, và từ những dãy rocky mountains của Mỹ. Nói là đá quý thì không phải. Bởi giá trị vật chất của nó không đáng kể. Chỉ đáng giá một hai đô la hoặc không gì cả. Làm sao có thể sánh với viên kim cương của một tay lái buôn dâng tặng cô nhân tình ca sĩ. Thế nhưng những hòn đá ấy đẹp và quý đối với Nguyễn. Hình như cũng trên mục này, có lần mình nhắc tới chiếc lược của một chàng nào đó tặng cô… Oanh Hay Cười từ những ngày xửa ngày xưa. Có đáng là bao đâu vậy mà cô Oanh cứ nhớ mãi cho tới bi giờ. Thì ra vật quý không cần phải là thứ đắt tiền. Trong bài trước, Nguyễn có viết khá là lâm ly về cái nhẫn cỏ của cô sinh viên. Ôi, báu gì mà cô nâng niu đến vậy. Báu gì đâu bài thơ người ấy tặng mình lúc còn trẻ mà nhớ hoài nhớ mãi, mỗi lần đọc lại là tim lại… đập lỗi mất một nhịp.
Đã có một lần Nguyễn nói tới hòn đá của nhà văn Thảo Trường. Hôm nay xin nhắc lại ở đây: “Hòn đá to bằng nắm tay. Mầu mận chín. Nhìn kỹ nó có vóc dáng hình nhân, có khi lại thấy hao hao một loài thú. Cũng có lúc thấy nó giống thiên thần rồi lại chợt tưởng là quỷ sứ. Có lúc thấy nó hiền lành nhưng cũng có lúc thấy nó toát ra vẻ hung dữ. Lúc thấy đẹp, lúc thấy xấu. Lúc thấy dễ thương, lúc thấy đáng ghét. Lúc thấy có hồn, lúc thấy vô tri. Lúc thấy nó sống động, nhưng có lúc thấy nó là tĩnh vật.. Có lúc thấy nó hiện hữu, lại có khi chẳng nhìn thấy đâu. Theo người tìm ra thì mảnh vỡ có thể là từ cung trăng hay một hành tinh nào đó trên vũ trụ xẹt xuống. Sao băng nằm ở đáy hồ.” Tuyệt diệu. Thảo Trường cho biết hòn đá này có lý lịch từ thời anh đóng quân ở cao nguyên. Nó do một người lính nhặt được đâu dưới lòng suối đem tặng. “Ông sĩ quan giữ viên đá anh lính cho mãi đến ngày tàn cuộc chiến. Đổi đi đơn vị nào ông cũng mang theo, tuy không lên tướng nhưng sau này về làm tham mưu, có văn phòng, ông cũng luôn luôn trưng cục đá màu mận chín đó trên bàn giấy.”
Và đây, một câu chuyện về đá. Hồi đi tù ở Sơn La, anh Tâm (nhà thơ) đặc biệt gần gũi với một người cùng lán tên Lãng. Lãng còn rất trẻ (tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai - ca từ một bài hát quên tên) lên trung úy khi chưa tới 30 thì đi tù. Lãng dáng vẻ hung hãn, trong tù anh sống khép kín, chỉ chuyện trò với mỗi mình anh Tâm. Những lúc nhớ nhà, anh Tâm thường kể cho Lãng nghe về con gái út của mình tên Thảo, năm ấy mới 13 tuổi. Thảo đặc biệt yêu bố. Nghe chuyện anh Tâm, Lãng chú ý và thỉnh thoảng hỏi về Thảo. Hai người xem nhau như anh em. Anh Tâm thân mật gọi Lãng là chú - chú Lãng. Những ngày sau đó, mỗi lúc đi lao động, Lãng lang thang tìm nhặt thứ này thứ khác. Khi thì đem về cái sừng trâu gãy, khi thì vài hòn đá nhặt ở bờ suối. Rồi những lúc rảnh, Lãng lầm lì ngồi gọt đẽo, mài dũa. Ngày tháng trôi qua, năm 1979 quân Trung Quốc đánh vào biên giới, thế là ùn ùn biên chế chuyển trại. Trước lúc lên đường, anh Tâm dặn Lãng là hãy khá giữ mình và bình thản trong mọi trường hợp. Lãng đưa anh Tâm một cái gói nhỏ bảo mang về cho Thảo quà của chú Lãng. Đó là chiếc lược bằng sừng trâu và mặt đá hình trăng lưỡi liềm có sợi dây để đeo vào cổ. Về sau, khi ra trại năm 1982, anh Tâm mang cả hai thứ về cho bé Thảo. Rồi mãi mãi không được tin tức gì về Lãng nữa. Nghe anh em về nói khi ở Thanh Hóa, Lãng trốn trại bị bắn chết. Bé Thảo giữ mãi chiếc lược và mặt đá hình trăng lưỡi liềm có ửng những đường vân xanh và tím. Mãi mãi
Nói về những hòn đá, Nguyễn nhớ một hôm lang thang trên lưới, vào Google tìm James Dean, gặp nấm mộ của người quá cố. Ngôi mộ nhỏ, bình dị, nhưng đẹp rực rỡ. Trước mộ có bình hoa và những hòn đá bằng quả trứng gà. Về sau này mới hiểu đó là những hòn đá của người viếng mộ để lại như một niềm tưởng nhớ. Đá đã nói hộ người những nỗi u hoài nhân sinh.
Vậy, bao giờ thì đá nở hoa? A, cái anh chàng thơ thẩn này nói những điều lảm nhảm vô nghĩa lý như Hamlet trên sân khấu Shakespeare. Đá nở hoa? Vậy mà có đấy. Trong tranh Đinh Cường. Nhớ hồi còn ở Việt Nam, Nguyễn tôi rất thích một bức chân dung thiếu nữ của bạn hiền, ở background vẽ một bông hoa đỏ nở ra từ vách đá xám. Ôi, tuyệt vời. Đá đã nở hoa như thế đó. Nghệ thuật không chỉ vẽ lại đời sống mà còn sáng tạo đời sống. Nguyễn có đọc đâu đó một chuyện của Tâm Thanh nói về đóa quỳ vàng mọc từ kẽ đá trong một chung cư của Oslo, Na Uy. Từ đó, trí óc đầy hoang tưởng của Nguyễn vẽ vời thêm. Ở nơi kia, trong một phố nhỏ, có hai người trẻ tuổi yêu nhau. Ấy là lúc cây hoa quỳ trong kẹt đá nơi góc tường chung cư nở hoa. Khi người con trai lên đường nhập ngũ, chàng hái tặng cô gái một đóa quỳ vàng, hẹn rằng khi cây quỳ lại nở hoa chàng sẽ trở về. Thế rồi bao lần cây hoa quỳ nở, chàng trai vẫn không trở về cho đến một hôm người con gái nhận được tin người yêu tử trận. Từ đó, cứ mỗi mùa cây hoa quỳ trong chung cư nở, cô gái lại hái những bông quỳ vàng rắc đầy lối đi, để tưởng nhớ... Và mới cách đây mấy hôm, Nguyễn được nhìn tấm ảnh chụp cô Mary nằm dài trước nấm mộ trong nghĩa trang khóc người yêu là James đã chết ở chiến trường Iraq. Trước mộ có một cây dã quỳ đang nở hoa vàng chói
Tháng 6. Thiên An Môn
Nhớ một lần, Nguyễn đã viết: Thiên An Môn, từ sau năm 1989, đã trở thành đất thiêng của nhân dân Trung Quốc. Đây là nơi lảng vảng những hồn ma của quá khứ. Đây là nơi khách từ năm châu đứng lặng nhìn hoàng hôn mà còn nghe vang vọng tiếng kêu gào đau đớn và phẫn nộ của hàng ngàn sinh viên bị đàn áp trong sự biến xảy ra vào tháng 6 năm 1989. Mường tượng thấy những ánh lửa trong đêm, những mái đầu gục vào nhau trong giấc ngủ mơ, những mối tình nở vội dưới ánh trăng trên quảng trường. Rồi bỗng sấm sét cuồng phong dấy lên, người chết phơi thây trên gạch đá.
Bây giờ là tháng 6. Tháng 6, trời nhiều mây trắng. Mây năm xưa đã phiêu du trở về Và nhớ lại Chiều qua Thiên An Môn đã viết ngày nào. Vậy xin chép tặng người những câu thơ lưu lãng:
Chiều qua Thiên An Môn
nghe tiếng dội từ gỗ đá
từ một mặt trời lặn tắt
chiều qua Thiên An Môn
chợt nghĩ tới em
trên đại lộ Trường An ngày ấy
chúng ta nắm tay nhau
đứng lặng. nép vào góc phố
rầm rập những chiến xa
dẫm nát thân người
và súng nổ
vầng trăng. run rẩy. trên cao
Chiều qua Thiên An Môn
gọi tên những người yêu nhau
thất lạc
giờ đây. anh đứng một mình
giữa phố Tàu. ở San Francisco
chợt nghe một tiếng kèn ma
và anh biết
không còn. không còn gì nữa
Chiều qua Thiên An Môn...
Tháng 6 năm 2004, mười lăm năm sau biến cố Thiên An Môn, thi sĩ Shi Tao, trở thành một tù nhân với cái tội là phóng bài thơ kỷ niệm Thiên An Môn lên lưới. Bài thơ June - Tháng Sáu - được Nguyễn Mạnh Trinh dịch đăng trên Viet Herald. Nguyễn tìm thấy bản tiếng Anh trên trang web penpoemrelay.org.
My whole life
Will never get past
“June” June, when my heart died
When my poetry died
When my lover
Died in romance’s pool of blood...
Dựa một phần vào bản dịch của Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn viết lại bài thơ này như sau:
Cả đời tôi
sẽ không bao giơ vượt qua được. cái bóng của tháng sáu
tháng sáu. ôi tháng sáu. khi trái tim tôi ngừng đập
khi thơ tôi tắt thở
khi người yêu tôi
chết trong vũng máu của cơn mơ
tháng sáu. mặt trời thiêu đốt. mở toang làn da tôi
phô bày sự thật của vết thương tôi
tháng sáu. con cá bơi ra khỏi mặt biển màu đỏ. của máu
trôi về phía giấc đông miên
tháng sáu, mặt đất này cũng trôi dạt, và những dòng sông
lặng tiếng
giờ đây hàng ngàn hàng ngàn lá thư xếp đống
không thể nào chuyển tới tay những người đã chết.
Xin nhắc lại: Shi Tao bị bắt giam vì đã làm thơ kỷ niệm 15 năm Hồng Quân Trung Hoa đàn áp và tàn sát những người biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn. Chính quyền kết án ông 10 năm tù. Việc bắt giữ này cho thấy chế độ Cộng Sản Trung Hoa muốn “bẻ cánh những con chim trời”, kiểm soát hệ thống Internet. Đã có tới 42 ký giả bị bắt trong năm 2004, mà hơn phân nửa là những người sử dụng Internet để chống chế độ. Chính quyền ra lệnh cho tất cả các ký giả trong nước tuyệt đối không được đề cập hoặc nhắc nhở đến ngày “4 tháng 6 năm 1989.”
Sự thật thì nhà cầm quyền Cộng Sản ở Trung Quốc sợ chữ của nhà thơ Shi Tao. Cũng như nhà cầm quyền CSVN đã sợ chữ của nhà thơ Trần Dần trước đây. Mà chữ bài thơ Tháng Sáu của Shi Tao quả đã làm xúc động trái tim và khích động tư duy con người. Những từ như ‘trái tim ngưng đập, thơ tắt thở, chết trong vũng máu của cơn mơ, mở toang làn da, sự thật của vết thương, những lá thư không tới tay người chết’ khiến trái tim ta thắt lại, trí óc bàng hoàng Ta nghĩ tơi cái chết của hàng trăm hàng ngàn những người trẻ tuổi đầy lý tưởng, mơ mộng, tình yêu. Và như nhà thơ Trung Quốc Yang Lian hiện sống lưu vong ở Luân Đôn đã chỉ ra: “Từ cái tôi ở khổ thơ đầu, ý nghĩa của bài thơ đã mở rộng tới những người yêu nhau đã chết trên vũng máu đào đầy lãng mạn (chữ romance). Từ hiện thực, những câu thơ đi vào siêu thực với hình ảnh cuối cùng như từ đôi mắt của một hồn ma: những lá thư chất đống không thể giao tới tay những người chết. Xúc động đến lặng người.”
Chiều qua Thiên An Môn... Tháng Sáu. Ôi. tháng sáu. khi trái tim tôi ngừng đập/ khi thơ tôi tắt thở/ khi người yêu tôi/ chết trong vũng máu của cơn mơ Tháng Sáu. Những khuôn mặt ngày xưa giờ đã chìm khuất trong thời gian. Thế nhưng Thiên An Môn vẫn là đất thiêng. Bời nơi đây lịch sử đả đi qua và còn âm vang. Xin nhắc lại: “Hơn hai mươi năm trước, vào mùa xuân năm 1989, loa cầm trên tay, đầm đìa nước mắt, Triệu Tử Dương đứng ở quảng trường Thiên An Môn, giữa những sinh viên đang kêu gọi những cải cách dân chủ - ông nghẹn ngào tuyên bố, “chúng ta đã đến quá trễ, quá trễ.” Lời của ông như một trách móc vượt thời gian. Hơn hai mươi năm sau, những điều cần phải đến vẫn chưa đến, hay chỉ đến nửa chừng, cho Trung Hoa, cho Việt Nam, cho những quốc gia vẫn còn nhiều tai biến trên hoàn cầu.” Tạp chí trên mạng Da Màu trong thư tòa soạn đã viết những dòng trên như một chia sẻ với các bạn trẻ về khát vọng dân chủ và tự do.
Em có tìm anh trên những hàng cây
Một đêm, cũng vào dạo tháng bảy này, trong ngôi nhà của Nguyễn Xuân Phước bên hồ ở Irving có trăng lên sau hàng cây, và tiếng hát khàn đặc cùng tiếng đàn guitar Hoàng Ngọc Tuấn, như tiếng kêu đường của những nghệ sĩ rách rưới lang thang. Bài Hát Chào Hàng và Cái Dường Như Là. Cả hai bài hát đều được viết ở Sài Gòn và hát ở Sài Gòn nhiều năm trước, khi anh cùng Hoàng Đình Bình rong chơi trong đói rách: hỡi người qua lại/ xin đừng e ngại/ khi ghé lại quán này/ xin mời đến ngồi/ xin mời đến ngồi/ một góc đời nhỏ nhoi/ ai cần khí trời/ ai cần tiếng cười/ xin vào chơi
Tiếng hát và ca từ của Hoàng Ngọc Tuấn gợi mình nhớ lại một thời khốn khó, tối tăm ở Sài Gòn, gợi lại cả những vẻ đẹp của đất trời một thuở.
Và rồi nhớ lại chỗ sân ga cũ trên đường Lê Lai xế bên bùng binh Sài Gòn, mình và Nguyễn Minh Diễm, Nguyễn Trung Dũng ngồi rít thuốc lào và uống trà đắng của một cô bé lang thang từ Bắc vào. Đôi khi mình tìm tới các bạn trẻ, nam có nữ có, uóng ly rượu đắng và đọc thơ cho họ nghe. Hình như trên góc đường chỗ gần cầu Phan Thanh Giản.
Bên cạnh những khốn cùng tuyệt vọng ấy, may thay còn có đất trời và lòng người. Tất cả xen lẫn nhau, nhờ đó mới thở được, sống được dù là qua ngày. Những đêm đi dạy học chui về, bụng đói, nhìn trăng trên hàng cây trên đường Nguyễn Tri Phương hay dưới lòng sông Thanh Đa, đôi khi Nguyễn mỉm cười rưng rưng lệ. Và những bữa trưa, giữa hai lớp dạy, Nguyễn vào một con hẻm ở đường Duy Tân chỗ gần nhà Khánh Ly và Trịnh Công Sơn, ngồi uống tách cà phê nhìn nắng lấp lánh trên hàng sao và những bông dầu bay bay. Đó là những phút giây hạnh phúc hiếm hoi. Và này em, em còn nhớ không, mưa Sài Gòn thời có hai kẻ yêu nhau, hình như cũng đã lâu lắm rồi, trước khi Cộng Sản vào chiếm Sài Gòn. Mưa như một khúc nhạc vui trên đường phố. Mưa xối xả, âm vang. Những hàng sao hàng phượng trút lá tơi bời. Anh và em nép vào dưới một mái hiên nghe mưa chạy trên mái ngói. Tóc em ướt, áo em ướt và tiếng cười reo trong một khúc tremolos. Rồi mưa chợt tạnh, cũng bất ngờ như lúc bắt đầu… Người và xe lại hối hả băng băng trên đường phố. Nắng chợt ngời lên trên hàng cây.
Và rồi bỗng chốc Sài Gòn đổi chủ. Rạng đông… Một rạng đông bị đóng đinh ttrên cây thập tự giá. Và rồi nhiều người đã bỏ đi… Ôi Việt Nam/ từng là nỗi đau xé trong tôi/ sao tôi khóc lúc ra đi/ phượng đỏ. một lời yêu dấu cũ/ là lúc chia xa... Từ chia tay với Sài Gòn, mới đó mà đã mười sáu năm. Mười sáu năm là tính từ ngày anh bỏ nước ra đi, chứ tính từ ngày Sài Gòn phải đón dép râu và nón cối vào thì đã ba mươi sáu năm. Ba mươi sáu năm, ôi lịch sử đã làm một cuộc chia ly lớn với hàng triệu người ly hương, trôi giạt nơi quê người. Kẻ sống người chết bao giờ mới gặp lại nhau.
Vậy mà em còn hỏi anh có theo em về Sài Gòn không? Ôi, làm sao anh trả lời em đây. Phan Thị Như Ngọc khi đi qua những con đường của thành phố Sài Gòn đã viết cho người yêu. “H. ơi! Với riêng em, cái khác của Sài Gòn hôm nay đơn giản chỉ là sự thay đổi của vài con đường, vài hàng cây từng in bóng anh thôi. Em kể cho mưa nghe. Rằng con đường ngày xưa anh đạp xe qua, quán xá nhỏ gầy, gió heo heo luồn về tháng bảy tháng tám này… Rằng những hàng cây mà anh từng ví như rèm mi xanh, khép lại phố phường lúng liếng tà huy… Con đường ấy, hàng cây ấy nay đã không còn.”
Như thế đó. Riêng em, về thăm thành phố cũ, em có đi tìm lại hình bóng anh trên những chòm cây đường Duy Tân hay đường Gia Long không? Những con đường ngày xưa từng in dấu chân hai người bây giờ đã mang tên khác, những cái tên lạ hoắc đối với người dân miền Nam. Và những cây sao cây dầu, cây hoa ngọc lan hay cây bông sứ máu ngày ấy liệu còn không hay đã bị đốn hạ? Thì làm sao em tìm thấy anh. Cả những quán cà phê ngày xưa, nghe nói cũng không còn nữa. Quán Chùa đã biến mất. Hân ở đường Đinh Tiên Hoàng Dakao cũng không còn. Và cả Hồng trước Viện Pasteur. Những tiệm sách ngày nào đã bị xóa tên. Nói chi tới rạp xi nê anh và em vào xem phim thời ấy (em còn nhớ không, rạp hết chỗ, anh và em được ngồi sát bên nhau ở bậc cầu thang tít phía trên và… mi nhau, lêu lêu!). Đi tìm anh may ra em chỉ còn thấy dư ảnh ở những viên gạch vỉa hè và những ngọn đèn đường. Sài Gòn bây giờ không còn chim nữa, phải không em? Chim đã bay đi từ mùa ấy. Vậy thì, cho một lần trở về, khi chiều tha thẩn trong vườn chùa, em hãy nhặt giùm anh một bông ngọc lan hoặc bông sứ máu gởi cho anh. Đó là những bài thơ anh đã viết cho Sài Gòn, cho Việt Nam thời anh còn trẻ tuổi. Chỉ cần vậy thôi.
Tháng bảy, 2011
Đà lạt. ở một góc khuất của virginia
Em và bầy chim én
vẫn bay trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
(NXT)
Người viết đã thật sự được sống cái không khí thoảng mùi nhựa thông của Đà Lạt khi ngồi với các bạn ở nhà Nguyễn Minh Diễm, thành phố Alexandria, Virginia, tối chủ nhật cách đây cũng đã dăm bảy năm. Buổi họp mặt gồm vợ chồng Diễm, vợ chồng Thanh Quang, anh Phúc và vợ là Thanh Trúc, Lê Khắc Huyền và kẻ này. Ngô Vương Toại nói sẽ cố gắng đến, cuối cùng đã không đến được. Tối hôm ấy, món giả cầy chị An Thục Đức vợ Diễm nấu thật tuyệt vời.
Ngồi ở một góc khuất của Virginia mà tưởng như đang ở Đà Lạt, trong ngôi nhà đường Nguyễn Trường Tộ hay Nguyễn Du nhà Diễm hay Calmette nhà Nguyễn Quang Tuyến. Ba mươi năm qua rồi mà như mới hôm qua. Như cùng có mặt Lê Văn Ngăn, Hoàng Khởi Phong, Thái Lãng và bạn Tuyến và bạn Nguyễn Thạc. Như chúng ta vẫn ngồi với nhau như thế này, rất nhiều lần, những năm tháng ấy. Không, không hề có biển dâu, xa cách... Và Phùng Văn Hưởng vẫn đọc Hồ Trường, hát cho chúng ta nghe ThiênThai - Hưởng nay không còn nữa, than ôi. Bởi trong buổi họp mặt có hai người mà trí nhớ như một cuộn phim chiếu lại từng đoạn từng đoạn - đó là Nguyễn Minh Diễm và anh Phúc, chồng Thanh Trúc - tôi đã thấy lại, tôi đã thấy lại những cây cầu, những con đường, những dãy phố... Và hàng thông sau nhà ga Đà Lạt. Và Nhà Thờ Con Gà đứng trong sương. Những con chim én bay dưới mái Hotel du Parc nơi đặt Đài Phát Thanh. Và ai như tôi đứng trên góc lầu cao nhìn xuống con đường Nhà Chung, đường Tự Đức.
Và ai mắt màu hoa pensée trong đêm màu hồng của Night Club. Cầu Bá Huệ Chúc, cầu Ông Đạo rồi thì quán cà phê của Dì Ba, ôi cái kiosque thứ hai ấy trên lối đi vào hàng bán hoa dưới chợ Hòa Bình. Chính ở đây, trong cái kiosque đèn màu này, nhiều đêm Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Bửu Ý và kẻ này ngồi ngắm Dì Ba ngây ngất. Chúng tôi nói với nhau mà không sợ mất lòng các giai nhân khác của thành phố: Dì Ba xứng đáng là trang quốc sắc, người đẹp nhất Đà Lạt ở những năm tháng ấy. Anh Phúc, vì có Thanh Trúc ngồi bên, không dám đồng ý, nhưng anh nói anh quen, rất quen với chồng Dì Ba lúc bấy giờ làm nghề bán bảo hiểm. Ôi, Dì Ba đâu rồi... Nhớ Đinh Cường có vẽ một portrait về Dì Ba rất đẹp trưng bày ở phòng triển lãm Alliance Francaise. Dì mặc áo nhung màu rượu chát, tóc dài, mắt xanh đen. Ôi. mắt em xanh như đêm dài/ Để người quên kiếp mai… (Phạm Duy) Và con đường Duy Tân, chỗ quán sách Nhân Văn nhìn lên là nhà của nhà khảo cổ Nguyễn Bạt Tụy. Không hiểu cái ngôi nhà kiến trúc rất lạ, như tổ chim, nằm trên đầu con dốc ấy, còn không? Và Huỳnh Chùm, người đánh xập xám chuyên binh lủng, và Trần Hoài họa sĩ... nay về đâu. Tôi nói với Nguyễn Minh Diễm: Tuyến vừa email cho biết Minh Thi đã sang Mỹ. Năm 1979, Tuyến về lại Đà lạt, một buổi chiều đi bộ lên con đường dốc Nhà Thờ Con Gà, thấy Minh Thi ngồi ôm con trên bậc thềm, mắt nhìn ra phía hồ Xuân Hương. Ôi, Ngô Minh Thi cũng là một nhân vật đặc biệt tiêu biểu của Đà Lạt. Ngày ấy, nàng thường lững thững đi từ phố, qua cầu rồi lên dốc nhà thờ về ngôi nhà ven đồi dã quỳ trên đường Nhà Chung. Đi bộ, một mình, tóc dài bay theo gió, đôi khi cầm một đóa hoa hồng. Tôi tự hỏi, sau 1975, Thi có còn đi như thế không? Và tôi thấy tôi về lại, như hồn ma nhớ hơi lửa ấm:
đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn
em và bầy chim én
vẫn bay trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
Ở đó, những dãy phố rợp bóng dù. Giờ đây trong căn nhà của Diễm, ở một góc khuất của Virginia, kẻ này được thấy lại hình bóng của tiện nội ngày xưa:
Tôi thấy em đi. giữa chiều áo lụa
Dãy phố dài. thấp thoáng. bóng dù xưa
Em. tay dắt con. mắt nhìn trời rộng mở
Khi nắng reo hanh vàng. mùa mới sang thu…
Các bạn ơi, chai rượu màu ráng trời hoàng hôn kẻ này mang tới dường như đã cạn, xin mở chai khác. Hình như lúc chiều trên đường tới đây, kẻ này có thấy xe chạy qua những hàng thông. Đẹp, đẹp lắm, nhưng làm sao đẹp bằng thông Đà Lạt, trên đường lên Dinh 2 tới nhà Hoàng Khởi Phong.
Ở đó, trong nhà Hiển nhìn xuống thung lũng đầy thông, một đêm nào họp mặt trong ánh lửa củi ngo từ lò sưởi, có cả Thái Lãng và Trần Hữu Lục, Nguyễn đọc Trong Vườn Tôi Hoa Phù Dung Đã Nở. Diễm chắc chắn còn nhớ, còn Thanh Trúc thì ngoài cuộc, lúc ấy e còn nhỏ xíu?
Đà Lạt, ở một góc khuất của Virginia. Thật ra chỉ là những ảnh ảo, như trong một bức thư Trà viết từ Woodbridge: “Thành phố vẫn chìm trong sương mù. Từ cửa sổ tầng hai nơi làm việc, Trà đang ngắm một Đà Lạt yêu dấu của Th. Không có tháp chuông nhà thờ, không màu đỏ trường Yersin, không có con đường mang tên Nguyễn Trường Tộ, và cũng không có quán cà phê của Th. và bè bạn... “
Sắp đến ngày Father’s Day… Sống trên đất Mỹ, lòng của bất cứ người con nào lại không gợn lên một thoáng nghĩ đến cha -cho dẫu là cha đã khuất hay còn sống. Nhất là với con gái, tình yêu cha là vô cùng thân thiết. Tình cảm ấy vốn tự nhiên và bình thường. Như chim hót hoa nở dưới trời. Tự nhiên và bình thường nhưng thấm sâu. Thời nhỏ cô bé Kathleen trong Purple Tulip chẳng yêu bố, đeo theo bố là gì và ngày nay những lúc cô đơn cô vẫn thường nghĩ tới bố để cho nước mắt rưng rưng. Tình yêu cha không phai mờ. Gần đây, đọc những trang tạp bút của Vi Vi đăng trên báo Trẻ, Nguyễn lại càng cảm nhận sâu xa điều ấy. Và chợt nhớ lại đoạn phim “Father and Daughter” được xem ngày nào cùng những mẩu chuyện cảm động kèm theo cuốn phim ngắn, đơn giản nhưng vô cùng đặc sắc này. Vậy xin kể lại sau đây.
Nhưng trước hết cần ghi nhận một điều: Nguyễn được xem phim Father and Daughter là nhờ một hôm váo weblog của một cô gái có nick là Carie. Đọc générique thấy ghi: Kịch bản phim và đạo diễn là Michael Dudok de Wit. Nhạc nền của cuốn phim là bản “Les Flots du Danube” tức “The Danube Waves” (Sóng Danube) của Iosif Ivanovici. Bấm vào để xem phim, khởi đầu nghe tiếng phong cầm réo rắt, dần dần ngân lên tiếng dương cầm thánh thót gợi ra một vùng sóng biếc mênh mông. A, bản nhạc mình hằng ưa thích: Les Flots du Danube - Sóng Nước Biếc.
“Father and Daughter”, là kiệt tác của đạo diễn người Hòa Lan, từng đọat giải Oscar phim ngắn hay nhất năm 2001. Nó kể lại với chúng ta bằng những nét vẽ hoạt hình đơn giản về mối tình cảm động giữa cha và con gái. Trong 8 phút ngắn ngủi ta được thấy hình ảnh hai cha con đi dạo chơi bằng xe đạp tới một bờ sông thơ mộng. Dựng xe bên một gốc cây, hai cha con chạy nhảy, cười đùa với nhau thật hạnh phúc. Thế rồi bỗng một hôm người cha chia tay với con gái ra đi, có lẽ là theo mộng hải hồ. Phải rồi, như lời một nhà thơ Pháp: Gió lên rồi/ thử sống xem sao... Ta tin ông đi để sống những giấc mơ của mình. Trước khi bơi thuyền ra khơi, người cha nhấc bổng con gái lên quay tròn trong vòng tay. Và dường như chính lúc ấy, ông đã ghé tai con thì thầm: Cha sẽ trở về. Thời gian trôi qua. Mùa xuân rồi mùa hạ, chim bay hoa nở. Thu và đông, lá rụng để trơ những cành khô trong tuyết trắng. Cô bé vẫn ngày ngày trở lại bến sông xưa tìm cha. Vòng bánh xe lăn đều, quay quay, đi và về trên con đường ngày nào. Cô bé lớn lên trong nỗi đợi chờ mòn mỏi. Và rồi, một hôm kiệt sức, cô nằm xuống chiếc thuyền mục trên bờ sóng, nhắm mắt lại. Thế nhưng, sự thực hay chỉ là ảo giác đây, cha cô đã trở về mà không hẹn trước. Bước ra khỏi thuyền, người cha chạy nhanh qua hàng dương, tới ôm con gái trong tay quay vòng trên bờ cát. Thế là cuối cùng ông đã giữ lời hứa về lại với con gái thương yêu. Tất nhiên là cô bé đã khóc và kêu lên những tiếng kêu hạnh phúc. Kết thúc như vậy là mở ra một bầu trời đầy sao láp lánh, trong khi nhạc phim “Sóng Danube” vút lên cao rồi tỏa dần.
Phim cảm động. Bạn nào muốn xem, xin vào Google, gõ hàng chữ Father and Daughter Film, trên màn ảnh sẽ hiện ra một dọc những tựa đề, bạn chỉ cần chọn Father and Daughter-Youtube, bấm vào đó và thưởng thức phim.
Bây giờ, Nguyễn xin được nói về cô Carie. Carie viết trên blog như sau để chia sẻ với mọi người xem phim và để nói lên tình yêu đối với cha mình:
“Tôi nhớ mình xem xong một lần thì ngồi khóc. Khóc đã, xong rồi chạy vào restroom rửa mắt, coi lại lần nữa rồi viết comment cho anh Hưng là người đã post bộ phim lên. Bây giờ thì anh đã xóa hết các bài viết trước nên cũng không còn link để share với mọi người nữa. Tôi lên Youtube kiếm lại...
Khi ấy trong lời comment tôi hỏi anh rằng anh có tin một người cha sẽ luôn giữ lời hứa với con mình không và rằng tôi luôn tin điều đó. Anh comment lại “Anh tin”. Chỉ hai chữ thôi mà tôi thấy rất vui, và tôi còn vui hơn khi rất nhiều comment khác, một người bạn ngoài Hà Nội comment rất ngắn, ba chữ thôi về câu hỏi của tôi, rằng “Em cũng tin”.
... Rồi Carie cho biết thêm: Theo những vòng xoay bánh xe đạp đi về trên con đường ấy, từ lúc nhỏ cho đến khi người con gái lớn lên, tôi có cảm giác bồi hồi như khi ngồi xem lại những cuốn album ảnh của gia đình.
Ba tôi chụp hình rất nhiều, và càng lớn thì tôi càng thấm thía lời ba nói rằng thời gian sẽ cuốn trôi tất cả, chỉ có những tấm ảnh là cái duy nhất giúp ta ấp ôm những phút giây kỷ niệm, những khoảnh khắc dấu yêu trong cuộc đời...
Tôi có hoang tưởng không, có “làm quá” không khi từ việc xem một bộ phim mà lại liên tưởng tới một cuốn album bạn nhỉ? Nhưng thật sự đó là cảm giác thật nhất, là hình tượng so sánh sống động nhất mà tôi có thể chia sẻ cùng các bạn...
Bộ phim không lời, nhưng khi xem tôi cứ như đang nghe có trăm nghìn lời nhắn nhủ, như bao la hồi ức quay về... Phải chăng người ta gọi đó bằng cụm từ là “đồng cảm?” Phải chăng vì đó mà tôi khóc? ... Có lẽ khung cảnh trong phim là một miền quê xinh tươi nào đó ở Hòa Lan, nhưng tôi thấy nó gần gũi như con đường Nguyễn Huệ đâm ra bến Bạch Đằng, như con đường ra triền sông quê má. Tôi nghĩ mình hiểu cái cảm giác của cô con gái chờ mong ba trong tin yêu và hi vọng, trong khắc khoải và nhớ thương, như thể đó là cái neo duy nhất của cuộc đời...
Rồi Carie kể lại kỷ niệm đi xe gắn máy phân khối lớn với cha mình. “Ôi, tôi lại lan man nữa rồi... Chỉ vì các bạn biết không, tôi luôn nhớ cảm giác đội mũ bảo hiểm và ngồi sau lưng ba trên những chiếc xe mà tiếng máy nổ ấm rền vang đủ làm nao lòng người... Ba luôn ẵm tôi lên xe, nhấc bổng hẳn lên ấy, như người cha trong đọan đầu phim... Cái cảm giác đó khó diễn tả lắm các bạn à. Mà tôi thật là ngớ ngẩn nhỉ, cần gì diễn tả, ai cũng hiểu cảm giác bình yên, sung sướng khi bay bổng khỏi mặt đất trong một vòng tay yêu thương... Rồi thì người cha đã giữ lời hứa... Tôi đã khóc trong nỗi vui sướng cùng cô gái khi gặp lại cha. Tôi đã khóc trong niềm tin cháy bỏng rằng một ngày nào đó tôi cũng sẽ có được niềm vui sướng ấy...” Cũng như cô gái trong Sóng Danube, Carie phải xa lìa người cha thân yêu. Cô viết: “Đã 7 năm nay, tôi sống với nỗi khát khao quay về một vòng tay âu yếm. Tôi đã trải qua thời kỳ trưởng thành về cả thể chất lẫn tâm hồn với niềm khát khao, chờ đợi, hy vọng ấy...
Rồi Carie tìm kiếm. Và có lẽ suốt cuộc đời cô sẽ tìm kiếm hình ảnh của cha như cô bé trong Sóng Nanube.
Phượng
Trong phim Ba Mùa (Three Seasons), xem cách đây đã lâu, có một cảnh hoa phượng đỏ đẹp tuyệt vời. Hải, bằng chiếc cyclo của mình, chở Lan đến dưới hàng phượng, như đưa nàng trở lại thời mơ mộng thuở xa xưa, khi phấn son chưa làm hoen ố tâm hồn ấy. Màu hoa phượng đỏ trở thành một thứ nước thánh, thanh lọc hết mọi ố tạp của cuộc đời.
Nhìn kia. Những cánh phượng bay trong gió, như một trận mưa màu đỏ. Ta chợt nhớ tới một lời ca rất đẹp của Trịnh Công Sơn: Đường phượng bay mù không lối vào... Có phải lối vào trường em ngày xưa cũng có cơn mưa màu đỏ như thế, làm chúng ta như lạc vào một giấc mơ. Giấc mơ đó còn không?
Nó vẫn còn đó. Không ai quên được, dù đã cách xa cả một biển thời gian. Bên kia trời, phượng vẫn nở. Chỉ cần ngoảnh mặt nhìn lại là thấy ngay màu đỏ rực rỡ, chói chang. Không một loài hoa nào nồng thắm và bao la như phượng. Nó không nở cho riêng một ai, dù kỷ niệm của mỗi người là riêng tư. Và nó có một đời sống dài lâu trong trí tưởng của anh, của chị, của em. Cái cô bé ngày ấy, nay đã là mẹ của một đàn con, và có thể đã có thêm những đứa cháu, vậy mà nhắc tới hoa phượng một thời lòng vẫn còn rưng rưng.
Xin cho tôi được về, dẫu chỉ một lần, đứng dưới màu đỏ của hoa phượng. Thế đấy, phượng đối với ta thân thiết biết chừng nào.
Mộng hái sen
Mộng Hái Sen. Viết xuống những từ này lòng chợt bồi hồi nhớ đến “Mộng Đắc Thái Liên” của Nguyễn Du. Cùng cô hàng xóm nhỏ đi hái sen ở Hồ Tây, Nguyễn biết bài thơ Hái Sen của Nguyễn Du cũng đã khá lâu. cho nên khi được đọc bài của Nguyễn Huệ Chi do Bùi Huy (Tô Thẩm Huy) gởi đến thì lại càng tràn đầy xúc cảm. “… trong một bài thơ làm thời kỳ đã ra làm quan với nhà Nguyễn, Nguyễn Du bỗng mơ về cái thời trẻ trung ở Thăng Long. Ông nhớ đến một người đẹp, cô bạn hàng xóm, đã cùng ông đi hái sen ở hồ Tây. Một Nguyễn Du khác lạ bỗng đâu hiện về làm mờ hẳn Nguyễn Du già nua trước mắt. Sự xuất hiện bất thần của cô bạn gái được nhà thơ gợi tả thông qua cái bóng của cô lung linh dưới mặt nước khiến cho cảnh vật chợt bừng sáng, thời gian đảo ngược từ dĩ vãng trở thành hiện tại.”
Khẩn khúc thù điệp quần,
Thái liên trạc tiểu đĩnh.
Hồ thủy hà xung dung,
Thủy trung hữu nhân ảnh.
Thắt chặt quần cánh bướm,
Hái sen thuyền nhỏ bơi.
Nước hồ sen trong vắt,
Trong nước có bóng người… *
Ôi, mộng hái sen… Còn gì tuyệt vời bằng.
Nhưng trước hết, Nguyễn xin được nói một chút về hoa sen trong đạo học và văn học Đông phương. Bông sen xuất hiện khắp các nước Á châu và được xem là hoa của những người theo Ấn giáo và Phật giáo (flowers of Hindus and Buddhists). Từ những thời xa xưa, hoa sen được xem là tượng trưng cho những gì là thuần khiết thuộc về tinh thần. Ấn giáo tôn thờ hoa sen trong hình ảnh các nữ thần Vishnu và Lakshmi thường xuất hiện trên một đóa sen hồng. Trong Phật giáo, hình ảnh Đức Phật ngồi trên tòa sen đã trở thành quen thuộc. Còn khi Phật cầm cành hoa chỉ vào mặt trăng cho ông Ca Diếp xem, Nguyễn nghĩ cành hoa đó chỉ có thể là bông sen.
Hoa sen đẹp, nhất là trong vùng nước xanh với bóng cô gái hái sen. Trong bài thơ “Mộng Đắc Thái Liên”, Nguyễn Du cũng cho ta thấy vẻ đẹp ấy khi hẹn với cô gái nhà bên buổi sáng đi hái sen, và nào là người chưa đến mà đã nghe tiếng cười, và hoa sen thì đẹp và cuống sen có những sợi tơ vương vấn.
Ấu thời của Nguyễn cũng gắn liền với bông sen. Tắm ở ao sen đầu làng. Những bông sen mẹ mua về cắm trên bàn thờ, hương thơm thoang thoảng khắp căn nhà lợp tranh. Có một lần Nguyễn được cùng với chị Thoa bơi chiếc thuyền thúng hái sen trên hồ Thủy Đình lúc trăng chiều vừa mới lên. Gió nhẹ thổi lá sen rào rạt. Hai chị em vừa bơi thuyền vừa cười giỡn vô tư. Rồi chị Thoa đi lấy chồng làm Nguyễn nhiều buổi nghẹn ngào nhớ chị. Và trí óc mông lung của Nguyễn còn bóng bài thơ Hái Sen (Cueillir des Lotus) bằng tiếng Pháp của ai đó, hình như cũng kể chuyện ngày xưa được cùng chị hái sen trong đầm nước xanh. Kỷ niệm với chị, nhất là chị họ, bao giờ mà chẳng đẹp và long lanh ngấn lệ. Ôi tình xưa như nhãn và sen/ Dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn...
Huế là nơi trồng rất nhiều sen. Sen dưới hào nước chung quanh tường thành. Lê Văn Ngăn kể nhiều đêm thanh vắng, đi qua cầu vào cổ thành, chợt nghe một tiếng soạt dưới đầm, nhìn xuống thấy một bông sen nở trắng. Tôi nghĩ chắc ông thi sĩ tưởng tượng thêm vì Ngăn nổi tiếng là nhà thơ duy cảm. Và hồ Tịnh Tâm, nơi sen nở có người chờ đợi trước. Hạt sen hồ Tịnh Tâm là thứ quý như vàng, Thỏ nấu chè cho Cu ăn một mùa hè bãi trường về thăm nhà ở Vương Phủ, em còn nhớ hay em đã quên, hay là cũng do Nguyễn tôi tưởng tượng mà thôi... Và em có biết, Sen xa hồ sen khô hồ cạn/ Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng... Còn anh xa em thì sao, ở hai bên bờ Tây và bờ Đông, có nhánh hoa lavander nào tàn úa không, hay chẳng có gì cả, dửng dưng như không, vì đời đã quen với những lúc xa nhau?* *
Sang Mỹ, nhiều lúc thấy nhớ bông sen và lá sen. Nhớ lạ lùng. Bông như môi và lá như tay. Xin cùng Nguyễn đọc lại câu thơ rất hay của Nguyên Sa: Vẫn biết lòng mình là hương cốm/ Chẳng biết tay ai làm lá sen… Ôi, trong đầm gì đẹp bằng sen. Nhưng tìm đâu thấy? Vừa mới đây thôi, trong lúc trò chuyện với những chú ve nhỏ, kẻ viết những dòng vẩn vơ này có nói tới hoa sen. Đó chỉ là một liên tưởng, và hắn có nói là mắt chưa từng được thấy cây bông sen ở xứ này. Lời ấy đã không còn đúng nữa rồi: Trong một chuyến đi đọc thơ ở Florida, mắt hắn đã được thấy cả một hồ sen nở ngát. Hồ sen của Trần Đệ.
Thật là tuyệt vời. Anh bạn văn Trần Đệ - quê ở Mỹ Tho nơi hắn đã có một thời để sống và để mơ... - anh Đệ đã chống thuyền đưa hắn ra giữa hồ hái những bông sen trắng, sen hồng. Và trong một thoáng ngắn ngủi, hắn nghĩ đến cô bé Kiến An trong phim Ba Mùa - em đã có xem phim này, chắc em còn nhớ - cô bé nửa đêm bơi thuyền trên hồ sen bát ngát đến thăm nhà thơ bất hạnh. Cái ánh lửa từ những ngọn đèn rơi trên nước, những vùng lá và bông sen xô giạt dưới nhịp chèo, mái tóc dài bay trong gió tối... những ảnh bóng đó còn đọng trong tâm trí hắn cho tới phút giây này.
Giờ đây, hái sen đối với hắn không còn là một giấc mộng nữa. Dẫu chẳng được như Lý Bạch “đọc nát vạn cuốn sách” nhưng hắn cũng là gã lãng du, mê sách mê tranh, từng đi hết vạn dặm đường. Cô gái Hàng Châu thấy Lý Bạch chèo thuyền tới thì núp bóng vào vùng lá và bông sen, nhưng cô gái Phượng thành trên trang văn của hắn thì “từ dưới vùng nước xanh ao sen mùa hạ bước lên, hai tay ôm đầy bông sen đỏ, tóc và quần áo đẫm nước dán vào da thịt”... Thế thì Lý Bạch, và cả Vương Xương Linh, Bạch Cư Dị... chắc gì có diễm phúc hơn gã thơ lãng du kiết xác, bụi bặm này. Có lẽ hắn chỉ thua Nguyễn Du, không được cùng người đẹp Tây Hồ chèo thuyền con đi hái sen thôi. Nhưng biết đâu, ở kiếp sau... Chúng ta cùng hẹn nhé?
* Nguyễn Huệ Chi
** Ca từ Trịnh Công Sơn
Bông hoa và hòn đá
Một hôm, bé Nguyệt Quỳnh, lúc đó mới 4 tuổi, đi dạo chơi với bà trong khu cư xá Emerald ở Ponchatoula, Louisiana. Trời nắng nhẹ, tiếng chim hót trong cây. Mùa xuân sắp trở về. Nhìn những bông hoa dại màu tím và vàng nở bên vệ cỏ, bé Quỳnh thích lắm. Bé cúi xuống hái một bông cầm trên tay và nói: “Quỳnh hái về cho ông”. Rồi bé tiếp tục đi tới cái circle, chỗ có trồng mấy cây lê bắt đầu nở đầy hoa trắng. Thấy một viên đá màu lam thật đẹp nằm dưới cái ghế gỗ, bé Quỳnh bèn cúi xuống nhặt lên, nói: “Quỳnh nhặt về cho ông”.
Thế là khi trời báo hiệu vào xuân, thì Nguyễn này đã có được một bông hoa dại và một hòn đá. Từ đó gợi hứng cho Nguyễn viết bài văn này với ước mong một ngày kia hoa sẽ mọc trên đá. Cũng như từ những trái tim khô cằn, bỗng vang lên tiếng nói yêu thương và hy vọng.
Một lần nọ khi đến thăm trái đất này, tôi đã trồng ở đây một cây bông hồng. Đó là lời của Hoàng Tử Bé, nhân vật tưởng tượng của nhà văn St. Exupery. Thế mới biết bông hoa dù ở đâu, ở một hành tinh nào khác hay trên trái đất này, cũng đều quý cả. Và dù trong gian khổ nhọc nhằn, hoa cứ vẫn nở. Cho đến nỗi Ông Sơn Núi đã có lần thốt lên một lời bất hủ: Đụ mẹ/ Cây bông/ Hắn không/ Lao động/ Ai trồng/ Chật chỗ/ Mày nhổ/ Xem sao/ Máu trào/ Thiên cổ. Và Tô Thùy Yên cũng có hai câu thơ rất hay: Cảm ơn hoa đã vì ta nở/ Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Vâng. Hoa đem niềm vui đến cho người. Thử tượng tượng mặt đất này không có những bông hoa và những cái cây. Lúc bấy giờ nó không còn là quả cam màu xanh nữa mà là một trái cầu lửa. Do đó, con người cần phải biết gieo hạt giống hoa và trồng cây. Nguyễn còn nhớ đọc một cái tin trên báo kể chuyện cô bé Cindy ở California cứ mỗi năm lại cùng các bạn nhỏ Hướng Đạo đi gieo giống hoa poppy trên các đồi cỏ. Kết quả, giờ đây mỗi lúc xuân sang, hoa poppy nở như một tấm thảm rực rỡ nhiều nơi tại Cali. Nước Mỹ nhiều hoa, và hoa nở khắp nơi, chính là nhờ những bàn tay như vậy.
Vậy nhé, Nguyễn xin tiếp tục về những bông hoa. Easter về… Mấy hôm nay, trời Dallas nắng đẹp. mình được dịp cùng gia đình đi chơi ở vườn Arboritum, xem hoa. Chưa bao giờ trong đời, được nhìn thấy nhiều hoa như thế. Có đến mấy trăm ngàn bông tulip đủ màu và daffodil vàng rực trên khắp các lối đi. Ở đây, Nguyễn thật sự được nhìn thấy những con người hạnh phúc cùng nhau đi dạo chơi, ngồi nằm trên thảm cỏ, ăn uống và nghe nhạc. Đủ màu da: trắng, vàng, đen, đỏ Rất tiếc, có ít người Việt di xem hội hoa. Ở đây, xin cho phép Nguyễn được lộng ngôn: Không đi xem hoa tulip và daffodil mùa này ở Arboritum là bỏ một dịp vui hiếm có trong đời. Hội hoa còn kéo dài qua tới tháng Tư lận. Người ơi, xin đừng lãng quên
Hoa đem đến cho người niềm vui .Vâng, đúng như vậy Viết tới đây, Nguyễn bỗng nhớ tới một câu hát của Lê Uyên Phương: Như hoa đem tin ngày buồn Có thế sao? Là khi tình yêu tan vỡ, người yêu bỏ ta đi? Có bao giờ bạn thấy thế chưa? Riêng Nguyễn cũng có một đôi lần thấy hoa không là hiện thân của niềm vui. Ấy là hồi mới đến Mỹ, khoảng 1996 - 1997 (xin lỗi, không nhớ đích xác), Nguyễn về thăm thành phố Oklahoma sau trận Tornado. Cả một thành phố như cảnh mặt trăng. Vậy mà trên đống đổ nát của một khu nhà ở vẫn có những bông đồng thảo (violets) mọc lên. Thì ra vẻ đẹp và sự sống, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng cố gắng đến với người như một an ủi và hy vọng. Ngày Mother’s Day, khi đến nhà thờ cầu nguyện, Nguyễn thấy trên ngực áo các con chiên đều cài bông cẩm chướng, như để tưởng niệm những người mẹ và người con không bao giờ về nữa.
Bông hoa và hòn đá/ hành giả trên đường khuya/ trăng lên/ dế khóc Có vẻ như thơ haiku. Thưa không, đó là do Nguyễn liên tưởng khi nhìn thấy những tảng đá nằm trong các thảm hoa uất kim hương và thủy tiên trong arboritum. Chính những tảng đá đó làm cho hoa càng rực rỡ và sinh động hơn. Một bên là sự mềm mại, một bên là vẻ sù sì, vậy mà có thể nằm cạnh nhau, và tạo thành một thực thể đẹp, hoàn chỉnh. Cũng tựa như một nhan sắc nùng diễm đi bên một gã gồ ghề, bặm trợn. Từ đó, ta hiểu được nghệ thuật vườn cảnh của Nhật Bản, nơi đá đóng một vai trò quan trọng.
Nói riêng về những hòn đá thì Nguyễn hiện cất giữ ít ra là năm hòn. Xuất xứ từ nhiều nơi: từ đâu bên Trung Quốc có, từ Ngũ Hoành Sơn quê nhà có, và từ những dãy rocky mountains của Mỹ. Nói là đá quý thì không phải. Bởi giá trị vật chất của nó không đáng kể. Chỉ đáng giá một hai đô la hoặc không gì cả. Làm sao có thể sánh với viên kim cương của một tay lái buôn dâng tặng cô nhân tình ca sĩ. Thế nhưng những hòn đá ấy đẹp và quý đối với Nguyễn. Hình như cũng trên mục này, có lần mình nhắc tới chiếc lược của một chàng nào đó tặng cô… Oanh Hay Cười từ những ngày xửa ngày xưa. Có đáng là bao đâu vậy mà cô Oanh cứ nhớ mãi cho tới bi giờ. Thì ra vật quý không cần phải là thứ đắt tiền. Trong bài trước, Nguyễn có viết khá là lâm ly về cái nhẫn cỏ của cô sinh viên. Ôi, báu gì mà cô nâng niu đến vậy. Báu gì đâu bài thơ người ấy tặng mình lúc còn trẻ mà nhớ hoài nhớ mãi, mỗi lần đọc lại là tim lại… đập lỗi mất một nhịp.
Đã có một lần Nguyễn nói tới hòn đá của nhà văn Thảo Trường. Hôm nay xin nhắc lại ở đây: “Hòn đá to bằng nắm tay. Mầu mận chín. Nhìn kỹ nó có vóc dáng hình nhân, có khi lại thấy hao hao một loài thú. Cũng có lúc thấy nó giống thiên thần rồi lại chợt tưởng là quỷ sứ. Có lúc thấy nó hiền lành nhưng cũng có lúc thấy nó toát ra vẻ hung dữ. Lúc thấy đẹp, lúc thấy xấu. Lúc thấy dễ thương, lúc thấy đáng ghét. Lúc thấy có hồn, lúc thấy vô tri. Lúc thấy nó sống động, nhưng có lúc thấy nó là tĩnh vật.. Có lúc thấy nó hiện hữu, lại có khi chẳng nhìn thấy đâu. Theo người tìm ra thì mảnh vỡ có thể là từ cung trăng hay một hành tinh nào đó trên vũ trụ xẹt xuống. Sao băng nằm ở đáy hồ.” Tuyệt diệu. Thảo Trường cho biết hòn đá này có lý lịch từ thời anh đóng quân ở cao nguyên. Nó do một người lính nhặt được đâu dưới lòng suối đem tặng. “Ông sĩ quan giữ viên đá anh lính cho mãi đến ngày tàn cuộc chiến. Đổi đi đơn vị nào ông cũng mang theo, tuy không lên tướng nhưng sau này về làm tham mưu, có văn phòng, ông cũng luôn luôn trưng cục đá màu mận chín đó trên bàn giấy.”
Và đây, một câu chuyện về đá. Hồi đi tù ở Sơn La, anh Tâm (nhà thơ) đặc biệt gần gũi với một người cùng lán tên Lãng. Lãng còn rất trẻ (tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai - ca từ một bài hát quên tên) lên trung úy khi chưa tới 30 thì đi tù. Lãng dáng vẻ hung hãn, trong tù anh sống khép kín, chỉ chuyện trò với mỗi mình anh Tâm. Những lúc nhớ nhà, anh Tâm thường kể cho Lãng nghe về con gái út của mình tên Thảo, năm ấy mới 13 tuổi. Thảo đặc biệt yêu bố. Nghe chuyện anh Tâm, Lãng chú ý và thỉnh thoảng hỏi về Thảo. Hai người xem nhau như anh em. Anh Tâm thân mật gọi Lãng là chú - chú Lãng. Những ngày sau đó, mỗi lúc đi lao động, Lãng lang thang tìm nhặt thứ này thứ khác. Khi thì đem về cái sừng trâu gãy, khi thì vài hòn đá nhặt ở bờ suối. Rồi những lúc rảnh, Lãng lầm lì ngồi gọt đẽo, mài dũa. Ngày tháng trôi qua, năm 1979 quân Trung Quốc đánh vào biên giới, thế là ùn ùn biên chế chuyển trại. Trước lúc lên đường, anh Tâm dặn Lãng là hãy khá giữ mình và bình thản trong mọi trường hợp. Lãng đưa anh Tâm một cái gói nhỏ bảo mang về cho Thảo quà của chú Lãng. Đó là chiếc lược bằng sừng trâu và mặt đá hình trăng lưỡi liềm có sợi dây để đeo vào cổ. Về sau, khi ra trại năm 1982, anh Tâm mang cả hai thứ về cho bé Thảo. Rồi mãi mãi không được tin tức gì về Lãng nữa. Nghe anh em về nói khi ở Thanh Hóa, Lãng trốn trại bị bắn chết. Bé Thảo giữ mãi chiếc lược và mặt đá hình trăng lưỡi liềm có ửng những đường vân xanh và tím. Mãi mãi
Nói về những hòn đá, Nguyễn nhớ một hôm lang thang trên lưới, vào Google tìm James Dean, gặp nấm mộ của người quá cố. Ngôi mộ nhỏ, bình dị, nhưng đẹp rực rỡ. Trước mộ có bình hoa và những hòn đá bằng quả trứng gà. Về sau này mới hiểu đó là những hòn đá của người viếng mộ để lại như một niềm tưởng nhớ. Đá đã nói hộ người những nỗi u hoài nhân sinh.
Vậy, bao giờ thì đá nở hoa? A, cái anh chàng thơ thẩn này nói những điều lảm nhảm vô nghĩa lý như Hamlet trên sân khấu Shakespeare. Đá nở hoa? Vậy mà có đấy. Trong tranh Đinh Cường. Nhớ hồi còn ở Việt Nam, Nguyễn tôi rất thích một bức chân dung thiếu nữ của bạn hiền, ở background vẽ một bông hoa đỏ nở ra từ vách đá xám. Ôi, tuyệt vời. Đá đã nở hoa như thế đó. Nghệ thuật không chỉ vẽ lại đời sống mà còn sáng tạo đời sống. Nguyễn có đọc đâu đó một chuyện của Tâm Thanh nói về đóa quỳ vàng mọc từ kẽ đá trong một chung cư của Oslo, Na Uy. Từ đó, trí óc đầy hoang tưởng của Nguyễn vẽ vời thêm. Ở nơi kia, trong một phố nhỏ, có hai người trẻ tuổi yêu nhau. Ấy là lúc cây hoa quỳ trong kẹt đá nơi góc tường chung cư nở hoa. Khi người con trai lên đường nhập ngũ, chàng hái tặng cô gái một đóa quỳ vàng, hẹn rằng khi cây quỳ lại nở hoa chàng sẽ trở về. Thế rồi bao lần cây hoa quỳ nở, chàng trai vẫn không trở về cho đến một hôm người con gái nhận được tin người yêu tử trận. Từ đó, cứ mỗi mùa cây hoa quỳ trong chung cư nở, cô gái lại hái những bông quỳ vàng rắc đầy lối đi, để tưởng nhớ... Và mới cách đây mấy hôm, Nguyễn được nhìn tấm ảnh chụp cô Mary nằm dài trước nấm mộ trong nghĩa trang khóc người yêu là James đã chết ở chiến trường Iraq. Trước mộ có một cây dã quỳ đang nở hoa vàng chói
Tháng 6. Thiên An Môn
Nhớ một lần, Nguyễn đã viết: Thiên An Môn, từ sau năm 1989, đã trở thành đất thiêng của nhân dân Trung Quốc. Đây là nơi lảng vảng những hồn ma của quá khứ. Đây là nơi khách từ năm châu đứng lặng nhìn hoàng hôn mà còn nghe vang vọng tiếng kêu gào đau đớn và phẫn nộ của hàng ngàn sinh viên bị đàn áp trong sự biến xảy ra vào tháng 6 năm 1989. Mường tượng thấy những ánh lửa trong đêm, những mái đầu gục vào nhau trong giấc ngủ mơ, những mối tình nở vội dưới ánh trăng trên quảng trường. Rồi bỗng sấm sét cuồng phong dấy lên, người chết phơi thây trên gạch đá.
Bây giờ là tháng 6. Tháng 6, trời nhiều mây trắng. Mây năm xưa đã phiêu du trở về Và nhớ lại Chiều qua Thiên An Môn đã viết ngày nào. Vậy xin chép tặng người những câu thơ lưu lãng:
Chiều qua Thiên An Môn
nghe tiếng dội từ gỗ đá
từ một mặt trời lặn tắt
chiều qua Thiên An Môn
chợt nghĩ tới em
trên đại lộ Trường An ngày ấy
chúng ta nắm tay nhau
đứng lặng. nép vào góc phố
rầm rập những chiến xa
dẫm nát thân người
và súng nổ
vầng trăng. run rẩy. trên cao
Chiều qua Thiên An Môn
gọi tên những người yêu nhau
thất lạc
giờ đây. anh đứng một mình
giữa phố Tàu. ở San Francisco
chợt nghe một tiếng kèn ma
và anh biết
không còn. không còn gì nữa
Chiều qua Thiên An Môn...
Tháng 6 năm 2004, mười lăm năm sau biến cố Thiên An Môn, thi sĩ Shi Tao, trở thành một tù nhân với cái tội là phóng bài thơ kỷ niệm Thiên An Môn lên lưới. Bài thơ June - Tháng Sáu - được Nguyễn Mạnh Trinh dịch đăng trên Viet Herald. Nguyễn tìm thấy bản tiếng Anh trên trang web penpoemrelay.org.
My whole life
Will never get past
“June” June, when my heart died
When my poetry died
When my lover
Died in romance’s pool of blood...
Dựa một phần vào bản dịch của Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn viết lại bài thơ này như sau:
Cả đời tôi
sẽ không bao giơ vượt qua được. cái bóng của tháng sáu
tháng sáu. ôi tháng sáu. khi trái tim tôi ngừng đập
khi thơ tôi tắt thở
khi người yêu tôi
chết trong vũng máu của cơn mơ
tháng sáu. mặt trời thiêu đốt. mở toang làn da tôi
phô bày sự thật của vết thương tôi
tháng sáu. con cá bơi ra khỏi mặt biển màu đỏ. của máu
trôi về phía giấc đông miên
tháng sáu, mặt đất này cũng trôi dạt, và những dòng sông
lặng tiếng
giờ đây hàng ngàn hàng ngàn lá thư xếp đống
không thể nào chuyển tới tay những người đã chết.
Xin nhắc lại: Shi Tao bị bắt giam vì đã làm thơ kỷ niệm 15 năm Hồng Quân Trung Hoa đàn áp và tàn sát những người biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn. Chính quyền kết án ông 10 năm tù. Việc bắt giữ này cho thấy chế độ Cộng Sản Trung Hoa muốn “bẻ cánh những con chim trời”, kiểm soát hệ thống Internet. Đã có tới 42 ký giả bị bắt trong năm 2004, mà hơn phân nửa là những người sử dụng Internet để chống chế độ. Chính quyền ra lệnh cho tất cả các ký giả trong nước tuyệt đối không được đề cập hoặc nhắc nhở đến ngày “4 tháng 6 năm 1989.”
Sự thật thì nhà cầm quyền Cộng Sản ở Trung Quốc sợ chữ của nhà thơ Shi Tao. Cũng như nhà cầm quyền CSVN đã sợ chữ của nhà thơ Trần Dần trước đây. Mà chữ bài thơ Tháng Sáu của Shi Tao quả đã làm xúc động trái tim và khích động tư duy con người. Những từ như ‘trái tim ngưng đập, thơ tắt thở, chết trong vũng máu của cơn mơ, mở toang làn da, sự thật của vết thương, những lá thư không tới tay người chết’ khiến trái tim ta thắt lại, trí óc bàng hoàng Ta nghĩ tơi cái chết của hàng trăm hàng ngàn những người trẻ tuổi đầy lý tưởng, mơ mộng, tình yêu. Và như nhà thơ Trung Quốc Yang Lian hiện sống lưu vong ở Luân Đôn đã chỉ ra: “Từ cái tôi ở khổ thơ đầu, ý nghĩa của bài thơ đã mở rộng tới những người yêu nhau đã chết trên vũng máu đào đầy lãng mạn (chữ romance). Từ hiện thực, những câu thơ đi vào siêu thực với hình ảnh cuối cùng như từ đôi mắt của một hồn ma: những lá thư chất đống không thể giao tới tay những người chết. Xúc động đến lặng người.”
Chiều qua Thiên An Môn... Tháng Sáu. Ôi. tháng sáu. khi trái tim tôi ngừng đập/ khi thơ tôi tắt thở/ khi người yêu tôi/ chết trong vũng máu của cơn mơ Tháng Sáu. Những khuôn mặt ngày xưa giờ đã chìm khuất trong thời gian. Thế nhưng Thiên An Môn vẫn là đất thiêng. Bời nơi đây lịch sử đả đi qua và còn âm vang. Xin nhắc lại: “Hơn hai mươi năm trước, vào mùa xuân năm 1989, loa cầm trên tay, đầm đìa nước mắt, Triệu Tử Dương đứng ở quảng trường Thiên An Môn, giữa những sinh viên đang kêu gọi những cải cách dân chủ - ông nghẹn ngào tuyên bố, “chúng ta đã đến quá trễ, quá trễ.” Lời của ông như một trách móc vượt thời gian. Hơn hai mươi năm sau, những điều cần phải đến vẫn chưa đến, hay chỉ đến nửa chừng, cho Trung Hoa, cho Việt Nam, cho những quốc gia vẫn còn nhiều tai biến trên hoàn cầu.” Tạp chí trên mạng Da Màu trong thư tòa soạn đã viết những dòng trên như một chia sẻ với các bạn trẻ về khát vọng dân chủ và tự do.
Em có tìm anh trên những hàng cây
Một đêm, cũng vào dạo tháng bảy này, trong ngôi nhà của Nguyễn Xuân Phước bên hồ ở Irving có trăng lên sau hàng cây, và tiếng hát khàn đặc cùng tiếng đàn guitar Hoàng Ngọc Tuấn, như tiếng kêu đường của những nghệ sĩ rách rưới lang thang. Bài Hát Chào Hàng và Cái Dường Như Là. Cả hai bài hát đều được viết ở Sài Gòn và hát ở Sài Gòn nhiều năm trước, khi anh cùng Hoàng Đình Bình rong chơi trong đói rách: hỡi người qua lại/ xin đừng e ngại/ khi ghé lại quán này/ xin mời đến ngồi/ xin mời đến ngồi/ một góc đời nhỏ nhoi/ ai cần khí trời/ ai cần tiếng cười/ xin vào chơi
Tiếng hát và ca từ của Hoàng Ngọc Tuấn gợi mình nhớ lại một thời khốn khó, tối tăm ở Sài Gòn, gợi lại cả những vẻ đẹp của đất trời một thuở.
Và rồi nhớ lại chỗ sân ga cũ trên đường Lê Lai xế bên bùng binh Sài Gòn, mình và Nguyễn Minh Diễm, Nguyễn Trung Dũng ngồi rít thuốc lào và uống trà đắng của một cô bé lang thang từ Bắc vào. Đôi khi mình tìm tới các bạn trẻ, nam có nữ có, uóng ly rượu đắng và đọc thơ cho họ nghe. Hình như trên góc đường chỗ gần cầu Phan Thanh Giản.
Bên cạnh những khốn cùng tuyệt vọng ấy, may thay còn có đất trời và lòng người. Tất cả xen lẫn nhau, nhờ đó mới thở được, sống được dù là qua ngày. Những đêm đi dạy học chui về, bụng đói, nhìn trăng trên hàng cây trên đường Nguyễn Tri Phương hay dưới lòng sông Thanh Đa, đôi khi Nguyễn mỉm cười rưng rưng lệ. Và những bữa trưa, giữa hai lớp dạy, Nguyễn vào một con hẻm ở đường Duy Tân chỗ gần nhà Khánh Ly và Trịnh Công Sơn, ngồi uống tách cà phê nhìn nắng lấp lánh trên hàng sao và những bông dầu bay bay. Đó là những phút giây hạnh phúc hiếm hoi. Và này em, em còn nhớ không, mưa Sài Gòn thời có hai kẻ yêu nhau, hình như cũng đã lâu lắm rồi, trước khi Cộng Sản vào chiếm Sài Gòn. Mưa như một khúc nhạc vui trên đường phố. Mưa xối xả, âm vang. Những hàng sao hàng phượng trút lá tơi bời. Anh và em nép vào dưới một mái hiên nghe mưa chạy trên mái ngói. Tóc em ướt, áo em ướt và tiếng cười reo trong một khúc tremolos. Rồi mưa chợt tạnh, cũng bất ngờ như lúc bắt đầu… Người và xe lại hối hả băng băng trên đường phố. Nắng chợt ngời lên trên hàng cây.
Và rồi bỗng chốc Sài Gòn đổi chủ. Rạng đông… Một rạng đông bị đóng đinh ttrên cây thập tự giá. Và rồi nhiều người đã bỏ đi… Ôi Việt Nam/ từng là nỗi đau xé trong tôi/ sao tôi khóc lúc ra đi/ phượng đỏ. một lời yêu dấu cũ/ là lúc chia xa... Từ chia tay với Sài Gòn, mới đó mà đã mười sáu năm. Mười sáu năm là tính từ ngày anh bỏ nước ra đi, chứ tính từ ngày Sài Gòn phải đón dép râu và nón cối vào thì đã ba mươi sáu năm. Ba mươi sáu năm, ôi lịch sử đã làm một cuộc chia ly lớn với hàng triệu người ly hương, trôi giạt nơi quê người. Kẻ sống người chết bao giờ mới gặp lại nhau.
Vậy mà em còn hỏi anh có theo em về Sài Gòn không? Ôi, làm sao anh trả lời em đây. Phan Thị Như Ngọc khi đi qua những con đường của thành phố Sài Gòn đã viết cho người yêu. “H. ơi! Với riêng em, cái khác của Sài Gòn hôm nay đơn giản chỉ là sự thay đổi của vài con đường, vài hàng cây từng in bóng anh thôi. Em kể cho mưa nghe. Rằng con đường ngày xưa anh đạp xe qua, quán xá nhỏ gầy, gió heo heo luồn về tháng bảy tháng tám này… Rằng những hàng cây mà anh từng ví như rèm mi xanh, khép lại phố phường lúng liếng tà huy… Con đường ấy, hàng cây ấy nay đã không còn.”
Như thế đó. Riêng em, về thăm thành phố cũ, em có đi tìm lại hình bóng anh trên những chòm cây đường Duy Tân hay đường Gia Long không? Những con đường ngày xưa từng in dấu chân hai người bây giờ đã mang tên khác, những cái tên lạ hoắc đối với người dân miền Nam. Và những cây sao cây dầu, cây hoa ngọc lan hay cây bông sứ máu ngày ấy liệu còn không hay đã bị đốn hạ? Thì làm sao em tìm thấy anh. Cả những quán cà phê ngày xưa, nghe nói cũng không còn nữa. Quán Chùa đã biến mất. Hân ở đường Đinh Tiên Hoàng Dakao cũng không còn. Và cả Hồng trước Viện Pasteur. Những tiệm sách ngày nào đã bị xóa tên. Nói chi tới rạp xi nê anh và em vào xem phim thời ấy (em còn nhớ không, rạp hết chỗ, anh và em được ngồi sát bên nhau ở bậc cầu thang tít phía trên và… mi nhau, lêu lêu!). Đi tìm anh may ra em chỉ còn thấy dư ảnh ở những viên gạch vỉa hè và những ngọn đèn đường. Sài Gòn bây giờ không còn chim nữa, phải không em? Chim đã bay đi từ mùa ấy. Vậy thì, cho một lần trở về, khi chiều tha thẩn trong vườn chùa, em hãy nhặt giùm anh một bông ngọc lan hoặc bông sứ máu gởi cho anh. Đó là những bài thơ anh đã viết cho Sài Gòn, cho Việt Nam thời anh còn trẻ tuổi. Chỉ cần vậy thôi.
Tháng bảy, 2011
Đà lạt. ở một góc khuất của virginia
Em và bầy chim én
vẫn bay trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
(NXT)
Người viết đã thật sự được sống cái không khí thoảng mùi nhựa thông của Đà Lạt khi ngồi với các bạn ở nhà Nguyễn Minh Diễm, thành phố Alexandria, Virginia, tối chủ nhật cách đây cũng đã dăm bảy năm. Buổi họp mặt gồm vợ chồng Diễm, vợ chồng Thanh Quang, anh Phúc và vợ là Thanh Trúc, Lê Khắc Huyền và kẻ này. Ngô Vương Toại nói sẽ cố gắng đến, cuối cùng đã không đến được. Tối hôm ấy, món giả cầy chị An Thục Đức vợ Diễm nấu thật tuyệt vời.
Ngồi ở một góc khuất của Virginia mà tưởng như đang ở Đà Lạt, trong ngôi nhà đường Nguyễn Trường Tộ hay Nguyễn Du nhà Diễm hay Calmette nhà Nguyễn Quang Tuyến. Ba mươi năm qua rồi mà như mới hôm qua. Như cùng có mặt Lê Văn Ngăn, Hoàng Khởi Phong, Thái Lãng và bạn Tuyến và bạn Nguyễn Thạc. Như chúng ta vẫn ngồi với nhau như thế này, rất nhiều lần, những năm tháng ấy. Không, không hề có biển dâu, xa cách... Và Phùng Văn Hưởng vẫn đọc Hồ Trường, hát cho chúng ta nghe ThiênThai - Hưởng nay không còn nữa, than ôi. Bởi trong buổi họp mặt có hai người mà trí nhớ như một cuộn phim chiếu lại từng đoạn từng đoạn - đó là Nguyễn Minh Diễm và anh Phúc, chồng Thanh Trúc - tôi đã thấy lại, tôi đã thấy lại những cây cầu, những con đường, những dãy phố... Và hàng thông sau nhà ga Đà Lạt. Và Nhà Thờ Con Gà đứng trong sương. Những con chim én bay dưới mái Hotel du Parc nơi đặt Đài Phát Thanh. Và ai như tôi đứng trên góc lầu cao nhìn xuống con đường Nhà Chung, đường Tự Đức.
Và ai mắt màu hoa pensée trong đêm màu hồng của Night Club. Cầu Bá Huệ Chúc, cầu Ông Đạo rồi thì quán cà phê của Dì Ba, ôi cái kiosque thứ hai ấy trên lối đi vào hàng bán hoa dưới chợ Hòa Bình. Chính ở đây, trong cái kiosque đèn màu này, nhiều đêm Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Bửu Ý và kẻ này ngồi ngắm Dì Ba ngây ngất. Chúng tôi nói với nhau mà không sợ mất lòng các giai nhân khác của thành phố: Dì Ba xứng đáng là trang quốc sắc, người đẹp nhất Đà Lạt ở những năm tháng ấy. Anh Phúc, vì có Thanh Trúc ngồi bên, không dám đồng ý, nhưng anh nói anh quen, rất quen với chồng Dì Ba lúc bấy giờ làm nghề bán bảo hiểm. Ôi, Dì Ba đâu rồi... Nhớ Đinh Cường có vẽ một portrait về Dì Ba rất đẹp trưng bày ở phòng triển lãm Alliance Francaise. Dì mặc áo nhung màu rượu chát, tóc dài, mắt xanh đen. Ôi. mắt em xanh như đêm dài/ Để người quên kiếp mai… (Phạm Duy) Và con đường Duy Tân, chỗ quán sách Nhân Văn nhìn lên là nhà của nhà khảo cổ Nguyễn Bạt Tụy. Không hiểu cái ngôi nhà kiến trúc rất lạ, như tổ chim, nằm trên đầu con dốc ấy, còn không? Và Huỳnh Chùm, người đánh xập xám chuyên binh lủng, và Trần Hoài họa sĩ... nay về đâu. Tôi nói với Nguyễn Minh Diễm: Tuyến vừa email cho biết Minh Thi đã sang Mỹ. Năm 1979, Tuyến về lại Đà lạt, một buổi chiều đi bộ lên con đường dốc Nhà Thờ Con Gà, thấy Minh Thi ngồi ôm con trên bậc thềm, mắt nhìn ra phía hồ Xuân Hương. Ôi, Ngô Minh Thi cũng là một nhân vật đặc biệt tiêu biểu của Đà Lạt. Ngày ấy, nàng thường lững thững đi từ phố, qua cầu rồi lên dốc nhà thờ về ngôi nhà ven đồi dã quỳ trên đường Nhà Chung. Đi bộ, một mình, tóc dài bay theo gió, đôi khi cầm một đóa hoa hồng. Tôi tự hỏi, sau 1975, Thi có còn đi như thế không? Và tôi thấy tôi về lại, như hồn ma nhớ hơi lửa ấm:
đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn
em và bầy chim én
vẫn bay trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê
Ở đó, những dãy phố rợp bóng dù. Giờ đây trong căn nhà của Diễm, ở một góc khuất của Virginia, kẻ này được thấy lại hình bóng của tiện nội ngày xưa:
Tôi thấy em đi. giữa chiều áo lụa
Dãy phố dài. thấp thoáng. bóng dù xưa
Em. tay dắt con. mắt nhìn trời rộng mở
Khi nắng reo hanh vàng. mùa mới sang thu…
Các bạn ơi, chai rượu màu ráng trời hoàng hôn kẻ này mang tới dường như đã cạn, xin mở chai khác. Hình như lúc chiều trên đường tới đây, kẻ này có thấy xe chạy qua những hàng thông. Đẹp, đẹp lắm, nhưng làm sao đẹp bằng thông Đà Lạt, trên đường lên Dinh 2 tới nhà Hoàng Khởi Phong.
Ở đó, trong nhà Hiển nhìn xuống thung lũng đầy thông, một đêm nào họp mặt trong ánh lửa củi ngo từ lò sưởi, có cả Thái Lãng và Trần Hữu Lục, Nguyễn đọc Trong Vườn Tôi Hoa Phù Dung Đã Nở. Diễm chắc chắn còn nhớ, còn Thanh Trúc thì ngoài cuộc, lúc ấy e còn nhỏ xíu?
Đà Lạt, ở một góc khuất của Virginia. Thật ra chỉ là những ảnh ảo, như trong một bức thư Trà viết từ Woodbridge: “Thành phố vẫn chìm trong sương mù. Từ cửa sổ tầng hai nơi làm việc, Trà đang ngắm một Đà Lạt yêu dấu của Th. Không có tháp chuông nhà thờ, không màu đỏ trường Yersin, không có con đường mang tên Nguyễn Trường Tộ, và cũng không có quán cà phê của Th. và bè bạn... “
Tháng Tư 2012
Nguyễn Xuân Thiệp
Theo http://www.vietnamvanhien.org/















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét