Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

Tản mạn bên tách cà phê 5


Tản mạn bên tách cà phê 5
Khi gió mùa đông thổi tới 
Khi gió mùa đông thổi tới là Dung ra đi. 
Bỏ lại tôi bước bơ vơ giữa đời. 
Ôi, người đã bỏ người đi. 
Từ nay không còn ai sớm hôm bên cạnh. 
Trong nắng sớm không có nhau. 
Trong mưa khuya không có nhau. 
Tuyết rơi lạnh một mình. 
Những chiếc lá, những bông hoa rụng trên đường không có tiếng vang của 
bàn chân xưa đi qua. 
Giờ đây, anh chỉ có thơ 
KHÚC GIÓ ĐÔNG 
đêm. tôi trở về 
từ cánh đồng của những cây gai nhọn. và nhụy hoa úa tàn 
nơi những tiếng ho. bóng bầy quạ đen. đập cánh 
trên cao. trăng thượng tuần. một nét nghiêng. của tranh 
salvador dali. vẽ phác sơn dầu 
đường khuya vắng 
hàng cây khô. vẫy gọi. những người ốm. qua cầu 
tôi và dung. tìm nhau. trong bàn tay ấm 
giữa khuya 
chợt nghe từ xa. jingle bells. jingle bells 
jingle all the way 
lòng hân hoan 
như buổi đầu mới gặp 
ở sài gòn 
cách nay vừa tròn năm mươi năm 
ôi. chỉ là giấc mơ 
của những chùm gai nhọn 
tôi và dung. rời tay nhau 
đêm 
trên cánh đồng băng giá 
không có tiếng ngân. jingle bells 
chỉ có cỗ xe. của gió 
và bóng con tuần lộc 
chở dung đi 
về nơi không có bóng quạ đen 
của cơn đau 
nơi dung sẽ gặp 
niềm vui. bông phù dung nở 
trong khu vườn. mặt trăng 
bình an 
bình an. mãi mãi 
Đêm rạng ngày 25 tháng 12. 2011 
Trăng thiền 
Có không, trăng thiền? Hay chỉ do trí óc đầy huyễn hoặc của một con người đang bước xiêu xiêu giữa cõi đời tưởng tượng ra và nghĩ là mình nhìn thấy thật? 
Vâng. Quả là đêm nay, một đêm cuối năm, người viết ngồi nhìn qua khung cửa sổ thấy một mảnh trăng treo lơ lửng trên đỉnh cây phong trụi lá. Và cũng do ảnh hưởng những bức tranh thiền của Khánh Trường vừa gởi tới, trong đó có những bức vẽ vầng trăng khuyết, nên Nguyễn đã nghĩ ra như vậy. Và vì vậy nên Nguyễn mượn hình ảnh mảnh trăng nghiêng kia để nói về những bức tranh Thiền của Khánh Trường. Ôi, trăng thiền, quả là đầy mộng và ảo. 
Nhưng trước hết xin thưa cùng bạn đọc: Người viết và Khánh Trường quen nhau cũng đã hơn mười lăm năm nay, từ hồi Khánh Trường còn khỏe mạnh tươi vui và còn làm tờ Hợp Lưu. Còn nhớ trong lần giới thiệu thơ của Nguyễn Nam An và Phan Ni Tấn tại hội trường báo Người Việt vào năm 1996 có sự hiện diện của Mai Thảo, Phạm Duy, Thái Thanh, Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Nghiêu Đề, Lê Uyên Phương, Thảo Trường,…, Khánh Trường đã mời Nguyễn đi dự tiệc chung với mọi người. Đây là lần đầu tiên Nguyễn tiếp xúc với anh em văn nghệ Cali. 
Tiếp đến những tháng năm sau, Khánh Trường lâm trọng bệnh phải vô ra nhà thương nhiều lần. Do ảnh hưởng của bệnh, Khánh Trường nói rất khó khăn và phải đi xe lăn. Chúng ta hãy nghe Đinh Cường:”Đời sống tâm linh đã cứu rỗi con người, một con người tuởng như đã chết đi và sống lại, sống lại lẫm liệt để Qua Bờ.” Thật vậy, Khánh Trường đã phấn đấu ngày đêm để có thể làm việc và vẽ trở lại. Bây giờ, với 30 bức tranh Thiền sẽ trưng bày ở 11561 Magnolia Street, Garden Grove, CA, vào dịp Tết này Khánh Trường đã cho thấy sự bình an tĩnh lặng trong anh. Khánh Trường bộc bạch: “Nhẹ nhàng, thoải mái, giữ cho tâm thân lúc nào cũng an bình. Với cá nhân tôi, Thiền chỉ giản dị thế thôi. Nên khi vẽ những bức tranh liên quan đến chủ đề Thiền, tôi luôn tự nhủ sẽ tuyệt đối trung thành với ý niệm trên. Vì vậy 30 bức tranh trong lần triển lãm này đều được gạn lọc, hạn chế tối đa từ đường nét, màu sắc đến đề tài; cũng như không để mình bị cuốn vào những lãnh địa mới, lạ mà hầu hết họa sĩ đều mong thử nghiệm, khai phá. Cũng có nghĩa tôi dùng một bút pháp rất chân phương, mộc mạc để chuyển tải những giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo với mong ước ai cũng có thể tiếp cận và hiểu dễ dàng“. 
“Lời bộc bạch trên của tác giả - vẫn theo Đinh Cường như dẫn chúng ta đi vào tranh anh, một thế giới khác so với những thập niên truớc, một con người năng động, đầy sắc màu trong văn chương nghệ thuật, cũng phải kể đến thời sung mãn khi anh đứng mũi chịu sào làm tờ Hợp Lưu, một tờ nguyệt san đẹp về hình thức lẫn nội dung.” 
Vâng, mười năm trước Khánh Trường bị tai biến mạch máu não. Đôi chân hầu như bất khiển dụng, phải ngồi xe lăn, hai tay lọng cọng, cầm đũa rớt lên rớt xuống, viết, vẽ không được Mắt mờ, nhìn một thành hai. Nói năng ngọng nghịu khó khăn. Một năm sau bị thêm 2 bạo bệnh, ung thư thanh quản và loét bao tử… Thế mà Khánh Trường vẫn tiếp tục sáng tác được, dù vô cùng khó khăn. Anh đã hoàn thành đến gần 100 tác phẩm. Đây là lần triển lãm thứ 3 sau cơn bệnh. 
Đinh Cường nhận định tiếp: “Xem qua 30 bức tranh trên internet không bằng đứng truớc những tấm toile nhưng sự xúc động đã đến với tôi, tôi bắt gặp ở đó sự chân thật của xúc cảm và sáng tạo, vẫn Khánh Trường với màu xanh trong mênh mông, vẫn vầng trăng, núi đồi, vẫn tĩnh vật mấy quả táo, vẫn chiếc khăn phơi, vẫn những kỷ niệm từ một thời niên thiếu bên triền cát trắng, đến thời thanh niên với những lần hành quân qua Khe Sanh miền địa đầu giới tuyến trùng điệp núi rừng, bom đạn … để bây giờ là Bầu Rượu Bể, là Tịch Lặng, là Khổ Hải, là Vô Thường … để đi đến Hành Trình Giác Ngộ như trong Thập Mục Ngưu Đồ... Khánh Trường đã thõng tay vào chợ, chỉ còn một vòng trống không… người trâu đều quên .Và thật sự Khánh Trường, người họa sĩ tài hoa, nhiều nghị lực ấy đã quên chưa Nghiệp Chướng?”
Với Nguyễn, như đã nói từ đầu, tranh Thiền của Khánh Trường gợi ra trong trí óc Nguyễn một vầng trăng khuyết. Như Nguyễn đã nhìn thấy nó ở buổi ấu thời, nơi Vương Phủ, hay sau này trong những bước trắc trở của cuộc đòi, hay như mới đây khi Dung bỏ Nguyễn ra đi. Nó không hẳn là vầng trăng tật nguyền nổi trên biển khổ như Khánh Trường miêu tả. Mà là những mảnh trăng trong Hành Trình Giác Ngộ của bạn. Nó vẫn là hình ảnh đẹp của cõi huyễn này nhưng nó bất toàn, bị rơi rụng đâu mất một phần. Và Nguyễn gọi nó là Trăng Thiền để chứng cho cái mà mình có giữa đời này -hạnh phúc chăng - có thể là thế nhưng đôi khi rưng rưng lệ. 
Cà phê một mình… 
Từ ngày Nguyễn tôi chỉ còn một mình bước liêu xiêu giữa đời thì rất sợ ngồi quán cà phê một mình. Sau đây chỉ là đôi đoạn hồi ức như chút dư hương. 
Mình vẫn đang ngồi trong Starbucks trên góc đường Shiloh Arapaho. Sương mù lúc này dày đặc và đã chuyển qua mưa phùn bay bay rất nhẹ. A, mưa phùn. Không phải mưa trên Phố Cổ ở DC mà ở Phố Ga tại Dallas này (từ bản quyền của ông Tầm Xuân và Đinh Yên Thảo, dùng gọi thành phố Garland - mình chôm xài đỡ, nghe hai ông!). Vâng, bây giờ là mưa phùn ở Phố Ga. Làm nhớ mưa phùn ở Đà Lạt ngày nào. Mà Dallas cũng là Đà Lạt theo tinh thần “ở đâu thì cũng là ở quê nhà.” 
Vâng, Xin nhắc lại một đoạn thơ đã viết trong bài Mưa Ở Đây Như Ở Quê Nhà hồi ở trại tù đá núi Thanh Chương Nghệ Tĩnh: một góc tường bán thưóc lá và diêm/ nơi dừng lại rồi đi bao nụ cười tỏa ấm/ một quán cà phê mở cửa dưới mưa phùn/ rộn rã áo mưa và nón dạ/ cô hàng bán sách cài nơ xanh một sáng đã bỏ đi/ cửa hàng thành chỗ trú mưa của bầy chim én… A, Đà Lạt của mình và hiền nội, của Lê Uyên Phương, Đinh Cường… À quên, của Phạm Công Thiện nữa chứ - người đã viết Bay Đi Những Cơn Mưa Phùn rất lãng mạn và thơ mộng - dù khung cảnh là Paris chứ không phải Đà Lạt nữa. Này, mình đọc lên và các bạn cùng nghe nhé. 
“Hắn thổi những cơn mưa phùn qua khung cửa kính hiệu buôn thuốc lá và cà phê. Chỉ có đất Pháp này mới có những quán thuốc lá chuyên bán đủ loại thuốc hút, đồng thời bán phụ thêm cà phê và rượu đỏ: cà phê đen, rượu đỏ và thuốc bao xanh là ba dấu hiệu của đất Pháp: không có ba thứ này, nhất định nước Pháp sẽ không còn những cơn mưa phùn tháng tư. Hắn ngồi bên cạnh khung cửa kính, quán thuốc lá chỉ mang tên vỏn vẹn là Tabac Café Express; quán thuốc nằm đối diện nghĩa địa. Chung quanh đều im lặng, thỉnh thoảng vài tiếng ho, tiếng cửa đẩy vào, tiếng gió rít vào từ những ngày quá khứ. Bây giờ là tháng tư? Thời gian là những tháng tư còn lại. Không, tháng mười rồi. Mưa bụi và lạnh, những cơn mưa phùn tháng mười ở ngoại ô Paris.” 
Người ta nói, Phạm Công Thiện là nhà tùy bút xuất sắc. Đoạn văn vừa trích dẫn đã cho ta cảm nhận phần nào nét đặc sắc của túy bút Phạm Công Thiện. Bây giờ, mình muốn bạn hình dung quán cà phê Starbucks nơi mình ngồi nhé: Chung quanh là cửa kính, như quán Tabac Café Express nơi Phạm Công Thiện ngồi, nhưng có điều khác là ở đây không bán và không ai hút thuốc lá và cũng không có vang đỏ. Cho nên nếu còn trẻ chắc mình mê Tabac Café Express hơn. Nó lại còn đối diện nghĩa địa nữa, cho nên không khí của quán này phải nói là có sức hấp dẫn những tâm hồn cô đơn. Và Phạm Công Thiện ngồi uống cà phê một mình. Tất nhiên là vậy. 
Ngồi trong Starbucks, nhìn ra mấy cây maples màu lá đỏ, bỗng nhác thấy một cô chừng ngoài hai mươi - chắc là sinh viên. Tóc cô màu nâu. Cô khoác chiếc áo ngoài dày. Mắt xa vắng nhìn trời. Trời thì nhiều mây và mưa phùn qua mái phố… Cô đầy cửa bước vào bên trong quán, gọi một ly cà phê nóng rồi ra ngoài ngồi mình ên dưới một cây dù màu xanh. Nhìn cô, mình chợt nghĩ đến những người cũng thường cà phê một mình như cô. Nếu không là nghệ sĩ (nhà thơ, nhà họa, nhà nhạc..) thì cũng là thất nghiệp hoặc thất tình - nghĩa là đầy “tâm trạng”. Chứ không ai bình thường lại đi cà phê solo như thế. Ngày xưa, khi còn ở trong nước, cà phê một mình là cái “mode” của thời triết học hiện sinh, người uống cà phê thường mang theo một cuốn sách triết - chẳng hạn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” của Phạm Công Thiện. Và ngồi trầm ngâm đến mọc rễ ở một góc quán. 
Một thời tưởng đã qua, nhưng không. Ở Sài Gòn bây giờ vẫn còn những người “cà phê một mình” như ngày nào. Mà lại là phái nữ - ôi lãng mạn quá chừng. Hình như nhà thơ Chièu Anh Nguyễn hiện ở Sài Gòn cũng đã có những buổi sáng với điếu mild seven và ly café đắng ở một quán cà phê dưới giàn hoa giấy bên bờ tường loang lổ nắng. Và đây, xin giới thiệu với các bạn nhà sử học Nguyễn Thị Hậu trong một bài viết trên Văn Chương Việt - nhà sử học mà yêu thơ yêu nhạc với tất cả tâm hồn mới thật là quý. Nguyễn Thị Hậu viết: 
“Chẳng biết từ bao giờ tôi có thói quen café một mình, có khi buổi sáng nhưng thường thì vào buổi chiều khi đi làm về. Chiều nay cũng vậy, lại một mình với ly café không đường. Quán nhỏ thì thầm một bài hát thật buồn Lên xe tiễn em đi… chưa bao giờ buồn thế… trời mùa đông Paris… suốt đời làm chia ly… Những bài hát chia ly bao giờ cũng làm người ta xao xuyến và day dứt… dường như mình là người có lỗi trong sự chia ly ngày trước. Chia tay nhau, đôi khi chẳng vì ai cả, chỉ vì thế thôi… Đọc ở đâu đó về “sự/ trạng thái lưỡng taûn maïn beân taùch caø pheâ 281 lự”… Chia tay, có khi là chấm dứt một sự lưỡng lự có thời hạn để bước vào một cuộc lưỡng lự khác, kéo dài suốt cả cuộc đời. Nhưng cuối cùng thì vẫn phải có một quyết định gì đó chứ.

Mà thôi… chiều đẹp thế kia mà cứ ngồi “triết lý” vụn làm gì nhỉ… Hãy cứ cà phê một mình mà ngắm chiều tím loang vỉa hè, mà mơ màng chiều nay em ra phố về, thấy đời mình là những chuyến xe… Rồi sau đó thì về nhà thôi, để tiếp tục cái cuộc lưỡng lự đã bắt đầu từ hơn hai chục năm qua…” 
Và để kết thúc bài Tản Mạn Cà Phê Một Mình rất là bông lông này, xin giới thiệu tới các bạn bài thơ “Trở lại quán cà phê trên đường Dana” của Lê Thị Thấm Vân - nhà văn nổi tiếng và trẻ đẹp hiện ở San Jose. Cà phê Dana là nơi yên tĩnh thích hợp cho những tâm hồn trầm tư. Nơi đây, Lê Thị Thấm Vân đã qua nhiều tháng nhiều năm tuổi trẻ đến mòn cả ghế ngồi. Vừa qua, mình và Đinh Cường lên San Jose, vậy mà quên nhờ Nguyễn Xuân Hoàng đưa tới quán Dana, may ra còn tìm được chút hương thừa đâu đó. 
buổi sáng êm ả 
như mái tóc trôi chảy của người đàn bà 
nắng vàng buổi sáng hiu hiu 
chùm tường vi đầu mùa đang nở ngoài bờ hiên vắng 
không gian quá đỗi thân thuộc 
khuôn mặt anh chàng pha cà phê thoáng chút lém lỉnh 
bàn ghế và sàn nhà lặng yên 
những bức tranh trên tường lặng yên 
những khuôn mặt khách cũng lặng yên 
quán cà phê tôi thường ngồi hầu như mỗi ngày 
âm thầm chia sẻ nỗi lòng tôi trong nhiều năm 
những giòng chữ viết 
những dự tính 
những ý tưởng thú vị chực chờ tuôn trào 
những muộn phiền, cô đơn như thòng lọng thắt chặt 
mặt ghế mòn nhẵn một phần, 
vì tôi 
mỗi mặt bàn 
là một khuôn mặt 
tôi đã khóc nơi đây 
tôi đã thấy tâm hồn thật bình thản nơi đây 
tôi đã giấu nỗi buồn riêng nơi đây 
tôi đã thương tôi cùng cực cũng ở nơi đây 
cầm ly cà phê thấy tay mình run run như lần đầu 
thò tay trộm tiền cắc trong túi áo mẹ 
hai thìa đường cát nâu 
chút sữa half và half 
nhấp ngụm cà phê 
tôi gặp lại tôi 
(Lê Thị Thấm Vân - Trở lại quán cà phê trên đường Dana)  
Hãy đứng bên tôi 
No matter who you are 
No matter where you go in your life 
At some point you’re going to need 
Somebody to stand by you. 
When the night has come, and the land is dark 
And the moon is the only light we will see 
No I won’t be afraid, no I-I-I won’t shed one tear 
Just as long as the people come and stand by me. 
And darlin’ darlin’ stand by me, Ooo stand by me... 
Bất kể bạn là ai 
bất kể bạn đi đến đâu trong cuộc đời mình 
vào một thời điểm nào đó 
bạn sẽ cần một người bên cạnh… 
và khi màn đêm buông xuống 
khi mặt đất trở thành tối tăm 
chỉ còn ánh trăng soi trên đường
không. tôi sẽ không sợ hãi 
không bao giờ sợ hãi 
khi mọi người đến bên tôi 
ôi yêu dấu em. hãy đứng bên tôi. hãy đứng bên tôi 
và cho dù bấu trời trên cao kia sụp xuống 
và núi kia bị cuốn trôi ra biển thì em ơi 
tôi sẽ không khóc. không rơi lệ 
khi có em. có em mãi mãi đứng bên tôi 
đứng bên tôi… 
Một đêm đã lâu lắm, ngồi uống rượu với Nguyễn Ước ở nhà Nhật Hoàng, được nghe Ian Bùi hát bài Stand by Me trong tiếng guitar bập bùng, lòng Nguyễn bồi hồi xúc động. Và nhớ đến người nhạc sĩ du ca da đen Roger Ridley. 
Bài “Stand by Me” và tiếng đàn thùng của Roger Ridley trên một hè phố, sân ga… Ôi, một trưa một chiều nào đó đã đi qua. Vâng, trong cuộc sống hối hả hiện nay, có khi chúng ta đi ngang mà không để ý tới một tiếng hát muốn nối liền các bến bờ và màu da lại với nhau. Nhưng trước hết, Roger Ridley là ai? Chào đời ở Lumpkin, một thành phố nhỏ gần Atlanta, Geogia nhưng Roger Ridley trưởng thành ở New York City. Tại đây, ông cùng các em gái của mình hát trong nhà thờ và các buổi hội diễn trên khắp Miền Đông. Khi các con của ông đã trưởng thành, ông cống hiến thời gian còn lại của đời mình cho âm nhạc. Ông là một trong những nghệ sĩ đầu tiên trình diễn trong chương trình Music Under New York và hát trên sân ga tàu điện ngầm để mua vui cho những người đi tàu. Cuối cùng thì âm nhạc đã đưa Roger đi khắp nước Mỹ sang tận Thụy Sĩ, Ý và Nhật. Tại Mỹ, ông thường xuyên hát ở khách sạn New York Hotel tại Las Vegas. Ông sống với gia đình ở Las Vegas cho tới khi qua đời vào năm 2005. Roger kể: Ngày 29 tháng 3 năm 1997, ông về sống ở Las Vegas. Ở đó, ông trình diễn trong một chương trình về các nhạc sĩ đường phố. Được đâu chừng một năm thì một người bạn thân giới thiệu ông tới đường số 3 Promenade ở Santa Monica, CA.
Hốt nhiên, ông trở lại hát trước hàng triệu thính giả, thuộc nhiều thành phần khác nhau, nhưng cùng chung một ý thích, đó là âm nhạc đích thực và giá trị. Nhưng cho dù hát ở trong sân ga tàu điện ngầm ở New York, trên các hè phố ở California hay ở Thụy Sĩ, Roger lúc nào cũng cởi mở, và sâu sắc. Ông đem đến cho chúng ta một tặng phẩm đầy ý nghĩa. Trong tiếng hát của ông, chúng ta luôn cảm thấy mình là đặc biệt, và luôn được nâng cao lên. Những gì ông hiến tặng cho người nghe quả thật là trong sáng. Từ ngôi nhà của ông ở Las Vegas, Nevada, đến góc phố ở Santa Monica mỗi thứ bảy, tiếng hát và tiếng đàn của ông trong ca khúc Stand by Me đã đưa chương trình “Playing For Change” (Chơi Nhạc Để Đem lại sự Đổi Thay) tới hoàn thành sứ mạng là nối vòng tay thế giới qua âm nhạc bằng cách đưa vào những nhạc sĩ du ca khác ở khắp nơi. 
Nhưng Playing For Change là gì? Nó là một dự án âm nhạc có mục đích làm cho mọi người trên thế giới đến gần bên nhau. Người lập ra nó là Mark Johnson. Một hôm lang thang trên phố Promenade, ở Santa Monica, Mark gặp Roger đang trình bày ca khúc Stand by Me, và lập tức Mark thấy ngay được rằng tiếng hát của Roger, linh hồn và niềm đam mê của người nghệ sĩ da đen này cần phải đến với mọi người trên mặt đất. Từ ý tưởng đó, Mark nhận thức rằng âm nhạc có thể liên kết mọi người và tạo lập hòa bình cho thế giới. Âm nhạc có khả năng phá vỡ những biên thùy và vượt qua những khoảng cách ngăn chia giữa người và người. Thật vậy, với phòng thu di động gồm các thiết bị kỹ thuật được sử dụng trong các phòng thu hàng đầu thế giới, Mark và cộng sự đã có mặt ở rất nhiều vùng khác nhau của thế giới, ở bất kỳ nơi nào âm nhạc có thể đưa họ tới. “Âm nhạc đã đưa chúng tôi xích lại gần nhau, với niềm tin chúng ta có thể làm được nhiều hơn trong cuộc đời này khi làm cùng nhau hơn là ở xa nhau” - Mark thật lòng chia sẻ. 
Quả đứng như lời anh nói, cho dù chúng ta đến từ những vùng địa lý, chính trị, kinh tế, hay niềm tin, ý thức hệ nào đi nữa, âm nhạc có cái sức mạnh tổng thể để truyền đạt và kết hợp mọi tâm hồn lại với nhau trong một cộng đồng chung. Trong Stand by me, các nghệ sĩ từ nhiều quốc gia đã hoàn chỉnh bức tranh về âm nhạc. Này, các bạn ơi, chúng ta thử vào Youtube để cùng nghe các nghệ sĩ đủ màu da, chủng tộc, tôn giáo, tiếng nói cùng tấu lên khúc Stand by Me. Ở khắp nơi - sân ga xe điện ngầm ở New York, phố chiều Santa Monica, quai de brumes cầu sương mù New Orleans, quán khuya Venezuela, South Africa, The Congo, Barcelona Tây Ban Nha, Amsterdam Hòa Lan, Pisa Ý, Toulouse Pháp, Moscow Nga, Rio de Janero Brazil, Zuni New Mexico… Bằng mọi nhạc cụ -kèn, đàn, trống, bộ gõ.. và tiếng hát của người…- trên mọi góc của đời sống …, những âm thanh bập bùng như nắng chảy, gió tuyết, lửa reo - tất cả hòa quyện lại, đưa mọi tấm lòng lại gần nhau trong ấm áp tình người. 
Trên YouTube, bài hát đã có gần 20 triệu lượt người nghe. Âm nhạc đã thật sự đưa mọi người đến gần nhau, vượt qua mọi ranh giới vô hình và hữu hình. 
Riêng với Nguyễn, vào lúc chiều xuống đi lang thang một mình dưới những cây hải đào, nhẩm lại ca từ của bài hát, càng thấy thấm thía những giọt lệ đã đổ ra.
ôi yêu dấu em. hãy đứng bên tôi. hãy đứng bên tôi 
và cho dù bấu trời trên cao kia sụp xuống 
và núi kia bị cuốn trôi ra biển 
thì em ơi 
tôi sẽ không khóc. không rơi lệ 
khi có em. có em mãi mãi đứng bên tôi 
đứng bên tôi… 
Món giả cầy… trong một ngày trời trở lạnh 
Ban oi, bên ngoài đang mưa, trời trở lạnh làm mình nhớ tới món giả cầy ăn trong mùa đông ở quê nhà. Giả cầy cũng là món hiền nội ưa thích và có bảo Nguyễn tìm recipe nhưng chưa có dịp nấu thì... Cho nên, hồi ức về món giả cầy cũng là hồi ức về sự sum vầy, hạnh phúc. 
Vậy, lần đầu tiên Nguyễn được ăn món giả cầy là vào lúc nào? Như trí óc mù sương còn ghi lại được, đó là hồi mới cưới nhau đầu thập niên 1960, từ Mỹ Tho cuối tuần về nhà vợ ở Vườn Chuối chơi, gặp lúc bà con đem cho nồi giả cầy vào một buổi chiều mưa gió tháng Giêng sau Tết. Ôi, miếng thịt múc cho vào bát còn sóng sánh mỡ vàng, mùi bốc lên thơm lừng, nhai sần sật, béo ngậy, ngon ơi là ngon. Lại còn được ông già vợ rót cho một chung rượu trắng mới là ngất ngây. Bát đầu tiên ăn với cơm nóng, bát thứ hai ăn với bún, bát thứ ba… không còn nhớ nữa. Chỉ biết là chiều mùa đông chợt ấm lên và hạnh phúc đầy mùi vị thấm tận vào hồn. 
Kể từ buổi ấy, Nguyễn còn được ăn món giả cầy nhiều lần nữa. Tất nhiên, không phải ở tiệm mà là ở nhà. Căn apartment của vợ chồng bọn này ở trên lầu 3 lot J Cư Xá Thanh Đa, cửa sổ mở lớn nhìn ra sông, gió trời lồng lộng. Đây là nơi anh em tụ lại vào đúng chiều mùng 4 Tết mỗi năm. Gồm Nguyễn Thạc, Nguyễn Minh Diễm, Nguyễn Văn Khánh (ôi bạn mới ra đi hồi năm rồi), Vũ Sinh Hiên và kẻ này. Dịp này, thường hiền nội có món miến xào lươn, măng hầm. Riêng Nguyễn Minh Diễm bê qua một nồi giả cầy do vợ là chị An Thục Đức nấu. Thật là tuyệt cú mèo. Cho tới bây giờ Nguyễn còn nhớ, và chắc các bạn cũng thế, nhớ mãi mùi hương và vị béo đậm đà của món giả cầy ngày ấy. Có thể khoa tâm lý học chưa công nhận cái gọi là “ký ức mùi hương” nhưng với Nguyễn, ngồi ở đây trong một chiều quạnh vắng và hơi se lạnh, còn ngửi thấy mùi riềng, nghệ, mẻ, mắm tôm xông lên nồng nàn. Tuyệt vời nhất là miếng thịt giả cầy, da còn nguyên màu vàng hơi cháy sém do lửa (nhờ đó mà có mùi thơm quyến rũ đặc biệt), cắn vào sần sật vừa thơm vừa ngọt béo ngất ngây con tì con vị. 

Rồi bỏ nước ra đi, rồi chia tay không ngày gặp lại, ngoài trừ Diễm vài năm một lần hội ngộ khi ở Virginia khi Dallas. A, tha hương ngộ cố tri, nhờ Diễm và chị An Thục Đức lại được ăn món giả cầy thêm hai lần nữa. Lần thứ nhất cách đây nhiều năm khi vợ chồng Nguyễn đi chơi DC, có cả Hoàng Xuân Sơn và chị Lan từ Canada qua. Lại thêm anh chị Việt làm cùng với Diễm ở Đài RFA. Và tất nhiên có món giả cầy. Vẫn là hương vị như hồi ở Việt Nam nhưng ăn ở quê người thành ra thấm hơn, đậm đà hơn, mê hơn. Lần thứ hai cũng ở nhà Diễm, và Nguyễn đã ghi lại như thế này trong bài “Đà Lạt ở một góc khuất của Virginia”: “Người viết đã thật sự được sống cái không khí thoảng mùi nhựa thông của Đà Lạt khi ngồi với các bạn ở nhà Nguyễn Minh Diễm, thành phố Alexandria, Virginia, tối chủ nhật cách đây cũng đã khá lâu. 
Buổi họp mặt gồm vợ chồng Diễm, vợ chồng Thanh Quang, anh Phúc và vợ là Thanh Trúc, Lê Khắc Huyền và kẻ này. Ngô Vương Toại nói sẽ cố gắng đến, cuối cùng đã không đến được. Tối hôm ấy, món giả cầy chị An Thục Đức vợ Diễm nấu thật tuyệt vời.” 
Vâng, món giả cầy. Có nó không khí sum vầy trở thành ấm áp, vui nhộn. Và nó đã để lại trong Nguyễn nhiều ấn tượng nhất. Nhiều bạn khác trên các trang web cũng đồng ý với Nguyễn. “Trời lạnh thế này mà được thưởng thức món giả cầy với cơm nóng hay bún thì không thú nào bằng.” Một bạn khác viết: “Một món ăn mang hương vị thuần Bắc, thật ngon, thơm mùi riềng mẻ. Những ngày trời mưa lâm thâm, ăn món heo giả cầy này tốn cơm lắm đó. Đây là món ăn yêu thích của nhà mình, mình chia sẻ với các bạn nha.” Một bạn nữa phát biểu: “Để có món giả cầy tuyệt hảo nhất cho bạn bè, gia đình hay cuộc nhậu hoành tráng thì mời các bạn chịu khó đọc bài dưới đây nhé.” Và các bạn trên web đã chia sẻ như sau, Nguyễn xin ghi lại đây để ai đó hứng chí và có lòng tốt muốn làm đãi Nguyễn và các anh chị em trong báo Trẻ một bữa thì hơn cả tuyệt vời. 
Trước hết cần ghi nhận: Món ăn này ra đời nhờ những người không muốn ăn thịt chó nhưng vẫn muốn thưởng thức cái hương vị cực ngon của thịt cầy chính hiệu. Cách nấu như sau: Đầu tiên là việc chọn chân giò. Bạn không cần phải boăn khoăn là nên chọn chân giò trước hay sau, miễn bạn chọn theo sở thích của mình là ok rồi. Nếu thích nhiều thịt thì chọn chân sau, còn ngược lại thì chọn chân trước. Nhớ mua thêm ít cái móng. Điều quan trọng nhất là phải chuẩn bị đầy đủ các gia vị như: riềng, nghệ, mẻ, mắm tôm, nước mắm... Thường bạn chặt chân giò ra từng miếng bằng bao diêm. Phần móng chẻ đôi, chặt thành khúc nhỏ. Xong xuôi ướp mẻ lọc, mắm tôm rây và riềng củ giã nhỏ và thêm nghệ xay với chút bột canh. Rưới tí nước màu cho thịt đỡ nhợt rồi ướp gia vị ít nhất một tiếng đồng hồ cho đủ ngấu. Vài giờ sau trút cả vào nồi, đổ thêm nước, đặt lên bếp. Lúc đầu lửa to, sau khi sôi rút bớt lửa. 
Nhớ rằng chân giò trước khi chặt ra nấu phải thui qua, ngon nhất là thui bằng lửa rơm. Ở thành phố không có rơm thì nướng bằng lửa than hoặc bếp điện, nhưng phải chú ý chỉ nướng sém ngoài da thôi, không nên nướng chín mất ngon. 
Khi nấu giả cầy, bạn cần để lửa nhỏ để ninh lâu cho mềm. Nhưng món ăn sẽ thất bại nếu bạn ninh quá lâu đến mức thịt da mềm nhũn, đụng đến là rời cả ra. Hãy đun cho đến lúc nào miếng móng giò mềm vừa phải, vẫn còn độ sần sật là được. Bạn có thể giữ lại một phần riềng đã giã, chỉ cho vào khi nồi giả cầy gần nấu xong. Phần riềng chưa bị hầm kỹ này sẽ giữ lại được nhiều hương vị và món ăn sẽ thơm ngon hơn. 
Món giả cầy của bạn thành công nếu miếng thịt vàng, ngấm gia vị đậm đà, nước sền sệt, vàng sánh. Rắc thêm hành và rau răm thái nhỏ, ăn nóng với bún hoặc cơm. 
Nấu giả cầy, cần có mẻ. Sau đây là cách làm mẻ: Nếu bạn ăn cơm như ở Việt Nam thì chỉ cần bạn lấy khoảng một bát con cơm đã chín + một bát con nước cơm lúc nồi cơm đang sôi (lúc nấu cơm bạn đổ nhiều nước hơn một chút ). Sau đó bạn để 2 thứ thật nguội, cho vào một cái lọ thuỷ tinh hoặc lọ nhỏ có nắp đậy lại, khoảng một tuần sau là chúng biến thành mẻ trắng phau và thơm ngon. Nếu không có mẻ bạn có thể dùng yaourt. Bạn nào biết có thể dùng gì khác nữa để thay mẻ, xin góp ý. 
Món giả cầy là như thế, như thế… Chỉ mới tưởng tượng và viết ra thôi đã thấy thèm. Vậy bạn làm thử nhé. Nếu cần người nếm thì đã có Nguyễn này. Còn thực khách? Khỏi lo, thiếu gì. Cứ meo đi chúng sẽ tới ầm ầm, mỗi người còn mang thêm chai rượu. Cam đoan thứ xịn.
Bay về phía Ngọn Thác Thiên Đường 
Bạn hiền thơ ấu 
Nhớ không, thời thơ dại ấy, không có điện thoại nhà và cellphone như bây giờ, chúng ta nói chuyện với nhau bằng “điện thoại ống bơ”. Ôi, thô sơ là thế, mà cũng vui đáo để. Và rồi, tới lúc tôi đưa bạn nhỏ đi xem phim Le Ballon Rouge (Quả bóng đỏ), tới đoạn cuối phim, khi thấy cậu bé bay lên cùng chùm bong bóng đủ màu dưới bầu trời thành phố Paris, thì cả bạn cùng tôi đều mơ ước một ngày chúng ta sẽ được bay cùng với những quả bóng như cậu bé kia. 
Tất cả chỉ là chuyện trong mơ, nhưng nó làm cho cuộc sống này vui hơn và có ý nghĩa hơn. Cũng như trong câu chuyện cảm động và vui nhộn sau đây từ cuốn phim UP. 

Carl Fredricksen là một cậu bé hay e thẹn và ít nói. Cậu thường mơ ước bay vòng quanh thế giới với quả bóng bay của mình. Một hôm, Carl tình cờ lạc vào căn nhà hoang của cô bé sún răng và nghịch như con trai tên Ellie, và rồi phát hiện ra rằng cả hai đứa cùng có chung mơ ước đi khám phá thế giới như thần tượng của chúng là nhà thám hiểm lừng danh Charles F. Muntz. Căn nhà hoang cô bé biến thành “câu lạc bộ phiêu lưu” của hai đứa. Cô gắn cho cậu chiếc huy hiệu câu lạc bộ làm bằng nắp chai nước ngọt (nắp phéng), và cô khoe với cậu cuốn “My adventure book”, quyển sách phiêu lưu mạo hiểm của cô, trong đó cô dành hẳn phần lớn. vẫn còn để trắng, để ghi lại những “chiến công” cô sẽ thực hiện sau này. Trang đầu tiên là bức vẽ ngôi nhà nhỏ bên đỉnh Ngọn Thác Thiên Đường ở vùng rừng Nam Mỹ, một giấc mơ lớn. Và cô bắt Carl giữ lời hứa đi đến nơi đó cùng với cô. 
Hai đứa cùng chơi đùa hồn nhiên bên nhau. Và rồi lớn lên, họ kết hôn thành vợ thành chồng. Căn nhà hoang câu lạc bộ ngày xưa nay trở thành ngôi nhà của họ. Chỉ trong một vài năm, họ dựng được tổ ấm riêng cho mình. Cô gái nắn nót viết tên hai người lên thùng thư, Carl và Ellie, nhưng chàng trai Carl vụng về để lại nguyên dấu một bàn tay trên thùng thư mới sơn, thế là Ellie lập tức quét sơn vào tay in ngay bàn tay mình lên cạnh bàn tay chàng. 
Với nghề bán bong bóng và gác sở thú, hai người sống những năm tháng vui vẻ hạnh phúc bên nhau. Dưới tán cây cổ thụ trên đồi, họ cùng gửi mơ ước của mình qua những đám mây. Tối đến, trên 2 chiếc ghế bành kê sát, anh và cô cùng nắm tay nhau đọc sách. 
Năm tháng qua… Tóc hai người dần bạc. Cho đến một hôm, ôi buồn biết bao, Ellie không bước nổi lên ngọn đồi ngày xưa nữa. Ellie yếu đi rồi qua đời. Quyển sách “My Adventure Book” còn đó với những trang để trắng. Thỉnh thoảng Carl vẫn mở ra xem để ngậm ngùi. Trong phòng, hai chiếc ghế ngày xưa, giờ một chiếc để trống, trên đó còn vắt chiếc khăn quàng cổ của Ellie. Chiếc bàn cà phê bây giờ chỉ có một cái tách, đầu bàn bên kia không người ngồi. 
Với Carl, thời gian như lá rụng dần... Thành phố bây giờ đổi khác, với những ngôi nhà cao tầng mọc lên chung quanh, nhưng Carl nhất định không chịu dời đi. Cho đến một hôm xảy ra cuộc đánh nhau với một công nhân xây cất vì người này cho xe tới làm gãy thùng thư kỷ niệm của Carl và Ellie, chính quyền thành phố nhân vụ này ra lệnh cho Carl phải về ở tại nhà hưu trí Shady Oaks Retirement Home. Carl lúc này đã 78 tuổi, chợt nhớ lại giấc mơ của Ellie là đem ngôi nhà hai người tới Ngọn Thác Thiên Đường, ông bèn dùng hàng ngàn quả bóng bay để kéo ngôi nhà lên, bắt đầu cuộc hành trình về miền hoang dã xứ Nam Mỹ. Tháp tùng theo ông, bất ngờ có thêm cậu bé Russell, cũng là một nhà thám hiểm vùng đất hoang dã, đang cố gắng đi tìm chiếc huy chương cuối cùng qua công tác giúp đỡ những người già lão. 
Căn nhà của Carl và Ellie giờ đang bay dưới chùm bong bóng khổng lồ. Bay qua thành phố, qua rừng, qua suối. Bỗng cơn bão ầm ầm kéo tới làm ngôi nhà với Carl và Russell trên đó suýt lâm nguy. Nhưng rồi bão qua đi. Lúc này, Carl và Russell đã có thể nhìn thấy Ngọn Thác Thiên Đường từ xa. Họ đang ở trên bờ một con vực lớn. Cả hai bước xuống và kéo ngôi nhà đi theo, hy vọng sẽ tới được Thác Nước lúc những quả bóng còn hơi. Đang đi, Russell bỗng thấy một con chim cao lớn, màu sắc rực rỡ như công, bèn kết bạn và đặt tên cho nó là Kevin. Sau đó, họ gặp con chó Dug. Cả hai con đều biết nói tiếng người nhờ một bộ máy đeo ở cổ. Chủ của Dug chính là nhà thám hiểm Charles Muntz, ông vẫn còn lưu lại vùng Nam Mỹ qua nhiều thập niên với hy vọng bắt được giống chim lạ còn sống (chính là Kevin) mang về làm chiến tích riêng. 
Lúc đầu, Carl vui mừng vì gặp được thần tượng, nhưng rồi khám phá ra rằng Muntz sẵn sàng làm bất cứ điều gì dẫu tàn ác để bắt cho được Kevin. Do đó, Carl muốn cứu Kevin và chạy trốn khỏi Muntz. Nhờ Kevin và Dug, Carl thoát khỏi đàn chó ngao hung dữ của Muntz, nhưng Kevin không may bị thương. Trong khi giúp Kevin thì Muntz cùng đàn chó ngao kéo tới, phóng lửa đốt ngôi nhà của Carl. Ngôi nhà sau đó được cứu khỏi ngọn lửa nhưng Kevin bị bắt và Muntz cùng đàn chó cao chạy xa bay. 
Và rồi Carl cũng đã đưa được ngôi nhà của Ellie đến bờ Ngọn Thác đúng với ý nguyện của nàng. Trong ngôi nhà kỷ niệm, Carl lại gặp cuốn sách hình của Ellie và tìm thấy lại những kỷ niệm của hai người và lời ghi cuối cùng của Ellie cám ơn Carl đã thực hiện ý nguyện của nàng và giớ đây Carl hãy lên đường một mình. Phấn khởi vì ý nguyện của Ellie đã thành hiện thực, Carl bước ra trước nhà và đưa mắt nhìn trời mây. Lúc này, Russell đã bỏ đi và đang bị Muntz rượt đuổi. Carl quăng hết đồ đạc trong nhà đi để cho ngôi nhà có thể tiếp tục bay, đuổi theo Muntz - lúc này ông có Dug bên cạnh. Russell nhờ sợi dây buộc vào người đã lao vào phi thuyền của Muntz nhưng bị đàn chó vây bắt. Carl và Dug cũng đã cặp vào phi thuyền. Cuộc rượt đuổi vui nhộn tiếp diễn cho đến khi phe của Carl toàn thắng, trở về trái đất. 

Trong cuộc lễ tiếp đón lúc trở về, Carl gắn huy chương thưởng công cho Russell. Dó là chiếc huy chương nắp phéng ngày xưa Ellie đã gắn cho Carl hồi mới gặp nhau. Chỉ một vật nhỏ bé đó thôi (chiếc nắp phéng) đã khuấy động không gian thời gian, đem quá khứ nối liền hiện tại, khiến trái tim đau ai đó rung lên như ngọn lá cuối cùng trước gió. Kết thúc như vậy là đẹp. Ngôi nhà của Ellie đã đến được Ngọn Thác Thiên Đường. Ước nguyện ngày xưa đã trở thành sự thật. Nhưng sao nghĩ tới Ellie và mối tình thơ dại của hai người, lòng Nguyễn lại cảm thấy bồi hồi. Họ chỉ là những hình họa bằng máy computer chứ có phải thật đâu, vậy mà cũng gây xúc động. Thương cho Ellie. Và thương cho Carl đã một mình trong cuộc hành trình tới Ngọn Thác Thiên Đường. Carl hay chính là Nguyễn này. Ôi, nhân sinh huyễn huyễn…  
Khánh ơi, trăng trong vịnh Frisco… 
Bây giờ, ngồi nghĩ về thơ Cao Đông Khánh - hai tập Lịch Sử Tình Yêu và Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn - mới thấy rằng chúng ta chưa nói đủ những gì cần phải nói về thơ Cao Đông Khánh. Mà thơ Cao Đông Khánh đâu phải là thứ văn chương tiêu khiển, thù tạc. Nó là tiếng nói trung thực, dũng cảm của một con người trước những thế lực hung hãn, trong ba đào của những biến chuyển thời đại. Nó là nghệ thuật, là khai phá, mới mẻ và táo bạo. Hãy đọc lại Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn và chìm vào trong đó để nghe những dư ba động vỡ của bi kịch người. Hãy nghe tiếng thơ của Cao Đông Khánh vang lên, không hề lỗi nhịp, ở quảng trường thời đại. Khánh đã bứt phá tất cả để tiến lên phía trước, sừng sững như một pháo đài trong lửa, gió, nước, vầng trăng và mặt trời. Như Khánh, hãy nói lớn tiếng giữa “con cái hiếu đễ của Satan diễn tấn tuồng Tân Ước.../ Chẳng thà em, khuôn viên, hư thực. Make Love Not War/ Hoa cúc dại nở trong kẹt háng thơm mùi mặt trời mọc” (Trăng Trong Vịnh Frisco). Ngang tàng, táo bạo, mới và đẹp. Cao Đông Khánh đã đóng góp phần mình vào thơ của một thời. Đêm nay, ngồi nhớ đến Khánh, cũng một vầng trăng trong khu vườn đầy lá rụng. Vàng trăng và vàng lá. Như Khánh nói, “Em mở màn cửa sổ/ Những cánh trăng trong vịnh Frisco bay vào”. Thi sĩ hãy ngủ yên. 
Trời mưa, có hai người che chung một chiếc dù 
Để nhớ Les Parapluies de Cherbourg và những cơn mưa ở Đà Lạt ngày ấy. 
giọt mưa 
mưa ngâu mưa ngâu 
tròn xoe chiếc ô trên đầu 
Ngày xưa đôi ta bên nhau 
chiếc ô xoe tròn là bóng lá 
Ngày nay đôi ta xa nhau 
vắng em anh nhìn từng góc phố 
từng đôi uyên ương bên nhau 
tròn xoe chiếc ô trên đầu 
Và cơn mưa 
mưa rồi sẽ tan đi trên trời đầy nắng gió giọt mưa ngâu 
hay là nước mắt ai nhớ nhau? 
Tôi yêu ca khúc Mưa Ngâu của Thanh Tùng qua hình ảnh hai người che chung một chiếc dù đi trong mưa. Chuyện xảy ra trên một con phố nào đó ỏ Sài Gòn, Đà Lạt ngày xưa, hay ở Cherbourg tận xứ Normandie của nước Pháp, và ở Virginia hay Atlanta nữa - tại sao không? Ở đâu mà không có những cây dù đi trong mưa với hai mái đầu chụm vào nhau? Có thể giờ đây hai người đã xa nhau như trong khúc hát. Hay có thể mai này hai người rồi cũng sẽ xa nhau. Dù thế nào đi nữa hình ảnh hai đứa che chung một chiếc dù là hình ảnh của hạnh phúc, nó sẽ sống mãi tới đời sau. Vì trời vẫn mưa trên những con phố lá vàng. 
Vâng, xin nhắc lại: Trời mưa, có hai người che chung một chiếc dù. Đó là tựa đề một truyện ngắn của Trịnh Lan Hương đăng trên Phố Văn ngày nọ. Cái tựa đề khơi khơi ấy thế mà cũng đã làm cho lòng người viết bài này xao động. Trời mưa, có hai người che chung một chiếc dù. Đẹp, đẹp biết bao. Ai không từng ước mơ như cô gái trong truyện Trịnh Lan Hương đứng dưới mưa với chiếc dù màu đỏ thắm chờ anh chàng cùng sở đến đi chung. Nhưng tội nghiệp chưa, cô gái cứ đứng chờ trong mưa cho đến khi phố lên đèn. Những giọt mưa rơi xuống và vỡ như nước mắt rơi, như ảo tưởng của thời mới lớn. Thế mới biết mình có diễm phúc. Lần đầu tiên ấy, ở Đà Lạt. Đà Lạt, cũng như Seattle, là xứ nhiều mưa, nhất là vào mùa hè. Năm ấy, đang tu nghiệp khóa trung cấp ở Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, những trưa những chiều cùng nàng của tôi che chung một chiếc dù xuống phố khiến anh chàng Thái Tú Hạp cùng khóa trông thấy mà thèm, cứ khen nức khen nở. A, thì ra được che dù cho vợ đi trong mưa cũng là một hạnh phúc đó chớ. Nào, bạn có dám nói khác tôi không, nhất là trước mặt đấng hiền thê. 
Vâng, ai lại không thích che dù cho người yêu - thì vợ cũng là người yêu, chớ sao. Trở về buổi ấu thời của tôi và bạn thử coi. Thuở ấy ta mết con nhỏ cùng lớp có đôi mắt đen lánh. Tất nhiên, bé như cái kẹo ấy thì làm gì đã có dù với ô -có khi còn không có cả nón nữa kia. Vậy phải làm sao đây? Xin hãy nghe Nguyễn Bính kể trong bài Phố Huyện Ngày Xưa: 
Học trò trường Huyện ngày năm ấy 
Em tuổi bằng anh lớp tuổi thơ 
Những buổi học về không có nón 
Đội đầu chung một lá sen tơ… 
Kìa coi, tình hết ý, phải không? Vậy mà có được đi bên nhau như thế mãi đâu. Tình thơ dại cũng tan mau như mưa bong bóng. Nhưng đẹp và nhớ tới mãn đời. 

Vâng. Ai cũng muốn che dù cho người yêu khi trời đang trong sáng bỗng đổ cơn mưa mắc dịch. Nhưng đâu phải lúc nào ta cũng có sẵn cây dù bên cạnh. Vậy thì lấy gì che cho nhau đây cho khỏi ướt? Bạn thử tưởng tượng xem. Một đêm trời mưa, mưa không ngớt, từ phi trường chàng đưa em về nhà bạn ở Houston bỗng đãng trí (?) lạc đường. Mà nàng lại kêu đói bụng nữa, thế mới chết tía tôi chớ. Và em nhất định phải kiếm cái nhà hàng nào ăn đỡ. May thay, thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Đang chạy trên freeway 59, bỗng nhìn thấy bảng hiệu Golden Corral chớp nháy trong mưa. Mừng quá, bèn cho xe rẽ exit, quẹo vào. Mưa vẫn mưa bay… trên mui xe và trên sân. Làm sao đây? Sẵn có mấy tờ báo khổ standard trên xe (mới thấy làm báo cũng có lợi chứ không phải toàn đói rách và bị chửi), bèn lấy giăng lên làm dù, cùng em chạy tọt vào quán Tóc ướt, vai ướt. Buổi crawfish đêm đó nhớ đời. 
Như vậy đó, bạn ơi. Có thể ta dùng báo hay cởi áo ngoài ra che mưa cho người tình (nhắc lại, vợ cũng là người tình, chớ sao!) Nhưng đẹp nhất vẫn là che dù cho nàng và cả mình nữa cùng chui đầu vào, đi trong mưa. Đến đây, bỗng nhớ tới một cái phim xem hồi ở Đà Lạt. Les Parapluies de Cherbourg
Những Chiếc Dù Ở Cherbourg. Thanh Sâm người bạn quý cũng có xem phim này. Những hình ảnh trong phim đẹp ơi là đẹp. Mong sao trong những phút giây nhớ nhớ quên quên này, Thanh Sâm cũng được nhìn thấy lại những chiếc dù đủ màu bồng bềnh trong mưa của thành phố Cherbourg. Đây là phim ca nhạc từ đầu tới cuối. Cả lời thoại cũng hát. Nghe hơi buồn cười. “Em đói bụng”, hay “Đây là chai lotion em mua cho anh. Anh nhớ mang bàn chải và kem đáng răng theo nhé. Cả dao cạo râu nữa”… đại loại những câu như thế mà cũng hát lên thì nhịn cười sao được. Chàng và nàng yêu nhau ở thành phố ấy, và chàng lên đường nhập ngũ sang chiến đấu tận Algeria. Hai người chia tay nhau. Thời gian sau gặp lại thì đã lỡ làng hết ráo. Vui và cảm động, câu chuyện tình dưới những chiếc dù xanh đỏ ấy làm say mê những người trẻ tuổi. Chàng và nàng che dù đi trong mưa, ca hát. Cả thành phố cũng che dù đi trong mưa. Từ xem phim đó, mình có ước muốn là suốt đời được che dù cho vợ (cái này nói thiệt, dối bị thụt lưỡi) mỗi khi cùng nàng đi dưới trời mưa. Kìa sao giống Trương Vô Kỵ nguyện suốt đời kẻ lông mày cho Triệu Minh. Không dám đâu. Kẻ này vụng về, tay chân lóng ngóng, e kẻ thành đôi lông mày chống đối nhau thì chết bỏ bu. Cho nên, để chắc ăn, xin được suốt đời che dù cho vợ mỗi khi mưa trút xuống đe dọa làm ướt tóc nàng. Ở xứ sấm sét này, mưa nhiều như Đà Lạt ngày xưa, và nhiều lần đã được che dù cho vợ. Không tin, bạn cứ mở cửa xe tôi ra xem: lúc nào trong xe cũng có một cây dù lớn, màu đỏ như điên. 
Viết thêm trong một chiều mưa tháng 7. 2012: Ước mơ là như thế nhưng ước mơ đã vỡ tan tành. Vì người không còn nữa để che chung chiếc dù dưới trời mưa. Và bây giờ cây dù đỏ đã không còn trong xe Nguyễn.  
Kết từ một thiên anh hùng ca 
Với Nguyễn, không hiểu sao khi nghĩ tới Thanh Tâm Tuyền là nghĩ tới chiến tranh Việt Nam. Phải chăng vì ông đã viết Bếp Lửa của những năm báo hiệu trận bão kinh hoàng sắp dấy lên trên giải đất Miền Nam. Hay vì ông đã viết Khai Từ Của Một Bản Anh Hùng Ca. Hoặc giả bởi vì ông đã viết bài Đêm đề tặng Duy Thanh, mở đầu bằng hai câu Những năm nào chiến tranh đã quên/ Con mắt đen niềm im lặng… Có thể là vì tất cả những điều vừa kể và những điều khác nữa - chẳng hạn, 
Vũ Đạo Ánh 
chiến tranh vẫn còn (cho đến khi nào) 
đồn đóng sườn núi 
ngó biển không 
chiều chẳng mặt trời 
mây lõa thể 
Hôm nay, tưởng nhớ Thanh Tâm Tuyền, và khởi đi từ những câu thơ của ông, Nguyễn viết những dòng chiêu niệm này xem như Kết Từ Một Thiên Anh Hùng Ca.
Vâng. Những năm chiến tranh Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền đã viết Khai Từ Của Một Bản Anh Hùng Ca như sau: 
Hãy khép mắt khép mắt thật khẽ 
Có thấy chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu vào những giấc mơ 
Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu 
Xa thành phố bỗng lạc đường 
Tại sao cánh rừng cháy tôi một mình 
Người nào ngủ đây người nào chết đây thân xác tan tành 
Hãy khép mắt khép thật kín 
Và chúng ta rơi vào cơn ác mộng một mình 

Hãy khép mắt. Liệu chúng ta còn thấy “rơi vào những những giấc mơ/ hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu” hay chỉ để “rơi vào cơn ác mộng một mình”? Hôm nay, sau hơn 30 năm, khi người thi sĩ ấy đã ra đi, tôi ngồi viết Kết Từ Một Thiên Anh Hùng Ca. Đã 12 giờ đêm. Cây magnolia sau nhà đã ngủ. Những bông iris đã ngủ. Xin em hãy khép mắt, khép mắt thật khẽ trong mùi hương ngọc lan của một mùa đã xa. Ngoài trời, chớp lóa, dường như một trận thunderstorm đang kéo qua đồng cỏ. Chợt thấy lại hình ảnh của cô học trò Nguyệt Hạnh ngày xưa và chiếc vận tải cơ C130 bốc cháy giữa rừng già Kontum - Ban Mê Thuột. 
Kết từ một thiên anh hùng ca... Những khu rừng bốc cháy. Những chiếc trực thăng giận dữ. Như trong phim Cappola, như trong ca khúc Bonjour Vietnam của Marc Lavoine và trong tiếng hát của Phạm Quỳnh Anh. Kết từ một thiên anh hùng ca... Xin cùng tôi đọc lại: 
Khói bếp Long Sơn, nước Vàm Cỏ 
Áo trận phơi đại đội trở về 
Bụi Trảng Bàng, lửa trời An Hạ 
Gió đồng chưa khô áo lại đi 
Pháo lấp Khe Sanh, cắt Đường Chín 
Những hung tin không kịp báo về
Gió Hạ Lào cuốn cờ tưởng niệm 
Đá Trường Sơn đứng sững như mê 
(Thơ Khoa Hữu) 
Kết từ một thiên anh hùng ca, chúng ta trở về với Nha Trang, tháng ba năm 1975: 
tháng ba. trên thành phố xưa 
bầu trời rạn màu men sấm ký 
tưởng nghe xa tiếng cọp gầm 
sạt mái tường vi. ngói lở 
ngày phơi bãi bình sa 
đâu thành phố của mùa trăng giả đảo 
những cây bàng ửng đỏ trong mưa 
tháng ba ơi. đang giữa bản đàn 
bỗng nghe tiếng ve ngâm vượn hót 
người yêu người. làm sao quên 
mái tóc đi về rặng cây bông sứ 
tháng ba. tháng ba. trong đời tôi 
và lịch sử. hoàng hôn nghiêng mái quán 
hải âu. bay xa. về đâu 
thùy dương dậy. chiều tà. hung hãn 
(Thơ Nguyễn Xuân Thiệp) 
Kết từ một thiên anh hùng ca. Hỡi ôi, lịch sử đã không dành cho chúng ta một số phận khác, như lời Khoa Hữu trong đề từ bài Người Lính. Tháng ba, ở Nha Trang “hải âu. bay xa. về đâu/ thùy dương dậy. chiều tà hung hãn”... Rồi tháng tư mở ra những cơn mưa tháng năm ở Sài Gòn. Mưa. Mưa trái mùa trên rừng cao su An Lộc. Những chiến sĩ Biệt Kích Dù, hàng hàng lớp lớp, đứng nghiêm trong mưa, chào quốc kỳ lần cuối. Rồi chia tay... Vì đâu... 
Kết từ một thiên anh hùng ca. Những ngày của tháng năm 1975, không còn tiếng súng xối xả vào kẻ thù, mà đây đó có những tiếng súng lẻ tẻ, tiếng nổ lựu đạn, của các tướng quân, sĩ quan, binh sĩ chấp nhận cái chết chứ nhất định không để rơi vào tay kẻ thù. Kết từ một thiên anh hùng ca. Anh em bằng hữu, thầy trò chúng ta chia tay nhau. Vì đâu... 
Người lính trận bỏ tình đi mất 
Bỏ trăn năm khói tụ mây thành 
Lòng nhĩa trang tiếc thương đã nhạt 
Cả vòm trời như áo nửa manh... 
Đất ấy của ta, ta còn hiểu 
Đồng đội của ta, ta còn đau 
Giấy mực đời chép ra, ví thiếu 
Lấy da này viết để tạ nhau... 
(Thơ Khoa Hữu) 
Như thế đó, chúng ta đã viết lên một thiên anh hùng ca bi tráng. Bởi lẽ, người lính chúng ta đã chiến đấu với trái tim rực đỏ, nhưng tiếc thay, chúng ta đã không có được một phần số như chúng ta xứng đáng phải có. Gỗ đá kia còn ghi dấu tích. Nước trăm sông còn mãi ngậm ngùi. Và mây trời vẫn bay qua những thành phố, những nghĩa trang của một thời. Viết Kết Từ Một Thiên Anh Hùng Ca, chính là “lấy da này viết để tạ nhau...” 
Kết từ một thiên anh hùng ca... Chúng ta không quên một mặt khác của vầng trăng. Một mặt tối. Một dị bản. Tấm lòng nhân xin mở ra cùng trời đất. Vâng, kẻ này muốn kể lại câu chuyện về một người lính trẻ phía bên kia... Dẫu sao thì cũng cùng chung một cuộc chiến. Anh ta không can dự gì vào chủ nghĩa, chế độ. Chẳng qua là bị đẩy vào chiến tranh. Và ngã chết. Câu chuyện được Sao Khuê kể trong Ánh Trăng và Những Cánh Bướm, xây dựng từ truyện ngắn Đi của nhà văn trẻ trong nước - Nguyễn Bình Phương. Ánh trăng và những cánh bướm... Những hình ảnh đó, thật ra không ở trong thế giới chúng ta. Nó ở một cõi u minh nào đó... Trong khung cảnh những “mái nhà lập lờ bồng bềnh”, trong “bóng tối mùi ngai ngái, chỉ một ánh trăng duy nhất chiếu thẳng xuống đất làm thành con đường vàng nhạt, mỏng, sắc, vẩn những hạt bụi li ti. Người lính lầm lũi đi trên vệt sáng đó...” Và rồi những cánh bướm, “đôi bướm trắng, bay theo anh từ lâu, bốn cái cánh chờn vờn thoắt ẩn thoắt hiện tựa bốn mẩu giấy vụn quấn quýt trong gió.” 

Người lính, ánh trăng và những cánh bướm. Rõ ràng những cái này đang trôi xa vào một vùng bóng ảo. Cả âm thanh nữa, dường như cũng không ở trong bầu khí chúng ta đang hít thở. Nguyễn Bình Phương tả: “Không gian rì rào, cái rì rào thiêng liêng nơi sự sống không có mặt. Đôi bướm trắng bay ra từ gốc cây đổ, chúng lượn sát mép vệt sáng, sau đó dấn lên rồi lại chìm vào bóng tối thăm thẳm.” Người lính trong truyện, một anh lính Bắc Việt lưng mang ba lô vai khoác AK, vừa đi vừa đếm bước. Một mẩu hồi ức chợt hiện. 
“Kỷ niệm chầm chậm rẽ lớp sương mờ hiện về. 
- Mình thích không? 
- Thích. 
- Tìm cho em cái cặp tóc, nó rơi đâu đây thôi. Mai mấy giờ mình đi? 
- Họ bảo tập trung trên huyện lúc bảy rưỡi. Chán thật. Cặp của mình đây này. Ở nhà chu đáo với mẹ một tí. Năm nay mẹ yếu lắm rồi đấy. 
Vâng. Mình đừng quên em đấy nhé. 
- Quên thế chó nào được. Tôi sẽ về, nhất định về với mình. 
Tôi chỉ đi hai nghìn linh chín bước thôi. 
- Không, hai nghìn linh tám cơ. 
- Thì hai nghìn linh tám. Đúng hai nghìn linh tám không hơn không kém, còn lại mặc kệ.... 
- Mình muốn nữa không? 
- Có. 
- Sao mình khỏe thế!“ 
Người lính tiếp tục đếm bước. Một mẩu hồi ức khác: “Lại một tiếng thở dài. Ngày xưa, cả thị trấn mắc bệnh thở dài, vừa hát vừa thở dài, vừa hôn nhau vừa thở dài.... Mẹ ngồi bên bậu cửa đăm đăm nhìn ra đường, trên bàn thờ, bố trẻ măng nhìn mẹ.... Sau đó tất cả biến mất, chỉ còn lại tiếng thở não nề bất tận. “ 
Người lính vẫn đều đều đếm bước. Anh đếm tới hai nghìn linh sáu thì thấy mình đứng dưới cái cổng hình bán nguyệt. Cổng làng? Có thể. Nhưng nó mờ mịt và lạnh lẽo như cửa vào âm ty. Anh đếm tới hai nghìn linh bảy, rồi đếm lại từ đầu. “Người lính không biết khi vượt qua vòm cổng, anh đã bước sang bên kia mặt trăng, ở đấy vĩnh viễn chỉ có hai nghìn linh bảy bước.” 
Một truyện thật lạ lùng. Nó thuộc loại truyện viết theo nghệ thuật “hiện thực huyền ảo”. Kiểu những trang viết của Garcia Marquez về đàn bướm trong tiểu thuyết Trăm Năm Cô Đơn. Thực và ảo trộn lẫn. Nhưng thực cũng chỉ là ảo. Người lính kia không còn là hiện thực nữa, chỉ có u hồn anh vẫn còn vơ vẩn trên đường hành quân. 
Dường như cái chết đến với người lính quá nhanh, đúng như nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn nhận định, anh không biết rằng anh đã bỏ lại xác thân ở một góc rừng nào đó, và giờ đây hồn anh đang bước vào cõi u minh. Anh đã ở phía bên kia của mặt trăng, nghĩa là ở cõi âm. 
Kết từ một thiên anh hùng ca. Xin được đóng lại bằng những lời thơ sau đây của Khoa Hữu khi về thăm mộ bạn ở nghĩa trang Biên Hòa: chia tay chia đến tuyệt tình/ nén nhang ngọn khói cũng thành mây bay/ dọc ngang về dưới mộ này/ lạ thân trăm họ một ngày như vôi/ nước non khuya sớm ngậm ngùi/ mai sau còn tiếng gió trời về thăm... 
Một người đã về tới nhà mình 
Về nhà, đó là mong ước lớn nhất, thiết tha nhất của một đời người ở chặng cuối cuộc hành trình. Về nhà, vâng. Nhưng không phải ai cũng thực hiện được điều mơ ước đó. Có thể chỉ một số ít những người ở trong nước bây giờ mới hy vọng về lại được ngôi nhà xưa. Còn với chúng ta những người biệt xứ thì còn nhà đâu nữa mà về. Ở bên kia một con sông, ở bên kia một cánh đồng hay biển rộng, chỗ đó là nhà của ta thuở xưa phải không. Hình như là vậy. Nhưng làm sao về được. 
Nguyễn cũng như bao bạn bè khác cũng đã từng có một mái nhà ở những năm tháng ấy, bên kia biển sóng. Ngôi nhà đó ở Vương Phủ Vỹ Dạ, nơi có những cây bàng, mái ngói, hàng tre, hàng sầu đông, cây bưởi, và bờ ao xanh. Nhưng tất cả đã không còn dấu vết. Trần Vàng Sao hiện ở thôn Vỹ, và cả Đinh Cường lần về thăm gần nhất hồi đầu năm, đều xác nhận điều ấy. Vậy làm sao Nguyễn về tắm lại bến sông sau nhà cô Dạ Khê? 
Về nhà, về nhà… Đó là ngôi nhà ở số 3 Nguyễn Trường Tộ, Đà Lạt chăng. Ngôi nhà mà mỗi khi nhìn lại đều thấy nhánh thông khô cùng mảnh trăng đong đưa, đong đưa trên mái ngói, bóng thiên thu về. Tôn Nữ Kim Phượng, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương - và hiền nội nữa cũng đã ra đi. Vậy Nguyễn về với ai đây. Còn căn nhà số 328 trên lầu 3 Lô J Cư Xá Thanh Đa nhìn ra mặt sông, nơi hoàng hôn tím màu hoa đồng thảo? Ôi làm sao về được khi bóng chúng còn ngự trị nơi tiền trường sân khấu. 
Như vậy, Nguyễn và Tưởng Năng Tiến cùng nhiều người nữa dứt khoát không thể nào về tìm lại mái nhà xưa, cho dù về với màu gió ngày lang thang và ánh trăng hiu hất lạnh lùng để nghe từ trong ký ức dậy lên tiếng hú hồn mê oan. 

Nguyễn không về được, và nếu có về cũng chẳng tìm đâu ra dấu tích của ngôi nhà mình từng lớn lên hay đã sống những tháng năm êm đềm hạnh phúc. Không, sẽ không bao giờ nữa. Nevermore. Vậy mà có người thi sĩ chọn kiếp lưu vong là nhà thơ Diễm Châu đã về tới nhà mình. Ấy là theo lời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ở trong nước. Dẫu rằng ông về chỉ đứng lặng lẽ nhìn và khóc thầm, không dám bước vô nhà. Nhưng trước khi nói về sự trở về của Diễm Châu, chúng ta hãy tìm hiểu sơ qua về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Ông sinh ở Hải Phòng năm 1937, tên khai sinh Phạm Văn Rao… Di cư vào Nam, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn - Giáo sư Anh văn. Tu nghiệp Đại học Indiana, Hoa Kỳ. Ông từng là Giám đốc Trung tâm Ngoại ngữ Đại học Bách khoa Sài Gòn. Tổng thư ký tạp chí Trình Bầy ở SG trước 1975. Là trí thức phản chiến, ông từng viết bài đã kích Mỹ và cuộc chiến tranh trên đất nước ta. Thế nhưng khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm được Sài Gòn và đặt ách thống trị lên toàn cõi, ông mới thấy thân phận trí thức chẳng ra cái gì cả dưới quyền uy của một lũ người vừa độc ác, tàn bạo vừa ngu dốt ty tiện. Cho nên ông cùng gia đình đã bỏ nước ra đi năm 1983, và sống ở Strasbourg cho đến khi từ giã cõi trần gian vào năm 2008. 
Hoàng Ngọc Tuấn đã nhận định về Diễm Châu như sau: “Như một nhà thơ Việt Nam, Diễm Châu chọn vị thế của một người mãi mãi lưu vong, nhưng ông chưa bao giờ rời vòng tay ôm lấy đất nước. Bởi suốt đời thiết tha với đất nước, thời nào ông cũng phải chọn vị thế bất thoả hiệp, dù ở vị thế ấy ông phải chịu sự cô đơn, và không ít niềm đau đớn… Thật hiển nhiên, cho đến nay, trong việc mở rộng con mắt thơ Việt Nam ra thế giới, không ai có thể sánh với ông về số lượng và tầm tiếp cận. Ông làm việc như một con ong vô địch ở sức chuyển tải và tầm bay xa. Bao nhiêu mật hoa từ châu Á rồi châu Phi, từ châu Âu rồi châu Mỹ, đến tận châu Đại dương, ông đã mang về qua chiếc cầu biên giới.” 
Cô đơn và buồn bã, Diễm Châu muốn tìm về lại mái nhà xưa ở Hải Phòng. Nguyễn Quang Thiều thuật lại trong Tạp Chí Thơ của Hà Nội số tháng 12. 2011: “Mấy năm trước Diễm Châu về nước. Ông chỉ ở Hà Nội hai ngày rồi đi Hải Phòng. Đây là thành phố cố hương ông. Ông trở về đó đầy hồi hộp và hoang mang. Ông nói ông muốn tìm lại ngôi nhà xưa của cha mẹ ông, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và rời bỏ. Ông muốn được bước vào ngôi nhà ấy và ngồi xuống trên một chiếc ghế mây cũ trong một khoảng tối của ngôi nhà để được nghe chính bước chân thời thơ ấu của ông vọng về. Trở về để tìm lại nơi ông thường giấu bố mẹ một cuốn sách văn học bằng tiếng Pháp để đọc. Ông cũng muốn về Hải Phòng để gặp một ngườ bạn thơ. Nhưng chuyến đi ấy, chuyến trở về thành phố cố hương ấy vô tình lại là chuyến trở về cuối cùng khi ông còn sống trên thế gian này. Và ông đã không tìm lại được ngôi nhà đó. Nhà thơ bạn ông cứ nhắc ông hãy cố nhớ chính xác lại xem có đúng ngôi nhà ông đang đứng trước cửa là nhà của ông không? Nhưng ông đã lắc đầu. Ông không tìm lại được ngôi nhà của mình. Ông nói ông đã quên mất rồi. Ông không thể tìm lại một dấu vết quen thuộc nào nữa.” 
Nhưng nhà thơ Nguyễn Quang Thiều quả quyết: “Ông đã nói dối. Đó chính là ngôi nhà của ông. Ông nhận ra ngay khi nhìn thấy ngôi nhà mặc dù ngôi nhà ấy đã thay đổi và những người chủ mới nhìn ông với vẻ ngạc nhiên. Một nỗi lo ngại và một nỗi tủi thân ùa vào lòng ông. Chính thế ông không bước vào ngôi nhà ấy. Ông vội rời bỏ ngôi nhà. Đêm ấy trở về khách sạn ông ngồi co ro như một cậu bé ở nhà trong đêm một mình mà cha mẹ đều đi vắng. Ông đã lặng lẽ khóc.” 
Vâng. Diễm Châu đã khóc. Ông đã về đến nơi, nhưng không tìm được ngôi nhà thuở xưa của mình. Mọi thứ đều đã đổi khác, và không còn nhận ra ông. Vậy làm sao ông có thể bước chân vào ngôi nhà và ngồi xuống bình yên trên một chiếc ghế cũ. Không, không về được nữa rồi. E phải chờ tới khi chết. Vẫn lời của NQT: “… có những người chỉ khi chết và chỉ bằng cái chết mới về được nhà mình một cách thanh thản. Và bây giờ tôi cũng có thể kết thúc những dòng chữ viết về ông. Bởi tôi đã nhìn thấy ông bước được vào ngôi nhà cũ của mình mà trước đó không lâu ông đã phải tự nói dối chính bản thân là không còn nhớ được gì nữa. Ông đã về tới nhà mình. Amen.” Vậy là phải chờ tới khi lìa bỏ thế gian này thi sĩ Diễm Châu mới về lại được ngôi nhà ngày xưa của mình. Thật là buồn bã. Bạn và tôi, có ai muốn trở về như thế không? 
Hương cây và góc phố hò hẹn 
Hương cây và góc phố hò hẹn là rất đỗi thân yêu, quen thuộc với nhiều người. Nhất là những bạn ở quê nhà, Sài Gòn và Huế, Hà Nội chẳng hạn. Với Nguyễn, mùi hương cây vẫn còn đâu đó trong trí nhớ và kỷ niệm, cùng với góc phố hẹn hò thời còn trẻ. Nhưng trước hết xin được nói về xuất xứ của cái tựa đề rất thơ trên mà Nguyễn đã tình cờ nhặt được. 
Nguyên là mới đây, đọc một bài tạp bút của nhà văn Lê Minh Hà trên một website (hình như là Da Màu) Nguyễn gặp mấy câu thơ rất hay của Dương Tường có liên quan tới mùi hương và kỷ niệm cùng những hẹn hò: Một thoáng rợn tên là heo may - một hương cây tên là kỷ niệm - một góc phố tên là hò hẹn - Một nỗi nhớ tên là không tên. 
Vậy trước khi đi sâu vào những câu thơ này, và hương cây trên góc phố hò hẹn, ta cần biết chút ít về Dương Tường. Vậy thì, Dương Tường, ông là ai? Dương Tường là nhà thơ của Miền Bắc. Ông sinh năm 1932 ở Nam Định, từng bị nhiều khốn khổ trong “vụ án” Nhân Văn Giai Phẩm và Xét Lại trước đây. 

Trong thế giới sách vở, độc giả ở VN từng quen thuộc với những cuốn như: Cuốn theo chiều gió, Anna Karenina, Cái trống thiếc, Người xa lạ, Những con đường xứ Flandres, Truyện ngắn của Tchekhov, kịch của Shakespeare, Henrik Ibsen... do Dương Tường dịch. 
Ông cũng đã xuất bản một số tập thơ: 36 bài tinh, Đàn, Mea culpa và những bài khác 
Và ông luôn nói rằng với ông, thơ mới là nghiệp chính, nhưng công chúng lại biết đến ông như là một dịch giả nhiều hơn là một nhà thơ. 
Với Nguyễn, trước sau Dương Tường vẫn là một nhà thơ. Lần đầu tiên thấy hình ông là khi ông xuất hiện trên sân khấu Ngày Hội Thơ ở trong nước cách đây dăm năm. Ông xuất hiện với cuộn giấy vệ sinh (giấy đi cầu) có chép thơ ông, do một nhà thơ nữ trẻ đẹp quấn quanh người nhà thơ. Hình ảnh khá dung tục này không biết để nói lên điều gì hay chỉ do Dương Tường muốn chơi nổi để tự quảng cáo. Lần thứ hai, ông xuất hiện trong một video clip khi ông lên đọc thơ Dương Cầm Lạnh có Dương Thụ đàn dương cầm và ca sĩ Thùy Dung hát với dàn đồng ca áo trắng phụ họa. Đoạn phim rất thơ này, do Lê Thị Huệ gởi đến, đã gây xúc động khiến Nguyễn viết một bài thơ dài có tựa đề “Tuyết xuống nghe dương cầm lạnh của Dương Thụ và Dương Tường…” 
Tuyết xuống nghe cầm dương. lạnh 
hồn siêu thực 
trăng 
mái phố như chim 
ca nhân 
và nến cháy. bập bùng 
lặng nghe 
chờ em 
đường cầm dương. mưa 
những giọt lá. sầu 
dạ khúc”* 
(*thơ Dương Tường) 
Bây giờ, trở lại với hương cây và góc phồ hò hẹn. Hương cây, ở đâu vậy nhỉ? Là hàng sầu đông ở Vương phủ, cứ mỗi mùa ra hoa tím ngát hương? Hoặc giả đó là những cây bông sứ ở lăng Tự Đức hoặc trong sân một ngôi chùa gần đó. Ngày xưa em theo anh về thăm Huế đã từng chụp hình dưới bóng những cây bông sứ này. Cũng có thể là những cây ngọc lan trong những khu vườn ở đường Hiền Vương, đường Gia Long ngày trước hay vườn chùa Già Lam? Thật ra hương cây và góc phố hò hẹn vốn liên quan mặt thiết với nhau. Thanh Tâm Tuyền viết: Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu. Cũng là nơi một góc phồ hò hẹn nào đó thôi. Và sau đây là thơ Phan Vũ, Phú Quang phổ nhạc:
Em ơi, Hà Nội phố 
Ta còn em mùi hoàng lan 
Ta còn em mùi hoa sữa 
Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ 
Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm 
Còn góc phố nào tên là hò hẹn? Dung ơi, anh làm sao quên được góc đường Tự Do và Bonard, ở chỗ tiệm Givral ngày nọ. Thuở ấy, cách đây đã ngoài năm mươi năm, chiều thứ bảy, nghỉ dạy vừa từ Mỹ Tho về, anh thường tới ngồi uống bia dưới mái hiên nhà hàng Continental chờ em đi taxi từ phía Nhà Thờ Đức Bà tới. Rồi sau đó anh và em đi ăn và đi nghe nhạc phòng trà Tư Do hay Mỹ Phụng cho tới khuya. 
Ôi, ước chi bây giờ anh lại được về chờ em ở một nơi nào đó của Sài Gòn, dưới những hàng me xanh mướt hương mưa trên đường Tự Do, hay trên bến Bạch Đằng dọc theo hàng cây bông sứ, và em sẽ tới cùng anh. Hoặc giả ta trở về lại Đà Lạt với mùi thơm của rừng thông, ngồi ở quán L’eau Vive của các bà soeurs, có rượu đỏ và món nouilles sautées beurre với đùi gà rôti thơm lừng. 
Vừa rồi, Nguyễn có nói tới mùi thơm của rừng thông. Ôi, làm sao quên được. Vừa mới tối nay, Nguyễn tưởng chừng như được sống lại cái không khí thơm mùi phấn thông và nhựa thông của Đà Lạt khi xem cái video của Phạm Cao Hoàng gởi đến trong đó ghi lại cảnh những rừng thông trong nắng khi anh và chị Cúc Hoa về thăm lại Đà Lạt hồi tháng Giêng mới đây. Ôi, ước chi…. 
Như trong bài thơ “Những bông khuynh diệp để lại trên đường Trương Định cũ” của Đỗ Trung Quân viết về nhà thơ/ dịch giả Diễm Châu lúc sinh thời. 
một người đạp xe chậm như không muốn đi 
luôn bỏ đầy những bông hoa khô trong túi áo 
hồi ấy, tháng mười hai... mùi hoa khô đốt bằng chiếc quẹt gas cũ 
mùi thơm rất nhanh 
mơ hồ như tiếng chuông nhà thờ phía Tân Định… 
Vâng, ước chi anh có thể làm như Diễm Châu, về ngồi trước sân ngôi nhà xưa số 3 Nguyễn Trường Tộ Đà Lạt, chiều nhặt những nhánh lá thông khô và trái thông rớt vãi, chất thành đống đốt lên, yên lặng ngửi mùi hương xưa. Và để nước mắt rơi… 

Vâng, ước chi hương cây và góc phố hò hẹn nói tới trong bài này, và ở nhiều nơi khác nữa, mãi mãi là của những người yêu nhau.  
Cà phê Trieste và những tiếng dội 
Caffe Trieste... 
Cũng như Starbucks, CC’s Coffee House và PJ’s …, Caffe Trieste có một lịch sử. Nói như thế nghe có vẻ trịnh trọng, nhưng đúng vậy. Nó có một lịch sử, mà theo lời người thi sĩ thiền sư họ Đỗ tới thăm nơi đây kể lại, lịch sử ấy khời đầu từ một chàng trẻ tuổi, nguyên là ngư dân nghèo của vùng Trieste ở Ý, tên Giovanni Gianni, mười lăm tuổi đi học hát opera, những ngày đầu di cư qua Mỹ làm nghề lau chùi cửa kính ở San Francisco,... 
Vâng, cách đây hơn nửa thế kỷ, Giovanni Gianni mang gia đình tới Mỹ. Họ tìm thấy một thế giới mới, ở đó sự cần cù và quyết định thận trọng chắc chắn mang lại thành công. Nhớ lại hương vị cà phê ưa thích ở quê nhà, và sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu, ông bèn mở quán cà phê Trieste ở vùng vịnh San Francisco. Chẳng bao lâu, cà phê espresso do tiệm ông pha chế trở thành nổi tiếng. Có ai hỏi làm sao mà cà phê ở Caffe Trieste ngon thế, ông chỉ trả lời giản dị “Có gì đâu. Mua hột cà phê ngon đem về rang, rồi pha chế ly cà phê như thể cho chính mình vậy.” 
Cà phê Trieste ngon. Đúng. Mà khung cảnh còn có sức hấp dẫn tuyệt vời nữa. Một người khách hơi bụi, đến từ Santa Rosa, CA, ghi lại như sau: “Tôi yêu vẻ cổ kính lãng mạn nơi này, bầu không khí hơi ồn nhưng đẫm chất nghệ thuật, đây là chỗ của những đôi tình nhân và cả anh chàng lãng du bụi bặm. Ở đây, bạn cảm được cái linh hồn đặc thù của quán cà phê nghệ sĩ, nghe dội lại tiếng vang của lịch sử, nhịp đập trái tim vùng North Beach” 
Vâng, Caffe Trieste, cái tên đã đi vào huyền sử dân gian này toạ lạc ở số 601, trên góc phố Vallejo và Grant. Nó là tiệm cafe expresso & cappuccino đầu tiên mở ở bờ biển phía Tây California vào năm 1956. Ngày nay, với khách một thời từng lui tới, nơi đây vẫn còn in bóng dáng Francis Ford Coppola ngồi ở góc bàn kia luôn 6 tháng trời hoàn thành kịch bản The Godfather. Những bài báo rải rác trên các websites kể rắng nơi đây cũng đã từng là điểm hẹn của Jack Kerouac, Allen Ginsberg, William Burroughs và những nhà thơ beatniks anh em, nghĩa là cả một Beat Generation. Một khách lãng du khi ghé thăm Caffe Trieste xác nhận hồn ma của thế hệ Beat, mặc quần jeans rách xơ bạc phếch và áo jacket bằng da, vẫn còn đi lại ở những chiếc bàn của quán cà phê cổ xưa nổi tiếng nép mình bên bờ biển phía bắc này. The ghosts of the Beat generation, clad in scruffy jeans and leather jackets, linger at the tables of this popular oldtimer nestled in North Beach. 
Từ khi khai trương cách nay hơn nửa thế kỷ, Caffe Trieste đã nổi tiếng với cách kết hợp từ phong vị lâu đời của nước Ý, đến thơ ca Bohemien, âm nhạc và nghệ thuật và cà phê espresso tuyệt cú mèo. It has become famous across the world for its combination of essences: Old Italy, Bohemian poets, art and music, and excellent Espresso. Caffe Trieste đã đi vào những trang viết của các nhà văn, nhà thơ lưu vong nổi tiếng thế giới như Czeslaw Milosz, Joseph Brodsky... 
Sau đây là Brodsky và Caffe Trieste viết theo bản dịch của 
Hoàng Ngọc Biên, nhà thơ Đỗ Trung Quân ghi lại: 
To this corner of Grant and Vallejo, 
I’ve returned like an echo… 
Tôi đã trở về đây 
trên góc phố Grant 
và Vallejo 
như một âm thanh dội lại 
vâng. tôi lại trở về 
Caffe Trieste… 
tất cả. dường như. không thay đổi. 
bàn ghế cũng vậy. thời tiết vẫn như ngày nào... 
(Joseph Brodsky-Cafe Trieste: San Francisco). 
Caffe Trieste... Cách đây năm năm (2006), Caffe Trieste tròn 50 tuổi. Theo ghi nhận của người thi sĩ thiền sư đã nhắc ở trên, đây là nơi hầu hết những nhà thơ danh tiếng thường ngồi, trong những đêm đọc thơ, trình diễn nhạc jazz và nhạc cổ điển... Ông chủ Papa Gianni nay đã ngoài 85 tuổi mà vẫn còn đứng hát khi nỗi niềm nostalgia chợt dậy. Xưa kia và bây giờ là một, như không hề có sự đổi thay... Ngồi ở đây, trong hơi gió ngàn trùng từ vịnh San Francisco thổi về mà như nghe những tiếng động của nhịp bước thời gian. Ôi, tiếng đàn thùng như lửa cháy... Nguyễn những ước mong một ngày nào đó được ngồi ở đây và viết bài thơ Caffe Trieste, tiếp nối Brodsky... Cũng là lãng du dưới trời lưu xứ. 
(tổng hợp từ internet) 
Ngồi ở Caffe Trieste. trò chuyện với Brodsky… 

… Vâng, cách đây mấy tháng, Nguyễn tôi đã có ước mong như vừa kể. Nhưng nay, nghĩ lại, thấy không được. Trong cuộc sống hối hả và phù du này, biết tới bao giờ Nguyễn mới có cơ hội tới San Francisco và ngồi ở Caffe Trieste để làm thơ. Tuần vừa qua, Nguyễn có hỏi người bạn nhỏ rằng mùa thu này ta đi qua vùng vịnh tới Caffe Trieste uống cà phê nhé. Hỏi mà không có tiếng trả lời dội lại. Rõ ràng là không thể chờ được nữa. Nay nhân kỷ niệm 40 năm cuộc hội ngộ âm nhạc, hippie trong mưa và bùn lầy ở Woodstock, nghĩ tới Brodsky và bao nhiêu nghệ sĩ khác, Nguyễn tôi bèn ngồi xuống trên đất Dallas này làm bài thơ lưu lãng gởi bạn bên trời đọc chơi… 
tôi sẽ ngồi với ông brodsky 
và ly cappuccino 
ở caffe trieste 
vùng bay area 
chiều 
ngoài kia 
hải âu 
kêu xé 
và những cột buồm. nghiêng 
chói nắng. trong lòng vịnh. 
trên góc phố 
người thi sĩ thiền sư họ đỗ. với tay nải bụi. đứng chờ 
chuyến xe buýt cuối ngày 
và cô gái hippie. tóc rối. mắt sâu 
cài bông trăng. trên rốn 
hơi thở. của mùi cỏ say 
trong chiều 
gợi nhớ một không gian siêu thực 
này. ông. brodsky 
xin đừng hỏi  
vì sao ta đến nơi này 
ngồi ở caffe trieste 
trong phố cảng 
tưởng tượng. mưa cuối tuần. rơi. trên woodstock 
cách đây ngoài bốn mươi năm 
bùn lầy. và âm nhạc 
như hoa mọc trên đồng 
hay ngọn lửa. cháy. trong những căn nhà gỗ 
quê xưa 
ôi. jimi hendrix
joan baez, 
the byrds, johnny inter, 
janis joplin 
melanie safka. và những ngọn nến trong mưa 
ôi 
đã đi qua. đi qua 
giờ tất cả về đâu 
những nhạc sĩ ôm đàn. như thuyền. đi trên biển 
người. mưa. và tiếng hát 
những cánh hoa vàng. hippie. mồ hôi 
nước tiểu 
ma túy. và tự do 
chiều. hửng nắng. bay. từng đàn bướm dại 
ơ kìa 
ông hay tôi 
hay ai kia 
một ánh trăng ngoài vịnh frisco khi ra 
đi. mưa bên trời. phượng. đỏ 
ở sài gòn 
và tuyết rơi. trong thành phố moscow 
bây giờ. ta ngồi đây 
trong caffe trieste 
nghe khúc hát. ngày rơi 
trên phố 
đèn ngoài bến cảng. thắp lên 
chiều tím 
này. ông. brodsky 
thôi. hãy lãng quên như tôi. lãng quên 
những trại tù 
và lũ sói. điên 
hú rân đồi trăng. trong rừng người 
giờ này 
trong quán 
nhạc trỗi khúc blues 
những nhà thơ bohemien. hồn mơ một tiếng còi tàu cháy 
bỏng. nồng hơi gió biển. và mùi khói 
rồi 
bỗng. như loài cú đêm. người hành giả từ 
phương đông 
đứng dậy 
đọc thơ 
basho. đỗ phủ. ôn như hầu 
đền tạ. phủ đường. những mái ngói 
trăng lên 
trong góc quán 
kìa allen ginsberg cười điên. bên kerouac 
và coppola. ngồi một mình. cùng the godfather 
papa gianni. chủ quán. rót rượu mời lặng nghe. 
lặng nghe người nhạc sĩ gipsy 
khóc trên bài ballad 
mùi bơ và cà phê 
ngồi trong quán 
nhìn ra. đêm. trên góc phố vallejo và grant  
gã homeless da đen. còn đứng 
chờ một vầng trăng 
ở caffe trieste. thật ra. tôi ngồi một mình 
chiều xuống 
brodsky, ông đã chết. từ mười năm 
tôi còn sống. và làm thơ
rồi sẽ ra đi 
cũng như ông 
chờ nghe tiếng gõ. trên ván mục. vở kịch hạ màn. và 
nắng vẫn chảy. trên cầu tàu 
trong quán. nhạc blues. ai đó còn đọc 
thơ ông. thơ tôi. thơ những người tiếp nối 
cuộc đời vẫn trôi 
sầm uất hơn. náo động hơn 
với mùi hoa lavender 
và chim biển. vẫn kêu. chiều xuống 
tháng 8. 2009 
Điểm hẹn đây rồi: Caffe Trieste 
Ông brodsky ơi 
tôi và hải phương. và quận. và đinh cường. và nguyễn trí 
minh quang. đã đến caffe trieste 
chiều nhạt nắng 
như trong bài thơ viết gởi ông 
ngoài khơi vịnh san francisco. thấp thoáng cánh buồm. 
như trong tranh người họa sĩ già. ở trên chóp căn chung 
cư đường polk 
trên phố. người tấp nập 
trắng. vàng. đen. mùi sa mạc. gió biển. và hương cây 
nhiệt đới. trộn chung 
trời của màu hoa cúc dại 
Cuối cùng thì mình cũng đến được Caffe Trieste. Vào một buổi chiều của thượng tuần tháng Tư. Đến thật, chứ không còn là trong mơ hay trong thơ nữa. 
Vâng. Đúng vậy. Tất cả là nằm trong dự tính và có chuẩn bị trước. Còn nhớ một hôm cách đây không lâu, Nguyễn gọi điện thoại cho Nguyễn Xuân Hoàng nói rằng sẽ qua Cali, lên San Jose thăm bạn. Và bảo Hoàng có thể đưa mình đi thăm Vesuvio Café và Caffe Trieste không? Hoàng trả lời được nhưng giọng không nồng nhiệt lắm. Mình chợt nhớ ra: Hoàng không lái xe. Do đó, trước khi đi Cali mình đã cho in ra bài Cà Phê Trieste & Những Tiếng Dội viết hồi tháng 8. 2009. Và trong buổi đọc thơ bên ly rượu đỏ ở nhà Hải Phương có Đinh Cường (cùng chuyến đi), Quế Hương và Lữ Quỳnh (rất tiếc, Nguyên Minh đã ra về trước đó), mình bảo Hải Phương “Tôi giao ông nhiệm vụ mai chở tụi này tới Caffe Trieste đấy nhé!” và đưa bài viết cho Quận (trong đó có địa chỉ của quán Caffe Trieste) để search trên internet. 
Trưa hôm sau, Hải Phương lái xe chở cả bọn trực chỉ San Francisco. Ngồi trên xe, bà Quận (Hải Phương thường âu yếm gọi nàng là Queen) gọi cho Nguyễn Trí Minh Quang, người nữ họa sĩ trẻ sống nhiều năm ở Bay Area, hẹn với Minh Quang rằng sẽ đến đón cùng đi. Quang ở trong một căn apartment sang trọng. Tại đó, anh em có một buổi trưa vui vẻ, được Minh Quang đãi cá salmon xông khói, lỗ tai heo khìa và vang trắng thơm quá là thơm, lại còn được xem tranh của Quang nữa. Những bức tranh đẹp và thật lạ. Thích nhất là bức thiếu nữ bán khỏa thân và hai con gà. 
Uống hết chai vang trắng và ăn hết dĩa cá hồi cùng tai heo, Hải Phương lái xe đưa mọi người tới thăm Duy Thanh, họa sĩ lừng danh từ thời Sáng Tạo.Trên xe có Minh Quang chỉ đường. Duy Thanh và vợ là Trúc Liên ở trong một căn chung cư trên phố Polk. Do Đinh Cường có gọi hẹn trước, lên tới nơi vừa ra khỏi cửa thang máy đã thấy Duy Thanh đứng đón sẵn. Anh mặc quần short, áo T-shirt trắng, dáng người trông khỏe mạnh, da sạm nâu. Tất cả vui vẻ bước vào căn apartment của anh. Ôi, một nghệ sĩ tài hoa và có nhiều đóng góp mà suốt hơn ba mươi năm qua đã phải sống ở một nơi chật chội như thế này sao. Duy Thanh năm nay đã ngoài tám mươi, hiện đang bị ung thư tủy, may nhờ có được thứ thuốc thần diệu nên sức khỏe đang phục hồi và tinh thần phấn chấn. Chị Trúc Liên, người đẹp của các phòng triển lãm Sài Gòn ngày nào, nay cũng đã già nhưng vẫn còn nét thanh tú, vui tươi, hoạt bát. Ngồi chơi với anh chị một lát, tất cả đứng lên xin kiếu từ, hẹn ngày gặp lại. Có không ngày ấy? Xin đừng tự hỏi khó mình. Cứ vui trong phút giây này và ta tới Caffe Trieste. 

Đúng như mình tưởng tượng Caffe Trieste nằm trên góc phố Vallejo và Grant. Đẹp, mang hồn nghệ sĩ. Quán đông. khách ngồi cả ra ngoài hiên. Anh em tìm được một bàn ở bên trong, gần quầy Đây rồi điểm hẹn. Mới bước chân vào là nhìn thấy ngay trên tường tấm ảnh đen trắng chụp Papa Gianni đang hát. Mình vội hỏi ngay người cashier, “Papa Gianni còn ở đây không?” Anh ta trả lời, “Còn.” Mình mừng quá. Năm 2006, Papa Gianni ngoài 85 tuổi, bây giờ ít ra ông đã 92. Hỏi ông còn đứng hát mỗi đêm không, anh thu ngân trả lời “Không, ông chỉ hát mỗi tháng một lần khi vui và hứng khởi” Thế là tốt lắm rồi. Sau khi kêu cái cappuccino như ngày nào ngồi với Joseph Brodsky trong tưởng tượng, mình nhìn quanh quán. Một bức tranh vẽ cảnh biển lồng lộng và bãi đậu thuyền chiếm cả bức tường, ý chừng để hồi tưởng lại ngôi làng đánh cá Rovigno của nước Ý, quê hương của ông chủ quán. Trên một bức tường khác treo đầy những tấm ảnh ghi lại sinh hoạt từng diễn ra nơi đây. Bàn ghế có lẽ cũng như xưa. Mình tưởng tượng xem đã ngồi với Brodsky ở bàn nào. Có lẽ ở kia, ngay dưới tấm ảnh của Papa Gianni. Bèn lại ngồi ở đó, nhờ Đinh Cường bấm cho một tấm. Đinh Cường và Hải Phương cũng như Quận và Minh Quang rất thích không khí ở đây - nghệ sĩ mà trang nhã, lịch sự. Người vào ra, đa số còn rất trẻ, ăn mặc đúng ton và đúng gout của giới nghệ sĩ. Cũng có cái gì đó hơi bụi một chút, như thông thường vẫn thấy ở các quán cà phê. Ngồi đây lúc chiều xuống, đèn bên trong đã sáng lên, lòng mình chợt buồn, một nỗi nostalgia đầy hoài cảm. Dường như đâu đây còn vọng lại giọng hát opera của bố già Gianni trong ca khúc một thời “It’s now or never” tức “O Sole Mio” (Mặt trời của tôi - ca khúc bất hủ của Ý). Thời gian trôi qua, chỉ còn Papa Gianni ở đây, Francis Ford Coppola, Czeslaw Milosz, Joseph Bodsky và các thi sĩ thuộc thế hệ Beats đều đã ra đi. Mình yêu Caffe Trieste trước hết vì đã có những nghệ sĩ này ở đây. Nhất là khi những nhà thơ lưu vong như Milosz và Brodsky đều chung thận phận với mình, đã từng khóc ở Café La Ruche, trên cầu Longfellow, ở quảng trường Times Square, có lẽ. Và còn ở những nơi nào nữa. Bên ngoài, đèn đường cũng đã sáng lên. Trời như sắp nổi cơn giông. Chỗ mình ngồi trong quán ngay sát bên khung kính lớn có hang chữ cong nhiều màu đề tên quán. Caffe Trieste. Ngước mắt nhìn lên trong ánh đèn lóe sáng mình hình như thấy hình một con bướm monarch (bướm chúa) nhiều màu đậu trên đó? Có phải đây là con bướm từng đậu trên cán cuốc người tù ở trại Hàm Tân năm nào? Hồn ai về đây vậy? Hồn của những nghệ sĩ xưa, hay hiền nội theo mình tới đây để gần nhau trong hương cà phê nồng ấm, như thuở nào?. 
Tháng Tư 2012
Nguyễn Xuân Thiệp
Theo http://www.vietnamvanhien.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...