Bay theo đàn chim thiên di Mùa thu…
Chim thiên di, từng đàn từng đàn, sáng chiều bay qua bầu trời. Và này, em hãy nghe giai điệu của ca khúc To be by your side của Nick Cave hòa trong tiếng gọi đàn và nhịp vỗ cánh của loài chim thiên di: "And I know just one thing/ Love comes on a wing/ And tonight I will be by your side/ But tomorrow I will fly away/ Love rises with the day/ And tonight I may be by your side/ But tomorrow I will fly/ Tomorrow I will fly/ Tomorrow I will fly..." (Và này, anh chỉ biết một điều/ là/ tình yêu chúng ta đến trên một cánh bay/ Và đêm nay anh sẽ ở bên em/ Nhưng ngày mai anh sẽ bay xa.../ Tình yêu dậy cùng với ngày lên/ Và đêm nay anh sẽ ở bên em/ Nhưng ngày mai anh sẽ bay xa.../ Bay xa...).
Chắc chắn trong đời ít ra cũng có một lần bạn nhìn thấy những cánh chim - một đàn ngỗng trời chẳng hạn - bay về phương Nam. Về đâu khi gió mùa thơm ngát, ôi lũ chim giang hồ... Ca từ của Văn Cao quá đẹp, bạn nhỉ? Về đâu?... Xin thưa: Chúng đi trốn rét, thường là vào độ Tháng Mười, phải thế không bạn? Những con chim én làm tổ dưới mái nhà thờ Mission ở San Juan Capistrano cũng vậy, chúng lên đường vào khoảng cuối Tháng Mười đấy, nhằm ngày Lễ Thánh John. Riêng Nguyễn, thời nhỏ ở ngôi nhà bên dòng sông Hương, Nguyễn tôi đã từng đứng ngắm cảnh đàn sếu bay qua bầu trời. Cảnh tượng thật đẹp và đượm buồn. Nó báo hiệu những ngày vui đang tắt cùng với ánh nắng cuối trời, và mùa đông đang tới. Viết tới đây, Nguyễn chợt nhớ tới tên một cuốn phim Liên Xô chiếu trong những năm sau 1975 ở thành phố Sài Gòn: Khi Đàn Sếu Bay Qua. Nghe nói chuyện phim khá cảm động: một cô gái ở Matxcơva (phiên âm theo kiểu các bác ở VN bây giờ) tiễn người yêu ra mặt trận vào mùa những cánh chim lên đường trốn rét. Thế rồi mỗi năm khi đàn sếu kia xuất hiện thì cô lại nhớ người đi không về.
Phải rồi, những cánh chim di bay qua bầu trời là hình ảnh đẹp và buồn, như đã nói ở trên, Thế nhưng, xét theo hòa điệu của thiên nhiên thì đây là một bài thơ, và những cánh chim chính là hình ảnh của cơn mơ. Nguyễn tôi mời các bạn cùng đọc và cảm nhận chất thơ trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Hạnh viết từ một trang trong “Reader's Digest” (không thấy ghi ở số nào, năm nào): "Những tiếng kêu đầu tiên rơi vào giấc ngủ của tôi, thật êm và thật dịu, như ánh sao chảy qua cây lá trong vườn. Thế rồi, những tiếng kêu tới gần hơn. Khi tôi bước ra khỏi lều thì chẳng còn hồ nghi gì nữa dù vẫn còn bóng đêm. Những cánh chim di. Chúng bay qua, đập cánh trên đầu tôi, và tôi lắng nghe cho tới khi chúng đã khuất, mới nhận thấy rằng những thớ thịt trên cánh tay tôi cũng săn lại, như thể tôi đang mơ đến đường bay của những cánh chim.”
Như vậy đó, đường bay của những cánh chim. Các nhà tâm lý học thì nói rằng một trong những chủ đề chính của các giấc mơ là thấy mình bay như chim. Và khi ta hỏi các em học sinh các em mơ ước gì nhất, câu trả lời thường là: muốn được như chim. Đường bay của những cánh chim có sức hấp dẫn thúc giục chúng ta đi tìm hiểu thế giới bên kia đường chân trời.
Thiên di tìm nơi ẩn trú là hoà điệu của thiên nhiên, là nhịp thở của quả địa cầu. Mà bạn biết không, trong số 8,600 chủng loại chim thì hầu hết đều có cuộc sống thiên di, từ cuộc di chuyển ngắn xuống dưới chân núi đến cuộc hành trình dài 22,000 dặm quanh vùng địa cực. Mỗi độ xuân về, hàng trăm triệu khúc ca chim rộn rã khắp bầu trời khi những sinh vật nhỏ bé này trở về từ phương Nam, tạo thành những nốt nhạc nhiều màu sắc ngang qua bầu trời và những con sông đen màu cánh chim vạch lên không gian vô tận.
Không phải bây giờ mà đã từ nhiều thế kỷ nay, con người đã biết tới đời sống thiên di của loài chim. Và, trong ý nghĩa đó, người và chim rất gần nhau trong bản hòa tấu khúc của thiên nhiên và quý tiết.
Sau đây, để tiếp tục cơn mơ của người và chim, Nguyễn giới thiệu với các bạn một cuốn phim ngắn về những đàn chim bay đi trốn rét. Le peuple migrateur (tựa tiếng Việt: Chim thiên di) là bộ phim tài liệu về thiên nhiên gây tiếng vang từ năm 2001. Nó là món quà vô giá cho những ai sống trên mặt đất và đã từng nuôi ước mơ được tự do trên bầu trời như loài chim...
Bộ phim mang chủ đề: đường bay phiêu diêu của những loài chim từ phương Bắc lạnh lẽo đến phương Nam tìm nắng ấm. Cái ý ấy bắt đầu từ “trong đầu” của một con sếu vừa được một người nông dân giải thoát khỏi những mắt lưới mà nó vướng phải khi kiếm thức ăn trên một đầm lầy trên đường di trú. Nó bay đi và hẹn một ngày về. Trên suốt hành trình dài, những ngón chân nó còn đeo một sợi dây lưới.
Và thế là đường bay - cũng là đường dẫn bộ phim - có cớ để bắt đầu.
Người xem lập tức bị cuốn vào câu chuyện của những đàn chim ngỗng, sếu, cò, thiên nga,... với những con đường di trú ngoạn mục của chúng khắp hành tinh xanh. Những chuỗi hành trình đầy rủi ro nhưng cũng nhiều lãng mạn. Những cồn cát đỏ trong hoang mạc, đại dương xanh thẳm, những rặng núi tuyết trắng, những cánh đồng phơi sắc vàng lúa mạch, những khúc sông thanh bình hay thung lũng bềnh bồng sương sớm... tất cả khung cảnh sắc màu sự sống trên mặt đất được nhìn bằng cái nhìn, lăng kính chao lượn của những bầy chim thiên di. Biểu tượng của tự do mà chúng ta vẫn nghĩ - thực ra là một cuộc kiếm tìm và đấu tranh sinh tồn trong tự nhiên.
Ở đó, câu chuyện cá thể và bầy đàn trong việc sắp xếp những "hình vẽ", thế bay trên bầu trời hoàn toàn không ngẫu nhiên mà là bài học đầy kỳ diệu của tạo hoá, cuộc sinh tồn.
Có lúc, người làm phim đã nhìn trái đất từ tầm nhìn và nhịp tim của loài chim trên hành trình đầy rủi ro này. Tiếng súng cất lên từ một đồng cỏ xanh. Một. Hai. Và ba... Những con chim lìa đàn, rơi rớt lại trên đường bay. Đàn chim tan tác. Tiếng kêu xáo xác. Sự sống tự do như loài chim có lẽ cũng là những cuộc hành trình đẹp nhưng mong manh. Gần 40 lãnh thổ quốc gia xuất hiện trong bộ phim này. Có những thước phim ngẫu hứng về thiên nhiên Việt Nam rất mượt mà được nhìn từ con mắt trên không của một bầy chim di trú. Bộ phim được thực hiện ròng rã ba năm trời với một ê kíp 17 phi công, 450 người tham gia thực hiện. Nhiều phi công phải liên tục "bay như chim" để làm bạn, bám theo các đàn chim di trú suốt ba năm trời, sống chung "nói chuyện" với những đàn chim trên những trạm dừng chân của chúng để có những thước phim giàu cảm xúc.
Jacques Perrin là bậc thầy về phim tài liệu thiên nhiên hiện nay. Bộ phim còn có sự hợp tác xuất sắc của đạo diễn Michel Debats, đạo diễn Cluzaud (từng làm phụ tá đạo diễn bộ phim L'Indochine - Đông Dương, làm tại Việt Nam).
Và giờ đây, em ơi, hãy nghe lại giai điệu của bản To be by your side của Nick Cave hoà trong tiếng gọi đàn và nhịp vỗ cánh của loài chim thiên di: "And I know just one thing/ Love comes on a wing/ And tonight I will be by your side/ But tomorrow I will fly away/ Love rises with the day/ And tonight I may be by your side/ But tomorrow I will fly/ Tomorrow I will fly/ Tomorrow I will fly..." (Và anh chỉ biết một điều/ là/ tình yêu chúng ta đến trên một cánh bay/ Và có thể đêm nay anh ở bên em/ nhưng ngày mai anh sẽ bay xa.../ Ngày mai anh sẽ bay xa.../ Bay xa...)
(tổng hợp)
Joan Baez: từ ‘Kim cương và rỉ sét’ đến chiến tranh Việt Nam
John Baez là nghệ sĩ tài năng. Mười tám tuổi nổi tiếng với gọng ca tuyệt vời, ba năm sau sánh vai Martin Luther King trên bìa báo “Time Magazine”, hát ở ngày hội âm nhạc và hippie Woodstock, rồi ở Hà nội dưới bom đạn - chống chiến tranh Việt Nam, chống chiến tranh Iraq, bênh vực tù nhân chính trị, dân tỵ nạn và dân bị đàn áp khắp nơi... Đấy là Joan Baez. Dáng dấp mỏng manh, bà đã đi vào huyền thoại với giọng ca thật quý gần 5 thập kỷ, được mệnh danh “bà hoàng của nhạc dân gian truyền thống”, “Đức Mẹ của dân nghèo”. Đấy là Joan Baez.
Những điều viết trên là theo Xuân Sương của báo Diễn Đàn ở Paris. Nguyễn tôi quý trọng tài năng, vẻ đẹp và sự nghiệp âm nhạc của Joan Baez nhưng không chấp nhận thái độ của bà trong chiến tranh VN khi bà bênh vực Cộng Sản Bắc Việt. Tuy nhiên, ngay sau khi chiến tranh Việt Nam vừa chấm dứt, Joan Baez đã có một cái nhìn khác đối với cuộc chiến và tập đoàn lãnh đạo nước ta. Điều này, Nguyễn sẽ bàn sau.
Bây giờ, trước hết về người ca sĩ mến yêu. Dù thế nào đi nữa, âm nhạc và tiếng hát của Joan Baez cũng đã đi vào lòng người và thời đại. Vậy nên, hôm nay Nguyễn viết đôi điều về ca khúc Diamonds and Rust và tiếng hát của Joan, bài viết xuất phát từ cảm xúc nghệ thuật thuần túy.
Kim Cương và Rỉ Sét là tựa đề một ca khúc của Joan Baez: Diamonds và Rust. Joan Baez viết ca khúc này và trình diễn năm 1975, kể lại cuộc tình của cô với một người đàn ông (có thể đó là Bob Dylan?) 10 năm về trước. Trong bài hát, Baez nói tới một cú điện thoại bất ngờ cô nhận được từ một người yêu xưa, đưa cô ngược thời gian trở về một khách sạn cũ nát ở khu Greenwich Village. Nhiều kỷ niệm chợt hiện về để cô thấy rằng thời gian có thể biến chất than thành kim cương đồng thời cũng có thể làm cho thanh kim loại rỉ sét. Đây, ta hãy nghe:
I’ll be damned
Here comes your ghost again
But that’s not unusual
It’s just that the moon is full
And you happened to call…
Tội thân em quá
bóng ma của anh lại hiện về
Nhưng đó không phải là điều khác thường
Mà chỉ tại vầng trăng tròn
và tình cờ anh gọi đến
Còn em thì đang ngồi đây
bàn tay đặt trên điện thoại
Nghe giọng nói anh
giọng nói mà em đã biết
cách đây mười năm
trong tình yêu thảng thốt
em nhớ đôi mắt anh
đôi mắt xanh hơn màu trứng chim robin
mà thơ em thì dơ dáy. như lời anh nói
Còn bây giờ anh đang gọi em từ đâu
có phải từ trong một phòng điện thoại
ở miền Trung Tây nước Mỹ
Và rồi nàng nhớ lại những kỷ niệm mười năm về trước: nàng mua tặng chàng đôi khuy cài tay áo và chàng cũng tặng nàng một kỷ vật. Cả hai cùng biết ký ức sẽ mang đến điều gì. Chúng mang đến kim cương và chúng cũng có thể mang đến rỉ sét. Giờ đây nàng đang nhìn thấy chàng đứng với những chiếc lá màu nâu bay chung quanh và tuyết bám dày trên tóc. Bây giờ nàng nhìn thấy người yêu đang mỉm cười từ cửa sổ một khách sạn tồi tàn nhìn xuống quảng trường Washington Square. Hơi thở của chàng như mây trắng bay trong không gian... Vâng, nàng đã yêu chàng biết bao. Và nếu chàng tặng nàng kim cương và rỉ sét thì nàng cũng đã trả xong.
“Tại sao, tại sao anh gọi tôi và nói rằng anh nhớ tôi. Anh có nhớ rằng anh đã bỏ tôi lại trong nỗi tuyệt vọng và ngã gục. Tại sao anh gọi tôi và bào rằng nhớ tôi?”
Nguyễn rất yêu ca khúc “Diamonds & Rust” của Joan Baez. Chính nhờ Ian Bùi mà Nguyễn biết được bài hát tuyệt vời này. Yêu ca khúc và yêu cách trình diễn của Joan Baez. Cô hát, chỉ với cây đàn thùng. Trên một sân khấu không bài trí. Ăn mặc rất giản dị, không phấn son. Ôm đàn, đứng thẳng người, và hát. Nét mặt bình thường, chỉ hơi mỉm cười khi hát những câu mở đầu:
I’ll be damned
Here comes your ghost again
But that’s not unusual
It’s just that the moon is full
And you happened to call và câu kết:
Yes I loved you dearly
And if you’re offering me diamonds and rust
I’ve already paid
Vâng. em đã yêu anh biết bao
Và nếu anh tặng em kim cương và rỉ sét
Thì em cũng đã trả xong
trong tiếng vỗ tay rào rào của người nghe. Và rồi khi cô buông rơi mấy tiếng đàn sau cùng và ngừng hát, khán giả vỗ tay không dứt, khiến cô đã vào đến hậu trường rồi lại phải trở ra chào khán giả.
Ở trên có nói, Nguyễn rất yêu ca khúc “Diamonds and Rust” và cách trình diễn của Joan Baez. Về người nữ ca sĩ và nhạc sĩ này thì những năm chiến tranh, ở Đà Lạt, Nguyễn có được nghe bạn bè nhắc tới. Năm 1972, nghe tin Joan Baez tới Hà Nội trao thư và quà Giáng Sinh cho các tù nhân chiến tranh Mỹ. Đó là thời gian Mỹ dội bom ác liệt xuống miền Bắc. Người ta nói bà đã hát dưới trời Hà Nội và lên tiếng ủng hộ Cộng Sản Bắc Việt. Where Are You Now, My Son, ca khúc của Joan Baez viết năm 1973, một năm sau khi đến miền Bắc, là một bản cáo trạng chiến tranh, trong đó lẫn lộn tiếng bom nổ. Nhiều người rất phẫn nộ về hành động của Joan Baez. Trước 1975, ca sĩ Joan Baez là một trong những khuôn mặt nổi bật nhất của giới trí thức Mỹ và phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam, sánh vai với Bob Dylan, Jane Fonda v.v... Thế nhưng, sau 1975, bà vô cùng đau đớn khi nhìn thấy nhân dân Việt Nam bị đọa đày dưới chế độ mới. Theo tài liệu nhận được từ Đặng Hiền thì sự thức tỉnh này đã khiến bà có những lời sau: “Five years after the end of that war and seven years after my time under the bombs, I was once again rallying for the people of Vietnam, this time against the Communist government...” Năm năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, bảy năm sau khi tôi ở dưới những trận dội bom (khi J Baez tới Bắc Việt), một lần nữa tôi lại vận động cho người Việt Nam, nhưng lần này là để chống lại chính quyền cộng sản... Vào năm 1976, J Baez đã tách rời khởi các nhóm phản chiến và đã bày tỏ thái độ chống lại CSVN. Bà đã gặp sự chống đối mãnh liệt của những người bạn cũ, nhưng sau nhiều năm kiên quyết, tiếng nói của J Baez đã được quần chúng lắng nghe, trong đó có rất nhiều người thức tỉnh vì trước đây họ đã theo con đường của phe phản chiến chống lại VNCH. Trong cuốn hồi ký tựa đề Joan Baez And A Voice To Sing With do nhà xuất bản New American Library New York ấn hành năm 1987, Joan Baez viết:
“Như cả một phong trào rầm rộ được tung ra để ngăn chặn không cho tôi phổ biến lá thư gởi nhà cầm quyền CSVN yêu cầu họ hãy chấm dứt ngay chính sách đẩy dân vô tội ra biển đông. Ban đêm tôi bị đánh thức bởi những tiếng chuông điện thoại reo vang với những lời chỉ trích của bạn bè cho tôi là ngây thơ, nghe lời xúi giục của kẻ xấu và có cả những lời chưởi bới tục tằn của bọn cán bộ trong Tòa Đại Sứ CSVN tại Nửu Ước. Nhưng sự thật là sự thật không thể che giấu được trước ánh sáng Công Lý và lương tâm nhân loại về một chính sách phi nhân nghĩa của nhà cầm quyền CSVN...”
Và chúng ta đã thấy, như một chứng nghiệm của bản thân, những năm tháng trải qua đã giúp cho J Baez tìm hiểu và khám phá ra nhiều sự thật, mà điều khám phá quan trọng nhất là hiểu được rằng nạn nhân đích thực của cuộc chiến đó là chính là VNCH và thủ phạm đích thực là Công sản Bắc Việt, đã tạo ra chiến tranh xâm lăng VNCH, đã áp dụng chính sách cai tri bạo ngược, phi nhân tánh, trước đó đã được dùng để cai tri miền Bắc, ngày nay thì áp dụng trên toàn cõi VN. Bà đã nhận thức được sự đau khổ của người dân Việt, và đã đặt câu hỏi: “Tại sao biết bao nhiêu đoàn thể, hiệp hội thế lực cũng như tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức, văn sĩ, nghệ sĩ, linh mục, chư tăng, các nghị sĩ dân biểu... trước đây đã rất mạnh miệng lên án VNCH, họ đã huy động, sinh hoạt trong các phong trào phản chiến, trong đó có các cuộc vận động chính quyền Mỹ nhằm cắt viện trợ và bỏ rơi VNCH. Những kẻ đó, những nhóm người đó, trước những thảm trạng của ngày hôm nay gây ra bởi chính quyền CS, sao lại có thể “vắng mặt“, “im tiếng“?
Vì vậy, ngày 30.5.1979, ca sĩ Joan Baez và Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Quốc tế Humanitas, đã bỏ ra 53 ngàn dollars để đăng trên 4 tờ báo lớn của Mỹ New York Times, Washington Post, Los Angeles Times, và San Francisco Chronicle một bức thư ngỏ gửi chính quyền nước CHXHCNVN, gọi là “OPEN LETTER TO THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM“, có chữ ký của bà cùng 83 nghệ sĩ phản chiến của Mỹ.
Và như chúng ta đã biết, trước đó bà và và một số triết gia trí thức Châu Âu đã thức tỉnh và tìm cách sửa chữa sai lầm của mình khi vận động Tổng Thống Carter hỗ trợ cho công cuộc cứu người ở biển Đông. Đó là điểm khiến người ta có cảm tình với nhân cách của Joan Baez bên cạnh tài năng và vẻ đẹp đáng quý. Và từ đó, cảm xúc dâng trào khi nghe lại “Diamonds and Rust”.
Tội thân em quá
bóng ma của anh lại hiện về
Nhưng đó không phải là điều khác thường
Mà chỉ tại vầng trăng tròn
và tình cờ anh gọi đến…
Tiếng ga, tiếng gà trưa
Một hôm, xem phim Mê Thảo, Nguyễn tình cờ nghe được một tiếng gà vọng lại từ thôn xa. Một tiếng gà eo óc trong tĩnh mịch của một buổi trưa nắng ui ui có cây hoa gạo in bóng đen điu lên nền trời, thả rơi những cánh hoa đỏ ối. Thảng thốt, trong lòng mình nghe như có tiếng ngân của một dây đàn đứt. Và rồi u hồn chợt trở lại bến xưa. Nhà văn Võ Phiến có viết một tạp bút rất hay, tựa đề là Gà Gáy Trong Thơ, đăng trên tạp chí Việt ngày nào của Nguyễn Hưng Quốc*. Trong bài văn, Võ Phiến khởi đi từ việc phân tích những tình cảm dấy lên trong lòng người do tiếng gà gáy trưa, rồi bàn phiếm về mối liên hệ thân thiết giữa người và chó, lợn, gà, mèo, vịt... qua thời gian dài dằng dặc, từ thời đồ đá mới đến bây giờ. Nhân đà cảm hứng, Võ Phiến nhắc tới chuyện gà đi đưa đám người chết, dựa vào hai câu do BS Trần Ngọc Ninh trích theo khúc hát cổ của người Mường:
Đi sau cùng là những con của
Chó, mèo, gà vịt của người đã chết
Rồi Võ Phiến viết: “Bạn thắc mắc về hai tiếng ‘con của’?
- Đã có bác sĩ Trần giải thích: Con của là ‘gia súc’ (sic), các con vật nuôi trong nhà.
Hai nghìn năm trước, người Mường người Việt chưa tách lìa xa mấy. Trong đám ma Việt cổ không chừng cũng có thể có cảnh tương tự chăng? Hãy mường tượng hình dáng mấy con gà bịn rịn trong số những gia súc đi sau cùng: Khối tang quyến đông đảo gồm đám có vú đã đi trước, đến lượt gà, những thân thuộc có cánh - bịn rịn mà lạc loài, ngơ ngác, chân đeo cựa nhọn đầu đội mào đỏ - chúng trịnh trọng lơ ngơ giữa không khí lễ nghi tang chế vừa thê lương vừa đầy bí hiểm. Ôi, những con gà đưa ma, trông thương quá!”
Một đoạn văn đầy cảm xúc. Rồi Võ Phiến than phiền ở Mỹ không nhìn thấy bóng con gà trống chỉ có những con gà giả ở tiệm Tàu, tiệm Thái, mua về trẻ con chẳng thèm để ý. Trong bài văn, Võ Phiến có trích thơ tả tiếng gà gáy, của Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên. Toàn những nhà thơ tiền chiến. Kẻ này lẩn thẩn tự hỏi, vậy ra suốt hai mươi năm Văn Học Miền Nam và mấy chục năm Văn Học Hải Ngoại, không lượm được một câu thơ nào tả tiếng gà gáy sáng, gáy trưa hay gáy vào lúc đêm khuya sao? Nhà thơ Trần Dần, theo trí nhớ của kẻ này, cũng đã một lần nói tới “những canh gà báo trượt rạng đông”. Tô Thùy Yên, một lần trở lại gian nhà cỏ bên sông, đã viết: Ta dậy khi gà truyền nhiễm gáy/ Chân mây rách đỏ vết thương dài... Và kẻ này, khi đi tù trên đất Bắc đã có lần ghi lại: Buổi trưa. tiếng gà hiu hắt/ Nhớ đầy dăm vạt áo nâu... Khi sang xứ người, một buổi trưa ở San Diego, nhớ bạn ở quê nhà và nhớ tiếng gà da diết: ở đây trưa vàng nắng/ ồn mơ một tiếng gà... Và nhà thơ Khánh Hà ở Oslo, Na Uy, cũng viết: Ba mươi năm nghe lại tiếng gà/ Giữa trưa eo óc tự làng xa/ mùi hoa sứ nồng nàn gió biển/ Tưởng như cơn gió tự quê nhà...
Gần đây, trong cuộc bàn phiếm về tiếng gà ở Việt Nam, ở Pháp, ở Mỹ, ở Na Uy, chủ nhân Chiếc Cốc Lửa huyền thoại có đưa ra luận điểm của các cô sinh viên đủ quốc tịch, rằng tiếng gà ở mỗi nước một khác. Ôi chao, chỉ tiếng người là khác thôi chứ tiếng gà, theo Nguyễn nghĩ, ở đâu cũng âm thanh ấy. Nhân nói tới tiếng gà ở Mỹ, kẻ này nhớ tới một câu chuyện đăng trên tờ Dallas Morning News cũng đã khá lâu. Câu chuyện nói về một con gà trống và tiếng gáy của nó, như sau: Một người đàn ông sống độc thân, cô đơn, bèn nuôi một con gà trống để nó gáy chơi ngày ngày. Thét rồi ông đâm thương con gà trống và ghiền tiếng gáy của nó. Nhưng có một người không ưa: bà hàng xóm. Tiếng gáy của nó làm bà mất ngủ. Bà bèn sang yêu cầu người đàn ông giết con gà ấy đi. Bị ông từ chối, bà đi thưa. Cảnh sát tới xem xét, thấy hai nhà cách nhau khá xa, không có gì phạm luật, vậy không can thiệp. Bà hàng xóm không biết giải quyết cách nào để không còn nghe tiếng gà gáy nữa. Bà lại sang nói chuyện với người đàn ông, bảo ông ta đem con gà đi giải phẫu thanh quản, để nó gáy không ra tiếng nữa, phí tổn bao nhiêu bà chịu hết. Khổ quá, bà không hiểu tiếng gà nó quen thuộc, thân yêu như thế nào đối với người đàn ông cô độc. Đời nào ông chịu nghe bà. Đề nghị biếu ông thêm một ngàn đô nữa để ông làm tắt tiếng gáy của con gà, vậy mà bà hàng xóm vẫn chỉ nhận được một tiếng “no” tròn trịa. Bí quá, bà hỏi nhà báo vấn kế. Nhà báo thì bao giờ cũng dễ thương, đầy thông cảm và tình người, nên khuyên bà về lấy bông gòn hay cái gì đó bịt tai lại khi đi ngủ. Hoặc dọn nhà đi nơi khác. Ngoài ra không cách gì làm tắt được tiếng gà gáy.
Riêng kẻ viết những dòng này, cũng như nhà văn Võ Phiến, cũng như mọi người đàn ông lớn tuổi khác bất đắc dĩ phải lìa xa cố quận, vẫn thấy tiếng gà trưa là đầy cảm xúc. Tiếng gà, nhất là tiếng gà trưa, đã thuộc về một vùng thổ ngơi trên địa lý và trong tâm tưởng. Nó đã ở cùng với ấu thơ ta và sẽ không bao giờ tắt tiếng, cho tới ngày về với đất.
*In lại trong Võ Phiến Tuyển Tập. NXB Người Việt 2006
Hột mít lùi tro, khoai lang nướng
Sáng nay, tình cờ lật qua những trang trong cuốn Thư Gởi Người Bận Rộn của BS Đỗ Hồng Ngọc (tức nhà thơ Đỗ Nghê quen thuộc của chúng ta) tôi bắt gặp một tựa bài khiến tôi chú ý và thích thú: Hột Mít Lùi Tro.
Ôi. Hột mít lùi tro. Khoai lang nướng. Bắp nướng. Xoài chín. Me. Sấu. Quả bàng chín. Cái kèn quấn bằng lá thổi toe toe. Cái chong chóng lá dừa. Cái nhẫn cỏ. Con dế. Con ve. Trèo cây. Lội sông. Thả diều. Đánh lộn, đôi khi. v.v…
Đó là thế giới tuổi thơ của tôi và bạn bè thời nhỏ. Thời ngây thơ, trong trắng và hạnh phúc. Cái thời không thể đặt chân trở lại. Đã theo gió cuốn bay đi. Chỉ còn có thể về lại bằng hồi ức. Đó là cái thời sung sướng, hạnh phúc. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc kể: “Bạn tôi, một người “bận rộn” nói rằng cái thời còn lang thang ở Đà Lạt, ngấu nghiến một trái bắp nướng, nhâm nhi một hột mít lùi bên bờ Hồ Xuân Hương mát lạnh […], là những ngày hạnh phúc nhất của anh.” Với Nguyễn, ấu thời ở Vương Phủ với con bé Thỏ là thời gian sung sướng nhất dù chỉ có những chiếc lá bàng, hột mít lùi tro, khoai lang nướng và con dế gáy dưới cỏ xanh.
Ký ức ngày 911
“Phải luôn luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả.”
Thảo Trường đã viết như thế mở đầu tác phẩm Đá Mục. Nhưng trí óc con người có quên sự biến 911 không? Nhà văn người Nhật Haruki Murakami đã cho phát hành bộ tác phẩm 1Q84 đang rất được ưa thích tại nhiều nước trên thế giới. Ông khẳng định, tác phẩm được gợi cảm hứng từ cuộc tấn công khủng bố ở Mỹ vào 11/9/2001.
“Bạn nghĩ gì khi nhìn thấy cảnh hai tòa tháp đôi WTC đổ sập. Với tôi, đó là những hình ảnh quá thực, quá ấn tượng. Dù nó cứ như là cảnh dựng bằng máy tính”, nhà văn bày tỏ cảm giác của mình về sự kiện chấn động này.
Theo ông, nếu vụ tấn công 11/9 không xảy ra thì Tổng thống Mỹ sẽ là một con người khác và đất nước này sẽ không phát động cuộc chiến tranh chống Iraq.
“Cục diện thế giới sẽ khác đi. Điều này thật siêu thực. Đó là lý do tôi viết 1Q84”, ông nói.
Nhà báo John Grogan cũng ghi lại như sau trên một trang viết ở cuốn Life Is Like A Sailboat xuất bản hồi nẳm: Tháng 9 đã bắt đầu với ánh trời rực rỡ, tràn đầy hy vọng. Một thứ sắc màu của hạnh phúc, nhưng sao nó giống thứ ánh sáng của một buổi mai cách đây 8 năm.
Vâng, lúc ấy là 8 giờ 45 phút sáng ngày 11 tháng 9. 2001. Một buổi sáng đẹp trời, đầy nắng, những con bồ câu bay lượn trong không, người người vui sống, nô nức đi lại trên hè phố. 8 giờ 45 phút sáng, đang yên bình, ấy vậy mà chỉ một phút sau thảm họa xảy ra. Tòa Tháp Đôi của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở Nữu Ước sụp đổ với gần ba ngàn người chết.
Mười năm trôi qua kể từ ngày ấy. Nhiều người nói đã bao nhiêu năm rồi mà cái cảm giác mất mát vẫn còn đau nhói như mới xảy ra hôm qua. Thật vậy, mắt chúng ta tưởng còn nhìn thấy những mảng khói và lửa bốc lên từ lưng chừng hai tòa tháp, những bóng người như chim bay ra khỏi các cửa sổ rồi rơi xuống nền đất phía dưới; tai chúng ta còn nghe âm thanh những tiếng nổ rung chuyển và gạch ngói vỡ cùng tiếng người la thét, kêu khóc vang âm giữa bầu trời sớm mai đầy nắng của Nữu Ước; và tâm trí chúng ta còn quay cuồng với trăm ngàn ý nghĩ đen tối, kinh hoàng về một thảm họa phát xuất từ khối óc u mê của con người mà tưởng như từ trời xanh giáng xuống. Chỉ trong khoảnh khắc của một buổi sáng mà tới gần ba ngàn người chết - có những người tìm được xác, có những người chỉ còn lại một phần thi thể và có những người như biến mất vào hư vô. Chưa bao giờ một thành phố phải chịu đựng những tang tóc như thế. Và khúc tang ca của ngày 11 tháng 9 năm 2001 mãi mãi còn vang dội trong không gian, thời gian và trong trái tim người. Nó kể với chúng ta về những người vô tội đã chết, về những đổ vỡ và những hận thù mang màu sắc chủng tộc, tôn giáo. Chúng ta sẽ không bao giờ quên những đau thương mất mát ấy.
Hôm nay, sau 10 năm, xin các bạn cùng Nguyễn tôi mặc niệm những người đã chết, đồng thời hướng về sự hồi sinh của thành phố Nữu Ước để có thể nói lên rằng nơi này, nơi mà tường thành sụp đổ, một quốc gia đã trỗi dậy và ý sống của con người tiếp tục vươn lên. Nguyễn xin ghi lại những trang sau đây.
“Ngày 11/9, cả nước Mỹ kinh hoàng vì những gì xảy ra. Những tàn phá và thiệt hại to lớn, khủng khiếp hơn cả, đó là những người không bao giờ có thể trở về nhà được nữa. Và có một điều ít ai nghĩ đến, là bao nhiêu tình yêu đã chết đi; thay vào đó là lòng hận thù. Thế nhưng, ở đâu đó trong bầu không khí chúng ta đang thở, tình yêu vẫn còn, như bông hoa mọc lên từ kẽ đá.
“Một thời gian sau khi thảm kịch xảy ra, người ta vẫn thấy những đóa hoa, những ngọn nến và những tấm thiếp đặt nơi tưởng niệm. Lẫn trong vô vàn những thứ ấy là tấm ảnh của một cô gái trẻ tươi cười. Đằng sau tấm ảnh viết “Vì anh đã không còn em để yêu thương, nên anh sẽ học cách yêu thương hết thảy mọi người”.
Với tôi, đó là tình yêu thực sự”.
Nguyễn đọc mẩu chuyện cảm động và ý nghĩa này trên blog của Phong Nguyễn. Một tình yêu thật đẹp và thăng hoa. Phong Nguyễn viết tiếp: “Gần 4 năm trôi qua, câu chuyện ấy vẫn còn nguyên ý nghĩa với tôi. Nếu bây giờ có ai đó hỏi tôi về một tình yêu thực sự, tôi sẽ vẫn kể lại đúng như thế. Tôi không nhớ đã đọc được nó ở đâu, nhưng không quan trọng. Quan trọng là vẫn có những con người như vậy, những tình yêu rộng lớn như vậy. Nghĩa là tôi không một mình. Mà tôi chưa bao giờ một mình, khi còn có những người bạn và những tình yêu đơn giản nhưng đầy màu sắc từ họ.”
Tình yêu phải xóa bỏ hận thù trong tim người. Chúng ta hãy nghe bà Nafisa Degani phát biểu với Đài BBC. Bà Nafisa Degani làm việc cho công ty bảo hiểm Aon, ở tầng thứ 100 thuộc Tòa nhà phía Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới. Lúc chiếc máy bay thứ nhất đâm vào tòa nhà phía Bắc, bà đang ở trong văn phòng và may mắn thoát chết. Bà suy nghĩ nhiều về động cơ của bọn cướp máy bay, những người đã giết hại các bạn của bà, và cho rằng suy nghĩ về đạo Hồi của bọn khủng bố là sự hiểu sai về đạo. Bà nói: “Trước tiên, đạo Hồi có nghĩa là hòa bình - vậy hòa bình nằm ở đâu trong việc này? Thứ đạo Hồi này chỉ mới được tạo ra thôi. Không có gì liên quan giữa đạo Hồi và những kẻ khủng bố đã dùng sinh mệnh của mình hành động kiểu đó. Không có tôn giáo nào cho phép làm như vậy. Vậy nó chỉ núp dưới cái tên của đạo Hồi, nhưng theo tôi hiểu, nó không có liên quan gì tới đạo Hồi cả.” Với chúng ta, những người còn lương tri và lòng thương xót, liệu chúng ta có nên quên đi tội ác của bọn khủng bố núp dưới danh nghĩa Hồi Giáo không? Không. Không nên quên và không được quyền quên. Chính vì vậy, quân đội Hoa Kỳ đã phải truy diệt quân khủng bố đến tận những xó xỉnh xa xôi nhất ở Afghanistan và Iraq.
Một học sinh năm đầu trung học kể lại sáng hôm ấy, khoảng 11 giờ, thầy giáo cho biết tòa Tháp Đôi của Trung Tâm Thương Mại đã bị không tặc phá sập. Thật khó tin một điều như thế xảy ra. Nước Mỹ là quốc gia mạnh nhất thế giới. Cô giáo dạy tiếng Anh của tôi rời lớp vì anh rể của cô làm việc ở Tòa Tháp Đôi. Cô đã chạy vào tòa nhà đang bốc cháy và một lát sau nhân viên cứu thương mang cô ra vì cô bị ngất đi, anh rể của cô thì đã chết trước đó. Nhiều người khác cũng đã rời lớp vì thân nhân của họ đang lâm nạn. Hôm ấy tôi trở về nhà và tôi đã khóc. Nghĩ tới thành phố và những người đã chết, tôi gắn tấm bích chương “God Bless America” lên xe hơi. Một trong những điều tôi còn ghi nhớ sau thảm kịch là người Mỹ đã kết hợp nhau lại. “Hãy nhấn còi xe lên nếu bạn yêu nước Mỹ.” Nạn kẹt xe xảy ra vào những ngày cuối tuần chung quanh sở cứu hỏa của thành phố, người ta đem thực phẩm và quần áo đến cho những người bị nạn. Tôi đã khóc khi biết rằng hành khách trên chuyến phi cơ United 93 đã chống lại bọn không tặc để máy bay đáp xuống giữa cánh đồng thay vì gây tai họa.
Một học sinh nhỏ học lớp 5 cho biết hôm ấy các em đang chơi trên sân trường. Ấy là một ngày nắng đẹp và mọi người cười vui. Bỗng chốc, các thầy cô vừa chạy vừa kêu thét, bảo tất cả vào lại lớp ngay. “Cái gì thế nhỉ?” Nhiều đứa khóc, những đứa khác ngơ ngác, cùng chạy về lớp. TV mở ra, cảnh đỏ nát và người chết, người kêu khóc hiện ra trên màn hình. Năm năm sau, trí óc em bé còn bị những sự kiện bi thảm ngày hôm ấy ám ảnh.
Một thiếu phụ thoát chết trong vụ sụp đổ của Trưng Tâm Thương Mại Thế Giới tại New York kể lại: Năm năm trôi qua, tôi đã không chết trong ngày hôm ấy nhưng tôi đã mất linh hồn. Tôi làm việc trên phố Water Street. Sáng hôm ấy, tôi xuống xe buýt ở trước tòa nhà tôi làm việc và không thể nào tin được tôi thấy trước mắt mình thư từ giấy má đủ thứ bay hỗn loạn không dứt. Tôi không biết cái gì đã xảy ra cho tới khi vào văn phòng nghe kể chuyện không tặc tấn công Tòa Tháp Đôi. Nhìn ra, tôi thấy tòa tháp bốc cháy. Mọi người kêu nhau chạy ra. Không tặc tấn công tòa tháp thứ hai. Sau giây phút đó, đời tôi đã mất. Tôi gọi người chồng đã ly dị, gọi các con tôi
Phải luôn luôn nhớ rằng phải quên đi tất cả. Nhà văn Thảo Trường đã viết Đá Mục và Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết và ông đã sống lại những thảm kịch của thời đại ông, những thảm kịch còn đau đớn hơn sự biến 911 ở Tòa Tháp Đôi New York. Thảo Trường đã đau đớn đến tận cùng và kêu lên “hãy quên đi tất cả”. Vâng, hãy quên, vì như nhà văn Ba Kim của Trung Quốc nói trong sách Tùy Tưởng Lục, cứ nhớ mãi cái ác, cái xấu và nỗi đau thì khổ lắm. Đành là thế, nhưng nếu chúng ta quên đi và tha thứ tội ác của bọn giết người thì cái ác sẽ còn sống mãi và lộng hành. Cho nên, qua những mảng hồi ức gợi lại ngày hôm nay, chúng ta nghĩ đến và xót thương những người đã chết ở Tòa Tháp Đôi ngày 11 tháng 9. 2001, đồng thời vững tin rằng cái ác, cái xấu không thể tồn tại được trên dải đất này. Ánh nắng ngày ấy mờ đi trong khoảnh khắc vì những đám mây khói, nhưng rồi nắng lại lên mỗi ngày. Như sáng nay dưới bầu trời New York.
2011
Những bức ảnh của Eddie Adams
Này bạn nhỏ ơi,
hôm nay. nơi xứ người. tôi xin nói với bạn
về những tấm ảnh
những tấm ảnh đã nhân danh con người. cũng như xé nát
đời người
những tấm ảnh trong chiến tranh Việt Nam
trên xử sở của gió mùa. và sương muối.
người chụp ảnh là phóng viên Eddie Adams
ông đã chết năm
2004
chết trong cơn đau và những ám ảnh không nguôi
ôi. con mắt. của bức tường đá đen.
vẫn mở vẫn mở…
Vừa qua, tin của đài BBC cho biết: Một cuốn sách mới mang tên “Eddie Adams: Vietnam” vừa được nhà xuất bản Umbrage Editions cho ra mắt độc giả hôm 1 tháng 10. 2008. Alyssa Adams, vợ của Eddie Adams, người biên tập cuốn sách đã thu thập và chọn lọc các bức hình cho sách và cho một cuộc triển lãm trưng bày các bức ảnh này tại Bảo tàng viện Umbrage ở Brooklyn, New York từ ngày 5 tháng 3 tới ngày 30 tháng Tư. Đây là cuốn sách đầu tiên được phát hành dành cho chính Adams vì những các tác phẩm của ông.
Nhiếp ảnh gia danh tiếng Eddie Adams qua đời vì bệnh ung thư năm 2004, hưởng thọ 71 tuổi. Ông từng được nhận 500 giải thưởng và đã là phóng viên chiến trường tại 13 cuộc chiến, từ chiến tranh Triểu Tiên tới cuộc chiến Kuwait năm 1991, trong suốt sự nghiệp 45 năm của mình. Có thể nói Eddie Adams là hình ảnh kiệt hiệt nhất trong số những phóng viên hàng đầu của thế giới.
Năm 1968, Eddie Adams, khi đó là phóng viên chiến trường cho hãng AP, chụp một tấm ảnh đã làm đảo lộn cách nhìn của công chúng về cuộc chiến Việt Nam. Bức ảnh chụp tướng Nguyễn Ngọc Loan, quyền tham mưu trưởng cảnh sát miền Nam Việt Nam, chĩa thẳng súng bắn vào đầu một tù binh Việt Cộng, bức ảnh đã đem lại cho Eddie Adams giải thưởng Pulitzer, và là một trong những tấm ảnh đã trở thành biểu tượng cho cuộc chiến tranh Việt Nam.
Sau chiến tranh, tướng Nguyễn Ngọc Loan di cư sang Mỹ và mở một cửa hàng bán pizza cho tới khi ông mất năm 1998. Adams vẫn giữ liên lạc với ông Loan và in một bài về ông Loan trên tạp chí Time. Ông viết: “Viên tướng giết tên Việt Cộng; tôi giết viên tướng bằng chiếc máy ảnh của mình”. Và ông nói thêm: “Tướng Loan là một người có thể gọi là anh hùng thực sự, được binh lính của ông kính trọng. Tôi không nói rằng những gì ông làm là đúng. Bức ảnh đó đã thực sự đảo lộn cuộc đời ông. Ông không bao giờ trách tôi cả.”
Ngày nay xem lại, ta thấy đó là một tấm hình thật ác, thật độc. Ngay lập tức nó nằm trên trang nhất các báo quốc tế. Nó trở thành một trong những hình ảnh được nhớ tới nhiều hơn hết thảy khi nói về cuộc chiến Việt Nam, và nó đã tạo ra chấn động lớn trong tâm thức người Mỹ lúc bấy giờ. Như một mồi lửa rực cháy, tấm ảnh lập tức làm dấy lên phong trào phản chiến mạnh mẽ vốn đã âm ỉ từ trước. Những người trẻ, sinh viên, trí thức, nghệ sĩ thiên tả đã lợi dụng nó để lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Tấm ảnh từ đó gây ra nhiều hệ lụy. Trước hết, đối với tướng Loan, nó là một ám ảnh khốc liệt suốt bao nhiêu năm và có thể đã theo ông đến tận nấm mồ. Ông đã phải chịu đựng bao nhiêu dư luận chỉ trích. Những đôi mắt hằn thù, rực lửa nhìn ông xuyên suốt cả vào giấc ngủ, mặc dầu ông đã làm một việc cần thiết phải làm trong chiến tranh. Vào những ngày cuối đời của tướng Loan, Eddie Adams có tiếp xúc với ông để giải tỏa những mặc cảm, nhưng đã quá muộn màng. Với tác giả Eddie Adams, bức ảnh cũng là một hệ lụy xót xa. Theo bài viết tưởng niệm của hãng thông tấn AP, trong những năm cuối đời, Adams cảm thấy con người ông, tâm trí ông bị chi phối và ám ảnh vì bức hình, đến nỗi ông đã không để trưng bày nó trong studio của mình. Ông cũng đau xót, vì tấm ảnh - một cách bất công - đã biến tướng Loan thành một kẻ vô nhân tính dưới con mắt của những người phản đối chiến tranh.
“Ông ta là một anh hùng,” Adams nói, nhắc lại lời giải thích của tướng Loan rằng người bị ông ta hành quyết là một đại úy Việt Cộng mà một vài giờ trước đó đã chịu trách nhiệm trong việc giết gia đình người phụ tá thân cận nhất của tướng Loan. Chính Adams đã nói trong một cuộc phỏng vấn nhân phát hành một tập ảnh của hãng AP năm 1972: “Đôi khi một tấm hình có thể lừa dối vì nó không nói hết câu chuyện.” Như vậy đó, tấm hình chụp ngày 1 tháng 2 năm 1968 đó đã gây ra biết bao ngộ nhận và đau khổ. Nó trở thành bi kịch lớn của thời đại.
Cũng chính vì những nỗi đau khổ dằn vặt đó mà sau này, năm 1976, khi làn sóng thuyền nhân ào ạt dâng lên và những thảm cảnh chết chóc trên Biển Đông đánh động lương tâm thế giới, Eddie Adams đã nhất quyết thực hiện một chuyến đi vào trung tâm của thảm họa để chụp những tấm hình về những con thuyền vượt biên. Ông nói: “Đó là vào năm 1976... Tôi đọc được một bản tin trên tờ New York Times về những người vượt thoát ra đi bằng thuyền. Bản tin thật ra không phải là một bài tường thuật quan trọng mà chỉ kể lại vắn tắt việc những tên cướp biển đã tấn công thuyền vượt biên và cướp bóc, hãm hiếp, giết chóc những người trên đó. Và khi những chiếc thuyền này cặp vào bờ biển Thái Lan thì nhà cầm quyền Thái đã cho buộc dây vào thuyền kéo ra khơi trở lại. Điều này cũng đã diễn ra trên dọc bờ biển vùng Đông Nam Á. Các thuyền nhân bị để cho chết giữa biển khơi.”
Thế là phóng viên ảnh Eddie Adams quyết định thực hiện một chuyện kể bằng hình về cảnh những thuyền nhân Việt Nam bị để cho chơi vơi trên biển cả. Và ông đã đi vào trung tâm của cơn bão. Ông đến Thái Lan, nói chuyện với cảnh sát tuần duyên Thái, và họ chỉ ông tới một cái cảng trong vùng vịnh Thái Lan. Adams tới đó vào lúc 3 giờ sáng ngày lễ Tạ Ơn năm 1977 để tìm gặp một chiếc thuyền vượt biên. “Bỗng nhiên tôi nhìn thấy người ta đang kéo một chiếc thuyền tị nạn ra khơi. Thế là tôi ngăn những người Thái lại và lên thuyền nói chuyện với các thuyền nhân VN. Tôi bảo tôi sẽ mua nhiên liệu và gạo cho họ. Đó là một chiếc thuyền dài 30 feet, chở 50 người, chật cho tới nỗi không ai đặt lưng nằm xuống được. Trong quá khứ, tôi từng đến với những đứa trẻ trong vùng bị nạn đói hoặc ở những khu vực chiến sự. Những trường hợp này, có khi ta nhìn thấy một em bé, và em ngừng lại nhoẻn miệng cười với ống kính.” Ở đâu cũng thế, và đây là cảnh hầu như đã trở thành quen thuộc. Thế nhưng trên một chiếc thuyền vượt biên, Eddie Adams đã chứng kiến một hoạt cảnh trái ngược. “Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi gặp những đứa bé không cười. Chúng đã ở trên biển nhiều ngày, không được ăn uống. Và tôi đặt tên cho câu chuyện bằng hình của tôi là Con Thuyền Không Có Nụ Cười... “Boat of No Smiles”
Eddie Adams ở trên thuyền với các thuyền nhân Việt Nam được một lúc thì trời tối và cảnh sát Thái trở lại buộc ông phải rời đi. Dẫu sao, những tấm ảnh Adams chụp được ở ngoài khơi Biển Đông đã góp phần tạo ảnh hưởng lớn trong chính giới Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Bộ Ngoại Giao Mỹ đã yêu cầu hãng AP cung cấp những tấm hình ấy để chuyển tới Quốc Hội. Nhờ đó, TT Jimmy Carter đã mở cửa đón nhận 200 ngàn thuyền nhân Việt Nam vào đất Mỹ. Bản thân Eddie Adams cũng rất tự hào về chuyện này. Ông nói: “Tôi không vượt biển ra khơi để cứu thế giới. Tôi chỉ thực hiện một câu chuyện kể bằng hình. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu những tấm hình của tôi đã giúp cho 200 ngàn thuyền nhân đến được bến bờ nước Mỹ để xây dựng cuộc sống, thì điều đó cũng khá là tuyệt vời.”
Tất cả những tấm hình phóng viên ảnh Eddie Adams đã chụp - hồi Tết Mậu Thân và biến động vượt biên năm 1976 - cho thấy tác giả là con người công chính và trung thực. Ở đây ta chợt phát hiện một nét gì đó của Joan Baez. Tuy nhiên, Eddie Adams không là người phản chiến như Joan Baez. Ông chỉ muốn kể một câu chuyện trung thực về chiến tranh Việt Nam. Cho đến khi tấm hình Tết Mậu Thân bị lợi dụng và nhìn với một cái nhìn kết án cũng như đã gây đau khổ cho một con người là tướng Loan, thì ông chợt đau đớn và hối tiếc. Và khi bùng lên làn sóng người lánh nạn CS vượt biển tìm tự do, chới với giữa biển khơi, thì Eddie Adams cảm thấy mình cần phải làm một cái gì đó nhân danh lương tâm của một con người trung thực. Và cũng như Joan Baez, ông đến với các thuyền nhân VN, góp phần cứu giúp những người tỵ nạn. Thiên ký sự bằng hình của ông sẽ còn lại mãi với mai sau.
Một buổi chiều… nhìn mây trôi
Một buổi chiều, nhìn mây trôi. Bây giờ, chiều nào mà không nhìn mây trôi. Để thấy mây trên trời khi thì như hình con chó rơm (xô cẩu) khi thì trắng như áo văn nhân (thiên thượng phù vân như bạch y...) Vậy thì... Một buổi chiều nhìn mây trôi, Nguyễn tôi nghĩ đến nhà văn Thảo Trường. Anh bây giờ, nhìn qua ảnh, tóc cũng đã trắng như mây.
Chiều chủ nhật 31 tháng 8. 2008, tại hội trường báo Nguời Việt ở Cali đã tổ chức buổi giới thiệu sách của Thảo Trường. Quyển sách có tựa đề “Những Miểng Vụn Tiểu Thuyết”, được nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Huy Phương nhận định là một tác phẩm cực hay. Nguyễn tôi có hân hạnh được biết nhà văn Thảo Trường. Biết chứ không quen thân, mặc dù có gặp nhau một lần. Hồi đó, cách đây hơn mười năm, Nguyễn vừa mới qua Mỹ, nhân đi rong chơi ta bà tám hướng ghé Westminster Cali, được bạn bè kêu đến dự buổi ra mắt sách của Phan Ni Tấn và Nguyễn Nam An. Hôm ấy có nhiều người nổi tiếng: Mai Thảo, Thái Thanh, Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Khánh Trường, Nghiêu Đề và Giang... Trong buổi sinh hoạt, Hoàng Khởi Phong có dẫn Nguyễn đến giới thiệu với Thảo Trường. Được biết tiếng anh từ lâu, ngày xưa có đọc Bà Phi của anh đăng trên nhật báo Tiền Tuyến, mãi đến bây giờ mới gặp người, Nguyễn tôi cảm thấy rất vui. Về sau, khi làm báo Phố Văn, Nguyễn có mời Thảo Trường viết. Anh vui vẻ nhận lời và gửi đăng mấy truyện, trong đó có Hộ Khẩu Ở Ngoại Thành và Chương Bốn Mây Trôi. Phải nói cả hai truyện đều mạnh mẽ, táo bạo, đầy sức sống. Rồi anh gởi tặng Nguyễn cuốn sách của anh - Đá Mục. Đá mà cũng mục, huống chi người, phải không anh Thảo Trường? Bẵng đi nhiều năm không gặp lại anh. Gần đây Hoàng Mai Đạt làm ở Người Việt có email cho Nguyễn, yêu cầu viết vài đoạn ghi lại các cảm nghĩ về Thảo Trường. Thật sự thì Nguyễn chỉ gặp Thảo Trường trong mấy phút và cũng chưa đọc kỹ đọc hết tác phẩm của anh nên ngần ngại không dám viết. Đến nay, nghe tin anh in sách và được bạn bè nồng nhiệt giới thiệu và khen ngợi, Nguyễn tôi cảm thấy rất mừng và có những dòng này.
Mừng, vì anh xứng đáng được như vậy. Anh đã từng phục vụ trong quân đội tới 17 năm và ở tù Cộng Sản đâu cũng bằng quãng thời gian đó, lại là nhà văn có bút pháp trung thực, mạnh mẽ (đôi khi thơ mộng) và tấm lòng thủy chung, nhân hậu.
Viết về Thảo Trường, nhà thơ Đỗ Quý Toàn đưa ra nhận định: “Ông sống trong thời chiến tranh, 17 năm phục vụ trong quân đội, nhưng khi viết văn ông là một con người tự do. Nhà văn nhìn cuộc chiến diễn ra trước mắt bằng con mắt của một con người. Đối diện với sự sống và cái chết, nhà văn diễn tả những quan sát trung thực, những cảm nghĩ chân thành. Nhà văn giữ được chất nhân bản, yêu sự sống, thương con người, thương loài người, một tình thương không để hoen ố vì chính trị phe đảng bè phái, mà còn vượt lên trên những tranh chấp tư tưởng, ý thức hệ nhất thời.”
Đó là Thảo Trường. Trong truyện “Viên Đạn Bắn Vào Nhà Thục” chẳng hạn, ông chỉ diễn tả thực trạng chiến tranh mà không lên án ai, phán xét ai, không nói xấu bên nào, không bênh bên nào. Nói như thế không có nghĩa là Thảo Trường không có cái nhìn phân biệt đúng sai. Thật ra, ông chỉ muốn làm người nghệ sĩ cảm nhận mọi sắc thái của cuộc đời, diễn tả cuộc đời như nó là thế. Người đọc có thể nhìn ra cái ý của ông sau hàng chữ. Thế thôi. Cũng vẫn theo nhà thơ Đỗ Quý Toàn, Thảo Trường kể chuyện người cựu tù binh đạp xe đi mót ve chai ven xa lộ PCH ở California mà lâu lâu lại vấn vương nhớ những hình ảnh cũ. “Hồn bay lên khỏi những ngọn cây tràm rậm rì... qua những cây tràm khác trong trại giam ra khỏi hàng rào tre, bay qua Suối Lạnh, qua Suối Cạn, lướt trên ngọn cây, bay vù lên ngọn núi Mây Tào...” Ông nhớ lại những ông chánh án tòa thượng thẩm bị biệt giam, nhớ cậu bé con, nhớ người sĩ quan trẻ bị tâm thần được trả tự do nhưng nhất định không rời trại nếu không có xe quân cảnh Mỹ đến đón! Sau khi vất vả mới đánh lừa để đuổi được cậu tù trẻ này ra khỏi trại rồi, người trực trại than: “Tù cũng khổ! Cai tù cũng khổ! Ở tù cũng khổ! Ra tù cũng khổ!” Buổi tối, khi đàn bò xổng chuồng cả trại phải đi “thu quân” về rồi mới được ngủ bù, có bác cằn nhằn: “Bò cũng khổ! Người cũng khổ!”
Đoạn văn trên hay quá, phải không bạn. Không oán thù, chỉ nhẹ nhàng diễn tả những cảm xúc nhân hậu. Nguyễn xin trích dẫn thêm đoạn văn sau đây để mời bạn đọc thưởng thức văn chương của Thảo Trường:
“Hòn đá to bằng nắm tay. Mầu mận chín. Nhìn kỹ nó có vóc dáng hình nhân, có khi lại thấy hao hao một loài thú. Cũng có lúc thấy nó giống thiên thần rồi lại chợt tưởng là quỷ sứ. Có lúc thấy nó hiền lành nhưng cũng có lúc thấy nó toát ra vẻ hung dữ. Lúc thấy đẹp, lúc thấy xấu. Lúc thấy dễ thương, lúc thấy đáng ghét. Lúc thấy có hồn, lúc thấy vô tri. Lúc thấy nó sống động, nhưng có lúc thấy nó là tĩnh vật.. Có lúc thấy nó hiện hữu, lại có khi chẳng nhìn thấy đâu. Theo người tìm ra thì mảnh vỡ có thể là từ cung trăng hay một hành tinh nào đó trên vũ trụ xẹt xuống. Sao băng nằm ở đáy hồ.” Thảo Trường cho biết hòn đá này có lý lịch từ thời anh đóng quân ở cao nguyên. Nó do một người lính nhặt được đâu dưới lòng suối đem tặng. “Ông sĩ quan giữ viên đá anh lính cho mãi đến ngày tàn cuộc chiến. Đổi đi đơn vị nào ông cũng mang theo, tuy không lên tướng nhưng sau này về làm tham mưu, có văn phòng, ông cũng luôn luôn trưng cục đá màu mận chín đó trên bàn giấy.”
Các bạn thấy không, tả một cục đá như vậy có thể nói là tuyệt bút. Nó là nghệ thuật, là điêu khắc hiện hình, khiến ta nghĩ đến pho tượng “The Thinker” của Rodin. Nhưng ngoài những cảm xúc thuần túy nghệ thuật như trên, ở Thảo Trường ta còn tìm thấy những thực tế sần sùi (Những Đứa Trẻ Thụ Thai Giữa Hàng Rào), những ý nghĩ cay đắng, những lời đầy uất hận. Có lúc anh đã lớn tiếng chửi: “Bố tiên sư nhà nó... Đéo mẹ nó... Cha tiên sư nhà nó cách mạng... Bố tiên sư nhà nó Đồng Minh”, nghĩa là chửi cả Việt Cộng, chửi cả Mỹ. Hay như trong câu chuyện sau đây ở truyện “Đá Mục” được nhà văn Huy Phương trích dẫn, một câu chuyện thật, một chuyện cười ra nước mắt: Một bác tù già có nhiệm vụ giữ chuồng heo, trong đó có một con heo giống tức là heo nọc. Sau một lần gieo giống vất vả, cô phó tiến sĩ nuôi heo mới giao cho bác tù già hai quả trứng gà nói là “để bồi dưỡng”. Bác tù già này rất cảm động, có lẽ trong lòng bác đã nghĩ đến hai chữ tình người, bác đun nước và thưởng thức rất tận tình hai quả trứng. Khi cô phó tiến sĩä trở lại, hỏi đã đập hai quả trứng vào máng để bồi dưỡng cho con heo nọc chưa, thì bác mới thú nhận là đã xơi hai quả trứng vì cứ nghĩ là bà cán bộ muốn bồi dưỡng bác. Kết quả là cô cán bộ nổi trận lôi đình và mắng nhiếc bác tù già: “Nó nhảy, chứ anh có làm gì đâu... mà bồi dưỡng? Anh tranh ăn của nó là anh bốc lột nó. Các anh bốc lột của nhân dân quen rồi, bây giờ lại bốc lột của lợn nữa!” Cũng vì nhận lầm hai quả trứng gà “bồi dưỡng” mà bác tù già phải trở về đội nông nghiệp, để lại tìm “chỗ dựa vững chắc” là cây cuốc.
Thật sự, bút pháp của Thảo Trường linh động, nhiều sắc thái, nhưng bao giờ cũng mạnh mẽ. Tất nhiên, tinh thần nhân bản, nhân hậu trong truyện của anh vẫn là nét dễ thấy. Những chuyện Thảo Trường viết là những chuyện có thật. Anh nói: “Những câu chuyện có thật vì được lấy chất liệu từ chính cuộc sống của tôi, tôi đã gặp những nhân vật như thế và tôi đem vào truyện của mình. Thí dụ như bà Nữ Hoàng Trầm Hương trong “Mây trôi” là một nhân vật tôi đã gặp hồi còn trong tù, hay người thương binh cộng sản, người vợ góa của người lính cộng sản. Vì thế tôi có nói với ông Nguyễn Mạnh Trinh là trong truyện của tôi sự thật chiếm 99%, và hư cấu cũng chiếm 99% là như thế. Đó chỉ là một cách trả lời thôi, vì sự thật là hư cấu qua cái nhào nặn của nhà văn. Mình không đưa ra sự thật như một tấm ảnh mà muốn diễn tả bằng văn chương, thành ra là hư cấu.”
Như vậy, Thảo Trường không bịa chuyện, nhất là bịa chuyện với dụng tâm nói xấu, bôi bẩn đối phương -như Bảo Ninh và Dương Thu Hương đã có lúc làm như vậy. Đây là điểm khác biệt giữa nhà văn miền Nam và nhà văn Cộng Sản miền Bắc. Chính vì điều này mà Đỗ Quý Toàn nói Thảo Trường là nhà văn tự do. Nhà văn nhà thơ miền Nam đều là những ngòi bút tự do, nghĩa là không sáng tác dưới áp lực chính trị hay ý thức hệ nào cả. Nguyễn Bắc Sơn chẳng hạn đi vào chiến tranh với phong thái nghệ sĩ: Mai ta đụng trận... Linh hồn ta sẽ thành mây bay. Thanh Tâm Tuyền ở trong tù mà “gánh cỏ trên vai, thơ trong đầu”. Tô Thùy Yên bị đày đọa đến cả chục năm trong các lán trại từ Bắc chí Nam cũng nghĩ tới cái chung cục “Quen lạ, bạn thù chung giấc ngủ/ Chung lời thương tiếc khắc trên bia”. Và còn nhiều, còn nhiều nữa. Chắc chắn những nhà văn nhà thơ Cộng Sản không bao giờ có được cái nhìn và những ý nghĩ nhân bản như vậy.
Tháng 9. 2008
Cây bàng mùa đông và tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ
Một buổi sáng của tháng 12, bầu trời Garland một màu xám xịt. Trời như đã sang đông. Lá rụng đầy đường. Chợt nhớ màu lá bàng của mái ngói trong tranh Phố Phái. Nhớ cây bàng ở Vương Phủ ngày nào đầu đông lá đỏ rụng đầy sân, mẹ và chị Thoa đem thúng đi nhặt về đun bếp. Nhớ cây bàng mùa đông trong nhạc Phú Quang. Và nhớ bài “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh. Nhớ lắm. Từ nhiều hôm nay. Cho nên bảo vợ đi tìm cho bằng được bài văn của Nhất Linh, do nhà văn chép với lời đề tặng, trong cuốn lưu bút của nàng từ những ngày xa xưa thuở còn là cô bé học trò. Nguyễn muốn ghi lại trang viết đó vì nghĩ “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh là một áng văn chương hay vào bậc nhất trong văn học cận đại. Chẳng những hay mà nhiều ý nghĩa nhân sinh. Chúng ta hãy đọc và lắng nghe tiếng lá bàng rơi trong những trận gió đêm.
“Ở phía sau một gốc bàng, một cái bóng chạy ra. Tôi nhìn kỹ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi, đầu nó chit một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má, áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít lá rụng ở cuối phố. Đứa bé chạy vội lại. Một con bé ở sau một gốc bàng khác cũng chạy ra, rồi hai chị em - tôi đoán lá hai chị em - chạy loăng quăng đuổi những lá bàng gió thổi lăn trên đường.
Một cơn gió lạnh nổi lên, lá rụng ào ào, một lát đã đầy đường.
- Mau lên chị ơi. Nhặt cả hai tay chị ạ.
- Tao bảo mày đem chổi đi, mày lại bỏ quên. Thằng nỡm. Tao đã biết trước là đêm nay có gió to. Mày chẳng nghe tao bao giờ, thằng nỡm. Tôi mỉm cười vì thấy con bé mắng một cách thành thạo lắm. Đứa bé không để ý tới lời chị nó, vừa nhặt vừa reo:
- Gió lên… Lạy giời gió nữa lên.
Chúng nó nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt, nhiều khi vì màu áo lẫn với màu đường, tôi không nom rõ người, chỉ thấy hai cái bóng đen loăng quăng. Chúng chạy vọt ra xa rồi lại quay vòng trở lại, có khi đang chạy về một phía bỗng nhiên đứng dừng: một đám lá rơi lỏa toả trên người khiến chúng ngập ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào.
- Lạnh quá.
- Chạy mau lên cho ấm… Thằng nỡm.
Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm, tôi mỉm cười đoán có lẽ tên đứa bé là Nỡm chăng.
Tôi tự nhiên thấy vui với chúng và mặc dầu trời rét, tôi cũng như chúng mong mỏi gió thổi thật mạnh.”
Hay và cảm động quá phải không các bạn. Chúng ta thấy vui với hai đứa bé nhặt lá trong đêm đồng thời thương chúng biết bao. Chúng ta cũng thấy yêu và gần gũi với mùa đông Hà Nội cùng với màu lá bàng đầy phố. Với kẻ viết những dòng này, những chiếc lá bàng ấy thật đẹp. Có thể không rực rỡ bằng lá cây maple hay red oak ở đây, nhưng chúng mạnh mẽ và gần gũi với những kỷ niệm ấu thời của ta hơn bất cứ thứ gì khác. Và nghĩ tới lá bàng là nghĩ tới mùa đông Hà Nội. Đây, ta trở về lại với ca từ bài hát Em ơi, Hà Nội Phố của Phú Quang:
Em ơi, Hà Nội phố
Ta còn em mùi hoàng lan
Ta còn em mùi hoa sữa
Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ
Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm
Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông
Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông
Mảnh trăng mồ côi mùa đông
Mùa đông năm ấy
Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ
Kẻ này phải mượn ca từ trong bài “Em Ơi, Hà Nội Phố” của nhạc sĩ Phú Quang để nói thêm một điều nữa. Đó là âm nhạc. Vâng. Mùa đông năm ấy/ Tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ. Những điều sắp viết ra đây liên quan tới tiếng đàn dương cầm của một nhà soạn nhạc, nhạc sĩ Wladyslaw Szpilman trong phim The Pianist của nhà đạo diễn đầy tài năng và tai tiếng - Roman Polanski. “The Pianist” từng đoạt 3 Oscar năm 2002 về diễn viên chính xuất sắc nhất (Adrien Brody trong vai W. Szpilman), đạo diễn xuất sắc nhất và kịch bản phim hay nhất. Cuốn phim kể chuyện một gia đình ở Warszawa, Ba Lan, bị tan nát vì thảm họa Đức Quốc Xã ở những năm đầu của thập niên 40. Người nghệ sĩ dương cầm Szpilman đã đi qua tầng đầu địa ngục: Cha mẹ, anh chị em cùng với vô số người dân vô tội của xứ Ba Lan bị đánh đập hoặc bắn chết giữa lòng thành phố hoặc bị bức hại trong trại tập trung. Riêng Szpilman, nhờ may mắn, được đưa vào làm công việc khổ sai trong toán sản xuất rồi sau đó nhờ đôi vợ chồng nghệ sĩ Ba Lan cứu thoát. Cuốn phim đầy âm thanh và cuồng nộ với những hình ảnh thảm khốc khiến người xem bàng hoàng đau đớn, nhiều lúc tim thắt lại đến nghẹn thở. Riêng kẻ này đặc biệt xúc động với những sequences cuối cùng của cuốn phim, xúc động đến rưng rưng nước mắt. Đây là nét nhân bản tạo thành giá trị của tác phẩm. Lúc bấy giờ, cả thành phố Warszawa chìm trong đổ nát, hoang vắng. Szpilman chạy trốn từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác, đói khát và lạnh cóng cùng với những thương tích tưởng chừng có thể lấy đi mạng sống của anh bất cứ lúc nào. Anh phải đi sục sạo tìm chút thực phẩm còn sót lại để cầm hơi. Một hôm anh bỗng nhìn thấy cây dương cầm trong một góc của ngôi nhà, rồi cả một khúc đời chợt thức dậy, anh đưa tay dạo mấy phím đàn. Tiếng đàn trong đêm không ngờ đã dẫn bước chân kẻ thù tới. Và tri âm đã gặp tri âm. Người sĩ quan Đức đã gặp anh chàng Do Thái, tiếng nhạc đã xóa nhòa biên giới giữa 2 nước thù địch. Phim chinh phục mọi người ở đoạn này. Vâng, đúng là mấy nốt đàn vang lên trong ngôi nhà đổ đã dẫn đường cho viên sĩ quan Đức đi tìm. Một hôm đang tìm cách đục một hộp đồ ăn, nhìn lên, Szpilman rụng rời thấy một viên sĩ quan Đức Quốc Xã đứng trước mặt mình. Viên sĩ quan hỏi anh làm gì ở đây và biết được Szpilman là nhà soạn nhạc và danh thủ dương cầm lừng danh của xứ Ba Lan. Là người có học và yêu âm nhạc, nghệ thuật, viên sĩ quan đưa Szpilman qua một phòng bên, chỉ chiếc dương cầm đầy bụi và những mảnh vỡ, bảo anh đánh đàn.
Ngồi trước chiếc dương cầm như trước người yêu thất tán vừa tìm lại được, Szpilman xúc động nghẹn ngào. Rồi những âm thanh vang lên trong căn nhà đổ, vang lên như lửa reo, suối chảy trong khi ngoài trời bông tuyết bay trên gạch đá của những ngôi nhà mặt trăng. Có vậy sao, trong cảnh địa ngục a tỳ này, còn có được âm nhạc sao, nghĩa là còn có chút hạnh phúc và hy vọng. Viên sĩ quan của phía thù địch đứng lặng người nghe tiếng đàn của Szpillman vang lên thánh thót, có lúc tuôn chảy như đường chim bay, khi ầm ầm như giông tố đi qua bầu trời. Kể từ bữa đó, viên sĩ quan Đức đầy nhân ái tìm cách tiếp tế thực phẩm cho Szpilman, giúp anh sống dậy. Rồi Hồng quân Nga tiến vào giải phóng Ba Lan. Binh lính, sĩ quan Đức trở thành những kẻ bị truy đuổi.
Viên sĩ quan Đức cùng với các chiến hữu của ông bị bắt nhốt vào một khu tập trung. Ông nhắn tin cho Szpilman biết. Trong những năm tháng sau đó, khi thành phố Warszawa và toàn thể Ba Lan được giải phống, Szpilman cố công đi tìm viên sĩ quan đầy nhân bản đã cứu mạng sống của mình, và cứu âm nhạc của loài người, nhưng anh đã hoàn toàn thất vọng. Cuối cùng, những hàng chữ kết thúc tấn bi kịch có tiếng dương cầm cho biết viên sĩ quan, có tên là Hosenfield, đã chết trong trại tù Liên Xô.
Kết thúc phim buồn quá, phải không bạn? Ôi, mùa đông năm ấy tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ. Vâng ít ra, trong cảnh địa ngục ấy còn có tiếng dương cầm, và trong những giờ phút tuyệt vọng nhất, nghệ thuật cũng đã đem đến cho chúng ta sự ấm áp và cứu rỗi.
Mơ về một Giáng Sinh tuyết trắng
Sáng ngày 2 tháng 12. 2009 vừa qua, ở Dallas bỗng dưng trời đổ cơn mưa tuyết. Không nhiều nhưng đủ phủ trắng các mái nhà và thảm cỏ trong vườn. Và sáng ngày 4 tháng 12 lại có tin tuyết rơi nhẹ và mưa tuyết vài nơi. Cũng như năm nào, hồi mới sang Mỹ, thấy tuyết rơi đầy vườn, Nguyễn vội đi pha ấm trà thơm, ngồi nhìn tuyết trắng mơ màng.
Và khi Nguyễn tôi viết những dòng này thì chỉ còn một tuần nữa là đến đêm Noel. Và Nguyễn cũng như nhiều người khác đang mơ một Noel tuyết trắng. Không phải để có một cuộc tình trên tuyết như trong Love Story! Mà chỉ vì đẹp, và lãng mạn. Nguyễn thầm nhủ: Không biết cách đây 2006 năm, đêm Chúa sinh ra đời nơi hang Bê Lem ấy, ngoài trời có tuyết rơi không, không ai có cách gì xác nhận được, nhưng chắc tiết trời lạnh lắm. Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời... Lạnh, nhưng không chắc đã có tuyết rơi. Vậy mà, theo truyền thống của châu Âu, Noel thì phải có tuyết phủ. Có lẽ đó là đặc tính của thời tiết vào mùa Giáng Sinh bên ấy. Nhưng, như có một tác giả (quên tên) nói, Giáng Sinh Trắng không phải là dạng thời tiết hiển nhiên của mùa đông Mỹ, mùa đông Giáng Sinh Trắng đòi hỏi phải có tuyết rơi nhiều hơn, trắng hơn. Let it snow, man! Hãy để cho tuyết rơi, ông ơi! Không chỉ là mong muốn của đám trẻ em mà còn cả những người lớn - như một hy vọng điềm lành cho năm mới.
Như thế đó. Như một hứng khời chợt đến, ta nghĩ về Giáng Sinh tuyết trắng của White Christmas. Tác giả ca khúc này là một đồng hương của nhân vật chính đêm Noel - Đức Jesus. Ông ta cũng gốc người Do Thái có tên Irving Berlin. Như mọi người đã biết, ca khúc White Christmas được Bing Crosby lần đầu tiên giới thiệu tới công chúng là vào ngày 25/12/1941, trên đài phát thanh NBC. Rồi nó được dùng làm nhạc chính của cuốn phim Holiday Inn năm 1942. Cùng đóng với Bing Crosby trong phim là Fred Astaire. Từ đó, “White Christmas” trở thành đĩa đơn bán chạy vượt thời gian, nó đứng đầu bảng tổng sắp trong suốt 11 tuần lễ liền của năm 1942, cuối cùng thì nhạc phẩm này đoạt giải Academy Award cho bài hát hay nhất năm 1942.
Trong Thế Chiến II, “White Christmas” càng trở nên nổi tiếng hơn, và bài hát mang thông điệp yêu thương và hòa bình này đã giúp mọi người có thể có một chút lạc quan vào những ngày tháng đen tối nhất của chiến tranh.
The sun is shining
The grass is green
The orange and palm trees sway...
Chỉ đơn giản có thế. Nhưng lại là những không gian yên bình rất gần gũi. Này nhé, mặt trời tỏa sáng rực rỡ - cỏ xanh non và những cây cam cùng những cây cọ màu vàng đong đưa dưới trời... Tất cả trở thành những biểu tượng rất đỗi thân quý, giúp người ta có thể tìm thấy những khoảnh khắc thăng bằng giữa máu lửa, bom đạn của Thế Chiến II.
Chỉ bởi lẽ “I’ve never seen such a day...”
Điều đó có thể mãi là một ước mơ.
Được biết trong bất cứ cuộc biểu diễn nào cho quân đội trong suốt cuộc chiến tranh, Bing luôn được yêu cầu hát bản “White Christmas”. Và Giáng Sinh Trắng đã làm rơi lệ các chiến binh. Mọi người đều muốn thưởng thức những cảm giác an bình, dù chỉ trong vài khoảnh khắc, tạm quên đi cái ác liệt của chiến tranh trong thực tại. Điều này không chỉ đúng ở Mỹ mà cả ở châu Âu, chuyến lưu diễn của Bing Crosby năm 1944 đã chứng minh rất rõ. Đĩa đơn “Giáng Sinh Trắng” của Bing được bán hơn 30 triệu bản và được ghi nhận là đĩa đơn bán chạy nhất trong lãnh vực âm nhạc suốt hơn 50 năm qua. Kỷ lục này chỉ dừng lại vào năm 1998, khi Elton John dâng tặng Công nương Diana tuyệt phẩm Ngọn Nến Trong Gió - Candle in the Wind.
Một kỷ niệm như vết thương trong tâm hồn chúng ta: Bản White Christmas được phát đi phát lại nhiều lần trong thời điểm Tháng Tư 1975, và nó được dùng làm hiệu lệnh mật cho cuộc tháo chạy khỏi Sài Gòn của Tòa Đại Sứ và nhân viên Mỹ làm việc ở Việt Nam. Buồn ơi là buồn, phải không các bạn của Nguyễn?
(theo CBS Sunday Morning)
Từ cuốn phim “The Hurt Locker”, nghĩ về chiến tranh Iraq và những người lính không về.
Như Nguyễn đã viết trong một bài tản mạn, phim The Hurt Locker không có đổ máu nhiều, không có nhiều chết chóc, nó như một bộ phim tài liệu, phán ánh được sự hoang tàn, khốc liệt và vô nghĩa của chiến tranh: Một con mèo bị thương ngơ ngác giữa đống đổ nát, một cậu bé bán DVD lậu hằng ngày, là bạn của những người lính, bỗng một hôm chết quanh bụng còn gài những quả bom... Những hình ảnh này nói lên nhiều lắm và khiến chúng ta - trong đó có Nguyễn - bồi hồi xúc động và nghĩ ngợi.
Quả thật, người xem bị căng thẳng thần kinh, cảm thấy sự sống và cái chết như một trò chơi may rủi trong chiến tranh. Và một câu hỏi được đặt ra trong đầu, đó là cuộc chiến kia bao giờ sẽ kết thúc? Hay sẽ mãi tiếp diễn như câu nói của nhân vật William James: Chiến tranh là một thứ ma túy... Dòng chảy cuồn cuộn của cuộc chiến đôi khi tiềm ẩn một chất gây nghiện chết người. (The rush of battle is a potent and often lethal addiction, for war is a drug)
Nhưng chiến tranh có thật sự đúng là một thứ ma túy không? Nhìn sâu vào tâm thức con người trong cuộc chiến, có thể nói bất cứ người lính nào cũng muốn chiến tranh kết thúc để được trở về với gia đình. Chẳng hạn viên trung sĩ Sanborn thường nói với James rằng anh ta không thể nào chịu nổi sức ép trong đội tháo gỡ mìn và anh ta mơ tưởng đến một ngày giã từ chiến trường Iraq, trở về và tạo lập một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Mark Boal, người viết kịch bản “The Hurt Locker”, đã trở về. Jeffrey S. Sarver, cùng trong toán tháo gỡ mìn với Mark Boal, cũng đã trở về. Nhưng có nhiều người lính đã không về. Có thể các bạn và Nguyễn, có người không tán thành cuộc chiến tranh Iraq, nhưng chúng ta không thể nào quên những người lính ấy.
Vâng, đã lâu rồi Nguyễn có viết trong bài “Ánh Trăng”:
những cuộc chiến tranh dần dịu lửa
người về. nghe câu chuyện dòng sông
reo vui. ấm nước. bên đồng cỏ
uống chén trà thơm. thức đợi trăng
Nhưng thực tế đã không được như thế. Chiến tranh như lửa cháy vần quanh. Chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh Vùng Vịnh. Chiến tranh bên bờ con sông Tigris ở Iraq. Chiến tranh trên vùng đá núi Afghanistan. Và nhiều người lính đã không về. Hôm nay, Nguyễn xin được viết về những người lính ấy, như một lần tưởng niệm.
Còn nhớ cách đây hơn hai năm, vào một ngày mùa hạ, Nguyễn đọc trên tờ “The Dallas Morning News”, thấy bức ảnh chụp một thiếu phụ trong nghĩa trang Arlington ở Washington DC. Người thiếu phụ ấy còn rất trẻ , mặc bộ áo dài hở lưng, nằm than khóc trước một nấm mồ. Mùa hè rồi, bên cạnh nấm mộ đá nở một bông dã quỳ vàng cháy. Hôm nay, một sáng chủ nhật đầy nắng, nhân viết về cuốn phim “The Hurt Locker”, Nguyễn vào trang Blog của Getty Images, bắt gặp lại tấm hình người thiếu phụ trước nấm mộ và bông dã quỳ. Một người lính về từ chiến trường Iraq đến thăm đồng đội nằm ở đây, đã ghi lại: “Vẻ đẹp trong sáng của những ngọn đồi ở Arlington, và những cảnh sắc tuyệt vời của thủ đô Washington đã tương phản với thực tại trước mắt đầy những mất mát, với nỗi đau vẫn còn tươi nguyên và hằn in trên mặt người. Bạn bước đi trên lớp cỏ còn nguyên rể lòi ra bên huyệt mộ mới đào. Một bà mẹ cúi xuống hôn bia mộ của con. Hai người lính đặt hoa trên mồ bạn. Một cậu nhỏ để lại một tờ giấy viết tay ghi hàng chữ: “Con hy vọng rằng bố thích Thiên Đàng cũng như bố đã yêu mến Virginia. Con sẽ đến thăm bố mỗi Chủ Nhật. Bố nhớ viết thư cho con nghe.”
Cũng trong khu nghĩa trang Arlington, chúng tôi đã gặp cô Mary McHugh. Cô ngồi khóc trước ngôi mộ đá của vị hôn phu James “Jimmy” Regan đã chết ở chiến trường Iraq. Lời cô vỡ ra nghẹn ngào. Có lúc cô ngừng lại như muốn giải thích một điều gì đó phát xuất từ lòng cô.
Mary kể về vị hôn phu Jimmy Regan của cô. Chẳng những cô yêu anh mà còn ngưỡng mộ. Sau khi tốt nghiệp ở ĐH Duke, anh quyết định vào quân đội để phục vụ đất nước. Anh tử trận hồi tháng 2 năm 2007 ở chiến trường Iraq vì một quả bom nổ trên đường (roadbomb). Mary nói rằng họ dự tính kết hôn vào năm tới khi Jimmy giải ngũ trở về. “Chúng tôi yêu nhau. Hai đứa nghĩ sẽ mãi mãi có nhau trong đời.”
Chúng tôi rời cô, một lát trở lại thấy cô nằm trên cỏ khóc than trước mộ người yêu, cô thì thầm trước bia đá, khuôn mặt áp gần phiến cẩm thạch, như thể cô đang nói nhỏ vào tai Jimmy.”
Lần chia tay cuối cùng...
Đây là lời của Trung Sĩ Juan Campos, 27 tuổi, viết cho vợ trong email ngày 12 tháng 12 năm 2006, được đăng lại trên tờ “The New York Times”.
Này, em yêu kiều diễm,
Bọn anh lai gặp tình cảnh hỗn mang, mất thêm hai người bạn nữa. Đời sống của một người lính bộ binh trên chiến trường chẳng thể nào an toàn được. Bom, mìn và những tên bắn sẻ… Hãy cầu nguyện và tưởng nhớ tới anh. Đôi khi, anh cảm thấy không thể nào chờ đợi tới lúc ra khỏi nơi này để trở về với em. Tình trạng quá căng thẳng, chẳng biết anh còn chịu đựng được bao lâu nữa, tuy nhiên vì đồng đội của mình, anh sẽ cố gắng tỏ ra can trường dũng cảm. Mong em hiểu cho anh.
Vâng, anh chắc chắn rằng mình sẽ để dành được ít tiền nếu em về ở với mẹ… và đồng thời em có thể giúp mẹ thanh toán được vài cái bill trong lúc này. Anh yêu và nhớ em như điên. Anh nghĩ nhiều đến hai mẹ con. Ôi, giá như anh có được một phút ra khỏi cơn ác mộng này để ôm hôn cả hai người . Em hãy giúp anh đến thăm mẹ và những người em gái của anh, nói với họ rằng anh yêu họ biết bao. Thôi, anh còn nhiều việc phải làm và mong sớm nhận được thư em. Yêu em mãi mãi, ôi một nửa của anh. Và xin em nhớ rằng anh chỉ mong ra khỏi nơi này để trở về với em và con, sống những ngày hạnh phúc.
Juan Campos
Trung sĩ Juan Campos được hai tuần nghỉ phép hồi năm 2006, và anh đã bay từ Baghdad về Texas. Anh viếng thăm mộ bố, rồi đến ở lại một ngày với ông bà. Hôm chuẩn bị trở về lại chiến trường Iraq, Juan Campos cùng với vợ đi khiêu vũ và ăn uống suốt đêm với bạn bè. Bản tính trầm tĩnh và kín đáo, thế nhưng Campos đã nhảy hip hop nhiều hơn ai hết. Hôm sau, vợ anh tiễn anh ra phi trường.
“Tôi đã khóc như chưa bao giờ khóc trước kia,” vợ của Campos nói hôm Thứ Ba, 3 tháng 10. 2006. “Cả hai chúng tôi đều cảm thấy rằng đây là chia tay lần cuối.”
Bây giờ, Nguyễn xin nói tới những người lính khác. Họ đến từ nhiều nơi trên thế giới, nhiều nhất là từ các quốc gia nghèo khó. Ôi, di dân, những mảnh đời tan tác. Chiều nay biết về nơi đâu. Họ như mây từ khắp phương trời về đây. Và họ đã tình nguyện vào quân đội Mỹ với giấc mơ quốc tịch và bảo lãnh gia đình sang theo.
Những người trẻ tuổi nay đều sinh đẻ ở những vùng trời khác và đều ôm ấp “giấc mơ Mỹ”. Tài liệu của báo Dallas Morning News cho biết: Họ thiên di đến xứ này và gia nhập quân đội Hoa Kỳ, tình nguyện đi chiến đấu ở những vùng xa, để từ đó có được quốc tịch Mỹ. Có ít nhất 100 người đã gục ngã ở chiến trường Iraq. Jose Gutierrez là người đầu tiên nằm xuống trong vùng cát nóng của giải đất Umm Qasr trong những ngày đầu của trận chiến Iraq. Sau khi Jose chết, gia đình anh mới nhận được những vinh dự chưa từng có trong đời. Người chị bay từ Guatemala qua dự thánh lễ có sự hiện diện của Đức Hồng Y chủ lễ và các sĩ quan trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến đứng nghiêm chào chiếc quan tài có phủ quốc kỳ của Jose. Người mẹ nuôi của anh đưa thi thể anh về chôn ở Guatemala mà lòng cơ hồ tan nát: Bà không hiểu tại sao Jose phải hy sinh như thế.
Nhưng rồi chiến tranh cứ tiếp tục và ngày càng có nhiều di dân chết cho mảnh bằng quốc tịch và những mộng ước khác. Nora Mosquera, mẹ nuôi của Jose Gutierrez nghĩ rằng việc trao bằng quốc tịch quá muộn đối với Jose, nhưng mặt khác bà lại cảm thấy biết ơn và hãnh diện vì anh. Với Fredina, chị của Juan Alcantara chết ở chiến trường Iraq ngày 6 tháng Mười 2007, thì bằng quốc tịch cũng như các lễ tôn vinh đều là vô hồn bởi vì “cậu ấy không thể nói lời tuyên thệ từ bên trong quan tài”.
Một người lính khác nữa đến từ một vùng đất rất xa - vùng đất của gió mùa và sương muối: Việt Nam. Anh ta tên Nguyễn Khắc Bình, nhân vật trong truyện ngắn Đường Ra Khỏi Basra của Nguyễn Thị Thảo An. Đây là truyện ngắn đầu tiên của một nhà văn Việt Nam - mà lại là nhà văn nữviết về chiến tranh Iraq. Một truyện ngắn cảm động và đặc sắc, đầy tinh thần nhân bản và long xót thương. Nguyễn Thị Thảo An chưa hề ở trong lính, chưa hề đến Iraq mà viết rất hay, rất độc đáo về cuộc chiến trên đất nước này.
Nguyễn Khắc Bình được gia đình cố gắng lo cho đi du học, ngay cả phải cầm cố nhà cửa, đất đai. Anh thường xuyên nghĩ tới cha mẹ già vò võ với bao nỗi xót xa, Cũng như những di dân người Guatemala, Venezuela, Trung Hoa… nói trên, Nguyễn Khắc Bình quyết định vào lính Mỹ, phục vụ một thời gian để vừa được quy chế vào quốc tịch, vừa được học bổng học đại học, sau đó anh có thể bảo lãnh cha mẹ già sang đây. Chiến tranh Iraq mới bắt đầu, đang cần lính. Thế là anh ghi tên gia nhập, đi đánh nhau ở chiến trướng Iraq, với hy vọng làm “cá vượt vũ môn”. Vì, như Nguyễn Khắc Bình nói. “Từ dân Việt để trở thành công dân Mỹ cũng giống như đi đầu thai kiếp khác, tôi cần phải “vượt vũ môn” như một con cá chép thật.”
Ra trường một năm, đơn vị của Nguyễn Khắc Bình mới được đưa qua Iraq. Chiến tranh vẫn tiếp diễn ở nơi đây. Súng nổ khắp nơi. Loạn quân Iraq xả súng bắn cả vào chợ búa, nhà thờ, trường học, thậm chí đám cưới hay tang lễ.
Nơi đầu tiên đơn vị đặt chân đến là Mosul. Từ đó, đơn vị được chuyển bằng trực thăng tới vùng núi cao nhất Iraq là Haji Ibrahim. Ở đây, họ phải chiến đáu với những toán địch quân xuất hiện như những bóng ma trong các hang động tối tăm. Những cuộc đụng độ ác liệt diễn ra dưới sự yểm trợ của máy bay Apache. Sau đó, đơn vị của Nguyễn Khắc Bành được chuyển đi giữ anh ninh cho cuộc bầu cử.
Tiếp theo, tiểu đoàn được lệnh tới Basra. Khi ngang qua Baghdad các chiến binh được viếng thủ đô trong 48 giờ. Baghdad là diễn trường của khủng bố, phá hoại, bắt cóc, của “road bomb” và bom “tự sát”. Từ Baghdad đơn vị di chuyển qua thành Babylon. Rồi tiến thẳng xuống Basra, qua nhiều khúc sông, hồ và đầm lầy lau sậy, với những hàng chà là rợp bóng.
Cách Basra hơn 46 dặm, là Al-Qurnah, Vườn Địa Đàng của Adam và Eva. Đây là ý nghĩ của Nguyễn Khắc Bình khi đứng trước Cây Nhân Sinh Tree of Life. “Bây giờ, tôi cũng muốn chạy tới xem cây Tree of Life, bằng cách này hay cách khác, tôi sẽ trộm cắn một Trái Cấm. Xin Chúa hãy đày tôi ra khỏi Vườn Địa Đàng hay nói đúng hơn đày tôi ra khỏi Iraq, tránh xa cuộc chiến này. Tôi chưa muốn chết, nhất là chết ở một đất nước không có dây mơ rễ má nào với tôi….” Cuối cùng, tới Basra, vùng đất của định mệnh. Nguyễn Khắc Bình và đồng đội đóng quân ở đây “bảo vệ các giếng dầu và hệ thống dẫn xuất, hệ thống khí đốt quan trọng của Iraq. Ngoại trừ thủ đô, đây là thành phố lớn nhất Iraq, dân số một triệu rưỡi.” Nguyễn Khắc Bình cùng mấy người nữa được phân công canh gác trước doanh trại trong thời tiết nóng tới 120 độ F. Thế rồi…
“Từ xa, một chiếc xe vận tải xuất hiện. Thằng Ted chộp ống nhìn, quan sát. Nó nói, xe giao sữa. Nó lui vào trong, ra sau cổng, lấy máy rà mìn. Tôi cũng ngó qua ống nhìn. Xe chạy băng băng. Tôi nhận ra, thằng lái xe là Abu gì đó, tôi quên mất. Nó vẫn thường giao sữa mỗi thứ Hai, thứ Năm. Nhưng hôm nay là thứ Sáu mà. Ngày thứ Sáu người Hồi giáo đồng loạt nghỉ làm việc. Tôi dán mắt vào ống nhìn. “Trời ơi!” Tôi kêu lên, gần đến cổng, mà nó xả hết tốc lực.
“Xe bomb.” Tôi thất thanh kêu. Không còn kịp nữa, tôi lao ra về phía trước, đưa khẩu súng nhắm. Trong trại, đơn vị đang ăn trưa, hơn 400 lính đang ngồi đầy trong đó. Nếu bắn, thật nguy hiểm. Có thể tôi bị thương hoặc sẽ chết. Bắn thằng Abu, xe vẫn lao tới. Không suy nghĩ nữa, tôi quyết định trong nháy mắt.
“Tôi bóp cò phóng lựu bên dưới khẩu M4, một quả M203 bắn vọt ra như hỏa tiễn, đâm ngay thùng xe. Tôi nhìn thấy một đường khói còn chưa tan hẳn. Một tiếng nổ kinh hồn rung chuyển mặt đất. Lô cốt rung rinh. Cát và đá mịt mù. Mà lạ quá, bỗng nhiên tôi thấy mình nhẹ hửng, bay lên, bay lên cao. Tôi nhìn xuống. Ôi, thân xác tôi kia. Tôi nằm bất động. Những mảnh kim loại cắm đầy người. Chiếc xe bomb nát như tương. Thằng Abu mất xác.”
Trong cơn mê, khi hồn bay lên, Nguyễn Khắc Bình thấy “Bây giờ, thế giới hai nơi. Tôi bắt đầu mơ màng chìm trong giấc ngủ. Đâu đây văng vẳng bài hát tôi yêu.
... Trả súng đạn này. Ôi, sạch nợ sông núi rồi
Tôi trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất, năm nao...
Cuối cùng thì tôi cũng tìm được con đường ra khỏi Basra.”
Như thế đó, Nguyện Khắc Bình chết. Anh chết như mơ… Anh chết trước khi nhận được bằng quốc tịch với những nghi lễ tôn vinh và lời tuyên thệ… Anh chỉ có thể trở về trong chiếc áo quan. Nguyễn Thị Thảo An viết thật hay, khiến Nguyễn đọc mà trái tim thắt nghẹn. Hỡi ơi, Trung sĩ Nguyễn Khắc Bình!
Tháng 3.2010
Một buổi sáng của tháng 12, bầu trời Garland một màu xám xịt. Trời như đã sang đông. Lá rụng đầy đường. Chợt nhớ màu lá bàng của mái ngói trong tranh Phố Phái. Nhớ cây bàng ở Vương Phủ ngày nào đầu đông lá đỏ rụng đầy sân, mẹ và chị Thoa đem thúng đi nhặt về đun bếp. Nhớ cây bàng mùa đông trong nhạc Phú Quang. Và nhớ bài “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh. Nhớ lắm. Từ nhiều hôm nay. Cho nên bảo vợ đi tìm cho bằng được bài văn của Nhất Linh, do nhà văn chép với lời đề tặng, trong cuốn lưu bút của nàng từ những ngày xa xưa thuở còn là cô bé học trò. Nguyễn muốn ghi lại trang viết đó vì nghĩ “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh là một áng văn chương hay vào bậc nhất trong văn học cận đại. Chẳng những hay mà nhiều ý nghĩa nhân sinh. Chúng ta hãy đọc và lắng nghe tiếng lá bàng rơi trong những trận gió đêm.
“Ở phía sau một gốc bàng, một cái bóng chạy ra. Tôi nhìn kỹ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi, đầu nó chit một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má, áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít lá rụng ở cuối phố. Đứa bé chạy vội lại. Một con bé ở sau một gốc bàng khác cũng chạy ra, rồi hai chị em - tôi đoán lá hai chị em - chạy loăng quăng đuổi những lá bàng gió thổi lăn trên đường.
Một cơn gió lạnh nổi lên, lá rụng ào ào, một lát đã đầy đường.
- Mau lên chị ơi. Nhặt cả hai tay chị ạ.
- Tao bảo mày đem chổi đi, mày lại bỏ quên. Thằng nỡm. Tao đã biết trước là đêm nay có gió to. Mày chẳng nghe tao bao giờ, thằng nỡm. Tôi mỉm cười vì thấy con bé mắng một cách thành thạo lắm. Đứa bé không để ý tới lời chị nó, vừa nhặt vừa reo:
- Gió lên… Lạy giời gió nữa lên.
Chúng nó nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt, nhiều khi vì màu áo lẫn với màu đường, tôi không nom rõ người, chỉ thấy hai cái bóng đen loăng quăng. Chúng chạy vọt ra xa rồi lại quay vòng trở lại, có khi đang chạy về một phía bỗng nhiên đứng dừng: một đám lá rơi lỏa toả trên người khiến chúng ngập ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào.
- Lạnh quá.
- Chạy mau lên cho ấm… Thằng nỡm.
Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm, tôi mỉm cười đoán có lẽ tên đứa bé là Nỡm chăng.
Tôi tự nhiên thấy vui với chúng và mặc dầu trời rét, tôi cũng như chúng mong mỏi gió thổi thật mạnh.”
Hay và cảm động quá phải không các bạn. Chúng ta thấy vui với hai đứa bé nhặt lá trong đêm đồng thời thương chúng biết bao. Chúng ta cũng thấy yêu và gần gũi với mùa đông Hà Nội cùng với màu lá bàng đầy phố. Với kẻ viết những dòng này, những chiếc lá bàng ấy thật đẹp. Có thể không rực rỡ bằng lá cây maple hay red oak ở đây, nhưng chúng mạnh mẽ và gần gũi với những kỷ niệm ấu thời của ta hơn bất cứ thứ gì khác. Và nghĩ tới lá bàng là nghĩ tới mùa đông Hà Nội. Đây, ta trở về lại với ca từ bài hát Em ơi, Hà Nội Phố của Phú Quang:
Em ơi, Hà Nội phố
Ta còn em mùi hoàng lan
Ta còn em mùi hoa sữa
Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ
Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm
Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông
Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông
Mảnh trăng mồ côi mùa đông
Mùa đông năm ấy
Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ
Kẻ này phải mượn ca từ trong bài “Em Ơi, Hà Nội Phố” của nhạc sĩ Phú Quang để nói thêm một điều nữa. Đó là âm nhạc. Vâng. Mùa đông năm ấy/ Tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ. Những điều sắp viết ra đây liên quan tới tiếng đàn dương cầm của một nhà soạn nhạc, nhạc sĩ Wladyslaw Szpilman trong phim The Pianist của nhà đạo diễn đầy tài năng và tai tiếng - Roman Polanski. “The Pianist” từng đoạt 3 Oscar năm 2002 về diễn viên chính xuất sắc nhất (Adrien Brody trong vai W. Szpilman), đạo diễn xuất sắc nhất và kịch bản phim hay nhất. Cuốn phim kể chuyện một gia đình ở Warszawa, Ba Lan, bị tan nát vì thảm họa Đức Quốc Xã ở những năm đầu của thập niên 40. Người nghệ sĩ dương cầm Szpilman đã đi qua tầng đầu địa ngục: Cha mẹ, anh chị em cùng với vô số người dân vô tội của xứ Ba Lan bị đánh đập hoặc bắn chết giữa lòng thành phố hoặc bị bức hại trong trại tập trung. Riêng Szpilman, nhờ may mắn, được đưa vào làm công việc khổ sai trong toán sản xuất rồi sau đó nhờ đôi vợ chồng nghệ sĩ Ba Lan cứu thoát. Cuốn phim đầy âm thanh và cuồng nộ với những hình ảnh thảm khốc khiến người xem bàng hoàng đau đớn, nhiều lúc tim thắt lại đến nghẹn thở. Riêng kẻ này đặc biệt xúc động với những sequences cuối cùng của cuốn phim, xúc động đến rưng rưng nước mắt. Đây là nét nhân bản tạo thành giá trị của tác phẩm. Lúc bấy giờ, cả thành phố Warszawa chìm trong đổ nát, hoang vắng. Szpilman chạy trốn từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác, đói khát và lạnh cóng cùng với những thương tích tưởng chừng có thể lấy đi mạng sống của anh bất cứ lúc nào. Anh phải đi sục sạo tìm chút thực phẩm còn sót lại để cầm hơi. Một hôm anh bỗng nhìn thấy cây dương cầm trong một góc của ngôi nhà, rồi cả một khúc đời chợt thức dậy, anh đưa tay dạo mấy phím đàn. Tiếng đàn trong đêm không ngờ đã dẫn bước chân kẻ thù tới. Và tri âm đã gặp tri âm. Người sĩ quan Đức đã gặp anh chàng Do Thái, tiếng nhạc đã xóa nhòa biên giới giữa 2 nước thù địch. Phim chinh phục mọi người ở đoạn này. Vâng, đúng là mấy nốt đàn vang lên trong ngôi nhà đổ đã dẫn đường cho viên sĩ quan Đức đi tìm. Một hôm đang tìm cách đục một hộp đồ ăn, nhìn lên, Szpilman rụng rời thấy một viên sĩ quan Đức Quốc Xã đứng trước mặt mình. Viên sĩ quan hỏi anh làm gì ở đây và biết được Szpilman là nhà soạn nhạc và danh thủ dương cầm lừng danh của xứ Ba Lan. Là người có học và yêu âm nhạc, nghệ thuật, viên sĩ quan đưa Szpilman qua một phòng bên, chỉ chiếc dương cầm đầy bụi và những mảnh vỡ, bảo anh đánh đàn.
Ngồi trước chiếc dương cầm như trước người yêu thất tán vừa tìm lại được, Szpilman xúc động nghẹn ngào. Rồi những âm thanh vang lên trong căn nhà đổ, vang lên như lửa reo, suối chảy trong khi ngoài trời bông tuyết bay trên gạch đá của những ngôi nhà mặt trăng. Có vậy sao, trong cảnh địa ngục a tỳ này, còn có được âm nhạc sao, nghĩa là còn có chút hạnh phúc và hy vọng. Viên sĩ quan của phía thù địch đứng lặng người nghe tiếng đàn của Szpillman vang lên thánh thót, có lúc tuôn chảy như đường chim bay, khi ầm ầm như giông tố đi qua bầu trời. Kể từ bữa đó, viên sĩ quan Đức đầy nhân ái tìm cách tiếp tế thực phẩm cho Szpilman, giúp anh sống dậy. Rồi Hồng quân Nga tiến vào giải phóng Ba Lan. Binh lính, sĩ quan Đức trở thành những kẻ bị truy đuổi.
Viên sĩ quan Đức cùng với các chiến hữu của ông bị bắt nhốt vào một khu tập trung. Ông nhắn tin cho Szpilman biết. Trong những năm tháng sau đó, khi thành phố Warszawa và toàn thể Ba Lan được giải phống, Szpilman cố công đi tìm viên sĩ quan đầy nhân bản đã cứu mạng sống của mình, và cứu âm nhạc của loài người, nhưng anh đã hoàn toàn thất vọng. Cuối cùng, những hàng chữ kết thúc tấn bi kịch có tiếng dương cầm cho biết viên sĩ quan, có tên là Hosenfield, đã chết trong trại tù Liên Xô.
Kết thúc phim buồn quá, phải không bạn? Ôi, mùa đông năm ấy tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ. Vâng ít ra, trong cảnh địa ngục ấy còn có tiếng dương cầm, và trong những giờ phút tuyệt vọng nhất, nghệ thuật cũng đã đem đến cho chúng ta sự ấm áp và cứu rỗi.
Mơ về một Giáng Sinh tuyết trắng
Sáng ngày 2 tháng 12. 2009 vừa qua, ở Dallas bỗng dưng trời đổ cơn mưa tuyết. Không nhiều nhưng đủ phủ trắng các mái nhà và thảm cỏ trong vườn. Và sáng ngày 4 tháng 12 lại có tin tuyết rơi nhẹ và mưa tuyết vài nơi. Cũng như năm nào, hồi mới sang Mỹ, thấy tuyết rơi đầy vườn, Nguyễn vội đi pha ấm trà thơm, ngồi nhìn tuyết trắng mơ màng.
Và khi Nguyễn tôi viết những dòng này thì chỉ còn một tuần nữa là đến đêm Noel. Và Nguyễn cũng như nhiều người khác đang mơ một Noel tuyết trắng. Không phải để có một cuộc tình trên tuyết như trong Love Story! Mà chỉ vì đẹp, và lãng mạn. Nguyễn thầm nhủ: Không biết cách đây 2006 năm, đêm Chúa sinh ra đời nơi hang Bê Lem ấy, ngoài trời có tuyết rơi không, không ai có cách gì xác nhận được, nhưng chắc tiết trời lạnh lắm. Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời... Lạnh, nhưng không chắc đã có tuyết rơi. Vậy mà, theo truyền thống của châu Âu, Noel thì phải có tuyết phủ. Có lẽ đó là đặc tính của thời tiết vào mùa Giáng Sinh bên ấy. Nhưng, như có một tác giả (quên tên) nói, Giáng Sinh Trắng không phải là dạng thời tiết hiển nhiên của mùa đông Mỹ, mùa đông Giáng Sinh Trắng đòi hỏi phải có tuyết rơi nhiều hơn, trắng hơn. Let it snow, man! Hãy để cho tuyết rơi, ông ơi! Không chỉ là mong muốn của đám trẻ em mà còn cả những người lớn - như một hy vọng điềm lành cho năm mới.
Như thế đó. Như một hứng khời chợt đến, ta nghĩ về Giáng Sinh tuyết trắng của White Christmas. Tác giả ca khúc này là một đồng hương của nhân vật chính đêm Noel - Đức Jesus. Ông ta cũng gốc người Do Thái có tên Irving Berlin. Như mọi người đã biết, ca khúc White Christmas được Bing Crosby lần đầu tiên giới thiệu tới công chúng là vào ngày 25/12/1941, trên đài phát thanh NBC. Rồi nó được dùng làm nhạc chính của cuốn phim Holiday Inn năm 1942. Cùng đóng với Bing Crosby trong phim là Fred Astaire. Từ đó, “White Christmas” trở thành đĩa đơn bán chạy vượt thời gian, nó đứng đầu bảng tổng sắp trong suốt 11 tuần lễ liền của năm 1942, cuối cùng thì nhạc phẩm này đoạt giải Academy Award cho bài hát hay nhất năm 1942.
Trong Thế Chiến II, “White Christmas” càng trở nên nổi tiếng hơn, và bài hát mang thông điệp yêu thương và hòa bình này đã giúp mọi người có thể có một chút lạc quan vào những ngày tháng đen tối nhất của chiến tranh.
The sun is shining
The grass is green
The orange and palm trees sway...
Chỉ đơn giản có thế. Nhưng lại là những không gian yên bình rất gần gũi. Này nhé, mặt trời tỏa sáng rực rỡ - cỏ xanh non và những cây cam cùng những cây cọ màu vàng đong đưa dưới trời... Tất cả trở thành những biểu tượng rất đỗi thân quý, giúp người ta có thể tìm thấy những khoảnh khắc thăng bằng giữa máu lửa, bom đạn của Thế Chiến II.
Chỉ bởi lẽ “I’ve never seen such a day...”
Điều đó có thể mãi là một ước mơ.
Được biết trong bất cứ cuộc biểu diễn nào cho quân đội trong suốt cuộc chiến tranh, Bing luôn được yêu cầu hát bản “White Christmas”. Và Giáng Sinh Trắng đã làm rơi lệ các chiến binh. Mọi người đều muốn thưởng thức những cảm giác an bình, dù chỉ trong vài khoảnh khắc, tạm quên đi cái ác liệt của chiến tranh trong thực tại. Điều này không chỉ đúng ở Mỹ mà cả ở châu Âu, chuyến lưu diễn của Bing Crosby năm 1944 đã chứng minh rất rõ. Đĩa đơn “Giáng Sinh Trắng” của Bing được bán hơn 30 triệu bản và được ghi nhận là đĩa đơn bán chạy nhất trong lãnh vực âm nhạc suốt hơn 50 năm qua. Kỷ lục này chỉ dừng lại vào năm 1998, khi Elton John dâng tặng Công nương Diana tuyệt phẩm Ngọn Nến Trong Gió - Candle in the Wind.
Một kỷ niệm như vết thương trong tâm hồn chúng ta: Bản White Christmas được phát đi phát lại nhiều lần trong thời điểm Tháng Tư 1975, và nó được dùng làm hiệu lệnh mật cho cuộc tháo chạy khỏi Sài Gòn của Tòa Đại Sứ và nhân viên Mỹ làm việc ở Việt Nam. Buồn ơi là buồn, phải không các bạn của Nguyễn?
(theo CBS Sunday Morning)
Từ cuốn phim “The Hurt Locker”, nghĩ về chiến tranh Iraq và những người lính không về.
Như Nguyễn đã viết trong một bài tản mạn, phim The Hurt Locker không có đổ máu nhiều, không có nhiều chết chóc, nó như một bộ phim tài liệu, phán ánh được sự hoang tàn, khốc liệt và vô nghĩa của chiến tranh: Một con mèo bị thương ngơ ngác giữa đống đổ nát, một cậu bé bán DVD lậu hằng ngày, là bạn của những người lính, bỗng một hôm chết quanh bụng còn gài những quả bom... Những hình ảnh này nói lên nhiều lắm và khiến chúng ta - trong đó có Nguyễn - bồi hồi xúc động và nghĩ ngợi.
Quả thật, người xem bị căng thẳng thần kinh, cảm thấy sự sống và cái chết như một trò chơi may rủi trong chiến tranh. Và một câu hỏi được đặt ra trong đầu, đó là cuộc chiến kia bao giờ sẽ kết thúc? Hay sẽ mãi tiếp diễn như câu nói của nhân vật William James: Chiến tranh là một thứ ma túy... Dòng chảy cuồn cuộn của cuộc chiến đôi khi tiềm ẩn một chất gây nghiện chết người. (The rush of battle is a potent and often lethal addiction, for war is a drug)
Nhưng chiến tranh có thật sự đúng là một thứ ma túy không? Nhìn sâu vào tâm thức con người trong cuộc chiến, có thể nói bất cứ người lính nào cũng muốn chiến tranh kết thúc để được trở về với gia đình. Chẳng hạn viên trung sĩ Sanborn thường nói với James rằng anh ta không thể nào chịu nổi sức ép trong đội tháo gỡ mìn và anh ta mơ tưởng đến một ngày giã từ chiến trường Iraq, trở về và tạo lập một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Mark Boal, người viết kịch bản “The Hurt Locker”, đã trở về. Jeffrey S. Sarver, cùng trong toán tháo gỡ mìn với Mark Boal, cũng đã trở về. Nhưng có nhiều người lính đã không về. Có thể các bạn và Nguyễn, có người không tán thành cuộc chiến tranh Iraq, nhưng chúng ta không thể nào quên những người lính ấy.
Vâng, đã lâu rồi Nguyễn có viết trong bài “Ánh Trăng”:
những cuộc chiến tranh dần dịu lửa
người về. nghe câu chuyện dòng sông
reo vui. ấm nước. bên đồng cỏ
uống chén trà thơm. thức đợi trăng
Nhưng thực tế đã không được như thế. Chiến tranh như lửa cháy vần quanh. Chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh Vùng Vịnh. Chiến tranh bên bờ con sông Tigris ở Iraq. Chiến tranh trên vùng đá núi Afghanistan. Và nhiều người lính đã không về. Hôm nay, Nguyễn xin được viết về những người lính ấy, như một lần tưởng niệm.
Còn nhớ cách đây hơn hai năm, vào một ngày mùa hạ, Nguyễn đọc trên tờ “The Dallas Morning News”, thấy bức ảnh chụp một thiếu phụ trong nghĩa trang Arlington ở Washington DC. Người thiếu phụ ấy còn rất trẻ , mặc bộ áo dài hở lưng, nằm than khóc trước một nấm mồ. Mùa hè rồi, bên cạnh nấm mộ đá nở một bông dã quỳ vàng cháy. Hôm nay, một sáng chủ nhật đầy nắng, nhân viết về cuốn phim “The Hurt Locker”, Nguyễn vào trang Blog của Getty Images, bắt gặp lại tấm hình người thiếu phụ trước nấm mộ và bông dã quỳ. Một người lính về từ chiến trường Iraq đến thăm đồng đội nằm ở đây, đã ghi lại: “Vẻ đẹp trong sáng của những ngọn đồi ở Arlington, và những cảnh sắc tuyệt vời của thủ đô Washington đã tương phản với thực tại trước mắt đầy những mất mát, với nỗi đau vẫn còn tươi nguyên và hằn in trên mặt người. Bạn bước đi trên lớp cỏ còn nguyên rể lòi ra bên huyệt mộ mới đào. Một bà mẹ cúi xuống hôn bia mộ của con. Hai người lính đặt hoa trên mồ bạn. Một cậu nhỏ để lại một tờ giấy viết tay ghi hàng chữ: “Con hy vọng rằng bố thích Thiên Đàng cũng như bố đã yêu mến Virginia. Con sẽ đến thăm bố mỗi Chủ Nhật. Bố nhớ viết thư cho con nghe.”
Cũng trong khu nghĩa trang Arlington, chúng tôi đã gặp cô Mary McHugh. Cô ngồi khóc trước ngôi mộ đá của vị hôn phu James “Jimmy” Regan đã chết ở chiến trường Iraq. Lời cô vỡ ra nghẹn ngào. Có lúc cô ngừng lại như muốn giải thích một điều gì đó phát xuất từ lòng cô.
Mary kể về vị hôn phu Jimmy Regan của cô. Chẳng những cô yêu anh mà còn ngưỡng mộ. Sau khi tốt nghiệp ở ĐH Duke, anh quyết định vào quân đội để phục vụ đất nước. Anh tử trận hồi tháng 2 năm 2007 ở chiến trường Iraq vì một quả bom nổ trên đường (roadbomb). Mary nói rằng họ dự tính kết hôn vào năm tới khi Jimmy giải ngũ trở về. “Chúng tôi yêu nhau. Hai đứa nghĩ sẽ mãi mãi có nhau trong đời.”
Chúng tôi rời cô, một lát trở lại thấy cô nằm trên cỏ khóc than trước mộ người yêu, cô thì thầm trước bia đá, khuôn mặt áp gần phiến cẩm thạch, như thể cô đang nói nhỏ vào tai Jimmy.”
Lần chia tay cuối cùng...
Đây là lời của Trung Sĩ Juan Campos, 27 tuổi, viết cho vợ trong email ngày 12 tháng 12 năm 2006, được đăng lại trên tờ “The New York Times”.
Này, em yêu kiều diễm,
Bọn anh lai gặp tình cảnh hỗn mang, mất thêm hai người bạn nữa. Đời sống của một người lính bộ binh trên chiến trường chẳng thể nào an toàn được. Bom, mìn và những tên bắn sẻ… Hãy cầu nguyện và tưởng nhớ tới anh. Đôi khi, anh cảm thấy không thể nào chờ đợi tới lúc ra khỏi nơi này để trở về với em. Tình trạng quá căng thẳng, chẳng biết anh còn chịu đựng được bao lâu nữa, tuy nhiên vì đồng đội của mình, anh sẽ cố gắng tỏ ra can trường dũng cảm. Mong em hiểu cho anh.
Vâng, anh chắc chắn rằng mình sẽ để dành được ít tiền nếu em về ở với mẹ… và đồng thời em có thể giúp mẹ thanh toán được vài cái bill trong lúc này. Anh yêu và nhớ em như điên. Anh nghĩ nhiều đến hai mẹ con. Ôi, giá như anh có được một phút ra khỏi cơn ác mộng này để ôm hôn cả hai người . Em hãy giúp anh đến thăm mẹ và những người em gái của anh, nói với họ rằng anh yêu họ biết bao. Thôi, anh còn nhiều việc phải làm và mong sớm nhận được thư em. Yêu em mãi mãi, ôi một nửa của anh. Và xin em nhớ rằng anh chỉ mong ra khỏi nơi này để trở về với em và con, sống những ngày hạnh phúc.
Juan Campos
Trung sĩ Juan Campos được hai tuần nghỉ phép hồi năm 2006, và anh đã bay từ Baghdad về Texas. Anh viếng thăm mộ bố, rồi đến ở lại một ngày với ông bà. Hôm chuẩn bị trở về lại chiến trường Iraq, Juan Campos cùng với vợ đi khiêu vũ và ăn uống suốt đêm với bạn bè. Bản tính trầm tĩnh và kín đáo, thế nhưng Campos đã nhảy hip hop nhiều hơn ai hết. Hôm sau, vợ anh tiễn anh ra phi trường.
“Tôi đã khóc như chưa bao giờ khóc trước kia,” vợ của Campos nói hôm Thứ Ba, 3 tháng 10. 2006. “Cả hai chúng tôi đều cảm thấy rằng đây là chia tay lần cuối.”
Bây giờ, Nguyễn xin nói tới những người lính khác. Họ đến từ nhiều nơi trên thế giới, nhiều nhất là từ các quốc gia nghèo khó. Ôi, di dân, những mảnh đời tan tác. Chiều nay biết về nơi đâu. Họ như mây từ khắp phương trời về đây. Và họ đã tình nguyện vào quân đội Mỹ với giấc mơ quốc tịch và bảo lãnh gia đình sang theo.
Những người trẻ tuổi nay đều sinh đẻ ở những vùng trời khác và đều ôm ấp “giấc mơ Mỹ”. Tài liệu của báo Dallas Morning News cho biết: Họ thiên di đến xứ này và gia nhập quân đội Hoa Kỳ, tình nguyện đi chiến đấu ở những vùng xa, để từ đó có được quốc tịch Mỹ. Có ít nhất 100 người đã gục ngã ở chiến trường Iraq. Jose Gutierrez là người đầu tiên nằm xuống trong vùng cát nóng của giải đất Umm Qasr trong những ngày đầu của trận chiến Iraq. Sau khi Jose chết, gia đình anh mới nhận được những vinh dự chưa từng có trong đời. Người chị bay từ Guatemala qua dự thánh lễ có sự hiện diện của Đức Hồng Y chủ lễ và các sĩ quan trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến đứng nghiêm chào chiếc quan tài có phủ quốc kỳ của Jose. Người mẹ nuôi của anh đưa thi thể anh về chôn ở Guatemala mà lòng cơ hồ tan nát: Bà không hiểu tại sao Jose phải hy sinh như thế.
Nhưng rồi chiến tranh cứ tiếp tục và ngày càng có nhiều di dân chết cho mảnh bằng quốc tịch và những mộng ước khác. Nora Mosquera, mẹ nuôi của Jose Gutierrez nghĩ rằng việc trao bằng quốc tịch quá muộn đối với Jose, nhưng mặt khác bà lại cảm thấy biết ơn và hãnh diện vì anh. Với Fredina, chị của Juan Alcantara chết ở chiến trường Iraq ngày 6 tháng Mười 2007, thì bằng quốc tịch cũng như các lễ tôn vinh đều là vô hồn bởi vì “cậu ấy không thể nói lời tuyên thệ từ bên trong quan tài”.
Một người lính khác nữa đến từ một vùng đất rất xa - vùng đất của gió mùa và sương muối: Việt Nam. Anh ta tên Nguyễn Khắc Bình, nhân vật trong truyện ngắn Đường Ra Khỏi Basra của Nguyễn Thị Thảo An. Đây là truyện ngắn đầu tiên của một nhà văn Việt Nam - mà lại là nhà văn nữviết về chiến tranh Iraq. Một truyện ngắn cảm động và đặc sắc, đầy tinh thần nhân bản và long xót thương. Nguyễn Thị Thảo An chưa hề ở trong lính, chưa hề đến Iraq mà viết rất hay, rất độc đáo về cuộc chiến trên đất nước này.
Nguyễn Khắc Bình được gia đình cố gắng lo cho đi du học, ngay cả phải cầm cố nhà cửa, đất đai. Anh thường xuyên nghĩ tới cha mẹ già vò võ với bao nỗi xót xa, Cũng như những di dân người Guatemala, Venezuela, Trung Hoa… nói trên, Nguyễn Khắc Bình quyết định vào lính Mỹ, phục vụ một thời gian để vừa được quy chế vào quốc tịch, vừa được học bổng học đại học, sau đó anh có thể bảo lãnh cha mẹ già sang đây. Chiến tranh Iraq mới bắt đầu, đang cần lính. Thế là anh ghi tên gia nhập, đi đánh nhau ở chiến trướng Iraq, với hy vọng làm “cá vượt vũ môn”. Vì, như Nguyễn Khắc Bình nói. “Từ dân Việt để trở thành công dân Mỹ cũng giống như đi đầu thai kiếp khác, tôi cần phải “vượt vũ môn” như một con cá chép thật.”
Ra trường một năm, đơn vị của Nguyễn Khắc Bình mới được đưa qua Iraq. Chiến tranh vẫn tiếp diễn ở nơi đây. Súng nổ khắp nơi. Loạn quân Iraq xả súng bắn cả vào chợ búa, nhà thờ, trường học, thậm chí đám cưới hay tang lễ.
Nơi đầu tiên đơn vị đặt chân đến là Mosul. Từ đó, đơn vị được chuyển bằng trực thăng tới vùng núi cao nhất Iraq là Haji Ibrahim. Ở đây, họ phải chiến đáu với những toán địch quân xuất hiện như những bóng ma trong các hang động tối tăm. Những cuộc đụng độ ác liệt diễn ra dưới sự yểm trợ của máy bay Apache. Sau đó, đơn vị của Nguyễn Khắc Bành được chuyển đi giữ anh ninh cho cuộc bầu cử.
Tiếp theo, tiểu đoàn được lệnh tới Basra. Khi ngang qua Baghdad các chiến binh được viếng thủ đô trong 48 giờ. Baghdad là diễn trường của khủng bố, phá hoại, bắt cóc, của “road bomb” và bom “tự sát”. Từ Baghdad đơn vị di chuyển qua thành Babylon. Rồi tiến thẳng xuống Basra, qua nhiều khúc sông, hồ và đầm lầy lau sậy, với những hàng chà là rợp bóng.
Cách Basra hơn 46 dặm, là Al-Qurnah, Vườn Địa Đàng của Adam và Eva. Đây là ý nghĩ của Nguyễn Khắc Bình khi đứng trước Cây Nhân Sinh Tree of Life. “Bây giờ, tôi cũng muốn chạy tới xem cây Tree of Life, bằng cách này hay cách khác, tôi sẽ trộm cắn một Trái Cấm. Xin Chúa hãy đày tôi ra khỏi Vườn Địa Đàng hay nói đúng hơn đày tôi ra khỏi Iraq, tránh xa cuộc chiến này. Tôi chưa muốn chết, nhất là chết ở một đất nước không có dây mơ rễ má nào với tôi….” Cuối cùng, tới Basra, vùng đất của định mệnh. Nguyễn Khắc Bình và đồng đội đóng quân ở đây “bảo vệ các giếng dầu và hệ thống dẫn xuất, hệ thống khí đốt quan trọng của Iraq. Ngoại trừ thủ đô, đây là thành phố lớn nhất Iraq, dân số một triệu rưỡi.” Nguyễn Khắc Bình cùng mấy người nữa được phân công canh gác trước doanh trại trong thời tiết nóng tới 120 độ F. Thế rồi…
“Từ xa, một chiếc xe vận tải xuất hiện. Thằng Ted chộp ống nhìn, quan sát. Nó nói, xe giao sữa. Nó lui vào trong, ra sau cổng, lấy máy rà mìn. Tôi cũng ngó qua ống nhìn. Xe chạy băng băng. Tôi nhận ra, thằng lái xe là Abu gì đó, tôi quên mất. Nó vẫn thường giao sữa mỗi thứ Hai, thứ Năm. Nhưng hôm nay là thứ Sáu mà. Ngày thứ Sáu người Hồi giáo đồng loạt nghỉ làm việc. Tôi dán mắt vào ống nhìn. “Trời ơi!” Tôi kêu lên, gần đến cổng, mà nó xả hết tốc lực.
“Xe bomb.” Tôi thất thanh kêu. Không còn kịp nữa, tôi lao ra về phía trước, đưa khẩu súng nhắm. Trong trại, đơn vị đang ăn trưa, hơn 400 lính đang ngồi đầy trong đó. Nếu bắn, thật nguy hiểm. Có thể tôi bị thương hoặc sẽ chết. Bắn thằng Abu, xe vẫn lao tới. Không suy nghĩ nữa, tôi quyết định trong nháy mắt.
“Tôi bóp cò phóng lựu bên dưới khẩu M4, một quả M203 bắn vọt ra như hỏa tiễn, đâm ngay thùng xe. Tôi nhìn thấy một đường khói còn chưa tan hẳn. Một tiếng nổ kinh hồn rung chuyển mặt đất. Lô cốt rung rinh. Cát và đá mịt mù. Mà lạ quá, bỗng nhiên tôi thấy mình nhẹ hửng, bay lên, bay lên cao. Tôi nhìn xuống. Ôi, thân xác tôi kia. Tôi nằm bất động. Những mảnh kim loại cắm đầy người. Chiếc xe bomb nát như tương. Thằng Abu mất xác.”
Trong cơn mê, khi hồn bay lên, Nguyễn Khắc Bình thấy “Bây giờ, thế giới hai nơi. Tôi bắt đầu mơ màng chìm trong giấc ngủ. Đâu đây văng vẳng bài hát tôi yêu.
... Trả súng đạn này. Ôi, sạch nợ sông núi rồi
Tôi trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất, năm nao...
Cuối cùng thì tôi cũng tìm được con đường ra khỏi Basra.”
Như thế đó, Nguyện Khắc Bình chết. Anh chết như mơ… Anh chết trước khi nhận được bằng quốc tịch với những nghi lễ tôn vinh và lời tuyên thệ… Anh chỉ có thể trở về trong chiếc áo quan. Nguyễn Thị Thảo An viết thật hay, khiến Nguyễn đọc mà trái tim thắt nghẹn. Hỡi ơi, Trung sĩ Nguyễn Khắc Bình!
Tháng 3.2010
Đêm. nhớ về Sài Gòn
Hằng năm cứ vào khoảng thời gian này, khoảng tháng 6 tháng 7, khi nắng rực rỡ trên hàng cây hải đào cuối phố gợi nhớ tới màu hoa phượng của Sài Gòn, Nguyễn lại nhắc thầm trong trí tưởng một lời chia tay đã viết:
như một lời chia tay
tôi gởi lại
một góc phố rực lá vàng
quán cà phê mở cửa dưới dàn hoa giấy
tiếng chim. lúc mình hôn nhau…
Ấy là vào một ngày của tháng 6 năm 1995. A, mới đó mà đã mười sáu năm. Tạm dùng một hình ảnh sáo, cũ: mười sáu năm như nước chảy qua cầu. Ấy là chỉ nói mười sáu năm kể từ ngày bước chân ra đi, chứ còn nói kể từ ngày đất nước đổi chủ thì tới nay là đã ba mươi sáu năm. Ghê gớm thật. Thời gian như một vết chém trên cơ thể. Tới bây giờ còn vết máu đâu đó, trên những trang thơ và trong trí tưởng mù sương. Hỏi làm sao quên được.
Đêm nay, một đêm giữa tháng 7, trời đã khuya ngồi một mình bỗng dưng nhớ Sài Gòn, nhớ da diết. Có lẽ vì vừa nghe giọng ca Khánh Ly trong bài hát Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng. Đêm nhớ về Sài Gòn/ Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa/ Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa/ Ai sầu trong quán úa… Mà cũng có lẽ vừa đọc một bài Tạp Ghi của Huy Phương, trong có đoạn: Chúng ta đã bỏ Saigon ra đi, nhưng từng con đường, từng góc phố vẫn còn như hiển hiện trong tâm trí chúng ta. Từng tiếng chim, từng tiếng guốc, từng tiếng chân ngựa của chuyến xe thổ mộ buổi sớm mai, cả từng tiếng còi xe vội vã... Saigon vẫn như sống dậy mỗi ngày trong nỗi nhớ khôn cùng.
Vâng, có lẽ là vì thế, nhưng còn vì một điều nữa rất tâm tư rất ray rứt, ấy là trong đêm ở nhà Nguyễn Xuân Phước ở Irving, Dallas cùng với Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc, có trăng trên hàng cây ven hồ nước, có màu rượu đỏ sóng sánh trong ly, Hoàng Đình Bình tay ôm đàn, bật lên vài âm hư, nhắc tới những ngày ở Sài Gòn sau năm 1975. Đó là những ngày đói rách, vô vọng. Những ngày của vỉa hè, đường phố, quán cà phê và bạn bè một thuở. Nơi anh em thường dừng chân là quán cà phê Huy Tưởng. Một đêm, bị công an rượt đuổi, Hoàng Đình Bình và Hoàng Ngọc Tuấn chạy về đây. Nơi trú ẩn cuối cùng và là vương quốc của tình người. Tại đây, Hoàng Ngọc Tuấn viết Bài Hát Chào Hàng, được Huy Tưởng xem như quốc ca của quán. Và bây giờ là đêm trong ngôi nhà bên hồ ở Irving. Đêm. Giọng hát khản đặc và tiếng đàn Hoàng Ngọc Tuấn rơi, như tiếng kêu đường, gợi bóng những troubadours, những người hát rong đường phố:
hỡi người qua lại
xin đừng e ngại
khi ghé lại quán này
xin mời đến ngồi
nếu bàn chân mỏi
xin mời đến ngồi
một góc đời nhỏ nhoi
ai cần khí trời
ai cần tiếng cười
xin vào chơi
người cần chi cần chi cần chi
cần bóng đêm hay cần tiếng chim
mời lại đây lại đây lại đây…
đây không bán phép lạ đây không biết đe dọa
đây không buôn mặt nạ
đây không phải là nhà hãy đến
hãy đi và hãy quên
Hãy hình dung Hoàng Ngọc Tuấn ôm đàn gào bên góc phố trước rạng đông của Sài Gòn thời đổi chủ. Một rạng đông có mặt trời mọc nhưng mặt trời bị cắt cổ (soleil, cou coupé - Apollinaire). Cũng trong đêm bên hồ trong nhà Nguyễn Xuân Phước, Hoàng Ngọc Tuấn kể thời ấy - cái thời không phải của người - một số họa sĩ vễ tranh trừu tượng, tưởng rằng sẽ thoát đôi mắt cú điên của mấy tên công an văn hóa. Thế nhưng không thoát được những câu tra vấn của chúng. Chúng hỏi tại sao mảng màu này lại đỏ, muốn nói gì? Cái này là hình mặt trăng hay mã tấu? Đôi mắt chim dữ kia tượng trưng cho cái gì, đang nhìn ai? Ôi, các họa sĩ làm sao trả lời được những câu hỏi như thế. Hoàng Ngọc Tuấn sáng tác bài Cái Dường Như Là để nói lên cái nửa hình người nửa ác thú của đời sống này, và nỗi đau bị vong thân:
không phải là sắc
không phải là màu
không phải là sáng
không phải là chiều
là cái dường như tìm khắp mọi tinh cầu
không phải là nét
không phải là đường
không phải là bóng không phải là hình
là cái dường như
nằm trong cuộc tử sinh
không phải là máu không phải là lệ
không phải là da không phải là thịt
không phải là xác không phải là hồn
là cái dường như đi đứng trong cõi đời…
Như vậy đó. Cái thời không phải của người. Không phải là tối không phải là ngày. Không phải là thú không phải là người. Nó là cái gì nửa người nửa thú. Vậy mà chúng ta vẫn phải sống trong nó. Như Hoàng Ngọc Tuấn như Hoàng Đình Bình. Như anh như chị như em. Ở những năm đi tù Cộng Sản về, những năm giữa thập niên 1980, để sống cho đến tận cùng cái khổ và nỗi tuyệt vọng, Nguyễn và các bạn thường hay đến ở chỗ sân ga cũ xế bên bùng binh Sài Gòn để rít điếu thuốc lào và uống ly trà đắng của một cô bé lang thang từ Bắc vào. Trong cái không khí nửa âm nửa dương của buổi chiều dần tối, mới cảm thấy thấm thía thân phận của người dân dưới chế độ bạo quyền:
đời thổi bạt ta ra hè phố
mỗi gốc cây là một mái nhà
trong đấy chén ửng màu nâu sậm
ánh trăng tan giọt máu đời ta…
Và cũng trong những đêm không phải là máu không phải là lệ không phải là xác không phải là hồn ấy, một đêm của “cái dường như là”, Nguyễn đã tìm đến các bạn trẻ như Phương, như Sinh, như Hải Đường để đọc thơ trong hơi rượu đắng. Và cả bọn đã khóc khi nghe Chiều Bên Sông Giăng.
Đêm. Trở lại đêm trong ngôi nhà ở Irving, nhớ về Sài Gòn cùng Hoàng Ngọc Tuấn và Hoàng Đình Bình và Trương Vũ và các bạn, để thấy lại những mảnh đời tan tác, tụ rồi tan như mây trời kia. Tiếc chưa kịp nhắn các bạn một lời. Vậy nay xin mượn một ý thơ Đỗ Trung Quân gởi qua không gian ảo. Rằng: Mai kia mốt nọ có về Sài Gòn, trong một cuộc họp mặt nào đó (nghe Đinh Cường nói Huy Tưởng đã đi Úc, vậy ra ngồi ở bất cứ quán cóc nào) xin nhặt giùm những bông khuynh diệp vàng, khô bên vỉa hè, đem đốt lên để mùi hương nhắc nhớ tới bè bạn bên trời này. Vậy nha?
Tháng 7. 2011
Hằng năm cứ vào khoảng thời gian này, khoảng tháng 6 tháng 7, khi nắng rực rỡ trên hàng cây hải đào cuối phố gợi nhớ tới màu hoa phượng của Sài Gòn, Nguyễn lại nhắc thầm trong trí tưởng một lời chia tay đã viết:
như một lời chia tay
tôi gởi lại
một góc phố rực lá vàng
quán cà phê mở cửa dưới dàn hoa giấy
tiếng chim. lúc mình hôn nhau…
Ấy là vào một ngày của tháng 6 năm 1995. A, mới đó mà đã mười sáu năm. Tạm dùng một hình ảnh sáo, cũ: mười sáu năm như nước chảy qua cầu. Ấy là chỉ nói mười sáu năm kể từ ngày bước chân ra đi, chứ còn nói kể từ ngày đất nước đổi chủ thì tới nay là đã ba mươi sáu năm. Ghê gớm thật. Thời gian như một vết chém trên cơ thể. Tới bây giờ còn vết máu đâu đó, trên những trang thơ và trong trí tưởng mù sương. Hỏi làm sao quên được.
Đêm nay, một đêm giữa tháng 7, trời đã khuya ngồi một mình bỗng dưng nhớ Sài Gòn, nhớ da diết. Có lẽ vì vừa nghe giọng ca Khánh Ly trong bài hát Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng. Đêm nhớ về Sài Gòn/ Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa/ Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa/ Ai sầu trong quán úa… Mà cũng có lẽ vừa đọc một bài Tạp Ghi của Huy Phương, trong có đoạn: Chúng ta đã bỏ Saigon ra đi, nhưng từng con đường, từng góc phố vẫn còn như hiển hiện trong tâm trí chúng ta. Từng tiếng chim, từng tiếng guốc, từng tiếng chân ngựa của chuyến xe thổ mộ buổi sớm mai, cả từng tiếng còi xe vội vã... Saigon vẫn như sống dậy mỗi ngày trong nỗi nhớ khôn cùng.
Vâng, có lẽ là vì thế, nhưng còn vì một điều nữa rất tâm tư rất ray rứt, ấy là trong đêm ở nhà Nguyễn Xuân Phước ở Irving, Dallas cùng với Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc, có trăng trên hàng cây ven hồ nước, có màu rượu đỏ sóng sánh trong ly, Hoàng Đình Bình tay ôm đàn, bật lên vài âm hư, nhắc tới những ngày ở Sài Gòn sau năm 1975. Đó là những ngày đói rách, vô vọng. Những ngày của vỉa hè, đường phố, quán cà phê và bạn bè một thuở. Nơi anh em thường dừng chân là quán cà phê Huy Tưởng. Một đêm, bị công an rượt đuổi, Hoàng Đình Bình và Hoàng Ngọc Tuấn chạy về đây. Nơi trú ẩn cuối cùng và là vương quốc của tình người. Tại đây, Hoàng Ngọc Tuấn viết Bài Hát Chào Hàng, được Huy Tưởng xem như quốc ca của quán. Và bây giờ là đêm trong ngôi nhà bên hồ ở Irving. Đêm. Giọng hát khản đặc và tiếng đàn Hoàng Ngọc Tuấn rơi, như tiếng kêu đường, gợi bóng những troubadours, những người hát rong đường phố:
hỡi người qua lại
xin đừng e ngại
khi ghé lại quán này
xin mời đến ngồi
nếu bàn chân mỏi
xin mời đến ngồi
một góc đời nhỏ nhoi
ai cần khí trời
ai cần tiếng cười
xin vào chơi
người cần chi cần chi cần chi
cần bóng đêm hay cần tiếng chim
mời lại đây lại đây lại đây…
đây không bán phép lạ đây không biết đe dọa
đây không buôn mặt nạ
đây không phải là nhà hãy đến
hãy đi và hãy quên
Hãy hình dung Hoàng Ngọc Tuấn ôm đàn gào bên góc phố trước rạng đông của Sài Gòn thời đổi chủ. Một rạng đông có mặt trời mọc nhưng mặt trời bị cắt cổ (soleil, cou coupé - Apollinaire). Cũng trong đêm bên hồ trong nhà Nguyễn Xuân Phước, Hoàng Ngọc Tuấn kể thời ấy - cái thời không phải của người - một số họa sĩ vễ tranh trừu tượng, tưởng rằng sẽ thoát đôi mắt cú điên của mấy tên công an văn hóa. Thế nhưng không thoát được những câu tra vấn của chúng. Chúng hỏi tại sao mảng màu này lại đỏ, muốn nói gì? Cái này là hình mặt trăng hay mã tấu? Đôi mắt chim dữ kia tượng trưng cho cái gì, đang nhìn ai? Ôi, các họa sĩ làm sao trả lời được những câu hỏi như thế. Hoàng Ngọc Tuấn sáng tác bài Cái Dường Như Là để nói lên cái nửa hình người nửa ác thú của đời sống này, và nỗi đau bị vong thân:
không phải là sắc
không phải là màu
không phải là sáng
không phải là chiều
là cái dường như tìm khắp mọi tinh cầu
không phải là nét
không phải là đường
không phải là bóng không phải là hình
là cái dường như
nằm trong cuộc tử sinh
không phải là máu không phải là lệ
không phải là da không phải là thịt
không phải là xác không phải là hồn
là cái dường như đi đứng trong cõi đời…
Như vậy đó. Cái thời không phải của người. Không phải là tối không phải là ngày. Không phải là thú không phải là người. Nó là cái gì nửa người nửa thú. Vậy mà chúng ta vẫn phải sống trong nó. Như Hoàng Ngọc Tuấn như Hoàng Đình Bình. Như anh như chị như em. Ở những năm đi tù Cộng Sản về, những năm giữa thập niên 1980, để sống cho đến tận cùng cái khổ và nỗi tuyệt vọng, Nguyễn và các bạn thường hay đến ở chỗ sân ga cũ xế bên bùng binh Sài Gòn để rít điếu thuốc lào và uống ly trà đắng của một cô bé lang thang từ Bắc vào. Trong cái không khí nửa âm nửa dương của buổi chiều dần tối, mới cảm thấy thấm thía thân phận của người dân dưới chế độ bạo quyền:
đời thổi bạt ta ra hè phố
mỗi gốc cây là một mái nhà
trong đấy chén ửng màu nâu sậm
ánh trăng tan giọt máu đời ta…
Và cũng trong những đêm không phải là máu không phải là lệ không phải là xác không phải là hồn ấy, một đêm của “cái dường như là”, Nguyễn đã tìm đến các bạn trẻ như Phương, như Sinh, như Hải Đường để đọc thơ trong hơi rượu đắng. Và cả bọn đã khóc khi nghe Chiều Bên Sông Giăng.
Đêm. Trở lại đêm trong ngôi nhà ở Irving, nhớ về Sài Gòn cùng Hoàng Ngọc Tuấn và Hoàng Đình Bình và Trương Vũ và các bạn, để thấy lại những mảnh đời tan tác, tụ rồi tan như mây trời kia. Tiếc chưa kịp nhắn các bạn một lời. Vậy nay xin mượn một ý thơ Đỗ Trung Quân gởi qua không gian ảo. Rằng: Mai kia mốt nọ có về Sài Gòn, trong một cuộc họp mặt nào đó (nghe Đinh Cường nói Huy Tưởng đã đi Úc, vậy ra ngồi ở bất cứ quán cóc nào) xin nhặt giùm những bông khuynh diệp vàng, khô bên vỉa hè, đem đốt lên để mùi hương nhắc nhớ tới bè bạn bên trời này. Vậy nha?
Tháng 7. 2011
Hà Thượng Nhân, ông đã đi sao?
Ông đã đi sao
sáng nay trời garland mưa thưa
tôi khóc ông
và nhớ
cây ngọc lan trước sân nhà thơm ngát. chỗ ta ngồi uống
rượu. nhậu thịt cầy
với hữu loan thanh tâm tuyền tô thùy yên nguyễn trung dũng
nơi gần nhà thờ ba chuông
tôi tới thăm ông
trên gác thơ
dáng ông ngồi. như thú dữ. chờ trăng
khi tiếng sấm từ chân trời vọng lại
màu tím
hà thượng nhân
Trước 1975, tôi không quen Hà Thượng Nhân, chỉ biết tiếng ông. Dạo ấy, thỉnh thoảng tôi có đọc những bài thơ trong mục Đàn Ngang Cung của báo Tự Do. Phải đợi đến khi vào tù tôi mới gặp được Hà Thượng Nhân. Đầu tiên ở ga Hạ Lý, Hải Phòng. Sau ba ngày ba đêm trên tàu Sông Hương, nín đái nín ỉa, tới Hạ Lý chúng tôi được lùa vào một cái hangar lớn, ăn ngủ ở đó, chiều ra tắm vũng trâu đầm. Một chiều, tôi ngạc nhiên thấy một người mặc bộ bà ba nâu, ngồi giữa đám đông anh em trẻ, nói chuyện say sưa như sư giảng kinh. Hỏi ra mới biết là Hà Thượng Nhân, người nổi tiếng “thơ ngang Tào Thực” lúc còn là cậu học trò ở Huế. Ông từng là giám đốc Đài Phát Thanh Sài Gòn, và là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến. Trong buổi chiều Hạ Lý, ông nổi bật với dáng người cao lớn, thật đẹp. Đúng như Viên Linh tả “Dáng người thẳng băng, lưng dài vai rộng, giọng ông lớn, tiếng ông khỏe, ý kiến ông đưa ra thường là độc lập, dứt khoát, không ở cái khoảng nửa tối nửa sáng bao giờ.” Tôi muốn được nói chuyện với ông, nhưng đông quá, đành thôi. Rồi tôi gặp lại Hà Thượng Nhân ở trại Thanh Chương, Nghệ Tĩnh.
Nhớ lại những ngày ấy, khoảng năm 1980-1981, lòng còn rộn lên bao ý nghĩ và cảm xúc hỗn độn. Trại có tường cao xây bằng đá núi vây quanh. Buổi chiều tới trại, nghe tiếng chày vang dội khắp nơi, tưởng là tiếng đập lụa trong thơ Đỗ Phủ, hóa ra tiếng chày anh em giã bắp. Nguyên do: bắp nấu trại phát cứng quá, nhai không nổi, phải giã ra cho nát để nuốt. Trước khi tới trại thì ở đây đã có nhà thơ Hà Thượng Nhân và một số văn nghệ, trí thức khác của miền Nam. Dạo ấy, tôi mới tới được bổ sung vào đội thợ xây, ngày ngày đi xây tường, làm nhà. Một buổi chiều chủ nhật, Tô Thùy Yên và Xuân Bích đưa Hà Thượng Nhân sang chơi phòng tôi. Nhân có một gô trà nóng và ít bưởi bòng do đổi chác linh tinh ở ngoài trại mang về, chúng tôi có được những phút giây thư giãn, chuyện trò hào hứng. Dịp này, tôi đọc thơ cho Hà Thượng Nhân nghe, và ông đặc biệt thích bài Thảo Nguyên, đi đâu cũng mang bài thơ theo trong túi. Một hôm, cán bộ trại mở cuộc bố ráp, kiểm tra hành lý của tù. Một tên xét túi ông Hà, bắt được bài thơ Thảo Nguyên, quát hỏi: “Thảo Nguyên là gì?” Ông trả lời không chút sợ hãi: “Thảo Nguyên là thảo nguyên.” Tên này đọc bài thơ nhưng hình như không hiểu gì bèn lớn tiếng hỏi: “Anh làm thơ hả?” Hà Thượng Nhân: “Vâng, tôi làm thơ. Thi sĩ là nghề của tôi.” Thế đấy, con người Hà Thượng Nhân, không tham phú quý, không cúi đầu trước bạo lực. Mà có thể nói, kể từ khi về Thanh Chương, chúng tôi đông và đoàn kết nên không sợ chúng nữa. Đặc biệt, một số anh em đâm ra yêu thơ, nhờ đó mấy ông làm thơ chúng tôi bỗng lên giá và được chiều chuộng cực kỳ. Mỗi khi có thơ hay là được thưởng. Không nhiều, một cục đường, vài bi thuốc lào, có khi được điếu pallmall. Một buổi trưa, sau khi đọc bài Ánh Trăng của tôi, Hà Thượng Nhân xách qua cho một lon gô chè đậu xanh, nói là biếu thi sĩ bồi dưỡng. Làm sao tôi quên được những thâm tình ấy. Ông Hà Thượng Nhân ơi!
Rồi những ngày ở Sài Gòn sau khi ra tù. Chúng tôi thỉnh thoảng lại gặp nhau. Thường là ở nhà ông, hoặc trên gác nhà Nguyễn Trung Dũng có trồng cây bông sứ thật đẹp, đôi khi ở nhà Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên hoặc nhà tôi bên bờ song Thanh Đa. Chính ở nhà ông, tôi gặp Hữu Loan và viết bài Kẻ Sĩ Nga Sơn. Dạo ấy Hiếu Chân Nguyễn Hoạt còn sống, có khi chúng tôi kéo nhau qua Làng Báo Chí thăm Nguyễn Đình Toàn, nghe Toàn đọc thơ Động Đình Hồ Nguyễn Hữu Nhật, bài Tự Do Tự Do. Có một dạo ông bị gout thật khổ sở vậy mà vẫn ngồi dịch Ly Tao của Khuất Nguyên. Gặp bạn tới chơi, bèn bật dậy đọc thơ sang sảng. Ông ngồi như thú dữ chờ trăng. Lời tôi viết tả ông ngày ấy còn in trong tim óc.
Sang tới Mỹ, chúng tôi thỉnh thoảng gọi điện thoại thăm nhau. Ông vẩn yêu văn chương, quý các bạn văn, có dịp là nói chuyện thơ, luận bàn kim cổ. Nhiều anh em mê ông. Có một bà đào hát đặc biệt quý trọng Hà Thượng Nhân, có dịp là múa hát cười duyên với ông. Tôi nhớ có lái xe lên San Jose hai lần thăm ông và các bạn. Lúc này ông không còn khỏe nữa, tuy nhiên trí óc vẫn minh mẫn. Năm 2010 vừa qua, hai vợ chồng tôi mua vé máy bay đi Cali, định thăm ông anh rồi thăm Nguyễn Mộng Giác và thăm ông. Nhưng rồi công kia việc nọ lại thêm bệnh tật, phải bỏ vé máy bay. Năm nay cũng tính đi nữa, nhưng bây giờ đã giữa tháng 10 rồi và ông đã không còn. Trời đất mang mang, lòng người như có sấm chớp. Ông Hà Thượng Nhân ơi!
Ngồi đây trong một chiều phai nắng, đoc lại những dòng đã viết, lòng không khỏi bồi hồi. Chúng ta sống và nhìn bạn bè ra đi… Hỡi ơi, Hà Thượng Nhân.
Garland, ngày 12 tháng 10. 2011
Từ mùi dạ lý hương trên con phố khuya… đến nắng quảng trường
Con phố gầy
Những bóng cây xô nghiêng
Mùi dạ lý xoáy vào giác quan
đòi chết
đòi tẩm liệm một ngày khô hạn
không hình hài
căn phòng lơ lửng tổ chim
treo bấp bênh mùi dạ hương cồn cào
thả dốc
con phố lặng mùa mưa chưa hiện thực
nhớ một người
nằm ốm chênh vênh
(thơ Chiêu Anh Nguyễn)
Chiêu Anh Nguyễn… Tôi không biết cô, không quen cô. Chỉ thấy hình cô trên các trang web với mấy dòng ghi chú sơ sài. Tên thật Nguyễn Chiêu Anh Phượng, sinh năm 1978 tại Sài Gòn. Hiện đang làm việc và sinh sống trong thành phố. Phải nói rằng cô đẹp, giàu cảm xúc, tinh tế. Không làm dáng, thơ cô có những nét bạo, đôi khi thô mộc nhưng đẹp. Tôi yêu mùi dạ lý hương của căn gác cô và những hàng cây nghiêng bóng. Tôi yêu cả con phố nơi cô nhớ một người về trong tiếng mưa hãy còn rất xa và mơ hồ. Mùi dạ lý có đuổi kịp hơi thở hồi xuân của người nữ ngoài ba mươi tuổi. Còn nữa, mùi khói thuốc trên những ngón tay vàng lùa vào mái tóc khuya, im. mùi thuốc lá đượm mười ngón tay/ vàng đến tận đêm khuya/ ướp luôn vào tóc/ ướp tuổi ngoài ba mươi rạo rực… Cô từng qua những buổi sáng ở quán cá phê, nhìn vệt nắng loang trên mặt bàn và lấp lánh trên những chùm bông giấy, và rồi chấm dứt một buổi sáng với điếu thuốc mild seven và ly café đắng. Với cô, tình yêu cũng cuồng nhiệt như mưa nắng Sài Gòn:
Đặt tay lên ngực
anh
em muốn nghe hơi thở
nóng rực từ tim
áp sát hơn nguồn sống qua em
mùi đàn ông trong anh (có lẽ)
ướp em đến vài ngàn năm trước
nồng nàn mật ngọt
(em liên tưởng những chú ong cần mẫn)
Như thế đó, Chiêu Anh Nguyễn với tất cả đam mê và tấm lòng trong trắng, cũng là người yêu nước nồng nàn như bao người trẻ tuổi khác ở Sài Gòn hiện nay. Và cô làm thơ, những bài ca cho đất nước, chất vấn những tên khốn kiếp lãnh đạo hiện nay. Không phải là loại thơ thời thượng như từng đọc thấy trên các trang web. Đúng như nhận định của Thận Nhiên, “Đây không phải là những bài thơ yêu nước theo kiểu phong trào, để cổ vũ hời hợt, mà là những tâm tình, đau đớn rất thật của những người trẻ trước thực trạng đất nước. Họ đang làm văn chương ư? Không, không chỉ có vậy. Họ đang định nghĩa lại và nhận diện thực trạng của đất nước hôm nay.” Trong bài “Đừng hỏi tôi thế nào là lòng yêu nước”, Chiêu Anh Nguyễn đã tự vấn “Mi có đủ can đảm để cầm súng khi đất nước lâm nguy/ Mi có đủ gan dạ để bước đi không do dự khi lãnh thổ VIỆT NAM bị đe doạ bởi lũ ngoại xâm tham lam hèn hạ”. Và cô tự trả lời:
Tối thấy mình mỉm cười gật đầu thanh thản
Có lẽ đó là lòng yêu nước
Rồi cô cho biết:
Hôm xuống đường
Những người bạn tôi
Những người quen sơ
Và cả những người chưa hề biết mặt
Tất cả đều chung một khí phách
hừng hực
Tôi gọi đó là lòng yêu nước
Thế nhưng khi đối diện với rào chắn, dùi cui, bạo lực bẻ tay bẻ cổ, đạp vào mặt người, đe dọa, khủng bố… thực tế lại không hoàn toàn như mộng tưởng khiến cô phải tự hỏi:
Tôi đang thể hiện lòng yêu nước
Trên lãnh thổ mình
Hay tôi là kẻ di dân
Nhận lấy phần của quê hương kẻ khác
Cô tự hỏi mình mà chính là thống trách lũ cầm quyền cúi đầu khiếp nhược trước kẻ thù mà tàn bạo đối với dân mình. Cuối cùng cô phải bật lên một câu xé lòng:
Bây giờ
Xin đừng hỏi tôi thế nào là lòng yêu nước
Có lẽ
Tôi sẽ phải cúi đầu bật khóc
Những ý nghĩ và tình cảm trên là có thật. Chiêu Anh Nguyễn đã tham dự, đã có mặt trên quảng trường nắng cháy da cháy tóc và cô cất lên tiếng nói chân thực của mình, tiếng nói của những người trẻ hôm nay, hướng về đất nước. Đó là tiếng nói nhận diện, tiếng nói tố cáo. Nhận diện bộ mặt của kẻ thù, tố cáo sự vong ân bội tình của chúng.
ngả giá cho tư tưởng buôn thần bán thánh
thắp nhang bàn thờ một hình nộm
nực cười...
và tai ương và lầm than và những lời nguyền trút xuống
đất nước này chưa một ngày bình an
Tới đây, có lẽ phải đổi lại đôi chút ca từ của TCS, “gia tài của mẹ một bọn du côn, gia tài của mẹ một lũ lợn rừng”. Và
xin hãy cùng nghe tiếp
những linh thiêng ngàn năm
bỗng chốc thành khói bụi
thế kỷ đã sản sinh cho giống nòi một lũ bội vong
phá đền đài
đập bia ca ngợi anh hùng
có nơi nào đắng cay hơn
Thơ của Chiêu Anh Nguyễn, những bài ca yêu nước, là tiếng nói không thể dập tắt. Thơ của Chiêu Anh Nguyễn, những bài ca đất nước, có thể khiến cô phải mang lụy. Nhưng cô đã chấp nhận từ khi bước xuống quảng trường nắng cháy cùng với bạn bè của cô.
Cuối cùng, điều khiến chúng ta yêu Chiêu Anh Nguyễn là từ mùi dạ lý hương của một ngõ phố chật hẹp khuya khoắt tới quảng trường nắng cháy tóc cháy da, cô vẫn chỉ là một người, sống tới tận cùng giọt máu trong tim, nồng nàn và mãnh liệt.
Buổi sáng, với những bông hướng dương…
Sáng nay, một buổi sáng Chủ Nhật đầy nắng, trong lúc ngồi uống cà phê, Nguyễn đọc được trên lưới một bản tin mang nhiều ý nghĩa với hình ảnh những bông hướng dương vàng rực. Lòng Nguyễn chợt rộn ràng, vui sướng.
Nguyễn vốn là người yêu hoa hướng dương, tức hoa quỳ vàng. Loài hoa này đã có mặt trong nhiều bài thơ, bài văn của Nguyễn. Nó cũng đã đi trong một truyện ngấn có tên Dã Quỳ. Chẳng những thế, Nguyễn còn yêu màu vàng cháy đầy mê sảng của những bức tranh sunflowers Van Gogh vẽ ở miền Provence nước Pháp. Cho nên nhìn lại những trang văn trang thơ có bông dã quỳ mình đã viết thì thấy cũng ổn thôi vì nó là tính cách, là màu sắc của riêng mình. Thậm chí còn nghĩ mai sau khi chết nếu có một nấm mồ thì xin ai đó trồng bên cạnh một cây hoa quỳ để nó làm bạn với mình.
Bây giờ xin trở lại với cái tin về những bông hướng dương. Tin này do anh bạn thân từ hồi còn ở Đà Lạt là anh Nguyễn Đình Cường gởi tới. Bản tin này là của An Bình viết theo Reuter, Nguyễn có tra cứu bổ sung thêm vài ý:
Những tàn lửa từ giấy bản và vàng mã bốc lên trong bầu không khí nóng bức của mùa hè, mang theo tên của những người chết cuộn bay trên nóc ngôi chùa ở Fukushima nơi hàng ngàn hàng ngàn bông hướng đã được trồng để giúp hút hết bụi phóng xạ nguyên tử. Được biết, nhà máy nguyên tử chỉ cách đó 30 miles đã bị rò rỉ và phát nổ sau cơn động đất và sóng thần ngày 11 tháng ba 2011 đã làm cho toàn vùng trở thành hoang phế, đổ nát. “Nó (bụi phóng xạ) giống như là tuyết rơi một lớp mỏng vô hình xuống cảnh vật Fukushima và tiếp tục rơi bao phủ toàn vùng.” Nhà sư Koyu Abe sư trưởng chùa Joenji nói. “Lớp tuyết này không tan, tạo cho Fukushima một mùa đông dài thật là dài.” Đã có vào khoảng 80,000 người rời bỏ vùng đất cư ngụ bị nhiễm phóng xạ không biết tới bao giờ mới về lại nơi chôn nhau cắt rốn.
Nhà sư Abe đã thành lập một nhóm tình nguyện nhằm trồng hàng ngàn cây hoa hướng dương cùng những cây khác để hấp thụ chất phóng xạ, vốn bị rò rỉ từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima sau thảm họa kép vừa kể. Nhà sư cũng đã tổ chức một nhóm tình nguyện để phân phát các hạt hướng dương cho người dân địa phương cùng trồng. Ngay tại ngôi đền Joenji, có khoảng 200,000 cây hướng dương đã được trồng. Rồi đây sẽ có ít nhất 8 triệu bông hướng dương nở rộ ở Fukishima phát xuất từ ngôi chùa Joenji. Những cánh đồng hướng dương vàng rực khắp nơi không chỉ giúp khử chất phóng xạ mà còn mang lại cảnh quan tươi đẹp cho Fukushima. Và người ta nhớ lại: Trước đó, trong thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986, người dân Ukraine cũng trồng hướng dương để hấp thụ chất phóng xạ.
Nhìn những tấm ảnh chụp hoa hướng dương trong vườn chùa Joenji của nhà sư Abe Nguyễn thấy đẹp quá, rực rỡ quá. Đây quả là một ý tưởng độc đáo biến thành hiện thực, biến thành hàng trăm ngàn bông hoa vàng rực cả một chân trời. Rừng hướng dương này rồi sẽ hút hết chất độc phóng xạ, đem lại không khí trong lành cho người. Chủ nghĩa Cộng Sản, hiểu theo cách nào đó, cũng giống như bụi phóng xạ nguyên tử vô cùng độc hại. Nhìn bóng nhà sư nổi bật giữa biển màu vàng của hoa hướng dương, Nguyễn chợt nghĩ làm sao đất nước Việt Nam có những rừng hướng dương như thế để hút hết chất độc của chủ nghĩa Cộng Sản, làm cho con người và bầu không khí chung quanh trở nên trong sạch, thuần khiết.
Ông đã đi sao
sáng nay trời garland mưa thưa
tôi khóc ông
và nhớ
cây ngọc lan trước sân nhà thơm ngát. chỗ ta ngồi uống
rượu. nhậu thịt cầy
với hữu loan thanh tâm tuyền tô thùy yên nguyễn trung dũng
nơi gần nhà thờ ba chuông
tôi tới thăm ông
trên gác thơ
dáng ông ngồi. như thú dữ. chờ trăng
khi tiếng sấm từ chân trời vọng lại
màu tím
hà thượng nhân
Trước 1975, tôi không quen Hà Thượng Nhân, chỉ biết tiếng ông. Dạo ấy, thỉnh thoảng tôi có đọc những bài thơ trong mục Đàn Ngang Cung của báo Tự Do. Phải đợi đến khi vào tù tôi mới gặp được Hà Thượng Nhân. Đầu tiên ở ga Hạ Lý, Hải Phòng. Sau ba ngày ba đêm trên tàu Sông Hương, nín đái nín ỉa, tới Hạ Lý chúng tôi được lùa vào một cái hangar lớn, ăn ngủ ở đó, chiều ra tắm vũng trâu đầm. Một chiều, tôi ngạc nhiên thấy một người mặc bộ bà ba nâu, ngồi giữa đám đông anh em trẻ, nói chuyện say sưa như sư giảng kinh. Hỏi ra mới biết là Hà Thượng Nhân, người nổi tiếng “thơ ngang Tào Thực” lúc còn là cậu học trò ở Huế. Ông từng là giám đốc Đài Phát Thanh Sài Gòn, và là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến. Trong buổi chiều Hạ Lý, ông nổi bật với dáng người cao lớn, thật đẹp. Đúng như Viên Linh tả “Dáng người thẳng băng, lưng dài vai rộng, giọng ông lớn, tiếng ông khỏe, ý kiến ông đưa ra thường là độc lập, dứt khoát, không ở cái khoảng nửa tối nửa sáng bao giờ.” Tôi muốn được nói chuyện với ông, nhưng đông quá, đành thôi. Rồi tôi gặp lại Hà Thượng Nhân ở trại Thanh Chương, Nghệ Tĩnh.
Nhớ lại những ngày ấy, khoảng năm 1980-1981, lòng còn rộn lên bao ý nghĩ và cảm xúc hỗn độn. Trại có tường cao xây bằng đá núi vây quanh. Buổi chiều tới trại, nghe tiếng chày vang dội khắp nơi, tưởng là tiếng đập lụa trong thơ Đỗ Phủ, hóa ra tiếng chày anh em giã bắp. Nguyên do: bắp nấu trại phát cứng quá, nhai không nổi, phải giã ra cho nát để nuốt. Trước khi tới trại thì ở đây đã có nhà thơ Hà Thượng Nhân và một số văn nghệ, trí thức khác của miền Nam. Dạo ấy, tôi mới tới được bổ sung vào đội thợ xây, ngày ngày đi xây tường, làm nhà. Một buổi chiều chủ nhật, Tô Thùy Yên và Xuân Bích đưa Hà Thượng Nhân sang chơi phòng tôi. Nhân có một gô trà nóng và ít bưởi bòng do đổi chác linh tinh ở ngoài trại mang về, chúng tôi có được những phút giây thư giãn, chuyện trò hào hứng. Dịp này, tôi đọc thơ cho Hà Thượng Nhân nghe, và ông đặc biệt thích bài Thảo Nguyên, đi đâu cũng mang bài thơ theo trong túi. Một hôm, cán bộ trại mở cuộc bố ráp, kiểm tra hành lý của tù. Một tên xét túi ông Hà, bắt được bài thơ Thảo Nguyên, quát hỏi: “Thảo Nguyên là gì?” Ông trả lời không chút sợ hãi: “Thảo Nguyên là thảo nguyên.” Tên này đọc bài thơ nhưng hình như không hiểu gì bèn lớn tiếng hỏi: “Anh làm thơ hả?” Hà Thượng Nhân: “Vâng, tôi làm thơ. Thi sĩ là nghề của tôi.” Thế đấy, con người Hà Thượng Nhân, không tham phú quý, không cúi đầu trước bạo lực. Mà có thể nói, kể từ khi về Thanh Chương, chúng tôi đông và đoàn kết nên không sợ chúng nữa. Đặc biệt, một số anh em đâm ra yêu thơ, nhờ đó mấy ông làm thơ chúng tôi bỗng lên giá và được chiều chuộng cực kỳ. Mỗi khi có thơ hay là được thưởng. Không nhiều, một cục đường, vài bi thuốc lào, có khi được điếu pallmall. Một buổi trưa, sau khi đọc bài Ánh Trăng của tôi, Hà Thượng Nhân xách qua cho một lon gô chè đậu xanh, nói là biếu thi sĩ bồi dưỡng. Làm sao tôi quên được những thâm tình ấy. Ông Hà Thượng Nhân ơi!
Rồi những ngày ở Sài Gòn sau khi ra tù. Chúng tôi thỉnh thoảng lại gặp nhau. Thường là ở nhà ông, hoặc trên gác nhà Nguyễn Trung Dũng có trồng cây bông sứ thật đẹp, đôi khi ở nhà Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên hoặc nhà tôi bên bờ song Thanh Đa. Chính ở nhà ông, tôi gặp Hữu Loan và viết bài Kẻ Sĩ Nga Sơn. Dạo ấy Hiếu Chân Nguyễn Hoạt còn sống, có khi chúng tôi kéo nhau qua Làng Báo Chí thăm Nguyễn Đình Toàn, nghe Toàn đọc thơ Động Đình Hồ Nguyễn Hữu Nhật, bài Tự Do Tự Do. Có một dạo ông bị gout thật khổ sở vậy mà vẫn ngồi dịch Ly Tao của Khuất Nguyên. Gặp bạn tới chơi, bèn bật dậy đọc thơ sang sảng. Ông ngồi như thú dữ chờ trăng. Lời tôi viết tả ông ngày ấy còn in trong tim óc.
Sang tới Mỹ, chúng tôi thỉnh thoảng gọi điện thoại thăm nhau. Ông vẩn yêu văn chương, quý các bạn văn, có dịp là nói chuyện thơ, luận bàn kim cổ. Nhiều anh em mê ông. Có một bà đào hát đặc biệt quý trọng Hà Thượng Nhân, có dịp là múa hát cười duyên với ông. Tôi nhớ có lái xe lên San Jose hai lần thăm ông và các bạn. Lúc này ông không còn khỏe nữa, tuy nhiên trí óc vẫn minh mẫn. Năm 2010 vừa qua, hai vợ chồng tôi mua vé máy bay đi Cali, định thăm ông anh rồi thăm Nguyễn Mộng Giác và thăm ông. Nhưng rồi công kia việc nọ lại thêm bệnh tật, phải bỏ vé máy bay. Năm nay cũng tính đi nữa, nhưng bây giờ đã giữa tháng 10 rồi và ông đã không còn. Trời đất mang mang, lòng người như có sấm chớp. Ông Hà Thượng Nhân ơi!
Ngồi đây trong một chiều phai nắng, đoc lại những dòng đã viết, lòng không khỏi bồi hồi. Chúng ta sống và nhìn bạn bè ra đi… Hỡi ơi, Hà Thượng Nhân.
Garland, ngày 12 tháng 10. 2011
Từ mùi dạ lý hương trên con phố khuya… đến nắng quảng trường
Con phố gầy
Những bóng cây xô nghiêng
Mùi dạ lý xoáy vào giác quan
đòi chết
đòi tẩm liệm một ngày khô hạn
không hình hài
căn phòng lơ lửng tổ chim
treo bấp bênh mùi dạ hương cồn cào
thả dốc
con phố lặng mùa mưa chưa hiện thực
nhớ một người
nằm ốm chênh vênh
(thơ Chiêu Anh Nguyễn)
Chiêu Anh Nguyễn… Tôi không biết cô, không quen cô. Chỉ thấy hình cô trên các trang web với mấy dòng ghi chú sơ sài. Tên thật Nguyễn Chiêu Anh Phượng, sinh năm 1978 tại Sài Gòn. Hiện đang làm việc và sinh sống trong thành phố. Phải nói rằng cô đẹp, giàu cảm xúc, tinh tế. Không làm dáng, thơ cô có những nét bạo, đôi khi thô mộc nhưng đẹp. Tôi yêu mùi dạ lý hương của căn gác cô và những hàng cây nghiêng bóng. Tôi yêu cả con phố nơi cô nhớ một người về trong tiếng mưa hãy còn rất xa và mơ hồ. Mùi dạ lý có đuổi kịp hơi thở hồi xuân của người nữ ngoài ba mươi tuổi. Còn nữa, mùi khói thuốc trên những ngón tay vàng lùa vào mái tóc khuya, im. mùi thuốc lá đượm mười ngón tay/ vàng đến tận đêm khuya/ ướp luôn vào tóc/ ướp tuổi ngoài ba mươi rạo rực… Cô từng qua những buổi sáng ở quán cá phê, nhìn vệt nắng loang trên mặt bàn và lấp lánh trên những chùm bông giấy, và rồi chấm dứt một buổi sáng với điếu thuốc mild seven và ly café đắng. Với cô, tình yêu cũng cuồng nhiệt như mưa nắng Sài Gòn:
Đặt tay lên ngực
anh
em muốn nghe hơi thở
nóng rực từ tim
áp sát hơn nguồn sống qua em
mùi đàn ông trong anh (có lẽ)
ướp em đến vài ngàn năm trước
nồng nàn mật ngọt
(em liên tưởng những chú ong cần mẫn)
Như thế đó, Chiêu Anh Nguyễn với tất cả đam mê và tấm lòng trong trắng, cũng là người yêu nước nồng nàn như bao người trẻ tuổi khác ở Sài Gòn hiện nay. Và cô làm thơ, những bài ca cho đất nước, chất vấn những tên khốn kiếp lãnh đạo hiện nay. Không phải là loại thơ thời thượng như từng đọc thấy trên các trang web. Đúng như nhận định của Thận Nhiên, “Đây không phải là những bài thơ yêu nước theo kiểu phong trào, để cổ vũ hời hợt, mà là những tâm tình, đau đớn rất thật của những người trẻ trước thực trạng đất nước. Họ đang làm văn chương ư? Không, không chỉ có vậy. Họ đang định nghĩa lại và nhận diện thực trạng của đất nước hôm nay.” Trong bài “Đừng hỏi tôi thế nào là lòng yêu nước”, Chiêu Anh Nguyễn đã tự vấn “Mi có đủ can đảm để cầm súng khi đất nước lâm nguy/ Mi có đủ gan dạ để bước đi không do dự khi lãnh thổ VIỆT NAM bị đe doạ bởi lũ ngoại xâm tham lam hèn hạ”. Và cô tự trả lời:
Tối thấy mình mỉm cười gật đầu thanh thản
Có lẽ đó là lòng yêu nước
Rồi cô cho biết:
Hôm xuống đường
Những người bạn tôi
Những người quen sơ
Và cả những người chưa hề biết mặt
Tất cả đều chung một khí phách
hừng hực
Tôi gọi đó là lòng yêu nước
Thế nhưng khi đối diện với rào chắn, dùi cui, bạo lực bẻ tay bẻ cổ, đạp vào mặt người, đe dọa, khủng bố… thực tế lại không hoàn toàn như mộng tưởng khiến cô phải tự hỏi:
Tôi đang thể hiện lòng yêu nước
Trên lãnh thổ mình
Hay tôi là kẻ di dân
Nhận lấy phần của quê hương kẻ khác
Cô tự hỏi mình mà chính là thống trách lũ cầm quyền cúi đầu khiếp nhược trước kẻ thù mà tàn bạo đối với dân mình. Cuối cùng cô phải bật lên một câu xé lòng:
Bây giờ
Xin đừng hỏi tôi thế nào là lòng yêu nước
Có lẽ
Tôi sẽ phải cúi đầu bật khóc
Những ý nghĩ và tình cảm trên là có thật. Chiêu Anh Nguyễn đã tham dự, đã có mặt trên quảng trường nắng cháy da cháy tóc và cô cất lên tiếng nói chân thực của mình, tiếng nói của những người trẻ hôm nay, hướng về đất nước. Đó là tiếng nói nhận diện, tiếng nói tố cáo. Nhận diện bộ mặt của kẻ thù, tố cáo sự vong ân bội tình của chúng.
ngả giá cho tư tưởng buôn thần bán thánh
thắp nhang bàn thờ một hình nộm
nực cười...
và tai ương và lầm than và những lời nguyền trút xuống
đất nước này chưa một ngày bình an
Tới đây, có lẽ phải đổi lại đôi chút ca từ của TCS, “gia tài của mẹ một bọn du côn, gia tài của mẹ một lũ lợn rừng”. Và
xin hãy cùng nghe tiếp
những linh thiêng ngàn năm
bỗng chốc thành khói bụi
thế kỷ đã sản sinh cho giống nòi một lũ bội vong
phá đền đài
đập bia ca ngợi anh hùng
có nơi nào đắng cay hơn
Thơ của Chiêu Anh Nguyễn, những bài ca yêu nước, là tiếng nói không thể dập tắt. Thơ của Chiêu Anh Nguyễn, những bài ca đất nước, có thể khiến cô phải mang lụy. Nhưng cô đã chấp nhận từ khi bước xuống quảng trường nắng cháy cùng với bạn bè của cô.
Cuối cùng, điều khiến chúng ta yêu Chiêu Anh Nguyễn là từ mùi dạ lý hương của một ngõ phố chật hẹp khuya khoắt tới quảng trường nắng cháy tóc cháy da, cô vẫn chỉ là một người, sống tới tận cùng giọt máu trong tim, nồng nàn và mãnh liệt.
Buổi sáng, với những bông hướng dương…
Sáng nay, một buổi sáng Chủ Nhật đầy nắng, trong lúc ngồi uống cà phê, Nguyễn đọc được trên lưới một bản tin mang nhiều ý nghĩa với hình ảnh những bông hướng dương vàng rực. Lòng Nguyễn chợt rộn ràng, vui sướng.
Nguyễn vốn là người yêu hoa hướng dương, tức hoa quỳ vàng. Loài hoa này đã có mặt trong nhiều bài thơ, bài văn của Nguyễn. Nó cũng đã đi trong một truyện ngấn có tên Dã Quỳ. Chẳng những thế, Nguyễn còn yêu màu vàng cháy đầy mê sảng của những bức tranh sunflowers Van Gogh vẽ ở miền Provence nước Pháp. Cho nên nhìn lại những trang văn trang thơ có bông dã quỳ mình đã viết thì thấy cũng ổn thôi vì nó là tính cách, là màu sắc của riêng mình. Thậm chí còn nghĩ mai sau khi chết nếu có một nấm mồ thì xin ai đó trồng bên cạnh một cây hoa quỳ để nó làm bạn với mình.
Bây giờ xin trở lại với cái tin về những bông hướng dương. Tin này do anh bạn thân từ hồi còn ở Đà Lạt là anh Nguyễn Đình Cường gởi tới. Bản tin này là của An Bình viết theo Reuter, Nguyễn có tra cứu bổ sung thêm vài ý:
Những tàn lửa từ giấy bản và vàng mã bốc lên trong bầu không khí nóng bức của mùa hè, mang theo tên của những người chết cuộn bay trên nóc ngôi chùa ở Fukushima nơi hàng ngàn hàng ngàn bông hướng đã được trồng để giúp hút hết bụi phóng xạ nguyên tử. Được biết, nhà máy nguyên tử chỉ cách đó 30 miles đã bị rò rỉ và phát nổ sau cơn động đất và sóng thần ngày 11 tháng ba 2011 đã làm cho toàn vùng trở thành hoang phế, đổ nát. “Nó (bụi phóng xạ) giống như là tuyết rơi một lớp mỏng vô hình xuống cảnh vật Fukushima và tiếp tục rơi bao phủ toàn vùng.” Nhà sư Koyu Abe sư trưởng chùa Joenji nói. “Lớp tuyết này không tan, tạo cho Fukushima một mùa đông dài thật là dài.” Đã có vào khoảng 80,000 người rời bỏ vùng đất cư ngụ bị nhiễm phóng xạ không biết tới bao giờ mới về lại nơi chôn nhau cắt rốn.
Nhà sư Abe đã thành lập một nhóm tình nguyện nhằm trồng hàng ngàn cây hoa hướng dương cùng những cây khác để hấp thụ chất phóng xạ, vốn bị rò rỉ từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima sau thảm họa kép vừa kể. Nhà sư cũng đã tổ chức một nhóm tình nguyện để phân phát các hạt hướng dương cho người dân địa phương cùng trồng. Ngay tại ngôi đền Joenji, có khoảng 200,000 cây hướng dương đã được trồng. Rồi đây sẽ có ít nhất 8 triệu bông hướng dương nở rộ ở Fukishima phát xuất từ ngôi chùa Joenji. Những cánh đồng hướng dương vàng rực khắp nơi không chỉ giúp khử chất phóng xạ mà còn mang lại cảnh quan tươi đẹp cho Fukushima. Và người ta nhớ lại: Trước đó, trong thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986, người dân Ukraine cũng trồng hướng dương để hấp thụ chất phóng xạ.
Nhìn những tấm ảnh chụp hoa hướng dương trong vườn chùa Joenji của nhà sư Abe Nguyễn thấy đẹp quá, rực rỡ quá. Đây quả là một ý tưởng độc đáo biến thành hiện thực, biến thành hàng trăm ngàn bông hoa vàng rực cả một chân trời. Rừng hướng dương này rồi sẽ hút hết chất độc phóng xạ, đem lại không khí trong lành cho người. Chủ nghĩa Cộng Sản, hiểu theo cách nào đó, cũng giống như bụi phóng xạ nguyên tử vô cùng độc hại. Nhìn bóng nhà sư nổi bật giữa biển màu vàng của hoa hướng dương, Nguyễn chợt nghĩ làm sao đất nước Việt Nam có những rừng hướng dương như thế để hút hết chất độc của chủ nghĩa Cộng Sản, làm cho con người và bầu không khí chung quanh trở nên trong sạch, thuần khiết.



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét