Nguồn gốc Mã Lai
của dân tộc Việt Nam 2
Chúng tôi hẹn nghiên cứu các chủng Mông Gô Lích ở phần A của
chương II, nhưng mới nghiên cứu được có ba chủng: Bắc Mông Gô Lích, Trung Mông
Gô Lích và Nam Mông Gô Lích rồi phải bước sang những vấn đề khác, vì mạch của
sách phải đi như vậy.
Chúng tôi cần chứng minh rằng không có di cư ồ ạt của Tàu đến
Giao Chỉ như sử gia Nguyễn Phương đã nói để kết luận rằng Việt Nam không phải
là đồng bào của hai bà Trưng mà chỉ là con cháu của Tàu di cư. Mà muốn chứng
minh như thế, chúng tôi lại phải bác thêm thuyết của L. Aurousseau và Trần Kinh
Hoà cho rằng Tây Âu và Tượng Quận là Cổ Việt Nam. Muốn vậy, phải nghiên cứu người
Tây Âu. Đi lạc đường quá xa vì những lý do đó.
Nhưng không thể không đi xa ngoài đề vì cái mục đích xoá hẳn
bao nhiêu ngộ nhận từ trước tới nay về những gì xảy ra vào năm Lộ Bác Đức tới
chinh phục ta, bởi những sự kiện lịch sử của thời ấy bị các sử gia Tây, Tàu, Việt
làm rối nát hết.
Bây giờ thì chúng tôi nghiên cứu về chủng của ta được rồi,
nhưng lại không bắt đầu từ thời Mã Viện đi lên, mà xuất phát ngay tại nơi và thời
bắt đầu, tức nói chuyện cách đây 5.000 năm rồi đi xuống lần cho tới gặp Mã Viện
là xong.
Tại sao chúng tôi không ngược dòng như đã làm từ chương I cho
tới chương này? Vì chúng tôi dựa vào khoa khảo tiền sử, mà khoa ấy đi xuôi chớ
không lội ngược.
Xin nhắc rằng là lúc bắt đầu làm việc chúng tôi không có đủ
tài liệu khảo tiền sử trong tay, nó tản mác ở nhiều tạp chí trên thế giới rất
khó tìm, lại có những tài liệu không phải viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh
nên chúng tôi không được đọc và không đọc được, nếu có tìm được đi chăng nữa.
Thế nên chúng tôi đã tạm dùng hai chứng tích, một chứng tích
tắt là tìm những cái khoen trung gian nó nối kết Mã Lai Đông Sơn với Việt Nam
mang màu sắc Trung Hoa phần nào. Chúng tôi lại dùng chứng tích gián tiếp là cổ
sử Nhựt Bổn và kim sử Nhựt Bổn. Cả hai chứng tích đó đều đưa chúng tôi tới kết
luận đúng là:
Việt = Mã Lai
Nhưng rồi làm việc nửa chừng, chúng tôi lại nhờ tóm lược của
ông G. Cocdès về những công trình khảo tiền sử ở toàn cõi Á Châu, chứng tích
này khoa học hơn, nên rốt cuộc chứng tích quý báu là khoa khảo tiền sử lại nằm
trên hai chứng tích mà chúng tôi đã dùng lúc ban đầu.
Ông G. Cocdès không có khảo cứu gì hết. Trong xã hội ta, sách
ấy có thể được xem là sách khảo cứu có giá trị, nhưng trong giới bác học, nó chỉ
là travail de compilation, theo loại của quyển "Lịch sử thành lập đất Việt",
mà soạn giả gồm tất cả những công trình khảo cứu trong vòng một trăm năm của
hàng trăm nhà bác học ở khắp nơi để tóm lược lại trong sách, không phải để phổ
thông trong dân chúng mà để giúp cho các sử gia tuỳ nghi sử dụng với điều kiện
là phải biết dùng những trang sách ấy, bằng cách kiểm soát nó bằng khoa chủng tộc
học và ngôn ngữ tỷ hiệu.
Thế là rốt cuộc chúng tôi làm việc với đầy đủ ba chứng tích
căn bản, không kể những chứng tích phụ thuộc mà chúng tôi cũng đã học qua rồi.
Chúng tôi trích dịch ông G. Cocdès mà thú nhận, chớ không ăn
gian nói rằng mình đọc được thẳng các tài liệu đó, mặc dầu rất dễ ăn gian vì
ông G. Cocdès có cho biết tên tất cả sách báo khảo tiền sử ở toàn cõi Á Đông.
Nhưng chúng tôi sẽ chỉ trích ông G. Cocdès vì ông không làm
việc một cách lạnh lùng như các nhà khảo tiền sử, mà lại thỉnh thoảng suy luận
để kết luận, vì ông có thử viết sử, chớ không phải chỉ làm travail de
compilation mà thôi. Mà ông lại suy luận sai và kết luận sai.
Nhưng ta phải nhìn nhận rằng việc khảo tiền sử là chiếc đèn
pha độc nhứt đủ khả năng soi sáng những gì xảy ra vào cổ thời mà ta cứ đoán mò
mãi theo mớ sử liệu Tàu hoặc theo cổ vật Đông Sơn, vì thế mà ta cứ đoán sai.
Sách của ông G. Cocdès là tài liệu thường, ra đời năm 1962 và
có bán ở Sài Gòn năm 1964, được những người Việt Nam mua đọc, nhưng không ai sử
dụng được vì những lẽ mà chúng tôi đã nêu ra. Đó là một cuộc sa lầy thứ ba của
ta: họ không hiểu hai từ Indonésien và Austro trong đó. Hơn thế, không ai kiểm
soát được công trình khảo tiền sử ấy bằng các chứng tích khác, nên không ai dám
tin để mà sử dụng công trình đồ sộ đó.
Đây, nguồn sáng từ dưới âm ty chiếu lên hay từ 5.000 năm trước
chiếu lại, một khúc phim của quá khứ mà các cuộc đào bới cho thấy khá rõ ràng,
mặc dầu cũng còn vài khuyết điểm mà chúng tôi phê bình và bổ túc sau, không phải
chỉ ở chương này mà ở nhiều chương khác nữa.
Cách đây lối 5.000 năm, chủng Anh Đô Nê-diêng, tức cổ Mã Lai,
từ đâu không biết, và không biết vì lẽ gì, di cư đến Triều Tiên, đến Nhựt Bổn,
đến Đài Loan, đến Cổ Việt và đến đảo Célèbes ở Nam Dương.
Đồng thời họ cũng di cư sang Đông Ấn Độ rồi từ Đông Ấn Độ họ
đi sang Đông Dương (tức có cả Miến Điện và Thái Lan trong đó và nên nhớ rằng
dân của nước Thái Lan chỉ mới di cư tới nước Thái Lan nay kể từ thế kỷ thứ
VIII, thứ IX S.K. và đến thế kỷ thứ XIII thì họ đã đủ đông để đuổi người Cao
Miên, đang làm chủ ở đó, để dựng lên nước Xiêm, vậy nếu ở đất Thái Lan có dấu vết
của bọn di cư nói trên thì bọn ấy cũng không phải là tổ tiên của người Thái).
Sọ của bọn Cổ Mã Lai này cho thấy rằng họ có lai giống với một
vài nhóm Mông Cổ, nhưng không biết là nhóm nào. (Khoa chủng tộc học dùng danh từ
Mongoloide. Danh từ này có nghĩa là có tánh cách Mông Cổ nhiều hay ít và chúng
tôi đã trình ra hai thứ dân là Trung Mông Gô Lích, tức người Hoa Bắc, và dân
Nam Mông Gô Lích, tức người Hoa Nam. Vậy danh từ Mongoloide có nghĩa rất rộng,
có thể là lai thẳng với Mông Cổ mà cũng có thể là lai với Tàu Hoa Bắc, nhưng
không thể với Tàu Hoa Nam, vì cách đây 5.000 năm, chủng Nam Mông Gô Lích chưa
có mặt trên quả địa cầu).
Tại Miến Điện xưa và Cao Miên xưa, tức ở Trung Lào nay, bọn Cổ
Mã Lai lai giống quá nhiều với dân thổ trước, thuộc chủng Mê-la-nê, có lai nhiều
vì ở những nơi đó chủng Mê-la-nê đã tiến bộ lắm, bắt đầu tiến tới thời đại Tân
Thạch, giỏi gần bằng bọn mới đến. Thế nên bọn di cư ấy mới đen da.
Ở Cổ Việt Nam thì thổ trước Mê-la-nê còn ở trong thời đại Cựu
Thạch nên rất ít có hợp chủng Cổ Mã Lai + Mê-la-nê, thế nên người Việt Nam trắng
da hơn Môn và Khơ Me.
Vũ khí và dụng cụ độc nhứt của họ là lưỡi rìu đá mài có tay cầm.
Cạnh sọ Mã Lai và lưỡi rìu tay cầm không thấy dụng cụ xay,
giã, nghiền hay tán gì hết để có thể kết luận họ đã biết trồng trọt.
Nếu chỉ có một mình họ di cư mà thôi thì không cần đặt tên mới
cho họ, nhưng còn một đợt di cư sau, cũng là của chủng Cổ Mã Lai, sau đó lối
2.500 năm, nên bọn trước được đặt tên là Austro-asiatiques để phân biệt
với bọn sau.
(Chú ý: Antro-asiatique chỉ có nghĩa là người Á
Đông phương Nam, chớ không có nghĩa gì là Úc Á cả, như tất cả các sách Việt đều
đã dịch sai như thế).
Cách đây lối 2.500 năm chủng Cổ Mã Lai từ cực Nam Hoa Nam đi
thẳng xuống bán đảo Mã Lai Á, rồi từ đó sang Nam Dương quần đảo và từ Nam Dương
sang Madagascar và Phi Luật Tân. Có một bọn lại đi ngược lên Nhựt Bổn.
Sọ của bọn sau, thuần chủng cổ Mã Lai, không có lai giống với
nhóm Mông Cổ nào hết.
Vũ khí của họ là lưỡi rìu đá mài hình chữ nhựt.
Cạnh lưỡi rìu có nhiều dụng cụ cho thấy họ đã biết nông nghiệp
và nhứt là biết làm đồ đất nung, biết nuôi súc vật.
Khoa học đặt tên bọn sau là Austronésiens.
Khoa khảo tiền sử mới, được thế giới khoa học nhìn nhận là
đúng, đã làm cho giúp Kim Định "hố" lớn ở trang 25, khi ông chủ
trương rằng dân Anh Đô Nê là dân thổ trước ở Bắc Việt.
Ông đã hiểu rằng Anh Đô Nê là Mọi thì ông chủ trương như thế
là đúng theo ông G. Cocdès 20 năm trước. Mọi ấy bị Việt từ Hoa Nam tràn xuống
và đuổi vào rừng.
Nhưng ông G. Cocdès đã tự đính chánh trễ đến 20 năm, khi ông
học xong cái khoa khảo tiền sử đúng này.
*
Đối với người không chuyên môn thì cái tóm lược trên đây
không có nghĩa gì hết, không đọc cũng được, mà đọc lại càng rối trí thêm vì ai
cũng hiểu Austro là Úc, mà Úc có dính líu gì với dân ta đâu, còn Indonésien thì
lại bị hiểu là "Mọi".
Nhưng biết Austro là Phương Nam chớ
không phải Úc, và Indonésien là Cổ Mã Lai thì đã hơi khác rồi.
Hơi khác, nhưng chỉ bắt suy nghĩ sơ sơ mà thôi, chớ không
dùng được tài liệu tôi đã dẫn đó.
Nhưng với những người đã học khoa chủng tộc học và ngôn ngữ tỷ
hiệu và có học cổ sử Tàu, thì đây là một cuộc thắp đèn thình lình, soi tỏ hết cả
mọi mối manh rối nùi của lịch sử dân ta, và cả dân Tàu, dân Chàm, dân Cao Miên,
Miến Điện, Mã Lai và Thượng Việt.
Chúng tôi mất bảy năm học các ngôn ngữ Á Đông và ba năm học
chủng tộc học, không uổng chút nào, vì không biết hai khoa đó thì đã bỏ qua
khoa khảo tiền sử đồ sộ mà ông G. Cocdès đã tóm lược, cũng như bao nhiêu người
khác đã bỏ qua. Thế nên ông G. Cocdès đã ba lần định nghĩa Indonésien là Cổ Mã
Lai, nhưng cũng chẳng ai thèm nghe.
Ừ, biết rằng có những nhóm cổ Mã Lai di cư như thế đó, và họ
có ghé xứ ta, nhưng cái biết ấy có nghĩa gì đâu chớ, vì ở xứ ta có hàng chục chủng
tộc khác nhau vào thuở ấy, sống lẫn lộn với nhau, như chương tiền sử Làng Cườm đã
cho thấy. Ta là ai trong đám đó? Mà có thể trong đám đó không có ta, ta chỉ mới
đến đó về sau thôi, chẳng hạn theo sử gia Nguyễn Phương thì ta chỉ mới đến đó
sau Mã Viện, tức sau Tây lịch, tức tương đối mới đây mà thôi (ta là Tàu kia
mà).
Nhưng khi ta biết rằng Miến Điện, Cao Miên, Thái, Chàm, Thượng,
Mã Lai và Việt Nam đều có sọ Mã Lai, đều đồng ngôn ngữ Mã Lai với nhau thì mọi
việc đã khác hết rồi.
Hễ sự kiện mà là như thế thì ta đích thực là Mã Lai, lại Mã
Lai hơn hẳn dân Mã Lai mà ai cũng tưởng là chánh hiệu, tức Mã Lai Nam Dương, vì
tổ tiên ta là hai ba đợt Mã Lai nhập lại với nhau, còn Mã Lai Nam Dương chỉ là
Mã Lai đợt nhì mà thôi (Austronésiens).
Thế nên quyển sách của ông G. Cocdès chỉ giúp ích cho những
người đã học khoa chủng tộc học về toàn thể Á Đông và học đủ cả ngôn ngữ Á Đông
mà thôi.
Lưỡi rìu có tay cầm của bọn Mã Lai di cư từ Hoa Bắc xuống Cổ
Việt, khảo tiền sử đặt tên là Austroaslatique và chúng tôi gọi là Mã Lai đợt I.
Lưỡi rìu hình chữ nhựt của bọn Mã Lai di cư từ Hoa Nam xuống
Cổ Việt, khảo tiền sử đặt tên là Austronessien, và chúng tôi gọi là Mã Lai đợt
II.
Họ học xong, nhưng không kết luận được, mặc dầu họ đã thấy sự
giống nhau khá ly kỳ giữa hàng trăm dân tộc ở Á Đông.
Nhưng khi mà khoa khảo tiền sử tìm được dấu chơn di cư của
dân Mã Lai quá rõ rệt như vậy thì cái phòng thượng cổ sử u tối bỗng sáng lên
thình lình.
Nhiều người Việt thông thạo tiếng Nhật cứ băn khoăn tự hỏi tại
sao ta có nhiều danh từ giống hệt danh từ Nhật, mặc dầu hồi cổ thời hai dân tộc
không hề có chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Nay thì đã rõ.
Còn ba trăm trang nữa thì sách này chấm dứt và chúng tôi dùng
ba trăm trang đó để giải thích và chứng minh ba trang mà chúng tôi vừa trích dịch
của ông G. Cocdès, ông ấy đã đọc tất cả 30 ngàn trang sách để tóm lại thành một
quyển nhỏ, chúng tôi trích dịch thành 3 trang, nhưng phải chứng minh bằng 300
trang với những khám phá riêng của chúng tôi, chớ các sách khảo tiền sử không
nói đến những gì chúng tôi sắp nói ở 300 trang sau đây.
*
Bình chú và kiểm soát
Ta thấy gì?
Khoa khảo tiền sử ngậm câm về nguồn gốc của tổ tiên ta.
Khoa đó không phải là sử học. Sử gia phải biết nhiều thứ hơn
mới viết sử được.
Họ chỉ đưa ra một mớ sọ để cho biết đích xác tại các địa bàn
nào đó, các chủng tộc nào đã kế tiếp nhau mà làm chủ đất, chủ cũ nằm ở lớp dưới,
chủ mới nằm ở tầng đất trên. Và các bọn ấy từ đâu đến, và đến vào thời nào.
Đống sọ ở hang Làng Cườm gồm nào là sọ Négrito, sọ Mê-la-nê
và sọ Anh Đô Nê, sọ Anh Đô Nê lai với sọ Mông Gô Lích.
Nhà viết sử phải đo sọ để sọ Việt Nam hiện nay là sọ Mông Gô
Lích, sọ Cổ Mã Lai, sọ Mê-la-nê hay sọ Négrito, hoặc sọ lai, vì lai với ai vẫn
biết được. Mà đo hẳn hòi chớ không thể nói liều.
Nếu có các nhà chủng tộc học đo hộ cho ta thì ta đỡ mất 20
năm để làm cái công việc đó. Bằng không, chính ta phải đo lấy. Thế nên chúng
tôi mới cho rằng chứng tích chủng tộc học là chứng tích quan trọng vào hàng thứ
nhì.
(Việc đo sọ, phải đo từng nhóm lớn trong một nước, và đo nhiều
nhóm như vậy, rồi nhập lại với nhau để lấy cái trung bình. Thí dụ ở miền Nam
thì phải đo dân Đồng Nai, dân Sài Gòn, dân Tiền Giang, dân Hậu Giang, mỗi nhóm
cần đo ít lắm là năm bảy trăm người. Như vậy, muốn đo toàn dân Việt, phải mất
ít lắm là 20 năm, nếu chỉ có một người làm việc).
Chúng tôi đẩy ngôn ngữ tỷ hiệu xuống hàng ghế thứ ba vì ngôn
ngữ là yếu tố có thể vay mượn. Một dân tộc có thể mất cả ngôn ngữ, thí dụ người
Khorat Thái vốn là người Cao Miên, thế mà chỉ từ thế kỷ 13 đến nay, tức mới có
sáu trăm năm, là họ không còn biết lấy một danh từ Cao Miên nữa.
Tuy nhiên, vị anh hùng hạng ba ấy lại vô cùng quan trọng vì
đó là chứng tích mà đại đa số quần chúng thấy ngay và tin ngay, khi họ chưa tin
khoa đo sọ.
Hơn thế, nó giúp ta biết những chi tiết vụn vặt mà hai khoa lớn
hoàn toàn không biết. Thí dụ vua Hùng Vương thuộc đợt I hay II thì chỉ có ngôn
ngữ tỷ hiệu mới cho biết được mà thôi. Nói là vụn vặt, nhưng thật ra là rất
quan trọng đối với thượng cổ sử riêng của dân tộc ta. Vụn là vụn đối với những
đường nét lớn là chủng Mã Lai mà thôi.
Người ta đã cãi nhau từ hơn nửa thế kỷ nay, và có kẻ cho rằng
vua Hùng Vương không có, mà chỉ có Lạc Vương. Chưa phe nào thắng hẳn, nhưng
khoa ngôn ngữ tỷ hiệu sẽ cho biết là có vua Hùng Vương, ông ấy quả đã lấy hiệu
là Hùng Vương, và ông ấy thuộc đợt Mã Lai I, tức hậu duệ của Xy Vưu, chớ không
phải của Câu Tiễn. Bọn Câu Tiễn chỉ là bọn bổ sung, 2.500 năm sau mới xuất hiện.
Chúng tôi nhượng bộ khoa học rằng chứng tích ngôn ngữ không nặng
cân bao nhiêu vì một dân tộc có thể mất hết cả ngôn ngữ, và vay mượn toàn bộ của
một dân tộc khác. Nhưng xét ra thì từ 5.000 năm nay ta không hề bị dân Mã Lai
cai trị, cũng không hề có tiếp xúc với Mã Lai đợt II (trừ cuộc tiếp xúc tại Nam
kỳ cách đây 300 năm) thì sự giống nhau của ngôn ngữ Mã - Việt chỉ có thể là đồng
gốc. Giả thuyết vay mượn của giáo sư Nguyễn Đình Hoà (Cù Lao = Pu Lô) phải được
loại ra một cách không do dự.
Hơn thế, cái chủ trương rằng khoa khảo tiền sử và khoa chủng
tộc học là hai chứng tích ưu tiên nhứt và nhì, coi vậy mà có mang nặng nhiều
khuyết điểm, trong khi chứng tích ngôn ngữ lại cho ta biết quá rõ các chi tiết
về cổ thời mà hai chứng tích kia đều bí. Có nhiều sự thật lớn lao mà khoa khảo
tiền sử thiếu sót, ta cũng biết được, nhờ khoa ngôn ngữ tỷ hiệu.
Thí dụ, nhìn tóm lược trên, thì ta thấy rằng bọn Mã Lai đợt
II không có ghé Đông Dương, Đông Pháp gì cả. Nhưng khi học ngôn ngữ của người
Chàm và người Phù Nam thì ta thấy rằng chẳng những họ có ghé, mà họ còn đã lập
ra ở đó hai quốc gia quan trọng vào đầu Tây lịch, vì ngôn ngữ của Chàm và ngôn
ngữ Phù Nam thuộc ngôn ngữ của Mã Lai đợt II, chớ không phải đợt I.
Riêng ở Việt Nam ta thì họ cũng có ghé qua đông đảo, khiến Việt
ngữ gồm cả hai ngôn ngữ, đợt I và đợt II. Làm thế nào để phân biệt ngôn ngữ của
đợt I và ngôn ngữ của đợt II thì chúng ta sẽ có cách, chỉ biết là cái khoa bị
khoa học chê, lại rất quan trọng một cách bất ngờ và bị các nhà bác học bỏ quên
đi, nên họ không biết những gì mà ta biết, những gì đó, không phải chỉ có chi
tiết, mà có những sự kiện then chốt trong đó nữa.
Tiếng "ta" ở đây không có nghĩa là Việt Nam, vì mặc
dầu là Việt Nam, người Việt Nam cũng không thể viết sử đúng cho họ. Ta, nghĩa
là những người có sử dụng chứng tích hạng ba mà các nhà bác học chê, tức họ là
Tây hay Tàu gì cũng được, miễn họ có học đủ thứ ngôn ngữ Á Đông, sinh ngữ lẫn cổ
ngữ.
Vì đây là trích sách, gần như là dịch, nên chúng tôi bắt buộc
phải dùng các danh từ mà các nhà bác học và ông G. Cocdès đã dùng.
Đó là danh từ Đông Dương và Đông Pháp.
Ở xứ ta, hai danh từ ấy đã bị bỏ từ 25 năm rồi, nên xin định
nghĩa lại, theo lối hiểu của những người dùng danh từ, để người đọc sách cũng
được hiểu y như họ.
Đông Dương là vùng đất nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, cũng được
gọi là Ấn Hoa hoặc Hoa Ấn (Indochine).
Còn Đông Pháp là vùng đất nhỏ hơn, nằm trong Đông Dương, vốn
là thuộc địa của Pháp, và gồm Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên (Indochine francaise).
Nói như vậy thì Đông Dương gồm Đông Pháp, Thái Lan và Miến Điện.
Còn bán đảo Malacca, tức nước Mã Lai Á nay, thì có khi được cho nhập vào Đông
Dương, có khi không.
Và xin nhắc rằng Mã Lai Á chỉ là tên một nước ở bán đảo
Malacca, còn chủng tộc Mã Lai thì là chủ đất của nước Mã Lai Á, của nước Anh Đô
Nê-xi-a, của nước Phi Luật Tân và của vô số đảo ở Thái Bình Dương.
Người ta nói đến chủng Mã Lai, thế mà giáo sư Kim Định lại
cho rằng nói đến Mã Lai Á. Không bao giờ có ai nói đến Mã Lai Á hết vì đó là
tên một nước nhỏ. Người ta nói đến chủng Mã Lai mà chủng này thì đông trên 300
triệu, ở khắp nơi, vì Nhựt Bổn và Việt Nam cũng là Mã Lai.
Ngày nay Mỹ, Anh và người Việt Nam tiến bộ gọi Đông Dương là
Đông Nam Á lục địa, còn Phi Luật Tân, Indonésia, Mã Lai Á và các quần đảo
Mê-la-nê, quần đảo Đa Đảo thì được gọi gộp là Đông Nam Á hải dương. Địa danh
Đông Pháp bị bỏ luôn, không được thay bằng gì hết.
Ở đây có sự nói tắt, người Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà
Mau đã được đo sọ rồi, và sọ của Việt Nam là sọ Mã Lai. Chúng tôi chưa trình
bày những kết quả đo sọ và chưa đối chiếu mà lại nói Việt Nam là Mã Lai thì là
tiên tri rồi vậy.
Nhưng chỉ tiên tri có mấy mươi trang thì không sao. Tại tới
lúc cần nói thì phải nói, còn chứng tích thì ở chương tới quý vị sẽ thấy.
Tất cả những dân tộc ở trên lộ trình di cư mà khoa khảo tiền
sử kể Rađêu mang sọ Mã Lai và đều nói tiếng Mã Lai: Đại Hào, Nhựt Bổn, Việt
Nam, Célèbes v.v.
Đây là công trình bác học quốc tế, đã được kiểm soát rồi và
được công nhận là đúng, nhưng đề phòng những ông Kim Định và Lê Văn Siêu cho là
"mơ hồ", là "đón ý kẻ mạnh", là "ngược xuôi",
chúng tôi làm công việc kiểm soát lại công trình ấy bằng khoa chủng tộc học và
ngôn ngữ tỷ hiệu, và bằng cổ sử Tàu, xem công trình của các nhà bác học mà ông
G. Cocdès tóm lược có đứng vững hay không.
Chúng tôi kiểm soát tất cả kết quả về các chủng Négrito,
Mê-la-nê v.v. chớ không riêng gì về chủng tộc Anh Đô Nê, nhưng lịch sử các chủng
kia, sọ của họ, ngôn ngữ của họ, chẳng dính líu gì đến dân tộc Việt Nam cả, mà
chỉ có chủng tộc Anh Đô Nê là ăn khớp với ta từ 5.000 năm nay, không có gì sai
chạy hết. Thế nên chúng tôi chỉ trình kết quả của cuộc kiểm soát về chủng Anh
Đô Nê mà thôi, để đi đến cuộc kết luận về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam.
Sự kiểm soát của chúng tôi có sức nặng hơn những cuộc kiểm
soát của các nhà bác học Âu Mỹ, họ chỉ kiểm soát xem công trình khảo tiền sử có
được làm đúng phép hay không, còn chúng tôi thì kiểm soát bằng cách bổ túc công
trình của họ bằng bốn môn: chủng tộc học, ngôn ngữ tỷ hiệu, thượng cổ sử Ấn Độ,
thượng cổ sử Trung Hoa.
Nó có sức nặng hơn vì nó thêm chứng tích chớ không phải
"rà" lại chứng tích đã tìm được, nó lại có sức nặng vì dễ hiểu đối với
dân chúng, dân chúng không hiểu khoa khảo tiền sử, khoa chủng tộc học cho rõ được,
nhưng khi chúng tôi chứng minh được rằng tiếng Việt Nam đích thị là tiếng Mã
Lai bằng vài trăm bảng đối chiếu thì ai cũng hiểu tức khắc và tin tức khắc.
Cuộc kiểm soát này kéo dài cho tới trang chót của quyển sách
chớ không phải là bằng vài trang, nhưng riêng ở đây thì chỉ có vài trang thôi.
Ta sẽ kiểm soát thêm ở các chương cho thấy ngay là khoa khảo tiền sử không mơ hồ,không
đắc ý bao giờ, mà nó đúng một cách kinh dị.
Đây là một danh từ chung của cả hai bọn cổ Mã Lai di cư thành
hai đợt cách nhau 2.500 năm:
Lá cây
Việt Nam: Lá
Nhựt Bổn: Hạ
Chàm: Hala
Célèbes: Hạalaa
Cổ ngữ Tây Âu: Lá (Quảng Đông là dân cổ Tây Âu biến thành Tàu. Hiện nay họ dùng
song song hai danh từ là Dip, tức Diệp và La).
Cổ ngữ Ba Thục: Lạ
Khả văn minh: Lá
Khả Lá Vàng: Sula
Cao Miên: Slat
Mã Lai Á: Lay u
Mã Lai Kedat: Kalat
Mã Lai Sembilan: Selara
Mường: La
Mạ: Nhla
Giarai: Laa
Sơ đăng: Hlaa
Bà na: Hlaa
Nhựt Bổn và Triều Tiên vì lai giống với ai đó nên không còn
âm L y như Tàu không có R. Tàu thiếu âm R nên biến âm R thành L,
thí dụ Chanh Ra, họ phiên âm là Chơn Lạp. Nhưng Nhựt Bổn
thì không thể thay cái âm L thiếu đó bằng âm R vì danh từ
Hara của họ lại đã có rồi, lại mang một nghĩa rất là thiêng liêng, họ không dám
động tới. Hara của họ là Trời. Họ thờ Trời y hệt như dân Đông
Sơn, chỉ có khác là nhờ không bị ngoại chủng diệt tục và diệt tôn giáo, nên họ
còn nói đến Thái Dương thần nữ, còn Việt Nam thì không. Nhưng Việt Nam còn được
hình mặt trời ở trống đồng.
Chỉ hơi lạ ở chỗ này là Nhật còn khá đa âm như Mã Lai, thí dụ:
Việt Nam = Món
Nhựt Bổn = Mônô
Để giữ tánh cách đa âm đó, họ hay thêm thắt ô, ư, a lung tung
beng, thí dụ Cha là Trà thì đúng rồi, thế mà họ cứ nói là Ôcha, theo thói quen
đa âm. Lại thí dụ Tera là Tự tức Cái chùa thì cũng khá đúng rồi, mặc dầu người
ta có một âm mà họ biến ra thành hai, thế mà họ vẫn chưa vừa lòng, nói là Ô
Tera. Nhưng lạ lùng thay, trong Hạla thì họ để mất luôn La, không thêm thắt gì
hết.
Cao Miên chịu ảnh hưởng của chủng Mê-la-nê nên rất ưa thêm S
và Chx ngoài trước các danh từ Mã Lai, chẳng hạn như ở đây thì thay vì là Lat họ
nói là Slat. Thí dụ Bông (Hoa) của Việt Nam, thì họ nói là Chxba, không kể danh
từ vay mượn của Tàu là danh từ Phôka tức Foá, tức Fá, tức Wá của Tàu.
Riêng Việt Nam thì chúng tôi bắt được bằng chứng rằng xưa kia
tiếng ta đa âm y như Mã Lai. Chịu ảnh hưởng Tàu, chúng ta thành độc âm, nên
chúng ta bỏ bớt Hạ. Nhưng người cổ Việt, hiện còn sống sót là người Khả Lá Vàng
vẫn nói đa âm là Sula.
Nhưng không cần những chú thích này, nhìn vào biểu đối chiếu
ta cũng thấy ngay là danh từ ấy, bề ngoài có vẻ khác nhau, nhưng vẫn đồng gốc
mà ra.
Xin chú ý: Có 5 nhóm khởi sự bằng tử âm L, 5 nhóm khởi sự
bằng tử âm H, 3 nhóm bằng tử âm S, một nhóm bằng tử âm K.
Hai nhóm có mọc đuôi T, một nhóm mọc đuôi Ra và
một nhóm mọc đuôi Yu. Nhưng cái bộ xương bên trong cứ là La, không có
nhóm nào mà thiếu La được cả, trừ Nhựt Bổn.
Nhưng nhóm Thái Lan, cũng đồng gốc Thái với Cổ Tây Âu và Cổ
Thục, thì lại không có La. Họ nói là Bai. Nhóm Lào, cũng đồng gốc với
Thái lại nói là Thông. Có lẽ là vay mượn của chủng Mê-la-nê mà họ có lãnh
đạo một thời khá dài ở Vân Nam.
Thí dụ thứ nhì cho ta thấy những biến dạng đã xảy ra y hệt
như vậy đối với các danh từ, đại khái, một nhóm chỉ lấy khúc đầu, một nhóm chỉ
lấy khúc đuôi, y hệt như Hạ + Lá, nhưng gốc tổ vẫn là nhị âm, nhị chớ không phải
đa như thiên hạ cứ tưởng.
Thí dụ: Núi non
Việt Nam: Non
Cổ ngữ Ba Thục: Non
Cổ ngữ Phù Nam: B’nam
Mạ: Ph’nơm
Cổ ngữ Môn và Cao Miên: Ph’nom
Mã Lai: Gunông
Thái: Phu hoặc Phunông
Ta thấy gì? Y như với danh từ Hala, ta thấy có nhóm lấy
âm đầu, thí dụ Thái chỉ lấy Phu, có nhóm chỉ lấy âm sau, thí dụ Cổ Ba Thục
và Việt Nam chỉ lấy âm sau là Non, có nhóm lấy trọn vẹn hai âm nhưng có biến dạng,
thí dụ Phù Nam và Cao Miên.
Đặc biệt Việt Nam thì ta vừa biến Phunông thành Non,
vừa biến Gunông thành Gò Nổng.
Thói quen của chủng Mã Lai là thế về danh từ hoặc danh xưng.
Mặc dầu ngôn ngữ của họ nhị âm (có vài danh từ tam âm hiếm hoi), họ thường chỉ
lấy một hoặc hai âm mà thôi.
Danh tự xưng của họ cũng theo luật đó, từ cổ chí kim, thí dụ ở
Hoa Bắc họ chỉ tự xưng là Lai (thay vì Mã Lai) mà Tàu phiên âm sai là Lê, là Lạc,
và rốt cuộc là Lai vào đời Tây Chu, còn ở vài nơi khác, họ chỉ tự xưng là Mã,
là Mạ.
Ở Nam Kỳ có một nhóm Thượng nay rút lên Cao nguyên Lâm Đồng,
chỉ tự xưng là Mạ (mà chúng tôi nghĩ rằng họ là người Phù Nam vì họ nói tiếng
Mã Lai đợt II y như Phù Nam) và sử Chàm cũng có cho biết rằng vào thời Trung Cổ
người Chàm có diệt một tiểu bang đồng chủng ở lối Phú Yên, Bình Định, tên là Mạ
Đạ, hay Mã Đa.
(Mạ Đạ thì ở Nam Kỳ cũng có. Đó là tên một con sông của người
Mạ mà nay dân Biên Hoà biến thành Mã Đà).
Những điều trên và dưới đây đã được chúng tôi nói đến rồi, lại
nói nữa ở đây và sẽ nói nữa ở nơi khác. Khuyết điểm ấy, giới khảo cứu Âu Mỹ gọi
là Redites, nghĩa là nói đi nói lại một điều đã nói rồi.
Sở dĩ có Redites là vì một điều cần phải nói lại ở
nhiều chương. Nhưng Âu Mỹ xén bớt Redites, còn chúng tôi thì cố ý để
nguyên vẹn hầu nhấn mạnh về các điểm mà chúng tôi cho là quan trọng, và đó là
các điểm then chốt lại dễ bị chìm mất trong năm bảy trăm trang sách, cần đưa
cao nó lên để chứng tích được nhớ rõ hoài hoài, hoặc để xoá những ngộ nhận lâu
đời nào đó mà chúng tôi nhứt định phải xoá bỏ.
Những Redites trong sách này làm cho văn của sách
hoá ra kém cỏi, nhưng chúng tôi không ngại vì bị chê viết văn dở, vì chúng tôi
nhằm mục đích khác hơn là viết văn.
Ai lại không muốn cho một quyển dạy nuôi gà chẳng hạn, được
viết bằng một lối văn hay, nhưng khi mà không dung hoà được văn hay với cái mà
tác giả cần làm lộ rõ ra, thì tác giả phải hy sinh một trong hai món đó, chớ
không thể cả tham. Phương chi chúng tôi lại mong ước sách này được những người
không chuyên môn theo dõi, thì những Redites rất cần. Chỉ có những
người nhà chuyên môn mới thấy ngay và nhớ kỹ những điểm quan trọng nằm ẩn trong
hàng triệu từ của những trăm trang sách này, còn một người không chuyên môn thì
sẽ không nắm vững được quá nhiều yếu tố quan trọng của sách.
Trước khi có kết quả khảo tiền sử cho khắp Á Đông thì trên đời
này không ai biết rằng có Mã Lai đợt II cả, mặc dầu họ thoáng thấy sự giống
nhau giữa Môn ngữ, Khơ Me ngữ, Tạng ngữ, Việt ngữ, Nam Dương ngữ v.v.
Nhưng khi mà khoa khảo tiền sử đã làm việc xong, và nhứt là
khoa đo sọ đã làm việc xong, thì người ta mới hay rằng Tạng, Miến, Cao Miên, Việt
Nam gì cũng là Mã Lai đợt I cả, và sự giống nhau về ngôn ngữ là sự đồng chủng
chớ không phải là vay mượn.
Thế giới chỉ biết có Mã Lai đợt II là người Nam Dương vì họ
đang tự xưng là Mã Lai, và tưởng họ phát tích tại Nam Dương. Giáo sư Kim Định
cũng chỉ biết tới chừng đó, nên giáo sư khuyên ta đừng tìm nguồn ở Nam Dương.
Giáo sư có linh cảm rất hay là ta từ phương Bắc mà đến, nhưng
chỉ hay riêng đối với dân ta thôi, chớ giáo sư không hề nghĩ rằng ta là Mã Lai.
Và đó chỉ là linh cảm, mà vì làm việc bằng linh cảm cho nên giáo sư mới gán
ghép, nhập Miêu vào Việt nhưng bỏ Nam Dương ra và gọi họ là Mán, Thổ với cái
nghĩa sai là Mọi, chớ theo nghĩa chủng tộc học thì Mán thuộc Miên chủng và Thổ
là một phụ chi của Âu tức Thái, cả hai thứ đều không hề có mặt ở Nam Dương bao
giờ cả.
Nhưng giáo sư chưa kịp học khoa khảo tiền sử đúng thì không
sao, chỉ có điều là trong lời khuyên giáo sư có nói một câu rất là trái với điều
mà khoa học đã biết rồi. Giáo sư nói rằng tìm nguồn gốc từ phương Bắc mới
đúng luật chung của nhân loại (V.L.T.N. lúc còn đăng báo B.K.). Làm
gì mà có cái luật chung ấy. Rõ ràng là dân Á Rập đã từ Yémen, tức từ phương
Nam, di cư lên Arabie Saoudite rồi di cư lên Bắc Phi, lên Ba Tư, Ấn Độ, Tây Ban
Nha v.v.
Khoa khảo tiền sử không biết dân Mã Lai từ đâu mà di cư đi Đại
Hàn, Nhựt Bổn, Việt Nam, cách đây 5.000 năm, nhưng ta thì biết. Họ từ Hoa Bắc
mà di cư. Nhưng họ cũng không phải phát tích từ Hoa Bắc đâu. Linh cảm của giáo
sư Kim Định chỉ đi tới Hoa Bắc mà thôi.
Ở đây chúng tôi lại nói đi nói lại về bọn Cửu Lê.
Khoa khảo tiền sử phải dè dặt đến mức tối đa vì họ không tìm
thấy sọ Mã Lai ở Hoa Bắc nên mới kết luận như vậy. Nhưng ta sẽ nối kết được bọn
di cư đi Triều Tiên với bọn Cửu Lê, khi ta nối kết được rồi thì rõ ràng là Cửu
Lê chưa biết nông nghiệp trước khi di cư để bị Hiên Viên cướp nền văn minh nông
nghiệp của họ.
Ở đây thì ta phải làm việc bằng cách ngược nguồn. Cái bọn di
cư đi Triều Tiên ấy, đến đời Tây Chu thì đã được sử nhà Chu gọi bằng một thứ
thương nghiệp khác là Lai Di. Sử ấy cũng cho biết rằng Lai Di là Rợ
Tam Hàn trước kia.
Trước kia là vào thời nào? Vào đời nhà Thương của Tàu. Cuối đời
Thương thì rợ Tam Hàn đã dựng lên được ba tiểu vương quốc tên là Cao Cú Lệ tức
Cao Câu Ly, Tân La và Bách Tế (có sách viết là Bách Tề).
Lại cũng cứ sử đời Chu cho biết thì trước kia nữa, rợ Tam Hàn
vốn là dân Lạc bộ Trãi, tức là dân Đông Di, gốc ở cực Đông Bắc của Trung
Hoa thượng cổ.
Rợ Đông Di này được tả là xâm mình và nhuộm răng đen. Mặt
khác rợ Đông Di lại không phải chỉ có mặt tại cực Đông Bắc của Tàu, mà gốc ở
vùng sông Bộc và đã được gọi là Bách Bộc.
Sông Bộc là một phụ lưu của sông Hoàng Hà, phát nguyên từ Sơn
Đông rồi chảy qua Bắc Hà, vào Hà Nam mới đổ vào Hoàng Hà. Đó là nơi mà về sau
nước Trịnh được thành lập và không xa Trác Lộc bao nhiêu, nơi mà Hiên Viên diệt
Xy Vưu.
Thời điểm di cư của Mã Lai đợt I được khoa khảo tiền sử định
là 5.000 năm, cũng rất ăn khớp với thời điểm mà Hiên Viên diệt Xy Vưu.
Vậy bây giờ ta lại xuôi dòng năm tháng.
Cửu Lê = Lạc bộ Trãi = Lai Di = Mã Lai đợt I
Không phải là trong 9 thứ dân Lê chỉ có Lạc bộ Trãi như đẳng
thức trên đây cho thấy, mà nó là 1 trong 9 thứ Lê, vì rồi ta sẽ thấy là còn nhiều
thứ Lạc nữa.
Nhưng đẳng thức cho thấy Tàu đã phiên âm sai và họ đã lần dò
từ thời Hiên Viên đến đời Tây Chu mới phiên âm đúng được và Lê, Lạc gì cũng chỉ
là Lai đọc sai chớ không phải là ba thứ dân khác nhau.
Hàng ngàn năm về sau, Tàu đã văn minh lắm rồi mà cũng phải mất
nhiều trăm năm mới phiên âm đúng tên một dân tộc mà thí dụ điển hình hơn hết là
danh xưng của nước Cam-bu-chia ngày nay.
Từ thế kỷ VII, nước Chơn Lạp cũ đổi quốc hiệu là Cam-bu-ja.
Tàu phiên âm là Cam-bố-trí. Nhưng họ lần dò mãi cho tới cuối đời Đường mới qua
hai lần phiên âm nữa là Cam-phá-giá, rồi rốt cuộc Giản-phố-trại.
Đọc theo Quan Thoại thì Giản-phố-trại (Kan-pú-cá) giống
Cam-bu-ja hơn Cam-phá-giá và Cam-bố-trí.
Thế thì Cửu Lê chỉ là Cửu Lạc, tức Cửu Lai, tức 9 nhóm Mã
Lai.
Vì có địa bàn ở cực Đông Bắc Trung Hoa thượng cổ nên nhóm Lê
này mới di cư như vậy, chớ các nhóm khác di cư qua nẻo khác, nhưng sử Tàu theo
dõi bọn Lạc bộ Trãi bén gót hơn các bọn kia, nhờ thế mà ta tìm được sợi dây nối
kết trên kia, không thôi ta sẽ không biết Mã Lai đợt I di cư từ đâu, y hệt như
khoa khảo tiền sử.
Nhưng tại sao chỉ có Lai mà không có Mã? Như đã nói, có thể
vì hai lý do, nhưng không biết lý do nào là đúng.
Tàu độc âm nên có khuynh hướng bớt âm.
Mã Lai cũng có khuynh hướng lấy một trong nhị âm của họ, về
danh từ hay danh tự xưng đều như thế cả.
Nhưng về sau Tàu biết một nhóm Lạc khác thì viết Lạc đó với bộ
Mã mà ta có thể hiểu rằng dân đó tự xưng là Mã Lai nhưng chính Tàu bỏ bớt âm,
nhưng vẫn ghi chép cái nghe thấy của họ bằng bộ Mã.
Chúng ta đã thấy rằng Âu tức Thái và Lạc luôn luôn sát cánh với
nhau, có sọ giống nhau, có ngôn ngữ giống nhau, nên chúng ta có thể kết luận rằng
trong 9 thứ dân Lê có chi Âu tức Thái nữa, nhưng vào thuở ấy thì Tàu chưa phân
biệt được như về sau, mà họ gọi cả Âu lẫn Lạc bằng Lê tức là Lai đọc sai, và Âu
hay Lạc gì cũng tự xưng là Lai hoặc Mã Lai cả.
Thượng Cổ thời: Lê = Âu + Lạc
Cổ thời: Việt = Âu + Lạc
Hai đẳng thức trên đây viết ra không phải để nói rằng Lê = Việt,
vì nói như vậy là thừa mà để cho thấy rằng trong Cửu Lê phải có Âu tức Thái.
Căn cứ vào đời Chu thì Tàu chợt biết đến Thất Mân ở Phúc Kiến
và họ gọi dân đó là Lạc bộ Mã. Thế nghĩa là Lạc có mặt cả ở Hoa Nam nữa, chớ
không riêng gì ở Hoa Bắc.
Nhưng ta chỉ theo dõi địa bàn Hoa Bắc mà thôi, để dứt khoát về
bọn Cửu Lê.
Theo sử Tàu thì cạnh địa bàn của Cửu Lê có dân Lạc Lê rồi mới
tới dân Lạc. Dân Lạc Lê này, ta sẽ tìm lại được ở Hải Nam, ở Nhựt Nam, và họ là
kết quả của sự lai giống giữa hai nhóm đồng chủng là Lê + Lạc, cũng như Sơ Đăng
lai giống với dân khác trên Cao nguyên của ta ngày nay.
Tới đây ta chỉ mới thấy có 3 thứ Lạc là Lê chánh hiệu, Lạc Lê
và Lạc bộ Trãi.
Nhưng rợ Khuyển Nhung cũng có dân được gọi là Lạc nhưng viết
với bộ Chuy.
Lạc bộ Chuy là sông chảy từ Thiểm Tây sang Ba Thục và đó là đất
của rợ Khuyển Nhung. Nhưng con sông này ngày nay viết khác nhưng xưa thì viết với
bộ Chuy. Nhưng dân Khuyển Nhung ít khi gọi là Lạc bộ Chuy nên ta quên mất bọn Lạc
đó.
Cũng nên biết rằng có đến hai sông Lạc, một ở Bắc Hà Nam, viết
với bộ Thuỷ và sông Lạc này đây.
Ta xét qua các tự dạng mà Tàu đã dùng để chỉ ta thì ta bỗng
thấy là họ quá giỏi. Họ chỉ bằng cả ba chữ Lạc, vì quả thật ở Cổ Việt có hai thứ
Lạc, khác với kết luận của khoa khảo tiền sử.
Sự đối chiếu ngôn ngữ đã cho chúng tôi thấy như vậy.
Sách Tàu chỉ ta bằng Lạc bộ Trãi. Đó là Lạc biến thành rợ Tam
Hàn của Nhĩ Nhã, Chu Lễ và Mạnh Tử.
Hậu Hán thư trong một trang sách mà gọi ta bằng Lạc bộ
Trãi và Lạc bộ Mã, khiến ai cũng ngỡ Phạm Việp viết xô bồ, nhưng họ Phạm viết rất
ý thức vì ở Cổ Việt Nam quả cũng có mặt Lạc bộ Mã như ngôn ngữ tỷ hiệu sẽ cho
thấy.
Còn Thuỷ Kinh Chú chỉ ta bằng Lạc bộ Chuy cũng không
có sai chút nào hết.
Đã hẳn có lần, dân Khuyển Nhung bị gọi là Lạc bộ Chuy, mà
Khuyển Nhung là tổ tiên của người Môn, người Miến Điện.
Người Môn lại giống hệt người Cao Miên về ngôn ngữ, Việt Nam
cũng thế. Ta với Thái còn khác nhau nhiều hơn là ta với Cao Miên nữa.
|
Cao Miên: Kôn |
Cao Miên: Chau |
|
Việt Nam: Con |
Việt Nam: Châu |
|
Cao Miên: Soạt |
Cao Miên: Suôn |
|
Việt Nam: Sạch |
Việt Nam: Vườn |
|
Cao Miên: Sát (Thú) |
|
|
Việt Nam: Vận (Thú) |
Thế thì cả ba thứ Lạc đều có mặt tại Việt Nam nên ngôn ngữ của
ta nó mới hỗn hợp như thế đó, vừa giống Nhựt Bổn (bộ Trãi), vừa giống Nam Dương
(bộ Mã) vừa giống Cao Miên (bộ Chuy) vừa giống Thái (Mã + Trãi).
Những danh từ Thái Lan giống Cao Miên chỉ mới giống từ thế kỷ
XII, còn các nhóm Thái khác thì không giống Cao Miên, tức trong nhóm Thái không
có Lạc bộ Chuy.
Mà ý thức hơn hết là các sử gia Việt Nam đời xưa, họ chỉ dùng
chữ Lạc bộ Trãi mà thôi, vì quả ở Cổ Việt Lạc bộ Trãi chiếm đa số, Lạc bộ Mã và
Lạc bộ Chuy thiểu số.
Chỉ có các ông Tàu đời sau là lầm. Từ ngày ta thu hồi độc lập
(Đinh Bộ Lĩnh) thì ấn vàng mà vua Tàu ban cho ta đều có khắc hình con lạc đà.
Đó là một lối nói thầm của người Tàu rằng ta là Lạc bộ Mã, vì
chữ Lạc trong "lạc đà" viết với bộ Mã.
Tự dạng Lạc trong Việt sử cũng gây thành án như hai danh xưng
Lạc vương và Hùng Vương, và nay thì đã rõ. Không có ai viết sai cả, họ chỉ phiến
diện mà thôi, riêng Hậu Hán thư thì lại đồng nhứt với lối dùng tự dạng
xô bồ. Trong một chương sách, Phạm Việp viết lung tung với chữ Lạc này rồi với
chữ Lạc nọ, xem như là ông ấy không biết Lạc là gì hết.
Người Tàu biết Lạc rất rõ, trái với quan niệm của giáo sư
Nguyễn Phương, ông cho rằng tác giả Nam Việt Chí lúng túng vì không
biết Lạc là gì, nên giải thích không ổn.
Chỉ phiền là ta chỉ tìm được có 4 nhóm Lê trong 9 nhóm. Nhưng
các nhóm khác chắc cũng chỉ là phụ chi mà thôi, và cái nhóm quan trọng nhứt nó
giúp ta truy ra được:
Lê = Lạc = Lai
là đủ cho ta lắm rồi.
Cũng nên biết rằng cái thứ người tồn tại ở Hoa Nam hiện nay,
mà Tàu gọi là Lê, thật ra chỉ là Lạc Lê mà thôi. Chúng tôi biết như vậy nhờ có
học ngôn ngữ của người Lê di cư đến Việt Nam.
Người Tàu phân biệt dân Hải Nam ra là Sanh Lê, tức Lê sống, tức
Lê còn dã man, và Thục Lê, tức Lê chín, tức Lê theo văn hoá Tàu. Người Thục Lê
có di cư tới xứ ta với danh nghĩa là người Tàu Hải Nam.
Lệ Đạo Nguyên, tác giả Thuỷ Kinh Chú, cho biết rằng người
Lê ở Hải Nam giống hệt người Nhựt Nam, mà người Nhựt Nam xét ra là người Lạc
Lê. (Xin xem chương Không có đế quốc Việt Nam).
Cả Lạc bộ Mã (Phúc Kiến) cũng chỉ là Lạc Lê vì những danh từ
cổ mà Phúc Kiến và Hải Nam còn giữ được giống hệt nhau. Đó là một thứ tiếng Mã
Lai na ná tiếng Chàm.
Vậy mà khi Hải Nam là Lạc Lê thì Lạc bộ Mã ở Phúc Kiến cũng
phải là Lạc Lê.
Vụ án chữ Lạc đã được xét xử và, không có can phạm nào hết, tất
cả đều trắng án, và nên khen sự xô bồ của Phạm Việp.
*
Nhờ truy ra được Lê = Lạc = Lai nên ta không được phép thắc mắc
về cái nơi xuất phát di cư của Mã Lai đợt I trong khi khoa khảo tiền sử đã nín
im.
Có thế nào mà họ từ Mãn Châu hay Mông Cổ mà di cư chăng?
Không, vì ở Mãn Châu và Mông Cổ cũng không có sọ Mã Lai, lại cũng không có sợi
chuỗi Lê = Lạc + Lai như ở Đông Bắc, Hoa Bắc.
Hai nhà bác học Mansuy và Colani rất bí về cái lưỡi rìu có
tay cầm này lắm, vì họ chỉ làm việc ở Đông Dương nên không làm sao mà có
"một cái nhìn tổng quát" được như giáo sư Nguyễn Phương đòi hỏi.
Giáo sư Nguyễn Phương lại càng bí hơn, mặc dầu chính ông đã
đòi hỏi như thế vì ông chỉ đọc có Mansuy và Colani, còn những công trình đào bới
ở Triều Tiên, Nhựt Bổn, Célèbes, Nam Ấn, Miến Điện thì ông không hay biết, thế
nên ông có bắt được chứng tích là lưỡi rìu tay cầm, nhưng chứng tích ấy không
giúp ích cho ông được chút nào hết.
Ông loay hoay mãi với cái lưỡi rìu tay cầm ấy khá lâu mà
không dè rằng đó là một khám phá lớn vào bậc nhứt trong công việc khảo tiền sử ở
Á Đông, nó cho biết nhiều điều quan trọng là chủng Mã Lai từ Hoa Bắc di cư xuống,
chớ không phải từ Mã Lai di cư lên, nó lại cho ta biết bọn Anh Đô Nê-diêng đã tới
hang Làng Cườm từ bao lâu rồi, trở thành dân nào hiện nay hay đã biến mất.
Ở phụ chương Chủng Trung Mông Gô Lích chúng tôi đã
bác bỏ Việt lý tố nguyên của giáo sư Kim Định mà không nói thật rõ đủ
cả chi tiết, vì không thể nói đủ được, bởi chưa đến lúc phải nói. Và bây giờ đã
nói được rồi đó.
Cửu Lê, hiểu theo lối thứ nhì của giáo sư Kim Định, tức hiểu
là Viêm, Việt (hiểu theo lối thứ nhứt các bộ lạc Trung Hoa chưa thống nhứt với
nhau, cũng cứ là lối hiểu độc nhứt của tác giả, nhưng tác giả đó đi từ lối hiểu
thứ nhứt đến lối hiểu thứ nhì không có bắc cầu, làm như là có một cuộc biến giống
Việt = Tàu) cái bọn Cửu Lê ấy là bọn Mã Lai Hoa Bắc di cư vào đợt I này đây.
Chúng tôi đã bảo rằng không có dấu vết của họ ở Hoa Bắc,
nhưng lại có ở cạnh đó, tức có bắt đầu từ Đại Hàn, là như thế đó. Và chúng tôi
cũng đã chứng minh đây đó rằng Cửu Lê tức là chín nhóm của một chủng tộc không
phải là Tàu.
Giáo sư Kim Định nói đến "Lịnh ông Cồng bà" tức là
cho rằng đã có hợp chủng Hoa Việt ở Hoa Bắc, nhưng mà không hề có sọ lai Hoa Việt
ở Hoa Bắc.
Giáo sư Kim Định dùng câu này hơi nhiều: "Ai có tai thì
nghe lấy".
Thế nghĩa là ai không hiểu như giáo sư hiểu đều là khoảng tai
trâu hết thảy. Nhưng hiểu theo giáo sư thế nào được khi mà không có sọ Việt hay
sọ Hoa Việt tại Hoa Bắc.
Giáo sư dựng đứng lên một vụ đánh cướp văn minh với những chứng
tích ngược xuôi rồi nói là ai hiểu rõ như vậy mới là người có tai thì thật là
làm cho độc giả khó xử quá. Không hiểu như giáo sư, e rằng bị xem là kẻ tai
trâu, nhưng hiểu theo giáo sư thì nó trái với các sự kiện khoa học.
Thuyết của giáo sư khả nghi ở đủ cả mọi mặt.
Về phụ hệ Hoa chủng thì cũng đáng ngờ lắm.
Theo sử Tàu thì tới đời nhà Thương họ vẫn còn theo Mẫu hệ thì
làm thế nào dưới đời Hiên Viên, trước đó hàng ngàn năm, họ lại đã theo Phụ hệ
được chớ?
Quả thật thế, sử Tàu cho biết rằng dưới đời nhà Thương không
có việc truyền ngôi cho con, mà truyền ngôi cho các em đồng mẹ.
Đúng là lối truyền ngôi của Chiêm Thành mẫu hệ, dòng máu mẹ
quan trọng hơn thì con của mẹ mới là đáng kể chớ không phải con cha.
Mãi cho đến đời Tần, tàn tích mẫu hệ vẫn còn, và Tần Thỉ
Hoàng đã đàn áp thẳng tay bọn đi ở rể, quyết diệt cho hết di tích của chế độ mẫu
hệ, và tất cả bọn đi ở rể đều bị bắt đày ải tới những thuộc địa xa xôi mới chiếm,
như Ngũ Lĩnh chẳng hạn.
Đó là sử thật sự chớ không phải là giả thuyết chút nào hết.
Người ta đã có bằng chứng đích xác rằng mãi đến mạt điệp nhà
Chu, Tàu mới theo phụ hệ, thì làm gì có sự kiện phụ hệ Hiên Viên bị mẫu hệ Việt
xỏ mũi.
Chữ Tánh của Tàu viết với chữ Nữ và chữ Sinh.
Đó là dấu vết theo họ mẹ, và văn tự thì có trước đời Chu.
Những cái họ lớn của Tàu như Nghiêu, như Cơ, tổ nhà
Chu đều viết có chữ Nữ.
Năm 1898, lụt to ở sông Ngươn tại Bắc Hà Nam, làm lở đất, để
lộ một kinh đô nhà Thương tại một làng trong huyện An Dương.
Chữ ở mu rùa và xương thú đều cho biết rằng người Tàu thờ mẹ
và bà ngoại, chớ không phải thờ cha và ông nội.
Chuyện của vua Nghiêu nhường ngôi cho rể là vua Thuấn cũng rất
có ý nghĩa.
Như thế còn đâu là phụ hệ Hiên Viên và mẫu hệ Việt và thuyết
lịnh ông cồng bà Hoa Việt chỉ là một huyền thoại mới sáng tác.
Nhưng giáo sư Kim Định đã bảo nhà Thương là Việt, mà như vậy
thì phù hợp với chủ trương của ông. Chính Chu mới là Tàu du mục, cướp văn minh
của Thương nông nghiệp, tiếp theo cuộc cướp bóc của Hiên Viên.
Chỉ phiền là một kinh đô của nhà Thương, kinh đô Triều Ca đã
được khám phá, đào bới, và văn tự của Thương lại là chữ Tàu.
Tuy nhiên, giáo sư Kim Định cũng cứ có lý hoài, nếu theo luận
điệu của ông. Chính cái thứ văn tự ấy là của Việt bày ra, theo giáo sư. Và ông
giành hết, cả Phục Hy cũng là Việt nữa, thì chữ đời Thương mà ta ngỡ là chữ
Tàu, lại là chữ của ta.
Nhưng tại sao bọn bị ăn cướp, lúc chạy đi, lại không mang chữ
nghĩa theo, đợi đến lúc bị Mã Viện chinh phục rồi mới học lại chữ Việt mà Tàu
cướp, nói là của họ.
Nếu họ có mang chữ đó theo thì họ đã có một cuốn sách tương tự
như Hậu Hán thư, nhưng trong đó cuộc dấy quân của hai bà Trưng được trình
bày dưới một quan điểm khác.
Có lẽ họ đã có một quyển sách như thế, nhưng Mã Viện đã cướp
mất rồi chăng.
Chỉ phiền là Mã Viện ăn cướp cái gì Hậu Hán thư cũng
có khai ra hết, như ăn cướp trống đồng chẳng hạn. Thế sao lại chối đã ăn cướp
sách?
Thì ra Cửu Lê chỉ vượt sông Hoàng Hà rất ít, nhưng còn phần lớn
thì chạy bằng đường biển. Đã bảo Mã Lai cũng vô địch về thuỷ vận mà lại.
Về hướng Tây, để sang Đông Ấn Độ, họ cũng đi bộ, có lẽ là mượn
đường của một vùng đồng chủng là Ba Thục, chưa lập quốc, nhưng đã có dân.
Ta có thể tưởng tượng rằng Cửu Lê có mặt khắp Hoa Bắc và khi
bị Hiên Viên đánh đuổi, bọn phương Đông của Hoa Bắc chạy bằng đường biển, bọn
phương Tây chạy qua vùng Ba Thục để sang Ấn Độ, bọn phương Nam vượt sông Hoàng
Hà để rồi xuống vùng Dương Tử.
Còn vấn đề họ không biết trồng trọt thì trái với thuyết của
giáo sư Kim Định là họ giỏi trồng trọt, còn Hoa chủng thì còn du mục, Hoa chủng
cướp văn minh nông nghiệp của họ.
Nếu không có thuyết Kim Định thì ta không còn phải thắc mắc
gì, nhưng giáo sư Kim Định đã lập ra cái giả thuyết đó, và trình bày giả thuyết
như là sự thật lịch sử khiến ta phải bận tâm.
Nhưng nghĩ thật sâu thì thuyết Kim Định sai.
Giáo sư Kim Định cho rằng cả vua Thần Nông cũng là Việt, mà
vua Thần Nông thì có trước Hiên Viên đến tám đời vua. Nếu thế thì hai chủng tộc
Hoa Việt phải có sống chung nhau khá lâu; ít lắm cũng 50 năm.
Nhưng không, nếu họ có sống chung được chừng 50 năm thì hẳn
lưỡi rìu có tay cầm đã có mặt tại Hoa Bắc, vì bọn Lạc Lê hẳn phải bỏ rìu lại
khi chết đường, hoặc dùng rìu làm vật tuỳ táng.
Nhưng tuyệt đối không có lưỡi rìu đá mài có tay cầm tại Hoa Bắc,
và chính vì thế mà khoa khảo tiền sử mới dè dặt đến mức tối đa, nói rằng không
biết họ từ đâu mà di cư đến Triều Tiên, rồi Đài Loan, rồi Cổ Việt, v.v. Cũng
không hề có sọ Việt.
Ta phải hiểu thế nào đây?
Rất nhiều người chớ không riêng gì giáo sư Kim Định cứ phàn
nàn khoa học hẹp hòi, vì khoa học đòi hỏi những cái mà họ không thể tìm được,
nó ngăn họ lập thuyết theo ý muốn.
Nhưng một vị giáo sư đại học không được phàn nàn như người
thường vì giáo sư đại học phải biết điều này là khi một dân tộc có định cư ở một
nơi nào vào cổ thời thì luôn luôn họ có để dấu vết lại, sọ và vật dụng, không hề
có ngoại lệ.
Như vậy sự đòi hỏi của khoa học không phải là một vụ làm khó
dễ ai, và một người có văn hoá tổng quát phải chấp nhận sự đòi hỏi ấy, xem nó
là chính đáng, hơn thế, là cần thiết, bằng không thì bất kỳ ai cũng lập ra được
bất kỳ thuyết nào mà họ ưng ý hay sao.
Giáo sư đã lầm khi căn cứ vào Granet và Maspéro. Hai ông đó dựa
trên sách vở đời Chu, thấy có sự giống nhau giữa văn hoá các "man di"
và văn hoá Tàu, cho rằng có sự đồng văn vào thời cổ hơn.
Quả có sự đó thật, nhưng cổ hơn, cũng chỉ là cổ vào đời Hạ mà
Hoa chủng di cư vào đất Việt, chớ vào thời Hiên Viên thì không, bởi sự va chạm
ban đầu giữa hai chủng quá khốc liệt và kẻ bại trận chạy đi hết cả, không có ở
lại để mà hợp văn.
Sử của giáo sư Kim Định thật là kỳ dị. Chúng tôi đã đưa ra
thí dụ Tần; theo các quan niệm của giáo sư.
Giáo sư cho rằng Tần là Việt. Nhưng nó nghịch hẳn với câu tục
ngữ Tàu là Tần phì Việt sấu. Nhơn thể tính ấy cho biết rằng họ là hai dân tộc,
lại còn chỉ rõ họ thuộc hai chủng khác nhau, một chủng ăn thịt và ăn lúa mì đến
phì, một chủng ăn gạo, ăn cá nên sấu.
Nhưng khi Tần Thỉ Hoàng lên núi Thái San để chiêm ngưỡng Ngọc
Hoàng Thượng Đế thì giáo sư lại cho rằng đó là Tàu cảm hoá theo văn minh Việt
vì núi Thái San nằm trong đất của rợ Đông Di, mà rợ Đông Di là Việt.
Vậy Tần là ai? Tàu hay Việt?
Ở một nơi khác, giáo sư lại càng đích xác hơn. Ông nói rõ rằng
Tần là Khuyển Nhung chớ không phải bất kỳ Việt nào đâu.
Mặt khác ông lại viết rằng vua nhà Tây Chu thấy mặt mày Khuyển
Nhung hung tợn quá nên sợ hãi, thiên đô về Đông. Nhưng lúc thiên đô lại nhờ
Khuyển Nhung hộ tống.
Đã sợ người ta đến phải thiên đô thì cứ ở lại với người ta chớ
sao lại dám nhờ người ta hộ tống?
Sử Tàu có thể sai khi nói rằng Tần là Tàu. Nhưng phải vạch ra
chỗ sai của giai đoạn đó rồi mới đưa cái khác vào được chớ không thể khẳng định
Tần là Viêm Việt nào đó mà xong đâu. Cũng không thể khẳng định Tần là rợ Khuyển
Nhung là yên vì bao nhiêu tài liệu cũ mà Tư Mã Thiên tìm được, chỉ có sử Tần là
còn nguyên vẹn. Chu và Tần là Tàu 100%, không có Viêm Việt và Khuyển Nhung gì hết.
Sử Tàu có viết Tần làm Bá của rợ Khuyển Nhung sau khi thắng họ.
Nhưng câu sử ấy không hề có nghĩa rằng Tần là Khuyển Nhung.
Giáo sư cũng đã hiểu rằng vua Thuấn là rợ Đông Di, theo một
câu nói của Mạnh Tử. Nhưng đó là lời nói của người Tàu đời xưa, chớ vua Thuấn
chỉ là người Tàu được phong di trị đất của rợ Đông Di mà thôi. Người Tần đời
xưa chỉ nguồn gốc của một cá nhân không bằng chủng tộc mà bằng đất định cư.
Giáo sư lại viết: "Nhà Chu du mục". Và theo giáo sư
du mục là Tàu, còn Việt là nông nghiệp. Nhưng giáo sư lại viết: "Nhà Chu học
với nhà Thương rồi lần lần cảm hoá theo văn minh Hoa Hạ".
Vậy Chu là Tàu hay là Việt? Nếu Chu là Tàu thì Chu là Hoa Hạ,
chớ không có cảm hoá theo Hoa Hạ gì hết. Bằng như Chu là Việt thì khi nhà Chu sợ
Việt Khuyển Nhung hoá ra Việt thấy mặt Việt mà thất đảm thì thật khó hiểu.
Tại sao giáo sư Kim Định lại mâu thuẫn khi nói về các nhà đó,
chớ không trơn tru như sử Tàu? Là vì sử Tàu viết đúng sự thật, còn giáo sư thì
không, mà hễ không đúng thì dĩ nhiên phải mâu thuẫn.
Từ Phục Hy, Nữ Oa đến Tần, không có ai là Tàu, mà chỉ là Việt
không mà thôi, nhưng lại không hề có sọ Việt ở Hoa Bắc suốt bao nhiêu ngàn năm
Việt định cư và làm vua ở đó.
Chúng tôi xin trở lại kết luận của chúng tôi là Xy Vưu, từ một
nơi kia, mà lát nữa ta sẽ biết là nơi nào, đưa dân tới Hoa Bắc, làm cổ Thiên Tử
(theo Từ Hải), ở đó chỉ mới có mấy năm thì Hoa chủ cũng xâm nhập Hoa Bắc.
Cuộc xung đột xảy ra liền và Cửu Lê thua, chạy đi hết, không kịp để võ khí và sọ
lại.
Cũng nên biết rằng qua 5.000 năm thì trong 10 ngàn cái sọ dễ
thường chưa có một cái còn nguyên. Thế nên sọ của chiến sĩ Cửu Lê tử trận cũng
vắng bóng là vì thế, họ chết không nhiều để mà còn sọ được.
Kiểm soát thứ nhì cho ta thấy thuyết về nguồn gốc người
Nhật và người Chàm sai bét. Họ không từ Nam Dương hay Phi Luật Tân đến như các
nhà ngôn ngữ học Âu châu nói liều. Tại sao trong ngôn ngữ của họ có chút ít yếu
tố Đa Đảo thì ta sẽ biết ở chương ngôn ngữ.
Địa bàn Nam Dương, địa bàn Phi Luật Tân đều là những địa bàn
10 lần tốt hơn địa bàn Trung Việt, mà Nam Dương thì cho đến ngày nay cũng còn
dư đất, thí dụ Nam Bornéo thì to bằng cả nước Việt Nam mà không có người ở, thì
không có lý do nào mà di cư xuống các đảo phương Nam rồi họ lại trở lộn ngược
lên để chiếm hai địa bàn xấu là địa bàn Trung Việt và Nhựt Bổn.
Kiểm soát thứ ba. Hiện nay ở Madagascar, người Hova, dân tộc
thuộc cấp lãnh đạo các nhóm da đen ở Madagascar, không có đen da, và họ vác nước
bằng ống tre, y hệt như người Mường.
Còn đây chỉ là cảm giác riêng của chúng tôi, không có gì làm
chắc, mặc dầu trống đồng đã tìm thấy ở Tây Bá Lợi Á, là người Esquimaux có thể
là Mã Lai. Chúng tôi có xem một phim tài liệu về vũ của thứ người này và so
sánh với các phim khác về vũ của thổ dân Đài Loan, của người Nam Dương sơn cước,
và thấy ba thứ vũ đó giống hệt nhau, kể cả một số nhạc khí mà họ dùng cũng giống
nhau. Mà người Esquimaux thì rõ ràng là người da vàng và có nét Mông Cổ
(Mongoloides).
Chúng tôi không tìm được sách về ngôn ngữ của dân Esquimaux nên không thể kiểm
soát được sự thoáng thấy của chúng tôi, nhưng trống đồng là vết lông ngỗng rải
rác trên đường di cư của Mã Lai đợt II, và có mặt ở Tây Bá Lợi Á cũng mang nhiều
ý nghĩa lắm.
Kiểm soát thứ tư được đặt thành câu hỏi sau đây: Hai bọn
Mã Lai ấy định cư cách nhau đến 17.000 cây số, từ Nam Dương đến Ba Thục và di
cư cách nhau 2.500 năm, có đồng ngôn ngữ nhau hay không?
Có, họ đồng ngôn ngữ với nhau, như thí dụ Lá đã cho
thấy.
Tuy nhiên,, một chủng lớn như thế phải gồm nhiều phương ngữ,
nên rồi các dân tộc trong chủng đó vẫn không hiểu nhau. Nhưng xét tổng quát thì
bọn lưỡi rìu tay cầm giống hệt nhau, còn bọn lưỡi rìu chữ nhật cũng giống hệt
nhau, nghĩa là hai nhóm lớn đó có ngôn ngữ khác nhau nhiều hơn là mỗi nhóm nhỏ
trong một nhóm lớn khác nhau.
Nói như thế thì quá trừu tượng. Ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu quý
vị sẽ thấy rằng Mã Lai của hai đợt đều có một số danh từ giống hệt nhau
như Lá, Cây, Cá, Trăng, Núi, Đảo, v.v., nhưng Gió, Mây, Mưa, v.v.
thì khác nhau.
Trong Mã Lai đợt I mỗi nhóm cũng khác nhau về một số danh từ,
thí dụ Nước thì mỗi nhóm mỗi nói khác.
Trong Mã Lai đợt II cũng thế.
Nhưng sự khác nhau giữa các nhóm của một đợt, nhỏ hơn là sự
khác nhau giữa hai đợt. Miến Điện hiểu Cao Miên dễ dàng, nhưng hiểu Chàm rất
khó, trong khi đó thì Chàm hiểu Mã Lai Nam Dương rất dễ, mà hiểu Miến Điện rất
khó, vì Cao Miên thuộc đợt I, còn Chàm và Nam Dương thuộc đợt II.
Tuy nhiên, có một nhóm có khả năng hiểu tất cả, đó là dân tộc
Việt Nam, vì cả hai đợt di cư đều có ghé và có định cư tại Cổ Việt Nam. Khoa
ngôn ngữ tỷ hiệu đã cho thấy đúng y như vậy, trái với G. Coedès.
Thí dụ: Đợt I nói: Mẹ, Má.
Đợt II nói: Inang, Ina.
Dân Việt Nam thuở xưa vừa nói Mẹ mà vừa cũng nói Nạ (trong
câu tục ngữ: Đợi Nạ thì má đã sưng).
Nhưng nên thận trọng. Trong các quốc gia gọi là Mã Lai, có 5
nơi có mặt cả hai nhóm: Đó là Chàm, Phi Luật Tân, Célèbes, Nhật và Việt, thành
thử tiếng Mã Lai ở 5 nơi đó lại hỗn hợp một cách khá giống như ở Việt Nam hay
Nhựt Bổn tức có cả hai thứ phương ngữ pha trộn nhau, và bằng vào số lượng danh
từ của đợt I hay đợt II thì ta biết ở các nơi đó đợt nào đa số.
Thí dụ ở Cổ Việt Nam thì đợt I, đợt vua Hùng Vương, đa số, ở
Chàm thì đợt II đa số.
Ta sẽ thấy chi tiết ở các chương sau và có bằng chứng chắc chắn
là vua Hùng Vương và Bắc Chiêm Thành là thuộc đợt I. Dân nào thuộc đợt I hay đợt
II đều có thể truy ra được, nhờ thế, và việc kiểm soát ngỡ là khó khăn lắm, lại
thực hiện một cách hoàn hảo. Cả các thứ cổ ngữ Á Đông cũng học được, thế lại
còn dễ kiểm soát hơn, miễn là chịu bỏ công học hỏi.
Ta có thể nói rằng cái bọn Hoa Bắc mà Tàu gọi là Lê, là Lạc,
là dân Âu tức Thái, dân Khuyển Nhung mà hậu duệ là Mân, Miến Điện, Khơ Me và
Tàu phiên âm là rợ Khel (Khương).
Còn toàn thể Mã Lai Hoa Nam mà Tàu gọi là Việt, chớ không là
Lê, là Lạc, đều thuộc một thứ người, người Nam Dương hiện nay.
Chúng tôi đã đưa ra một bằng chứng. Tên của một viên tướng nước
Sở, sau lên tới chức Lịnh Doãn, là Nậu Ô Đồ.
Nhân danh Nậu Ô Đồ được viết bằng chữ Tàu, nhưng viết theo
ngôn ngữ Sở, tức phiên âm.
Sử Tàu giải thích rằng cái nhân danh Nậu Ô Đồ có nghĩa là Bú
vú của cọp. Đọc theo Quan Thoại thì đó là Nậu Sú Sù, mà Nậu Sú Sù là Mâu Sú Sú
của Nam Dương, tức cũng là Bú vú cọp.
Mâu = Cọp
Sú Sú = Vú, sữa
Hai thứ Mã đó khác nhau chút ít, nhưng có một số danh từ
chúng lớn lao như Sú Sú đã cho ta thấy. Ta nói Vú, nói Sữa gì cũng do Sú Sú mà
cải ra chớ không hề do chữ Nhũ của Tàu như nhiều học giả đã quả quyết. Sử Tàu
phải phiên âm là Nậu Ô Đồ chớ không viết là Hổ Nhũ hoặc Hổ nhũ mẫn, tức Mã Lai
đã có danh từ. Sú chớ không phải biến Nhũ thành Sú.
Ở chương Ngôn ngữ tỷ hiệu ta sẽ biết danh từ nào của
ta thuộc Mã Lai đợt I, danh từ nào thuộc Mã Lai đợt II.
Chúng tôi lại xin trèo đèo soi sáng nhà bác học G. Cocdès.
Ông ấy rất khổ sở tự hỏi tại sao bọn Mã Lai lưỡi rìu có tay cầm đã chịu hợp chủng
với Tàu rồi lại còn chạy đi đâu, mà lại chạy trước bọn thuần chủng đến 2.500
năm.
Ông G. Cocdès nói đó là một điều kỳ dị quá sức tưởng tượng,
nhưng ông không thể phủ nhận bởi quả thật các cuộc khai quật ở Nhựt Bổn cho thấy
rõ rệt là bọn lưỡi rìu có tay cầm ở tầng đất, ở dưới bọn lưỡi rìu hình chữ nhựt.
Ông G. Cocdès không có học cổ sử Tàu và đủ các thứ ngôn ngữ Á
Đông nên ông không kiểm soát được và ông cứ nghi hoặc họ.
Bọn lưỡi rìu có tay cầm chỉ hợp chủng với Mông Cổ chớ không
phải với Tần. Đối với họ, Mông Cổ là bạn, Tàu là thù. Thành thử đã hợp chủng rồi
mà còn chạy đi. Vì sự hợp chủng ấy có bề ngoài gạt gẫm ta. Tánh cách Mông Gô
Lích của những cái sọ của chủ nhân những lưỡi rìu tay cầm ở Làng Cườm cứ làm
cho ông và nhiều người khác ngỡ là hợp chủng với Tàu, mà lại là hợp chủng tại Cổ
Việt Nam nữa, trong khi đó thì cuộc hợp chủng đã xảy ra tại Hoa Bắc, mà không
phải là với Tàu vì khoa khảo tiền sử nói rõ là với một nhóm Mông Gô Lích, nhưng
không biết nhóm nào; mà chúng tôi thì đã trình ra đến ba nhóm rồi: nhóm Bắc
Mông Gô Lích, Trung Mông Gô Lích và Nam Mông Gô Lích, Colani, Mansuy và Patte đều
lầm.
Có người lại còn lầm tưởng rằng sọ Mông Gô Lích ở Làng Cườm
là sọ Tàu chánh hiệu nên mới nói là Tàu đã đến xứ ta hàng ngàn năm trước Mã Viện.
Vả lại không phải toàn dân Cửu Lê tức Mã Lai Hoa Bắc đều có hợp
chủng với Mông Cổ, bằng chứng là ở Bắc Sơn có sọ Mã Lai thuần chủng nằm cạnh sọ
Mã Lai có lai giống với Mông Gô Lích mà sọ không lai lại nhiều hơn sọ lai với một
tỷ lệ là 5/1.
Và bằng chứng họ không có lai giống với Tàu lộ ra trong sự vắng
mặt lưỡi rìu tay cầm tại Hoa Bắc, không còn phải thắc mắc nữa. Họ không có để dấu
vết lại, mà như vậy thì không thể có sống chung lâu ngày, không thể có hợp chủng
với Tàu vào thuở đó.
Cả hai, Tàu và họ đều có lai Mông Cổ mà sọ vẫn khác nhau, vì:
Tàu = Nhục Chi + Mông Cổ
Cửu Lê = Mã Lai + Mông Cổ
Cho đến ngày nay mà Tàu Hoa Bắc còn chưa chịu đựng nổi khí hậu
bán nhiệt đới của ta thì dưới thời Hiên Viên không làm sao mà có. Tàu Hoa Bắc
di cư tới Cổ Việt được hết.
Đó là một sự thật nó nhảy lên mắt của mọi người, nhưng không
biết tại sao mà bao nhiêu nhà bác học đều cứ cho rằng những cái sọ lai Mông Gô
Lích ở Làng Cườm là sọ lai tại chỗ, quên mất rằng thuở ấy Tàu chưa vượt sông
Hoàng Hà, nên cứ đành rằng đó là Tàu Hoa Nam, mà hễ Tàu Hoa Nam thì có thể di
cư được. Nhưng làm gì mà có Tàu Hoa Nam vào thuở ấy? Từ hữu ngạn Hoàng Hà đổ xuống
còn là đất của chủng Mã Lai Bách Việt một trăm phần trăm, mãi cho tới đầu đời Hạ,
tức hơn 1.000 năm sau biến cố Hiên Viên, mới có Tàu Hoa Nam, mà thứ Tàu Hoa Nam
ấy cũng chưa chịu đựng được khí hậu Cổ Việt, cứ đọc bài thơ Chiêu Hồn của Tống
Ngọc thì rõ, bài thơ ấy làm ra một ngàn năm sau cuộc di cư vào đất Kinh Nam, tức
2.000 năm sau biến cố Hiên Viên - Xy Vưu.
Tóm lại, tất cả mọi người đều không biết rằng có đến ba phụ
chủng Mông Gô Lích và danh xưng Mông Gô Lích cứ bắt họ nghĩ đến Tàu, nên mới có
ngộ nhận rằng sọ lai Mông Gô Lích ở Làng Cườm là sọ lai Tàu.
Sự khó chịu của ông G. Cocdès là sự khó chịu của con nhà khoa
học trước một sự kiện vô lý. Tại sao đã bằng lòng hợp chủng rồi lại bỏ đi? Mà lại
đi trước bọn thuần chủng Mã Lai nữa. Nhưng các cuộc khai quật ở Nhựt Bổn đã cho
thấy rõ ràng như vậy, ông không thể nói khác được.
Đây là một bài học cho ta. Hễ cái gì không hữu lý thì phải
tìm tòi thêm, chớ không để vậy mà chịu hoặc kết luận liều lĩnh, vì cái lẽ dĩ
nhiên là chuyện vô lý không thể đứng vững, mà phải mang những lý lẽ sâu kín nào
khác mà ta chưa khám phá ra.
Nếu ông G. Cocdès còn sống, chắc ông đã tìm hiểu thêm, và đã
biết sự thật.
Từ trang một đến đây, chúng tôi gọi ông G. Cocdès là Nguyên
viện trưởng. Nhưng ông đã thất lộc rồi khi quyển sách này viết xong. Chúng tôi
không đổi chữ Nguyên thành chữ Cố vì sự thay đổi ấy không quan trọng lại làm mất
thời giờ. Vậy xin chỉ nói qua một lần ở đây thôi.
Kiểm soát thứ năm: Các nhà khảo tiền sử đều không biết cổ
sử Tàu, người tóm lược là ông G. Cocdès cũng không biết, nên ông thử tìm lối giải
thích lý do của hai cuộc di cư cách nhau 2.500 đó.
Ông viết rằng cả hai bọn ấy đều di cư vì tiếng kêu gọi của biển
cả! Đó là một sai lầm quá thô sơ. Mặc dầu không thạo sử Tàu từ thế kỷ I sắp
lên, ông phải biết đại khái, mà một cuộc Nam chinh đã cho ông thấy rõ, và ông
có nói đến, đó là cuộc Nam chinh của Tần Thỉ Hoàng.
Chủng Mã Lai chạy đi chỉ vì bị Hoa tộc đánh đuổi để lấn đất,
chớ không hề được ai kêu réo hết.
Ông lại giải thích tại sao họ lại di cư xuống Đông Nam Á lục
địa mà ông gọi theo xưa là Đông Dương: đó là vì ở đó có những lưu vực sông phì
nhiêu: Hồng Hà, Mékong, Mé Nam, Salouen, v.v.
Chớ ở phía đông Trung Hoa lại không có lưu vực sông à, mà
sông còn to hơn nhiều: đó là Hoàng Hà, sông Hoài, Dương Tử Giang và Tây Giang.
Ông không biết sử Tàu, nhưng nếu ông suy luận có khoa học ông
cũng biết được tại sao họ không mê biển bằng cách chạy ra hướng đông và chỉ chạy
xuống phương Nam. Vì Hoa tộc đánh tràn từ trên xuống trong một mặt trận dài từ
Tây sang Đông. Tây Đông gì cũng bị Tàu giựt hết rồi. Họ không hề mê sông Hoàng
Hà, sông Mékong, song Mé Nam nào hết.
Kiểm soát thứ sáu: Lời lẽ của các nhà khảo tiền sử gây
ngộ nhận nơi giới bác học. Họ bảo bọn di cư thứ nhứt chưa biết trồng trọt,
nhưng họ phải theo dõi bọn đó, chớ không được phép dừng chơn tại các lưỡi rìu
đá mài có tay cầm ấy.
Bọn đó, tới các địa bàn mới, tiếp tục tiến và tự lực tiến đến
thời đại đồng pha và nông nghiệp, vì người ta bắt được cái lưỡi rìu có tay cầm
đó, bằng đồng pha, tại Núi Voi (Bắc Việt) với bên cạnh lưỡi rìu, đồ đất nung và
dụng cụ để biến chế mễ cóc mà ăn.
Đó là sơ sót gây ngộ nhận không nhỏ.
Vua Hùng Vương, như ta sẽ thấy, thuộc bọn di cư đợt I, tức họ
tiến lên rất cao, đến chế độ đồng pha một cách tự lực, không nhờ ảnh hưởng
ngoại lai như ông O. Jansé đã nói, cả hai đợt đều tự lực tiến lên.
Đó là tình hình ở Cổ Việt Nam. Còn ở Cổ Nhựt Bổn thì hơi
khác.
Ở Nhựt Bổn, khoa khảo tiền sử tìm được hai giai đoạn văn minh.
Giai đoạn Thượng cổ được đặt tên là giai đoạn Thằng Văn, bọn này biết
làm đồ đất nung rất là thô sơ. Đó là bọn di cư đợt I, đã tự lực tiến lên, tại địa
bàn mới, nhưng chỉ tiến tới đó mà thôi, tuyệt đối không có dấu vết tiến thêm của
họ.
Giai đoạn văn minh thứ nhì được đặt tên là giai đoạn Di Sinh.
Đó là nền văn minh của bọn di cư đợt II, giống hết bọn đợt II ở Cổ Việt Nam mà
đồ đất nung khéo hơn nhiều, lại đã biết trồng trọt, biết kim khí.
Thế nên ở Nhựt Bổn chính bọn đợt II lãnh đạo bọn đợt I, và
ngôn ngữ Nhựt Bổn giống ngôn ngữ của Mã Lai Việt Nam.
Bọn Di Sinh chiếm một vùng gần Đông Kinh ngày nay. Đó là vùng
đất hoang vu cách đây 2.500 năm. Còn những vùng ở Tây Nam, gần Đại Hàn, thì đã
bị bọn đợt I chiếm mất rồi. Nhưng bọn đợt II đã lập ra ở địa bàn hoang vu đó một
quốc gia tên là Yumato mà Tàu phiên âm là Da Mã Đài, và chính quốc gia Yamato
đã chế phục các tiểu bang của đợt 1 cho tới ngày nay.
Chỉ có một điểm khó nuốt trôi là bọn Mã Lai đợt II ở xứ Chàm
lại không có trống đồng bao giờ cả, trong khi đó thì ở khắp các địa bàn Đông
Nam Á bọn đợt II đều có đưa trống đồng tới. Vâng, chúng tôi đã có bằng chứng chắc
chắn rằng trống đồng là phát minh của đợt II chớ không phải của đợt I, mặc dầu ở
vào địa bàn định cư mới đợt I vẫn tự lực tiến đến thời đại đồng pha rồi, khi bọn
đợt II tới nơi.
*
Lời lẽ của các nhà khảo tiền sử cứ làm cho ta ngộ nhận nữa là
bọn sau văn minh còn bọn trước lạc hậu. Họ quên mất 2.500 năm đã trải qua giữa
hai cuộc di cư, và bọn trước đủ thời gian để văn minh bằng bọn sau tại các địa
bàn mới khi bọn sau tới nơi.
Nếu bọn trước mà cứ lạc hậu thì nơi nào họ cũng đã bị bọn sau
nuốt mất, nhưng sự thật là vua Hùng Vương thuộc đợt I cứ còn vững ngôi, tức khi
hai bọn gặp nhau ở Cổ Việt, thì hợp tác với nhau ngay mà không có sự chênh lệch
văn hoá, nên vua Hùng Vương mới còn giữ ngôi được.
Nhưng cắt nghĩa làm sao được khi mà các cổ thư Trung Hoa cho
biết bọn sau đã có trống đồng tại Hoa Nam tức trước khi di cư, còn khoa khảo tiền
sử thì lại nói bọn ấy chỉ di cư với lưỡi rìu đá mài hình chữ nhựt?
Có một chi tiết này mà ai cũng quên là giai đoạn kim thạch hợp
dụng kéo dài rất lâu, lắm khi ba bốn trăm năm, vì kỹ thuật khai mỏ kém cỏi của
thuở ấy chỉ cho phép quý tộc có vũ khí và vật dụng bằng đồng pha, còn dân chúng
thì không. Các nhà khảo tiền sử tìm được trên đường di cư của bọn II, lưỡi rìu
đá mài hình chữ nhựt rủi ro không nằm cạnh trống đồng nên kết luận phiến diện.
Tuy nhiên, họ vẫn tìm được một lần sự kiện sai lầm rằng dân đó
đang chỉ biết đồ đá rồi thình lình Tàu đưa đồ đồng tới. Nhưng đó là sai lầm của
riêng ông O. Jansé, còn các nhà khảo tiền sử làm việc rộng lớn hơn thì nín
thinh về điểm ấy.
Đọc sách đời Chu, ta thường thấy những câu đại khái như thế
này: "Mài kim bằng đá để châm cứu". Ta cứ ngỡ trong khoa châm cứu cây
kim bắt buộc phải bằng đá mới có hiệu nghiệm nhiều.
Nhưng không, đó là dấu hiệu kim thạch hợp dụng của đời Chu.
Chu đã văn minh cao lắm rồi và y sĩ của họ cũng được trọng đãi lắm rồi, thế mà
giai cấp y sĩ cứ còn tiếp tục dùng kim châm cứu bằng đá mài thì biết dân Tàu đời
Chu có sắm nổi vật dụng bằng kim khí hay là không.
Dân Tàu đã thế thì dân Việt có thể lại còn kém hơn, và đồ kim
khí rất ít trong xã hội di cư.
Riêng ở Chàm thì tuyệt nhiên bọn sau không có trống đồng.
Chúng tôi ức đoán rằng dân Chàm là dân đợt II di cư sớm hơn hết, di cư trước
khi chủng tộc phát minh trống đồng, tức trước đời Tây Chu, tức ngay khi bị Sở
đánh bại lần đầu trong một trận chiến mà tất cả các quốc gia Việt ở Hoa Nam đều
liên kết lại để đánh quốc gia Tàu lai Việt là Sở, sẽ nói rõ ở một chương sau.
Kiểm soát thứ bảy: Ông G. Cocdès còn kết luận cả về chi tiết
này nữa một cách sai lầm lớn lao quá sức: "Hình như bọn Mã Lai đợt II chỉ
từ cực Nam Hoa Nam nhảy vọt xuống Mã Lai Á mà không có ghé đâu cả, nên ngôn ngữ
Việt thì chỉ giống ngôn ngữ của Mã Lai đợt nhứt là Miến Điện, Môn và Khơ Me, mà
không giống ngôn ngữ của đợt II".
Sách của ông G. Cocdès ra đời năm 1962, tức sách đó là sách lớn
cuối cùng, nhưng ông lại không biết gì về ngôn ngữ Môn, Khơ Me và Việt Nam hết,
nên mới kết luận như trên, đó là không kể trống đồng mà ông có quyền không biết
là của đợt II, vì khoa khảo tiền sử không có nói rõ trống đồng là của đợt II.
Trong Việt ngữ danh từ của Mã Lai đợt II có mặt đến 40% chớ
không phải ít.
Ông G. Cocdès đã kiểm soát khoa khảo tiền sử bằng ngôn ngữ tỷ
hiệu, mà đó là cái ngôn ngữ tỷ hiệu thiếu sót của ông H. Maspéro. Ông H.
Maspéro viết: "Việt ngữ gồm 3 yếu tố: Thái, Môn Khơ Me ngữ, và một yếu tố
thứ ba, không biết là của ai".
Thái ngữ, Môn Khơ Me ngữ, là Mã Lai đợt I, còn yếu tố thứ ba
bí mật ấy chỉ là tiếng Mã Lai đợt II của người Nam Dương mà ông H. Maspéro
không biết vì ông không dè rằng tất cả đều là Mã Lai nên không buồn học tiếng
Mã Lai Nam Dương.
Khi mà thành phần của Việt ngữ mà như thế thì bọn Mã Lai đợt
II phải có ghé Đông Dương.
Công trình khảo tiền sử do ông G. Cocdès tóm lược được thực
hiện trước khi chính người Việt Nam tìm thấy lưỡi rìu hình chữ nhựt tại Bắc Việt,
trước khi người Pháp tìm thấy trống đồng ở Cao Miên nay, tức Phù Nam xưa. Trống
đồng là tác phẩm của bọn đợt II mà khoa khảo tiền sử không biết.
Cực Nam Hoa Nam là Lưỡng Quảng vốn là nước Tây Âu. Vào đời đó
nước Tây Âu hùng cường lắm thì không mắc chứng gì mà họ di cư ồ ạt. Bọn di cư
là bọn ở trên, di cư bằng đường biển, còn đường bộ thì họ đi ngang qua Tây Âu,
nhờ là đồng chủng. Vả lại Tây Âu cũng có tiếp thu một đám Lạc đông đảo vì ngôn
ngữ Thái cũng đầy dẫy danh từ của Mã Lai đợt II.
Ta có thể tưởng tượng ra tình trạng này là bao nhiêu dân Âu từ
Dương Tử đổ xuống đều quy tụ tại Tây Âu, nơi nương náu cuối cùng của họ, 1.500
năm sau kia họ mới bị áp lực và di cư xuống thượng du Bắc Việt, xuống Ai Lao,
còn thuở ấy thì không.
Vậy bọn Mã Lai đợt II không phải là dân ở cực Nam Hoa Nam mà
di cư. Và họ có ghé nhiều nơi ở Đông Dương, trước khi đến Mã Lai Á.
Chẳng những họ có ghé, mà họ còn lập ra ở đó tới hai quốc gia
quan trọng là Phù Nàm và Chiêm Thành (Lâm Ấp, như ta sẽ thấy, là nước của bọn đợt
I chớ không phải Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, như các cuốn sử Tây đã viết
sai).
Ta biết rõ như thế nhờ trống đồng có mặt tại trung tâm Phù
Nam (gần hồ Tonlé sáp), và nhờ ngôn ngữ Chiêm Thành cho ta biết chắc là Chiêm
Thành thuộc đợt II.
Tuy nhiên,, ta cũng có thể biết ngôn ngữ của Phù Nam đôi
chút. Ngôn ngữ đó cũng chỉ là ngôn ngữ của đợt II, chớ không phải của Cao Miên
như toàn thể các ông Tây đã nói.
Riêng về Cổ Việt thì họ cũng là một cộng đồng quan trọng, vì
ngôn ngữ ta đầy dẫy danh từ của Mã Lai đợt II, tức Mã Lai Nam Dương, mà không
ai hay biết, vì không có ai học tiếng Mã Lai cả.
Tàu kiểm tra dân số thì thấy Tây Âu 10 lần đông dân hơn Đông
Âu, Mân Việt, Âu Lạc. Họ hùng cường là nhờ thế, mà nhờ thế vì đó là đất quy tựu
dân chạy loạn mà không di cư.
Tại sao ta biết dân Tây Âu không có di cư? Vì sự vắng bóng của
danh từ Thái ở Nam Dương.
*
Dầu sao sự định thời điểm di cư của bọn Mã Lai đợt II, tức bọn
Austronésiens cũng rất hữu ích cho ta để tìm biết tại sao bọn đó di cư.
Cũng nên nhớ rằng trong các cuộc khảo cứu này chất C. 14
không được dùng lần nào cả, vì chất ấy dùng cho những gì quá mới chừng hai ba
ngàn năm, không dùng được thật đúng, có thể sai chạy vài ngàn năm, thì định tuổi
theo phương pháp khác cũng thế thôi.
Vậy ta có thể cho thời điểm di cư là 800 năm trước Kitô kỷ
nguyên chớ không phải là 500 năm.
Như vậy là dân Mã Lai đợt II bắt đầu di cư ngay từ lúc Sở
đánh Nam dẹp Đông để bành trướng biên cương và cho đến năm nước U Việt bị tan
rã thì cuộc di cư rầm rộ hơn bao giờ hết.
Thế thì L. Aurousseau đúng chớ không sai và không mấy khi ông ấy nói đúng được
một lần, ông ấy lại bị Madrolle và giáo sư Nguyễn Phương công kích hơi nhiều với
luận cứ như sau: làm thế nào mà vượt được hàng ngàn cây số hoang vu, qua bao
nhiêu là đất của dân thù nghịch, và chỉ mới tới Cổ Việt làm sao tạo được một nền
hành chánh có quy củ, một nền văn minh rực rỡ.
Cứ bằng vào Xuân Thu và Tả Truyện thì họ
không có vượt đất hoang vu và thù nghịch nào mà chỉ đi qua các nước văn minh đồng
chủng, các nước ấy đã hùng cường cho đến vua Sở phải ký hiệp ước thân hữu: Đông
Âu, Mân Việt và Tây Âu.
Và họ tới nơi là tổ chức được ngay là vì đã có bọn Mã Lai đợt
đầu nằm sẵn ở đó, mà bọn ấy thì đã có vua chúa rồi, vua Hùng Vương.
Sử gia Nguyễn Phương và nhiều sử gia khác cứ tưởng rằng vua
Hùng Vương là con cháu của Câu Tiễn vì L. Aurousseau đã nói thế. Nhưng truyền
thuyết nói có đến 18 vua Hùng Vương, mà con cháu Câu Tiễn thì chỉ mới tới, làm
sao mà có 18 đời vua được, trong thế gian đó?
Công kích ông L. Aurousseau, Madrolle và sử gia Nguyễn Phương
chưa đọc sử Tàu, để biết những gì xảy ra vào thời đó, ở dưới nước Sở.
Dầu sao, có đọc sử Tàu rồi, cũng không cắt nghĩa được sự có mặt
của 18 đời vua, khi một dân tộc mới đến một nơi có mấy trăm năm.
Nhưng khoa khảo tiền sử đã mở một cái gút. Sở dĩ có 18 đời
vua Hùng Vương là vì có cả một đợt Mã Lai nằm sẵn đó từ 2.500 năm và nơi đó họ
tiến lên từ đá mài đến đồng pha, tiến lên tự lực, không có nhờ sức của chú rể
Tàu nào hết như O. Jansé đã viết liều.
Bọn sau thiểu số chỉ đưa món trống đồng tới mà thôi, chớ tổ
chức thì đã có sẵn, mà họ không phá vỡ được, vì họ là thiểu số, mà cũng chẳng
phá vỡ làm gì, bởi đó chỉ là tổ chức phong kiến của chủng Mã Lai, y hệt như của
họ.
Đã bảo trước khi nước U Việt của Câu Tiễn bị tan rã, đã có di
cư rồi. Chúng tôi đã đoán rằng Mã Lai Bách Việt di cư đi Nhựt Bổn trước khi
Bách Việt biết chế tạo trống đồng.
Thế nghĩa là bọn sau, bọn đợt II, di cư thành nhiều lần, từ
thời Tây Chu đến thời Đông Chu.
Ở Nhựt Bổn có ba nơi tên là Việt tiền, Việt trung, Việt hậu,
có lẽ đó là đất ban đầu của Mã Lai đợt II đến nơi, làm ba lần, chớ bọn đợt I
không bao giờ được gọi là Việt cả.
Ở một chương tới, chúng tôi cũng sẽ theo dõi một bọn di cư tới
Việt Nam mà không phải là con cháu Câu Tiễn. Họ từ Sở, bị đẩy lùi xuống lần lần
khỏi An Huy, bọn này khác hơn tất cả các bọn khác là có mang một biệt sắc mà chẳng
có Việt nào có hết.
Và họ đã lập quốc tại địa bàn mới, nhưng không phải trong nước
Văn Lang, và họ tồn tại đến ngày nay. Họ nói tiếng Việt cổ hơn người Mường, có
nhị âm và tự xưng là Lạc.
Tới đây ta lại phải khen người Tàu đời xưa một lần nữa. Họ viết
sử coi có vẻ lộn xộn lắm, nhưng thật ra là ý thức vô cùng.
Như đã nói, Lạc Hoa Bắc và Việt Hoa Nam đều là Mã Lai, nhưng
Mã Lai Hoa Nam chỉ được họ gọi là Việt (trừ một nhóm nhỏ là Thất Mân mới được họ
gọi là Lạc).
Tuy nhiên, họ vẫn biết rằng Lạc và Việt là một. Là một, nhưng
lại cũng có khác nhau. Họ cũng biết điều thứ nhì đó nữa.
Thế nên dân ở Hoa Nam bị gọi là Việt này, Việt nọ, nhưng khi
họ xuống tới Âu Lạc thì họ gọi ta ngay là Lạc Việt vì họ biết ta gồm cả hai đợt,
Lạc Hoa Bắc và Việt Hoa Nam. Ngoài ta và dân Hải Nam ra, họ không gọi dân nào
khác bằng danh xưng đó cả, mặc dầu ở vài địa bàn khác cũng cứ có hai đợt, có lẽ
vì tại Cổ Việt và Cổ Hải Nam hai đợt ấy suýt soát nhau, còn nguyên vẹn, chưa đợt
nào nuốt xong đợt nào cả, còn phân biệt được trắng đen, chứ như ở Nhựt Bổn thì
đợt II đã nuốt mất đợt I xong rồi trước kỷ nguyên Tây lịch, không còn phân biệt
được là có hai thứ nữa.
Nhựt Bổn lại đã lai giống với Hà Di, nên hoá lùn, nên họ
không biết được nguồn gốc của Nhật nữa, tưởng đó là thứ dân nào khác mà họ gọi
bằng danh xưng bâng quơ "dân lùn", viết chữ Tàu là Oải nụy (Miền Bắc
đọc là Oa Nô).
Khoa khảo tiền sử làm việc như một anh mù, họ không hề biết
Hiên Viên, Hùng Vương, Câu Tiễn gì cả, nhưng chính anh mù ấy đã soi sáng truyền
thuyết và cổ sử Tàu và ta.
Sử gia Nguyễn Phương biết nguyên tắc làm việc là có khai thác
khoa khảo tiền sử, ông lại nhiều công phu đã đọc Colani Patte, Mansuy rất kỹ,
nhưng ba nhà bác học nói trên chỉ làm việc tại Đông Pháp, thành thử không cho sử
gia có được cái nhìn tổng quát mà sử gia muốn.
Sử gia dừng chơn lại nơi cái lưỡi rìu có tay cầm khá lâu,
nhưng chỉ băn khoăn về những đường rạch Bắc Sơn là một chi tiết không đáng kể.
Cái nhìn tổng quát mà sử gia Nguyễn Phương đòi hỏi, không ai
mà có được hết, mà người ít có hơn cả chính là người đòi hỏi.
Phải đi từng chi tiết một rồi lần dò để tới cái chỗ rộng bao
la, rồi bây giờ, từ đó mới có thể nhìn tổng quát để rút ra những kết luận cần
thiết, chớ chưa chi hết mà đòi hỏi một cái nhìn bao trùm thì làm thế nào thực
hiện được.
Công việc mà ông G. Cocdès tóm lược lại, đã huy động mấy mươi
nhà khảo tiền sử, mấy mươi nhà địa chất học, làm việc suốt mấy mươi năm ở khắp
Á Đông, từ Tây Bá Lợi Á đến Nam Dương quần đảo, từ Nhựt Bổn đến Tây Vức, tức là
họ đi mò chi tiết ấy như là mò trai, chớ không làm sao mà nhìn rộng được hết.
*
Về chữ Lạc rắc rối và danh xưng Lạc Việt thì ông Đào Duy Anh
cũng không có tra cứu sử Tàu, và cũng cứ đoán. Ông cho rằng ta tự xưng là Lạc
vì vật tổ của ta là chim Lạc. Nhưng chim Lạc được Tàu viết với bộ Điểu chớ
không bao giờ với bộ Chuy, bộ Trãi và bộ Mã cả.
Hơn thế, vật tổ của dân ta lại không phải là chim như các ông
Tây đã lầm. Nó là gì, rồi ta sẽ thấy.
Người Tàu biết quá rõ về Lạc từ thời Hạ, Thương, mà đến đời
Hán tới chinh phục ta, họ vẫn chưa quên Lạc đó, thế nên họ thường chỉ dân ta bằng
chữ Lạc bộ Trãi chớ không phải là bộ Chuyện hay bộ Mã.
Tới đây thì ta thấy cổ sử Trung Hoa sai về Xy Vưu, vì đồng thời
các cổ thư của họ cho ta biết vài chi tiết sau đây, nó mâu thuẫn với cổ sử của
họ.
Tự điển Từ Hải ghi: Ứng Chiêu vân:
"Xy Vưu cổ thiên tử". Trịnh Huyền vân: "Xy Vưu bá thiên hạ".
Hai nguồn sử trên đây có khác nhau, nhưng vẫn cứ là Xy Vưu
làm chủ chớ không phải Tàu làm chủ Hoa Bắc cho dầu y là cổ thiên tử hay chỉ là
bà của thiên hạ.
Sử Tàu thì chép rằng Xy Vưu chỉ là một trong những tù trưởng.
Y là cổ thiên tử, y làm bà của toàn cõi Hoa Bắc chớ không hề là chư hầu của ai
hết.
Nhưng cái ông vua của 9 dân Lê lại không có để dấu vết lại ở
đó, tức họ làm chủ đất Hoa Bắc chưa bao lâu, và chỉ là dân từ nơi khác mới đến
mà thôi. Có phải thế chăng? Nhưng không.
Cũng có thể là họ làm chủ Hoa Bắc từ lâu đời rồi, nhưng chỉ mới
tiến lên giai đoạn lưỡi rìu tay cầm thì bị người Tàu đánh đuổi, vì người Tàu có
thể có vũ khí tốt hơn. Truyền thuyết Tàu ghi rằng Hiên Viên đã sáng tạo được
vũ khí bằng đồng pha.
Nhưng họ mới đến, hay đã ở đó từ lâu mà chỉ mới có lưỡi rìu
đá mài tay cầm, cũng không binh vực thuyết của giáo sư Kim Định được, vì không
có sọ Mã Lai tại Hoa Bắc. Không còn lưỡi rìu vẫn phải còn sọ, nếu Mã Lai đã định
cư ở đó từ nhiều đời rồi.
Có thể nào mà cho rằng Cửu Lê là bọn khác, chớ không phải bọn
có lưỡi rìu tay cầm không?
Ta đã xét qua rồi cái nghi vấn đó. Tại Hoa Bắc không có sọ cổ
nào khác hơn là sọ Hoa và sọ Miêu, mà Miêu thì, như khoa dân tộc học cho biết,
mãi cho đến ngày nay cũng còn giỏi chăn nuôi hơn là nông nghiệp, và cũng chưa
ra khỏi chế độ bộ lạc.
Dĩ nhiên là ta không kể đến những cái sọ quá thấp về chủng tộc
học, sọ Mê-la-nê chẳng hạn, hoặc những cái sọ của những chủng tối cổ đã bị tiêu
diệt, như sọ của người Bắc Kinh.
Có thể nào mà người Tàu Hoa Bắc đã bị lai giống hết cả rồi với
Viêm tộc hay không? Không, sự lai giống qua bảy, tám ngàn năm còn để dấu vết lại,
nhưng trong sọ Hoa Bắc, khoa chủng tộc học chỉ thấy có hai yếu tố Mông Cổ và một
yếu tố da trắng mà họ nghi là Nhục Chi, không có yếu tố thứ ba nào cả.
Có thể nào mà Viêm tộc là Mông Cổ hay không? Không. Vì nếu thế
thì Tàu đã gọi tộc đó là Hàn tộc, Băng giá tộc, hay gì gì tộc đó chớ không
là Viêm. Và nếu thế đi nữa thì lại càng không dính dáng gì đến dân ta vì sọ của
ta là sọ Mã Lai, chớ không phải sọ Mông Cổ.
Viêm tộc không bao giờ có trên đời này.
Tới đây thì ta đâm ngờ về truyền thuyết của người Tàu. Như ta
đã thấy trình bày trên đây: Cửu Lê tức Mã Lai đến Hoa Bắc trước Tàu có bảy ngàn
năm, bằng chứng chắc chắn là còn sọ Tàu cổ ở Hoa Bắc mà không còn sọ Cửu Lê.
Kẻ đến Hoa Bắc trước tiên phải là Hiên Viên. Như vậy những kẻ
xưa hơn như Toại Nhân, Phục Hy không có mặt tại Hoa Bắc.
Nếu Toại Nhân, Phục Hy không phải là nước Nhục Chi thì cũng
là Tàu lai Nhục Chi vừa xâm nhập Trung Hoa.
Truyền thuyết Tàu đã lầm lẫn địa bàn, hoặc kể lại truyền thuyết
của Nhục Chi mà cứ tưởng là của họ.
Dầu sao những nhơn vật quá cổ như Toại Nhân và Phục Hy cũng
không có mặt tại Hoa Bắc vì kẻ có mặt trước tiên là Hiên Viên.
Thần Nông có thể cũng chỉ là đặt chơn tới Cam Túc chớ cũng
chưa vào sâu Hoa Bắc được, vì nếu Thần Nông đã vào sâu Hoa Bắc thì họ là kẻ đến
trước và đã đuổi Cửu Lê trước Hiên Viên, còn đâu để cho Hiên Viên diệt, khi mà
ta đồng ý về giả thuyết Cửu Lê chỉ có mặt trước Hiên Viên chỉ có vài ba năm, mà
không đồng ý cũng không được vì không có sọ Mã Lai ở Hoa Bắc, Cửu Lê không để sọ
lại vì không có định cư kịp ở đó nhiều năm là bị diệt ngay.
Còn giả thuyết thứ ba nữa. Có thế nào mà họ đến sau Tàu hay
không?
Chắc chắn là không, vì theo những nguồn sử cổ mà Từ Hải cho
biết thì Xy Vưu là cổ thiên tử, tức hắn phải là kẻ đến trước. Kẻ đến sau mà làm
cổ thiên tử được là làm luôn vì nó đã thắng. Mà như vậy thì các nguồn sử Tàu cổ
đã không gọi y là cổ thiên tử mà là kim thiên tử.
Người cổ lầm lẫn địa bàn trong truyền thuyết là chuyện thường
xảy ra. Thí dụ truyền thuyết về biên giới Hồ Động Đình của ta chỉ là truyền
thuyết của Mã Lai đợt II. Ta đa số là Mã Lai đợt I, tức Mã Lai Hoa Bắc, thế mà
ta cũng cứ xem truyền thuyết đó là của ta, chớ không dè là của dân bổ sung là
người Mường, 2.500 năm sau mới xuất hiện.
Trong cuộc chứng minh Việt Nam = Mã Lai, chúng tôi có bắt được
một chứng tích này là người Mã Lai ở đảo Java có kể một chuyện cổ tích y hệt
như một chuyện cổ tích Mường, nhưng kỳ lạ lắm là khung cảnh mà họ tả trong chuyện
là khung cảnh núi đá vôi ở Hoà Bình trong khi đó thì đảo Java không hề
có núi đá vôi (sẽ kể rõ ở chương Mường). Đó là một bằng chứng một dân tộc thiên
di, đồng hoá hai địa bàn cũ và mới.
Nếu ngày nay dân Nhục Chi mà còn thì chắc chắn họ sẽ có hai
nhơn vật truyền thuyết giống hệt Toại Nhân và Phục Hy.
*
Vậy sử Tàu chỉ cổ có 5.000 năm chớ không quá lâu đời với những
Toại Nhân và Phục Hy như họ đã viết. Sử Tàu chỉ bắt đầu từ Hiên Viên tức Hoàng
Đế mà thôi.
Đặc biệt Thần Nông trước Hiên Viên một đời, thì không phải xuất
hiện tại Tây Vức hay tại Trung Hoa mà có lẽ tại Cam Túc, nơi hành lang xâm nhập
mà họ gặp đất hoàng thổ để tiến lên nông nghiệp.
Ra khỏi Cam Túc, vào nội địa Hoa Bắc cổ thời là đã phải chết
sống với chín thứ dân Lê dưới quyền lãnh đạo của Xy Vưu rồi.
Giữa nhiều giả thuyết dĩ nhiên chỉ có một là đúng.
Xy Vưu chỉ mới đưa dân tới đó là bị Tàu đuổi ngay.
Xy Vưu làm chủ đất ấy lâu đời rồi, nhưng vừa tiến lên lưỡi
rìu tay cầm là bị đánh đuổi.
Ta không thể chọn giả thuyết II vì giả thuyết II vấp phải cái
ngõ bí không lối ra là thiếu sọ Mã Lai ở Hoa Bắc.
Vậy chỉ còn giả thuyết thứ nhứt là đúng được là Mã Lai Cửu Lê
chỉ mới đưa dân tới Hoa Bắc có vài năm, dưới quyền lãnh đạo của Xy Vưu, là Hoa
tộc cũng xâm nhập Hoa Bắc.
Mã Lai từ đâu mà đến thì rồi ta sẽ thấy.
Còn Tàu thì gặp hoàng thổ hành lang tại Cam Túc lúc xâm nhập
nên tiến lên nông nghiệp, tại Cam Túc (đợt Thần Nông), rồi tiến lên giai đoạn
vũ khí đồng pha (đợt Hiên Viên).
Sở dĩ Hiên Viên đảo chánh Thần Nông được là nhờ vũ khí mới mà
y phát minh. Nhưng y cũng biết nông nghiệp y hệt như Thần Nông.
Rồi y tiến sâu vào nội địa Hoa Bắc và đánh diệt Xy Vưu, và Cửu
Lê. Vì chỉ có lưỡi rìu tay cầm bằng đá nên Cửu Lê thua chạy đi hết nên không có
lưỡi rìu ấy để lại.
Trước đó Mã Lai và Mông Cổ không có diệt lẫn nhau mà hợp chủng
với nhau, vì cả hai đều không có gì để phải tranh giành với nhau hết.
Tới Hiên Viên thì đã có mồi ngon. Đó là đất ở Hà Nam đối với
một dân tộc vừa tiến lên nông nghiệp. Tàu thắng vì vừa có vũ khí đồng pha chớ
không phải nhờ xe chỉ nam như sử Tàu đã chép.
Lại xin nói nhiều về hai loại lưỡi rìu.
Các nhà bác học Việt Nam đã đào được tại Núi Voi (Bắc Việt)
và Yên Hưng (Bắc Việt) lưỡi rìu có tay cầm, nhưng không phải bằng đá mài
mà bằng đồng pha, giống hệt lưỡi rìu bằng đá mài ở cạnh đó.
Thế thì bọn Lạc bộ Trãi đã tự lực tiến lên kỹ thuật đồng pha
tại Cổ Việt, chớ không hề nhờ Tàu như O. Jansé đã nói (xin xem hình). Và họ
cũng đào được lưỡi rìu hình chữ nhựt bằng đồng pha tại Quỳnh Xá giống lưỡi rìu
chữ nhựt đá mài ở cạnh đó.
Lưỡi rìu có tay cầm bằng đồng pha tìm được tại Núi Voi (Bắc
Việt).
Lưỡi rìu hình chữ nhựt bằng đồng pha tìm được tại Quỳnh Xá (Bắc
Việt).
Lưỡi rìu có tay cầm bằng đồng pha tìm được tại một kinh đô cũ
của nhà Thương, có lẽ là Triều Ca, khác hẳn loạt lưỡi rìu có tay cầm cũng bằng
đồng pha của Lạc Việt.
Xin so sánh với hai lưỡi rìu y hệt như thế mà bằng đá mài, ở
đoạn trước.
Ta phải kết luận sao đây?
Chỉ có Bắc Việt, cả hai đợt di cư mới đều có hai loại lưỡi
rìu bằng đồng pha, còn ở các địa bàn di cư khác thì không, kể cả ở Nhựt Bổn
cũng không.
Thế nghĩa là bọn Mã Lai (Lạc di cư) văn minh nhứt tại Bắc Việt,
chớ không phải tại các nơi khác.
Lưỡi rìu chữ nhựt đồng pha là của bọn sau, tức dân của Câu Tiễn.
Câu Tiễn đã làm Bá một thời ở Hoa Nam thì ông ấy không thể quá kém mà
được địa vị đó. Vậy lưỡi rìu chữ nhựt bằng đồng pha, hẳn phải đã có rồi ở Cối
Kê, tức có trước khi bọn đợt sau di cư xuống Cổ Việt.
Đợt trước có phải học kỹ thuật đồng pha của đợt sau hay
không? Không, vì chúng tôi đã có bằng chứng rằng vua Hùng Vương tuy không có trống
đồng, vẫn đã biết nghề đồng trước khi bọn sau tới.
Tại sao đều là dân của Câu Tiễn mà bọn di cư sang Nhựt Bổn
không có lưỡi rìu hình chữ nhựt bằng đồng còn bọn xuống Văn Lang lại có? Có lẽ
vì kỹ thuật tìm mỏ kém nên kim thạch hợp dụng cứ kéo dài rất lâu, đồng pha quý
nên chỉ có quý tộc mới có vũ khí ấy. Bọn đi Văn Lang là quý tộc còn bọn đi Nhựt
Bổn là thường dân.
Kinh đô triều ca của vua Trụ đã tìm được và đã được thám quật
năm 1943 tại An Dương (Hà Nam). Ở đó có lưỡi rìu tay cầm bằng đồng, nhưng khác
hẳn lưỡi rìu tay cầm bằng đá hay bằng đồng của Mã Lai. Thế nghĩa là Hoa và Việt
không có ảnh hưởng qua lại trước đó. Khoa khảo tiền sử đã cho biết đích xác cái
luật này: Khi một dân tộc tiến lên từ đá mài sang đồng pha thì họ chế tạo đồ đồng
pha giống hệt đồ đá mài mà họ có trước đó. Vật liệu khác, kỹ thuật khác, nhưng
hình dáng thì không, mà như vậy trong hàng ngàn năm. Ở Bắc Việt lưỡi rìu tay cầm
nhà Thương thì không giống lưỡi rìu tay cầm của Mã Lai chút nào.
Đã bảo đồng cóp đã kéo dài hàng ngàn năm thì không thể nói rằng
vì nhà Thương xuất hiện sau Hiên Viên nên lưỡi rìu tay cầm bằng đồng pha của họ
đã biến dạng. Hơn thế, không hề có lưỡi rìu tay cầm bằng đá mài ở Trung Hoa dưới
thời Hiên Viên và sau thời Hiên Viên.
Tại chưa đào thấy chăng? Có thể, nhưng công việc khảo tiền sử
ở Tàu có thể nói là đã làm xong trước thời Mao Trạch Đông thì cũng khó lòng mà
cho rằng chưa kịp tìm thấy.
Cái tay cầm của lưỡi rìu thì nhiều chủng tộc ở phương trời
khác cũng đã có nghĩ đến, có chế tạo, chớ không phải là biệt sắc độc nhứt của
Mã Lai đợt I hay của Tàu. Như vậy trong trường hợp này thì không thể cho là Việt
đã cóp của Tàu hay Tàu đã cóp của Việt mà chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên,
nhưng dĩ nhiên là trong sự trùng hợp đó hai bên không thể nào chế tạo giống hệt
nhau được.
Ở Bắc Việt ta tiến từ đá mài lên đồng pha mà cứ giữ nguyên
hình dáng cũ, còn nhà Thương thì dùng vũ khí hình dáng khác, mặc dầu cũng có
tay cầm.
Đồ gốm Mã Lai ở Cổ Việt Nam cũng khéo không kém đồ gốm của
Tàu, nhưng cũng lại khác hẳn. Không có lấy một yếu tố Mã Lai nào cả trong đồ gốm
Ngưỡng Thiền, An Dương và Long Sơn, ba trung tâm đồ gốm cổ của Trung Hoa mà
giáo sư Kim Định có ám chỉ đến, có ý muốn gán cho ta nhưng không thành công.
Vì kỹ thuật ấn loát và làm bản kẽm của chúng tôi kém, nên xin
mời quý vị so sánh hai loại đồ gốm ấy bằng cách đọc hai quyển sách L’Art
de la Chine của nhà xuất bản Larousse và Introduction à l’art ancien
du Viet Nam của ông Trần Văn Tốt, Sài Gòn, 1967, mà chúng tôi không trích
đầy đủ hình ảnh ở đây được.
Thuyết "Lịnh ông, cồng bà" của giáo sư Kim Định thì
gián tiếp nói đến cuộc hợp chủng Hoa Việt ở Hoa Bắc. Nhưng nếu không có thuyết
đó mà chỉ có thuyết Tàu cướp văn minh Việt ở Hoa Bắc, ta vẫn phải hiểu
là có hợp chủng bởi một nền văn minh phải học lâu lắm mới tiêm nhiễm được, chớ
không phải chỉ thoáng thấy trong trận Trác Lộc là cóp được ngay. Mà muốn học
lâu, phải có sống chung lâu, phải có hợp chủng.
Nhưng sọ Tàu Hoa Bắc lại không mang yếu tố Mã Lai, cũng không
có yếu tố nào khác hơn là một yếu tố da trắng bị tình nghi là Nhục Chi. Yếu tố
đó không phải là Viêm vì theo định nghĩa của giáo sư thì Viêm là Lửa, là Nóng
(và quả đúng như vậy).
Nhưng dân Nhục Chi lại không phải là dân xứ nóng. Ở Hoa Bắc
cũng thế. Không ở đâu mà có một chủng tên là Viêm hết, hoặc mang ý nghĩa là dân
xứ nóng hết để rồi tràn tới Hoa Bắc và bị Tàu gọi là Viêm tộc.
Hoạ chăng là có ta, dân Việt Nam. Nhưng phiền lắm là ta lại từ
bên Tàu, tận Hoa Bắc mà sang đây.
Ở đây cần giải thích rõ vấn đề. Khi một quốc gia bị xâm lăng,
chắc chỉ có một số người là chạy đi, chớ không phải tất cả đều chạy đi. Đó là
tình trạng đã xảy ra ở Hoa Nam mà một số Mã Lai quá lớn lao ở lại để lai giống
và bị đồng hoá.
Nhưng ở đây sao Cửu Lê phải chạy đi hết? Vì đây là lần đầu
tiên mà Tàu thấy dân lạ, Mã Lai cũng thế. Như vậy thì phải một còn một mất, có
ai muốn ở cũng không ở được, nhưng thật ra thì không có ai muốn ở cả, vì lạ
lùng nó làm cho kẻ thua khó chịu. Kẻ thắng đã tàn sát cũng chính vì khó chịu và
bỡ ngỡ, mà càng bị tàn sát thì kẻ thua lại càng có lý do để chạy đi hết, không
như ở Hoa Nam mà họ đã có dịp trông thấy nhau từ đời Hiên Viên đến đời nhà Hạ.
Dân Mã Lai hiếu chiến và dữ tợn có tiếng trên thế giới mà hiện
nay sự kiện ấy còn thấy được nơi các nhóm Cổ Mã Lai ở Phi Luật Tân. Còn các vua
Tàu thì không có phải là vua hiền vua thánh gì hết như sử họ đã chép đâu. Cả
đôi bên đều dữ tợn, và lần chạm mặt đầu tiên họ phải tàn sát nhau khốc liệt lắm.
Như thế thì bọn thua không thể nào ở lại được, bất cứ vì lẽ nào.
(Và như vậy thì cái thuyết Nho giáo có nghĩa là Nhu, là Hiền
lương, là của Việt tộc dùng để chống lại tính cường bạo của Hoa tộc, của giáo
sư Kim Định, không đúng, vì ai cũng cường bạo cả vào thời cổ sơ và lần theo năm
tháng hễ ai tiến lên thì bớt hung hãn, ai còn chậm tiến thì còn dữ tợn, không
có vấn đề chủng tộc ở đây nữa và Nho giáo có phải là của Việt hay không thì còn
ngờ lắm, vì không có chứng tích, và không nên dựa vào sự phỏng đoán của hai ông
Granet và Maspéro về một nền văn hoá chung của Á Đông vào cổ thời.
Sự thật thì chỉ có chi Âu, tức người Thái, mà cũng chỉ là người
Thái Lưỡng Quảng là có văn hoá giống văn hoá Tàu cổ thời, còn Thái Vân Nam, Khơ
Me, Miến Điện và người Nam Dương thì hoàn toàn không, mà sở dĩ có sự kiện đó là
vì Thái Lưỡng Quảng đã sống gần Tàu quá lâu đời, tuy đã lập quốc riêng nhưng vẫn
luôn luôn tiếp xúc với Tàu, còn người Mã Lai mà ta gọi là Thượng Việt thì chẳng
hề giống Tàu ở một điểm lớn nhỏ nào cả. H. Maspéro không so sánh các dân khác,
và không nên tổng quát hoá những gì mà hai thầy trò Granet và Maspéro đã nói).
Xin trở lại chuyện Hiên Viên tàn sát và Mã Lai chạy đi hết.
Hiên Viên có lý do tàn sát, còn Mã Lai thì có lý do chạy đi hết,
vì một là Hiên Viên đã quá mạnh tay, hai là phong tục khác lạ của đôi bên, chỉ
mới chạm trán lần đầu tiên, kẻ thua thấy rằng không thể ở lại với một thứ dân kỳ
dị là dân Tàu.
Trong khi đó thì Việt Hoa Nam cũng đồng chủng với Lạc Hoa Bắc,
thì lại ít chạy đi hơn Trung Hoa vượt sông Hoàng Ha dưới đời nhà Hạ. Tại sao thế?
Là tại từ Hiên Viên đến đời nhà Hạ, Tàu và Việt đã đủ thời giờ quen biết với
nhau chút ít.
Hiên Viên sống trước nhà Hạ thì nhà Hạ phải ít dữ tợn hơn. Đó
là một cái luật: Kim hơn Cổ. Tần Thỉ Hoàng đốt sách là bậy. Nhưng không phải là
không có lý do vì các nhà nho chủ trương cổ hơn kim, hoá ra ngăn bước tiến của
dân tộc họ.
Hạ thì ít dã man hơn Hiên Viên, họ không đánh Việt, mà chỉ
xin tới ở trọ. Hai lý do đó, Tàu đã hiền hơn, phong tục đôi bên đã được biết
nhau, Việt không quá bỡ ngỡ nữa nên ít chống đối hơn.
Nhưng vẫn còn một điểm cần giải thích rõ. Lạc bộ Trãi có ở lại
Sơn Đông và bị gọi là Đông Di. Nhưng làm sao không có sọ Mã Lai tại Sơn Đông?
Tỉnh Sơn Đông rất đặc biệt. Đó là một Cao nguyên được bình
nguyên mỏng vây quanh. Khi Tàu Đông thiên thì Đông Di rút lên Cao nguyên với ảo
tưởng thoát được. Không dè họ không bao giờ thoát được cả vì rồi Tàu lại xung
phong lên Cao nguyên. Thế nên ở Hoa Bắc có một tỉnh độc nhứt mà sọ Hoa mang yếu
tố Việt, đó là tỉnh Sơn Đông.
Nhưng đừng vì đó mà cho rằng Khổng Tử là "Việt
gian", hợp tác với Tàu. Đến đời Khổng Tử thì Đông Di đã bị Hoa hoá sâu đậm
rồi mà Khổng Tử lại là người Tàu gốc ở nước Tống (Bắc Hà Nam) chớ không phải là
người Đông Di.
Cũng đừng cho rằng đạo Nho là của Việt, vì đạo Nho đã có trước
khi Khổng Tử chào đời, mà là có ở đâu ấy, ở An Ấp, ở đất Cảo, chớ không phải ở
xứ của rợ Đông Di.
Giáo sư Kim Định chỉ biết rằng ta là Việt, mà không dè rằng
Môn, Khơ Me, dân Nam Dương cũng là Việt, nên khi ông thấy ta tiêm nhiễm đạo
Nho, ông kết luận rằng đạo ấy phải là của ta, không dè rằng hàng trăm nhóm Việt
khác, chẳng có ai biết Nho là cái quái gì cả.
Nếu khen Nho vì nó hay, tốt ở chỗ nào đó, thì cứ khen, cứ
theo, không cần phải cố nói đó là của ta. Nếu nó là của ta đi nữa mà nó không
hay, ta cũng chẳng theo làm gì. Bằng như nó là của Tàu, ta cứ mượn, người Tàu họ
giấu nghề làm miến Song thần, nhưng không bao giờ họ giấu đạo Nho, mà trái lại
họ bắt ta học ngất ngư cái đạo đó.
*
Cũng nên nói sơ qua về thổ dân châu Mỹ mà một nhóm đã thiết lập
ra một nền văn minh rất lớn là nhóm Mayar. Mayar là phiên âm của Tây Ban Nha,
chớ thật ra thì họ tự xưng là Mã-Y-A, và họ cũng là Mã Lai.
Trước kia người ta ngỡ họ ở Tây Bá Lợi Á di cư sang Mỹ qua eo
biển Béring. Nhưng vừa đây người ta khám phá ra rằng da họ không có đỏ, và họ
thuộc da vàng và có lẽ di cư từ Trung Thái Bình Dương.
Đó là ức thuyết, nhưng chúng tôi lại biết chắc rằng ức thuyết
đó đúng 100 phần trăm.
Quả thật thế, họ có ngôn ngữ giống hệt ngôn ngữ của Mã Lai
Nam Dương. Mà như vậy thì họ di cư sang Mỹ Châu không lâu, lối 2.500 năm nay mà
thôi.
Ta có phương pháp biết những sự thật lịch sử nhờ một cái luật
ngôn ngữ. Thí dụ bọn Mã Lai đợt I biết lúa gạo khác địa bàn với bọn Mã Lai đợt II,
nên chi danh từ đó của hai nhóm ấy khác nhau, vì đó là danh từ sáng tác về sau
chớ không còn là danh từ gốc tổ nữa, mà hai nơi ở xa nhau, phải sáng tác khác
nhau.
Thế mà người Mayar gọi lúa là Padi, y hệt như người Nam Dương
(Pháp vay mượn của thổ dân châu Mỹ và biến thành Paddy), thế nghĩa là họ cùng
nhau sáng tác rồi mới di cư và hai người đó là một.
Người Mayar cũng thờ mặt trời y như người Đông Sơn, và họ
hoàn toàn không biết con ngựa thuở họ bị Tây Ban Nha chinh phục, tức họ không từ
phía Bắc mà di cư, vì ở phương Bắc Mông Cổ nuôi ngựa rất nhiều.
Chỉ còn một chi tiết chưa thể biết là họ di cư từ Hoa Nam sau
khi nước Việt tan rã, hay từ Nam Dương, vì danh từ Paddy đã được sáng tác tại
Hoa Nam đến Nam Dương thì họ đã có danh từ ấy rồi, và đây là bằng chứng:
|
Mường: Pơ Đuông |
Chàm: Pơ Đai |
|
Giarai: Pơ Đai Nam |
Dương: Pa Đi |
Danh từ Pơ Đuông của người Mường, nay đã mất Pơ vì ảnh hưởng độc âm của Việt
Nam, và thêm dấu sắc thành Đuống (sông Đuống) vì ảnh hưởng đa thanh của Việt
Nam.
Người Mường trước khi di cư đến Cổ Việt đã biết lúa gạo rồi
vì họ là Mã Lai đợt II, chớ không phải đợt I như con cháu trực tiếp của Hùng
Vương.
Đó là một địa bàn định cư nữa của Mã Lai đợt II mà khoa khảo
tiền sử không biết mà chỉ có khoa dân tộc học là biết nhờ chúng tôi đối chiếu đồ
vật của người da đỏ và người Nam Dương.
Nhưng các nhà ngôn ngữ học nên tìm tòi thêm khi mà chúng tôi
gợi ý về danh từ Padi này.
Ta tự hỏi tại sao bọn Mã Lai di cư đợt I lại chỉ tới Đông Ấn
Độ rồi đi rẽ sang Đông Dương, và họ từ đâu mà đi Đông Ấn Độ.
Đã bảo dân Môn và Miến Điện là hậu duệ của Khuyển Nhung và
dân Khơ Me là hậu duệ của rợ Khel (Khương).
Như thế thì Khuyển Nhung và Khương (Lạc bộ Chuy) phải chạy
sang hướng Tây vì địa bàn của họ ở Tây Trung Hoa, chớ không chạy ra biển Đông
được như bọn Lạc bộ Trãi.
Tới Đông Ấn Độ thì họ chợt thấy đồng bào Dravidien của họ
đang nằm dưới ách của bọn Aryen thuở ấy còn trắng da, nên không ở đó làm gì.
Thấy rõ là các bọn di cư có liên lạc với nhau, vì Mã Lai đợt
I Hoa Bắc biết ở Ấn Độ có đồng bào của họ.
Về sau, cách đó lối 2.500 năm, bọn Mã Lai đợt II cũng đi đến
những địa bàn của Mã Lai đợt I chớ không có đi đâu khác hơn, tuy ở Nam Dương họ
chiếm các đảo khác hơn là Célèbes, nhưng các đảo ấy cũng cứ là một địa bàn với
Célèbes về khí hậu và địa dư.
Khoa khảo tiền sử đã bỏ sót Bọot-Nê-Ô vì dân cổ Mã Lai ở đó
còn quá lạc hậu, quá dữ tợn, họ không xâm nhập vào để làm việc được trừ các nhà
dân tộc học có làm việc ở Bắc Bọot-Nê-Ô và biết một nhóm Dayak và văn minh phần
nào rồi.
Nhưng nếu các đợt ấy mà không có liên lạc với nhau, họ vẫn chạy
đến những nơi giống nhau vì cả đường bộ lẫn đường biển đều có những tiện lợi
nào đó, đèo dễ vượt, hoặc gió phải mùa, mà cả các đợt đều biết.
Bọn Mã Lai đợt II đi Nhựt Bổn từ Hoa Nam, chớ không đi Nam
Dương có lẽ là bọn gặp gió Nồm, còn bọn đi Nam Dương gặp gió Bấc.
*
Về truyền thuyết Kinh Dương Vương và Lộc Tục của dân ta thì
phải hiểu thế nào đây? Khoa khảo tiền sử đã cho thấy là Mã Lai Hoa Nam thuần chủng
Mã Lai, không có lai với nhóm Mông Gô Lích nào cả thì làm thế nào mà Lạc Long
Quân lại là cháu năm đời của Thần Nông được, trừ phi Thần Nông là Việt, đúng
như giáo sư Kim Định đã nói.
Nhưng chúng tôi đã chứng minh rằng Thần Nông không phải là Việt
thì truyền thuyết này đâm ra rắc rối vô cùng, không giản dị, dễ giải thích như
chuyện Lạc (Long Quân) và Âu Cơ (tức chủng Thái) ly khai để chiếm hai địa bàn
khác nhau.
Ta chỉ còn biết giả thuyết rằng một người Tàu lai Việt, Việt ở
châu Dương hoặc châu Kinh, tên là Lộc Tục đã nhảy lên nắm quyền lãnh đạo nhóm
Việt tổ tiên trực tiếp của ta. Nhưng y lại đồng hoá với Việt, y hệt như các
quan thổ ty Việt mà vua chúa ta gởi lên xứ Thái, đã không đồng hoá được họ mà lại
bị họ đồng hoá tuốt hết vì luật đa số nuốt thiểu số.
Đó là lối hiểu hữu lý nhứt mà không chỏi với truyền thuyết,
cũng không chỏi với khoa khảo tiền sử.
Nhưng xin đừng hiểu lầm. Chỉ có một nhà lãnh đạo là Tàu lai,
còn toàn quốc không liên hệ gì đến dòng máu Tàu cả, không có vấn đề Việt đã lai
Tàu từ thời đó, tại châu Kinh và châu Dương.
Ngày xưa, dân xem vua là cha mẹ của họ thì tự nhiên họ gọi tổ
tiên của vua là tổ tiên của họ. Thần Nông chỉ là tổ tiên của Lộc Tục, thế mà lại
được coi là tổ tiên của dân ta là vì tinh thần đó.
Nhưng cái nước Việt ở Động Đình Hồ mà Lộc Tục cai trị là nước
Việt nào, rồi ta sẽ thấy ở chương sau, khi nghiên cứu Tả Truyện. Và cái nước
Việt đó, khi tan rã, dân di cư đi nơi khác, thì dòng vua Tàu lai ấy bị diệt rồi,
theo lệ xưa, quân xâm lăng phải giết vua mới được. Thế là không còn giọt máu
Tàu nào hết trong bọn di cư, đúng y như khoa khảo tiền sử đã nói.
Như đã thấy, khoa khảo tiền sử rất đúng và rất cần thiết. Nó
giúp ta hiểu những mâu thuẫn cũ. Sách Tàu tả dân Việt cắt tóc ngắn, mà cổ vật
Đông Sơn lại cho thấy họ có tóc dài. Sử gia Nguyễn Phương đã dựa vào đó để cho
rằng cổ vật Đông Sơn là của dân nào đó, có tóc dài, chớ không phải của Bách Việt
tóc ngắn như Tàu đã tả.
Nhưng Bách Việt tóc ngắn chỉ là Bách Việt của Tư Mã Thiên tả,
tức Bách Việt đợt II, bọn có lưỡi rìu hình chữ nhựt. Còn bọn trước thì tóc dài.
Thế nghĩa là Xy Vưu giống họ, không có biệt sắc về tóc nên họ không tả.
Mặt khác, ở Cổ Việt, như chúng tôi sẽ chứng minh ở chương người
Mường, chính bọn tóc dài, tức bọn Mã Lai đợt I, lãnh đạo, còn bọn Tiểu phát chỉ
là bọn bổ sung. Thế thì các tượng đồng tạc hình người đào được ở Bắc Việt không
còn gây thắc mắc nữa, mà cũng không giúp giáo sư Nguyễn Phương kết luận được rằng
nền văn minh đó không phải là của Việt vốn Tiểu phát.
*
Và khoa khảo tiền sử không biết hai điều này, mà chúng tôi biết
nhờ khoa khác:
Trước khi làm chủ toàn cõi nước Tàu, chủng Cổ Mã Lai phát
tích từ Tây Tạng chớ không phải phát tích tại nước Tàu, nói rõ hơn là phát tích
tại chơn Cao nguyên Tây Tạng.
Xy Vưu đã từ các vùng đất quanh núi Hy Mã Lạp Sơn đưa dân tới Hoa Bắc sau cùng
hết. Các nhóm mà khoa khảo tiền sử gọi là Austroasiatiques và chúng tôi gọi là
Mã Lai đợt I, thật ra là Mã Lai đợt III, nếu lấy điểm xuất phát di cư đầu tiên
làm cái mốc.
Bọn đợt I là bọn đi làm chủ toàn cõi Ấn Độ, bọn đợt II là bọn
đi làm chủ toàn cõi Hoa Nam ở dưới sông Hoàng Hà, còn bọn Xy Vưu chỉ là bọn đi
sau thiên hạ.
Nhưng ta biết rõ Xy Vưu hơn chỉ nhờ có nhân chứng là con cháu của Hiên Viên,
còn lại hai bọn kia, chính khoa học biết, nhưng không biết chi tiết như Tàu đã
biết về Xy Vưu, vì như đã nói, khoa khảo tiền sử không biết chi tiết, nhưng
khoa đó lại giúp cho các khoa khác không sai lầm về sự tương đồng gạt gẫm bề
ngoài.
*
HiMalaya có nghĩa là núi của người Malaya. Danh từ Hi
này còn thấy được trong ngôn ngữ Nhựt Bổn ngày nay. Họ đọc là Khi, nhưng khi nào
cần viết tiếng Khi bằng chữ La-Tinh, họ vẫn viết là Hi.
(Có lẽ Hi biến thành Hui, rồi thành Núi, bằng vào những xâu
chuỗi biến dạng kỳ dị ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu).
Đó là danh từ mà người Âu châu ghi theo ngôn ngữ của dân tồn
tại quanh đó ngày nay, như dân Népal chẳng hạn, dân này, trước khi lai với Ấn Độ,
cũng là Mã Lai gốc ở gần đó.
Thế thì danh tự xưng của họ ban đầu tam âm chớ không nhị âm,
bằng chứng là thánh Kinh Phê Đà gọi họ là Mleech’a mà ta có thể phân tách như
sau:
M = Ma
Lee = Lai
Cha = Ya
Chúng tôi biết được những điều ấy do các công trình nghiên cứu
khác, còn rời rạc, chưa được tóm lược lại thành hệ thống như đối với dân Lạc ở
Trung Hoa.
Và đó là bọn Mã Lai rời đất tổ trước tiên hơn hết, dưới quyền
lãnh đạo của ai thì chỉ còn nhờ các nhà bác học đọc văn tự của họ, ta mới biết
được mà thôi.
Họ có văn tự nhưng chưa đọc được vì chưa ai dè rằng họ là Mã
Lai, vì muốn đọc cổ ngữ biết ngôn ngữ của kẻ viết chữ.
Nếu quyển sách này mà tới tay các nhà bác học đang cất giữ
văn tự đó thì họ sẽ học tiếng Mã Lai và sẽ đọc được.
Từ 6.000 năm trước đây, trở về xưa hơn, đất Ấn Độ không do
hai chủng tộc ngày nay làm chủ. Chủ đất là những thứ dân da đen rất kém cỏi, mà
chỉ có một chủng là văn minh hơn cả, đó là Mê-la-nê.
Dân Mã Lai, từ quanh Cao nguyên Tây Tạng tràn tới chiếm đất
đó, làm bá chủ, và đẩy lui bọn da đen lên núi rừng nhưng cho đến nay (1970) bọn
da đen ấy vẫn cứ tồn tại (chủ trương diệt chủng không đứng vững được, trong bất
kỳ trường hợp, thời đại nào).
Bọn Mã Lai đó di cư thẳng từ chơn Cao nguyên Tây Tạng, chớ
không phải là một nhóm Cửu Lê ở Hoa Bắc chạy tới đó qua ngả Ba Thục, vì Cửu Lê
một ngàn năm sau mới xuất hiện tại Hoa Bắc.
Địa bàn phát tích của họ là vùng chơn núi HiMalaya.
Các dân thổ trước kém cỏi chạy lên núi rừng hết, nhưng dân
Mê-la-nê khá văn minh nên ở lại hợp chủng với Mã Lai. Hoá ra Mã Lai ở Ấn Độ phải
đen da.
Bọn Mã Lai bị đen da ấy định cư ở đó có 500 năm là đã lập ra
một nền văn minh rực rỡ mà các nhà khảo tiền sử chỉ mới khám phá ra đây thôi.
Nền văn minh của họ tồn tại được lối một ngàn năm thì họ bị
dân da trắng xâm lăng. Đó là dân Aryen.
Họ truyền màu da đen của họ sang bọn Aryen cho tới ngày nay,
nhưng họ vẫn còn đông đến một trăm triệu.
Đây là những bằng chứng Mã Lai đã làm chủ toàn cõi Ấn Độ, trước
khi chủng da trắng Aryen đến.
Trước hết ta nên hình dung ra nước Ấn Độ. Đó là một hình tam
giác mà một mũi nhọn chĩa thẳng xuống hướng Nam.
Ở các góc của hình tam giác ấy, ngày nay các nhà ngôn ngữ học,
các nhà chủng tộc học, các nhà dân tộc học đều tìm thấy dân Mã Lai thuần chủng.
Ở phía cực Tây, tại biên giới Ấn Độ - Ba Tư (nay thuộc quốc
gia Pakistan, từ ngay Ấn Độ tách ra làm hai), còn một nhóm thiểu số tên là nhóm
Brahouis. Tại phía cực Nam, nay là tiểu bang Madras, còn một nhóm thiểu số tên
là nhóm Nilgiri. Tại cực Đông còn một nhóm thiểu số tên là nhóm Naga, thuộc tiểu
bang Assam.
Nói là thiểu số nhưng riêng nhóm Naga đông cũng bằng toàn dân
số ở Trung Việt, và khi Ấn Độ thu hồi độc lập thì họ nổi lên đánh du kích và
cũng đòi độc lập. Họ đánh quá dữ, nên ông Nê Rư phải cho họ tự trị trong liên
hiệp Ấn, nhưng họ từ chối cho đến năm 1965 thì hai bên đã không còn liên lạc
ngoại giao với nhau nữa và nay không biết thế nào. Cũng nên biết là Trung Hoa
đã thò tay tới đó và đã lập ra một hội tên là Hội bạn của người Naga, và
tương lai của dân Naga chắc không xán lạn lắm như họ muốn, mặc dầu họ đã có
"bạn".
Ba nhóm thiểu số đó là Mã Lai thuần chủng. Nhưng một nhà bác
học, ông Przyluski, lại tìm được dấu vết của một nhóm Mã Lai thuần chủng ở ngay
trung ương Ấn Độ, đó là nhóm Salva, thờ mặt trời và nai y như dân Đông Sơn.
Sự kiện ở cả ba góc và ở trung ương đều có mặt họ, mỗi góc
cách xa nhau hơn ba ngàn cây số, chứng tỏ rằng hồi thái cổ, họ làm chủ cả Ấn Độ,
chớ không phải là họ chỉ làm chủ của bốn xó ấy mà thôi.
Dân Mã Lai chủ đất Trung Hoa lập ra nhiều quốc gia có địa bàn
liên tục, thì không có lý nào di cư sang Ấn Độ lại ở cách xa nhau trên ba ngàn
cây số, để chỗ trống ở giữa các nhóm cho các chủng tộc khác.
Vả lại, người Aryen, tức người Ấn ngày nay, viết sử cho biết
rằng khi họ xâm nhập Ấn Độ thì họ gặp toàn là thứ người đó mà họ gọi là
Mleech’a, ở đâu cũng do thứ người đó làm chủ, trên toàn cõi Ấn Độ (theo Kinh Phệ
Đà).
Mleech’a chỉ là phiên âm của danh tự xưng của dân Mã Lai, và
quả thật thế, chúng ta sẽ thấy nhóm nữa, tự xưng là Malaya’am từ 6.000 năm rồi
và cho đến ngày nay họ vẫn còn tự xưng như vậy.
Chúng ta đã thấy Tàu gọi dân số đó là Lỉ, là Li, là Lai,
cũng tức là phiên âm danh tự xưng Mã Lai, chỉ có điều là phiên âm không đúng hẳn
vào hai lần đầu mà chỉ đúng ở lần thứ ba vào thời Tây Chu mà thôi.
*
Đó là bốn nhóm thuần chủng Mã Lai ở Ấn Độ mà nhà bác học V.
Goloubew cho biết rằng họ cất nhà giống nhà khắc ở trống đồng Đông Sơn và có
văn minh giống với văn minh Đông Sơn, thuộc chủng cổ Mã Lai.
Nhưng ngoài bốn nhóm nhỏ ấy các tiểu bang Madras, Kerela và
quốc gia Tích Lan cũng là của thứ dân ấy, nhưng đã bị Ấn hoá và hiện còn đang
lai căn với Ấn Độ cho tới ngày nay mà sự hợp chủng chưa dứt, và họ còn đông tới
100 triệu.
Nhận xét của ông V. Goloubew đi song song với khám phá của
các nhà chủng tộc học, các nhà dân tộc học và các nhà khảo cổ khác, nhứt là các
nhà ngôn ngữ học.
Tất cả họ đều thấy rằng dân Nam Ấn, hiện đông lối một trăm
triệu, khác hẳn với chủng Aryen ở Bắc Ấn.
Bắc Ấn, trước ngày độc lập vẫn chia ra thành nhiều tiểu bang,
có ngôn ngữ riêng, nhưng tất cả các ngôn ngữ ấy đều đồng gốc Ấn Âu.
Còn dân Nam Ấn thì ngôn ngữ khác hẳn. Họ có một thứ ngôn ngữ
chung gọi là Nam Phạn (Pali), mà đó chỉ là Bắc Phạn (Sanserit) pha với thổ ngữ
để truyền đạo Bà La Môn, còn thổ ngữ thì cứ tồn tại, và khác hẳn ngôn ngữ của
chủng Aryen.
Các thổ ngữ thật của thổ dân Nam Ấn đồng tông với ngôn ngữ của
ba nhóm Mã Lai thuần chủng nói trên.
Hai danh xưng Aryen và Dravidien là danh
xưng của khoa chủng tộc học ngày nay dùng để chỉ người Bắc Ấn và người Nam Ấn,
chớ vào thời thượng cổ thì chắc chắn là họ phải tự xưng khác.
Aryen tự xưng là gì không rõ, chỉ biết rằng vào đầu Tây lịch
kỷ nguyên họ đã tự xưng là Hindou rồi (đọc là Hạnh Đu).
Đó là chủng da trắng xâm lược từ phương Tây đến.
Còn chủng của chủ đất cũ vào thời bị Aryen xâm lăng mà Tây gọi
là Dravidien tự xưng là gì? Ta sẽ lần dò để đi đến họ.
Chủng Aryen xâm lược gọi họ là dân Mleech’a mà ta đã đồng hoá
được với Mã Lai như đã nói trên kia.
Họ tự xưng bằng nhiều tên, tuỳ nhóm, chắc chắn như vậy, nhưng
vì họ giống nhau hết thảy, bất kỳ nhóm nào cũng giống nhóm nào, nên hồi thượng
cổ chủng Aryen mới dùng danh xưng chung là Mleech’a để gọi tất cả các nhóm, và
ngày nay khoa chủng tộc học dùng danh xưng chung là Dravidien cũng để gọi tất cả
các nhóm đó.
Trong các nhóm Mleech’a hiện nay có một nhóm ít bị lai giống
và ít thọ lãnh văn hoá Aryen nhứt. Nhóm đó lập thành tiểu bang Kerela và tự
xưng là dân Malayalam.
Không còn ngờ gì nữa hết về cái chủng Dravidien mà nhóm ít chịu
ảnh hưởng ngoại lai nhứt lại tự xưng là Malayalam.
Người của tiểu bang Kerela tự xưng là Malayalam vì như đã
nói, họ là nhóm đại diện cho cái khối Dravidien, khối này tan ra thành nhiều
chi, tự xưng khác, chỉ có chi gần gốc tổ mới tự xưng theo thời thượng cổ mà
thôi.
Vậy toàn thể dân Ấn thượng cổ trước khi dân Aryen đến đều đồng
chủng với nhau mà khoa chủng tộc học gọi là chi Dravidien, nhưng ta lại biết được
đại diện của họ ngày nay cứ còn tự xưng là Malayalam, còn dân Aryen thì gọi họ
là Mleech'a khi tới xâm lăng họ.
Chúng tôi vừa nói rằng có tánh cách thuần Mã Lai nhứt, là ba
nhóm nhỏ Brahouis, Nilgiri và Naga, còn Kelera có bị lai Aryen chút ít, nhưng
chúng tôi cho rằng Kerela đại diện vì ba nhóm thuần chủng nói trên bị thoái
hoá, thấy là thuần Mã Lai hơn về phương diện chủng tộc học, nhưng về văn hoá
thì chỉ hơn người Thượng chút ít, không đại diện cho chủng Mã Lai Ấn Độ là một
chủng đã có một nền văn minh cao hơn cả văn minh của chủng xâm lược Aryen nữa.
Cái nền văn minh đó hiện nhóm Malayalam còn giữ gần đầy đủ.
Malayalam có thể hồi xưa không dài đến thế mà chỉ là
Malaya mà thôi. Sau vì chịu ảnh hưởng Ấn Âu nên đa âm hoá.
Ở chương Ngôn ngữ tỷ hiệu, chúng ta sẽ thấy bằng chứng của sự
nhị âm của người Mã Lai Nam Dương, nhưng họ chuyển hoá bằng cách tiếp nhánh vì
thọ lãnh ảnh hưởng Ấn Âu nên họ đa âm hoá.
Thí dụ Bônga là Cái bông,
nhưng Huê dạng thì là Bôngan tức
Bônga + an.
Ta độc âm vì ảnh hưởng Tàu, nên ta chỉ tạo danh từ kép, còn họ
thì đa âm chịu ảnh hưởng Ấn Âu nên từ Mã họ đi đến Malayalam dễ như chơi.
Có điều chắc chắn là vào cổ thời họ chỉ tự xưng là Malaya mà
thôi, bằng vào lối phiên âm của thánh kinh Phệ đà là Mleech'a. Lam có lẽ là tiếp
vĩ ngữ mới được thêm sau, để nói cái gì đó mà ta chưa biết.
Kinh Phệ Đà chỉ được viết trên lá bối trước Tây lịch kỷ
nguyên không lâu, nhưng lại chép đúng theo sự học thuộc lòng của các thầy Bà La
Môn và nói đến chuyện cũ 5.000 năm, gọi thổ dân ở Ấn mà họ gặp là dân Mleech'a.
Thế nghĩa là danh tự xưng Malaya đã có từ 5.000 năm chớ không phải chỉ mới có từ
ngày thánh kinh Phệ Đà được ghi trên lá bối.
Ai cũng biết rằng khi dân da trắng Aryen xâm lăng nước của
dân Malayalam thì họ lập ra chế độ giai cấp để phân biệt dân thống trị và dân bị
trị. Dân bị trị bị đồng hoá nhiều thì ở giai cấp trên, bị đồng hoá ít, ở giai cấp
dưới.
Có tất cả bốn giai cấp chia ra thành bốn ngàn tiểu giai cấp.
Giai cấp thấp nhứt là giai cấp Paria, giai cấp này không được đến gần họ, đụng
chạm tới họ.
Nhưng trong tiểu bang Kerela, ngày nay mà dân còn tự xưng là
Malayalam thì giai cấp Paria bị xử tệ nhứt nước Ấn Độ, vì họ còn bị cấm
"ngó thấy" người Ấn.
"Ngó thấy" sẽ phạm tội chết.
Điều ấy chứng tỏ rằng họ là một thứ dân bị trị ít chịu đồng
hoá nhứt nên mới bị bạc đãi đến thế.
Ba nhóm nhỏ Brahouis, Nilgiri và Naga, vì sống độc lập trong
rừng núi nên mới thoát khỏi vòng cương toả của chế độ giai cấp, còn nhóm Kerela
thì lưng chừng, chịu để cho đồng hoá, nhưng sự hợp tác rất mong manh, và thường
chống đối, nên mới lọt vào hàng rào giai cấp và bị ngược đãi đến thế.
Chúng tôi nói nhóm Kerela là sai, vì thật ra thì Kerela là
tên của tiểu bang ấy hiện nay, được mọi người biết nên nói thế cho dễ hiểu, chớ
họ phân chia như thế này về mặt dân tộc:
Nhóm Malayalam tức Chera ở tiểu bang Kerela;
Nhóm Pandya ở tiểu bang Medras và đảo Tích Lan;
Nhóm Chola ở tiểu bang Nam Andha Pradesch.
Họ tự xưng là Mã Lai là vì đó là tên chủng tộc của họ, chớ
không phải thấy sang bắt quàng làm họ với Mã Lai Nam Dương. Dầu sao họ cũng đã
bị lai giống và đồng hoá phần nào với Aryen tức là sang hơn dân kém cỏi chỉ mới
được khai hoá sau là dân Mã Lai Nam Dương. Nếu họ không có một nền văn minh thật
cao như chúng tôi đã ám chỉ khi nãy, thì họ cũng cứ sang hơn Mã Lai Nam Dương
nhiều lắm. Vả lại họ tự xưng là Mã Lai nhiều ngàn năm trước khi Ấn Độ tiếp xúc
với Mã Lai Nam Dương.
Mã Lai chủng làm chủ toàn cõi Ấn Độ trên 1.500 năm, vì họ làm
chủ từ lối 6.000 năm trước đây nhưng chỉ mới bị chủng da trắng Aryen xâm lăng
cách đây có 4.500 năm.
Thế thì họ di cư khỏi Tây Tạng trước nhóm Mã Lai phía Đông đến
hơn một ngàn năm.
Cả hai cuộc di cư đều đồng nguyên nhơn với nhau là đất quanh
Cao nguyên Tây Tạng quá xấu, khí hậu lại quá lạnh. Đó là khí hậu lục địa
(climat continental).
Họ làm gì suốt trên 1.000 năm làm chủ Ấn Độ? Họ đã thiết lập
một nền văn minh rất cao, mà các nhà khảo tiền sử chỉ mới khám phá ra đây thôi,
nền văn minh cao đó kéo dài lối 900 năm mới bị bọn da trắng diệt đi, tức họ di
cư tới địa bàn Ấn Độ có 500 năm là đã từ dã man vượt lên văn minh tột bực, văn
minh hơn cả cổ Ai Cập nữa.
Nước của họ tên gì, không ai biết cả và các nhà khảo cổ ước
lượng nó sinh trưởng từ lối 3.500 năm T.K. đến 2000 T.K. thì bị chủng da trắng
Aryen từ phương Tây đến, diệt đi.
Khi mới khai quật được hai thành phố chôn vùi là Harappa và
thành Mohenjo Daro, thì các nhà khảo cổ thoạt tiên nghĩ rằng đó là thành phố của
dân da trắng, từ Địa Trung Hải đến, tức là dân Aryen.
Nay xét kỹ lại thì đó là thành phố của chủng Mleech'a, vì họ
nghiên cứu lại thánh kinh Phệ Đà của chủng Aryen trong đạo Bà La Môn, thì thấy
thánh kinh này nói đến bằng lời lẽ khinh bỉ, một thứ thị dân kia, da đen, mà họ
gặp khi họ xâm nhập Ấn Độ, còn chính họ thì du mục, và da trắng.
Khoa khảo cổ đã làm việc rất nhiều mà không hề đào được thành
phố nào khác, mang tánh cách văn hoá khác. Vậy hai thành phố đào được là của chủng
Mleech'a đã bị đen da rồi, sau khi hợp chủng với Mê-la-nê-diêng.
Thánh kinh Phệ Đà của Aryen da trắng nói rõ rằng đó là thị
dân, tức dân ở thành phố, và da đen. Còn họ thì da trắng và chưa biết cất nhà.
Hai thành phố đã khai quật được là thành Harappa và thành
Mohenjo Daro, được định tuổi là 3.500 năm, cho thấy một nền văn minh có thể nói
là hơn văn minh của Cổ Ai Cập ở nhiều điểm, vì tuy họ chỉ xây cất bằng gạch chớ
không biết dùng đá, nhưng họ giỏi cho đến nỗi gạch của họ, bị chôn vùi dưới đất
ẩm năm ngàn năm rồi mà không hỏng, cả ở bề mặt ngoài nữa, và họ xây cất cho dân
ở, chớ không phải thánh thần như ở Cổ Ai Cập hoặc như chủng xâm lăng da trắng
là chủng Aryen, về sau này.
Thành phố gồm toàn nhà lầu, có đường sá rộng lớn, có ống cống,
ống dẫn nước, có cầu xí hầm với bàn ngồi, có chỗ tập trung rác rến. Dân đó biết
dùng đồ đồng và có văn tự để lại (nhưng chưa ai đọc được).
Muốn đọc cổ tự phải biết cổ tự ấy thuộc ngôn ngữ nào. Biết họ
là Mã Lai, là chúng tôi, chớ các nhà khảo tiền sử không dè thành thử họ không học
tiếng Mã Lai để mà đọc cổ tự đó.
Có những phương pháp giúp ta đọc cổ tự lạ, khi biết cái ngôn
ngữ lạ đó, phương pháp ấy ra đời từ ngày Âu châu bắt đầu tìm đọc cổ tự Ai Cập.
Nhưng rồi ngày kia họ cũng biết đó là cổ tự của Mleech'a, họ
sẽ học tiếng Mã Lai, và sẽ đọc được, và những văn kiện ấy sẽ giúp ta biết nhiều
hơn về chủng Mã Lai cổ thời.
Đã bảo thoạt tiên các nhà khảo cổ Âu Châu ngỡ đó là thành phố
của một thứ người da trắng là người Aryen, nhưng lại có chứng tích trong thánh
kinh Phệ Đà của người Aryen cho biết rằng chủng da đen đã biết xây cất thành phố
rồi, còn Aryen thì chưa biết cất nhà.
Chứng tích thứ nhì là trong thánh kinh Phệ Đà, không có thần
Shiva, còn dân Mleech'a thì có thần ấy từ muôn xưa. Còn nay thì thần Shiva lại
đã nghiễm nhiên chiếm địa vị sang trọng trong đạo Bà La Môn của người da trắng
Aryen và người da trắng Aryen lại cũng bị đen da từ bốn ngàn năm nay, thì cuộc
hợp chủng và hợp văn hoá giữa Mleech'a và Aryen không còn chối cãi được.
Mà hễ có hợp chủng, hợp văn, hợp tôn giáo thì người da đen
Mleech'a đã thắng vậy.
Đạo Bà La Môn cấm dân xứ ấy kết hôn với dân bị trị, xưa thì
thế, nay thì họ chỉ còn cấm các giai cấp Bà La Môn kết hôn với các giai cấp thấp
hơn, thì tại sao dân da trắng Aryen lại bị đen da được?
Hiện tượng này sở dĩ xảy ra vì một kẽ hở của lịnh cấm.
Nên biết rằng dân da trắng Aryen xâm nhập Ấn Độ từ phía Bắc,
dân Mleech'a bị đẩy lùi ra ba góc tam giác Ấn Độ, và tại phương Nam họ chống cự
mãnh liệt, người Ấn không bao giờ chiếm được đất phương Nam của họ cả.
Suốt lịch sử gồm hơn bốn ngàn 500 năm của Ấn Độ, họ có thống
nhứt được hai lần, một lần dưới trào Ashoka, vào năm 322 T.K. và một lần dưới
trào Akbar vào năm 1556 S.K. nhưng ba nhóm Dravidien lớn là nhóm Cholas, nhóm
Cheras và nhóm Pandyas đều thoát khỏi cuộc thống nhứt ấy về mặt chánh trị.
Họ chỉ bị nhiễm văn hoá Ấn Độ mà thôi, và bị lai giống lần hồi,
đến nay vẫn chưa xong cuộc hợp chủng, chớ không hề bị trực trị.
Sở dĩ hiện nay họ phải nằm trong quốc gia Ấn Độ là vì khi người
Anh rút lui thì họ trao trả toàn cõi cho phe của ông Nê Rư, tức trao trả bậy bạ.
Rồi thì phe ông Nê Rư dùng sức mạnh để ngăn Malayalam trở về sự độc lập như
xưa, nhưng phao lên rằng là ngăn ly khai.
Thuở ấy có bốn nhóm không bằng lòng cuộc trao trả kỳ dị như vậy
và đòi độc lập:
Nhóm Tích Lan. Đối với nhóm này thì ông Nê Rư nhượng bộ vì họ
ở ngoài đảo mà ông ta thì không có tàu bè gì hết.
Nhóm Naga, ông Nê Ru không nhượng bộ. Nhưng quân đội của ông
ta đánh mãi mà không thắng được bọn ấy nên ông ta lờ đi.
Nhóm Hyderabad. Nhóm này đã lai Ấn Độ rất đậm, nhưng họ đã lập
quốc riêng từ 4 ngàn năm rồi, nên họ ly khai. Ở đây thì mới gọi được là ly khai
vì Hyderabad giống hệt như nước Sở của Tàu, một quốc gia lai giống và đã hùng
cường, và cũng ly khai từ ngày xưa. Ông Nê Rư đã xua quân đánh nhóm Hyderabad.
Vì nhóm ấy nằm trong ruột của Ấn Độ, tức yếu thế nên phải bại trận.
Nhóm Nam Ấn thấy Hyderabad mạnh hơn mà vẫn thua, nên không
dám rục rịch. Nhưng sau đó khi ông Nê Rư lấy phương ngữ Hindi làm thừa ngữ cho
toàn quốc, bỏ ngôn ngữ 5 ngàn năm của họ, đã sản xuất được bốn nền văn chương
khá rực rỡ, nền văn chương Tamoul, nền văn chương Télégu, nền văn chương
Kanara, và nền văn chương Malayalam thì họ bạo động đổ máu, khiến người thừa kế
của ông Nê Rư huy động quân đội xuống để "dẹp loạn".
Xin trở lại khe hở nói trên, tồn tại đến ngày nay, nhờ thế mà
người ta mới biết được một sự thật về lịch sử và về chủng tộc quan trọng.
Số là ở Nam Ấn, vì lý do không đánh chiếm được, nên dân Aryen
đổi chiến lược, gởi các thầy Bà La Môn xuống giảng đạo để làm cán bộ xâm lăng
chậm chạp và trá hình, còn các giai cấp khác thì không được xuống đó.
Các thầy Bà La Môn giảng đạo thành công rồi thì lại cũng bày
trò giai cấp và cũng cứ các thầy làm giai cấp hạng nhứt.
Vua chúa và quan lại của chủng Mã Lai Dravidien thì bị đẩy xuống
làm giai cấp hạng nhì y như ở Bắc Ấn, mà vua chúa cũng chỉ thuộc giai cấp hạng
nhì như chiến sĩ.
Dĩ nhiên là cuộc kết hôn giữa giai cấp này và giai cấp khác bị
cấm hẳn (cả ở Bắc Ấn mà giai cấp hạng nhì, cũng thuộc chủng da trắng Aryen mà
cũng bị cấm kết hôn với giai cấp hạng nhứt Bà La Môn, trừ vua. Ở Nam Ấn thì
giai cấp hạng nhì trở xuống, toàn là người bổn xứ thì càng cấm ngặt hơn nữa).
Con trai thứ của giai cấp Bà La Môn lại bị cấm cưới vợ (bất
kỳ cưới ai) vì lý do kinh tế. Họ sợ đất ruộng của gia tài bị chia manh xẻ mún.
Để giải quyết vấn đề sinh lý, con trai thì được xã hội làm ngơ để cho tư tình
hoặc hiếp dâm con gái của các giai cấp dưới.
Nhưng những đứa con lai thì lại được xã hội nhìn nhận và cho
vào các giai cấp trung gian. Đó là chứng tích của sự đen da của chủng da trắng
Aryen bị bắt gặp ngày nay tại Kerela, nơi mà cuộc hợp chủng chưa hoàn thành,
dân Mã Lai thuần chủng còn rất đông.
Tình hình ở Ấn Độ giống hệt tình hình ở Trung Hoa, chỉ có
khác là chủng Aryen không đồng hoá được chủng Mleech'a như chủng Hoa đã đồng
hoá được chủng Việt ở Hoa Nam vì người Aryen kỳ thị hơn người Trung Hoa, mà
cũng vì những dịp thống nhứt xứ sở của họ rất là mạng yểu. Trung Hoa đã thống
nhứt được từ đời Tần, Ấn Độ cũng vậy, nhưng nền thống nhứt của Trung Hoa liên tục,
thỉnh thoảng mới có phân ly vài mươi năm như dưới các thời Lục Triều, Ngũ Đại,
Tam Quốc, còn Ấn Độ thì không bao giờ thống nhứt được trên 300 năm.
Ở Bắc Ấn, thiên hạ đã đen hết cả rồi, nên không ai còn làm
sao mà hiểu được nguyên nhơn đen da của chủng da trắng Aryen, nhưng ở Kerela
thì chủng Mã Lai Dravidien còn đang hợp chủng với giai cấp Bà La Môn, giai cấp
này, ở Kerela còn một số người da trắng, và vì còn cái tục là cấm con trai cưới
vợ nhưng cho phép tư tình và hiếp dâm con gái giai cấp dưới, nên người ta mới
khám phá được hiện tượng trắng thành đen của chủng Aryen.
Hiện nay ở Ấn Độ, chính trong giai cấp Bà La Môn mà cũng chia
ra nhiều đẳng cấp, có trên, có dưới, mà giai cấp Bà La Môn ở Kerela lại bảnh nhứt
nước Ấn Độ vì họ còn trắng da, như Tây.
(Xin đừng lầm lẫn giai cấp Bà La Môn Kerela với dân Bombay,
dân này cũng trắng da. Nhưng họ không phải là người Ấn. Họ chỉ là dân Ấn, nhưng
gốc Ba Tư di cư, cũng thuộc chủng da trắng).
Tiểu bang Kerela là tiểu bang mà toàn thể dân chúng bị khinh
rẻ nhứt nước Ấn Độ, nhưng giai cấp Bà La Môn ở đó lại đứng hàng đầu của phái Bà
La Môn Ấn Độ. Có hiện tượng kỳ lạ ấy, vì các thầy Bà La Môn ở Kerela còn một số
trắng da, y như Tây, như đã nói, bởi cuộc hợp chủng chưa chấm dứt.
Tại sao giai cấp Bà La Môn ở Kerela còn trắng da mà ở Bắc Ấn
thì đã đen? Vì giai cấp ấy đến Kerela truyền đạo sau rốt hết, chỉ lối 2.500 năm
nay mà thôi, nên họ còn giữ được chủng của họ, còn ở Bắc Ấn thì cuộc chung đụng
giữa Mleech'a và Aryen đã xảy ra từ quá lâu đời (5.000 năm) không còn ông Bà La
Môn nào thoát đen được cả.
Hiện nay, nhìn vào một bức dư đồ phân phối ngôn ngữ, ta thấy
dân Mleech'a Dravidien còn chiếm được tới một phần ba đất đai Ấn Độ với bốn
nhóm ngôn ngữ sau đây: Télégu, Kannara, Tamoul và Malayalam. Ngôn ngữ Tamoul
chiếm hết phân nửa khác, dân Tích Lan nói tiếng Bắc Âu Aryen sai bậy đến nát
bét hết.
Đã bảo trừ giai cấp Bà La Môn có xuống Nam Ấn truyền đạo, còn
giai cấp khác thì không nhưng sao lại có bọn nói tiếng Bắc Ấn này? Đó là phu trồng
trà do người Ăng Lê đưa xuống khi họ chiếm Tích Lan vốn là Mã Lai. Người Ấn Độ siêng
năng hơn người Tích Lan vốn là Mã Lai, nên Ăng Lê đã dùng phu người Ấn và hiện
họ chiếm 50% dân số ở Tích Lan.
(Từ ngày thu hồi độc lập, chánh phủ Tích Lan đã đuổi người Ấn
về Ấn, nhưng chánh phủ Ấn lại không nhận dân bị đuổi thành thử dân Ấn ở đó
không có quốc tịch vì dân Tích Lan không cho họ vào quốc tịch Tích Lan).
Tình trạng của chủng Dravidien y hệt như Việt Nam, tức phải
chịu văn hoá Ấn Độ, như ta phải chịu văn hoá Tàu, nhưng giữ được ngôn ngữ. Có
khác là họ đã bị nước Ấn Độ của ông Nê Rư thôn tính họ, sau hàng ngàn năm họ độc
lập, còn ta thì nay độc lập, sau một ngàn năm bị trị.
Nhưng người ta tiên liệu rằng thế nào rồi họ cũng tách rời
ra. Khi một trăm triệu người và khi 1/3 đất đai và dân số muốn ly khai thì rất
khó giữ họ lại trong một nền thống nhứt nhị chủng mà chủng lép vế lại chưa bị đồng
hoá hẳn.
Hồi đồng chủng với Ấn, thế mà vẫn còn đòi ly khai vì tôn giáo
thì Nam Ấn không có lý do không ly khai vì họ khác chủng.
Sự kỳ thị chủng tộc kể từ ngày ông Nê Rư cầm quyền, nổi bật
lên rõ rệt và được tiếp tục cho đến ngày nay.
Số là thâu thuế thì các tiểu bang thâu đều và đóng đều cho
ngân sách trung ương, rồi trung ương trợ cấp lại cho các tiểu bang để họ chi dụng.
Nhưng hễ tiểu bang nào thuộc chủng Malayalam thì bị nhận trợ
cấp thấp hơn nhu cầu rất xa, khiến dân phải đói. Tại tiểu bang Kerela, dân
chúng mộ đạo nhứt nước Ấn Độ, vậy mà có mấy năm họ quá đói nên họ bỏ thăm cử cộng
sản lên nắm quyền của tiểu bang.
Ông Nê Rư không biết làm sao giải quyết, bèn bắt bọn dân cử ấy
mà hạ ngục hết ráo.
Khi mà lãnh đạo Ấn thực thi chánh sách kỳ thị chủng tộc như vậy
thì Mã Lai Ấn Độ tất nhiên phải ly khai khi nào có dịp thuận tiện, và nước Ấn Độ,
đã bị lai với Mã Lai rồi, sao cứ còn kỳ thị với Mã Lai thì cũng lạ.
Đạo Bà La Môn là một tôn giáo mềm dẻo, chấp nhận cả thần
thánh của các tôn giáo khác để tồn tại và lãnh đạo họ trong một cuộc hỗ tương
nhượng bộ. Thế nên ngày nay ta mới thấy đạo Bà La Môn thờ thần Shiva, thờ dương
vật và âm vật, đó là thần thánh của chủng Mã Lai, tồn tại cả trong xã hội Việt
Nam ngày nay nữa chớ không riêng gì ở các xã hội theo văn hoá Ấn Độ. Đạo Bà La
Môn nguyên thỉ không có thần Shiva cũng không có thờ âm vật, dương vật.
Ca dao và tục ngữ của dân ta đầy dẫy những câu hát tục tĩu và
ở nhiều làng còn thờ dâm thần, còn múa mo, âm vật và dương vật được thay bằng
cái mo và cây tre, còn gọi con trai là Chày, con gái là Sọt, y hệt như các tiệm
tạp hoá ở Ấn Độ bán chày và cối cho dân chúng mua về thờ, còn có đám rước âm vật
(làng Đồng Kỵ), còn chơi trò tranh giành Nõn Nường mà dân miền Trung
gọi là Lỗ Lường.
Người ta cứ ngộ nhận đó là tục của tù binh Chàm bị Việt hoá,
nhưng không phải thế, những trò ấy xảy ra ngay tại Bắc Ninh và Phú Thọ, trung
tâm văn hoá Lạc Việt, tù binh Chàm chỉ được cho định cư ở các làng quê hẻo lánh
để khẩn hoang, chớ đâu được ở Bắc Ninh, Phú Thọ.
Chúng tôi nói rằng Thái cũng là Mã Lai và tục Ném Còn của họ
cũng chỉ là dương vật và âm vật mà thôi.
Trong một đám cưới, ông mai phải cầm trái Còn (dương vật) ném
cho lọt vào một cái vòng tre bằng giấy mỏng tượng trưng âm vật còn màng trinh,
ném lọt vào được thì đám cưới mới cử hành được. Rồi sau đó thì trai gái trong
làng liền tiếp theo chơi cái trò chơi ấy, không còn tánh cách tôn giáo như khi
nãy nữa, nhưng cũng cứ là những hành động chúc lành cho đám cưới.
Ta sẽ thấy tôn giáo đồng bóng ở một chương khác, có mặt khắp
Đông Nam Á, cũng mang tánh cách đó của chủng Mã Lai, mà Tây phương gọi là tôn
giáo Phiền thực (Religion de la fécondité) không bao giờ có trong thánh kinh Phệ
Đà.
Hiện tại, người ta thấy xã hội Mã Lai Kerela quá giống xã hội
Mã Lai Chàm.
Chàm có câu ca dao:
Đàn ông đi đánh giặc
Đàn bà đi săn sóc con cái
Dân Kerela cũng có một câu ca dao y hệt như vậy và dân Kerela
vẫn cứ còn theo mẫu hệ, mặc dầu họ trí thức nhứt trong nước Ấn Độ ngày nay. Ở
tiểu bang đó, số người mù chữ thấp nhứt nước tức họ giỏi hơn cả chủng Aryen nữa.
Người Chàm tôn trọng chiến sĩ, người Kerela cũng tôn trọng
chiến sĩ. Giai cấp chiến sĩ, thuần chủng Malayalam, chỉ kém có giai cấp Bà La
Môn là giai cấp Ấn Độ thống trị mà thôi, ngoài ra họ đứng đầu tất cả mọi giai cấp
khác.
Nhưng dân Kerela lại không hề có đi chinh phục Chàm bao giờ cả.
Họ cũng chẳng có đi khai hoá Chàm. Đó là công việc của một nhóm Ấn khác.
Sự giống nhau ấy là do họ đồng chủng, đồng văn hoá với nhau,
tự nhiên mà giống chớ không phải vay mượn. Đành rằng về sau Chàm theo Ấn, nhưng
họ đã giống Nam Ấn sẵn rồi, thì sau đó mới theo văn hoá Ấn.
Các sử gia Pháp viết sử Chiêm Thành đều nói rằng sau Phạm Văn
vài đời thì người của nước Lâm Ấp do dự giữa văn hoá Trung Hoa và văn hoá Ấn Độ.
Phạm Văn đã đưa văn hoá Trung Hoa vào nước Lâm Ấp rồi, từ vài trăm năm trước
đó.
(Họ do dự được là nhờ độc lập; chớ không bị trị như ta).
Nhưng rốt cuộc thì họ chọn văn hoá Ấn Độ.
Các sử gia Pháp không cắt nghĩa được sự chọn lựa kỳ dị ấy bao
giờ, kỳ dị vì Chàm đã trót theo văn hoá Trung Hoa rồi, và thấy văn hoá Tàu là
cao.
Nhượng Tống làm ta có thể hiểu rằng vì văn hoá Ấn Độ thời đó
đã mang nặng nhiều yếu tố Mã Lai rồi, mà những yếu tố Mã Lai thì gần gũi với
tâm hồn người Chàm, Chàm vốn là Mã Lai.
Tại sao tất cả bao nhiêu thứ dân ấy đều đồng ngôn, đồng sọ,
mà chúng tôi không gọi chủng đó là chủng Nhựt Bổn, chủng Thục, chủng Âu hay chủng
Thái, hoặc chủng Tạng như Tàu đã gọi, mà lại gọi là chủng Mã Lai, tức lấy Mã
Lai làm căn bản?
Là tại tất cả những danh xưng ấy đều chỉ cổ có lối hai ba
ngàn năm, còn danh xưng Mleech'a và Malayalam thì cổ đến
5.000 năm, tức danh xưng Mã Lai có trước nhứt.
Lại thấy rằng tất cả bao nhiêu ngôn ngữ trên kia đều bắt nguồn
từ Tạng ngữ (xin xem Ngôn ngữ tỷ hiệu), và nhiều dân tộc như Khuyển Nhung, Miến
Điện, Cao Miên thì rõ ràng xuất phát từ chơn Cao nguyên Tây Tạng mà họ cũng nói
tiếng Mã Lai, ta có thể kết luận rằng Mã Lai chủng xuất phát từ chơn Cao nguyên
Tây Tạng, trái hẳn với các sách xưa cho rằng họ xuất phát từ Nam Dương.
Tại sao lại không nói người Tây Tạng là dân Mleech'a hay dân
Việt di cư đến Tây Tạng mà lại nói dân nào cũng từ Tây Tạng xuất phát ra? Vì
Tây Tạng là một Cao nguyên khô cằn nhứt trong các địa bàn Mã Lai, đất đai còn xấu
hơn đất Ninh Thuận của ta nữa, thì không có dân nào lại dại mà di cư đến Tây Tạng.
Tuy nói thế chớ những dân di cư túa ra khắp nơi chỉ là dân sống
chung quanh Cao nguyên Tây Tạng chớ không phải là dân của chính Cao nguyên Tây
Tạng, như ta sẽ thấy ở các chương khác. Nhưng những vùng đất ở quanh Cao nguyên
Tây Tạng cũng chỉ là đất rất xấu.
Tới đây, ta không còn phải khó chịu nữa khi nghe ông G.
Cocdès gọi người Thượng ở Cao nguyên khi thì bằng danh xưng cổ Mã Lai, khi thì
bằng danh xưng Dravidien.
Ông G. Cocdès không bao giờ giải thích tại sao ông dùng danh
từ quá xô bồ như vậy, nhưng rõ ra thì Dravidien Nam Ấn và Thượng là một, tức đồng
chủng Cổ Mã Lai với nhau.
Ông G. Cocdès đã bác bỏ các nhà ngôn ngữ học, họ cho rằng người
Thượng là người Cao Miên.
Không, ngôn ngữ căn bản của người Thượng là Mã Lai ngữ, như
ta sẽ thấy, họ chỉ có một số danh từ giống Cao Miên vì sự gần gũi với một dân tộc
văn minh hơn họ mà thôi.
Nhưng người Cao Miên cũng chỉ là Mã Lai như ta đã thấy thì
không thể nói Thượng là phụ chủng của Cao Miên được. Tất cả đều là phụ chủng Mã
Lai.
Cũng đừng nên lẫn lộn hai đợt di cư của Mã Lai đi Ấn Độ, nó
khác hẳn hai đợt di cư từ Hoa Bắc về thời điểm.
Khi bọn Mã Lai đợt I di cư sang Ấn Độ thì Mã Lai đợt I ở Hoa
Bắc chưa di cư, mà có lẽ cũng chưa tràn sang Hoa Bắc nữa, bằng vào sự vắng bóng
dấu vết của họ tại Hoa Bắc.
Còn trong đợt Mã Lai I di cư từ Hoa Bắc, có một nhóm cũng đi Ấn
Độ, nhưng chỉ đến Đông Ấn rồi lại lộn sang Đông phương. Vì sao? Vì họ thấy nơi
đó đồng bào của họ đang bị chủng Aryen xâm lăng và đánh đuổi, nên họ không ở lại
làm gì để phải chịu số phận của đám Dravidien đó.
Hoá ra đợt I Trung Hoa tức là đợt I Ấn Độ.
Còn đợt II Trung Hoa thì không bao giờ có đi Ấn Độ cả, có lẽ
vì họ đã biết tin tức là người đồng chủng của họ đã hoàn toàn đại bại và bị đẩy
lùi xuống Nam Ấn tất cả rồi.
Chỉ còn một điểm không ai biết cả là Mã Lai nằm sẵn lại Hoa
Nam có di cư cùng lúc với bọn Mã Lai sang Ấn Độ hay là không.
Ta có linh cảm mà không có chứng tích là họ đi Ấn Độ và đi
Hoa Nam đồng lúc với nhau, nhưng họ là hai chi khác nhau chớ không phải một.
Linh cảm ở điểm thứ nhì hơi vững hơn.
Ta đã thấy rằng dân nước Sở nói tiếng Mã Lai Nam Dương.
Mặt khác dân Mã Lai Hoa Bắc đợt I đi Ấn Độ hẳn phải đi tìm bọn
đồng ngôn. Thế thì Dravidien là một thứ người với Mã Lai Hoa Bắc.
Tuy cả hai thứ đều là Mã Lai, đều có một số danh từ chung
nhưng vẫn có một số danh từ riêng và bọn nói Chơn phải đi theo bọn
nói Chơn, tức Dravidien và Mã Lai Hoa Bắc nói Chơn, Hoa Nam và Nam
Dương nói Cẳng.
Chính vì hai thứ Mã Lai đó khác nhau nên khi rời gốc tổ là
HiMalaya một đàng sang Tây, một đàng sang Đông. Vậy là bọn gọi là đợt II ở Hoa
Nam di cư đến Trung Hoa trước bọn đợt II, và đồng lúc với bọn đi Ấn Độ.
Nhưng ở Trung Hoa họ không văn minh cao như ở Ấn Độ.
Ta cần xét lại thuyết của giáo sư Kim Định lần cuối cùng bằng
cách nghiên cứu hẳn chủng Miêu, coi chủng ấy có dính dáng gì đến chủng Việt
chăng để ông đặt tên là Viêm và định nghĩa rằng:
Viêm = Miêu + Việt, và Tàu Hoa Bắc = X + Miêu + Việt
Cũng trong dịp này, ta có thể bác bỏ luôn ông Lê Chí Thiệp và
ông Nguyễn Bạt Tuỵ về nguồn gốc của dân ta.
Miêu không phải là một dân tộc mà là một chủng rất lớn có mặt
ở khắp nơi trên đất Tàu, nhưng không có mặt ở đâu nữa hết, trừ các nhóm di cư đến
thượng du Bắc Việt và Bắc Ai Lao cách đây mấy trăm năm.
Giáo sư Kim Định cho rằng một chủng tộc tên là Viêm = Việt +
Miêu.
Chúng tôi ngạc nhiên lắm mà thấy các nhà học giả ta cãi nhau
lung tung về các chủng tộc, nhưng không hề có ai dùng chứng tích chỉ số sọ cả,
mà đó là chứng tích độc nhứt không thể chối cãi được. Có lẽ vì tài liệu khó
tìm, có thể có vị không biết rằng tất cả các chủng tộc ở Á Đông đều được đo sọ
cả rồi nữa cũng nên.
Ngoài cái vụ Viêm tộc không hề có, nhiều nhà trí thức khác
cũng nói người Miêu, người Dao là người Việt.
Ông Lê Chí Thiệp cũng đã dựa vào cổ sử Trung Hoa để chủ
trương như vậy, trong khi chúng tôi đã nói nhiều lần rằng chỉ có khoa chủng tộc
học mới là đưa tới kết quả không sai lầm mà thôi. Khoa này chứng minh rằng Miêu
và Dao đồng chủng với nhau và khác Việt, còn ông Lê Chí Thiệp thì lại nói Dao
và Việt là một. Ông Lê dựa vào cổ sử Trung Hoa, cổ sử ấy cho biết rằng người
Dao búi tóc, ông chủ trương rằng họ là người Giao Chỉ, chủ trương đó cần được
soát lại. Cái búi tóc chỉ là yếu tố văn hoá, dân này có thể vay mượn của dân
khác. Ngôn ngữ học và việc đo sọ mới là cái gì có tánh cách vững chắc.
Một bức ảnh trong chương này cho thấy người Dravidien ở Nam Ấn
búi tóc y hệt như các cụ V.N. Ở chương Mã Lai chủng, chúng tôi có trình ra chứng
tích rằng Dravidien là Mã Lai đấy, nhưng không phải từ Trung Hoa mà đến Ấn Độ.
Thế là có rất nhiều nhóm Mã Lai búi tóc chớ không riêng gì dân Dao và dân Việt.
Có hai thứ người Dao mà Trung Hoa viết khác nhau, nên các tự
điển ta cũng viết khác nhau: Dao và Giao.
Dao, Tàu viết với bộ Khuyển và chữ Miêu (và gần đây họ thay bộ
Khuyển trịch thượng đời xưa bằng bộ Ngọc (hay Vương). Dao đó thuộc
Miêu tộc, có một số có di cư đến thượng du Bắc Việt mà ta gọi là Mán này, Mán nọ.
Thiếu phụ Mạ ở buôn CAMOUNG đang dệt vải. Có sọ Mã Lai và
ngôn ngữ Mã Lai, tuyệt đối không phải Cao Miên như sách Tây đã viết. Người này
xinh như một thiếu phụ Việt có nhan sắc bực trung, còn phụ nữ Cao Miên thì xấu
xí hơn nhiều.
ẢNH ĐỐI DIỆN. Một buổi họp việc làng ở Nam Ấn Độ sau ngày độc
lập. Người Nam Ấn thuộc chủng Dravidien, tức chủng Mã Lai đã bị lai giống với Ấn
Độ một phần. Xin đặc biệt chú ý đến hai búi tóc của hai cụ bô lão, y hệt như
búi tóc Việt Nam. Có hàng chục nhóm Bách Việt để búi tóc và búi tóc không phải
là biệt sắc cần theo dõi.
Còn Giao thì viết ba cách:
Giao, như giao thiệp, đó là chữ dùng cho Giao Chỉ, v.v.
Bộ Trùng, đó là dân Giao của quyển Sơn Hải Kinh, thứ
dân sợ con giao long, nhưng sách đó không cho biết dân đó ở đâu một cách đích
xác.
Bộ Ngư, đó là dân Giao cũng cứ của Sơn Hải Kinh, chỉ
một thứ dân nửa cá nửa người, sống dưới đáy biển, trồi lên buôn bán với người
và khóc ra những giọt lệ biến thành hạt trai.
Cả hai thứ Giao đó, đều không còn, không thấy ghi trong các
sách địa lý của Trung Hoa ngày nay, có lẽ vì không bao giờ có họ.
Và chính dân Giao ấy không búi tóc mà phải xén tóc ngắn, cả
hai đều sống dưới nước, nếu quả có họ.
Ông Lê Chí Thiệp viết với chữ D thì tức là nói đến người Dao
hiện còn mà ta gọi là các thứ Mán.
Thật thế, ông lại đưa chứng tích ngôn ngữ thì chắc chắn là
xem hai chủng khác nhau thì bốn đơn vị có là dấu vết của sự lai căn được chăng?
Hẳn là không.
Đó là về nhơn thể tính. Ta thử xét qua các điểm khác có thể
xem là tương đồng Hoa Miêu (Hoa Miêu chớ Việt Miêu thì tuyệt đối không có điểm
tương đồng nào cả).
Họ có một huyền thoại về nguồn gốc của họ, giống của Trung
Hoa, nhưng xét ra thì họ chỉ vay mượn để chưởi dân Trung Hoa mà họ căm thù.
Nên nhớ rằng vật tổ của dân Mông Cổ là con chó sói.
Hậu duệ của Mông Cổ là người Tần cổ sơ cũng thờ vật tổ là con
chó Đại bản, tuy chỉ là con chó thường, nhưng nặn tượng bằng đất, họ để con chó
ấy ngồi đưa mõm lên trời trông giống con chó sói đang tru.
Nhưng từ đời Hán đến giờ thì họ không thờ nữa, con chó Đại bản
chỉ còn là vật trang trí bằng đất tráng men gắn trên nóc nhà hay đặt trước sân
các đền, miếu mà thôi.
Người Miêu mượn chó Đại bản để thờ nhưng kể sự tích như thế
này:
Vua Trung Hoa đánh giặc mãi mà cứ thua hoài, bèn rao lên rằng
ai mà lui giặc được thì gả công chúa cho, và chia cho nửa nước.
Con chó Đại bản tới xin quân dẹp giặc và thành công.
Vua Tàu bèn thí công chúa cho nó, còn nước thì ông ta ăn
gian, thay vì chia phân nửa trên mặt đất, ông ta lại chia phân nửa trên không
trung, thế nên ngày nay người Miêu chỉ ở trên núi, còn người Tàu thì ở đồng bằng.
Như đã nói, xưa kia Miêu và Lạc làm chủ nước Tàu, trước khi
người Tàu đến. Nhưng thay vì di cư như chủng Việt, họ rút lên núi mà sống từ
năm ngàn năm nay, cho đến nỗi lối sống đó biến thành phản ứng sinh lý nơi họ,
ngày nay họ xuống đồng bằng là mắc bệnh tức thì.
Thấy rõ rằng họ không có chung vật tổ thật sự mà Miêu chỉ mượn
vật tổ để chưởi Tàu cướp đất và có con gái gả cho chó.
Họ không có nét Mông Cổ nào hết để nghĩ rằng sở dĩ họ thờ chó
vì họ cũng có lai giống với Mông Cổ.
Chưa ai cắt nghĩa được nguồn gốc, ý nghĩa của danh xưng Miêu
một cách ổn thoả cả. Thuyết cho rằng ngôn ngữ Miêu giống tiếng mèo kêu, thuyết ấy
bị Guy Moréchaud bác bỏ rất có lý rằng chính tiếng Tàu giọng Hoa Nam mới có 6
thanh còn tiếng Miêu thì chỉ có hai thanh thì lẽ ra người Miêu phải gọi Trung
Hoa là Mèo mới đúng.
Ông P. Le Convreur có thử giải thích ý nghĩa của danh xưng
Miêu bằng vào tự dạng, Thảo đầu và Điền. Ông nói, đó là dân làm
ruộng rất dở, không biết làm sạch cỏ trong ruộng, giải thích này phù hợp với
quan sát của các nhà dân tộc học Âu châu về người Miêu là mãi cho tới ngày nay
họ vẫn trồng trọt dở hơn là chăn nuôi. Và như đã nói, họ khác ta về phản ứng
sinh lý nữa chớ không riêng gì về sọ: họ ở trên núi cao được, còn ta và Tàu thì
không.
Chúng tôi đọc nhiều sách cho một vấn đề, một dân tộc, và cho
mỗi dân tộc, chúng tôi chọn một quyển làm tài liệu chủ lực. Về chủng Miêu thì
chủ lực là quyển "Le chamanisme Hmong" của Guy Moréchand.
Ông Guy Moréchand ghi chép bằng chữ La-tinh hằng lô những câu
đối thoại, những lời khấn vái của họ, nhưng chúng tôi không tìm được danh từ
nào hơi giống tiếng Việt như là Chàm đã giống, hay Cao Miên, hay Thái đã giống.
Về ngôn ngữ, ông Lê Chí Thiệp dựa vào Prozyluski cho rằng
ngôn ngữ Miêu cùng nhóm với ngôn ngữ Thái mà Thái ngữ lại giống Việt ngữ, ông
Lê Chí Thiệp không có nói ra điều chắc chắn nhưng ta phải hiểu rằng ông ngầm
cho Miêu ngữ đồng nhóm với Việt ngữ nhờ trung gian Thái ngữ. Nhưng Guy
Moréchand, tác giả quyển Le chamanisme Hmong, quyển sách đồ sộ nhứt về Miêu
tộc mà chúng tôi dùng làm tài liệu chủ lực cho chương này thì lại quả quyết rằng
Prozyluski đã lầm và ngôn ngữ Miêu, Dao không hề dính líu gì về ngôn ngữ Thái cả.
Ông Guy Moréchand vì nghiên cứu tôn giáo Miêu tộc, bắt buộc phải học ngôn ngữ của
họ để hiểu những lời khấn vái, và ông làm việc ngay tại Quý Châu địa bàn chung
của Miêu và Thái, nên ông lại phải học tiếng Thái vì người Thái có buôn bán,
còn người Miêu thì không.
Thành thử không là nhà ngôn ngữ chánh hiệu, ông vẫn để dành
nhiều chương sách cho ngôn ngữ Miêu, Dao, Thái. Hơn thế, ông còn nói rằng
Prozyluski đã lầm.
Ông Lê Chí Thiệp dựa vào Prozyluski nói trên viết:
"Không thể cắt nghĩa một cách hợp lý chỗ tương đồng giữa hai ngôn ngữ trên
đây (Miêu và Việt Thái) nếu không nhìn nhận sự đồng chủng của hai dân tộc.
Cái tương đồng mà ông Lê Chí Thiệp nói đến là tương đồng ngữ
pháp.
Ta không kể Guy Moréchand vì ông ấy cũng có thể sai và cứ xem
như là ông Lê Chí Thiệp nói đúng, nhưng có một nguyên lý này về ngôn ngữ học áp
dụng vào chủng tộc học, là hai dân tộc có ngữ pháp y hệt như nhau, không cứ là
đồng chủng mà cho cả đến việc đồng ngữ pháp và ngữ vựng với nhau cũng không cứ
là đồng chủng, lịch sử nhân loại đã cho nhiều thí dụ về các dân tộc bỏ ngôn ngữ
của mình lấy ngôn ngữ của chủng khác vì áp lực hoặc vì cảm tình như trường hợp
Thái Khorat mà chúng tôi đã dẫn ở chương Ngôn ngữ.
Nhưng sự thật thì Prozyluski đã lầm, hai ngữ vựng Miêu, Dao
và Việt, Thái không có trùng hợp với nhau như Việt, Thái, còn thanh thì Miêu chỉ
có hai thanh.
Sau 1945, một nhà bác học Nga có đến Quý Châu để nghiên cứu
Miêu Thái. Ông ấy đã xác nhận Guy Moréchand: Prozyluski đã lầm, Thái ngữ và
Miêu ngữ không có liên hệ nhau. Vì sống chung nhau họ có vài danh từ giống
nhau, nhưng đó chỉ là Thái Quý Châu, còn Thái ở các nơi khác thì không, mà ở
Quý Châu cũng chỉ giống nhau có vài chục danh từ mà thôi.
Vậy xin bác bỏ một lần nữa chủng Viêm của giáo sư Kim Định.
Trong bài tựa quyển Hành trình vào dân tộc học của
giáo sư Lê Văn Hảo, giáo sư Nguyễn Bạt Tuỵ lại gọi dân ta là dân Giao viết với Gi,
và ông phân biệt Giao Chợ, tức Việt Nam và Giao Mường, tức
người Mường.
Chủ trương của ông Nguyễn Bạt Tuỵ chắc dựa vào tài liệu Tàu
như của ông Lê Chí Thiệp, chỉ có khác là giáo sư họ Nguyễn viết chữ Giao khác
hơn.
Không rõ giáo sư họ Nguyễn lôi kéo ta vào Giao nào. Nhưng dầu
sao cũng không phải vào Dao với chữ D nó tả một chi của Miêu tộc.
Hiện nay người Miêu còn sống dưới chế độ chưa phân công, tức
một cá nhơn vừa làm nông nghiệp vừa chăn nuôi, vừa làm thợ mộc, thợ rèn, v.v.
Như thế là quá kém, kém hơn cả người Thượng ở Cao nguyên, thì cách đây 5.000
năm, họ không thể là thầy của Tàu được.
Mấy trang ngắn trên đây, cho ta biết thật đúng về chủng Miêu
để cho phép ta gán ghép họ với các chủng khác. Tuy sự khác biệt chỉ số sọ của họ
với Trung Hoa chỉ có một đơn vị thì có thể xem họ là một phụ chủng Tàu, nhưng
cơ thể của họ lại chẳng có mang yếu tố Mông Gô Lích nào cả, và cơ thể Tàu cũng
chẳng có mang yếu tố Miêu nào cả.
Ngôn ngữ thì như thế đó, tức không có lấy một tiếng Tàu, một
tiếng Việt nào cả trong Miêu ngữ.
Nghiên cứu của ông G. Moréchand không phải là không được các
nghiên cứu khác xác nhận và đó là những gì mà ta đã phải biết rõ mà có lẽ Mộng
Văn Thông và Chu Cốc Thành cũng đã biết thật rõ.
Như vậy thì không hề có một chủng tên là Viêm gồm Miêu và Việt
được.
Ở trang 405 giáo sư Kim Định cho rằng chỉ có một chủng mà ba
thời đại được gọi tên khác nhau: Viêm là tên thái cổ, Miêu là tên thượng cổ, Việt
là tên cổ và tên kim.
Nhưng cái sọ và ngôn ngữ thì như thế đó, sọ Việt là sọ Mã
Lai, ngôn ngữ cũng thế.
Dân Giao bộ Ngư có thể là dân Hợp Phố bị huyền thoại hoá, mà
ta sẽ thấy rằng dân Hợp Phố là Mã Lai đợt II, nói thứ ngôn ngữ của người Nam
Dương.
Còn dân Giao bộ Trùng có thể là dân Việt ở gần Hồ Động Đình, ở
đó có con giao long. Dân này cũng đã bị huyền thoại hoá. Nhưng không có tài liệu
nào để nối kết nhóm Việt đó với ta hết. Cứ xem Tả Truyện thì biết dưới
thời Xuân Thu ở đó có rất nhiều quốc gia Việt thuần chủng.
Nếu chỉ dựa vào chữ nghĩa thì cả ba chữ Giao đều viết khác
nhau, tức cũng chẳng có dây liên hệ nào giữa ba tự dạng đó.
Vậy Miêu, Dao hay Giao gì cũng phải bị loại ra hết cả, vì
Giao có thể không có bao giờ, còn Dao chỉ là Hyao, một chi của Miêu chủng mà ta
gọi là Mán, mà Miêu thì lại có cái sọ khác ta đến bốn đơn vị.
Ở chương tới chúng tôi sẽ trình ra những dấu vết Mã Lai trong
xã hội Việt Nam hiện kim mà quan trọng nhứt là sự đối chiếu sọ và ngôn ngữ Mã -
Việt - Hoa.
Nhưng trước khi trình ra những chứng tích khoa học, chúng tôi
cũng xin trình ra những chứng tích kém khoa học hơn, những chứng tích gián tiếp
mà chúng tôi đã dùng, trước khi tìm được sách đo sọ của nhóm bác sĩ Huard và
sách tóm lược kết quả khảo tiền sử ở toàn cõi Á Đông của ông G. Cocdès.
Những chứng tích gián tiếp ấy, chắc không được khoa học và
dân chúng tin bao nhiêu, nhưng nó vẫn đưa chúng tôi đến cái sự thật là Việt =
Mã Lai.
Chúng tôi đã có chứng tích gián tiếp ấy từ lâu rồi, nhưng
không dám viết ra thành sách vì biết rằng khoa học và dân chúng không tin bao
nhiêu. Nhưng giờ đã nắm được cái gì thật vững hơn, chúng tôi cũng trình ra cái
ít vững, để cho thấy rằng khi mà cái ít vững lại rất hữu lý thì nó cũng là sự
thật được chớ chẳng không.
Nếu muốn tìm một câu trong cổ thư Trung Hoa viết rằng:
Việt = Mã Lai
chắc không ai tìm được, vì cái lẽ giản dị là câu đó không có
trong sách nào hết. Nhưng lại có rất nhiều câu khác đưa ta đến kết luận ấy, và
nếu nhà bác học Trung Hoa Lăng Thuấn Thanh không xác nhận rằng Việt thuộc chủng
cổ Mã Lai, chúng ta cũng có thể biết được cái chủng của dân Việt như thường.
Chúng tôi khám phá ra điều này trước khi đọc Lăng Thuấn
Thanh, vả lại họ Lăng chỉ khẳng định Việt = Cổ Mã Lai, chớ không chứng minh được
mà khẳng định thì bất kỳ ai cũng có thể khẳng định bất kỳ điều gì.
Khi qua các mê đạo của những sách Tây, Tàu, chúng tôi lượm được
những viên ngọc quý sau đây:
Các sách dân tộc học Âu Mỹ và chính cả người Nhựt cũng xác nhận
bằng lời với ta là hiện nay những ông già bà cả của họ còn có người xâm mình,
răng nhuộm đen. Đó là tục rất cổ của họ mà lớp tuổi trẻ đã bỏ, y hệt như trong
xã hội Việt Nam.
Quyển sử Nguỵ chí của Trung Hoa (đời Tam quốc) lại
tả người Nhựt có tục Văn thân.
Khoa khảo cổ Nhựt tìm thấy trong những ngôi mộ cổ bên Nhựt,
những hình người bằng đất ung, mặc áo cài nút về bên trái (Tả nhậm).
Như vậy Nhựt Bổn mang đến ba biệt sắc của chủng Việt, là Văn
thân, tả nhậm và nhuộm răng đen.
Trên thế giới chỉ có hai dân tộc là có tục Harakiri, đó là
dân của Câu Tiễn và dân Nhựt Bổn.
Mặt khác, khoa khảo cổ cho biết tánh cách Mã Lai của người Nhật
đầu tiên, mà không phải là bất kỳ Mã Lai nào. Hình nhà khắc ở lưng gương đồng cổ
thời của người Nhựt giống nhà Đông Sơn.
Hiện nay người Nhựt cũng còn ở nhà sàn, mà đó không phải là
phát minh mới, mà là theo tục cổ của chủng Mã Lai, thấy được trong gương nói
trên.
Người Nhựt cổ thời ở nhà sàn chớ không phải là ở nhà trên lỗ
huyệt như các nhà khảo cổ của họ đã lầm. Lối kiến trúc Lập huyệt chi gia mà
họ tìm thấy dấu vết, không phải là của dân tộc họ thời thượng cổ, mà của dân tộc
khác, có lẽ là của người Aino.
Nhà bác học Hoà Lan P.V. Van Stein Callenfels lại tìm thấy dấu
vết Mã Lai trong vật dụng cổ thời trên đất Nhựt mà chính nhà bác học Nhựt Bổn Matsumoto
đã tìm được sự giống nhau giữa Nhựt ngữ và Mã Lai ngữ, và dây liên hệ giữa thần
thoại Nhựt và thần thoại Mã Lai.
Ở một chương sau chúng tôi sẽ cho đối chiếu một mớ danh từ Việt
Nam và Nhựt Bổn mà chúng tôi học được ở Sài Gòn. Chúng tôi đã đối chiếu xong một
lần ở danh từ Lá.
Như vậy là có đến sáu bảy cái khoen nối kết giữa Việt, Nhựt
và Mã Lai, và ta có thể bằng vào những cái khoen ấy để viết ra tam đoạn luận
sau đây:
Nhựt = Việt
Nhựt = Mã Lai
Vậy Việt = Mã Lai
Ta không thể viết cái tam đoạn luận ấy cho ta, vì ta chưa tìm
được dây liên hệ nào hết, trong chương này. Nhưng ta sẽ viết mạnh tay hơn, ở
chương khác, vì ta sẽ tìm được nhiều cái khoen nối kết hơn trong xã hội Việt
Nam, nhứt là việc đối chiếu sọ.
Đây chỉ là một sự thoáng thấy của chúng tôi mà chúng tôi
không dùng để làm chứng tích lớn.
Cũng nên biết rằng nhờ độc lập nên người Nhựt họ tự khảo tiền
sử và khảo cổ sử của họ, chớ không có nhờ Âu Mỹ như ta. Nhưng thuở họ mới làm
công việc ấy, vì chưa thấm nhuần nổi tinh thần khoa học, nên họ làm những công
việc ấy rất ngây thơ. Hễ đào được bất kỳ cái gì ở dưới lòng đất, họ đều cho đó
là của tổ tiên họ, thí dụ như lối kiến trúc "Lập huyệt chi gia" nói
trên đây là một.
Về cổ sử họ làm cũng rất buồn cười. Nhân loại tiến lên qua
nhiều giai đoạn, nhưng không phải dân tộc nào cũng qua đủ cả các giai đoạn, mà
có rất nhiều dân tộc đốt bỏ một vài giai đoạn.
Họ học lịch sử tiến hoá của nhân loại với Âu Mỹ, và tự nhiên
trong bài học người dạy phải đưa ra đầy đủ tất cả mọi giai đoạn.
Thế rồi về nước, viết cổ sử cho họ, họ quả quyết rằng tổ tiên
của họ có qua đầy đủ các giai đoạn, đúng y theo những bài học tổng quát mà họ học
được.
Họ lại không biết tổ tiên họ chỉ mới di cư đến Nhựt không
lâu, nên họ nói chuyện thời ăn lông ở lỗ của họ tại đất Nhựt, trong khi thời ấy
xảy ra tại Hoa Bắc và HiMalaya.
Những khám phá của ông Matsumoto là những khám phá mới đây mà
họ đã thấm nhuần tinh thần khoa học được rồi.
Trên đây là toán học, nhưng không phải là máy móc vì mỗi yếu
tố tam đoạn luận gồm sáu vế, đều đã được chứng minh một cách không thể cãi, và
rồi sẽ còn nhiều chứng minh nữa chớ không phải chỉ có bấy nhiêu đó mà thôi.
Thí dụ, chúng tôi sẽ chứng minh rằng tô-tem của Lạc Việt
là Nai chớ không phải là Chim như toàn thể thế giới khoa học
đều viết.
Mà hiện nay, cố đô Nại Lương của Nhựt Bổn rất nổi danh về đạo
binh nai thần, mà họ nuôi một cách trịnh trọng y như là người Ấn Độ nuôi bò làm
vật tổ.
Các du khách vừa đến phi trường Đông Kinh là thấy cả một thị
trường tượng nai, nai bằng lụa dồn gòn, bằng gỗ, bằng đồng, bằng sơn mài.
Tại sao bán kỷ vật cho du khách, họ không bán con vật nào
khác mà chỉ bán con nai, hoặc thường bán con nai?
Tất cả những kiểu trang trí ở Nhựt Bổn, nếu không bắt chước
Tàu như Rồng, Phượng, Mai, Trúc, v.v. đều là hình nai.
Thế thì quyển sách của ông G. Cocdès, chúng tôi nói là cần
thiết, nhưng không có sách đó, ta cũng đi tới được kết luận:
Việt = Mã Lai
như thường.
Nhưng sự thật đó, chỉ nhờ cổ sử Tàu viết khá rõ, chớ với các
dân tộc khác mà Tàu không biết, không nói đến, thì khoa khảo tiền sử vẫn đứng đầu
vì cái lưỡi rìu có tay cầm và lưỡi rìu hình chữ nhựt là bằng chứng cụ thể hơn
nhiều.
Hơn thế lại còn sọ Cổ và sọ Kim nữa.
Khoa khảo tiền sử cho biết có nhiều hơn bất kỳ những ráp nối
đối chiếu phiền phức nào, nhưng chúng tôi đã thử làm chơi để đi đến kết luận Việt
= Mã Lai, mà không cần khoa đó, hay nói cho đúng, làm trước khi đo sọ, và trước
khi tìm được sách đo sọ để khỏi phải tự đo lấy.
Ngoài ra, còn có một phương pháp nữa mà chúng tôi cũng đã
theo, như đã nói, đó là phương pháp mà khoa học đòi hỏi đối với nên văn minh
Đông Sơn: tìm những cái khoen trung gian, nối kết Đông Sơn, Lạc Việt xưa và Việt
Nam nay.
Chúng tôi đã tóm, và sẽ trình kết quả ở chương kế tiếp chương
này, lấy tên là "Dấu vết Mã Lai trong xã hội Việt ngày nay".
Như đã nói, chuyện Đông Sơn là chuyện quá trễ về sau, đối với
nguồn gốc tổ tiên ta mà các sử gia ta lại cứ dừng bước tại đó là sai nguyên tắc
làm việc. Nhưng khi đã dừng bước tại đó thì cũng nên làm việc cho có khoa học,
tức tìm cho được những cái khoen nối kết mà khoa học đòi hỏi.
Cho đến năm 1927 mà giới khoa học còn chưa biết Việt, Mã Lai,
Cao Miên và Thái đồng chủng, chớ đừng nói biết họ đồng gốc Mã Lai mà ra. Và cả
cho đến nay, cả những nhà bác học không theo dõi các cuộc nghiên cứu cũng không
biết rằng Cao Miên, Mã Lai và Việt đồng chủng nữa.
Năm 1927, một câu chuyện ngộ nghĩnh xảy ra, làm ngẩn ngơ giới
bác học Âu châu làm việc tại "Đông Dương".
Số là người ta tìm thấy, dưới hầm sâu 2th20 của trung điện của
ngôi đền Chau Sau Têvoda, thuộc Angkor, một bộ xương của một người đàn bà còn
nguyên. Theo ông Parmentier thì người đàn bà ấy không thể sinh ra trước thế kỷ
XII, vì ngôi đền chỉ cất vào thế kỷ XII mà thôi. Bà ta cũng không thể là người
Cao Miên bởi người Cao Miên hoả táng, thì không thể còn bộ xương nguyên được.
Và theo ông Malleret thì người Thái đã cai trị vùng đó cho tới
năm 1927.
Người ta tạm kết luận rằng đó là một người Thái thường dân đi
ăn trộm vàng, bởi các tục của Cao Miên chôn vàng ở hầm trung đường, và chôn một
cách vĩnh viễn. Kẻ trộm bị chết vì rủi ro nào đó không biết được.
Bà Genet-Varein nghiên cứu sọ của người ấy và thấy rằng người
ấy thuộc chủng Mã Lai!!!
Giới bác học ngẩn ngơ vì vào năm đó, chủng Mã Lai được đo sọ
rồi, còn việc đo sọ của dân Thái thì cho mãi đến năm 1931 mới biết được kết quả.
Người ta tự hỏi làm thế nào mà một người Mã Lai xa xôi lại đơn độc vào một ngôi
chùa tại một nước xa lạ được, hầu toan ăn trộm vàng, để phải chết vì tai nạn?
Chỉ sau 1931 thì ánh sáng mới rọi vào câu chuyện khó hiểu đó,
vì người ta khám phá ra rằng sọ Mã Lai, sọ Việt và sọ Thái giống hệt nhau,
và kẻ trộm, chỉ là người Thái, mặc dầu y có sọ Mã Lai.
*
Đây là đặc điểm về nhân thể tính của chủng Mã Lai, nó cắt
nghĩa được vấn đề rất khó tiêu hoá cho một số người Việt Nam ta, là nguồn gốc
Mã Lai của tổ tiên ta.
Ta cứ thấy những Mã Lai sậm màu da, theo văn minh Ấn Độ, có vẻ
khác ta, nên khó nhận rằng tổ tiên ta là Mã Lai. Văn hoá biến đổi con người rất
kỳ dị như đã nói ở một chương trước.
Khía cạnh nhơn thể tính và chủng tộc học kia mới đáng cho ta
dùng làm chứng tích.
Dưới đây là định nghĩa của nhà nhân thể học, kiêm chủng tộc học
H.V. Vallois, thường được trích dẫn ở Âu châu, ông ấy là tác giả quyển "Les
races humaines" được xem là quyển sách có uy tín về khảo cứu các chủng
tộc: "Chủng tộc Cổ Mã Lai tức Anh Đô Nê-diêng rất đặc biệt ở cái điểm
này là những đặc tính vi tế làm cho chủng ấy khác với ba nhóm chủng lớn: đen,
vàng và trắng, những đặc tính ấy biểu lộ ra rất mong manh".
Nói nôm na ra thì chủng Mã Lai hơi vừa giống Tàu, lại hơi vừa
giống Tây, mà cũng hơi vừa giống các thứ người đen. Nó ở lưng chừng giữa ba chủng
kia, không khác biệt nhiều với cả ba chủng ấy như là ba chủng ấy khác biệt với
nhau. Một chủng tộc như thế thì nói nó giống với ai cả cũng được cả.
Thế nên, các nhà chủng tộc học không ngạc nhiên chút nào mà
thấy ở Bắc Sơn và Hoà Bình sọ người Cổ Mã Lai nằm chung với sọ da đen, với sọ
người Mông Gô Lích, v.v. Chủng Mã Lai có khuynh hướng hợp chủng vì nó tự
thấy nó không khác ai bao nhiêu.
Cứ xem con gái Việt Nam lấy chồng thì đủ biết: Tàu, Ấn Độ, Mã
Lai, người đen Phi châu, người Á Rập, người Âu, người Mỹ gì họ cũng vui lòng kết
hôn hết thảy, đó là không kể vô số những cuộc lấy nhau mà không kết hôn.
Theo ông G. Wiltoquet một nhà địa lý học thì hiện nay không
còn chủng Mã Lai thuần chủng nữa vì cái khuynh hướng dễ hợp chủng của họ.
Các nhà chủng tộc học Huê Kỳ đếm được 70 mẫu người Mã Lai bị
lai giống như vậy.
Đó là định nghĩa tổng quát, súc tích, dành cho các nhà bác học.
Định nghĩa thông thường là chủng Mã Lai có:
Tóc dợn sóng chớ không thẳng như tóc của Hoa chủng, cũng
không quăn quíu như tóc của hắc chủng.
Đó là tóc của dân da trắng rồi vậy.
Mặc dầu vậy chủng Mã Lai cũng có tánh cách da vàng hơn là da
trắng, nên chi khoa học mới sắp loại nó trong các chủng da vàng.
Và nhứt là không có chủng nào biến thành chủng da trắng được
hết mà sách Tàu đã nói và giáo sư Kim Định đã chép lại về một nhóm sang Tây làm
tổ tiên da trắng một nhóm sang Đông làm tổ tiên da vàng.
Quan niệm rằng nhân loại đồng gốc, nay đã thấy sai rồi, mỗi
nhóm trắng, vàng, đen có những đặc điểm khác nhau và nhóm này không biến thành
nhóm kia được.
Những nhóm lai căn trung gian cũng phải làm trắng hay làm đen
tuỳ yếu tố. Thí dụ người Ấn Độ da thật đen nhưng vẫn được xem thuộc chủng da trắng
vì các yếu tố trắng trong dân tộc Ấn quá nhiều, đè nặng lên yếu tố lai căn của
Dravidien vốn là Mã Lai da vàng, lai với Mê-la-nê.
Trong khi đó thì Trung Hoa bị xem là da vàng vì yếu tố vàng của
Mông Cổ lấn lướt yếu tố trắng của Nhục Chi. Mà như vậy cho đến muôn vạn kiếp,
chớ Trung Hoa sẽ không có mũi cao và mắt đục như Nhục Chi được, mà Ấn Độ cũng
không thể mất mũi cao và râu quai nón của họ được.
Màu da của Mã Lai thì vàng, chớ không đen. Nhưng trên thực tế
thì họ lại hơi đen, vì khi mất địa bàn Trung Hoa, họ Nam thiên xuống quá gần
xích đạo, màu da họ sậm lại. Nhưng vẫn không đen. Đó là cái màu mà Pháp gọi
là gris cuivré.
Sau đời Hán thì các vua Trung Hoa luôn luôn tuyển cung phi mỹ
nữ ở Hoa Nam, chính vì màu da trắng của chủng Mã Lai, nhứt là của chi Âu, tức
chi Thái ngày nay. Nhiều nhóm Thái có má hồng tự nhiên và Dương Quý Phi có thể
là một người con gái gốc Thái vì bà ấy ở huyện Dung trong địa bàn ngôn ngữ Thái
ngày nay (zône linguistique).
Những chi Lạc của chủng Mã Lai cũng không đen, mà người con
gái nổi danh nhứt là Tây Thi, nổi danh không kém Dương Quý Phi chút nào, danh lại
thơm hơn nhiều. Tây Thi rất trắng.
Tầm vóc của họ kém Hoa chủng, nhưng vẫn cao lớn hơn tầm vóc của
đa số hắc chủng Đông Nam Á, cao hơn chủng Mê-la-nê đến 0th20.
Dân ta có lai Mông Cổ cách đây 5 ngàn năm và có lai Tàu cách
đây 1.930 năm, nên khác Mã Lai chánh hiệu ở điểm tóc ta thẳng. Tuy nhiên, vẫn
có người Việt tóc dợn sóng, và người Bắc Việt vì ở xa xích đạo hơn người Nam Việt
nên da trắng hơn.
Cũng nên nhắc rằng da của người Hoa Bắc rất sậm, gần giống
như da của người Nam Kỳ làm nông nghiệp, trái lại da của người Hoa Nam mà dòng
máu Mã Lai chiếm đến 60%, thì lại trắng.
Không ai còn biết người Mã Lai Hoa Bắc ra sao nữa cả nhưng bằng
vào da của người Tàu Hoa Nam, ta đoán được rằng da của người Mã Lai Hoa Bắc trắng
như thế đó. Da của Đại Hàn và Nhựt Bổn cũng trắng y như da người Tàu Hoa Nam.
Da người Việt miền Bắc cũng không kém da người Nhựt Bổn bao nhiêu.
Nhưng các chủng da trắng sở dĩ được gọi là da trắng không vì
màu da chút nào hết. Người Á Rập thuộc chủng da trắng đấy, nhưng dân Bắc Phi lại
rất đen. Các chủng da trắng khác chủng da vàng không phải ở màu da mà ở tầm
vóc, ở cái mũi và ở sự kiện có lông nhiều, và đôi khi ở màu mắt và ở màu tóc.
Các chủng da vàng mắt và tóc luôn luôn đen.
Còn tại sao chi Khương (Khơ Me) không ở gần xích đạo như người
Nam Dương mà cũng đen da, đã được ông G. Cocdès giải thích rồi, là khi họ Nam
thiên họ hợp chủng lớn lao với người Mê-la-nê thổ trước, người đó, ở xứ họ, đã
tiến tới tân thạch, tức văn minh bằng họ, nên cuộc hợp chủng lớn ấy hoá ra dễ
dàng hơn ở Nhựt, ở Việt Nam và ở các nơi khác.
Về vóc dáng thì chưa chắc lắm bọn Mã Lai ở Hoa Bắc lại có tầm
vóc nhỏ như người Việt Nam. Như đã nói, người Hoa Bắc cao lớn như Tây, mà họ
cho rằng Cửu Lê và Khuyển Nhung quá dữ tợn thì Cửu Lê không thể bé nhỏ được.
Các nhà khảo tiền sử đã đào được sọ Cổ Mã Lai và lưỡi rìu tay
cầm tại cánh đồng Chum. Thổ dân ở đó hiện nay kể rằng tổ tiên của họ truyền khẩu
lại cho biết những cái chum đó, do người ông khổng lồ chế tạo ra.
Thổ dân hiện nay cao độ 1th50, tức không bé lắm đối với dân
ta, thế mà họ gọi Lê có lưỡi rìu tay cầm là ông khổng lồ thì hẳn Cửu Lê phải to
lớn lắm.
Nhưng tại sao Mã Lai ở Hoa Nam lại bé nhỏ và lôi kéo Hoa tộc
bé nhỏ xuống, tại Hoa Nam?
Không làm sao trả lời được câu này nếu không dùng ức thuyết.
Có lẽ cả hai, Hoa và Việt, đã hợp chủng với thổ dân nào đó vừa bé nhỏ lại vừa
trắng da. Vâng, nên chú ý đến sự kiện Hoa Nam trắng hơn Hoa Bắc.
Ở Nhựt Bổn có một thứ dân thiểu số vừa bé nhỏ vừa thuộc bạch
chủng. Đó là người Hà Di (Aino). Biết đâu ở Hoa Nam lại không có thứ người đó
và chính phụ nữ của họ đã lôi kéo cả Mã Lai lẫn Trung Hoa bé nhỏ xuống.
Bằng chứng là người Thái đen và người Thái trắng ngôn ngữ giống
hệt nhau, phong tục giống hệt nhau nhưng kẻ đen người trắng.
Bọn trắng có lẽ lai giống với bạch chủng Hà Di là thứ bạch chủng
rất bé. Ở Nhựt có Hà Di thì không có lý nào mà ở Hoa Nam lại không có Hà Di,
vào thời thượng cổ. Nhưng sách vở cổ của Tàu không nói đến Hà Di Trung Hoa chỉ
vì họ không hề biết Hoa Nam vào thời thượng cổ.
Riêng Lạc ở Việt Nam thì lại còn bé nhỏ hơn người Tàu Hoa Nam
nữa (nói một cách tổng quát). Tại sao vậy? Lại cũng phải dùng ức thuyết.
Có thể vì bị lai giống với Mê-la-nê, thứ thổ trước bé nhỏ,
nên Lạc mới nhỏ xuống chăng?
Nếu không dùng ức thuyết ấy thì không làm sao mà cắt nghĩa được
sự kiện kỳ dị:
Phúc Kiến = Lạc + Hoa Bắc
Việt Nam = Lạc + Hoa Nam
Nhưng sao Phúc Kiến lại to người hơn Việt Nam?
Ở hang Làng Cườm sọ Mã Lai lại giống với Mê-la-nê rất ít, tỉ
số là 5/1. Nhưng đó là sự lai giống ban đầu. Có thể sau hàng ngàn năm sống
chung, sự lai giống càng ngày càng tăng và Mê-la-nê đã lôi kéo Mã Lai Bắc Việt
thấp bé xuống chăng?
Còn những người Việt Nam to lớn, cao từ 1th70 trở lên có lẽ
dòng họ của họ không có lai với thổ trước Mê-la-nê.
Nhưng cũng chỉ là ức thuyết mà thôi.
Ta sẽ thấy những cổ Việt sống sót, cao đúng 1th70, ở một
chương sau, chương Làng Cườm sống dậy, và ức thuyết trên đây có thể chấp
nhận được.
Người Việt ở miền Nam, có tái hợp chủng với Mã Lai từ ba trăm
năm nay (đó là một cuộc trở về nguồn chánh) nên có rất nhiều người tóc dợn
sóng. Người Trung có lai Chàm, mà Chàm cũng là Mã Lai, tức người Trung cũng trở
về nguồn, nên cũng có nhiều người tóc dợn sóng.
Các sử gia trào Nguyễn đều cho biết rằng người Mã Lai đã tới
buôn bán đông đảo ở hai thành phố Nông Nại Đại Phố và Đề Ngạn, và họ có ở lại,
có lấy vợ, đẻ con, nên ảnh hưởng văn hoá Mã Lai ở miền Nam rất lớn.
Người Việt ở miền Nam gọi Mã Lai bằng đến năm thứ danh xưng
khác nhau: Mã Lai, Bà Lai, Bà Ba Kiến Hổ và Miền Dưới. Kiến
Hổ là tiếng nói đùa do người Tàu có sống ở các xứ Mã Lai và Nam Kỳ dùng, và người
Việt miền Nam bắt chước. Nguyên chữ Mã (Lai), ngày xưa viết với bộ Trùng,
mà Mã bộ Trùng có nghĩa là con hổ (kiến lớn). (Người Tàu thời
cổ viết tên các dân tộc kém mở mang hơn họ, thường dùng những bộ Khuyển, bộ Trùng một
cách ngạo mạn như vậy đó).
Sở dĩ người miền Nam gọi Mã Lai bằng lu bù thứ tên là vì hai
dân tộc này có chung đụng mật thiết với nhau từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX tại
Biên Hoà, Sài Gòn, Rạch Giá, v.v.
Ở Nam Kỳ người ta làm và ăn bánh Bà Lai, người ta mặc
áo Bà Ba, người ta trồng cây Sầu riêng (Durian), người ta gọi cảnh
sát là mã tà, một danh từ Mã Lai, ảnh hưởng Mã Lai du nhập vào quá dễ dàng khiến
ta không khỏi ngạc nhiên nhưng ta sẽ hết ngạc nhiên khi thấy rằng tổ tiên ta là
Mã Lai, và ta sẽ giải thích sự hấp thụ dễ dàng ảnh hưởng Mã Lai ở Nam Kỳ, nó có
lý do tình cảm âm thầm bí mật giữa hai dân tộc đồng chủng với nhau.
Vị nào có máy thu thanh mạnh, đêm đêm cứ tìm các đài Nam
Dương mà nghe. Quý vị sẽ thấy rằng nhạc điệu của họ giống hệt điệu hò mái nhì của
ta.
Và ông Nguyễn Phụng, nguyên giám đốc Quốc Gia âm nhạc, cho
chúng tôi biết rằng trên thế giới các nước sau đây có cây đàn độc huyền, ngoài
ra, không ở đâu khác mà có cả: Việt Nam, Nam Dương, Nam Ấn, các đảo Polynésie.
Đó là dấu vết Mã Lai trong xã hội ta, đáng lý gì chỉ được
trình bày ở chương dấu vết, nhưng chương ấy quá dài, thành thử chúng tôi phải bớt
vài chi tiết nhỏ cho sang chương này.
*
Người Việt làm chủ đất ở Hoa Bắc xưa là Cổ Mã Lai, chớ không
phải kim Mã Lai. Bằng vào sự kiện họ bị Trung Hoa lấn đất dễ dàng, ta đoán được
rằng họ chưa văn minh bao nhiêu.
Nhưng người Việt chủ nước Ngô và nước U Việt thì chắc chắn là
kim Mã Lai.
Người Cổ Mã Lai (Proto Malais) khác với người kim Mã Lai
(Deutoro Malais) như thế nào?
Các nhà bác học châu Âu nói rằng hình ảnh trung thành của người
Cổ Mã Lai là người Thượng ở Cao nguyên Việt Nam ngày nay. Người Thượng không thể
sản xuất được một Tây Thi đâu.
Ta tạm an lòng với hình ảnh người Thượng là Cổ Mã Lai, còn
người nước Anh Đô Nê-xia là Kim Mã Lai vậy.
Nhưng như đã nói, chúng tôi có tìm được một thứ người Việt tối
cổ, nói tiếng Việt cổ hơn người thường và cao hơn đến 1th70 và tự xưng là Lạc,
và da đỏ.
Đó là những ông chồng khổng lồ ở cánh đồng Chum, và đó là
hình ảnh trung thành của Cửu Lê đã đương đầu với dân Hoa Bắc cao lớn như Tây.
Người Mường có lẽ chỉ là hình ảnh của người Đông Sơn, vì người
Mường không cao 1th70, lại nói tiếng Việt không rõ lắm.
Tại sao một chủng tộc lại có Cổ có Kim cho rắc rối trí nhớ của
thiên hạ?
Chủng tộc nào, hồi nguyên thỉ cũng khác ngày nay cả về văn
hoá và về cả vóc dáng và nhân thể tính nữa. Nhưng các người cổ sơ của mọi chủng
tộc đều biến mất cả rồi, chẳng hạn không còn làm sao mà thấy được một người cổ
sơ Trung Hoa một người cổ sơ Anh, Pháp, Đức nữa.
Riêng chủng Mã Lai thì còn đủ cả hai thứ người của hai thời kỳ.
Đặc thù của Mã Lai chủng có thể cắt nghĩa tổng quát được như thế này. Vào cổ thời
cách đây nhiều ngàn năm, họ đang sống ở đâu đó, rồi bị một chủng tộc khác rất mạnh
xua đuổi nên họ thiên di.
Bọn thiên di chia thành nhiều nhóm, nhiều đợt. Nhóm nào gặp đồng
bằng và các điều kiện thuận lợi khác thì tiến lên được, còn nhóm nào gặp núi rừng
sâu thì đứng yên ở trình độ cũ hoặc thoái hoá, trở lại thành người cổ Mã Lai,
đó là trường hợp của người Thượng và người Dayak.
Trong nhân loại đã có bằng chứng có vài nhóm thoái hoá, không
phải là một ức thuyết.
Người Chàm xưa kia đứng vào hàng cừ khôi về thuỷ vận, thế mà
ngày nay họ không biết đóng một chiếc thuyền? Tại họ mất địa bàn bờ biển, chỉ
còn làm nông nghiệp chớ không chuyên thuỷ vận được nữa.
Người Maya, ở Trung và Nam Mỹ vốn có một nền văn minh rực rỡ
như Ai Cập nhưng ngày nay lại kém cỏi vô cùng, nếu họ không hợp tác với người
da trắng.
Địa bàn phương Đông của chủng Mã Lai xưa kia, như đã thấy, là
nước Tàu. Bị dân Trung Hoa lấn đất, họ Nam thiên. Tới các vùng đất mới, họ lại
bị Tàu xâm lăng nữa, chẳng hạn như ở Cổ Việt thì họ lại bị nhà Hán chinh phục.
Lần bị chiếm đất thứ nhì này, họ không còn đất để lánh thân nữa, nên một số ở lại
chịu văn hóa Tàu còn số khác thì đành phải rút lên núi rừng, rồi vì khí hậu xấu
và sự thiếu thốn nơi nó, nên họ lại thoái hóa. Thế nên ta mới thấy người Thượng
ở Cao nguyên cứ còn là Cổ Mã Lai cho tới ngày nay, còn ta, kẻ ở lại đồng bằng
thì đã khác xa vì điều kiện sống tốt giúp ta tiến lên được, hơn thế ta lại bị hợp
chủng với dân xâm lược, phải thọ lãnh văn hóa mới nữa thì sự khác ấy lại càng
rõ hơn.
Riêng ở Nam Dương quần đảo thì dân Mã Lai không có bị xâm
lăng lần thứ nhì (không kể xâm lăng của Hòa Lan về sau) nhưng họ lại bị văn hóa
Ấn Độ tràn ngập, thành thử cũng có người bất hợp tác với văn hóa đó, rút vào rừng
và cũng thoái hóa, thành Cổ Mã Lai như dân Dayak chẳng hạn.
Những sự kiện trên, không hề có xảy ra cho chủng tộc nào khác
hết vì không chủng tộc nào mà lại bị người Tàu đánh đuổi đến hai lần, lại may mắn
có đất để mà thiên di hai lần, rồi có núi rừng không chủ để mà rút vào lần thứ
ba. Họ bị diệt hết hoặc bị biến thái hết, không còn người Cổ người Kim như chủng
Mã Lai được.
Ở đây, chúng tôi xin thương thảo với ông Phạm Việt Châu và
các nhà khảo cứu khác để thống nhứt về danh xưng Cổ Mã Lai, hay Tiền Mã Lai,
hay Cựu Mã Lai.
Các nhà dân tộc học Mỹ cho biết rằng ngày nay không còn Mã
Lai thuần chủng nữa vì khuynh hướng hợp chủng của chủng ấy. Những người Mã Lai ở
Anh Đô Nê-xia, ở Mã Lai Á, ai cũng ngỡ là thuần chủng, nhưng không.
Người Kim Mã Lai hay Hậu Mã Lai, hay Tân Mã Lai chủng có mặt
từ hồi thế kỷ thứ VI đến thứ X với hai nền văn minh Mã Lai rực rỡ Shri-Vishaya
và Madja Pahit, rồi thì từ ấy những nay, cái chủng đó đã biến dạng vì những cuộc
hợp chủng hỗn loạn, mặc dầu sọ còn giống nhau, nhưng mẫu người đã khác, người
nước Mã Lai Á có cái mẫu không giống với người nước Anh Đô Nê-xia. Như vậy thì
kể như không có Hậu Mã Lai gì hết, và để đối lại, không nên dùng từ Tiền,
và từ Cổ ổn hơn nhiều.
Và chúng tôi đề nghị dịch Indonésian hoặc Proto Malais ra là
Cổ Mã Lai, chớ không phải Cựu Mã Lai, cũng không phải Tiền Mã Lai. Dân Mã Lai không
có tánh cách Tân hay Hậu, mà chỉ có tánh cách hiện Kim mà thôi.
Và sau đây là câu hỏi có thể sẽ được đặt ra. Chúng tôi nói
người Tàu vì quen với khí hậu lục địa nên rất sợ khí hậu nhiệt đới của Giao Chỉ.
Nhưng tại sao người Mã Lai, cũng ở khí hậu lục địa mà lại là
thứ khí hậu lục địa tàn nhẫn hơn, là khí hậu Tây Tạng, lại di cư xuống các vùng
nhiệt đới được?
Là tại họ ở trong cái thế phải di cư, bởi bị đánh đuổi. Buổi
ban đầu chắc dân di cư ấy chết nhiều lắm vì bất phục thủy thổ, nhưng đó là cái
thế chẳng được đừng, chết bao nhiêu họ cũng lao đầu vào chỗ chết, rồi thì mấy
ngàn năm sau nó sẽ quen đi. Bọn sống sót là bọn chịu đựng được.
Ta thấy là ban đầu họ tràn sang Trung Hoa tức di cư tới một
khí hậu tốt hơn đó chứ. Họ đã thành công, nhưng rồi bị đuổi đi, thành thử họ cứ
chạy tới chứ không lùi về đất Hi-Malaya, khí hậu ác ôn, mà đất đai lại khô cằn,
trong khi đó chủng tộc của họ lại đang đà phát triển mạnh, dân đông thêm lần lần,
mà đất ở được thì rất là hạn chế, tại vùng Tây Tạng. Thế là họ đành phải tìm
các vùng nhiệt đới vậy, khác hẳn với người Tàu, không có bị ai bắt buộc di cư cả,
trừ một ông, đó là ông Lư Tổ Thượng; nhưng ông ta chọn cái chết xử trảm để thay
cho việc phải đi Giao Chỉ làm quan đầu xứ.
Một điểm sử khác cũng sẽ được đặt thành câu hỏi, chúng tôi đã
thử giải thích rồi nhưng cũng xin lặp lại.
Tại sao ở đất Chàm Mã Lai đợt II chiếm đa số, thế mà ở nước
đó không có trống đồng là sản phẩm của Mã Lai đợt II như chương về người Mường
sẽ cho thấy?
Chúng tôi hồ nghi đạo Hồi là một tôn giáo bất khoan dung đối
với các tôn giáo khác. Ở Ấn Độ họ đã tàn phá hàng trăm ngàn đền thờ của đạo Bà
La Môn, mà trống đồng là nhạc khí tôn giáo thì không sao mà họ tha được.
Ở Giao Chỉ, Mã Viện cũng có lấy trống đồng nhưng lấy để dùng
chất đồng, hễ đủ dùng thì thôi chớ không cố diệt. Hơn thế ta lại chôn trống để
giấu đi, còn ở Chiêm Thành thì chính người Chàm tự ý theo đạo Hồi, tự ý hủy diệt
tôn giáo cũ của họ thì sự hủy diệt phải hữu hiệu hơn ở Giao Chỉ.
Nói thế có gượng ép quá chăng vì Nam Dương cũng theo đạo Hồi,
nhưng lại còn trống. Chúng tôi nghĩ rằng không gượng ép, Nam Dương không ngoan
đạo bằng Chiêm Thành.
Tuy nhiên,, cũng chỉ là ức thuyết. Thời gian sẽ trả lời vì
Trung Việt ít bị đào bới hơn là Bắc Việt.
Các nhà khảo cứu Pháp ở Trung Việt, say mê đền đài Chiêm
Thành trên mặt đất, bận tâm nghiên cứu đền đài ấy, còn ở Bắc Việt chẳng có gì
ngoạn mục hết thành thử họ, rồi nhứt là ta, sau khi họ đi, nỗ lực đào bới rất dữ,
một mô đất cao là có thể bị tình nghi, bị khai quật rồi, thành thử ở đó, những
cổ vật phải được tìm thấy, không ẩn trốn được như ở Trung Việt mà ai cũng tha
cho lòng đất sâu vì nghiên cứu đền đài trên mặt đất đã mệt lắm rồi.
Ở tất cả các địa bàn của Mã Lai đợt II đều có trống, trừ ở
Trung Việt. Cả ở những địa bàn mà khoa khảo tiền sử không biết là Mã Lai đợt II
đã đi qua, cũng có trống nữa, thí dụ Tây Bá Lợi Á, thế mà Chiêm Thành lại
không, trong khi người Chàm là Mã Lai đợt II rõ rệt, vì họ còn sống sót và dùng
ngôn ngữ của Mã Lai đợt II, tức Mã Lai Nam Dương.
Tưởng cũng nên thêm vài dòng về trống đồng của dân Lạc. Ở
chương Người Mường, chúng tôi sẽ trình chứng tích là bọn đợt II đã đưa trống
đồng tới cho vua Hùng Vương dùng chớ vua Hùng Vương không phát minh trống đồng
vì ông ấy thuộc đợt I.
Nhưng người ta tìm thấy trống đồng ở Tây Bá Lợi Á, rất gần
nơi xuất phát di cư của bọn đợt I, thì phải hiểu sao đây?
Nhưng cũng nên nhớ rằng đến thế kỷ III sau Tây lịch thì Nhựt
Bổn đã xâm lăng Đại Hàn rồi. Bọn xâm lăng là bọn đợt II đã lãnh đạo bọn đợt I ở
Nhựt.
Chính bọn ấy đã đưa trống vào Đại Hàn, rồi từ đó nó phiêu lưu
đi Tây Bá, tức trống Tây Bá là trống mới, về sau này.
Ở tất cả các địa bàn hỗn hợp, bọn II lãnh đạo bọn I, chỉ trừ ở
Cổ Việt mà bọn đợt II bị lép vế. Có lẽ bọn I ở Cổ Việt là nhóm tài giỏi nhứt
nên họ đã tự lực tiến lên cao, nên họ không bị bọn II văn minh, đàn áp họ như ở
Nhựt, Chiêm Thành và Célèbes.
Riêng ở Phù Nam thì cũng chính bọn II là Phù Nam bị bọn I là
Chân Lạp, y như ở Cổ Việt, nhưng mãi cho đến thế kỷ thứ VI sau Tây lịch mà nhờ
Nhục Chi lãnh đạo, Cao Miên mới được như vậy, còn vua Hùng Vương thì thẳng ngay
vào ngày đầu mà bọn đợt II đến nơi, tức trước khi Cao Miên diệt Phù Nam đến 11
thế kỷ, mà không có nhờ sức của ai cả.
Tài liệu tham khảo riêng cho chương này:
Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ, Hồng Kông
Nguyễn Bạt Tụy: Tựa Hành trình vào dân tộc học
Lê Chí Thiệp: Văn hóa nguyệt san Tự điển Từ Hải, Sài Gòn,
1959
R. A. Stein: Le Linyi, Pékin, 1947
Dr. Huand de Equipe: Etat actuel de la crâniologie
indochinoise, Ha Noi, 1931
Mã Đoan Lâm: Etnographie des peuples é trangers à la Chine (Bản
dịch của H. de St. Denys), Paris 1920
G. Moréchand: La Chamanisme Hmong, Paris 1968
Jonveau Dulereuil: Archéologie du sud de l’Inde, Paris, 1914
Histoire ancienne du Deccan Pondichéry, 1920
S. Levi: Histore ancienne de l’Inde, Paris, 1915
La Jonquière: Le Siam ancien, Paris, 1908
Aymonnier: Histoire de l’ancien Cambodge, Paris, 1920
Phayre: History of Burma, Londres, 1883
Murdoch et Yamata: History of Japan from the origin to the
arrival of the Portugese, Yokohama, 1910
Raffles: History of Java, Londres, 1830
G. Villoquet: Histore de l’Incdonésie, Paris, 1964
R. A. Stein: Les tribus anciennes des marches
sino-thibétaines, Paris, 1969
H.V. Vallois: Les races humaines, Paris, 1944
P. Leston, J. Millot: Les races humaines, Paris, 1936
O. Jansé: Archéology of the Philippine Istandes, Washington,
1917
Đài Loan N.T.N.S.
Chu Lễ: E. Biot, Paris, 1851
Tả Truyện: Bản dịch Legge, Paris, 1947
Mạnh Tử
Đại Việt quốc thư, Sài Gòn
Nguyễn Bá Trác: Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Sài Gòn
M.T.: Synchronisme chinois, Shanghai, 1905
Chương V
Dấu vết Mã Lai trong xã hội Việt Nam ngày nay
A. Trống đồng
Chúng tôi nói hơi dài ở chương IV nhưng vẫn phải là kiểm soát
tiền sử học đúng. Nhưng những cái đã được nói ra, vẫn phải nói, và chỉ bắt đầu
từ đây mới là kiểm soát.
Như đã nói, công việc khảo tiền sử trình ra ở trước, đã được
giới khoa học thế giới kiểm soát rồi. Nhưng họ chỉ kiểm soát xem công việc làm
có đúng phương pháp tiền sử học hay không.
Viết sử phải kiểm soát lại bằng cách khác. Trên nguyên tắc
thì tất cả các chủng xưa còn để dấu vết tại đất Việt, đều phải được theo dõi,
và chúng tôi đã theo dõi tất cả. Nhưng chỉ có sọ chủng Mã Lai là giống hệt sọ của
người Việt Nam, còn sọ Mê-la-nê, sọ Négrito, sọ Miêu, sọ Trung Hoa đều khác, và
sẽ trình ra sau, vì thế trong sách này chúng tôi cho de tất cả các chủng ấy mà
chỉ theo dõi Mã Lai, vì các chủng đó không có để dấu vết trong xã hội ta, trong
cơ thể ta. Cuộc theo dõi tất cả các chủng, chỉ làm để mà loại trừ, tốn công bao
nhiêu, cũng không được phép viết vào đây, vì nó chẳng dính líu gì đến nguồn gốc
dân tộc ta.
Viết sử, như đã nói, phải đo sọ của ta để đối chiếu với sọ của
các cổ dân nằm trong lòng đất ta, phải học ngôn ngữ của họ mà để đối chiếu với
ngôn ngữ của ta và nhiều việc phụ thuộc nữa, mà ở chương trước, chúng tôi đã
xét đến một mớ chuyện phụ thuộc, đó là sử Tàu về dân Lạc, từ sông Bộc, di cư đi
Triều Tiên, nó ăn khớp với tiền sử học.
Nhưng chưa lấy gì làm chắc là dân Lạc đó là ta, mặc dầu xâu
chuỗi mà chúng tôi đưa ra rất vững:
Lê = Lạc bộ Trãi = Lại Di
Trong chương này, chương lớn nhứt của quyển sách, ta sẽ thấy
những chứng tích mà không ai chối cãi được gì nữa hết: Cuộc đối chiếu sọ Việt với
sọ của tất cả các dân tộc ở Á Đông, và cuộc đối chiếu ngôn ngữ Việt - Hoa - Mã.
Nếu ta nói tiếng Mã Lai thì tiền sử học và chúng tôi đúng. Bằng
như ta nói tiếng Tàu thì sử gia Nguyễn Phương và giáo sư Lê Ngọc Trụ có lý. Còn
như mà ta nói một thứ ngôn ngữ riêng biệt thì phải xem ông H. Maspéro và đệ tử
của ông là thánh tổ vì các ông cho rằng ta là một chủng riêng biệt.
Xin nhớ. Chương này là tất cả quyển sách, và là chương quan
trọng nhứt của tác phẩm, vì chứng minh không xong là đổ vỡ hết, và người khác sẽ
lập ra một thuyết khác nữa, còn chúng tôi phải thủ phận đi học lại tất cả trong
mười năm nữa, cũng như đã học trên 10 năm rồi để viết quyển sử này.
Hai ông Lê Văn Siêu và Nguyễn Phương đều tin mạnh rằng không
còn dấu vết nào về xã hội Việt Nam cổ thời. Đồng quan điểm, nhưng hai ông lại
có hai thái độ khác nhau.
Ông Lê Văn Siêu chủ trương "phi phương pháp". Không
ai hiểu ông Lê Văn Siêu sẽ làm việc thế nào khi ông cần viết một cuốn sử với
quan niệm phi phương pháp đó. Cho tới nay, ông chỉ viết luận thuyết, muốn bàn rộng
tán hẹp gì, tùy thích ông, chớ một khi ông viết sử mà bất kể chứng tích như ông
chủ trương thì thử hỏi ông làm thế nào để biết cây Nỏ là phát minh của chủng Việt
hay chủng Hoa, nếu không tưởng tượng và quả quyết theo chủ quan của ông.
Người Tàu có di cư quá nhiều vào Cổ Việt hay không, muốn biết,
phải thấy bằng chứng giáo sư Nguyễn Phương đã thoáng thấy, mà còn sai, huống hồ
gì là ông không cần thấy thì nó sẽ ra sao?
Giáo sư Nguyễn Phương lại có thái độ khác hơn ông Lê nữa. Ông
chơi nghịch, thách đố tất cả giới khoa học tìm cho ta chứng tích. Ông viết: "Nếu
cho rằng chủ nhân của văn hóa trống đồng là tổ tiên của dân Việt Nam, vậy sao
ngày nay người Việt Nam không còn duy trì bất cứ gì của phong tục Lạc Việt, kể
cả việc trọng kính trống đồng?".
Đó là một câu đố bắt bí của một người lầm tưởng rằng bọn kia
sẽ phải câm miệng, vì không còn chứng tích nào cả để mà cãi lại.
Nếu người Huê Kỳ chơi ác, hỏi người Pháp một câu na ná như thế:
"Các anh nói tổ tiên các anh là người GÔ LOA, nhưng đâu là dấu vết GÔ LOA
trong đời sống các anh? Chúng tôi chỉ thấy các anh là La Mã mà thôi".
Người đố như vậy ngỡ mình ăn chắc một trăm phần trăm bởi bọn
kia còn làm sao mà tìm ra được chứng tích nào kia chớ.
Nhưng rủi cho ông Nguyễn Phương là còn quá nhiều chứng tích.
Ông Lê Văn Siêu không tìm tòi cho tới nơi nên mới tin là không có, riêng sử gia
Nguyễn Phương thì còn chịu khó đọc cổ thư Trung Hoa, chớ ông Lê Văn Siêu thì
không đọc, vì tin là Tàu bịa, đọc vô ích.
Dân Việt Nam còn duy trì phong tục Lạc Việt, Anh Đô Nê-diêng
hay không, tưởng sử gia nên theo dõi các nghiên cứu của các nhà bác học mà
chúng tôi đã ám chỉ trong nhiều chương, hơn là hỏi suông một cách quá tự tin
như thế.
Riêng về trống đồng thì oái oăm thay, chính sử gia phản lại sử
gia.
Quả thật thế, quyển V.N.T.K.S. ra đời năm 1965,
nhưng từ năm 1963, sử gia cho xuất bản quyển Hải ngoại kỷ sự do chính
sử gia dịch, đó là du ký đến viếng nước Đại Việt của chúa Nguyễn Phước Châu hồi
thế kỷ XVII, tức chỉ mới đây thôi (đối với chuyện ngàn năm thì thế kỷ XVII rất
là mới).
Thỉnh thoảng sử gia lại dịch: "Trống đồng nổi lịnh".
À, nếu ta không còn dùng trống đồng, sao sư T.Đ.S. lại nói
như thế? Bằng như họ cho rằng nhà sư ấy bịa láo thì sao sử gia còn dịch du ký của
ông ấy làm gì?
Lạ lắm là hai năm trước, sử gia đã dịch như vậy, hai năm sau,
sử gia lại hỏi thế kia là làm sao?
Tuy nhiên, ta có dùng trống đồng mà không có trọng kính trống
đồng thì e sử gia không hài lòng. Vậy ta phải nỗ lực tìm dấu vết của sự kính trọng
đó nữa, mặc dầu nội cái việc có dùng trống là đủ bác bỏ luận điệu của sử gia họ
Nguyễn rồi.
Trong tác phẩm Kiến văn Tiểu Lục, Lê Quý Đôn đã viết như
sau: Nước nhà, vua Thái Tông nhà Lý dựng miếu thờ Thần Đồng Cổ Sơn ở đằng sau
chùa Thành Thọ. Hàng năm cứ đến ngày mồng bốn tháng Tư lập một đàn ở trước miếu
này rồi dàn binh lính, đọc lời thề để quần thần cùng thề. Đến vua Nhân Tông thì
hợp Quân nhân trong thiên hạ thề ở Long Trì. Vua Nhân Tông lại định lệ hàng năm
cũng theo ngày mồng bốn tháng Tư. Sáng sớm hôm ấy đức vua ngự ra cửa bên điện Đại
Minh, quần thần đề mặc binh phục tới lễ hai lễ rồi lui ra. Các quan đi đều có
xe ngựa binh lính đi theo ra lối cửa Tây thành rồi đến hội thề ở miếu Đồng Cổ
Thần. Quan kiểm chánh đọc lời thề rằng:
"Vi thần tận trung, vi quan thanh bạch".
Thề xong quan tể tướng kiểm điểm từng người, nếu ai vắng mặt
phải phạt năm quan tiền. Lễ này thời ấy cho là một lễ rất thịnh vậy.
*
Đại Nam nhất thống chí viết: Đền thờ Thần trống đồng, Đồng
Cổ thần từ, ở trên núi Đan Nê thuộc huyện An Định (có tên gọi là núi Khả Lao).
Sợ e sử gia Nguyễn Phương không tin Lê Quý Đôn, không
tin Đại Nam nhất thống chí, chúng tôi xin cầu viện ông V. Goloubew, ông
này hiện còn sống (1966).
Ông V. Goloubew rất đáng tin vì chính ông là người đã không
nhận dân Đông Sơn Mã Lai là tổ tiên của chúng ta, y như sử gia Nguyễn Phương.
Trong tập kỷ yếu B.E.F.E.O. vol XXXIII, 1933, ông V.G. kể những gì ông ta đã thấy: Làng
Đan Nê, huyện An Định, phủ Thuận Hóa, tỉnh Thanh Hóa, là một vùng hoàn toàn Việt
Nam, và gần đó không có dân Mường. Trong đền thờ trên đường Phủ Quảng, gần
bến đò An Định đưa sang sông Mã, có trống đồng cùng loại trống Hòa Bình để ở Bảo
tàng viện Hà Nội, mặt trống rộng 0,85 và cao 0,58th.
Trống này chỉ để thờ chớ không được đánh, bằng vào lớp bụi
dày trên mặt trống.
Trong đền có bài vị gỗ khắc chữ Nho, và bản dịch của ông Trần
Văn Giáp cho biết nội dung của bài vị như sau: "Phía Tây Thanh Hóa, làng
Đan Nê, huyện Yên Định, có núi Đồng Cổ, núi có ba đỉnh hình ngôi sao nên cũng
có tên là núi Tam Thai. Trong thung lũng gần núi, có đền cổ thờ thần núi rất
linh thiêng".
Câu chuyện trên đây, xác nhận Đ.N.N.T.C. và đại
cương ăn khớp với truyền thuyết thứ nhứt về thần trống đồng trên núi Khả Lao ở
vùng An Định, vị thần đã giúp vua Hùng Vương khi vua Hùng đi đánh Chàm, để thống
nhứt Cửu Chân vào Cổ Việt, Cửu Chân là đất của dân Chàm đồng chủng với dân Lạc
nhưng còn kém mở mang như chúng tôi sẽ chứng minh ở một chương sau. Có lẽ nhờ
điều động binh sĩ có quy củ, và được như vậy là nhờ kẻ chỉ huy có trống đồng
nên lịnh nghe xa được, mà vua Hùng thắng trận, rồi thì dân chúng bịa lần, câu
chuyện hóa ra vua Hùng thắng trận, rồi thì dân chúng bịa lần, câu chuyện hóa ra
vua Hùng thắng trận nhờ thần trống đồng trên núi Khả Lao.
Tuy nhiên, rồi vua Hùng vẫn cho lập đền thờ thật sự chiếc trống
đồng ấy, đều lặp lại thung lũng gần núi, như bia cổ (cổ nhưng vẫn sau việc thờ
trống hàng ngàn năm) đã ghi.
Nhưng xem ra thì cái đền mà ông V. Goloubew đã thấy thờ trống
đồng, không phải là đền vua Hùng. Theo lời bịa thì là bia nói đến một cái đền
khác. Nhưng ở đền mới này lại có trống thì là sao?
Nhưng lại có một truyền thuyết thứ nhì về chiếc trống đồng ấy.
Tích rằng khi Nguyễn Huệ đánh Bắc Hà xong, về ngang qua đền (đền thứ nhứt) bèn
lấy trống đồng đưa về miền Trung. Sau, có người nhìn ra, bèn đưa trống trở về
nguyên quán.
Có lẽ người đưa trống đã thừa một dịp loạn nào đó trong anh
em Tây Sơn mà sử quên nói đến, và khi đưa về thì đền thờ cũ có lẽ bị hỏng không
ai cất lại, nên cho vào cái đền thờ mới mà ông V. Goloubew đã viếng.
Dầu sao, năm 1933, một người Âu Châu cũng có thấy tận mắt một
đền thờ trống đồng trong vùng lịch sử ấy, và thấy tận mắt một chiếc trống đồng
đang được người đương thời thờ, chớ không phải là trống đồng đào được trong
lòng đất và cất ở bảo tàng viện.
Những câu hỏi đố của sử gia Nguyễn Phương đã làm vất vả bao
nhiêu người. Các ông Tây cũng đã phải khổ công lắm, nhứt là về kiến trúc. Về trống
đồng thì người phải đổ mồ hôi là ông R. Mercier.
Ông R. Mercier đã làm một công việc khác người là không buồn
tìm hiểu dân Đông Sơn như các ông Tây khác, mà lại đối chiếu cách chế tạo trống
đồng của cái dân Đông Sơn đó và cách chế tạo đồ đồng của dân Việt Nam ngày nay ở
Thanh Hóa, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Đông, Nam Định, và thấy cả hai dân tộc đều
dùng một kỹ thuật y như nhau, dụng cụ thô sơ đến mức không còn thể nào mà thô
sơ hơn được, mà trên thế giới không có dân tộc nào làm thế cả.
Ông R. Mercier đã tỉ mỉ đến mức này thì quý vị biết là ông có
đi sâu vào cuộc đối chiếu hai kỹ thuật đó hay chăng.
Ông nghiên cứu chiếc trống lớn nhứt ở Bảo tàng viện L. Finot,
mà ông không thèm biết là trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ hay trống gì, ông nói
đó là trống đánh số D.8.214 - 36, nặng 86 kí lô.
Đó là một cái trống đúc nguyên khối, không có ráp mối.
Ông quan sát ở hông trống và đếm được 280 cái vết đen hình vuông, một phân tây
mỗi cạnh. Nhờ những dấu ấy mà ông biết được kỹ thuật của thợ Đông Sơn, họ làm
hai cái khuôn, một lớn một nhỏ, cái nhỏ nằm trong cái lớn, hai cái cách nhau một
khoảng trống lối ½ phân Tây, khoảng trống ấy được các khúc gỗ nêm.
Thế rồi các cụ Đông Sơn nhà ta nấu đồng pha, đổ vào khoảng trống
ấy. Nêm gỗ bị cháy, nhưng vẫn còn để dấu vết lại trên hông trống.
(Có lẽ đó là cái trống độc nhứt được đúc nguyên khối, chớ cái
trống ở Bảo tàng viện Sài Gòn mà chúng tôi nghiên cứu thì có ráp mối).
Ông R. Mercier nói rằng chỉ có dân Việt Nam ở các tỉnh trên mới
đúc nguyên khố những vật quá to lớn bằng kỹ thuật và dụng cụ thô sơ như thế mà
thôi.
(Thế nên ta rất có thể tin Hậu Hán thư khi sách viết:
"Dân Lạc Việt có đúc thuyền bằng đồng").
Như thế, không biết đã đủ cho sử gia Nguyễn Phương hay chưa về
dấu vết trống đồng và tôn kính trống đồng?
Sử gia chỉ bắt bí về trống đồng vì sử gia ngỡ ta không dùng
và không thờ trống đồng, còn những thứ khác, sử gia tránh không nói tên, như là
tục nhuộm răng, tục búi tóc, tục chít khăn, tục thờ âm dương vật của chủng Nam Ấn
anh em chú bác với Việt Nam, và cứ tồn tại đến nay từ Bắc Việt cho tới Nha
Trang (theo nghiên cứu mới nhứt của ông Toan Ánh và ông Lê Quang Nghiêm) vì những
câu hỏi ấy quá dễ bị lạc.
Nhưng trống đồng vẫn không bắt bí ai được hết, vì rủi ro có kẻ
quá tò mò là ông V. Goloubew và ông R. Mercier.
Trống đồng là nhạc cụ, về nhạc thì trên thế giới, hiện nay chỉ
có ba dân tộc là có cây Độc huyền cầm, đó là dân Việt Nam, dân Mã Lai ở Anh Đô
Nê-xia, và dân Malayalam ở Nam Ấn.
Sự kiện đó cho thấy ba điều:
Ta có gốc Mã Lai.
Ta đồng chủng với Anh Đô Nê-xia, chi Lạc.
Thuyết O.J. cho rằng dân Lạc Việt đã chạy xuống Phi Luật Tân
khi đã bị Mã Viện săn đuổi, chưa bao giờ được chứng minh, mà cây Độc huyền cầm
lại chứng minh khác vì ở Phi không có Độc huyền cầm.
Lại còn hai chứng minh khác nữa cho thấy người Mã Lai ở
Indonésia và ở Madagascar (tức người Hovas ngày nay) là người Lạc Việt từ Việt
Nam di cư tới đó, bằng vào một truyện cổ tích ở Anh Đô Nê-xia đối chiếu với một
truyện cổ tích Hòa Bình, sẽ được nói rõ trong chương Người Mường, và bằng vào
việc "vác Nước" của người Hovas. "Vác nước" là phương pháp
lấy nước mà trên thế giới chỉ có hai dân tộc là có làm là dân Mường và dân
Hovas, mà người Mường là cái gạch nối liền giữa dân Đông Sơn Lạc Việt và dân Việt
Nam ngày nay, như ta sẽ thấy ở một chương sau.
B. Kiến trúc
Ngôi nhà cổ Việt độc nhứt, tìm được ở bờ sông Mã năm 1927 do
ông Tây đoan Pajot, nhân viên tài tử của Viện Bác Cổ Viễn Đông. Nhưng cuộc
nghiên cứu kéo dài, và mãi cho tới 17 tháng giêng D.L. năm 1938, nhà khảo cổ V.
Goloubew mới báo cáo trong một buổi thuyết trình, mà bản văn được đăng trong tập
kỷ yếu B.E.F.E.O. số 14, 1938.
Sở dĩ việc nghiên cứu đòi hỏi lắm thì giờ như vậy là vì sự định
tuổi rất khó khăn của vật liệu cổ dùng cất nhà.
Ông V. Goloubew định tuổi ngôi nhà ấy đồng thời với ngôi mộ gần
đó.
Theo sự trình bày của nhà khảo cổ nói trên thì đó là một ngôi
nhà sàn mà cột cái cao 4,50th, sàn cao 1 thước. Mái nhà dài xuống tới sàn, và
vì thế mà cửa phải trổ ra ở vách hồi. Sàn bằng tre sặt, một loại tre giống tầm
vông ở miền Nam, tre còn xem xét được nhờ vật liệu đó đã gần hóa thạch, còn cột
thì bằng gỗ lim nên còn bền.
Sườn nhà không có trính, tức là đó là loại sườn nhà mà
miền Nam gọi là nọc ngựa, miền Trung gọi là nhà chữ Đinh.
Ông V. Goloubew còn nói nhiều nữa, nhưng đó là điều mà ta đã
biết như ông, rằng nếp nhà khai quật được giống nhà khắc trong trống đồng, và
đó là lối kiến trúc của tất cả các nhóm dân Cổ Mã Lai và cả Kim Mã Lai nữa.
Ông V. Goloubew có cho biết rằng trong một chiếc gương đồng cổ
của Nhựt, có khắc hình một nếp nhà như vậy. Ngày nay nông dân ở nhiều đảo của
nước Anh Đô Nê-xia vẫn còn cất nhà như vậy, và người Chàm, cũng gốc Mã Lai, giữ
lối kiến trúc đó cả đến trong những xây cất bằng gạch nữa, những xây cất này,
ngày nay còn thấy với những cái cửa trổ ra ở bức hồi.
Loại nhà đó, người Chàm gọi là Thang giơ. Danh từ
Thang giơ tiếng Mã Lai Nam Dương Tanga mà ra và có nghĩa là cái Thang.
Dân Việt Nam cũng nói tiếng Mã Lai Nam Dương và biến như sau:
Tanga = Thang
Nhà Tanga = Nhà sàn
Người Chàm ngày nay không còn cất nhà như vậy nữa, nhưng khi
nào cử hành một lễ tôn giáo là họ cất sơ sịa một cái nhà như thế để hành lễ
trong đó, cho đúng cổ tục Mã Lai.
Đó là kiến trúc Cổ Mã Lai, Kim Mã Lai đã hết cho mái nhà xuống
tới sàn và nhờ vậy mà trổ cửa ở dưới mái được, thôi trổ cửa ở bức hồi, nhưng
còn giữ lối kiến trúc chữ Đinh, đặc thù của kiến trúc của họ mà Tàu tuyệt đối
không biết.
Người Tàu cất nhà luôn luôn có chái, từ cổ chí kim đều như vậy.
Tường hồi là do họ bắt chước kiến trúc của Mã Lai vào đời Đường, chớ trước kia
thì họ không có, còn các nhóm Mã Lai thì bắt chước cái chái của Tàu, tùy theo
thời điểm họ chịu ảnh hưởng Tàu.
Tóm lại tường hồi và lối trổ cửa ở tường hồi, với lại lối nhà
chữ Đinh với cây cột giữa là đặc thù của kiến trúc Mã Lai mà cho đến đời Đường
thì Tàu mới theo, mà cũng chỉ theo tường hồi mà thôi, còn lối chữ Đinh thì họ
không bao giờ theo cả. Nhưng Việt Nam thì luôn luôn dùng lối chữ Đinh.
Chỉ có một điểm này mà ông V. Goloubew để cho ta đoán mà thôi
vì ông không có bằng chứng, là đỉnh nóc nhà của tất cả mọi nhóm dân Mã Lai đều
oằn, riêng nhóm Nhựt thì mô, còn nếp nhà ở Đông Sơn thì không thể biết là oằn
hay mô bởi cây đòn dông (thượng đống) không còn nữa. Nhưng bằng vào hình nhà cửa
khắc ở trống đồng thau thì đỉnh nóc nhà Đông Sơn phải oằn.
Hình nơi trống đồng thau lại còn cho thấy một điểm khác nữa
mà ông V. Goloubew không có nói, nhưng các nhà khảo cổ khác như L. Bézacier thì
có nói, đó là góc mái nhà cong quớt lên.
Đây là bài nghiên cứu đầu tiên về nhà cửa của người Đông Sơn.
Về sau những ông L. Bézacier, J. Y. Claeys, H. Maspéro tiếp tục nghiên cứu thêm
và khám phá được nhiều điều hay lạ.
Kiến trúc Mã Lai giản dị hóa, tức không còn nóc oằn mái cong
nhưng còn cái vỉ kèo là có cây cột giữa, ta gọi là nhà chữ Đinh hay Nọc ngựa.
Tàu không bao giờ có lối kiến trúc này.
Kiến trúc Trung Hoa với đặc điểm không có cây cột giữa, gọi
là nhà chữ Hợp mà ta chỉ mới bắt chước chừng 500 năm nay đây thôi.
Mái nhà Tàu các đời Thương, Chu, Tần, Hán, Tấn, ngay thẳng như
nóc nhà Tây. Luôn luôn có chái. Chái là một mái độc nhứt, hình tam giác. Nhà Mã
Lai không bao giờ có chái còn nhà Tàu thì không bao giờ có hồi.
Nhà của Trung Hoa ngày nay, đã biến dạng, hình bánh ít của
nóc nhà.
Nhà Mã Lai ngày nay, biến dạng, tức lấy chái nhà của Tàu,
nhưng cứ còn giữ một chút xíu đầu hồi của cổ thời, mái lại hình thang chớ không
phải hình tam giác. So sánh với nhà số 4 để thấy hai lối biến dạng khác nhau.
Rong của đồng bào Thượng và các nhóm Mã Lai Nam Dương, có
tánh cách đình Việt Nam ở điểm:
Cấm đàn bà
Nơi họp việc làng
Nơi thờ thần làng
Chính Xương Viện, ngôi nhà ngói cổ nhứt có nóc oằn, mái cong,
còn sót lại đến ngày nay tại Nhựt Bổn, nhưng xây cất từ đời Đường.
1. Mái nhà
Trong quyển ‘Về vài món đồ đời Hán", ông H.
Maspéro cho thấy rằng nóc và mái nhà của người Trung Hoa bằng thẳng, y như nóc
và mái nhà của người phương Tây. Hình nhà bằng sành xưa đào được trong các ngôi
mộ nhà Hán nặn rất trung thành, một con cừu trong sân cũng được nặn kỹ lưỡng,
thì không thể bảo rằng thợ cẩu thả làm không giống.
Không tìm thấy nhà sành đời Đường, nhưng nhà đời Đường có chạm
trên nhiều bia đá ở Trung Quốc, có thay đổi chút ít về nóc và mái, tức nóc bắt
đầu hơi oằn, mái bắt đầu hơi cong quớt lên.
Nhưng trong vài bức tranh đời Tống thì nóc đã oằn, mái đã
cong lên hẳn, giống nóc và mái nhà của tất cả các nhóm Mã Lai hiện kim.
Một bài văn danh tiếng của Trung Hoa cũng cho biết mái nhà đời
Tần Hán ra sao. Đó là bài phú "A phòng cung" của Đổ Mục: "…
mái nhà cong như mỏ quạ" tức quặp xuống chớ không phải là cong quớt
lên.
Yếu tố kiến trúc nóc oằn và mái cong như mái chùa, ai cũng ngỡ
là của Trung Hoa, có dè đâu đó là của chủng Mã Lai Bách Việt và của Cổ Việt mà
Tàu bắt chước.
Chỉ có người Nhựt gốc Mã Lai là đôi khi làm đỉnh nóc mô, vì xứ
ấy có tuyết, làm nóc mô cho tuyết đổ, kẻo sập nhà, nhưng chính hình dạng mô ấy
cũng là hình thức trái nghịch với hình dạng oằn của đỉnh nóc Mã Lai, hễ không oằn
thì mô, chớ nhứt định không thẳng, tại mỹ quan của chủng Mã Lai về kiến trúc
nóc đó như vậy.
Trong quyển "Archacological Research in
Indochina" của ông O. Jansé, người cầm đầu phái đoàn khai quật Đông
Sơn, do nhà in Bruges St. Catherine Press (Bỉ quốc) tái bản năm 1955 có in hình
nhiều kiểu nhà ở và nhà mồ của đồng bào Thượng ở Việt Nam, nhà ấy giống nhà
trong trống đồng thau và giống nếp nhà do ông V. Goloubew hồi phục bằng vào vật
liệu khai quật được, và công cuộc khảo sát về dân tộc học, nhơn thể tính cho biết
rằng người Thượng ở Cao nguyên cũng thuộc chủng Cổ Mã Lai (Anh Đô Nê-diêng).
Trong quyển "Introduction â l’étude de l’Annam et
du Champa" (BAVH số một và hai, 1934) ông Claeys viết: "Nếu cần
phải kết luận thì người ta có thể nói mà không cần dè dặt (on pourrait
facilement déclarer) rằng nóc oằn, mái cong lên, ở bên Tàu là do bắt chước người
Cổ Mã Lai, còn ở xứ Annam thì đó là cái gì còn sót lại của cổ tục bổn xứ".
Nhưng người Tàu đã bắt chước của ai hồi đời Đường? Ta có một
chứng tích khá rõ. Các nhóm Mã Lai đều cất nhà lợp lá. Biến nóc lá oằn và mái
cong thành nóc ngói oằn mái cong là chuyện khó lắm, vì vật liệu khác, không ai
biết sẽ làm được hay không thì Tàu hẳn không có thử làm.
Nhưng một nhóm Mã Lai kia đã thử làm, đúng vào đời Đường, họ
gởi hàng ngàn sinh viên đi sang Tàu để học đủ thứ môn kể cả kiến trúc gỗ và
công nghệ ngói gạch.
Về nước, họ bắt đầu cất nhà lợp ngói, nhưng vẫn giữ nguyên mọi
biệt sắc Mã Lai cố hữu là nhà sàn, nóc oằn, mái cong quớt lên. Đó là Chính
Xương Viện ở cố đô Nại Lương (có hình cạnh đây).
Chính Xương Viện là ngôi nhà ngói nhưng cất trên sàn, có nóc
oằn và mái cong, cổ nhứt của nhơn loại, mà chính người Mã Lai Nhựt cất lên bằng
cách dung hòa hai thứ kiến trúc: kỹ thuật bên trong học của Tàu, còn thì cái gì
của Mã Lai đều được giữ nguyên vẹn.
Cũng nên nhớ rằng dưới đời nhà Đường, Nhựt đi học của Tàu,
nhưng vẫn có trao đổi văn hóa qua lại với nhau và hẳn Tàu đã có bắt chước Nhựt ở
vài điểm mà loại nóc oằn mái cong là một.
Thế là Mã Lai Nhựt đã thành công trong việc dung hòa kiến
trúc ngộ nghĩnh và đẹp hơn kiến trúc Tàu nhiều lắm! Chắc chắn là Tàu đã bắt chước
Chính Xương Viện, nhưng bỏ cái sàn, vì họ chỉ thích cái nóc và cái mái lạ và đẹp
thôi, còn sàn thì không có gì đặc sắc cả.
Cũng nên nhớ rằng Chính Xương Viện chỉ được xây cất vào năm
743 S.K. còn bức tranh Tàu của Li Sseu Hiun (Lý Tư Hùng) trong đó lâu đài cung
điện Trung Hoa lần đầu tiên có nóc oằn, mái cong quớt lên, hiện được tàng trữ tại
Bảo tàng viện Museum of Fine Arts ở Boston thì được họa vào khoảng năm 700.
Như vậy cho rằng Tàu học của Nhựt có mâu thuẫn chăng? Xin
thưa rằng không. Vì sao?
Nhựt đã phái chuyên viên đi học kỹ thuật của Tàu siêng cần nhứt
là từ năm Đại Nghiệp dưới đời nhà Tùy (607 S.K.) và kể từ năm đó thì hai quốc
gia ấy trao đổi văn hóa với nhau không ngớt.
Như thế Chính Xương Viện chỉ là ngôi nhà ngói nóc oằn và mái
cong còn sót lại của Nhựt, chớ trước đó, tức trước bức tranh năm 700 của Li
Sseu Hiun, Nhựt phải có nhiều ngôi nhà loại ấy, nghĩa là họ đã bắt đầu nhờ kỹ
thuật Trung Hoa từ năm 657, và Trung Hoa cũng bắt đầu cóp nóc oằn mái cong của
họ từ năm 607.
Nhà của bức tranh năm 700, không là chứng tích Tàu thình lình
phát minh nóc oằn và mái cong trước Mã Lai Nhựt Bổn.
2. Hồi và chái
Ông Maspéro và ông L. Bézacier lại còn cho biết rằng người
Tàu không hề biết vách hồi, từ cổ thời cho đến đời Tống, cũng cứ dựa vào những
nhà bằng sứ nói trên, có ảnh đăng trong quyển L’Art de la Chine, nhà xuất
bản Larousse, Paris. Bức hồi chỉ thấy nơi nhà của người Cổ Mã Lai và Kim Mã Lai
thôi. Cũng tới đời Tống, Tàu mới bắt chước bức hồi của Mã Lai.
Trái lại, các nhóm Mã Lai thì không bao giờ biết cái chái nhà
và chỉ bắt chước Trung Hoa tùy theo năm họ bị Trung Hoa cai trị, còn nhóm nào
không hề chịu ảnh hưởng Trung Hoa thì mãi cho đến ngày nay vẫn không biết cái
chái là gì.
Ông L. Bézacier đi sâu thêm, trong quyển L’art Vietnamien,
và cho biết rằng nhóm Mã Lai Việt Nam, mặc dầu bắt chước chái nhà của Trung
Hoa, vẫn còn để lại bức hồi. Quả thật vậy, chái nhà của Trung Hoa hình tam giác
và chỉ gồm có một tấm nằm nghiêng từ trên xuống dưới, trong khi đó thì chái nhà
Việt Nam gồm hai phần phân biệt, phần trên là đầu hồi hình tam giác, nhưng đứng
chớ không nghiêng như chái nhà Tàu, rồi tới cái chái hình thang nghiêng, chớ
không phải hình tam giác như của Tàu. Loại chái nhà của ta, cổ Trung Hoa không
có. Đầu hồi của ta là cái gì còn sót lại của vách hồi thời Đông Sơn vậy.
Ông L. Bézacier nói rằng ngày nay Trung Hoa cũng bắt chước ta
mà làm chái nhà hai phần như ta, nhưng vẫn không giống được, bởi đầu hồi của Việt
Nam để trống trơn, còn đầu hồi của Trung Hoa thì luôn luôn bít kín (vì xứ họ lạnh).
3. Sườn nhà
Ông L. Bézacier, nguyên quản thủ các di tích lịch sử Việt Nam
cho đến năm 1945, rất thạo về kiến trúc. Ông cho biết rằng lối nhà Nọc ngựa của
ta, Tàu không bao giờ có, còn ta thì chỉ bắt chước Tàu để cất nhà có trính về
sau này thôi, và mãi cho đến ngày nay, ta vẫn còn tiếp tục cất nhà Nọc ngựa ở
vài nơi, khi người cất nhà vì ít tiền nên phải tiết kiệm gỗ. Và hầu hết
các Đình xưa của ta đều không có trính.
Ở đây, ta thấy rõ một hình thức tiêu cực đề kháng của tổ tiên
ta rất là ngộ nghĩnh. Phàm khi một dân tộc bị trị mà bất khuất dưới một sức mạnh
thống trị chưa có thể đương đầu nổi thì cuộc đề kháng rút vào vòng bí mật, hoặc
dưới trăm ngàn hình thức tiêu cực nho nhỏ mà kẻ thống trị không thấy được.
Chúng tôi còn giữ được một kỷ niệm về câu chuyện sau đây xảy
ra trong làng chúng tôi cách đây nửa thế kỷ, thuở chúng tôi còn bé dại.
Nhà giàu ta, hễ cất nhà thì có khuynh hướng cất có trính mà
miền Nam gọi là Đâm trính, vì nhà có trính rộng hơn nhà Chữ Đinh mà
miền Nam gọi là Nọc ngựa. Nhưng đàn ông các gia đình có nền nếp theo
phong tục tổ tiên thì luôn luôn chống lại khuynh hướng đó. Xung đột thường xảy
ra trong các gia đình bắt đầu mới có tiền chuẩn bị tậu nhà mới. Người đàn ông
luôn luôn thua trận, bởi họ chỉ biết đưa ra một luận điệu có vẻ huyền bí
là "Không nên". Từ ngữ không nên ở miền Nam có nghĩa
là chạm đến ma quỷ, thánh thần. Luận cứ đó không vững nên các bà luôn luôn thắng
và những ngôi nhà cổ Nọc ngựa lần hồi biến mất hết, năm chúng tôi lên bảy thì
nhà cửa trong làng hết 95 phần trăm là nhà có trính mà các
nhà kiến trúc Tàu gọi là nhà Chữ Hợp.
Chắc chắn là tổ tiên ta xưa, không biết làm thế nào để chống
lại ảnh hưởng ngoại lai về kiến trúc đó nên mới bịa ra cái vụ "không
nên" nói trên, dùng có hiệu quả trong nhiều ngàn năm, nhưng đến thời Tây
tà thì không còn ai nghe nữa vì ta đã hết tin nhảm.
Sở dĩ toàn thể đàn bà theo khuynh hướng có trính vì họ không
có nhiệm vụ tế lễ nên không hề hay biết có lời di chúc truyền miệng của tổ
tiên. Còn đàn ông mà không biết là vì họ mồ côi quá sớm hoặc vốn là con nhà bần
nông ở nhà tranh, trong gia đình người gia trưởng không có dịp nói lên lời di
chúc ấy lần nào hết.
Câu chuyện này, chúng tôi tin chắc rằng cũng đã xảy ra ở
Trung và Bắc Việt, nhưng không có ai nói ra, vì nhơn chứng không có viết lách
gì, còn những người viết lách thì lại không thấy hoặc quên đi, hoặc không có
quan sát thuở họ còn bé.
4. Ngói và nhà bếp
Theo ông L. Bézacier thì nhà bếp của Trung Hoa luôn luôn dính
lại với nhà ở, còn nhà bếp Việt Nam thì luôn luôn cách xa nhà ở bằng một cái
sân, lớn nhỏ, tùy khả năng tài chánh của chủ nhà và tùy nơi cất nhà có nhiều
hay ít đất. Ngày nay ở các thành phố người ta cất nhà liên kế, rất hẹp, vậy mà
nhà bếp cũng cách nhà ở bằng một cái sân bé tí teo.
Về ngói thì Trung Hoa luôn luôn dùng ngói ống. Ta chịu ảnh hưởng
Trung Hoa rất nặng vậy mà ta lại chế tạo ngói dẹp để lợp nhà, những đình, chùa,
đền cổ của ta chứng minh điều trên đây, và ngay cả ngói lợp nhà của thành Đại
La, cái thành do người Trung Hoa xây cất, mà cũng đã dùng ngói dẹp rồi. Điều đó
chứng tỏ rằng người Việt là người Việt, người Trung Hoa là người Trung Hoa, bởi
từ bà Tây Thái Hậu về trước, Trung Hoa không hề chế tạo ngói dẹp, thì không có
lý nào mà một nhóm Trung Hoa ở Giao Chỉ lại dùng ngói dẹp để xây cất Đại La.
Đành rằng đó là phát minh về sau của thợ Việt Nam, chớ vào thời
Đông Sơn Lạc Việt tổ tiên ta chỉ lợp nhà bằng tranh, bằng cói, nhưng nó cũng chứng
minh được rằng ta không phải là Trung Hoa.
5. Nhà rầm
Năm chúng tôi lên bảy, trong vùng chúng tôi sanh trưởng, mỗi
làng còn được vài cái nhà rầm.
Các nhà khảo cứu Pháp, khi nói đến những ngôi đình ở Bắc Việt
đã dùng từ ngữ sai là Edifice sur piloti. Trong ngôn ngữ của họ chỉ có từ
ngữ đó thôi, họ không làm sao mà diễn tả hơn được, chớ thật ra Maison sur
piloti là nhà sàn, nó khác nhà rầm ở điểm này là nhà sàn, khoảng trống bỏ
không, từ mặt đất lên tới sàn, cao lắm, còn nhà rầm thì chỉ cao lối sáu tấc Tây
là cùng.
Nhà rầm chỉ là một hình thức nhà sàn, không còn mục đích
phòng thủ chống thú dữ như vào cổ thời, hoặc như nơi người Thượng trên núi rừng
ngày nay nữa. Người Việt Nam biến nhà sàn ra nhà rầm vì mục đích vệ sinh, tránh
đất ẩm ướt, mà nếu nền có lót gạch Tàu cũng không hết ẩm.
Nhưng cho đến năm 1925 thì tất cả những ngôi nhà rầm xưa
trong vùng tôi đều mục nát hết và con cháu các chủ nhà đời xưa, dỡ bỏ, cất lại
thì cất trệt, tức không rầm, vì bấy giờ họ đã tìm được một lối vệ sinh hơn là
xây nền bằng đá rồi đổ cả mấy mươi thước khối cát trong thành đá ấy đoạn mới dựng
nhà lên đó. Sự ẩm ướt, nhờ cát hút hết, mà không phải lo rác rến dưới rầm không
thể quét dọn được vì rầm quá thấp, không làm sao để chui vào đó. Trên cát, họ
lót gạch cho sạch sẽ.
Nhưng hiện nay thì tại Nhựt Bổn, cứ còn rầm như thường. Đất
Nhựt Bổn không ẩm, nhưng họ có óc tồn cổ, và đó là di tích nhà sàn Mã Lai xưa
chớ không có gì lạ. Nhiều du khách ta, không biết lẽ đó, ngỡ người Nhựt mới
phát minh ra nhà rầm khi họ đã văn minh rồi, học đòi vệ sinh.
Chúng tôi tin chắc rằng, ở Bắc và Trung cách đây năm sáu mươi
năm, cũng còn nhà rầm (không kể các ngôi đình), nhưng không thấy ai ghi chép
gì, cũng cứ vì cái lẽ đã nói ở khoản nhà Nọc Ngựa, là tại không có một chú bé
tò mò ở đó, hay có rất nhiều chú bé tò mò đã chứng kiến sự sống sót của nhà rầm
và sự biến mất của nhà rầm, nhưng các chú không có viết lách như chúng tôi, chớ
không có lý nào mà, cũng cứ như đã nói rồi, Nam Kỳ lại bảo hoảng hơn ông vua,
giữ mãi nhà rầm, trong khi Trung Bắc đã bỏ từ nhiều trăm năm rồi, như các nhà
khảo cổ Pháp đã nói sai riêng về vấn đề sur pileti Bắc Việt.
Người Pháp cai trị Trung, Bắc chỉ có 80 năm mà 40 năm đầu, họ
chưa khảo sát kỹ đến chuyện xa vời như vậy đối với tư cách kẻ thống trị. Chừng
họ bắt tay vào việc thì không còn nhà rầm nữa để cho họ thấy.
Sự kiện nhà rầm tồn tại ở Nam Kỳ cho tới năm 1925 là một sự
thật do chúng tôi quan sát tại chỗ, và sự kiện Nam gần gốc Mã Lai hơn Trung, Bắc
lại không thể có được, thì chỉ còn một lối kết luận là vào năm 1925 ở Trung, Bắc
cũng còn chút đỉnh nhà rầm, chỉ có điều là những người thuở bé có quan sát thì
ngày nay đã quy tiên rồi hoặc không viết lách.
Và ông L. Bézacier kết luận rằng chắc chắn đó là di tích Lạc
Việt. Ông không hề dám kết luận Lạc Việt = Mã Lai vì ông không gom đủ được bằng
chứng như chúng tôi, nhưng nội cái kết luận rằng Nọc Ngựa, bức hồi, mái cong,
nhà rầm là di tích Lạc Việt cũng đã giúp cho thuyết của chúng tôi nhiều lắm.
Ông nói khi một dân tộc bị mất văn hóa, họ cố bám víu vào một
vài điểm nào đó, trong trường hợp kiến trúc thì họ bám víu trong kiến trúc cất
đình, vì đình là nơi thiêng liêng, giúp họ nhớ gốc tổ Lạc Việt, nếu không phải
như vậy thì không sao cắt nghĩa được hiện tượng lạ lùng là ngôi đình của làng
nào ở đất Bắc cũng cất theo lối nhà rầm hết, không hề có ngoại lệ bao giờ,
trong khi cung điện, chùa, miếu thì không có rầm, là vì Phật giáo là tôn giáo
ngoại quốc du nhập vào xứ ta do trung gian Trung Hoa, còn miếu mạo thì thường
cũng thờ các vị thánh thần Trung Hoa; chỉ có đình là gốc chánh vì hiện nay người
Sơ Đăng cũng còn đình, chỉ có khác là họ không thờ thần làng mà chỉ dùng làm việc
buôn, y hệt như ở Bắc mà cái đình cũng dùng cho việc làng.
C. Cái đình
Tự trị thôn xã và thần làng
Hầu hết các sách khảo cứu đều cho rằng thôn xã ta chỉ mới được
tự trị từ năm 1740, tức dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, còn trước đó thì vẫn bị
trực trị do chánh quyền trung ương.
Sự quả quyết ấy bắt nguồn từ năm một nhà khảo cứu Việt Nam,
viết sách bằng tiếng Pháp, gặp được tài liệu chúa Trịnh cho các xã thôn tự trị,
ghi rõ trong Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục.
Tài liệu lịch sử ấy chỉ ghi sự kiện và ngày tháng trả tự do
cho thôn xã, mà không có nói gì thêm hết, nhưng nhà học giả ấy lại suy luận giản
dị rằng trước đó hẳn luôn luôn trực trị mà quên rằng từ thời Hùng Vương đến năm
1740, hai ngàn năm đã trải qua mà trào đại thăng trầm, không biết có bao nhiêu
thay đổi trong khoảng thời gian quá dài đó.
Khi mà sử liệu thiếu, thì nhà nghiên cứu chỉ còn biết suy luận
để tái tạo sự cố, nhưng suy luận cũng phải dựa vào dấu vết nào, chớ có đâu mà
chỉ bằng vào một đạo luật vắn tắt vài dòng chữ.
Đó là đa số. Một vài học giả thì lại cho rằng làng là dấu vết
các bộ lạc xưa.
Nhưng dựa vào sự phân biệt giữa bộ lạc và thị tộc của chúng
tôi ở chương "Những cái họ Việt Nam" thì làng không thể là
bộ lạc xưa được, mà chỉ là thị tộc cổ thời mà thôi.
Có sách lại cho rằng làng chỉ mới thành hình từ thời nhà Lý,
tức là từ ngày nền độc lập của ta đã vững sau ngót một ngàn năm bị trị. Thế thì
trước khi bị trị, cả nước Văn Lang không được chia thành từng đơn vị nhỏ à? Như
vậy làm thế nào vua Hùng Vương trị nước thì thật là không thể biết.
Còn bảo rằng làng chỉ có từ đời Lý, bắt chước theo Tàu thì
không đúng, vì làng của ta tổ chức không giống của Tàu, trước 1740 hay sau 1740
gì cũng đều không giống.
Cứ bằng vào tên gọi, chúng tôi thấy rằng làng đã có từ cổ thời.
Danh từ Mã Lai là T’lang, mà T’lang thì tổ chức giống hệt một thái ấp của
người Mường ngày nay, tức đó là một lãnh địa nho nhỏ của một lãnh chúa địa
phương theo chế độ phong kiến mà T’lang với Làng hai danh từ
đó quá giống nhau.
Thái ấp Mường có tên riêng nhưng không có danh từ để chỉ thái
ấp. Nhưng người lãnh chúa lại được gọi là Quan Lang. Ta phải hiểu rằng Quan
Lang là ông Quan cai trị một Lang mà một Lang là một T’lang vậy.
Chữ Quan mới được thêm sau, do ảnh hưởng Trung Hoa, qua trung
gian người Việt Nam, chớ xưa có lẽ là Xà Lang hay gì gì Lang chớ không thể là
Quan được, bởi Quan là tiếng Tàu, Xa, danh từ Mã Lai và Xả, danh từ Thái, cả
hai danh từ đều đồng gốc Mã Lai, chỉ người lãnh chúa địa phương.
Xin nhấn mạnh về điểm này mà trí thức Việt Nam không chú ý đến.
Quan Lang chỉ là lối nói tắt mấy tiếng Quan đầu Lang, Quan cai trị một
lang, chớ không phải là một danh từ kép có nghĩa riêng là một chức vị. Không
bao giờ có danh từ Quan Lang cả đâu.
Mà lối nói tắt đó, chỉ mới có về sau, chớ vào cổ thời, thuở
mà ta chưa học danh từ Quan của Tàu, hẳn Mường và ta đã nói Xà Lang hay gì gì
Lang đó.
Trong Việt lý tố nguyên, giáo sư Kim Định cho rằng tên
nước Văn Lang có lẽ là Văn Làng.
Nhưng thuở ấy ảnh hưởng Tàu chưa tới thì không làm sao mà ta
có danh từ Văn được? Vả lại cũng không thấy ai ghép nôm với nho, trong những việc
quan trọng. Dân chúng có ghép, vì dốt chữ nghĩa, chớ tới cấp bực quan vua thì
không còn ghép kỳ dị như vậy nữa.
Vả lại ta có bằng chứng đích xác rằng tiếng ta và tiếng Mường
chỉ mới tách rời nhau từ thế kỷ XVII, tức là trước thế kỷ đó vẫn nói Lang, chớ
chưa nói Làng, trong khi đó thì danh xưng Văn Lang đã có trước rồi, không phải
có trong sách Tàu, mà có trong sách vở xưa của ta nữa.
Nhứt định là Văn Lang phải do cái gì khác mà
ra chứ không thể nào mà do Văn Làng được, vì chính Lang biến
thành Làng, chớ không phải Làng biến thành Lang, mà sự biến
hóa ấy thì chỉ mới xảy ra vào thế kỷ XVII. Lẽ thứ nhì là ta không có chữ Văn,
trước khi ta học chữ Nho.
Chúng tôi có thể giải thích nghĩa của quốc hiệu Văn Lang và
giải thích tại sao, trước khi học chữ của người Tàu, vào các trào Hùng Vương,
mà ta lại biết chữ Nho để đặt quốc hiệu đó là Văn Lang. Nhưng đó là một câu
chuyện khác sẽ trình bày ở chương khác.
Chúng tôi sẽ trưng ra bằng chứng rằng đó là một Quốc Hiệu
hoàn toàn Việt, được Hoa hóa về sau, khi mà dân chúng chịu ảnh hưởng Trung Hoa.
Lối Hoa hóa ấy cùng tánh cách với lối phiên âm các danh xưng
"man di" của Tàu, nó có nghĩa, nhưng cái nghĩa đó là nghĩa cưỡng ép
chỉ cốt giống danh xưng bổn xứ, còn hiểu theo chữ Nho thì không thấy được ý thật
của danh xưng, thí dụ danh xưng Chân Lạp, Tàu họ phiên âm như vậy, có nghĩa lắm,
nhưng nghĩa đó quá vô lý. Chân Lạp là sáp ong thứ thiệt chăng? Có hàng trăm nước
có sáp ong tốt, sao chỉ gọi nước đó là Sáp ong thứ thật. Nhưng về Chân Lạp thì
ta may mắn biết được sự thật nhờ người Cao Miên nhớ tên cũ của nước họ và cái
nghĩa đúng của nó. Đó là Chanh Ra. Trường hợp Văn Lang thì quá cổ, không còn ai
nhớ gì nữa hết.
Dầu sao, ta cũng thấy sự liên hệ rõ rệt giữa T’lang của Mã
Lai, Lang của Mường và Làng của ta, về cơ cấu tổ chức, tức tự trị, chỉ có khác
là làng của ta không còn phong kiến như T’lang và Lang của Mã và của Mường, đó
là do toàn quốc Việt Nam đều thoát khỏi chế độ phong kiến thật sự lâu rồi,
không như nơi xứ Mường chẳng hạn.
Dấu vết thứ hai của sự trì hoãn xã thôn cổ thời là tục riêng
các làng, tồn tại cho đến năm 1945 ở Việt Nam. Đại khái họ đóng thuế, và chịu lịnh
triều đình như nhau, các nhà lãnh đạo mang chức tước đồng đều với nhau, nhưng
các làng không giống nhau, mà những cái lệ làng khác nhau ấy, xem ra không có vẻ
gì là mới có từ năm 1740 cả.
Ta nên nhìn rõ cái năm 1740. Đó là một chuyện quá mới, đối với
lịch sử. Mà lệ làng thì đã thâm căn cố đế, không thể bắt rễ quá sâu như vậy được
từ thế kỷ 18 đến nay.
Cũng nên nhớ là năm mà Pháp bỏ Hội đồng kỳ dịch ở các làng, lập
ra Hội đồng hương chính thì việc chống đối của dân và làng mạnh mẽ cho đến nổi
họ phải lui bước sáu năm sau đó.
Một dân tộc bị trị, đã chịu đầu hàng rồi, các cuộc nổi loạn cứu
vãn nền độc lập kể như đã chấm dứt, tức họ đã đi vào thái độ cầu an, vậy mà họ
chống đối mạnh như thế thì chắc chắn không phải là vì những tục lệ mới có từ
năm 1740.
Dấu vết đáng kể hơn hết là các thần làng. Những vị dâm thần,
nhứt định không phải là chuyện mới bày năm bảy trăm năm mà là chuyện cũ hai ba
ngàn năm. Nếu các làng không tự trị trước năm 1740 thì cả thần thánh cũng bị
chánh phủ hóa hết rồi, không còn làm sao mà những dâm thần còn được dung thứ.
Chánh phủ can thiệp vào sự thờ thần đã được ông Nguyễn Văn
Khoan dẫn chứng rõ ràng trong B.E.F.F.O. bài "Essai sur le Dinh et le
culte du génie tutélaire des villages du TonKin". Nhưng can thiệp vẫn
không toàn thắng thì đủ biết cái quyền tự trị của xã thôn không phải chỉ mới có
từ năm 1740. Vua chúa chỉ thành công trong việc ban chức tước cho các thần cũ
mà vua chúa cho là xứng đáng vì công trạng hiển hách nào đó, như Thánh Gióng chẳng
hạn, và phong thần cho quan của vua chúa vừa quá cố, phong cho các làng mới lập
(sự kiện này vua chúa đã thành công một trăm phần trăm ở Nam Kỳ vì toàn thể các
làng Nam Kỳ, không có làng nào được lập trước 1620 hết), còn các thần bậy bạ,
vua chúa không nhìn nhận thì thôi chớ cũng không dám chạm tới họ.
Thế thì ta phải kết luận rằng xưa kia thôn xã của ta tự trị,
y như các Lang của Mường và T’lang của Mã Lai, rồi thì trào đại nào đó không biết
đã cướp mất nền tự trị ấy mà không còn để dấu vết. Dấu vết trả lại tự trị của
Khâm Định tuy là dấu vết đúng, nhưng lại thiếu cái khoen giữa, hóa ra nó gạt gẫm
người suy luận liều lĩnh.
Và các làng của ta xưa là các thị tộc chớ không phải là bộ lạc.
Truyền thuyết Mường đã đưa con số quá chính xác là 1960 cái, không thể tin được,
nhưng chắc không xa sự thật bao nhiêu.
Xin nghiền ngẫm lại định nghĩa của bộ lạc và thị tộc ở chương
Cái Họ thì thấy rõ là bộ lạc to lắm, chính thị tộc mới là nhỏ, trái với tưởng
tượng thông thường của phần đông.
Hễ nói tới làng Việt thì không sao quên được cái Đình và Thần
Làng đã có nói sơ qua rồi trên kia, nhưng cần nói rõ hơn.
*
Toàn thể các học giả ta đều sai lầm khi gọi thần làng của ta
là Thần Thành Hoàng.
Hai thứ thần ấy khác nhau quá xa, một đàng của ta, một đàng của
Tàu, mà Tàu cũng chỉ mới có từ đời nhà Chu đây thôi thì không thể lầm lẫn với
nhau được. Những học giả Việt viết bằng tiếng Pháp cũng đã lầm lẫn y như những
học giả Việt viết bằng tiếng Việt.
Thần làng của ta là thần riêng của dân làng. Đó là điều nên
nhớ vì đó là điều quan trọng nhứt, vì các làng Trung Hoa không bao giờ có thần
riêng cả, từ thời cổ đến nay (Maspéro). Nếu vì thần ta mà chống xâm lăng đi nữa,
tức là có công chung đối với toàn quốc như ông Thánh Gióng đã chống giặc Ân, tức
giặc Tàu trào đại Thương cuối mùa, thì ông cũng cứ là thần riêng của làng sinh
quán của ông. Toàn quốc sùng bái ông nhưng không có lập đền thờ cho ông như
làng sinh quán của ông. (Về Thánh Gióng tưởng đâu là chuyện hoang đường, nhưng
không. Sử Tàu có chép rằng nhà Ân quả đã có chiến tranh với một nước ở phương
Nam tên là nước Quỹ Phương, nay không ai biết ở đâu hết, chỉ biết là ở Hoa Nam.
Nhưng không lẽ Việt Nam lại chiến tranh được với nhà Thương vì giữa họ và ta
còn quá nhiều nước trung gian? Nhưng nếu ta thấy rằng dân ta xưa làm chủ đất
Trung Hoa, cả Hoa Bắc lẫn Hoa Nam, thì câu chuyện hóa ra hết hoang đường. Làng
Gióng có lẽ là một làng ở Hoa Nam mà trào đại hay đa số dân trong làng di cư xuống
đất ta ngày nay, rồi ở đó, họ thờ lại vị anh hùng cứu quốc cũ).
Nhưng phần lớn không phải là những bực chống xâm lăng mà cũng
không phải là quan nữa, trước khi trào đình xía mũi vào.
Phần lớn chỉ là những nhơn vật làm cái gì thoát sáo, độc đáo
hoặc giản dị hơn. Thần của làng ta chỉ là tượng trưng cho một quan niệm tôn
giáo nào đó thôi, thí dụ các dâm thần.
Đó là tục của người Mã Lai mà hiện Nhựt Bổn và các đảo Mã Lai
còn giữ.
Hai ông L. Bézacier và H. Maspéro cực lực binh vực quan niệm
rằng đình và thần làng là đặc thù của Việt Nam, (tức của Mã Lai) mặc dầu sách
Trung Hoa Ying tsao fa che (?) cho biết rằng họ có đình từ đời nhà
Hán.
Đình của Trung Hoa không phải là nơi thờ phượng mà chỉ là cái
nhà cất trên đường để bộ hành nghỉ ngơi, nam nữ đều vào được.
Đình của ta là nơi thờ thần làng và nơi hội họp của các nhà
lãnh đạo trong làng và phụ nữ không được vào.
Sự trùng hợp của danh từ đình, có thể hoặc là một sự trùng hợp
ngẫu nhiên, hoặc là một cuộc vay mượn vì ảnh hưởng Trung Hoa về sau, ta đã vay
mượn một cách không cần thiết một số danh từ mà ta đã có rồi.
Chẳng hạn cái Đình thì người Sơ Đăng, một thứ người
nói tiếng Mã Lai y như Việt Nam, gọi nó là cái Rong. Có thể tổ tiên ta bỏ Rong vay
mượn danh từ Đình. Rong là danh từ Mã Lai đợt I, còn danh từ Mã
Lai đợt II là Bahala.
Ông Béacier dựa vào nghiên cứu của ông H. Maspéro trong quyển Les
regliions chinoises, để chỉ sự khác biệt giữa thần làng của Mã Lai Việt và thần
thành hoàng của Trung Hoa.
Các nhà học giả ta gọi thần làng của ta là thần thành hoàng
là không đúng.
Thần thành hoàng của Trung Hoa chỉ mới xuất hiện vào đời nhà
Chu, cùng một lượt với những thành quách của các nhà lãnh chúa lớn và chư hầu. Thành là
bức tường bao quanh thành phố và Hoàng là cái hào bao quanh bức tường.
Đó là thần của thành trì và thành phố.
Thần của ta là thần của làng xóm, chớ không phải là thần của
thành phố. Nông thôn ở Trung Hoa có thần hay không? Có, nhưng lại khác hẳn thần
của làng ta. Thần của ta là nhơn vật địa phương, còn thần các làng Tàu là thần
đất đai. Ta có cất nhà, họ thì thờ lộ thiên. Thần của ta là của riêng mỗi dân
làng. Thần của Tàu là của riêng của lãnh chúa mà dân nhiều làng phải cùng thờ với
lãnh chúa. Khi mà một lãnh chúa lớn mạnh và nuốt rất nhiều đất của các lãnh
chúa khác thì họ hóa ra ở quá xa các làng, và dân các làng không còn đi theo họ
được để mà thờ vị thần đất đai đó, thế là thường dân Tàu không còn gì nữa để mà
thờ cả, trong các làng. Thế nên cuối đời nhà Chu khi mà 10 ngàn chư hầu sụt xuống
còn có 7 chư hầu thì các làng xóm không còn tôn giáo.
Trong khi đó thì thần thành hoàng mới xuất hiện, vì các thành
quách lớn mới được xây cất, nhưng hai thứ thần đó cũng lại khác nhau, một đàng
là thần đất đai của nông dân, một đàng là thần vách thành và hào của thị dân.
Xem thế thì gọi thần của ta là Thần Thành Hoàng là sai. Ta không có thành phố
vào cổ thời. Còn làng ta cũng không hề là thành quách lớn hay nhỏ bao giờ.
Ông L. Bézacier lại bác bỏ luận cứ của các học giả Việt cho rằng
đình, nguyên xưa kia là hành cung. Ông bác bỏ vì vua ta chỉ mới bắt đầu có tục
du hành từ thế kỷ thứ X, trong khi đình, dựa theo kiến trúc, thì phải có trước
Tây lịch.
Vả lại xét ra, những đình cổ bốn trăm năm của ta cũng không
có vẻ gì dùng ở được cho có một chút xíu tiện nghi nào cho người thường, chớ đừng
nói chi nhà vua.
Ông L. Bézacier quả quyết rằng đình và thần làng của ta là
cái gì tối cổ còn sót lại, và lối kiến trúc, cho thấy cái tối cổ đó có tánh
cách Mã Lai.
Thần làng của ta xưa kia là anh hùng địa phương, danh nhân địa
phương, giống hết Mã Lai, Nhựt Bổn, mà mỗi làng cũng có đình và cũng chỉ thờ
anh hùng địa phương và danh nhân địa phương, chớ không bao giờ thờ thần đất đai
hay thờ thần của Tướng và Hào (Thành Hoàng) như Tàu.
Về cái đình thì ta rất giống Nhựt mà khác Tàu, lại giống các
nhóm Mã Lai.
Chỉ về sau này, các vua ta mới bắt thờ quan ở các nơi khác chớ
không luôn luôn thờ danh nhân địa phương nữa, nhưng vẫn không phải là thần đất
đai hoặc thần Thành Hoàng như Tàu.
Hiện nay, trong các xã hội người Cổ Mã Lai, làng nào cũng có
một ngôi nhà quan trọng nhứt như đình ở Bắc Việt, và đó là nơi hội họp của đàn
ông để bàn việc công cộng của toàn làng y như ở Bắc Việt. Nơi một vài nhóm,
cũng có thờ phượng y như trong các đình ta.
Tóm lại, kiến trúc Việt Nam là kiến trúc Đông Sơn, mà kiến
trúc Đông Sơn là kiến trúc Mã Lai. Mã Lai, Đông Sơn và Việt Nam có ba biệt sắc
về kiến trúc mà Tàu bắt chước đến hai:
Nhà Nọc ngựa họ không bắt chước
Bức hồi, được họ bắt chước
Nóc oằn, góc mái cong, được họ bắt chước
D. Thờ mặt trời và âm dương vật
Có rất nhiều nhóm Mã Lai chi Lạc thờ mặt trời hoặc, ông trời,
mà riêng về Mã Lai Việt Nam chúng tôi sẽ nói rõ ở chương Bắc Việt. Ở đây xin nhắc
lại một lần nữa rằng Mã Lai Nhựt Bổn cũng thờ nữ thần Thái Dương. Tất cả đều ăn
khớp với hình trống đồng.
Còn một tôn giáo nữa mà không ai dè là của Mã Lai, và hiện vẫn
tồn tại trong xã hội ta.
Tục thờ dương vật và âm vật ở vài làng Bắc Việt (Báo Ngày
Nay, tác phẩm của Toàn Ánh và của Lê Quang Nghiêm) khiến nhiều nhà khảo cứu Việt
Nam kết luận rằng đó là những làng Chàm, nguyên là tù binh xưa được trả tự do,
cho làm dân Việt và là người Chàm, họ theo văn minh Ấn Độ, nên mới có tôn giáo
kỳ cục đó.
Nhưng các nhà khảo cứu ấy không biết rằng đạo thờ dương vật,
âm vật không phải là của Ấn Độ, mà là của chủng Malayalam ở Ấn. Tôn giáo ấy gồm
dâm thần Shiva, dương vật và âm vật mà tượng trưng sau cùng hết là cối và chày
có ám chỉ đến trong quyển Ô Châu Cận Lục, tả dân Việt ở Ô Châu có phong tục
dâm đãng, và con gái thường lấy cối để trêu con trai.
Đó là dấu vết Mã Lai của xã hội Mã Lai Lạc Việt cổ thời, chớ
không hề là dấu vết Chàm.
Tôn giáo ấy không phải chỉ có ở Bắc Việt, mà có cả ở Trung Việt
(tác phẩm của Lê Quang Nghiêm) cũng cứ trong các làng Việt Nam một trăm phần
trăm, còn trong các làng Chàm thì lại không có. Mã Lai Chàm đã bị đạo Hồi thủ
tiêu nguồn gốc rồi, nhưng Mã Lai Việt không có chịu cảnh đàn áp tôn giáo của đạo
Hồi, nên còn giữ được.
Chúng tôi đã nói rằng người Thái cũng là người Mã Lai, và tục
đánh Còn của họ đúng là biểu diễn âm vật và dương vật.
Trước hôn lễ, bà lãnh chúa phải đưa ra một cái vòng tròn bằng
mây, bịt giấy mỏng. Ông mai ném trái Còn lọt được vào cái vòng đó, xé rách được
tấm giấy mỏng đi thì hôn nhơn mới được cử hành, và sau đó trai gái dự hôn lễ tiếp
tục diễn cái trò ấy, nhưng để chơi cho vui chớ không phải vì tánh cách tôn giáo
nữa.
Tất cả các nhóm Mã Lai đều có những nghi lễ và tục lệ liên hệ
đến dương vật và âm vật của tôn giáo của chủng Malayalam mà đạo Bà La Môn vay
mượn.
Việt Nam, mặc dầu đã nhiễm Khổng Mạnh rất sâu đậm, lại cứ được
thờ dâm thần mà vua chúa ta không cấm. Tại sao không cấm? Là vì đó là tôn giáo
cố hữu của chủng tộc mà lễ giáo Khổng Mạnh không dám chạm tới.
Người Nhựt còn nhiễm Tàu mạnh hơn ta nữa, nhưng sự trai gái cởi
truồng để tắm chung là thường ngày của họ. Dương vật và âm vật là hai thứ
thiêng liêng mà tổ tiên họ thờ thì họ chỉ kính trọng chứ không nghĩ xằng.
Ở Trung Hoa chỉ có vua là được thờ Trời vì ông ta tự xưng là
con của Trời, mà chỉ có con mới được quyền thờ cha.
Đến thời Đông Chu hễ chư hầu nào muốn quật cường là bắt đầu
thờ Trời và tế Dao.
Vua chúa Việt Nam cũng bắt chước vua Tàu, tế Dao, nhưng không
có ngăn cấm dân thờ Trời. Hồi tiền chiến, ở nông thôn Việt Nam, nhà nào lại
không có bàn thờ ông Thiên?
Tại sao bắt chước Tàu mà vua chúa ta không bắt chước trọn vẹn?
Vì đó là tôn giáo của chính dân chúng, vua không cấm được, còn ở bên Tàu thì nó
là tôn giáo của ngoại chủng, mà vua Tàu vay mượn, nên lịnh cấm có hiệu quả, bởi
dân Tàu đâu có theo tôn giáo của Việt. Chỉ có vua Tàu là theo để bịa ra huyền
thoại con Trời.
Trong Nho giáo, Trần Trọng Kim nói rằng bên Tàu có đồng
bóng là các bà Vu và các ông Hích. Nhưng họ Trần không biết đó
là Tàu bắt chước Việt chớ không phải là của họ.
Đồng bóng là cán bộ, là một thứ mực sự của đạo thờ Trời của
chủng Mã Lai Bách Việt, vì lên đồng tức là liên lạc với Thần Thánh mà nhứt là với
Trời.
Dân thổ trước ở Mỹ Châu mà người ta gọi là dân da đỏ cũng thờ
Trời và mặt trời, và ngày nay toàn thể các nhà chủng tộc học đều xác nhận rằng
họ da vàng và từ Á Châu đến. Cứ xem các nghi lễ và các điệu vũ của thổ dân Đài
Loan với lại y phục của thổ dân Đài Loan trong nghi lễ là thấy rõ hai bên giống
hệt nhau, không khác một nét, một màu.
Mà thổ dân Đài Loan là Mã Lai có lưỡi rìu tay cầm đấy.
Và khả năng văn minh của người da đỏ cũng không kém khả năng
của Dravidien tí nào hết. Đền đài, cung điện của Maya và Aztèques còn tráng lệ
hơn là của hai thành phố chôn vùi Harappa và Mohanjo Daro của Mã Lai ở Ấn Độ nữa,
và cái vật quan trọng nhứt của thổ dân Mỹ châu cũng cứ là cái mặt trời.
Chính vì cái mặt trời ấy mà trước năm 1945 các nhà khảo cổ lầm
tưởng nền văn minh rực rỡ của thổ dân Mỹ Châu từ Ai Cập đến, bởi Ai Cập cũng thờ
mặt trời. Nhưng rồi họ nghiên cứu dân đó về dân tộc học, chủng tộc học họ mới
thấy rằng đó là dân da vàng từ Châu Á di cư tới nhưng chưa biết vào thời nào.
Một dân tộc đi bằng xuồng nhỏ từ Nam Dương đến Madagascar, vượt
qua hết Ấn Độ Dương được thì dân tộc ấy cũng đã vượt Thái Bình Dương bằng xuồng
nhỏ được dễ dàng phương chi ở Thái Bình Dương lại có những đảo dọc đường mà Ấn
Độ Dương không có.
Xem ra thì chủng Mã Lai văn minh hơn cả Hoa chủng nữa, vì dân
Maya và Aztèques đã giỏi thiên văn, toán học một ngàn năm trước Trung Hoa, mà họ
giỏi thật sự, chớ không phải chỉ dùng thiên văn để bói như Tàu.
Người Mỹ thấy rằng ngày nay hậu duệ của Maya và Aztèques mặc
dầu đã thoái hóa rất xa vẫn còn giỏi về thiên văn.
Đ. Đối chiếu chỉ số sọ
Qua nhiều chương rồi, những chứng tích mà chúng tôi trình ra,
mặc dầu có chặt chẽ bao nhiêu, cũng không đầy đủ. Phải có thêm hai chứng tích
không thể chối cãi là chứng tích thuộc chủng tộc học, mà từ xưa đến nay chưa có
nhà nghiên cứu nào sử dụng hết, và chứng tích ngôn ngữ.
Quý vị sẽ đối chiếu và sẽ thấy Việt, Thái, Cao Miên thuộc chủng
Mã Lai chớ không thuộc Hoa chủng.
Phần lớn các dân tộc ở Á Đông và nhứt là Đông Nam Á từ cổ chí
kim đều đã được đo sọ cả rồi, nhưng từ xưa đến nay các sử gia, các nhà học giả
ta chưa ai sử dụng, vì có vị không hay biết rằng tài liệu này, có vị hay biết,
nhưng đó là sách hiếm có nên tìm không được, có vị tìm được nhưng không biết rằng
cái sọ là yếu tố căn bản để phân biệt các chủng tộc, thành thử chưa có sử gia
nào khai thác chứng tích chủng tộc học cả.
Chúng tôi xin trích đăng tất cả các bản chỉ số sọ của tất cả
các dân tộc ở Á Đông có thể liên quan đến ta để vị nào cần thì có tài liệu mà
tham khảo, bởi không dễ gì tìm được quyển sách này đâu.
Những tài liệu này trích ở quyển Étal actuel de la
crânologie indochinoise của các bác sĩ P. Huard, F. Saurin, Nguyễn Xuân
Nguyên và Nguyễn Văn Đức, Hà Nội, 1938, tuy tên sách là thế, nhưng các tác giả
trên có trích đăng trong sách, những con số về các dân tộc ở ngoài "Đông
Dương" do các nhóm bác học khác nghiên cứu từ Tây Bá Lợi Á đến đảo
Tân-ghi-nê.
Chỉ số sọ của người Việt
|
Tên nhà bác học đo sọ |
Tên dân |
Chỉ số |
Trung bình |
|
Breton |
Người Bắc Việt Hà Nội |
81,60 |
84,22 |
|
Madrolle |
Người Bắc Việt Châu thổ |
82,03 |
|
|
- - |
Người Bắc Việt Châu thổ |
83,00 |
|
|
Deniker |
Người Bắc Việt tổng quát |
82,70 |
|
|
Holbé |
- - |
83,17 |
|
|
Bonifacy |
- - |
83,20 |
|
|
Nhóm Huard |
- - |
80,02 |
82,49 |
Chúng tôi để người Việt miền Trung và miền Nam riêng, vì người
Việt miền Bắc gần với người Việt nguyên thỉ hơn và mới là tiêu biểu cho chủng của
ta, về phương diện chủng tộc học. Tuy nhiên, người Việt hai miền khác cũng có mặt,
sau đây:
|
Tên nhà bác học đo sọ |
Tên dân |
Chỉ số |
Trung bình |
|
Holbé |
Người Việt Quảng Trị |
79,36 |
|
|
-- |
Huế |
80,81 |
|
|
Madrolle |
Nghệ An |
84,62 |
|
|
Bernard |
Người Trung Việt tổng quát |
83,80 |
|
|
Madrolle |
Miền Nam tổng quát |
79,98 |
|
|
Mondrière |
- - |
83,33 |
|
|
Mondrière |
Người miền Nam tổng quát |
79,29 |
|
|
P. Neis |
- - |
81,50 |
|
|
Deniker |
- - |
82,80 |
|
|
Holbé |
- - |
84,40 |
81,76 |
Tổng trung bình: 82,13
Dung lượng sọ Việt
|
Nhóm B.S. Huard |
Bắc Việt tổng quát |
1.341,48 |
Chỉ số sọ người Thái
|
Tên nhà bác học |
Tên nhóm được đo sọ |
Chỉ số |
|
Holbé |
Xiêng Mai |
81,84 |
|
Deniker |
Hạ Lào |
83,60 |
|
J. Harmand |
Lào tổng quát |
83,87 |
|
- - |
Thai Phu |
82,58 |
|
- - |
Nam Nao |
85,05 |
|
- - |
- - |
92,90 |
|
- - |
Lào Pou Wa |
82,09 |
|
Hamy |
Lào Attopeu |
83,13 |
Bác sĩ Haurd cho biết rằng người Thái Lan, người Lào và người
Thái Bắc Việt đồng chủng với nhau, nên chúng tôi ghi tất cả vào đây để lấy con
số trung bình (người Thái Bắc Việt chia ra làm nhiều nhóm, mang tên khác nhau
như Thổ, Lô Lô, nhưng cũng thuộc độc một dòng máu Thái):
|
Tên nhà bác học |
Tên nhóm được đo sọ |
Chỉ số |
|
Ginad |
Thổ Lạng Sơn |
80,51 |
|
Holbé |
Thổ Lạng Sơn |
81,82 |
|
Madrolle |
Thổ Lạng Sơn |
80,50 |
|
Madrolle |
Thổ Phủ Quỹ |
82,30 |
|
Harmand |
Thái tổng quát |
82,84 |
|
Legendre |
Lô Lô tổng quát |
80,20 |
|
Holthé |
Nùng tổng quát |
81,58 |
Trung bình: 82,25
Chỉ số sọ của các nhóm Mã Lai
|
Tên nhà bác học |
Tên nhóm Mã Lai được đo sọ |
Chỉ số |
|
Tschepourkovsky |
Mã Lai ở Mã Lai Á |
81,00 |
|
Cole, Nanagas, Jenks |
- - Phi Luật Tân |
81,84 |
|
Bean, Montano |
- - |
81,84 |
|
Snell, Hagen, Garrett |
Java |
84,70 |
|
Hage, Mijsberg |
- - Sumatra |
82,80 |
|
Halden, Mc Dongall |
- - Bornéo |
80,60 |
Trung bình: 82,19
Chỉ số sọ Cao Miên
|
Tên nhà bác học |
Tên nhóm người được đo sọ |
Chỉ số |
|
Bonifacy |
Cao Miên tổng quát |
80,00 |
|
Deniker |
- - |
83,60 |
|
Madrolle |
- - |
83,60 |
|
Mondière |
- - |
83,70 |
|
Holbé |
Cao Miên tổng quát |
84,10 |
|
Simon |
- - |
84,70 |
Trung bình: 83,28
Chỉ số sọ người Hẹ và người Thục
|
Tên nhà bác học |
Tên dân |
Chỉ số |
|
Zaborowski |
Hẹ Hoa Nam (gốc Thục) |
76,66 |
|
Legendre |
Trung Hoa Tứ Xuyên (gốc Thục) |
79,30 |
Trung bình: 77,98
Chỉ số sọ của các thứ người Hoa
|
Tên nhà bác học đo sọ |
Tên dân được đo |
Chỉ số |
Trung bình |
|
Black |
Người Cổ Trung Hoa tức Mông Cổ lai với da trắng Tây Vức (sọ
Cam Túc) |
75,70 |
|
|
Koganet |
Người Hoa Bắc (Trung Mông Gô Lích) |
80,20 |
78,30 |
|
Shirokogoreff |
- - |
81,70 |
|
|
Quatrefages |
- - |
75,97 |
|
|
Zaborowski |
Một người ăn mày chết đường ở Bắc Kinh |
66,66 |
79,04 |
|
Veisbaces |
Người Hoa Nam (Trung Mông Gô Lích lai Việt ở châu Kinh và
Dương) |
79,50 |
|
|
Legendre |
- - |
79,50 |
|
|
Shirokogroff |
- - |
80,20 |
|
|
Hagen |
- - |
81,80 |
|
|
Patte |
- - |
76,97 |
|
|
Hamy |
- - |
77,22 |
|
|
Haberer |
- - |
78,80 |
79,14 |
|
Shirokogoroff |
Hoa Đông Di tức Việt thuần chủng |
81,70 |
Tổng trung bình: 78,27
Dung lượng sọ Hoa
|
Tên nhà bác học |
Tên dân |
Dung lượng |
|
Flower |
Trung Hoa tổng quát |
1.424 |
|
Keicler |
- - |
1.456 |
Trung bình: 1.440
Chỉ số sọ những dân tộc gọi là Mông Gô Lích tức có lai giống với Trung Hoa hoặc
Mông Cổ (Không có mặt các dân Đông Nam Á trừ Việt Nam)
|
Tên nhà bác học |
Tên dân |
Chỉ số |
Trung bình |
|
Đã có tên ở bản trước |
Bắc Việt |
82,49 |
|
|
Deniker |
Nhựt (Mã Lai + Mông Cổ + Aino) |
78,20 |
|
|
Matsumura |
- - |
80,80 |
|
|
Adachi |
- - |
78,30 |
|
|
Baelz |
- - |
80,30 |
79,40 |
|
Skirokogoroff |
Mãn Châu (Mông Cổ + Tongouse) |
83,52 |
|
|
Kabo |
Đại Hàn |
83,40 |
|
|
Ivanoski |
- - |
83,64 |
|
|
Deniker |
- - |
81,60 |
82,88 |
Trung bình: 81,21
Chỉ số sọ của những chủng đã hợp thành Hoa chủng
|
Tên nhà bác học |
Tên chủng tộc |
Chỉ số |
|
Hrdhichka |
Mông Cổ thuần chủng |
81,40 |
|
Bacot |
Tây Tạng |
77,07 |
|
Jochelson |
Tongouses (Mãn Châu thuần chủng) |
79,0 |
|
Maliev |
Thát Đát |
79,0 |
|
Lygin |
- - |
80,80 |
|
Mainov |
- - |
81,40 |
Trung bình = 66,61
Chỉ số này giống hệt chỉ số 66,66 của một người ăn mày ở Bắc
Kinh mà chúng tôi bỏ ra không cho vào số trung bình của người Tàu.
Chỉ số sọ người Mường
|
Tên nhà bác học |
Tên dân |
Chỉ số |
|
Holbé |
Mường (Tổng quát) |
79,66 |
|
Madrolle |
Mường (Bắc Việt) |
79,60 |
|
Madrolle |
Mường (Trung Việt) |
80,68 |
Trung bình = 79,98
Trong bản chỉ số của ông Madrolle, thấy ghi là Anh Đô
Nê-diêng Bắc Việt và Anh Đô Nê-diêng Trung Việt, và không ai biết nhóm nào mà
được ông Madrolle gọi là Cổ Mã Lai như thế. Nhưng khi đọc những bài công kích
ông Madrolle của người khác, mới biết ông Madrolle chỉ người Mường.
Nhóm bác sĩ Huard rất dè dặt, tránh trước mọi kết luận bằng lời,
hoặc bằng cách đặt tên không có căn bản vững. Nếu nhóm của bác sĩ Haurd mà có
đo người Mường thì nhóm ấy chỉ đề là: Người Mường, mà không cho họ thuộc vào chủng
nào hết, khi chưa biết gì thêm về họ cho rõ ràng đích xác.
Ông Holbé, trong bản trên đây, đã làm việc theo tinh thần đó
và dựa vào bài khích bác của ông L. Aurousseau, chúng tôi dịch lại Anh Đô
Nê-diêng của ông Madrolle ra là Mường để trả chỉ số sọ lại đúng cho thứ dân được
họ đo sọ.
Tổng đối chiếu
|
Tên dân tộc |
Chỉ số trung bình |
Dung lượng trung bình |
|
Mã Lai |
82,19 |
|
|
Thái |
82,25 |
|
|
Việt (Bắc) |
82,49 |
1.341,485 |
|
Cao Miên |
83,28 |
|
|
Đại Hàn |
82,88 |
|
|
Nhựt |
79,40 |
|
|
Thục |
77,98 |
|
|
Hoa Nam |
79,14 |
|
|
T.B. của Trung Hoa hai miền |
77,82 |
1.440 |
Nhận xét
Tất cả những dân tộc gốc Mã Lai đều có chỉ số sọ trên 80, trừ
Nhựt, Mường và Thục, vì những lý do gì chúng tôi đã giải thích rồi và sẽ giải
thích thêm. Chỉ số sọ Trung Hoa luôn luôn dưới 80. Chỉ số sọ Nhựt, gốc Lạc thì
thấp nhứt trong đám Mã Lai Bách Việt vì họ bị lai giống với Tàu quá nhiều.
Không bao giờ bị Tàu cai trị, họ cũng tự động rước chuyên viên Tàu về xứ họ, nhứt
là vào đời Đường, và tất cả hậu duệ của Tần Thỉ Hoàng do con Phù Tô lãnh đạo đều
chạy sang Nhựt, toàn dân của 127 huyện Tàu, tức là một cuộc di cư vĩ đại.
Thục vì đất quá tốt (xích thổ) lại có khí hậu hợp với Tàu nên
khi họ bị diệt quốc rồi thì Tàu tràn tới như nước vỡ bờ.
Quý vị sẽ thấy ở chương Mường tất cả phụ nữ và bần dân Mường
đều thuộc chủng Mê-la-nê, chỉ trừ đàn ông cấp lãnh đạo mới là Cổ Mã Lai, nên chỉ
số trung bình của họ mới không giống Việt Nam, mặc dầu họ là Lạc Việt, thờ nai ở
trống đồng.
Trong đám Mã Lai Bách Việt thì chỉ số Cao Miên lại cao nhứt,
vì theo G. Coedès thì dân Môn và dân Khơ Me khi di cư tới địa bàn mới của họ thì
gặp thổ trước Mê-la-nê ở địa phương đó, văn minh cao bằng họ, tức đã tiến đến
tân thạch, vì thế mà cuộc hợp chủng Anh Đô Nê + Mê-la-nê nơi hai dân tộc đó lớn
lao quá sức, khiến họ phải đen da, mặc dầu họ cũng ở xa xích đạo y hệt như Việt
Nam.
Trong chỉ số sọ trung bình của Hoa chủng, chúng tôi loại nhóm
Hoa Đông ra, vì họ gốc Việt, họ có chỉ số là 81,70 hơi gần chỉ số của Mã và Việt,
vì như đã nói, họ gốc là rợ Đông Di mà yếu tố thổ trước còn mạnh hơn yếu tố thổ
trước ở Hoa Nam nữa. Chỉ số sọ đó, đề vào sẽ làm sai con số trung bình nói
trên, tại sao thì đã giải thích rồi.
Các vị trong nhóm Bs. Huard còn viết: "Cái sọ không phải
chỉ có đặc sắc ở kích thước, mà các chi tiết về sinh vật hình thái (caractères
morphologiques) rất có ý nghĩa quan trọng về mặt chủng tộc".
Rồi các tác giả trên cho biết rằng hơn phân nửa người Việt
Nam thuộc loại brachycéphales (54,36 phần trăm) và 30,85 phần trăm thuộc loại
mésocéphales, trong khi đó thì đa số người Hoa thuộc loại mésocéphales.
Nhóm bác sĩ trên cho biết thêm ba điều sau đây:
ánh cách brachycéphalie là biệt sắc của chủng Mã Lai.
Người Việt ở miền Bắc nhiều tánh cách brachycéphalie hơn người
Việt miền Nam.
Chỉ số sọ Hoa Nam lớn hơn Hoa Bắc non ba đơn vị.
Chỉ số sọ Việt Nam lớn hơn Hoa Nam trên ba đơn vị.
Khoa chủng tộc học phân biệt Trung Mông Gô Lích và Nam Mông
Gô Lích thành hai chủng vì cái non ba đơn vị đó thì, tiếp tục công việc của họ,
ta có quyền phân biệt Nam Mông Gô Lích với chủng của ta mà ta đặt tên là Cực
Nam Mông Gô Lích, cực Nam Mông Gô Lích vì cái già ba đơn vị xuất hiện giữa Việt
và Hoa Nam.
Điểm thứ nhì trên đây có hơi lạ vì dân Việt miền Nam, cũng
như người Việt miền Trung, có lai Chàm, tức là lai thêm với Mã Lai sau khi đồng
gốc.
Nhưng xét cho kỹ thì thật quả đúng như vậy, vì người Việt Nam
miền Nam có lai Tàu rất đông, kể từ thời Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Dịch, thế
nên họ bị lây tánh cách Mésocéphale của Tàu.
Chúng tôi không trích đăng hình dạy cách đo sọ, vì kỹ thuật rất
là rắc rối, phải in trên ba tờ giấy mà hai tờ trên là giấy trong suốt và hình
phải ăn khớp với hình của tờ giấy thứ ba là tờ giấy thường ở dưới, chỉ có những
đại ấn quán cỡ Taupin ngày xưa mới in nổi mà thôi, nhưng những con số và những
nhận xét trên đây cũng đã đủ lắm rồi.
Ta đã biết bốn điều quan trọng:
Sọ ta khác với sọ Hoa Bắc và Hoa Nam rất nhiều về chỉ số và
dung lượng.
Sọ ta giống hệt sọ Mã Lai.
Sọ ta có tánh cách brachycéphale của Mã Lai.
Tất cả các dân mà tiền sử học nói là Mã Lai đều quả có sọ Mã
Lai.
Chúng tôi chỉ dùng chỉ số sọ của người Việt miền Bắc để đối chiếu vì người Việt
miền Nam không thuần chủng bằng người Việt miền Bắc.
Xin nhắc lại lời của giáo sư Lê Văn Hảo: "Chủng Nam Mông
Gô Lích là chủng của các dân tộc ở Đông Nam Á". Nhưng không có dân tộc
Đông Nam Á nào có sọ Nam Mông Gô Lích cả. Các biểu chỉ số sọ trên đây cho thấy
rõ như vậy.
Sử gia Nguyễn Phương cũng đã nói một điều vào năm 1965 mà O.
Jansé đã nói rồi năm 1947 là các yếu tố trong máu của dân Việt Nam khác với dân
Trung Hoa. Nhưng chỉ số sọ là bằng chứng quyết định hơn. Biểu đối chiếu cuối
cùng sẽ làm nổi bật lên sự kiện khác chủng giữa Hoa và Việt.
Hoa trung bình: 77,82
Việt Bắc trung bình: 82,49
Sự khác biệt lên đến năm đơn vị.
Nhưng nếu lấy sọ Chàm Túc mà đối chiếu thì sự sai biệt lại
càng to hơn.
Chỉ số sọ người Thục rất giống chỉ số sọ Trung Hoa, mặc dầu họ
thuộc chủng Thái.
Nhưng cũng nên biết rằng người Thục ở Hoa Nam (Hakka) đã bị
lai giống mạnh với Trung Hoa từ trên hai ngàn năm rồi. Còn người Thục Tứ Xuyên
thì đã bị bốn đợt di cư lớn biến họ thành Hoa. Di cư do Tư Mã Thiên tổ chức dưới
thời Chiến quốc, sau khi diệt Thục; di cư do Hàn Tín và Lưu Bang tổ chức, rồi
do Khổng Minh, Lưu Bị tổ chức, di cư do Tưởng Giới Thạch tổ chức vào trận thế
chiến thứ hai, cuộc di cư này còn quá mới, chưa thay đổi gì được nhưng cũng xin
ghi vào cho đủ bộ.
Chỉ số sọ hơi thấp của người Việt miền Nam, thấp so với sọ miền
Bắc chứng tỏ rằng người Việt miền Nam lai Tàu nhiều hơn người Việt miền Bắc.
Câu trên đây có vẻ mâu thuẫn với một khám phá lạ của chúng
tôi và bọn lưu vong nhà Minh ở Bắc Việt 10 lần đông hơn ở Nam Kỳ.
Chỉ là có vẻ mâu thuẫn thôi, chớ thật ra thì không, vì khi
Pháp chinh phục Nam Kỳ thì họ mở cửa Nam Kỳ cho Tàu di cư đến bao nhiêu tùy
thích, khác hẳn ở Bắc Việt mà người Tàu, sau cuộc lánh nạn Mãn Thanh, chỉ di cư
đến rất lưa thưa.
Hiện nay thì họ đã đông tới một triệu rồi và số con lai Tàu
Việt vô số kể từ năm 1680 cho đến nay.
Lai giống nhiều nhất là người Triều Châu, vì người Triều Châu
làm nông nghiệp, len lỏi vào sống trong nông thôn, lẫn lộn với dân chúng, chớ
không phải là công nhân và thị dân như người Quảng Đông và Phúc Kiến.
Triều Châu tuy là Lạc bộ Mã, nhưng họ đã lai Tàu từ ngày Tần
Thỉ Hoàng diệt Thất Mân ở Mân Việt, thành thử sọ của họ là sọ Hoa Nam.
Lời giải thích này, nếu đúng thì nó để lộ cho ta thấy rằng số
người Tàu di cư vào Cổ Việt quá ít, chớ không như giáo sư Nguyễn Phương đã chủ
trương. Vì quá ít nên từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau càng đi xuống, tánh chất Mã
Lai càng ít đi, mà tánh cách Trung Hoa lại càng mạnh hơn.
Lại càng nên phân biệt người Việt gốc Hoa, tức Tàu lai với
người Tàu thuần chủng. Thuyết của giáo sư Nguyễn Phương cho rằng ta là Tàu thuần
chủng chớ không phải là Tàu lai.
Đó là người Tàu di cư sang Cổ Việt trá hình và tự xưng là Việt.
Ở chương Cái Họ, ta sẽ thấy rằng ở Nam Kỳ chỉ có Tàu lai là
có thể làm Việt Nam, còn người Tàu thuần chủng thì tuyệt nhiên không hề làm Việt,
cho dẫu sống ở đó mấy mươi đời họ vẫn cứ làm Tàu. Chúng tôi đã nói rằng họ giống
người Do Thái lắm về mặt ấy, có bắt họ lấy quốc tịch Việt Nam, họ vẫn cứ làm
Tàu như thường, và đa số lại không thèm học tiếng Việt nữa, chớ đừng nói là,
tuy làm Tàu nhưng vẫn nỗ lực sơn một lớp sơn Việt lên người họ, để dễ làm ăn,
hoặc dễ làm dân biểu.
E. Ngôn ngữ tỷ hiệu
Khoa học chê khoa ngôn ngữ tỷ hiệu, chỉ bố thí cho nó địa vị
thứ ba trong các cuộc chứng minh thôi.
Chúng tôi nhượng bộ khoa học cho khỏi phải tranh luận lôi
thôi, chớ riêng về trường hợp Việt Nam thì ngôn ngữ tỷ hiệu phải được thủ vai hạng
nhì, ngang hàng với việc đo sọ.
Vâng, đúng là phải như vậy. Từ hai ngàn năm nay, thử hỏi dân
tộc ta có tiếp xúc với dân tộc Mã Lai hơn một ngày hay không, trước khi ta di
cư vào Nam hồi giữa thế kỷ XVII?
Nhưng ta lại đã dùng ngôn ngữ Mã Lai hàng năm trước cái lần
tiếp xúc vào thế kỷ XVII ở Nam Việt ấy, mà là dùng tại Bắc Việt kia, thì phải
chăng khi hai ngôn ngữ giống nhau là đồng gốc tổ chớ không hề là vay mượn.
Vay mượn hồi nào, và ở tại thành phố nào ở Bắc Việt kia chớ,
từ hai ngàn năm nay? Tuyệt đối không có tiếp xúc và ảnh hưởng nào hết.
Vài ông Tây cho thấy rằng trong Việt ngữ có một số danh từ Mã
Lai. Họ chỉ nhận xét thế thôi nhưng không kết luận.
Nhưng giáo sư ngữ học Nguyễn Đình Hòa thì kết luận rằng đó là
một sự vay mượn, và vài sử gia phụ họa theo cho rằng sự vay mượn đó là dĩ nhiên.
Chúng tôi không thấy tánh cách dĩ nhiên ấy ở chỗ nào cả và
không hiểu nổi tại sao lại có sự vay mượn đó, nhứt là khi chúng tôi tìm ra được
đến 6, 7 ngàn danh từ Việt giống danh từ Mã Lai thì chúng tôi phải kêu trời, tự
hỏi tại sao ta vay mượn nhiều đến thế của một dân tộc không hề có địa bàn gần với
ta, mà cũng không hề có tiếp xúc với ta hồi cổ thời, chỉ trừ cuộc tiếp xúc tại
Nam Kỳ hồi giữa thế kỷ XVII, mà danh từ Việt giống Mã Lai lại có từ thuở dân
ta… mới biết nói tiếng người.
Sử ta có chép chuyện Mã Lai liên kết với Chàm, đến đánh Thăng
Long, nhưng bị ta rượt chạy không kịp đổ bộ, thì thử hỏi sự vay mượn "DĨ
NHIÊN" ấy xảy ra hồi nào và ở đâu?
Chỉ còn có một cách trả lời là nó xảy ra hồi thượng cổ, lúc
hai dân tộc còn là một, tức là ta với họ đồng chủng với nhau và có địa bàn
chung vào thời thượng cổ.
Mà không phải chỉ có ta với họ, vì Môn, Miến Điện, Khơ Me,
Thái đều đồng chủng Mã Lai với nhau cả, thế nên mới có sự giống nhau nó gạt gẫm,
các ông Tây họ cho là ta vay mượn lung tung, không có lấy một danh từ nào là của
ta hết, vì xem đi xem lại (trong quyển tự vị đối chiếu 10 ngàn danh từ mà chúng
tôi đang soạn) thì ta không giống Chàm cũng giống Khơ Me, không giống Khơ Me
cũng giống Thái, không giống Thái thì giống người Thượng Cao nguyên, tóm lại, nếu
chủ trương là ta vay mượn thì không còn Việt ngữ nữa, bằng chứng chắc một trăm
phần trăm là không có danh từ Việt nào mà không giống danh từ của nhóm dân nào
đó.
Hai thí dụ điển hình nhứt là con Yểng, con vật nhỏ mọn
không đáng kể, vậy mà Đàng Trong gọi là con Nhồng, người Bà Na trên Cao
nguyên gọi là con Jồng, và con Mạt (rận gà) thì người Bà Na gọi
là con Mạc. Mà đừng tưởng là họ học với ta đâu nhé. Họ đã có hai danh từ
đó trước khi ta để chân lên Cao nguyên, mà ta cũng có rồi trước khi họ thấy mặt
ta lần đầu trong lịch sử của họ.
Nhưng khi học về nguồn gốc của Mã Lai chủng xong rồi thì những
tiếng vay mượn và dĩ nhiên không còn đứng vững được
nữa, và thắc mắc của những người biết suy nghĩ đã được giải đáp: một dân tộc cường
sinh nhứt Đông Nam Á mà lại không có ngôn ngữ, đi lượm danh từ của cả người Thượng
để mà dùng, là chuyện không có được, mà tại sao có sự giống nhau đó thì đã rõ.
Chương này chắc chắn là chương quan trọng nhất của quyển sách
này, không phải đối với các nhà khoa học, mà quan trọng vì sẽ được dân chúng
nhìn nhận dễ dàng nguồn gốc của mình, bởi nếu những cái sọ khó hiểu, thì ngôn
ngữ là cái gì thấy được tức khắc, bất cứ với trình độ văn hóa nào.
Trước khi kết quả của công việc khảo tiền sử được ông G.
Cocdès đưa ra ánh sáng, trên thế giới không hề có ai biết có Mã Lai đợt I hết.
Họ chỉ biết có một thứ Mã Lai mà thôi vì nhóm người đó, đông hàng trăm triệu hiện
đang sống tại các đảo Mã Lai và tự xưng là Mã Lai đợt I. Nhưng đó chỉ là Mã Lai
đợt II. Đây là dịp mà ta biết Mã Lai đợt I, biết nhiều hơn ông G. Cocdès nữa,
vì ông ấy không có kiểm soát như chúng ta.
Làm thế nào để biết được? Rất là giản dị. Cứ dựa theo khoa khảo
tiền sử thì đại khái Nam Dương và Đa Đảo (trừ Célèbes) với lại Phi Luật Tân, là
Mã Lai đợt II, Môn, Khơ Me, Miến Điện, Thái, Việt Nam, Célèbes là Mã Lai đợt I.
Đại khái thì là như vậy, nhưng đi sâu vào chi tiết hơn, sau
khi đối chiếu xong hiệp đầu, ta thấy tiền sử học có sai. Ở ba quốc gia Việt
Nam, Chiêm Thành và Nhựt Bổn có cả hai thứ Lạc Trãi và Mã. Riêng ở Việt Nam thì
lại có đến ba thứ: Trãi, Chuy và Mã.
Có một thứ Lạc bộ Chuy mà không ai chú ý đến, cứ cho rằng Nam Việt Chí viết
sai chánh tả.
Đối chiếu xong hiệp đầu, chúng tôi mới thấy rằng sử Tàu quá
giỏi. Tiền sử học chỉ biết tổng quát có Mã Lai đợt I mà không dè rằng trong bọn
đợt I Lạc ở Tây Hoa Bắc bộ Chuy ngôn ngữ khác hơn Lạc ở Đông Hoa Bắc bộ Trãi một
chút xíu.
Đối chiếu xong hiệp đầu, với hàng vạn danh từ, chúng tôi chợt
thấy rằng trong Việt ngữ có những danh từ không giống Mã Lai Nam Dương, cũng
không giống Thái, Môn, Khơ Me, Miến Điện. Thế là chúng tôi nhờ đến Lạc bộ Chuy
mà Tàu thường gọi là Khuyển Nhung hơn, và đó là tổ tiên của Môn, Miến Điện, Khơ
Me.
Vậy những danh từ không giống ai hết hẳn là của Lạc bộ Trãi.
Đó là cái biết do sự đối chiếu hiệp đầu để lộ ra. Và đó là cái biết căn bản, nó
giúp ta rõ được ở quốc gia nào có bao nhiêu thứ Lạc, và có với tỷ lệ nào, vì ở
địa bàn nào họ cũng chỉ tìm được có vài mươi cái sọ.
Chúng tôi nhận thấy hai điều rất quan trọng:
Cả hai thứ Mã Lai đều có một số vốn chung về ngôn ngữ, kẻ này
nói kẻ kia hiểu được, như hai danh từ Lá và Non đã cho thấy.
Sử Tàu rất đúng khi họ ghi chép về ngôn ngữ của dân nước Sở.
Dân nước Sở nói tiếng Mã Lai Nam Dương, vì đó là Lạc Hoa Nam, đợt II, bộ Mã
(xin nhắc lại câu chuyện Nậu Ô Đồ).
Và chúng ta có thể viết lại thật đúng lịch sử của nước Chiêm
Thành mà cho tới ngày nay các sử gia Pháp và Hoa viết sai cả về đoạn đầu, đoạn
song đôi với Hùng Vương.
Về thượng cổ sử của Phù Nam và Cao Miên, ta cũng viết đúng được
y như thượng cổ sử Chiêm Thành, mà cũng chỉ nhờ ngôn ngữ đối chiếu.
Hơn thế, ta lại biết được rằng có một quốc gia Việt Nam thứ
nhì đã bị nước Cao Miên tiêu diệt cách đây trên 2.000 năm và thứ dân đó hiện
còn sống, nói tiếng Việt lối cổ, và cái tiếng Việt lối cổ ấy ra sao.
Nhưng hữu ích hơn hết là ta sẽ biết rõ thời đại của vua Hùng
Vương mà cho tới nay chưa ai biết cả, trừ một câu sử ngắn và thiếu sót của quyển Giao
Châu ngoại vực ký. Việt sử trung điệp, giai đoạn Đông Sơn, cũng được ta biết rõ
hơn, những gì mà hàng chục nhà bác học Âu Mỹ đã đưa ra ánh sáng từ 1924 đến
1954.
Mà cũng cứ nhờ ngôn ngữ tỷ hiệu.
Như trong toàn thể quyển sách, chương này cũng chia ra làm
hai phần, phần thứ nhứt bác bỏ chủ trương Việt ngữ là Hoa ngữ của giáo sư đại học
Nguyễn Phương, phần thứ nhì chứng minh Việt ngữ là Mã Lai ngữ.
Giáo sư Nguyễn Phương khẳng định mà không đưa bằng chứng rằng
Việt ngữ là Hoa ngữ. Tưởng như thế, ta chỉ nói một tiếng "Không" là đủ
rồi.
Nhưng một vị giáo sư khác, không hề cho ta là người Tàu, lại
có chứng minh rằng tiếng ta là tiếng Tàu. Đó là giáo sư Lê Ngọc Trụ.
Vậy chúng tôi cần bác bỏ hơi dài, vì giáo sư họ Nguyễn được
giáo sư họ Lê ủng hộ một cách vô tình và gián tiếp.
Trong V.N.T.K.S. trang 230 sử gia Nguyễn Phương viết: "Hầu
như có thể nói được rằng tiếng Việt Nam ngày nay, sau 10 thế kỷ độc lập, vẫn
còn là chính tiếng Tàu, nhưng đọc lên một cách hơi khác với cách đọc của những
tiếng địa phương ở Trung Quốc. Cố nhiên, trong Việt ngữ, đôi khi có xen vào một
đôi số những tiếng không phải gốc Tàu, như tiếng Mọi, tiếng Chàm, nhưng hiện tượng
đó không thể nói lên gì khác, ngoài sự người Việt Nam trên đường bành trướng,
đã có gặp người Mọi, người Chàm, cũng một cách như họ đã gặp người Pháp trong
thế kỷ vừa qua và họ đã thâu nhận một số tiếng Pháp vào trong kho ngôn ngữ của
họ".
Tiếng Việt do tiếng Tàu mà ra, là chủ trương của một số học
giả từ lâu rồi, chớ không riêng gì của sử gia Nguyễn Phương mới nói như vậy.
Nhưng đây là lần đầu tiên mà một giáo sư đại học công khai nhấn mạnh về chủ
trương ấy và dùng chủ trương đó để làm một trong nhiều chứng minh quan trọng
cho giả thuyết rằng người Việt Nam là người Trung Hoa thuần chủng di cư sang
đây vào thời Bắc thuộc, còn dân Lạc Việt thì đã "đi ra khỏi lịch sử rồi"
nên ta không còn thờ ơ được với quan niệm trên nữa, mà phải cấp tốc đặt thành vấn
đề ngay, với một cuộc kiểm soát cẩn thận.
Ngữ vựng của dân tộc nào cũng vay mượn lung tung, Tuy nhiên,
các cuộc vay mượn còn để dấu thời gian lại. Xin giải thích rõ. Khi người Tàu đến
đánh ta để trực trị ta, không lẽ hai bà Trưng và đồng bào của hai bà lại không
có một danh từ để chỉ bàn tay hay sao?
Nếu phải vay mượn của Tàu thì ta chỉ vay mượn những tiếng chỉ
những ý niệm phức tạp, những dụng cụ và vật dụng lạ, chớ không thế nào ta lại
vay mượn một danh từ để chỉ Nước là chất mà ta uống hằng ngày và ta đã phải có
tiếng gọi hàng ngàn năm rồi.
Đó chỉ là mới nói chuyện vay mượn của Tàu không mà thôi, mà
nhiều người cũng lạm dụng sự kiện có vay mượn đó, để mà nói quá lố ra, biến tiếng
nào của ta cũng thành của Tàu cả, như trường hợp giáo sư Lê Ngọc Trụ mà chúng
tôi sẽ xét thật kỹ ở chương này.
Chí như nói ta là Tàu thuần chủng vay mượn của Mọi thì lại
càng vô lý hơn. Người Tàu đã rất văn minh dưới ba trào đại Chu, Tần, Hán, họ lại
có tự tôn mặc cảm quá nhiều, không như các dân tộc văn minh khác. Như vậy nếu
có chuyện người Tàu ly khai với chính quốc của họ để tự xưng là Việt Nam thì họ
chỉ ly khai về chánh trị mà thôi chớ không bao giờ ly khai về ngôn ngữ, mặc dầu
họ có sống với "Mọi" đi nữa như sử gia họ Nguyễn đã nói.
Họ xem cái gì của họ cũng hơn của man di cả, nhứt là ngôn ngữ,
vì cái lẽ dễ hiểu rằng họ đã có văn tự còn các thứ man di thì không. Thế thì tại
sao, khi tự xưng là Việt, họ lại mượn những danh từ Lá, Trăng, Ngựa, Chòi, Túp, Cơm, Trâu, Cá, Bóng, Chim, Vua của
"Mọi" trong khi họ đã có những danh từ đó rồi, và thấy là hay hơn
danh từ của Mọi?
Nhưng chắc sử gia đã đổi quan niệm, sau khi xem qua vài thí dụ
về danh từ Lá và Non ở đầu sách này. Nếu sử gia lại còn chưa đổi ý thì xin cứ
xem hết chương này thì rõ.
Sử gia Nguyễn Phương nói rất đúng rằng trên đường Nam Tiến
ta, tức là theo sử gia thì là người Tàu đấy, có mượn tiếng "Mọi",
nhưng không nên kể đến.
Vâng, nhưng người Tàu tự xưng là Việt mượn tiếng Mọi để chỉ
những vật lạ như Cây Dừa mà bên Tàu không có chẳng hạn, chớ sao lại bỏ
danh từ Xùi của đại quốc Trung Hoa, rồi mượn danh từ Nước làm
gì?
Không có lý nào mà như vậy hết.
Biết trình độ văn hóa của ta dưới thời Mã Viện thì có thể dựng
lên được một ngữ vựng Việt vào thời ấy. Chắc ta chưa biết lịch, thì danh từ lịch
mới có thể là gốc Trung Hoa, chớ ta đã có biết cái Bàn tay rồi
thì danh từ Bàn tay hẳn phải là của ai đó, tức của tổ tiên ta,
chớ không thể nào mà là Trung Hoa, cũng không thể nào mà Trung Hoa bỏ danh từ
Chưởng của họ để mượn danh từ Bàn tay của "Mọi".
Chúng ta đã thấy có trường hợp một chủng tộc mất ngôn ngữ của
mình và dùng ngôn ngữ của nước khác, nhưng luôn luôn kẻ yếu mất và kẻ cho vay
là kẻ mạnh.
Người Tàu di cư, nếu có, là kẻ mạnh, là dân văn minh, thì khi
họ ly khai với chính quốc của họ tại Giao Chỉ, theo quan niệm của sử gia Nguyễn
Phương, không thế nào mà họ để mất ngôn ngữ của họ, đi mượn ngôn ngữ "man
di", mượn những danh từ thông thường mà họ đã có rồi như ăn, uống, ngủ,
v.v.
Vậy khi ngôn ngữ căn bản của ta không phải là ngôn ngữ Tàu
thì chắc chắn rằng là ta không phải là người Tàu.
Nhưng trước khi bác bỏ và chứng minh, chúng tôi thấy là cần
xóa vài ngộ nhận của trí thức ở các ngành khác mà không có theo dõi khoa ngữ học.
Theo quý vị đó thì văn phạm mới là việc chính của một ngôn ngữ,
còn danh từ có thể vay mượn qua lại.
Theo quan niệm sai lầm ấy thì không thể bác bỏ hoặc chứng
minh bảo vệ những biểu đối chiếu danh từ.
Thật ra đó là quan niệm đúng… của đời xưa, mà nó chỉ mới được
thấy là sai về sau này thôi. Và trí thức của các môn khác mà không theo dõi ngữ
học, đã sai vì đã dừng chơn lại ở cái biết đời xưa vừa được phổ biến ngày nay ở
xứ ta, còn cái biết ngày nay thì chỉ có các nhà chuyên môn mới biết?
Để truy nguyên một dân tộc, sau vấn đề chủng tộc học và khảo
tiền sử, vấn đề quan trọng vào hàng thứ ba là ngôn ngữ học. Trong công trình
nghiên cứu về chủng tộc Mèo (B.E.F.E.O. 1968), ông G. Moréchand viết đại khái:
"Sau chỉ số nọ, ngôn ngữ là dấu vết lâu đời nhứt mà một chủng tộc có thể
giữ được qua nhiều ngàn năm chung đụng với các chủng tộc khác. Y phục, phong tục,
tôn giáo có thể chịu ảnh hưởng ngoại lai dễ dàng, nhưng ngôn ngữ thì
không".
Nhưng chính chúng tôi lại đã nói, ngôn ngữ chỉ là chứng tích
có giá trị hạng ba, vì ngôn ngữ là văn hóa, có thể vay mượn lẫn nhau, ảnh hưởng
lẫn nhau. Và trong ngôn ngữ, bất kỳ cái gì cũng biến được hết chớ tuyệt đối
không phải văn phạm bất biến còn danh từ thì biến.
Người Đức và người Anh đều thuộc nhóm Nhựt Nhĩ Mạn của chủng
Ba Tư Ấn Âu (race Iranienne Indo-Européenne, groupe Germanique). Thế mà người
Anh theo văn phạm Nhựt Nhĩ Mạn, còn người Đức thì lại theo văn phạm La Tinh.
Trong khi đó thì danh từ Nhựt Nhĩ Mạn của hai dân tộc đó lại cứ giống nhau.
Thế thì cái gì bị biến nhiều hơn? Văn phạm hay danh từ?
Vì biết cái lẽ đó nên khi tìm nguồn gốc các dân tộc da trắng
bằng chứng tích ngôn ngữ, chính phương pháp đối chiếu danh từ được áp dụng, chớ
không phải căn cứ vào liên hệ văn phạm.
Người Âu Châu đã thành công, vì khi họ dùng phương pháp đối
chiếu danh từ, nó cho họ một kết quả ăn khớp với khoa khảo tiền sử và khoa chủng
tộc học, còn phương pháp đối chiếu văn phạm thì không.
Thế nên chúng tôi dùng phương pháp đối chiếu danh từ.
Thí dụ: Tiếng BÀN TAY
|
Pháp: Main |
Nga: Ruka |
Anh: Hand |
|
Ý: Mano |
Balan: Reka |
Đức: Hand |
Thoạt trông cứ tưởng Pháp, Nga, Anh khác ngôn ngữ nhau. Nhưng không. Qua một biểu
đối chiếu khác, ta lại thấy rằng họ đồng tông Ba Tư, Ấn Âu.
Thí dụ về danh từ MẸ:
Pháp: Mère Nga: Mat Anh: Mother
Một chủng là cái gì rất là lớn lao, họ chia ra nhiều chi, rồi
mỗi chi chia thành nhiều tiểu chi, các tiểu chi đều có một số danh từ khác
nhau, nhưng đồng thời cũng có một số danh từ giống gốc mẹ thuở cổ sơ. Người ta
dùng phương pháp đó để truy nguyên chủng tộc, căn cứ vào cái gốc mẹ ban đầu ấy.
Nói thế chỉ để nói ra một sự thật kỳ dị mà cho đến trí thức
cũng không biết, họ đinh ninh rằng văn phạm, âm thanh là cái gì bất di bất dịch,
còn danh từ thì vay mượn qua lại lung tung. Chỉ nói ra cho rõ trắng đen thôi,
chớ chúng tôi đã xét ngôn ngữ dưới đủ cả mọi khía cạnh: văn phạm, cú pháp, ngữ
vị, âm, thanh và danh từ.
Nhưng chúng tôi đưa ra kết quả của phương pháp đối chiếu danh
từ vì chúng tôi thấy những thứ khác sai hết. Thí dụ về phương diện nhân-thể-tính
(caractères anthropologiques) là phương diện quyết định hơn cả thì người Lô Lô
đích thị là người Thái. Thế mà họ nói "Ông ăn cơm", khi người Thái
nói "Ộng ăn cơm".
Đó là về ngữ vị (word order). Các thứ khác cũng biến bậy bạ
như thế. Chúng tôi đã khám phá ra rằng tiếng Cổ Việt đa âm, y hệt như Mã Lai ngữ
và Nhựt Bổn ngữ ngày nay. Quý vị nói sao về vấn đề này? Nó đa âm và nó chỉ có 4
thanh. Cái đó mới là phiền, trong khi ngày nay ta có tới 8 thanh và độc âm.
Tóm lại, chỉ có việc đối chiếu danh từ là dùng được, và danh
từ, kỳ dị thay, mới là tồn tại lâu dài.
Thế nên khi sử gia Nguyễn Phương cho rằng "Tiếng Việt
chính là tiếng Tàu" để chứng minh rằng Việt là Tàu, khi giáo sư Kim Định
bảo rằng yếu tố Việt là yếu tố căn bản trong Hoa chủng, chúng tôi không đưa ra
sự khác biệt quá rõ ràng giữa văn phạm Tàu và văn phạm Việt để bác bỏ chủ
trương của hai ông như bao nhiêu học giả khác đã làm, mà chỉ bác bỏ bằng việc đối
chiếu danh từ mà thôi.
Nhưng trước khi trình ra trên hai trăm bản đối chiếu, chúng
tôi nói dài thêm về ngộ nhận của trí thức ta là danh từ không phải căn bản.
Chúng tôi đi sâu vào các thứ biến để cho thấy rằng chỉ có phương pháp đối chiếu
danh từ là dùng được, còn văn phạm, ngữ pháp, ngữ vị, thanh, âm đều không dùng
để đối chiếu mà có thể biết sự thật như ai cũng tưởng.
Chúng tôi đã trình ra thí dụ về văn phạm nước Đức và văn phạm
Lô Lô, nó gạt gẫm ta chớ không chứng minh cái gì hết.
Giờ xin bước sang vấn đề độc âm và đa âm.
Chúng tôi nói rằng chúng tôi đã khám phá ra tiếng Việt cổ thời
đa âm, thì tưởng chỉ cần đưa ra một mớ danh từ cổ thời ấy là đủ rồi, không phải
nói dông dài làm gì. Nhưng vẫn phải nói dông dài, bởi cái gì cũng cần được đưa
ra cả hết.
Lối sắp loại của các ông Tây cho rằng tiếng Thái, tiếng Chàm
và tiếng Mã Lai có hai Xy láp còn tiếng ta chỉ có một, không đúng. Những tiếng
mà ta ngỡ là hai Xy láp của Mã Lai, cái tử âm đầu của họ, họ chỉ nói gió mà
thôi. Thí dụ danh từ Lá của ta, tiếng Mã Lai được ghi là Halaa, nhưng
thật ra là họ đọc H’laa, không thể gọi là hai Xy láp được.
Nhưng nếu cứ muốn nói chuyện hai Xy láp thì ta vẫn có hai Xy
láp. Những tiếng nhị trùng âm của ta đều có thể coi như là gồm hai Xy láp, theo
lối Halaa. Thí dụ Chuyên.
Nhưng ngay trong những tiếng chỉ gồm có một Xy láp, cũng là
hai Xy láp. Ai không tin cứ nghe tài tử Anh Tuấn nói trong Tivi thì phải tin
ngay. Tài tử ấy là người gốc miền Bắc, và đa số người gốc miền Bắc nói như vậy,
nhưng ông đó nói rõ hơn ai hết. Thí dụ Lạ Kỳ, ông ấy nói La Ạ Kỳ.
Và ông ấy là người Việt Nam độc nhứt nói đúng tiếng Việt gốc,
vì hiện nay người Mã Lai Nam Dương nói là Lu Ạ, tức nói với hai Xy láp chớ
không phải với một Xy láp.
Đành rằng ta đã biến âm U thành âm A và
nhập hai âm A lại, nhưng thuở mới biến, hẳn ta chưa nhập và ta còn
nói là La Ạ, y hệt như ông Anh Tuấn ngày nay đã phát âm.
Nhưng tiếng Thái có hai Xy láp hay không như các ông Tây đã
nói mò? Không. Đồng họ nói là Tong luang, các ông Tây viết
dính rồi cho là có hai xy láp, nhưng thật ra đó là hai từ: Đồng và Luang.
Tiếng Thái Luang hoặc Long là màu vàng, Tong luang là Đồng màu vàng,
chớ không có hai Xy láp gì hết.
Các ông Tây viết dính lại hết rồi muốn nói ra sao thì nói.
Các ông viết Luangprabang, nhưng thật ra đó là ba từ:
Luang: Vương quốc
Pra: Thần
Bang: Tên của vị Thần.
Luangprabang là Vương quốc của thần Bang, làm gì mà có ba Xy
láp được?
Ở biên giới Lào - Việt, gần đèo Mụ Già, có một làng tên
là Tân Ấp. Các ông gọi là Letanap. Tiếng Lào đó đa âm hay không?
Cũng như Lê Văn Duyệt được gọi là Lê Tả Quân, các ông ấy viết là Letacun thì
còn biết ta đa âm hay độc âm?
Bên Lào có một nơi tên là Thakhek.
Tha = Bến
Khek = Kẻ lạ
Các ông viết Thakkek rồi nói là tiếng Lào Thái có hai Xy láp.
Chẳng những thế, các ông làm cho người khác lầm nghĩa nữa, vì Thaknek có thể đọc
là Thak Hek.
Thak = Thu nhỏ lại
Hek = Cây sầu đông
Bến của kẻ lạ mặt trở thành Cây sầu đông bị thu nhỏ thì
là chuyện động trời.
Ở Trung Việt có một mũi đất mà các ông ghi bằng tiếng Chàm, tức
tiếng Mã Lai đợt II. Đó là Cap Batangan. Nhưng chính người Chàm cũng chẳng biết
đó là gì, bởi nó gồm ba từ chớ không phải một từ mà ba Xy láp thì người Chàm
còn làm sao mà hiểu được!
Vấn đề đa âm và đơn âm cũng
không có gì là rõ rệt.
Có trường hợp ngôn ngữ đơn âm biến thành ngôn ngữ đa âm. Trường
hợp này rất thường xảy ra, và nếu ta muốn, tiếng Việt đã là tiếng đa âm từ lâu
rồi. Đó là trường hợp một dân tộc kém văn minh được một dân tộc văn minh khai
hóa, ráp nối một tiếng của họ và một tiếng của dân tộc văn minh đó mà họ dùng
làm ngữ căn. Trong vòng 10 năm nay, ta thấy xuất hiện trên báo chí những tiếng
như lành-mạnh-hóa chẳng hạn mà có người nói là từ ngữ, có người cho
là động từ ghép, chỉ vì có hai gạch nối liền, chớ bỏ hai gạch đó, viết dính nó
lại thì đó là một tiếng đa âm chớ không có gì lạ.
Dân Việt dùng Hoa làm ngữ căn thì dân Mã Lai dùng Ấn làm ngữ
căn, chỉ có khác là tiếng Mã Lai bị ảnh hưởng đa âm của Ấn nên người Mã Lai đọc
rất nhanh, người Âu châu phiên âm các Xy láp Mã Lai cho dính lại thì nó có vẻ
đa âm hơn tiếng lành-mạnh-hóa của ta, chỉ có thế thôi.
Chúng tôi học tiếng Mã Lai trong mấy quyển tự điển Pháp -
Hòa, Hòa - Mã, chúng tôi thấy danh từ Angin. Tự nhiên chúng tôi đọc hơi giống
Engine của tiếng Anh.
Nhưng một vị trí thức Chàm đã dạy chúng tôi đọc cho đúng. Nó
hoàn toàn không phải như vậy mà là A Ngin, hai từ rời ra xa nhau và Ngin đọc
y như Nghin của Việt Nam.
Người Mã Lai quả hiện nay họ đa âm, nhưng đó là ảnh hưởng Ấn
Độ, chớ vào cổ thời họ cũng là chủng có nhị âm, và nhị âm y hệt như Việt Nam cổ
thời.
Họ nối kết rất là kỳ dị, không còn gì là Ấn Độ nữa, mà cũng
chẳng còn gì là Mã Lai nữa hết.
Thí dụ:
Măm: Kẻ
Panaa: Bắn
P’na: Ná
Họ nhập hai chữ P lại cho đứng đầu, rồi cho Măm vào
giữa và nuốt mất một M, rồi lại cho Anaa + Na đi sau.
Nó hóa ra là Pamanaa. Như vậy là:
Ná kẻ bắn hoặc Bắn kẻ ná
vì P có thể thay cho Panaa và P’na.
Họ nuốt mất M, và trong Panaa và P’na có tới bốn chữ A,
nhưng rốt cuộc chỉ còn có ba chữ.
Đó là một sự cấu tạo kỳ dị quá sức tưởng tượng, không có ngôn
ngữ nước nào mà chuyển hóa lạ lùng như vậy bao giờ.
Tiếng Phạn dài bao nhiêu họ cũng không nuốt. Dưới đây là một
danh từ mà Ban điển chế ngôn ngữ của ông Nê Rư đã tân tạo để chỉ cái nhà ga:
Angirahyantraviramsthan
Cả thế giới, và cả người Ấn Độ đều phì cười. Nhưng họ nhứt định
để cho nó dài, không nuốt một tiếng, một Xy láp nào hết.
Khi ông Mã Lai tự đa âm hóa theo kẻ khai hóa của ông thì ông
đảo lộn điên đầu, không còn biết đâu là đâu nữa. Nhưng đó là những tiếng mới,
chớ những danh từ căn bản của dân tộc Mã Lai cứ chỉ có một và hai Xy láp, không
bao giờ trên hai cả, mà danh từ Cổ Việt thì cũng thế, như ta sẽ thấy.
Lại có trường hợp ngộ nhận là đa âm, nhưng thật ra chỉ là đơn
âm. Thí dụ ngôn ngữ Nhựt Bổn. Ai cũng cho đó là tiếng đa âm. (Và Nhựt cũng gốc
Mã Lai). Nhưng thử hỏi có quả nó đa âm hay không? Chúng tôi xin lấy tên một đảo
của họ làm thí dụ. Đó là đảo Shikoku, và đó là do người Âu châu phiên âm,
chớ phiên âm thật đúng thì chỉ có Việt ngữ mới phiên âm được. Ta phải phiên âm
là Shikôku mới không phản giọng đọc của người Nhựt. Mà Shikôkư là gì?
Chỉ là: Shi = Từ. Đó là tiếng Tàu. Và Quốc = Cuốc Cư.
Đó cũng là tiếng Tàu nhưng đọc theo Nhựt, họ ưa thêm Cư ở sau
nhiều tiếng lắm. Hồi họ chiếm đóng xứ ta, Thakhek, họ đọc là Takê-Kư.
Như vậy có gì là đa âm? Ta cũng có thể viết Tứ Quốc và cho là
tiếng ta đa âm được chứ?
Lại thí dụ: Bonsai. Bon sai chỉ là Bồn Tài của
Tàu, mà Bồn Tài là Cây Cảnh, chớ không có đa âm gì hết.
Tại Tây viết dính lại và nghe Nhựt đọc nhanh rồi cho rằng tiếng Nhựt đa âm.
Lại thí dụ: Nihonbunka
Ni = Nhựt
Hon = Bổn
Bun = Văn
Ka = Hóa
Đa âm ở chỗ nào? Cũng chỉ cứ là là tiếng Tàu đọc quá nhanh.
Quả họ cũng có những tiếng nhị âm, nhị chớ không đa âm, thí dụ
Yama là núi, Sima là đảo.
Nhưng sự thật một trăm phần trăm là tiếng Mã Lai cổ sơ chỉ có
nhị âm chớ không có đa âm, tiếng Nhựt cũng thế. Tại Tây có tật viết dính làm ta
ngộ nhận, mà chính họ cũng ngộ nhận.
Chịu ảnh hưởng Pali và Sanscrit rồi thì Mã Lai ngữ mới đa âm.
Còn tánh cách nhị âm của Mã Lai Việt bị ảnh hưởng Trung Hoa
làm cho nó thành độc âm mà không ai ngờ.
Và chúng tôi tìm được một dân tộc đang sống tại biên giới Lào
- Việt, họ tự xưng là dân Lạc và họ nói tiếng Việt nhị âm. Đó là một khám phá
vô cùng quan trọng đối với việc tìm nguồn dân tộc bằng ngôn ngữ.
Nên nhớ, họ tự xưng là Lạc, và đó là một chi tiết đáng được
ta chú ý vì vào đời Hán sách Tàu cũng gọi ta là Lạc, và ngôn ngữ của họ, tuy cổ
sơ, nhưng họ nói, ta còn nghe hiểu được họ muốn nói gì, tức họ nói tiếng Việt.
Văn phạm của họ cũng cho thấy rằng không như văn phạm Việt
ngày nay, và cho đến cả văn phạm Mường, ít cổ sơ hơn, cũng hơi khác văn phạm ta
ngày nay chút ít. Thế thì văn phạm của ta cũng có biến mà không ai hay biết.
Thứ dân Việt tự xưng là Lạc nói trên chỉ có ba thanh, như Mã
Lai. Âm, thanh, văn phạm đều bị tiêu tùng hết, sau cuộc khám phá này và sau
không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu ngữ học ở các nước khác.
Nhưng danh từ thì cứ còn, gần như xưa sao nay vậy. Ta đã ngộ
nhận nhiều từ về ngôn ngữ, cho rằng cái vĩnh cửu là phù du, và ngỡ cái phù du
là chuyện muôn năm trường tồn.
Lại có trường hợp một ngôn ngữ không có thanh, biến thành
ngôn ngữ có thanh, và ngược lại. Ngay trong Hoa ngữ mà miền Bắc thì chỉ có hai
thanh còn miền Nam thì có bảy thanh thì đủ biết các ngôn ngữ khác cũng biến như
vậy được như thường. Sự kiện này giải thích được do đâu tiếng Mã Lai chỉ có ba
thanh, còn tiếng Việt thì có tới tám thanh.
Cho đến cả ngữ vị, văn phạm, cũng biến được chớ đừng nói là
Xy láp và thanh. Và nó chỉ biến không đầy hai trăm năm nay.
Chúng tôi xin đơn cử một câu thơ của Nguyễn Du:
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thường thì thiên hạ đọc câu thơ đó, theo cú đậu (césure) sau
đây:
Cành lê trắng / điểm một vài bông hoa.
Cú đậu ấy sai.
Cành lê không bao giờ mang màu sắc trắng, mà là màu xám vàng.
Nếu vì cành ấy mang hoa mà ta thấy nó trắng thì Nguyễn Du đã
không phải thêm "Điểm hoa" vào đó nữa.
Có ai nói "Má hồng của cô ấy được tô hồng" hay
không? Cái ý "hồng" đó, người ta chỉ được phép nói đến một lần mà
thôi. Dùng động từ "điểm hoa" tức là nói lại cái ý trắng lần thứ nhì
rồi vậy.
Nguyễn Du không kém cỏi đến phải diễn ý niệm trắng hai lần
trong một câu ngắn, bằng tĩnh từ trắng và bằng thành ngữ điểm hoa.
Nguyễn Du cũng không kém cỏi đến phải dùng cú đậu sai. Cú đậu
của lục bát luôn luôn nằm sau hai tiếng, cho nó nằm sau ba tiếng là kém rồi, mà
Nguyễn Du thì không có kém.
Thí dụ:
Trăm năm / trong cõi / người ta
Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau.
Sè sè / nắm đất / bên đàng
Rầu rầu / ngọn cỏ / nửa vàng / nửa xanh.
Sau khi nhận rằng Nguyễn Du không kém cỏi, ta chỉ có thể hiểu
rằng câu trên kia phải như thế này:
Cành lê / trắng điểm / một vài / bông hoa.
Mà như thế thì Trắng không còn là tĩnh từ nữa mà là
trạng từ. Và muốn hiểu câu đó, dịch ra tiếng Pháp là hiểu ngay. Trắng điểm sẽ
được dịch ra là Se Parer banchement de…
Trong ngôn ngữ Pháp không có trạng từ blanchement, nhưng ta
phải tạo ra trạng từ đó ra để dịch câu thơ của Nguyễn Du.
Hiểu như vậy xong, ta thấy ngay là Nguyễn Du đã biến văn phạm
Việt Nam. Trong văn phạm Việt Nam trạng từ luôn luôn nằm sau động từ. Người ta
nói Điểm trắng chớ không bao giờ nói Trắng điểm.
Nhưng Nguyễn Du dùng sai cú đậu hay biến văn phạm?
Chúng tôi có bằng chứng là Nguyễn Du đã biến văn phạm Việt
Nam.
Chúng tôi xin đưa ra một câu thơ khác của Nguyễn Du mà trạng
từ đứng trước động từ, và ở câu thơ này thì không còn chối cãi được nữa, vì quá
rõ ràng:
Nhà hương / cao cuốn / bức là
Ở đây, rõ ràng là trạng từ cao được đặt trước động từ cuốn
không còn ngờ gì nữa, nếu còn cứ ngờ ở câu trước.
Nếu cho rằng Nguyễn Du, vì bí luật bằng trắc, phải viết Cao Cuốn thay
vì Cuốn Cao thì đúng, nhưng nếu lại nói thêm rằng đó là trường hợp
không tiền khoáng hậu, không đáng kể, thì sai. Chúng tôi đã thấy có vài văn sĩ viết
văn xuôi như vậy, và độc giả vẫn chấp nhận, vì hiểu được và nghe không kỳ. Rồi
thì lối ấy sẽ thành quen, và văn phạm, ngữ vị của ta sẽ bị thay đổi.
Nó SẼ bị thay đổi thì nó cũng có thể ĐÃ bị thay đổi, nên nếu
hiện nay Mã Lai ngữ và Việt ngữ có khác nhau đôi chút về văn phạm, điều đó
không hề chứng tỏ rằng hai ngôn ngữ đó không là đồng gốc với nhau.
Đó là trạng từ phong cách (Adverbe de manière). Đến như trạng
từ nơi chốn, Nguyễn Du cũng biến khác văn phạm của ta.
Ta nói: "Tôi đi Huế, ghé Nha Trang". Nhưng
Nguyễn Du nói: "Tôi đi Huế, Nha Trang ghé". Thí dụ: "Tường
đông ghé mắt…"
Chúng tôi trích dẫn Nguyễn Du mà không trích dẫn ngôn ngữ của
dân chúng mặc dầu dân chúng cũng có cho biến như thường, thí dụ: Ngon ăn,
mạnh ăn, nhưng khi dân chúng cho biến như vậy thì đồng thời cũng cho hình thức
mới một nghĩa khác, ngon ăn không phải là ăn ngon, mạnh ăn cũng thế,
chí như với Nguyễn Du thì Cao cuốn hay Cuốn cao gì
cũng thế thôi, tức ông biến văn phạm rõ rệt, còn dân thì không biến văn phạm,
vì trong Ngon ăn, ngữ vị (Word order) tuy có bị đổi thật, nhưng hai tiếng
đó đã thành ra thành ngữ chớ không còn là một động từ và một trạng từ riêng rẽ
như nơi Nguyễn Du.
Chúng tôi cũng không trích dẫn Cung oán chẳng
hạn:
Trắng răng đến thuở bạc đầu
mặc dầu ở đây, tĩnh tử trắng cũng đứng trước danh từ
răng, nhưng giữa đó có những tiếng ẩn. Câu ấy cần được hiểu như thế này:
"Từ thuở người phụ nữ còn trắng nơi cái răng đến thuở
họ bạc nơi cái đầu". Tĩnh từ trắng, trong trường hợp này đi với người
phụ nữ, chớ không phải đi với răng thì không có vấn đề đảo ngữ. Nó cứ
là tĩnh từ chớ không là trạng từ.
Bạc đầu cũng vậy. Bạc đầu phải hiểu là: Kẻ nào đó mang màu bạc
nơi cái đầu, và bạc cũng đi với kẻ nào chớ không đi với đầu.
Đành rằng vấn đề văn phạm, cú pháp, ngữ vị, âm và thanh cứ
còn giữ vai trò quan trọng của nó chớ không mất phần, nhưng ta sẽ không quá nô
lệ nó lắm nữa.
Ngữ vựng, ngữ là ít quan trọng hơn hết trong các vấn đề ngôn
ngữ, lại trở nên quan trọng vô cùng khi mà các yếu tố ngữ là quan trọng, hóa ra
bấp bênh không chịu nổi sự đào thải của thời gian và danh từ trở nên yếu tố
vĩnh cửu.
Văn phạm Mã Lai chỉ khác văn phạm Việt Nam có hai điểm:
Về ngữ vị thì văn phạm Mã Lai đang nằm lưng chừng giữa lối
nói ngược và lối nói xuôi.
Thí dụ: Cửa sông họ nói Kưala sôngai, tức
nói xuôi như ta, nhưng Sông con họ nói Anak sôngai, tức con nít sông,
tức nói ngược, thay vì phải nói Sông con nít.
Khi một ngôn ngữ vừa nói xuôi lại vừa nói ngược thì ngôn ngữ
đó tự lật tẩy là đang biến dạng theo ngôn ngữ nào đó, nhưng biến chưa xong.
Không có ngôn ngữ của nước nào mà cú pháp lại vừa ngược vừa
xuôi, trừ ngôn ngữ Mã Lai.
Đó là về cú pháp. Còn về văn phạm thì họ có chuyển hóa
(dérivation), còn ta thì không. Sự chuyển hóa của họ cũng do ảnh hưởng Phạn ngữ
chớ xưa kia thì họ không có.
Thí dụ: Bông (Hoa), họ nói là Bônga.
Nhưng: Hoa dạng, họ nói là Bôngaan.
An thêm sau Bônga, là sự chuyển hóa chớ không là tĩnh
từ kép như Hoa dạng của ta, không phải là Bônga-An đâu.
Ta chịu ảnh hưởng độc âm của Tàu nên muốn diễn ý mới lạ ta chỉ
có thể tạo từ kép, còn họ chịu ảnh hưởng Phạn ngữ, họ chỉ có thể cho tiếp
nhánh, không sao khác hơn được. Nhưng sự khác nhau đó chỉ mới xảy ra từ đầu Tây
lịch, còn vào cổ thời thì cả họ lẫn ta đều không có kép, không có chuyển hóa gì
cả, vì cả hai đều không có dịp diễn những ý niệm phức tạp.
Chỉ khác nhau có hai điểm ấy mà thôi, còn có hai Xy láp thì
chúng tôi sẽ trưng bằng chứng là tiếng Việt lối cổ có hai Xy láp, còn đa thanh
là một tai nạn xảy ra cho độc một dân tộc ta mà thôi, vì địa bàn Bắc Việt tạo
tai nạn đó ra, trên thế giới không nơi nào có cả. Nhưng đừng tưởng là Mã ngữ chỉ
có độc một thanh. Cả Mã ngữ, Nhựt ngữ và Chàm ngữ đều có dấu sắc, dấu huyền, dấu
hỏi, dấu nặng, họ chỉ thiếu dấu ngã mà thôi, và họ ít bỏ dấu hơn ta, nhưng vẫn
có bỏ các dấu kể trên, và Nhựt Bổn bỏ dấu nặng rất nhiều.
Những thuyết về ngôn ngữ Việt Nam của các ông Tây, ông Việt đều
rối loạn khiến ta phải điên đầu:
Ông Kari-Himly cho rằng tiếng ta có bà con với tiếng Môn.
Ông H. Maspéro bỏ Việt ngữ vào bộ Thái ngữ.
Ông E. Souvinget cho rằng tiếng ta có liên hệ đến Mã Lai.
Bs. Reynaud nhấn mạnh về ngữ vựng Miên, Việt giống nhau quá
nhiều.
Sử gia Nguyễn Phương khẳng định tiếng ta là tiếng Tàu.
Giáo sư Lê Ngọc Trụ cố chứng minh 10 năm trước, lời khẳng định
trên.
Sử gia Phạm Văn Sơn kết luận rằng Việt ngữ và Việt chủng là một
chủng tộc và một ngôn ngữ riêng biệt.
Một dân tộc cường sinh nhứt Đông Nam Á là dân tộc Việt Nam mà
lại không có ngôn ngữ riêng, đi lượm của đầu này một ít, đầu kia một mớ, để ráp
lại làm ngôn ngữ của mình là chuyện không thể có được.
Các ông Tây, giống hệt các anh mù thấy con voi. Một anh sờ phải
tai voi, cho rằng con voi giống cây quạt, một anh sờ phải chơn voi, bảo rằng
con voi là cây cột, anh khác mò vào vòi voi, quả quyết rằng voi là một con đỉa
lớn. Truyện tiếu lâm của ta rất là ý nhị.
Các ông ấy thấy phiến diện chỉ vì mỗi ông chỉ học có một ngôn
ngữ, trong khi phải học hết tất cả các ngôn ngữ Á Đông kể cả cổ ngữ Ba Thục,
Tây Âu, Mân Việt. Và nếu các nhà ngôn ngữ học ấy biết chủng tộc học và tất cả
các dân tộc Đông Nam Á đều đồng chủng Mã Lai thì các ông đã học tất cả các ngôn
ngữ, để kiểm soát chủng tộc học, và các ông đã không phiến diện như thế.
Ông E. Souvinget có thoáng thấy rằng Việt ngữ giống Mã Lai ngữ,
nhưng không dám kết luận. Vài ông Việt cho đó là sự kiện dĩ nhiên, vì Việt có
tiếp xúc với Mã Lai.
Ấy, ta có tiếp xúc với Mã Lai hồi nào, và tại đâu,
để mà vay mượn?
Ta chỉ có tiếp xúc với Mã Lai vào thời di cư vào Nam cách đây
ba trăm năm, mà những danh từ Mã và Việt giống nhau thì đã có từ nhiều ngàn
năm. Thí dụ: Cù lao.
Những nhà bác học chủ trương vay mượn, không biết tương đối đủ
để mà có được một chủ trương đúng, đó là sự đồng gốc chớ không có ai vay mượn của
ai hết.
Vấn đề ta vay mượn của Mã Lai chỉ là một huyền thoại, không kể
vay mượn cách đây ba trăm năm, thuở ta di cư vào Nam.
Nhưng cũng đừng tưởng là ta mượn qua trung gian Chàm, vì ta
nói tiếng Mã Lai đúng hơn Chàm nhiều lắm, như ta sẽ thấy.
Các ông Tây đã phiến diện vì học chưa tới chốn, lại còn để
tình cảm vào chủ trương khoa học. Hễ nghi là có vay mượn thì luôn luôn các ông
nói là Việt Nam vay mượn của người khác, không bao giờ có ai vay mượn của Việt
Nam cả, mặc dầu các ông không đưa ra được bằng chứng nào hết là Việt Nam là con
nợ, còn các dân tộc khác là chủ nợ.
Xin nhận xét sơ về các thuyết ngôn ngữ của các ông Tây.
Nhiều người Việt thường chưởi rằng các nhà bác học Tây ở Đông
Pháp đã xuyên tạc, chỉ có chúng tôi là binh vực các ông thôi nhưng về ngôn ngữ
thì mặc dầu nhiều thiện chí chúng tôi cũng không còn binh vực các ông được nữa,
vì sự thiên vị và xuyên tạc của các ông quá rõ ràng. Các ông đã bị bắt quả
tang.
Tại sao sự nhìn thấy giống nhau giữa Cao Miên và Việt không
khiến các ông nói tiếng Cao Miên thuộc gia đình Việt, mà lại nói tiếng Việt thuộc
gia đình Cao Miên?
Chỉ vì Cao Miên là thuộc địa ngoan ngoãn, còn Việt Nam là thuộc
địa hay nổi loạn, nên tao cho tụi bay làm con Cao Miên cho đáng kiếp!
Mà không chỉ làm con Cao Miên, mà làm con của Thái, của Môn,
của Mã Lai, của Thượng, của đủ thứ dân hết thảy, không bao giờ có ông Tây nào
mà không cho ta thuộc vào ai đó, thay vì ai đó thuộc vào ta.
Sự thiên vị và xuyên tạc trắng trợn trên đây, chúng tôi không
thể bỏ qua, chớ đừng nói là binh vực nữa. Chúng tôi nói Sạch, Cao Miên nói Soạt,
thế là các ông bảo là chúng tôi thuộc vào Cao Miên, trong khi chúng tôi ăn cơm
bằng đũa, còn Cao Miên thì bốc cơm bằng ngón tay để ăn, thì ai học danh từ sạch
của ai?
Tiện đây chúng tôi xin lưu ý chính quyền Việt Nam về một chi
tiết vô cùng quan trọng đối với tiền đồ của nước ta, do các ông Tây thật tình lầm
lẫn, hay cố ý gạt gẫm của ta thì không biết.
Người viết sử không bàn chánh trị, nhưng chúng tôi cũng xin
lưu ý chính quyền Việt Nam về vụ này. Trang sách này là trang sách thêm sau
ngày đưa tác phẩm cho nhà xuất bản vì vào đầu năm 1971, Thượng viện ta họp
phiên khoáng đại đầu tiên trong năm đã chấp thuận cho hai triệu người Cao Miên ở
Việt Nam Cộng Hòa trở về địa vị thiểu số.
Các ông thượng nghị sĩ ta, đa số là trí thức, nhưng lại là
trí thức luật học, không có nhà bác học nào cả về chủng tộc học, về ngôn ngữ học,
nên đã bị người Pháp đánh lừa.
Sách Pháp cho rằng người Thượng là Cao Miên. Đó là một sai lầm
vĩ đại, vì dốt hay cố ý thì không rõ.
Sự thật thì họ là Cổ Mã Lai (Indonésien) tức đồng chủng đồng
bào với Việt Nam nhưng tiến trễ. Ngôn ngữ căn bản của họ là ngôn ngữ Mã Lai. Sở
dĩ họ có nhiều danh từ giống Cao Miên là vì sự gần gũi. Họ ngăn cách với ta bằng
dải Trường Sơn, tức là ta ít gần họ hơn Cao Miên, thế mà đối chiếu thì thấy
ngôn ngữ của họ gần Việt hơn là gần Cao Miên.
Nhưng các nhà bác học chơn chính của Pháp đã có cho biết sự
thật, còn những ông Tây thì nói càn vì lý do chánh trị, thì có bảo người Thượng
là Cao Miên, rồi ta lại quá tin các ông Tây nói bậy.
Như thế làm gì có hai triệu người Cao Miên ở Việt Nam Cộng
Hòa? Vì ngộ nhận, ta mới để cho người Mỹ trả quân nhân Thượng, được huấn luyện
trong lãnh thổ Việt Nam cho Cao Miên.
Người Thượng là người Cổ Mã Lai, hoàn toàn không phải là người
Cao Miên và họ với ta đồng chủng.
Chỉ số sọ (Indice Crânien) của người Thượng y hệt như chỉ số
sọ của Việt và Mã Lai, và khác chỉ số sọ của Cao Miên.
Ai không tin về chỉ số sọ xin xem vài bản đối chiếu ngôn ngữ
dưới đây thì rõ:
Việt Nam: Cá
Sơ Đăng: Kaa
Mạ: Ká
Chàm: Kán (đọc như Bắc Việt tức An đọc như Al).
Khả Thong Long: Aka
Mã Lai: Ikán.
Nhưng Cao Miên thì: Trây
Việt Nam: Cột
Sơ Đăng: Kơt
Bà Na: Kơơt
Chàm: Kaat
Mã Lai: Ikaat
Nhưng Cao Miên thì: Chơn
Việt Nam: Mắt
Sơ Đăng: Mat
Mạ: Maht
Mã Lai: Mât
Nhưng Cao Miên thì: Fnéc
Việt Nam: Mặt trăng
Bà Na: Mạt tlăng
Mạ: Maht kăn
Chàm: Blaăng
Mã Lai: Bulăng
Nhưng Cao Miên thì: Khe
Người Mỹ mới tới sau, không biết gì hết về chủng tộc học và
ngôn ngữ học xứ này, cũng bắt chước Pháp mà cho rằng người Thượng là người Cao
Miên, khi họ đưa những nghĩa quân Thượng luyện tập trong lãnh thổ của ta cho
Cao Miên.
Cái hội bác học của Mỹ, hội Summer Institute of
Linguistic ở Sài Gòn, cũng chỉ nhai lại các sách xuyên tạc của Pháp khi họ
xuất bản quyển A study of Middle Vietnamese Phonology tại Sài Gòn.
Khi mà cả thế giới đều bị các ông Tây lôi cuốn vào mê hồn trận
vĩ đại, chúng tôi thấy cần lưu ý Hành Pháp và Lập Pháp về một mối nguy trong một
tương lai không xa lắm.
Khi mà hai triệu người không phải là Cao Miên lại cứ bị ai
xúi giục tự xưng là Cao Miên, để tạo thành một khối lớn, yêu sách những điều
không thể chấp nhận được thì chánh phủ ta sẽ gặp những khó khăn không nhỏ.
Nếu cứ muốn cho mấy trăm ngàn người Cao Miên ở Hậu Giang hưởng
chế độ thiểu số thì cứ cho, nhưng đừng có gộp đồng bào Thượng vào đó và nói là
Cao Miên đông hai triệu, vì nó trái với sự thật khoa học, lại mang họa lớn cho
ta về mặt chánh trị.
Chế độ Cộng Hòa I đã sai lầm mà phát minh ra chữ riêng cho đồng
bào Thượng, trong khi họ chỉ nên học quốc ngữ Việt vì họ với ta đồng chủng, đồng
ngôn. Không nên thấy họ tiến trễ mà tưởng họ là "Mọi". Cứ học ngôn ngữ
của họ một cách bác học và học về sọ, về máu của họ là ta sẽ thấy rằng họ là
người Việt một trăm phần trăm. Như vậy họ nên học chữ Việt ngữ chớ ta không phải
sáng tạo cho họ một thứ văn tự ngôn ngữ giả tạo như chế độ Cộng Hòa I đã làm.
Người Pháp miền Bắc nói ngôn ngữ Oil, người Pháp miền
Nam nói ngôn ngữ Oc. Thế mà họ hy sinh một để thống nhứt, trong
khi đó thì Thượng và Việt đồng ngôn ta lại tạo cho Thượng một thứ chữ kỳ dị để
phiên âm các Lạc ngữ của họ.
Đó là Lạc ngữ thuở xưa mà ta biến khác còn họ thì không biến
vì họ ở trên núi, ít tiếp xúc với ai.
Chúng ta sẽ thấy trong chương này những tiếng Mã Lai bị ta biến
đến mất nghĩa, nhưng họ còn giữ.
Thí dụ: chữ CÁI, trong BỐ CÁI Đại Vương, trong Con dại
cái mang. CÁI ấy là Đầu, là Cha, là Thủ Lãnh, còn y nguyên
trong Chàm ngữ, Mã ngữ và Thượng ngữ, chớ
không phải là Mẹ như ta đã hiểu lầm.
Con của ông Phùng Hưng chỉ xây đền thờ cho cha, mẹ ông ấy
không làm có gì cả ngoài việc nội trợ, thì không có lý nào mà ông ấy gộp mẹ vào
chức Đại Vương được hết.
Vả lại trong Việt ngữ hiện kim cũng còn dấu vết của tiếng CÁI
đó trong danh từ Thợ Cái. Đâu có phải là thợ đàn bà hở trời? Đường Cái cũng
đâu có phải là đường để dành riêng cho phụ nữ đi dạo mát. Ngón chơn Cái là
ngón chơn lớn nhứt chớ cũng không phải là ngón chơn của cô nào hết.
Các nhà ngôn ngữ học Tây sắp Việt ngữ vào gia đình Môn-Khơ Me
ngữ vì vấn đề cú pháp, nhưng cú pháp của ta lại không giống cú pháp của Thái
hay sao?
Các ông Tây lại bảo rằng tiếng ta thuộc gia đình Miên ngữ, vì
lẽ khác nữa. Nếu cứ bắt cả hai làm họ với nhau, thì phải nói rằng tiếng Miên
thuộc gia đình Việt ngữ mới đúng. Tại sao?
Về con số, họ chỉ có 5 số, trong khi ta có tới 10 con số. Số
6 họ nói là 5 với 1, số 7 họ nói là 5 với 2, v.v.
Về các bộ phận của thân thể con người, ta chỉ mượn của Trung
Hoa một tiếng độc nhứt là Đầu, nhưng cũng không chắc là mượn, như sẽ xét đến,
trong khi đó thì mượn quá nhiều, thí dụ sơ sơ như là:
Cái ngực họ nói Trung do Tàu: Hung, Hiung, Yiung mà
ra.
Cái trán họ nói Thngac do Tàu: Ngạch, Ngạc, Ngớ mà
ra.
Da họ nói là Sbec do Tàu: Bì, Pỉa mà
ra.
Các nhà bác học Âu Mỹ sai lầm rất nhiều. Chẳng hạn họ nói rằng
người Môn-Khơ Me ở Tây Khương không hề tiếp xúc với Trung Hoa lần nào hết trước
khi tràn xuống phương Nam lập quốc. Nhưng thử hỏi, sao họ lập quốc được rồi mà
chưa có những danh từ cái ngực, cái trán, cái da, đến phải vay mượn của nước đã
khai hóa họ là nước Ấn Độ chớ sao lại vay mượn của Tàu?
Tất cả các nhóm Mã Lai, xuất phát từ Tây Tạng đều có thọ lãnh
ít nhiều ảnh hưởng Trung Hoa và nhóm nào thọ lãnh nhiều hơn mà không bị trị lần
nào là nhóm đó kém mở mang nhứt.
Chủng Việt bị trị đến bốn lần: bọn Tàu di cư vào Kinh Việt, rồi
mấy lần nhà Hán, thế mà số tiếng cổ vay mượn của Tàu lại ít hơn Cao Miên. Như vậy
cho rằng tiếng ta nằm trong gia đình Cao Miên có gượng gạo chăng?
Nói ngược lại, như chúng tôi đã nói, là Miên ngữ nằm trong
gia đình cũng không đúng; chúng tôi nói thế để cho thấy cái bất công của các
ông Tây mà thôi, chớ thật ra cả hai thứ đều là đồng tông Mã Lai Bách Việt với
nhau, anh em, chớ không phải cha con.
Các ông Tây dựa vào vấn đề có thanh và không có thanh, đã bị
bác rồi, các ông dựa vào vấn đề ngữ vựng cũng không xong, vì nếu chép hết cả ngữ
vựng ra như:
Việt-Chàm
Việt-Miên
Việt-Mã Lai
Việt-Giarai
Việt-Thái
Việt-Bà Na
vân vân, thì ta thấy bộ ngữ vựng Việt Bà Na đồ sộ hơn tất cả
mọi ngữ vựng đối chiếu khác, vì đối chiếu khác, vì mặc dầu trước kia Bà Na chịu
ảnh hưởng Cao Miên, ngôn ngữ của họ cũng do gốc Mã Lai Bách Việt như ta, chớ
không phải gốc Cao Miên.
Ông G. Cocdès cho rằng những ngôn ngữ Sơ Đăng, Bà Na, Rađê,
Giarai, v.v. là dialectes Môn-kmers, tức phương ngữ của chủng Môn-Khơ Me. Nhưng
như ta đã thấy, qua những thí dụ điển hình trên đây và sau đây thì không phải
thế. Những ngôn ngữ ấy có giá trị ngang hàng với ngôn ngữ Cao Miên và đều cùng
gốc Mã Lai Bách Việt mà ra cả.
Mặc dầu là Viện trưởng của Viện Viễn Đông bác cổ, ông G.
Cocdès còn dốt ngữ học hơn đàn em của ông nhiều lắm trong cái Viện đó, nên mới
có sự trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong tạp chí của Viện mà giới bác học chợt
thấy là ông Viện trưởng nói sai hơn các nhơn viên thường.
Nói một cách khác, về phương diện chủng tộc và ngôn ngữ, đồng
bào Thượng không hề là chi phụ của Môn-Khơ Me mà là anh em đồng tông y như
Thái, Việt, Chàm và các nhóm Mã Lai hiện nay, bằng chứng là những danh từ gốc của
họ chỉ những vật, những ý cổ sơ nhứt nơi loài người đều giống danh từ Mã Lai chớ
không giống danh từ Cao Miên chút nào.
Những đồng bào Thượng nguyên là phiên thuộc của Cao Miên xưa,
như là Sơ Đăng, Bà Na, Xi Tiêng, Mạ cũng có danh từ gốc Mã Lai nhiều hơn gốc
Cao Miên.
Nội một biểu đối chiếu độc nhứt là danh từ Lá, cũng đủ cho thấy
rằng đồng bào Thượng gần gốc Mã Lai hơn Cao Miên quá nhiều, không cần phải
tranh luận lôi thôi dài dòng.
Dân tộc Cao Miên là một thứ Mã Lai Bách Việt rất là xa xôi,
xa Mã Lai hơn Thái, hơn Chàm, hơn Việt, hơn Thượng Việt vì danh từ của họ ít giống
với danh từ các nhóm Mã Lai khác trong khi đó thì các nhóm khác rất giống nhau.
Họ bị lai giống với thổ trước Mê-la-nê quá nhiều nên cái sọ của
họ có chỉ số gần giống với sọ Mã Lai, nhưng không giống hệt như sọ Việt đã giống,
và lại không tròn, tức có tánh cách cổ sơ trong đó.
Ngôn ngữ của họ đi xa dòng Mã Lai hơn ta cũng vì thế, trong
khi đó đồng bào Thượng lại thuần Mã Lai hơn cả người Mã Lai ở Nam Dương nữa, vì
họ không có chịu ảnh hưởng ngoại lai Ấn Độ và Á Rập như Nam Dương bao giờ hết.
Khi những ngôn ngữ Việt, Sơ Đăng, Bà Na, Xi Tiêng, Mạ không
bao giờ bị Mã Lai cai trị và khai hóa lại chứa đựng quá nhiều danh từ Mã
Lai hơn danh từ Cao Miên thì tại sao các ông Tây lại sắp Việt ngữ vào Miên ngữ
mà không vào Mã Lai ngữ thì đó là một bí mật lớn, nếu không nói là một sai lầm
to.
Đành rằng ngữ vựng là chuyện vay mượn được nhưng tại sao Cổ
Việt không vay mượn của Cao Miên mà lại vay mượn của Mã Lai, mặc dầu Cổ Việt có
biên giới chung với Cao Miên từ trước Tây lịch mà không bao giờ có biên giới
chung với Mã Lai?
Chỉ có một lời giải thích: Việt gốc Mã Lai.
Nhưng Cao Miên cũng gốc Mã Lai như đã nói. Và chính là Mã Lai
Cao Miên đã học thêm với Mã Lai Việt.
Việc khám phá ra một cổ bia Cao Miên, cổ bia Sek Tà Tay đã
cho thấy rằng người Cao Miên đã học tiếng Việt qua trung gian người Mường vào
thế kỷ thứ VII.
Nguyên vào thế kỷ đó thì người Cao Miên mượn âm lịch của Tàu
để dùng, song song với lịch của họ, cổ bia nói trên để ngày tháng năm theo âm lịch,
nhưng lại ghi bằng tiếng Mường, tuy với văn tự Cao Miên.
Số là người Mường cũng mượn âm lịch của Tàu, qua trung gian
Việt, nhưng họ không dùng Tý, Sửu, Dần, Mão mà nói là năm Chuột, năm Trâu, năm
Cọp, v.v. bằng tiếng Mường, tức tiếng Việt cổ sơ.
Ấy, cổ bia Cao Miên cũng đã khắc chữ y như vậy, nhưng những
con thú đó, không được gọi bằng tiếng Cao Miên mà bằng tiếng Mường.
Dầu sao, đã là đồng chủng với nhau thì phải có một số vốn
chung. Nhưng số vốn chung đó quá ít giữa Miên và Việt. Đã hẳn họ là bà con quá
xa mà lại. Sở dĩ sau này vốn chung nhiều lên một cách tương đối là do sự vay mượn
qua tay người Mường mà họ có biên giới chung thuở mà nước họ tên là Chân Lạp và
nằm tại đất Ai Lao ngày nay, còn phía dưới này là nước của dân Phù Nam mà họ
thôn tính hồi thế kỷ thứ VI.
Tuy nhiên, cũng có một nhà ngôn ngữ học sáng suốt, đó là ông
Cabaton, ông ấy thì biết rằng Indonésien có nghĩa là Cổ Mã Lai đấy (May thay có
một tiếng Pháp mà bao nhiêu ông Tây không hiểu, thì đừng có than phiền khi có
nhiều ông Việt không hiểu).
Theo lối tìm biết người Cổ Mã Lai ở Cao nguyên ai thuần chủng
nhiều, ai thuần chủng ít (mà chỉ dựa vào ngôn ngữ chớ không dựa vào khoa chủng
tộc học) thì ông Cabaton sắp người Giarai thuần chủng nhứt, vì họ không biết lấy
một tiếng Cao Miên nào hết, mà cũng chẳng biết lấy một tiếng Phạn nào hết, thế
nghĩa là ngôn ngữ của họ thuần Mã Lai nhứt thế giới, không kể các nhóm Mã Lai
trong rừng sâu Boọt-nê-ô.
Chủ trương của các ông Tây rằng Chàm thuần Mã Lai nhứt Đông
Pháp là sai lầm. Trong ngôn ngữ Chàm có quá nhiều ảnh hưởng Phạn ngữ, Lưỡng Hà
ngữ mà chúng tôi sẽ nói rõ ở chương người Chàm. Ngôn ngữ Chàm cũng đầy dẫy tiếng
Á Rập. Thí dụ danh từ Kafir là danh từ Á Rập dùng để chỉ người không
theo đạo Hồi như họ.
Còn Mã Lai hạng ít thuần chủng nhứt là người Phong, thứ người
này hiện sống ở các tỉnh Bình Long, Phước Long, Quảng Đức, mượn quá nhiều danh
từ Cao Miên.
Như vậy, khi thiếu một danh từ Mã Lai trong các biểu đối chiếu,
chúng tôi chỉ đưa vào đó một danh từ Giarai, Bà Na hay Sơ Đăng là
đủ cho biểu đối chiếu được giá trị rồi, miễn là danh từ Cao Miên phải khác.
Có phải thế không? Nhưng không, vì đã bảo Cao Miên cũng là Mã Lai thì cái danh
từ Thượng ấy có giống với danh từ Cao Miên, cũng cứ được.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng cố tìm những danh từ Bà Na, Sơ Đăng
mà Cao Miên tuyệt đối không có, nhưng Việt, Chàm lại có, để không còn ai nói được
nữa rằng họ là Cao Miên.
Chúng ta nên đặc biệt chú ý đến ngôn ngữ Khả Lá Vàng. Đó
là tiếng Việt Nam tối cổ, cổ hơn tiếng Mường một bực, mà ta sẽ thấy ở
chương "Làng Cườm" rằng họ tự xưng là người Lạc, và giống thứ
người mà thi sĩ Tàu Tống Ngọc đã tả trong bài thơ Chiêu Hồn: người Điêu
Đề.
Nhóm Việt độc nhứt trong thư tịch Trung Hoa có biệt sắc Điêu
Đề chỉ được nói đến có một lần trong thư tịch Tàu. Và ta từng gặp lại họ ở Cao
nguyên Ai Lao, gần đèo Mụ Già, mà cuộc tái ngộ này cho ta biết rõ hơn Tống Ngọc
nữa. Tống Ngọc chỉ nói đến chuyện Điêu Đề, còn ta thì được biết thêm
rằng họ tự xưng là Lạc, họ nói tiếng Việt tối cổ, họ thuộc chủng Cổ Mã
Lai, họ có màu da đất đỏ (Ocre), ăn khớp với truyền thuyết ta cho rằng nước ta
xưa tên là Xích Quỷ, họ ăn canh cua đồng, y hệt như người Bắc Việt ngày nay.
Thế nên chúng tôi xem ngôn ngữ Khả Lá Vàng là ngôn ngữ Mã Lai
căn bản nhứt trong các nhóm ngôn ngữ Mã Lai ở "Đông Pháp"!
Những danh từ Việt tối cổ còn sót lại trong ca dao của ta hiện
tại, ta không hiểu, nhưng nhờ ngôn ngữ của Khả Lá Vàng mà ta hiểu. Thí dụ điển
hình nhứt là danh từ Tua xuất hiện trong ít lắm là hai câu ca dao miền Bắc.
Tua với họ, có nghĩa là ngôi sao. Người miền Bắc
khi viết đã viết sai. Họ viết là Tua-rua với một gạch nối liền và chữ rua không
hoa, khiến ta ngỡ đó là danh từ Tua-rua. Sự thật Rua là tên của một ngôi
sao mà Tàu gọi là sao Mão, ta gọi là sao Mạng và nên viết là Tua
Rua, hai chữ không có gạch nối liền và Rua phải viết hoa, vì Tua là
Sao, còn Rua là tên của ngôi ấy).
Vì không biết ngôn ngữ Khả Lá Vàng nên ta không hiểu Tua Rua
là gì, mà khi không hiểu thì ta phải viết sai, dĩ nhiên là như vậy.
Danh từ Sao chỉ là danh từ Thái mà ta vay mượn về
sau, họ nói là Đao, còn Lạc Việt có thời thì nói là Tua.
Các ông Tây tìm tòi về ngôn ngữ Việt Nam không hề có ai đi
qua đủ các lộ trình, và nhứt là không ai kể đến cổ Mân Việt, cổ Tây Âu và cổ Ba
Thục hết, và chưa hề có những bản đối chiếu Việt với tất cả các ngôn ngữ để tìm
về nguồn Tây Tạng.
Cái nhìn tổng quát mà giáo sư Nguyễn Phương đòi hỏi, chính là
cái đó. Nhưng không thể tự nhiên mà bắt đầu có cái nhìn tổng quát được, mà phải
lần dò. Chúng tôi đã mất sáu bảy năm học các ngôn ngữ mới nhìn tổng quát được.
Chúng ta thử dựng lên một bộ ngữ vựng cổ Việt trước khi Mã Viện
tới để xem sao, coi nó là Trung Hoa hay Mã Lai. (Chúng tôi không nói tới Triệu
Đà và Lộ Bác Đức, hai ông đó không có trực trị ta mà chỉ kiểm soát lỏng lẻo
thôi. Nếu ta vay mượn của Tàu, thì chỉ vay mượn kể từ Mã Viện mà thôi).
Ngữ vựng này chúng tôi đã làm, không những thế, chúng tôi còn
biến nó thành các biểu đối chiếu với Hoa ngữ và Mã ngữ ở hai loại bản đối chiếu
khác nhau. Hơn thế cột Hoa ngữ của chúng tôi, lại chia thành nhiều cột nhỏ vì
người Tàu, tuy là đều nói tiếng Tàu ở khắp nơi trên lãnh thổ Trung Hoa, nhưng
giọng của mỗi vùng có khác nhau đôi chút. Những cột nhỏ ấy để dành cho một số
giọng địa phương có thể đưa ảnh hưởng tới Việt Nam.
Thí dụ tiếng Nước của ta. Hán Việt là Thủy, tiếng
Trung Hoa chính gốc là Xùi, nhưng biết đâu ta lại không phải là người
Trung Hoa chánh gốc mà chỉ là người Mân Việt biến thành Việt Nam thành thử giọng
Mân Việt Chúi cũng phải được đưa ra để đối chiếu.
Biểu đối chiếu dưới đây trích ở những tập học các giọng Trung
Hoa của chúng tôi, trích theo một kế hoạch, tức không phải biết cái gì chép cái
ấy, mà đã loại bỏ rất nhiều, không phải chỉ bỏ đi những món đồ mà riêng văn
minh Trung Hoa thuở ấy mới chắc có như Lầu, Các, Hài, mà cũng bỏ
cả những danh từ rất là thông thường.
Những thứ coi thì như là rất tầm thường, nhưng thật ra đó là
những món đồ của một xã hội văn minh cao, chẳng hạn như tiếng Canh (canh để ăn
cơm) chúng tôi cũng không ghi vào đây, vì quả thật ta đã vay mượn thức ăn đó của
Tàu và vay mượn luôn cả danh từ nữa. (Nên biết rằng mãi cho đến ngày nay mà dân
tộc Ấn Độ, văn minh cao là thế, lại chưa biết món canh thì cái thứ ngỡ hèn mọn ấy
là dấu hiệu văn minh cao đấy). Trừ nhiều đến thế, trừ cả những tiếng mà ai cũng
ngỡ là tiếng Việt thông thường, vẫn còn hàng vạn danh từ Việt gốc, không do
Trung Hoa mà ra, và hàng vạn tiếng ấy đủ để làm một ngôn ngữ giúp một dân tộc
diễn những ý thường trong một đời sống không cao, nhưng cũng chẳng dã man.
Biết bao nhiêu chữ Tàu để đọc được thơ Đường mà không cần tự
điển? Hai ngàn chữ là đủ rồi. Mà đó là thơ, tức chuyện khó. Ta còn lối 10 ngàn
danh từ thuần Việt thì hẳn cũng đã khá giàu, không thể nói rằng không có một
dân tộc khi 10 ngàn danh từ của dân tộc ấy có.
Cũng không thể nói rằng người Tàu khi ly khai với Trung Hoa
đã vay mượn của "Mọi" 10 ngàn danh từ đó để làm ngôn ngữ bởi đó là những
danh từ mà họ đã có rồi và họ tin là hay thì còn vay mượn làm gì nữa?
Và tưởng cũng nên trình bày cặn kẽ về ngộ nhận của ta về Hoa
ngữ mà nhiều người chỉ có một ý niệm rất mơ hồ.
Từ xưa tới nay, ta hay có thói quen cho rằng có tiếng Quảng
Đông, tiếng Phúc Kiến, tiếng Hồ Nam, v.v. nhưng thật ra thì không và chỉ có tiếng
Tàu. Các địa phương Trung Hoa có đọc sai chút ít nhưng vẫn cứ những danh từ đó,
là vì sự nỗ lực đồng hóa các thuộc địa cổ, liên ranh giới của người Tàu, đã
thành công cả về mặt ngôn ngữ từ hai ngàn năm nay rồi.
Ngôn ngữ Trung Hoa là một cái gì rất mơ hồ, chẳng những đối với
các nước khác, mà cho đến cả với giới trí thức Trung Hoa, họ cũng ngộ nhận nữa,
cả trong những sách vở đúng đắn, là sách giáo khoa của họ.
Ngôn ngữ Trung Hoa chỉ có một, trái hẳn với sự hiểu biết của
người Âu châu, họ thường viết: "Dialecte de Canton (Phương ngữ Quảng
Đông), Dialecte de Foukien (Phương ngữ Phúc Kiến), v.v. Thậm chí có nhà học giả
Âu châu viết: Dialecte de Pékin (phương ngữ Bắc Kinh). Nếu quả đúng như thế thì
không kể có Hoa ngữ hay sao, vì nơi nào cũng dùng toàn là ngôn ngữ địa
phương, kể cả kinh đô của họ?
Từ Lớn, Quan Thoại tức Trung Hoa chánh gốc, Trung Hoa
kinh đô, nói Ta, Quảng Đông nói Tài, Mân Việt nói Tòa, Việt Nam
nói Đại, là tại đọc sai chớ không phải là khác ngôn ngữ.
Hôm nay, Quan Thoại nói Chính Thiên (Chíl
thél), còn Quảng Đông nói Kim nhựt (Cắm dạch) là cũng nói tiếng
Tàu chớ không phải là tiếng của chủng tộc nào khác. Nhựt là trời về
phương diện vật chất (mặt trời) còn Thiên là Trời về mặt tôn giáo, vì
người Tàu xưa trọng ý niệm Thiên hơn là Nhựt.
Vả lại Quan Thoại ngày nay cũng đã nói Khém dứa y
như Quảng Đông.
Buồn cười nhứt là chánh sách vở chánh thức, sách giáo khoa của
Trung Hoa cũng gọi những "cái đó" là phương ngữ, họ phân biệt tới 9
phương ngữ và một ngôn ngữ trung ương gọi là Trung nguyên ngữ. Thật ra thì có
10 giọng chớ không hề có 10 ngôn ngữ bao giờ hết.
Đó là 9 phương âm, tức thổ âm (Prononciation régionale) chớ
không hề là 9 phương ngữ, tức thổ ngữ (Dialecte) và một trung ương âm
(Prononciation de base), chỉ có thế thôi.
Nhưng chúng tôi cũng gọi những giọng ấy là ngữ,
theo sách của Tàu, vì đây là trích sách, thay đổi sẽ gây lộn xộn phiền phức lắm,
xin quý vị hiểu rằng ngữ dưới đây, chỉ có nghĩa là giọng đọc mà thôi.
Sách giáo khoa Tàu phân biệt như sau đây:
Tần ngữ: Giọng Tần ngữ ở tỉnh Thiểm Tây và đó là cái giọng
có thể gọi là Tiền trung ương, Tiền Quan Thoại, tức lơ lớ Quan Thoại, lơ lớ
Tây Nhung, lơ lớ Mông Cổ. Đó là đất của các chư hầu mạnh đã thay phiên nhau
lãnh đạo người Tàu về mặt quân sự và chánh trị, thí dụ chư hầu Chu đã diệt vua
Trụ lập ra nhà Chu, chư hầu Tần đã diệt Chu lập ra nhà Tần.
Thục ngữ: Giọng này nằm gọn trong tỉnh Tứ Xuyên và đó là
Tần ngữ đọc theo giọng Thái cổ. Nước Thái cổ là nước Thục bị chư hầu Tàu chinh
phục và đưa giọng đọc của họ vào đó. Thục ngữ còn thấy dấu vết trong ngôn ngữ của
người Tàu, mà dân Sài Gòn gọi là người Hẹ. Chính chư hầu Tàu đã diệt nước Thục
và làm chủ nước Thục trước khi thống nhứt Trung Hoa.
Dân Thục, như đã nói là dân Âu phía Tây Trung Hoa, chi Âu xưa
của Mã Lai chủng, nay được gọi là chi Thái, và Thục ngữ chỉ là tiếng Tàu bị người
Thái ở Tứ Xuyên đọc sai (xin xem chương chủng Âu). Chúng tôi học cổ ngữ Ba Thục
với người Ba Thục di cư tức người Khách Gia, tức Hakka, tức Hẹ. Nhóm Âu này còn
giữ được nhiều danh từ Mã Lai hơn nhóm Tây Âu (Quảng Đông, Quảng Tây).
Yên Tề ngữ: Đây là đất của rợ Đông Di gồm Sơn Đông. và một
phần Hà Bắc. Giọng ở đó là giọng Tàu của người Đông Di bị lai giống hoặc bị đồng
hóa.
Sở ngữ: Giọng này được nói ở Hồ Bắc và Hồ Nam. Đó là giọng
Tàu của rợ Việt ở đất Kinh Man bị lai giống và bị đồng hóa với người Tàu. Cả ba
giọng Yên, Tề, Tần và Sở ngày nay đều khá giống
Quan Thoại vì họ ở gần Trung nguyên, tức là trung tâm văn hóa của Trung Hoa.
Tuy nhiên, hồi đầu Tây lịch thì Yên Tề ngữ và Sở ngữ lại giống
tiếng Việt Nam vì như đã và sẽ nói rợ Đông Di và rợ Kinh Man đích thực là Lạc
Việt bộ Trãi và bộ Mã.
Giọng Sở ngữ lại còn có một tên nữa mà dân
chúng dùng thường hơn, đó là giọng Hồ Quảng. Hồ Quảng là
tên xưa của hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc.
Ngày nay tuy giọng Sở ngữ không hẳn là giọng của
trung ương, nhưng vùng Hồ Quảng lại được xem là trung tâm văn hóa của Trung Hoa
chớ trung tâm không phải cái vùng đất mà người ta gọi là Trung nguyên nữa.
Trung tâm văn hóa bị xê dịch là chuyện thường xảy ra trong một
quốc gia, nhưng giọng nói không đi theo bước xê dịch đó, hoặc đi theo trễ và có
thể vài trăm năm nữa thì giọng Sở ngữ sẽ giống hệt Trung Nguyên vì Hồ Quảng đã
già dặn trong vai trò trung tâm văn hóa rồi.
Mân ngữ: Đó là giọng Phúc Kiến, tức giọng của "man
di" Mân Việt bị lai giống và đồng hóa với Tàu. Đó là dân Lạc bộ Mã.
Việt ngữ: Đó là giọng Quảng Đông và Quảng Tây, tức giọng
của "man di" Tây Âu gốc Thái bị lai giống và đồng hóa với Tàu. Việt
này viết với bộ Nguyệt mà ta gọi là bộ Mễ.
Giang Hoài ngữ: Ở giữa sông Hoài và sông Dương Tử, là giọng
của nước Ngô thời Chiến quốc, cũng thuộc chủng Việt (Bắc Giang Tô).
Ngô Việt ngữ: Giọng này được nói ở Nam Giang Tô và Triết
Giang, là giọng của nước U Việt thời Chiến quốc, cũng thuộc chủng Việt.
Ở đây có một thắc mắc cho nhiều người. Danh từ Ngô Việt
ngữ khiến người ta cứ tưởng địa bàn của Ngô và Việt ở đó còn địa bàn Giang Hoài là
của ai khác chưa biết.
Nhưng thật sự, cứ theo sử Tàu thì Ngô và Việt đánh nhau tại Thái Hồ,
tức nước Ngô phải ở phía Bắc Giang Tô, và nếu chỉ có Bắc Giang Tô thì quá nhỏ để
nước Ngô hùng cường được trong một thời, nên nước Ngô phải kiêm luôn cả vùng
Giang Hoài.
Danh từ Ngô Việt ngữ là danh từ cố ý sai, nó
chỉ là Việt ngữ mà thôi, nhưng người sắp loại sợ lẫn lộn với Việt ngữ Quảng
Đông nên phải thêm tiếng Ngô vào vậy. Hai chữ Việt ấy viết khác
nhau.
Điền Kiềm ngữ: Giọng Tàu của người Thái làm chủ đất vùng
Vân Nam và phụ cận.
Và sau rốt:
Trung nguyên ngữ: Đây là Hoa ngữ chánh thống mà cái giọng
đọc cũng được gọi giọng Quan Thoại được nói ở Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam
Hà Bắc và Nam Sơn Tây, từ 5.000 năm chớ không phải là Quan Thoại mới xuất hiện
năm 1911 như nhiều người Việt cứ tưởng.
Thấy rõ là sách giáo khoa của Tàu còn thiếu sót, họ thiếu mất
một giọng quan trọng, giọng Hải Nam, vì đảo Hải Nam to hơn cả Bắc Việt nữa.
Nhưng tuyệt nhiên Hải Nam ngữ không được kể đến
trong sách giáo khoa của họ.
Chúng tôi học Hải Nam ngữ (mà phải hiểu Ngữ đó chỉ là giọng đọc
chớ không phải ngôn ngữ) thì thấy như thế này: Họ cũng nói tiếng Tàu, nhưng đọc
sai chút ít, y như bất kỳ man di nào, Mân Việt, Tây Âu, v.v.
Thí dụ Nước, Trung Hoa chánh gốc nói là Xùi, Quảng
Đông nói là Xủi, Mân Việt nói là Chúi, nhưng Hải Nam nói là Tùi.
Nhưng những tiếng Mã Lai mà họ còn giữ được thì lại giống hệt Mân Việt, giống hệt
Chàm, và giống hệt người Đông Hưng trong tỉnh Quảng Đông, tức người Hợp Phố
xưa. Đó là người Lạc Lê.
Thế nên Lệ Đạo Nguyên, tác giả Thủy Kinh Chú mới
nói rằng thổ dân Hải Nam giống hệt thổ dân Nhựt Nam và Victor Goloubew mới nói
thổ dân Hải Nam giống hệt người Đông Sơn.
Người Hải Nam có cái đặc điểm này là ở sạch nhứt trong các
nhóm Trung Hoa, và ở sạch là biệt sắc của chủng Mã, và nhóm nổi danh ở sạch nhứt
thế giới là Mã Lai Nhựt Bổn và Mã Lai Mayar ở Mỹ Châu.
Người Trung Hoa phát tích ở ngoài tỉnh Cam Túc rồi xâm nhập
vào nước Tàu ngày nay, do ngõ Cam Túc, rồi văn minh lên ở Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc
và Nam Sơn Tây.
Khi một dân tộc văn minh rồi thì ngôn ngữ mới định và ngôn ngữ
Trung Hoa có quy củ là ngôn ngữ Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và Nam
Sơn Tây đó. Đó là vùng Trung nguyên của họ.
Ta cứ nhìn sơ qua lịch sử nước Tàu thì biết địa bàn của Trung
nguyên ngữ, từ Nghiêu Thuấn đến cuối đời Đường, nằm tại đâu.
|
Nghiêu |
đóng đô tại |
Bình Dương (Nam Sơn Tây) |
|
Thuấn |
- - |
Bồ Bản (Nam Sơn Tây) |
|
Hạ |
- - |
An Ấp (Nam Sơn Tây) |
|
Thương |
- - |
Hào Kinh (Bắc Hà Nam) |
|
Thương |
- - |
Triều Ca (Bắc Hà Nam) |
|
Tây Chu |
- - |
Cảo Kinh (Đông Thiểm Tây) |
|
Đông Chu |
- - |
Lạc Dương (Bắc Hà Nam) |
|
Tần |
- - |
Hàm Dương (Đông Thiểm Tây) |
|
Tiền Hán |
- - |
Trường An (Đông Thiểm Tây) Trường An tức Cảo đời Chu |
|
Hậu Hán |
- - |
Lạc Dương (Bắc Hà Nam) |
|
Tấn |
- - |
Lạc Dương (Bắc Hà Nam) |
|
Tùy |
- - |
Tràng An (Đông Thiểm Tây) |
|
Đường |
- - |
Tràng An (Đông Thiểm Tây) |
Quay qua lộn lại thì suốt ba ngàn năm họ không ra khỏi khu tam giác Bình Dương
- Tràng An - Lạc Dương.
Đời Tống dời đô sang Đông Bắc Hà Nam là Khai Phong, nhưng vẫn
không cách xa Lạc Dương bao nhiêu. Chỉ về sau thì rợ Mông Cổ rồi rợ Mãn Châu mới
đóng đô tại Bắc Kinh, ở ngoài khu vực Trung nguyên ngữ mà thôi. Tuy nhiên, giọng
Quan Thoại vẫn đi theo trào đình ngoại tộc để đến Bắc Kinh.
Nhưng cái Quan Thoại Bắc Kinh là Quan Thoại lơ lớ Mãn Châu và
Mông Cổ, thế nên từ ngày Mao Trạch Đông lên cầm quyền thì Quan Thoại được sửa đổi
lại chút ít, gọi là TÂN ÂM.
Nhưng cái Tân âm của họ Mao, thật ra là Cựu âm vì Quan Thoại
ngày nay trở lùi về với giọng đọc của khu tam giác nói trên, vì giọng đó mới thật
đúng là giọng Trung Hoa chánh gốc, không bị nói lơ lớ như giọng Bắc Kinh.
Cũng như ở xứ ta, khi trào Nguyễn cầm quyền thì xem giọng Huế
là giọng chánh, nhưng thật ra giọng chánh gốc của dân tộc ta là giọng Hà Nội,
vì người Hà Nội không bị lai Chàm như người Huế.
Quanh Kinh Đô và ngoài trào đình, dân chúng vẫn nói giọng
Trung nguyên tức giọng Quan Thoại vì đó là tiếng Tàu chánh hiệu, chớ không phải
riêng trong thành vua.
Nhưng những vùng đất xa hơn các kinh đô kể trên chừng vài
trăm cây số là đất Mọi. Thí dụ ở Đông Thiểm Tây, tại đất Cảo, tức Tràng An và
Hàm Dương người ta nói Quan Thoại, nhưng ở Tây Thiểm Tây, thì người Tàu lai giống
với rợ Khuyển Nhung và nói giọng khác gọi là giọng Tần ngữ.
Những vùng đất quanh vùng Trung Nguyên đều là đất của các dân
tộc khác mà người Trung Hoa gọi là rợ. Những vùng đất đó mãi cho đến đời Chiến
quốc, vẫn còn đang được chinh phục, ở phương Đông, còn ở phương Nam thì công việc
ấy mãi cho đến nhà Hán mới xong. Những nước nho nhỏ đó bị chiếm thì dân, lớp bị
đồng hóa, lớp bị lai giống với người Tàu, phải nói tiếng Tàu, giọng Trung
Nguyên, nhưng không nói y hệt được như người Tàu, họ nói khác không phải vì ở gần
hay ở xa Trung Nguyên như có người tưởng, mà vì họ khác chủng. (Lẽ dĩ nhiên là
ngày nay các nơi ấy nói gần giống Trung Nguyên hơn xưa bởi ảnh hưởng Trung
Nguyên như nhiều đợt sóng liên tiếp, cứ lan lần ra).
Các dân tộc bị lai giống và bị đồng hóa, nói tiếng Tàu lơ lớ,
chớ không phải là dùng một ngôn ngữ khác nào hết.
Mặc dầu vậy, nhóm man di nào cũng còn giữ được lối một trăm
danh từ Mã Lai như Phúc Kiến, Quảng Đông, Hakkas gì cũng còn nói tiếng Mã Lai hết.
Chính một trăm danh từ đó khiến thiên hạ hiểu lầm, ngỡ họ nói một ngôn ngữ
khác. Nhưng khác làm sao được khi chỉ còn sót có một trăm danh từ?
Trong các biểu đối chiếu, chúng tôi sẽ cho thấy rằng Quảng
Đông, Phúc Kiến vẫn còn nói tiếng Mã Lai, vì họ là Mã Lai đợt II, bọn
Austronésien không kịp di cư, ở lại biến thành Tàu.
Dân Trung Hoa rất lớn, nhưng đặc biệt hơn là dân Ấn Độ, là họ
chỉ có một bộ lạc độc nhứt, nên họ không bao giờ có phương ngữ như Ấn Độ đã có
hằng mấy trăm phương ngữ. Cái ngôn ngữ độc nhứt đó là Trung Nguyên ngữ, tức
Quan Thoại. Những giọng khác, quanh khu tam giác đó, không phải là phương ngữ
Hoa tộc mà là giọng sai của ngoại chủng bị đồng hóa.
Và công việc đồng hóa của họ hữu hiệu đến nỗi man di nào cũng
chỉ giữ được tối đa là một trăm danh từ chớ không hơn. Ta không có bị đồng hóa ở
Tây Âu, tức Quảng Đông, nên ta còn giữ gần đủ những danh từ Mã Lai.
Việc đồng hóa bằng cách thống nhứt giọng đọc được thực hiện
mãnh liệt nhứt, dưới đời nhà Tần.
Dưới đời nhà Tần, các địa phương phải gởi kẻ sĩ về Hàm Dương
để đọc giọng Quan Thoại và học lối viết thống nhứt do Lý Tư bày ra. Trở về quê
cũ, họ có phận sự dạy lại từ quan đến dân giọng ấy và lối viết ấy. Nhưng vì là
dị chủng nên dân địa phương đọc không giống lắm được theo ý muốn của Tần Thỉ
Hoàng. Tuy nhiên, chiến dịch ấy cũng làm cho họ mất luôn ngôn ngữ của họ.
Họ bị mất ngôn ngữ, nhưng không mất hết, còn dấu vết và nhờ
thế mà ta biết được vùng nào thuộc "man di" cổ thời nào.
Thí dụ người Quảng Đông có từ ngữ Chẩy nả, có nghĩa
là Mẹ con. Chẩy là tiếng Tàu Tử, còn Nả là
tiếng Mã Lai đợt II, tức Lạc bộ Mã.
Chàm: Ina
Việt: Nạ (Nạ dong)
Mã Lai Nam Dương: Inang
Vì là "man di" nên họ ghép tiếng Tàu Tử với
tiếng Mã Lai Nỏ, chớ Tàu thật thì không mắc chứng gì mà học tiếng Nả khi họ
đã có rồi tiếng Mẫu mà họ rất trọng.
Và vì là "man di" nên cổ Tây Âu mới bất kể luân lý
Khổng Mạnh, để con đứng trước Mẹ.
Đó là sự đề kháng tiêu cực của các man di xưa, nhưng đề kháng
tới mức nào, cũng không đương đầu được với chiến dịch thống nhứt ngôn ngữ của Tần
Thỉ Hoàng, hóa ra toàn cõi Trung Hoa đều nói một thứ tiếng với nhau, tuy có đọc
sai chút ít ở các địa phương.
Tóm lại, Hoa ngữ chỉ có Một, chớ không có nhiều phương
ngữ như chính họ cũng lầm tưởng. Sở dĩ được như vậy là nhờ:
Ưu thế ban đầu. Ở địa bàn cổ sơ của họ chỉ có độc một bộ lạc
chớ không có nhiều bộ lạc như chính họ cũng đã lầm tưởng (Xin xem chương Cái Họ
của Trung Hoa và Việt Nam).
Các chiến dịch làm mất ngôn ngữ "man di" ở các thuộc
địa, mà chiến dịch hữu hiệu nhứt là chiến dịch Tần Thỉ Hoàng.
Sự đọc sai chút ít là phương âm, chớ không phải là phương ngữ
như ai cũng tưởng. Và sự sống sót của lối một trăm danh từ trong mỗi nhóm man
di biến thành Tàu, không thể gọi là phương ngữ được vì nó quá ít.
Không kể giọng Trung Nguyên tức giọng Quan Thoại, tức giọng
Trung Hoa trung ương, chín giọng kia giúp cho ta truy ra các nhóm "ngoại
di" bị xâm lăng, bị lai giống và bị đồng hóa với Trung Hoa. Mỗi nhóm
"man di" đọc sai tiếng Tàu một cách khác nhau rõ rệt. Chúng tôi lấy tỉnh
Giang Tây làm thí dụ. Trong khi các tỉnh khác có một giọng rất thuần nhứt thì
giọng của tỉnh Giang Tây lại không thuần nhứt, thành thử biên giới "Man di"
ở đó coi vậy mà rất dễ truy tầm, hễ huyện nào đọc giọng Phúc Kiến thì mảnh đất
của tỉnh Giang Tây đó hồi cổ thời thuộc "man di" Mân, huyện nào đọc
giọng Quảng Đông thì mảnh đất Giang Tây nơi đó thuở xưa thuộc nước Tây Âu.
Đó là những "man di" quan trọng, đã lập quốc rồi,
chớ giữa các thứ man di ấy, còn vô số "man di" khác, ngày nay vẫn tồn
tại ở Trung Hoa, nhưng họ quá kém không hợp tác được nên rút lên rừng núi,
không nói tiếng Tàu nên không có giọng Tàu riêng, thí dụ người Mèo.
Người Tàu thuần chủng Tàu, may mắn hơn người Ấn Độ, và giống
Việt Nam vì họ không có những bộ lạc nói khác nhau quá nhiều như Ấn Độ cổ thời,
mà chỉ có độc một bộ lạc bành trướng mãi ra, như ta sẽ thấy ở một chương sau.
Chủng Mã Lai cũng may mắn như vậy, nhưng họ lại rủi ro mất địa
bàn liên tục ở Trung Hoa, chạy bậy chạy bạ rồi lai giống lung tung với thổ trước,
hóa ra tiếng Mã Lai không còn được thuần nhứt lắm như tiếng Tàu. Chỉ có những
nhóm Mã Lai nho nhỏ như Việt Nam mới là thuần nhứt với nhau mà thôi. Mã Lai
Java cũng thuần nhứt nhưng chỉ trong đảo Java, v.v.
*
Chúng tôi đã nói rằng Quan Thoại Bắc Kinh đã bị Mao Trạch
Đông sửa lại và gọi là Tân Âm, vì cái Quan Thoại trước họ Mao không đúng giọng
chánh gốc.
Nhưng cái Quan Thoại của Tần Thỉ Hoàng cũng chẳng đúng gì
hơn.
Ta cứ xem lại khu tam giác nói trên, nhau rún của Quan Thoại.
Đó là Lạc Dương, An Ấp và Tràng An.
Hàm Dương, kinh đô của Tần Thỉ Hoàng, không nằm trong khu tam
giác đó, nó ở dịch về phía Bắc của Tràng An lối 100 cây số.
Tuy nhiên, 100 cây số cũng không xa và Quan Thoại của Tần Thỉ
Hoàng gần với giọng chánh gốc hơn là Quan Thoại Bắc Kinh, chính vì sự kiện nó
không quá xa nhau rún của dân Tàu như Bắc Kinh, và cũng vì sự kiện không có
"rợ" tại Hàm Dương, như đã có "rợ" quanh Bắc Kinh.
Dầu sao, Quan Thoại Hàm Dương vẫn không phải là Quan Thoại
chánh gốc 100%, y như ở Bắc Việt, Hà Nội nói Con gà trống thì các tỉnh
ven biển nói Con gà sống.
Các thuộc địa "man di" nói không đúng Quan Thoại lắm,
vì họ là ngoại chủng, mà cũng vì giọng Hàm Dương không đúng là giọng chánh.
Nhưng mà cuộc thống nhứt giọng thì quả đã được thực hiện tới
một mức đáng kể, mà danh từ Xùi của Quan Thoại đã cho thấy:
Quan Thoại: Xùi
Quảng Đông: Xủi
Mân Việt: Chúi
Hải Nam: Tùi.
Trong các bản đối chiếu, chúng tôi lấy giọng Quan Thoại làm
căn bản, những giọng địa phương Trung Hoa, và cả giọng Hán Việt của ta chỉ là
giọng nhơn chứng (prononciation témoin). Nhưng các giọng khác, không phải là có
đủ mặt. Người Hồ Quảng, người Yên Tề không bao giờ để chơn tới xứ ta, thì ta
không cần biết họ làm gì.
Xem ra thì chỉ có ba giọng là có vào đất cổ Việt, đó là giọng
Quan Thoại của sĩ quan, của lính và của quan văn mà trung ương Trung Hoa đã gởi
tới trong dịp đánh dẹp hai bà Trưng. Kế đó là giọng Việt Nam Hải, tức giọng Quảng
Đông, và giọng Mân Việt vì dân hai địa phương đó có tới lui buôn bán với ta, hoặc
di cư đến để tìm sinh kế, từ cổ đến nay cũng y hệt như vậy. Chót hết là giọng
Ba Thục của người Hakkas và giọng Lạc Lê của người Hải Nam.
Trước khi trình bản đối chiếu chúng tôi xin nói thêm đến ba
ngộ nhận nữa về ngôn ngữ Trung Hoa.
Trong Việt Nam Văn Học toàn thư, quyển I, tác giả Hoàng
Trọng Miên viết: "Chữ viết và tiếng nói của Tàu là hai ngữ thể khác
nhau, ta học văn của họ chứ không theo ngôn ngữ họ".
Ngộ nhận thứ nhứt nằm ở đoạn thứ nhì của câu trên đây, là ngộ
nhận chung của toàn quốc chớ không riêng gì của ông Hoàng Trọng Miên.
Thử hỏi có một đế quốc nào bắt dân bị trị học tiếng của họ mà
không cần bắt họ theo đúng ngôn hay không? Đối với một đế quốc, chính cái việc
theo ngôn mới là việc cần thiết để lịnh của họ được hiểu, được tuân mau lẹ, và
để phổ biến ngôn ngữ của họ, việc phổ biến đó có lợi cho họ, chớ còn học chữ, học
văn, học triết, là chuyện xa vời, ta cố sức học, họ cũng cho ta học nhưng họ
không cố sức dạy mà chỉ nỗ lực ở mặt ngôn mà thôi, vì lý do chánh trị và kinh tế.
Không có tài liệu nào về vấn đề này cả, nhưng ta cứ suy luận
thì đủ rõ sự thật. Một ông thầy từ trung ương Trung Hoa đến dạy ta học tiếng
Tàu, sau khi Mã Viện tổ chức xong hành chánh. Ông ấy ra một câu:
Wò txửa fál
Nếu cậu học trò Việt Nam, thay vì lặp lại y theo ông thầy, lại
nói:
Ngã thực phạn
thì hẳn không có ông thầy nào trên thế giới này mà chấp nhận
cả vì cái lẽ không thể chấp nhận được, bởi ông ấy không biết ta lặp lại lời ông
ấy dạy ta hay là ta chưởi ông ấy.
Sự thật thì ta đã phải theo ngôn ngữ của họ y như dưới thời
Pháp thuộc, không khác một nét, nghĩa là người được học phải học đúng giọng đọc
của ngôn ngữ của kẻ thống trị, chỉ có bình dân mới nói tiếng Tàu ba trợn, nhưng
vì không ai dạy, chớ không phải là không theo ngôn của họ.
Nhưng câu văn của Hoàng Trọng Miên loại bỏ bình dân ra, vì có
vấn đề học văn (ý tác giả muốn nói học chữ, học tự dạng), như vậy
thì ngộ nhận càng lớn hơn bởi bọn có học, không thể nào mà không theo, và cứ đọc
ba trợn như bình dân mà yên thân với các ông thầy Tàu.
Sở dĩ sau rồi fál biến thành phạn chỉ vì
Tàu mất chủ quyền ở xứ ta, dưới trào Đinh Bộ Lĩnh; sự kiện đó xảy ra y hệt như
vậy tại Sài Gòn năm 1954 mà Pháp triệt thối toàn diện, và thiên hạ bắt đầu đọc
sai tiếng Pháp một cách buồn cười, kể cả vài kẻ có học.
Ngộ nhận trên đây kéo theo ngộ nhận thứ nhì là chủ trương rằng
ta biến tiếng Tàu thành tiếng Hán Việt để mỹ hóa những danh từ
vay mượn với cái giọng đọc không hay của Tàu.
Có ai chứng minh được rằng Hương Cảng hay hơn,
đẹp hơn Hướng Cỏn hay chăng? Và nếu quả Hương Cảng đẹp thì tại
sao, về sau ta lại bỏ Hương Cảng mà đọc là Hồng Kông? Hồng Kông đẹp
hơn Hương Cảng và Hướng Cỏn ở chỗ nào?
Địa danh Tức Mặc mà ta mượn của Tàu để đặt tên
cho một nơi của ta ở Bắc Việt, cũng hẳn là không đẹp hơn là Tục Ma nguyên
thỉ bởi Tức và Mặc gợi cái ý tức mình và mặc kệ thì
hơn gì Tục Ma?
Ta chỉ đọc sai mà thôi, chớ không hề mỹ hóa để làm gì cả, bằng
chứng là có những danh từ Trung Hoa, Quan Thoại đọc thế nào thì Hán Việt cũng đọc
thế ấy, không hề được biến dạng mà cũng không phải vì nó đẹp mà ta giữ nguyên,
ta không mỹ hóa, mà vì nó rất dễ đọc.
Không ai chứng minh được rằng Chít xão xấu hơn Chiên xào ở
chỗ nào, Điếm đẹp hơn Tiệm ở chỗ nào, thì quan niệm mỹ hóa
không đứng vững được.
Có nhiều học giả còn thử đưa bằng chứng mỹ hóa này nữa. Thí dụ
câu thơ:
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Họ nói nếu đọc theo Tàu Quan Thoại là:
Dỉt mél thảo wá chál quál hụng
thì ta chẳng nghe sao hết. Đọc theo Quảng Đông cũng thế. Còn
đọc theo mỹ hóa của Hán Việt thì nó thấm thía tận đáy lòng ta, đi vào tận tế
bào ta.
À, luận cứ trên đây thật là kỳ. Đọc theo Quan Thoại và theo
Quảng Đông thì ta hiểu sao được để mà đi vào tận tế bào ta kia chớ?
Đây là vấn đề hiểu và không hiểu, chớ không hề là vấn đề thuận
tai và nghịch tai. Dân ta không hiểu Dỉt mél, nhưng đã hiểu Nhân diện từ
hai ngàn năm nay, mặc dầu Nhân diện cũng chỉ là tiếng Tàu (đọc sai).
Chắc chắn là cho tới năm Đinh Bộ Lĩnh thu hồi độc lập, dân ta
vẫn phải ngâm thơ theo Tàu là:
Dỉt mél thảo wá chál quál hụng
vì người thống trị còn đó để không cho phép ta đọc là:
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Và hồi thời ấy ta đọc thơ theo Quan Thoại, ta vẫn nghe nó đi
vào tế bào ta được, y hệt như ta đọc bài thơ Milly ou la terre natale của
Pháp bằng tiếng Pháp, không có mỹ hóa gì hết. Tiếng Pháp không hề thuận lợi tai
của ta hơn tiếng Tàu. Đây chỉ là hiểu hay không mà thôi, và chỉ là đọc sai bậy
bạ vì dân thống trị đã đi mất, chớ không hề có việc mỹ hóa bao giờ.
Viết tới đây, một câu chuyện vặt nhưng rất ngộ nghĩnh và quan
trọng xảy ra tại nhà tôi. Một người bạn đi Đài Loan về, mang biếu tôi một phiến
đá nhỏ, trên đó có khắc một bài thơ Tàu, theo lối chữ thảo mà có hơn mười chữ
tôi đọc không trôi.
Sau khi người bạn tặng quà đi rồi thì nhiều bạn khác đến,
trong đó có một bạn Trung Hoa, một nhà nho và vài sinh viên Văn Khoa, cũng có học
chữ nho chút ít.
Tôi yêu cầu người bạn Trung Hoa ngâm bài thơ ấy nghe chơi.
Anh bạn ngâm rằng:
Chọt dìa xứng cưới, chợt dìa phúng
Hòa lầu xấy phùng quậy thoòng tùng
Tsần mà xổi phùng xướng phi dực
Dì dậu lìl xì dách tỉm túng.
Ngâm xong, anh bạn kêu lên: Hà! Cái lầy hay quá mà! Nhưng
chúng tôi không ai nghe hay cả. Tôi lại yêu cầu ông bạn nhà nho ngâm theo lối
mà thiên hạ gọi là mỹ hóa tiếng Tàu. Ông bạn già đó ngâm:
Tạc dạ tinh cư, tạc dạ phong
Hoa lâu Tây bạn quế đường Đông
Thân mà vô phượng, song phi dực
Như hữu linh tê nhứt điểm thông.
Hai anh bạn sinh viên bật cười, vì hai anh ấy chẳng thấy bài
thơ ấy hay chỗ nào cả, mặc dầu bao nhiêu tiếng Tàu trong đó đã được "mỹ
hóa" hết cả, nó cũng không đi vào tế bào của các bạn không tinh thông chữ
nho ấy được.
Vấn đề là hiểu hay không, chớ không phải là sự êm tai. Những
tiếng Tàu gọi là được mỹ hóa mà không được phổ biến thì ta nghe y hệt như tiếng
Á Rập. Thí dụ không thể chối cãi là hai anh bạn sinh viên ấy hiểu "Tạc dạ"
như là Tạc dạ ghi xương. Nhưng Tạc dạ ở đây có nghĩa
là Đêm hôm trước.
Tóm lại, sự thuận-tai-tưởng-tượng không làm cho ta cảm khái
chút nào hết thì không hề có vấn đề mỹ hóa cho thuận tai. Chỉ là đọc sai, chớ
không có việc cố ý mỹ hóa.
Sở dĩ câu:
Nhận diện đào hoa tương ánh hồng
mà đi vào tận tế bào của ta, chỉ vì đó là những tiếng Tàu đã
được phổ biến từ lâu, được ta hiểu y như ta hiểu tiếng Việt, còn cả bốn câu thơ
Đường được trích trên đây không cảm ta được vì có người không hiểu nó, bởi
trong ấy có nhiều danh từ chưa được phổ biến, nhứt là nhiều danh từ đồng âm dị
nghĩa với danh từ khác, làm rối loạn hết cả, phải thấy những chữ Tàu đó mới hiểu
được.
Nhưng ngộ nhận quan trọng nhứt là ở đoạn đầu câu của Hoàng Trọng
Miên. Đó là sự kiện "Chữ viết và tiếng nói của Tàu là hai ngữ thể
khác nhau".
Sự thật thì họ nói sao, viết vậy, hồi cổ thời, đến đời nhà
Hán, nhà Tần cũng còn như vậy.
Dân Trung Hoa chánh gốc, tức người Hoa chưa vượt sông Hoàng
Hà để tràn vào đất Việt lập ra nước Sở, dân đó là một thứ người rất ít nói, cả
đến ngày nay cũng thế, và họ ưa nói tắt. Đó là đặc tánh của các thứ dân ở xứ lạnh
và xứ khô cằn. Lòng dạ họ khô khan, họ không có gì cho nhiều để nói ra. Họ văn
minh rồi, họ cũng chỉ nói chuyện thực tế, theo lý trí, mà những loại chuyện đó
không tràng giang đại hải được, và trái lại nữa, càng nói ít, càng nói ngắn,
càng hay.
Tràn xuống phương Nam vào đất Việt ở Hồ Quảng, gặp khí hậu ấm
áp, phong cảnh tốt tươi và đất đai màu mỡ ở đó, lòng họ phong phú hơn, tánh họ
yêu đời hơn, họ nói nhiều hơn và nhứt là thấy rằng nói vắn tắt không ổn nữa, đã
diễn không hết ý, lại gây hiểu lầm.
Chính cái sự kiện diễn ý bằng nhiều tiếng hơn xưa này có khiến
cho văn không còn đi chung với lời nữa, văn viết theo cổ quá vắn tắt người dân
diễn ý thì lại bắt đầu dài dòng.
Nhưng tình trạng ấy chỉ mới xảy ra từ đời nhà Hán, còn trước
kia thì Tàu nói sao viết vậy, không ít hay nhiều hơn một từ nào cả, không bao
giờ có vấn đề hai ngữ thể khác nhau, cho đến đời nhà Hán.
Nhưng từ đời nhà Hán thì họ đã lớn mạnh ở phương Nam và chính
người Tàu phương Nam mới bắt đầu nói khác văn viết. Như vậy là quả có hai ngữ
thể khác nhau, mà cũng chỉ có trong một giai đoạn từ Hán đến Tống mà thôi, chớ
không phải luôn luôn có. Nhưng câu văn của Hoàng Trọng Miên lại làm cho ai cũng
hiểu là luôn luôn có. Nhưng không phải đó là lầm lẫn riêng của Hoàng Trọng Miên
mà đa số người mình đều tưởng như vậy.
Nhưng xét ra thì ngôn ngữ của nước nào cũng thế cả, không
riêng gì của Tàu. Nhưng thiên hạ chỉ ngộ nhận đối với trường hợp Tàu là vì nơi
các dân tộc khác người ta dùng chữ tượng âm, hễ ngôn ngữ biến thì văn cũng biến
theo, còn ở Trung Hoa thì văn không cần biến theo cùng lúc, người đọc chữ cũng
hiểu được cổ văn, nhờ nó là chữ tượng hình, thành thử chính quyền không buồn
cho văn biến theo ngôn vội.
Nhưng đến đời nhà Tống thì dân chúng tự động biến bằng cách tạo
ra Bạch thoại.
Ở đây lại xảy ra ngộ nhận nữa. Rất đông người Việt ngỡ Quan
Thoại là Bạch thoại. Nhưng không phải thế, Quan Thoại chỉ là giọng đọc
(Prononciation), còn Bạch thoại là lối hành văn (Style).
Bạch thoại là hễ nói dài thì cũng viết dài y như nói, chớ
không viết tắt như đã nói tắt hồi cổ thời, nhưng đọc thì cứ đọc y hệt như xưa.
Một câu văn viết theo hành văn Bạch thoại có thể đọc bằng giọng
Quan Thoại, bằng giọng Quảng Đông, bằng giọng Phúc Kiến, bằng giọng Hán Việt, y
hệt như một câu cổ văn.
Nhưng đừng tưởng là cổ văn đã biến mất, vì có nhiều lối nói cổ
thời vẫn được dân Tàu giữ nguyên, không biến khác, thành thử trong hành văn Bạch
thoại có nhiều đoạn y hệt như cổ văn, chớ không phải hoàn toàn khác 100% đâu.
Cứ lật một tờ báo ở Chợ Lớn ra đọc thử, ta thấy ngay là cổ
kim lẫn lộn, nhiều đoạn văn giống hệt như Sử Ký và Hậu Hán thư.
Nhưng một cái tin xe cán chó tại cầu chữ Y thì bắt buộc là phải viết theo hành
văn mới. Tàu xưa làm gì có danh từ cầu chữ Y, làm gì có ô-tô, có chó bị cán.
Nhưng khi quân đội Việt Mỹ dàn trải ra để chận tại Mõ Vẹt chẳng
hạn thì họ cũng viết như xưa, bởi xưa nay gì cũng chẳng nói khác nhau về chuyện
ấy cả.
Đó là nói về hành văn, nhưng tự dạng thì cứ vậy, trừ một cuộc
cải cách mới đây của Mao Trạch Đông là bớt nét cho những chữ quá rườm rà và bỏ
những bộ Khuyển, bộ Trãi, bộ Thỉ, trước tên các dân tộc, nhưng chuyện vặt ấy
cũng chẳng dính líu gì đến Bạch thoại vốn đã có rồi từ đời nhà Tống.
*
Hán Việt không được dùng để nói, không hề thành ngôn ngữ vì
nó không phải là ngôn ngữ của dân Lạc Việt (đó là bằng chứng dân này cứ còn có
mặt mãi mãi trên lãnh thổ của họ) với lại vì nó quá khó, các nhà đại trí thức
cũng không biết cho hết các danh từ Hán Việt. Trong Việt sử tiêu án, Ngô
Thời Sĩ, một bậc danh nho của ta mà còn phải thú nhận rằng không biết
cây Am la là cây gì. Nhưng nếu nói cây Muỗm hoặc cây Xoài thì toàn thể dân Lạc
Việt tức dân Việt Nam đều hiểu ngay tức khắc.
Hàng vạn tiếng Hán Việt đã thành hình, đủ nhiều để làm một
ngôn ngữ, nhưng không bao giờ thành ngôn ngữ cả, vì không ai mà nói chuyện với
nhau bằng loại tiếng đó, các quan đại thần, các nhà nho nói chuyện với nhau
cũng nói bảo vệ tiếng Việt, và chắc chắn là trong Hội nghị Diên Hồng chẳng hạn,
người ta nói với nhau bằng tiếng Việt.
Một yếu nhân Việt Nam nói rằng TIẾNG VIỆT do tiếng Quảng Đông
mà ra. Đó là sai lầm cùng loại với sai lầm của sử gia Nguyễn Phương nhưng có
thêm một chi tiết cố ý muốn xác thực hơn, là định rõ nguồn gốc tiếng ta là
phương ngữ Quảng Đông.
Mặc dầu có thêm chi tiết ấy, sự sai lầm vẫn không giảm phần
nào.
Đã bảo không bao giờ có tiếng Quảng Đông thì làm thế nào mà
tiếng Việt do tiếng Quảng Đông mà ra?
Xin nhắc rằng dân của nước ta xưa là dân Thái. Dân đó bị đồng
hóa thành người Tàu Quảng Đông. Và họ nói tiếng Tàu sai giọng chút ít. Không hề
có tiếng Quảng Đông.
Nếu nói có tiếng Tây Âu, tiếng Thái, thì được, nhưng nói có
tiếng Quảng Đông thì sai.
Còn một ngộ nhận nữa, và đây là ngộ nhận của toàn thể người
Việt, chớ không phải của riêng ai, nên ta cần xét lại kỹ hơn nhiều lắm.
Người ta bảo rằng tiếng Hán Việt do tiếng Quảng
Đông gây ra. Ở đây lại còn xác thực hơn trên kia nữa là Hán Việt chớ
không phải Việt ngữ.
Họ nói thế là vì họ thấy quả, để chỉ nước, Quảng Đông
nói Xủi, Hán Việt nói Thủy. Để chỉ con bò, Quảng Đông nói Ngầu, Hán
Việt nói Ngưu.
Nhưng khi ta tìm hiểu về thời Tần, Hán thì sự sai lầm lộ rõ
ra liền. Xủi hay Ngầu gì cũng chỉ là Quan Thoại đọc sai.
Nhưng sở dĩ ta sai rất gần lối sai của Quảng Đông là vì Quảng Đông là người Tây
Âu, tức Thái, tức Cửu Lê, bị Tàu đồng hóa. Họ đồng chủng với ta và sống giáp
ranh thì hai thứ dân ấy đọc Quan Thoại phải sai gần như nhau là một chuyện dĩ
nhiên, chớ không phải là Hán Việt do Quảng Đông mà ra.
Nhưng những người ngộ nhận như trên lại có một quan niệm sử
sai lầm. Họ tưởng Quảng Đông là Tàu mà là Tàu đã khai hóa ta.
Ở một chương trước, ta đã thấy rằng Tây Âu bị chinh phục trước
ta có một trăm năm. Vào năm Mã Viện đến đặt nền trực trị tại Cổ Việt Nam thì
dân Tây Âu đang bị đồng hóa, học chưa thuộc tiếng Tàu, thì làm thế nào đủ khả
năng đi khai hóa ta?
Chúng tôi sẽ trình ra một bản đối chiếu trong đó chỉ có ba thứ
tiếng: Hán Việt, Quảng Đông và Quan Thoại, thì ta thấy ngay là Hán Việt giống
Quan Thoại hơn là Quảng Đông.
Cuộc suy luận trên kia, có thể còn hồ nghi, nhưng bản đối chiếu
thì không thể cãi lại được vì nó là chứng tích cụ thể và rõ ràng.
Nhưng quả có lối một trăm danh từ Quảng Đông và Thuần Việt hoặc
Hán Việt giống hệt nhau, nhưng đó không phải là tiếng Tàu, mà là tiếng Mã Lai
mà cả hai nhóm Mã Lai Tây Âu, tức Thái, và Lạc Việt đều giữ được nhớ tinh thần
đề kháng. Viết chữ thì họ viết y hệt như Tàu, nhưng đọc thì họ lại đọc y hệt
như Mã Lai.
Thí dụ điển hình nhứt là danh từ Wài của Quảng Đông
và Vân của Hán Việt. Ai cũng ngỡ đó là tiếng Tàu. Nhưng không phải.
Tiếng Tàu, Mây họ nói là Diển, mà Diển không
là sao mà biến thành Wál được cả.
Đó là tiếng Mã Lai Awan có nghĩa là Mây, mà cả
Tây Âu lẫn Lạc Việt vẫn cố bám níu, mặc dầu họ viết chữ y hệt như Tàu.
Họ bám níu vào hàng vạn danh từ như vậy, nhưng Quảng Đông bị
trực trị và bị đồng hóa mạnh, nên đành phải bỏ rơi gần hết, chỉ còn giữ được có
lối 100 danh từ, còn Việt Nam không có chịu cái cảnh đó nên giữ được gần hết
danh từ Mã Lai.
Awan là danh từ của Mã Lai đợt II, còn Mây là
danh từ của Mã Lai đợt I. Ta dùng cả hai vì Việt Nam là Mã Lai hỗn hợp, nhưng
trong trường hợp Mây, ta dùng tiếng Mây để làm quốc ngữ và tiếng Awan để
đọc cái chữ Điền của Tàu, khác với các trường hợp khác, thí dụ trường
hợp Chơn và Cẳng. Chơn, danh từ Mã Lai đợt I, Cẳng, danh từ
Mã Lai đợt II, đều được ta dùng làm quốc ngữ, còn Túc thì ta đọc theo
Tàu với sự sai giọng chút ít.
Nhưng mà chỉ có Hán Việt thì mới gần giống Tàu Quảng Đông chớ
thuần Việt thì khác Quảng Đông như đen với trắng. Chỉ có những danh từ cổ Tây
Âu mà Quảng Đông còn giữ được, mới giống thuần Việt mà thôi, chớ Quảng Đông
Tàu, tức Quảng Đông ngày nay, thì tuyệt nhiên không giông.
Có thể nói cổ ngữ Tây Âu và Việt Nam kim ngữ giống
nhau vài ngàn tiếng, chỉ có thế thôi, hoặc nói một cách khác, Cổ ngữ Tây Âu và
kim ngữ Việt Nam là một.
Sự sống sót của mấy mươi danh từ Tây Âu cổ đó là sự tiêu cực
đề kháng một cách tuyệt vọng của dòng Mã Lai Bách Việt, họ gồm hai nhánh lớn nhứt
là nhánh Âu tức Thái, như đã chứng minh, và nhánh Lạc.
Thí dụ: Hai, Trung Hoa chánh gốc nói Ơl, đọc như Ơn
miền Bắc Việt, nhưng vì bị đồng hóa, dân Tây Âu để kháng lại, và tiếp tục nói
Dzi. Đó là tiếng Mã Lai gốc Tây Tạng mà tất cả các nhóm Mã Lai từ xưa đến nay đều
dùng. Riêng Việt Nam thì dùng của hai tiếng Mã Lai là Hai và Nhị.
Và Nhị không bao giờ là tiếng Hán Việt như ai cũng ngỡ. Ta cũng đề
kháng tiêu cực y như Tây Âu khi ta học tiếng Tàu, và cả hai, Giao Chỉ và Tây
Âu, đều không nói Ơn, Tây Âu chỉ dùng có một tiếng Mã Lai là Dzi còn Lạc Việt
thì dùng cả hai là Hai và Nhị.
Việt Nam: Hai, Nhị
Cổ ngữ Tây Âu: Dzi
Cổ ngữ Ba Thục: Nhi
Bà Na: Ngôi Hai
Cao Miên: Pi
Khả Lá Vàng: Bơ
Miến Điện: Ngi
Tây Tạng: Ngi
Trung Hoa không bao giờ có Nhi, Pi mà Ơn của họ cũng không thể
biến hóa thành Nhi, Pi được.
(Người Mân Việt, Tây Âu và Ba Thục, ngày nay thành Tàu hẳn rồi,
nhưng vẫn còn giữ Dzi, Nhi, Ni tức Nó).
Thí dụ: Khi Trung Hoa chánh gốc viết chữ và đọc là Chiều là
cái Cổ thì các nhóm Mã Lai Bách Việt lại không chịu đọc theo, sai chút ít như
các danh từ khác, mà cứ đọc chữ ấy bằng ngôn ngữ của họ và ngôn ngữ của
họ chỉ có một, nghe hơi khác, nhưng vẫn cứ đồng gốc Mã Lai.
Tàu Quan Thoại: Chiều
Mân Việt: Kẹ
Cổ Tây Âu (Quảng Đông): Kẻng
Thái ngày nay: Kủ
Việt Nam: Cổ
Cao Miên và các nhóm Thượng: Cổ, Co, Ko.
Tuy nhiên, người Tây Âu, người Mân Việt, người Ba Thục chỉ giữ
được có non trăm tiếng vì họ đã thành Tàu Quảng Đông, Tàu Phúc Kiến, Tàu Tứ
Xuyên tức Hakka, trong khi đó thì ta giữ được cả vạn danh từ.
Thế thì vài tiếng Hán Việt hoặc thuần Việt có giống Quảng
Đông, không hề có nghĩa là tiếng Việt do tiếng Quảng Đông mà ra.
Sử gia Nguyễn Phương hỏi khó: "Dựa vào đâu để chứng minh
rằng tiếng Việt ngày nay là tiếng Việt của người Lạc Việt?".
Ông hỏi rất nghiệt, vì ông đinh ninh rằng không ai trả lời được.
Nếu ai cắt cớ hỏi dựa vào đâu để chứng minh rằng tiếng Tàu ngày nay là tiếng
Tàu đời nhà Hạ thì chắc người Trung Hoa phải đầu hàng.
Nhưng rủi cho sử gia là có những người chịu khó học cổ ngữ
Tàu và cổ ngữ Việt, trả lời được.
Về ngoại ngữ Quan Thoại thì đã có sách Tây rồi, còn về cổ ngữ
Việt, xin lấy thí dụ sau đây. Ta có câu ca dao:
Tua Rua lặn, chết cá chết tôm.
Danh từ Tua Rua hiện ra trong nhiều câu ca dao tối cổ của ta,
ta không hiểu ngỡ đó là một danh từ riêng chỉ một vì sao, nhưng thật ra thì
không phải. Đó là hai tiếng riêng ra. Tua là danh từ tối cổ của bọn
Mã Lai lưỡi rìu chữ nhựt.
Rua kia, mới là danh từ riêng chỉ con sao Mang mà
Tàu gọi là sao Mão.
Theo Việt Nam thì câu ấy như thế đó.
Còn theo Mường thì:
Sao Mang lặn, chêt ka, chêt tum,
Theo Khả Lá Vàng thì:
Tua Rua lăn kêt aka, kêt tum
Có nhiều cái khoen nối kết cho thấy rằng tiếng Việt ngày nay
với tiếng Lạc Việt cổ sơ là một, giáo sư ạ!
Sử Tàu không có ghi chép vì về chuyện họ dạy ta học tiếng,
nhưng có ghi chép về những ông thái thú đầu như Tích Quang, Nhâm Diên, dạy ta học
lễ.
Nhưng không ai thử đặt ra câu hỏi này bao giờ: Họ dùng ngôn
ngữ nào để làm thừa ngữ (lannge véhicule)? Một nước thống trị dạy dân bị trị, hẳn
không dùng ngôn ngữ của dân bị trị để làm thừa ngữ bao giờ, trừ trường hợp độc
nhứt Mông Cổ và Mãn Châu vì họ là rợ, nên họ học và nói tiếng Tàu, mà đó là vì
tình thế kém cỏi của họ bắt buộc như vậy. Tình thế của Tàu trị ta thì khác.
Họ không dùng Việt ngữ vì họ không muốn dùng, mà cũng vì
không thể dùng, bởi họ đâu có buồn học làm gì. Hiện nay ở Chợ Lớn có đến 60 phần
trăm người Việt gốc Hoa, không biết tiếng Việt thì vào thời Mã Viện hẳn không
có chú nào biết hết.
Trong trường hợp này thì tiên học văn hậu học lễ vậy. Nhưng
ta học với ai? Quảng Đông không có cán bộ vì cái lẽ dễ hiểu rằng họ chỉ bị trị
trước ta có một trăm năm, họ học chưa xong, sức mấy mà họ làm thầy ta được.
Nhưng nếu Quảng Đông đã giỏi rồi, ta cũng không học với Quảng
Đông vì nếu Tàu cần gởi cán bộ họ không ngại tốn tiền xe đâu, bởi cán bộ vùng
nào, tới xứ Giao Chỉ cũng đi bằng chơn, không tốn tiền xe pháo gì hết thì họ phải
gởi người của kinh đô của họ, tức của thành Lạc Dương, bởi Quảng Đông đã nói tiếng
Tàu sai bét rồi như đã nói.
Nhứt định là ta học văn, học ngôn với cán bộ trung ương, hay
ít ra cũng với những cán bộ quê ở các vùng khác, nhưng được trung ương luyện giọng,
việc luyện giọng theo chương trình của Tần Thỉ Hoàng. Và vì vậy mà ta phải học
tiếng Tàu, nhưng giọng Quan Thoại, Quan Thoại xin nhắc lại là một giọng đọc, chớ
không phải là một ngôn ngữ, và nó đã có từ năm ngàn năm chớ không phải mới có
năm 1911.
Bản đối chiếu nhỏ dưới đây cho thấy thật rõ là Hán Việt do giọng
Quan Thoại mà ra, chớ không phải giọng Quảng Đông.
Hán Việt Quảng Đông Quan Thoại
|
Thú |
Xâu |
Xú |
|
Chinh |
Chil |
Chíl |
|
Khách |
Hẹc |
Khớ |
|
Huy (Chỉ huy) |
Fấy |
Húy |
|
Chủ |
Chuỷa |
Chủa |
|
Khảo |
Hảo |
Khào |
|
Thủ |
Thầu |
Thủ |
|
Quý (Báu) |
Quây |
Quý |
|
Đùi |
Thủi |
Thùi |
|
Hà (Sông) |
Hổi |
Hài |
|
Giá |
Ca |
Chá |
|
Chi (Phí) |
Chía |
Chi |
|
Bỉnh (Bành) |
Bẻng |
Bing |
Thế là rõ. Ta đã học với thầy trung ương Tàu, chớ không phải học với Quảng
Đông. Và rõ hơn nữa là không có vấn đề mỹ hóa gì hết ráo. Quy của
Quan Thoại vẫn được ta đọc là Quy từ cổ chí kim. Còn Hài bị
đổi thành Hà, không hề vì Hà đẹp hơn Hài bao giờ, mà vì tại
ta đọc bậy, sau khi Tàu mất chủ quyền.
Trở lại với lời khẳng định của sử gia Nguyễn Phương, xin đưa
ra một bản đối chiếu vài mươi danh từ Việt và Hoa, những danh từ này thì chắc
chắn là bà Trưng Trắc đã có rồi, bởi nếu không, ta chẳng hiểu bà làm sao mà
sanh hoạt được cũng như kêu gọi đồng bào của bà đứng lên chống xâm lăng.
|
Tiếng Việt Nam thuần túy |
Tiếng Hán Việt |
Giọng Mân Việt Phúc Kiến |
Giọng Việt Nam Hải Quảng Đông |
Giọng Quan Thoại |
|
|
||||
|
Trời |
Thiên |
Thi-i |
Thil |
Thél |
|
Đất |
Địa |
Tuô ôi |
Tẩy |
Ti-i |
|
Người |
Nhơn |
Náng |
Dzành |
Dỉl |
|
Ăn |
Thực |
Lim |
Xực |
Txửa |
|
Uống |
Ẩm |
Lim |
Dẩm |
Dil |
|
Nhà |
Ốc |
Xù |
Úc |
Úa |
|
Cửa |
Môn |
Mửn |
Mùi |
Mổl |
|
Ao (Chuôm) |
Từ (Đường) |
Tì (Tứng) |
Xi (Thòon) |
Sửu (Thản) |
|
Rào, Dậu |
Li |
Lỳ |
Lỳ |
Lỷ |
|
Ghe |
Thuyền |
Tsùng |
Xùi |
Tsoal, tsoải |
|
Sông |
Hà |
Hở |
Hỏi |
Hài |
|
Ruộng |
Điền |
Txil |
Thil |
Thẹl |
|
Mưa |
Vũ |
Hó |
Yũ |
Dia |
|
Nắng |
(Xem chú thích sau biểu Đ.C) |
|||
|
Gió |
Phong |
Hon |
Fung |
Fứng |
|
Mây |
Vân |
Cuổm |
Wàl |
Diển |
|
Núi |
San |
Xoa |
Xál |
Xál |
|
Nước |
Thủy |
Chúi |
Xủi |
Xùi |
|
Lửa |
Hỏa |
Huổi |
Phổ |
Khỏ |
|
Đá |
Thạch |
Chiu |
Xẹc |
Xửa |
|
Cây |
Mộc |
Pát |
Mục |
Mục |
|
Rừng |
Lâm |
Lím |
Lầm |
Lỉl |
|
Con chó |
Cẩu |
Cào |
Cẩu |
Cù |
|
Con heo |
Trư |
Tư |
Chuyá |
Chứa |
|
Con bò |
Ngưu |
Củ |
Ngầu |
Liểu |
|
Con ngựa |
Mã |
Bếc |
Mạ |
Mả |
|
Con mèo |
Miêu |
Ni-eo |
Méo |
Máo |
|
Con gà |
Kê |
Cu-ê |
Cấy |
Chía |
|
Con vịt |
Ấp |
À |
Ạp |
Dã |
|
Con cá |
Ngư |
Hi-ỉ |
Yũ |
Día |
|
Con chim |
Điểu |
Chéo |
Niêu |
Ni èo |
|
Một |
Nhứt |
Chi-ít |
Dzách |
Ý-i |
|
Hai |
Nhị;Lưỡng |
Nò |
Lượng; Dzi |
Léng; ơl |
|
Ba |
Tam |
Xa |
Xám |
Xái |
|
Bốn |
Tứ |
Xí |
Xi |
Xứa |
|
Năm |
Ngũ |
Ngóồ |
Ưng |
Wủ |
|
Sáu |
Lục |
Lác |
Lục |
Líu |
|
Bảy |
Thất |
Sic |
Xách |
Tsiá |
|
Tám |
Bát |
Bội |
Pạt |
Pá |
|
Chín |
Cửu |
Cáo |
Cẩu |
Chiều |
|
Mười |
Thập |
Cháp |
Xập |
Xửa |
Chú thích:
1. Ở cái ô tiếng Nắng của ta, không có các danh từ
Trung Hoa tương đương vì dân Trung Hoa không có tiếng ấy. Để diễn cái ý niệm Nắng của
ta, họ nói là Hong. Thí dụ: "Hôm nay nắng tốt", họ nói "Hôm
nay Hong áo thì tốt".
Họ có tiếng Hải mà ta biến ra thành Hạn và Hanh nhưng
không có nghĩa là Nắng. Hạn là không mưa. Hanh cũng không có nghĩa là Nắng.
Về sau họ có tiếng Thử, đúng là Nắng. Nhưng họ đã quen nói Hong, nên
tiếp tục không dùng Thử trong lời nói.
Hong của Việt Nam, Quan Thoại nói là Txai, Quảng
Đông đọc là Txao, Mân Việt đọc là Xọa, Hán Việt là Sái.
2. Cột tiếng Mân Việt không bảo đảm là thật đúng, không phải
vì chúng tôi không cẩn thận mà vì lẽ sau đây: Hiện người Mân Việt sanh sống tại
tỉnh Phúc Kiến, tại một số huyện ở tỉnh Quảng Đông, Giang Tây và Triết Giang. Họ
gồm đến 7 nhóm (Thất Mân) giọng nói hơi khác nhau chút ít, chẳng hạn có các
nhóm Dầu Phếl, Pháo Lết, Tìa Ía, v.v. rất khó biết là giọng nói của vùng nào là
thuần Mân, thành thử chúng tôi chỉ ghi vào đây một giọng mà thôi, giọng của
thành phố Phúc Châu.
Nhưng nếu có sai, chỉ sai như giọng Nam Việt đối với giọng Bắc
Việt chớ không khác hẳn. Vả lại sai đối với cái gì? Làm sao biết giọng nào thuần
Mân hơn giọng nào?
Nên nhớ rằng nhà Hán đã vét sạch dân Mân Việt, đầy đi Triết
Giang, còn đất thì bỏ không. Sau bọn bị đầy được trở về, nhưng đã rối loạn hết
cả rồi, không còn biết Mân nào chánh gốc Mân nữa.
3. Chúng tôi chủ trương rằng không hề có phương ngữ Trung
Hoa, mà chỉ có đọc một thứ tiếng Tàu đọc sai chút ít tùy vùng. Nhưng đồng thời
chúng tôi cũng cho biết có cuộc đề kháng tiêu cực của các quốc gia "man
di" cũ, nhưng rốt cuộc họ chỉ cứu vãn được mỗi địa phương có mấy mươi danh
từ và động từ thôi.
Thế nên trong biểu đối chiếu này quý vị đừng ngạc nhiên mà thấy
ở cột Mân Việt những danh từ và động từ Ăn, Uống, Nhã, Gió, Mưa, Mây, Đá,
Cây, Bò, Ngựa, Cá, v.v. của họ không giống Quan Thoại một cách xa gần gì hết.
Cột Việt Nam Hải cũng thế, những danh từ, động từ Gà, Vịt,
Hai, Năm của họ cũng không giống gần hay xa gì với Quan Thoại hết.
Đó là những danh từ, động từ cổ Tây Âu, cổ Mân Việt, gốc Mã
Lai, như chúng tôi sẽ chứng minh ở các biểu đối chiếu Việt, Mã Lai ngữ.
4. Danh từ Đất của ta, Trung Hoa đọc là Tì-i,
có vẻ do Trung Hoa mà ra lắm, nhưng các nhóm cổ Mã Lai đều nói:
Bà Na: Tẻ
Giarai: Tơ nả
Mường: Tất
Thái: P’tét
Cao Miên: Dây
Sơ Đăng: Tơ nẻ
Kơ Yong: Tơ nả
Mã Lai: Tanản
Hơn thế không lẽ dân Bách Việt Mã Lai phải đợi biết Trung Hoa
mới vay mượn một danh từ để chỉ một món mà dân cổ sơ nào cũng đã có tiếng để chỉ,
ngay lúc họ còn ăn lông ở lỗ?
Ta nhận thấy rằng âm Đ của ta do âm T của
Hoa và của Mã Lai mà ra thì không thể quyết đoán một chiều mà chọn Trung Hoa, bởi
các nhóm Cổ Mã Lai trên đây không hề thấy mặt người Tàu bao giờ, trừ Thái, Cao
Miên và Mã Lai.
Xem lại thật kỹ:
Trung Hoa: Tì-i
Việt Nam: Đất
Cao Miên: Đây
Mã Lai: Tnả
Không có bằng chứng gì để lôi kéo Đất vào Ti-i mà
hữu lý hơn là vào Tnả. Trái lại trong các nhóm Mã Lai có Đây (Cao
Miên) Tất (Mường) P’lét (Thái) Tẻ (Bà Na) có vẻ
là Đất hơn Ti-i rất nhiều.
Nếu quý vị lại còn cho rằng sự biến dạng trình bày như trên,
không rõ rệt lắm, thì xin nhắc lại rằng các nhà bác học ngôn ngữ đã tìm thấy những
cái luật biến dạng từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác, chẳng hạn như âm H biến
thành âm Ph rồi Ph biến thành BC.
Thí dụ dễ thấy nhứt là giữa ngôn ngữ Bà Na, Sơ Đăng và Việt
có sự biến âm này: tất cả các âm DĐ của họ biến thành NN vào âm Rađê, rồi biến
thành âm N vào âm Việt:
ĐĐỏ (Bà Na) = Nổ (Việt Nam)
ĐĐã (Sơ Đăng) = Nẻ (Việt Nam)
ĐĐẮK (Bà Na, Sơ Đăng) = Nước (Việt Nam)
Mà cả nơi người Mường, được xem là nói tiếng Việt Nam, Nước cũng
còn ở dưới hình thức Đak (chỉ còn có một chữ Đ mà thôi).
Ngay trong Việt ngữ ta mà Trời còn biến thành Giời.
Năm ngày còn biến thành Dăm ngày
Hai mươi năm - Hai mươi lăm
Và hai mươi lăm - Hăm lăm
phương chi là giữa hai ngôn ngữ của hai dân tộc.
Như vậy kết luận rằng Đất do Đây, Tất, Tnả mà
ra, ít gượng gạo hơn là do Ti-i của Trung Hoa mà ra.
5. Qua biểu đối chiếu hạn chế trên đây, ta không thấy tiếng
Việt nào do tiếng Tàu trung ương chánh gốc, tức Quan Thoại, hoặc Mân ngữ, hoặc
Quảng Đông mà ra cả.
Ta chỉ thấy trong bản liệt kê trên, có một tiếng Việt độc nhứt
là hơi giống tiếng Trung Hoa mà thôi, đó là tiếng Mèo. Nhưng MÁO hay MÈO của
Trung Hoa đều là tiếng nhại giọng (ONMATOPÉE), mà nhại giọng thì dân tộc nào
cũng nhại gần giống nhau thì Mèo của ta, có giống MÈO của Trung Hoa, chẳng qua
là sự trùng phùng trong việc nhại những tiếng động làm thiên nhiên, những tiếng
kêu của cầm thú.
Còn một tiếng nữa, đó là tiếng Hai. Sử gia Phạm Văn Sơn
trong Việt sử tân biên, mặc dầu không chủ trương như sử gia Nguyễn Phương,
vẫn ghi rằng HAI là tiếng Trung Hoa. Nhưng có lẽ sử gia họ Phạm đã nghe không
rõ giọng trong khi tìm tài liệu, chớ Trung Hoa trung ương (Quan Thoại) hay địa
phương, không ai nói HAI cả (Xin xem lại biểu đối chiếu. Vả lại dân Lạc Việt có
số 1, số 3 đến số 10, lẽ nào lại không có số 2?).
Cho đến tiếng Nhị mà ai cũng ngỡ là của Trung Hoa
cũng không phải là của Trung Hoa, mà đích thị là của Bách Việt. Trong Hoa chỉ
có Ớt và Lèng tức Lưỡng, Dzi, Nhị đều là Bách Việt
Mã Lai chánh gốc Tây Tạng, Tây Tạng đọc là Gui như đã trình bày.
Những danh từ Việt Nam Hải: Dzi Ạp, những danh từ Mân Việt À,
Cuổm, Cu ê, Hi ỉ, Lím không giống tiếng Trung Hoa chánh gốc thật đó, nhưng
đó là mấy mươi danh từ hiếm hoi mà Mã Lai, Bách Việt Mân (tức Phúc Kiến)
và Mã Lai Bách Việt Tây Âu (tức Quảng Đông) còn giữ được, nhưng nó quá hiếm
hoi, chớ không như ngôn ngữ của ta (xin xem chi tiết về những trường hợp vài
mươi danh từ Bắc Việt Mã Lai còn sót lại ở ngôn ngữ Trung Hoa tại Hoa Nam, từ Hồ
Bắc xuống tới Quảng Đông tỉnh lỵ ở những trang sắp tới đây.
Trên đây là những tiếng chỉ những gì thường thấy, đến như những
gì ít khi thấy, ta cũng có danh từ thuần Việt của ta. Thí dụ Bão tố. Quan
Thoại nói: Tá Fứng, Quảng Đông nói Tài Fúng. Mân Việt nói Toa
Hon, Hán Việt nói Đại Phong, nhưng Việt thì nói Bão tố hoặc Gió
lớn hoặc Biển động mạnh, hoặc gì gì khác, nhưng không hề mượn của
Trung Hoa. Cho đến Pháp cũng vay mượn của Tàu và nói Typhon, nhưng ta thì
không.
Chúng tôi cứ nhìn mãi vào bản đối chiếu riêng rất dài của
chúng tôi, để thử xem sử gia Nguyễn Phương có tìm được dấu vết cũ nào khác binh
vực cho hay không.
Có, chúng tôi có tìm được lối 10 tiếng rất có vẻ Việt cổ
nhưng truy ra thì đó là tiếng Tàu. Chẳng hạn tiếng ĐÙI. Quan Thoại, tức Kinh đô
Trung Hoa đọc là THÙI, Hán Việt đọc là THÔI. Ai cũng cứ ngỡ ĐÙI là cổ Việt ấy
chớ. Cuộc khám phá nho nhỏ này làm cho những vị tin theo chủ thuyết Nguyễn
Phương mừng lắm. Nhưng xin chớ vội mừng. Quả thật Đùi là tiếng Trung Hoa. Nhưng
cổ Việt có một tiếng tương đương. Tiếng ấy thuần Việt. Đó là danh từ Bắp vế.
ĐÙI được dùng song song với BẮP VẾ, tiếng Lạc Việt giàu thêm
một danh từ mới, nhưng họ vẫn có sẵn danh từ căn bản ấy rồi.
Chúng tôi lại tìm được vài ba tiếng nữa mà chúng tôi không giải
thích được dễ dàng như trên kia, nhưng có vài ba danh từ trong bao nhiêu ngàn
danh từ thì làm sao binh vực cho thuyết Nguyễn Phương được? Thí dụ tiếng BẾN (Bến
sông) Quan Thoại đọc là Pin. Chúng tôi không tìm được một danh từ thuần Việt có
nghĩa tương đương với Bến.
Nhưng như thế, cũng không thể bảo rằng tiếng Việt do tiếng
Tàu mà ra, vì cái lẽ là dân Lạc Việt đã giỏi chèo thuyền, đã di cư bằng thuyền
biển trên một lộ trình 10 ngàn cây số, đã biết làm ruộng dựa các bờ sông thì lẽ
nào lại không có một danh từ chỉ cái BẾN là danh từ sơ đẳng?
Bạn hữu của chúng tôi cho rằng đó là một sự trùng phùng hai động
từ khác nhau, không hề tiếp xúc nhau, có thể có vài danh từ giống hệt nhau.
Nhưng tôi không dám nói như vậy, mặc dầu kiến giải đó rất đúng và thú nhận rằng
mấy danh từ thuộc loại BẾN là một bí mật cần được các nhà ngôn ngữ học khám phá
ra.
Chúng tôi đã nỗ lực suốt mấy tháng để tìm nguồn gốc kỳ lạ của
tiếng BẾN và đã tìm được.
Cái bến, tiếng Mã Lai là Păngka cũng có thể lôi kéo
vào Bến, nhưng Bến lại giống Pin của Tàu hơn, nên
chúng tôi lương thiện không lôi kéo liều lĩnh. Dân Mã Lai ở Johore nói là Pang thì
còn gần hơn là Păngka nữa. Người Cao Miên nói là Kampong, người
Thái nói là Pong, tất cả đều có thể lôi kéo vào Bến, nhưng Pin của
Quan Thoại vẫn cứ giống Bến hơn là Pang, Pong, Pung.
Ở đây, sự lương thiện rất cần thiết. Thí dụ danh từ Hộp:
Việt Nam: Hộp
Giarai: Hip
Chàm: Hop
Mã Lai: Brhop
Ta có thể lôi kéo Hộp vào Brhop được, nhưng chúng
tôi cứ cho là Mã Lai vay mượn của Tàu, y như ta, và vay mượn tại Nam Dương chớ
không phải hồi còn là Bách Việt Hoa Nam, và tất cả đều vay mượn Hap của
Trung Hoa, bởi trong hàng ngàn món đồ bằng đồng pha Đông Sơn không có cái hộp
nào cả, mà chỉ có bình có nắp đậy, thì chắc chắn ta chưa biết chế tạo cái hộp
trước khi Mã Viện đến.
Thoạt tiên, chúng tôi lập ra cái giả thuyết rằng người Trung
Hoa cưỡng bách chúng ta nói tiếng Tàu. Khi ta độc lập rồi, ta bỏ tiếng họ, nói
tiếng ta, nhưng quên loại một mớ danh từ. Nhưng rồi chúng tôi thấy rằng giả
thuyết của chúng tôi đứng không vững. Nếu có sự cưỡng bách nói trên, thì sau
hơn một ngàn năm, không thể còn tiếng Việt được đâu. Họ có bắt ta nói tiếng Tàu
phải giống Tàu, nhưng không hề có bắt ta chỉ được phép nói tiếng Tàu.
Kỳ lạ nhứt là khi chúng tôi nhờ người Tàu viết chữ Bến bằng
tiếng Tàu, thì luôn luôn họ viết cái chữ mà các nhà nho ta đọc là Tân.
Họ đọc là Pín, nhưng sao trí thức đời xưa của ta lại đọc
sai quá xa, đọc là Tân, còn chính dân chúng lại đọc gần đúng là Bến?
Thế nên chúng tôi rất bận bịu với Păngka và Pang của Mã
Lai nhiều lắm, và rất khổ mà không nối kết được Pang = Bến.
Nhưng vài thí dụ khác lại làm cho chúng tôi không dám nối kết
liều với Mã Lai.
Cái Tủ, Quan Thoại viết và đọc là Tu, dân
chúng nhại gần đúng, nói là Tủ. Nhưng các nhà nho lại đọc sai quá xa
là Độc.
Thế thì Tân có thể cũng ở trong trường hợp đó và quả
dân chúng đã mượn Pín, chỉ tại các nhà nho đọc bậy bạ thôi.
Chúng tôi tạm lập ra ức thuyết này là những tiếng Tu,
Pín, phạm húy trào đại đầu của ta sau thời đô hộ, chẳng hạn mẹ của Đinh Bộ Lĩnh
tên là Bín hay Bính gì đó chăng và em của Đinh Bộ Lĩnh tên là Tu?
Mà xin đừng tưởng rằng các nhà nho đọc theo Quan Thoại xưa,
còn dân chúng đọc theo Quan Thoại nay. Không. Quan Thoại xưa đã có biến, nhưng
người ta đều biết rõ nó biến ra sao và dân ta theo dõi Tàu bén gót. Khi Quan
Thoại biến Vút ra Fô thì ta cũng biến Bụt ra Phật.
Riêng cái danh từ Độc này thì bằng chứng lại rất chắc
chắn hơn, là dưới trào Hán, mà Mã Viện chinh phục ta, Tàu đọc là Tu thật
sự.
Quả thật thế, vào thời ấy họ vừa biết được nước Ấn Độ. Nước ấy
tự xưng là Hanh Đu, và họ phiên âm gần đúng là Tsân Tu, chỉ các nhà
nho ta là đọc sai là Thân Độc. Nhưng cái sai đó, chỉ mới xảy ra vào thời
Đinh Bộ Lĩnh, nếu thuyết của chúng tôi mà đúng, còn trước đó ta vẫn đọc
là Hanh Tu, để cho đúng với giọng Tàu vì kẻ thống trị bị bắt buộc như vậy.
(Có một người bạn nói rằng danh từ Bến của ta do
danh từ Bạn của Hán Việt mà ra. Như thế thì rất ổn. Nhưng khi tôi yêu
cầu nhiều người Trung Hoa viết tên BẾN ra chữ Hán thì luôn luôn họ viết chữ TÂN,
không bao giờ có chú nào viết chữ Bạn hết).
Người bạn ấy cũng tiếp tục luận điệu đó và nói Chợ do Thị mà
ra. Đành vậy. Nhưng danh từ CHỢ không thể dùng làm tài liệu căn bản được, như
đã giải thích rồi. Lúc tiếp xúc với Tàu, ta chưa biết Chợ là gì thì ta phải mượn
danh từ ấy của họ. Chỉ có những danh từ gọi là Vietnamese Basic mới có giá trị
khảo cứu trong vấn đề này. Ta có hay không có những danh từ chỉ những thứ nằm
chung quanh ta, trước khi Trung Hoa xâm lăng ta? Những danh từ chỉ những món mà
văn hóa Trung Hoa đưa tới không được phép kể vào đây. Và những tiếng sơ đẳng
tìm thấy được, có đủ nhiều để thành một ngôn ngữ hay không? Ngôn ngữ gốc của
dân tộc là như thế đó, chớ không phải những tiếng vay mượn về sau.
Cũng như bao nhiêu học giả khác, sử gia Nguyễn Phương đã lẫn
lộn tiếng Hán Việt và tiếng Việt thuần túy. Hoa là tiếng Hán Việt do
tiếng Quan Thoại Wá mà ra. Quả là tiếng Hán Việt do tiếng
Quan Thoại Quò mà ra. Nhưng tiếng Việt thuần túy là BÔNG và TRÁI ấy
chớ. Mà Bông là do danh từ Mã Lai Bônga mà ra đấy. Người Chàm được
các ông Tây cho là gốc Mã Lai chánh hiệu, nhưng thật ra thì họ ít chánh hiệu
hơn ta vì danh từ Mã Lai Bôn ga này được người Chàm đọc là Bngư thì
tức là đọc sai hơn Việt Nam quá nhiều.
Theo thuyết Nguyễn Phương thì ta, tức Tàu thuần chủng vì lai
Chàm, nên ngôn ngữ hơi khác Tàu. Nếu quả đúng như vậy sao ta lại không gọi Hoa là Bngư như
kẻ lai giống với ta, mà là đọc gần đúng với một kẻ ở rất xa là Mã Lai?
Chỉ có người Việt mê Tàu mới dùng Hán Việt, còn người thường
thì họ nói tiếng Việt thuần túy. Họ nói: đâm bông kết trái, thay vì nói đâm hoa
kết quả.
Nếu phân biệt minh bạch Hán Việt và thuần Việt thì không còn
chủ trương tiếng Việt là tiếng Tàu được nữa, vì người Tàu không có lý do để vay
mượn hai danh từ Bông và Trái của "Mọi" như giáo
sư Nguyễn Phương đã tưởng.
Chỉ có tiếng Hán Việt mới do tiếng Tàu mà ra, vậy có Việt ngữ
thuần túy không? Nhưng tiếng Hán Việt đâu có phải là ngôn ngữ mà dân Việt Nam
dùng để nói. Họ nói bằng tiếng Nôm, tức bằng một ngôn ngữ khác, hoàn toàn không
phải là ngôn ngữ Trung Hoa biến dạng.
Nhưng chúng tôi dám quả quyết rằng ta mới chỉ sính tiếng Hán
Việt về sau đây mà thôi, còn trước thì không.
Trong Việt Nam văn học sử yếu, trang 188, cụ Dương Quảng
Hàm cho rằng có "vài tiếng ngoài Bắc dùng mà trong Nam ít dùng hay không
biết hẳn, thí dụ hoa, quả, thuyền…".
Sự thật thì không phải là người trong Nam không biết đâu. Chỉ
tại họ không dùng đó thôi. Mà tại sao vậy?
Giải thích được tại sao người miền Nam không nói Hoa, Quả,
Thuyền thì ta sẽ chứng minh được rằng hồi xưa cả người miền Bắc cũng không
nói Hoa, Quả, Thuyền kể cả trong thời Bắc Việt bị Tàu đô hộ, mà vẫn
nói Bông, Trái, Ghe y như miền Nam.
Ta có thể hiểu rằng vào thời đó Bắc Bố Chính và miền Bắc cũng
đều nói Bông, Trái và Ghe, chớ chưa nói Hoa, Quả và Thuyền,
bằng chứng là trong ngôn ngữ miền Nam, lắm danh từ cổ, gốc Bắc rõ rệt, mặc
dầu thuở ấy dân của chúa Trịnh không có di cư vào. Thí dụ: Họ nói Chỉ,
nhưng lại nói ngón tay trỏ, họ nói hàng rào, nhưng cũng nói rào
giậu, họ nói con heo, nhưng họ chế tạo một thứ bánh tên là bánh da lợn,
họ nói Cây, nhưng đặt tên một thị trấn nhỏ kia là Bến Gỗ, họ
nói khoai mì, khoai bàng, nhưng đặt tên một làng quan trọng kia là
làng Bến Sắn, họ nói làm mướn, nhưng cũng lại nói làm thuê.
Ta làm sao cắt nghĩa được hiện tượng đó? Chỉ có một lối giải
thích là vào năm 1668, người Bắc Bố Chính ăn nói y hệt như Bắc Việt, còn Nam Kỳ
thì nói hệt theo Bắc Bố Chính.
Nhưng Bắc Việt thay đổi, mà lưu dân miền Nam không hay biết,
cứ tiếp tục nói như vào năm 1668, chớ quả thật chính họ không hề phát minh ra
hai danh từ Bông, Trái và Ghe. Ba danh từ đó, cổ Giao Chỉ đã có,
và đó là danh từ Mã Lai.
Một nhà học giả miền Nam cho rằng những kẻ càng đi xa, càng
giữ gốc (cụ Vương Hồng Sển, trong một bài diễn văn), nhưng cụ Vương không cắt
nghĩa được tại sao mà như vậy.
Sự thật thì không phải họ là công dân tốt, quyết tồn cổ,
thích bảo vệ dân tộc tính đâu, mà vì họ không hề hay biết gì về những biến đổi
xảy ra ở đất tổ
Chúng tôi đã tìm được dấu vết làm bằng chứng trong quyển Thi
văn đời Trần của hai vị giáo sư Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toãn.
Ta sẽ thấy rằng vào đời Trần, người Bắc Việt nói Bông thay vì Hoa.
Ở trang 11, có hai câu ca dao:
Bao giờ đến tháng Giêng Hai
Trồng bông, trồng đậu, trồng khoai kịp thì.
Hai câu trên đây, sách nào cũng có, nhưng chúng tôi chỉ trích
ở sách trên vì hai vị giáo sư ấy rất cẩn thận trong việc trích lục, ta không lo
người trích lục tự ý sửa đổi theo thời trang, theo địa phương hiện đại. (Các
sách khác đã tự ý sửa Bông ra Hoa).
Ở hai câu ca dao trên đây, không thể bảo rằng những ông tác
giả vô danh đã phải dùng chữ bông để giải quyết một vấn đề bằng trắc,
bởi bông hay hoa gì cũng là vần bằng cả.
Còn nhiều bằng chứng nữa. Đọc quyển sách Sổ sang chép
các việc của cố đạo P. Bỉnh ghi ký năm 1822 tại Bồ Đào Nha, cố đạo là người
Hải Dương, tức người miền Bắc, ta thấy cố đạo viết Bông, Trái thay
cho Hoa, Quả, viết dù, thay cho ô, viết muỗng thay thìa,
y hệt như người miền Nam, mà cố đạo thì không có đi giảng đạo ở miền Nam bao giờ
cả.
Vậy đã có bằng chứng rằng miền Bắc chỉ dùng Hán Việt thay cho
thuần Việt mới đây thôi. Nhưng vì lý do nào, và từ năm nào thì ta cũng biết được.
Ông L. Bézacier, trong quyển "L’Art Vietnamien" đã
cho thấy và giải thích hiện tượng kỳ dị đó. Ông ấy là quản thủ các di tích lịch
sử Việt Nam cho tới năm 1945, chuyên nghiên cứu và bảo trì các đền, đình, cung,
tự cổ của ta và nhận thấy rằng những kiến trúc đó, càng cổ, càng mang biệt sắc
Việt, càng kim, càng mang biệt sắc Hoa, và kiến trúc Trần, Lê ở đất Bắc rất Việt,
còn kiến trúc Nguyễn ở miền trung thì rất Hoa, vì kiến trúc Nguyễn được xây cất
sau cùng hết.
Ông ấy giải thích rằng sự xâm nhập văn hóa Tàu đi ngược chiều
với tinh thần chống ngoại xâm. Khi vững chủ quyền, ta càng tiêm nhiễm văn hóa
Trung Hoa vì ta cần kiện toàn văn hóa của ta bằng sự vay mượn, và ta không ngại
vay mượn, bởi mối nguy xâm lăng đã bị đẩy lùi đi xa rồi. Tất cả kiến trúc của
trào Nguyễn sau 1700 đều rập y khuôn Trung Hoa, không khác một nét, còn kiến
trúc Lý, Lê, Trần thì là Việt Nam hơn nhiều.
Sự rập khuôn này ắt không do áp lực của kẻ thống trị bởi ta
đã độc lập từ lâu (không kể 14 năm của nhà Minh), mà do sự thán phục nó kéo
theo sự bắt chước, và phải mất ngót 800 năm, bắt chước mới y hệt được (về kiến
trúc) và sự bắt chước văn hóa Trung Hoa mạnh nhứt bắt đầu từ thời xây cất Văn
Miếu ở Hà Nội, đến thời tôn sùng các ông Nghè vào triều Lê, những ông Nghè mà
Nguyễn Huệ khi ra đất Bắc đã mỉa mai rằng: "Xứ này chỉ có ông Nghè là quý
nhứt".
Đành rằng ông Nghè không dùng được vào việc gì hết nhưng đó
là sự tượng trưng cho nền văn hóa mà vua chúa ta xưa khâm phục.
Ngôn ngữ cũng chạy theo cái đà bắt chước đó, từ năm 1668, trước
kia vào thời Lê Đại Hành, Đinh Bộ Lĩnh, dân ta ở đất Bắc cũng nói Bông,
trái, ghe.
Đó chỉ là một lối giải thích của ông L. Bézacier, nghe thì rất
hữu lý nhưng chúng tôi cần tài liệu cụ thể để khỏi sai lầm. Chúng tôi tìm tòi
và tìm được bằng chứng, chớ không phải là suy luận như ông L. Bézacier nữa.
Sự kiện ngôn ngữ Việt chạy theo Hoa ngữ, chỉ mới xảy ra đây
thôi, vào năm Mãn Châu xâm lăng Trung Hoa.
Bản dịch Khâm định Việt sử thông giám cương mục của
giáo sư đại học Sài Gòn, ông Langlet đã cho ta biết nguyên do thay đổi kỳ dị ấy.
Khi Mãn Châu xâm lăng Trung Hoa thì bọn lưu vong nhà Minh
tràn sang Bắc Việt 10 lần đông hơn ở Nam Kỳ mà dân ta không hay biết. Ở Nam chỉ
có ba ngàn quân của bọn Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Dịch mà sách vở ta cứ nói đến
mãi không thôi, trong khi ấy thì Bắc Việt bị xâm nhập đến 50 ngàn.
Khâm Địch cho biết rằng chúa Trịnh đã lo lắng nhiều, thi
hành nhiều biện pháp để chặn đứng ảnh hưởng bọn ấy, họ chi phối cả ngôn ngữ
của ta nữa.
Đó là một điều vô cùng mới lạ mà bản dịch Langlet cho biết và
hoa, quả, thuyền, thìa đi vào Việt ngữ là vì vậy, và chỉ mới đây mà thôi, và chỉ
tại ở đất Bắc mà thôi.
Chúng tôi cho rằng giáo sư Nguyễn Phương lẫn lộn Hán Việt và
thuần Việt nên mới chủ trương như vậy. Chúng tôi tưởng là thế vì giáo sư chỉ khẳng
định mà không có đưa ra thí dụ nào, hoặc bản đối chiếu nào hết để giúp ta biết
giáo sư muốn nói đến tiếng Hán Việt hay thuần Việt.
Nhưng một người bạn Trung Hoa của chúng tôi thì có nói để
chúng tôi thoáng hiểu rằng tiếng Sông do tiếng Tàu Súng mà
ta đọc theo Hán Việt là Dõng mà ra, và Tàu đọc là Súng. Nhưng
chúng tôi kiểm soát lại thì không phải thế. Quan Thoại đọc là Dõng ra Dùng.
Quảng Đông cũng vậy. Mân Việt đọc là Yủng. Không có nhóm nào đọc là Súng hết.
Vả lại Dõng không hề có nghĩa là Sông, và xin
lấy tự điển Từ Hải làm bằng: "Suối nào ở dưới đất trào lên
là Dõng".
Từ Hải lại trích quyển Nhỉ Nhả, một thứ từ điển tối
cổ đời Chu: "Lạm tuyển xuất tức Dõng" nghĩa là "Suối chảy mạnh
là Dõng".
Từ Hải lại trích Hách Dục Hanh: "Nước: từ đất phun
lên là Dõng". Thế là Puits Artésiens rồi vậy.
Tóm lại, Dõng không hề có nghĩa là Sông, cả
vào cổ thời, và Trung Hoa cũng không đọc là Sông bao giờ, và danh từ Sông là
danh từ của ta rặc ròng, gốc Mã Lai Bách Việt, như ta sẽ thấy ở các biểu đối
chiếu.
Người Trung Hoa chỉ có 5 danh từ để chỉ Sông, đó
là Xuyên, Hà, Giang, Thủy và Phố.
Nên biết rằng vào cổ thời Hà và Giang là
danh từ riêng đấy, dùng để chỉ sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, chỉ có về sau,
có lẽ trước đời Tống, hai danh từ đó mới biến thành danh từ để chỉ sông.
Hai danh từ chỉ sông của Tàu là Thủy và Phố.
Đó là tình trạng cổ thời. Ngày nay thì Hà và Giang dùng
để chỉ sông to, còn Thủy và Phố dùng để chỉ sông nhỏ.
Trong Thủy Kinh Chú thì tác giả là Lệ Đạo Nguyên gọi
tất cả sông của nước ta là Phố.
Không hề thấy sách cổ hay sách kim nào của Tàu gọi sông của
ta là Dõng. Mà sông bên Tàu cũng không có cái nào được gọi là Dõng.
Như vậy không có lý nào mà khi dạy ta học, họ lại dạy tiếng Dõng mỗi
lần nói đến một con sông lớn hay nhỏ của ta mà họ không khinh rằng nhỏ như cái
suối Dõng của họ. Và xin nhắc lại rằng không có nhóm Trung Hoa nào đọc Dõng là Súng cả.
*
Chúng tôi có ám chỉ đến giáo sư ngữ học Lê Ngọc Trụ, và xin
trở lại với giáo sư họ Lê.
Giáo sư họ Lê viết sách trước giáo sư Nguyễn Phương đến 10
năm, không có chủ trương chủng tộc nào hết, nhưng giáo sư đã thấy sai rằng hầu
hết tiếng Việt đều do Tàu mà ra.
Một thí dụ khả nghi hơn hết là tiếng Dừa giáo sư họ
Lê đã đưa ra một ngữ nguyên động trời nói Dừa do tiếng Hán Việt Da mà
ra.
Bên Tàu không có cây Dừa. Nước Việt Nam là quê hương của Dừa.
Thế thì tại sao người Việt Nam lại không có danh từ chỉ loại cây ấy mà lại phải
vay mượn của một dân tộc không có cây dừa?
Giáo sư họ Lê đã lầm lẫn vai trò chủ nợ và con nợ, không biết
ai vay của ai, nên mới nói như thế cho hàng ngàn danh từ như vậy, và cứ bằng
vào sách của giáo sư họ Lê thì khó có ngôn ngữ Việt, vì danh từ Việt sơ đẳng nhứt
là Dừa cũng là của Tàu.
Người Tàu vay mượn cái gì của ai, vào thời nào, ta đều biết
được hết một cách chắc chắn. Ở Đông Nam Á chỉ có dân tộc Việt Nam là gọi trái ấy
giống Tàu mà thôi. Ta gọi là Dừa, Quan Thoại gọi là Dẻ, còn thì các
dân khác gọi khác quá xa: Thái: Brao, Cao Miên: Đôn, Chàm, Mã
Lai: Nyor. Thế thì họ học của ai, đã rõ rồi, chớ không có có ai học của họ
cả. Trái xoài đời hậu Hán, Tàu gọi là trái Am-ma-la. Đó là tiếng
Tamoul tức Nam Ấn (gốc Mã Lai) thật đúng là Empelam mà hiện nay các
nước Mã Lai đều dùng. Mấy trăm năm sau họ mới học thẳng với Bắc Ấn danh từ Mongga mà
họ đọc là Mang quò (chữ nho đọc là Mông quả).
Danh từ Thái là Muang, danh từ Bắc Việt là Muỗm, đều
một gốc Mangga mà ra, có lẽ Thái Quảng Đông học của Tàu, Giao Chỉ học
của Thái Quảng Đông, nhưng danh từ chánh hiệu thì:
Thái không bị đồng hóa: Huài
Cao Miên: Sway
Đàng Trong: Xoài
Tàu viết sử rằng họ học nghề nấu đường với nước Ấn Độ vào đời
Đường. Tại sao họ không học với Giao Chỉ lại đi học chi cho xa thế? Mà đường tưởng
là Giao Chỉ chưa biết làm đường vào thời đó, Giao Chỉ giáp ranh với Chàm mà
Chàm đã biết làm đường nhiều trăm năm trước đó rồi.
Cái gì bảnh họ mới nhận, còn không thì thôi, giống hệt Việt
Nam nhận Đông Sơn, nhưng phủ nhận Mã Lai.
Họ viết sử rằng họ học nghề làm đường với nước Ấn Độ vào thế
kỷ thứ bảy. Ấy, Ấn Độ là nước văn minh, nên họ thấy sang bắt quàng làm họ, sự
thật thì họ học với nước Giao Chỉ.
Chúng tôi bắt được tài liệu hiếm hoi sau đây nó sẽ làm cho
các sử gia Tàu cứng họng. Mấy câu này trích dẫn ở quyển Orien’al Commerce của
Villiam Milburn, London, 1925, chương nói riêng về nước Việt Nam: Hàng hóa
CHÁNH (của xứ Việt Nam) xuất cảng sang Ấn Độ là ĐƯỜNG. Có ba thứ tất cả:
Đường phèn, tốt nhứt thế giới và được TRUNG HOA QUÝ NHỨT.
Đường cát trắng, loại tầm thường, giống như đường Phi Luật
Tân.
Đường đen.
(Đường đen là thứ đường rẻ tiền mà Nam Kỳ gọi là đường ta).
Nước Ấn Độ, cho tới năm ấy mà còn phải nhập cảng đường của Việt
Nam thì vào thế kỷ thứ bảy họ không thể đủ khả năng dạy Trung Hoa làm đường.
Vả lại chứng tích sau đây còn mạnh hơn nữa. Nếu họ học với Ấn
Độ, họ đã gọi môn ấy bằng tiếng Ấn Độ phiên âm. Nhưng họ gọi bằng tiếng Giao Chỉ.
Danh từ Trung Hoa chỉ món đường, ở Kinh đô Tàu là Thẻl. Còn danh từ Giao
Chỉ cổ thời là Tàng. Tàng biến thành Đàng, Đàng biến
thành Đường.
Tàng là danh từ Mã Lai chung của hai nhóm Thái, Việt,
còn Cao Miên cũng thuộc chủng Mã Lai thì lại gọi là gì không biết, họ vay mượn
của ai thì chưa truy ra. (Xin xem chương Làng Cườm sống dậy).
Chàm và Mã Lai thì gọi đường là Gula.
Thế thì Thẻl do đâu mà ra, cũng rõ rồi.
*
Nổi danh nhứt về ngữ nguyên (Etymologie) là giáo sư đại học
Lê Ngọc Trụ. Giáo sư họ Lê đã tìm ra được nguồn gốc của một số tiếng Việt mà ai
cũng ngỡ là thuần Việt, nhưng lại do tiếng Tàu mà ra.
Nhưng giáo sư Lê Ngọc Trụ đã khám phá sự kiện đó bằng cách đối
chiếu tiếng Hán Việt và tiếng thuần Việt, thấy hơi giống giống rồi gán ghép,
nên có lắm tiếng ông cho là của Tàu một cách sai lầm, như danh từ Dừa đã
cho thấy.
Mãi rồi ông bị ám ảnh về sự hơi giống đó, biến nhận xét riêng
rẽ của ông thành một cái luật để tổng quát hóa vấn đề.
Nếu giáo sư kiểm soát cái luật của giáo sư bằng cách đối chiếu
giọng đọc của Hoa và Việt, ông sẽ thấy rằng ngữ nguyên của ông không đúng.
Khi nãy chúng tôi có nói rằng giáo sư họ Lê bị vài nhận xét lẻ
tẻ vô tình đúng, rồi tổng quát hóa vấn đề một cách sai nguyên tắc khoa học.
Nhưng đọc kỹ tác phẩm của giáo sư họ Lê, ta thấy rằng không
phải thế. Cái bộ sử mà giáo sư Lê Ngọc Trụ không hề có viết, giáo sư có âm thầm
nghĩ trong bụng, và nghĩ gần như giáo sư Nguyễn Phương, nhưng kém khoa học hơn
giáo sư họ Nguyễn nhiều.
Giáo sư họ Nguyễn cho rằng đồng bào của bà Trưng là "Mọi"
còn ta đây là người Tàu. Giáo sư họ Lê thì làm cho độc giả rối trí đến muốn
điên lên vì họ không còn biết họ là ai nữa hết.
Trong Chính tả Việt ngữ, trang 229, giáo sư viết:
"Nơi đồng bằng Bắc Việt, tổ tiên ta đụng phải ngọn sóng
Nam tiến của người Bách Việt. Phải tranh sống với họ, họ mạnh thế hơn. Họ chinh
phục nước ta mấy lượt".
Thế là, theo câu trên đây, ta không thuộc dòng Bách Việt, mà
là dân thổ trước Mélanésien (theo khoa khảo tiền sử thì trước Bách Việt là chủng
Mê-la-nê).
Nhưng sao giáo sư lại cứ gọi dân ta là dân Việt, tiếng ta là
Việt ngữ? Việt chỉ là kẻ xâm lăng thôi chớ?
Quan niệm riêng của giáo sư, trong trường hợp này thật là làm
ta choáng váng, còn choáng váng hơn cả quan niệm của giáo sư Nguyễn Phương đã
cho ta là Tàu thuần chủng.
Theo ông Lê thì ta, Nguyễn Văn Hai, Trần Văn Ba, hiện nay là
ai? Thật không sao biết được. Nếu ta là Bách Việt, sao ông lại nói: Ta bị
Bách Việt chinh phục? Còn ta là thổ trước Mélanésien, sao ông gọi tiếng ta là
Việt ngữ, mà không gọi là Mélanésien ngữ?
Ta không còn biết ta là ai nữa, đó là một tâm trạng khó chịu
như kẻ mắc bịnh kiên vong quên mình là ai, mặc dầu vẫn còn sáng suốt, hiểu biết
mọi việc trên đời.
Nhưng Bách Việt là ai mới được chớ? Cũng trong câu trên giáo
sư giải thích rằng Bách Việt là người Tàu phương Nam. Giải thích như vậy là
đúng 70 phần trăm. Nhưng chúng ta cũng là Bách Việt nhưng may mắn hơn không bị
đồng hóa như Quảng Đông, chỉ có thế thôi, sao giáo sư lại nói chúng ta bị Bách
Việt chinh phục? Chính bọn Hoa Bắc đã chinh phục Bách Việt Hoa Nam ấy chớ, bọn
Bách Việt ở Hoa Nam, thuở đó chỉ mới bị trị trước ta có hơn trăm năm, đâu có đi
chinh phục ta được bằng quân sự và văn hóa. Thuở đó họ chưa thành Tàu và còn
nguyên là Bách Việt, mà là Bách Việt đang bị trị, bị nô lệ hóa, sao lại đi
chinh phục ta được? Có lẽ vì hiểu lịch sử như vậy, ta là Mélanésien, Quảng Đông
mới đích thật là Bách Việt và nhận thấy khi tiếng Hán Việt và thuần Việt hơi
hơi giống nhau, giáo sư mới cho tiếng ta có họ với tiếng Tàu, vì Tàu là Bách Việt
Hoa Nam, giáo sư không kể Tàu chánh gốc, nhưng chính Tàu đó mới là đáng kể và
ta có là họ hay không là nên nhắm vào Tàu đó.
Theo ý giáo sư họ Lê thì chính Quảng Đông hoặc Mân Việt mới
là Bách Việt và mới là kẻ đi chinh phục ta. Quả quân đội của Mã Viện có lấy
thêm người ở Quảng Đông, nhưng đó là người Hoa Bắc do Tần Thỉ Hoàng đưa xuống để
trồng người không hơn một trăm năm.
Nhưng nếu họ là người Thái Tây Âu đi nữa, họ cũng chỉ là quân
bổ sung. Quân chánh quy chủ lực là Hoa Bắc, và nhứt là tất cả cán bộ quân sự,
văn hóa đều là Hoa Bắc, bằng chứng rõ ràng là các nhà giáo dục nổi danh: Tích
Quang, Nhậm Diên, Sĩ Nhiếp đều là người Hoa Bắc. Chính họ mới đưa văn hóa vào xứ
ta, chớ Tây Âu học chưa thuộc bài, làm thế nào để đặt ảnh hưởng vào xứ ta được?
Nhưng nếu Mã Viện, Tích Quang, Sĩ Nhiếp và toàn thể đạo quân
viễn chinh đều là Bách Việt như giáo sư họ Lê nói, thì như vậy Bách Việt là
quân xâm lăng, còn ta, cứ là dân thổ trước chịu ảnh hưởng của Bắc Việt, chớ
không thể nào ta lại là Việt và quyển sách của giáo sư cần đổi tên lại là Chính
tả Mê-la-nê ngữ mới đúng.
Nhưng nếu thế thì lại hơi lạ, vì lẽ rằng cái văn hóa mà ta học
là văn hóa Tàu chớ không phải văn hóa Bách Việt.
Phương pháp của giáo sư đã được áp dụng trong Việt ngữ
chánh tả tự vị, và nếu tin theo phương pháp của giáo sư họ Lê thì khó lòng
mà có tiếng thuần Việt được và lời khẳng định ngắn của sử gia Nguyễn Phương được
củng cố thật mạnh nhờ thuyết của giáo sư Lê Ngọc Trụ, nhờ cả một bộ tự điển của
giáo sư họ Lê.
Thỉnh thoảng có gì không biết chúng tôi có tìm giáo sư Lê Ngọc
Trụ để học hỏi, thì những trang sách sau đây thật là có vẻ phạm thượng và phản
sư lắm.
Nhưng chắc giáo sư không tức giận chúng tôi đâu vì chúng tôi
chỉ tìm sự thật chớ không hề chối rằng mình đã có học hỏi nơi giáo sư, đã khâm
phục và tôn kính giáo sư.
Hơn nữa chưa chắc gì chúng tôi viết ra ở chương này là đúng,
và giáo sư sẽ có dịp bác bỏ và như thế thuyết của giáo sư sẽ được vững chãi
thêm, và đó là cái lợi cho nền học thuật của ta. Giá trị của một thuyết chỉ được
củng cố mạnh sau nhiều thử thách, nhiều bài bác mà thôi, và hai người đưa ra
hai thuyết ngược hẳn nhau, không hề là địch thủ có ác ý muốn chống đối nhau như
thế để sự thật lòi ra.
Giáo sư Lê Ngọc Trụ, không hề chủ trương như sử gia Nguyễn
Phương bao giờ, mà còn trái lại nữa, ông viết trong bộ luật chánh tả Việt ngữ:
"Trót ngàn năm bị cai trị, dân Việt Nam có chịu ảnh hưởng sâu xa của văn
hóa Tàu, chớ riêng tiếng Việt thì không vì đó mà bị đồng hóa".
Câu này thì rất đúng, nhưng lại quá mâu thuẫn với câu trên.
Thế thì trong hai câu, phải có một câu sai. Chúng tôi cho rằng câu này đúng thì
câu trên hoàn toàn sai.
Giáo sư họ Lê nhận thức đúng lẽ đó, nhưng đáng tiếc thay, khi
áp dụng bộ luật của giáo sư để tìm ngữ nguyên thì không hiểu vì lẽ nào mà danh
từ nào của ta, giáo sư cũng đều cho là do tiếng Tàu mà ra cả, kể cả những danh
từ sơ đẳng nhứt mà một dân tộc bán khai hẳn đã phải có mà không cần vay mượn
làm gì nữa hết.
Thí dụ điển hình nhứt là tiếng Nỏ, sau tiếng đó giáo sư
ghi là Nôm, nhưng lại thêm một cái dấu riêng, giống hình chữ V nằm.
Dấu này ở chương Phàm Lệ, được giải thích là "do tiếng Hán mà
ra". Sau cái dấu đó, quả nhiên giáo sư viết chữ NỖ của Trung
Hoa.
Vậy Nôm Nỏ do Nỗ của Tàu, và như thế thì
đâu còn là Nôm nữa? Lại mâu thuẫn.
Sự thật thì chính Tàu đã học tiếng Nỏ của Mã Lai Việt chớ Nỗ
không phải của họ.
Các nhóm Mã Lai Bách Việt đều có danh từ đó, xin kể ra đây,
nhưng không phải vì đa số đó mà chúng tôi chủ trương rằng Ná và Nỏ là
của ta, mà vì một luật tạo tự dạng Trung Hoa:
Việt Nam: Ná, Nỏ
Cao Miên: Snả
Mạ: Na
Bà Na: Hna
Sơ Đăng: Mnaá
Giarai: Hnaá
Thái: Nả
Mã Lai: Pnả
Người Trung Hoa khi họ bày ra một tự dạng mới, họ theo những
cái luật bất di bất dịch, chớ không phải viết càn. Ta thử chiết tự chữ Nỗ của họ
xem sao.
Chữ ấy gồm ngữ căn Cung để tượng hình, tức chỉ nghĩa,
và tiếp vĩ ngữ Nô (Nô bộc), dùng chỉ giọng đọc (Hài thanh).
Theo luật tạo tự dạng của Trung Hoa thì danh từ đó là danh từ
tân tạo chớ không phải là danh từ nguyên thỉ của dân tộc Tàu. Cung mới
là nguyên thỉ vì không có ngữ căn và ngữ phụ gì cả trong Cung.
Mà tân tạo thì có hai loại:
Loại hoàn toàn nội lực. Thí dụ chữ Dẫn, gồm ngữ
căn Cung để tượng hình và một sổ cũng tượng hình sự giương cung,
không có ảnh hưởng ngoại lai vì cả hai yếu tố đều có nghĩa, và đều là chữ
Tàu.
Loại phiên âm ngoại ngữ thì chữ tượng hình thứ nhứt vẫn
là Cung nhưng chữ tượng hình thứ nhì được thay bằng chữ hài
thanh, hoàn toàn vô nghĩa đối với Trung Hoa nhưng lại chỉ được cái âm ngoại
quốc mà họ phải theo.
Có lý nào mà cây Nỗ là một thứ Cung do Nô bộc hoặc Nô
lệ sử dụng hay không? Không, không thể nào mà có chuyện như vậy. Nô bộc
không phải là chiến sĩ, còn nô lệ có thể là chiến sĩ, nhưng không sao mà được
phép sử dụng một loại khí giới quá lợi hại (của thời đó).
Vậy Nô hoàn toàn vô nghĩa, và chỉ để phiên âm giọng
đọc của chủ nhơn môn võ khí ấy mà thôi, và Nà, Nỏ của ta không bao giờ do Nỗ của
Tàu mà ra, mà trái lại chính Tàu đã vay mượn của Mã Lai Việt cả món vũ khí lẫn
cái tên.
Lộ trình vay mượn có thể được hồi phục như sau đây. Sự vay mượn
xảy ra khi dân Trung Hoa di cư vào đất Kinh của chủng Việt, họ vay mượn cả vật
dụng lẫn lối đọc tên vật ấy. Pnả biến thành Nỗ. Riêng các nhóm
Mã Lai Bách Việt thì cứ tiếp tục dùng Na, Ná, Phả, Hná, Nỏ của họ.
Người Tàu viết chữ, ta đọc sai là Nỗ, chớ Quan Thoại thì đọc là Nũa.
Chữ Noa cũng viết theo lối đó, nhưng với chữ Tử.
Nhưng chữ Noa thì có nghĩa hẳn hòi vì phụ hệ Trung Hoa xem vợ con như
tôi tớ, về mặt tinh thần. Nô + Tử là chữ tân tạo có nghĩa hẳn hòi,
chí như Nô + Cung thì chắc chắn là chữ phiên âm không còn ngờ gì nữa,
cũng như chữ Phật chỉ là chữ phiên âm mà thôi: Nhơn + Phất.
Nhưng ta cũng cố tìm xem coi Trung Hoa cổ thời có vũ khí Nỗ
hay không? Tài liệu tìm được ở trong một quyển sách thuộc loại rất cổ của họ,
đó là quyển Chu Lễ. Chu Lễ tả cây Nỗ khá tỉ mỉ, nhưng ta đừng
nên thấy Chu Lễ có tả cây Nỗ mà vội kết luận rằng Tàu đã
phát minh ra Nỗ.
Trung Hoa đã tiếp xúc với Việt ở Kinh Man từ đời nhà Hạ, mà
Chu Lễ thì hơn một ngàn năm sau mới được soạn thảo. Đến cuối đời Tần, Tàu vẫn
còn kém về Nỗ. Có phải chăng là Triệu Đà đã rất sợ Nỗ của An Dương Vương?
Câu chuyện Nỏ thần có hoang đường bao nhiêu, cũng còn lại cái vũ khí rất lợi hại
của Bách Việt mà Tàu rất kinh sợ.
Tàu học của Việt ở đất Kinh Man rất nhiều, nhưng ít ai chú ý
đến. Trường hợp Nỏ và Nỗ nhắc ta nhiều danh từ khác. Thí dụ
danh từ Đỗ của ta mà ai cũng bảo là do Hán Việt Đậu mà ra.
Không có bằng chứng nào như thế hết mà còn có bằng chứng trái lại:
Việt Nam: Đỗ
Bà Na: Tở
Giarai Pleiku: Tả
Giarai thuần Mã Lai nhứt ở Đông Nam Á, thuần hơn cả Chàm và
Java nữa.
Trong trường hợp này, y như trong trường hợp trước, ta nói được
rằng Cổ Mã Lai cho vay, Trung Hoa là con nợ.
Chiết tự chữ Đậu, ta cũng thấy có sự lạ kỳ. Ngữ căn
trong chữ đó chỉ là bộ Thảo đầu, còn phần dưới không dính dáng gì tới một
món ăn nào hết, mà lại tượng hình một dụng cụ thờ phượng mà Pháp gọi là Compotier,
Tàu dùng đựng trái để cúng trên bàn thờ mà họ gọi là cái Đậu (món đó
Hán Việt và Hoa ngữ, đều đọc là Đậu). Thành thử cái phần tưởng là chánh yếu,
lại chỉ để tượng thanh mà thôi, chính cái bộ Thảo đầu mới là chỉ thực
vật mà chỉ như thế là chỉ tổng quát, không có nghĩa gì hết. Đó là một tự dạng
vô nghĩa, kể cả phần tượng thanh lẫn tượng hình thì nó chỉ có thể là một chữ
phiên âm mà thôi.
Ráp nối liên hệ họ hàng đã khó, mà đặt cho thật đúng địa vị kẻ
vay mượn và chủ nợ, còn khó hơn khi ta không đi sâu vào vấn đề.
Đã bảo dân Cổ Mã Lai làm chủ đất Trung Hoa trước người Tàu
thì người Tàu chắc chắn phải có vay mượn của Cổ Mã Lai trước khi đồng hóa họ hoặc
đuổi họ thiên di, và chúng tôi đã ám chỉ đến những vay mượn của Tàu đối với Việt,
trong Sở từ.
Trong quyển Études des phnènes Vietnamiens, bác sĩ
Reynaud lại xác nhận sự kiện đó. Và đây là thí dụ của ông: Chữ Bạn của
ta, ai cũng cho là Bạn hoặc Bằng của Hán Việt mà ra, nhưng
bác sĩ Reynaud lại bảo rằng ngữ căn M'Bang của Mã Lai tràn ngập Đông
Nam Á và có nghĩa là Bầy, Bạn, Nhóm, và bằng chứng sơ sơ là:
Việt Nam: Bạn
Mường: Ban
Khả văn minh: Bơn
Giarai: Baan
Ban: Baan
Cao Miên: Bôn, Pốut
Mã Lai: Bang
Mà đừng tưởng là Giarai, Bà Na, Cao Miên đã học với ta hay với
Tàu vì Giarai chỉ chịu ảnh hưởng của Chàm tức Mã Lai còn cho tới ngày nay. Bà
Na vẫn chưa hề thấy mặt Trung Hoa, còn ta thì cũng mới đến xứ họ sau đầu thế kỷ
XX mà danh từ đó họ đã có hàng ngàn năm rồi.
Danh từ Ván của ta, ai cũng cho là do Bản của
Hán Việt, nhưng bác sĩ Reynaud cũng nói là do P’pan của Mã Lai.
Thoạt tiên chúng tôi không thể tin bác sĩ Reynaud cũng như đã
không tin giáo sư Lê Ngọc Trụ. Nhưng một tài liệu khác lại cho chúng tôi thấy rằng
bác sĩ Reynaud nói đúng.
Cách đây 300 năm dân ta không nói Cửa mà nói Pan do
P’Pan của Mã Lai mà ra, không phải Pan biến ngay thành Cửa đâu mà nó
được ta đọc ra là Ván hiểu là Ván, rồi lại đồng hóa Ván với
một món đồ (Cái cửa).
Đây là bằng chứng:
Năm 1792, một du khách Ăng Lê có viếng Việt Nam (miền Trung)
có chép du ký Voyage à la Cochinchine. Quyển du ký này đã được dịch ra tiếng
Pháp. Trong ấy tác giả có dành một chương cho ngôn ngữ Việt. (Con chó, thấy được
ghi là Con Koo, y hệt như nơi người Thượng hay người Mường ngày nay).
Nhưng danh từ quan trọng hơn hết là danh từ Cửa, thấy
ghi là Pan.
Người phê bình sách đó, bà Martine Piat cho rằng tác giả chép
sai, hoặc chép theo lời phu bến tàu ở Tourane vốn là người Tàu, hoặc nhà in đã
in sai. Nhưng không. Tác giả đã chép đúng. Người Tàu không bao giờ gọi Cửa là
Pan hết. Hiện nay, cái Cửa, người Thượng Bà Na gọi là Mbang, người
Kơlua gọi là Mbơng, người Mang Buk gọi là Mbong, và người Mã Lai gọi
tấm ván là Pan. Ván và Cửa là hai thứ đi đôi với nhau,
biến nghĩa qua lại với nhau.
Không phải Pan biến thành Cửa như đã nói
mà nó biến ra Pan, Bơng, Bong, Ván rồi bị đồng hóa với một món đồ
là Cửa. Danh từ Cửa chắc chắn chỉ xuất hiện sau năm 1792, tức chỉ
mới đây thôi, và cũng chắc chắn không phải do Hộ mà giáo sư Lê Ngọc
Trụ đã viết.
Chúng tôi đối chiếu Cửa và Môn để phủ nhận
nguồn gốc Trung Hoa của tiếng Cửa, nhưng ông Lê Ngọc Trụ cho rằng Cửa do Hộ mà
ra. Để xem coi các thứ giọng Trung Hoa có giọng nào đọc Hộ giống Cửa hay
không.
Quan Thoại đọc Hầu
Việt Nam Hải đọc Hẩu
Mân Việt đọc Hú
Hộ cũng không may mắn gì hơn Môn.
Sự thật thì Cửa là tiếng Mã Lai Kưala. Danh từ
đó không chỉ Cửa của cái mà được định nghĩa như sau: Kưala là tên chỉ
những nơi sông đổ ra biển, hoặc đổ vào một con sông khác. Cửa sông họ
nói là Kưala Sôngai, mà cửa sông danh tiếng khắp thế giới là Kưala
Lumpur được dùng làm thủ đô cho nước Mã Lai Á.
Tất cả các sông của họ đều được gọi là Kưala và tất
cả các cửa sông của Việt Nam đều được gọi là Cửa, trái hẳn với Tàu mà các
nơi đó luôn luôn được gọi là Khẩu.
Còn cái cửa thì họ gọi là Pan, đúng nghĩa là tấm ván.
Giáo sư họ Lê lại cũng nói Ván do Bản của Tàu mà ra, nhưng
ta là Mã Lai thì nó phải do Pan của Mã Lai.
Mà đừng tưởng là Mã Lai đã học của Tàu. Mã Lai Nam Dương
là Mã Lai thuần chủng tuy từ Hoa Nam di cư, nhưng họ không có chịu ảnh
hưởng của Tàu, như khoa khảo tiền sử đã cho thấy.
Còn Mã Lai Hoa Bắc thì lại di cư vào thời mà Trung Hoa chưa
biết cưa gỗ để làm ván.
Tóm lại, cả hai thứ Mã Lai đợt I (Lạc bộ Trãi) và Mã Lai đợt
II (Lạc bộ Mã) không có ai học Trung Hoa tiếng nào cả trước khi họ chịu ảnh hưởng
Tàu từ đầu Tây lịch về sau. Mà những danh từ Kưala Sôngai và M'Pan thì
Mã Lai đã có từ muốn vạn thuở.
Dân Mã Lai không có danh từ để chỉ cái cửa, nên đồng hóa Pan
là Ván với một món đồ là cái cửa.
Dân Việt Nam là Mã Lai nên cũng đã làm y hệt như thế.
Xin nhắc lại một lần nữa là danh từ Kưala của Mã Lai chỉ để gọi Cửa
Sông mà không hề có nghĩa nào khác hơn, và Việt Nam chỉ mới đồng hóa Kưala để
chỉ Cửa nhà không lâu, bằng chứng là đến năm 1792 mà ta còn gọi Cửa
nhà là cái Pan.
Có lẽ sự đồng hóa đã xảy ra lâu hơn nữa, nhưng đến năm 1792,
ta còn dùng song song cả hai danh từ, danh từ Pan chưa mất hẳn như ngày nay.
Chúng tôi tìm những sách viết trước năm 1792 bằng chữ nôm thì
thấy danh từ Cửa đã xuất hiện rồi, để chỉ cái Cửa nhà. Như thế
thì sự đồng hóa Kưala (cửa sông) ra Cửa nhà xảy ra trước
khi người du khách Ăng Lê ghi chép. Nhưng người ấy mà ghi chép như thế tức vào
năm 1772 Pan vẫn còn được thịnh dụng.
Ở Nghệ An có một giang khẩu tên là Cửa Lò. Từ hai ngàn
năm nay nơi đó không có xí nghiệp nào, công nghệ nào, dựng lò nào cả.
Nhưng nếu chúng tôi nói rằng Cửa Lò là Kưala thì không ai
tin. Chúng tôi phải đưa ra một chứng tích không thể chối cãi được. Trong Việt
sử tiêu án Ngô Thì Sĩ gọi nó là Cô La.
Nếu địa danh Cửa Lò mà có trước Ngô Thì Sĩ thì sử
gia họ Ngô đã dịch ra là Lô Khẩu, chắc chắn không sai, vì thói quen của
nhà nho ta là thế, Bến Nghé ở Saigon đã được các ông dịch là Ngưu
Tân.
Khi mà một nhà nho Việt Nam không dịch là nhà nho đó có tinh
thần trọng thực và Kưala = Cô La = Cửa Lò.
Sử ta lại chép rằng ở phía dưới Cửa Lò ở Nghệ An trong tỉnh
Hà tĩnh, có một giang khẩu nay tên là Cửa Khâu, nhưng xưa tên là Kỳ La.
Hết Cô la đến Kỳ la, chung quy cũng chỉ là
Kưala mà thôi.
Đối với lịch sử, những biến dạng như thế có thể xem là câu
chuyện hôm qua, vì danh từ Pan của năm 1972 không lâu đời lắm, còn
Ngô Thì Sĩ thì cũng không phải cổ nhơn như Lê Văn Hưu.
Đến đời Tây Sơn, Cửa Thuận An còn được gọi là Cô
la Eo và Tourane còn được gọi là Cô la Han. Ở đó có một cái tháp Chàm
đổ nát, nên Pháp gọi là Tour Han, sau biến thành Tourane.
Chỉ phiền là ta biết Kưala Eo là cái gì còn Kưala Han thì
chúng tôi chưa truy ra nghĩa của danh từ Han.
Tất cả các địa danh ở miền Trung mà chưa bị Việt hóa đều là địa
danh Mã Lai, vì đó là đất của Chàm, mà Chàm là Mã Lai.
Dấu vết Mã Lai xuống tới Cù My Lagi là hết và ai muốn biết Cù
My Lagi là gì xin đón đọc bộ Tự vựng Mã - Việt mà chúng tôi đang soạn.
Lắm địa danh bị các ông Tây viết dính lại, như Cap Bantangan ở
Quảng Ngãi, khiến chính người Chàm cũng điên đầu, không còn biết là gì nữa.
Nhưng học xong tiếng Mã Lai, thì ta sẽ hiểu. Đó là Ba-Ta-Ngan chớ
không phải là Batang-An đâu, lại càng không phải là Batangan như
các ông Tây đã viết, vì các ông ấy mắc bệnh viết dính các danh từ độc âm, y như
Việt Nam mắc bịnh viết ngắn những danh từ đa âm.
Fermetur éclair bị ta thâu lại thành Nút le.
*
Nhưng xuống tới Nam Kỳ thì Kưala biến mất, hóa thành Piam,
một danh từ Mã Lai đợt I, mà người Nam Kỳ biến thành Vàm: Vàm Cỏ, Vàm Lôi Lạp
(Piam Soarap).
Có lẽ xưa hơn, các Piam ở Nam Kỳ cũng được gọi là
Kưala, vì người Phù Nam dùng ngôn ngữ của Mã Lai đợt II, tức y như Chàm. Nhưng ảnh
hưởng Cao Miên đến thay thế cho Phù Nam, thành thử ta mới nhảy từ Kưala sang Piam một
cách đột ngột.
Tuy nhiên, thuyền biển ở Nam Kỳ vẫn được tiếp tục gọi
là Ghe Cửa, tức Gay Kưala, chớ không phải Ghe Vàm. Ghe Vàm là
danh từ rất ít được dùng, và tuyệt đối không được dùng ở Bình Tuy, Biên Hòa và
Bà Rịa, vì ba nơi đó còn là đất Chàm mãi tới năm ta di cư vào Nam mặc dầu với
giấy phép của vua Cao Miên, vì thuở ấy ở ba nơi đó Cao Miên chỉ làm chủ trên giấy
tờ mà thôi, người Chàm còn đông đảo, địa danh chàm cũng được ta giữ nguyên cho
tới nay, thí dụ Cù My Lagi ở Bình Tuy.
Riêng ở Biên Hòa thì toàn là địa danh của người Mạ mà chúng
tôi nghi là hậu duệ của Phù Nam.
Tên Đồng Nai, không phải là tên Việt Nam đâu. Đó là tên của Mạ,
họ gọi con sông đó là Đạ Đờng.
Đạ là hình thức đầu tiên sẽ biến thành Nước trong
ngôn ngữ ta, qua Nác ở Huế và Đák của người Mường.
Mạ: Đạ
Xi Tiêng: Đá
Bà Na Sơ Đăng, Mường: Đák
Việt Nam Thừa Thiên: Nác
Việt Nam: Nước
Cao Miên: Tứk
Đờng được biến thành Đồng.
Nhưng cụ Trương Vĩnh Ký lại cho rằng tên cũ của sông Đồng Nai
là một tên Cao Miên, cụ có viết ra chữ rõ ràng. Không biết cụ đã thấy điều đó ở
đâu, chớ chúng tôi nghe tận tai người Mạ ở Biên Hòa gọi con sông ấy
là ĐẠ ĐỜNG.
Mà đừng tưởng họ bắt chước ta, biến Đồng thành Đờng.
Có hằng lô, hằng tá địa danh ở Biên Hòa là địa danh của họ mà ta phiên âm, chớ
chủ mới bắt chước chủ cũ thì có, không bao giờ chủ cũ bắt chước chủ mới cả.
Nếu biến Kontum thành Công Tâm chẳng hạn,
người Sơ Đăng ở đó cũng bất kể, cứ gọi nơi ấy là Kontum.
Bằng chứng chủ mới bắt chước chủ cũ còn dấu vết rành rành
vì Nha Trang (chủ mới Việt) chỉ là EA TRAANG (chủ cũ Chàm)
có nghĩa là con sông đầy lau lách, sậy, đê.
(Danh từ Trang trong Việt ngữ biến thành Tranh và Trảng).
Lại bằng chứng ở Hội An. Fai Fô (chủ mới Pháp) chỉ là Hoài.
Phố (chủ cũ Việt). Hoài là tên, còn Phố là con sông nhỏ. Con sông nhỏ ở đó xưa
kia tên là Hoài Phố.
Vậy sông Đồng Nai, chỉ là sông Đờng mà lưu vực có nhiều nai,
chớ không phải là đồng bằng có nhiều nai, như ta hiểu theo ngày nay.
Cũng nên nhắc rằng đất Phù Nam xưa ăn tận ra tới Nha Trang mà
Chàm chỉ mới chiếm sau thế kỷ thứ IX còn Cao Miên thì không có bao giờ chiếm được
Nam Kỳ cả, theo khám phá mới nhứt của ông Pierre Dupont (B.S.E.I.).
Có rất nhiều người cho trạng từ Xa của Việt Nam do
Hán Việt Hà mà ra, và quả Quan Thoại đọc Hà là Xa.
Nhưng thử hỏi đó là trùng hợp ngẫu nhiên hay vay mượn? Trong các nhóm dân gốc
Mã Lai, chúng tôi thấy người Cao Miên nói Xangai có nghĩa là Xa,
mà Cao Miên là Lạc bộ Chuy. Nhưng có thể nào mà Cao Miên cũng học của Quan Thoại
như ta hay không? Chúng tôi có bằng chứng là không.
Thí dụ tiếng Xẻ của Quan Thoại bị ta biến
thành Xe, nhưng Cao Miên biến thành Te, các âm X của Quan
Thoại đều bị Cao Miên biến thành âm T. Nhưng Xangai không bị biến
thành Tangai là làm sao? Chỉ có một lối trả lời độc nhứt là trạng từ Xa là
trạng từ Mã Lai đợt I mà bộ Chuy nói là Xăngai, còn bộ Trãi nói là Xa chớ
nếu bộ Chuy cũng đã vay mượn thì họ đã nói là Tangai theo luật biến
âm trong ngôn ngữ của họ.
Có những trùng hợp ngẫu nhiên trong ngôn ngữ như thế đó mà
chúng tôi đã trình ra quá nhiều rồi, thí dụ Đua của Mã Lai đợt II và
của La Tinh đều có nghĩa là Hai, và đều đọc y như nhau, nhưng Mã Lai đợt
II không bao giờ mà là La Tinh hoặc vay mượn của La Tinh được.
Đôi khi giáo sư Lê Ngọc Trụ cũng có dựa vào H. Maspéro để
nhìn nhận rằng có một số tiếng Nôm ta gốc Thái. Thí dụ: Trăng, Cổ, nhưng như thế
lại cũng chẳng là Nôm gì hết, tức chẳng là Việt Gốc gì hết mà cứ là gốc của kẻ
lạ, không Tàu thì Thái. (Nhưng sự thật thì Trăng là danh từ chung của chủng Mã
Lai mà tất cả các dân tộc ở Đông Nam Á đều nói y nhau, kể cả Tây Tạng.
Chúng tôi đã đi xa hơn H. Maspéro mà lên tới tận nguồn là Mã
Lai và Tây Tạng, chớ không dừng chơn ở giai đoạn chót như ông H. Maspéro mà
giáo sư Lê Ngọc Trụ dựa theo.
Ông H. Maspéro, như chúng tôi đã chứng minh, không hề biết
Thái ngày xưa tên là Âu, và Âu và Lạc là hai Chi của chủng Mã Lai. Ông cũng
không hề biết rằng chủng Việt đích thị là chủng Mã Lai. Thế nên thay vì chủ
trương rằng Thái ngữ và Việt ngữ đồng gốc, ông chủ trương rằng Việt ngữ do Thái
ngữ mà ra. Vài ông khác lại cũng chẳng hề biết rằng Cao Miên và Việt đồng gốc,
cho rằng Việt ngữ thuộc gia đình Miên ngữ. Các ông Tây sai hết về ngữ học Việt
Nam.
Thái và Việt chỉ là hai chi của Mã Lai, chi Thái xưa kia được
người Tàu gọi là Âu, chỉ có thế thôi.
Bắt ta làm họ với Thái, với Miên, các ông Tây không hoàn toàn
sai, mà chỉ vì các ông chỉ biết có giai đoạn cuối. Dầu sao các ông Tây cũng thấy
đúng một chặng đường của lộ trình, còn ông Lê Ngọc Trụ thì lại đi theo lộ trình
hoàn toàn khác.
Chúng tôi đối chiếu Ăn với Xực và thấy là
khác, nhưng giúp Lê Ngọc Trụ nói Ăn do Xan mà ra.
Nhưng Xan không phải là ăn mà chỉ
là Bữa ăn mà thôi. Động từ Ăn là của chủng Mã Lai. Họ chia
ra ba động từ như sau:
|
Việt Nam: Ăn |
Việt Nam: Xơi |
Việt Nam: Nhắm |
|
Cao Miên: Ănh |
Cao Miên: Xi |
Sa Mường: Lam |
|
Mường: Ăn |
Cao Miên: Xi Sa |
Cao Miên: Nham |
|
Khả Lá Vàng: Ăn |
Mạ: Saa |
Rađê: Mnam |
|
Mã Lai: Mak-An |
A-Ka-Lông: Haa |
Bà Na: Nyơm |
|
Khả văn minh: Cha Cổ ngữ Đông Âu (Bắc Phúc Kiến): Lim |
||
|
Giarai: Nyam |
||
|
Mã Lai: Miniom |
Chú ý: Trong động tác Nhắm, phần uống quan trọng hơn phần
ăn, nhưng vẫn có ăn. Thế nên Đông Âu (Bắc Phúc Kiến) mới dùng Lím để
chỉ cả ăn lẫn uống và có lẽ động từ Liếm của Việt Nam cũng cùng gốc
đó mà ra vì Liếm ngoài cái nghĩa Liếm, còn là ăn như chó ăn, tức
cũng bằng cách Liếm và uống.
Chúng tôi đã nói rằng bộ luật ngữ nguyên của giáo sư họ Lê
không theo sự đối chiếu giọng đọc Hoa Việt mà chỉ dựa vào sự hơi giống nhau giữa
Hoa và Hán Việt.
Ở đây ta lại có thể thêm rằng luật đó không theo luật ngôn ngữ
tổng quát.
Quả thật thế, âm X của Trung Hoa cứ còn nguyên vẹn
trong Việt ngữ. Thí dụ: Xé = Xe, Xảo = Xào.
Âm X không hề biến mất thì tại sao trong Xan,
nó lại biến mất để thành Ăn?
Nếu theo quan sát ngoài đời và theo luật ngôn ngữ, giáo sư đã
chủ trương khác rồi.
Giáo sư cho rằng Trẻ do Trĩ mà ra, ăn do Xăn,
nhưng Già và Uống thì theo giáo sư, lại là thuần Việt.
Tại sao một dân tộc có tiếng Già mà không có tiếng Trẻ,
có tiếng Uống lại không có tiếng Ăn?
Còn nói họ bỏ tiếng họ để vay mượn thì sao trong cặp Già,
Trẻ chỉ bỏ Trẻ mà giữ Già, còn trong cặp Ăn, Uống chỉ
bỏ Ăn mà giữ Uống.
Thật ra Già và Trẻ đều là tiếng Mã Lai.
Việt Nam: Trẻ
Mường: TlẻMã Lai đợt I
Khả Lá Vàng: Plẻ
Việt Nam: Già
Thái: Kà
Mường: Gia
Khả Lá Vàng: K’rà
Mạ: Kra
Bà Na: Kra (Người già)Mã Lai đợt II
Bà Na: Ya (Bà già)
Mã Lai Célèbes: Ya
Các đảo Mã Lai khác: Tu À
Miền Nam có một tỉnh từ Sằn dã, có nghĩa là đồng
quê, quê mùa giản dị, mộc mạc. Ông Lê Ngọc Trụ viết rằng Sằn Dã do Điền
Dã biến ra nhưng tại sao trong hai chữ Hán Việt, chỉ có một chữ Điền là
bị biến còn chữ Dã thì không?
Tự điển Huỳnh Tịnh Của thì nói Sằn là cây Tế
Tân dùng làm thuốc đau răng. Như vậy nguồn gốc của Sằn, theo Huỳnh Tịnh
Của thì lại còn khác hơn ông Lê Ngọc Trụ nữa.
Thuyết của ông Huỳnh Tịnh Của mới nghe tưởng như là hữu lý
hơn bởi ta không tin rằng Điền biến ra Sằn thì ta cũng phải tin rằng Sằn
là Sằn. Nhưng thử hỏi cây Sằn có phải là tượng trưng cho đồng nội,
cho đồng quê của miền Nam hay không?
(Vâng, sằn dã là từ ngữ riêng do các nhà nho miền
Nam đặt ra chớ Trung Hoa và miền Bắc không có).
Ta có thể trả lời không cần suy nghĩ rằng cây Tế tân không
bao giờ tượng trưng cho đồng nội miền Nam hay miền Bắc miền Trung gì hết thì
các cụ xưa không tạo ra một từ ngữ với loại cây đó.
Sự thật thì tĩnh từ này bị viết sai chính tả. Nó là Sàn
dã, chớ không phải là Sằn dã. Sàn là chữ nho, có nghĩa là hèn mọn, Sàn
dã là Đồng nội hèn mọn của tôi, nói theo lối quá khiêm nhượng của
Trung Hoa về những gì chỉ mình, chỉ quê hương mình.
Sàn dã là thôn quê hèn mọn của tôi, nghĩa ban đầu là thế.
Ông Lê Ngọc Trụ nói Làng do Hán Việt Hương mà
ra. Có ai tin nổi Hương biến âm thành Làng hay không? Riêng
chúng tôi, chúng tôi thấy Làng do tiếng Mã Lai T’Lang mà
ra, và quyển sách này cốt chứng minh rằng dân ta gốc "Mã Lai" chứng
minh bằng nhiều chứng tích chớ không phải chỉ có danh từ Làng mà thôi
đâu.
Tổ tiên ta xưa có tiếng Lang có nghĩa là fiel
féodal, mà cho đến ngày nay, người Mường còn dùng, họ cũng còn Quan Lang
(Chef du fief) y như tổ tiên ta xưa.
Danh từ Mã Lai T’Lang cũng có nghĩa y hệt như vậy
và hiện vẫn còn được người Mã Lai dùng.
Làng của ta gồm nhiều ấp, Lang của Mường và T’lang của
Mã Lai cũng gồm nhiều ấp. Đó là thái ấp (fief féodal) bé tí ở Hồ Nam
hồi cổ thời của chủng Mã Lai.
Giáo sư viết rằng Đũa do chữ Hán Trợ mà
ra. Có thể nào mà âm Tr biến thành Đ được hay không chớ?
Sự thật thì Đua thì tiếng Mã Lai mà ta biến
thành Đôi rồi thành Đũa, vì chính nó có nghĩa là Hai,
là Cặp. Còn Đôi đũa thì chính người Mã Lai họ nói là Đua
Đua.
Giáo sư lại nói Vá áo do Hán Việt Bổ Y mà
ra, Bể vỡ do Hán Việt Phá mà ra. Mổ xẻ do Phẫu mà
ra, Giống do Tượng mà ra, Khéo, Giỏi do Tài mà
ra, Xuôi do Lưu mà ra, v.v.
Đọc những tiếng Hán Việt mà ông Lê Ngọc Trụ đưa ra để chứng
minh, đọc theo tiếng Tàu giọng Quan Thoại, giọng Man hay giọng Quảng gì, cũng
không giống gần hay giống xa tiếng Nôm của ta chút nào.
Ông nói tiếng Áo do Y mà ra. Nhưng không
hề thấy âm Y của Hán Việt biến thành âm Ao của Việt Nam lần
nào hết. Sự thật thì ta đã mượn tiếng đó, nhưng Áo là do Áo của
Tàu, chớ không bao giờ do Y.
Thấy rõ là giáo sư thấy hơi giống rồi tổng quát hóa thành một
cái luật. Còn hễ có vay mượn mà không giống giáo sư lại cho rằng không có vay
mượn. Thí dụ giáo sư nói Tủ là tiếng Việt Nam. Nhưng Tủ lại
đúng là vay mượn của Tàu. Họ đọc là Tu, bình dân ta nhại gần đúng là Tủ nhưng
các nhà nho ta thì đọc sai quá xa là Độc, vì một lẽ bí mật đã nói đến rồi ở
trường hợp tiếng Pín được nhà nho đọc là Tân mà không
là Bến như bình dân.
Rồi cứ cái đà ấy ông viết Bể vỡ do Phá mà
ra. Giống do Tượng. Tốt mã do Mỹ, Vùi lấp do Bồi, Cái
giùi do Chuy, Dễ do Dị. (Nhưng Khó thì lại
thuần Việt. Ấy, cũng giống trường hợp Trẻ già và Ăn uống, trong
một cặp, dân Lạc Việt cũng vay mượn có một tiếng mà thôi). Chùa do Tự, Chờ do Trữ.
Kỵ biến thành Đám giỗ.
Nhưng Kỵ Mã lại biến thành Cỡi ngựa.
Chưa bao giờ thấy âm K của Tàu biến thành âm G của
ta, nó chỉ có thể biến thành C như trong Cỡi mà thôi, nhưng
lại không có bằng chứng là ta không biết cỡi ngựa trước khi tiếp xúc với Tàu.
Có ba từ làm cho ta nghi ngờ lắm là Chèo, Chống và Chở,
mà giáo sư cho rằng do Trạo, Kháng và Tải mà ra.
Dân Việt nổi danh vô địch về thủy vận, giỏi hơn Tàu nhiều lắm
hồi thượng cổ, thì sao ta phải học ba tiếng đó của Tàu? Mà âm Kh của
Tàu cũng không thấy biến thành âm Ch của Việt lần nào hết.
Ông viết Lưu của Tàu biến thành Xuôi của
Việt, lại biến ra Làu (thuộc làu làu) của Việt. Thế thì một âm L của
Tàu biến thành lu bù âm của ta được hay sao.
Mõm chó theo ông thì do chữ Vần của Tàu.
Ta không có danh từ Mõm chó nữa, thì ta không có
ngôn ngữ và dân tộc Việt không có, và đúng ta là Tàu như sử gia Nguyễn Phương
đã nói. Nhưng bằng chứng ở đâu để cho rằng Mõm chó do Vẩn mà
ra?
Ông nói rằng Ngực do Ức của Tàu mà ra,
nhưng người Tàu chỉ cái Ngực bằng tiếng Hún, Siung và viết
ra chữ thì mới hay đó là chữ Hung. Không có nhóm Trung Hoa nào mà
nói Ức, Óc, Ích gì hết.
Đã bảo giáo sư không tìm tài liệu trong ngôn ngữ mà dân chúng
đang nói, nếu có, giáo sư sẽ thấy rằng không có nhóm Trung Hoa nào nói Ức hết,
mà chỉ nói Hung thôi, vì cái lẽ giản dị rằng Ức không phải
là Ngực. Trong tiếng Việt, Ức chỉ là một điểm nhỏ trên ngực, còn
trong Hoa ngữ thì Ức là Phía trước ngực, cũng như Xan là bữa
ăn, chớ không phải là Ăn.
Chữ Hung của Tàu có hai nghĩa: Poitrine, Sternum.
Còn Ức chỉ là Thorax mà thôi. Còn trong Việt ngữ thì:
Sternum = Mỏ ác (Bắc)
= Chớn thủy (Nam)
Chớn thủy tương đương với Ức của Tàu đấy.
Nếu thấy trong sách hai danh từ giống nhau rồi đặt ra mối
liên hệ giữa hai danh từ đó thì một người Pháp đã làm rồi, Đại tá H. Fray,
nhưng với tánh cách đùa cợt mà thôi:
Con voi (Việt) = Con voi (Pháp)
Nhưng các con voi ngày xưa thì không hợp thành bằng con voi
mà bằng con lạc đà.
Trường hợp của Ngực giống hệt trường hợp của Mắt và Nhà.
Ai cũng nói hai danh từ Mắt và Nhà do Hán Việt Mục và Gia mà
ra, kể cả giáo sư Lê Ngọc Trụ. Nhưng người Trung Hoa không bao giờ chỉ con mắt
bằng tiếng Mục mà họ chỉ bằng tiếng Nhãn, và Gia không
hề có nghĩa là cái nhà. Gia hàm ý gia đình. Luôn luôn người Tàu dùng danh từ Ốc để
chỉ món kiến trúc đó.
Người ta nói Nhãn khoa chớ không ai nói Mục khoa. Người ta
nói Kiến ốc cục chớ không ai nói Kiến gia cục.
Mắt do Mã Lai Bách Việt Mata mà ra, còn Nhà cũng
thế.
Việt Nam: Mắt
Mạ: Maht
Mã Lai: Mata
Tây Tạng: Mag
Việt Nam: Nhà
Mường: Nha
Kơ Yong: Nyia
Yêh: Niơ
Khả Lá Vàng: H’Nơm
Sơ Đăng (Kong Bring): Hnhây
Rơn Gao: Hnyê
Mamêt: N’a
Ông Lê nói tiếng Vạc là cái Đỉnh do Hoạch của
Tàu mà ra và Hoạch có nghĩa là cái chảo ba chơn. Nhưng tra tự điển Từ
Hải thì thấy sách ấy nói Hoạch là cái bồn lớn không chơn,
hoặc cái bình lớn không chơn, có vẽ hình hẳn hòi.
Trong cổ vật Đông Sơn, dân Lạc Việt có cái nồi ba chơn thì họ
có danh từ Vạc là chuyện dĩ nhiên, không cần bắt họ mượn của Tàu hay
của ai cả.
Việc kiểm soát bằng tự điển Tàu khiến ta đâm nghi ngờ ông Lê
Ngọc Trụ cố ý lôi kéo liều lĩnh để cho thuyết của ông được thành thuyết với nhiều
bằng chứng.
Thật vậy, sau tiếng Hoạch, ta tra thử vài tiếng khác.
Ông viết rằng danh từ Xương của Việt Nam do Khang Hán Việt
mà ra, và Khang cũng đọc là Xang. Nhưng trên thực tế thì không
có vùng nào ở Việt Nam mà người ta đọc Khang là Xang cả.
Xương do đâu mà ra, ta sẽ thấy ở các biểu đối chiếu.
Ông nói Xảo của Hán Việt cũng đọc là Khảo để
kết luận rằng Khéo do Khảo mà ra. Nhưng không có vùng nào đọc Xảo là Khảo cả.
Cứ làm như thế mãi rồi thì không còn danh từ nào là thuần Việt
được nữa.
Việc bắt tiếng Việt làm bà con với tiếng Hán Việt rất là
phiêu lưu mạo hiểm. Có hai tiếng Hán Việt Thủ và Đầu. Thủ,
Trung Hoa đọc là Sầu, Sẩu, Sùi, Đầu họ đọc là Thủ, Thầu, Tháo.
Mặc dầu sáu lối đọc Trung Hoa về hai tiếng Hán Việt ấy
đều hơi giống tiếng Nôm Đầu của ta, thế nhưng ai dám chắc Đầu của
ta gốc Trung Hoa hay không? Nhìn vào bản đối chiếu những danh từ chỉ các bộ phận
trong thân thể con người dưới đây, ta đâm ngờ. Ta có đủ các danh từ, chỉ trừ
cái Đầu là nghĩa làm sao? Có thế nào ta mê tiếng Tàu mà chỉ mê có tiếng Đầu,
còn tay, chơn, mắt, mũi thì không mê hay chăng?
|
Thuần Việt |
Hán Việt |
Mân Việt |
Việt Nam Hải |
Quan Thoại |
|
Tóc |
Phát |
Hoặc |
Fatt |
Fạ |
|
Đầu |
Thủ |
Xùi |
Xẩu |
Xầu |
|
Đầu |
Tháo |
Thầu |
Thủ |
|
|
Cổ |
Cảnh |
Kẹ |
Kẻng |
Chiều |
|
Mặt |
Diện |
Mil |
Mil |
Mél |
|
Trán |
Ngạch |
Hía |
Ngạc |
Ngớ |
|
Mắt |
Nhãn |
Ngán |
Ngạl |
Ièl |
|
Mũi |
Tỵ |
Phì |
Pì |
Pi |
|
Lỗ mũi |
Tỵ khổng |
Phì khang |
Pì có |
Pi khùng |
|
Tai |
Nhỉ |
Hỉ |
Dii |
Ơl |
|
Lỗ tai |
Nhỉ khổng |
Hỉ khang |
Dii có |
Ơ khùng |
|
Miệng |
Khẩu |
Kháo |
Hẩu |
Khù |
|
Môi |
Thần |
Xún |
Xuần |
Xài |
|
Râu |
Tu |
Txiu |
Xúa |
Xú |
|
Má |
Hạp |
? |
? |
? |
|
Răng |
Nha |
Ghế |
Ngà |
Yạ |
|
Lưỡi |
Thiệt |
Chíi |
Li |
Xửa |
|
Mình |
Thân |
Xink |
Xál |
Xil |
|
Ngực |
Hung |
Hênk |
Hún |
Siung |
|
Bụng (B ngoài) |
Phúc |
Pậc |
Phục |
Phủ |
|
Lưng |
Bối |
Bùê |
Pui |
Pi |
|
Tay |
Thủ |
Txiú |
Xẩu |
Xù |
|
Chơn |
Cước |
Kha |
Cượk |
Chèo |
|
Bắp vế |
Thối |
Thúi |
Pỉ |
Thùi |
|
Đầu gối |
Tất |
Xik |
Xách |
Xưa |
|
Da |
Bì |
Phuế |
Phì |
Pia |
|
Lông |
Mao |
Mó |
Mù |
Mao |
Khi hai bà Trưng ra lệnh chặt đầu một viên tướng Tàu, thật
không rõ bà nói làm sao cho được khi mà dân ta chưa vay mượn được tiếng Đầu của
Tàu.
Theo chúng tôi, sở dĩ Đầu của ta hơi giống của Tàu,
là chỉ vì sự trùng hợp ngẫu nhiên. Và chúng tôi nói thế không có gượng gạo chút
nào hết.
Trung Hoa có đại danh từ Pàpá để con xưng hô với
cha (danh từ của họ là Fùxíl, tức Phụ thân).
Nhưng Ấn ngữ cũng có tiếng Pa vừa là danh từ để chỉ
cha, vừa là đại danh từ dùng để con xưng hô với cha.
Có ai dám bảo rằng Quan Thoại đã học theo Ấn ngữ hay không?
Hoặc Ấn ngữ đã học của Hoa Ngữ?
Hẳn là không. Nhưng mà khi Việt hơi giống Tàu là tức thì bị
xem là cóp của Tàu, không có ngoại lệ.
Chúng tôi nói rằng sự gán ghép ấy phiêu lưu mạo hiểm vì càng
khám phá, càng thấy mỗi ngày sự sai lạc, mà một thí dụ sau đây rất là điển
hình.
Giáo sư họ Lê nói động từ Đâm do động từ Châm của
Tàu mà ra (trang 57, bản in 1959).
Cho tới nay thì giới khảo cổ Tây lẫn ta đều quan niệm rằng
người Mường là người Cổ Việt bất hợp tác với Trung Hoa, rút lên rừng
mà ở. Sự kiện bất hợp tác hẳn phải kéo theo sự kiện không chịu ảnh hưởng. Và quả
thật thế, mặc dầu một số người Mường hiếm hoi có học chữ Nho, họ vẫn không chịu
ảnh hưởng của Tàu như người Việt ở đồng bằng.
Năm 1962, nhà khảo cổ Lê Văn Lan đã lên xứ Mường Phú Thọ để
khảo sát cách sử dụng trống đồng thì ông thấy người Mường ở đó đánh trống y hệt
như hình khắc trong trống đồng, tức lấy gậy to mà đâm vào mặt trống, lối đánh kỳ
dị ấy khiến thuở nghiên cứu trống, các nhà khảo cổ Âu Châu rất phân vân và nhiều
nhà cho rằng đó là giã gạo, chớ ai lại đánh trống lạ lùng như vậy.
Ấy, người Mường gọi động tác đâm gậy vào mặt trống như vậy
là Chàm, mà Chàm trong ngôn ngữ của họ, có nghĩa là Đâm của
ta. Đánh trống đồng, họ nói là Chảm thau, tức Đâm trống thau.
Giã gạo theo lối đó, tức giã theo thời cổ, họ gọi là Chàm
ló tức Đâm lúa, Chọt lúa của ta, hoặc Chàm Đuống, tức Chọt
gạo.
Vậy Đâm mà do Chàm mà ra, đó là tiếng Lạc
Việt thời tiền Mã Viện. Không thể bảo rằng Chàm cũng chỉ là biến thế
của Châm y như Đâm bởi người Mường không có chịu ảnh hưởng
của Trung Hoa.
Hơn thế danh từ Chàm của Trung Hoa chỉ có nghĩa là
cây kim, sau thêm cái nghĩa dùng kim để chích. Thế thì vật dùng để châm, tương
đối nhỏ, nhọn và ngắn (cây kim thời thạch khí bằng đá, nhưng vẫn nhọn, nhỏ và
ngắn) còn cái vật mà dân ta dùng để đâm, để chọt gạo lại dài, mà không
được nhọn, mà công việc thì cũng không phải là chích.
Người Mường nói Chàm, và một số lớn các dân tộc Cổ Mã
Lai cũng nói tương tự như thế:
Người Sơ Đăng nói Tam
Người Chàm nói Tơm
Đâm, Chàm, Tum, Tơm thấy rõ là đồng gốc, mà là gốc cổ Mã
Lai, chớ không phải là gốc Tàu Châm, vì Châm chỉ một động tác
khác mà vật dụng dùng để Châm cũng khác với vật dụng dùng để Chàm.
Người ta cứ bị ám ảnh rằng Tàu văn minh ảnh hưởng đến mọi dân
tộc mà quên mất sự kiện rằng Tàu đã vay mượn lung tung. Thí dụ ở Đông Dương (chớ
không riêng Việt Nam) có danh từ Ô Dước, Hoa Nam gọi là Oyo. Nhưng Hoa Nam
lại không có cây Ô Dước như Đông Dương. Như vậy ai học của ai?
Trong Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ, có ba danh từ
mà dịch giả cho rằng không biết là gì.
Danh từ thứ nhứt là Am La. Danh từ đó đã được chúng
tôi giải thích rồi.
Danh từ thứ nhì là La Nga, dịch giả biết rằng đó là chiếc
bành voi có mui, nhưng cũng không biết do đâu mà ra. Đó cũng là danh từ mà
Trung Hoa vay mượn của Phạn ngữ dưới trào đại Ma già đà. Danh từ Phạn ấy
là P’lana.
Danh từ thứ ba thì rất bí. Dân ở Bến Vân Đồn ưa đội nón Tàu.
Quan trấn thủ ở đó là Trần Khánh Dư ra lịnh cấm, vì Tàu thường tấn công vào nơi
ấy và quân ta sẽ khó phân biệt bạn và thù nên hạ lịnh cho dân phải bỏ nón Tàu,
đội nón Ma lôi.
Dịch giả cũng kêu là không biết nón ấy ra sao.
Nên biết rằng Ngô Thì Sĩ là người sống ngang với trào nhà
Thanh, nhưng viết sách, lại dùng danh từ đời Hán mà Trung Hoa đã bỏ hơn một
ngàn năm rồi, như danh từ Am la đã cho thấy.
Như thế danh từ Ma lôi chắc cũng là danh từ Tàu đời
Hán. Dưới đời Hán, Tàu đã biết các đảo Mã Lai rồi.
Cái nón lá nhọn đỉnh của dân ta và của tất cả các dân gốc Mã
Lai, được người Mã Lai gọi là Tărăndắc Malaya.
Có lẽ ông Tàu đời Hán đã phiên âm, nhưng bỏ bớt âm, theo thói
quen của họ, trong cái danh từ quá dài đó, họ chỉ giữ lại có hai âm là Ma
Lôi mà thôi, bởi dân Việt ở Bến Vân Đồn thì ngoài nón Tàu ra không thể đội
nón nào khác hơn là nón nhọn đỉnh, biệt phẩm của chủng Mã Lai, mà cho đến ngày
nay dân ta còn dùng.
(Một điểm khiến ta phải ngạc nhiên là các sử gia ta, bất kỳ sống
dưới đời Minh, đời Thanh gì, cũng dùng danh từ đời Hán cả, thí dụ các ông gọi
nước Cao Miên là Chân Lạp. Đó là danh từ mà Tàu đã bỏ từ đời Đường. Nhưng các
ông Việt cứ tiếp tục dùng mãi. Ông Tàu bỏ rất hữu lý vì ông Cao Miên đã bỏ và
đã tự xưng là Kampuchia, nên ông Tàu đời Đường phiên âm là Cam-Bố-Trí,
Cam-Phá-Giá, hoặc Giản-Phố-Trại, cớ sao các ông Việt lại cứ dùng danh từ đời
Hán thì thật là khó hiểu).
Trung Hoa đã mượn chữ Phù là cây phù dung để phiên
âm Trầu mà họ không có. Phù đọc theo Quan Thoại là Pù hơi
giống Plù mà Plù là lối đọc có cái tiếng Trầu của
ta mà nay người Mường còn đọc.
Mã Lai Bách Việt chỉ ăn trầu nhiều ở Đông Nam Á mà thôi, còn ở
Quảng Đông thì rất ít, vì họ không trồng trầu được. Hơn thế người Quảng Đông ăn
trầu, không hề nói rằng họ ăn trầu, mà nói rằng ăn cau: xực pín loòng (Thực
tân lang).
Tại sao họ không nói ăn trầu, mà nói ăn cau? Chỉ vì tại họ
không có danh từ Trầu. Nhóm Tây Âu là Quảng Đông, có ăn trầu theo Việt Nam,
nhưng cũng chẳng có danh từ đó, vì khí hậu bên ấy lạnh, trầu không mọc được một
cách tự nhiên, mà nhập cảng cũng không xong. Nhưng tại sao Tàu vẫn mượn Phù để
phiên âm Trầu, chi vậy? Chỉ để cho có, vì dân văn minh muốn có tất cả, như
Pháp chẳng hạn, họ không hề ăn được trái sầu riêng, không hề dùng danh từ đó,
nhưng vẫn phiên âm tiếng Mã Lai Durian và Durion, cho có vậy
thôi.
Trầu là tiếng Bách Việt chánh gốc Mã Lai, không hề do Phù của
Tàu, mà chính Tàu mượn Phù của Mã Lai:
Việt Nam Kim: Trầu
Việt Nam Trung Cổ: T’lù (theo sách của các cố đạo)
Mường: Plù
Cao Miên: Pìu hoặc Mìu
Bà Na: Blao
Sơ Đăng: Grao
Mã Lai Célèbes: Blao
Danh từ Cau của Trung Hoa là Tân lang thật
đáng ngờ là của họ. Họ không có cây trầu cây cau gì hết thì đó chỉ có thể là tiếng
phiên âm mà thôi.
Quả thật Tân lang không có nghĩa gì cả mà tiếng Mã
Lai chỉ cây cau lại là Pin nang mà Quan Thoại đọc Tân lang là Pấn
lạl. Pin nang = Pấn lạng. Có phải là Tàu phiên âm hay Mã Lai học của Tàu. Đó là
trường hợp Dừa và Da. Ở Mã Lai có cau, ở Trung Hoa không có cau.
Đành rằng hiện nay ngôn ngữ ta đầy dẫy danh từ vay mượn của
Tàu, không ai muốn chối sự kiện đó, nhưng đó là những tiếng vay mượn về sau để
chỉ những vật, những việc, những ý mà trước đời Hán, ta không biết diễn ra. Đời
sống thuần nông nghiệp xen lẫn với việc săn bắn, câu kéo của dân Lạc Việt, hẳn
là không bị bận rộn về cái xe. Bị nhà Hán trực trị một thời gian, ta mới có xe,
nên mới biến xé, xẻ ra xe, nhưng những gì ta có trước đó, ta đã có danh từ để
chỉ.
Cho đến những vật lạ ta chỉ mới thấy lần đầu dưới đời Tần, mà
lắm cái ta tạo ra tiếng, hay vay mượn ở nơi khác, chớ không vay mượn của Tàu
thì đủ biết rằng ta không là Tàu. Chẳng hạn như tiếng Cừ là Kinh.
Nhà Tần phát minh việc đào kinh lớn gần như sông, và họ gọi
là Cừ (sau này họ gọi là Vận tải hà), nhưng ta không bao giờ dùng cả hai danh từ
cũ và mới của họ, mà gọi là Kinh hoặc Sông đào mà thôi. Tại
sao người Tàu ly khai ở Việt Nam lại dùng danh từ khác người Tàu Quảng Đông,
Phúc Kiến, người Sơn Đông? Là tại họ không phải là Tàu.
Nhà bác học ngôn ngữ M. Karlgren, cho biết rằng hồi đầu Tây lịch,
Quan Thoại đọc chữ Phật là But, chớ không có đọc Fa hay Fô như
ngày nay. Đến thế kỷ thứ VII thì họ biến BUT ra Vuel, rồi
sau biến VUET và FO vào thế kỷ nào, không tìm được dấu vết
nữa.
Thế nghĩa là tiếng Quan Thoại ngày nay đã qua nhiều cuộc biến
giọng. Nhưng xin đừng dựa vào nhận xét trên đây mà cho rằng tiếng Việt ngày nay
đích thị là tiếng Quan Thoại cổ, đã biến dạng đi rồi, thế nên nay ta đối chiếu
Việt và Quan Thoại, ta mới thấy khác nhau.
Không, ông M. Karlgren đã tìm được dấu vết của rất nhiều danh
từ, động từ bị biến dạng, trong đó chẳng hạn Xúi, là Xúi là Xủi gì
đó chớ không bao giờ là Nức là Nực là Nược mà cho
rằng tiếng Nước của ta có thể là Quan Thoại cổ thời.
Ta đã theo dõi Trung Hoa rất sát, hễ họ biến thì ta cũng biến,
chớ không phải là nhà quê, học được một lần rồi thôi và tiếp tục nói tiếng Tàu
cổ rồi nay lại ngỡ tiếng Tàu cổ đó là tiếng Việt khi đối chiếu với Kim Quan Thoại,
thấy là khác, bằng chứng là khi họ biến But ra Fo, ta cũng biến Bụt ra Phật.
Trường hợp người thời nay nói tiếng xưa vẫn có xảy ra, thí dụ
dân Gia Nã Đại nói tiếng Pháp của thế kỷ thứ XVIII, nhưng đó không phải là trường
hợp của ta vì ta cứ giữ liên lạc với Trung Hoa hoài hoài.
Những danh từ mà họ biến, ta không buồn biến, cũng được biết.
Việt ngữ theo bén gót Quan Thoại, chớ không hề nhà quê, miền này không theo thì
miền khác theo.
Chúng tôi xin đơn cử ra thí dụ cái Moustiquatre. Cái đó
Quan Thoại thời Mã Viện gọi là Wát cháng tức Mấu trướng, Mấu là
con muỗi, trướng là bức màn dài. Giao Chỉ dĩ nhiên là không có
danh từ trướng vì họ không biết dùng cái màn dài trước khi Mã Viện đến.
Nhưng ta vay mượn của Tàu Quan Thoại một cách thông minh kinh
khủng, ta không nói là wát cháng mà nói là wát màn. Màn là gì? Màn là
tiếng Quan Thoại (chữ nho đọc là Mục) chỉ cái lưới (cương mục).
Quả thật thế. Cái Monstiquaire, thật ra, đâu có phải là
trướng mà đó là năm cái trướng may dính lại, nói giống cái lưới cá (Màn) chớ
không có giống cái trướng. Người Tàu hồi đó còn nghèo danh từ.
Có người ngỡ ta mượn tiếng Mạn là cái màn ngắn.
Nhưng không. Mạn là màn ngắn che cửa sổ, họ đọc là Mó,
chỉ có Mục họ mới đọc là Màn.
Vậy ta theo Tàu, nhưng theo rất là tài tình, ta gọi cái đó là
cái Văn Màn chớ không gọi là Văn trướng hay Văn Mó. Sau
vì lười biếng, ta bỏ mất chữ Văn chỉ còn Màn.
Nhưng đến nhà Minh thì Tàu đã có danh từ khác, đó là danh từ
mà Quan Thoại đọc là Mung viết một bên Cân một bên Mông để
thay cho wát cháng. Ta cũng biết và cũng theo. Ta bắt đầu theo tại Hội An
mà nhà Minh bị nhà Thanh đuổi xuống đó. Từ Hội An đến Cà Mau đều gọi cái đó
là Mùng, rồi Mùng lộn ngược lên trên Nghệ An nữa. Tóm lại, ta không có quê
một chút xíu nào hết, trong việc vay mượn tiếng Tàu.
(Riêng Bắc Việt thì, vì đã quá quen với Màn, không sửa đổi
như những người chịu ảnh hưởng của Tàu về sau là dân Trung Việt và Nam Việt).
Sự tồn tại của ngôn ngữ Lạc Việt, chứng tỏ rằng dân tộc ấy
không bị diệt. Hơn thế, nó còn là yếu tố chủ lực của dân tộc Việt Nam ngày nay,
vì lai giống với Chàm hay Thái, hay Cao Miên hay gì cũng cứ là với chủng Mã Lai
với nhau cả.
Bây giờ nếu loại bỏ tất cả những danh từ vay mượn của Tàu quá
nhiều, dân Việt Nam vẫn cứ trao đổi ý nghĩ với nhau được như thường, chỉ có cái
là không diễn được những ý khó về văn hóa, học thuật mà thôi.
Ta không chối đã vay mượn quá nhiều của Tàu, cũng không bị mặc
cảm nghèo nàn, nhưng ta phải thấy rằng cái căn bản của ngôn ngữ ta vẫn là Lạc
Việt. Mà như vậy tức ta không phải là người Tàu.
Người Trung Hoa có thể tự lập ở đây và tự xưng là Việt Nam,
nhưng không bao giờ họ lại nói tiếng Lạc Việt và dùng văn phạm Lạc Việt. Nếu phải
vay mượn của Lạc Việt, họ chỉ mượn vài danh từ hiếm hoi mà họ không có, chớ sao
lại vay cái mặt, cái má, cái mũi, lỗ mũi, cái môi, cái miệng, cái răng,
cái cổ, cái ngực, cái bụng, cái lưng, chơn, tay, toàn là danh từ mà họ đã có?
Năm 1944, dịch Đại Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ của
Ngô Sĩ Liên, nhà nho Nhượng Tống viết: "Trong bao nhiêu năm chung đụng với
người Tàu, sự lẫn giống cố nhiên là có. Thế nhưng bảo chúng ta hoàn toàn là con
cháu khách buôn, các lính thú ở Tàu sang đây như ý nhiều người, thì quyết
là không đúng. Vì nếu như thế, sao tiếng nói của chúng ta lại khác hẳn của Tàu
về tự pháp? Nếu cùng chung một giống tiếng thì nói có thể khác nhau về phương
ngôn, về thổ âm, chớ không thể khác nhau về tự pháp như thế được.
Đây là ông nhà Nho, nhưng ông nhà Nho này không kém về khoa học
chút nào, khi ông đưa ra luận cứ tự pháp (ý Nhượng Tống muốn nói cú pháp đó).
Điều nên chú ý là theo Nhượng Tống thì trước năm 1915, đã có
người nghĩ như sử gia Nguyễn Phương rồi, nhưng họ không dám viết ra vì thiếu bằng
chứng. Sử gia Nguyễn Phương dám viết nhưng bằng chứng thì chỉ là một lời khẳng
định.
Bác bỏ nguồn gốc Trung Hoa xong, ta thử tìm về nguồn Mã Lai
xem sao, mặc dầu chúng ta đã có chứng tích mạnh mẽ là chỉ số sọ, cổ sử Trung
Hoa và khoa khảo tiền sử và các khám phá về dấu vết Mã Lai trong xã hội ta ngày
nay.
Chúng tôi đã nói qua về cái khó của việc chọn danh từ để đối
chiếu và cái khó trong việc chọn phương pháp.
Nhưng học các ngôn ngữ Á Đông tưởng đâu dễ như học Ăng Lê để
làm thông ngôn cho Huê Kỳ, nhưng cũng khó không kém.
Chúng tôi đã mất ba tháng để biết nguồn gốc của độc một tiếng,
đó là tiếng Xiêm, quốc hiệu cũ của nước Thái Lan ngày nay, vì trong tự điển
Thái Lan - Anh không có tiếng đó, bất kỳ dưới hình thức biến dạng nào, Viêm,
Tiêm, Tim, Siêm, Sám đều không có.
Hời hợt thì có thể nói đó là danh xưng Tiêm của Tàu mà ra.
Khá hơn, có thể nói rằng đó là danh tự xưng của nước Xiêm, không biết do đâu mà
ra.
Cả hai người đều nói đúng, nhưng chỉ ở giai đoạn thứ tư là
giai đoạn Tàu biến âm, và giai đoạn thứ ba là giai đoạn Xiêm tự xưng.
Đó là một danh từ Mã Lai đợt II mà dân Thái không có và không
hiểu vì họ là Mã Lai đợt I. Danh từ đó là Săm bu, có nghĩa là Kẻ lạ,
hoặc tù binh ngoại quốc.
Trong ngôn ngữ Chàm và Cao Miên, Săm bu biến
thành Syâm.
Dân ta cũng có một phần đợt II, nhưng ta không có mượn danh từ
đó của đợt II, nên chỉ còn dùng danh từ đó trong một trường hợp độc nhứt để chỉ
tên xưa của nước Thái Lan, và ta biến thành Xiêm.
Nhưng tại sao Thái Lan lấy quốc hiệu xấu đến thế: Nước
Tù Binh?
Muốn biết tại sao dân Thái lập quốc ở Thái Lan, lại tự gọi nước
của họ là Tù binh thì phải học sử của cả năm nước Chàm, Cao Miên,
Pégan, Pyu và Thái Lan.
Pégan là nước của người Pégon, tức người Môn, tức tổ tiên của
người Miến Điện, mà là con cháu của Khuyển Nhung thời Tây Chu bên Tàu, tức Lạc
bộ Chuy.
Nước ấy khi xưa chạy dài từ Nam Miến cho đến Trung Thái Lan
ngày nay, bị Phù Nam chiếm làm thuộc địa và lọt vào tay Cao Miên khi Cao Miên
diệt Phù Nam.
Thuở đó dân Thái chưa xuất hiện tại Đông Nam Á.
Pyu là nước của người Pyu cũng là người Môn, cả hai thứ người
ấy đều là tổ tiên của người Miến Điện ngày nay và nước của họ chạy dài từ Bắc
Miến đến Bắc Thái Lan ngày nay và cũng bị Cao Miên diệt quốc.
Ngày xưa, tù binh Tàu, Việt, Cao Miên, Mã Lai đều được người
Chàm chạm hình trên các đền Chàm và đều ghi bằng chữ quốc ngữ Chàm mà đọc ra
thì là Syâm. Chắc chắn là Lạc Việt cũng có danh từ đó (vì ta sẽ thấy Lạc
Việt và Chàm là một), nhưng vì lỡ đánh mất khi bị Tàu trực trị.
Khi Cao Miên xây cất đền Angkor thì chữ Syâm khắc ở
đền Angkor với văn tự Khơme (quốc ngữ), chỉ một thứ người ăn mặc rất khác. Đó
là người Thái mới xâm nhập.
Nhưng cuộc phiêu lưu chưa xong.
Đó là dân Thái xâm nhập Cao Miên, chớ không phải là giặc thật.
Họ bị Tàu lấn đất dữ quá, nên bỏ địa bàn Vân Nam và Quảng Tây
di cư xuống thượng du Bắc Việt và hai nước Pégan, Pyu.
Vì không phải là giặc thật nên đám tù binh này rồi được trả tự
do cho sống lẫn lộn với dân chúng ở thuộc địa Pégan và Pyu của Cao Miên nhưng vẫn
cứ được Cao Miên và Môn gọi là Syâm hoài.
Rồi các đợt xâm nhập khác nối tiếp theo, càng ngày càng đông
cho đến một khi kia thì họ nắm hết các then chốt xã hội và một lãnh tụ của họ
thừa dịp Cao Miên lủng củng nội bộ, lập quốc càn, lập ra một nước gọi là Syâm.
Họ chẳng biết Syâm là gì nên rồi họ cũng tự xưng là Syâm theo thói
quen mà Môn và Cao Miên gọi họ.
Ta gọi họ là Xiêm là biến âm, còn Tàu thì gọi họ
là Tiêm là phiên âm. Ta không hề bắt chước Tàu, trong trường hợp này.
Nhưng học sử của họ không, cũng chưa đủ, mà còn phải học về
nghệ thuật của họ về các tượng đá của họ mà trên đó có khắc hình và khắc chữ, tốn
quá nhiều công phu, mà phải biết được ngữ nguyên có độc một danh từ.
(Truyền thuyết của ta bảo rằng xưa kia nước ta tên là Xích Quỹ,
Nhượng Tống phản đối, cho rằng không có lý nào mà mỹ thuật dân tộc lại lấy quốc
hiệu xấu đến thế và đó là chuyện láo khoét.
Nhưng Thái đã tự xưng là Nước tù binh thì ta vẫn có
thể tự xưng là Nước Xích Quỹ lắm, hơn thế, chúng tôi sẽ cho thấy lý
do chánh đáng và hữu lý tại sao chúng ta lại xưng là Xích Quỹ. Cái gì cũng có
thể xảy ra được cả).
Trong chương chứng tích chủng tộc, chúng tôi có viết rằng người
Đại Hàn là rợ Tam Hàn đời xưa, từ Đông Bắc Trung Hoa di cư đến xứ họ ngày nay,
mà rợ Tam Hàn là Lạc bộ Trãi. Người Nhựt cũng thế, tức cả hai đều là Mã Lai đợt
I, và được Tàu đời Tây Chu phiên âm đúng hơn là Lai Di. Lạc chi là một danh
xưng phiên âm sai của buổi đầu. Điều đó đã được khoa chủng tộc học thế giới xác
nhận.
Nhưng chúng tôi đọc thấy trong quyển L’Art de la Chine, de
la Corée et du Jupon của nhà xuất bản Larousse câu sau đây: "Ngôn ngữ
Triều Tiên gốc ở núi Thiên San (Tây Vức) còn ngôn ngữ Nhựt Bổn thì cũng đồng loại
với ngôn ngữ Triều Tiên.
Nhưng nghiên cứu ngôn ngữ Nhựt Bổn, chúng tôi thấy ngôn ngữ ấy
gồm 65 phần trăm tiếng Tàu đọc sai và 35 phần trăm tiếng Mã Lai, không có tiếng
Tây Vức nào trong đó hết.
Như vậy câu trong sách của nhà Larousse không làm cho chúng
tôi mâu thuẫn ở chương này vì câu đó sai. Sở dĩ tiếng Tàu tràn ngập ngôn ngữ Nhựt
vì người Nhựt bị xâm lăng văn hóa, như sẽ nói ở cuối chương, hay nói cho đúng,
họ tự động làm Tàu kể từ đời nhà Đường về kỹ thuật, công nghệ, canh nông, hành
chánh, chánh trị, tôn giáo, học thuật, mà làm một cách hẳn hoi cẩn thận đúng
theo thói quen của họ, chớ không phải làm lấy lệ như dân ta vì vậy mà họ mất gần
hết ngôn ngữ Mã Lai của họ. Tuy nhiên, những danh từ căn bản của họ vẫn còn là
danh từ Mã Lai.
Cũng nên biết rằng ngôn ngữ Tây Vức cùng với ngôn ngữ Ấn Độ,
Hy Lạp và La Mã đồng gốc tổ với nhau, còn ngôn ngữ Đại Hàn và Nhựt Bổn thì nhứt
định không liên hệ gì tới bốn nhóm ngôn ngữ da trắng nói trên. Sách Laousse
cũng tầm phào chớ không phải luôn luôn đúng đắn.
Kể cả ngôn ngữ Hà Di (Aino) là ngôn ngữ của thổ trước da trắng
ở Nhựt, đã bị Nhựt tiêu diệt, ngôn ngữ Hà Di cũng chủng liên hệ đến ngôn ngữ của
các chủng da trắng phương Tây.
Nhưng hóc búa nhứt là các cổ ngữ. Chủng tộc học cho biết Cổ
Ba Thục là một đại cường quốc Thái, nhưng nó đã bị tướng Tư Mã Thác của chư hầu
Tần diệt mấy trăm năm trước Chúa giáng sanh, họ đã thành Tàu hết rồi, còn làm
sao mà học được. Nhưng khoa chủng tộc học cho biết rằng họ là một quốc gia Thái
mà Thái là Mã Lai, không học không xong.
Còn Quảng Đông là Tây Âu, Tây Âu là Thái, Thái cũng là Mã
Lai, cũng chẳng bỏ Tây Âu được. Phúc Kiến là Thất Mân, là Lạc bộ Mã, tức cũng
là Mã Lai, thế nên cũng phải học tiếng cổ Thất Mân, mặc dầu đã biết Quảng Đông
và Phúc Kiến đều nói tiếng Tàu. Phải học, vì biết chắc họ còn giữ được lối 100
danh từ Mã Lai.
Đừng nói chi chuyện khó, ngay tiếng Thái cũng đủ điên đầu với
nó. Họ ghép Phạn ngữ, Thái ngữ và Hoa ngữ để làm một danh từ thì ta còn làm sao
mà đủ tĩnh trí được khi học tiếng Thái?
Ngôn ngữ Thái ở Hoa Nam và Ai Lao thì mượn quá nhiều tiếng
Tàu, ngôn ngữ Thái ở Vọng Các lại bị Phạn ngữ tràn ngập. Thí dụ một khách sạn
sang trọng, họ nói là Prâ-Barom-Mâhá-Ral-Châwâng. Đó là Phạn ngữ, còn dùng làm
sao được? Cho đến dân Thái chánh hiệu mà nghe những danh từ Ấn Độ đọc sai đó
còn chẳng hiểu gì huống chi ta chỉ tìm gốc Mã ngữ đơn giản mà thôi. Chỉ có tiếng
Thái ở sông Đà mới là thuần túy, theo H. Maspéro, nhưng sách cũng lại quá ít,
và đi tới nơi thì không thể được, không phải vì tốn tiền xe mà vì đó là đất chiến
lược của Bắc Việt, chỉ có trời mà xâm nhập vào đó mới được.
Thế nên chúng tôi đặc biệt chú trọng đến các ngôn ngữ của đồng
bào Thượng là thứ người còn thuần túy Mã Lai. Chúng tôi đã đưa ra thí dụ để chứng
minh rằng đồng bào Thượng không hề là Cao Miên như các ông Tây đã nói, mà trái
lại còn gần gốc Mã Lai hơn Cao Miên rất nhiều.
Học tiếng Chàm, tiếng Thượng, tiếng Thái, tiếng Môn tương đối
dễ mà còn bể đầu như vậy. Học tới tiếng Mã Lai thì thật muốn hóa điên. Những
ngôn ngữ Mã Lai được các nước Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai Á dùng làm thừa
ngữ chánh thức, không thể dùng được, nên có sách nhiều cũng như không, vì ba
ngôn ngữ đó bị Phạn ngữ và Á Rập ngữ tràn ngập.
Mã Lai ngữ chánh hiệu, cổ sơ, là phương ngữ của các bộ lạc ở
trong rừng sâu, mà chúng tôi không có phương tiện học được.
Chỉ có người Hòa Lan là biết rõ thôi. Thế nên muốn học Mã Lai
ngữ cổ sơ, phải có hai quyển tự điển Hòa - Mã và Pháp - Hòa. Thí dụ muốn biết
danh từ Lá cây, Mã Lai chính hiệu nói sao, phải tra tự điển Pháp Hòa nơi
chữ Fuille xem Hòa nói thế nào. Rồi lại xem tự điển Hòa Mã cổ sơ coi Mã cổ sơ
dùng danh từ gì. Tìm một danh từ, mất đến 20 phút đồng hồ, có khi hai tiếng đồng
hồ, vì có quá nhiều bộ lạc, mà tự điển không có in để bán, mà nằm trong đủ thứ
tạp chí của Hòa Lan, rất khó tìm. Riêng Phi Luật Tân, có hơn 70 phương ngữ khác
nhau.
Từ ngày họ thu hồi độc lập, ở cả ba nước đó đều chọn một
phương ngữ quan trọng để làm thừa ngữ cho giáo dục và ngoại giao. Sự chọn lựa
này, khác hẳn ở Ấn Độ, tức không căn cứ trên số đông người nói mà căn cứ trên
cái phương ngữ nhiều khả năng nhứt, tức diễn được dễ dàng nhứt những việc trừu
tượng, những cảm nghĩ tế nhị.
Ở Anh Đô Nê-xia thì phương ngữ của đảo Java được dùng làm
ngôn ngữ chánh thức cho toàn quốc vì đảo ấy xưa kia chịu ảnh hưởng Ấn Độ nhiều,
đã lập được một nền văn minh rực rỡ với nhiều sách vở. Ngôn ngữ đó tên là Jawi.
Ở Phi Luật Tân thì phương ngữ Tagal được chọn, Tagal,
kém hơn Jawi vì Phi chưa bao giờ có văn hóa cao như Java.
Nhưng đại để cũng y như Việt ngữ, là vay mượn rất nhiều của
cái nước khai hóa là Ấn Độ, như ta đã vay mượn của Tàu.
Thế nên muốn tìm gốc Mã Lai của ngôn ngữ, không thể
dùng Jawi và Tagal được, mà trái lại, nên lục lạo trong các
nhóm Mã Lai cổ sơ không chịu ảnh hưởng Ấn Độ.
Người Hòa Lan và người Anh họ làm tự điển cho các quốc gia Mã
Lai, khoa học không thể nào tưởng tượng được. Họ không bao giờ lầm lẫn gốc tổ
Mã Lai với những vay mượn của ngoại chủng, mà ngoại chủng nào họ đều có ghi rõ:
Phạn, Á Rập, Trung Hoa, Ba Tư (nên nhớ rằng theo khám phá mới nhứt thì dân đi
khai hóa các xứ Mã Lai, Cao Miên và Chàm, không phải là người Ấn Độ mà người Nhục
Chi đang thống trị hai đại cường quốc Ba Tư và Ấn Độ trước Tây lịch mấy trăm
năm).
Những vay mượn lẫn nhau trong các nhóm Mã Lai, họ không gọi
là vay mượn nhưng ghi chú là: "Phương ngữ Mã Lai ở…". Thí dụ làm tự
điển Việt Nam thì danh từ Xoài không nên nói là vay mượn của Cao
Miên, mà nên làm như họ: "Phương ngữ Mã Lai Khơ Me: Swai, phương ngữ
Mã Lai Âu tức Thái Huai".
Còn Muỗm của Bắc Việt là đích tập hợp vay mượn của
Phạn ngữ qua trung gian Thái.
Quả thật thế, Bắc Việt nói Muỗm, Thái vừa nói Huai,
vừa nói Muang.
Muỗm vay của Muang mà Muang là vay của
Phạn ngữ Mangga. Tàu cũng vay của Phạn ngữ mà nói là Máng (quõ).
Đó là Quan Thoại, chớ Quảng Đông thì nói là Moóng (quõ), tức Mang
quả hoặc Mông quả.
Chỉ có ba danh từ sau đây mới là danh từ Mã Lai đợt I:
Việt Nam: Xoài
Cao Miên: Swai
Thái: Huai
Mã Lai đợt II ở Nam Dương mượn của Tamoul, Tamoul, tức Mã Lai
đợt siêu I, tức Mã Lai di cư trước Mã Lai đợt I Trung Hoa. Đó là danh từ Tamoul
Ămpătam, mà Tàu cũng có vay mượn và phiên âm là Am-ba-la.
Trong mấy chục quyển tự điển Âu châu Mã Lai mà chúng tôi tra
cứu, họ chỉ lầm có độc một danh từ, thì kể ra sự lầm lẫn hiếm hoi như thế là vô
địch rồi vậy.
Đó là danh từ Mã Lai Tẻ, họ bảo là vay mượn của Tàu,
nhưng thật ra đó là gốc tổ Mã Lai đợt lưỡi rìu hình chữ nhựt ở Hoa Nam.
Quả thật thế, dưới thời Chu, người Tàu tìm được trà ở Ba Thục.
Nhưng họ gọi là Đồ, là Dinh (Bắc Việt gọi là Dánh), chớ
không gọi là trà.
Danh từ Quan Thoại Txã chỉ xuất hiện sau khi Tần Thỉ
Hoàng đánh xuống Ngũ Lĩnh. Đó là danh từ Âu, tức Thái mà họ vay mượn tại nước
Đông Âu (Nam Triết Giang), dân Âu đọc là Txà mà ngày nay hậu duệ của
họ là người Quảng Đông còn đọc y hệt như vậy.
Danh từ Tẻ, là danh từ Lạc Việt bộ Mã, tức Thất Mân
(Phúc Kiến) mà đa số các nước da trắng vay mượn vì họ tới Áo Môn (Phúc Kiến)
trước hơn các nơi khác.
Mà Mân Việt đích thị là Mã Lai đợt II, lưỡi rìu chữ nhựt.
Người Mã Lai Nam Dương nói Tẻ thì không phải là vay
mượn của Tàu, mà nói theo gốc tổ Mã Lai lưỡi rìu chữ nhựt ở Mân Việt vậy.
Xin chú ý: Trong các biểu đối chiếu ngôn ngữ Mã - Việt của
chúng tôi, khi nào chúng tôi để Mã Lai đơn giản thì tức nhóm Mã Lai nào cũng
nói y như thế: Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, bằng như các nơi đó nói khác
nhau, chúng tôi mới ghi đích xác xuất xứ.
Thí dụ: Mã Lai: Bônga = Cái Bông (Đóa hoa).
Như vậy có nghĩa là tất cả các đảo Mã Lai đều nói y hệt như
nhau.
(Nhưng bông Chămpa thì không được dùng để đối chiếu vì loại
bông đó của ta gọi là bông Đại hoặc bông Sứ chớ không gọi
là bông Chămpa như người Chàm vì họ là đợt II, nói khác một chút xíu).
Nếu như các địa phương Mã Lai nói khác nhau chút ít, chúng
tôi sẽ ghi rõ địa phương nào nói thế nào.
Và xin nhớ rằng:
A. Đảo Célèbes là đất của Mã Lai đợt I, thế nên khi nào một
danh từ mà Célèbes có thì kể như đó là danh từ đợt I, nên các nhóm khác là
Java, Sumatra, Mã Lai Á, Phi Luật Tân không có, mà Việt Nam thì lại có, vì Việt
Nam là Mã Lai hỗn hợp.
Những biểu đối chiếu mà không có Mã Lai, Chàm và Giarai trong
đó, xin quý vị chớ ngạc nhiên. Ba nhóm nói trên, chỉ là Mã Lai đợt II. Mã Lai đợt
I tuy đồng ngôn với Mã Lai đợt II, vẫn có một số danh từ riêng.
Trước khi có kết quả của khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc
học, không hề ai biết rằng có nhóm Mã Lai đợt I cả, chỉ biết có nhóm II vì họ tự
xưng là Mã Lai. Tuy nhiên, nếu các nhà ngôn ngữ như ông H. Maspéro chẳng hạn hoặc
ông Cabaton chẳng hạn mà tinh ý một chút xíu, cũng biết các dân tộc sau đây thuộc
Mã Lai đợt I: Thượng, Việt, Miên, Miến, Tạng, Thái, vì trong ngôn ngữ của sáu
dân tộc đó, có quá nhiều danh từ của Mã Lai đợt II, nhứt là Việt Nam thì gồm đủ
cả hai đợt ngôn ngữ.
Ông Cabaton là người độc nhứt trên thế giới đã biết rằng đồng
bào Thượng là Mã Lai chớ không phải Cao Miên, nhưng không rõ cớ sao ông lại
không biết rằng Việt Nam cũng thế, vì ngôn ngữ Thượng không khác Việt ngữ bao
nhiêu.
Ông G. Cocdès đã nói một câu rất thông minh và rất bất ngờ:
"Ai biết người Lạc Việt của thời hai bà Trưng dùng ngôn ngữ nào thì nguồn
gốc của dân tộc Việt Nam sẽ là một vấn đề dễ giải đáp".
Trong chương này, chúng ta tìm biết ngôn ngữ của hai bà Trưng
đây. Hơn thế, ta lại biết cả ngôn ngữ của vua Hùng Vương, nó khác hơn một chút
xíu.
Đã bảo khoa khảo tiền sử cho ta biết rằng ở xứ ta có hai đợt
Mã Lai hỗn hợp, đợt II chính là người Nam Dương ngày nay, thế thì ta lấy tập tự
vựng Việt ngữ, trừ đi các tiếng Mã Lai Nam Dương thì lòi ra ngôn ngữ của vua
Hùng Vương là người của đợt I.
Mà ngôn ngữ của đợt I của vua Hùng Vương không có gì là bí hiểm.
Đó là Môn ngữ, Miến ngữ, Khơ Me ngữ và Thượng Việt ngữ, Tạng ngữ, Nam Ấn ngữ.
Hai bà Trưng vừa nói Chơn (đợt I) mà cũng vừa
nói Cẳng (đợt II). Nhưng vua Hùng Vương các đời 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
8, 9 chẳng hạn thì không hề biết Cẳng, bởi bọn đợt II chưa tới nơi.
Người Chàm, đa số là đợt II, nên chỉ biết Cẳng mà không hề biết
Chơn.
Vì gồm đến hai đợt hỗn hợp nên Việt ngữ rất giàu. Chàm cũng
thế, nhưng như đã nói, đợt I của họ ở miền Bắc (Lâm Ấp) không liên lạc được nhiều
với đợt II (miền Nam) vì nước họ là những cái ô ngăn cách với nhau, chỉ thống
nhứt lỏng lẻo về chánh trị mà không thống nhứt về văn hóa, ngôn ngữ miền Bắc
không xuống miền Nam được và khi miền Bắc bị chiếm rồi thì họ chỉ còn độc nhứt
một đợt phương ngữ mà thôi là đợt II. Tuy đợt I và đợt II cũng có rất nhiều
danh từ giống nhau, nhưng đồng thời cũng có nhiều danh từ khác nhau, như Chơn
và Cẳng nói trên.
Nhựt Bổn cũng gồm hai đợt, nhưng họ không giàu lắm, và một cuộc
hợp chủng nào không rõ, có lẽ là với Hà Di (Aino) làm họ rất nghèo âm. Khi sự
nghèo túng ấy trở thành cơ hàn thì khó lòng mà giàu được. Ông Châm Vũ Nguyễn Văn
Tần nói rất đúng rằng họ có hàng trăm danh từ đọc là TÔ (tô): Đấu là
Tô, Mười cũng là Tô, Chim cũng là Tô, Dây mây là
Tô, Cửa là Tô, Đầu là Tô, Đáp lời là Tô, thì có
giàu cũng hóa nghèo xơ.
Riêng cổ ngữ Tây Âu đã làm cho chúng tôi thắc mắc vô cùng mà
không sao giải đáp được.
Nước Tây Âu (Lưỡng Quảng) là nơi nương náu cuối cùng của tất
cả Âu đời xưa, Ba Thục đời Chu v.v. Lạc không có chen chơn vào đó được vì họ đã
quá đông dân rồi (vì thế mà đạo binh viễn chinh của Tần Thỉ Hoàng mới lọt vào ổ
kiến lửa tại đó).
Thế mà không hiểu sao trong ngôn ngữ Tây Âu lại có quá nhiều
danh từ Mã Lai đợt II.
Nói là họ vay mượn, thì cũng được đi; nhưng sao họ lại vay mượn
cả những danh từ không cần thiết mà họ đã phải có rồi thuở mà họ còn là Cửu Lê.
Thí dụ danh từ Trời của họ là danh từ của Lạc đợt
II mà Chàm và Nam Dương đang dùng, trong khi đó thì từ khi là Cửu Lê, đến lúc
là Âu họ cũng văn minh y hệt như Lạc chớ không có kém, hơn chút nào hết.
Những danh từ mà họ và Việt Nam giống nhau thì rất dễ hiểu vì
như đã nói trong Cửu Lê có Lạc đợt I. Nhưng mà sự hiện diện của Lạc đợt II
trong đó khó quan niệm được vì họ bận tiếp đón quá nhiều dân Âu bị Tàu đánh đuổi,
kể cả dân Ba Thục cũng dồn xuống đó nữa, nghĩa là bao nhiêu Âu từ Hoa Bắc tới
Hoa Nam đến đổ dồn vào nước Tây Âu, không còn chỗ chen chơn. Cuộc kiểm tra dân
số của Tàu nhà Hán đã cho thấy rằng họ mười lần đông hơn Cổ Việt Nam thì bọn Lạc
đợt II làm thế nào mà lọt vào đó được. Bằng như nói họ vay mượn của Lạc II có địa
bàn tiếp cận với họ thì không ổn vì họ mượn toàn những tiếng mà họ phải có rồi
là làm sao?
Đó là điểm độc nhứt trong quyển sách này mà chúng tôi không
thể cắt nghĩa được bằng ức thuyết nào cả.
Thí dụ hoa đại, hoa sứ, thì họ nói y như Chàm là Bôngga Chămpa chớ
không nói như Việt Nam là Bông đại, trong khi họ còn phải nói y theo Việt
Nam vì họ là Mã Lai đợt I, còn ta thì đa số là Mã Lai đợt I (?).
Nhạc sĩ Lê Thương có sống ở Lào, có viết bản nhạc lấy ngôn ngữ
Thái Lào làm tên cho bản nhạc đó là: Ô đuống Chămpa. Chúng tôi có hỏi nhạc sĩ
có biết tại sao mà Thái Lào không dùng danh từ Mã Lai đợt I để chỉ loài hoa ấy,
mà lại dùng danh từ của Mã Lai đợt II, thì nhạc sĩ cũng chẳng biết tại sao mà
có chuyện kỳ lạ như vậy, điều chắc chắn là người Thái Lào gọi hoa đó y như
Chàm, là Chămpa, chớ không biết danh từ Đại hay Sứ.
Về danh từ Trời thì rất dễ hiểu. Cả hai đợt Mã Lai đều có hai
danh từ Trời, tùy theo nghĩa thiêng liêng (ông Trời) hay nghĩa vật chất (vòm trời).
Việt Nam đã đánh mất hết một danh từ, Thái Lào cũng thế, Nhựt Bổn cũng thế, nên
ba nhóm ấy chỉ còn có một danh từ, nhưng Thái Lào khác ta vì họ lại đánh mất
cái danh từ mà ta còn, còn ta thì đánh mất cái danh từ mà họ đang có.
Những chứng minh ở chương trước của chúng tôi, đã giúp chúng
tôi vẽ ra ở cuối tiểu mục Đ một đổ biểu chủng tộc.
Ở đây chứng minh của chúng tôi cũng phải đi sát cái đồ biểu ấy,
tức chứng minh rằng các nhóm Mã Lai: Việt, Thái, Cao Miên, Chàm, Miến Điện, Tây
Âu (cổ Quảng Đông), Ba Thục (cổ Tứ Xuyên) gì cũng đều đồng ngôn ngữ với nhau và
tất cả đều quy về cái gốc tổ Tây Tạng.
Không làm như vậy được ở đây, cũng không thiếu sót, vì chứng
tích quan trọng bực nhứt là chỉ số sọ, cũng đã đủ rồi, nhưng thêm được chứng
tích quan trọng bực nhì càng hay.
Tuy nhiên, chứng tích quan trọng này dĩ nhiên là phải bị bể vỡ
từng manh mún chớ không toàn vẹn như những cái sọ, vì như đã nói, ngôn ngữ là
văn hóa, không ai mượn sọ được, nhưng mượn ngôn ngữ thì được.
Nhưng đây là vay mượn nội bộ, chớ không phải vay mượn bên
ngoài. Đành rằng ta có vay mượn tiếng Tàu, tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng đó là
vay mượn về sau kỷ nguyên Kitô, chúng tôi không kể vào, mà chỉ cứu xét về ngôn
ngữ sơ khai của tổ tiên ta buổi đầu, cách đây trên hai ngàn năm thôi, ấy thế mà
cũng đã có vay mượn rồi, vào thuở đó.
Vậy xin đừng ai mong hiểu được một câu chuyện của người Mã
Lai, hoặc nói một câu ngắn bằng tiếng Việt mà họ hiểu được đâu. Đã bảo hiện có
hơn 1.000 nhóm kim Mã Lai thì tìm thấy ngữ căn là may mắn lắm rồi đó.
Số là một chủng tộc quá lớn như chủng tộc Mã Lai thì tự nhiên
vào thời thượng cổ, họ chia ra thành nhiều chi nhóm, ban đầu đồng ngôn với nhau
cả, nhưng các chi ấy lại tủa ra khắp nơi (tùy theo đà phát triển của chủng tộc)
để tìm sinh kế và tại các địa bàn mới, vì ảnh hưởng khí hậu, họ nói khác giọng
với nhau chút ít như Bắc Việt với Nam Việt.
Mỗi địa bàn mới đó lại tự phát triển ra nữa và chung đụng với
các dân khác quanh họ, vay mượn đủ thứ của người xa lạ kể cả ngôn ngữ, thành thử
họ bắt đầu nói khác nhau. Thí dụ trực tiếp nhứt là người Việt miền Nam có danh
từ Bưng biền vay mượn của Cao Miên, mà người Việt miền Bắc không có.
Miền Bắc cũng không có danh từ Rạch chỉ phụ lưu một con sông.
Với thời gian, nhứt là với không gian, đôi khi họ vay mượn của
ngoại nhân cả âm, thanh, cú pháp, văn phạm nữa, chớ đừng nói là danh từ.
Hiện nay dân thổ trước Papou chỉ đông có 70 ngàn người, thuộc
chủng Mê-la-nê hết thảy, nhưng có nhiều bộ lạc nói, bộ lạc khác nghe không hiểu,
phương chi dân Maori ở Tân Tây Lan, cũng thuộc chủng Mê-la-nê thì không mong hiểu
được Papou, mặc dầu họ đồng gốc tổ Mê-la-nê với nhau hết.
Nhưng các nhà ngôn ngữ học biết được họ đồng gốc tổ, chính nhờ
những danh từ căn bản (basic) của họ.
Các phương ngữ biến dạng theo một cái luật, và luật ấy đã được
biết, dầu có bể ra từng mảnh nhỏ, ngôn ngữ ấy cũng còn truy nguyên ra được
trong các thứ ngôn ngữ đồng gốc mà được thành hình về sau.
Chúng tôi xin vẽ ra một đồ biểu trừu tượng chỉ sự phân tán,
và vay mượn.
Rất nhiều học giả Việt Nam chủ trương rằng Việt ngữ là một
ngôn ngữ hỗn hợp mượn đây một ít, kia một ít, mà không biết rằng những nơi cho
mượn toàn là các nhóm cổ Mã Lai, tức không có vấn đề hỗn hợp gì hết, vì tất cả
các nhóm ấy đều mượn qua mượn lại với nhau sau một giai đoạn biến khác, dài
hàng ngàn năm.
Gốc tổ ban đầu A
Phân chia rồi biến giọng, tân tạo danh từ, tùy nhu cầu địa
phươngVay mượn Giữa các nhóm và ngoại nhân. Ngoại nhân được ghi bằng X và YSự
nhìn lại nhau của vài nhóm sống sót
X và Y
BB = A + Đ + XC chỉ nhận được nhờ
CC = A + D + Yyếu tố A và vay mượn
DD = A + E + XY nhưng cái gốc tổ A
ĐĐ = A + F + Ycàng lâu đời càng bị
Evân vânbiến dạng rất xa nhau.
F\Thí dụ ta nói Xơi, Cao
\Miên nói Xi, Bà Na nói Sa.
Thí dụ cụ thể và trực tiếp:
Sông của nhóm ASông của nhóm BNhưng A và B nhận
TháiKhungCao MiênT’lênhau được nhờ danh
ChàmKrongSơ ĐăngTơ lêtừ Trái
MườngKhôngJêhTlêViệt Nam cổBlái
Bà NaKrông\MườngBlái
KhảHông\Cao MiênPhle
Việt NamSông\Bà NaPlây
Cao MiênStung (Phụ lưu)\Sơ ĐăngPlây
Mã LaiSôngai\TháiPho la
\KhảP’lai
\MạPlây
(Sách của các cố đạo xưa viết là Blái hoặc Tlái, người Mường
ngày nay cũng nói Blái hoặc Tlái).
Đôi khi tất cả các nhóm đều nhận nhau được nhờ gốc tổ Mã Lai
mà nhóm nào cũng giữ được hết thảy. Thí dụ danh từ Lê (cây).
Biểu đối chiếu số 1
Việt Nam: Lá cây
Mã Lai Célèbes: Hạalaa
Chàm: Halaa
Bà Na: Hlaa
Sơ Đăng: Hla
Giarai: Laa (Xin đừng lầm với động từ La của Giarai; chỉ có một chữ A và
cũng có nghĩa là La, y hệt như Việt Nam)
Mạ: Nhla
Mường: La
Nhựt Bổn: Hạ
Triều Tiên: Hạ
Mã Lai Kedat: Kelat
Mã Lai Sembilan: S#rela
Mã Lai Johore: Ulat
Mã Lai Á: Layu (chỉ được dùng để gọi lá héo)
Cao Miên: Slat
Khả Lá Vàng: Sala
Khả Văn Minh: Là
Cổ ngữ Ba Thục: Lạ
Cổ ngữ Tây Âu: Lá (Người Quảng Đông gác Tây Âu, hiện nay nói Dịp, tức Diệp.
Nhưng đồng thời họ cũng nói Lá).
Xin đừng ngạc nhiên mà thấy vắng mặt danh từ Thái trong biểu
đối chiếu này. Thái cũng là Việt, tức Mã Lai, nhưng thuộc một chi khác, chi Âu.
Tất cả các dân tộc có mặt trong biểu đối chiếu này đều thuộc ba chi Lạc, Lạc bộ
Trãi. (Việt Nam, Thượng), bộ Mã (Giarai, Chàm, Nam Dương) và bộ Chuy (Tạng, Miến,
Môn và Khơ Me).
Nhưng ở các biểu đối chiếu khác sẽ có Thái. Tuy nhiên, vẫn ít
thời vì cái yếu tố Thái trong Việt ngữ mà ông H. Maspéro cứ nói đến mãi, thật
ra là yếu nhứt trong Việt ngữ vì cái lý do giản dị là Thái thuộc chi khác.
Danh từ Thái là Bai (Mai). Nhưng không nên kể đến từ Mai,
bởi đó là tiếng Tàu Mộc. Họ nói Lã Mộc thay cho lá cây, tức
chi Âu mất ngôn ngữ nhiều hơn chi Lạc. Điều đó cũng dễ hiểu. Chúng tôi đã nhiều
lần nhấn mạnh rằng chi Âu không hề ra khỏi nước Tàu, trước thế kỷ thứ X. Hiện họ
gồm:
Người Quảng Đông bị đồng hóa 99%
Người Nùng bị đồng hóa 70%
Các thứ người khác bị đồng hóa 50%
về mặt ngôn ngữ và phong tục, văn hóa.
Các đảo Mã Lai còn một danh từ nữa, đó là danh từ của nhóm Lạc
Lê.
Tàu Hải Nam gốc Lạc Lê: Đo
Mã Lai: Đôn
*
Dân Việt Nam là Mã Lai hỗn hợp nên dùng danh từ của cả ba thứ
Lạc và cả danh từ của Âu tức Thái nữa.
Thí dụ điển hình nhứt là danh từ Vú, Sữa và Núm
Vú. Vú và Sữa là danh từ của Lạc bộ Mã, họ nói Sú Sú,
ta biến thành Vú và Sữa.
Danh từ của chi Âu Nóm là Vú, ta nhập Nóm với Vú để
tạo ra Nóm Vú chỉ cục thịt nhỏ ở đầu vú.
Tóm lại, quả thật ta lượm lung tung, đầu này một ít, đầu kia
một ít, nhưng chỉ lượm trong đại cộng đồng Mã Lai, chớ không hề vay mượn của chủng
tộc nào khác hết.
Mà các quốc gia Mã Lai khác như Thái, Cao Miên cũng thế, chớ
không riêng gì là ta. Họ cũng ghép danh từ của lu bù nhóm Mã Lai để tạo danh từ
riêng của họ. Thí dụ điển hình nhứt là danh từ Ma Nam của Thái, sẽ
nói thật rõ ở biểu đối chiếu về các danh từ Ma.
Trong chủng Ấn Âu cũng thế, Pháp, Đức, Anh, Tây Ban Nha mượn
của nhau lung tung rồi biến nghĩa, tạo danh từ riêng cho họ, thành thử trong một
danh từ Đức có danh từ Nga cộng với danh từ Pháp, với danh từ Albanie, rất là
ngộ nghĩnh như Nóm vú của ta. Riêng người Thái Lan thì loạn xà ngầu,
họ ghép Phạn ngữ, Thái ngữ, Môn ngữ để tạo một danh từ vô cùng kỳ dị mà chỉ có
các nhà bác học mới tầm nguyên được mà thôi.
Biểu số 2
Việt Nam: Cột (dây)
Mạ: Kơt
Giarai: Keet
Sơ Đăng: Kơt
Bà Na: Kơơt
Chàm: Kaat
Mã Lai: Ikat
Đây là động từ của Lạc bộ Trãi và bộ Mã, còn Lạc bộ Chuy, Cao
Miên, Miến Điện thì nói là Chon.
Biểu số 3
Việt Nam: Cháu (con cháu)
Mạ: Sáu
Mường: Cau
Giarai: Côô
Sơ Đăng: Caô
Bà Na: Saô
Cao Miên: Chau
Mã Lai: Chu
Biểu số 4
Việt Nam: Chim
Bà Na: Sêêm
Sơ Đăng: Chim
Mường: Chim
Khả Lá Vàng: Tiêm
Bộ lạc Irogo Phi Luật Tân: A chêm
Biểu số 5
Việt Nam: Cò (con cò)
Mạ: Kô
Bà Na: Kook
Giarai: Koo
Mường: Ko
Mã Lai: Kua (chỉ được dùng để gọi là Cò ăn đêm)
Biểu số 6
Việt Nam: Con (cha con)
Bà Na: Koon
Sơ Đăng: Kooon
Cao Miên: Kôn
Mạ: Kon
Mường: Kon
Biểu số 7
Việt Nam: Con (con vật)
Cao Miên: Ko
Mạ: Ko
Bà Na: Ko
Sơ Đăng: Ko
Giarai: Ko
Mường: Ko
Lạc bộ Mã không có loại từ Con. Chi Âu tức Thái thì dùng loại
từ Con để chỉ Người, và vì vậy, không còn loại từ Con nữa.
Biểu số 8
Thí dụ này hơi rắc rối. Trước hết nên biết rằng ta có hai
danh từ để chỉ một gia súc: đó là lợn và heo. Trong rừng Cao nguyên lại có một
con vật hơi giống con heo, đó là con Agouti, mà ta gọi là con Cúi. Nhưng về
sau, lợn, heo cũng được ta gọi là Cúi.
Việt Nam: Cúi tức Heo, Lợn
Mường: Kuy
Cao Miên: Kui
Sơ Đăng: Cuur
Giarai: Kuai
Khả Lá Vàng: Kur
Dùng chung để chỉ lợn và Agouti
Biểu số 9
Việt Nam: Lội (Bơi lội)
Thái: Lô Y
Giarai: Loôi
Bà Na: Glôôi
Chàm: Luôy
Mã Lai Bontok (Phi): Luôy
Biểu số 10
Việt Nam: Nghe (hoặc Tai)
Giarai: T’nghĩa = Nghe
Khả: Sẽ = Nghe
Bà Na: I’nghẻ = Nghe
Chàm: Tauyô = Tai
Mã Lai Célèbes: Tngar = Nghe
Mã Lai Á: Tảlinga (Tai)
Mã Lai Á: Mảnảnga (Nghe)
Biểu số 11
Việt Nam: Chó
Mạ: So
Cao Miên: Cho
Giarai: Tsao
Khả Lá Vàng: Acho
Sơ Đăng: Coo
Bà Na: Soo
Mường: Coo
Chàm: Tho
Mã Lai Célèbes: Atho
Mã Lai Á: Asu
Người Mường lại có một danh từ nữa là Khai mà Cao
Miên đã mượn. Khai của Mường có nghĩa là Chó, nhưng đồng thời
cũng lại có nghĩa là Cọp.
Theo cố đạo L. Cadière thì tiếng Việt xưa cũng gọi con
chó là con khai, di tích còn thấy mãi cho đến ngày nay tại thôn quê hẻo
lánh ở Quảng Bình, và đó là hình thức cổ sơ của danh từ Cầy.
Cầy là danh từ của đợt I, còn Chó là danh từ của đợt II.
Người Mường thuộc đợt II, nhưng họ nói Chó vì chịu ảnh hưởng ta. Họ
cũng nói Cầy với hình thức cổ là Xhai, nhưng lại cho nó một cái
nghĩa rất sang là Cọp vì một cái luật văn phạm dưới đây.
Ta thấy Lạc Việt đợt I, tức nòng cốt của Việt Nam, có cái đặc
sắc này là những danh từ vay mượn của đồng chủng, đồng bào, họ chỉ cho nó giá
trị hạng nhì mà thôi.
Đừng nói chi là danh từ của chi Âu, cả danh từ của chi Lạc đợt
II, cũng chỉ được ngồi ghế hạng nhì. Thí dụ Chơn. Chơn là danh từ của Hùng
Vương, nên nó giữ ngôi sang trọng. Ta có thể nói "Dấu Chơn của hai bà
Trưng trên chiến trường chống Mã Viện". Nhưng ta không thể nói "Dấu Cẳng của
hai bà Trưng", vì Cẳng là danh từ của đợt II, ta nghe không
sang.
Trong khi đó thì người Chàm và người Nam Dương lại cho danh từ Cẳng một
địa vị thơ mộng và cao quý. Họ nói Cẳng của nàng rất đẹp. Họ
nói Cẳng Trời, thay vì Chơn Trời như ta.
Ta có thể lập ra cái luật văn phạm này mà rất ít vấp ngoại lệ:
A. Khi Việt ngữ có hai từ đồng nghĩa, thì luôn luôn từ thứ
hai bị lép vế, và chắc chắn từ đó là vay mượn của một nhóm Mã Lai khác.
Xơi (đợt I) sang hơn Ăn (đợt II)
Cầy (đợt I) - Chó (đợt II)
Chó (Lạc đợt I) - Chó má (chi Âu)
Ngỗng (Lạc bộ Trãi) - Ngan (Lạc bộ Chuy)
Chơn (đợt I) - Cẳng (đợt II)
Cẳng (đợt II) - Giò (Chủng Mê-la-nê)
B. Khi Việt ngữ có ba từ đồng nghĩa thì từ thứ ba có một
nghĩa xấu tệ và đó là vay mượn của một chủng kém hơn hoặc của một chi khác hơn
là chi Lạc.
Cầy sang hơn chó, mà chó thì sang hơn chó má, chỉ dùng để chưởi,
vì Má, Mã là danh từ của chi Âu tức Thái, chớ không phải của chi Lạc,
mặc dầu trong chi Âu, nó chỉ có nghĩa là chó chớ không có gì là kém cỏi hết.
Sở dĩ người Mường (đợt II) cho Cầy có một nghĩa sang trọng vì
thấm nhuần cái luật đó. Họ chỉ là khách trọ của Hùng Vương, tức chỉ là Mã Lai đợt
II ở trọ với Mã Lai đợt I. Họ đã phải thần phục vua Hùng Vương về mọi mặt, như
ta sẽ thấy, mặc dầu thuở di cư đến cổ Việt, họ đã văn minh cao lắm. Thế nên họ
tự động đưa Cầy của ta lên thật cao với cái nghĩa là Cọp.
Biểu số 12
Việt Nam: Ngày
Môn: Tngay
Cao Miên: Thngay
Jêh: Ngaai
Kơ Young: Ngaai
Sơ Đăng: Haal
Mường: Ngai
Khả Lá Vàng: T’ngai
Trên đây là danh từ của Mã Lai đợt I. Mã Lai đợt II nói Hari.
Danh từ Hari này, rất là rắc rối trong Mã Lai ngữ
và Nhựt ngữ, nhưng khi nó len vào ngôn ngữ ta thì nó làm cho thiên hạ điên đầu.
Trong ngôn ngữ Mã Lai Hari có nghĩa là Vòm Trời (vật
chất), là ông Trời (thiêng liêng) và cũng có nghĩa là Ngày.
Nhưng có ai tin được rằng Hari biến dạng thành Trời hay
không? Chắc là không. Ấy thế mà có sự biến dạng kỳ dị đó. Chúng tôi biết được
là nhờ những cái khoen nối kết của xâu chuỗi biến dạng ấy.
Dầu sao, Mã Lai đợt I vẫn giàu danh từ hơn Mã Lai đợt II, ta
có Ngày lại có Trời, còn họ thì chỉ có Hari.
Trong Nhựt ngữ, Hari biến thành Hara.
Mã Lai đợt II có Langít để chỉ Vòm trời (vật
chất) nhưng các nhóm Mã Lai đợt I như Cao Miên, Thái cũng đều có (nhưng Việt
Nam đã đánh mất Langít. Chúng tôi nói đánh mất, mà không nói là không có, vì
Cao Miên và Thái có thì ta phải đã có, và một thời nào đó).
Sẽ trở lại vấn đề này sâu hơn, trong biểu đối chiếu về danh từ Trời.
Biểu số 18
Việt Nam: Ngoài
Mường: Ngwai
Bà Na: Tơ nguải
Khả Lá Vàng: Hòi
Sơ Đăng: Rơ nghieo
Cổ ngữ Ba Thục: Ngôi
Nhiều tỉnh Trung Việt nói Ngòi tức trung gian giữa Ngoài và
Hòi của Khả Lá Vàng.
Biểu số 14
Việt Nam: Người
Bà Na: Bngoai
Sơ Đăng: Bngaai
Giarai: Ngaai
Mường: Mwai, Mwal (ta biến Mwal thành Mường và Mwai thành Mọi)
Cao Miên: M'Nư
Khả Lá Vàng: R’Nui
Khả Bolooen: P’Nui
Mã Lai Phi Luật Tân: Mnui
Thái: Muang (xóm đông người, hoặc thị trấn đông người, ta cũng biến thành Mường).
Trên đây là danh từ Mã Lai đợt I, lưỡi rìu tay cầm. Còn Mã
Lai đợt II thì ORANG là người, không được dùng trong ngôn ngữ Việt
Nam, mặc dầu đợt II cũng có mặt đông đảo ở Cổ Việt vì chính họ là tác giả trống
đồng. Vì thế mà ta cũng cần biết:
Mã Lai, Chàm: ORANG
Triều Châu, một trong Thất Mân: NÁNG
Tàu Hải Nam gốc Lạc Lê: NÀNG
Thất Mân là Lạc bộ Mã, tức cũng là cổ Mã Lai Bách Việt đợt
II. Đã nhiều lần, chúng tôi có nói đến việc tiêu cực đề kháng của người Tàu Hoa
Nam, họ là Mã Lai, bị đồng hóa với Tàu, họ nói tiếng Tàu (sai giọng chút ít)
nhưng mỗi nhóm còn giữ được hơn trăm danh từ Mã Lai.
Quả thật thế, Người, tiếng Tàu là Dỉl, bị dân cổ
Tây Âu tức Quảng Đông, đọc sai chút ít, hóa ra Dành. Nhưng Náng thì không
thể là biến dạng của Dỉl được như Dành.
Bằng vào danh từ Nàng của Hải Nam gốc Lê, ta biết
được họ là Mã Lai đợt II, rất gần gũi với Thất Mân tức Lạc bộ Mã. Nhưng ông H.
Maspéro cho rằng Hải Nam là Thái đen, thuộc chi Âu. Như thế là sai.
Chỉ có thể kết luận Hải Nam là nhóm Lạc Lê, nên họ mới có
danh từ Nàng của Lạc.
Ta chỉ còn bí về danh từ cổ thời, không biết Triều Châu đã biến ORANG thành NÁNG hay
chính Mã Lai đã biến ONÁNG thành ORANG.
Có lẽ Triều Châu và Hải Nam là thủ phạm vì chịu ảnh hưởng
Tàu, họ đánh mất âm R mà xưa kia họ có, vì họ là Mã Lai, còn Tàu thì
không bao giờ có âm R.
Nhưng Mã Lai đợt I lại còn một danh từ nữa để chỉ Người mà
chỉ có Âu tức Thái là có dùng. Đó là danh từ Kon, được người Lào biến
thành Cần.
Kon, bị Việt ngữ biến thành loại từ Con. Loại từ Con,
chỉ có Thượng Việt (Mã Lai đợt I) là có, y như ta, còn Mã Lai đợt II tuyệt đối
không có loại từ Con, cả Mã Lai đợt I là Thái cũng không có.
Có lẽ khi xưa, tất cả Mã Lai đợt I đều có, nhưng chi Âu đã biến
nó thành Người rồi thì không thể dùng làm loại từ được nữa.
Biểu số 15
Việt Nam: Rễ (cây)
Sơ Đăng: Rễ
Bà Na: Rở
Mạ: Rỉa
Biểu số 16
Việt Nam: Khiên (tức cái mộc, cái thuẫn)
Chàm: Kheèl
Cao Miên: Khèl
Bà Na: Khèl
Sơ Đăng: Khèl
Kơyong: Khèl
Khiên, kheèl, khèl gì cũng là danh từ của Mã Lai đợt I mà Mã
Lai đợt II không có. Nhưng Chàm vốn là Mã Lai đợt II lại có. Thế nghĩa là trong
dân tộc Chàm cũng có hai đợt. Khoa khảo tiền sử không biết điều đó, nhưng khoa
ngôn ngữ tỷ hiệu, bị khoa học chê, lại cho ta biết rõ hơn về nhiều chi tiết.
Mã Lai đợt I trong dân tộc Chàm là bọn Lạc lồi, tức dân ở quận
Nhựt Nam mà nơi đó bọn đợt II, bọn Khu Liên, tức bọn đã lập ra nước Tây Đồ Di,
đã nổi loạn với quan cai trị Tàu và lập ra nước Chàm thứ nhì là nước Lâm Ấp.
Như vậy, danh từ nào của Mã Lai đợt I mà Chàm có đều do Chàm
miền Bắc Lâm Ấp đưa xuống miền Nam Chiêm Thành khi họ thống nhứt xứ sở của họ.
Nhưng họ đưa không nhiều vì xứ sở của họ bị núi ngang làm trở ngại giao thông.
Biểu số 17
Việt Nam: Kiềng (vật 3 chơn để nấu ăn)
Giarai: Kên
Hbao: Kên
Koyong: Khiêên
Bà Na: Tkaan
Biểu số 18
Việt Nam: Kèn
Các nhóm Thái: Khèl
Khả Lá Vàng: Khèl
Biểu số 19
Việt Nam: Rảy (nước)
Mạ: Srỉ
Bà Na: Prả
Chàm: Hprai
Biểu số 20
Việt Nam: Chín (không sống)
Bà Na: Sin
Sơ Đăng: Sên
Cao Miên: Ch’eanh
Giarai: Tsêêng
Biểu số 21
Việt Nam: Con ruồi
Mạ: Ko Rhai
Môn: Ko Rui
Cao Miên: Ko Ruy
Bà Na: Ko Rooi
Kôhô: Ko Rha
Roglai: Ko Rouai
Braou: Ko Ruay
Hrê: Ko Ròi
Tampoun: Ko Roy
Biut: Ko Rhuai
Xi Tiêng: Ko Ruêi
Mường: Ko Ruuêi
Khả Lá Vàng: Kon Rruêi
Không có mặt đợt II trong biểu rất dài này, và điều này chứng
tỏ rằng Thượng Việt là Mã Lai đợt I.
*
Biểu số 22
Việt Nam: Đắng
Bà Na: Tang
Sơ Đăng: Sang
Biểu số 23
Việt Nam: Ngóc (đầu)
Bà Na: Ngơk
Giarai: Ngaak
Biểu số 24
Việt Nam: Đang (làm việc)
Bà Na: Tơ đang
Giarai: Tơ đang
Chàm: Ttang
Mã Lai Célèbes: Tđang
Biểu số 25
Việt Nam: Tê (bại)
Giarai: Tom
Giarai Pleiku: Pơtơm
Bà Na: Pơtơm
Biểu số 26
Việt Nam: Cái (Lớn: sông cái, kẻ đứng đầu: thợ cái)
Sơ Đăng: Kel (Lớn)
Bà Na: Akal (Quan trọng) Kơl (Cái đầu)
Mã Lai: Laki (Đàn ông, hùng mạnh, lãnh tụ, lực lượng, đực)
Chàm: Lì cáy (Đàn ông, lãnh tụ, đực)
Danh từ này cho ta biết một sự thật ngộ nghĩnh mà nhiều người
đã ngộ nhận. Là con của Phùng Hưng chỉ xây đền thờ cho cha, chớ không phải cho
cha và mẹ vì cái lẽ rằng mẹ ông ấy chỉ là một bà nội trợ tầm thường, không xứng
đáng gọi là đại vương. Người ta ngộ nhận vì danh từ Cái trong Bố Cái Đại Vương.
Nhưng Cái là danh từ Mã Lai, có nghĩa như trên vào
thời xưa: Bố Cái là ông cha hùng mạnh, ông cha thủ lãnh. Cả trong Mã ngữ ngày
nay cũng thế.
Chúng tôi nói có bằng chứng. Hiện nay Mã Lai có danh từ Ibu
Láki đúng nghĩa là Bố Cái, vì Ibu = Bố. Ibu Láki có nghĩa là
nhà lãnh đạo.
Láki của Mã Lai biến thành Lìcáy của Chàm và Cái của
Việt.
Và Con dại cái mang không có nghĩa là mẹ chịu trách
nhiệm, mà chính là cha chịu trách nhiệm đây.
Danh từ riêng của miền Nam: "Người lại cái",
có nghĩa là người bán nữ bán nam, chắc chắn là do danh từ Chàm mà ra. Đó
là Camay lagi lìcáy dịch ra từng chữ là Đàn bà mà lại còn là đàn
ông.
Camay = Đàn bà
Lagi = Lại còn
Licáy = Đàn ông
Ta lười biếng, nuốt mất Càmay lagi, chỉ còn LICÁY biến
thành LẠI CÁI. Một lần nữa, ta thấy Cái là đàn ông chớ không phải là
đàn bà.
Từ Lagi còn thấy được ở một địa danh trong tỉnh
Bình Tuy. Nơi đó xưa kia là đất của Phù Nam, rồi của Chàm, cả hai dân tộc ấy đều
nói tiếng Mã Lai đợt II thì thật là không biết địa danh ấy là của ai. Nhưng nói
đúng tiếng Mã Lai Nam Dương thì nó phải là Sa-Lagi. Nhưng chỉ có Sa-Lagi không
thì không có nghĩa gì cả. Chắc chắn là người Việt đã nuốt mất một vài tiếng
sau, như trong trường hợp trên đây, ta đã nuốt đến sáu tiếng Đàn bà mà lại
còn là.
Cái địa danh trên kia có lẽ là Sa-gi đánh nhau với
San La tức lại còn đánh nhau với Chân Lạp.
*
Tra các tự điển đất Bắc thì không có danh từ Lại Cái, mặc dầu
có danh từ Bố Cái. Có lẽ ngày xưa ngoài ấy cũng có, nhưng dân đất Bắc đâm ra mê
Tàu từ năm 1600, như đã giải thích khi nãy nên bỏ bông, trái, ghe, muỗng,
lại cái, dùng hoa, quả, thuyền, thìa, bán nam bán nữ. Mặc dầu họ xa Chàm,
nhưng miền Bắc là đất mà dân Mã Lai đợt II đã định cư và phục vụ vua Hùng Vương
đến 500 năm, và đã mượn đến 40% danh từ của Mã Lai Nam Dương thì lẽ nào lại
không có danh từ Lại Cái vào thời xưa.
Chú ý: Licáy biến thành Lại cái thì chữ Lại hoàn
toàn vô nghĩa vì nó là tiếng phiên âm. Người miền Nam hiểu lầm rằng Lại = Trở
thành, nên có một dạo họ nói Đàn bà lại đực, nhưng danh từ ấy không thành
hình, không được ai dùng cả, mặc dầu cuộc sáng tác đó kéo dài nhiều chục năm.
Thấy rõ sức mạnh của các danh từ, nó sống dai không thể tưởng tượng được. Lì biến
thành Lại một cách sai lầm đã mất nghĩa từ lâu, nhưng vẫn không ai có
tài nào cho nó một nghĩa khác được nữa.
Hiện nay người miền Nam nói Đàn ông lại cái tức là
nói sai. Câu đó có nghĩa là: Đàn ông - Đàn ông, tức rất vô nghĩa nếu xét
theo ngữ nguyên nhưng nó cứ đứng vững được hoài, vì người ta hiểu rằng: Cái
= Đàn bà.
Nếu hiểu như vậy thì Lại có nghĩa rõ ràng là trở
thành và có quyền nói Đàn bà lại đực, nhưng vẫn không nói được, vì
người sáng tác không được ai theo cả, có lẽ vì linh cảm cho họ nhớ cái nghĩa cũ
một cách âm thầm trong thâm tâm của họ, và họ âm thầm chống đối nghĩa mới bằng
cách không dùng. Còn từ Cái mang nghĩa là Giống Cái, là đàn bà,
do ngữ nguyên khác, sẽ nói đến sau.
Biểu số 27
Việt Nam: Sạch
Mạ: Sạt
Cao Miên: Soạt
Biểu số 28
Việt Nam: Cây, gậy
Giarai: Gaai
Chàm: Gaai
Rađê: Giê
Mã Lai Célèbes: Gaai
Biểu số 29
Việt Nam: Hút
Bà Na: Huuc
Kơyong: Huut
Uống nước bằng ống. Người Thượng dùng ống trúc nhỏ hoặc ống sậy
để uống rượu cần.
Biểu số 30
Việt Nam: Tro
Jêh: Blô
Kơ Yong: Loo
Sơ Đăng: Plo
Biểu số 31
Việt Nam: Sắn (Nam kỳ: Báng)
Bà Na: Blang
Thái: Parăng
Sơ Đăng: Loong
Giarai: Ploom
Khả Lá Vàng: Bluôn
Giarai + Radê (Pleiku): Bblaang
Biểu số 32
Việt Nam: Tru (chó)
Mường: Tlu
Bà Na: Klu
Sơ Đăng: Klu
Giarai: Lu
Biểu số 33
Việt Nam: Chết
Sơ Đăng: Chết
Mường: Chết
Mạ: Sớt
Khả Lá Vàng: Kết
Biểu đối chiếu này và bao nhiêu biểu khác cho thấy rõ ràng
Thượng Việt không phải là Cao Miên như các ông Tây nói. Chết, Cao Miên gọi
là Ngợp. Biểu về Trăng, Cá, v.v. đều có mặt người Thượng mà
không có mặt người Cao Miên ở đâu cả.
Biểu số 34
Việt Nam: Bét (Toét mắt)
Bà Na: Peek
Giarai: Peek
Hadrông: Peek
Cu-Ti: Piơ
Biểu số 35
Việt Nam: Mới
Thái: Mai
Cao Miên: Thơmây
Mạ: Mhê
Biểu số 36
Việt Nam: Bước
Bà Na: Bôôk
Giarai: Rơ bành trướng
Mã Lai Célèbes: Bơlak
Biểu số 37
Việt Nam: Bửa (củi)
Mạ: Pả
Bà Na: Pả
Biểu số 38
Việt Nam: Bọn, bạn
Cao Miên: Pôut, Bòn
Bà Na: Buơl, Pụng
Giarai: Pout
Khả Lá Vàng: Bang
Mã Lai: Mbang
Biểu số 39
Việt Nam: Sâu (không cạn)
Cao Miên: Chrau
Mạ: Zirâu
Bà Na: Jrâu
Biểu số 40
Việt Nam: Ruột
Mạ: Proit
Cao Miên: Pốt (Viên)
Giarai: Porooi
Rađê: Prooe
Mã Lai: Prụt
Mã Lai Nam Dương, Mã Lai Á và Phi Luật Tân chỉ có một danh từ Prụt để
chỉ Ruột, Bụng và Dạ dày. Về mặt cơ thể và mặt thủy vận thì
Mã Lai đợt I giàu danh từ hơn Mã Lai đợt II, mặc dầu Mã Lai đợt II ở biển.
Thí dụ Mã Lai đợt I là Môn và Khơ Me có danh từ Prek mà
Nam Kỳ biến thành Rạch để chỉ phụ lưu, Thái có danh từ Honei mà
Bắc Việt biến thành Suối, trong khi đó thì Mã Lai Nam Dương chỉ có Sôngai.
Suối, họ nói là Sông con nít. Còn nguồn thì họ nói là Con mắt của nước.
Nhưng một chuyện cổ tích cho biết rằng người Nam Dương từ Hòa Bình của ta mà di
cư xuống đó, sau khi chung sống với ta khá lâu. Thế mà họ lại không học được những
danh từ của đợt I.
Biểu số 41
Việt Nam: Lưng
Thái: Lâng
Bà Na: Roong
Sơ Đăng: Roong
Giarai: Roong
Biểu số 42
Việt Nam: Xương
Cao Miên: Chxoâng
Thái: Sân
Sơ Đăng: Ksing
Mạ: Ting
Bà Na: Kting
Cổ ngữ Ba Thục: Xoong
Khả Lá Vàng: K’tương
Mã Lai: Tulang
Ta thấy sự biến dạng hữu lý của những danh từ chỉ Xương,
danh từ chung cho cả hai đợt Mã Lai, mà ông Lê Ngọc Trụ cho là Xương do Khang của
Tàu mà ra. Cả hai nhóm đều không có chịu ảnh hưởng Tàu khi di cư, mà khi đó thì
họ phải đã có danh từ Xương rồi vì họ ăn cá, mắc xương cá, họ chế tạo
dụng cụ bằng xương thú, không làm sao mà đợi học với Tàu mới có được danh từ để
chỉ món đó.
Biểu số 43
Việt Nam: Mắt
Bà Na: Mat
Sơ Đăng: Mat
Khả Lá Vàng: Mat
Mạ: Maht
Mã Lai: Mata
Tây Tạng: Mag
Mã Lai: Mata-Mata = Cảnh sát, tức kẻ có nhiều mắt ở khắp nơi
Biểu số 43 bis
Việt Nam: Mác
Xi Tiêng: Mata = Giáo cán dài
Mạ: Mata = Giáo cán dài
Hai danh từ Mata của Mã Lai trên đây, không phải là hai tiếng
đồng âm. Danh từ thứ nhứt là danh từ chung của hai đợt Mã Lai (Mắt). Danh từ thứ
nhì chỉ là danh từ riêng của Lạc bộ Trãi (Việt Nam và Thượng), có nghĩa khác hẳn,
chẳng liên hệ gì đến con mắt hết.
Năm 1858, Pháp chiếm Saigon, với lính Pháp và Bạc Ti Dăng Phi
do Tây Ban Nha cho thuê.
Chiếm Saigon xong Pháp cho bọn ấy ở lại làm cảnh sát mà
Mata-Mata là tiếng Mã Lai có nghĩa là cảnh sát (có nhiều mắt). Saigon bỏ dấu gọi
là Mã Tà.
Biểu số 44
Việt Nam: Tóc
Cao Miên: Sóc
Bà Na: Sok
Khả Lá Vàng: Sok
Mạ: Soc
Sơ Đăng: Sok
Đây là danh từ của Mã Lai đợt I mà các ông Tây không biết, cứ
nói là của Cao Miên
Mã Lai đợt II có danh từ khác, nhưng chúng tôi không trích,
không đối chiếu. Chúng tôi chỉ nói đến những danh từ riêng của Mã Lai đợt II
khi nào có gì cần phải nhận xét mà thôi, thí dụ về trường hợp Hari, đã nói rồi
và sẽ nói nữa.
Biểu số 45
Việt Nam: Sấm (sét)
Bà Na: Grâm
Giarai: Grâm
Biểu số 46
Việt Nam: Trôn
Giarai: Klôôn
Rađê: Tlôôn
Biểu số 47
Việt Nam: Nem
Tơlô: Nyem (Thịt)
Bà Na: Sêm (Thịt)
Sơ Đăng: Nyam (Thịt)
Biểu số 48
Việt Nam: Ít
Mạ: Y hệt
Bà Na: Nyet
Giarai: Eet
Nam Ấn: Eet (Dravidien tức Mlech’a tức Malayalam)
Đối chiếu Nem với Thịt, tưởng như là vô lý,
nhưng không. Đó là mượn danh từ rồi biến nghĩa đôi chút. Nhưng Mạ thì Puịt = Thịt,
Khả Lá Vàng thì Plịt = Thịt.
Tiếng Nam Ấn Eet là Một mà cũng là Ít.
Chúng tôi đã nói người Nam Ấn gốc da vàng từ Tây Tạng sang Ấn,
và họ là Mã Lai và đây là xác nhận của ông L. Renou trong quyển Les
littératures de l’Inde, xác nhận riêng về ngôn ngữ Nam Phạn chớ không phải về
chủng Dravidien, nhưng vẫn củng cố những gì chúng tôi đã nói về chủng tộc học:
"Tiếng Nam Phạn cũng do Bắc Phạn mà ra. Nhưng nó bị các phương ngữ thổ
dân Nam Ấn xâm nhập vào, do chính các giáo sĩ Bà La Môn khuyến khích
sự xâm nhập đó để truyền giáo với các thứ dân khác chủng".
Vậy Eet của Nam Phạn không phải đồng gốc với Bắc Phạn
mà là danh từ Dravidien tức đồng gốc Mã Lai.
Có lẽ Nam Ấn có nhiều danh từ giống ta lắm, tại ta chưa thông
ngôn ngữ Malayalam, Tamoul, v.v. nên trong các biểu đối chiếu này rất thiếu họ.
Biểu số 49
Việt Nam: Chơn, chưn, chân
Cao Miên: Chơn
Mạ: Zưn
Giarai: Jơng
Jêh: Yơng
Sơ Đăng: Yông
Bà Na: Yơng
Khả Lá Vàng: Yơng
Trên đây là danh từ của Mã Lai đợt I. Danh từ của Mã Lai đợt
II là Kaki mà Chàm biến thành Teay và Việt biến thành Cẳng.
Thấy rõ là trong xã hội Việt Nam Mã Lai đợt I đa số nên Chơn chiếm
địa vị sang trọng trong văn chương: Người ta không thể nói: Xây gạch Bát Tràng
cho nàng rửa cẳng.
Trong khi đó thì Chàm và Mã Lai nói: Cẳng của nàng,
và Chơn trời họ nói là Cẳng trời, và họ nghe rất là văn chương
vì đó là động từ chánh của họ.
Trong xã hội Việt Nam còn có một danh từ nữa là danh từ Giò thấy
trong tự điển Anh-Mê-la-nê có ghi. Vì đó là danh từ của một chủng kém cỏi, nên
trong ngôn ngữ Việt Nam, danh từ đó chiếm hạng ba. Người ta nói giò gà, giò lợn,
tướng học trò, giò ăn cướp.
Biểu số 50
Việt Nam: Đứng
Bà Na: Đớng
Giarai: Đóng
Biểu số 51
Việt Nam: Tay
Chàm: Tangưl
Mã Lai: Tangan
Bà Na: Tii
Khả Lá Vàng: Tai
Mạ: Ti
Sơ Đăng: Taai
Cao Miên: Đaai
Danh từ Chàm đã bị biến qua lịch sử của họ. Hồi cổ thời, họ vẫn
nói Tangan y như Mã Lai, thay vì Tangưl như ngày nay.
Dấu vết còn thấy được ở địa danh mũi Batagan ở Quảng
Ngãi mà các ông Tây viết dính lại, khiến cả người Chàm cũng không hiểu địa danh
ấy có nghĩa gì, một là tại Tây viết dính, hai là nếu viết đúng là Ba
tangan Chàm cũng không hiểu vì họ đọc là Tangưl.
Ba là Ngón tay. Đó là Mũi ngón tay.
Nhưng không chắc chắn lắm là người Chàm đã biến Tangan thành
Tangưl.
Ngôn ngữ Chàm mà Tây và ta học được ngày nay chỉ là ngôn ngữ
Chàm Ninh Thuận, còn ngôn ngữ Chàm miền Quảng Ngãi thì trên đời này, không ai
biết nó sao cả, và rất có thể nó giống hệt ngôn ngữ Mã Lai, bằng chứng là địa
danh Tangan.
Nhưng Chàm Ninh Thuận thật ra là Phù Nam đa số vì nước Phù
Nam ăn lên tới tỉnh Khánh Hòa hồi cổ thời.
Có lẽ chính Phù Nam đã biến Tangan của Mã Lai thành Tangưl và
Chàm Ninh Thuận bị thiểu số trong đại đa số Phù Nam nên phải nói theo Phù Nam.
Ta nên đặt ra câu hỏi này: Ai đã ghi ra trên dư đồ cái danh
xưng Batangan ấy? Chắc chắn là các cố đạo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vì chính họ
đã ghi Cửa Hàn ra Tour Han, rồi Pháp mới biến thành Tourane.
Mà thuở các cố đạo Tây và Bồ đến thì người Chàm Quảng Ngãi vẫn
còn, và họ đã ghi theo cái nghe tận tai của họ, tức người Chàm Quảng Ngãi vẫn
nói Tangan chớ không nói Tangưl như Chàm Ninh Thuận.
Biểu số 52
Việt Nam: Nài (Quản tượng)
Giarai: Naai
Rađê: Naai
Chàm: Naai
Biểu số 53
Việt Nam: Gãi
Ghẻ
Giarai Phú Bổn: Gải
Kuaĩ
Bà Na: Kổi (Cạo, Nạo ghẻ)
Các ông Tây cứ cho Chàm là Mã Lai, mà không biết rằng Việt
Nam còn Mã Lai hơn cả Chàm nữa vì bao nhiêu danh từ Mã Lai được ta giữ gìn đúng
còn Chàm thì biến rất xa.
|
Mã Lai: Bônga |
Việt Nam: Bông |
Chàm: Bơngư |
|
Mã Lai: Sôngai |
Việt Nam: Sông |
Chàm: Krong |
|
Mã Lai: Tangan |
Việt Nam: Tay |
Chàm: Tangưl |
Có nhiều danh từ Mã Lai bị Chàm bỏ mất luôn như Gunông và Phunông họ không biến
thành Non thành Gò nổng như ta, mà nói là Chớ, một
danh từ của chủng Mê-la-nê.
Không ai hiểu tại sao các ông Tây nhận diện được Chàm là Mã
Lai, qua ngôn ngữ, mà không nhận diện được ta. Vâng, họ chỉ nhận diện được Chàm
là Mã Lai, nhờ ngôn ngữ, chớ không nhờ chứng tích nào khác cả, trước cuộc đối
chiếu kiến trúc Mã Lai và Chàm của ông Claeys.
Biểu số 54
Việt Nam: Mái (Giống cái của loài cầm)
Sơ Đăng: Maai (Vợ)
Cao Miên: Maai (Cung phi)
Giarai: Amaai (Chị cả)
Bà Na: Mmaai (Chị cả)
Bà Na: Maai (Cô dâu)
Khả Lá Vàng: Prmay (Con gái)
Chàm: Cà May (Đàn bà)
Trong xã hội Chàm, người Mã Lai đợt II chiếm đa số, nhưng
danh từ Cà May lại là danh từ của Mã Lai đợt I chớ người Nam Dương,
đàn bà họ nói là Wanita, còn người Đa Đảo nói là Wahinê.
Xin nhắc rằng ở Bắc Chiêm Thành, tức Lâm Ấp, Mã Lai đợt I đa
số tuyệt đối, mặc dầu chính Mã Lai đợt II lập quốc.
Và Càmay là ngữ nguyên chánh của Mái và Cái với
cái nghĩa là đàn bà mà giống cái mà chúng tôi hẹn trình ra trong lời chú thích
dưới biểu số 26 khi nãy. (Cái của ta có hai nghĩa, một nghĩa do danh từ Mã
Lai Lì Cáy mà ra và có nghĩa là đàn ông là lực lưỡng, là to lớn, là lãnh đạo.
(Thí dụ Bố Cái đại vương, thợ cái, ngón tay cái). Nghĩa thứ nhì do danh từ Cà
May này và có nghĩa là giống cái, là con mái).
Chỉ phiền là không tìm được nhóm Mã Lai nào nói Cà May như
Chàm, hoặc nói Cái như Việt Nam. Chúng tôi chỉ tìm được có hai danh từ 1 wahita của
Mã Lai và 1 wahinê của Đa Đảo mà thôi.
Và Chàm không hề là Mã Lai Đa Đảo bao giờ cả như các ông Tây
cứ nói vì thấy trong ngôn ngữ của họ có vài yếu tố lạ.
Ngôn ngữ của Đa Đảo cũng đã được biết. Nó chỉ là Mã Lai ngữ,
pha với Mê-la-nê ngữ, nhưng trong Chàm ngữ thì không có yếu tố Đa Đảo, như danh
từ Cà May và Wahinê đã cho thấy là Chàm và Đa Đảo khác quá
xa, Chàm chỉ là Mã Lai, chớ không có Đa Đảo gì hết.
Biểu số 55
Việt Nam: Mẹ (tức Mẫu thân)
Việt Bắc: Me
Việt Bình Trị, Thiên: Mạ
Mạ: Me
Bà Na: Me
Tàu Hải Nam gốc Lạc Lê: Mà
Cao Miên: Mê (Đàn bà trẻ tuổi)
Cao Miên: Ma đai (Mẹ, Má, đại danh từ chớ không là danh từ)
Thái: Maê
Cao Miên: Mê (Mẹ của thú vật)
Khả: Mè (Mẹ của người)
Mã Lai Java: Emak (Mẹ. Chữ E đọc nuốt phân nửa, chỉ còn nghe là Mak).
Biểu số 56
Việt Nam: Mợ (Vợ của cậu)
Giarai: Kmơi (Đàn bà)
Khả văn minh: Mơ (Mẹ)
Kơyong: Mơ (Mẹ)
Bà Na Gôlar: Mơ (Chị cả)
Bà Na Halong: Mơ (Chị cả)
Sơ Đăng: Moo (Mẹ)
Biểu số 57
Giarai: Mi (Mẹ). Đừng lầm với Mi là Mày của Bà Na và của Việt
Nam.
Bà Na: Mi-i (Em dâu). Đừng lầm với Mi là Mày chỉ có một chữ I.
Biểu số 58
Việt Nam: Nạ (Mẹ có nhiều con: Chờ Nạ thì má đã sưng).
Việt Nam Trung Cổ: Ang Nà (Tự điển Huỳnh Tịnh Của = Mẹ)
Giarai: Ina (Mẹ)
Chàm: Ina (Mẹ)
Rađê: Ana (Mẹ)
Cổ ngữ Tây Âu: Nả (Mẹ)
Nhựt Bổn: Onna (Đàn bà)
Mã Lai Sumatra: Jnang (Mẹ)
Bằng vào danh từ miền Nam Ang Ná của Tự vị Huỳnh Tịnh Của, ta
biết chắc rằng cách đây một trăm năm, người Việt miền Nam chưa dùng danh từ Mẹ,
Má, mà nói là Ang Ná, và chắc Bắc và Trung cũng thế, nhưng không có ai ghi chép
như Huỳnh Tịnh Của, nên không ai biết rằng có. Riêng Bắc Việt có lẽ dùng song
song Nạ và Ang Ná.
Và Việt Nam rất giống Nhựt Bổn là cho danh từ đó một nghĩa nữa
là Đàn bà (gái nạ dòng) chớ không phải chỉ có nghĩa là Mẹ. Có lẽ
gốc cũ chính là đàn bà, vì Nhựt Bổn rất thủ cựu ít biến nghĩa của danh từ cũ lắm.
Người Quảng Đông, hậu duệ của Tây Âu, vẫn viết Mẫu, đọc
là Mụ, y theo Tàu, nhưng trong dân chúng, họ luôn luôn đọc chữ Mẫu
là Nã hoặc Na. Họ có thành ngữ Chẩy Nã là Mẹ con.
Họ lại chưởi Tiểu Na Má, tức như ta chưởi Đ… mẹ.
Từ ngữ Chẩy Nã (Tử Mẫu) cho thấy rõ rằng người Quảng
Đông là Thái chớ không phải là Tàu, vì người Tàu luôn luôn để Mẹ đứng trước
con, thế thì phải Nã Chẩy (Mẫu Tử) mới đúng luân lý Khổng Mạnh.
Nhưng người Thái biến thành Tàu không mê Khổng Mạnh bằng Việt
Nam. Như đã nói, phong tục luyến ái của người Thái rất buông lơi và theo các bản
thống kê quốc tế thì ở Quảng Đông, gái buôn hương đông nhứt nước Tàu, bịnh hoa
liễu lại cao nhứt thế giới.
Sự kiện đó cũng xảy ra như vậy ở Chợ Lớn, mà gái Phúc Kiến
không có làm kỹ nữ như gái Quảng Đông. Việc thay đổi vợ chồng cũng xảy ra trong
cộng đồng Phúc Kiến ít hơn là trong cộng đồng Quảng Đông một cách rõ rệt.
*
Phụ chú về lời chú thích biểu đối chiếu danh từ Cái ở vài
trang trước.
Về câu đầu của bài hát trẻ con ở miền Bắc "Bắt cái hồ
khoan" ông Tàu Việt Điểu trong Văn hóa Nguyệt san số 56, năm
1960, đã bác lối giải thích của ông Ngô Quý Sơn trong tập kỷ yếu B.I.I.E.H.
1943. Ông Ngô giải thích rằng Bắt Cái có nghĩa là bắt thăm để làm nhà lãnh đạo,
theo lối rút cọng rơm ngắn hay dài, một lối bắt thăm của ta.
Ông Tân Việt Điểu cho rằng Bắt cái = Bát, Cạy, tiếng Chàm mà
ta học được ở miền Trung.
Nhưng theo chỗ chúng tôi biết thì Mã Lai Nam Dương và Chàm có
động từ Kuak (Cạy) là chèo lệch sang một bên, còn Pối (Bát)
là chèo một cách khó nhọc tức chèo từ trái sang phải, cực nhọc vì dân
Việt Tả nhậm lấy bên trái làm bên thuận (Tư Mã Thiên). Bao nhiêu
chim, nai đều bay và đi từ phải sang trái ở trống đồng, cực nhọc vì làm trái với
thói quen của họ. Ta đã mượn của Chàm, nhưng chỉ biến thành Bát và Cạy mà
thôi còn Bắt Cái là một câu hát tối cổ của ta ở đất Bắc thì ta phải
vay mượn của đợt II bổ sung, tức của người Mường tại Bắc Việt, bởi cuộc Nam tiến
thật sự chỉ xảy ra dưới trào Lý mà xem ra, bài hát đó cổ hơn nhiều.
Như thế thì từ Cái trong Bắt cái chỉ có thể là bắt thăm để
làm Láky tức làm Lìcáy, tức làm nhà lãnh đạo trong một trò chơi, hoặc có nghĩa
là Bắt lãnh tụ của địch, trong một trận thủy chiến. Ta đã có tiếng Cái ấy rồi từ
thuở Bố Cái Đại Vương, chớ không đợi Việt Chiêm chiến sử mới có.
Cả ngày nay trong cờ bạc người ta vẫn còn dùng từ ngữ Bắt
cái tức bắt thăm để làm cái, bằng cách rút phóng mạng một con bài, hễ
ai nhiều nút thì Làm Cái.
Bắt Cái của ngày nay và của ngày xưa đều có nghĩa là bắt thăm
để làm Xếp trong một trò chơi, nhứt là thi đua bơi chèo.
Đó là bài hát Chanson folklorique của một dân tộc thì không
thể có chữ nho trong đó được. Như vậy Hồ khoan cũng phải là tiếng Mã
Lai có nghĩa gì đó mà ta truy chưa ra, chớ không thể nào mà là chữ nho Hải Hồ
Khoan như ông Tân Việt Điểu đã nói. Chúng tôi đang nỗ lực học thêm tiếng Mã Lai
để đi sâu vào ngôn ngữ ấy hầu tìm biết những danh từ bí hiểm của ta có nghĩa là
gì. Chúng tôi đã tìm được vô số danh từ như Tràm Lục, sông Trem với
nghĩa đúng của nó trong ngôn ngữ Mã Lai, nên chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ biết
được Hồ Khoan là gì, và chắc chắn không là chữ nho vì cái lẽ tự nhiên là
Chanson folklorique phải có rất lâu đời, trước khi chịu ảnh hưởng ngoại lai,
thì không thể là chữ nho được.
*
Biểu số 59
Việt Nam: Bu (Mẹ)
Cổ ngữ Mân Việt: Pô (Mẹ)
Các đảo Mã Lai: Ibu (Mẹ)
Mã Lai Johore: Papu (Nhủ mẫu)
Biểu số 60
Việt Nam: Bố (Cha)
Cổ ngữ Mân Việt: Pế
Tàu Hải Nam gốc Lạc Lê: Pe
Mã Lai: Phiên âm
Thái: Por
Cao Miên: Pút
Tamoul, tức Nam Ấn gốc Mã Lai: Babu
Đại danh từ U của Việt Nam, chúng tôi tìm không ra
nguồn gốc, có lẽ nó chỉ là biến thể của Ibu của Mã Lai.
*
Người Việt miền Nam đã bắt chước Thất Mân dùng danh từ Tía,
nhưng họ dùng sai giọng đọc lẫn cả nghĩa. Danh từ đó là Tia (không có
dấu sắc) và đó là danh từ của Mã Lai đợt II. Thất Mân, Lạc bộ Mã, các đảo Mã
Lai đều nói là Tưa và đó là Cha vợ chớ không phải là Cha
như người Việt miền Nam đã dùng sai. Nam Dương và Thất Mân (Phúc Kiến) đều dùng
đúng nghĩa là Cha vợ.
*
Quan Thoại có Pà Pá, nhưng đó là đại danh từ để xưng hô,
chớ không phải là danh từ. Danh từ của họ là Fuá Tsil = Phụ thân.
Nhưng đó là trường hợp ngẫu nhiên vì Bắc Ấn Độ nói Pa,
Pháp nói Papa, không hề có vấn đề Mã Lai vay mượn của Tàu hay của Pháp.
Biểu số 61
Việt Nam: Đẻ
Mạ: Đẻ
Bà Na: Kđẻ
Mường: Tể
Nói Mường gần ta hơn, nhưng ở đây thì thấy Mạ giống ta hơn Mường.
Biểu số 62
Việt Nam: Tỳ (chống tay)
Bà Na: Tiết
Giarai: Tít
Biểu số 63
Việt Nam: Già
Thái: Kà
Mạ: Krà
Bà Na: Kra
Bà Na: Ya (Bà già)
Giarai: Tla
Chàm: Tahaa
Mã Lai: Tu À
Cu Ti: Khaa
Khả Lá Vàng: K’rrà
N.B. Mạ và Khả Lá Vàng sống cách nhau hơn 1.000 cây số, nhưng
lại rất giống nhau.
Biểu số 64
Việt Nam: Tre
Việt Nam Trung Cổ (A. de Rhodes): Ble
Bà Na: Plee
Giarai: Bu Le
Mạ: Gle
Mường: Tle
Biểu số 65
Việt Nam: Trăn (một thứ rắn to)
Mạ: Klan
Giarai: Tlan
Sơ Đăng: Klan
Bà Na: Klan
Biểu số 66
Việt Nam: Trẻ
Mường: Tlẻ
Khả Boloven: Plẻ
Biểu số 67
Việt Nam: Vải
Bà Na: Kpải
Giarai: Kpải
Cao Miên: Kpải
Khả Lá Vàng: Kpở
Mạ: Byải
Biểu số 68
Việt Nam: Chí, chấy (rận tóc)
Mạ: Chí
Sơ Đăng: Chí
Bà Na: Tzi
Cao Miên: Chaay
Biểu số 69
Việt Nam: Khố (quần)
Cao Miên: Kho
Mạ: Kho
Xi Tiêng: Kho
Biểu số 70
V
iệt Nam: Mùi (màu sắc). Nói theo Trung và Bắc.
Giarai: Bui
Cao Miên: Mau
Biểu số 71
Việt Nam: Mùi (vị). Huế cũng đọc là Màu.
Bà Na: Moou
Giarai: Bao
Mã Lai: Baou
Biểu số 72
Việt Nam: Há (miệng)
Bà Na: Haa
Giarai: Haa
Sơ Đăng: Haa
Mã Lai: Haa
Biểu số 73
Việt Nam: Lợi (Nướu răng)
Giarai: Lơni
P. Kli: Lươni
Ma: Lưng
Bà Na: Li in
Chàm: Liên
Mã Lai: Lơny
Biểu số 74
Việt Nam: Bú
Cao Miên: Bau
Mạ: Phản ứng (?)
Biểu số 75
Việt Nam kim: Trời
Việt Nam Trung Cổ: Blời và Tlời
Mường: Blời
Mạ: Trô
Bà Na: Blơny
Nhựt Bổn: Hara
Khả Boloven: H’ngày
Mã Lai Célèbes: Hơry
Mã Lai các đảo khác: Hari
Có lẽ lộ trình biến dạng là như thế này:
Hơri, Hari (Mã Lai) biến thành Hara (Nhựt Bổn)
Hơry - Hơny
Hơny - Blơny (của Bà Na)
Blơny - Blời (Việt Nam Trung Cổ)
Blời - Trời (Việt Nam hiện đại)
Blời - Trô (Mạ)
Nhưng trong xâu chuỗi này, chúng tôi chưa tìm ra cái
khoen Hơny, có lẽ là của nhóm Mã Lai rừng rú nào đó ở Bornéo. Nhưng cái
khoen Bà Na Blơny cho thấy quá rõ lộ trình biến dạng như thế đó. Sự
biến dạng của danh từ Mã Lai Lơny thành Lợi của Việt Nam ở
biểu số 74 trên đây cũng qua một lộ trình tương tợ như Hơry thành Trời. Chúng
tôi để biểu Lợi và Trời cạnh nhau để cho thấy rõ cái luật biến dạng đó.
Trong biểu đối chiếu danh từ Ngày, chúng tôi đã nói khá
nhiều về danh từ Hari của Mã Lai và Hara của Nhựt Bổn,
nhưng nói chưa đủ.
Thoạt kỳ thỉ, các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ ngỡ rằng Mã Lai đã
vay mượn danh từ đó của Phạn ngữ là Surya. Nhưng xét ra thì Nhựt Bổn không
có tiếp xúc với Ấn Độ trước Tây lịch mà họ đã có Hara trước Tây lịch rồi, thì sự
hơi giống nhau giữa Hari, Hara và Surya chỉ là một cuộc trùng hợp ngẫu nhiên
như trường hợp danh từ Cái Đầu của Việt Nam ngẫu nhiên trùng hợp với
Tàu.
Ngày nay thì Mã Lai Nam Dương chỉ còn dùng danh từ Hari trong
hai trường hợp:
Hari = Ngày
Hari = Ông Thiên
Muốn chỉ vòm trời, họ nói Langít, Chàm cũng nói thế. Người
Thái thì biến thành Ngèn, còn người Cao Miên không biến nhưng lại cho nó một
nghĩa hơi khác là Trời chiều.
Khi mà Cao Miên và Thái đều có Langít (biến dạng, biến nghĩa
chút đỉnh) thì ta cũng phải có vì cả hai đợt đều có hai danh từ chỉ trời với
hai nghĩa khác nhau:
Vòm trời (vật chất)
Ông Thiên (thiêng liêng)
Việt Nam đã đánh mất Langít, chớ không phải là không có, bằng
chứng là các nhóm đợt I khác đều có.
Xin chú ý: Tất cả mọi nhóm đều dùng danh từ Hari với ý nghĩa
thiêng liêng, người Mã Lai Nam Dương gọi mặt trời là Mata Hari, tức Mắt
của vòm trời.
Tàu thì chỉ có độc một danh từ Thiên để chỉ hai ý niệm Thiêng
liêng và Vật chất, tức chỉ ông Thiên và vòm trời.
Danh từ Nhựt của Tàu tuy chỉ mặt trời, nhưng không mang ý niệm
ông Thiên hay vòm trời nữa.
*
Danh từ Trời thì biến dạng lung tung như thế đó, nhưng danh từ
Trăng thì rất là đồng nhứt trong tất cả mọi nhóm.
Biểu số 76
Việt Nam: Mặt trăng
Mạ: Maht Kan
Thái: Jăng
Khả Lá Vàng: Mặt Kai
Bà Na: Mat Tlang
Cổ ngữ Ba Thục: Chắng
Giarai: Blăang
Chàm: Blăang
Miến Điện: Blăang
Tây Tạng: Blăang
Mã Lai: Bulăng
Thái, trên biểu này là Thái Lan, gốc Vân Nam. Nhưng Thái thượng
du Bắc Việt Nam thì gọi Trăng là Bưông. Đó là một danh từ kỳ dị không giống
danh từ của đợt I, cũng chẳng giống danh từ của đợt II.
Danh từ Trăng là danh từ may mắn nhứt có đủ mặt tất cả các
dân tộc gốc Mã Lai, thế mà Thái thượng du Bắc Việt lại đi chơi riêng thì quả thật
đáng buồn. Không biết là họ vay mượn của ai, chúng tôi truy mãi mà không ra. Họ
cũng chỉ là Thái Vân Nam và Thái Lưỡng Quảng di cư xuống chớ không phải là Thái
bí mật nào. Nhưng cho đến cả Ba Thục còn nói là Chắng thì không lẽ Tây Âu lại
nói Bưông vì Ba Thục và Tây Âu đồng ngôn y như Nam Việt và Bắc Việt.
Chú ý: Một quyển tự điển Anh - Thái Lan mà chúng tôi mua
từ Thái Lan về để kiểm soát lại sự hiểu biết về tiếng Thái của chúng tôi, lại
viết rằng trong ngôn ngữ Thái Lan, Trăng nói là Đuăng. Thế thì
không còn ăn khớp với Jăng ở trên đây nữa mà chúng tôi học với Việt kiều ở Thái
hồi hương. Nhưng dầu cho jăng hay Đuăng gì, nó cứ đồng gốc
tổ với Blăng của Tây Tạng.
Nhưng người Chàm thường thêm danh từ EA trước Blăng; tức
có nghĩa là Bà Trăng, cũng như Việt nói Ông Trăng vậy.
Danh từ Chàm EA là Nước không phải biến thể của tiếng
Mã Lai Ayer. Đó là tiếng Lưỡng Hà có nghĩa là Nữ thần nước, thế nên
nó mới đứng trước danh từ Blăng và có nghĩa thật đúng là Bà
Trăng, Nữ thần Trăng.
Ta lại thấy rằng kẻ đến đất Chàm, không phải là Ấn Độ như các
ông Tây tiền chiến đã viết. Theo khám phá mới thì đó là người Ba Tư gốc Nhục
Chi.
Nhưng bọn Ba Tư Nhục Chi này lại có thể là gốc Lưỡng Hà, theo
khám phá của riêng chúng tôi, chính vì danh từ EA là Nước của
người Chàm, bởi đó là danh từ Lưỡng Hà không thể chối cãi. Dân Ba Tư lại thờ Mặt
Trăng.
Nhưng tôi tìm được hai ba chứng tích rằng Chàm do Lưỡng Hà
khai hóa chớ không phải Ấn Độ (sẽ nói rõ ở chương Chàm).
*
Trong quyển Atlas ethnographique du globe, Paris, 1821,
thấy ghi rằng vào năm đó, Việt Nam gọi Trăng là Blăng, tức giống
hệt Giarai, Chàm, Miến Điện, Tây Tạng. Và tiếng Việt rời xa gốc tổ không lâu lắm
như ai cũng đã ngộ nhận.
Biểu số 77
Việt Nam kim: Trái
Việt Trung Cổ: Blái
Mường: Blái
Khả Lá Vàng: Plái
Bà Na: Plây
Mạ: Plái
Cao Miên: Ph’le
Thái: Pho-la
Chú ý: Trong ngôn ngữ Chàm thì Plây có nghĩa
là Xứ, là Vùng. Ở Ninh Thuận có làng Chàm Plây Râm, tức Vùng
rậm rạp, đã được Việt hóa thành làng Văn Lâm.
Danh từ Trái trên đây là của Mã Lai lưỡi rìu tay cầm
đợt I, tức Lạc bộ Trãi. Dạng từ của Lạc bộ Mã là Bu Ả. Nhưng không phải là
do Quò, Quó, Quả của Tàu vì khoa khảo tiền sử cho biết rằng lúc di cư
thì Lạc bộ Mã thuần Mã Lai, không có hợp chủng, không có chịu ảnh hưởng Tàu.
Biểu số 78
Việt Nam: Về, Vìa (Nam kỳ)
Bà Na: Wia
Nam Giarai: Wit
Rađê: Wit
Mường: Vê
Chàm: Vơk
Cao Miên: Vil
Kơ Yong: Val
Một điều lạ lùng hết sức là người Bà Na với người Việt miền
Nam đọc các danh từ quá giống nhau, sáng tác danh từ mới cũng quá giống nhau
như Jông, Nhồng (Yểng) chẳng hạn, mà họ thì không hề có liên lạc với Bà Na trước
năm 1954.
Nếu đọc quá giống một danh từ chung, ta có thể nghĩ rằng qua
khỏi vĩ tuyến nào đó, dân Lạc phải đọc khác, và mọi người mọi nhóm đều đọc khác
như nhau. Nhưng vấn đề sáng tác thì đã khác. Có lẽ hồi xưa, Bà Na và Việt miền
Trung không sống riêng rẽ như ngày nay, và chính những người Việt miền Trung ấy
đưa giọng đọc và danh từ vào Nam.
Biểu số 79
Việt Nam: Khạc
Bà Na: Kơhak
Cao Miên: Khac
Khả Lá Vàng: Khé
Biểu số 80
Việt Nam: Nhổ (Khạc nhổ)
Sơ Đăng: Kơ cổ
Bà Na: Kơ sỏ
Biểu số 81
Việt Nam: Rừng, Rừng rậm, Rừng rú
Mạ: Pri, Prưng
Cao Miên: Prây
Thái: Sây và Rú
Khả Lá Vàng: Brây, Bru
Chàm: Râm
Chàm: Rố (glai)
Chuỗi biến dạng có thể là từ cái gốc Ri của ai đó,
ta truy chưa ra.
Ri biến thành Ru, Rú, Rố (glai) và Pri.
Pri biến thành Prưng, Prây và Rừng.
Ta thiếu mất cái khoen Ri không biết của dân tộc
nào.
Tới Rừng thì có sự trở về nguồn. Việt Nam nhập Rừng với Rú để
làm Rừng Rú, rồi lại nhập Rừng với Rậm để làm Rừng
Rậm.
Nhưng Rú thì chỉ có hai tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh
là dùng mà thôi. Tại sao vậy? Có lẽ đó là ảnh hưởng Lào ở gần đấy. Ở quê hương
của Nguyễn Du thì danh từ Rú được dùng gần như đơn độc, ít có
dùng Rừng lắm.
Ông H. Maspéro lại cho rằng chánh gốc là Rú của
Thái. Ông không biết Pri, Bru và Prưng để thấy được sợi dây
chuyền của danh từ Rừng của ta.
Bác sĩ Reynaud ghi là Brai thì sai. Phải ghi là Prei trong
Pháp văn mới đúng.
Ở đây có một sự kiện giống nhau lạ lùng giữa Mạ và Việt.
(Mạ) Prưng = (Việt Nam) Rừng
Dân Mạ quá nhỏ trong các bộ lạc khác, ở quá xa gốc chánh Việt
Nam, cớ sao có sự kiện kỳ lạ như thế?
Mà đừng tưởng là họ biến Rừng của ta thành Prưng của
họ. Họ có hai danh từ mà họ dùng khác nhau, tức họ đã có từ lâu nên mới được
ghi sâu vào văn phạm của họ như vậy.
Thú rừng = Pom tahm pri
Gà rừng = Yhr prưng
Với thú thì Pri còn với cầm thì Prưng, họ cũng
đã dùng khác nhau, trong nhiều trường hợp, và đó là bằng chứng không phải họ mới
học với ta sau này. Vả lại họ học làm gì, khi họ đã có danh từ Pri rồi?
Rố và Râm đều là danh từ của Mã Lai đợt I của
Chàm miền Bắc du nhập xuống Ninh Thuận, chớ danh từ của Mã Lai đợt II là Hu
Tăng mà người Pháp biến thành Outang trong danh từ Orang-Outang (người vượn rừng).
Có thuyết cho rằng Lâm Ấp là tên mà Tàu phiên âm của Chàm miền
Bắc là Râm Iếp, tức vùng Rậm rạp (Thừa thiên cổ thời).
Thuyết này có vẻ đúng hơn thuyết Lâm Ấp là sự co rút của Tượng
Lâm Ấp.
Lâm Ấp là danh tự xưng thì phải là ngôn ngữ của Lạc Lồi, hoặc
Lạc bộ Mã, của bọn Khu Liên, chớ không thể nào mà là tiếng Tàu được.
Vả lại Tàu gọi nơi ấy là Tượng Lâm, huyện chớ không bao giờ gọi
là Tượng Lâm ấp. Trong ngôn ngữ Trung Hoa, danh từ ấp chỉ một vùng đất rất lớn,
lớn bằng cả nước Việt Nam của ta, thí dụ An ấp, Lạc ấp đều là những vùng mà vua
nhà Hạ, nhà Chu để dành cho họ đủ ăn, còn các ấp khác thì họ phong cho chư hầu.
Huyện Tượng Lâm chỉ bằng một tỉnh Việt Nam nay thì không xứng đáng với danh từ Ấp
của Trung Hoa đời Hán.
Cũng nên nhớ rằng Tàu luôn luôn thay âm R mà họ thiếu bằng âm
L khi nào phải phiên âm danh xưng ngoại quốc. Vậy thì Râm biến thành Lâm là
đúng. Ta cũng đã biết Plây râm thành Văn Lâm.
Thế thì còn danh từ Ngàn của Việt Nam do đâu mà ra?
Chúng tôi hồ nghi nó do Utang của Mã Lai Nam Dương mà Pháp biến thành Outang,
trong Orang-Outang.
Nhưng chúng tôi chỉ nói qua vậy mà thôi, muốn nối kết hai
danh từ khác nhau, phải có đủ cả xâu chuỗi biến dạng, điển hình là danh từ Lợi của
Việt Nam.
Danh từ Trời tuy thiếu mất một cái khoen của xâu chuỗi nhưng
vẫn có xâu chuỗi đó. Còn với Utang và Ngàn thì chúng tôi tìm những khoen trung
gian chưa ra. Nhưng nó vẫn phải có ở đâu đó, vì có đến 2.000 phương ngữ Mã Lai
Nam Dương mà chúng tôi học đến bạc đầu cũng chưa xong.
Vậy xin nhường lại cho thế hệ sau để truy nguyên nguồn gốc của
danh từ Ngàn mà không có nhóm nào có cả, trong các nhóm mà tôi đã học ngôn ngữ,
kể cả bao nhiêu nhóm Thượng Cao nguyên vốn cũng đông vô số kể rồi.
Biểu số 82
Việt Nam: Rức
Giarai: Ruac
Bà Na: Rố
Rađê: Rứ
Chàm: Ruik
Mã Lai: Ruak
Biểu số 83
Việt Nam: Bay (lên trời)
Bà Na: Par
Giarai: Poor
Biểu số 84
Việt Nam: Ngáp
Cao Miên: Sngap
Bà Na: Sơ ngap
Giarai, Chàm: Hơap
Mã Lai Á: Kuap
Mã Lai Johore: Sa ngap
Biểu số 85
Việt Nam: Lột (vỏ)
Bà Na: Lok
Giarai: Lỏ
Biểu số 86
Việt Nam: Rét
Giarai: Rơot
Jêh: Root
Bà Na: Hrơt
Khả Lá Vàng: Dèt
Biểu số 87
Việt Nam: Sán (xơ mít)
Bà Na: Klan
Giarai: Tlaan
Biểu số 88
Việt Nam: Quăng, Quẳng
Sơ Đăng: Hoang
Jêh: Toual
Bà Na: Hoang
Biểu số 89
Việt Nam: Mây (Rotin)
Giarai: Hwây
Chàm: Hwây
Mặc dầu Chàm có danh từ này, nhưng đó là danh từ của Mã Lai đợt
I do bọn Lâm Ấp đưa xuống. Tiếng Mã Lai đợt II mà đáng lý Chàm phải dùng là Rô
Tăng (mà Pháp vay mượn, biến thành Rotin).
Biểu số 90
Việt Nam: Môi
Giarai: Boai
Cao Miên: Bobôô
Khả Lá Vàng: Bưa (Âm M của cổ Việt là B)
Biểu số 91
Việt Nam: La (hét)
Giarai: Laa
Cao Miên: Lôla
Biểu số 92
Việt Nam: Cành
Sơ Đăng Koirap: Kâng
Bà Na: To kơng
Sơ Đăng Tổng quát: Tkhơng
Cổ ngữ Ba Thục: Chảnh
Khả Boloven: Kưng
Biểu số 93
Việt Nam: Một
Mường: Môt
Cao Miên: Mui
Bà Na: Môny
Sơ Đăng: Môi
Khả Nam Om: Moy
Khả Boloven: Muôi
Biểu số 94
Việt Nam: Hai
Mường: Hai
Kơyong: Haai
Khả Nam Om: Hai
Biểu số 95
Việt Nam: Nhị
Khả Boloven: Bư
Cao Miên: Phải
Cổ ngữ Mân Việt: Ni, Nò
Bà Na: Nyi
Cổ ngữ Ba Thục: Nhi
Cổ ngữ Tây Âu: Dzi
Quảng Đông: Dzi
Tây Tạng: Ngi
Chữ Nhị này là một hình thức đề kháng của người Tây
Âu khi họ bị đồng hóa thành Trung Hoa ở Quảng Đông. Đó cũng là danh từ chung của
Mã Lai gốc Tây Tạng song song với danh từ Hai. Riêng Việt Nam, ta vừa
dùng Nhị vừa dùng Hai. Đồng thời về Hán Việt ta cũng đề kháng mà
nói Nhị chớ không nói theo Trung Hoa là Ơl.
Tất cả các nhóm Trung Hoa đều nói Ơn, Ờn, Ớn, chỉ trừ
Mân Việt và Quảng Đông vì bị đồng hóa sau hết nên còn giữ được Ni, Dzi. Riêng
nhóm Khách Gia tức Hakka, tức Hẹ, là Ba Thục, bị đồng hóa trước khi Tần Thỉ
Hoàng lên ngôi, nhưng đây là nhóm chạy xuống lánh thân ở Quảng Đông nên cũng cứ
giữ được Nhi của họ.
Biểu số 96
Việt Nam: Ba
Mường: Pa
Mạ: Pê
Sơ Đăng: Pii
Cao Miên: Pee
Khả Nam Om: Pa
Khả Boloven: Pê
Biểu số 97
Việt Nam: Bốn
Mường: Pươn
Khả Nam Om: Pon
Khả Boloven: Puôn
Bà Na: Pươn
Sơ Đăng: Puôn
Cao Miên: Puôn
Mạ: Puôn
Biểu số 98
Việt Nam: Năm
Mường: Kam
Bà Na: Pơđđm (ĐĐ Bà Na = NN của Việt Nam)
Cao Miên: Pram
Mạ: Prahm
Khả Nam Om: Đam
Biểu số 99
Việt Nam: Sáu
Mạ: Prao
Bà Na: Tdruao
Khả Boloven: Trau
Tất cả các nhóm Thượng đều có từ số 6 đến số 10, chỉ có Cao
Miên là không có. Thế mà các ông Tây lại nói rằng tiếng Thượng là một phương ngữ
phụ của Miên ngữ.
Biểu số 100
Việt Nam: Bảy
Mường: Pai
Khả Nam Om: Pay
Khả Boloven: Po
Mạ: Pỏ
Sơ Đăng: Pải
Bà Na: Pải
Jêh: Pải
Biểu số 101
Việt Nam: Tám
Bà Na: Tơngaam
Mạ: Pàm
Kơ Yong: Tơham
Khả Nam Om: Sam
Khả Boloven: Tham
Jêh: Tam
Sơ Đăng: Tham
Xiêng tiêng: Pam
Giarai: Spam
Biểu số 102
Việt Nam: Chín
Mường: Chín
Mạ: Shin
Sơ Đăng: Chin
Kơ Yong: Chin
Bà Na: Tơsin
Khả Nam Om: Kin
Khả Boloven: Chin
Biểu số 103
Việt Nam: Mười
Mạ: Mơht
Mường: Mươi
Khả Nam Om: Muy
Khả Boloven: Chêt (Chục)
Đây là 10 con số của Mã Lai đợt I, Nam Dương là Mã Lai đợt
II, nên 10 con số ấy của họ khác ta hết.
Biểu số 104
Việt Nam: Vật (Thú vật)
Cao Miên: Sât
Thái: Sât
Biểu số 105
Việt Nam: Lỗ
Bà Na: Lỗ
Giarai: Lủ
Mã Lai: Lubang
Cao Miên: Lô
Biểu số 103
Việt Nam: Còng, Vòng (tức cái xuyến đeo tay)
Cao Miên: Kong
Giarai: Kuung
Bà Na: Kuay
Biểu số 107
Việt Nam: Đốt
Rađê: Đuic
Bà Na: Tơk
Jêt: Têk
Biểu số 108
Việt Nam: Gió
Hrê: Yau
Sơ Đăng: Kơya
Nhựt Bổn I: Kazi
Nhựt Bổn II: Thôyò
Khả Boloven: Yưll
Mã Lai Á: Bayu
Biểu số 109
Việt Nam: Năm (Année)
Cao Miên: Chonam
Bà Na: Đđam
Biểu số 110
Việt Nam: Thêm
Cao Miên: Thêm
Giarai: Thiam
Bà Na: Tam
Biểu số 111
Việt Nam: Gầy
Rơn Gao: Rơnghi
Sơ Đăng: Rơghi
Mạ: Rgay
Khả Boloven: Srầy
Người Mạ không hề có tiếp xúc với Bắc Việt, chỉ gần Nam Việt
thôi còn Nam Việt nói ốm chớ không bao giờ nói gầy. Vậy mà Mạ và
Bắc Việt vẫn có chung danh từ với nhau, tức đồng gốc tổ rồi vậy.
Biểu số 112
Việt Nam: Muỗi
Cao Miên: Mú
Bà Na: Mỏi
Giarai: Moả
Mã Lai: Mok
Biểu số 113
Việt Nam: Đan
Giarai: Laam
Bà Na Rơbang: Klan
Biểu số 113 bis
Việt Nam: Nửa, Rưởi
Rađê: Nả
Cao Miên: Kamlả
Biểu số 114
Việt Nam: Xơi
Cao Miên: Xi, Sa
Khả Boloven: Cha
Cổ ngữ Mân thứ 7 trong Thất Mân (Triều Châu): Chia
Mạ Biên Hòa: Saa
A Ka Lông: Haa
Biểu số 115
Việt Nam: Ăn
Mường: An
Cao Miên: Ănh
Khả Nam Om: An
Khả Lá Vàng: An
Mã Lai: Mak An
Tôi rất bối rối trước hai nhóm danh từ có nghĩa là Ăn. Nếu lấy
Mark-An của Mã Lai Nam Dương làm cái mốc thì Ăn đích thị là danh từ của Mã Lai
đợt II.
Thế nhưng Mân Việt, Lạc bộ Mã, cũng là Mã Lai đợt II lại
nói Chìa, đồng gốc với động từ Mã Lai đợt I là Cha của Khả Boloven,
Sa của Cao Miên?
Trong xã hội Mân Việt không thể có hai đợt Mã Lai như trong
xã hội Cao Miên hoặc Việt Nam mà danh từ của đợt nào, có mặt cũng không làm cho
ai ngạc nhiên hết. Ở Mân Việt chỉ có độc một đợt là đợt II, đợt Lạc bộ Mã, con
dân của Câu Tiễn.
Biểu số 116
Việt Nam: Nhắm
Việt Nam: Liếm (Ăn theo lối chó ăn)
Mường: Lam
Cao Miên: Nham
Rađê: Miam (Ăn)
Bà Na: Miam (Ăn)
Mã Lai Á: Nyam (Ăn tiếng nói của trẻ con)
Mã Lai Á: Minum (Uống)
Cổ ngữ Đông Âu (Phúc Kiến): Lim (Ăn và Uống)
Mã Lai Phi Luật Tân: Mi miom (Ăn)
Thật ra thì Nhắm là uống hơn là ăn, nhưng vẫn có ăn
thế nên Đông Âu dùng tiếng đó vừa chỉ ăn mà cũng vừa chỉ uống.
Biểu số 117
Việt Nam: Cà
Chàm: Kán (Âm Án đọc theo Bắc Việt tức như Ál của Pháp)
Mường: Ka
Sơ Đăng: Kaa
Khả Lá Vàng: Aka
Khả Boloven: Ca
Thái: Blá
Nhựt Bổn: Sakána
Mã Lai: I-Kán (Chữ N cuối cũng đọc như Bắc Việt hoặc như L của Pháp)
Biểu số 118
Việt Nam: Ghe
Cao Miên: Thwe (ghe chài loại to lớn)
Mã Lai: Gav
Chúng tôi đã cho thấy rằng Bắc Việt chỉ mới mất những danh từ
thuần Việt là Bông, Trái, Muỗng, Ghe vào đầu đời Thanh vì lưu vong nhà Minh
tràn ngập vùng đó (Khâm Định Việt Sử, Bản dịch Langlet).
Thế nên không ai biết Hòn Gay là cái gì. Có lẽ đó
là cái đảo mà ngày xưa là Bến Ghe thương hồ, và nó ăn khớp phần nào với Kattigara của
Ptolémée, chớ Kattigara không thể là Oc Eo như ông Melleret
đã viết.
Kathi có thể nào là Kẻ Thị chăng? Vâng, Kẻ
Thị và Kẻ Chợ cũng thế thôi. Và Kathi Gara là Kẻ
Thị Gay, tức thành phố ghe thuyền, tức thương cảng.
Cũng nên biết rằng Ptolémée đến nơi đó vào cuối thế kỷ thứ II
S.K., thế nghĩa là ta bị Mã Viện chinh phục gần hai trăm năm rồi, và sự vay mượn
danh từ Thị đã xảy ra rồi.
Hoặc Kattti hay Kathi là Cái Xị của
Quảng Đông không chừng, vì dân cổ Tây Âu đã tràn sang đó để buôn bán vì bị trị
trước và vì thạo thương mãi hơn ta.
Dầu sao, không vì thế mà Kattigasa lại nằm trong tỉnh
Quảng Đông như có nhiều ông Tây đã nói, vì Gara không ăn vào với địa
danh nào cả trừ với Gay ở Hòn Gay mà thôi.
Kattigara cũng không thể là Oc Eo như ông Melleret đã viết vì
ông R.A. Stein đối chiếu sự miêu tả cảnh vật của Ptolémée thì thấy nó không ăn
khớp với vùng Oc Eo tí nào cả.
Biểu số 119
Việt Nam (kim): Trầu
Việt Nam Trung cổ: Tlù
Mường: Plù
Cao Miên: Mìu
Bà Na: Bơaou
Sơ Đăng: Graou
Mã Lai: Brao
Biểu số 120
Việt Nam: Ta
Giarai: Ta
Chàm: Kiểm tra (?)
Mã Lai: Kita (chỉ có nhà vua mới được dùng)
Mã Lai Kelantan: Kita (thường dân cũng được dùng)
Biểu số 121
Việt Nam: No tức Đâu (No Nao = Đâu nào)
Cao Miên: Na
Mường: No
Biểu số 122
Việt Nam: Mặc (áo)
Bà Na: Bak
Giarai: Bak
Ba thí dụ dưới đây làm cho thuyết của giáo sư Lê Ngọc Trụ bị
xáo trộn, như đã trình bày về vụ người Mường "Chàm thau" từ ngàn xưa,
và về sự chiết tự chữ Nỗ của Tàu.
Chúng tôi xin lặp lại, cho đoạn này được trọn bộ, mặc dầu cả
ba bản đều đã trình ra rồi ở đoạn trước nhơn một dịp khác.
Biểu số 123
Việt Nam: Chìm
Chàm: Tram
Cao Miên: Tram
Giarai: Ram
Bà Na: Kham
Mã Lai: Kram
Thái: Đâm
Chú ý: Tram của Chàm cũng có nghĩa là Ngâm (nước).
Biểu số 124
Việt Nam: Đâm
Bà Na: Tam
Mường: Chàm
Chàm: Tơm
Mã Lai: Tơm
Chú ý: Cả hai tiếng Chìm và Đâm, giáo sư
Lê Ngọc Trụ đều cho rằng do Hán Việt Trầm và Châm mà ra.
Biểu số 125
Việt Nam: Ná, Nỏ
Cao Miên: Snả
Mạ: Na
Bà Na: Hôm nay
Sơ Đăng: Mnáa
Giarai: Hnáa
Thái: Nảa
Mã Lai: P’nả
Biểu số 126
Việt Nam: Tên (cung tên)
Mã Lai: Tiang
Sự thật thì danh từ đúng là Anak P’na nghĩa
là Con của cây Nỏ, còn danh từ Tiang chỉ là cây dài, nhọn. Nhưng cả hai
danh từ ấy lại để chung, mặc dầu định nghĩa khác nhau, trong tự điển Mã Lai. Ta
có thể hiểu rằng như thế có nghĩa là mượn nghĩa qua lại được.
Giáo sư Lê Ngọc Trụ vì chủ trương rằng Ná, Nỏ do Nỗ của
Tàu mà ra, nên ông bắt buộc phải chủ trương rằng Tên do Tiễn của
Tàu mà ra.
Nhưng về động từ Bắn dưới đây thì ông không còn biết
làm sao để lôi kéo ta vào Tàu được nữa vì Bắn và Xạ khác
nhau quá xa, chớ nếu động từ Tàu mà rủi ro là Bạn, Bằng gì đó thì nhứt
định ông đã bắt ta làm bà con với Tàu rồi.
Biểu số 127
Việt Nam: Bắn
Cao Miên: Panh
Thái: Puen
Mạ: Panh
Mã Lai: Panaa
Biểu số 128
Việt Nam: Nhà
Trung Việt nông thôn: Yà
Mường: Nha
Kơ Yong: Nyia
Khả Lá Vàng: Honiơm
Jêh: Niơ
Sơ Đăng (K. Bring): Hnhây
Rơn Gao: Hnyê
Lamet: N’a
Khả Boloven: Túp (lều tranh)
Ta có thể hồi phục lộ trình biến dạng như sau:
Hnyê biến thành Hnhây
Hnhây - Niơ và Hniơm
Niơ. Hniơm - Nyia
Nyia - Na Ya và Nha
N’a, Nha, Ya - Nhà
Biểu số 129
Việt Nam: Mặt
Cao Miên: Múk
Mã Lai: Muka
Mạ: Mat
Bà Na: Maa
Sơ Đăng: Hơmaa
Khả Lá Vàng: Mat
Cũng có nghĩa là phía tay mặt (tay phải)
Tự điển Anh-Mã của R. O. Winstedt ghi rằng Muka là danh từ gốc
Phạn ngữ. Chúng tôi cho rằng đây là trùng hợp ngẫu nhiên, y hệt như người Khả
Lá Vàng nói Ai là Tôi như Anh. Dân Mã Lai đợt nhì di
cư xuống Nam Dương thì đã tiến đến thời đại đồng thau rồi, không lẽ lại không
có danh từ Muka để phải vay mượn của Ấn Độ.
Dân Lạc Việt đã phải vay mượn không cần thiết, thí dụ Đùi =
Thùi là vì bị thực trị, còn Mã Lai thì không bao giờ bị Ấn Độ xâm lăng cả thì họ
chỉ mượn những gì họ không có mà thôi.
Người mà ta gọi là da đỏ Maya ở Nam Trung Mỹ có vài danh từ
giống hệt Do Thái. Nhưng các nhà chủng tộc học, dân tộc học và ngôn ngữ học vừa
khám phá ra họ là Mã Lai đợt II.
Và cũng xin nhắc lại rằng cái thuyết của thế kỷ XVIII cho rằng
nhơn loại đồng gốc tổ, nên tất cả các ngôn ngữ đều đồng một vốn cũ, nay đã thấy
là sai rồi. Những trùng hợp lẻ tẻ, chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên, chớ không phải
là đồng tổ.
Không có lý nào mà cho rằng người Khả Lá Vàng đồng
gốc với Ăng Lê được chỉ vì đại danh từ ngôi thứ nhất của hai dân tộc đều
là Ai.
Paddy, Ananas của Pháp là danh từ Mã Lai Mỹ Châu, Pháp
mượn mà không khai ra trong tự điển của họ, khiến ngày kia có người sẽ nói là
Mã Lai vay mượn của Pháp đấy. Mã Lai có danh từ Đua có nghĩa là Hai,
Đôi, Song, Cặp mà Việt Nam biến thành Đũa (ăn cơm) Latinh, Pháp
cũng có Dualis, Dualité, cũng đồng nghĩa với Đua của Mã Lai,
nhưng không vì thế mà Mã Lai là La Tinh, hoặc là Pháp bao giờ cả.
Sự trùng hợp ngẫu nhiên có rất thường trong ngôn ngữ, nhưng
phải trùng hợp vài trăm từ sắp lên kia mới là đồng tông, chớ chỉ có vài từ thì
chỉ là trùng hợp buồn cười vậy thôi.
Biểu số 130
Việt Nam (Bắc): Hắc
Thái: Harak
Sơ Đăng: Harak
Bà Na: Harak
Việt Nam (Trung và Nam): Lác
Chàm: Laak
Mã Lai Sumatra: Haarraak
Sơ Đăng: Harak Lao (Hắc của người Lào)
Bắc Việt: Hắc Lào
Biểu số 131
Việt Nam: Lạ
Mã Lai Á: Lu ạ
Mã Lai Sumatra: Lahi
Môn, Miến: Lạ
Chúng tôi có ám chỉ đến lối đọc tiếng Lạ của tài tử Anh Tuấn
(gốc miền Bắc) trong Tivi. Ông ấy đọc là Lạ-a (hai âm). Mà như vậy là
đúng với gốc Mã Lai Lu-Ạ (hai âm), tức tài tử đó đọc theo cổ Việt vốn là nhị
âm, còn ta thì độc âm hóa tiếng Lu-Ạ thành Lạ.
Hai ngàn năm đã qua rồi, mà sự độc âm hóa của Mã Lai ngữ
trong xã hội Việt Nam chưa hoàn thành và còn để lại dấu đây đó, nơi ông Anh Tuấn.
Biểu số 132
Việt Nam: Mưa
Mạ: Mui
Mường: Mừa
Khả Lá Vàng: Mừa
Biểu số 133
Việt Nam: Mây
Mường: May
Cao Miên: Mêk (cũng có nghĩa là Trời)
Cổ ngữ Ba Thục: Mui
Thái: Mek
Trên đây là danh từ của nhóm Mã Lai lưỡi rìu tay cầm, gốc Hoa
Bắc dưới đây là danh từ của nhóm Mã Lai lưỡi rìu hình chữ nhựt gốc Hoa Nam.
Biểu số 134
Việt Nam: Vân
Cổ ngữ Tây Âu: Wàl
Quảng Đông: Wàl
Khả Lá Vàng: Wil
Mã Lai: Awan
Toàn thể người Việt Nam đều ngỡ Vân là Hán Việt.
Nhưng sự thật đó là tiếng Mã Lai, do nhóm Mã Lai Tây Âu giữ được. Chúng tôi đã
đưa ra nhiều thí dụ rằng người Quảng Đông (tức cổ Tây Âu bị Hoa hóa) tuy nói tiếng
Tàu sai giọng chút ít, nhưng vẫn cố giữ được non trăm danh từ cổ Tây Âu, vì
tinh thần tiêu cực đề kháng. Mây, tiếng Trung Hoa kinh đô (Quan Thoại) là Diễn.
Quảng Đông vẫn phải viết y như người Tàu chánh hiệu, nhưng thay vì đọc trại
chút ít, họ đọc cái chữ Diễn đó bằng ngôn ngữ Mã Lai Wàl tức là Awan,
mất chữ A đầu.
Các "Man di" Tây Âu, lẫn "Man di" Lạc Việt
đều đề kháng y như nhau, viết y như Tàu nhưng không chịu đọc như Tàu nhưng sai
chút ít, theo thường lệ, mà đọc là Wàl, là Vân tức giữ gốc tổ
Awan.
Mà đừng tưởng là Mã Lai đợt II đã học của Tàu. Khoa khảo tiền
sử đã cho biết với đầy cả chứng tích là bọn đó là Mã Lai Hoa Nam còn thuần túy
là Mã Lai, lúc di cư.
Chúng tôi có nói bằng chứng. Chữ đó, Quan Thoại đọc là Diễn mà
âm D của Quan Thoại chỉ biến thành âm D của Quảng Đông
và Ng của Quảng Đông chớ khônh bao giờ biến thành âm W cả, Diễn không
thể biến thành Wal được, theo cái luật biến nói trên.
Một lần nữa, ta thấy Âu, tức Thái, tức Quảng Đông, mặc dầu là
bọn lưỡi rìu tay cầm, có mượn vài danh từ của Lạc đợt II như Nghen là
Trời, Nả là Mẹ và Wàl là Mây.
(Không thể nói ba danh từ đó là danh từ chung cho cả hai đợt,
mà có bằng chứng là danh từ riêng của đợt II).
Nhưng không vì thế mà chủ trương rằng Hán Việt do Quảng Đông
mà ra. Đã bảo không bao giờ có Quảng Đông ngữ cả. Chỉ có cổ Tây Âu ngữ tức Thái
ngữ và Hoa ngữ do Thái Lưỡng Quảng đọc sai chút ít.
Còn tại sao Việt và Quảng Đông lại khá giống nhau trong lối đọc Wàl, Vân thì
rất dễ hiểu. Cả hai đều vay mượn Awan và đều biến gần giống Awan vì họ
sống khít vách nhau.
Biểu số 135
Việt Nam: Lu (đựng nước)
Mường Cao Miên: Tr’lu
Khả Lá Vàng: Tru
Biểu số 136
Việt Nam: Bông
Mã Lai: Bônga
Chàm: Bơngư
Mường: Pong
Khả Lá Vàng: Pươ
Nhựt Bổn: Bana
Cao Miên: Chxba
Cao Miên còn một danh từ nữa là Phôka. Nhưng đó vay mượn Fóa của
Quảng Đông. Người Chàm là Mã Lai chánh hiệu, nhưng lại biến xa hơn Việt về danh
từ này. Giữa Bông của Việt và Bơngư của Chàm, thì Bông gần
với Bônga của Mã Lai hơn.
Nhưng theo một người bạn Chàm thì khi xưa người Chàm vẫn nói
là Bônga. Và người bạn ấy kể một chuyện rất lạ về tên của vua Chế Bồng Nga.
Đó là một cái tên hỗn loạn mà người Việt đã phiên âm bậy bạ
chớ vương hiệu và tên cúng cơm của ông ấy không phải là thế.
Về Vương hiệu, thì ta nhìn nhận, vì các nhà khảo cổ Pháp đã
cho biết đúng Vương hiệu của Chế Bồng Nga là gì.
Còn về tên cúng cơm của ông ấy, không ai biết cả. Người Việt
Nam đã phiên âm danh từ Phạn Cri thường được đặt trước Vương hiệu các
vua Cao Miên, Phù Nam và Chàm, thành ra là Chế.
Tới đây thì đã ổn. Nhưng người Việt Nam thuở đó lại không biết
cả vương hiệu của ông ấy nữa chớ đừng nói là tên cúng cơm vì hai bên cắt đứt
liên lạc ngoại giao với nhau tức khắc khi ông ấy lên cầm quyền.
Người Việt tưởng Chế là Vua (và cũng đúng phần nào) nên thêm
vào đó là tên nước, mà tên nước của Chàm là Bônga Chămpa, tức Bông Sứ, Bông Đại,
để diễn cái ý Vua của Chàm.
Vậy vì không biết, nên Việt gọi ông ấy là vua của nước Bônga
Chămpa. Nhưng quá dài, nên Việt tự ý bỏ Chămpa, chỉ còn Chế Bônga mà thôi.
Mà Việt thì đã bị Hoa hóa sâu đậm rồi, viết Bônga thành chữ
Nho không được nên lại tự ý biến Cri Bônga thành Chế Bồng Nga, hai tiếng Bồng
Nga thì viết bằng chữ Nho được mà cũng không xa Bônga lắm.
Vậy đó là ba tiếng phiên âm, nhưng chỉ có tiếng đầu mới dính
líu đến vua, còn hai tiếng sau thì dùng để trỏ tên nước vì họ không biết tên
vua, cũng không biết vương hiệu, tức hai tiếng phiên âm sau chẳng dính líu gì đến
tên hay hiệu của ông đó cả.
Một lần nữa, ta thấy rằng tiếng Chàm Ninh Thuận không phải là
tiếng Chàm chánh hiệu, mà có thể chỉ là ngôn ngữ Phù Nam vì như đã nói, lãnh thổ
Phù Nam ăn ra tới Khánh Hòa.
Địa danh Ba Ta Ngan và nhân danh Bônga đã cho thấy là Chàm ở
trên, nói Mã Lai đúng giọng, còn Chàm Ninh Thuận thì nói sai quá xa.
Biểu số 137
Việt Nam: Cù lao
Mạ: Cu rao
Mã Lai Igorote: Cu rao
Chàm: Pi’lao
Mã Lai Á: Pu lô
Khả Lá Vàng: K’lô
Thái: Kốc
Cao Miên: Kốc
Có lẽ đây là danh từ chung cho cả hai đợt chớ không phải là
danh từ riêng của đợt II. Sự biến dạng như sau:
Kốc biến thành Kốc Lô
Kốc Lô - K’Lô
Kốc Lô - Pulô
Pulô - CuRao
Cu Rao - Cù Lao
Tất cả các hòn đảo ở bờ biển Nam và Trung Việt cho tới Quy
Nhơn, đều được Pháp gọi là Poulo. Nên biết rằng người Âu châu đến nước ta từ
năm 1650, và họ đã đặt tên các đảo ấy trước khi xâm lăng. Có lẽ họ đặt tên theo
hướng dẫn viên Phi Luật Tân chăng?
Nhưng không, ta thấy là các đảo ấy được đặt tên theo nghề
nghiệp, theo thổ sản, thí dụ Poulo Gambir có nghĩa là Đảo Cau Mứt, Poulo Obi, Đảo
Khoai, thì bọn thông ngôn Phi Luật Tân khó lòng thủ được vai trò nào bởi phải
có sống lâu ở đó mới biết sanh hoạt của dân chúng.
Vả lại Phi Luật Tân nói là Cu-Rao chớ không hề nói là Poulo
bao giờ cả mà nghĩ rằng chính họ đặt tên những cái Poulo đó.
Vậy họ phải đặt theo lối gọi của dân địa phương, tức của Chàm
và Phù Nam. Thế nghĩa là người Phù Nam tồn tại vào thời đó, vì những danh từ
Poulo, Obi, v.v. Cao Miên không có.
Từ Phú Quốc lên tới Quy Nhơn, có hai thứ dân địa phương là
Phù Nam và Chàm, vậy Phù Nam nói cùng một thứ tiếng với Chàm, và danh từ đó quả
là Pu-lô, bằng chứng là hồi cổ thời Tàu đã phiên âm đảo Chàm ở Quảng Nam là
Chiêm Phù Lao, phiên âm có sai đôi chút cũng còn gần sự thật, mà sự thật có thể
là Ph’lao. Thế nên trên biểu đối chiếu, trước tiếng Chàm, chúng tôi để là
Ph’lao là phỏng theo lối phiên âm của Tàu đời xưa mà không so lại với lối đọc của
Chàm thời nay, thấy là đã sai cả rồi khác rất xa lối đọc cách đây mấy trăm năm
của Chiêm Thành.
Nhưng người Mạ mà chúng tôi hồ nghi là dân Phù Nam sống sót lại
đọc là Cu-Rao, giống hệt Phi Luật Tân, chớ không là Pu-lô. Nhưng cũng có thể là
vì sống chung với ta mấy trăm năm, họ biến giọng đi.
Chỉ cần 50 năm là một dân tộc đọc sai cả rồi. Hiện người miền
Nam, chịu ảnh hưởng của Pháp đọc Ph giống F trong khi Ph Việt Nam
khác xa F không như trong ngôn ngữ của Pháp.
Các cô ca sĩ đầu tiên cách đây 25 năm đều xuất thân ở trường
đầm. Họ đọc I giống hệt của Pháp. Họ được hoan nghinh hóa ra ngày nay đa số người
Việt miền Nam đọc chữ I đã sai rồi. Chữ Ch cũng vì các cô đó mà sai
tuốt, các cô đọc như Ti của Pháp.
Những địa danh Chàm ở Trung Việt, được Pháp ghi trong dư đồ
Việt Nam chưa lâu, thế mà nay không còn ăn khớp với lối đọc của Chàm nữa, ta biết
được nó là gì, chỉ nhờ thuở xưa nó giống Nam Dương, và ta đã học tiếng Nam
Dương nên mới truy ra được, chớ cả một số người Chàm cũng không biết đó là gì,
bởi họ đã đọc khác rồi mà trường hợp điển hình hơn cả là trường hợp mũi
Bantagan ở Quảng Ngãi.
Nam Dương: Tangan = Tay
Kim Chàm: Tơngưl = Tay
Pháp không ghi là Cap Batơngưl thì tức là người Chàm năm 1860
không đọc là Batơngưl như ngày nay.
Ngôn ngữ biến như vậy, thế mà ta truy ra được tiếng ta là tiếng
Mã Lai thật quá may mắn. Danh từ Kưala sôngai = Cửa sông, ở Mã Lai Á thì thế,
thế nhưng đi có vài cây số đường biển sang Sumatra, nó đã biến thành Mưala
sôngai. Nếu không có cái khoen Mã Lai Á thì ta đã bị tịt ngòi trong việc tìm ngữ
căn của danh từ Cửa.
*
Danh từ của Thái và Miên tuy hơi khác, nhưng vẫn thấy được là
cùng gốc tổ Mã Lai là từ Kốc sang Cu Rao có cái khoen trung gian K’lô của Khả
Lá Vàng.
Chúng tôi không tin là dân Phù Nam đã bị đồng hóa với Cao
Miên vào giữa thế kỷ XVII mà ta di cư tới Nam Kỳ. Một dân tộc phải mất một ngàn
năm mới đồng hóa được một dân tộc khác, mà phải thật văn minh kia, còn Cao Miên
thì không giỏi lắm. Hơn thế, ở một chương khác chúng tôi sẽ đưa ra khám phá của
một nhà khảo cổ cho biết khi diệt quốc Phù Nam, Chân Lạp chỉ chiếm được đất Cao
Miên ngày nay, chớ không chiếm được đất Nam Kỳ. Vậy Pu Lô phải là danh từ của
Phù Nam tức Phù Nam nói y hệt như Nam Dương.
Biểu số 133
Việt Nam: Măng (tre)
Mạ: Pang
Cao Miên: Pang
Biểu số 139
Việt Nam (kim): Trâu
Việt Nam Trung cổ: Tlu
Mường: Tlu
Khả Lá Vàng: Salu
Đó là danh từ của Mã Lai đợt I Xy Vưu, Hùng Vương. Còn danh từ
của Mã Lai đợt II là:
Mã Lai: Kả Bô
Chàm: Ku Bao
Thái: Kawi
Cao Miên: Kà Bây
Mạ: Kà Bây
Khoa khảo tiền sử cho rằng Môn và Khơ Me thuộc Mã Lai đợt I,
chúng tôi kiểm soát bằng ngôn ngữ và quả thấy như vậy.
Nhưng biểu đối chiếu trên cho thấy một chi tiết khác là họ vẫn
có dùng danh từ của Mã Lai đợt II.
Danh từ này có lẽ đi vào ngôn ngữ Cao Miên qua dân Phù Nam.
Cao Miên diệt Phù Nam, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng Phù Nam phần nào.
*
Một động từ cho Cao Miên và Chàm khiến chúng tôi ngẩn ngơ:
Chàm: Ngáp Kubao = Giết trâu
Cao Miên: Sláp Kabây = Giết trâu
Động từ Ngáp, Sláp là giết, chúng tôi tìm khắp
các đảo Mã Lai, không đâu có cả mà cũng không phải là động từ đợt I, động từ đợt
I là Giết, Ket, Pchkét, v.v.
Biểu số 140
Việt Nam: Chiều
Cổ ngữ Ba Thục: Chiếu
Cổ ngữ Tây Âu: Châu
Tiếng Trung Hoa chánh gốc, Buổi Chiều, họ viết là Hạ
Ngọ, tức sau giờ Ngọ, đọc là Xá Wùa.
Bị đồng hóa, dân nước Ba, nước Thục và nước Tây Âu tiêu cực đề
kháng, tuy bắt buộc bị nói tiếng Tàu, họ phải viết là Hạ Ngọ nhưng cứ đọc
là Hà Chiếu, Hà Châu, theo gốc tổ Mã Lai trong cái gốc tổ ấy dĩ nhiên làm
gì có Hạ, bởi Sau Ngọ thì được chớ Sau Chiều thì không có
nghĩa gì hết. Nhưng hiện người Hẹ và người Quảng Đông nói như thế, tức
nói Sau Chiều, nhưng lại nói bằng một danh từ kỳ dị gồm một tiếng
Tàu Hạ, mà họ đọc là Hà, và một tiếng Thái là Chiếu, là Châu.
Danh từ Chiều thì ta dùng của đợt Mã Lai I, nhưng
danh từ Sáng thì ta lại dùng của Mã Lai II. Đó là một sự hợp tác ngộ
nghĩnh tại địa bàn Hồng Hà làm vừa lòng cả hai đợt.
Biểu số 141
Việt Nam: Sáng (buổi sáng)
Mã Lai: Siang
Thái: Rong sáng (tức Rạng sáng)
Biểu đối chiếu này cũng cho thấy một điều kỳ dị là Âu tức
Thái cũng có danh từ của Lạc. Có lẽ nước Tây Âu cũng có tiếp thu một mớ Lạc chạy
giặc Sở, vì Thái có Nghén, một biến thể của Langít Nam Dương mà
Cao Miên biến thành Nghít.
Nhưng Rạng Đông thì ta trở lại dùng danh từ của đợt
I.
Biểu số 141 bis
Việt Nam: Sớm mai
Nhựt Bổn:Yoakê Maê
Biểu số 142
Việt Nam: Xóm
Cổ ngữ Ba Thục: Xâm
Mã Lai Célèbes: Tsăm
Bi
ểu số 143
Việt Nam kim (toàn quốc): Nước
Việt Nam kim (Bình Trị Thiên): Nác
Mường: Đák
Khả: Đák
Bà Na: ĐĐák
Sơ Đăng: ĐĐak
Xi Tiêng: Đáa
Mã: Đạa
Mã Lai Phi Luật Tân: Đanum
Cao Miên: Tứk
Mã Lai Á: Banyu
Chữ U trong Đanum và Banyu của Mã Lai ghi trên đây,
nên đọc như chữ U của Việt Nam.
Sự biến dạng như sau: Đạ-Đá-Đák-Nác-Nước-Tứk-Banyu.
Đó là danh từ của Mã Lai đợt I. Mã Lai đợt I còn một danh từ
nữa là Nam, chỉ được dân Thái dùng.
Danh từ của Mã Lai đợt II là:
Mã Lai: Ayer
Nhựt Bổn: Ây
Chàm: Ea
Rađê: Ia
Giarai: Ya
EA của Chàm, đọc thật nhanh, và nghe YA của Giarai.
Ở các đảo Mã Lai, Nam biến thành JAM. Như vậy ở các
đảo Mã Lai vẫn có dùng danh từ đợt I, có lẽ đó là ảnh hưởng của Célèbes là đất
của đợt I.
Nhưng như đã nói, chúng tôi không tin rằng EA của
Chàm là biến thể của Ayer của Mã Lai đợt II ở Nam Dương, vì đó là
danh từ Lưỡng Hà có nghĩa là Nước và Nữ Thần nước mà Chăm
thì cũng dùng EA với cả hai nghĩa đó, thí dụ EA Blăng là Bà
Trăng, Nữ Thần trăng.
Chúng tôi lại tìm được nhiều dấu vết Lưỡng Hà nữa trong xã hội
Chàm và sẽ kể ra ở chương "Chàm".
Ây của Nhựt Bổn mà Tây viết là EI để đọc cho đúng giọng
Nhựt Bổn thì mới là không thể chối cãi là biến dạng của Ayer.
Trong xã hội Nhựt Bổn họ cũng dùng hỗn loạn danh từ của đợt I
(như Kazi là Gió) và danh từ đợt II (Ây là nước) vì ở đó có cả hai đợt Mã Lai y
hệt như ở Việt Nam và Chàm.
Nhưng ở Đại Hàn thì chỉ có Mã Lai đợt I mà thôi. Tuy nhiên, ở
cực Nam Đại Hàn, thuở xưa có một tiểu vương quốc hé tí Hồ Nam mà sử của Tây của
Tàu không có nói đến. Đó là tiểu vương quốc Nhiệm Na. Đó thuộc địa của Nhựt và ở
đó thì có danh từ của cả hai đợt Mã Lai, vì ảnh hưởng Nhựt sâu đậm ở đó.
Trong nhiều xã hội Mã Lai, Nước cũng dùng để chỉ Sông,
thí dụ nơi người Thái, người Chàm, người Thượng và cả các đảo Mã Lai nữa.
Sự kiện này không lạ lắm vì hình như dân tộc nào, lúc sơ
khai, cũng dùng danh từ như vậy, chỉ có khác là có dân tộc đã bỏ lối cũ, có dân
cứ còn giữ hoài.
Hiện ở Việt Nam, cũng có vài con sông được gọi là Nước. Ở
Trung Hoa cũng có nhiều con sông được gọi là Thủy.
Nên nhớ là trong ngôn ngữ Trung Hoa, Hà và Giang ban
đầu không phải là danh từ mà tên riêng của sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Sông
Hoàng Hà đến đời nhà Chu, vẫn còn bị gọi là Hà Thủy (xem lại Xuân Thu và Tả
Truyện: Năm U Vương thứ ba Kinh Thủy, Hà Thủy và Lạc Thủy đều cạn nơi nguồn".
Ngày nay thì họ dùng Thủy để chỉ những con sông nhỏ,
bất luận tánh cách, chớ không phải phụ lưu được gọi là Thủy, mà hễ nhỏ thì mặc
dầu đổ thẳng ra biển cũng được gọi là Thủy, y hệt như dân Mã Lai.
Ba tên riêng Hà, Giang và Hoài bị biến
thành danh từ, nhưng không vì thế mà Thủy mất địa vị, bởi đôi khi họ cũng gọi
sông Dương Tử là Giang Thủy.
Nhưng sự kiện dưới đây mới là lạ. Người Giarai đọc tiếng EA của
Chàm nhanh đến mức y như Ya. Nhưng ở quanh Ban Mê Thuột có những con sông
tên là EA YA này, EA KRONG nọ.
Hễ EA thì không còn Ya nữa làm gì, mà hễ EA rồi thì cũng
không còn Krong làm gì nữa, thế mà dân địa phương lại đặt tên như thế đó, y như
ở vùng đất Việt duyên hải ở ranh giới hai tỉnh Ninh và Bình có con sông tên là
sông Lòng Sông.
Hình như đó là dấu vết của hai chủ đất kế tiếp nhau, thuộc
hai nhóm Mã Lai không thạo ngôn ngữ của nhau, nên chủ trước đặt tên rồi, có
danh từ Sông trong đó, chủ sau lại tiếp theo mà đặt tên nữa, cũng
thêm danh từ Sông nhưng bằng phương ngữ của mình.
Thí dụ người Bà Na đặt tên là Krông Pach, thế rồi người Chàm
lên cai trị Cao nguyên không hiểu Krông là gì (Họ có Krong nhưng
không có dấu mũ, đọc khác Krông của Bà Na), bên ngỡ Krông Pach là tên
nên thêm EA ở trước, hóa ra sông đó là EA Krông Pach, tức sông Sông Pach.
Tên của sông Lòng Sông chắc cũng có nguồn gốc như thế.
Chú ý: Danh từ Thái, Nam = Nước cũng có mặt
trong Việt ngữ ở độc một trường hợp. Đó là danh từ Con Nam của ta, mà
giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ngộ nhận là do Mana của chủng Mê-la-nê mà
ra. Chúng tôi sẽ trở lại rành mạch về danh từ Con Nam ở biểu đối chiếu
về các danh từ Ma.
Và cũng nên biết rằng ở Nam Dương cũng có danh từ Nam. Đó là ảnh
hưởng của đảo Célèbes (Mã Lai đợt I). Nhưng Nam ở Nam Dương bị biến thành Jam.
Biểu số 144
Việt Nam: Non (Núi)
Cổ ngữ Ba Thục: Non
Phù Nam: B’Nam
Cao Miên: Ph’num
Mạ: Phơnơm
Bà Na Trường Sơn: Bơnơm
Thái Lan: Phu
Mã Lai: Gunong và Phunông
Đã nhận xét rồi ở chương Mã Lai chủng là các nhóm Mã Lai có
thói quen không lấy hết trọn danh từ hai Xy láp, mà có nhóm lấy Xy láp đầu như
Thái, có nhóm lấy Xy láp sau như Ba Thục và Việt Nam, có nhóm lấy hết nhưng biến
dạng, như Cao Miên, Phù Nam và cả Việt Nam nữa: Gunông = Gò nổng.
Đây là danh từ chung của cả hai đợt Mã Lai, còn Chớ của
Chàm là danh từ Mê-la-nê.
Hi là núi, trong Hi-Malaya, có mặt ở Nhựt Bổn. Còn Yama là
Núi ở Nhựt Bổn thì lại không thấy nơi nào có cả.
Biểu số 144 bis
Việt Nam: Gò
Mã Lai Penong: Gun
Mã Lai Kedanh: Gua
Biểu số 145
Việt Nam: Gò Nổng
Mã Lai: Gunông
Biểu số 145 bis
Việt Nam: Sông
Mường: Không
Khả: Hông
Chàm: Krong
Bà Na: Krông
Thái: Khung (Mé Khung)
Cao Miên: Stung (Phụ lưu), Sông của Cao Miên là T’lê
Mã Lai: Sôngai
Biểu số 146
Việt Nam: Cửa
Mường: Cua
Mã Lai Á: Kưala
Trong danh từ Sông, chỉ có Việt Nam là dân gốc Mã Lai nhứt
mặc dầu Chàm được xem như là dân Mã Lai, còn ta thì không xa Mã Lai nhứt là Cao
Miên với danh từ T’lê của họ.
Mã Lai đợt II di cư đi xa hơn Mã Lai đợt I và có sông ngòi
nhiều hơn, giỏi thủy vận hơn, thế mà lại nghèo danh từ, về sông ngòi đợt I. Quả
thật thế, để chỉ con suối họ nói là Anak sôngai tức Con nít sông. Trong
khi đó thì:
Thái: Houei
Việt: Suối
Họ cũng không có danh từ phụ lưu. Trong khi đó thì:
Cao Miên: Prek (Phụ lưu)
Việt Nam: Rạch (Phụ lưu)
*
Danh từ Kưala của Mã Lai chỉ để trỏ cửa sông mà thôi, chứ
không hề trỏ Cửa (nhà). Nam Việt lại mượn thêm danh từ Piam của Cao
Miên để chỉ Kưala và Việt hóa thành Vàm (Vàm Cỏ). Nhưng Vàm chỉ trỏ nơi sông nhỏ
đổ vào sông lớn chớ không chỉ nơi sông lớn đổ ra biển như Kưala. Nam Việt cũng
dùng đúng y hệt như thế. Cửa chỉ để gọi nơi cửa biển, còn Vàm thì gọi nơi giáp
lưu bên trong.
Biểu số 147
Việt Nam: Cây
Khả: Ki
Mã Lai Á: Kâyu
Biểu số 118
Việt Nam: Làng = Đơn vị hành chánh tự trị
Mường: Lang = Thái ấp nhỏ (Quan Lang là chủ của Lang)
Mã Lai: T’lang = Thôn
Hiện nay ở Phi Luật Tân, làng họ nói là Barangay và danh từ
này có một lịch sử kỳ dị ngộ nghĩnh nó cho ta thấy sự biến dạng của danh từ thật
là thiên hình vạn trạng.
Nguyên dân Phi Luật Tân ban đầu là dân phiêu lưu ăn cướp biển
từ Nam Dương đến. Họ đi bằng gay (tức ghe thuyền).
Đến nơi vì chưa khai hoang kịp, họ lâp làng ngay trên các
sông ngòi mà làng này là làng gồm toàn ghe thuyền, Làng thì đã sẵn có danh từ T’lang,
nhưng họ đọc sai đi, biến nó ra thành Barang. Thế thì Barangay =
T’langgay = làng ghe.
Ngày nay đã hết làng ghe, làng nào cũng là làng trên bờ,
nhưng họ cứ tiếp tục gọi làng là Barangay nuốt mất hết một chữ G, chớ đáng lý
gì mà Barang-Gay.
Biểu số 149
Việt Nam: Tắc kè (gecko)
Nam Việt: Cắc ké (gecko)
Nam Việt: Cắc kè (caméléon)
Thái: Tuk-kae (gecko)
Cao Miên: Tắc kè (gecko)
Mã Lai: Tokek (gecko)
Biểu số 150
Việt Nam: Đò
Bà Na: Đúc
Sơ Đăng: Đoo
Khả Lá Vàng: Đo
Mã Lai Kelantan: Đogol
Biểu số 151
Việt Nam: Đũa (ăn cơm)
Việt Nam: Đôi
Mã Lai: Đua = Hai, cặp
Mã Lai: Đua Đua = Đôi đũa
Bằng vào cuộc đối chiếu này, ta biết được rằng đũa ăn cơm do
đợt nhì đưa vào nước ta, chớ không phải đợt I.
Mã Lai lại có động từ Suái nghĩa là Đối. Như vậy
không chắc lắm là Đối của Việt Nam do Tàu mà ra.
Mà đừng tưởng rằng Mã Lai đợt II ấy đã học với Tàu vì khoa khảo
tiền sử đã đưa ra đầy đủ bằng chứng là họ thuần túy Mã Lai, về máu mủ và văn
hóa.
Biểu số 152
Việt Nam: Cổ (Trung Hoa chánh gốc là Chiêl)
Cổ ngữ Ba Thục: Cú
Cổ ngữ Tây Âu: Kẻng
Kim Thái: Kủ
Cổ ngữ Mân Việt: Kẹ
Mạ: Co
Mường: Kô
Biểu số 153
Việt Nam: Bướm
Cao Miên: Bâđ
Khả Lá Vàng: Pùl
Mường: Puôm
Mã Lai Johore: K’phản ứng (?)
Biểu số 154
Việt Nam: Soi
Mã Lai Á: Sua (Rọi bằng đèn) đọc là Su-A
Mã Lai Sumatra: Tua (Rọi bằng đèn) đọc là Tu-A?
Việt Nam tối cổ: Tua (ngôi sao)
Khả Lá Vàng hiện kim: Tua (ngôi sao)
Động từ này là động từ chung cho cả hai đợt Mã Lai, nhưng thật
ra ban đầu nó là danh từ, có nghĩa là ngôi sao, còn thấy được trong ca dao Việt
Nam và ngôn ngữ Khả Lá Vàng.
Về sau, Mã Lai đợt II biến thành động từ Sua ta biến
thành động từ Soi.
Còn danh từ Tua cũng bị ta biến thành Sao, Thái biến
thành Đao. Thế nên trong Việt ngữ thái cổ là Tua mà kim là Sao.
Biểu số 155
Việt Nam: Nàng
Cao Miên: Niêng
Thái: Năng
Thái: Năng
Mã Lai Java: Nona
Ta có tĩnh từ Nõn Nà có lẽ Nona đẻ ra Nàng và Nõn nà. Ta lại
có danh từ Nõn Nường, chỉ bộ phận phụ nữ, có lẽ cũng là một biến thể của Nona.
Biểu số 156
Việt Nam: Vàng
Khả Lá Vàng: Yêng
Mã Lai: Wang
Nhưng Wang lại có nghĩa là Tiền nữa, nơi
Mã Lai Đồng tiền còn gọi là Mata Wang, tức Con mắt bằng
vàng, tức Vàng tròn như con mắt.
Họ còn một danh từ nữa là Ảma mà đồng bào Thượng và Chàm nói
là Maah, Ảma và Maah là danh từ của Mã Lai đợt I vì
người Thượng trừ Giarai thì thuộc đợt I, còn danh từ Wang chắc chắn
là của đợt II mà vua Hùng Vương đã mượn.
Danh từ của đợt I lại cũng bị Mã Lai mượn.
Mã Lai: Ảma
Cao Miên: Mia
Thượng: Maah
Chàm: Mah
Biểu số 157
Việt Nam: Nôn mửa
Mã Lai Johore: Mual
Mã Lai Penang: Muak
Đó là động từ của Mã Lai đợt II. Động từ của Mã Lai đợt I là:
Việt Bắc: Oẹ
Việt Nam: Ọi, Ọc, Ợ
Miến Điện, Môn và Cao Miên: Ko ẹ
Biểu số 158
Việt Nam: (Chiếu) Sáng
Khả Lá Vàng: Trắng
Mã Lai: Tárang
Các tĩnh từ chỉ màu sắc của ta, thường mượn của Mã Lai đợt
II.
Có lẽ ta mượn tĩnh từ Tărang để biến thành Trắng, chớ
tĩnh từ của đợt I thì là So.
Môn: Đây So = Đất trắng
Miên: Đây So = Đất trắng
Việt Nam: Đất thó = Đất trắng
Biểu số 158 bis
Việt Nam: Đen, Thâm
Thái: Lam, Đăm
Mã Lai: Hi Tam
Biểu số 159
Việt Nam: Đêm
Khả Lá Vàng và các nhóm Thượng: Mang
Mã Lai: Malam
Biểu số 160
Việt Nam: Lưỡi
Cổ ngữ Tây Âu và Ba Thục: Li
Các nhóm Thái: Lin
Mã Lai: Lidaa, Lio
Quảng Đông nói là Li là dùng Cổ ngữ Tây Âu chớ
không phải đọc tiếng Tàu sai giọng chút ít. Tiếng Tàu là Xửa mà Xửa thì
không thể biến thành Li. Chúng tôi đang nghiên cứu tại sao các cụ nhà nho
lại đọc cái tiếng Xửa ấy thành Thiệt. Có lẽ Thiệt là
danh từ Mã Lai đợt nhứt chăng? Nhưng không chắc lắm, vì Môn Khơ Me là Mã Lai đợt
I, nhưng họ nói là On Đát.
Biểu số 161
Việt Nam: Ai (đại danh từ ngôi ba)
Mã Lai: Aku (Tôi)
Khả Lá Vàng: Ai (Tôi)
Người Khả Lá Vàng nói tiếng Việt, nhưng đại danh từ ngôi thứ
nhứt của họ là như trên. Nhưng chúng tôi thấy rằng họ thuộc đợt Mã Lai thứ I
hơn là thuộc Mã Lai II, vì có nhiều danh từ giống Việt Nam hơn là giống Nam
Dương.
Như vậy ta có thể tạm kết luận rằng hồi cổ thời ta cũng nói
AI, y hệt như Mã Lai và Khả Lá Vàng, thay cho Tôi, nhưng sau rồi ta đẩy
đại danh từ ấy xuống ngôi thứ ba. Và đó là danh từ chung cho cả hai đợt.
Trong câu chuyện người Việt Nam ngày nay cũng thường
nói Ai thay cho Tôi.
Thí dụ A hỏi B:
"Tại sao quân Congo lại đánh quân Ouganda?"
"Ai biết đâu!"
Chữ Ai đó rõ ràng có nghĩa là Tôi. Ai biết đâu
= Tôi có biết gì đâu về chuyện đó.
Biểu số 162
Việt Nam (kim): Mình (Tôi)
Việt Nam Trung cổ: Min (Sách các cố đạo)
Mã Lai: Kami (Chỉ có nhà vua mới được dùng để nói)
Biểu số 163
Việt Nam: Mi, Mày
Bà Na: Mi = Mày
Mã Lai Perák: Mika = Mày
Mã Lai Perak: Mika-Ma = Bây
Biểu số 164
Việt Nam: Mắc cỡ
Cao Miên: Khở mắt
Mã Lai: Malủ, Mukả
Biểu số 165
Việt Nam kim: Vua
Triết Giang: Vò
Việt Nam Trung cổ: Bua (Theo sách cố đạo)
Mường: Bua
Bà Na: Bưa
Giarai: Patô
Mã Lai: Pảtuan
Chàm: Pô
Đây là danh từ của đợt II mà Hùng Vương vay mượn.
(Chúng tôi chủ trương rằng người Thượng là Việt thoái
hóa vì mất địa bàn tố, chớ không phải Việt tiến trễ. Sự có mặt của
danh từ Vua trong ngôn ngữ của họ chứng minh rằng họ đã biết chế độ
vua chúa vào một thời nào đó).
Thái: Sadet
Mường: Adecht
Cao Miên: Sdacht
Danh từ vua của Mã Lai đợt I
Cao Miên còn một danh từ nữa để chỉ Vua, đó là Luông,
nhưng danh từ này lại cũng gần giống với danh từ Thái: Luang là Vương
quốc.
Biểu số 166
Việt Nam: Lửa
Môn: Phlơn
Cao Miên: Phlơn
Khả: Phlơn
Vài nhóm Thượng: Phlơn
Biểu số 167
Việt Nam: Bắp (Lúa, Ngô)
Thái: Bốt
Cao Miên: Bôt
Vài nhóm Thượng: Bốt
Xem các tự điển xưa, thấy ghi là miền Bắc vẫn nói Bắp trước
khi nói Lúa Ngô. Vậy Bắp không là danh từ riêng của miền Nam như
nhiều người đã tưởng.
Như thế thì rõ ràng là lúa Ngô không phải từ bên Ngô (bên
Tàu) đưa sang ta, vì lẽ ta đã gọi món ấy là Bắp trước khi gọi là lúa
Ngô. Nhưng tại sao ta gọi nó là lúa Ngô thì thật không thể truy ra.
Có lẽ đó là do sáng kiến của một kẻ dốt nào, nhưng sáng kiến
lại được hoan nghinh? Bằng chứng là món ý dĩ, từ bao lâu nay ta và đồng bào Thượng
đều gọi là bo bo. Bỗng dưng vài năm nay người ta đưa ra danh từ mới là lúa Miến,
mặc dầu nó không từ Miến Điện nhập cảng sang đây bao giờ cả. Thế mà cái danh từ
mới ấy cũng lại được hoan nghinh.
Món bí Ngô, chắc chắn cũng không phải từ bên Ngô đưa sang vì
bên Ngô không có bí đó, họ đem giống từ xứ Hồ sang nên họ gọi nó là bí Hồ.
Bằng chứng là Nhựt Bổn lấy giống bí đó ở Cam Bốt Ra và gọi nó
là Kaboja, thì ta, có biên giới chung với Cao Miên hồi cổ thời, ta vẫn phải lấy
giống từ Cam Bốt Ra. Nhưng miền Bắc cũng gọi nó là bí Ngô.
Lúa Ngô và bí Ngô có lẽ do một tác giả độc nhứt sáng tác ra,
với hậu ý nào đó.
Biểu số 166
Việt Nam: Bo bo (Ý dĩ)
Sơ Đăng: Bo Kô Bo
Bà Na: Bo Kô Bo
Bo bo cũng là không phải là danh từ riêng của miền Nam,
y như đã thấy trên kia trong trường hợp Bắp.
Bo bo là danh từ của Mã Lai đợt I. Danh từ của Mã Lai đợt II
là Sảkoi, mà có lẽ người Chàm đã nói như vậy, chúng tôi quên học danh từ này của
người Chàm.
Biểu số 169
Việt Nam: Lúa
Việt Nam Bình Trị: Ló
Mường: Ló
Mã Lai Perak: Lú
Nhóm Pérak là một nhóm Việt Nam ly khai Nam Dương và thuộc Mã
Lai đợt I. Đã bảo một dân tộc ở hai địa bàn khác nhau mà phát minh cùng một món
đồ giống nhau, họ cũng sáng tác tên gọi khác nhau, vì cái lẽ dĩ nhiên là không
thể giống nhau được. Việt Nam đợt I và dân đảo Célèbes cũng đợt I, nhưng khi di
cư cả hai đều chưa biết nông nghiệp. Thế nên cùng đợt với nhau, vậy mà họ gọi
lúa gạo khác nhau.
Trong khi đó thì Mã Lai Pérak lại gọi là Lú thì Mã
Lai Perak phải là người Việt Nam di cư xuống đó.
Người Mường thuộc đợt II nên họ thường dùng danh từ Pơ Duông
của đợt II hơn là Ló của đợt I, thế nên ta mới biết họ thuộc đợt II.
Xin nhắc lại danh từ đợt II chỉ lúa gạo là:
Mã Lai: Padi (Pháp mượn biến thành Paddy)
Giarai: Pơ đai
Chàm: Pơ đai
Mường: Pơ đuông (Sau biến thành Đuống, Sông Đuống).
Biểu số 169 bis
Việt Nam: Nầy, Nay, Ni, Nầy, Nè
Khả Lá Vàng: Nè
Mã Lai Pennag: Ini
Thái: Tini
Biểu số 170
Việt Nam: Vườn
Cao Miên: Suôn
Thái: Suôn
Biểu số 171
Việt Nam: Thang (Để leo cao)
Mã Lai: Tangga
Chàm: Thang giơ
Người Mã Lai, nhà Sàn, họ mới là nhà Tangga, tức nhà
thang. Vậy danh từ Sàn của Việt Nam là biến dạng thứ nhì của Tangga.
Tangga: Thang
Tangga: Sàn
Riêng trong ngôn ngữ Chàm, Tangga biến khác nữa. Chàm biến
thành Thang giơ có nghĩa là Nhà cất theo cổ tục tổ tiên. Nguyên
hiện nay họ ở nhà sát ngay trên mặt đất như ta. Còn nhà sàn, chỉ cất để cử hành
những nghi lễ tôn giáo theo cổ tục, nên Thang giơ mới biến nghĩa như
thế.
Biểu số 172
Việt Nam: Hái
Mã Lai: Tuái
Mã Lai Lalangor: Mãnuái (Lưỡi hái)
Biểu số 173
Việt Nam: Kẻ lạ
Mã Lai: Ka lu ạ (Kẻ từ ngoài đến)
Miến Điện: Ka Lạ (Như trên)
Việt Nam đã vay mượn Lu ạ (tức ngoài, từ bên ngoài)
để biến thành người lạ rồi lạ kỳ chớ tĩnh từ lạ kỳ của
Mã Lai đợt II thì khác chớ không phải Lu ạ.
Và Lu ạ bị biến như sau: Lu ạ = La ạ = Lạ
Lối đọc của tài tử Anh Tuấn trong Tivi cho thấy rõ ràng là La
ạ.
Biểu số 173 bis
Việt Nam: Xiêm
Chàm: Syăm
Cao Miên: Syăm
Mã Lai: Syămbu
Có nghĩa là chạy trốn, tù binh. Cao Miên dùng danh từ
này để chỉ người Thái Lan là kẻ chạy trốn Tàu hồi thế kỷ thứ VII, VIII, IX, X,
XI, XII, XIII, xâm nhập vào thuộc địa của Cao Miên. Họ là kẻ chạy trốn và bị
xem như là một thứ tù binh của Cao Miên.
Sau Thái lập quốc tại đó, chẳng hiểu danh từ ấy có nghĩa gì,
nên lấy đó làm quốc hiệu. Xiêm là do ta mượn thẳng của Mã Lai, Chàm và Cao Miên
chớ không phải mượn của Tàu như có người tưởng, vì Tàu cũng chỉ phiên âm Syăm,
chớ họ không có danh từ đó.
Biểu số 174
Mã Lai Nam Dương: Manát (ma của người chết đuối)
Việt Nam: Ma (bất kỳ loại ma nào)
Thái: Masuốt (bất kỳ loại ma nào)
Thái: Manam (ma dưới nước, vì nam = nước).
Việt Nam: Con Nam (ma dưới nước)
Miền Nam Việt Nam: Ma Da (ma của người chết đuối).
Giáo sư Trần Ngọc Ninh có ngộ nhận về hai điểm trong danh từ
này. Ông cho rằng ta vay mượn của chủng Mê-la-nê. Nhưng tự điển Anh-Mê-la-nê lại
cho biết rằng chính chủng Mê-la-nê đã vay mượn của chủng Mã Lai danh từ đó.
Giáo sư lại nói rằng ta biến Mana thành con
Nam. Sự thật thì chính Thái đã biến Mana thành Ma Nam rồi
ta vay mượn lại của Thái mà bỏ âm Ma đi.
Danh từ Ma Da của Nam Kỳ thì lại mượn thẳng của người
Java, thời ta khẩn hoang miền Nam, vì họ có tới đây đông đảo đến hai lần Nông Nại
Đại phố vừa thành lập, và lần Pháp đánh ta năm 1858 mà Phi Luật Tân đến với tư
cách lính đánh thuê. Cả hai lần họ đều có ở lại và thành Việt Nam luôn.
(Có lẽ giáo sư họ Trần lẫn lộn Mê-la-nê với Mã Lai cũng nên
như giáo sư Nguyễn Phương và học giả Lê Văn Siêu).
Biểu số 175
Nam Việt: Hởi
Chàm: Hời, Hới (Đồng Hới)
Mã Lai: Hai
Trong ngôn ngữ Chàm, tiếng Hời, Hới không có dùng trong văn
chương như Mã Lai và Việt, mà chỉ dùng để gọi nhau, tương đương với tiếng Ê của
Việt Nam, và ai bị gọi như vậy là mích lòng lắm, vì đó là lối gọi không trọng nể.
Ta không nên gọi người Chàm là người Hời, vì sẽ làm cho họ giận.
Những tiếng Ơi, Ời, Ới, Ôi của Việt Nam đều do Hai mà ra cả.
Chúng tôi đã tự hỏi Thái biến Mana thành Ma Nam hay
Nam Dương biến Ma Nam thành Mân, và chúng tôi trả lời được ngay là
chính Thái đã biến, vì danh từ Nam là Nước của Thái, khi đến Nam Dương thì đã
hóa thành Jam. Nếu Nam Dương biến thì danh từ của họ phải là Majam chớ
không là Mana.
Đặc biệt chú ý
Có sự liên hệ giữa âm Du, Vu, Dâu Việt Nam với
âm Tô của Mã Lai, nhưng không biết vì sao mà lai biến hơi lạ vậy.
Mã Lai: Kảtô = Cây dâu
Mường: Tô = Cây dâu
Mường: Tô = Cái Vú
Khả Lá Vàng: Tô = Cái Vú
Lại có sự liên hệ giữa âm V của Việt Nam và âm S của
Mã Lai.
Mã Lai: Su = Cái Vú (có biến âm)
Mã Lai: Su = Sửa (bình thường)
Sửa và Vú là hai thứ khác nhau, thế mà người
Mã Lai nói y như nhau, thì có nghĩa là họ đã nhập âm V vào âm S.
Kỳ công của ngôn ngữ tỷ hiệu
Nếu chúng tôi cứ tiếp tục đối chiếu mãi thì quyển sách này
hóa ra một quyển tự điển mất, vì có ít lắm 10 ngàn từ cần được đối chiếu.
Bao nhiêu đây thì tạm ngưng được rồi để bước sang những điểm
sử khác.
Nhưng trước khi ngưng đối chiếu chúng ta cần nhận xét những
điều sau đây là Việt Nam còn Mã Lai hơn chính người Mã Lai nữa, bằng chứng là
danh từ Cửa sông ở Mã Lai Á nói là Kưala sôngai, nhưng chỉ bước qua một eo
biển nhỏ, tới đảo Sumatra thì nó biến thành Mưala Sôngai tức xa gốc tổ
hơn Việt Nam quá nhiều.
Ta lại tự hỏi tại sao các nhà bác học Âu Mỹ nhận diện được
người Chàm là Mã Lai mà không nhận diện được ta, trong khi ta nói giống Mã Lai
hơn Chàm nhiều lắm. Thí dụ sơ sơ:
Mã Lai Á: Bônga
Việt Nam: Bông
Chàm: Bơngư
*
Mã Lai: Sôngai
Việt Nam: Sông
Chàm: Krông
*
Các nhà bác học Âu Châu làm việc ở "Đông Dương" hơi
bê bối, nếu không, họ đã thấy cái gì, và một quyển sách như thế này, có lẽ ra đời
từ 30 năm rồi khi mà trong Việt ngữ có đến 40 phần trăm danh từ Nam Dương nói
đúng giọng hơn Chàm ngữ nhiều lắm.
Thật ra thì trong Chàm ngữ cũng chỉ có lối 60 phần trăm danh
từ Mã Lai Nam Dương, tức không nhiều hơn ta bao nhiêu, mà lại đọc sai quá xa,
thí dụ danh từ Kaki của Nam Dương, ta đọc là Cẳng, còn người
Chàm đọc là Tcay thì cũng là ta đọc đúng hơn Chàm, vì rõ ràng
là Cẳng gần gũi với Kaki hơn là Tcay.
Điển hình nhứt là Gu nông của Nam Dương, ta đọc
là Gò Nổng thì quá giống trong khi đó thì danh từ của người Chàm
là Chớ thì lại khác xa Nam Dương một trời một vực.
Cái lớp sơn Trung Hoa phết lên văn hóa Việt Nam đã gạt gẫm tất
cả mọi người, kể cả các nhà bác học nữa.
*
Những biểu đối chiếu trình ra trên đây được lập ra có toan
tính, tức cố ý chọn những từ có nhiều nhóm trùng hợp với nhau, hóa ra nhìn vào
đó, ta không thể biết ta giống ai nhiều hơn. Bổn ý của chúng tôi là đối chiếu
nhiều nhóm Mã Lai, chớ không phải đối chiếu ta với một nhóm nào đó.
Nhưng cứ bằng vài chỗ chúng tôi biết riêng thì tỷ lệ giống
thiên hạ được ước tượng thế này trong Việt ngữ căn bản, tức bỏ vay mượn của Tàu
ra:
Thái: 6%
Môn và Khơ Me: 30%
Mã Lai Nam Dương: 40%
Thượng Việt: 40%
Miến Điện: 6%
Tây Tạng: 10%
Mê-la-nê: 4%
Tổng cộng: 135%
Con số 135% là một con số giả tạo, bởi tối đa, chỉ có 100% mà
thôi. Sở dĩ giả, vì Miến Điện, Tây Tạng và Môn Khơ Me lại giống nhau.
Bây giờ cho một con số thật thì như thế này:
Thái: 6%
Môn Khơ Me, Miến Điện, Tây Tạng: 10%
Thượng Việt: 40%
Mã Lai Nam Dương: 40%
Mê-la-nê: 4%
Tổng cộng: 100%
Các ông Tây nói đến Thái ngữ quá nhiều, nhứt là ông H.
Maspéro, vì ông biết có Thái ngữ mà thôi, nhưng tỷ lệ Thái ngữ trong Việt ngữ lại
quá thấp, ít hơn cả Cao Miên nữa.
Điều mà không ai ngờ là Thượng Việt ngữ lên đến 40 phần trăm.
Thế nên chúng tôi mới hò hét dữ dội khi Thượng Viện ta biểu quyết cho người Cao
Miên làm dân tộc thiểu số, mà lại bỏ Thượng Việt vào trong nhóm Cao Miên vì
nghe theo sự xuyên tạc của các ông Tây.
Nội cái danh từ Harak Lào của người Sơ Đăng và Hắc Lào của Bắc
Việt đủ cho ta thấy sự gần gũi hồi cổ thời giữa ta và Thượng Việt rồi, người
Chàm được thế giới nhìn nhận là Mã Lai đấy, nhưng Harak, họ đọc là Lák tức là
xa gốc tổ hơn Việt quá nhiều vì Hắc phải gần với Harak hơn.
Gốc tổ đây là Mã Lai đợt I, Thượng Việt là Mã Lai đợt I, chớ
không phải Nam Dương đâu, bởi Nam Dương chỉ là Mã Lai đợt II, tức Mã Lai Hoa
Nam.
Chúng tôi thử viết lại, theo cái biết của người Tàu đời xưa:
Âu: 6%
Lạc bộ Chuy: 10%
Lạc bộ Trãi: 40%
Lạc bộ Mã: 40%
Mê-la-nê (Tàu không hề biết dân này): 4%
Tổng cộng: 100%
Thế thì không có chữ Lạc nào của Tàu nào sai cả, mặc dầu họ gọi
ta bằng bất kỳ chữ Lạc nào.
Và ta đừng ngạc nhiên sao tỷ lệ của Âu lại quá thấp. Họ khác
chi với ta, với Nam Dương, với Thượng, với Cao Miên, tất cả đều Lạc, mà họ thì
là Âu thì tỷ lệ danh từ của Thái trong Việt ngữ không thể cao hơn được.
Và các biểu tỷ lệ sau đây, một lần nữa, cho thấy rằng các nhà
ngôn ngữ học Âu Mỹ sai quá to khi họ cứ nhấn mạnh về Miên ngữ, mà không biết 80
phần trăm kia gồm 40 phần trăm Mã Lai đợt I (Thượng) và 40 phần trăm Mã Lai đợt
II (Nam Dương).
*
Những danh từ của chủng Mê-la-nê chỉ dùng để trỏ thổ sản và cầm
thú địa phương, như Dừa chẳng hạn, những thứ mà khi ta định cư ở đây, ta tìm thấy,
nhưng không buồn sáng tác danh từ, chỉ học với thổ dân là đủ rồi. Tuy nhiên, một
vài danh từ cao hơn của họ vẫn len lỏi vào ngôn ngữ ta được, thí dụ danh từ Giò.
Tuy nhiên, cầm thú địa phương, có lắm con, ta cũng sáng tác.
Thí dụ: một loài chim nói giỏi mà đất Bắc gọi là Yểng, thì người Bà Na gọi là
Jông, người Đàng Trong gọi là Nhồng. Jông và Nhồng đồng
gốc, và có lẽ đó là sáng tác về sau, sau khi vay mượn Yểng của
Mê-la-nê tại cổ Bắc Việt.
Các biểu tỷ lệ cho thấy ở cổ Việt, Mã Lai bộ Trãi và Mã Lai bộ
Mã đồng số với nhau. Sở dĩ chúng tôi bảo đợt I đa số vì đợt I gồm bộ Trãi, lại
bộ Chuy nữa, nếu không có bộ Chuy thì không có sự đa số đó.
Có một danh từ độc nhứt làm cho chúng tôi khổ sở lắm, không
biết Mã Lai học của Tàu, hay Tàu học của Mã Lai. Đó là danh từ Bông Lài.
Việt Nam: Bông Lài
Mã Lai Nam Dương: Bônga Mãlati
Tàu: Mạt lị hoa
Thấy rõ là đồng gốc, nhưng gốc nào chớ?
Theo khoa khảo tiền sử thì, khi di cư, Mã Lai Nam Dương tuyệt
đối không có chịu ảnh hưởng Tàu. Vậy chúng tôi tạm kết luận rằng Tàu học của
ta, hoặc của Nam Dương hồi đời nhà Hán.
*
Cũng vì tỷ lệ này mà ở chương sau, chúng tôi viết sơ sử cho
Thượng Việt theo chiều hướng đó. Họ là bộ Trãi, di cư đồng thời với ta, ta ghé
Bắc Việt, họ ghé Trung Việt. 2.500 năm sau họ bị Mã Lai đợt II là Chàm đánh đuổi
lên Cao nguyên, trái hẳn với các ông Tây, các ông cho rằng Thượng Việt là phụ
chi của Cao Miên và từ Cao Miên sang Cao nguyên. Chúng tôi có nhiều bằng chứng
hơn chứng tích ngôn ngữ, còn các ông Tây nói ra mà không chứng minh được, lại
sai lầm rõ rệt về điểm ngôn ngữ.
Thế là ước mơ của ông G. Cocdès đã được thể hiện. Ông viết:
"Ai biết người sống đồng thời với hai bà Trưng dùng ngôn ngữ nào thì vấn đề
nguồn gốc của dân tộc Việt Nam sẽ được giải quyết dễ dàng".
Nay thì ta đã biết rồi đây. Họ dùng ngôn ngữ của cả ba thứ Lạc:
Lạc bộ Trãi: 40%
Lạc bộ Mã: 40%
Lạc bộ Chuy: 10%
Ông G. Cocdès là người có công lớn nhứt đối với quyển sách
này vì chính ông là người tóm lược khoa khảo tiền sử đúng về Á Đông mà chúng
tôi không được đọc và không đọc được. Không được đọc vì tài liệu tản mác khắp
thế giới, không đọc được vì tài liệu được viết với nhiều ngôn ngữ mà chúng tôi
không thạo.
Chúng tôi đã nỗ lực biến mơ ước của ông thành sự thật, nhưng
ông lại đã hóa ra người thiên cổ rồi.
*
Cũng xin nhắn với vong linh ông H. Maspéro. Ông nói Việt ngữ
gồm 3 yếu tố: Miên, Thái, và một yếu tố còn ẩn.
Khá thông minh. Miên, Thái là Mã Lai đợt I, còn yếu tố ẩn thứ
ba là Mã Lai ngữ đợt II mà ông quên học.
Ông cũng quên một yếu tố thứ tư. Đó là Mê-la-nê ngữ nó chỉ những
cây, trái, cá mà mỗi nhóm đều phải học với dân địa phương vì các thứ ấy vắng mặt
ở địa bàn cũ của họ là Trung Hoa, nên họ không biết mà cũng không dại mà sáng
tác cho mất công. Thí dụ: Cây dừa.
Việt Nam: Dừa
Cao Miên: Đôn
Thái Lào: Prao
Mã Lai: Nyor
Những món mà họ sáng tác hàng ngàn năm sau khi họ có ngôn ngữ,
họ phải sáng tác danh từ, mà họ không còn ở gần nhau nữa nên:
Mã Lai đợt I nói cái Nhà.
Mã Lai đợt II nói Rumaa.
Ruộng, lúa, gạo chính họ phát minh ra chớ không phải là thổ
dân, và ở đây thì họ sáng tác danh từ chứ không còn vay mượn nữa, nhưng vì các
nhóm đã văn minh rồi và sống biệt lập với nhau thành thử Thái sáng tác không giống
Cao Miên, Cao Miên không giống Việt Nam.
Thí dụ:
Việt Nam: Ruộng
Thái: Na
Môn và Cao Miên: Srê
Chàm: Alak
Mã Lai Á: Ladang, Uma (Ruộng khô)
Mã Lai Selangor: Sawra (Ruộng bầu, ruộng đầm lầy)
(Giáo sư Trần Kinh Hòa cho rằng Alak của Chàm do Phạn ngữ mà
ra. Nhưng Chàm tiếp xúc với Ấn Độ sau Mã Lai Nam Dương rất lâu mà Mã Lai không
có mượn tiếng Phạn để chỉ ruộng, còn Chàm thì mượn là thế nào? Ở đây lại có
trùng phùng ngẫu nhiên nữa).
Chúng tôi cho rằng mặc dầu khoa học chê chứng tích ngôn ngữ tỷ
hiệu, nhưng chính chứng tích ấy lại cho biết rõ nhiều điều mà khoa chánh là khảo
tiền sử và chủng tộc học mù tịt.
Những điều đó gồm cả việc đại sự lẫn việc lặt vặt.
Đây là đại sự. Khoa khảo tiền sử bảo rằng Mã Lai đợt II không
có ghé Đông Dương, Đông Pháp gì hết ráo, từ cực Nam Hoa Nam nhảy vọt một cái là
đi thẳng xuống bán đảo Ma-Lắc-Ca.
Nhưng học ngôn ngữ của Chàm và Phù Nam, thì ta thấy hai quốc
gia đó nói tiếng Mã Lai đợt II.
Vậy cái khoa bị chê này lại biết nhiều hơn các khoa khác mà họ
gọi là quan trọng hơn.
Cũng nên biết, chúng tôi sẽ chứng minh rằng trống đồng là sản
phẩm của Mã Lai đợt II, mà người ta đã tìm được trống đồng ở gần hồ Tonlé Sap,
tức tại trung tâm văn hóa cổ Phù Nam. Như thế thì khoa khảo tiền sử đủ khả năng
biết sự thật. Nhưng chưa bao giờ ai tìm được trống đồng ở cổ Chiêm Thành cả thì
nếu không có ngôn ngữ tỷ hiệu, khoa khảo tiền sử sẽ bí chết về Chiêm Thành,
không thể biết họ thuộc đợt I hay đợt II.
Chúng tôi biết, hơn thế nhờ đó mà chúng tôi viết được cả thượng
cổ sử Chiêm Thành nữa, chớ cho đến nay sách vở cũng chỉ viết được kể từ thế kỷ
thứ hai (II) sau Tây lịch, tức cũng chưa xứng đáng là cổ sử nữa, chớ đừng nói
là thượng cổ sử.
Chuyện lặt vặt thì nhiều vô số kể, nhưng thật ra thì đều là đại
sự cả chớ không có lặt vặt tí nào, chỉ lặt vặt đối với đại chủng Mã Lai, chớ rất
to tát đối với Việt sử.
Chẳng hạn, chúng tôi biết (xin xem chương riêng) nhờ ngôn ngữ
tỷ hiệu, rằng người Mường thuộc Mã Lai đợt II, đó là chuyện lớn, vì cho đến
nay, chưa ai biết người Mường là ai cả.
Nhưng to hơn chuyện người Mường, là chuyện Hùng Vương. Nhờ biết
rõ người Mường mà chúng tôi biết rằng quả có vua Hùng Vương và ông vua đó quả lấy
vương hiệu là Hùng Vương, một đề tài tranh luận lớn trong giới trí thức ta,
chưa ngã ngũ được, vì chưa ai biết rõ người Mường, họ là nhơn chứng nói cho ta
biết là có vua Hùng Vương và vua Hùng Vương thuộc đợt I.
Hay quá sức hay!
Lặt vặt là vua Hùng Vương nói Chơn, còn bọn đợt II tới
sau nói Cẳng, còn thuở trước Mê-la-nê thì nói Giò.
Ta biết bọn đợt II đã đưa yếu tố văn minh nào để giúp vua
Hùng Vương kiện toàn văn hóa. Họ đưa Trống Đồng, nhưng đó không do ngôn ngữ đối
chiếu cho ta biết. Họ đã đưa lưỡi hái đến, trong khi vua Hùng Vương
chỉ có lưỡi liềm và lưỡi A. Họ đưa đôi đũa ăn cơm đến mà họ gọi
là Đua-đua.
Đua = Hai, cặp, đôi
Ta có thể biết xa hơn nữa thế kia, chẳng hạn Nhựt Bổn thuộc
nhóm nào trong khối Mã Lai.
Việt Nam đã đánh mất quá nhiều danh từ, Nhựt Bổn cũng thế.
Nhưng Nhựt Bổn còn giữ được danh từ Mã Lai tương đương với Phương hướng của
Tàu.
Phương hướng họ nói là Khí.
Thí dụ: Khí Gắc (Hướng Đông)
Khí Ta (Hướng Tây)
Chúng tôi tìm khắp Đông Nam Á, chỉ có một nhóm độc nhứt là
còn nói Khí mà thôi. Mã Lai Nam Dương thì nói Mata An nghin tức
là Mắt gió, chớ cũng không có nhóm nào nói Khí cả.
Những nhóm Khả Lá Vàng thì nói Khí đấy.
Khí To: Hướng Đông
Khí Lừng: Hướng Tây
Khí Tin: Hướng Nam
Khí Ho: Hướng Bắc
Chỉ hơi kỳ dị một chút xíu là hướng Tây của Nhựt Bổn (Khí To)
lại giống hướng Đông (Khí Ta) của Khả Lá Vàng.
Có lẽ các nhà bác học Nhựt Bổn cũng linh cảm được cái gì cho
nên đi tìm tổ tiên họ, họ không đi Nam Dương, mà lên Cao nguyên Việt Nam.
Đó là tiết lộ của giáo sư đại học Nghiêm Thẩm, vì nhà bác học
Nhựt Bổn ấy có ghé Saigon, có thăm giáo sư và có cho biết ý định.
Chúng tôi tin rằng với những khám phá của chúng tôi, dùng làm
bàn đạp, các nhà học giả Việt Nam sẽ đi xa hơn chúng tôi nhiều để biết nhóm nào
thuộc nhóm nào, nhóm nào di cư đích xác từ đâu và đích xác là vào thời nào.
Nhờ ngôn ngữ tỷ hiệu mà chúng tôi biết rằng họ là người Mã
Lai và di cư tại Nam Dương từ đầu Tây lịch, bằng chứng là những danh từ Paddy,
Ananas, Âu châu mượn của da đỏ Mỹ Châu đều là danh từ của Nam Dương, tức họ đã
cùng nhau sáng tác những danh từ ấy rồi thì mới di cư, chớ nếu sáng tác riêng rẽ
thì không làm sao mà họ sáng tác giống nhau được.
Có thể nào mà họ đã cùng nhau sáng tác tại Hoa Nam chăng vì
người "da đỏ" di cư từ Hoa Nam.
Chắc chắn là không, vì ở bên Tàu, thuở ấy không có trái
Ananas, đó là một chứng tích vững như trụ đồng.
Chúng tôi đã phí hơn 10 năm, nhưng vẫn chỉ biết được đường
nét lớn mà thôi. Chắc phải tốn thêm 100 năm nữa, mới biết rõ hơn, và đó là công
việc của lớp người sau, và chúng tôi tha thiết mong rằng thế hệ trẻ tiếp tục
công việc của chúng tôi, và nhiều khám phá mới lạ nữa về thượng cổ sử Việt Nam
sẽ được đưa ra ánh sáng.
Nếu ta làm việc thận trọng thì mỗi danh từ đều cho ta một
khám phá mới lạ. Thí dụ: chúng tôi tự hỏi danh từ Tangga là cái thang, cái nhà
sàn, là danh từ của đợt I, hay của đợt II, hoặc chung của hai đợt.
Để trả lời chúng tôi phải suy luận, và nhờ suy luận mà khám
phá. Đó là danh từ riêng của Mã Lai đợt II, danh từ của Mã Lai đợt I đã bị đánh
mất rồi, hoặc ta không bao giờ có.
Tại sao biết được như thế?
Hai đợt Mã Lai phát minh ra cái nhà ở địa bàn khác nhau và thời
điểm khác nhau thì tự nhiên họ phải sáng tác danh từ chỉ món đó khác nhau
là Nhà và Rumaa.
Cả hai đều cất nhà sàn và cái thang còn được phát minh ra sau
cái nhà nữa thì không có lý nào mà danh từ Tangga lại là danh từ chung cho hai
đợt.
Nhưng biết nó là của đợt II vì hiện khắp các đảo Mã Lai đều
dùng danh từ đó, còn ở Đông Nam Á lục địa rất có ít nhóm biết danh từ đó.
Thế thì vua Hùng Vương đã vay mượn của khách trọ bổ sung hơi
nhiều.
Và vua Hùng Vương đã vay mượn có hơi kỳ dị, là vay mượn cả những
danh từ mà ông đã có rồi.
Thí dụ: đợt I đã có danh từ Chiều thì không lẽ lại
không có danh từ Sáng. Thế mà Sáng là danh từ riêng của đợt II đấy,
mà cổ Thục, cổ Tây Âu, Môn, Miến, Khơ Me đều không có.
Nhiều danh từ của đợt I lại biến mất, nhường đến 90 phần trăm
chỗ ngồi cho đợt II. Thí dụ danh từ Đam của đợt I nay chỉ còn có vài
tỉnh miền Trung là nói thôi còn Cua (Kôjor) của đợt II tức Nam Dương,
được toàn quốc ta dùng.
Có những danh từ của đợt I biến mất hẳn, thí dụ Knra là
con Rùa là danh từ của đợt II đấy. Còn danh từ của đợt I thì khác, chỉ
còn nơi người Môn và người Khơ Me thôi.
Vân và mây, không phải là vay mượn, mặc dầu nó là danh từ của
Mã Lai đợt II. Ta chỉ dùng Vân để cùng Tây Âu để kháng Trung Hoa đọc
tiếng Diển của Tàu theo Mã Lai đợt II cho bõ ghét vậy thôi, chớ đợt I
đã có danh từ Mây rồi.
Vua Hùng Vương và dân của ông đã vay mượn của đợt II, nhưng
không trọng những danh từ đó lắm. Trong văn chương và ca dao ta, ta chỉ
nói Chơn mà không nói Cẳng. Có ai lấy gạch Bát Tràng xây ao cho
nàng rửa Cẳng hay không?
Trong khi đó thì đợt II, Chàm và Nam Dương nói Cẳng trời thay
vì Chơn trời, và làm thơ nói đến cái Cẳng của nàng, họ vẫn nghe nó
hay như thường.
Còn Giò là danh từ của thổ trước Mê-la-nê nên lại
còn bị khinh rẻ hơn, thường dùng để chỉ chơn thú vật, hoặc chơn người, nhưng với
ý miệt thị hay đùa cợt: Tướng học trò mà giò ăn cướp.
Vấn đề Chơn, Cẳng và Giò, cho ta thấy một điểm
triết lý ngộ nghĩnh là quan niệm về cái hay, cái đẹp của con người sai cả, vì
nó dựa trên những yếu tố bậy bạ.
Trong văn chương Việt, ai mà dám viết: "Cẳng nàng quá đẹp"
thì sẽ bị người ta chưởi là dùng danh từ thô và quê.
Nhưng ở Nam Dương thì họ viết như vậy và thấy là hay là đẹp
vô cùng. Và nếu họ biết danh từ Chơn, chắc họ sẽ dùng để chỉ chân thú.
Có người Việt Nam nào viết: "Vết cẳng của hai bà Trưng
trên các chiến trường chống xâm lăng" hay không? Không. Họ phải viết "Vết
chân" mới yên thân với độc giả.
Người Chàm cũng cảm thấy rằng danh từ Chơn của ta
là dị kỳ thô lậu, quê mùa. Đối với họ Cẳng mới là hay và sang.
Khoa thẩm mỹ còn phải tự chỉnh lý mới xong, Chơn, Cẳng hay Giò gì,
thật ra chẳng có từ nào hay hơn từ nào cả, nó chỉ hay đối với riêng lỗ tai của
một nhóm người mà thôi, bởi dân Mê-la-nê nghe rằng danh từ Giò thơ mộng
vô cùng và sang cả vô cùng chớ không phải như ta để danh từ đó để nói Giò
heo, Giò gà.
Và khi ta thâm lậm văn hóa Tàu quá rồi thì nghe danh từ Hoa của
Tàu là hay còn danh từ Bông của Mã Lai là dở, chớ thật ra thì hai thứ
cũng như nhau, Sơn thủy không làm sao mà hay hơn Non nước được,
nhưng các cụ thì cứ nghe rằng Tranh sơn thủy hay hơn Tranh non
nước.
Khi ta coi rẻ Cẳng hơn Chơn thì đợt II hẳn
là không văn minh bằng đợt I vào thuở đó. Khoa khảo tiền sử nói đợt I thuở di
cư, chưa biết nông nghiệp, nhưng ta phải hiểu rằng suốt 2.500 năm sống ở Bắc Việt,
trước khi bọn đợt II đến, họ đã tự lực tiến lên, bằng chứng là người ta đã tìm
được lưỡi rìu tay cầm bằng đồng pha, tại núi Voi.
Chúng tôi nói Mã Lai đợt II kém hơn đợt Hùng Vương vào năm
đó. Quả thật thế, mãi cho đến năm nay (1970) mà họ chỉ có độc danh từ Prụt để
chỉ Bụng, Ruột và Dạ dày.
Nhưng đừng tưởng là họ kém lắm đâu. Ba trào đại danh tiếng của
ta, trào Đinh, trào Lê, trào Nguyễn đều xuất phát từ xứ Mường (đợt II), và người
Chàm, đa số là đợt II, vẫn oanh liệt trên một ngàn năm.
Như vậy trào Lê và trào Nguyễn đánh Chàm thì chỉ là đợt II
đánh đợt II, chớ không phải đợt I đánh đợt II đâu nhé. Mà cũng tại đợt II đã cất
binh đánh đợt II là Đinh Bộ Lĩnh trước nhứt.
Nhờ ngôn ngữ đối chiếu mà ta biết được những địa danh vô
nghĩa của ta thật ra có nghĩa gì.
Sông Côi (tức Hồng Hà) là sông gì? Côi là cái cối. Đó là danh
từ của Mã Lai đợt II mà ta mượn rồi bỏ dấu sắc.
Sông Côi lại nắm tay với sông Đuống. Mà Đuống là gì kia
chớ?
Đó cũng là danh từ của Mã Lai đợt II, có nghĩa là lúa gạo. Cối
ở gần lúa gạo là ổn lắm rồi.
Nhiều người cho rằng ở Bắc tên làng thường là chữ Nho kèm
theo một tên Nôm chỉ nghề nghiệp hay đặc thù của làng đó.
Nhưng thật ra thì không phải luôn luôn như vậy.
Xin lấy thí dụ tên Nôm của làng Tả Thanh Oai. Đó là
làng Tó. Tó là gì? Là một dụng cụ dùng để chống cái xe khi bò
hay ngựa, trâu được mở ra khỏi ách.
Làng nào cũng biết chế tạo Tó cả vì trẻ con làm dụng
cụ đó cũng được thì đâu cần cả một làng Tả Thanh Oai chế tạo cái ấy.
Tó là một danh từ Mã Lai có nghĩa khác.
Sông Mã là sông gì? Ở đó không có ngựa nhiều hơn nơi khác
đâu. Ảma là danh từ Mã Lai đợt II, có nghĩa là Vàng. Chắc chắn ngày
xưa sông Mã có vàng và người Mường ở đó gọi là sông Ảma.
Một nhận xét đặc biệt
Trong tất cả các nhóm Mã Lai đợt I, hay đợt II gì đều không
có loại từ Cái, trừ Việt.
Theo nghiên cứu của giáo sư Trần Ngọc Ninh thì ta phải hiểu rằng
loại từ Cái, có đã lâu đời lắm, có từ thuở ngôn ngữ ta vừa mới phôi thai.
Nhưng cái Việt ngữ phôi thai ấy, ta đã thấy, đó là ngôn ngữ của người Khả Lá
Vàng, mà người Khả thì không hề có loại từ Cái.
Theo chúng tôi quan niệm thì đó chỉ là tiếng Tàu Cá mà
ta mới bắt chước sau Mã Viện đây thôi, nhưng vì ngộ nhận mà ta biến nó thành loại
từ, CÁ (Hán Việt) cũng được Quan Thoại gọi là Cá, Quảng
Đông đọc là Cô, nhưng nó chỉ là một danh từ có nghĩa là Đơn vị.
Thế thì đó là vay mượn quá mới.
Loại từ Con thì chỉ có Mã Lai đợt I là có mà thôi, còn Mã Lai
đợt II tuyệt đối không. Nhưng nhóm Mạ ở Nam Kỳ thì đặt loại từ ấy bất kỳ danh từ
nào: con Trời, con đá, con cá, v.v. khác hẳn ta ngày nay. Có lẽ xưa kia, ta
cũng thế.
Nhưng cũng chỉ có nhóm Mạ là dùng quá loạn loại từ Con, còn
các nhóm Mã Lai đợt I khác thì chỉ đặt nó trước cầm thú mà thôi.
Không hiểu sao chi Âu tức Thái lại biến nó thành danh từ và
có nghĩa là Người. Chúng tôi tự tìm hiểu. Xin phân tách danh từ kép: Người
ta. Nguyên thỉ, danh từ này phải có nghĩa là kẻ khác, vì Ta là Ta
đây, thì Người ta phải là kẻ không phải là ta. Vậy danh từ Người phải
là tĩnh từ và có nghĩa là Khác. Người ta = Ta Khác.
Thế thì Con mới đúng là Người nguyên thỉ,
còn Người chỉ là tĩnh từ mới bị biến thành danh từ về sau thôi.
Có lẽ chính hai bọn Lạc bộ Chuy và Lạc bộ Trãi đã biến Người
Tĩnh từ thành Người Danh từ, và biến Con danh từ thành Con
loại từ, không biết vào thời nào và vì lẽ gì. Mà như vậy loại từ Con của
ta cũng không có lâu đời gì hết, sánh với lịch sử 5.000 năm của dân ta.
Giáo sư Trần Ngọc Ninh bảo rằng loại từ của ta không thể hoán
chuyển được, nhưng rõ ràng ca dao ta đã hát:
"Cái cò, cái vạc, cái nông".
Thế thì loại từ Cái đã bị ta dùng rất loạn, để chỉ
cả con người nữa, giống hệt nhóm Mạ đã loạn với từ Con, với những con
Trời, con đá của họ.
Nếu ta nói Cái nông được, chắc ta đã nói Cái
Trời, Cái đá. Những nhận xét trên đây cho thấy rằng Cái và Con quá
mới, không có lâu đời gì hết, mà bằng chứng khó chối cãi là Khả Lá Vàng không
có Con, Cái, trừ Con Gái, Con Trai mà Con, trong trường hợp đó, có thể
bị đồng hóa với Đứa Con, chớ cũng không hẳn là loại từ.
Về loại từ thì ta chịu ảnh hưởng Tàu rất nhiều. Thí dụ ta
nói Phiến đá. Có lẽ đó là vay mượn của trí thức về sau, còn Cái là
vay mượn của bình dân, ngay trong buổi đầu bị chinh phục, và chỉ do một sự hiểu
lầm khi học ngoại ngữ lối nhảy dù với bọn lính Tàu từ Lạc Dương xuống. Họ trao
cho ta một cái bánh, hai cái bánh và nói "Yi cá, ơl cá" tức một đơn vị,
hai đơn vị, rồi ta hiểu rằng trước danh từ chỉ một vật, phải có loại từ Cá mà
ta đọc sai là Cái. Rồi ta tổng quát hóa ra, làm sai ngôn ngữ của ta với
Cái Cò, Cái Vạc, Cái nông, v.v. Câu chuyện chỉ xảy ra chưa tới 2.000 năm.
Cuộc biến Con ra loại từ, tuy cũng không tối cổ, nhưng
có thể cổ hơn việc dùng loại từ Cái hàng ngàn năm, vì tất cả bọn Lạc bộ Chuy và
Lạc bộ Trãi đều có loại từ Con thì hẳn phải tốn lắm thì giờ.
Người Mạ là một nhóm Mã Lai đợt I, có ngôn ngữ quá giống ngôn
ngữ Khả Lá Vàng, mặc dầu một kẻ có đơn giản ở Nam Kỳ, một kẻ có địa bàn ở đèo Mụ
Già, giống nhứt là đại danh từ Tôi, nơi họ là Ai.
Chúng tôi đã chứng minh rằng Khả Lá Vàng là Việt tối cổ thì
chúng tôi phải tin rằng Việt xưa cũng nói Ai, thay vì Tôi. Thật thế, ngày nay
ta nói Tôi, Tao mà Tôi, Tao chỉ là biến thể của Ta, Ta chỉ
là Kita của Mã Lai đợt II. Hồi Trung cổ, theo sách của các cố đạo, ta
nói Min (tức Mình ngày nay) mà Min cũng chỉ là
vay mượn của Mã Lai đợt II.
Thế thì đại danh từ ngôi thứ nhứt của ta ở đâu? Nó phải
là Ai của Khả Lá Vàng và của Mạ, tức của nhiều nhóm Mã Lai đợt I, chớ
không riêng gì của nước ta.
Trong một câu tiếng Việt ngày nay, đôi khi Ai cũng
rõ ràng có nghĩa là tôi. Thí dụ hai câu đối thoại dưới đây:
"Chó có bị chẹt ô tô ngoài phố không?"
"Ai biết đâu!"
Ta đã lôi Ai từ ngôi thứ nhứt xuống ngôi thứ ba, có
lẽ chánh phạm là vua Hùng Vương. Quả thật thế, Kita của bọn đợt II,
chỉ có vua mới được dùng, mà vua Hùng Vương thì không có đại danh từ nào khác
hơn là Ai. Vậy muốn phân biệt cái ngôi thứ nhứt của vua và dân, vua Hùng
Vương đã vay mượn Kita. Sau, vua tổ ta mất rồi thì loạn trong ngôn ngữ,
dân chúng cũng trèo đèo nói Kita, rồi biến thành Tôi, Tao, v.v. Ai mất ngôi, bị
ai lôi đi đâu tha hồ mà lôi.
Sự trèo đèo này giống sự trèo đèo của Lê Văn Duyệt, dùng đại
danh từ thứ nhứt là Cô, y như vua, và dùng danh từ Làng để gọi mộ cha mẹ,
chỉ vì ngài Lê ở quá xa vua, cũng như dân Lạc Việt ở quá xa Hùng Vương khi vua
Hùng Vương thứ 18 bị diệt.
Trở lại với người Mạ. Danh từ U của ta, mà
cũng là đại danh từ, để trẻ con dùng gọi mẹ, chúng tôi không tìm thấy trong
nhóm Mã Lai nào cả, mà chỉ có mặt trong ngôn ngữ Mạ mà thôi dưới hình
thức Uu, có nghĩa là Vợ, mẹ, đàn bà và hình thức Uuru, có nghĩa là giống
cái. Mà đừng tưởng đó là ảnh hưởng qua lại. Người Việt miền Nam không bao giờ
dùng tiếng U cả, còn người Việt miền Bắc thì lại cách trở họ đến hai
ngàn cây số, bao nhiêu rừng sâu núi thẳm, và mấy chục thứ dân khác không có
danh từ đó.
Tuy đã được các nhà dân tộc học biết rõ, họ có tánh cách cổ
sơ nhứt trong bao nhiêu người Thượng ở điểm này là họ không ưa sự gần gũi với bất
kỳ nhóm dân nào khác, không ưa ảnh hưởng ngoại lai, rất sợ chung đụng với bên
ngoài. Đó là nhóm Mã Lai có khuôn mặt đều đặn nhứt nơi nét, và hợp chủng với
người ta một đời là họ trắng trẻo ra ngay.
Vì tánh cách chống ngoại lai của họ mà chúng tôi mới tìm nguồn
cội của loại từ trong ngôn ngữ của họ, và mới thấy biệt sắc lạm dụng loại từ
Con, sự lạm dụng này, có thể là dấu hiệu của thời mới có loại từ, tức lâu đời,
ít lắm cũng bốn hoặc ba ngàn năm, các dân tộc khác tước bỏ bớt nhưng họ thì
không mà ta mới gặp lại buổi ban đầu của loại từ đó, nơi họ.
Trong sợi chuỗi biến dạng từ Hari sang Trời,
ta thấy rằng họ có hình thức TRÔ trước cả khi ta có hình thức Trời nữa,
vì cách đây không lâu, ta vẫn còn nói Blời. Cả họ lẫn ta đều nói Plái.
Blái thay cho Trái, ta sang từ Blái đến Trái, còn họ thì chưa sang,
nhưng Trời thì họ đã sang rồi từ rất lâu đời. Cách đây 50 năm, có tiếp xúc trực
tiếp với dân đó, chúng tôi đã nghe họ nói là Trô rồi, và hỏi họ, họ
cho biết rằng là tổ tiên của họ đã nói Trô từ lâu, chớ không phải là
họ muốn bắt chước Trời của ta mà bắt chước không xong.
Chỉ khác có một điều là tự nhiên mà hiểu một câu của người Khả
Lá Vàng mà không hiểu một câu của người Mạ, nếu không học tiếng Mạ cho thuần thục.
Người Mạ không đồng nhóm với ta như người Khả Lá Vàng, nhưng lại là một nhóm Mã
Lai gần gũi ta hơn tất cả các nhóm Mã Lai khác. Vì thế mà chúng tôi mới đặc biệt
theo dõi loại từ trong nhóm Mạ hơn là theo dõi nơi các nhóm khác, và lại các
nhóm khác không có nhóm nào mà lạm dụng loại từ Con đến thế.
Điều này đáng chú ý lắm nơi người Mạ, Con vẫn còn ở
dưới hình thức người, và cũng có nghĩa là Người, y hệt như nơi chi Âu tức
Thái, nói một cách khác đó là nhóm Mã Lai đợt I mà Con vừa là danh từ
có nghĩa là Người, vừa là loại từ đang được dùng rất loạn. Đó là tàn tích
của thời mới biến hóa động từ Con thành loại từ Con.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét