Nguồn gốc Mã Lai
của dân tộc Việt Nam 1
(Với hơn hai trăm biểu đối chiếu sơ về ngôn ngữ Việt-Mã và
nhiều khám phá mới lạ về thượng cổ 5000 năm của dân tộc Việt Nam)
Không có nền văn hóa nào tự thẹn, cũng không có nền văn hóa
nào được phép khinh bỉ các nền văn hóa khác. Cũng như các sinh vật, các nhóm
dân tộc đã trải qua nhiều giai đoạn tiến triển y hệt như nhau. Đôi khi chỉ nhờ
những nguyên nhơn địa phương và ngẫu nhiên nó giúp vài dân tộc trội hẳn các dân
tộc khác. Nhưng luôn luôn, ở tỷ độ lịch sử, những thành tích ấy, lớn hay nhỏ,
dài hay ngắn hạn, không bao giờ ổn cố, và những nền văn minh tàn lụi, không còn
làm sao mà đếm cho xiết nữa.
Vậy, người ta đi đến cái quan niệm là có một sự đồng đẳng căn
bản nào ban đầu, chung cho cả nhân loại, đó là cái thực thể hạ tầng của những
chênh lệch phụ thuộc khác.
Ở đây, cũng như ở các vấn đề khác, tự ty hoặc tự tôn mặc cảm
đều không chính đáng.
Bác sĩ P. HUARD
Giáo sư Y khoa Hà Nội (Tiền chiến)
(Les chemins du ralsonnement et de la logique en E.O.)
Nguyên văn:
Aucune culture ne doit avoir honte d’elle-méme, pas plus
qu’elle ne saurait mépriser les autres. Comme les êtres vivants, les groupes
ethniques ont passé par les mémes phases de développement. Souveni, ce sont des
causes locales et fortuites qui ont permis à certains de dépasser franchement
les autres. Presque toujours, à l’échelle historique, cette performance, plus
ou moins réussie, ou plus on moins longue, ne s’est jamais definitivement
stabilisée et on ne compte plus les civilisations mortes.
On arive donc à la notion d’une certaine égalité de base,
commune à tous les hommes, substrat sous-jacent à une foule d’inégalites.
Le complexe d’infériorité, ici comme ailleurs, n’est done pas
plus justifié que le complexe de supériorité.
°
Ngữ vựng riêng của sách này
Về vài danh từ, mỗi sách mỗi dùng khác nhau, nên chúng tôi
xin trình ra những danh từ của chúng tôi và đối chiếu với danh từ Pháp, Anh, Mỹ,
Đức nếu cần, để khỏi gây ngộ nhận.
Ấn học: Hindianisme
Trung Hoa học: Sinologie
Chủng tộc học: Anthropologie physique và Raciologie (thay cho danh từ Nhân chủng
học dùng hồi tiền chiến).
Dân tộc: Ethnologie, Ethnographie, Social anthropology, Cultural anthropology -
Volkskunde (thay cho danh từ Nhân chủng học tiền chiến).
Nhơn thể tính: Caractères anthropologiques
Thị tộc: Clan
Bộ lạc: Tribu
Chỉ số sọ: Indice crânien
Dung lượng sọ: Capacité crânienne
Giả thiết: Conjecture
Giả thuyết: Hypothèse
T.K.: Trước Kitô kỷ nguyên
S.K.: Sau Kitô kỷ nguyên.
°
Chương I
Ba cuộc sa lầy tinh thần khoa học và ba chứng tích chủ lực
Công trình khảo cứu về địa chất và tiền sử ở Việt Nam đã được
các nhà khoa học Âu Mỹ làm xong.
Về địa chất, những công trình ấy được ba nhà trí thức Việt
Nam là quý vị Trần Kim Thạch, Lê Quang Sáng và Lê Thị Đính rút tỉa đại cương để
soạn thành một quyển sách mà chắc không có quyển nào khác nữa thay cho, tuy quá
sơ lược, và có nhiều điểm không đúng lắm, nhưng vẫn giúp người đọc có ý niệm tổng
quát và đại khái về đất đai của nước Việt Nam từ thời Hồng hoang đến ngày nay.
Đó là quyển Lịch sử thành lập đất Việt, phát hành đầu
năm 1971. Đọc quyển sách ấy, ta thấy đất nước cổ hàng tỷ năm. Đất thì đã được
biết đích xác, còn người?
Lòng đất của ta xưa đã được biết rõ. Người xưa cũng được biết
rõ không kém, nhưng nguồn gốc của tổ tiên ta thì lại chưa thể biết được, vì tổ
tiên ta ở nơi khác mà đến (mà tổ tiên của dân tộc nào hiện nay cũng thế cả).
Hơn thế, chưa từng có nhà bác học nào ráp nối được những cái sọ cổ và đồ vật cổ
với sọ của ta và đồ vật của ta, để chỉ người cổ nào là tổ tiên của ta vì trong
lòng đất có hàng chục thứ người cổ khác nhau.
Muốn biết tổ tiên ta là ai thì chỉ có một phương pháp độc nhứt
mà khoa học nhìn nhận, đó là đối chiếu các thứ sọ người cổ và sọ của ta hiện
nay.
Đó là công việc của sử gia chớ không phải của nhà khảo tiền sử,
nên công việc khảo tiền sử đã xong, nhưng cũng chưa ai biết gì hết, vì không có
sử gia nào làm cái công việc đối chiếu đó, bởi phải biết rằng đó là phương pháp
độc nhứt rồi còn phải đo sọ của ta ngày nay nữa, hai yếu tố căn bản ấy, không
được các sử gia kể đến.
Sách này có tham vọng là sách chuyên môn, nhưng chúng tôi lại
làm một công việc trái lẽ là phổ thông vài điểm về khoa chủng tộc học
(Raciologie - Anthropologie physique).
A. Chỉ có cái sọ mới giúp ta phân biệt chủng này với chủng
khác.
B. Cái sọ của các chủng, qua 7, 8 ngàn năm không hề thay đổi.
C. Nếu có lai với chủng khác, mà lai một lần hay cứ lai đi
lai lại mãi, khoa chủng tộc học cũng biết được vì hai yếu tố chủng tộc cứ tồn tại
mãi trong những cái sọ ấy.
Trong khi đó thì dưới lòng đất ta có 7, 8 loại sọ cổ khác chủng
với nhau, mà sử gia lại không đo sọ để đối chiếu thì làm thế nào để biết tổ
tiên ta là ai vào thời thượng cổ?
Cả các nhà bác học Âu Mỹ làm việc cho ta hồi tiền chiến, cũng
đã quên mất phương pháp đó, trừ một người độc nhứt là ông Madrolle, nhưng ông ấy
chỉ mới đo bề cao, rồi kết luận ngay, mà chưa kịp đo sọ, hay tưởng rằng không cần
đo sọ thì ta không rõ được.
Ta đã tiếp tục công trình của Âu Mỹ đang làm dở dang, cả Bắc
lẫn Nam đều có tiếp tục, nhưng ta vẫn bất kể cái căn bản khoa học đó, tức là ta
đã đi tìm giờ Ngọ hồi 14 giờ (nói theo Pháp).
Viết thượng cổ sử khác xa với viết sử. Viết sử chỉ cần sử liệu,
còn viết thượng cổ sử thì lại cần rất nhiều khoa học khác mà không cần sử liệu,
bởi làm gì mà có sử liệu vào thời cổ tổ tiên ta còn ăn lông ở lổ.
Thế mà các sử gia Pháp Việt lại dùng sử liệu của một nước văn
minh trước ta là sử Tàu. Kể ra thì cũng tạm được. Nhưng sử Tàu lại mù mờ, và chỉ
có thể dùng được để kiểm soát lại coi nó có ăn khớp với các khoa học căn bản
hay không mà thôi.
Phương chi ta chỉ đọc tới Sử ký của Tư Mã Thiên đến
ba ngàn năm, thì làm thế nào mà biết được sự thật.
Chúng tôi làm việc lại, khác hơn tất cả mọi người, là dùng
khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học, mà là khoa khảo tiền sử đúng, chớ
không phải là khảo tiền sử dở dang của Colani, Mansy, Golubew, Jansé, những vị ấy
đã đưa các sử gia Pháp và ta đến những sai lầm không lối ra từ nửa thế kỷ nay.
Ngày nay, trên thế giới không còn chủng tộc nào là thuần chủng
nữa hết. Trên Cao nguyên của ta có những người Thượng mà ta cứ ngỡ là thuần chủng
được, vì họ sống biệt lập bộ lạc này với bộ lạc khác, vậy mà họ vẫn bị lai giống
đến ba bốn lần rồi.
Xin lấy thí dụ người Bà Nàng Hơ Roy. Họ là người Bà Nàng,
nhưng họ lại lai giống người Giarai. Những người lai giống ấy, lại lai giống một
lần nữa với người Chàm. Thế là đã ba lần lai giống. Nhưng chưa chắc cái gốc Bà
Na đã là gốc thuần của Bà Nàng, vì họ lại nói tiếng Cao Miên, chớ ít dùng ngôn
ngữ riêng của họ là Mã Lai ngữ.
Còn các thành kiến cho rằng chủng này tài giỏi hơn chủng khác
cũng đã bị xô ngã từ lâu rồi.
Như vậy trong thời đại ta, chỉ có vấn đề dân tộc mới là đáng
kể, còn vấn đề chủng tộc, chỉ là chuyện phù phiếm.
Tuy nhiên, sử học cứ tiếp tục tìm tòi về các chủng tộc, vì
không sao phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác bằng các bằng chứng thật
khoa học, thì đành phải ngược nguồn về tới chủng tộc vậy, vì chủng tộc thì phân
biệt được, bằng một khoa học chính xác, mà ở đây, chúng tôi gọi là Chủng tộc học
(Anthropologie physique), thay cho danh từ nhân chủng học mà nhiều vị giáo sư đại
học cho là không đúng và muốn thay đổi như thế đó.
Dân Việt Nam hơi giống dân Tàu chẳng hạn, mà họ có phải là
người Tàu hay chăng, thì chỉ có chủng tộc học mới trả lời đích xác được.
Ông H. Maspéro, một nhà bác học mà chúng tôi rất khâm phục,
đã phất cờ đi trước hơn hết để về cái nguồn ấy, vào năm 1918.
Nhưng vào năm đó, khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học lại
làm việc chưa xong ở Á châu, thành thử ông và bao nhiêu ông Tây, ông Tàu, ông
Việt khác đều sa lầy, cho tới năm nay là năm 1970.
Ông L. Anrousseau làm lại cái công việc đó năm 1923, nhưng vẫn
cứ thất bại.
Có thể hai nhà bác học ấy, thuở đó, chưa biết cái căn bản này
cũng nên, là muốn phân biệt các chủng tộc thì chỉ có việc đo sọ mới cho biết rõ
cái gì, nên quý vị ấy mới làm việc với chỉ độc một nguồn tài liệu là cổ sử Tàu.
Năm 1923 thì ông Aurousseau đã bốn năm mươi tuổi rồi, bởi một
người Pháp mà leo lên tới địa vị Giáo sư Hán văn cũng phải mất vài mươi năm học
hỏi sau cái bằng Tú tài hoặc Cử nhân.
Như vậy, quý vị đó thuộc vào trường phái thế kỷ XIX mà việc
đo sọ là căn bản phân biệt chủng tộc, chưa được khoa học xác nhận một cách quả
quyết vào thế kỷ XIX đó.
Người Tàu, mãi cho đến nay, viết về nguồn gốc của chính họ, họ
còn chưa biết sử dụng chủng tộc học, thì dùng sử Tàu cách đây hai ngàn năm, hẳn
là không thể đi tới đâu hết.
Những sai lầm của quý vị đó, mặc dầu là sai lầm, cũng cần được
nhắc lại, để so sánh với sự thật trình bày trong sách này, có thế mới rõ trắng
đen.
Năm 1923, ông L. Aurousseau, giáo sư Hán văn, đã viết:
"Lịch sử của nguồn gốc dân tộc Việt Nam, còn phải viết. Nếu những gì xảy ra
sau cuộc chinh phục của Lộ Bác Đức vào năm 111 T.K. có thể dễ dàng sắp xếp, thì
trái lại cho tới nay (1923) chưa có công trình nghiên cứu nào về những việc xảy
ra trước đó, được thực hiện với tinh thần có tính cách phê phán (Aucun travail
critique n’a été effectué).
Và ông L. Aurousseau bắt đầu, ngay sau câu đó. Than ôi, chỉ
là hoài công, bởi mặc dầu ông làm công việc ấy với tài liệu lạ của Trung Hoa mà
các sử gia ta chưa đọc vào năm đó, nhưng có đủ đâu nào. Ông chỉ hơn các sử gia
ta ở cái chỗ có nghĩ đến, và có làm việc cho thượng cổ sử Việt Nam, nhưng sự
thành công rất ít vì mặc dầu chúng tôi khen các ông Tây đọc sử Tàu nhiều hơn ta
nhưng quả thật họ vẫn đọc chưa đủ.
Hơn thế, sử Tàu lại mơ hồ và xuôi ngược, rất khó dùng nó để
tìm ra một sự thật chắc chắn.
Nói về một nước kia, Sử ký của Tư Mã Thiên gọi là
Âu Lạc, Hàn thư của Ban Cố gọi là Tây Âu, rồi ông H. Maspéro lại hiểu
lầm chữ nho, tân tạo ra một danh xưng mới nữa là Tây Âu Lạc thì tưởng cũng khó
biết đích xác cái nước đó tên thật là gì lắm thay, và nhứt là khó biết vị trí của
nó lắm thay!
Ông L. Aurousseau, chắc có ý ám chỉ ông H. Maspéro hơn là ám
chỉ các sử gia ta là những người chưa khảo cứu gì cho thượng cổ sử Việt Nam cả
vào năm đó, mà chỉ chép lại truyền thuyết dân gian mà thôi. Ông H. Maspéro đã bắt
đầu từ năm 1918 nhưng xem ra thì cái tinh thần có tánh cách phê phán của ông L.
Aurousseau lại kém hơn của ông H. Maspéro.
Và chính ông L. Aurousseau lại đã làm cho rối nùi thêm những
gì xảy ra sau năm 114 T.K. mà ông cho là dễ dàng sắp xếp.
Sự thật thì đoạn sử sau Lô Bắc Đức vốn đã rối bòng bong rồi lại
bị ông làm rối thêm cái nữa thì chẳng còn ai biết đường đâu mà mò nữa.
Nhưng dầu sao ta cũng phải nhìn nhận rằng những ông H.
Maspéro và L. Aurousseau đọc cổ sử Trung Hoa nhiều hơn và kỹ hơn các sử gia từ
xưa đến thời của các ông và phải nhìn nhận rằng các ông có sáng kiến nghĩ đến
công việc tìm nguồn quan trọng đó.
Sử Tàu thiếu sót, mơ hồ và bí hiểm, lắm câu các ông Nghè của
ta cũng không hiểu thì các ông Tây làm thế nào mà hiểu được.
Thế nên cả hai ông Tây có công lớn là ông L. Aurousseau và
ông H. Maspéro đều sa lầy trong cái đầm cổ sử Trung Hoa, không thoát được mà
cũng không giúp chúng ta thoáng thấy được sự thật nào đáng kể.
Cuộc sa lầy thứ nhì, xảy ra từ năm 1920, kể từ biến cố Đông
Sơn, biến cố ấy lại là một vũng lầy thứ nhì nó làm cho các nhà bác học Âu Á mất
đến 50 năm mà cũng chẳng biết được gì hết.
Năm 1920, những cuộc phát kiến ngẫu nhiên của dân chúng ở
Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa bỗng làm cho các nhà bác học Pháp chú ý đến. Ở đó có
nhiều cổ vật lạ lùng bằng đồng thau, không giống của ta hay của Tàu gì hết.
Mấy năm sau, vùng Đông Sơn được xem xét kỹ và từ năm 1925 đến
năm 1970, nhiều cuộc khai quật kế tiếp nhau, ở các lưu vực những con sông Nhật
Lệ, sông Gianh, sông Cả, sông Mã, sông Đà, sông Nhị, sông Đáy, đã cho giới khảo
cứu thu lượm được vô số cổ vật bằng đồng pha.
Nghiên cứu sơ khởi cổ mộ Đông Sơn, người ta thấy người chết
có đồ tùy táng nhứt là trống bằng đồng thau khá rực rỡ. Đó là người thời xưa được
chôn trước hai bà Trưng năm 32 năm, và cái thời xưa ấy, được định tuổi thật
đích xác là 1915 tuổi, tính đến năm 1924.
Tuy nhiên, vẫn chưa chắc lắm là người dưới mồ lại là người bổn
xứ, theo khoa học thì phải dè dặt như vậy, bởi họ có thể là chiến sĩ của nước
ngoài, thua trận chạy sang xứ ta rồi bỏ mình vì chết bịnh hay tử thương trễ muộn.
Trong lần khai quật thứ nhì tìm được một sườn nhà bằng gỗ và
tre đã hóa thạch. Nhà ấy có lối kiến trúc giống như hình nhà khắc nơi trống đồng.
Bấy giờ thì đã chắc một trăm phần trăm là người có trống chôn theo, là đồng bào
với người có nhà, nghĩa là tất cả đều là người bổn xứ.
Y là người bổn xứ, vâng, nhưng cổ vật mà y có, y mua của nước
nào, hay do chính y chế tạo? Người ta phân chất một mảnh đồng thau của cổ vật
và thấy đó là một hợp kim đặc biệt, chắc chắn của bổn xứ, bởi nó khác hẳn hợp
kim của Tàu hay của Ấn Độ, của Tây phương thời đó.
Hợp kim đồng thau (bronze) của Tàu, đã được tả rõ trong cổ
thư Chu Lễ, còn hợp kim của Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ cũng được tả rõ trong cổ thư của
các dân tộc ấy, nhờ thế mà so sánh, đối chiếu được.
Thế là đã rõ. Người ta vừa phát kiến được một trung tâm của một
nền văn minh mới lạ.
Trước đó một trăm năm, người ta đã tìm được trống ở nhiều nơi
tại Đông Nam Á, kể cả ở Việt Nam nữa, nhưng người ta chưa hề biết chắc một
trung tâm nào cả của nền văn minh đó, nó nằm trong một khu vực rộng lớn từ sông
Dương Tử cho đến quần đảo Nam Dương, vì trống tìm thấy, nằm trên mặt đất, có thể
ở nơi khác lưu lạc tới, lại không có những món khác như cổ tiền chẳng hạn để chứng
minh tuổi và nguồn gốc của trống, nhứt là không có ngôi nhà cổ hóa thạch nói
trên.
Đông Sơn là trung tâm chắc chắn được phát kiến lần đầu, vì
không phải chỉ có trống, mà có bao nhiêu vật khác nữa, đồng tánh cách, và vì đó
là cổ vật không bị di chuyển bởi đó là đồ đào được trong cổ mộ, người ta biết
chắc rằng nó vẫn nằm tại đó từ xưa đến nay, chớ không phải lượm được trên mặt đất,
hay đào thấy nằm riêng rẽ một mình như bao nhiêu trống đã tìm thấy, mà nghĩ rằng
nó lưu lạc, không thể biết chắc từ đâu trôi dạt đến nơi lượm được.
Nhưng nguồn gốc của dân tộc Việt Nam làm thế nào mà nằm ở gần
giai đoạn Đông Sơn được kia chớ, nếu quả người Đông Sơn là tổ tiên của ta
(nhưng các nhà bác học Âu Mỹ chưa nhìn nhận, chỉ trừ có ông O. Jansé là nhìn nhận
mà không chứng minh được).
Đó là thời mà dân ấy đã có vua chúa, có Lạc Tướng, Lạc Hầu,
đã biết kỹ thuật đồng pha, và giỏi nghệ thuật chế tạo đồ đồng pha, tức đã văn
minh rồi.
Nguồn gốc của dân tộc phải cổ hơn giai đoạn ấy hai ba ngàn
năm, vào thời mà ta còn sống dưới kỹ thuật cựu thạch và tân thạch kia.
Sự thật sơ đẳng ấy, không hiểu vì lý do nào mà cho đến cả các
nhà bác học Âu Mỹ cũng không biết mà tất cả đều sa lầy tại đó, cứ cố tìm nguồn
gốc dân tộc ta ở đó mà thôi, nó làm cho ta mất thì giờ đến nửa thế kỷ
(1920-1970).
Giáo sư Kim Định đã mắng bọn nghiên cứu Đông Sơn bằng một giọng
tự thị: "Thế là giới tân học đã ùa theo mấy nhà khảo cổ, nghĩa là căn cứ
trên mấy nắm xương của người Mã Lai Á, Anh Đô Nê-diêng đi nhận họ hàng dọc chủng
tộc, lẫn hàng ngang văn hóa với mấy thổ dân này. Văn minh Mã Lai Á là cái chi,
nó nói lên được những gì với tâm hồn người Việt? Nó giải nghĩa thế nào cả một
khối văn chương bình dân…"
Thấy rõ là giáo sư đại học Kim Định chưa học khoa khảo tiền sử
về Á Đông mà chỉ học vụ Đông Sơn là một cuộc sa lầy, nên ông mới quả quyết rằng
ta không phải là Mã Lai mà đích thị là Tàu. Theo giáo sư thì ta lập ra nền văn
minh Tàu ở bên Tàu rồi bị người Tàu cướp đi nói là của họ. Ta văn minh lắm, chớ
không kém như mấy thổ dân đó mà ông gọi là Mã Lai Á = Malaiaie (!)
(Với danh xưng Mã Lai Á, thật không biết giáo sư muốn chỉ ai,
vì Mã Lai là một chủng tộc rất lớn, còn Mã Lai Á là một quốc gia nhỏ xíu, hơn
thế các nhà bác học nghiên cứu Đông Sơn cũng chẳng bao giờ thốt ra ba tiếng Mã
Lai Á cả.)
Còn chủng Mã Lai thì chính những nhà bác học đó phủ nhận rằng
dân Việt Nam là hậu duệ của chủng Mã Lai Đông Sơn, không hiểu do đâu mà bao
nhiêu trí thức ta đều cho rằng họ bảo rằng dân ta là Mã Lai.
Đó là một bí mật mà chúng tôi tìm mãi mà không vỡ lẽ.
Vậy xin mời giáo sư khoa khảo tiền sử đúng, chớ không phải
sai như bọn học về Đông Sơn và ông sẽ thấy cái gì khác hơn ông tưởng tượng nhiều
lắm.
Ông sẽ thấy văn bình dân ta đầy dẫy tiếng Mã Lai mà ông không
hiểu.
Thí dụ:
Tua Rua đã xế ngang đầu
Em còn đứng đó làm giàu cho cha.
Tua Rua là tiếng Mã Lai đó ông ạ.
Ông không biết rằng thành ngữ "Tay chơn bộ hạ" của
ta là thành ngữ Mã Lai, họ nói Tay cẳng bộ hạ đấy. Ông không biết:
Bắc thang lên hỏi ông Trời
Thang = Tangga (Mã Lai), và Trời cũng là tiếng Mã Lai mà cả Mã
Lai và Phù Tang Nhựt Bổn cũng còn dùng hiện nay.
Dưới đây là một câu 8 từ, gồm toàn từ Mã Lai:
Hắn lấy ná (nỏ) bắn chim làm rụng lá
Không có lấy một danh từ, động từ nào mà là danh từ, động từ của chủng Viêm,
hay chủng Hoa trong đó hết. Toàn là tiếng Mã Lai.
Và điều chắc chắn hơn hết là ông không biết Mã Lai chủng phát
tích tại đâu, nên tưởng rằng nó phát tích tại Mã Lai Á (Malaisie) nên khuyên ta
đứng tìm nguồn gốc dân tộc ở phương Nam. Nó đã tự xưng là Mã Lai cách đây ngàn
năm tại Hoa Bắc và Ấn Độ, được Tàu phiên âm là Ló (Lạc) nhưng với bộ Mã, tức Mạ
Ló, còn Aryen thì phiên âm là Mlechia.
Ông bảo bọn cựu học quá tin vào truyền thuyết, còn tân học
không tin gì cả. Ông sẽ thấy rằng bọn tân học tin toán học và về thượng cổ sử
Việt Nam, họ sẽ viết đúng 2 + 2 = 4, y như toán học, chớ không ghép đủ thứ tài
liệu hỗn loạn để mà đoán mò.
Nhưng bọn nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn bị ông mắng thật
là đáng đời, đã bảo nguồn gốc của một dân tộc không làm sao mà nằm tại giai đoạn
đồng pha được, mà phải nằm trước giai đoạn tân thạch lận kia.
Hơn thế, đồ vật không cho ta biết đích xác được cái gì, mà chỉ
có sự đối chiếu sọ của dân ta ngày nay với sọ của đủ thứ người cổ đào được ở Bắc
Việt mới giúp ta biết được ta là hậu duệ của chủng nào mà các nhà bác học Âu Mỹ
ở Đông Sơn lại không có ông nào nghĩ đến sự thật căn bản đó hết.
Nói ông L. Aurousseau thuộc trường phái thế kỷ XIX, các nhà
bác học Đông Sơn trẻ hơn, nhưng vẫn không hơn L. Aurousseau một gờ ram.
*
Biến cố Đông Sơn lại xô thiên hạ vào một cuộc sa lầy phụ thuộc
mà chúng tôi tạm đặt tên là cuộc sa lầy II bis. Trước hết vì một danh từ bác học
mà cả một số nhà bác học Âu Mỹ cũng không hiểu. Đó là danh xưng Indonésien.
Nghiên cứu hình khắc ở các cổ vật đó, và kiến trúc của ngôi
nhà đào được, biết rõ danh tánh của nó, người ta kết luận rằng người chết chôn
dưới mồ thuộc một chủng tộc mà danh xưng khá bí hiểm đối với người Việt, danh
xưng đó là danh xưng Indonésien.
*
Các nhà bác học vẫn tiếp tục gọi họ là người Anh Đô Nê-diêng,
nền văn minh của họ là nền văn minh Đông Sơn, mặc dầu nhiều dân tộc khác cũng
có cổ vật cùng tách cách, trong một địa bàn rất lớn ở Đông Nam Á, từ Hoa Nam,
cho tới Nam Dương quần đảo. Nếu đó là duy vật Việt Nam đi chăng nữa thì nền văn
minh đó không riêng gì là của Việt Nam.
Vì đó là công việc khoa học, mà khoa học thì phải chính xác,
mà một yếu tố chính xác là sự chính danh, thành thử các nhà bác học đó bắt buộc
phải dùng một thuật ngữ qua chuyên môn là danh xưng Anh Đô Nê-diêng.
Anh Đô Nê-diêng, một thuật ngữ của khoa chủng tộc học
(raciologie) chỉ có nghĩa là Cổ Mã Lai, chớ không có gì lạ. Là nhà chuyên
môn, các nhà bác học ấy phải dùng danh từ chuyên môn, mặc dầu đã có danh từ thường.
Danh từ thường là Proto-Malais.
(Quyển sách nhỏ này có tham vọng là sách chuyên môn.)
Hình nhà khắc ở trống đồng Đông Sơn, nóc oằn, mái túm.
Hình thuyền khắc ở binh đồng Đào Thịnh.
Thuyền của người Mã Lai Nam Dương hiện kim. Hai đầu nóc nhà
và hai đầu của hai thứ thuyền giống nhau.
Nếp nhà hóa thạch đào được ở Đông Sơn, cổ gần hai ngàn năm,
được ông V. Goloubew hồi phục lại theo tưởng tượng với vật liệu chưa mục nát.
Mái nhà xuống tới sàn tre nên phải trổ cửa vách hồi.
Ngói khác.
Một nếp nhà của người Mã Lai sơn cước hiện kim ở Nam Dương,
mái cũng xuống tới sàn và cửa cũng trổ vách hồi, cả ba nếp đều nóc oằn và mái
túm. Nhưng chúng tôi dùng danh từ thường là Cổ Mã Lai, chứ không nói Anh Đô
Nê-diêng là một danh từ mà đại đa số dân ta chưa quen). Danh xưng Anh Đô
Nê-diêng được chúng tôi dịch ra là Cổ Mã Lai, chớ nhiều học giả khác còn dịch
khác nữa, chẳng hạn ông Phạm Việt Châu dịch là Cựu Mã Lai, có ông khác lại dịch
là Tiền Mã Lai. (Sau sẽ có thống nhứt, và Cổ hay Cựu, hay Tiền gì, còn tùy ở đa
số nhà chuyên môn).
Nhà của người Mã Lai hiện kim, tiến bộ hơn và mái không xuống
tới sàn, nên trổ cửa dưới mái được.
Nhà của người Mã Lai hiện kim, y như nhà số 7, cả hai đều còn
nóc oằn, nhưng ở đây có thêm điểm mái cong quớt lên, chớ không túm lại.
Một kiểu nhà tranh của Nhựt Bổn (gốc Mã Lai) nhưng nóc nhà mô
chớ không thẳng. Mô là biến dạng của oằn, hễ không oằn thì mô, chớ không ưa thẳng.
Kiểu cổng nhà điển hình của Nhựt Bổn (gốc Mã Lai) nhại theo
nóc nhà oằn của chủng tộc. Tóm lại tánh cách Mã Lai thật rõ rệt nơi các cổ vật
Đông Sơn.
Danh xưng quá chuyên môn Indonésien, chẳng những làm rối trí
người thường mà còn làm cho cả đến học giả lầm lẫn nữa.
Nhưng chẳng những ta lầm lẫn về cái danh xưng ngây ngô nhận
là danh xưng Indonésien, ta lại còn lầm lẫn về một danh xưng khác, không có gây
ngộ nhận, đó là danh xưng Mélanésien. Thế nên những sách khảo cứu của ta rất
xuôi ngược về mặt chủng tộc học. Ở cái điểm ấy, ta hiểu lầm người Âu châu, rồi
ta lại hiểu lầm ta.
Một vài học giả của ta lầm lẫn chủng Mã Lai với chủng Mê-la-nê-diêng (Mélanésien)
chẳng hạn như sử gia Nguyễn Phương và học giả Lê Văn Siêu, có lẽ vì từ Mã
Lai hơi giống từ Mê La về giọng đọc.
Trong Việt Nam thời khai sinh, trang 46, sử gia họ Nguyễn
viết: "Như thế chủ trương rằng giống Mê-la-nê đã từ miền biển du nhập
vào vùng cổ Việt, không phải là không có lịch sử. Chẳng những họ đã từ đại
dương tràn vào cổ Việt, mà còn tràn vào cả lục địa Trung Hoa nữa. Ngày nay sử
sách Trung Quốc vẫn nói rằng "Mã Lai chủng" đã chiếm nước đó trước khi
nòi giống Trung Hoa bắt đầu xuất hiện".
Câu trên đây cho thấy rõ rằng sử gia Nguyễn Phương hiểu rằng
Mê-la-nê = Mã Lai chủng.
Nhà học giả Lê Văn Siêu, trong Việt Nam văn minh sử
cương, trang 17 viết: "Căn cứ vào những đồ đá trau để dấu vết ở Hòa
Bình và Bắc Trung Việt, Lào, Thái Lan, Mã Lai, và những xương sọ người đào thấy
ở hang động Hòa Bình và Bắc Sơn có nhiều triệu chứng đó là giống Úc châu và Mã
Lai (Papou-Mélanésien), thì nhiều nhà bác học lại cho rằng giống dân ở hải đảo
Mã Lai đã di cư lên đất liền".
Sự sai lầm, trong câu trên đây, không phải ở lời phỏng đoán của
các nhà bác học được ám chỉ đến trong câu văn đó, mà là ở lối dịch:
Papou Mélanésien = Úc Mã Lai
Danh xưng Mê-la-nê-diêng gốc Hy Lạp, chỉ có thể dịch là hắc-nhân-đảo
(Homme noir de iles), nhưng vì không đúng nên không ai dịch làm gì. Đó là dân
thuộc chủng da đen hoàn toàn và tóc quăn quíu, còn chủng Indonésien tức Mã Lai
không thuộc chủng da đen còn tóc thì dợn sóng chớ không quăn quíu.
Về mặt chủng tộc học, Mélanésien chỉ có một nghĩa: đó là
Mê-la-nê-diêng, không dịch ra tiếng Việt được, ngoài ra, không có nghĩa nào
khác hơn, nhứt là không có nghĩa là Mã Lai bao giờ.
Cũng cứ về mặt chủng tộc học thì Indonésien (Anh Đô Nê-diêng)
cũng có một nghĩa duy nhứt: đó là Proto Malais, nên dịch là Cổ Mã Lai hơn
là Tiền hay Cựu Mã Lai như đã có người dịch. Cổ, ở đây
là có vóc dáng văn hóa thời kỳ đầu của một chủng tộc, chớ không phải là sống
vào thời cổ, Tiền Mã không ổn, bởi chưa có Hậu thì không thể nói đến Tiền. Cựu có
thể, không có Tân thì không nên nói đến Cựu.
Một nhà chủng tộc học Mỹ cho biết rằng hiện nay những người
mà ta gọi là Kim Mã Lai đều là người đã bị lai giống với các chủng
khác hết cả rồi, mà có đến 70 nhóm bị lai giống khác nhau, lai Tàu, lai Ấn, lai
da trắng, nhưng lai Tàu là phần đông.
Người Kim Mã Lai thuần chủng chỉ có thể thấy được lần cuối
cùng vào thế kỷ thứ 10 S.K. mà thôi.
Nhưng những Mã Lai thuần chủng hiện còn sống sót, đang sống
vào thời kỳ cổ, tức họ là Cổ Mã Lai (Indonésien) đấy.
Tuy nhiên, theo riêng chúng tôi thì còn người Kim Mã Lai thật
sự. Theo chúng tôi thì người Giarai ở Cao nguyên ta là Kim Mã Lai. Ngôn ngữ của
họ rất thuần Mã Lai, họ có kết hôn với các dân tộc khác, nhưng cũng là Mã Lai với
nhau cả, như Chàm chẳng hạn, chớ không phải là khác chủng. Và họ không sống
theo Cổ Mã Lai vì họ đi lính cho Tây rất đông trước năm 1945, họ biết mặc Âu phục,
biết địa lý, biết đó biết đây, chớ không phải chỉ biết có cái địa bàn nhỏ hẹp của
họ, và tuy cứ giữ phong tục của họ, họ vẫn biết có nhiều dân khác có phong tục
khác, tôn giáo khác, tóm lại họ không sống vào thời kỳ cổ sơ, mà vóc dáng của họ
cũng không cổ sơ. Ta nhìn vào một anh địa phương quân ở Phú Bổn, ta cứ ngỡ anh ấy
là người Việt Nam.
Nhưng họ quá ít, nên không ai biết họ, trừ các nhà chủng tộc
học có làm việc ở "Đông Pháp", nên thế giới kể như không còn Kim Mã
Lai.
Nhưng Cổ Mã Lai thì lại còn nguyên vẹn ở khắp Đông Nam Á,
trong núi rừng.
Thật ra thì danh xưng Indonésien rắc rối này có hai nghĩa, một
nghĩa thông thường, có ghi trong các từ điển ngôn ngữ: đó là dân của xứ
Indonésien (Nam Dương quần đảo).
Nhưng trong khoa chủng tộc học, nó lại mang nghĩa khác là
Nê-Diêng là người "Mọi" trên Cao nguyên.
Họ nói đúng, nhưng không rành mạch khiến ta ngộ nhận và giẫy
nẩy lên, chối bây bẩy rằng tổ tiên ta là "Mọi".
Nhưng thử hỏi có tổ tiên của dân tộc nào lại không Trãi qua
thời kỳ dã man, rồi thời kỳ kém cỏi hay không chớ?
Các ông Tây đó là các ông Tây dốt khoa chủng tộc học, chẳng
biết Indonésien là gì hết, nghe các ông Tây không dốt, nói người Thượng là
Indonésiens, các ông bèn hiểu rằng Indonésiens = Mọi.
Nhưng người Thượng, y hệt như người Jarai, là Kim Mã Lai đấy,
vì họ đã tiến đến thời đại sắt, còn Cổ Mã Lai khi di cư đến Đông Nam Á chỉ mới
tiến tới thời đại tân thạch thượng.
Vậy các ông Tây không dốt vẫn ăn nói hàm hồ. Không phải hễ biết
mặc Âu phục mới được gọi là Kim Mã Lai mà hễ bước sang thời đại sắt rồi thì phải
được xem là Kim Mã Lai.
Dụng cụ sắt của người Thượng, không phải là được chế tạo bằng
sắt mà họ mua được của Ai Lao, Cao Miên hay Việt Nam đâu. Người Sơ Đăng tự lực
đi tìm quặng sắt trong các núi của tỉnh Kontum rồi nấu thành sắt, rồi luyện sắt
đó thành thép, một công việc mà chính người Việt Nam đã quên mất rồi vì ta đã
quen mua sắt và thép trên thị trường thế giới từ một trăm năm nay.
Nếu vì một lý do nào mà ta bị cô lập, không hiểu ta còn nhớ kỹ
thuật nấu quặng nữa hay chăng? Nhưng người Sơ Đăng thì lại rất thạo kỹ thuật
đó.
Nhưng vì nông nghiệp của người Thượng còn ở giai đoạn hỏa
canh và luân canh nên tạm gọi họ là Cổ Mã Lai cũng chẳng sao, nhưng xin đừng tưởng
rằng Anh Đô Nê = Mọi.
Cổ Mã Lai đã là tên của một chủng tộc rồi thì còn đặt tên nào
khác cho họ nữa làm gì? Và Mọi là gì? Danh xưng Mọi hoàn toàn vô nghĩa về khoa
chủng tộc học mà tưởng sách khoa học không được phép dùng.
Trong ngôn ngữ Việt Nam, mi tương đương với Man di của
Tàu, với Yuavana của Phạn ngữ, chỉ bất kỳ chủng nào mà còn kém mở
mang đến mức chưa biết cất nhà. Như thế thì Papou, Négrito gì cũng là Mọi được
hết, chớ không riêng chủng nào, còn riêng chủng Mã Lai thì bọn Cổ vẫn biết cất
nhà.
Người thường muốn dùng danh từ bậy bạ thế nào cũng được, chớ
khoa học thì không. Khoa học phải gọi đúng tên chủng tộc, gọi đúng tên dân tộc.
Như đã nói, các ông Tây không dốt khoa học, gọi người Thượng
là Cổ Mã Lai, chớ không bao giờ gọi họ là Mọi. Nhưng khi họ gọi người Đông Sơn
là Cổ Mã Lai thì không được ổn lắm. Theo Hậu Hán thư thì người Lạc Việt
ở vùng Giao Chỉ làm ruộng đã giỏi có dư thóc bán cho Hợp Phố và Cửu Chơn. Thế
nghĩa là họ đã biết cày, không còn làm hỏa canh và luân canh nữa thì họ là Kim
Mã Lai đứt đi rồi.
Người Thượng kia mà chúng tôi còn cho là Kim Mã Lai, huống hồ
gì là người Lạc Việt Đông Sơn.
Tuy nói thế chứ biên giới giữa Cổ và Kim cũng không có gì rõ
rệt cho lắm. Hiện nay ở Phi Luật Tân có ba nhóm người mà khoa học rất bối rối,
không biết sắp họ vào hạng Cổ hay Kim. Chính vì tình trạng hỏa canh và luân
canh của họ. Đó là ba nhóm Igorotes, Ifugaos và Bontok mà ông O. Jansé cho là đồng
bào của hai bà Trưng di cư sang, sau cuộc tàn sát của Mã Viện (nhưng ông O.
Jansé dù có chuyên môn nhưng nói vô bằng chứng).
Nhưng như đã nói, không có biên giới rõ rệt thì ta cứ tạm xem
người Đông Sơn là Anh Đô Nê-diêng vậy, cho dứt khoát vấn đề, trong giai đoạn
này cái đã, rồi sẽ hay.
Cả hai nghĩa của danh xưng Indonésien đều sai về mặt khoa học.
Thế mới chết!
Trong danh xưng Anh Đô Nê-diêng nghĩa thứ nhứt, tức nghĩa
thông thường, có ngữ căn Ấn Độ. Mà ngữ căn ấy sai. Ở xứ đó, không có người dân Ấn
Độ nào hết, hay chỉ có leo heo như Sài Gòn vậy thôi, họ là Ấn kiều chớ không phải
dân.
Số là khi người Âu châu tới đó, thấy dân xứ ấy theo văn hóa Ấn
Độ, họ bèn gọi gộp xứ ấy và nước Ấn Độ là "Những xứ Ấn Độ" (Les
Indes).
Về sau, biết rõ hơn, họ phân biệt xứ đó (Nam Dương) với Ấn Độ,
nhưng vẫn cứ còn giữ ngữ căn Ấn Độ và gọi Nam Dương là Indonésien tức cứ còn vô
lý hoài.
Nhưng nếu chỉ có một nghĩa ấy mà thôi, thì có sai cũng chẳng
sao. Phiền lắm là còn một nghĩa thứ nhì nó khiến cho cả một số học giả Âu châu
cũng lầm vì cái ngữ căn Ấn Độ sai đó.
Nghĩa thứ nhì, như đã nói, là Cổ Mã Lai.
Người đặt danh xưng với cái nghĩa đầu, đã đặt sai như đã giải
thích trên đây. Rồi nhà bác học nào đó, đã cho nó cái nghĩa thứ nhì mà giới bác
học đã trót nhìn nhận, lại không mát tay chút nào hết.
Đa số dân ở xứ Nam Dương thuộc chủng Mã Lai, trong đó có cả Cổ
Mã Lai và Kim Mã Lai.
Khi muốn tìm một danh xưng chỉ các nhóm Cổ Mã Lai thì nhà bác
học khuyết danh ấy nghĩ ngay đến cái xứ mà họ gọi sai là Indonésie, và cho danh
xưng Indonésien cái nghĩa là Cổ Mã Lai. Ông ấy đã từ một danh xưng sai, tạo ra
một thuật ngữ chuyên môn sai.
Đành rằng khó lòng mà khi đặt ra danh từ mới, một nhà khoa học
không nghĩ đến cái gì, trường hợp đặt tên đâu thì họ nghĩ đến tên xứ đó. Ở đây
hẳn ông đó đã nghĩ đến xứ Indonésie, ở đó có rất đông dân Cổ Mã Lai. Nhưng đó
là một ý nghĩ phất phơ, không có tánh cách đồng hóa xứ và dân, và nếu ông ấy
giàu tưởng tượng, ông ấy đã thấy rằng người ta sẽ ngộ nhận bởi ở Việt Nam cũng
có Cổ Mã Lai, ở Cao Miên, ở Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa cũng thế thì ông ấy
nên tránh cho người ta sự ngộ nhận có thể xảy ra, không nên dùng danh xưng sai
có sẵn đó với một nghĩa thứ nhì nữa, nghĩa thứ nhứt vốn đã sai rồi.
Nhưng cái nghĩa khoa học của danh xưng Indonésien đã trót có
từ lâu, đã được trước bạ khắp thế giới khoa học thì ta cũng đành phải hiểu đúng
như giới khoa học đã hiểu, không mong sửa lại được, phương chi những người lầm,
không phải vì muốn sửa đổi, mà chỉ lầm bởi ngộ nhận thôi.
Giáo sư Lê Văn Hảo lại có một định nghĩa khác, không biết vì
ngộ nhận hay vì muốn dịch khác đi. Nhưng ta nên xem như là giáo sư không có ngộ
nhận, chỉ dịch khác mà thôi.
Trong quyển Hành trình vào dân tộc học giáo sư Lê
Văn Hảo viết: "Chủng Anh Đô Nê-diêng là chủng tộc Ấn Độ Nam Dương", ý
giáo sư muốn nói đó là dân bổn xứ của quần đảo Nam Dương, hay Ấn Độ nào ở đó? Sự
thật thì chẳng hề có dân Ấn Độ ở đó bao giờ, còn dân bổn xứ ở đó mà thuộc hạng
cổ, thì ở đâu cũng có cả, không riêng gì ở đó.
Lại còn một sự lầm lẫn rối bòng bong nữa, do Anh ngữ tạo ra.
Trong Anh ngữ có hai danh xưng Indonésia và Indonésian.
Indonésia là tên nước, cái nước Nam Dương ngày nay. Còn Indonésian mới
là tên chủng tộc tương đương với danh xưng Indonésien của Pháp. Sử gia Phạm Văn
Sơn đã lầm lẫn hai danh xưng đó, nó chỉ khác nhau có một chữ n sau
cùng.
Trong Việt sử tân biên, ở trang 54, sử gia Phạm Văn Sơn
có viết: "Một số trí thức Việt Nam cũng thắc mắc rằng người Việt ta nay
chưa chắc đã là một nhóm trong gia đình Bách Việt. Nếu chúng tôi không lầm, các
vị đó đã chịu ảnh hưởng của ý kiến do cô M. Colani, H. Mansuy, Patte, Par
mentier, cùng một số học giả Thụy Điển, Hòa Lan, chủ trương rằng thánh tổ cơ bản
của dân tộc Việt Nam chính là thánh tổ "Indonésia".
Ý sử gia muốn nói: "Thánh tổ Indonésian" đấy vì sử
gia đang nói đến chủng tộc chớ không hề nói đến xứ nào hết, mà các ông Tây bà đầm
mà sử gia ám chỉ đến cũng chỉ nói đến chủng Indonésian mà không hề nói đến xứ
Indonésia, vì đã bảo người Cổ Mã Lai có mặt khắp nơi chớ không riêng gì ở nước
Indonésia.
Đó là nói về sự lầm lẫn danh xưng chớ "bên trong còn lắm
điều hay", vì:
- Indonésian - Bách Việt
đó, chớ không phải là hai thứ khác nhau đâu. Đó là nội dung của
quyển sách này với hàng trăm chứng tích cụ thể và khoa học.
Kể cả một số nhà học giả Âu châu cũng chẳng biết Indonésian
là gì, nên họ mới lập ra cái thuyết dân Hoa Nam tràn xuống lưu vực Hồng Hà và đồng
hóa dân Indonésian ở đó, rồi biến thành dân Việt Nam.
Thuyết này được ông Hoàng Trọng Miên (V.N.V.H.T.T.) lặp lại.
Người Hoa Nam thuở xưa đích thị là Cổ Mã Lai, như chúng tôi sẽ
chứng minh ở những chương sau, và khi dân ở lưu vực Hồng Hà cũng là Cổ Mã Lai
thì không thể có sự kiện nhóm Mã Lai này "đồng hóa" nhóm Mã Lai khác.
Hơn thế, khoa khảo tiền sử đã cho thấy rằng người Indonésien ở
lưu vực Hồng Hà chỉ mới tới đó từ sau, chớ không phải là dân thổ trước nằm sẵn
đó để đợi dân Hoa Nam tới để mà bị "đồng hóa".
Nhà bác học G. Cocdès nguyên Viện trưởng Viện Viễn Đông bác cổ
cũng thấy nhiều nhà học gia Âu Mỹ dốt, nên ông đã nhiều lần nói khéo cho họ biết
rằng Indonésien là Cổ Mã Lai, đừng có hiểu bậy bạ mà làm rối ren vấn đề. Nhưng
ông G. Cocdès rất khiêm tốn, ăn nói rất kín đáo, chớ không hò hét vô lễ như
chúng tôi.
Sở dĩ chúng tôi có thái độ vô lễ là vì phải hò hét như vậy
thiên hạ mới hết ngộ nhận chớ nói thầm như ông G. Cocdès thì các nhà bác học Âu
Mỹ cứ tiếp tục ăn nói hồ đồ hỗn độn rối trí người đọc, chẳng ai hiểu gì cả.
Chúng tôi sẽ bị mắng, bị ghét, nhưng chúng tôi tự hy sinh, cốt
làm ổn định một tình trạng loạn xà ngầu.
Nhưng ông G. Cocdès đã biết Indonésien rồi, đã chỉnh thiên hạ
rồi, vẫn không biết sự thật lịch sử vì rồi ông viết: "Dân Việt Nam tràn đến,
đuổi dân Anh Đô Nê-diêng lên Cao nguyên".
Ấy, họ là ai, ở đâu tràn đến hở ông G. Cocdès? Nói như sử gia
Nguyễn Phương mà còn nghe được: Người Tàu tràn đến, đuổi người Indonésien đi mất,
chớ nói như ông thì bí mật quá. Dân Việt Nam thuộc chủng nào mà đuổi Cổ Mã Lai
đi?
Ngữ căn Anh-đô này còn gây ngộ nhận ở nhiều nơi khác, rất là
buồn cười.
Thuở xưa ông Kít Tốp Cô Long đi tìm Ấn Độ về ngã hướng Tây.
Ông gặp Châu Mỹ với dân thổ trước ở đó và ông ngỡ đã gặp dân Ấn Độ, nên ông đặt
tên họ là Indien.
Báo hại mấy trăm năm sau, khi Âu Châu biết Ấn Độ thật sự rồi
thì phải bày ra danh xưng thứ nhì là Hindou để chỉ người Ấn Độ. Họ đã lầm,
nhưng rồi đã xoay xở để không gây ngộ nhận.
Indien = Thổ dân Mỹ Châu
Hindou = Ấn Độ
Thế mà cho đến năm nay, các sách dịch của ta về Mỹ Châu cứ tiếp
tục dịch Indien là Ấn Độ, khiến học trò phải điên đầu, tự hỏi tại sao mà ở Châu
Mỹ lại có dân Ấn Độ?
Chưa bao giờ mà một ngữ căn lại gây ngộ nhận nhiều đến thế,
sâu rộng đến thế, và sự ngộ nhận lao vào cả giới văn nghệ và bác học nữa, tức
lan vào toàn khối trí thức ta.
Các nhà bác học Âu Mỹ, tuy nói thế chứ không phải ông nào
cũng dốt. Và họ dùng danh xưng bí hiểm không cố ý. Nó chỉ bí hiểm với người
không chuyên môn, chớ các nhà bác học thế giới thì hiểu rất đúng. Tại ta không
thông ngoại ngữ đó thôi.
Nhưng biết Indonésien là Cổ Mã Lai rồi, thiên hạ vẫn cứ sa lầy
như thường vì hai lẽ:
Phản khoa học
Tự ái xằng
Tự ái xằng thì chỉ có ta là tự ái, chớ các ông Tây thì không.
Tổ tiên ta không bảnh thì ta thất vọng, phủ nhận họ chớ mắc mớ gì tới các ông
Tây. Các ông không tự ái tầm ruồng, nhưng các ông vẫn không rút chơn ra khỏi đầm
lầy Đông Sơn vì tất cả bao nhiêu nhà bác học đó đều thiếu mất cái đức tính số một
là tinh thần khoa học.
Trí thức Việt Nam, khi thốt ra danh xưng Anh Đô Nê-diêng,
luôn luôn nghĩ đến người Thượng Cao nguyên vì các ông Tây dốt đã nói không minh
bạch rằng người Thượng là Mọi.
Thiên hạ ngạc nhiên hết sức tự hỏi sao một thứ người như người
Thượng lại lập được một nền văn minh rực rỡ thế kia ở Đông Sơn.
Chúng tôi nói rực rỡ không phải là nói quá đâu. Một nhà bác học
trong nhóm đó có thử nghĩ ra một biến cố như sau. Nếu có thiên tai khủng khiếp
nào xảy ra tại nước Huê Kỳ và tiêu diệt tất cả thì hai ngàn năm sau, loài người
tới đó, cũng chỉ tìm được vài ngàn món đồ bằng đồng thau, y như ở Bắc Việt và
Đông Sơn, chớ những gì bằng sắt, bằng lụa, bằng gỗ, bằng gạch sẽ đều mục nát hết.
Như thế, ta đoán biết được rằng ngoài hàng ngàn món đồ bằng đồng
thau đó, dân Đông Sơn hẳn có hàng vạn thứ khác nữa, cùng mức độ khéo léo tinh xảo
như đồ đồng thau, tất cả hợp lại thành một nền văn minh mà trong đó đời sống của
dân chúng có thể xem là khá tốt đẹp.
Nhưng ranh giới giữa Cổ Mã Lai và Kim Mã Lai không rõ rệt lắm,
và người Đông Sơn không chắc lắm là giống đồng bào Thượng ngày nay về vóc dáng
còn về mức sống thì hẳn phải hơn, như cổ vật cho thấy.
Các ông Tây không tự ái xằng như ta, nhưng các ông cứ vùi đầu
vào nền văn minh Đông Sơn và ngỡ nguồn gốc dân tộc ta ở đó.
Chúng tôi bảo rằng các ông thiếu tinh thần khoa học, không phải
là chúng tôi phách lối dám coi thường cả các nhà bác học của Viện Viễn Đông bác
cổ, nhưng sự thật là thế. Đã bảo làm thế nào mà nguồn gốc của một dân tộc lại nằm
tại giai đoạn đồng pha cực hạ (basse époque de bronze) được hở trời!
Vì thế mà rồi các ông bị mất nửa thế kỷ. Quả thật thế, các
nhà bác học ấy đều lâm vào một ngõ bí mà chúng tôi gọi đùa là ngõ bí Đông Sơn,
bí không phải về nền văn minh đó mà họ biết rất rõ, mà về một điểm sử của nước
Việt Nam, khi họ đặt ra chủng: "Người Đông Sơn có phải là tổ tiên của người
Việt Nam hay không?".
Đã thấy quá rõ rằng họ là Cổ Mã Lai, còn người Việt Nam thì
không có gì là Mã Lai cả thì làm thế nào để ráp nối Đông Sơn với Việt Nam được?
Vì không nuốt trôi được sự kiện kỳ dị đó, nên nhà bác học V.
Goloubew, thuộc Viện Viễn Đông bác cổ mới phúc trình tại Bá Lê năm 1936, cuộc
phúc trình về khảo tiền sử ấy rồi được in thành tập. Trong tập Le peuple
de Đông Sơn, ông viết: "Cái nền văn minh đó (tức văn minh Đông Sơn)
tiết lộ cho ta thấy những dây liên hệ sâu đậm với văn hóa Mã Lai, thế nên không
có vấn đề xem dân Đông Sơn là tổ tiên trực tiếp của dân Annam hiện nay (mà văn
hóa mang màu sắc Trung Hoa)".
Những chữ ở trong dấu ngoặc là do chúng tôi tự ý thêm vào cho
rõ nghĩa câu nói của ông V. Goloubew.
Nhượng Tống, giáo sư Kim Định và sử gia Phạm Văn Sơn nói là
các ông Tây, Thụy Điển, Hòa Lan làm cho trí thức ta thắc mắc. Nhưng chính các
ông Tây đã phủ nhận rằng: tổ tiên ta là Mã Lai đó chớ.
Các nhà học giả đã ngộ nhận vì lý do sau đây. Ta cứ nhìn nhận
càn rằng nền văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta, mà nó lại có tánh cách Mã
Lai, thế nên rồi ta cứ hiểu càn rằng các ông Tây cho rằng tổ tiên ta là Mã Lai.
Thật ra thì các ông Tây không bao giờ nhìn nhận nền văn minh
Đông Sơn là của tổ tiên ta, như cuộc phúc trình của ông V. Goloubew đã cho thấy,
vì cái lẽ họ không thấy ta là Mã Lai, trong khi đó thì Đông Sơn là Mã Lai rõ rệt.
Người ta chỉ nói Đông Sơn là Mã Lai, và phủ nhận nó là của tổ
tiên ta. Còn ta thì nhận càn, thành thử cái yếu tố Mã Lai dính chặt trong nền
văn minh Đông Sơn bị lôi cuốn theo. Thế nên mới có việc tin mạnh và đính chánh ầm
ĩ.
Thật là quái dị, cái hiện tượng đó, về đủ cả mọi mặt. Người
ta phủ nhận Mã Lai Đông Sơn là tổ tiên ta thế mà trí thức ta lại viết cả những
quyển sách thật dày để đính chánh nguồn gốc Mã Lai của ta, làm như khoa học đã
quả quyết xong rồi, phải cãi cho kỳ được mới nghe.
Trong khi đó thì một nhóm trí thức khác lại cứ nhận càn Đông
Sơn là tổ tiên ta, nhưng loại trừ tánh cách Mã Lai của nền văn minh ấy, vì
chính họ cũng không nuốt trôi sự kiện ta là Mã Lai.
Nhưng thà là phủ nhận như V. Goloubew, chớ nhận nửa chừng sao
được hở các ông, vì Mã Lai dính chặt như keo sơn vào nền văn minh Đông Sơn làm
thế nào mà các ông hất cẳng nó ra được.
Nhà bác học V. Goloubew nuốt không trôi, mà một số trí thức
ta lại càng nuốt không trôi hơn ông ấy nữa, vì họ thấy ta khác Mã Lai quá xa,
khác như nước với lửa, thì làm thế nào ta là con cháu Mã Lai được. (Chúng tôi
chỉ nói đến trí thức, vì mặc dầu câu chuyện xảy ra từ năm 1920, nhưng đến nay,
đa số dân chúng cũng chẳng ai hay biết gì hết. Thỉnh thoảng có một vài bài báo
Việt có tánh cách phổ thông, kể câu chuyện đó, nhưng cũng ít người buồn xem lắm).
Trí thức ta không nuốt trôi cái vụ Mã Lai đó, thế mà đa số lại
càng nhận nền văn minh ấy là của tổ tiên ta, cái mới là mâu thuẫn. Họ thấy nó rực
rỡ, không nhận thì uổng lắm, nhưng nhận mà chỉ nhận nửa chừng, tức phủ nhận
tánh cách Mã Lai, mặc dầu tánh cách ấy rất rõ rệt.
Có người nói rằng người Pháp họ ác ý nên mới phủ nhận nền văn
minh rực rỡ ấy là của tổ tiên ta. Sự thật thì không phải thế. Ông V. Goloubew
là người Nga chớ không phải là người Pháp.
Mười năm sau ông V. Goloubew, một ông Tây khác ra đời. Đó là
ông O. Jansé.
Nói ra đời thì không đúng, vì ông này là người cũ, lâu năm
hơn cả ông V. Goloubew nữa, nhưng ông ta đã nín đi mười năm mới lên tiếng.
Ông O. Jansé là trưởng phái đoàn mà Viện Bác cổ Viễn Đông Hà
Nội đã gởi xuống Thanh Hóa để thám quật các cổ vật nói trên. Các cổ vật ấy đã
được dân chúng tìm thấy từ năm 1920, và tiếng đồn thấu đến tai hai ông H.
Parmentier và V. Goloubew vào năm 1923 và hai ông này mới chính thức cho Viện
hay tin và xin Viện khảo cứu vùng đó. Nhưng người được danh dự giao trọng trách
lại là ông O. Jansé, người Mỹ gốc Thụy Điển, chớ không phải ông H. Parmentier,
người Pháp gốc Nga.
Ông O. Jansé lỗi lạc về môn khai quật đúng phương pháp khoa học
và công việc mà ông đã thực hiện tưởng trên thế giới không ai làm hơn được.
Tuy nhiên, khai quật xong, còn phải làm cái gì nữa, mà cái gì
đó thì ông O. Jansé làm không trôi được một cách trọn vẹn.
Ông đã nghiên cứu rất kỹ và rất đúng những cổ vật đào được và
riêng về việc nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn, tưởng ông không thua ai hết.
Nhưng có một khoản trong việc nghiên cứu đó thì thấy rõ là
ông phản khoa học. Đó là cái phần kết luận về liên hệ giữa những Đông Sơn và Việt
Nam.
Trong tập phúc trình viết bằng tiếng Anh, do Havard
University Press 1947 xuất bản nhan là Arechaoelogical Résearch in Indo
China ông O. Jansé chứng minh rất khoa học rằng người Đông Sơn thuộc chủng
Cổ Mã Lai. Mặt khác, ông không hề chứng minh được rằng dân Việt Nam cũng thuộc
chủng Mã Lai. Thế mà ông lại dám kết luận rằng:
Đông Sơn = Việt Nam
Theo phương pháp khoa học thì ông O. Jansé phải trình ra cho
kỳ được tam đoạn luận sau đây:
Đông Sơn = Mã Lai
Việt Nam = Mã Lai
Đông Sơn = Việt Nam
Nhưng ông không bao giờ viết ra được cái đẳng thức toán học
thứ nhì:
Việt Nam = Mã Lai
thành thử tam đoạn luận của ông kể như là một con số không.
Tới đây thì sự thừa nhận càn và sự đính chánh ầm ĩ mới nổi
lên. Nhận càn vì một nhà bác học đã xác nhận càn, còn đính chánh ầm ĩ, cũng
chính vì sự xác nhận vô bằng chứng của nhà bác học đó. Cả hai phe phái Việt Nam
đều dựa vào một nhà bác học nói tầm ruồng để làm việc đại sự.
Năm 1964, nhà nho Nhượng Tống viết: "Mấy người ngoại quốc
khảo cứu về nhân chủng ở xứ ta, có người bảo tổ tiên ta ở Mã Lai sang. Đó chỉ
là ức thuyết, chả có gì là chắc chắn".
Thấy rõ là Nhượng Tống ám chỉ đến ông O. Jansé, vì cho tới
năm đó, chỉ có hai ông V. Goloubew và O. Jansé là đã công khai lên tiếng mà
thôi, nhưng ông V. Goloubew thì đã phủ nhận như ta đã thấy trên kia.
Nhưng ông O. Jansé cũng chẳng buồn lập ra ức thuyết nào cả,
ông chỉ khẳng định suông bằng nửa câu ngắn mà thôi.
Sở dĩ Nhượng Tống viết như thế vì ông O. Jansé đã thất bại
trong kết luận của ông.
Trong ba quyển sách dày lối mười ki lô của ông, ông không bao
giờ viết ra được đẳng thức:
Việt Nam = Mã Lai
Nhượng Tống là một nhà nho cừ khôi, ông ấy biết khoa học, biết
tinh thần khoa học, và không chấp nhận được một cuộc kết luận phản khoa học như
kết luận của ông O. Jansé.
Thật ra thì ông O. Jansé có thử chứng minh, chứng minh của
ông khá vững, nhưng khoa học không công nhận, cho là không vững.
Trong tập phúc trình nói trên, ông viết ngay ở mấy trang đầu,
chớ không phải nơi chương kết luận: "Cứ theo lời dân làng thì chỗ đó (chỗ
mà phái đoàn Viện Viễn Đông bác cổ sắp sửa thám quật lần đầu, tại
Đông Sơn) không bao giờ được ai đả động tới vì lẽ bí mật gì không biết (For
reasons unknow to them). Xem ra thì nơi đó chắc là nơi kiêng kỵ vào thời cổ
(taboo in ancient times) và cả khi sự kiêng kỵ bị quên rồi, dân làng vẫn tiếp tục
kính trọng nơi đó vì truyền thống. Tôi (lời ông O. Jansé) nghĩ rằng sự kiêng kỵ
ấy có lý do này là đất ấy ngày xưa dùng làm nơi chôn cất (cho những nhơn vật
quan trọng)".
Đoạn văn trên đây, ngụ ý rất minh bạch, không thể hiểu lầm:
dân làng Đông Sơn ngày nay là hậu duệ của dân Lạc Việt tiền Mã Viện. Nếu có sự
đứt đoạn trong dòng thế hệ, nếu dân làng ngày nay là hậu duệ của người Tàu di
cư sau Mã Viện như sử gia Nguyễn Phương nói thì không làm sao mà có cái truyền
thống kính trọng đất thiêng nói trên.
Dân làng Đông Sơn ngày nay (tức năm 1924) giữ truyền thống của
dân Đông Sơn Lạc Việt, thế nghĩa là không có sự đứt đoạn, không có dân tộc
khác xen vào.
Thế nghĩa là:
Đông Sơn = Việt Nam
Tuy nhiên, khoa học cứ đòi hỏi hơn, vì có thể người Việt Nam
ngày nay vốn là người Tàu (theo sử gia Nguyễn Phương) vẫn sợ cái gì mà cổ
dân vốn thuộc chủng khác đã sợ hãi, vì họ được chứng kiến sự sợ hãi của
thứ cổ dân đó khi họ mới đến, mới chung đụng với cổ dân đó. Rồi cổ dân đó bị họ
tàn sát hết, nhưng họ cứ còn sợ nổi sợ cổ thời của dân bị diệt chủng.
Thật ra thì các nhà bác học ấy không tha thiết lắm trong công
việc tìm nguồn gốc của dân tộc ta, vì đó không phải là công việc của họ. Họ
nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn chỉ vì nền văn minh Đông Sơn. Nền văn minh ấy,
tự nó, có giá trị riêng. Họ không phải là sử gia, và dùng kết quả khảo cứu cách
nào cho đúng để viết sử là công việc của sử gia chớ không phải của họ là những
nhà khảo tiền sử.
Phương chi họ lại đang bí vì không thể lập ra được cái tam đoạn
luận nói trên, nên đã không tha thiết, họ bỏ trôi luôn.
Họ là nhà khảo cổ, và họ đã làm xong sứ mạng, y như cố đạo L.
Cadière nói, còn về sau, các sử gia tự ý kết luận sao đó thì kết luận. Họ chỉ dại
dột khảo cứu về mặt sử học, để cho phải sai lầm, cả hai ông đều sai, cách nhau
mười năm.
Vì quá bí, nên họ chỉ còn biết say mê những gì họ làm được chớ
không bận tâm đến nguồn gốc dân tộc Việt Nam nữa. Vì vậy mà vấn đề cứ còng lòng
dòng hoài.
Cuộc sa lầy, nằm tại chỗ không nối kết được Mã Lai với Việt
Nam, mà nếu có nối kết được, cũng còn cứ sa lầy như thường, vì, như đã nói, nguồn
gốc của một dân tộc không làm sao mà nằm tại giai đoạn đồng pha, đó là giai đoạn
cực hạ vì kỹ thuật đồng pha Đông Sơn đã là nghệ thuật rồi, thì giai đoạn Đông
Sơn là giai đoạn quá mới, tương đối với thượng cổ sử của một dân tộc.
Tuy nhiên, các ông Tây khác, sau đó, vẫn có thứ nối kết Mã
Lai với Việt Nam, các ông có thành công phần nào, nhưng đó chỉ là công dã tràng
vì nguồn gốc dân ta sao mà nằm tại thời đại đồng pha được kia chớ.
Trong khi đó trí thức Việt Nam lại lấy một thái độ dễ dãi và
vô lý này là nhận càn nền văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta.
Nhưng tất cả ba thái độ, ba khuynh hướng trên đều phản khoa học:
Ông V. Goloubew phủ nhận quá sớm khi chưa nỗ lực tìm ra cái đẳng
thức Việt Nam = Mã Lai.
Trí thức ta không thèm tìm gì hết mà cứ nhận. Họ nhận Đông
Sơn là tổ tiên mà không đưa ra được lấy một bằng chứng nhỏ rằng ngày nay ta cứ
còn là Mã Lai.
Có người còn làm một cuộc loại trừ rất là buồn cười. Họ nhận
Đông Sơn là tổ tiên ta, nhưng không nhận Đông Sơn là Mã Lai. Họ làm như là một
bà nội trợ, đi chợ, chọn món ngon thì mua, món dở thì thôi, nền văn minh đó rực
rỡ thì họ nhận, còn Cổ Mã Lai không rực rỡ thì họ phủ nhận. Họ quan niệm sai lầm
rằng làm Cổ Mã Lai xấu xa lắm vì họ thấy người Cổ Mã Lai ở Cao nguyên không bảnh.
Nhưng viết sử khác với mua ăn. Tổ tiên ta hay dở gì ta cũng
phải nhìn nhận trọn vẹn, chớ không thể chọn lựa. Cha tôi là tướng cướp, tôi
cũng đành chịu vậy, còn tôi nói ngọng cha tôi cũng đành chịu vậy, không ai chọn
ai được cả.
Đây là việc thừa tự chớ không phải là một cuộc kết hôn,
phương chi lắm khi trong cuộc kết hôn, người ta cũng có thể bị đẩy vào cái thế
không thể lựa chọn.
Thí dụ quân lính của Mã Viện họ hiếp con gái Lạc Việt, sau
khi tàn sát hai bà Trưng, cho đẻ ra Tàu lai, người ta cũng có thể bị đẩy vào
cái thế không thể lựa chọn.
Nhưng như đã nói, Cổ Mã Lai không có gì xấu xa hết và chúng
tôi đã tiếp xúc với đồng bào Thượng, đã thương mến họ vì đức tính và đạo đức của
họ, nó hơn hẳn ta nhiều bực. Thế nên chúng tôi mới nêu câu nói của bác sĩ Haurd
ở trang đầu sách này.
Trường hợp điển hình nhứt và sau cùng nhứt là trường hợp của
giáo sư Kim Định. Ông chối bỏ nguồn gốc Mã Lai của tổ tiên ta, nhưng lại nhận
Đông Sơn, mặc dầu Đông Sơn là Mã Lai một trăm phần trăm không thể chối.
Quả thật thế, ông đã trích một cuốn sách Tàu chép rằng Xúy
Vưu là chim mà không biết bay, ông cho rằng câu đó ngầm nói rằng Việt thờ vật tổ
là chim, vì ông nối kết nó với hình chim ở trống Đông Sơn.
Thế là ông vừa phủ nhận Mã Lai xong thì lại nhận Đông Sơn
ngay, tức chia hai Đông Sơn ra, tánh cách Mã Lai thì bỏ đi, còn cái gì hay của
Đông Sơn thì giữ lại.
(Thật ra thì câu sách Tàu bí hiểm đó, không có nghĩa ấy, vì
chúng tôi sẽ chứng minh rằng chim không phải là vật tổ của dân ta như các ông
Tây đã lầm).
Ông O. Jansé nhận càn trọn vẹn Việt Nam = Mã Lai mà cũng chẳng
đưa ra được bằng chứng khoa học nào hết.
Tóm lại, trước ngõ bí Đông Sơn, tất cả mọi khuynh hướng đều
phản khoa học. Xin trình ra nguyên tắc khoa học sắc bén nhứt để ta noi theo đó
mà làm việc cho khỏi sai lầm.
Nguyên tắc này là khuôn vàng thước ngọc mà nếu không theo ta
khó mong tìm ra sự thật lịch sử. Đây, tóm lược nguyên tắc: Lịch sử của một dân
tộc giống hệt sợi dây xích sắt, có cái khoen đầu, cái khoen cuối và những cái
khoen nối kết trung gian. Trong trường hợp của ta, cái khoen đầu là nền văn
minh Đông Sơn có tánh cách Mã Lai, cái khoen cuối là nền văn minh Việt Nam hiện
đại nhuốm màu sắc Trung Hoa. Nếu chưa tìm được những cái khoen trung gian nó
minh họa sự biến chuyển từ Mã Lai sang Trung Hoa thì không được phép lôi kéo
Đông Sơn vào Việt Nam.
Như vậy phương pháp làm việc là tìm những cái khoen trung
gian đó, chớ không phải cứ vội bận tâm về việc nhìn nhận hay phủ nhận.
Chừng nào tìm được rồi thì vấn đề mới được giải quyết, bằng
chưa thì cứ để cho nó lòng dòng, không ai có quyền hối thúc, bắt ép ai phải
nhìn nhận hay phủ nhận ngay từ năm 1936, hay vào năm nay (1964) hoặc trong 50
năm nữa.
Ông V. Goloubew không tìm tòi đến chốn mà cứ dám phủ nhận,
còn ông O. Jansé tìm không thấy lại cứ dám nhìn nhận, thì thật là kỳ, mà kỳ nhứt
là trí thức ta, không tìm tòi gì hết, vậy mà vẫn cứ nhận, lại nhận có điều kiện
nữa chớ!
Lý trí, kinh nghiệm và khoa học dạy ta rằng không phải nền
văn minh cổ nào nằm trong lòng đất ta, đều là của tổ tiên ta. Không, cách đây
hai ba ngàn năm, rất có thể có một dân tộc khác làm chủ đất ta ngày nay thì cho
rằng nền văn minh Đông Sơn nhứt định phải là nền văn minh của tổ tiên ta, không
khoa học chút nào hết.
Không thể chắp nối hai nền văn minh khác tánh cách lại với
nhau khi không đưa ra được những cái khoen trung gian chứng tỏ có sự biến dạng,
mà sự chắp nối ấy còn giá trị khoa học nào.
Nhận văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta, thì quá dễ, bởi nền
văn minh đó không có chủ, chẳng ai tranh giành với ta, nhưng ta có yên tâm được
hay không, khi nhận căn, không chứng tích?
Cả ba khuynh hướng trên đều là khuynh hướng bí và nó đưa tới
những kết quả không được khoa học công nhận, và chính lương tâm của ta cũng
không công nhận nữa.
Thế nên, để an lòng mình, ông O. Jansé của khuynh hướng thứ
nhì mới viết: "Bọn phiêu lưu tiên phương Tàu là thợ giỏi nên các thủ lãnh
địa phương (Đông Sơn) ưa gả con gái cho họ".
Ông O. Jansé muốn ám chỉ đến một cuộc hợp chủng Hoa Việt để cắt
nghĩa tại sao giờ dân ta mang bản sắc Tàu chớ không phải bản sắc Mã Lai như người
dưới mồ.
Chương kết luận của ông O. Jansé là một trang sách, nếu in chữ
nhỏ thì không đầy một trang tiểu thuyết bình thường, trong đó câu trên đây được
nêu ra. Nhưng đó chỉ là một mưu trá để ráp nối Mã Lai với Tàu cho nó thành Việt
Nam chớ không phải là chứng tích vì ông không chứng minh được rằng cuộc hợp chủng
ấy lớn lao đến mức làm mất hẳn bản sắc Mã Lai, mà còn trái lại nữa, cuộc hợp chủng
ấy quá nhỏ nên chỉ được ông bố thí cho có nửa câu ám chỉ ngắn mà thôi, thì làm
sao tánh cách Mã Lai lại biến mất được?
Phải chứng minh được một cách toán học rằng:
Việt = Mã Lai
thì khoa học mới thôi thắc mắc.
Sử chỉ là khoa học nhân văn chớ không phải khoa học chính xác
như lý-hóa, nhưng đó là về một mặt nào đó thôi, chớ nơi vài khía cạnh, khoa học
vẫn đòi hỏi nó phải chính xác y như toán.
Trong trường hợp Đông Sơn, Mã Lai, Việt Nam, phải viết cho được
ba đẳng thức, ba đẳng thức đó phải hợp thành một tam đoạn luận, như đã nói trên
kia, mới dứt khoát được vấn đề.
Vì cả ba khuynh hướng đều phản khoa học, để lộ một sơ hở quá
thô sơ, nên giáo sư đại học Nguyễn Phương mới xen vào, chứng minh rằng ta là
người Tàu thuần chủng.
Thế mới chết nữa, và có tai hại hay không, chỉ vì cả ba
khuynh hướng trên đều sơ hở quá lớn?
Chúng tôi đã có nhiều bài báo bác bỏ cái thuyết sai lầm của sử
gia Nguyễn Phương, nhưng chúng tôi vẫn phải nhìn nhận rằng sử gia Nguyễn Phương
đã thấy được tánh cách phản khoa học của ba khuynh hướng trên.
Sở dĩ thuyết của sử gia Nguyễn Phương sai là vì lúc lập thuyết
sử gia lại cũng bất chấp khoa học, chớ riêng việc nhận xét ba khuynh hướng đó
thì sử gia rất sáng mà thấy được sơ hở ấy.
Làm thế nào mà thuở ấy, tại Đông Sơn, lại có ba dân tộc văn
minh được kia chớ? Chắc một trăm phần trăm là chỉ có chủ đất là ta ở Đông Sơn
và kẻ xâm lăng là Tàu, một dân tộc văn minh thứ ba xen vào đó sao được? Để cùng
Tàu xâm lăng ta chăng, hay để cùng ta đồng làm chủ đất? Cả hai giả thuyết ấy đều
không có lý. Vả lại nếu có, sử Tàu đã có chép về một dân tộc thứ ba ấy không
(Chúng tôi không nói đến những bộ lạc kém mở mang khác, vẫn sống lẫn lộn với
người Đông Sơn).
Thế thì một là ta là Đông Sơn, hai là ta là Tàu, không sao
khác hơn được. Nhưng khoa học lại chưa nhận rằng ta là Đông Sơn thì sử gia Nguyễn
Phương bỏ ta vào cái bị Trung Hoa vậy.
Sử gia Nguyễn Phương rất tinh ý, thấy chỗ sơ hở của người
khác, nhưng ông vẫn phản khoa học như thường vì ông không hề thử tìm những cái
khoen nối kết mà khoa học đòi hỏi.
Ông lại "trễ tàu" vì từ năm 1936 đến năm quyển Việt
Nam thời khai sinh của ông ra đời năm 1965, nhiều nhà bác học khác đã tìm
được vài cái khoen nối kết. Mà hễ có một cái, có vài cái, thì sẽ có trăm ngàn
cái, tuy chưa đủ, mà rồi sẽ đủ. Chỉ có một cái mà thôi, cũng đủ ngăn sử gia bỏ
ta vào bị Trung Hoa rồi. Thế mà sử gia không hay biết, làm như không ai tìm được
gì cả, và đã tuyệt vô hy vọng rồi, nên ông chọn Tàu làm tiên tổ để dứt khoát vấn
đề.
Sử gia nỗ lực kinh hồn để cố chứng minh rằng Việt = Hoa nhưng
công trình của sử gia lầm ngay ở tiền đề: Nếu người Việt Nam là Tàu thì tại sao
họ lại thờ vua Mã Lai Hùng Vương, thờ anh hùng Mã Lai Trưng Trắc?
Những người bạn Trung Hoa của chúng tôi ở Sài Gòn này, khi được
chúng tôi cho biết nội dung quyển V.N.T.K.S. và được hỏi ý kiến, họ đều đáp:
"Chúng tôi, người Trung Hoa, chúng tôi kính mến vua tổ của anh, khâm phục
nữ anh hùng của anh, nhưng thờ những vị đó, thì chắc chắn là không, bởi chúng
tôi không có lý do thờ phượng vua và anh hùng nước khác. Cũng không lý do nào
mà một ngày nào đó, người Tàu di cư sang Giao Chỉ lại bỗng dưng quên mình là
người Tàu, đi thờ vua và anh hùng Lạc Việt. Tri tinh thì không thờ, còn thờ vì
quên gốc, cũng không thể có được".
Ông O. Jansé còn nói ra được hai tiếng "Hợp chủng Hoa Việt",
chí như sử gia Nguyễn Phương thì không, mà còn trái lại nữa, ông cho rằng ta là
người Tàu thuần chủng.
Buồn cười nhứt là Nhượng Tống. Nhượng Tống đã mắng Ngô Sĩ
Liên vì Ngô Sĩ Liên đã để lộ cho thấy rằng tổ tiên của ta là người Mường, bằng
cách đưa truyền thuyết Mường vào sử Việt.
Nhưng Nhượng Tống cũng lại mắng những ai cho rằng tổ tiên của
ta là người Tàu. Ông phủ nhận luôn nguồn gốc Mã Lai.
Như vậy tổ tiên ta là ai? Như nhiều nhà học giả khác, Nhượng
Tống tưởng rằng người Việt Nam tự nhiên có mặt được ở xứ này, và xưa sao, nay vậy,
không hề thay đổi, tức một chủng riêng biệt, theo thuyết H. Maspéro.
Cái thuyết Việt tộc là một chủng riêng biệt của H. Maspéro đã
được nhiều sử gia ta lặp lại. Nhưng ông H. Maspéro, mặc dầu là nhà bác học, lại
quên học khoa chủng tộc học. Không hề có một chủng chỉ đông có bảy trăm ngàn
người (theo cuộc kiểm tra dân số của Mã Viện). Nếu có thì đó là một mảnh vụn của
một chủng tộc nào đó, rất lớn, vì chủng tộc nào cũng rất lớn cả. Mà nếu sự kiện
đã xảy ra như vậy thì cái chủng tộc lớn đã tàn lụn, chỉ còn sót lại có bảy trăm
ngàn người Lạc Việt ở châu thổ Hồng Hà, cái chủng lớn ấy, khoa chủng tộc học
cũng đã biết. Không có chủng nào mà khoa đó không biết cả, từ khi các chủng
thành hình một cách rõ rệt, cách đây hơn mười ngàn năm.
Nhưng tuyệt đối không hề có cái chủng lớn nào mà còn để sót lại
một mảnh nhỏ là dân Lạc Việt hết.
Họ chưa biết cái gốc cũ đó, nên họ làm thinh mà tìm tòi, chớ
họ không bao giờ dám nói một điều rất dốt như ông H. Maspéro rằng Lạc Việt là một
chủng riêng biệt.
H. Maspéro có tham vọng nghiên cứu nguồn gốc dân ta, nhưng lại
chưa học khoa chủng tộc học (Raciologie).
Hơn thế, khoa chủng tộc học đã chứng minh rằng ngày nay,
không còn chủng nào mà còn ở lại nơi phát tích của họ cả. Tất cả đều đã di cư,
vì sinh kế, vì chiến tranh, vì khí hậu thay đổi và vì trăm ngàn lý do khác nữa.
Người cổ Ai Cập xưa, chủ nhơn của cái nền văn minh rực rỡ mà
đền thờ còn tồn tại tại Ai Cập hiện kim, cũng là dân ở nơi khác đến đó rồi lập
ra cái nền văn minh ấy tại đó, chớ gốc họ không phải ở đó.
Người Do Thái quả vừa trở về đất tổ ban đầu của họ, nhưng họ
cũng phải đi lang thang suốt ba ngàn năm, và nếu gặp được đất mới thì họ đã lập
quốc ở nơi khác rồi.
Sở dĩ họ trở về là vì trên quả địa cầu không còn đất trống để
cho họ lập quốc, họ đã trở về là chuyện bất đắc dĩ, và phải đổ máu rất nhiều,
chớ không, họ cũng đã đang sống ở nơi nào đó rồi, chớ không sao mà cứ được ở tại
đất tổ của ngày xưa.
Nhưng họ mất nước và lấy lại nước chỉ trong vòng có ba ngàn
năm, còn dân ta thì lại cổ ít lắm là năm ngàn năm, như sẽ chứng minh, thì không
làm sao mà dân ta gốc ở Bắc Việt ngày nay được cả.
Dân da trắng, từ cổ chí kim, chỉ thuộc ba chủng. Chủng Hamite
của người Ai Cập, chủng Sémile của người Do Thái và Lưỡng Hà, chủng Ấn Âu của tất
cả các dân da trắng hiện nay. Dân Albanie đông chỉ có hơn một triệu. Nhưng họ
không là một chủng riêng biệt đâu, mà là một chi của chủng Ấn Âu đấy.
Tất cả những người tìm nguồn gốc dân Việt mà không thành
công, đều do họ học thiếu khoa này hay khoa khác, vì viết về nguồn gốc một dân
tộc không có giản dị như viết về Tây Sơn chẳng hạn, chỉ cần có nhiều sử liệu là
có thể làm được, không cần phải biết khoa học nào khác hết.
*
Những người phủ nhận Đông Sơn Lạc Việt là tổ tiên của ta có đại
diện điển hình là V. Goloubew.
Đó cũng là một nhà bác học thiếu tinh thần khoa học.
Nhà bác học V. Goloubew đã quên mất sự thật này: Văn hóa là
cái gì rất là gạt gẫm, nó biến dạng con người rất là kỳ dị.
Người Ấn Độ ở nước Ba-kít-tăng thấy họ giống người Á Rập chớ
không giống Ấn Độ chút nào, chỉ vì một đàng theo văn hóa Á Rập, một đàng theo
văn hóa Ấn Độ, họ quên mất họ đồng máu Aryen với nhau.
Người Thái ở Vân Nam, cách đây 800 năm, thấy mình là Á Rập vì
họ theo văn hóa Hồi, và thấy người Xiêm khác hẳn họ mặc dầu cả hai đều là Thái
Vân Nam. Nhưng nay, cũng cứ người Thái ở Vân Nam thì lại tự thấy họ là Tàu vì họ
đã bị Tàu đồng hóa từ đời nhà Nguyên.
Còn về màu da thì như đã nói, người Mã Lai không thuộc chủng
da đen bao giờ, và khi đọc tới chương "Chủng Mã Lai" quý vị sẽ thấy họ
nằm giữa chủng da trắng và chủng da vàng. Sở dĩ họ hơi đen là vì nắng, bởi họ ở
quá gần đường xích đạo, chớ hồi mà họ còn làm chủ đất Hoa Bắc cách đây hơn 5000
năm thì họ trắng.
Buồn cười nhứt là tất cả các nhóm dân tộc gốc Mã Lai là: Mã
Lai, Chàm, Cao Miên, Thái Lan, Giarai, Bà Na, Sơ Đăng v.v. đều gọi dân Việt Nam
là "Man di", chỉ vì tất cả các nhóm Mã Lai ấy đều theo văn minh Ấn Độ,
còn ta là nhóm Mã Lai độc nhứt ở Đông Nam Á theo văn minh Trung Hoa, nên họ mới
thấy ta bằng con mắt Ấn Độ, con mắt này giống hệt con mắt Trung Hoa, hễ ai
không phải là Trung Hoa đều bị gọi là man di tuốt hết.
Danh từ mà họ dùng là danh từ Phạn Yuavana, có nghĩa là
"man di" và bị biến như thế này:
Mã Lai: Yuavan
Thái Lan: Yuôn
Chàm: Yuan
Miến Điện: Yuan
Cao Miên: Yuôn (Cáp Duồn)
Bà Na: Yuân
Rađê: Yoàn
Giarai: Yuân
Xi Tiêng: Yuơn
Mạ: Yen
Thật ra người Bà Na, Rađê, Giarai, Xi Tiêng, Mạ, không bao giờ
theo văn minh Ấn như Mã Lai, Chàm và Cao Miên, Thái Lan, nhưng xưa kia họ là thần
dân của Cao Miên và Chàm, nên họ gọi ta y theo chủ cũ của họ.
Ta không nên giận người Cao Miên, Thái Lan và Chàm, khi họ gọi
ta là "Man di", bằng ngôn ngữ Ấn Độ, chung quy cũng tại khi xưa họ dốt,
rồi thì nó quen miệng đi, chớ thật tình thì họ không hiểu danh xưng ấy có nghĩa
gì hết, cả trí thức của họ cũng không hiểu, mặc dầu trí thức họ rất thông Phạn
ngữ, họ không hiểu vì sự biến dạng đã xóa mất gốc Phạn đi.
Ở Sài Gòn có một người Ấn lai Việt làm ca sĩ, ca bằng tiếng
Việt, một người Pháp lai Việt làm kép cải lương, lu bù phụ nữ Trung Hoa lai Việt
làm đào cải lương, tất cả những tài tử đó đều xúc động thật sự vì lời ca giọng
hát của họ, chớ không phải là học thuộc lòng như cái máy, tức họ nghe họ có tâm
hồn Việt Nam thật sự, mặc dầu họ ý thức về nguồn gốc của họ.
Sự việc xảy ra như vậy, chỉ vì giáo dục, mà giáo dục là văn
hóa. Văn hóa biến tất cả, uốn nắn được tất cả, tròn ra vuông, đen ra trắng.
Trên đây là sự thật khoa học, đã được chứng minh bằng nhiều
cuộc thí nghiệm căn bản nổi danh, chớ không phải ý kiến của riêng chúng tôi.
Các nhóm Mã Lai đều tự thấy họ là Ấn Độ, riêng Mã Lai Việt và
Mã Lai Nhật, Mã Lai Đại Hàn thì lại hơi thấy mình là Tàu (Rồi quý vị sẽ thấy rằng
Nhật và Đại Hàn cũng đồng gốc Mã Lai như ta).
Riêng một nhóm Mã Lai kia thì hiện nay lại tự thấy họ là Tây.
Đó là Mã Lai Phi Luật Tân. Ngày xưa họ cũng theo văn hóa Ấn Độ, rồi Á Rập, y
như Nam Dương, nhưng họ bị người da trắng trị họ từ 500 năm nay, họ theo đạo
Kitô đến chín mươi phần trăm dân số, cảm nghĩ y như Âu Châu, với những ông tổng
thống tên là José Rizal, Manuel Roxas, Elpidio Quirino v.v.
Tất cả đều do văn hóa biến dạng hết thảy, kể cả lãnh vực sâu
kín nhứt của tâm hồn ta, văn hóa cũng biến được nữa, chớ không riêng gì vóc
dáng, đồ vật bên ngoài.
Tuy nói thế chớ ông V. Goloubew không có kém đến thế đâu mà không
biết lẽ đó. Nhưng ông là nhà khoa học, nên ông mà có không quên cái lẽ đó, ông
vẫn phải tôn thờ khoa học. Mà ở mặt khác, khoa học cũng dạy rằng văn hóa có biến
dạng con người sâu đậm tới đâu đi nữa, dấu vết cũ vẫn còn.
Mà những dấu vết cũ ấy, dấu vết Mã Lai, ông V. Goloubew tìm
mãi vẫn không thấy được trong xã hội Việt Nam ta ngày nay.
Dân Dravidien, chủ đất cũ thứ nhì của nước Ấn Độ (họ cũng là
Mã Lai đấy) đã bị quân xâm lăng Aryen cố xóa tẩy dấu vết văn hóa từ trên bốn
ngàn năm nay, nhưng không sao mà Aryen thành công được hết, và các nhà dân tộc
học thế giới tới đó nghiên cứu vài năm là biết rõ cả. Hơn thế, họ còn tìm được
dấu vết văn hóa Dravidien xâm nhập văn hóa Aryen nữa.
Nhưng ta thì chỉ bị Tàu xóa văn hóa có một ngàn năm, thì dấu
vết Mã Lai ở đâu, nói theo miền Nam, tức quá vội vàng kết luận.
Rồi các ông Tây, vì quá bí, bỏ trôi luôn, nên các ông khỏi sa
lầy sâu hơn. Chỉ có trí thức ta là lâm vào cảnh vua Đường sa nê, mà sa tới cổ.
Tìm nguồn gốc của dân tộc Việt Nam tại giai đoạn Đông Sơn như
là đi tìm Sài Gòn mà cứ dừng chơn tại Hội An. Thế nên các vị sử gia ấy cứ loay
hoay mãi với Đông Sơn mà không đi tới đâu hết. Chính vì ta sa lầy chứ không phải
Tây, vì như đã nói, họ phủi tay vì bí, sau khi làm xong công việc chính là khảo
tiền sử.
Tuy nói thế, chớ trong quyển sách này, chúng tôi cũng có tìm
những cái khoen nối kết đó, mặc dầu nền văn minh Đông Sơn không nói lên được
cái gì cả. Nguồn gốc dân tộc ta phải nhiều ngàn năm cổ hơn thế kia.
Nhưng chúng tôi vẫn tìm để xem Đông Sơn có phải là Việt Nam hay
không và nếu phải thì ta lại được biết một giai đoạn của cổ sử ta trên đường
tìm về thượng cổ sử.
Và mặc dầu không kể Đông Sơn, chúng tôi cũng làm việc cho
Đông Sơn một cách khoa học hơn những ông O. Jansé và V. Goloubew.
Vậy tới đây thì thiên hạ đã Trãi qua hai cuộc sa lầy rưỡi từ
1918 đến 1964, năm mà chúng tôi khởi thảo sách này, sau nhiều năm học hỏi:
Sa lầy thứ nhứt của hai ông L. Aurousseau và H. Maspéro là chỉ
dựa vào cổ sử Tàu.
Sa lầy thứ nhì của tất cả mọi người vì ngỡ nguồn gốc dân ta ở
tại giai đoạn Đông Sơn.
Phân nửa một cuộc sa lầy thứ ba là không biết thuật ngữ
Indonésien có nghĩa là gì.
Cho đến năm 1964 thì đáng lý ra ta đã thoát khỏi được cuộc sa
lầy thứ ba đó, nhưng ta vẫn không thoát, và chúng tôi xem đó là cuộc sa lầy lớn
thứ ba.
Đến năm 1964 thì kết quả của khoa khảo tiền sử đúng đã được
công bố. Chúng tôi nhấn mạnh về chữ đúng, vì vụ Đông Sơn là một cuộc sai lầm
như đã nói.
Một số trí thức Việt Nam mà chúng tôi chỉ đúng tên, thí dụ
ông Phạm Việt Châu, đã biết kết quả đó, và nhứt là không ngộ nhận vì danh xưng
Anh Đô Nê-diêng.
Nhưng nhà trí thức họ Phạm lại không viết sử. Thật là quá uổng.
Ông chỉ viết chuyện khác, nhưng cho ta thoáng thấy là ông có biết tài liệu đó,
và hiểu đúng các danh từ, danh xưng trong tài liệu.
Khoa khảo tiền sử đúng đó là như thế này: đào bới để tìm cho
đủ sọ của các chủng tộc có mặt trong lãnh thổ Việt Nam từ 15 ngàn năm tới nay.
Đó là công việc mà Patte, Colani, Mansuy đã làm rồi. Nhưng
không đúng, vì còn phải biết những con người ấy từ đâu đến cổ Việt, và đến vào
năm nào, hay là họ phát tích tại cổ Việt, công việc mà ba nhà bác học trên
không có làm, nhưng các sử gia ta lại dựa vào đó.
Khảo tiền sử đúng là cái công trình lớn lao thứ nhì ấy chớ
không phải là công trình của ba nhà bác học được kể tên trên kia.
Nhưng đó chỉ là việc khảo tiền sử.
Viết sử lại còn khác hơn rất xa.
Chúng tôi thí dụ là các ông ấy đã tìm được 8 loại sọ của 8 chủng
tộc khác nhau.
Muốn biết tổ tiên ta là ai, nhà viết sử phải đo sọ của ta
ngày nay rồi đối chiếu với các sọ đời xưa, có thế mới biết rõ nguồn cội của ta,
chớ cứ đoán mò mãi thì làm thế nào mà đi tới một kết quả được khoa học nhìn nhận.
Và cũng nên biết rằng sọ của một chủng, không thay đổi trong
vòng 10 ngàn năm thì sự đối chiếu ấy có đủ giá trị chứng minh khoa học.
Hiện nay có sách nói ta là Tàu thuần chủng, có sách nói ta là
một chủng riêng biệt, có sách nói mù mờ một cách cố ý, vì không biết chắc cái
gì, nhưng không sách nào có làm cái công việc độc nhứt mà khoa học bằng lòng
nhìn nhận, tức đo sọ của người Việt Nam hiện đại để đối chiếu với những sọ cổ
đào được ở Cổ Việt, tức Bắc Việt ngày nay.
Hơn thế, khi chưa bước sang giai đoạn viết sử, chỉ ở giai đoạn
học khoa khảo tiền sử đúng mà thôi, thì nếu có ai muốn sử dụng cái khoa khảo tiền
sử đúng ấy, cũng không dễ gì sử dụng, bởi phải còn kiểm soát lại xem quả nó có
đúng hay không.
Nhưng kiểm soát công việc của một trăm nhà bác học làm việc
khắp Á Đông trong vòng bốn mươi năm, thì kể ra phải lao lực quá sức một cá
nhân, ít ai đủ can đảm làm.
Công việc kiểm soát ấy lại đòi hỏi qua nhiều khoa học chuyên
môn, mà thường thì một cá nhân, nếu không vì một quyết tâm nào, không học làm
gì cho mất công.
Riêng về công việc viết sử cho Việt Nam, ta lại vấp phải danh
xưng bí hiểm của khoa khảo tiền sử là danh xưng Anh Đô Nê-diêng mà ta không biết
là cái gì, hoặc tưởng là "Mọi".
Ta cũng lại không hiểu tiếp đầu ngữ Austro chỉ có nghĩa
là Phương Nam, và cứ dịch ra là Úc Châu, Úc Đại Lợi mãi.
Kiểm soát đã khó, mà không hiểu danh từ thì lại càng vô
phương.
Thế nên, nếu có vài vị hiếm hoi biết được kết quả của công việc
khảo tiền sử đúng, cũng chẳng ai dùng nó được để mà viết thượng cổ sử cho dân tộc
Việt Nam.
Công việc khảo tiền sử đúng, ám chỉ trên kia, đã được giới
khoa học thế giới kiểm soát rồi, nhưng họ chỉ kiểm soát để biết các nhà khảo tiền
sử ấy làm việc có đúng hay không chớ không có kiểm soát về khía cạnh ăn khớp với
thượng cổ sử Việt Nam.
Nói cách khác, nhà viết sử phải kiểm soát lại, nhưng dưới các
khía cạnh khác, chớ không phải kiểm soát về phương diện khảo tiền sử.
Khoa khảo tiền sử nói đến 8, 9 chủng ở Việt Nam, chớ không phải
chỉ nói đến một chủng, và chủng nào trong 8, 9 chủng ấy đúng là chủng của ta,
thì chỉ có nhà viết sử mới biết khi họ đối chiếu những chủng ấy với ta, về đủ cả
mọi mặt: phong tục, cái sọ, ngôn ngữ, kiến trúc v.v.
Thế nên chúng tôi mới nói rằng mặc dầu công trình khảo tiền sử
đúng đã hoàn tất sứ mạng của nó, các sử gia viết về thượng cổ sử Việt Nam vẫn
có còn sa lầy.
Cuộc sa lầy thứ ba này hiện chỉ đang ngấm ngầm vì chưa ai có
tác phẩm hết. Họ chỉ sa lầy vì không biết làm thế nào để biết sọ của người Việt
hiện là sọ của chủng nào, trong bao nhiêu sọ cổ đào được ở Bắc Việt, cái nôi thứ
nhì của dân tộc ta.
Cái nôi thứ nhứt, lại ở nơi khác, mà khoa khảo tiền sử cũng
đã cho biết rõ, nhưng cũng không ai hay, mà có hay cũng chẳng kiểm soát được.
Năm mà quyển Việt Nam thời khai sinh của giáo sư
Nguyễn Phương ra đời, năm 1965, thì tài liệu đã được công bố từ ba năm rồi, ở
Bá Lê từ năm 1962, nhưng sách chỉ tới Sài Gòn năm 1964. Có lẽ sử gia Nguyễn
Phương cũng có đọc cuộc công bố mới ấy, nhưng vì không kiểm soát được bằng hai
khoa chủng tộc học (Anthropologie Physique) và ngôn ngữ tỷ hiệu (Etudes
comparatives des langues) thành thử giáo sư đành bỏ qua. Giáo sư lại không biết
Indonésien, Mélanésiens là gì thì lại cũng không thể kiểm soát được cái gì.
Giáo sư đã bắt được một chứng tích cụ thể là cái lưỡi rìu có
tay cầm, nhưng cũng chẳng dùng được, vì chính những người đào được lưỡi rìu ấy:
Mansuy, Colani, Patte, cũng chẳng biết dân có có lưỡi rìu từ đâu tới, và liên hệ
thế nào để tới dân Việt Nam.
Thành thử cái lưỡi rìu có tay cầm, chứng tích khổng lồ ấy chỉ
được giáo sư Nguyễn Phương nói phớt qua vài tiếng rồi thôi, vì Mansuy, Colani,
Patte chỉ làm việc tại Đông Pháp, không thể biết nhiều được, mà giáo sư họ Nguyễn
thì chỉ đọc có ba nhà đó.
Tài liệu trên bán đầy đường khắp ngõ năm 1964 ở Sài Gòn, chớ
không phải là tài liệu bí mật, nên được rất nhiều báo dịch, nhưng báo chí vẫn cứ
vấp phải vấn đề danh từ, hết ngộ nhận về danh xưng Indonésien rồi,
nhưng lại ngộ nhận về các danh từ khác, chẳng hạn tĩnh từ Austro, chỉ có nghĩa
là Phương Nam lại được dịch là Úc Châu, hoặc Úc Đại Lợi.
Sử dụng danh từ như thế đó, chỉ làm rối ren vấn đề, chớ không
soi sáng nó chút nào hết.
Sử là một khoa học. Nếu có những cuốn sử hay về văn chương
thì nó cũng được xem là những văn phẩm, nhưng không mất, và không được phép mất
tánh cách khoa học của nó, tánh cách này quan trọng hơn tánh cách văn chương nhiều
lắm vì một quyển sử văn hay đến đâu mà viết sai sự thật thì chẳng còn giá trị
nào, trong khi một quyển sử đúng sự thật một cách khoa học mà văn dở, vẫn còn đủ
giá trị một quyển sử quan trọng.
Với Michelet, thiên hạ sắp môn sử vào văn học, nhưng với Augustin
Thierry thì quan niệm của thế giới đã khác rồi. Ngày nay mặc dầu sử cứ còn được
giảng ở các phân khoa văn khoa, ở bất cứ nước nào cũng thế, nhưng người ta vẫn
xem nó là một khoa học gần như là chính xác, hay có tham vọng vươn tới sự chính
xác.
Khoa học cốt đúng sự thật không gây ngộ nhận, chớ không ham cạnh
tranh với văn chương.
Là khoa học, môn sử phải có căn bản và tiêu chuẩn khoa học.
Giáo sư Kim Định đã gây ngộ nhận (Việt lý tố nguyên) làm cho
nhiều người tưởng lầm rằng chỉ dùng khoa học để viết sử không còn hợp thời nữa,
và ở Âu Mỹ, người ta dùng huyền thoại và truyền thuyết.
Làm gì có chuyện ấy. Những quyển sách mà giáo sư ám chỉ đến,
chúng tôi đều có đọc, giáo sư đọc Granet nhiều nhứt, chúng tôi cũng đọc Granet
nhiều nhứt. Và chính Granet khoa học triệt để đó chớ. Họ chỉ bổ túc những điểm
sử thiếu tài liệu chính xác bằng truyền thuyết và huyền thoại, chớ họ không bao
giờ dám đặt Mythos lên trên Logos cả.
Sự bổ túc ấy thỏa mãn được nỗi bực tức của kẻ bí vì thiếu tài
liệu, nhưng không hề được xem là sự thật, mà chỉ là sự thật thoáng thấy, có khi
đúng, có khi không, nhưng những người dùng phương pháp đó, phải là những nhà
khoa học lỗi lạc, tức họ sử dụng sự mơ hồ một cách rất khoa học, chớ không phải
vá víu càn bừa.
Nhưng Granet không có viết sử. Ông chỉ tìm hiểu văn minh cổ của
Tàu qua các cổ thư Tàu, nhứt là qua Kinh Thi. Ông đã thấy được một cách bất
ngờ những điều mà chính người Tàu cũng không thấy, từ hơn hai ngàn năm nay.
Nhưng ông vẫn có những kết luận sai, kể cả ông H. Maspéro, cũng là người dựa
theo Granet thường nhứt, bởi những điều mà các ông ấy thoáng thấy và ngỡ là
đúng, chỉ là thoáng thấy. Các ông ấy đã lầm mà không hay biết, mà nay khoa khảo
tiền sử và khoa chủng tộc học đã cho thấy là các ông ấy sai ở rất nhiều điểm.
Về nguồn gốc của một dân tộc thì khoa học chỉ nhìn nhận có ba
chứng tích sau đây:
Khoa chủng tộc học
Khoa khảo tiền sử
Khoa ngôn ngữ tỷ hiệu (études comparatives des langues).
Sở dĩ ba cuộc sa lầy nói trên mà đã xảy ra, chỉ vì các sử gia
đã bất chấp cái bản khoa học đó. Có người muốn sử dụng nó, nhưng không đủ điều
kiện, thí dụ giáo sư đại học Nguyễn Phương đã sử dụng khoa khảo tiền sử, nhưng
chỉ vì đọc có tài liệu Đông Pháp, nên hóa ra như không có sử dụng khoa khảo tiền
sử. Ông chỉ khai thác khoa khảo tiền sử có một phần mười là các công trình đào
bới ở Bắc Việt, trong khi đó thì dân ta lại từ 15 ngàn cây số cách đó, di cư đến
mà không phải là từ các đảo Mã Lai đâu nhé, hóa ra, có tiến bộ, ông vẫn sa lầy
như L. Aurousse là người dùng độc một nguồn sử Tàu.
Chỉ khi nào thiếu ba chứng tích nói trên, người ta mới bắt buộc
dùng huyền thoại và truyền thuyết. Nhưng đó không phải là trường hợp của dân tộc
ta. Ta còn đủ cả ba chứng tích mà còn một cách chính xác ngoài sức tưởng tượng
của những người không tìm tòi học hỏi.
Người có sách sau hơn hết là giáo sư đại học Kim Định. Nhưng
ông này thì công khai tuyên bố rằng không thèm sử dụng khoa khảo tiền sử vì nó
mơ hồ (Việt lý tố nguyên).
Nhưng chúng tôi có bằng chứng chắc chắn trong tay rằng giáo
sư Kim Định không hay biết kết quả của khoa khảo tiền sử ở Á Đông nên mới
dám nói như thế. Kết quả ấy đúng và chính xác đến làm cho người ta có cảm giác
rằng họ nhìn được vào quá khứ u minh bằng một con mắt thần, không có mơ hồ một
chút xíu nào hết.
Đây là bằng chứng cho thấy giáo sư Kim Định chưa biết kết quả
của khoa khảo tiền sử ở Á Đông.
Kết quả ấy có đã lâu rồi, nhưng chúng tôi không có được, vì
như đã nói, phần lớn chưa in thành sách, còn tạp chí thì tản mát khắp thế giới,
lại viết bằng nhiều thứ tiếng mà chúng tôi không thạo. Nhưng ông G. Cocdès đã
tóm lược lại trong một quyển sách xuất bản tại Ba Lê năm 1962, mà mãi cho đến
năm 1964 chúng tôi mới được đọc.
Theo kết quả đó thì chủng Mã Lai từ Hoa Bắc di cư đến Đông
Nam Á cách đây năm ngàn năm.
Trong khi đó thì giáo sư Kim Định, sau khi bác bỏ nguồn gốc
Mã Lai bởi ngộ nhận vì lời của ông O. Jansé, khuyên ta đừng tìm nguồn gốc tổ
tiên ta trong khối Mã Lai ở phương Nam. Ông nói thế vì ông chỉ biết có khoa địa
lý sai vào các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, khoa đó cho rằng chủng Mã Lai phát tích
tại Nam Dương, và ông chỉ biết có vụ Đông Sơn là một cuộc sa lầy.
Không thể chối cãi rằng giáo sư không có học khoa khảo tiền sử.
Ấy thế mà giáo sư lại dám lên án rằng nó mơ hồ, trong khi nó chính xác một cách
làm ta kinh ngạc.
Nếu có học khoa ấy, ông đã biết rằng sách xưa nói đến gốc
phương Nam của Mã Lai chủng là sai, ông đâu có khuyên ta đừng tìm gốc nơi khối
Mã Lai ở phương Nam.
(Nhưng thật ra thì Mã Lai chủng cũng không có nguồn gốc ở Hoa
Bắc đâu. Chủng đó xuất phát từ phía Tây nước Tàu, quanh Cao nguyên Tây Tạng, nhứt
là dưới chơn núi Himalaya, như ta sẽ thấy ở các chương sau).
Nhà triết học Kim Định có ý kiến khác hơn giới khoa học về vấn
đề căn bản sử. Theo vị giáo sư đại học triết đó (V.L.T.N. trang 35), thì
"Đám tân học nay lại chỉ căn cứ trên một số sử kiện khách quan hẹp
hòi".
Thật tình thì đám tân học không căn cứ trên sử kiện, mà trên
sự kiện nhưng không có hẹp hòi chút nào cả, chỉ vì họ biết chắc một trăm phần
trăm rằng nhảy ra khỏi vòng rào sự kiện là sai. Và khoa viết sử nghiêm khắc của
họ càng ngày càng chính xác, nó tiến chậm, nhưng trên những bước vững chắc vô địch.
Ở trang 58 và 59 giáo sư cho rằng Tần là chính gốc Viêm tộc
mà theo giáo sư Viêm tộc là Việt tộc.
Nhưng sao Tàu lại có câu tục ngữ ngàn đời "Tần phi Việt
sấu?". Nếu Tần là Việt thì phải Sấu y hệt như Việt ấy chớ?
Nói như thế xong thì ở trang 216, ông lại cho rằng văn minh
phương Tây là của Hoa tộc, văn minh phương Đông là của Việt tộc, và ở trang 217
ông phát triển cái ý đó ra là bên Chiêu vì là Việt văn minh nên được trọng, và ở
trang 218 ông lại cho rằng Tần là đại diện Tàu du mục và hung hãn từ Tây tràn
sang Đông tàn phá văn minh của Việt ở đó.
Vậy Tần là Việt hay là Tàu đây?
Muốn biết Tần là Tàu hay Việt mà Việt là ai, bọn tân học và
khoa học thỉ chung như nhứt, chỉ bằng vào cái sọ mà hễ nói rồi là không nói ngược
lại như ông ở trang 58-59 và trang 218.
Cứ hẹp hòi, dốt nát như bọn tân học vậy mà có đầu có đuôi,
người học sử còn biết đâu là đâu, chớ lung tung thì chẳng ai còn biết ai là ai
nữa. Tần là Việt, nhưng Tần lại phì, Việt lại sấu, Tần là Việt, nhưng lại là
Tàu phương Tây tàn phá văn minh Việt ở phương Đông.
Rốt cuộc người học sử cứ vẫn như chưa học vì vẫn chưa biết Tần
là Tàu hay là Việt.
Muốn biết Tần là Tàu hay là Việt thì quá dễ. Cứ học lại sử
Tàu (sử thành văn chớ không phải truyền thuyết). Nhà Thương phong cho tổ nhà
Chu là người Tàu cái đất Thiểm Tây cũng gọi là đất Kiểu (đọc theo miền Bắc là Cảo)
để tiêu diệt rợ Khuyển Nhung.
Khi nhà Chu lên thay thế cho nhà Thương thì nhà Chu cũng lại
phong cho một người Tàu khác là tổ của nhà Tần để tiếp tục công việc diệt rợ
Khuyển Nhung ở đó, vì khi xâm nhập vào Hoa Bắc họ định cư ở Sơn Tây mà chừa Thiểm
Tây ra vì đó là đất của Khuyển Nhung, một thứ dân Lạc bộ Chuyện, rất dữ tợn mà
họ phải mất hàng ngàn năm mới tiêu diệt được.
Thế thì Tần làm sao mà là Việt, mà là Khuyển Nhung được hở trời!
*
Nhưng nếu có ai học khoa khảo tiền sử và biết kết quả của các
công trình đào bới ở Á Châu, và nhứt là hiểu được những danh từ bác học trong
đó, cũng không viết về nguồn gốc của dân ta mà đúng được, vì phải kiểm soát lại
khoa đó bằng hai khoa quan trọng khác là khoa chủng tộc học và ngôn ngữ tỷ hiệu,
như đã nói.
Khoa khảo tiền sử cho biết chủng Mã Lai từ Hoa Bắc di cư sang
Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Đông Nam Á và Nam Dương. Chỉ có thế thôi. Họ có đủ
bằng chứng là cái sọ và dụng cụ của chủng đó trên lộ trình di cư. Nhưng cái sọ
của dân ta là sọ Tàu như sử gia Nguyễn Phương đã quả quyết, hay là sọ Mọi? Ngôn
ngữ của ta là tiếng Tàu như sử gia Nguyễn Phương đã khẳng định hay là tiếng
Tây?
Ấy thế, ba khoa đó kiểm soát lẫn nhau một cách chằng chịt mà
nếu học sót một khoa là không làm nên việc rồi, phương chi đa số lại bất chấp cả
ba khoa căn bản ấy, còn giáo sư Nguyễn Phương có kể đến một khoa, nhưng lại chỉ
biết phiến diện là công trình đào bới ở Bắc Việt mà thôi, lại không hiểu Anh Đô
Nê-diêng có nghĩa là cổ Mã Lai.
Chúng tôi làm việc theo phương pháp quốc tế là sử dụng ba
khoa nói trên làm chứng tích chủ lực, và theo tinh thần quốc tế là tinh thần
khoa học.
Tuy nhiên, những yếu tố phụ thuộc vẫn được dùng để kiểm soát
thêm, thí dụ truyền thuyết Việt Nam, thượng cổ sử Trung Hoa, Ấn Độ v.v.
Nơi đây cũng xin nhắc lại ông Kim Định, giáo sư đại học Kim Định
đã vơ đũa cả nắm, mạt sát những người Việt Nam làm việc theo tinh thần khoa học
là bọn học chưa tiêu hóa mà muốn bảo hoàng hơn ông vua, không hay biết rằng Âu
Mỹ đã bỏ khoa học trong địa hạt tìm vết xưa mà trở về với huyền thoại và truyền
thuyết nhiều hơn.
Sự thật thì ở xứ ta quả có một bọn khoa học tập sự, chưa tiêu
hóa nổi tinh thần Cartésien và bảo hoàng hơn vua, nhưng không phải là người Việt
Nam nào cũng thế.
Mà chính giáo sư mới là chưa tiêu hóa nổi tinh thần làm việc
mới của Âu Mỹ là trở về với huyền thoại và truyền thuyết. Họ dung hòa, chớ
không bao giờ họ bỏ khoa học của họ.
Giáo sư cũng chủ trương rằng mình dung hòa, nhưng trong Việt
lý tố nguyên, ta thấy giáo sư bỏ tinh thần khoa học từ trang đầu đến trang
chót, tưởng tượng cái gì nói cái ấy ra, theo ý muốn của mình, bất chấp cả những
sự kiện lịch sử rõ ràng nhứt mà không ai cãi được hết.
Giáo sư chỉ đọc có Colani, Mansuy mà ngày nay đã bị thấy là
sai rồi, nhưng giáo sư không hay, cứ trích dẫn họ, rồi lại chê khoa khảo tiền sử
là mơ hồ, trong khi nó đúng một trăm phần trăm. Giáo sư dựng đứng lên một chủng
tộc, chủng không bao giờ có mặt trên quả địa cầu.
Giáo sư có những quả quyết bất chấp lý trí sơ đẳng, không cần
gán tội cho khoa học, người thường cũng không ai nhìn nhận quả quyết đó.
Thí dụ Tư Mã Thiên cho rằng dân Sở họ Mị. Giáo sư bảo rằng
Mị do Mễ đọc trại ra, mà Mễ là vì dân Việt ở nước Sở theo văn minh nông nghiệp,
có lúa gạo.
Sự thật thì văn Tàu nói không minh bạch chớ chỉ có vua nước Sở
tức tổ tiên của họ Hùng là mang họ Mị còn dân thì không. Dân Sở đông
bao nhiêu, ta không thể biết, nhưng cứ bằng vào quân số mà Tần dùng để đánh Sở,
mà sử Tàu có chép là 600 ngàn, thì ta ước lượng nước Sở phải đông lối 10 triệu
dân.
Nếu 10 triệu người đều mang họ Mị cả thì làm thế nào để kết
hôn với nhau?
Đó là chúng tôi suy luận để biết sự thật, vì thấy Tư Mã Thiên
viết một điều kỳ diệu, nhưng rồi sự thật ấy cũng hiện rõ ra ở các sách khác, là
chỉ có tổ của họ Hùng là ngày xưa mang họ Mị, còn dân thì không,
vì dân đã di cư vào Kinh Cức 500 năm trước khi họ Hùng được phong tước Tử ở Sở.
Dân đó mang đủ thứ họ, y như ở Hoa Bắc, chớ không hề mang họ
Mễ, mặc dầu họ trồng Mễ và ăn Mễ, khác hơn dân Hoa Bắc.
Hơn thế tổ tiên của vua nước Sở lấy họ Mị vào thời mà dân
Trung Hoa chưa biết lúa gạo, thời chưa có nước Sở, chưa được phong ở Sở mà ở
Hoa Bắc thì cây Mễ lại không mọc được.
Như vậy làm thế nào để họ biết Mễ hầu dùng cái từ đó để
làm Họ rồi biến âm ra là Mị?
Ta sẽ thấy rằng mãi cho đến ngày nay, dân Hoa Bắc vẫn ăn lúa
mì, vì cây Mễ không mọc được ở đó. Chỉ có khác là nhờ thông thương dễ nên họ biết
cây Mễ và danh từ Mễ, còn vào thời mà tổ tiên của họ Hùng còn lấy họ Mị,
chưa cải sang họ Hùng thì Hoa Bắc không biết Mễ.
Hai chữ đó lại đọc hơi giống nhau là hơi giống trong Việt ngữ
chớ trong Hoa ngữ thì không, mà tự dạng cũng rất khác nhau, không thể có vấn đề
lầm lẫn được.
Lần lượt ta sẽ thấy rằng giáo sư Kim Định không có dung hòa
gì cả mà hoàn toàn tưởng tượng để lập thuyết theo ý muốn của ông.
*
Phương pháp khoa học quá khắt khe thường làm cho thiên hạ bị
vấp ngã khi làm việc theo phương pháp, đành phải bỏ dở công trình, thành thử
nhiều người có thiện chí tức mình, đâm ra oán ghét nó, mà tiêu biểu nhứt là nhà
học giả Lê Văn Siêu.
Chúng tôi nói tiêu biểu là ông Lê Văn Siêu là người độc nhứt
đủ can đảm tấn công một cách nghiêm trang phương pháp học và tinh thần khoa học,
chớ không phải chửi bậy bạ như nhiều người khác, họ cho rằng Tây muốn dìm ta
nên bày ra những hàng rào ngăn đón để ta không làm việc được.
Ông Lê Văn Siêu cho rằng phương pháp học quá "cứng rắn"
đối với trường hợp Đông Sơn nó là "một ngoại lệ" (?), ngoại lệ vì lớp
sơn Trung Hoa quá dày đã xóa gần hết rồi, còn làm sao mà tìm ra cái gì cho được
nữa.
Ông Lê Văn Siêu chủ trương "biến phương pháp học
theo đối tượng nghiên cứu", còn các nhà bác học Âu Châu thì "ép
đối tượng nghiên cứu theo phương pháp học".
Nhưng phương pháp học không phải được lập ra không cân nhắc.
Không ai mua dây buộc mình làm gì, mà chỉ vì không có phương pháp học thì phải
sai lầm nên các nhà bác học mới cúi đầu khuất phục phương pháp học.
Ông Lê Văn Siêu đã sai lầm ngay tức thì, sau khi bất chấp
phương pháp học, sau khi "biến", sau khi "dễ dãi" trong
việc nghiên cứu.
Ông viết: "Ta phải kết luận rằng gốc chính nằm ở
trung bộ đồng bằng sông Mã, tức Thanh Hóa bây giờ, mà không phải ở Phong Châu
(Phú Thọ), (trang 57).
Ông kết luận như vậy, bất kể khoa học, vì ông thấy quả cổ vật
đã đào được ở Thanh Hóa. Nhưng để rồi xem.
Rồi ông lại cắt nghĩa tại sao trung tâm lại ở Thanh Hóa "Muốn
tới Phong Châu, phải vượt qua cả một vùng lầy lội (vì) nước biển Bắc Việt còn
lênh láng tới Việt Trì bây giờ".
Nhưng những cuộc khai quật liên tiếp từ năm 1924 đến năm 1970
đã chứng tỏ hai điều trái hẳn với kết luận của ông Lê Văn Siêu:
1. Cổ vật của nền văn minh Đông Sơn tại lưu vực sông Nhị Hà,
sáu lần nhiều hơn tại lưu vực sông Mã.
Phương pháp học đã phải nín im non 40 năm mới dám kết luận,
và phương pháp học đúng, còn ông Lê Văn Siêu, vì bất chấp phương pháp học thì
như thế đó. Phương pháp học không cho phép kết luận cái gì hết khi chưa có bằng
chứng. Chưa đào đủ khắp nơi, sao lại dám quả quyết rằng trung tâm văn minh là ở
Thanh Hóa?
Chỉ có sự vắng mặt của cổ vật ở các nơi khác; hoặc sự hiếm
hoi của các cổ vật ở các nơi khác mới là bằng chứng rằng trung tâm là Thanh
Hóa. khoa học có lý mà cứng rắn, và các nhà khảo cứu có lý mà nô lệ khoa học.
2. Cuộc khai quật ở Việt Khê (Hải Phòng) đã cho thu lượm được
cổ vật trước thời Đông Chu Liệt quốc, cổ vật nhập cảng, chưa được dùng tới vì
chưa có dấu vết được dùng tới. Thế nghĩa là dưới thời Đông Chu Liệt quốc, vịnh
Bắc Việt đã thành hình rồi chớ không hề có vấn đề nước biển lênh láng tới Việt
Trì.
Phương pháp học không cho phép tưởng tượng để quả quyết cái
gì hết. Muốn biết thuở ấy tại vịnh Bắc Việt, có đất hay chưa, chỉ có một phương
pháp độc nhứt là nghiên cứu đất ở Hải Phòng để xem coi đó là đất còn trinh, đất
mới bồi, hay đất có chứa cổ vật, mà cổ đến mức nào, tức phải định tuổi đích xác
cổ vật đào được. Thấy đồ Tàu thời Đông Chu, không có nghĩa là đồ ấy được chôn ở
đó vào thời Đông Chu mà còn phải xem bằng kính hiển vi coi nó có được dùng lần
nào chưa. Nếu đồ đã được dùng thì có thể người ta nhập cảng vào Việt Trì thời
Đông Chu, dùng cho tới thời Đinh Bộ Lĩnh, nó mới trôi dạt tới Hải Phòng. Cổ vật
Hải Phòng không có dấu vết được dùng thì mới kết luận được rằng đúng là cổ vật
bị chôn vào thời ấy, và ở đó đã có đất rồi, hơn thế, đó là đất trọng yếu vì cổ
vật tìm thấy trong một ngôi mộ, rất có vẻ là mộ vua, bằng vào sức lớn của chiếc
hòm (săng), chiếc hòm ấy dài tới 4th70, trong khi những chiếc hòm kế cận và đồng
thời, chỉ dài có 2 thước mà thôi.
Sử gia Nguyễn Phương cũng đã dựa vào sự đất chưa thành hình ở
đó để bác thuyết của Madolle.
Nhưng cả ông Lê Văn Siêu lẫn giáo sư Nguyễn Phương đều không
có đọc sách địa chất học về Đông Dương. Sách ấy đã có rồi vào năm mà hai ông
bác bỏ người khác, các sách ấy cho biết rằng đất châu thổ Bắc Việt đã thành
hình hẳn từ sáu bảy chục ngàn năm rồi.
Tiếc rằng cuốn sách phổ thông Lịch sử thành lập đất Việt ra
đời quá trễ (cuối 1970).
Cuộc đào mồ ở Việt Khê là chứng tích của Việt Nam do sự tình
cờ hơn là do khoa học. Chứng tích của ông G. Cocdès còn kinh hồn hơn nữa.
Ông nghiên cứu tỉ mỉ địa chất ở bờ biển Bắc Việt với những
con số đích xác, và ông cho thấy các con số sau đây:
Từ năm 1830 đến năm 1930 đất lấn ra biển được 10 cây số trong
vòng 1 trăm năm đó.
Nhưng từ 1470 đến 1830 thì chỉ lấn được có 3 cây số mỗi một
trăm năm.
Tại sao mà xưa đất lấn ra ít mà nay thì nhiều? Nay có những
ông Phạm Công Trứ, còn xưa thì không, càng xưa càng không. Chính ở miền Nam
cũng vậy. Đất phù sa ở bờ biển, không thể thành đất được, nếu con người không
xen vào, đắp đê, trồng mắm, trồng tràm, để cho phù sa chìm, nổi lần lên. Phù sa
có tuôn ra thật đó, nhưng nó cứ ở dưới mặt biển khá sâu, và bờ biển xưa sao,
nay vậy, nếu không có công trình nhân tạo. Từ 1830 thì dân ta noi gương Phạm
Công Trứ tự động biến thương hải thành tang điền, còn trước Phạm Công Trứ thì đất
đai ta xưa nay không khác bao nhiêu.
Bờ biển Trung Việt thì lại lở, nhưng cũng chẳng bao nhiêu. Việc
lở bồi phải mất hàng trăm ngàn năm, chớ hàng ngàn năm cũng chẳng cho thấy gì
đáng kể, khoa địa chất học đã chứng minh như vậy.
Kỹ thuật lấn đất cũng do ông Phạm Công Trứ phát minh ra năm
1660 nhưng từ 1660 đến 1830, không phải dân ta bắt chước được như từ 1830 về
sau, bởi thường có giặc giã, biến loạn, vả lại thuở ấy cũng chưa thiếu đất một
cách bi thảm như từ năm 1830, nên tuy sáng kiến đã có nhưng trong (1830-1660)
170 năm đầu thì sự áp dụng không đáng kể. Nhưng cũng còn tùy nơi. Như ở Việt
Khê thì xưa sao nay vậy vì phù sa không phải nằm bất kỳ ở đâu, dọc theo bờ biển,
mà tùy thuộc dòng nước biển ngầm rất nhiều.
Trường hợp điển hình nhứt là sông Cửu Long. Sông ấy đưa phù
sa ra biển còn nhiều hơn sông Hồng Hà nữa. Thế mà theo nghiên cứu của ông
Malleret thì đất ở các cửa biển Cửu Long từ xưa đến nay không được bồi thêm
chút nào cả!
Vậy phù sa ấy đi đâu? Nó đánh một vòng thật lớn, đi qua khỏi
mũi Cà Mau rồi nó mới tấp vô bờ, nhờ ảnh hưởng của gió mùa Tây Bắc tại miền Nam
nước Việt.
Nhưng nếu ông Lê Văn Siêu không có học địa chất Việt Nam, ông
cũng có thể biết được rằng ông sai lầm, bằng vào những đoạn sử Tàu đã được phổ
thông từ lâu rồi.
Hậu Hán thư cho biết rằng thuở Mã Viện tới, tức sau khi
người Đông Sơn được chôn có 31 năm, thì dân Giao Chỉ đã giỏi làm ruộng, còn dân
Cửu Chơn thì còn săn bắn và câu kéo.
Thanh Hóa thuộc Cửu Chơn. Làm thế nào mà trung tâm lại nằm ở
cái nơi mà dân chưa biết trồng trọt, chớ không phải ở cái nơi mà dân đã giỏi
làm ruộng.
Hậu Hán thư lại cho biết rằng luật pháp của Giao Chỉ
khác luật pháp Tàu đến 10 điều. (Thành ngữ Tàu "Khác 10 điều, có nghĩa là
mỗi-mỗi mỗi khác). Thế nghĩa là Giao Chỉ đã có luật pháp, còn Cửu Chơn thì
không?
Sao trung tâm lại nằm ở nơi man dã được?
Trên đây chỉ là suy luận, nhưng suy luận cũng là một yếu tố
mà phương pháp học thường dùng, khi nào không có tài liệu.
Tưởng mấy trường hợp nêu ra trên đây đủ chứng minh giá trị
không thể chối cãi của phương pháp học mà nếu bỏ học đi, hoặc mềm dẻo một chút
là các nhà khảo cứu sẽ phải đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.
Khoa học cho phép lập giả thuyết, khi nào tuyệt đối không có
tài liệu. Nhưng lập xong, phải kiểm soát giả thuyết bằng những sự kiện khác xem
có ăn khớp với giả thuyết đó hay không. Việc lập giả thuyết thì quá dễ, nhưng
kiểm soát thì khó khăn vô cùng, chính vì việc kiểm soát đòi hỏi phải biết quá
nhiều việc khác.
Ông Lê Văn Siêu, ở trang 114 đã lập ra cái giả thuyết này là
loạn Chiến Quốc bên Tàu, đã khiến một số hảo hán Trung Hoa chạy trốn sang Thanh
Hóa (cũng cứ Thanh Hóa) và chính bọn ấy đã dạy vua An Dương Vương bí quyết chế
tạo nỏ.
Ông Lê chứng minh giả thuyết đó bằng luận cứ này: tại sao khi
thua Triệu Đà, An Dương Vương không chạy đi hướng nào khác mà chạy về phía
Thanh Hóa, có phải chăng là để tìm các tay hảo hán đó? Ta thử kiểm soát lại
xem:
Vua An Dương Vương làm thế nào để chạy hướng khác được? Bắc
là Triệu Đà, Đông là biển cả, Tây là nước nào đó, vào thuở ấy, cái nước có nền
văn minh cánh Đồng Chum ấy chăng? Ông ta chỉ còn hướng Nam là đất Cửu Chơn, tức
đất Việt, thì ông không chạy về đó sao được, chớ nào phải để tìm hảo hán tưởng
tượng nào đâu.
Trong chương Ngôn ngữ, chúng tôi sẽ chứng minh rằng cái
Nỏ là phát minh của chủng Mã Lai Bách Việt và Trung Hoa đã học của Mã Lai Bách
Việt tại đất Kinh Man, cách chế tạo vũ khí đó cả danh từ Nỏ của Trung Hoa cũng
là phiên âm danh từ Pnả của Mã Lai nữa.
Nhưng mà, phải biết tiếng Mã Lai, và biết khoa chiết tự để
tìm nguồn gốc của tự dạng Nỏ của Tàu, như vậy hơi nhọc trong việc kiểm
soát giả thuyết lắm.
Ông Lê Văn Siêu luôn luôn công kích những đòi hỏi khắt khe của
khoa học, vì ông tin rằng không còn dấu vết cũ nào đâu mà mong tìm tòi. Nhưng tại
chính ông không hề tìm tòi và cũng không hề theo dõi các nhà tìm tòi, chớ thật
ra thì còn rất nhiều, càng ngày người ta càng khám phá được đủ thứ việc, không
phải chỉ dưới lòng đất sâu, mà ngay trong sử Tàu xưa, tài liệu cũng đã nằm sẵn ở
đó rồi, tại ta không có đọc kỹ đó thôi, thí dụ Đào Duy Anh đã tìm được một lô cổ
thư Trung Hoa nói về trống đồng của dân Việt ở Hoa Nam, mà trước đó không sử
gia nào có đọc những sách ấy cả.
Ông Lê tin rằng tình trạng ở xứ ta khác, vì không có những kiến
trúc bằng đá như ở Âu Châu, nơi đó tài liệu rất dồi dào phong phú.
Nhưng có đâu chuyện ấy ở Âu Châu? Đời sống của dân Gô Loa trước
khi họ bị La Mã chinh phục, người Pháp cũng tưởng là không còn gì cả, cách đây
ba trăm năm, y như ông Lê Văn Siêu ngày nay tin như vậy, đối với nước ta. Thế
mà rồi các nhà khảo cổ Pháp họ cũng tìm được cả, tôn giáo Druidisme ra sao, Gô
Loa đắp lũy thế nào, rèn vũ khí làm sao, họ tìm được cả và vẽ đúng lại được đời
sống của Gô Loa, mà Pháp lại không có lấy được một chiếc trống đồng thau để mà
nghiên cứu như ta đã có hàng trăm và hàng ngàn món bằng đồng khác. Dân Gô Loa
đâu có xây cất bằng đá bao giờ.
Nghe các nhà bác học Âu Mỹ đòi chứng tích, ông Lê Văn Siêu lại
nghi oan cho họ, và viết (trang 27) "Chúng ta không cần suy nghĩ nhiều
cũng thấy ngay chứng tích và tài liệu, phần lớn chỉ là những thứ để đón ý kẻ mạnh".
Kẻ mạnh bị ám chỉ ở đây hẳn là người Pháp tiền chiến. Và nếu
ta đưa ra được chứng tích mà họ đòi hỏi là cái đẳng thức:
Việt Nam = Mã Lai
thì họ hưởng được cái gì? Được ăn hiếp ta mạnh tay hơn chăng?
Hoặc được khinh ta nhiều hơn chăng? Không, họ chỉ có hại mà
không có lợi, vì cách đó một trăm năm, họ vừa khám phá ra được một quá trình
văn minh lớn của Mã Lai ở Nam Dương. Ta sẽ hãnh diện hơn, bớt mặc cảm hơn, và họ
sẽ khó trị ta hơn.
Kẻ đưa ra chứng tích không hề đón ý kẻ mạnh nào hết. Và giờ
đây, kẻ mạnh đó không còn, sao chúng tôi và bao nhiêu nhà khoa học đều cứ cần
đưa ra chứng tích, để đón ý ai đây? Giới khảo cổ Thụy Điển chẳng hạn, cũng cứ
đòi chứng tích, nhưng họ có cai trị ta bao giờ đâu, họ có bao giờ là kẻ mạnh
thích được ta đón ý bao giờ đâu? Thụy Điển đòi ta đón ý họ để làm gì kia chớ?
Ông Lê Văn Siêu bất chấp khoa học và ông có những lập luận rất
lạ lùng trong quyển sách của ông. Ở trang 116, ông cho rằng dân Giao Chỉ đón tiếp
dân Việt ở Dương Tử chạy lọan Chiến quốc xuống xứ lạ, rồi đồng hóa được họ, nếu
không "đất Bắc Việt đã trở thành một tỉnh của Trung Quốc từ lâu".
Câu sử của ông Lê Văn Siêu thật là lạ kỳ. Theo lối dùng chữ của
ông, ta phải hiểu rằng dân Giao Chỉ không phải là Việt. Thế nên họ mới đồng hóa
Việt Dương Tử, chớ nếu họ cũng là Việt thì làm gì có sự kiện nhóm Việt A đồng
hóa nhóm Việt B. Họ tự nhiên mà có chung văn hóa với nhau, mặc dầu họ ở hai địa
bàn khác nhau.
Chúng ta chỉ biết đoán mò chớ không thể hiểu được câu sử kỳ
diệu của ông. Chúng ta giả thiết:
Ông Lê Văn Siêu cho rằng dân Giao Chỉ không phải là Việt. Mà
như thế là sai với sự kiện: người Tàu xưa gọi dân Giao Chỉ là Việt. Danh xưng
Giao Chỉ có sau danh xưng Việt rất lâu mà cũng chỉ dùng để trỏ đất chớ không trỏ
dân.
Ông Lê Văn Siêu vẫn biết rằng ta là Việt nhưng tin rằng Việt
Dương Tử đã biến thành Tàu rồi. Ông dùng chữ nhiêu khê như vậy để phân biệt hai
nhóm Việt. Nói lối dùng chữ ấy nhiêu khê vì viết như thế này, sẽ dễ hiểu hơn
"Việt Giao Chỉ đã đồng hóa Việt Dương Tử, nhóm này đã biến thành Tàu rồi,
theo văn hóa khác rồi".
Nhưng sự đoán mò thứ nhì của ta lại vấp phải sự kiện văn minh
của ta hiện nay mang đến 70 phần trăm yếu tố Trung Hoa. Sao kẻ đồng hóa lại bị
tô màu của kẻ bị đồng hóa?
Bằng vào câu "Nếu không, đất Bắc Việt đã trở thành một tỉnh
của Trung Hoa", ta có thể hiểu rằng ông Lê Văn Siêu cho rằng Việt Dương Tử
đã biến thành Tàu rồi.
Nhưng thành Tàu rồi, thì họ làm sao mà chạy ngang qua ba nước
Việt mà Khổng Tử đã nói đến. Thật thế, trong Xuân thu, Khổng Tử cho biết rằng
khi nước Sở cướp được nước Việt Cối Kê rồi thì tướng Ngô Khởi ký hiệp ước thân
hữu với ba quốc gia độc lập ở dưới Cối Kê, mà ai cũng biết đó là ba quốc gia Việt
không phải là Giao Chỉ: Đông Âu, Mãn Việt và Tây Âu.
Nếu họ đã thành Tàu, thì không thế nào mà họ được phép chạy
ngang qua ba quốc gia độc lập và khá hùng cường đó, hùng cường nên Tàu đã phải
ký hiệp ước thân hữu.
Nếu họ chưa thành Tàu, thì họ mà có chiếm được Giao Chỉ
thì làm thế nào mà Giao Chỉ lại biến thành một tỉnh của Trung Quốc vì
họ không là Tàu kia mà!
Nếu họ chưa thành Tàu, mà rủi ro họ thắng ta thì ta vẫn không
bao giờ biến thành một tỉnh Trung Quốc mà chỉ biến thành một nước trong đó gồm
có hai thứ Việt.
Câu sử kỳ dị của ông Lê Văn Siêu rất hữu lý với người bất kể
đến phương pháp học, nhưng nó lại không thể hiểu được đối với người khác, không
cần gì là nhà khoa học, tiêm nhiễm tinh thần khoa học, mà người thường nhưng biết
suy luận theo lẽ phải cũng không thể hiểu được câu sử đó muốn nói gì bởi nó mâu
thuẫn rối ren hết, mà như vậy cũng chỉ vì tác giả không kể đến phương pháp nào
hết.
Phương pháp đó là tự hỏi xem có phải ta là Việt hay không? Nếu
không, sao Mã Viện lại gọi ta là Việt?
Nếu ta là Việt thì sự kiện Việt dưới đồng hóa Việt trên không
hề xảy ra vì tất cả các nhóm Việt đều có văn hóa giống nhau.
Rồi lại tự hỏi xem Việt Dương Tử đã thành Tàu chưa?
Nếu họ đã thành Tàu, họ đã không có quyền chạy qua ba nước Việt
độc lập và hùng cường đến nỗi Tàu phải ký hiệp ước thân hữu, chớ không dám gọi
là man di nữa.
Họ chưa thành Tàu thì làm gì lại có sự kiện Việt dưới đồng
hóa Việt trên.
Còn cái sự rủi ro không có xảy ra mà họ Lê cũng biết, là họ
không thắng Việt dưới, sự rủi ro ấy nếu có, không sao biến Giao Chỉ thành một tỉnh
Trung Hoa được cả vì chính kẻ thắng (nếu có thắng) không là Tàu, chưa thành Tàu
kia mà! Nó chỉ biến Văn Lang thành một nước Việt trong đó có hai nhóm Việt nhập
lại, và đồng văn hóa một cách đương nhiên chớ chẳng hề thành một tỉnh Tàu được.
Xin nhắc rằng câu sử của ông Lê Văn Siêu ngược lại với một
câu sử khác, cũng sai, nhưng sai cách khác mà ông Hoàng Trọng Miên đã lặp lại,
câu sử sai đó là của ông G. Cocdès, nguyên Viện trưởng Viện Viễn Đông bác cổ,
ông ấy nói là người Việt Dương Tử tràn xuống, đuổi hết người Cổ Mã Lai lên núi
rừng.
Câu sử này cũng sai tuốt. Người Thượng ở Cao nguyên và người
Chàm đích thị là người Cổ Mã Lai đồng chủng với ta và cùng ta di cư xuống Cổ Việt một
lượt với nhau, nhưng họ chiếm địa bàn bất lợi nên họ không tiến, sau đó họ lại
không có thọ lãnh văn hóa của Tàu như ta, hoặc văn hóa Ấn Độ như Chàm để mà tiến
thật mạnh như ta và Chàm. Nhưng mặc dầu sai, ông G. Cocdès vẫn có mạch lạc từ đầu
đến cuối vì ông có tinh thần khoa học, chớ không mâu thuẫn lung tung như ông Lê
Văn Siêu trong một câu thật ngắn. Và ông G. Cocdès đã tự đính chánh ông. Hai
mươi năm sau, trong một quyển sách ra đời năm 1962, nhưng ông Hoàng Trọng Miên
không hay biết lời đính chánh đó.
Theo phương pháp khoa học, phải kiểm soát lại giả thuyết, điều
mà ông Lê Văn Siêu không có làm. Chúng tôi kiểm soát thì thấy như sau: Cuộc kiểm
tra dân số của Mã Viện cho biết ở Giao Chỉ có 92.440 nhà, ở Cửu Chơn có 37.743
nhà.
Riêng huyện Tây Vu của Giao Chỉ đã có số nhà gần bằng toàn quận
Cửu Chơn là 32 ngàn nhà. Như vậy, Đông Sơn, thuộc Cửu Chơn không thể là trung
tâm của nền văn minh Lạc Việt được vì luôn luôn trung tâm nằm giữa nơi nào đông
dân cư nhứt.
Vậy nếu không hay biết những cuộc khai quật liên tiếp nói
trên, nếu không có đọc Hậu Hán thư, ông Lê Văn Siêu vẫn có thể kiểm soát kết
luận của ông bằng cách đọc sử từ thời Mã Viện. Nhưng vì bất chấp khoa học, nên ông
không có kiểm soát, vì sự kiểm soát là một yếu tố của cái khoa học mà ông không
nhìn nhận.
Ông có ám chỉ sơ đến một cuộc dời đổi trung tâm từ Thanh Hóa
đến Bắc Việt, nhưng không có bằng chứng, mà trái lại có bằng chứng ngược hẳn
bao nhiêu cổ tích và ca dao của ta đều lấy khung cảnh núi Tản sông Đà, chớ
không phải khung cảnh Thanh Hóa trừ một chuyện truyền thuyết độc nhứt là truyện
đền Thần Đồng cổ ở núi Khả Lao.
Đọc mấy trang này, có lẽ ông cho rằng cuộc kiểm tra dân số của
Mã Viện không đáng tin, nên ông không dùng.
Nhưng thử hỏi Mã Viện bịa ra những con số đó để làm gì? Và y
sẽ chết, vì vua Tàu sẽ cho người kiểm soát, bởi y đâu có phải là kẻ ở lại sau
chiến tranh. Y không có lý do bịa, mà cũng không dám bịa.
Cái gì cũng còn cả, khoa học biết thế, nên cứ đòi hỏi gắt. Mà
khoa học biết thế là nhờ kinh nghiệm. Khoa khảo cổ và khoa chủng tộc học dạy họ
thấy chắc một trăm phần trăm rằng sự sống sót của các chủng tộc cổ, các nền văn
minh cổ, bị ai cố xóa đi, những thứ ấy trường thọ ngoài sức tưởng tượng của con
người.
Chủ đất cũ của Ấn Độ, cách đây 6 ngàn năm, hiện cứ còn. Chủ đất
thứ nhì là chủng Drawidien, bà chủ Ấn Độ cách đây 5000 cũng cứ còn và còn cả
lâu dài, thành phố Harappa và Molienjo Daro vừa đào lên được cách đây không lâu
mặc dầu bọn xâm lăng đã cố xóa tất cả.
Chúng tôi xin đưa ra một thí dụ điển hình nhứt về kết quả của
việc kiểm soát giả thuyết và sử liệu.
Trong Việt sử: Xứ Đàng trong, tác giả là giáo sư Phan
Khoang dựa vào Đại Nam thực lục, viết rằng người Anh, lập nghiệp ở Côn Đảo
năm 1670 (đông 200 người) đã bị 15 người Mã Lai ăn tiền của quan trấn thủ Trấn
Biên, tàn sát. Người Anh đến lập nghiệp mà không xin phép nên phải chịu
cảnh đó.
Thấy mâu thuẫn trong câu sử ấy, 15 người không súng mà loại
được 200 người có súng, giáo sư Nguyễn Thế Anh đã kiểm soát lại, và giáo sư tìm
được giấy tờ của chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho phép người Anh lập nghiệp
ở Côn Đảo.
Khi mà Nguyễn Phúc Chu đã nhìn nhận hội buôn của Anh và đã cấp
cái giấy phép đó thì chúa còn có quyền rút giấy phép lại mà không cần ra lệnh
cho trấn thủ của Trấn Biên làm đặc công ở Côn Đảo làm gì.
Nếu đánh bằng tay không thì 200 người Anh vẫn thắng được 15
người Mã Lai dễ dàng, bởi đó là đặc công chỉ có dao, mà dao thì không đáng sợ
chút nào.
Hễ thấy tài liệu không ổn thì luôn luôn phải kiểm soát lại và
luôn luôn có tài liệu khác xác nhận hay đính chánh.
Có lẽ Đại Nam thực lực không hoàn toàn bịa. Soạn giả
quyển đó có biết sự kiện quan trấn thủ Trấn Biên thuê điệp viên Mã Lai coi chừng
người Anh. Rồi thì khi thấy người Anh rút đi mà không biết vì lẽ gì, soạn giả Đại
Nam thực lực mới dùng sự có mặt của điệp viên để biến thành một trận
Commando tưởng tượng. Nhưng người đời sau, phải thấy rằng Đại Nam thực lực đã
viết một điều vô lý, không thể xảy ra được, cần kiểm soát lại người xưa mới
xong. Khoa học là cái đó.
Từ nãy giờ, chúng tôi có vẻ nhắm vào ông Lê Văn Siêu hơi nhiều.
Nhưng không phải thế. Về mặt cá nhân, chúng tôi rất mến ông, và về mặt học vấn,
chúng tôi cũng rất khâm phục ông.
Ở đây chỉ là một quan niệm khảo cứu chọi với một quan niệm khảo
cứu. Khi quan niệm khác nhau, thì cần có sự tranh luận. Và một người viết sách
cần trình phương pháp của mình ra vì dĩ nhiên là y cần được người đọc đồng ý nhờ
thấy sự vững vàng về phương pháp của y.
Chúng tôi thấy các nhà bác học Âu Châu họ sai lầm là vì họ
không biết một số yếu tố mà thôi, chớ phương pháp của họ vẫn đúng và cần thiết
để ngăn người nghiên cứu lập thuyết liều lĩnh.
Nếu họ kết luận rằng người Đông Sơn là tổ tiên của ta thì
phái học giả Việt Nam mà phủ nhận Đông Sơn, như ông Nguyễn Phương chẳng hạn,
đòi hỏi bằng chứng, họ sẽ trả lời sao cho trôi?
Cho đến năm 1965 mà giáo sư đại học Nguyễn Phương còn đòi hỏi
bằng chứng rằng Mã Lai Đông Sơn = Việt, thì ta phải nghiêng mình trước phương
pháp học vậy, và phải tìm bằng chứng vậy.
Ông Lê Văn Siêu phàn nàn những nhà bác học ở Viện Viễn Đông
bác cổ đo tài con người bằng uy tín bằng cấp. Sự thật thì không hề có vấn đề bằng
cấp trong đó. Quả họ có bằng cấp cao thật đó, nhưng mà đó là bằng luật khoa, y
khoa hay gì gì khoa, chớ không ông nào có bằng cấp khảo cổ, bằng ngôn ngữ cả,
và thế giới đánh giá họ trên giá trị của công trình khảo cổ của họ, chớ những bằng
cấp mà họ có, chẳng dính líu gì tới công việc của họ hết. Họ phần lớn là những
người tự học trong bộ môn mà họ đeo đuổi. Ông Parmentier là một kiến trúc sư mà
khoa kiến trúc đâu có là bằng cấp khảo cổ bao giờ?
Ông Lê lại nói rằng những thuyết của họ quá trống đánh xuôi
kèn thổi ngược nên không có gì đáng cho ta phải bận tâm tới.
Không rõ ông Lê Văn Siêu có theo dõi những công trình khảo cổ
ở Âu, Mỹ, Phi v.v. hay không. Không có vấn đề nào mà không đẻ ra ít lắm là 5
thuyết khác nhau, chớ không phải chỉ ở xứ ta mà thôi đâu. Nhưng rồi chỉ có một
thuyết là đúng và vững nhứt về mặt khoa học, và sự đúng này được nhiều kiểm
soát, nhiều thử thách do các nhà bác học khác thử lửa nó, chớ không phải thiên
hạ nhận nó đúng vì tình cảm nào hay quyến rũ nào.
Ngay nhà Nho Nhượng Tống không thông khoa học mà còn phải
nhìn nhận rằng không sao tránh được có nhiều thuyết xuôi ngược vì "Tài
liệu của sử học nguyên là một mớ lẫn lộn vàng thau. Sự lựa lọc thực là một chuyện
trăm nghìn khó, nó khó đến nỗi khoa học phải định phương pháp hẳn hòi, vậy mà
không phải ai ai cũng sáng suốt, cũng cẩn thận, đủ sức để theo những lời chỉ bảo
ấy cho có kết quả" (Trích một lời bình trong bản dịch Sử ký của
Tư Mã Thiên).
Đã bảo Nhượng Tống là một nhà Nho mà vẫn phải nhìn nhận sự dĩ
nhiên của tình trạng ngược xuôi cả khi phương pháp đã được bày ra rồi.
Nhượng Tống không có nói nhiều, nhưng ta vẫn hiểu được rằng
nhà Nho ấy công nhận phương pháp và nhìn nhận sự ngược xuôi không thể tránh, và
nhứt là hiểu rằng thế nào rồi cũng sẽ chỉ có một thuyết là đúng.
Ông Lê Văn Siêu đưa ra tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi
ngược để ngầm phủ nhận giá trị của phương pháp học, và ông trình bày thế nào mà
người đọc cứ ngỡ là tình trạng xuôi ngược chỉ có ở Á Đông mà phương pháp học
không thể áp dụng được, còn Âu Mỹ thì áp dụng xuôi rót. Sự thật ngược hẳn lại. Ở
Âu Mỹ người ta làm việc nhiều hơn, đông người tham dự hơn, nên xuôi ngược lại
nhiều hơn ở Á Đông gấp bội.
Nội cái màu tóc của bà Jeanne d’Arc đã có đến 10 thuyết khác
nhau rồi thì đủ biết phương pháp học có đi xuôi chèo mát mái mãi ở bên ấy hay
chăng.
Ông Lê Văn Siêu lại còn lo rằng các thuyết "sai lầm" của
người Âu Châu về nền văn minh cổ của ta đã được trước bạ mất rồi trong giới quốc
tế, giờ "ta biết kêu với ai". Xin Lê tiên sinh đừng có lo. Từ
ngày người Pháp đi mất, các hội nghiên cứu trên thế giới vẫn trao đổi tạp chí
và sách vở với V.N.C.H. và có lẽ với Bắc Việt nữa, thế nghĩa là họ cứ theo dõi
công việc do chính ta tiếp tục. Lo là lo ta tiếp tục không xong ấy thôi, bằng
cách bỏ cả mọi phương pháp khoa học thì họ không còn coi ta ra gì nữa. Và cũng
đừng tưởng rằng họ không đọc được tiếng Việt. Năm 1858, khi Pháp đến đây xâm
lăng ta, không phải ông Trương Vĩnh Ký là thông ngôn đầu tiên đâu, và người thảo
những thư từ đầu tiên bằng chữ Hán và chữ Nôm đều là người Pháp.
Sự trước bạ mà Lê tiên sinh lo sợ, không có nghĩa gì cả,
chúng tôi vừa nói đến việc tự đính chánh của ông G. Cocdès 20 năm sau, một câu
sử sai lầm.
Họ đủ lương tâm để tự đính chánh. Bằng như họ không biết họ
sai, thì đã có người khác đính chánh. Tất cả những nghiên cứu về Chơn Lạp, Phù
Nam, Lâm Ấp của các ông Tây trước năm 1945 đã bị các ông Tây khác đính chánh tất
cả rồi, vì sự học hỏi của họ không bao giờ ngừng, và sự trước bạ ấy cũng chẳng
có nghĩa gì hết.
Ông vẽ ra một con cò, một con ngựa, ông đưa lên sở trước bạ để
xin trước bạ, họ cũng nhận như thường, trước bạ chỉ để đánh dấu thời gian và chủ
quyền chớ không hề là chứng minh thư đúng sự thật.
Theo ông Lê Văn Siêu thì nước Tàu và nước Pháp là nước thống
trị thì những gì họ viết về ta là xuyên tạc không nên dùng.
Chúng tôi không hiểu khi Tàu bảo rằng dân ta đã có vua là Lạc
Vương thì họ xuyên tạc cái gì. Trái lại họ còn gián tiếp giúp ta chống lại L.
Aurousseau về sau, ông này bảo rằng ta còn sống dưới chế độ bộ lạc vào thời đó
chứ không có vua.
Hơn thế khi họ nói đến những rợ Lạc ở Hoa Bắc ba ngàn
năm trước họ biết ta thì họ xuyên tạc cái gì đây?
Theo Lê tiên sinh thì không có cái gì tin được cả, cổ sử Tàu,
hoặc các chứng tích khác đều không dùng được.
Như thế chỉ còn biết suy luận viển vông, mà như vậy không còn
là khảo cứu nữa, mà là viết luận thuyết rồi vậy.
Lê tiên sinh chủ trương phi phương pháp mà theo định nghĩa của
tiên sinh là không nệ theo một lối suy luận nào mà tùy trường hợp để rộng tay
áp dụng bất cứ phương pháp nào.
Thứ nhứt, chủ trương đó tự nó mâu thuẫn với nó. Đã bảo là phi
phương pháp rồi lại định nghĩa là phải uyển chuyển dùng nhiều phương pháp khác
nhau. Thế thì phi ở chỗ nào? Đó là đa phương pháp chớ nào phải phi.
Và Lê tiên sinh có theo dõi các nhà bác học hay không, họ đâu
có dùng độc một phương pháp bao giờ. Và họ luôn luôn uyển chuyển. Các ông Tây
cho rằng những kiểu trang trí ở trống đồng Đông Sơn là do ảnh hưởng Lưỡng Hà, ảnh
hưởng Pont Euxin theo thuyết truyền bá của Đức nhưng Đại tá Abadie bác bỏ ngay,
cho rằng nhiều phong tục, kỹ thuật ở thượng du Bắc Việt giống hệt phong tục kỹ
thuật ở vài miền của nước Pháp, đó chỉ là tương đồng ngẫu nhiên, không hề có ảnh
hưởng qua lại nào cả.
Không phải hễ cứ một nhà bác học nói bậy là bao nhiêu nhà bác
học khác đều phụ họa theo, và họ dùng đủ cả các phương pháp chớ không hề cứng
ngắt như Lê tiên sinh đã nói.
Nhưng sử Tàu và nghiên cứu Âu Mỹ có sai, ta thấy ngay tức
thì, nếu ta biết phê phán. Và họ vẫn có đúng, chớ không phải là sai toàn loạt
như Lê tiên sinh tưởng. Và họ đúng rất nhiều.
Các nhà bác học, các nhà học giả, các sử gia ta lại có cái
khuyết điểm này là họ lập trước một giả thuyết rồi cố lượm lặt những gì khả dĩ
củng cố được giả thuyết của họ để chứng minh giả thuyết đó. Lối làm việc ấy thường
đưa ta tới sai lầm, vì chính con người của ta chủ quan, tìm đủ cách để giúp cho
ta có lý.
Phải làm việc với một khối óc và một tấm lòng trống trơn định
kiến, không buồn đoán tổ tiên là ai, để chính sự việc tự do đưa ta tới cái đích
nào đó, có thể cái đích đó mới thật là cái đích không bị khuynh hướng nào hướng
dẫn tới cả mà chỉ có tài liệu và sự kiện cho xuất hiện ra mà thôi.
Tổ tiên ta là Tây, là Tàu, là "Mọi", ta cũng đừng
ham, đừng lo, đừng phấn khởi, đừng thất vọng.
Kẻ tìm tòi, thoạt tiên phải là một anh mù hoàn toàn, mà anh
mù đó cũng không nên có ý định nào hết, trừ ý định tìm biết một sự thật mà y
hoàn toàn mù tịt. Chỉ trong điều kiện đó, y mới mong đi tới một sự thật hoàn
toàn không bị chính y bóp méo, hoặc không bị tài liệu gạt gẫm. Vâng, tài liệu rất
gạt gẫm khi ta đang cố ý tìm nó. Ta thấy nó hơi phục vụ ta được, ta vội chụp
ngay để mà dùng. Thế là ta bị mắc bẫy ngay bởi nó nói một đàng mà ta hiểu đàng
khác vì ta đang quá cần nó nói theo ta, hễ thấy bề ngoài hơi đúng ý muốn của ta
là ta dùng liền để chứng minh cái gì ta đang cần chứng minh.
Sử gia Nguyễn Phương, tác giả Việt Nam thời khai sinh,
chủ trương rằng (Tạp chí Đại học Huế số 37) phải có "một cái nhìn tổng
quát", rằng "những chi tiết là cần phải dùng để cho câu chuyện
chứa đầy sự sống, chớ đại cuộc mới là việc quan trọng".
Nhưng không hiểu về nguồn gốc của dân tộc khá lâu đời như dân
tộc ta, sử gia và ta phải đứng tại đâu, trong thời gian, để mà có cái nhìn tổng
quát nói trên?
Muốn có, hẳn phải lập ra trước một giả thuyết rồi đứng trên
đó như "đứng trên đỉnh núi cao nhìn xuống một cách bao la" hình ảnh
mà sử gia đã dùng.
Và sử gia và bao nhiêu người khác đã sai lầm là vì có cái
nhìn tổng quát về một sự kiện vốn đang vô hình. Tìm về nguồn gốc các dân tộc
thì phương pháp phải ngược hẳn lại, là lần dò từ các chi tiết nhỏ mà leo tới
cái đỉnh nói trên. Khi cái nguồn gốc đó không ai biết nó là gì, và ở đâu, vào
thời nào, thì không làm sao mà tìm được một chỗ đứng cao hơn nó được, hầu có một
cái nhìn tổng quát.
Sử gia lại chủ trương rằng "Mình phải làm chủ sử liệu".
Làm chủ sử liệu thế nào? Sử gia chưa bao giờ đối chiếu sọ Việt và sọ Hoa, nhưng
sử gia lại làm chủ sử liệu và quả quyết rằng cái sọ Việt giống cái sọ Hoa. Đó
là "nắm các chi tiết dưới quyền điều khiển mạnh mẽ của mình" (nguyên
văn).
Vì điều khiển theo lối đó nên sử gia mới đi đến cái kết luận
sai:
Việt = Hoa
Ông Lê Văn Siêu trong tạp chí Tân Văn số 21 và 22
năm 1970 cũng chủ trương giống như thế nhưng theo ông thì "tìm ra
chơn lý rồi tự cái chơn lý ấy dẫn đến cứu cánh ao ước".
Chính mối nguy là ở chỗ đó. Ta không nên ao ước một cứu cánh
nào cả, vì hễ có ao ước là đã có mục đích sẵn rồi và chủ quan của ta luôn luôn
xuôi ta thấy chơn lý nơi những cái không phải là chơn lý, chỉ vì cái đó phù hợp
với ao ước của ta.
Ta ao ước được làm Tây chăng? Mà nhà bác học O. Jansé thì đã
chứng minh rằng ta là Hy Lạp vì những đống đá bên đường ở Việt Nam giống hệt
phong tục Hy Lạp. Ông ấy không có ao ước gì hết cho ta, mà còn nói liều như thế,
nếu ta lại có ao ước, ta sẽ sai đến đâu?
Nhà bác học O. Jansé không biết rằng những đống đá đó là tục
của dân Dravidien là một chi của chủng Mã Lai cũng như dân ta không hề có dính
líu đến Hy Lạp bao giờ cả.
Ta không ao ước cho Dravidien cả, cũng chẳng ao ước gì cho Việt
Nam cả, nhưng nếu có những dấu vết Mã Lai trong xã hội Việt Nam ngày nay, chừng
ấy ta mới dùng chứng tích những đống đá bên đường để củng cố thêm những chứng
tích Mã Lai về Mã Lai Việt, bằng không thì nên để yên các đống đá đó cho thời
gian xóa mất nó, chớ không thể kéo dân Hy Lạp xa xôi vào với dân Lạc Việt.
*
Tinh thần khoa học rất cần trong một công việc khoa học, ai
cũng biết thế, nhìn nhận rằng là đúng, nhưng thường thì người ta bị chủ quan và
định kiến đưa vào chỗ lạc lối mà không hay biết.
Nhan sách, chúng tôi đề là như thế, là để sau khi viết sách
xong, chớ thật ra thì khi bắt tay vào việc, chúng tôi không có một ý kiến nào cả
về nguồn gốc của tổ tiên ta, hay nói cho đúng ra là có, nhưng chúng tôi không
nhận. Chúng tôi đã bị những ông H. Maspéro làm cho chúng tôi ngỡ rằng dân ta
thuộc một chủng riêng biệt, phát tích tại chỗ, những ông L. Aurousseau làm
chúng tôi ngỡ rằng ta là hậu duệ của Câu Tiễn, những ông Nguyễn Phương làm cho
chúng tôi ngỡ rằng ta là Tàu thuần chủng, những ông Kim Định làm cho chúng tôi
ngỡ rằng ta là con cháu của Thần Nông.
Nhưng rồi chúng tôi đều bất kể những ông ấy, tự tẩy não mình
để học hỏi và tìm tòi với một cái đầu trống không thành kiến, và chúng tôi đã
đi đến cái đích Mã Lai. Nhan sách, chừng ấy mới được viết ra, và chính chúng
tôi là kẻ kinh ngạc đầu tiên về khám phá của chúng tôi.
*
Các chương sách, viết xong, phải được sắp xếp lại cho có một
trật tự hữu lý, một mạch lạc có khả năng dẫn dắt, thế nên người đọc có cảm giác
y như là chúng tôi đã biết trước mình muốn đi tới đâu, và biết sẵn nơi xuất
phát của mình, nhưng lúc làm việc thì không phải thế.
Trong thời gian làm việc, chỉ có những ghi chép xô bồ, ghi
chép này không dính líu tới ghi chép khác, gặp gì đọc nấy, gặp chi tiết nào
quan trọng thì giữ lại, chẳng biết để làm gì, sau thoáng thấy sự thật rồi, mới
kiểm điểm và kiểm soát lại, rồi mới cho một trật tự thành hình.
*
Như ngay trong chương đầu này mà chúng tôi lại có nói đến
sách của giáo sư Kim Định là sách ra đời cuối năm 1970, trong khi chúng tôi bắt
đầu học hỏi từ năm 1960 và bắt đầu làm việc thật sự từ năm 1964. Ấy là vì những
đoạn nói về chuyện mới xảy ra khi sách được viết xong, lại được thêm vào, trước
khi đưa cho nhà xuất bản, mà vì những đoạn ấy phải nằm ở chương I hoặc chương
III, nên nó có vẻ kỳ cục vì sách viết từ năm 1964 mà ngay ở dòngg đầu lại nói đến
cuốn Lịch sử thành lập đất Việt, phát hành vào đầu năm 1971.
*
Trí thức ta thường chỉ học có một môn, mà trong đó họ có thể
đi rất sâu. Họ lỗi lạc trong môn đó. Nhưng có những ngành hoạt động đòi hỏi một
cuộc tổng hợp của quá nhiều môn, thành thử ngành sử của ta không được tin cậy lắm
vì nó thường phiến diện. Ngay như viết về thời vua Lê chúa Trịnh mà thiên hạ
cũng cứ chỉ dựa vào độc một nguồn tài liệu Trung Hoa mà bỏ sót nguồn khác phong
phú hơn, là nguồn Tây phương, thì nói chi là thượng cổ sử nó đòi hỏi một trăm lần
hơn thế.
Ngay ở trang đầu, chúng tôi đã ám chỉ đến quyển Lịch sử
thành lập đất Việt của ba nhà trí thức Việt Nam. Đó là ba nhà trí thức
uyên bác trong ngành địa chất học. Nhưng ở trang 97, ba tác giả đó lại viết:
"Thời lịch sử dân tộc cách đây lối 10 ngàn năm".
Có lẽ ba tác giả muốn nói đến thời lịch sử của loài người tại
đất Việt chăng, chớ tổ tiên ta thì đã có bằng chứng đích xác là họ chỉ mới di
cư tới đây 5 ngàn năm mà thôi.
Nhưng chúng tôi xét ở một câu sau thì thấy ba soạn giả ấy đã
lầm hệt như đại chúng, chớ không phải chỉ ngộ nhận thường.
Đại chúng, những người tò mò, có đọc sách phổ thông về khảo
tiền sử, cứ cho rằng dân ta cổ trên mười ngàn năm, vì khoa khảo tiền sử đã tìm
thấy dấu vết loài người cổ trên mười ngàn năm tại đất Việt.
Y hệt như đại chúng Trung Hoa, họ cứ khoe rằng tổ tiên họ là
"con người Bắc Kinh", sống cách đây hơn ba trăm ngàn năm. Nhưng thật
ra người Tàu thì chỉ mới xuất hiện ở nước Tàu già năm ngàn năm mà thôi.
Ba tác giả trên băn khoăn tự hỏi: "Làm thế nào để
biết đích xác về đời sống của tổ tiên ta, khi người Pháp đã cho biết có nhiều dấu
vết đáng kể như một số răng, xương, dụng cụ thô sơ, như một hòn đá hình trứng" (trang
102).
Xin thưa rằng không, tổ tiên chúng ta di cư đến dây cách đây
5 ngàn năm thì đã văn minh hơn tác giả của những hòn đá hình trứng nhiều lắm.
Đá trứng là dấu vết của chủng Mélanésien và Négritos, mà theo khoa chủng tộc học
thì hai chủng đó không thể biến thành chủng của ta.
Đất nước ta đã qua tay rất nhiều chủ từ mười ngàn năm nay rồi,
và chính vì thế mà biết nguồn gốc của tổ tiên ta mới là chuyện khó, chớ nếu
xương sọ nào cũng là xương của tổ tiên ta hết thì tưởng nguồn gốc dân tộc, đã
được biết chắc từ lâu, bởi chỉ với một cái xương quai hàm, các nhà bác học cũng
có thể hình dung được đại khái chủ nhân xương ấy vóc dáng ra sao và sống một đời
sống như thế nào rồi.
*
Như đã nói, khoa khảo tiền sử đã làm việc xong, cho biết đích
xác là chủng Mã Lai từ Hoa Bắc di cư đến cổ Việt. Nhưng ở cổ Việt có đến năm bảy
chủng khác nhau thay phiên nhau mà làm chủ, cho đến thời Mã Viện.
Nhà viết sử phải biết khoa chủng tộc học để xem người Việt hiện
nay thuộc chủng nào trong năm bảy chủng đó, và phải kiểm soát bằng ngôn ngữ mà
như thế thì phải học ít lắm là ba bốn chục sinh ngữ và cổ ngữ Á Đông, rồi cuộc
kiểm soát phải được bỏ với qua các lãnh vực khác nữa như thượng cổ sử Ấn và
Tàu, truyền thuyết Việt, những phong tục bí mật, của Việt và của các dân khác,
chúng tôi nói đến phong tục bí mật, vì phong tục thường mà ai cũng thấy, sẽ đưa
ta đến sai lầm, vì đó là những điều mà dân tộc A có thể vay mượn của dân tộc B.
Giáo sư Nguyễn Phương đã lầm khi thấy ta có những điểm giống Tàu. Nhưng những
điểm bí ẩn mà Tàu và ta khác nhau như đen với trắng thì giáo sư lại bỏ qua đi,
vì không hay biết hay vì lẽ gì không rõ.
Chúng tôi viết quyển sách này sau khi đã quá thất vọng và
không thấy sách nào về nguồn gốc dân tộc mà ta ổn cả. Ban đầu, chúng tôi chỉ học
để mà biết vậy thôi, cho thỏa cái tánh tò mò, nhưng rồi chúng tôi tự hỏi sao lại
không ghi lên giấy những gì mình khám phá được, công bố ra thử xem có đúng hay
không bởi sách này sẽ bị người khác mổ xẻ, và sự thật nhờ thế mà xuất hiện ra lần
lần.
Tất cả những thuyết mà chúng tôi cho là không đúng, đều đã
giúp ích cho chúng tôi rất nhiều thì những trang sách của chúng tôi mà có sai
đi nữa cũng sẽ giúp ích cho ai đó.
Cho tới nay, 1964, ta có thể nói rằng một quyển thông sử Việt
Nam, cho dẫu là lược biên như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim,
cũng chưa nên viết. Những Đại Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ của Ngô Sĩ
Liên, Khâm Định Việt sử của sử quán trào Nguyễn, những Việt Nam
sử lược của Trần Trọng Kim, đáng lý gì chưa nên viết, bởi ta còn thiếu những
quyển sử dứt khoát cho từng vấn đề một.
Đối với một dân tộc khá lâu đời như dân tộc ta thì Sử ký gồm
hàng vạn vấn đề, thí dụ: Nền kinh tế dưới trào Lý. Y phục dân chúng Việt
Nam dưới trào Đinh, Chế độ thi cử dưới trào Trần, mỗi vấn đề tạm gọi là nhỏ như
thế, cần được hằng vài mươi cuốn sử khai thác, để cho không còn gì mờ ám trong
đó nữa.
Nếu người viết thông sử tự mình làm lấy tất cả thì người ấy
phải bỏ ra ít lắm là 80 năm làm việc mà không phải làm gì khác hơn là khảo sử
và viết sử. Không ai có đủ điều kiện tài chánh và sức khoẻ để làm như vậy hết,
kể cả ở các nước gọi là tân tiến. Ở các nước ấy người viết thông sử vẫn phải
tham khảo các bộ sử cho từng vấn đề nói trên.
Chúng tôi thấy nhà xuất bản Presses universitaires de
France cho xuất bản một quyển sử như thế này: Giá rau, cải ở Bá Lê từ
năm 1468 đến năm 1683. Có kinh hồn chưa?
Cố đạo L. Cadière, một tay kiện tướng trong ngành khảo cổ ở
Việt Nam có nói, sau khi viết xong bài "Nghiên cứu về Lũy Thầy": Khi
mà hàng trăm người làm xong những công việc nho nhỏ như thế này rồi thì những
người khác sau này mới có thể viết một bộ sử cho Annam (1906).
Câu nói tưởng như không có gì trên đây của L. Cadière chỉ dám
viết về từng vấn đề một như thế mà thôi, chẳng hạn: "Những di chỉ lịch
sử ở Quảng Bình", chẳng hạn "Nghiên cứu về các sử liệu của Việt
sử", chẳng hạn "Niên biểu các trào đại Annam qua lịch sử".
Cố đạo đã bỏ ra đến ba năm để nghiên cứu về cái Lũy Thầy đó,
mà trong nước ta, có hàng vạn cái cần phải nghiên cứu như thế, nên chi qua đời
năm 80 tuổi, L. Cadière vẫn chưa dám viết một bộ Việt sử lược mà ông mơ ước.
Thế nên những thông sử đã có, đầy dẫy sai lầm và mơ hồ, càng
xưa càng sai hơn, thậm chí những quyển thông sử viết sau năm 1945 mà còn bất chấp
đến những phát kiến mới, ở trong nước và ở nước ngoài, về Việt sử, thì nói chi
những quyển sách viết năm 1920, 1930, 1940. Các ông viết thông sử không kể đến
phát kiến mới thì là lỗi ở các ông, nhưng có ông nào muốn kể đến, cũng không thể
kể được, bởi ta quá thiếu về loại sử cho từng vấn đề nói trên.
Chúng tôi thấy rằng trong tình thế nghèo nàn của ta hiện nay
thì ai có tài liệu gì về vấn đề nào, xin cứ viết ra, như vậy chừng 100 năm nữa
thì một bộ sử lược Việt Nam tương đối không sai, có thể viết được. Bằng không
thì không biết tới đời kiếp nào ta mới có thông sử đúng và học trò cứ tiếp tục
phải học chuyện sai, bởi các nhà soạn sử cho học trò tất phải bằng vào những
quyển thông sử viết sai hiện có.
Ngày lễ Hai Bà Trưng, ta thấy ban tổ chức, cho hai Bà mặc áo
vàng rực rỡ, bịt khăn màu rất đẹp, chỉ vì ban tổ chức đã dựa vào những quyển
thông sử sai.
Ít có quyển sử nào viết đúng về thời đó cả mà các ban tổ chức
nghi lễ thì đâu có bổn phận khảo sử kỹ hơn sử gia.
Những quyển sử cho từng vấn đề, đã quá ít mà riêng vấn đề nguồn
gốc dân tộc thì chỉ có 2 quyển, là quyển của sử gia Nguyễn Phương và của Đào
Duy Anh, vừa đây có thêm một triết thuyết của giáo sư Kim Định, dựa trên một giả
thuyết về nguồn gốc dân tộc ta.
Địa hạt thượng cổ sử ít người để chơn tới vì đó là địa hạt
hóc búa, sử liệu quá ít nên phải học quá nhiều môn phụ thuộc, thành thử chợ ế
khách. Nhưng chính vì thiên hạ chê mà ta có bổn phận dấn thân vào để bổ túc hoặc
đính chánh những công trình hiếm hoi và sử gia lưa thưa.
Sau ông L. Aurousseau 32 năm, năm nay, năm 1964, chúng ta lại
vẫn còn phải nói gần gần như là ông đã nói.
Chúng tôi không ngại viết sử dở, mà viết sai cũng không phải
lo, bởi vì:
"Trong lãnh vực cổ sử cũng như trong các lãnh vực khác,
sự khảo cứu không mãi mãi đứng yên một chỗ mà tiến triển không ngừng, những thủ
đắc của người trước nếu không là điểm tựa cho người sau tiến lên thì cũng là
chính đề để người sau xây dựng phản đề. Nhứt là khi gặp những nghi vấn lịch sử,
ý kiến của những người đối lập càng cần được đem ra kiểm soát, phê bình, để biện
minh cho ý kiến của chính mình".
Trần Viên, tạp chí Bách Khoa, số 205, 15.7.1965
Nếu quyển sách nhỏ này mà có chừng một trang giúp ích được
vào việc nghiên cứu cổ sử Việt Nam của người sau, thì cũng không uổng công
chúng tôi đã bỏ ra một chục năm học hỏi.
Trong sách này chúng tôi thường có dịp phê bình và công kích
những nhà bác học Tây phương làm việc khảo cứu cho xứ ta. Nhưng xin đừng tưởng
rằng chúng tôi sướng miệng lắm khi làm như vậy, nhứt là đối với ông H. Maspéro.
Ông H. Maspéro, trở về già, đã gia nhập kháng chiến bí mật chống
Đức trong trận thế chiến thứ II, và đã bị Đức quốc xã ngược đãi đến chết. Đối với
chúng tôi, ông là một bậc anh hùng.
Nhưng chúng tôi phải vì sự thật khoa học, biết sao giờ!
Họ giỏi hơn ta quá nhiều, họ phân biệt được một đồng tiền nhà
Chu thật với một đồng tiền nhà Chu giả thì tưởng ta khó mà làm một mình cái
công việc mà họ đã làm, nhưng vì không biết vài yếu tố nào đó mà họ sai, ta vẫn
phải vạch rõ, và công việc kiểm soát của ta, không có nghĩa là phụ ơn họ.
Cố đạo L. Cadière thường nói: "Chúng tôi không có tham vọng
viết sử, chúng tôi chỉ có lôi ra ánh sáng và thu thập cho thật nhiều tài liệu vững
để dành cho các sử gia đời sau".
Đó là một câu nói khiêm tốn thật sự chớ không giả, và tả đúng
tinh thần làm việc của người Tây phương. Nội cái chương trình hạn định ấy, đã
là một công trình vĩ đại rồi, và ba tờ tạp chí B.E.F.E.O. - B.S.E.I. -
B.A.V.H. là kho tàng vô giá của dân tộc ta vậy. Nếu thỉnh thoảng các ông
có thử viết sử, mà có viết sai đi nữa cũng chẳng sao, và công phu của các ông,
ta không bao giờ quên, và trái lại còn cần nói lớn lên lòng tri ân của ta đối với
các ông.
Trong địa hạt khoa học, bài bác nhau, không hề có nghĩa là
không ưa nhau hay thù nghịch nhau, và chính từ các cuộc bài bác, sự thật mới xuất
hiện ra được.
*
Ở mấy chương trước chúng tôi có nói đến cái bí của các ông
Tây về Đông Sơn và chúng tôi sẽ theo phương pháp học để tìm những cái khoen
trung gian cần thiết.
Nhưng như đã nói, Đông Sơn là một cuộc sa lầy, nguồn gốc dân
tộc ta làm sao mà nằm tại giai đoạn đó được.
Tuy nhiên, việc học hỏi ấy, không phải là đáng vứt đi, vì nó
soi sáng giai đoạn giữa. Ta ngược dòng thời gian nhưng rồi cũng phải xuôi dòng
thời gian để đi đến những cái bến đích xác. Một cái bến đó là thời Mã Viện chớ
không phải là thời Lộ Bác Đức như ông L. Aurousseau đã nói. Từ năm 111 T.K. đến
năm Mã Viện, sử ta còn mơ hồ nhiều lắm, và đã bị ông L. Aurousseau làm cho rối
loạn thêm chính vì ông tưởng rằng nó đã rõ, theo lối hiểu sử Tàu quá sai lầm của
ông.
Đông Sơn là giai đoạn nằm trước thời Hai Bà Trưng đúng 31
năm.
Biết rõ Đông Sơn không thể biết nguồn gốc dân tộc ta, nhưng vẫn
biết rõ được một thời vài trăm năm, vào giai đoạn trung điệp.
*
Người làm loại sách này không thể cả tham, vừa phổ thông, vừa
khảo cứu thật sự, nên y phải hy sinh tinh thần phổ thông, nói tắt về rất nhiều
điểm được xem như là người trong giới đã biết rõ cả rồi, thành thử đối với người
không theo dõi vấn đề, có đôi chỗ hơi tối.
Chẳng hạn những cuộc khai quật ở Đông Sơn, chúng tôi chỉ ám
chỉ đến mà thôi chớ không kể rõ lại.
Về xuất xứ tham khảo thì chúng tôi cũng chỉ ghi xuất xứ của
những trích dẫn mà chưa ai dùng làm chứng tích. Những trích dẫn khác vẫn được
ám chỉ đến, nhưng cũng kể như là đã được phổ biến rồi, thì xin không kể ra đầy
đủ và dài dòng về tác giả và về sách được trích dẫn.
Làm như thế cốt để tỉa bớt sự rườm rà cho một trang sách đỡ nặng,
chớ không có gì lạ.
Chúng tôi chỉ trích nguyên văn khi nào một câu sử có chứa đựng
một hoặc vài dòng chữ mà toàn thể người đọc đều cần, để nghiền ngẫm chớ không
phải trích nguyên văn tất cả mọi tham khảo.
Nhưng những biểu chỉ số sọ, có biểu tưởng như không cần thiết
lại cũng được cho in hết cả ra đây, vì các biểu chỉ số sọ là tài liệu hiếm mà
người khác có thể cần, không như Sử ký, Tiền Hậu Hán thư mà
bất kỳ ai muốn mua giờ nào cũng có tại Chợ Lớn.
Chứa đựng của quyển sách này là trình ra những gì chưa có
sách nào nói, hoặc bác bỏ những gì của các sách khác mà chúng tôi tưởng là sai
lầm, chớ không giẫm chơn lên những công trình của người trước.
Thành thử lắm chương rất là ngắn, bởi vấn đề đã được sách
khác nghiên cứu kỹ rồi, chúng tôi chỉ đưa ra một bằng chứng mới để bác bỏ thì
không cần dài làm gì.
Quyển sách này chia ra làm hai phần, tuy không có biên giới
rõ rệt, nhưng vẫn thấy được. Hai phần ấy nằm rải rác khắp quyển sách chớ không
phải phần đầu và phần cuối của tác phẩm.
Chúng tôi, một mặt bác bỏ những thuyết sai lầm của người
khác, một mặt trình ra những sự thật khoa học.
Cái phần bác bỏ ấy có vẻ như là bút chiến, khiến chúng tôi rất
khổ tâm, nhưng không thể tránh, vì có những điều sai mà được cả nước đều tin từ
lâu năm, thì phải hò hét cho to, như về vụ Anh Đô Nê-diêng chẳng hạn.
Tuy nhiên, khoa học vẫn không cấm bút chiến. Giới khoa học
bút chiến với nhau bằng sách và bằng tạp chí là điều thường thấy, chớ không phải
chỉ có báo hằng ngày mới là có bút chiến mà thôi.
Nhưng xin quý vị đừng xem đây là bút chiến. Chúng tôi không cố
ý bút chiến với vị nào hết, nhưng cần phải vạch những điểm sử sai ra, cho trống
đường, hầu khoa học tiến tới, chỉ có thế thôi.
Tài liệu tham khảo riêng cho chương này:
O. Jansé - Arehaco logical Research in Indo China, H.Y.I 1947
V. Goloubew - La maison Dongsonienne, BEFEO 1938
V. Goloubew - Le peuple de Đông Sơn, Toulouse 1936
V. Goloubew - Le Tambour de métaltique de Hoàng Hạ, BEFEO
1934
H. Parmentier - Anciens tambours de bronze, BEFEO 1908
L. Bezacier - Découvertes archéologiques Aurousseau Tonkin,
Paris 1946
Nguyễn Phương - Việt Nam thời khai sinh, Huế 1915
Lê Văn Hảo - Hành trình vào dân tộc học, Sài Gòn
R. Grousset và Phương Đinh - Dư địa chí, Sài Gòn
Lê Văn Siêu - Việt Nam văn minh sử cương, Sài Gòn
Những trích dẫn Phú Nam Kỳ, Lâm Ấp Kỳ, Thủy Kinh Chú
Giao Chơn ngoại việc ký của R. A. Stein (Tạp chí Hán học), Bắc Kinh 1947
G. Coedès - Les peuples de la péninsule Indochinoise, Paris
1962
H. Maspéro - Études d’histoire d’Annam (Le royame de
VanLang), BEFEO 1918
L. Aurousseau - La première conquête chinoise des pays
annamites, 1923
(Notes sur les origines du peuple annamite)
P. Liston và J. Millot - Les races humaines, Paris 1936
H.V. Vallois - Les races humaines, Paris 1914
Cl. Madrolle - Le Tonkin aucien, BEFEO 1933
Lê Chi Thiệp - Gốc tích dân tộc Việt Nam, Sài Gòn
Phạm Văn Sơn - Việt sử tân biên, Sài Gòn
Kim Định - Việt lý tố nguyên, Sài Gòn
Nguyễn Phương - Tạp chí Đại học, Huế
Phạm Việt Châu - Trăm Việt trên dòng định mệnh (Tạp chí Bách
khoa), Sài Gòn
Lê Văn Siêu - Tạp chí Tân Văn sử gia
L. Cadière - Toàn bộ B.A.V.H., Sài Gòn
Phạm Việp - Hậu Hán thư, N.T.N.S.
Chương II
Những sai lầm căn bản của quý ông H. Maspéro, L. Aurousseau,
Nguyễn Phương, Kim Định và Trần Kinh Hoà
A. Sự thật về các chủng Mông Gô Lích
I. Bắc và Trung Mông Gô Lích
Theo sử gia Nguyễn Phương thì dân ta là người Tàu thuần chủng.
Thật ra, sử gia không hề có thốt ra hai tiếng "thuần chủng";
nhưng trong sách, sử gia luôn luôn viết: "Người ta (người Tàu) sẽ loại
người man-di (Lạc Việt) ra khỏi hàng ngũ công dân" (trang 244), hay
là: "Sự giống nhau giữa ta và Tàu là một sự dời chuyển cả người lẫn
phong tục, tập quán, tôn giáo" (trang 230). Cũng ở trang 230, sử gia
viết: "Người Trung Hoa đã, đợt này rồi đợt khác, sang thực dân tại
đây, và cuối cùng khi mọi sự đã tỏ ra thuận lợi, đã đứng dậy, lập một nước
riêng, nước Việt Nam".
Thế nên ngoài quyển sách nói trên, ở các tạp chí, sử gia đã cố
chứng minh rằng Lý Công Uẩn, Đinh Bộ Lĩnh là người Tàu, nhưng ông chưa thành
công.
Sử gia lại viết: "Dân Việt Nam là người Trung Quốc
di cư sang trong thời Bắc thuộc". Câu này được in bằng chữ đậm, chữ tít
(trang 231).
Hơn thế, ở trang 335, sử gia còn quả quyết rằng, mặc dầu người
Tàu ở đất Việt có lai Chàm và "các thứ dân khác" về sau,
nhưng những dân đó không có làm cho Tàu cải biến (Chính sử gia đã gạch
dưới dòng để nhấn mạnh rằng cả đến ngày nay, ta vẫn cứ là Tàu, không cải
biến.
Sử gia lại viết rằng sau Mã Viện thì ở đất cổ Việt, có sự dời
đổi con người, tức dân Lạc Việt đi mất hết hoặc bị tiêu diệt hết, và dân Tàu đến
thay thế. Hai tiếng dời đổi không thể có nghĩa nào khác hơn.
Những câu sử như thế có nghĩa không thể chối cãi rằng dân Việt
Nam là dân Tàu thuần chủng, hai tiếng không hề được thốt ra, nhưng ai cũng lắng
nghe được, bởi vì cuộc hợp chủng với thổ dân quá nhỏ, không làm cải biến
người Tàu kia mà.
Bao nhiêu chứng tích mà sử gia đưa ra, đều là chứng tích di cư
không hề có chứng tích hợp chủng, và những tiếng hợp chủng, lai giống,
chỉ được thốt ra có một lần, nhưng được gỡ gạc lại ngay bằng ba tiếng
"không cải biến".
Nhưng đó là những câu khẳng định suông. Sử gia nói như thế
thì quá dễ, ta bác cũng quá dễ bằng một tiếng "Không" suông, như tiếng
"Có" suông của sử gia.
Chúng ta chỉ có thể làm việc trên cái gì cụ thể, tức cần tìm
cho được một chứng tích của sử gia để mà nhìn nhận, hay bác bỏ. Và chúng tôi đã
may mắn tìm được câu sau đây, một câu sử có vẻ khoa học, có tham vọng chứng
minh. Sử gia viết ở trang 229: "Về phương diện nhân chủng, tức phương
diện căn bản, không sao nói được là hai dân tộc không giống nhau… đại đa số người
Việt Nam đều thuộc giống Mông Cổ, da thì vàng, tóc thì thẳng, có hình sọ
giống hình sọ người Trung Hoa".
Quả đúng như giáo sư Nguyễn Phương nói, khoa chủng tộc học
(mà giáo sư gọi theo trước 1945 là nhân chủng học) là nền tảng căn bản. Giáo sư
lại nói đến cái sọ là cái gì căn bản nhứt trong khoa đó.
Nhưng đó lại cũng chỉ là một lời khẳng định vô bằng.
Chắc chắn là sử gia chưa nghiên cứu về chủng Mông Cổ và chưa
hề đối chiếu sọ người Tàu và sọ người Việt nên mới dám viết ra một câu sử táo bạo
và liều lĩnh như vậy. Hai thứ sọ đó khác nhau đến 9 đơn vị, còn những nhơn thể
tính khác, cũng khác nhau.
Trước khi trình ra vài mươi biểu chỉ số sọ của nhiều thứ dân ở
Á Đông, để đối chiếu, chúng tôi xin nói rõ rằng sọ của một chủng tộc, vẫn thay
đổi với thời gian. Nhưng phải hiểu là hai tiếng thời gian đó có nghĩa là 50
ngàn năm, chớ đối với 5, 7 ngàn năm thì hoàn toàn không thay đổi, hay có, mà sự
thay đổi ấy không thấy được. Dung lượng của sọ người mà khoa học gọi là người Bắc
Kinh, dung lượng ấy là 1000 phân khối, còn dung lượng của sọ người Tàu đời nay
trung bình là 1400 phân khối. Nhưng người Bắc Kinh đã sống cách đây mấy trăm
ngàn năm, và không phải là tổ tiên của người Tàu.
Thế nên chúng tôi dùng khoa chủng tộc học một cách an lòng,
hơn thế một cách sung sướng, vì khoa ấy có tánh cách dứt khoát.
Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu các chủng Mông Gô Lích xem nó có
giản dị như giáo sư đại học Nguyễn Phương nói hay không, xong rồi mới nghiên cứu
riêng chủng của dân Việt Nam ta. Không bao giờ ta có hình sọ giống hình sọ người
Trung Hoa như sử gia họ Nguyễn đã nói.
*
Người Trung Hoa chỉ là kẻ đến sau cùng trên nước Tàu, cũng
như dân ta là kẻ đến sau cùng trên đất Việt. Đó là điều chắc chắn như khoa khảo
tiền sử đã cho biết.
Nhưng họ là ai và từ đâu đến thì người ta biết chắc thêm một
điều này nữa là họ từ Tây Bắc nước Tàu mà đến và họ có màu của người da trắng
trong huyết quản của họ. Nhưng tới đây thì có hai thuyết khác nhau. Thuyết thứ
nhứt đã được thấy là sai lầm, nhưng cũng xin kể ra đây.
Nhà bác học Terrien de Lacouperie trong quyển Western
Origin of the Chinese Civilization và quyển Early History of the
Chinese Civilization, và nhà bác học C. J. Ball trong quyển Chinese and
Sumerian cố chứng minh rằng dân Trung Hoa phát tích tại Ba Tư. Ở đó họ chịu
ảnh hưởng của nền văn minh Lưỡng Hà, nên chi nền văn minh Trung Hoa mang nhiều
yếu tố Lưỡng Hà.
Đó là một sai lầm của hai nhà bác học nói trên mà toàn thể
các nhà bác học khác đã bác bỏ vì bằng chứng không vững vàng.
Dân tộc Trung Hoa lập nền văn minh của họ trên đất Trung Hoa
chớ không phải mang từ đâu mà đến cả. Sự giống nhau đó, chỉ là ảnh hưởng về
sau, hoặc tình cờ tương đồng, chỉ có thế thôi.
Cũng như người da vàng gồm rất nhiều chủng, người da trắng
cũng thế. Dân cổ Ai Cập, dân Á Rập đều thuộc chủng da trắng, nhưng khác dân Âu
Châu. Các chủng da trắng chia ra như sau: chủng Hamite là chủng của dân Ai Cập,
chủng Sémile là chủng của dân Lưỡng Hà, dân Do Thái, dân Á Rập và chủng Ấn Âu
là chủng của Hy Lạp, La Mã, Ba Tư, Ấn Độ và các quốc gia Âu Mỹ hiện nay.
Riêng chủng Ấn Âu thì nguồn gốc và thành phần như thế này:
Vào thượng cổ, người da trắng, phát tích tại Bắc Âu (có thuyết lại cho rằng tại
Nam Nga) bắt đầu di cư.
Thuyết của Salomon Reinach (Origines des Aryens, 1892) vì chủ
trương họ ở Bắc Âu nam thiên, nên cho rằng họ để Schyte dọc đường, tại Nam Nga
ngày nay.
Thuyết của A Carnoy (Les Indo-Européens, 1921) chủ trương họ
phát tích tại Hắc Hải, nên sự thiên di đi các nơi xảy ra một lượt với nhau.
Họ gồm 8 nhóm lớn, ngôn ngữ khác nhau nhưng đồng tánh cách, tức
cùng gốc mà ra:
Nhóm Ba Tư - Ấn Độ (Ấn Độ xưa vốn da trắng như Ba Tư)
Nhóm Hy Lạp
Nhóm Italo Celtique, tổ tiên của La Mã và Gô Loa, rồi sau này
là Ý, Pháp, Tây Ban Nha v.v.
Nhóm Nhật Nhĩ Mạn tổ tiên người Đức và Anh
Nhóm Xilao, tổ tiên người Nga
Nhóm nhỏ xíu Albanie
Nhóm Arménie cũng nhỏ xíu
Nhóm Tokarien tổ tiên người Tàu
Nhóm Tokarien vì đi sang Á Đông một mình nên bị quên mất, và
người ta chỉ mới tìm được nền văn minh của họ và nền văn chương của họ cách đây
không lâu. Ngôn ngữ, chữ nghĩa của họ cũng được khám phá ra, đọc được và mới thấy
rằng nó đồng tộc với 7 nhóm khác.
Và nhóm Tokarien tức Scythe Oriental cũng được người Trung
Hoa biết đến vì họ chỉ mới bị tiêu diệt vào đời nhà Hán đây thôi. Các cổ thư
Trung Hoa xác nhận rằng thứ người ấy da trắng, mắt xanh và tóc đỏ, chỉ có điều
là Trung Hoa xưa không biết đó là tổ tiên của họ mà thôi.
Bọn này mãi về sau có vào định cư ở nước Tàu và được nhà
Nguyên gọi là dân Sắc Mục tương đương với thành ngữ Hommes de couleur của Pháp,
nhưng Tàu nói đến màu mắt, còn Pháp thì nói đến màu da.
Dưới đây là thuyết mới nhứt được dựng trên kết quả của khoa
khảo tiền sử.
Vào đời thượng cổ, từ miền Nam nước Nga cho tới biên giới tỉnh
Cam Túc của Trung Hoa ngày nay, nói cho đích xác hơn, cho tới thành Đôn Hoàng,
là một vùng đất đã có người sinh sống.
Vùng đất ấy người Hy Lạp gọi là Sérinde, và mãi lâu lắm về sau
Tây Lịch, Âu Châu mới đặt tên là Turkestan. Người Tàu vẫn biết đất ấy vào đời
thượng cổ, nhưng không có đặt tên, hoặc có mà vì thiếu sách vở, còn việc truyền
khẩu thì bị đứt đoạn, nên không ai biết cái tên cổ ấy, mãi cho tới đời Hán mới
được nghe họ gọi vùng đó là Tây Vức.
Người thượng cổ ở đó thuộc giống da trắng mà người Hy Lạp gọi
là Tokhares. Trong xứ Tây Vức, tại một trung tâm nay mang tên là Anau, các nhà
khảo tiền sử có phát kiến được dấu vết của một nền văn minh tối cổ mà giai đoạn
tân thạch khí của họ cổ đến 10 ngàn năm (giai đoạn tân thạch khí của chủng Việt
chỉ cổ có 5000 năm tức là tiến sau họ đến 5 ngàn năm) và như vậy thì họ đã phát
tích từ 12 ngàn năm sắp lên, tại đó (hay tại nơi khác rồi di cư đến đó thì mỗi
thuyết mỗi nói khác nhau).
Dân Tokhares được Tàu gọi là rợ Nhục Chi hoặc Bạch Địch, mặc
dầu các nhóm Nhục Chi đã hết là rợ cả ngàn năm rồi và đã lập ra non 40 quốc gia
phồn thịnh và hùng mạnh ở đó, vào thời Xuân Thu.
Cũng cứ vào thời thượng cổ, rợ Nhục Chi đụng đầu với một thứ
rợ khác mà Tàu gọi là Hung Nô hoặc Mông Cổ, Âu Châu gọi là Huns, thuộc chủng da
vàng, hai bên đụng đầu với nhau tại biên giới của Tây Vức và của nước Trung Hoa
ngày nay.
Hai thứ rợ đó đều còn du mục, rất dữ tợn, nhưng lại không có
đánh nhau, mà lại sống chung hòa bình với nhau và hợp chủng với nhau tại đó.
Cuộc hợp chủng đầu tiên xảy ra có lẽ lối bốn ngàn năm trước
Tây lịch, tức cách đây 6 ngàn năm. Thế thì sử Tàu không lâu đời quá lắm như họ
thường khoe.
Thứ con lai giống của họ có tánh cách Mông Cổ ở cái xương sọ,
ở loại tóc thẳng và đen (tóc Nhục Chi dợn sóng và màu đỏ hoặc màu râu bắp), ở
nước da vàng, ở mắt xếch và mi mắt lót, màu mắt luôn luôn đen. (Tuy nhiên, cũng
có người Trung Hoa mắt không xếch, mí mắt không lót) và ở ngôn ngữ độc âm.
Họ lại có tánh cách Nhục Chi ở thân thể cao lớn như Tây, mà
hiện nay người Hoa Bắc còn mang, khác hẳn người Hoa Nam về tầm vóc.
Xem ra thì yếu tố Mông Cổ lấn hơn, vì vùng đất đó là đất
chính của Mông Cổ mà là đất phụ của Nhục Chi.
Nhưng cả hai yếu tố ấy đều giống nhau ở điểm này là cằn cỗi
tâm hồn và quá thực tế, vì khí hậu ở đó đã đào luyện họ ra như vậy. Thế nên con
cháu của họ là người Tàu Hoa Bắc mới là những con người chỉ biết lý trí mà
thôi.
Họ không bao giờ lập ra nổi một tôn giáo vì trí óc của họ
không thể đi tới chỗ siêu hình. Họ có Lão, Trang, nhưng Lão, Trang lấy nguồn hứng
ở phương Nam tốt tươi ấm áp, đất mới có về sau mà thôi, còn Mông Cổ thì thuở ấy
quá lạnh, Tây Vức lại bắt đầu bị sa mạc hóa, tức quá nóng.
Mặc dầu là thuyết mới nhứt, trong đó có nhiều điểm được giới
khoa học nhìn nhận là đúng, Tuy nhiên, thuyết trên đây vẫn chưa được nhìn nhận
trọn vẹn. Nhưng chưa có thuyết nào được nhìn nhận trọn vẹn cả, nên chúng tôi
dùng thuyết này, trong đó có các điểm sau đây được coi là đúng sự thật:
Hoa chủng là kết quả của một cuộc hợp chủng giữa chủng Bắc
Mông Gô Lích của người Mông Cổ và với một chủng nào đó cao lớn như Tây, thế nên
người Hoa Bắc, nhứt là ở Cam Túc, Sơn Tây và Thiểm Tây, mới cao lớn như vậy.
Cuộc hợp chủng ấy xảy ra ở ngoài nước Tàu, tại đâu không rõ,
nhưng họ xâm nhập Trung Hoa từ hướng Tây Bắc, qua hành lang Cam Túc.
Cái sọ của họ khác sọ Việt Nam 9 đơn vị về chỉ số.
Sọ Việt Nam có tánh cách brachycéphale, còn sọ Hoa Bắc và Hoa
Nam thì có tánh cách mésocéphale. Dung lượng sọ cũng khác.
Đây là chúng tôi chỉ mới nghiên cứu có một chủng Mông Gô Lích
mà thôi, mà đã khác xa Việt chủng như vậy đó, nhưng có đến bốn chủng Mông Gô
Lích khác nhau.
Chúng tôi tạm ngưng việc xét sọ vì bấy nhiêu đó đủ bác sử gia
Nguyễn Phương rồi. Chúng tôi xin bước qua vài chi tiết khác để bác giáo sư Kim
Định.
Người lai căn ấy không có đất dung thân, xứ Tây Vức phải để
dành cho Nhục Chi, còn đất Mông Cổ thì để dành cho Hung Nô, cả hai thứ dân đó cần
đất quá nhiều vì lối sống bằng nghề chăn nuôi súc vật của họ. Thành thử bọn
mang hai dòng máu phải biến thành quân xâm lược đi cướp một vùng đất mà nay là
Hoa Bắc, đã có chủ rồi.
Một chủng mới đã ra đời, mà 5 ngàn năm sau, các nhà chủng tộc
học Âu Châu mới đặt tên, đó là chủng Trung Mông Gô Lích, tức chủng của người
Hoa Bắc, nó khác với chủng Bắc Mông Gô Lích là chủng Mông Cổ thuần
túy, và khác hẳn chủng Nam Mông Gô Lích của người Hoa Nam, và khác rất
xa chủng của ta.
Theo khoa chủng tộc học (Anthropologie physique) thì khi hai
cái sọ khác nhau từ hai đơn vị sấp lên, thì phải xem đó là hai chủng khác nhau,
và nếu hai cái sọ ấy bị ràng buộc với nhau bằng vài tánh cách khác thì phải xem
một cái sọ trong đó là một phụ chủng của cái sọ kia, vì thế mà khi nói đến chủng
Mông Gô Lích là nói một điều vô nghĩa đối với khoa học vì khoa học phân biệt đến
bốn chủng Mông Gô Lích khác nhau:
Bắc Mông Gô Lích của người Mông Cổ
Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc
Nam Mông Gô Lích của người Hoa Nam
Một phụ chủng thứ tư ra sao, và tên gì, chúng ta sẽ biết
trong sách này.
Có một điều này lạ lắm là tất cả các sọ lai căn đều được khoa
chủng tộc học biết rõ cả hai yếu tố hợp thành cái sọ đó, lai qua lai lại bốn
ngàn năm cũng còn biết được, nhưng sọ của người Tàu thì khoa chủng tộc học chỉ
biết có một yếu tố độc nhứt là yếu tố Bắc Mông Gô Lích, còn yếu tố thứ nhì thì
họ không thể biết chắc lắm.
Họ chỉ kết luận rằng Hoa chủng là Mông Cổ hợp với Nhục Chi,
chỉ vì họ thấy người Hoa Bắc cao lớn như Tây, và quanh nơi xâm nhập không có một
trung tâm văn minh Tân Thạch nào hết, trừ trung tâm Anau.
Họ suy luận rằng người Tàu văn minh sớm như thế thì phải có một
trung tâm Tân Thạch sớm gần họ, chớ không lẽ họ lại nhảy vọt được từ Cựu Thạch
lên đến đồng thau, mà cái trung tâm đó thì tuyệt nhiên không có, trừ trung tâm
Anau nằm trong đất Nhục Chi.
Thế nên thuyết trên đây, mặc dầu chưa được công nhận trọn vẹn,
vẫn chưa bị ai bác về điểm lai giống với Nhục Chi, người ta xem đó là một nghi
vấn. Dầu sao cũng có bốn điểm trên kia là bốn điểm chắc và được toàn thể nhìn
nhận.
Bọn lai căn đó, xâm nhập vào đất lạ, vào lối năm nào? Khoa khảo
tiền sử ước lượng là cách đây 5000 năm, tức trước Kitô kỷ nguyên ba ngàn năm, tức
sau khi Ai Cập và Lưỡng Hà đã văn minh cao rồi.
Họ gặp ai tại cái địa bàn đó? Nói một cách khác ai đang làm
chủ cái địa bàn bị Hoa tộc xâm nhập ấy?
Trước hết xin nói rõ cái địa bàn đầu tiên của Hoa tộc.
Đó là Hoa Bắc, ở trên sông Hoàng Hà.
Tàu phải mất hai ngàn năm từ buổi xâm nhập cho đến đầu đời Hạ
mà chỉ chiếm được có một diện tích đất bằng hai tỉnh rưỡi của Trung Hoa ngày
nay mà thôi.
Tỉnh Cam Túc không được kể, vì đó là hành lang xâm nhập, dân
ít ở lại mà chỉ dùng làm đường đi qua. Họ chiếm được nơi mà nay là phía Nam của
tỉnh Sơn Tây, nơi mà nay là phía Đông của tỉnh Thiểm Tây, nơi mà nay là phía Bắc
của tỉnh Hà Nam, nơi mà nay là phía Nam của tỉnh Hà Bắc, và một vùng đất nhỏ
xíu ở cái nơi mà nay là tỉnh Sơn Đông.
Như vậy dân thổ trước ở đó phải giỏi ít lắm cũng gần bằng
Trung Hoa và những ông vua mà sử Tàu ca ngợi là vua Thánh vua Hiền, thật ra phải
vô cùng tàn bạo vì cuộc tranh cướp đất đai phải vô cùng khốc liệt.
Đó là địa bàn được biết cho tới nhà Hạ. Nhưng cho đến đời
Chu, tỉnh Sơn Đông cũng cứ còn nhiều quốc gia của "Rợ" Đông Di mà Tàu
phải chinh phục, mà một quốc gia kia rất nổi danh, đó là nước Cô Trước đã biết
xây cất thành trì hàng ngàn năm rồi.
Về dân thổ trước thì ta thử dựa vào thượng cổ sử Tàu trước
cái đã.
Người Tàu gặp tại địa bàn mới nhiều dân tộc, nhưng không phải
nhiều chủng tộc đâu.
Như đã nói, ở đây chỉ dựa vào sử Tàu, chớ chưa kể đến công
trình Âu Mỹ khác xa Tàu. Thí dụ Âu Mỹ khai quật quê hương của rợ Khuyển Nhung,
một thứ rợ rất dữ tợn đã làm áp lực cho nhà Chu phải thiên đô về hướng Đông,
thì họ thấy rằng dân Khuyển Nhung (Tây Thiểm Tây) có cái sọ giống hệt sọ của
người Miến Điện mà sọ Miến Điện lại là sọ Mã Lai. Mặt khác họ lại tìm được dấu
vết Nam thiên của người Khuyển Nhung, từ Tây Thiểm Tây xuống Miến Điện ngày
nay.
Điều đó cũng ăn khớp với sử Tàu vì sử Tàu cũng cho rằng dân Lạc
(Lạc bộ Chuy) ở vùng sông Lạc (Thiểm Tây Ba Thục), tức họ chỉ Khuyển Nhung bằng
một tên khác, là danh xưng Lạc, mà Lạc, như ta sẽ thấy, chỉ là tiếng phiên âm
danh tự xưng Lai (Mã Lai) mà thôi.
Nhưng vì Tàu ít dùng danh xưng Lạc bộ Chuy để chỉ dân ở đó hơn
là danh xưng Khuyển Nhung, nên rồi không ai chắc chú ý đến bọn Lạc bộ Chuy đó cả.
Hơn thế ngày nay khi viết tên con sông của dân Lạc bộ Chuy
thì họ lại viết với bộ Thủy, thành thử Lạc bộ Chuy mất tích luôn.
Người Tàu có gặp Miêu tộc ở địa bàn ấy hay không? Và Miêu có
phải là Việt hay không, như giáo sư Kim Định đã dùng làm căn bản lớn cho sách của
ông.
Xét chỉ số sọ của chủng Miêu, thấy nó không giống chủng nào
khác hết, nó khác với Hoa chủng mà cũng khác với Việt, với Mã Lai.
Sọ lai căn ba bốn chủng tộc, khoa chủng tộc học cũng biết được,
mà chỉ lai một lần hay lai đi lai lại mãi, khoa đó cũng biết được một cách đích
xác, lai mấy ngàn năm rồi, cũng cứ còn biết được như thường.
Nhưng khoa đó xác nhận là Miêu thuộc một chủng riêng, rất lớn,
có mặt ở khắp nước Tàu, mà không có mặt ở đâu nữa cả, trừ cuộc di cư cách đây
hai ba trăm năm đến Thượng Lào và Thượng du Bắc Việt.
Có, họ có gặp chủng Miêu ở đó, có xung đột, nhưng không có
chiến tranh lớn với chủng đó mà cho đến ngày nay vẫn còn quá kém cỏi.
Miêu cũng bị đẩy lui lần từ Hoa Bắc đến Hoa Nam, và cuộc nhường
đất của Miêu hoàn toàn xảy ra trên bộ và dưới đời nhà Chu, theo Kinh Thư,
Miêu đã bị đẩy xuống vùng đất giữa hồ Động Đình và hồ Bành Lải. Nhưng đến nay
thì Miêu cũng mất luôn địa bàn đó và đất xa nhất của họ ở phía Bắc là tỉnh Quý
Châu.
Đây là một dịp cho ta thấy rằng không thể diệt chủng ai được
hết. Miêu chủng bị lấn từ 5 ngàn năm rồi mà chỉ mất có phân nửa đất đai, vì Quý
Châu là nơi chia hai nước Tàu về mặt diện tích và về bề ngang.
Họ chỉ mất hết Hoa Bắc mà thôi.
Giáo sư Kim Định tuyên bố không dựa vào sử Tàu thường bóp méo
sự thật, cũng không dựa vào khoa khảo tiền sử mơ hồ. Nhưng ở giai đoạn này thì
ông lại dựa vào quyển sách Tàu Cổ sử nhân vi của Mông Văn Thông là một
người chưa học khoa chủng tộc học lần nào hết, để nói rằng Tàu gặp Viêm tộc trước
nhứt mà Viêm là Việt + Miêu.
Một chủng tộc, tự xưng là gì mặc kệ nó, người Tàu có quyền đặt
tên khác cho nó, là Viêm chẳng hạn, nhưng khi bảo rằng Viêm = Việt + Miêu thì
sai sự thật quá xa vì sọ Miêu khác xa sọ Việt, lại không bao giờ có sự lai Miêu
+ Việt.
Nhưng nếu lại bảo thêm rằng khoa chủng tộc học là khoa học
không đáng tin, đừng nói đến việc đối chiếu sọ mất công, thì một giáo sư đại học
không có quyền nói. Đó là khoa học chính xác như toán chứ không phải khoa học
nhân văn nữa đâu mà có quyền tin nó hay không tin nó.
Người ta cải thiện khoa học chính xác, chẳng hạn như Tân Toán
Học cải thiện Toán học, nhưng không ai lại phủ nhận Toán học được.
Thí dụ họ đặt tên cho chủng Việt là chủng Viêm đi, ta cũng
cho qua, nhưng nói Viêm là Việt + Miêu thì là bất chấp đến một khoa học chính
xác là khoa đo và đối chiếu sọ đã được nhìn nhận là khoa học chính xác đủ khả
năng truy nguyên các chủng.
Nói thì thế nhưng trong bức bản đồ ở trang 77, thì giáo sư lại
cho vẽ khác hết. Theo bức bản đồ thì Viêm Việt gồm có Anh Đô Nê-diêng, Môn,
Chàm, Miến Điện, Miêu, Lạc v.v.
Đã khá hơn rồi, nhưng vẫn còn sai quá xa, vì khoa chủng tộc học
thấy rằng tất cả các dân tộc đó, trừ Miêu đều có sọ giống hệt nhau, nhưng không
đặt tên nó là Viêm, vì nó đã tự xưng là Mã Lai từ 5 ngàn năm rồi (có chứng
tích), còn Chăm, Miến Điện v.v. thì đều là danh xưng mới có về sau. Và Mã Lai =
Anh Đô Nê-diêng.
Vậy cái Viêm tộc của giáo sư Kim Định ăn vào Mã Lai chủng của
khoa chủng tộc học, nhưng sai ở danh xưng. Danh xưng Viêm không bao giờ có, còn
danh xưng Mã Lai thì đã có từ sáu ngàn năm, hơn thế đó là danh tự xưng.
Mà điều cần nhấn mạnh nhiều nhứt là Miêu là một chủng rất lớn
và không có mặt trong cái chủng mà Mông Văn Thông và giáo sư Kim Định
gọi là Viêm nhưng khoa chủng tộc học gọi là Mã Lai, vì gọi theo danh xưng của
nó từ ít lắm là sáu ngàn năm rồi.
Đã bảo người Tàu có quyền đặt tên một chủng, khác với khoa chủng
tộc học. Nhưng danh xưng Viêm thì không hề thấy dùng để chỉ chủng tộc bao
giờ cả mà chỉ có dùng để trỏ vài dân tộc nhỏ ở phương Nam của Hoa Bắc
và chỉ có nghĩa mơ hồ là dân xứ nóng, chớ không trỏ hẳn ai.
Họ có chỉ nước ta là Viêm bang, nhưng đó là sau đời Hán, còn
về thượng cổ thì họ mù tịt về bọn phương Nam Hoa Bắc.
Phương chi Miêu lại là chủ đất Hoa Bắc thì họ không có lý do
để gọi Miêu là Viêm, vì thuở đó rõ ràng Miêu là dân xứ lạnh y hệt họ.
Nhưng cái sọ mới là cái gì mà không ai nói ra nói vào gì được
cả.
Vậy thì gốc tổ tiên là Mã Lai chớ không phải tên Viêm, mà Tàu
cũng không bao giờ gọi nó là Viêm, chỉ có một ông Tàu đời sau là Mộng Văn Thông
mới phịa ra đấy thôi. Tàu gọi nó là Ló là Lỉa, tức Lai đấy
vì Tàu độc âm, bỏ mất Mã hoặc vì Mã Lai cũng có thói quen tự bỏ bớt một
âm, có nhóm chỉ tự xưng là Mạ mà thôi. Nhưng cái nhóm chánh cổ sơ nhứt thì tự
xưng rất dài là Malaya (núi Hymalaya) và nhóm thứ nhì có sáu ngàn năm
tự xưng là Malayalam được kinh Phệ Đà phiên âm là M’leccha.
Điều sai thứ nhì là giáo sư gồm Miêu trong bản đồ đó là lấy số
3 của Tam Miêu để diễn dịch và quy nạp thành ra trên 400 trang sách, trong khi
đó thì khoa chủng tộc học cho biết sọ Miêu thuộc chủng Miêu, khác hẳn với sọ Mã
Lai về chỉ số và về nhơn thể tính (Indice-crânien et carac ères
anthrropologiques) và họ có đến Ngũ Miêu, chớ không phải Tam Miêu như Tàu cổ đã
nói (Coi chừng giáo sư sẽ cho Ngũ hành, Ngũ kinh, Ngũ nhạc, Ngũ phương,
Ngũ sắc, Ngũ đế, Ngũ hồ, Ngũ lĩnh là của Ngũ Miêu khi mà số 3 sụp
đổ vì số 5 lòi ra thành sự thật khoa học).
(Bản đồ này cho thấy rằng giáo sư biết Anh Đô Nê ở Nam Dương,
nhưng lại gọi là Mán, Thổ).
Giáo sư biết là dân Anh Đô Nê ở xứ Anh-đô-xia ở Nam Dương, chỉ
có thế thôi, nhưng lại cứ hiểu họ là "Mọi" chớ không là Mã Lai, vì
trong bản đồ, sau danh xưng Anh Đô Nê và Nam Dương, giáo sư chua là Mán Thổ mà
Mán Thổ đó cũng lại được giáo sư hiểu là Mọi, nhưng cái nghĩa khoa học của Mán
Thổ, không là Mọi như thường dân hiểu.
Mán là một chi của Miêu tộc có di cư tới Việt Nam, còn Thổ là
một chi của Thái có di cư tới Việt Nam, chớ không bao giờ có mặt tại Nam Dương
như bản đồ đã vẽ, và bản đồ mà vẽ như vậy là người cho vẽ bản đồ hiểu Mán, Thổ
là Mọi, y như dân chúng đã hiểu.
Xin giáo sư học hai nền văn minh Shri - Vishayaa và Madja -
Pahit ở Nam Dương, xem họ có là Mọi hay không. Đó là hai nền văn minh của thế kỷ
thứ 5 sau Tây lịch mà Pháp gọi là "Très haut degré de Culture d’un faste
inoui" (Một nền văn hóa rất cao với một sự xa hoa chưa hề nghe nói đến hồi
nào và ở đâu cả).
Vậy bài viết: Viêm = Miêu + Việt không ăn với bản đồ, bản đồ
có hơi đúng hơn nhưng chỉ được dùng có một lần còn bài viết thì được dùng làm
căn bản cho cả cuốn sách với con số 3 nòng cốt là dân Tam Miêu.
Điều sai thứ ba là giáo sư cho rằng dân Hoa Bắc có dòng máu
Viêm mà Viêm thì như đã thấy, ăn vào với Anh Đô Nê = Mã Lai.
Nhưng khoa chủng tộc học lại không hề thấy có cái sọ nào ở
Hoa Bắc từ 6 ngàn năm nay mà có chất Viêm, hay chất Anh Đô Nê Mã Lai nào cả.
Mà khoa chủng tộc học thì có cái đưa ra làm chứng: những cái
sọ với phương pháp đo đủ mọi khía cạnh để biết sọ nào của chủng nào, sọ nào lai
căn mà lai với ai, còn cái triết của giáo sư thì chỉ có những con số 3 (Tam
Miêu), số 9. Cửu Lê, Cửu Trù. Con số 3 căn bản ấy, thì lại có cái sọ không phải
của Tàu, cũng không phải của Việt, cũng không có lai căn với ai bao giờ hết.
Tóm lại Viêm tộc theo quan niệm của giáo sư Kim Định, không
bao giờ có. Còn theo bản đồ thì có, nhưng nên loại trừ Miêu ra một chủng riêng,
và nên gọi Viêm tộc như tự nó đã xưng là Mã Lai chủng.
Và điều này quan trọng hơn hết là không hề có sọ Mã Lai hoặc
sọ Việt, sọ Cửu Lê chủng tại Hoa Bắc để cho Mộng Văn Thông và giáo sư Kim Định
cho rằng chính họ sáng tạo nên nền văn minh ở đó rồi bị Hoa tộc cướp lấy. Nếu
quả thế, thì phải có sọ cổ của Mã Lai, của Cửu Lê hay của Việt ở đó chớ sao lại
không bao giờ có, nghĩa là làm sao?
Ở trang 75 giáo sư viết rằng: Khảo tiền sử, khoa khảo cổ,
khoa chủng tộc học (mà giáo sư gọi là nhân chủng học) chỉ có giá trị
giả thiết (có lẽ giáo sư muốn nói giả thuyết). Còn viết theo quan niệm văn
hóa như giáo sư đã làm mới cho thấy được sự thật.
Rồi giáo sư lại ám chỉ H. Maspéro. Quả Maspéro trong quyển Les
religions đã cho rằng Hoa tộc và các dân tộc Đông Nam Á khi xưa có một nền
văn hóa chung. Nhưng ông H. Maspéro chỉ dám nói có bấy nhiêu đó thôi.
Bức dư đồ dùng cho tất cả các chương. Vì quá nhiều điểm sử phải
được ghi vào đây và nếu ghi hết thì dư đồ hóa ra rừng rậm, không còn đọc được,
nên chỉ vẽ sơ lược đến mức tối đa, chỉ cốt vừa đủ để dùng làm những cái dấu mốc
mà thôi.
Cửa sông Hoàng Hà được vẽ thành 4 cửa, vì Trãi qua ba bốn
ngàn năm, cửa sông đó xê dịch một cách kỳ cục, cách nhau 1.000 cây số.
Những cái mốc cần biết là sông Hoàng Hà, sông Dương Tử, sông
Hán, sông Hoài, sông Vị, động Đình Hồ, núi Ngũ Lĩnh và đất Ngũ Lĩnh, núi Kinh,
nước Đông Âu, nước Tây Âu, nước Mãn Việt, những cái mốc quan trọng đó đều có đủ
và đều được vẽ đúng.
Dư đồ này cần thiết cho 6 chương tất cả.
Còn giáo sư Kim Định thì phát triển mạnh cái câu đó ra, cho họ
đồng chủng và nhứt là cho tác giả chính là chủng Viêm nào đó.
Các dân tộc có một địa bàn dính nhau thì dĩ hiên phải
có văn hóa chung vào buổi sơ khai, nhưng điều đó không bao giờ có nghĩa là
Miêu đồng chủng với Việt, lại không bao giờ có nghĩa là sự phát triển ban đầu ấy
theo một chiều hướng nào đó là do Tàu ăn cắp của Việt.
Tàu họ từ cái căn bản đồng đều ban đầu mà bác sĩ Huard đã nói
đến và chúng tôi trích dịch cho đăng ở đầu trang sách, phát triển khác xa các
dân tộc khác hết mà không có bằng chứng là cái ban đầu đó họ ăn cắp của ta, lại
có bằng chứng ngược lại là khoa khảo tiền sử. Khoa này thì quá đích xác như
toán học, chứ không phải là giả thuyết như sách V.L.T.N. là chủng Mã
Lai hoặc Cửu Lê hoặc Việt chưa biết trồng trọt vào thời Hiển Viên (với chứng
tích) còn theo V.L.T.N. thì Cửu Lê đã giỏi trồng trọt (không chứng
tích).
Tại sao H. Maspéro lại không dám nói nhiều hơn như giáo sư
Kim Định đã dám? Vì H. Maspéro biết rõ là văn hóa biến bậy ra cả, tròn biến
vuông, đen biến trắng, một nền văn hóa chung buổi sơ khai biến thành 20 nền văn
minh khác nhau, và không nên trở về cái vốn cũ để nói rằng ai ăn cắp của ai, nhứt
là để nói rằng có sự lai giống và sự đồng chủng.
Granet và Maspéro đều đã lướt sơ qua trên khảo cổ, giáo sư
Kim Định đã noi gương hai ông đó, nhưng họ lướt sơ qua rất là khoa học, thế mà
họ còn sai, phương chi giáo sư Kim Định lại bất kể khoa học, cho khoa
Anthropologie physique là "giả thuyết", không biết rằng khoa đó nằm
trong nhóm khoa học chính xác (sciences exactes) chớ không phải là khoa học
nhân văn.
Cũng nên biết rằng y học tiến bộ là thế, mà vẫn chỉ được nằm
trong khoa học thực nghiệm mà thôi, còn khoa Anthropologie physique tuy là được
sắp loại trong khoa học nhân văn, nhưng vẫn được xem là khoa học chính xác từ
khuya rồi.
Khoa ấy còn đang tiến mạnh, nhưng đó là tiến chớ không phải bị
sửa đổi, và tiến trên cái nền tảng đã vững.
Nhơn thể tính của các chủng tộc đã thành hình hẳn, từ 10 ngàn
năm nay, đều biến thành cái gì như là công thức rồi, họ chỉ còn học đi học lại
về những chủng người trước đó nữa mà thôi, vì những chủng trước đó chưa thành
hình hẳn, còn chứa nhiều nghi vấn, nhưng Tàu và các dân Đông Nam Á hiện còn sống
sót đều thuộc về các chủng sau, tức cổ nhứt cũng chỉ có 10 ngàn năm, thì không
còn cái gì mà họ hồ nghi nữa hết và để cho ta hồ nghi nữa hết, bởi một cái sọ
lai hai chủng mà chỉ lai một lần từ 5 ngàn năm, họ cũng biết, và một cái sọ lai
hai chủng mà lai đi lai lại mãi từ 2 ngàn năm, họ cũng biết.
Nhưng Mộng Văn Thông không phải là người dốt đâu. Sách của
ông là một mưu đồ chánh trị rất là thâm sâu và độc ác.
Đặt tên cho Việt là Viêm chỉ để lôi kéo nó vào Viêm Đế biết
nông nghiệp chớ không phải là một sự đặt tên phất phơ đâu. Đó là một dụng ý lớn.
Nhưng rồi ta sẽ thấy rằng dụng ý đó không chịu đựng nổi sự kiểm soát của khoa
khảo tiền sử, khoa đó cho biết rằng Việt tộc chưa biết nông nghiệp vào thời
Viêm Đế.
Nói rằng Việt giỏi nông nghiệp, còn Tàu thì dã man thì rất
hãnh diện cho dân ta, cãi lại làm gì. Nhưng làm việc khoa học có đâu lại để
tình cảm xóa sự thật, thế nên chúng tôi mới cãi lại là vì sự thật mà thôi.
Các ông Tàu đi từ cực đoan này đến cực đoan khác. Ta không là
man-di, họ cứ gọi ta là man-di. Rồi giờ họ lại nói rằng ta văn minh hơn họ, mà ở
hai thái cực đó họ đều quan niệm tầm ruồng, không có một căn bản khoa học nào hết.
Nhưng thật ra thì đó là một hậu ý chánh trị vĩ đại núp sau
lưng văn hóa, chớ không phải là vô tình đâu. Khi mà họ làm cho 700 triệu người
Tàu tin rằng Tàu là Việt thì 700 triệu người ấy hẳn sẽ có khuynh hướng thống nhứt
ta. Khuynh hướng ấy chính đáng nếu nguyên ủy đúng, nhưng nguyên ủy lại không
đúng.
Và khi 30 triệu người Việt cũng tin y hệt như thế thì ta mất
hết cả ý chí chống xâm lăng. Hoa và Việt đã là một thì thống nhứt là đúng, còn
chống làm gì nữa.
Mao Trạch Đông cho vẽ dư đồ nước Tàu trong đó có Việt Nam
chưa đủ, mà phải có hai ba ngụy thuyết nữa mới xong:
Việt = Hoa (Nguyễn Phương)
Nếu Việt = Hoa không được ai tin thì họ nhượng bộ, nói:
Hoa = Việt (Mộng Văn Thông)
Thuyết sau có vẻ quá hấp dẫn, thăng hoa dân Việt thì bọn Việt
cứng đầu hẳn phải đành chịu vậy.
Ngụy thuyết của Mộng Văn Thông hơi hữu lý hơn, có thể chấp nhận
được, nhưng chính vì thế mà nó nguy hiểm hơn.
Họ Mộng không quả quyết rằng Việt là Tàu thuần chủng như giáo
sư Nguyễn Phương, mà chỉ nói là Tàu Hoa Bắc lai giống với Việt mà thôi.
Kiến giải này hấp dẫn hơn kiến giải của Nguyễn Phương bội phần
vì hai lẽ: cái sự thuần chủng rất là khó tin, chí như lai giống thì người ta có
thể nhắm mắt mà nghe, không cần kiểm soát. Lẽ thứ nhì là nó vuốt ve ta quá lắm
vì họ Mộng cho ta làm thầy của Tàu.
Ta vừa hợp máu với họ lại vừa làm thầy của họ thì xí xóa hằm
bà lằng, thế nào xong thì thôi, đảo Hoàng Sa của ta hay của họ cũng chẳng có gì
quan trọng mà phải tranh chấp.
Theo thuyết trên thì vua Thần Nông hiệu là Viêm Đế là Việt chớ
không phải Tàu. Vua ấy đã giỏi nông nghiệp và bị một thủ lãnh của Tàu là Hiên
Viên hạ sát để cướp đất và cướp luôn cả văn minh nông nghiệp đó.
Khi nói cướp văn minh, phải ngầm hiểu là có cướp người vì kẻ
bị cướp sẽ không dạy học cho kẻ cướp đâu, mà phải bắt họ làm người Tàu, họ mới
bị đồng hóa lần lần và dạy cho mà học.
Vậy người Tàu Hoa Bắc đích thị là người Việt một phần lớn.
Câu chuyện trên đây đã xảy ra cách đây 5.000 năm, tức là cái
sọ chưa thay đổi, và nếu có sọ Tàu lai Việt ở Hoa Bắc thì khoa học cũng thấy rồi
và biết rồi.
Nhưng sọ người Hoa Bắc lại khác sọ người Việt Nam một cách lớn
lao về chỉ số, về dung lượng, nhứt là về hai tánh cách Brachycéphale và
Mésocéphale. Cũng không thấy sọ lai Tàu + Viêm nào cả ở Hoa Bắc.
Như vậy thì nếu quả có Viêm tộc nào đó, thần dân của Viêm Đế,
thì cái Viêm tộc đó không thế nào mà là Việt được cả.
Cứ theo các cổ thư Trung Hoa thì vua Thần Nông đánh diệt Bổ
Toại. Bổ Toại là dân nào, đã dựng nước hay chưa thì không ai biết cả, mặc dầu
có sách nói mà không dẫn chứng rằng họ đã dựng nước rồi.
Kế đó các cổ thư lại cho ta biết rằng Hoàng Đế đánh diệt Xy
Vưu.
Rồi vua Nghiên đánh diệt Hoan Mâu.
Vua Thuấn đánh đuổi Tam Miêu.
Vua Võ đánh Cung Công.
Sử Tàu chép là các vua nói trên đánh các chư hầu tàn bạo. Sự
thật thì chính các thủ lãnh Tàu mới là tàn bạo. Người ta là chủ đất cũ, họ ở
ngoài xâm nhập, đánh cướp đất đai của người ta, mà lại cho rằng nhứt thiết tàn
bạo là thế nào?
Nhưng đó là phê bình tư tưởng Tàu, không phải là công việc của
cuộc nghiên cứu này.
Trong năm cuộc đánh diệt để giành giật địa bàn Hoa Bắc ấy, ta
chỉ biết được có ba dân tộc là dân Khuyển Nhung, dân Cửu Lê của thủ lãnh Xy Vưu
và dân Miêu, không phải chỉ vì ba thứ dân ấy hiện tồn tại, mà vì các cổ thư Tàu
có cho chút ít chi tiết để truy nguyên ra họ.
Ta không biết Bổ Toại, Hoan Mâu, Cung Công là nước, là thủ
lãnh hay là dân và là dân nào, vì sách Tàu mỗi sách mỗi nói khác nhau. Thí dụ Bổ
Toại có khi được gọi là nước, có khi được gọi là hậu, tức thủ lãnh một chư hầu
nhỏ, có khi được gọi là dân, có khi được xem là một nhơn vật và không còn chi
tiết nào nữa hết.
Nhưng ta bỏ qua ba thứ dân ấy được, bởi khi mà các cổ thư
Trung Hoa không có chi tiết nào khác là vì dân ấy quá ít, không phải là một dân
tộc lớn đáng kể. Bổ Toại thì còn có thể đổ thừa rằng vì quá lâu đời (đời Thần
Nông) chớ Cung Công thì tương đối mới đây thôi (đời nhà Hạ). Sử Tàu biết về đời
Hạ rất nhiều mà không nói rõ về Cung Công, tức Cung Công chỉ là một dân tộc
không làm chủ được bao nhiêu đất.
Cái ông Cung Công này thật là một người Việt của Kim Dung.
Thuở xưa theo các ông Tàu thì đất Tàu vuông, trời Tàu tròn và
nóc được bốn cây cột chống đỡ.
Nhưng ở Tây Bắc, Cung Công nắm cây cột mà lay nên cột gãy,
làm cho trời sập ở Tây Bắc cho đến ngày nay, tức đến đời vua Vô, kẻ hạ sát Cung
Công.
Vì trời sập ở đó nên trời ở đó thấp còn đất thì cao lên (?)
trong khi đó đất hướng đông dĩ nhiên thấp xuống.
"Bằng chứng" (?) là bao nhiêu sông của Tàu đều chảy
ra hướng đông, còn trăng sao và mặt trời thì trôi ngược lại từ Đông sang Tây.
Ấy, đó là một nhơn vật tương đối hơi mới vì Cung Công chỉ mới
bị vua Võ hạ, tức vào đầu đời Hạ mà thôi.
Nhưng không là sử nữa mà là huyền thoại bày ra để giải thích
hiện tượng trăng sao mọc hướng Đông rồi đi sang hướng Tây, và về sông Tàu chảy
ra hướng Đông, nhưng kẻ sáng tác ấy, quá kém cỏi vì không ai hiểu sao mà đất
Tây Bắc lại trồi lên cao chỉ vì trời sập ở Tây Bắc.
Và kẻ ấy lại đặt câu chuyện quá gàn là đầu đời Hạ, một cách vụng
về, khi ta biết quá rõ về nhà Hạ.
Thế thì ta chỉ còn biết dựa vào khảo tiền sử. Khoa ấy đã đào
bới và chỉ thấy sọ người Hoa Bắc và sọ của Khuyển Nhung và của Miêu tộc mà thôi
(không kể những cái sọ lâu đời là sọ người Bắc Kinh cổ hàng trăm ngàn năm và chẳng
dính líu gì tới người Tàu cả).
Thế thì Bổ Toại, Hoan Mâu, Cung Công và Viêm, nếu có; thì chỉ
có thể là Tàu, chớ Miêu đâu có quá giỏi như các tay hiệp sĩ Tàu mà lay nổi cột
trời cho trời sập. Chỉ có người Tàu mới làm nổi kỳ công ấy mà thôi.
Nhưng về Xy Vưu thì có chắc một trăm phần trăm, vì dân Cửu Lê
tồn tại.
Chỉ đáng kinh ngạc lắm là không hề có sọ Cửu Lê.
Ta phải hiểu thế nào đây?
Vâng, Tàu đã nói đến Khuyển Nhung, đến Miêu, lại còn nói đến
Cửu Lê.
Mà Cửu Lê thì được nói đến nhiều nhứt, tức Cửu Lê là một dân
tộc quan trọng và liên hệ giữa họ và Tàu rất là đáng kể, chớ không phải như các
thứ dân khác. Nhưng người ta đã tìm lại được Cửu Lê ở nơi khác, nhưng tuyệt
nhiên không có sọ Cửu Lê ở Hoa Bắc, nhưng câu chuyện thì mới xảy ra có năm ngàn
năm, tức tương đối rất mới đối với lịch sử nhân loại. Thật là kỳ lạ.
Và kỳ lạ nhứt là theo thuyết Kim Định có sự cướp văn minh. Cướp
văn minh, không thể thoáng thấy mà cướp được, mà phải học hàng trăm năm, tức phải
có sự hợp tác. Nhưng sọ và dụng cụ của Cửu Lê lại chỉ tìm thấy ở ngoài nước Tàu
mà không hề có ở trong lãnh vực Hoa Bắc.
Giáo sư Kim Định, trong Việt lý tố nguyên đã lập ra
một triết thuyết, triết thuyết ấy dựa trên sử mà đó là sử riêng của giáo sư chớ
không phải của Tây hay của Tàu.
Theo giáo sư Kim Định thì:
Cửu Lê = Các bộ lạc
Nhưng bộ lạc của dân tộc nào, chủng tộc nào thì giáo sư không
có nói, và cứ đọc một câu văn như vậy, ai cũng hiểu rằng đó là các bộ lạc Trung
Hoa. Nhưng ở trang 114 thì ông viết Cửu Lê với chữ Lê không có hoa, và chua là
9 thứ dân trong đó có Tam Miêu (nhưng còn 6 thứ dân nữa là dân nào ông không
cho biết).
Đành rằng chữ Lê là dân chúng, cũng viết y hệt như Lê là dân
tộc Lê, nhưng Tàu làm gì mà chỉ có 9 bộ lạc vào thời ấy. Họ phải có một ngàn bộ
lạc, hoặc một bộ lạc độc nhứt, mà ở chương Họ chúng tôi sẽ trưng bằng
chứng rằng Hoa tộc, từ cổ chí kim chỉ là một bộ lạc độc nhứt.
Như vậy Lê trong Cửu Lê phải hiểu khác, chứ không
thể hiểu là Các bộ lạc, Chín bộ lạc.
Đó là một dân tộc, không thuộc Hoa chủng, nhưng gồm 9 nhóm
khác nhau chút ít, và đang làm bá chủ Hoa Bắc khi người Tàu từ Tây Bắc xâm nhập
qua hành lang Cam Túc.
Ông bảo rằng Cửu trù là của Cửu dân, tức Cửu Lê. Đó là theo ý
ông chứ thật ra thì, theo các cổ thư Trung Hoa, Cửu trù giản dị hơn nhiều, đó
là 9 phép trị nước mà ông Cơ Tử truyền lại cho vua Vũ.
(Cái ông Cơ Tử này là Cơ Tử khác chớ không phải là Cơ Tử tôi
của vua Trụ đời Ân đâu).
Nếu quả Cửu trù do 9 thứ dân khác chủng với Trung Hoa thì dân
đó chưa thống nhứt cho nên họ mới có đến CỬU trù, chớ đã thống nhứt rồi thì họ
chỉ còn có NHỨT trù mà thôi.
Nhưng vua Vũ góp nhặt 9 trù của cả 9 thứ dân thì quả thật là
lỉnh kỉnh. Hơn thế Tam Miêu, mặc dầu là 3, nhưng họ chỉ có 1 trù độc nhứt, đến
nay cũng thế, cái trù đó là chế độ bộ lạc, vì cho đến ngày nay mà họ vẫn chưa
tiến lên tới chế độ phong kiến giai cấp mà còn ở dưới chế độ nguyên thỉ của
loài người.
Rất nhiều người cho rằng Lê là Thái. Nhưng chúng tôi không
tin rằng Lê là Thái.
Người Lê hiện tồn tại ở Hoa Nam, nhưng chỉ đông đảo ở Hải Nam
mà thôi. Chính ông H. Maspéro bảo họ là Thái, nhưng ông V. Goloubew lại cho rằng
họ có văn hóa giống hệt người Đông Sơn, và Lệ Đạo Nguyên trong Thủy Kinh
Chú lại tả họ giống người Nhựt Nam.
Người Tàu chia thổ dân ở Hải Nam ra hai thứ: Sanh Lê, tức Lê
sống, tức Lê còn dã man, ở trong rừng, và Thục Lê, tức Lê chính, tức Lê theo
văn minh Tàu.
Tôi học ngôn ngữ của người Thục Lê là người Lê di cư đến Việt
Nam với danh nghĩa là Tàu Hải Nam thì thấy rằng họ nói tiếng Tàu sai giọng, như
bất kỳ nhóm Tàu nào, trừ nhóm Trung Nguyên, ở gần ba kinh đô ngày xưa của Tàu,
và cũng như các nhóm Tàu khác, họ còn giữ được lối một trăm tiếng cổ của dân tộc
xưa của họ, mà danh từ cổ của Hải Nam đó là danh từ Mã Lai Nam Dương, và chúng
tôi sẽ chứng minh rằng đó là Lạc bộ Mã và đồng tông với người Chàm.
Thế thì Lê không phải là Thái mà là Mã Lai Nam Dương bị Hoa
hóa. Theo chỗ chúng tôi biết chắc, bằng vào ngôn ngữ thì là như thế đó.
Hán thư lại cũng gọi thổ dân Hải Nam là Lạc Việt, thì cả
ba nguồn V. Goloubew, Hán thư và quan sát của chúng tôi đều ăn khớp với
nhau, là Lê là Lạc.
Người Chàm theo văn minh Ấn Độ, người Cao Miên, người Nam
Dương cũng thế. Vậy mà mỗi lần trong nước của họ có biến lớn thì sử chép rằng họ
di cư sang Hải Nam, thay vì đi vào Cao Miên, đi Nam Dương và đi Ấn Độ.
Ta cứ ngỡ rằng họ chạy bậy, nhưng không phải thế. Vào thời mà
họ di cư sang Hải Nam thì người Lê ở đó còn đồng ngôn với họ, họ biết như vậy
và đó là họ chạy đúng đường.
Huyền thoại bà chúa xứ Pô Nưga của họ lấy chồng Tàu cũng vì lẽ
đó. Tàu trong huyền thoại là bọn Lạc bộ Mã bị Hoa hóa tức cũng là Chàm với
nhau, và nếu trong trạm tiền sử Sa Huỳnh có dấu vết cổ vật Tàu đời Hán thì
không có gì lạ hết.
Dưới đời Hán, dân Hoa Nam vẫn chưa thành Tàu hẳn, mà cứ còn
là Mã Lai bằng chứng là cho đến đời nhà Nguyên mà Marco Polo còn cho biết rằng
dân Hoa Bắc gọi dân Hoa Nam là Mandzi tức Mandi, tức việc Hoa hóa mãi đến đời
nhà Nguyên vẫn chưa xong.
Chỉ có điều là cả Hán thư lẫn Hậu Hán thư đều
tiền hậu bất nhứt, khi thì viết chữ Lạc với bộ Trãi, khi thì viết với bộ Mã, nhứt
là Hậu Hán thư trong có một trang sách mà ông Phạm Việp viết hai chữ
Lạc khác nhau để chỉ có một thứ dân là dân ta.
Rồi ta sẽ thấy rằng quả có hai thứ Lạc, chớ không phải là Tàu
viết bậy bạ, còn Hán thư và Hậu Hán thư tiền hậu bất nhứt,
cũng có lý do chính đáng lắm, vì ở Hải Nam và Việt Nam đều có hai thứ Lạc.
Thế thì Cửu Lê là chín thứ dân Lê, mà trong đó chắc chắn là
có Lạc chứ không phải là các bộ lạc nào hết, và câu văn của giáo sư Kim Định lại
làm cho ta hiểu rằng đó là các bộ lạc người Tàu cổ thời.
Chữ Lê này viết như họ Lê tức có Hóa, một thứ
lúa, có Nhơn, có Thủy. Có thể chiết tự mà hiểu rằng dân đó đã biết trồng
trọt (Lúa Hóa) hay chăng?
Cứ làm, và cứ hiểu như thế thử xem. Nhưng nó nghịch lại với
khoa khảo tiền sử. Khoa khảo tiền sử không tìm thấy bên cạnh sọ cổ 5 ngàn năm của
bọn Cửu Lê dụng cụ nào để xay, giã hay nghiền, tán, nấu, bất kỳ loại mễ cốc nào
hết.
Thật ra thì không ai biết rõ Hóa ra làm sao, nhưng
dầu sao đó cũng là một thứ mễ cốc mà mễ cốc thì không thể ăn được nếu thiếu dụng
cụ.
Vũ khí của họ bằng đá thì dụng cụ cũng phải bằng đá chớ không
thể bằng gỗ, mà dụng cụ bằng đá thì phải còn. Nên biết rằng dụng cụ gỗ khó chế
tạo hơn dụng cụ đá, mặc dầu gỗ mềm hơn đá. Đồ đá có thể đẽo bằng đá khác, còn đồ
gỗ thì đòi hỏi dụng cụ kim khí. Vậy nếu họ có dụng cụ để xay, giã, nghiền, tán
lúa Hóa thì dụng cụ ấy phải bằng đá và phải còn cạnh sọ của họ và cạnh
vũ khí của họ. Nhưng không bao giờ thấy, mặc dầu các cuộc khai quật đã đầy đủ.
Nhưng người Tàu viết chữ, không phải luôn luôn chiết tự mà hiểu
đúng được ngữ nguyên vì ba loại viết theo phương pháp Hài Thanh, Chuyển
Chú và Giả Tá rất là gạt gẫm.
Sử thuyết của giáo sư Kim Định dùng làm nền tảng cho triết
thuyết của quyển sách nói trên là như thế này:
Người Tàu xâm nhập Trung Hoa (giáo sư không cho biết họ là
ai, xâm nhập vào thời nào) là dân du mục. Dân ấy gặp Viêm tộc tức Việt tộc, đã
biết canh nông, nhưng theo mẫu hệ chứ không theo phụ hệ như Tàu, rồi tù trưởng
Hiên Viên của Tàu thắng Viêm tộc, cướp văn minh Viêm làm văn minh của họ, tự
xưng là Hoàng đế.
Cửu Lê, ban đầu được trình bày như là các bộ lạc Tàu thượng cổ
nhưng đột ngột biến thành 9 thứ dân khác chủng với Tàu, nhưng không biết là chủng
nào, rồi thì lại được đồng hóa với Viêm Việt.
Giáo sư Kim Định chối bỏ sử Tàu và khoa khảo tiền sử, cho là
sử Tàu bóp méo sự thật còn khoa khảo tiền sử thì mơ hồ. Nhưng cái vụ Hiên Viện,
Cửu Lê này lại lật tẩy giáo sư, cho thấy là giáo sư dựa trên sử Tàu rõ rệt, chỉ
có khác là giáo sư hiểu theo ý muốn của giáo sư.
Nếu không có sử Tàu thì trên đời này không hề có ai hay biết
có một viên tù trưởng Tàu của thị tộc Hữu Hùng, tên là Hiên Viên, định cư ở Bắc
Hà Nam, đã thắng 9 nhóm dân Lê dưới quyền chỉ huy của tướng Xy Vưu hết.
Theo sử Tàu thì Hiên Viên và Xy Vưu ngang hàng với nhau đều
là Hậu, tức thị tộc trưởng (chefs de clans). Thuở ấy đã có một ông vua là vua
Thần Nông, hiệu Viêm đế, và giáo sư Kim Định dựa theo Mộng Văn Thông cho rằng
đó là vua của Viêm tức Việt.
Nhưng theo tự điển Từ Hải trích dẫn cổ thư thì Xy
Vưu không là Hậu bao giờ hết mà là Vua. Xy Vưu cổ thiên tử, Xy Vưu bá
thiên hạ.
Một dân tộc Việt có thể có hai vua chăng? Rất có thể, khi dân
tộc ấy chưa thống nhứt và cả hai, Thần Nông và Xy Vưu đều là vua của một dân tộc
Việt. Nhưng thật ra họ đã thống nhứt rồi, trong khối Cửu Lê.
Xy Vưu là vua của 9 nhóm Lê, điều đó thì rất khó cãi, vì Lê tồn
tại cho tới ngày nay.
Chỉ còn phải biết Thần Nông là vua của Tàu hay của Việt. Việt
đây phải hiểu là một chi Việt vì Việt gồm tới bốn năm chi và hàng trăm tiểu chi
(Bách Việt).
Ở đây ta tạm dẹp khoa khảo tiền sử lại, để xét truyền thuyết
xem ra sao. Người Tàu có truyền thuyết về vua Thần Nông là một trong nhiều vua
cổ của họ, còn Việt Nam thì không. Lộc Tục chỉ là cháu của Thần Nông, nhưng lai
căn hai ba đời rồi.
Mà câu chuyện cũng xảy ra ở Hoa Nam chớ không phải ở Hoa Bắc.
Hoa Nam là đất mà Hoa tộc có sau Hoa Bắc đến hơn hai ngàn năm.
Vậy trong truyền thuyết cũng chỉ có Tàu Hoa Bắc là giành vua
Thần Nông làm tổ trực tiếp còn ta thì chỉ giành làm cháu lai căn của ông ấy ở
Hoa Nam mà thôi.
Đứng về mặt nào, khoa học hay truyền thuyết, Thần Nông cũng cứ
là tổ trực tiếp của Tàu, và tại Hoa Bắc, còn ta, tại Hoa Bắc, nếu có thì ta
không là hậu duệ của Thần Nông, bởi trí nhớ của ta cũng không kém của Tàu, mà
ta không rành ông đó, tức là ông không có dính líu gì tới ta hết.
Triết thuyết chắc có đúng sự thật phần nào và giáo sư Kim Định
đã cho truyền thuyết một địa vị lớn lao quá sức trong sách của ông, nhưng riêng
về điểm này thì ông lại bất kể truyền thuyết, cứ theo Mộng Văn Thông và cho rằng
Thần Nông là vua Việt.
Mộng Văn Thông có dụng ý chánh trị khi nối kết Việt vào Thần
Nông.
Đã bảo khi thuyết:
Việt = Hoa
của giáo sư đại học Nguyễn Phương thất bại, bị phản ứng quá mạnh
rồi thì phải có cái gì khác thay vào mà cứ giữ được quan niệm hai dân tộc là một.
Cái gì khác đó là thuyết của Mộng Văn Thông:
Hoa = Việt.
Sự nhượng bộ này chỉ làm cho ta hãnh diện mà thôi, nhưng ta sẽ
chết với sự hãnh diện đó. Ta làm tổ của Tàu, Tàu không sao cả, vì đó chỉ là tổ
giai đoạn, giai đoạn thôn tính bằng sử xuyên tạc. Thôn tính xong, quyển sách của
Mộng Văn Thông sẽ bị phủ nhận là sai. Thế là ta sẽ rơi trở vào địa vị làm con.
Thật ra thì ta nghiên cứu sử, tức tìm sự thật thì làm con
cũng chẳng sao, mà làm tổ cũng chẳng sao, miễn sự thật là thế. Nhưng cả hai
môn, truyền thuyết và khoa khảo tiền sử đều cho thấy Thần Nông và Cửu Lê khác
chủng với nhau, khác văn minh với nhau.
Theo truyền thuyết của hai dân tộc thì như thế đó, mà giáo sư
Kim Định lại tin truyền thuyết hơn khoa học.
Dầu sao tin theo đàng nào cũng cứ có những sự kiện sau đây:
Mộng Văn Thông không đưa ra được chứng tích, còn khoa khảo tiền
sử thì có chứng tích. Chứng tích đó lại ăn khớp với những gì xảy ra từ thời
Hiên Viên đến nay (1970).
Thuyết Mộng Văn Thông chưa chi đã thấy sai là:
Viêm = Miêu + Việt.
Chúng tôi có một chương riêng cho Miêu tộc. Ở đây chỉ được
tóm lược lại mà thôi. Sọ Miêu và sọ Việt khác nhau rất xa, ngôn ngữ cũng thế,
mà cũng không hề tìm thấy một cái sọ lai căn Miêu Việt bao giờ hết ở Hoa Bắc,
như đã thấy sọ lai căn Mã Lai + Mông Cổ ở Triều Tiên.
Sọ lai căn mang hai đặc thái của hai chủng lai giống với
nhau, các nhà nhân thể học xem là biết ngay.
Theo khoa dân tộc học thì ngày nay Miêu tộc còn chăn nuôi giỏi
hơn là làm ruộng và chưa tiến đến chế độ phong kiến giai cấp, tức là còn ở chế
độ bộ lạc. Thế thì vào thời Hiên Viên, họ chưa biết nông nghiệp được đâu. Chữ
Điền trong chữ Miêu không hề có nghĩa là họ biết làm ruộng, vả lại văn tự thì
chỉ mới có về sau, lối đầu đời Thương, chớ vào thời Hiên Viên thì không có bằng
chứng là có văn tự.
Còn chữ Hữu ở trước chữ Miêu, không có
nghĩa là có ruộng như giáo sư nói. Theo tự điển Từ Hải thì chữ Hữu dùng
trước các họ, các dân tộc, chỉ là trợ từ: Hữu Miêu, Hữu Sào, Hữu Hùng, Hữu
Ngu.
Vậy có thể loại Miêu ra khỏi Viêm tộc, chỉ còn Lạc và Lê mà
thôi.
Hình như là Mộng Văn Thông vẫn có biết kết quả của khảo tiền
sử ở Á Đông, nhưng một là không thông ngoại ngữ, ông ấy đọc sách không vỡ
nghĩa, hay là ông có mưu đồ chánh trị thì không rõ.
Quả thật thế, ông bảo rằng trước khi Hoa tộc đến thì Viêm =
Miêu + Việt làm chủ toàn thể Hoa Nam ngày nay, rồi thì từ Hoa Nam họ tràn lên
Hoa Bắc.
Khảo tiền sử cũng nói hơi tương tự như thế, nhưng lại khác
xa, nếu ta hiểu được chữ nghĩa của họ.
Miêu không bao giờ dính với Việt bất cứ về phương diện nào:
Chủng tộc, ngôn ngữ, truyền thuyết, vật tổ.
Việt Hoa Bắc không phải là Việt Hoa Nam tràn lên, bằng chứng
là ngôn ngữ căn bản của họ có khác nhau, Việt Hoa Nam nói cái cẳng, Việt
Hoa Bắc nói cái chơn, hai thứ Việt đó, Việt Hoa Nam không hề biết danh từ chơn,
Việt Hoa Bắc không hề biết danh từ cẳng, chỉ có Việt Nam là biết đủ thứ vì
là Việt hỗn hợp. Cả Nhựt, Chàm, Phú Nam cũng đều là Việt hỗn hợp nhưng họ chỉ
biết cẳng mà không hề biết chơn.
Nói các ông ấy có âm mưu chánh trị hình như oan cho ông ấy
chăng vì một câu khác của các ông chứng tỏ các ông đọc sách không vỡ nghĩa. Ông
Vương Đồng Lĩnh mà giáo sư Kim Định có trích dẫn cho rằng dân ở Thiên San chia
thành hai nhóm, một nhóm sang Tây làm thủy tổ da trắng, một nhóm sang Đông làm
thủy tổ da vàng.
Nhưng khoa chủng tộc học thì dạy rằng chủng này không thể biến
thành chủng khác được, trắng là trắng, vàng là vàng không kể chủng trung gian
trắng vàng là Hoa chủng… Nhưng Hoa chủng là một chủng lai y hệt như Ấn Độ. Còn
các chủng ở Âu Châu (mà thật ra thì có một chủng tộc độc nhứt, đó là chủng Ấn
Âu) thì không phải là chủng lai.
Dĩ nhiên là da trắng còn hai chủng nữa là chủng Hamite và
Sémite, nhưng hai chủng này thì chẳng liên hệ đến Tàu.
Có lẽ họ Vương ngỡ khí hậu biến dân da vàng thành ra Pháp, Đức,
Nga được như chơi. Nói đến chủng lai thì có chủng độc nhứt đó là Hoa chủng. Người
Aryen cũng lai, nhưng họ chỉ là một nhóm chớ không phải một chủng. Họ trắng
nhưng lai với Mã Lai Dravidien, mà Dravidien là Mã Lai, tức vàng, nhưng trước
khi lai với Aryen đã bị lai với Mê-la-nê, nên đã đen da, thành thử cái sọ, của
người Ấn Độ mang đến ba yếu tố:
Ấn Âu: trắng
Dravidien: vàng
Mê-la-nê: đen
Người Cao Miên cũng thế nhưng ít lai với da trắng mà lại lai
nhiều với da đen, thành thử họ xấu người hơn ta nhưng lại nói tiếng Tây giống
Tây hơn ta.
Làm thế nào để biết Thần Nông là vua của Tàu hay vua của ta?
Chúng tôi không dám trèo đèo viết sách cho giáo sư đại học
xem, vả lại giáo sư Kim Định không tin khoa học mà chúng tôi thì dựa vào khoa học
thì đừng mong gì.
Vậy chúng tôi xin trao sách này cho những ai tin khoa học.
Muốn biết người xưa, khoa khảo tiền sử đào bới để tìm sọ, vũ
khí và vật dụng của họ.
Đào xong, khoa đó cũng chưa biết cái gì hết. Cả đến nhà bác học
Einstein cũng sẽ mù tịt khi ta đưa ra trước mặt ông ấy hai ba cái sọ, ông ấy
cũng chỉ thấy đó là hai ba cái đầu lâu, không hơn không kém.
Nhưng có một khoa học kia thì biết rõ. Đó là khoa chủng tộc học
(Anthropologie physique) mà trước đây ta gọi là nhân chủng học.
Vậy các nhà đào bới đã nhờ khoa đó tại Hoa Bắc và khoa đó đã
tiết lộ những điều kỳ dị hết sức là các thứ sọ Hoa Bắc chỉ thuộc ba chủng còn để
hậu duệ lại cho đến ngày nay:
Sọ Trung Hoa
Sọ Miêu
Sọ Khuyển Nhung ở Tây Thiểm Tây, mà sọ Khuyển Nhung chỉ là sọ
Miến Điện, mà sọ Miến Điện chỉ là sọ Mã Lai.
(Chúng tôi không thể kể những sọ không còn hậu duệ, chẳng hạn
như sọ của thứ người gọi là người Bắc Kinh sống cách đây mấy trăm ngàn năm, y
không phải là tổ tiên của người Tàu là kẻ mới đến sau).
Kỳ dị là không hề có sọ Cửu Lê, sọ Lạc, sọ Việt hay sọ nào
khác để đặt tên là Viêm chẳng hạn.
Nhưng sử Tàu đã nói đến Cửu Lê đến Lạc và đến Lạc Lê, lại nói
rõ địa bàn của họ nữa, về Lạc-Lê thì họ đích xác hơn về Miêu rất nhiều thì ta mới
hiểu sao đây?
Không thể cho rằng sử Tàu dựng đứng lên Lê và Lạc, để làm gì
chớ? Thế thì hẳn Lê và Lạc phải có.
Như vậy ta tạm hiểu rằng Lê và Lạc làm chủ Hoa Bắc không lâu
là bị Tàu đánh đuổi, nên không có để dấu vết lại.
Giả thuyết này, sẽ thấy là đúng, qua những sự kiện về sau. Mà
như thế thì vấn đề Thần Nông đã được giải quyết.
Thần Nông biết nông nghiệp còn Miêu thì không, như khoa dân tộc
học đã chứng minh và như tự điển Từ Hải đã giải thích rằng Hữu Miêu
không phải là có ruộng, mà Hữu chỉ là trợ từ.
Thần Nông cũng không phải là Khuyển Nhung vì Thần Nông ở tại
rún địa bàn Hoa Bắc cổ thời còn Khuyển Nhung thì chỉ ở Tây Thiểm Tây.
Như thế thì Thần Nông chỉ có thể là Tàu cho dẫu y là vua hay
là một đợt văn minh nông nghiệp bị Chu Nho ngây thơ theo lối Evhémère biến
thành nhơn vật.
Còn Lê và Lạc thì cũng ở ngoài bìa nước Tàu thượng cổ ấy (Nam
Hà Nam và Sơn Đông) chớ không có ở tại rún của quốc gia đó bao giờ.
Dầu sao thì vào thời thượng cổ Cửu Lê và Lạc đã làm chủ Hoa Bắc
thật sự vì biến cố Hiên Viên, Xy Vưu là một biến cố lớn của thời ấy, không như
vụ cầm tù lãnh tụ Miêu tộc là một sự kiện lặt vặt.
Nhưng lại không hề có sọ Cửu Lê và sọ Lạc ở Hoa Bắc thế nghĩa
là làm sao?
Những cái sọ Lạc không tìm thấy ấy, rồi họ sẽ tìm thấy nơi
khác, cạnh nước Tàu, nhưng ta vẫn phải nhìn nhận rằng ở Hoa Bắc có Cửu Lê và có
Lạc, chỉ có điều là họ làm chủ chưa lâu là bị Hiên Viên đánh đuổi ngay.
Ở đây, sự suy luận phải thật gắt gao và siêu chính xác, vì
sai một li là đi đời cả thượng cổ sử Hoa và Việt.
Theo sử Tàu thì Thần Nông làm vua được 8 đời mới bị Hiên Viên
diệt. Tám đời vua thì phải lâu, và phải có để dấu vết lại.
Trong khi đó thì Cửu Lê không hề có để lại một tí dấu vết tại
đất Hoa Bắc.
Như thế thì làm thế nào mà Thần Nông, là vua của dân Lê và Lạc
được?
Bằng như nói Thần Nông thuộc Miêu, thì chúng tôi đã bác rồi
là Hữu Miêu không có nghĩa là có ruộng và ngày nay họ còn giỏi chăn nuôi hơn là
trồng trọt thì không làm sao mà cách đây 5.000 năm họ đã giỏi nông nghiệp hơn
Tàu.
Viêm chăng? Không có cái sọ nào khác hơn là sọ Tàu và sọ Miêu
để cho Mộng Văn Thông đặt tên là Viêm hết.
Khuyển Nhung chăng? Khuyển Nhung định cư ở Tây Thiểm Tây,
không liên lạc được với Thần Nông vì Đông Thiểm Tây là của Tàu. Như vậy Khuyển
Nhung cũng không thuộc Thần Nông. Khuyển Nhung lại có sọ Mã Lai.
Việt chăng? Không có cái sọ Việt nào ở Hoa Bắc hết.
Vậy Viêm tộc không bao giờ có trên đời này.
Viêm bang chỉ là danh xưng mà Tàu đã bày ra về sau, để chỉ nước
ta vì nước ta viêm nhiệt, còn Viêm phương là danh từ mà Tàu đã bày ra trong đời
Chu để chỉ mơ hồ phương Nam của Tàu. Chỉ có thế thôi.
Có lẽ quả thật Thần Nông là nhóm Tàu đã bày ra nông nghiệp
còn Hiên Viên thì không, nhưng họ cũng chỉ là Tàu với nhau. Bằng chứng trong một
nước có so le văn hóa, thấy rõ trong Hậu Hán thư tả Giao Chỉ đã giỏi
làm ruộng còn Cửu Chơn thì chưa biết nông nghiệp. Thần Nông và Hiên Viên có
khác nhau về sinh kế là cũng ở trong trường hợp đó.
Còn ông ấy lấy hiệu là Viêm Đế là vì lý do nào không rõ, chớ
không vì ông ấy là vua của chủng Viêm mà chúng tôi quả quyết là không có, hoặc
nếu có thì cũng chỉ là một nhóm Tàu họ lấy tên là Viêm có thể vì nhóm đó biết lửa
trước nhóm Hiên Viên. Mà như vậy là dân tộc chớ không phải là chủng tộc nữa.
Nhưng thật ra thì vua Thần Nông không bao giờ có, thế thì
Viêm Đế cũng không bao giờ có. Giáo sư Kim Định cũng đồng ý với các nhà bác học
Tây phương (mà ngày nay các nhà bác học Trung Hoa cũng đồng ý như vậy) là họ chỉ
là một nhóm người Tàu văn minh trước các nhóm người Tàu khác, mà các Chu Nho
ngây thơ theo tinh thần Evhémère đã biến thành một nhơn vật.
Không tin Thần Nông là một nhơn vật, nhưng giáo sư lại tin rằng
kẻ không phải là một nhơn vật đó lại có vương hiệu là Viêm Đế, tức vua của dân
Viêm.
Ông ấy có hay là không? Nếu không thì không sao mà có vương
hiệu cả và cái vương hiệu là Viêm không có thì thế nào có dân Viêm mà ông bảo rằng
Viêm Đế là vua của dân Viêm?
Không ai biết Cửu Lê là 9 thứ dân nào, và mỗi thứ tên là gì,
nhưng có điều chắc chắn là cạnh dân Lê, sử Tàu đặt hai thứ dân khác là Lạc-Lê
và Lạc.
Chúng ta thử tìm, nhưng không được. Hiện nay các thứ cổ dân
làm chủ đất Trung Hoa đều còn đủ mặt ở bên Tàu. Người Tàu không biết chủng tộc
học, nên sách giáo khoa của họ ngày nay cũng cứ tiếp tục đếm tên từng nhóm, như
Ngũ Miêu, và sáu bảy thứ Thái khác nhau mà họ gọi là Bạch Di, Cần Di, Nông
(Nùng) Thái, Lô Lô, Thổ, Đồng, Khát Lão, v.v. không phân biệt chủng tộc nào hết.
Nhưng khoa chủng tộc học và dân tộc học phân biệt như sau:
Chủng Miêu gồm 5 thứ
Chủng cổ Mã Lai gồm 4 thứ Lạc và 6, 7 thứ Thái
Tất cả những thứ ấy chỉ ở Hoa Nam, nhưng xưa kia đều làm chủ
Hoa Bắc, trước khi người Tàu đến, nhưng không phải là Cửu mà nhiều hơn thế kia,
hoặc chỉ có nhị nếu dựa vào chủng tộc.
Thế thì Cửu của Tàu chỉ dựa vào sự quan sát, có thể cũng đủ số
cửu thật đó, vào cổ thời, những thứ khác vốn chỉ có mặt ở Hoa Nam, mà Hoa Nam
thì họ chưa chiếm nên chưa biết.
Nếu dựa vào chủng tộc học, ta biết rằng họ chỉ gặp có hai chủng
mà thôi là chủng Miêu và chủng Mã Lai nhưng Miêu thì chắc chắn không có mặt
trong cái Cửu đó, vì cho tới ngày nay họ vẫn còn kém thì cách đây 5 ngàn năm họ
chưa đủ sức đương đầu với Tàu.
Nếu dùng ức thuyết thì Cửu Lê là chủng Mã Lai, và gồm các
nhóm Thái và Lạc, có mặt ở Hoa Bắc vào thuở đó (mà không có Miêu).
Nhưng khoa khảo tiền sử lại đào bới hoài mà không gặp sọ Mã
Lai tại Hoa Bắc. Đó là một sự lạ, trái ngược với ức thuyết của chúng tôi, nhưng
mà rồi sẽ giải thích được rõ ràng.
Vậy Xy Vưu là Cổ Thiên Tử của 9 nhóm dân Mã Lai. Đó là nói
tiên tri trước vài mươi trang, chớ ta chưa thấy Thái và Lạc là Mã Lai bao giờ cả,
nhưng rồi ta sẽ thấy.
Dân Cửu Lê ở đâu? Hiên Viên đánh thắng họ tại Trác Lộc (Bắc
Hà Nam) ở trên sông Hoàng Hà. Có lẽ đó là trung tâm của họ.
Rồi họ có ở lại hợp tác sau khi vua họ là Xy Vưu bị hạ sát
hay không? Đã bảo họ có sọ y hệt như sọ Mã Lai, mà ở Hoa Bắc lại không tìm thấy
sọ Mã Lai.
Thế nghĩa là họ bị tàn sát hết hoặc chạy trốn hết. Nhưng cái
việc tàn sát hết đó, không thể xảy ra được, khi mà đất trống còn quá nhiều để
cho họ chạy trốn.
Sử Tàu có nói đến Vũ Xy Vưu. Có lẽ đó là vài mươi tên tù binh
bị bắt mà không có khí giới, và làm nô lệ cho Tàu, múa (vũ) cho họ xem, chỉ có
thế thôi, và chỉ có vài mươi tên, nên không còn sọ.
Không phải sọ nào cũng còn được sau 5 ngàn năm mà trong 10
ngàn cái chưa dễ có một cái chưa thành tro.
Khi mà khoa khảo tiền sử tìm được 5 cái sọ của chủng nào đó
thì người ta đoán biết rằng chủng ấy có mặt đông ít lắm cũng tới 50 ngàn người.
Cạnh người Lê và ngăn Lê và Lạc làm đôi là dân Lạc-Lê, có lẽ
là một nhóm lai căn giữa Lê và Lạc. Tuy cả hai Lê và Lạc đều đồng chủng Mã Lai
với nhau, nhưng vẫn có khác, nên một cuộc hợp chủng mới cho đẻ ra nhóm Lạc-Lê,
y hệt như trên Cao nguyên ta hiện nay, tất cả đều là Mã Lai. Nhưng Sơ Đăng khác
Bà Na, Bà Na khác Giarai.
Ta không biết địa bàn của Lạc-Lê, nhưng địa bàn của Lạc thì
được biết. Rợ Lạc bộ Trãi có địa bàn ăn khớp với rợ Đông Dị tức tỉnh Sơn Đông
và ở trên nữa, tức tỉnh Hà Bắc.
Rợ Lạc này viết khác với rợ Lạc ở Thiểm Tây, Lạc ấy viết với
bộ Chuy, còn Lạc này viết với bộ Trãi, cũng đọc là Trĩ, tức con sâu không chơn,
và không có nghĩa gì cả, bởi thói quen của người Tàu là viết tên các thứ dân
kém mở mang hơn họ bằng những bộ Trùng, bộ Khuyển, bộ Thỉ, v.v. Người Đao một
chi của Miêu tộc đã bị viết với bộ Khuyển từ hơn ba ngàn năm nay, mãi đến nay mới
được viết lại với bộ Ngọc.
Dầu sao họ cũng biết Khuyển Nhung và Đông Di là Lạc vì địa
bàn Khuyển Nhung ăn vào địa bàn Lạc bộ Chuy, còn địa bàn Đông Di ăn vào địa bàn
Lạc bộ Trãi.
Rồi ta sẽ biết Lạc-Lê và Lạc là ai, rồi họ đi đâu.
Nhưng tại sao họ không có mặt trong trận đánh với Hiên Viên?
Không, không có bằng chứng là không có họ. Cửu Lê gồm có Lạc-Lê và Lạc mà Cửu
Lê bị đánh thì Lạc và Lê cũng không thoát.
Ta sẽ biết Lạc là gì rồi, họ đi đâu, sau khi bị Hiên Viên diệt.
Sự "đi đâu" của họ, phải có nguyên nhơn, mà nguyên nhơn đó là sự đánh
diệt của Hiên Viên, vậy họ phải có mặt trong trận Trác Lộc, mặc dầu địa bàn của
họ không phải ở Trác Lộc.
Theo sử Tàu thì Lạc bộ Trãi là rợ Đông Di, có địa bàn ở sông
Bộc và cũng được gọi là Bách Bộc, mà sông Bộc chỉ cách Trác Lộc có 10 cây số.
Thế thì Cửu Lê bị đánh ở Trác Lộc, phải có mặt Lạc.
Đã hết. Hoa chủng không còn gặp ai nữa cả, tại Hoa Bắc, theo
khoa khảo tiền sử thì họ chỉ gặp có hai chủng: Miêu chủng và Mã Lai chủng.
Mã Lai chủng phương Tây là Khuyển Nhung thì đã rõ. Còn sọ
Khuyển Nhung và đó là sọ Miến Điện, tức sọ Mã Lai. Lại có dấu vết Khuyển Nhung
di cư đi Miến Điện.
Nhưng không hề thấy dấu vết của sọ và vũ khí của Lê và Lạc ở
địa bàn của Lê và Lạc. Thật là phiền cho giáo sư Kim Định vì nó không ăn khớp với
cái vụ ăn cướp văn minh Việt mà Tàu là thủ phạm.
Đã bảo một nền văn minh không bắt chước được khi thoáng thấy,
mà phải học. Nhưng chủ nhân của nền văn minh đó lại biến mất, không để dấu vết
lại thì phải làm thế nào?
Thế nên chúng tôi mới bác bỏ cái đám cướp tưởng tượng đó và
chủ trương một lối thấy khác nữa là cái ông Cổ Thiên Tử Xy Vưu đó, đến làm chủ
Hoa Bắc không tới 10 năm là đã gặp rủi ro, là sự xâm nhập của Tàu, chứ nếu ông
ta đã làm vua ở đó lâu đời rồi thì thế nào sọ và vũ khí của dân Cửu Lê cũng còn
sót lại, ít lắm là một cái.
Làm vua mới có 10 năm, hoặc 5 năm, chưa có ai kịp chết hầu để
sọ lại, rồi thì bị đánh đuổi và chạy đi mất hết, nên mới không để dấu vết ở Hoa
Bắc.
Và như vậy thì không có vấn đề Tàu ăn cướp văn minh nông nghiệp
tại Hoa Bắc.
Họ có ăn cướp của Miêu chăng? Cũng không, vì cho tới ngày nay
mà Miêu vẫn còn giỏi chăn nuôi hơn là trồng trọt thì cách đây 5.000 năm, họ
không thể đã biết nông nghiệp trước Tàu.
Giáo sư Kim Định nói Hữu Miêu là có ruộng đã
bị từ điển Từ Hải đính chánh. Các nhà dân tộc học Âu Mỹ phỏng đoán
Miêu làm ruộng rất dở vì có Thảo ở trong Điền. Làm ruộng mà để cỏ
mọc trên ruộng là quá dở. Lối giải thích đó không chắc đúng, nhưng có vẽ đứng vững
hơn.
Sự vắng bóng của sọ Lạc ở Hoa Bắc, nhưng lại có mặt tại Đại
Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Hải Nam, Việt Nam vẽ ra lộ trình một cuộc di cư vĩ đại
từ Hoa Bắc và chính vì thế mà chúng tôi mới kết luận rằng Lạc và Lê làm chủ Hoa
Bắc có lẽ không tới mười năm thì bị Hiên Viên đánh đuổi đi.
Và Hiên Viên là thủ lãnh của bọn Tàu xâm nhập, chớ trước Hiên
Viên không có Hữu Sào, Phục Hi, Toại Nhân gì cả đâu.
Quả thật thế, sử Hy Lạp cho biết rằng Nhục Chi và Mông Cổ đều
đã biết lửa. Thế thì tại sao con cháu của Nhục Chi và Mông Cổ phải đợi Phục Hi
và Toại Nhân nào đó vào nước Tàu rồi mới dạy cho làm lửa?
Truyền thuyết Tàu đã lầm lẫn địa bàn. Họ nói đến một nhơn vật
Mông Cổ hay Nhục Chi ở ngoài nước Tàu. Nếu truyền thuyết Nhục Chi và Mông Cổ mà
thọ như truyền thuyết Tàu, thì họ cũng có hai nhơn vật y hệt như thế, mà đó mới
là Toại Nhân và Phục Hi thật sự.
Hoa tộc xâm nhập Trung Hoa là đã biết lửa rồi.
Thế nghĩa là Toại Nhân, Phục Hi, nếu quả là hai nhơn vật chớ
không phải là hai đợt văn minh, thì đó là hai nhơn vật hoặc Nhục Chi, hoặc Mông
Cổ, ở ngoài nước Tàu.
Hiên Viên mới đích thực là một trong hai lãnh tụ, lãnh tụ thứ
nhì là Thần Nông. Hai nhóm đó diệt nhau, chỉ là một cuộc tranh chấp nội bộ giữa
Tàu với nhau mà thôi, chẳng dính líu gì với ta cả.
Truyền thuyết Tàu đã lầm lẫn địa bàn, mà truyền thuyết của
dân tộc nào cũng thế. Chúng ta sẽ thấy rằng truyền thuyết Việt cũng lầm lẫn địa
bàn không kém Tàu chút nào hết.
Và nếu ta nhận ra rằng Lạc-Lê làm chủ nước Tàu không lâu,
không hơn mười năm thì nhóm Thần Nông không thể đã truyền ngôi được 8 đời, như
sử Tàu đã chép. Nếu Thần Nông là Việt như giáo sư Kim Định nói thì hai chủng tộc
đó phải diệt nhau tức thì khi chạm trán với nhau, chớ cuộc giành giật đất đai
suốt tám đời vua, nếu có, truyền thuyết Tàu đã có nói đến, và các cổ thư Tàu đã
có chép truyền thuyết ấy.
Có lẽ vì thế mà Tư Mã Thiên chỉ bắt đầu từ Hiên Viên chăng?
Nhóm Thần Nông có thể chỉ làm vua trên đường xâm nhập, bởi cũng nên biết rằng
xâm nhập đất đã có chủ: Miên, Khuyển Nhung, Lạc-Lê, không phải đầu hôm sớm mai
mà vào được mà phải mất hàng ngàn năm.
Về vụ Xy Vưu và Cửu Lê ta chỉ có thể lập ra ức thuyết mà
không mong có cuộc khám phá nào mới lạ nữa, vì như đã nói, khoa khảo tiền sử ở
Hoa Bắc đã được làm xong rồi.
Ta giả thuyết rằng Cửu Lê, từ đâu chưa biết, nhưng thuộc chủng
Mã Lai, theo khoa khảo tiền sử, xâm nhập đất Hoa Bắc đã có chủ rồi là Miêu chủng.
Nhưng vì Miêu chủng quá kém, nên họ làm bá chủ ở Hoa Bắc cho
nên Xy Vưu mới được gọi là Cổ Thiên Tử.
Nhưng họ chỉ mới làm chủ có 5, 7 năm gì đó thì bị Hiên Viên
đánh đuổi. Họ bị tàn sát. Những kẻ còn sống sót di cư đi Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài
Loan, Hải Nam, Việt Nam, nhưng lại vắng bóng ở Hoa Bắc.
Có thể nào mà họ từ Hoa Nam mới tràn lên đó chăng? Không, vì
nếu thế thì khi bị Hiên Viên đánh đuổi, họ lui trở xuống Hoa Nam chớ không
phiêu lưu mạo hiểm trong một cuộc di cư xa xôi và khó khăn như thế vào cái thời
mà loài người chưa thạo đi biển mà cũng chưa có phương tiện hàng hải đáng kể.
Họ không lui về Hoa Nam mà cũng không xâm lăng Hoa Nam vì họ
biết rằng Hoa Nam đã có chủ rồi, và chủ ấy là ai rồi ta sẽ thấy.
Khi tràn vào Hoa Bắc, kẻ tiên phong phải là Lạc bộ Trãi, vì
như ta biết thì Lạc bộ Trãi có địa bàn ở cực Đông Hoa Bắc, tức là họ phải là bọn
đi đầu mới tới biển trước 8 nhóm khác.
Những gì nói ra trên đây hơi sớm nhưng tại đã đến lúc phải
nói. Nhưng rồi ta sẽ thấy rõ ở chương Mã Lai chủng.
Lạc là ai, ra thế nào, và tại sao được Tàu gọi là Lạc?
Chúng tôi chỉ có thể trình diện Lạc ở chương Mã Lai chủng
nhưng ở đây cũng xin nói sơ qua rằng Lạc có địa bàn như trên và lâu lắm về sau
mới nghe sách Tàu chép rằng rợ Đông Di xâm mình và nhuộm răng đen.
Có đến 5 thứ Lạc nhưng Tàu chỉ biết có ba thứ thôi, và biết
vào ba thời đại khác nhau. Dưới thời Hiên Viên họ gộp Lạc vào Cửu Lê, nhưng có
lẽ đến đời Hạ Thương thì họ biết rằng rợ Đông Di là Lạc, vì sau đó họ chép rằng
Cơ Tử khi đi khai hóa rợ Tam Hán, mà họ biết rằng rợ Tam Hán là hậu duệ của Lạc
bộ Trãi từ Đông Bắc Trung Hoa di cư sang Triều Tiên.
Họ cũng biết rằng Khuyển Nhung là Lạc bộ Chuy, nhưng họ không
chắc lắm nên tự dạng Lạc bộ Chuy, về sau bị bỏ, và được một quyển sách đời sau
dùng lầm để chỉ ta, đó là quyển Giao Châu ngoại vực ký.
Đến đời Chu thì họ biết rằng dân Việt ở Hoa Nam cũng là Lạc,
nhứt là dân Thất Mân, và chỉ bọn Lạc đó bằng tự dạng Lạc bộ Mã.
Còn hai thứ Lạc nữa mà họ biết rất trễ, không rõ vào thời
nào, có lẽ cuối Chu cũng nên, nhưng không có gọi hai thứ đó là Lạc bao giờ cả,
có lẽ vì hai thứ đó tự xưng khác.
Đó là người Khơ Me mà họ phiên âm là rợ Khương ở tỉnh Tây
Khương và người Thái mà họ gọi là Âu vào đời Tần.
Lạc là gì?
Là danh tự xưng được Tàu phiên âm và đọc là Ló mà ta thoáng
thấy rằng danh tự xưng đó là Lai. Việc phiên âm của Tàu về các đời sau, khá
đúng, nhưng vào thời thượng cổ, xem ra không đúng lắm.
Họ có âm Ai chớ không phải là không có mà bảo rằng vì thiếu
âm nên phiên âm sai. Nhưng buổi ban đầu tiếp xúc, thường thì dân tộc nào cũng gọi
sai các dân tộc khác, thí dụ ta đã gọi Pháp là Hòa Lan, rồi Hạ Lan, còn Âu Châu
thì gọi Mã Lai Nam Dương là Ấn Độ.
Và cho đến danh tự xưng của họ, họ cũng làm thế, có nhóm chỉ tự xưng là Mã
không mà thôi, chớ không có Lai. Có nhóm lại tự xưng là Mã Đa, thí dụ sử Chàm
đã chép rằng họ đã diệt một tiểu bang tên là Mã Đa tại lối Phú Yên, tiểu bang
đó cũng là Mã Lai như họ, và ở miền Nam có một nhóm Thượng tự xưng là Mạ và nói
tiếng Mã Lai (nhưng các ông Tây lại sai lầm mà cho rằng Mạ nói tiếng Cao Miên).
Ta cứ ngỡ rằng sách Tàu viết chữ Lạc lộn xộn bậy bạ có khi với
bộ Trãi, có khi với bộ Mã, có khi với bộ Chuy.
Nhưng cái sự lộn xộn của Tàu thật ra là sự trật tự đấy, vì
khoa khảo tiền sử khám phá ra rằng quả có ba thứ Mã Lai, một thứ di cư từ Hoa Bắc
xuống Việt Nam, một thứ nằm sẵn tại Hoa Nam, rồi cũng di cư đi Việt Nam. Còn Lạc
bộ Chuy là Khuyển Nhung, một chi Mã Lai, sẽ thành Miến Điện về sau.
Hai thứ kia là Khơ Me và Thái thì họ chỉ mới biết cũng là Mã
Lai gần đây thôi.
Phải phục các ông Tàu đời Chu là giỏi.
Cho tới nay, thiên hạ than phiền về ba tự dạng Lạc bể đầu ấy
lắm, không biết tại sao Tàu viết lộn xộn đến thế. Nhưng rõ ra thì họ đã biết là
có ba thức Lạc, ngay từ đời Chu rồi, và đáng sợ hơn nữa là họ chỉ đích xác người
Phúc Kiến, tức Thất Mân, bằng chữ Lạc bộ Mã, luôn luôn như vậy, mà Thất Mân,
theo khoa khảo tiền sử thì đích thị là Mã Lai đợt II, mà chúng tôi sẽ trình diện
rõ hơn.
Ấy thế mà sử gia Nguyễn Phương của ta lại nói rằng sử gia Tàu
không biết Lạc là gì, nên quá bối rối tìm cách giải thích liều lĩnh nhưng không
xong.
Lần lần ta sẽ thấy rằng họ biết Lạc rõ cũng gần bằng khoa khảo
tiền sử ngày nay.
Các bản đối chiếu ngôn ngữ sẽ cho ta thấy Việt ngữ gồm cả ba
loại danh từ của cả ba thứ Lạc đó, họ có một số danh từ giống hệt nhau, nhưng
cũng có một số danh từ khác nhau. Nhưng Việt Nam lại có đủ cả ba vì ta là Lạc hỗn
hợp.
Người Tàu còn biết nhiều hơn nữa kia và ăn khớp với khoa khảo
tiền sử, và lần lần, ta sẽ thấy rõ như ban ngày trong thượng cổ sử của ta.
Rồi chúng ta lại thấy bọn Lạc-Lê tái xuất hiện ở Việt Nam,
cũng với tên xưng hơi giống giống Lạc-Lê.
Ta cứ ngỡ nhóm trung gian Lạc-Lê mà các cổ thư Trung Hoa nói
đến, quá nhỏ nên bị tàn lụn rồi, nhưng họ còn có mặt ít lắm là vào thời Hùng
Vương 16, 17, 18 và chúng tôi hồ nghi có căn cứ rằng người Hải Nam cũng là Lạc-Lê
chớ không là Lạc thuần túy, bằng vào Thủy Kinh Chú trong đó Lệ Đạo
Nguyên tả dân Hải Nam giống dân Nhựt Nam mà dân Nhựt Nam thì đích thị là Lạc-Lê,
theo nước riêng của chúng tôi.
Như vậy là Lê thuần túy không còn nữa, vì sách giáo khoa mới
nhứt của Tàu gọi dân Hải Nam là Lê, nhưng họ lại chỉ là Lạc-Lê, hoặc Lê là danh
phiên âm tối cổ, trước khi có danh phiên âm Lạc cũng không chừng, và Cửu Lê, chỉ
là Cửu Lạc mà thôi, bởi Lê thì Tàu đọc là Lỉa, mà Lỉa và Ló cũng
không xa nhau cho lắm, bằng chứng là đời Hán đến đời Đường, họ phiên âm tên nước
Cam-bu-chia đến ba cách khác nhau: Cam Bố Trì, Cam Phá Giá rồi Giản
Phố Trại, mà đó là thời họ đã văn minh rồi, làm việc cẩn thận hơn vào đời Hiên
Viên nhiều lắm rồi, mà họ còn phải mò mẫm như vậy gần mười thế kỷ mới phiên âm
thật đúng danh tự xưng của một dân tộc.
Riêng Lạc bộ Trãi di cư đi Triều Tiên thì đến tới Tây Chu họ
đã phiên âm thật đúng. Họ gọi rợ Tam Hán là Lai di. Họ đã mất hai ngàn năm mới
lần dò từ Lạc đến Lai được.
Ông H. Maspéro là một nhà bác học chưa học khoa chủng tộc học,
nên khi nghe Granet khám phá ra những tục dâm đãng của người Tàu qua những bài
thơ trong Kinh Thi, mà chính người Tàu cũng không hề thấy sự kiện đó mà
còn được Khổng Tử khen nữa, và khi thấy người Thái Thượng du Bắc Việt cũng có
phong tục y hệt như vậy, ông kêu to lên: "Thái là người cổ Trung Hoa"
(Pré-chinois).
Ông có biết đâu rằng dân tộc nào cũng trải qua các giai đoạn
tiến hóa gần giống nhau và Tàu đời Thương, Chu, giống Thái thời nay, không hề
có nghĩa là Thái là cổ Trung Hoa.
Giáo sư Kim Định cũng làm y hệt như vậy, đưa những đám hát trống
quân, hát quan họ của ta rồi so sánh với Kinh Thi và cho rằng ta là cổ
Trung Hoa.
Nên biết rằng những bài thơ trong Kinh Thi phần lớn
là dân ca, được sáng tác trước thời dân Tàu có lễ giáo điệu nhà nho. Dân Tàu đã
có dâm phong thật sự vào thời ấy và đó là sự dĩ nhiên không hề chứng tỏ Thái và
ta là cổ Trung Hoa.
Cũng nên xét qua về hai lối định một câu nhận xét Kinh
Thi của Khổng Tử. Ông Nguyễn Hiến Lê dịch là: "Không dâm", nhưng
ông Trần Trọng Kim dịch là: "Không nghĩ xằng".
Ta xem nguyên văn thì thấy là "không nghĩ xằng". Mà
ai không nghĩ xằng? Không phải độc giả đâu nhé. Khổng Tử nói đến tác giả của những
bài dân ca đó, họ chỉ tả đúng phong tục thời đó, chớ không có ý khiêu
dâm. Tâm vô tà là tâm của tác giả các bài ca, chớ không phải là tâm
người đọc, vì người đọc tuyệt nhiên không thấy sự thật ẩn trong đó, trước khi
ông Granet khám phá ra, thì họ làm sao mà có tà tâm được.
Nhưng Khổng Tử vốn có thấy, y như Granet, vì thế mà nghĩ phải
đưa ra nhận xét trên, để binh vực các tác giả đó, khi nào những bài ấy bị ai
lên án mà ngài phải liên lụy. Nhưng không có chú Tàu nào thấy cả nên Kinh
Thi không bao giờ bị lên án.
Nhiều học giả Tàu và ta cho rằng những bài dân ca Kinh
Thi lượm lặt ở nước Vệ, nước Trịnh, nước Tề, được sáng tác vào đời Chu vì
chính vào đời Chu mới có những nước ấy.
Nhưng không, vào đời Chu thì Tàu đã hết dâm phong rồi hay còn
rất ít mà Kinh Thi thì đầy dẫy dâm phong.
Sự thu lượm ở các nước nói trên, không có nghĩa là được sáng
tác vào đời Chu. Nó được sáng tác trước đó hai ba trào đại, vào đời Hạ cũng
nên, cũng cứ tại những nơi đó, tuy chưa mang tên là nước Này, nước Nọ. Khi người
ta thu lượm thì thu lượm tại những nước ấy vừa đã có tên là Vệ, là Trịnh, v.v,
dĩ nhiên là phải thế, nhưng nơi chốn không phải luôn luôn là thời điểm sáng
tác.
Thí dụ những bài dân ca dâm đãng nhứt được thu lượm tại nước
Trịnh mà trước đời Chu thì không có nước Trịnh nhưng đã có quận huyện nào đó nằm
tại nước Trịnh đời Chu và chính dân của các quận huyện ấy đã sáng tác rồi truyền
miệng lại đến đời Chu thì người ta thu lượm, dĩ nhiên là tại nước Trịnh.
Giáo sư Kim Định đã đặt ra nghi vấn về mấy thiên đầu Kinh
Thi:
Viết nhược kê cổ = Việt nhược kê cổ
và cho rằng chính một người Việt đã chép Kinh Thi (trước
khi Khổng Tử san định).
Điều đó cũng có thể, vì có thể một người Việt hiếm hoi bị bắt
và trở thành trí thức Trung Hoa.
Đành thế. Nhưng một vài cá nhân lọt sổ, ở lại hợp tác và thành
trí thức Tàu, khác xa sự kiện toàn dân Việt ở lại để dạy Tàu văn minh của họ.
Người Việt thành trí thức Tàu quả có thực và chúng tôi thấy rằng
9 bài Cửu Ca của Sở Từ là do một người Việt viết ra, và cả sử Tàu cũng xác nhận
là tướng Giám Lộc, kẻ phát minh ra canal à écluses, là người Việt.
Nhưng vẫn cứ là vài cá nhân lẻ tẻ, không hề có cuộc sống
chung hòa bình, hoặc chinh chiến giằng co lâu năm tại Hoa Bắc mà bằng chứng
không thể chối cãi là khoa khảo tiền sử tìm được dấu vết Cửu Lê tại Đại Hàn,
nhưng dấu vết đó tuyệt đối vắng bóng tại Hoa Bắc.
Giáo sư Kim Định cho rằng Khổng Tử là người Việt, và là Việt
gian, vì hợp tác với Chu (Tàu du mục), nhưng Việt gian đáng được tha thứ.
Nhưng trong chương Bất tương đồng Hoa Việt, ở tiểu mục Bí
mật phòng trung, chúng tôi đã cho thấy những dị biệt giữa Tàu và Việt. Mẹ Khổng
Tử đã "lâm bồn", trong khi đó thì phụ nữ Việt từ cổ chí kim không hề
có nhóm nào "lâm bồn" cả. Vậy Khổng Tử là Tàu hay Việt?
Giáo sư quả quyết rằng có quen với một người Việt, người ấy
cha truyền con nối, còn nhớ văn tự của dân Việt thời Nghiêu Thuấn.
Nhưng sao trên trống đồng Lạc Việt không thấy có khắc chữ gì
hết, trừ loại trống sau cùng có khắc chữ… Tàu?
Nếu dân Lạc Việt không thích khắc chữ trên trống thì cứ không
thích hoài chớ sao trước không thích mà sao lại chịu ảnh hưởng Tàu, rồi mới
thích khắc chữ là thế nào?
Chúng tôi cố tìm xem có những nét nào giống gần hay giống xa
gì với văn tự của người Mường hay không, và tuyệt đối không thấy. Thế nghĩa là
văn tự của người Mường cũng chỉ mới có đây thôi, không biết vào thời nào, nhưng
chắc chắn là sau thời Thượng Hiệt.
Nhưng cũng nên biết rằng giáo sư chỉ nói đến một thứ Việt mù
mờ nào đó, chớ không phải là dân ta. Nhưng rồi sau đó hình như giáo sư lại nối
kết Việt mù mờ đó và dân ta một cách rất rõ ràng minh bạch. Vậy thì dân ta phải
có chữ, trước khi học chữ của Tàu. Nhưng văn tự đó ở đâu? Sao không thấy giáo
sư làm bản kẽm in ra xem thử ra sao?
Mộng Văn Thông cũng chỉ nói phất phơ vậy thôi vì kẻ không có
chứng tích không bao giờ dám to tiếng quả quyết cái gì hết. Nhưng giáo sư Kim Định
phát triển mạnh mẽ những điều đó ra, và cho rằng cái gì của Tàu cũng do ta sáng
lập ra cả, mà ở tận Hoa Bắc lận kia.
Giành giật nền văn minh Đông Sơn thì không sao, chớ giành
luôn Hồng Phạm, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh nào cũng dân
Việt làm ra hết thì người Tàu sẽ buồn cười lắm.
Họ không cãi đâu, mà chỉ cười thôi.
Còn nhớ cách đây mười năm, nhân ngày lễ Hai Bà Trưng, tờ báo
Tàu Phụ nữ của ông Lý Thu trong Chợ Lớn in hình một cô "Mọi" Cao
nguyên to tướng ngay trong bài đó.
Tờ báo bị đóng cửa, dĩ nhiên là như vậy.
Nhưng như thế đủ biết "người anh em đồng bào còn ở lại
bên Tàu" để tiếp tục cái văn minh mà Việt đã lập ra bên ấy (theo giáo sư
Kim Định), "người anh em" đó nghĩ thế nào về Hai Bà Trưng của ta?
Họ nghĩ gần đúng vì quả hình người khắc ở trống Đông Sơn ăn mặc
gần giống như người Thượng ngày nay. Nhưng vua Vũ, Khổng Tử, sống trước Hai Bà
Trưng quá xa, sống trước vua Hùng Vương cũng quá xa, sau khi ta di cư, ta không
mang theo món gì của vua Vũ hết cả, mà chỉ có cái lưỡi rìu có tay cầm mà vua Vũ
không bao giờ có?
Nếu quả đúng nền văn minh Tàu do ta lập ra thì chúng tôi hãnh
diện trước nhứt. Nhưng mà… không bao giờ có chuyện đó. Nó chỉ là huyền thoại mới
đặt năm 1969.
Họ nghĩ gần đúng, chỉ phiền là họ thiếu tinh thần khoa học,
quên mất rằng vào thời Hiên Viên, Tàu cũng chỉ văn minh đến thế là cùng.
Họ thiếu tinh thần khoa học và bức ảnh đó được đăng với tánh
cách chế giễu và khinh khi "man di" không thể chối. Thế nên tờ báo ấy
mới bị đóng cửa.
Giáo sư khuyên là đừng oán ghét "người anh em đó".
Ai mà oán ghét họ! Chỉ có họ là khinh bỉ ta thôi đó chớ.
Ông bảo Tứ Thư, Ngũ Kinh là của dân ta. Bảnh lắm.
Nhưng rồi ông nói Ngũ Kinh tiếp nhận cổ huấn từ Tam phần, mà các
bộ sách Tam phần thất truyền ấy lại là của Phục Hi, tức trước Thần
Nông nữa.
Thế thì:
Nếu Phục Hi là Tàu thì ta bất quá chỉ cóp theo Tàu, nếu quả Ngũ
Kinh là của ta đi nữa.
B. Nếu Phục Hi là Việt thì không bao giờ có Tàu trên đời này
cả, vì cứ ngược nguồn hoài mà chỉ gặp toàn Việt không mà thôi, không hề gặp chú
Tàu nào cả.
Thế thì có Tàu hay không có Tàu?
Chúng tôi cho rằng ký ức con người có hạn, mà ký ức Tàu không
hơn gì ký ức Việt, họ nhớ tới đâu ta cũng nhớ tới đó.
Mà cả hai dân tộc thì xuất hiện tại Hoa Bắc cùng lúc với
nhau, ta đi trước họ có mười năm là cùng.
Như vậy sao trong truyền thuyết ta lại không bao giờ có Phục
Hi, còn họ thì có?
Không nên bắt quàng làm họ với người anh em đăng ảnh một cô Mọi
ở truồng giữa bài nói về ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng.
Lạc là gì? Từ hai năm nay có rất nhiều học giả ta tranh
giành Hà Đồ Lạc Thư với Tàu, cho rằng đó là sách của ta, làm tại sông
Lạc là đất của dân Lạc.
Nhưng cổ sử Tàu lại cho biết rằng đất của dân Lạc là khu vực
sông Bộc. Đó là thứ người mà đời Chu gọi là rợ Đông Di.
Có lẽ trước kia đất của họ là sông Lạc chăng? Có thể, nhưng Lạc
đó là Lạc bộ Chuy, tức Miến Điện mà Miến Điện thì chẳng hề biết Kinh Dịch bao
giờ, Lạc bộ Trãi thì biết nhưng họ không có ở sông Lạc bộ Chuy.
Sông Lạc này thì ngày nay viết với bộ Thủy, không biết
vì lẽ gì chớ không phải sợ người Miến Điện giành Hà Đồ, Lạc Thư của họ
đâu, vì văn minh Miến Điện không cần Hà Đồ, Lạc Thư lắm như Việt Nam trước năm
bị Pháp chinh phục.
Nếu quả dân Lạc đã phát minh Hà Đồ, Lạc Thư thì Lạc đó là Lạc
bộ Chuy ở Thiểm Tây, biến thành Miến Điện, chớ không phải là ta, vì ta là Lạc bộ
Trãi biến thành Việt Nam, mà Lạc bộ Trãi là rợ Đông Di nhuộm răng đen, không
bao giờ có địa bàn ở sông Lạc cả.
Người ta tự hỏi, sau khi nghe các ông giành Hà Đồ, Lạc
Thư, tự hỏi tại sao cái thứ văn tự của Lạc đó, khi họ di cư, họ bỏ mất luôn,
không còn nhớ lấy một nét, vì địa bàn Triều Tiên không xa địa bàn xuất phát di
cư bao nhiêu mà tưởng rằng đường xa nên các người lớn biết chữ đã chết dọc đường.
Không, khi Chu diệt Ân thì các công thần Ân đưa người ra Triều
Tiên để chinh phục bọn Lạc bộ Trãi di cư đến đó, và có mang chữ Tàu theo hẳn
hòi, mà các công thần nhà Ân thì cũng đi từ đất Lạc bộ Chuy ra Triều Tiên, tức
là đường còn xa hơn nhiều, thế mà họ cứ còn nhớ chữ Tàu.
Rồi thì từ địa bàn định cư Triều Tiên đó, đến các địa bàn định
cư khác, thí dụ như Nhựt Bổn, Đài Loan và cổ Việt Nam, luôn luôn kế tiếp nhau,
vì họ đi bằng đường biển thì không mấy hôm là tới nơi, mà cũng chẳng có dân định
cư nào nhớ cái văn tự của Hà Đồ, Lạc Thư hết.
Bằng như nói là sách tâm truyền thì cũng được, nhưng chỉ phiền
là hình như là quả họ đã có văn tự rồi vào thời vua Vũ, vì các nhà khảo cổ Pháp
đã bảo rằng văn tự đời Thương đã được kiểu-thức-hóa khá sâu đậm, chớ không còn
là hình vẽ như văn tự Ai Cập, thế tức là văn tự đó đã có, ít nhứt là từ đời nhà
Hạ.
Nhận xét này, ta thấy được trên các mu rùa, xương thú chụp ảnh
phóng đại trong quyển L’Art de la Chine và quả văn tự đời Thương, tuy
không bằng chữ ngày nay, nhưng vẫn không phải là hình vẽ con ngựa con bò, cái
nhà nữa.
Nhà Hạ đã bỏ ra 432 năm để kiểu-thức-hóa hình vẽ cho thành
văn tự để nhà Thương hưởng, thì cái thời gian đó vô địch về mau chóng, chớ
không phải là quá lâu mà không thể tin được đâu, vì Ai Cập văn minh nhiều suốt
ngàn năm nhưng cứ còn vẽ hình hoài mà không kiểu-thức-hóa nổi.
Giáo sư Kim Định chủ trương rằng tất cả đều hẹp hòi, khoa nào
cũng thế, chỉ có văn hóa là mở rộng cửa cho ta thấy một chơn trời mênh mông mà
không khoa nào đủ khả năng cho ta cái nhìn tổng quát ấy được.
Câu trên đây rất đúng, nếu chỉ nói chuyện ảnh hưởng văn hóa
giữa chủng này với chủng nọ.
Nhưng giáo sư lại lấy làm nền tảng cho cái ảnh hưởng có
thể có đó, nhưng nó lại là sử sai.
Vì lấy sử sai, nên kết luận phải sai. Hoa Bắc không hề có chịu
ảnh hưởng văn hóa Viêm, Việt nào cả. Ông nói đến ảnh hưởng nông nghiệp của Mễ
và Hòa của Hoa Nam. Nhưng sự thật thì sau đời nhà Hạ khá lâu Hoa Bắc mới biết Mễ,
tức Tàu đã chiếm Hoa Bắc và thiết lập văn minh của họ ở đó nhiều ngàn năm rồi,
thì họ mới thấy cây Mễ lần đầu trong đời họ.
Thế thì làm thế nào mà Hiên Viên lại cướp cái văn minh nông
nghiệp Mễ ấy được chớ? Ở chương sau ta sẽ thấy Tàu biết Mễ vào năm nào, có lẽ
là năm Hùng Địch được phong.
Bọn Nhục Chi về sau rất là quan trọng vì chính họ đã khai hóa
Chàm và Cao Miên, Nam Dương chớ không phải Ấn Độ như những quyển sử Tây tiền
chiến đã viết sai.
Nhưng đó là chuyện sau, chuyện gần là chuyện Hiên Viên và dân
Nhục Chi cổ cũng rất quan trọng.
Bọn ấy, ở lại đất cũ là Tây Vức, cũng tiến lên nhưng tiến
theo lối khác, và thời điểm khác. Người Nhục Chi chịu ảnh hưởng Hy Lạp vì rồi đế
quốc Hy Lạp bành trướng lên biên giới cực Tây của Nhục Chi sau đó, và Nhục Chi
cực thịnh vào đời nhà Chu của Tàu, với 36 nước hùng cường.
Đó là những nước văn minh rất cao, nhưng cứ bị Tàu gọi là rợ, đại khái có:
Nước Lâu Lan (Lobnor)
Nước Xa Sư (Tourfan)
Nước Đại Uyển (Fergana)
Nước Khương Cư (Sodiane)
Nước Sa Xa (Yorkand)
Nước Quy Tư (Koutcha)
Nước Ô Tôn (?)
Nước Thiện Thiện (?)
Nước Vu Điền (Kachgar)
Nước Yên Kỳ (Qarachahr)
Còn đến 24 nước nữa, vì quá nhỏ, nên không thấy tên trong sử
Tây Tàu gì hết.
Như đã nói, họ là người da trắng, theo văn minh Hy Lạp và nay
ta tìm được sách vở của họ thì mới hay họ nói tiếng Ấn Âu, tức thuộc dòng với
tiếng Bắc Phạn, cha đẻ ra nhiều ngôn ngữ Âu Châu ngày nay. Sử Tàu chép rằng đã cướp
Trần Châu Kỳ của họ, một lá cờ đốt không cháy, tức họ đã biết chát Amiante dệt
vào vải làm cờ tức đã văn minh cao lắm rồi.
Trong khi đó thì Hung Nô cũng tiến lên tới bàn du mục. Họ vừa
tiến lên, muốn tràn vào đất Tàu thì nước Tàu đã văn minh và cường thịnh rồi, dưới
đời Chu và nhứt là dưới đời Tần Thủy Hoàng. Không còn mong vào đất Trung Hoa được
nữa, họ lấn Nhục Chi ở hướng Tây, diệt 36 nước kể trên, nhưng dân và văn minh của
36 nước đó cứ tồn tại.
Quý tộc Nhục Chi chạy mãi về cực Tây, đi ngược lại con đường
di cư hồi thượng cổ, rồi cướp lấy các thuộc địa của Hy Lạp để tái lập quốc, tự
xưng là Đại Nhục Chi.
Đại Nhục Chi lại xâm lăng Ấn Độ và Ba Tư và hùng cường vào bậc
nhứt thuở ấy, sau khi bị Hung Nô rượt chạy trối chết.
(Dân Nhục Chi có một số phận ngoại hạng vì sau đó, họ trở nên
vô cùng quan trọng tại Trung Á, họ làm môi giới giữa Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư,
Hy Lạp, v.v. về thương mại, văn hóa, và được để yên, hầu làm một nước trái độn.
Văn minh Cận và Trung đông đã ảnh hưởng đến văn minh Trung Hoa qua trung gian của
36 nước này ngay từ đời nhà Hán. Người ta đã tìm thấy những chiếc gương đồng
nhà Hán mà sau lưng được trang trí bằng những chữ T. Đó là chữ Tau (đọc là Tô)
của dân tộc Lưỡng Hà, và về sau thì văn minh Ba Tư, Ấn Độ cũng đi qua nẻo này
mà vào nước Tàu, mặc dầu 36 nước đó đã bị Hung Nô, rồi nhà Hán diệt đi.
Mãi cho tới đời Đường, Tam Tạng đi thỉnh kinh còn gặp những
nơi phồn thịnh ở đó, bây giờ thì trắng vàng đã lẫn lộn rồi.
Thật ra thì nhà Hán diệt cấp lãnh đạo Hung Nô của
36 nước Nhục Chi, chớ dân và văn minh Nhục Chi cứ còn nguyên vẹn cho tới thế kỷ
XIX mà các nhà khảo cổ Đức, Nga, Pháp khám phá được họ, học tiếng của họ và thấy
ngôn ngữ họ đồng tông với ngôn ngữ Ấn Âu.
Chính Đường Minh Hoàng đã mượn toàn bộ âm nhạc Tây Vức, tức
âm nhạc của dân Nhục Chi.
Hiện nay thì nước Tàu làm chủ trọn phía Đông của Tây Vức mà
Âu Châu gọi là Turkestan Oriental và biến vùng đó thành tỉnh Tân Cương của họ.
Tỉnh đó chỉ còn giá trị quân sự, bởi đất đai đã bị sa mạc hóa hết cả rồi và hơn
90 phần trăm ốc đảo xanh tốt ngày xưa, nay đã bị cát xâm lăng.
*
Như vậy thì chủng Mông Gô Lích mà sử gia Nguyễn Phương nói đến,
không giản dị chút nào. Chưa chi ta đã thấy hai chủng khác nhau. Bắc Mông
Gô Lích của Hung Nô chánh gốc và Trung Mông Gô Lích của người
Hoa Bắc mà người Tàu thì chưa vượt được sông Hoàng Hà.
Trung Mông Gô Lích, chủng của người Hoa Bắc, xương sọ khác hẳn
chủng Bắc Mông Gô Lích của người Mông Cổ, khác đến 6 đơn vị mà khoa học chỉ đòi
hỏi khác 2 đơn vị là tách ra làm một chủng khác rồi.
Về các yếu tố chủng tộc học khác, chủng Trung Mông Gô Lích của
người Hoa Bắc cũng lạ lắm: họ cao lớn gần như Tây, nước da họ không vàng
hoặc trắng như nước da của người Hoa Nam, mà ngâm ngâm đen. Tính tình
của họ thì trầm lặng đến độ không ai chịu được vì họ không nói gì hết, còn người
Hoa Nam thì nói quá nhiều lại ưa làm ồn. Người Hoa Bắc cũng không làm văn nghệ
nhiều được như người Hoa Nam, nhưng lý trí thì vô địch và tính thực tế thì rất
trắng trợn.
Chúng tôi xin đưa sơ ra vài con số về chỉ số sọ. Những con số
này và bao nhiêu biểu đối chiếu trong sách này đều trích ở quyển Etat
actuel de la crânologie indochinoise của nhóm bác sĩ P. Huard, E. Saurin,
Nguyễn Xuân Nguyên và Nguyễn Văn Đức, Hà Nội, 1938, tên sách tuy thế nhưng nhóm
bác sĩ này có trích đăng chỉ số sọ của hầu hết các thứ dân Á Đông chớ không
riêng gì của dân Đông Dương.
Đây là kết quả của công trình khảo cứu về chủng tộc học ở Á
Đông làm đã xong từ lâu, nhưng sách thật là khó tìm, chúng tôi đã lục lạo nhiều
năm mới chạp được tài liệu này.
Với những vị bất kể đến khoa chủng tộc học thì không cần phải
nói gì thêm, nhưng vị nào thấy đó là chứng tích quan trọng bậc nhì, xin cứ tham
khảo các bản chỉ số sọ mà chúng tôi sẽ trích cả ra trong sách này, để không còn
hồ nghi gì nữa về nguồn gốc của các dân tộc, ít lắm là về mặt chủng tộc học. Sọ
của ta là sọ Mông Cổ, sọ Tàu hay sọ Tây gì đều thấy được qua các biểu chỉ số sọ
đó, mà không sử liệu nào khác có đủ thẩm quyền nói trái lại cả, kể cả máu cũng
không đủ thẩm quyền vì khoa học phân biệt chủng tộc này với chủng tộc khác bằng
tánh cách của sọ, chớ không phải bằng máu.
Tuy nhiên, máu Việt vẫn khác máu Hoa. Nếu máu giống thì còn
châm chế, dung hòa được phần nào, đằng này cái yếu tố đồng chủng mong manh cũng
lại khác. Thế thì còn gì sự đồng chủng giữa VIỆT và HOA?
*
Chỉ số sọ của dân Mông Cổ, tức của chủng Bắc Mông Gô Lích:
81,40 theo cuộc đo sọ của nhà bác học Nga Hrdlicka.
Nhưng lai với Tây Vức rồi, tạo ra chủng Trung Mông Gô Lích của
người Hoa Bắc thì chỉ số sọ bị sụt xuống còn có 75,70.
Đó là chỉ số của những cái sọ mà nhà bác học Black đã đo tại
thỉnh Cam Túc, con đường xâm nhập vào Trung Hoa của dân lai căng hai dòng máu
Nhục Chi và Mông Cổ.
Và dưới đây là hai con số chỉ số sọ của người Hoa Bắc thật sự
do hai nhà bác học khác nhau đã đo trong hai nhóm lớn của dân ở hai vùng tại
Hoa Bắc.
Nhà bác học Koganei: 78,30
Nhà bác học Quatrefages: 75,97
(Chúng tôi bỏ ra một chỉ số sọ đặc biệt do nhà bác học
Zaborovvski đo, chỉ số đó chỉ có 66,66, nhưng đó là một cái sọ độc nhứt của một
người ăn xin chết đường tại Bắc Kinh, có lẽ là một kẻ có bệnh tật, không nói
lên được cái gì).
Nhưng người Hoa Bắc lại có một nhóm nữa cho chỉ số sọ khác.
Nhà bác học Kogagei: 80,20
Nên nhớ là Hoa Bắc đã bị Mông Cổ xâm lăng về sau này và nhóm
này là nhóm Mông Cổ xâm lăng biến thành người Trung Hoa, nên chỉ số sọ của họ mới
tăng lên không còn là 75 hoặc 78.
Làm một con số trung bình, ta sẽ thấy chỉ số sọ của chủng
Trung Mông Gô Lích là:
(75,70 + 78,30 + 75,97 + 80,20) / 4 = 77,54
Trong bài toán tìm chỉ số trung bình, chúng tôi đã tự ý bỏ chỉ
số sọ của dân Sơn Đông ra, cũng như đã tự ý bỏ chỉ số sọ của người hành khất ở
Bắc Kinh.
Người Sơn Đông vốn là rợ Đông Di, tức Việt tộc, biến thành
Trung Hoa, vì cổ thư Trung Hoa tả rợ Đông Di xâm mình nhuộm răng đen, và
sách Nhỉ nhả cũng lại cho biết rằng họ là rợ Lạc bộ Trãi. Mặt khác giặc
Huỳnh Cân đời Hán lại còn cho thấy rõ hơn rằng họ là người Việt. Người Tàu thường
xưng họ là dân đội mũ để phân biệt họ với các dân tộc quanh họ. Thế mà giặc Huỳnh
Cân ở Sơn Đông lại bịt khăn vằn. Nhà Hán, cách nhà Chu không quá lâu đời như ta
thường có cảm tưởng sai lầm vì trào đại trung gian giữa hai nhà đó là đời Tần
chỉ thọ được có mấy chục năm. Thế thì rợ Đông Di xâm mình và nhuộm răng đen đời
Chu, đến đời Hán, vẫn chưa bị đồng hóa, vì họ còn bịt khăn.
Tại sao chúng tôi lại bỏ Sơn Đông ra? Nếu có hợp chủng ở toàn
quốc thì rất cần để vào, vì cuộc hợp chủng đó thay đổi cả chỉ số sọ của một dân
tộc và một con số trung bình gồm có Sơn Đông mới là một con số đúng.
Nhưng khi nó chỉ bị giới hạn trong tỉnh Sơn Đông không mà
thôi thì nó lại làm sai con số trung bình của toàn Hoa Bắc gồm rất nhiều tỉnh:
Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, v.v.
Cũng xin tóm lược nghiên cứu của ông H. Maspéro về giặc Huỳnh
Cân. Các ông Tây dầu sao, làm việc cũng cẩn thận hơn Tàu về mặt khảo chứng.
Theo tài liệu mà ông H. Maspéro tìm được thì bọn Huỳnh Cân
không hề nổi loạn, không hề "làm giặc" bao giờ cả. Khi không, người
Tàu cất binh đánh họ, cho rằng họ âm mưu nổi loạn, trá hình dưới tôn giáo.
Sự thật thì sự âm mưu nằm phía bên người Trung Hoa. Đó là cái
cớ để tận diệt rợ Đông Di còn sống sót ở Sơn Đông vào đời Hán.
Và lạ lùng nhứt là rồi bọn Huỳnh Cân không chạy đi đâu mà lại
chạy sang Thiểm Tây, rõ ràng là Lạc bộ Trãi chạy đến địa bàn Lạc bộ Chuy.
Lạc bộ Chuy đã bị Tần Mục Công tiêu diệt dưới đời vua Chu
Thành Vương rồi, và họ đã di cư để thành người Miến Điện. Nhưng người Trung Hoa
ở đó lại bị lây cái tôn giáo của Lạc bộ Chuy, nó cũng giống như tôn giáo của Lạc
bộ Trãi.
Cũng nên biết rằng người ta tìm được trống đồng còn được dùng
trong bộ lạc Keren (một tiểu chi Miến Điện). Thế nghĩa là trống đồng Lạc Việt
đã có vào đời Chu Thành Vương. Bằng chứng là Tư Mã Thiên đã chép rằng khi Tần Mục
Công tiêu diệt được Khuyển Nhung rồi thì vua Chu Thành Vương ban thưởng cho Tần
Mục Công một cái trống bằng kim khí.
Nếu đó là trống của Tàu thì rất vô lý vì món quà đó quá xoàng
không xứng với công lao to lớn của Tần Mục Công, nhưng nếu đó là trống của man
di Khuyển Nhung hay của man di Kinh Cức thì đã khác rồi, vì đó là quà lạ, bởi
Tàu không bao giờ có đúc trống bằng kim khí cả.
Thế nên Chavannes mới tự ý dịch ra hai tiếng kim cổ của
Tàu ra là "trống đồng", một là vì trống đồng bằng sắt đánh không kêu,
hai là vì Chavannes vốn biết rằng dân Lạc bộ Chuy có trống đồng.
Sự tự ý này có vẻ Á Đông, tức nói tắt cái biết của mình, nó
trái với thói quen của Âu Châu là dịch trung thành nhưng Granet Legge,
Chavannes là những người da trắng chìm ngập tới cổ trong tinh thần Á Đông, nói
thật đích xác trong tinh thần Tàu, vì ba ông đó suốt đời chỉ đọc sách Tàu để
nghiên cứu tỉ mỉ nền văn minh Tàu cổ đại, nên các ông bị tiêm nhiễm phần nào
cái tinh thần nói ngầm cái biết của mình ra bằng lối đó.
(Giáo sư Kim Định viết Tần = Khuyển Nhung. Nhưng tại sao Tần
lại tiêu diệt Khuyển Nhung?).
Chúng tôi đã có dịp chứng kiến những trận đánh giữa người Việt
theo Pháp làm Bạt ti đăng và người Cao Miên theo Pháp làm Bạt ti dăng chỉ vì họ
thấy Bạt ti dăng Cao Miên tàn sát dân ta. Đã là Việt gian rồi mà còn được như
thế thì ông Việt gian Tần Mục Công không thể tiêu diệt đồng bào của ông. Không,
Tần là người Tàu một trăm phần trăm.
Nhận xét và phụ chú
Chỉ số sọ cao hay thấp không hề là dấu hiệu của trí thông
minh hay sự ngu đần. Chỉ số sọ của Hoa tộc thấp hơn chỉ số sọ của Việt tộc đến
9 đơn vị, như đã nói, nhưng họ lại tài giỏi hơn ta.
Chỉ số sọ của dân tỉnh Sơn Đông là 81,70 rất gần với chỉ số sọ
Việt và do nhà bác học Shiro Kogoroff đo.
Chúng tôi đã nói là về chủng, đích thị là Mã Lai chủng, và họ
Lê và Lạc, họ bỏ Hoa Bắc mà chạy đi hết, nhưng tại sao lại còn thứ người có chỉ
số sọ Việt tại Sơn Đông ngày nay?
Đó là vì tỉnh Sơn Đông khác hẳn các tỉnh khác của Trung Hoa.
Nó là một Cao nguyên, còn các tỉnh khác là đồng bằng. Rợ Đông Di rút lên Cao
nguyên với ảo tưởng thoát được vào thời mà Hoa tộc rất sợ núi non.
Nhưng quanh Cao nguyên Sơn Đông là một vòng đai đồng bằng mỏng
và Hoa tộc bao vây Đông Di tại đồng bằng mỏng ấy cho đến ngày kia Hoa chủng
không còn sợ núi rừng nữa, tấn công lên thì rợ Đông Di đã bị vây khốn tứ phía rồi,
không mong thoát được nữa, đành phải ở lại chịu đồng hóa.
(Và nên biết rằng, các nhà khảo tiền sử không có đào bới trên
Cao nguyên Sơn Đông, nên không có lượm được sọ Lạc và vũ khí của Lạc trên đó).
Tóm lại, sau khi lai giống với Nhục Chi, chỉ số sọ Mông Cổ bị
sụt mất sáu đơn vị. Nhưng sau đó Mông Cổ lại xâm lăng Tàu nhiều lượt và bị kẻ bại
trận đồng hóa biến thành Tàu nên Hoa Bắc mới có một nhóm chỉ số sọ tăng lên 78
và 80, thay vì 75,50 như hồi mới lai với Nhục Chi.
Chúng tôi sẽ trở lại bọn Cửu Lê và nhứt là bọn Lạc để thấy rằng
họ là Mã Lai.
Nhưng ta còn phải xét qua chủng Nam Mông Gô Lích là chủng của
người Hoa Nam cái đã, vì Lê và Lạc này, mặc dầu di cư bằng đường biển, cũng có
một số vượt sông Hoàng Hà tràn xuống, để tạo ra một chủng mới hoàn toàn là chủng
Nam Mông Gô Lích ở Hoa Bắc, vì nó bị yếu tố Mã Lai Bách Việt, tức Lạc Hoa Nam
chi phối đến gần 60 phần trăm.
Nó cũng khác hẳn ta vì ta không có nhận chịu một sự lai giống
lớn lao như Bách Việt ở Hoa Nam.
Tài liệu tham khảo riêng cho chương này:
Lê Văn Hảo - Hành trình vào dân tộc học, Sài Gòn
C.J. Ball - Chinese and Sumerien, Oxford 1913
H. Cordier - Origine des Chinois, Tungpao 1915
Von Le coq - Exploration archéologique Aurousseau Turkestan,
J.A. 1909
Pelliot - Rapport sur la mission au Turkestan Chinois, J.A.
1909
Salomon Reinach - Origines des Aryens, Paris 1892
lA. Cranoy - Les Indo - Européens, Paris 1921
Nguyễn Phương - Việt Nam thời khai sinh, Huế 1965
Khổng Tử - Kinh Thư, Bản dịch của Le Couvreur, Paris
1950
Khổng Tử - Kinh Thi, Bản dịch Granet, Paris 1925
Specht - Études sur l’Asie centrale, d’après les histoiriens
chinois, Paris 1930
Chavannes - Mission archéologiques dans la Chine
septentionale, Paris 1915
R. Grousset - La Chine anciênn et médieva’e, G. Crès, Paris
1922
R. Grousset - Les empires Mongols, G. Crès, Paris 1922
M. Granet - Fêtes et chansons anciennes de la Chine, Paris
1929
H. Maspéro - La Chine antque, Paris 1918
M. Granet - La civilisation chinoise, Paris 1929
Terrien de Lacoupérie - Western Origin of the Chinese
civilization -
Early history of the Chinese civilization, Oxford 1913
Drs Huard, E. Saurin Nguyễn X. Nguyên, Nguyễn Văn Đức - Étal
actuel de la Crâiologie Indochinoise, Hà Nội 1938
J. Levi - Notes sur les Indo-Schyttes, Paris 1915
E. Blane - Documént relatif à I’expansion de la civilisation
greco bactriane Aurousseau delà des Pamirs et à son contact avec la
civilisation chinoise dans l’antiquité, Paris 1995
R. Grousset - Histore de la Chine, Paris 1947
Ngô Thì Sĩ - Hoàng Lê nhứt thống chí, Khâm Dịch Việt sử thông
giám cương mục, bản dịch Langlet Sài Gòn
Nguyễn Bá Trác - Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Sài Gòn 1963
Mathias Tchang - Synchronismes chinois, Changhai 1905
II. Chủng Nam Mông Gô Lích thành hình
Chủng Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc thành
hình xâm nhập Trung Hoa, tiến lên nông nghiệp và tồn tại cho đến đời nhà Hạ thì
một số biến cố lớn xảy ra.
Địa bàn của họ vào đời nhà Hạ đã nói rồi ở chương trước.
Nhưng ta nên rà lại cái địa bàn ấy kỹ lưỡng thêm một tí:
Để xem. Từ đời vua Nghiêm, ta thấy kinh đô của Tàu được di
chuyển như sau:
Nghiêu: Bình Dương (Sơn Tây)
Thuấn: Bồ Bản (Sơn Tây)
Hạ: An Ấp (Sơn Tây)
Thương: Hào (Hà Nam)
Ân: Triều Ca (Hà Nam)
Tây Chu: Kiểu Kinh (Thiểm Tây)
Đông Chu: Lạc Dương (Hà Nam)
Tần: Hàm Dương (Thiểm Tây)
Hán: Tràng An (Thiểm Tây)
Hậu Hán: Lạc Dương (Hà Nam)
Tấn: Lạc Dương (Hà Nam)
Tùy: Tràng An (Thiểm Tây)
Đường: Tràng An (Thiểm Tây)
Những trào đại sau nhà Hạ không dính líu gì đến vấn đề của
chúng ta cả, nhưng ta cần biết rõ kinh đô của các trào đại ấy để mà biết cái hướng
di chuyển qua lịch sử.
Theo luật thì kinh đô của một nước càng văn minh thì càng
thôi hiểm cứ trong rừng núi, và quả ta thấy kinh đô của Tàu càng năm càng đi
theo cuộc sanh tụ đông đảo của dân chúng. Từ Bình Dương đến An Ấp toàn là đi xuống
bờ sông Hoàng Hà (phần nằm ngang). Rồi thì Hào Kinh và Triều Ca thì cũng cứ đi
xuống, xuống cho đến Lạc Dương thì tới bờ sông, tức núi rừng xuống đồng bằng
phì nhiêu.
Nhưng trước khi xuống tới Lạc Dương ở bờ sông, họ rẽ vào Thiểm
Tây, để đến Kiểu Kinh (Tây Chu).
Ta có thể tưởng tượng sự dời đổi của cuộc sanh tụ của dân
chúng Trung Hoa như sau:
Họ xâm nhập bằng ngã Cam Túc, chọc thủng Thiểm Tây nhưng
không sinh tụ ở đó được vì đó là đất của rợ Khuyển Nhung. Họ sinh tụ trước hơn
hết ở Sơn Tây và dần dần sang Đông và xuống Nam, và đến đời Chu thì họ di chuyển
sang hướng Tây, vì họ đã đủ sức mạnh lấn Khuyển Nhung ở vùng đó một cách có hiệu
quả. Cuộc lấn đất Khuyển Nhung thật ra khởi sự từ đời vua Thuấn vì chính vua
Thuấn đã sai tổ trào Chu làm cái công việc lấn đất ấy. Ông tổ này thành công,
nên cho đến đời Thương thì ông ta xem núi Kỳ là đất chính của ông ta. Núi Kỳ là
đầu con đường Trần Thương mà về sau Khổng Minh ở Ba Thục đánh ra.
Những cuộc quật thám cho thấy đồ gốm trước nhứt, là đồ đất
nung đơn sơ, trang trí bằng răng lược, được định tuổi là vào đầu đời Hạ, năm
2000 T.K. tại Cam Túc. Tuy nhiên, nhà Hạ thì định đô ở Sơn Tây vào thời đó.
Kế đó là đồ gốm Ngưỡng Thiều ở Hà Nam. Đây là đồ đất nung đỏ
màu gạch được định tuổi vào năm 1700 T.K. tức trung nhà Hạ.
Cuộc khai quật thứ ba, tìm được đồ gồm Cam Túc mới hơn được định
tuổi là 1500 T.K. gọi là đồ gốm Pan Chan, được định tuổi là sơ điệp nhà Thương.
Đồ gốm này giống đồ gốm ở Lỗ Na Ni, chứng tỏ dưới đời Thương đã có ảnh hưởng
Tây phương, có lẽ qua hành lang Nhục Chi. Nhưng cạnh đồ gốm Lỗ Ma Ni có đồ gốm
hoàn toàn không chịu ảnh hưởng Tây phương nào hết, tức Hoa tộc đã bắt đầu có
dân tộc tính. Đó là đồ gốm Mã Trương ở Cam Túc.
Cả ba loại đồ gốm ấy đều ở Cam Túc, mà Hạ và Thương đều lại
đóng đô nơi khác là Sơn Tây và Hà Nam.
Sơn Tây cũng không có đồ gốm.
Quyển L’Art de la Chine của nhà xuất bản Larousse
viết rằng: An Dương nơi đào được Kinh Đô Triều Ca của nhà Ân là ở Sơn Tây.
Nhưng sách giáo khoa của Tàu lại vẽ dư đồ ghi rằng An Dương ở Bắc Hà Nam, cách
sông Hoàng Hà hai trăm cây số. Có lẽ ông Tây đã lầm, chớ lẽ nào sách giáo khoa
của ông Tàu lại lầm được. Ông Tây lầm hai tỉnh đó có biên giới chung, Nam Sơn
Tây và Bắc Hà Nam dính lại, mà An Dương thì nằm gần sát ranh giới.
Tại sao không có đồ gốm ở Sơn Tây? Nên biết rằng nhà Hạ đóng
đô ở Sơn Tây, nhưng người ta chưa tìm được Kinh Đô đó, nhưng văn minh nhà Hạ
thì lan tràn khắp nơi, ở địa bàn đầu tiên là Cam Túc cũng có.
Văn minh nhà Thương cũng thế. Kinh đô sơ điệp của nhà Thương
cũng lại tìm thấy ở Cam Túc thì không có gì lạ, vì người ta chưa tìm được Kinh
đô Hào.
Với đồ gốm đen ở Long Sơn (Sơn Đông) thì kỹ thuật đất nung đã
lên tới nghệ thuật, vì họ làm được thật mỏng, chỉ dày có ba li Tây. Nhưng không
định tuổi được đồ gốm này một cách chắc chắn, chẳng biết rằng nó không chịu ảnh
hưởng Tây phương và, có lẽ đó là đồ gốm Mạt Điệp Thương, do bọn Cơ Tử phát
minh, bọn này là trung thần nhà Thương bị nhà Thương cầm tù, được Chu phóng
thích rồi họ di cư sang phương Đông để khai hóa rợ Tam Hán ở Triều Tiên.
Nhưng họ không đi thẳng, mà ghé dọc đường, từng trạm một, và
gieo rắc văn minh Thương dọc đường, văn minh này tiếp tục tiến lên mặc dầu
Thương đã bị diệt.
Tây Chu ở Thiểm Tây không có gì đặc sắc vì đó là một trào đại
trọng võ (nhà Chu bận diệt Khuyển Nhung để bành trướng biên cương ở đó) bằng chứng
là đồ đồng của Chu sau Thương, nhưng lại kém hơn Thương nhiều bậc.
Hai trào đại Chu, Tần là hai trào đại nhà quê của kẻ xông pha
tên đạn ở biên cương, oai hùng thì có nhưng bất kể nghệ thuật. Trong khi đó thì
mạt điệp nhà Thương là trào đại sa đọa và duy mỹ.
Cái luật bất di bất dịch đó, ở chơn trời nào cũng có, buổi
ban đầu của một trào đại rất oai hùng nhưng cũng rất quê mùa, còn mạt điệp thì
tế nhị, xa xỉ, lãng mạn và sa đọa.
Nhưng Chu, Tần không có cái mạt điệp, ấy vì Chu bị chủ hầu lấn
quyền vào mạt điệp không có tiền để mà xa xỉ, còn Tần thì trước sau có ba mươi
năm, thì không có mạt điệp kịp.
A-phòng-cung danh tiếng của Tàu, chỉ bắt chước kiến trúc của
các chư hầu nhưng phóng đại ra chứ không có gì đặc sắc cả.
Nói Chu không có là không có cái gì độc đáo của thời ấy,
nhưng họ vẫn có đồ gốm để ăn uống chớ sao không, nhưng không mang đặc thù như đồ
gốm Cam Túc và Sơn Đông. Không được xem là tiêu biểu cho cái gì hết, nên các
nhà đào bới họ có thể đã gặp được đồ của Chu nhưng không có trình làng.
Nhưng rồi thì Đông Chu sẽ có, tại Hà Nam. Nhưng đồ gốm đen Hà
Nam Chỉ là bắt chước đồ gốm đen Long Sơn (Sơn Đông) mà thôi.
Tóm lại trào Chu ban đầu bận diệt Khuyển Nhung, nhưng khi
thiên đô về hướng Đông rồi thì suy luôn, trong khi đó thì ở phương Đông, Tề lại
hưng thịnh lên.
Mà Tề hưng thịnh vì thừa hưởng nỗ lực của dân chúng, tác giả
của đồ gốm Long Sơn đời Chu, chớ không phải chỉ nhờ tài của Quảng Di Ngô như sử
đã chép.
Nhà Chu nỗ lực kinh hồn nhưng không diệt nổi Khuyển Nhung. Tổ
nhà Chu được nhà Thương phong ở đất Kiểu để thực thi cái sứ mạng đó, nhưng vì
nhờ trọng võ để mà chinh chiến nên Chu mới trở lại diệt Thương, kẻ đã phong
mình, nhưng cứ thất bại với Khuyển Nhung (công trình đó về sau, lâu lắm, chư hầu
Tần mới làm xong, và Tần là Tàu, kế nghiệp cho Chu để diệt Khuyển Nhung ở đó chớ
không phải Tần là Khuyển Nhung, như giáo sư Kim Định đã viết).
Sử Tàu chép rằng khi Chu thiên đô về hướng Đông thì chư hầu Tần
hộ tống, còn giáo sư Kim Định thì viết rằng Khuyển Nhung hộ tống và chính Tần
là Khuyển Nhung. Ông viết như vậy sau khi ở hàng trên ông viết rằng vua nhà Tây
Chu, thấy Khuyển Nhung mặt mày dữ tợn quá nên hoảng, mới thiên đô sang Đông. Ấy,
đã hoảng thế mà sao còn mượn họ hộ tống, nghĩa là làm sao? Đã dám nhờ họ hộ tống
thì cứ ở với họ, thiên đô làm gì?
Sử Tàu chép hữu lý hơn: Tây Chu đóng đô tại Kiển Kinh. Phía
Tây của Chu (cứ ở trong tỉnh Thiểm Tây) là Thân, có con gái gả cho
vua Tây Chu, và Tần. Hai chư hầu đó đều là Tàu, và giữ trọng trách làm phên dậu
cho Chu để ngăn Khuyển Nhung ở Cực Tây nhà Chu.
Thân hầu nghe tin con gái mình bị vua Chu ngược đãi bèn nổi
giận, xúi Khuyển Nhung vào đánh Chu. Nhưng đánh chiếm được Kiểu Kinh thì Khuyển
Nhung không chịu lui quân, cứ chiếm giữ đô ấp. Dĩ nhiên là như vậy.
Thế nên rồi các chư hầu người Tàu phải liên kết với nhau để
đánh đuổi thì Khuyển Nhung mới chịu về nước. Kẻ có công nhiều nhứt trong trận
đó là chư hầu Tần, đương giữ tước Tử thì được nhảy lên tước Bá.
Xem đó thì Tần không có vẻ gì là Khuyển Nhung hết, và ta theo
sử Tàu, thì xóa được sự mâu thuẫn là vua Chu, thấy mặt mày của Khuyển Nhung dữ
tợn quá, hoảng sợ nên phải thiên đô, rồi lại nhờ Khuyển Nhung hộ tống để mà
thiên đô!!!
Sử Tàu đã chắc đúng kể từ đời Tây Chu này thì không còn muốn
nói gì thì nói nữa như về các trào Nghiêu Thuấn, ai là dân nào đều được biết chắc
ít lắm cũng từ năm 841 T.K. Đó là điều chắc chắn được tất cả mọi người công nhận.
Đó là năm mà hai ông đại thần Châu, Triệu giữ quyền nhiếp chính vì vua nhà Chu
bôn đào sau một cuộc nổi loạn của dân chúng.
Sử thành văn từ đời đó còn đủ. Mà vào năm đó thì một người
Tàu được phong ở đất Tần, đó là tổ của nhà Tần, thay cho Chu để hoàn thành sứ mạng
mà Thương giao cho Chu, là diệt Khuyển Nhung.
Thế thì còn Khuyển Nhung nào mà trá hình làm Tần được?
Sử về trước đó rất là buồn cười, như Mạnh Tử bảo rằng vua Thuấn
là rợ Đông Di. Giáo sư Kim Định bèn chụp lấy mà khen vua Nghiêu đáo để, vì ông
ta là người Tàu mà dám truyền ngôi cho Việt là làm một cuộc cách mạng to lớn
quá sức.
Nhưng Tư Mã Thiên đã đính chánh điều đó. Vua Thuấn là người
Tàu bị xem là Đông Di vì thói quen thời đó là như thế. Hùng Dịch là người Tàu,
thế mà được phong ở đất Nam Man Kinh Cức thì cứ bị người Tàu khác gọi là Nam
Man khiến con cháu ông ta cũng mang mặc cảm Nam Man và có lần thốt lên lời than
rằng ông ta là man di.
Cái thói quen cổ thời của Tàu cũng có lý do chớ chẳng phải
không. Khi mà ta lên lập nghiệp ở Kontum lâu đời quá, ta hóa ra quê đi, và bị
thiên hạ đồng hóa ta với người Sơ Đăng. Phương chi tổ vua Thuấn và tổ của Hùng
Dịch quả đã có cưới con gái Đông Di và Nam Man làm vợ thì vua Thuấn và Hùng Địch
là người lai, nhưng vẫn cứ là Tàu.
Tra từ điển Từ Hải ta cũng thấy từ điển ấy cho biết
rằng tổ tiên và con cháu của vua Thuấn đều được phong ở đất Đông Di, chỉ có thế
thôi, chớ ông ta là người Tàu.
Nhưng đến thời Cộng Hòa Châu, Triệu (841 T.K.) thì sử đã
thành văn, không nói tầm ruồng như trước được nữa, thành thử những gì xảy ra từ
năm đó đến nay, phải theo sử chớ không thể diễn dịch và quy nạp mà thành sự.
Hậu Nghệ, kẻ đã tạm cướp ngôi vua nhà Hạ, cũng bị gọi là người
rợ Đông Di, nhưng có bằng chứng hay không, hay y cũng cứ là rợ theo lối vua Thuấn
và Hùng Dịch?
Trong một bức tượng chạm vào đá, đào được và đăng ảnh trong
quyển L’Art de la Chine. Hậu Nghệ được chạm hình mặc y phục Trung Hoa, nhứt
là cây cung mà y cắm để bắn rụng chín cái mặt trời là cung Tàu. Cung Tàu khác hẳn
với cung Việt là ở cái nơi mà người cầm cung, cây cung cong vào bên trong.
Hậu Nghệ lại đứng trên nóc nhà, mà đó là nóc nhà ngói mái thẳng
theo kiểu Tàu đời xưa, chớ không có cong vớt lên như mái nhà của Mã Lai.
Người ta tự hỏi những Lý Tiến, Lý Cầm mà sử Tàu chép lại là
người Giao Chỉ, có quả thật là người Việt hay không? Thói quen của Tàu là như
thế đó, họ chỉ nguồn cội của một cá nhân bằng sinh quán. Sinh quán không hề chỉ
chủng tộc, theo họ.
Vào năm 200 S.K. có người Việt được làm quan bên Tàu, thế
sao, sau đó, người Việt tiến bộ hơn nhiều một trăm lần hơn, lại không được?
*
Địa bàn Hoa Bắc của Tàu là Hoàng Thổ (Loes) loại đất phì
nhiêu vào bậc nhứt thế giới. Đất phì nhiêu là yếu tố giúp dân tiến lên nông
nghiệp, lại là nguyên nhơn tăng dân số. Nhưng địa bàn lại không được bành trướng.
Thế là có nạn nhân mãn.
Cũng nên nhắc đến cuộc kiểm tra dân số dưới trào Tiền Hán, thời
vua Bình Đế năm 2 S.K. Cuộc kiểm tra này cho thấy dân Tàu rất thưa thớt, chỉ có
lối 30 người trong một diện tích một cây số vuông.
Nhưng xin nhớ rằng lãnh thổ nước Tàu đời Hán đã mười lần to
hơn lãnh thổ đời nhà Hạ nói ở trên kia.
Thêm vào đó loạn Chiến quốc đã giết chết hàng mấy mươi triệu
người Trung Hoa (chỉ có một trận đánh mà binh Tần đã tàn sát bốn trăm ngàn tù
binh) thì tới nhà Hán, dân số bị sụt ghê lắm.
Tại sao người Tàu không giải quyết nhân mãn đời Hạ bằng cách
diệt các thứ man di còn lại ở Trung Hoa, chẳng hạn như Khuyển Nhung. Dân này
cho tới đời Chu, vẫn tồn tại và chỉ bị Tần Mục Công tiêu diệt mà thôi, tức rất
trễ.
Nếu diệt được "man di" thì nạn nhân mãn không có xảy
ra bởi đất của Man di còn nhiều lắm và người Tàu có sanh đẻ đông đến đâu cũng
không ở cho hết Hoa Bắc.
Họ không đủ sức diệt. Riêng ở Sơn Đông là một Cao nguyên thì
họ vây Đông Di tứ phía, tại đồng bằng bao quanh Cao nguyên ấy, nhưng không xung
phong lên đó được, vì người Tàu là một dân tộc rất sợ núi, mãi cho đến ngày
nay, họ thiếu ăn, nhưng núi và Cao nguyên của họ cũng còn cứ bị bỏ không, không
trồng trọt gì hết.
Những tỉnh khác, không là Cao nguyên như Sơn Đông, cũng chẳng
được họ cướp hết vì con người có khuynh hướng tìm giải pháp dễ dãi, tức tìm đất
di cư mà chủ đất hiền lành, hoặc quá thưa thớt, không quyết tử chống xâm nhập để
giữ đất.
Nên nhớ Chu, Tần đều ở Thiểm Tây mà đánh ra, nhưng họ là người
Tàu cướp đất của Khuyển Nhung lần hồi, ở nơi đó, chớ không phải là rợ, là dân
thổ trước như giáo sư Kim Định đã nói.
Lúc Hiên Viên diệt Cửu Lê, giáo sư Kim Định chỉ phớt qua về Cửu
Lê. Thế mà về sau đó thì giáo sư trình bày như là Cửu Lê có mặt ở khắp Hoa Bắc,
nhà Hạ chia nước ra làm chín châu cũng do chín Lê, v.v.
Giáo sư đã hiểu:
Cửu Lê = Các bộ lạc
Tuy không nói là các bộ lạc của dân tộc nào, nhưng đọc V.L.T.N. ta
cứ tưởng đó là các bộ lạc Tàu chưa chịu cho Hiên Viên thống nhứt.
Mà như thế thì quan niệm rằng nhà Hạ chia nước thành 9 châu
là vì con số 9 của các bộ lạc ấy, ăn khớp với lối hiểu sai lầm trên kia rằng Cửu
Lê là "các bộ lạc".
Nhưng mà không phải thế. Con số 9 này chỉ dựa vào tình hình địa
lý mà thôi, nếu tình hình địa lý mà thuận cho 12 vùng thì Tàu đã chia nước
thành 12 châu, hoàn toàn không liên hệ gì đến Cửu Lê cả.
Khi nhà Hạ chia nước thành 9 châu thì trong đó có 7 châu rưỡi
là hoàn toàn do Tàu làm chủ và định cư, chớ không còn rợ nào mà sống chung với
họ được cả mà bảo rằng là do Cửu Lê mà ra.
Nhưng nếu quan niệm rằng Lê là lê thứ, tức dân chúng Trung
Hoa, theo giáo sư đã hiểu thì ổn.
Chỉ phiền là sau đó, giáo sư suy luận mãi thế nào mà Cửu Lê lại
hóa ra là Việt. Như vậy thì đúng đến một ngàn phần trăm, chỉ phiền là nó mâu
thuẫn với lối hiểu sai của ban đầu, lối hiểu sai đó lại được dùng để chứng minh
điều khác, và chỉ phiền là khi biến hóa Cửu Lê thành Việt thì Việt đã di cư khỏi
nước Tàu nhiều trăm năm rồi, không còn đâu để cho Tàu dùng con số 9 mà chia nước
thành 9 châu.
Biến cố xảy ra vào đầu đời Hạ mà người Tàu được xem là đã văn
minh rồi.
Văn minh Trung Hoa ban đầu đi lên vào đời nhà Hạ đó với kỹ
thuật đúc những món đồ to bằng đồng, và với kỹ thuật cất nhà ngói cho vua ở, chớ
trước đó thì vua Nghiêu, vua Thuấn vẫn ở nhà tranh như thường dân, không phải
vì hai ông đó "có đức lớn" như sử Tàu nói mà vì dân Trung Hoa chưa biết
chế tạo ngói gạch, chưa thạo kỹ thuật làm gỗ rắc rối với những lỗ mộng, không
thể xây cất lớn và nặng được.
Tuy nhiên, văn minh đó chưa có gì đáng kể vì vua nhà Hạ chỉ
có một cái nhà ngói, dùng vào đủ thứ việc, thờ phượng, thiết trào, tiếp khách
và ở với gia đình và thê thiếp.
Văn minh lên là hậu quả phần nào của sự gia tăng dân số, và lại
là nguyên nhơn của xâm lăng, đành rằng xâm lăng là để giải quyết nạn nhân mãn,
nhưng cũng vì y trước rằng mình văn minh phải đi trị bọn rợ mới được.
Nhưng người Trung Hoa hoàn toàn thất bại ở hướng Bắc và hướng
Tây. Rợ Nhung ở hướng Tây, mà họ cũng gọi là Khuyển Nhung (Tây Thiểm Tây), rất
dữ tợn, còn rợ Hung Nô, và Mông Cổ ở hướng Bắc lại còn dữ tợn hơn, Tây Vức ở
sau lưng Khuyển Nhung, lại cũng đã văn minh cường thịnh rồi, không chạm tới Tây
Vức được.
Họ thành công hơn ở hướng Đông, nhưng cho đến cuối đời Chu, họ
vẫn cứ còn phải đánh nhau với rợ Đông Di ở đó.
Địa bàn của rợ Đông Di là lưu vực sông Bộc chạy thẳng ra tới
biển Đông tức gồm Hà Nam, Hà Bắc và Sơn Đông ngày nay.
Nhưng người Tàu đã sai lầm, mà phân biệt Đông Di và Nam Man
vì cứ theo lời họ tả thì Đông Di giống hệt Nam Man, cũng xâm mình và nhuộm răng
đen, và ta sẽ thấy, ở một chương sau, rằng rợ Đông Di, đích thị là Việt.
Họ thành công ở hướng Đông, nhưng nạn nhân mãn vẫn chưa được
giải quyết vì thật ra họ chỉ chiếm được có Tây Bắc Hà Nam còn Sơn Đông thì họ
chỉ chiếm được có một vùng nhỏ mà đến đời nhà Chu cứ còn là một huyện nhỏ, đó
là châu Duyện đời nhà Chu và huyện Bộc đời Hán.
Thành thử họ phải tìm con đường thoát thứ tư là phương Nam.
Thời kỳ dân lai căn xâm nhập đất Trung Hoa gọi là thời kỳ xâm
lăng, nhưng từ đây thì cuộc xâm lăng để giải quyết nạn nhân mãn không được xem
như là xâm lăng nữa, mà là bành trướng biên cương. Thế thì cũng cứ là xâm lăng,
nhưng chỉ khác ở cái tên mà thôi.
Họ bành trướng ra khắp bốn phương trời quanh vùng đất mà họ
chiếm được buổi đầu, và cái buổi đầu ấy dài đến hai ngàn năm chớ không phải là
vài trăm năm. Những dân tộc ở bốn phương trời đó đều bị họ gọi là rợ (di) nhưng
họ có cả bốn danh từ rợ khác nhau. Rợ phía Bắc tên là Bắc Địch, phía Đông tên
là Đông Di, phía Tây tên là Tây Nhung, phía Nam tên là Nam Man. Địch, Di, Nhung
và Man đều có nghĩa là rợ.
Tuy nhiên, việc dùng danh từ không cứng rắn lắm, vì đôi khi rợ
Bắc cũng được gọi là Nhung, rợ Nam cũng được gọi là Di.
Nhưng ở phương Nam thì không có sử liệu nói đến một cuộc chiến
tranh, trừ chiến tranh với nước Quỹ Phương dưới đời nhà Ân (tức nhà Thương) tức
sau chiến dịch bành trướng biên cương của nhà Hạ lâu lắm.
Nước Quỹ Phương này, các sách Tàu khẳng định là tỉnh Quý
Châu, nhưng không được chứng minh, nên ta để đó cái đã, chỉ biết rằng vào đời Hạ
thì người Trung Hoa tiến xuống phương Nam ở trên nước Quỹ Phương rất xa.
Biến cố nói đến khi nãy, ở cái phương Nam này, mới đích thực
là biến cố, một biến cố lớn lao nó biến hẳn chỉ số sọ và tính tình, tâm hồn của
toàn thể chủng Trung Mông Gô Lích, biến cả dân tộc tính của họ nữa, chớ không
riêng gì cái sọ.
Biến cố này là cuộc xâm lăng địa bàn thứ nhì của chủng Việt tại
núi Kinh, thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay, nơi mà về sau, nước Sở được dựng lên.
Sử Tàu, về những sự kiện xảy ra trước đời Chu thì lung tung
và sai lạc rất nhiều.
Có hai câu sử quan trọng mà ta cần mượn khoa khảo cổ Âu châu
để kiểm soát lại, không thôi, bao nhiêu sự kiện sau đó đều bị xáo trộn hết.
Câu thứ nhứt: "Năm Quý Tỵ (2198 T.K.) vua Đại
Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê".
Câu thứ nhì: "Năm Quý Mão (2085 T.K. vua Thiếu
Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Võ Dư ở đất Việt".
Theo khoa khảo cổ Âu châu thì vào hai năm đó, Hoa chủng chưa
hề để chơn xuống vùng hữu ngạn sông Hoàng Hà thì vua Đại Vũ làm thế nào để hội
chư hầu ở Cối Kê, về phía Nam sông Dương Tử, và vua Thiếu Khang làm gì có quyền
phong cho con của ông ta một vùng đất do dân khác đang làm chủ mà ông ta chưa
bao giờ chinh phục?
Có lẽ một vị trí cổ thời nào đó ở Hoa Bắc tên là Cối Kê mà
nay mất dấu, rồi các sử gia đời sau gán ghép như vậy, như các sử gia đời Tống
đã sửa văn của thiên Nghiêu Điển thay địa danh Giao Chỉ vào chỗ Nam
Giao, khiến ai cũng ngỡ ta và Tàu đã có liên lạc với nhau rồi vào thời Nghiêu
Thuấn?
Có bằng chứng là ở bên Tàu có nhiều nơi trùng tên nhau. Thí dụ
ở phía Bắc nước Ngô có nước Đào, nơi mà Phạm Lão nuôi cò và nổi danh là Đào
Công. Trong nước Tần lại có một nước Đào. Ở nước Sở có đến ba nơi tên là Sinh
đô (hay Dỉnh đô?).
Ở Hà Nam có một nơi tên là Kinh Ấp.
Ở Bắc Hồ Bắc có một nơi tên là Kinh Ấp và nơi đó, tức Kinh Ấp
ở Bắc Hồ Bắc, chính là nơi mà dân Trung Hoa di cư tới vào đời Hạ, như đã nói
trên kia.
Có hai nước Ba, một nước ở sát nước Thục, và một nước ở trong
nước Sở.
Ở Thiểm Tây có đất Mân, đất tổ của nhà Chu, nhưng Phúc Kiến
cũng mang tên là đất Mân.
Thế thì Cối Kê mà sử Tàu nói đến, không thế nào mà là Cối Kê
của Câu Tiễn được. Nhưng Tàu cũng chỉ lầm lẫn địa danh chứ không phải là bịa
càn đâu.
Chính độc giả lầm lẫn chớ không phải người viết sử. Người ta nói
đến Cối Kê ở Hoa Bắc, tại mình hiểu đó là Cối kê ở Triết Giang vì cái Cối Kê thứ
nhì đó vang danh nó ám ảnh mình.
Bằng chứng không thể có việc hội chư hầu tại Triết Giang lộ
rõ ra trong những ngày chuẩn bị dời đô từ Tây sang Đông của nhà Chu.
Vua nhà Chu hỏi các lão thần: "Tại sao vua đóng đô ở Kiểu
Kinh mà các Tiên đế còn xây cất thành Lạc Dương làm gì?"
Một lão thần đáp: "Kiểu Kinh xưa kia là cái rún nước.
Nhưng dân càng năm càng đi sanh cơ lập nghiệp xa về phương Đông mà dân thì có
chư hầu trông coi. Hóa ra chư hầu xa, về chầu vua khó nhọc lắm. Vì thế mà các
Tiên đế mới xây cất thành Lạc Dương, để vua tiếp chư hầu tại đó, vì ngày nay
khác ngày xưa, Lạc Dương mới đích thực là ở giữa nước".
Đó là chuyện đời Đông Chu, tức sau chuyện nhà Hạ đến 1400
năm, thế mà họ còn cho là Kiểu Kinh. Thiểm Tây quá xa chư hầu thì không làm sao
mà dưới đời Hạ, vua lại hội chư hầu ở Cối Kê (Triết Giang) được, làm như thế
thì chính nhà vua lại phải nhọc, bằng như nhà vua đó bảnh, không sợ nhọc, thì
các chư hầu phương Tây và phương Bắc lại không thể tới nơi.
Giữa đời Chu, Lạc Dương là rún nước trên thực tế, còn dưới đời
nhà Hạ, nơi nào là rún nước? Dĩ nhiên là An Ấp ở Sơn Tây, nơi nhà Hạ đóng đô
thì Cối Kê ấy phải nằm đâu lối đó.
*
Điểm xuất phát di cư là ngã ba sông Hoàng Hà và sông Vị theo
sử gia René Grousset. Nhưng R.G. không có dẫn chứng. Mà chính vì không dẫn chứng
nên ta mới tin được.
Người Âu Châu viết sử xem sự dẫn chứng là quan trọng vào bậc
nhứt. Nhưng họ có lề lối. Nếu câu sử nào cũng dẫn chứng thì 10 trang hóa ra 100
trang, 400 trang thành 4000 trang. Thế nên họ chỉ dẫn chứng về những điều mới lạ
mà họ nói ra lần đầu thôi, còn những gì được nhiều tài liệu củng cố từ lâu và
được tất cả mọi người đều công nhận thì họ xem là sự hiển nhiên không cần dẫn
chứng nữa.
Sự dẫn chứng đó có ba lối. Dẫn chứng ngay trong câu sử đó, dẫn
chứng sau một chương và dẫn chứng sau sách, tùy câu sử mới lạ nhiều hay ít.
Thí dụ ở chương Mã Lai chủng, chúng tôi nói ngay trong câu sử
đầu, tài liệu nào cho ta biết dân Việt thuộc chủng Mã Lai và họ từ đâu đến vào
thời nào vì đó là một khám phá làm kinh ngạc cả những nhà bác học nữa thì phải
nói ngay ra tức thì còn thì các sách tham khảo về những cái khác chỉ được ghi ở
sau một chương sách mà thôi.
Vậy câu sử đó của R.G phải được xem là sự thật hiển nhiên
chính vì không có dẫn chứng, nghĩa là R.G. đã có tài liệu, tài liệu đó đều được
mọi người biết và công nhận.
An Ấp, kinh đô của nhà Hạ, chỉ nằm cách đó có hơn một trăm
cây số. Bằng vào cái luật này là kinh đô của dân văn minh nằm giữa nơi sinh tụ
đông đảo, chớ không phải hiềm cứ ở núi rừng, thì nạn nhân mãn phải xảy ra ở
vùng đó.
Lẽ thứ nhì là Hoa tộc còn kém thủy vận mà con sông Hoàng Hà
thì quá to, quá dữ, họ không vượt Hoàng Hà được ngoài hướng đông. Ở đây sông
tương đối hẹp hơn ở ngoài bờ biển.
Đó là ba biên giới của ba tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây và Hà Nam
ngày nay.
Thế nghĩa là cái phần Bắc Hà Nam ở trên sông Hoàng Hà, nơi
Hiên Viên đánh Xy Vưu đã được Hoa tộc làm chủ, còn phần hữu ngạn, ở dưới, Hoa tộc
chưa xuống tới trước ngày di cư.
Và đó là một bằng chứng nữa là vua nhà Hạ không thể hội chư hầu
ở Cối Kê (Cối Kê của Câu Tiễn). Nếu có việc hội chư hầu ở Cối Kê thì cái Cối Kê
đó chỉ có thể là địa danh ở Hoa Bắc, nhưng nay đã mất dấu rồi.
Nhưng vượt Hoàng Hà rồi thì chưa vào Kinh Cức ngay đâu, vì
còn phải đi qua lối 50 cây số nữa mà nay thuộc đất của tỉnh Thiểm Tây. Đã bảo tỉnh
Thiểm Tây nay, xưa là nước của rợ Khuyển Nhung. Nhưng rợ đó không phải có mặt ở
khắp nơi và chỗ ấy, chỗ 50 cây số phải đi qua, có thể là đất bỏ không, nên sử
Tàu không hề nói đến việc đánh nhau với cái dân dữ tợn là dân Khuyển Nhung.
Vậy vùng đất 50 cây số ấy có lẽ quá xấu nên Khuyển Nhung
không định cư, bằng chứng là Tàu cũng không thèm dừng chơn lại, mà đi xa hơn, về
hướng Đông Nam, về cái nơi mà ngày nay là tỉnh Hồ Bắc, mà họ đặt tên là Kinh Cức.
Kinh là tên một quả núi ở đó, còn Cức là một thứ cây hoang dại
có nhiều gai. Nhưng Kinh Cức lại có nghĩa bóng là nơi khốn đốn.
Đó là một thứ Đắc Tô, Đắc Suốt, Tu Ma Rong ở Cao nguyên mà
công chức Việt bị thuyên chuyển lên đó thì kêu trời như bọng, vì là đất khốn đốn,
quanh họ chỉ có núi rừng và người Thượng, còn sa mù thì tới 12 giờ trưa mới
tan, gió và khí trời lạnh như cắt da.
Nhưng đối với người Tàu thì ngược lại, gió và khí trời ở Kinh
Cức lại nóng như thiêu đốt vì họ đã qua vĩ tuyến khác rồi, họ từ vĩ tuyến 35 xuống
vĩ tuyến 30.
Núi Kinh không phải là núi lớn nhứt của Hồ Bắc, cũng không nằm
giữa tỉnh Hồ Bắc. Tóm lại không có gì đặc sắc hay tiện lợi hay khốn đốn hơn nơi
khác, nhưng không hiểu sao bọn di cư lại đi tới đó, lấy nơi đó làm chủ lực và đặt
tên cho cả một kinh, châu Kinh. Đó là một bí mật tưởng không bao giờ ai khám
phá ra được.
Lần đầu tiên trong lịch sử của họ mà người Tàu sang từ tả ngạn
Hoàng Hà sang hữu ngạn Hoàng Hà, tức từ phía trên Hoàng Hà xuống phía dưới
Hoàng Hà.
Sự kiện này không mâu thuẫn với cuộc phát kiến đồ gốm đen loại
Long Sơn (Sơn Đông) ở thành Tư Nhai, tại cái hữu ngạn đó vì như đã nói, không
ai định tuổi chính xác được loại đồ gốm ấy và có thể đó là đồ gốm nhà Thương mà
Hoa tộc đã vượt Hoàng Hà đông đảo rồi. Bọn di cư nhà Hạ từ điểm xuất phát di cư
đến đời Thương, đưa đồ gốm đen từ hướng Đông, ở dưới sông Hoàng Hà, đến thành
Tư Nhai.
Điều chắc chắn là đến đầu đời Hạ này, Hoa tộc mới xuống phía
dưới sông Hoàng Hà và các nhà khảo cổ nên dựa vào điểm chắc chắn ấy để định tuổi
đồ gốm đen thành Tư Nhai, đồng loại với đồ gốm đen Long Sơn (Sơn Đông).
Hình như họ đã biết sự thật rồi vì họ cứ gọi đó là đồ gốm
Long Sơn, tức Long Sơn là trung tâm quan trọng, còn hữu ngạn Hoàng Hà có quá ít
đồ vật loại đó, bởi dân di cư lưa thưa, nên họ chỉ nói qua vậy thôi về đồ gốm
đen Thành Tư Nhai ở dưới sông Hoàng Hà.
Xin trở lại câu sử thứ nhứt: "Năm Quý Tỵ (2158
T.K.) vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê".
Tả Truyện cho biết rằng dưới đời Chiến quốc bọn di cư
Trung Hoa lập ra nước Sở ở bờ Tây sông Hán, còn bờ Đông sông Hán thì rợ Việt
còn hoàn toàn làm chủ. Cối Kê ở ngoài biển, cách bờ Tây sông Hán đến hơn ba
ngàn cây số, người Trung Hoa chưa hề biết nơi đó.
Mà cũng đừng tưởng rằng có một nhóm di cư thứ nhì xuất phát từ
đất của rợ Đông Di, tức tỉnh Sơn Đông, từ đó họ vượt Hoàng Hà rồi vượt Dương Tử.
Không, họ chưa giỏi thủy vận và sông Hoàng Hà và Dương Tử còn quá dữ tợn đối với
ghe xuồng nhỏ, họ chưa đủ phương tiện vượt hai con sông lớn ấy ở gần cửa biển.
Điểm được lựa chọn ở ngã ba sông Vị là nơi đó sông Hoàng Hà tương đối nhỏ hẹp,
dễ vượt qua.
Mặc dầu dưới đời Chiến quốc, ở Cối Kê quả có đền thờ vua Đại
Vũ, như sử Tàu đã ghi chép, và ta có thể tin họ về ngôi đền thờ này, nhưng ngôi
đền ấy không chứng minh được rằng dưới đời Hạ họ đã có mặt nơi đó, vì đời Hạ
cách đời Chiến quốc đến 1061 năm chớ không phải là gần nhau đâu, và dân địa
phương thờ vua nhà Hạ chỉ vì vua nước Việt đã khoe láo rằng ông ấy là hậu duệ của
vua nhà Hạ. Sự khoe láo này, rồi ta sẽ thấy là láo. Có lẽ chính Câu Tiễn đã cho
xây cất đền thờ để củng cố lời khoe láo của y.
Nhiều sử gia Tàu cứ dựa vào ngôi đền đó để mà quả quyết rằng
vào đời Hạ họ đã tới Cối Kê rồi. Nhưng Tả Truyện vốn biết rằng đó là
láo nên ghi chép sự thật là bờ Đông sông Hán còn do rợ Việt làm chủ hoàn toàn.
Sông Hán là phụ lưu của sông Dương Tử, chảy từ Bắc xuống Nam và cùng với sông
Hoàng Hà, sông Dương Tử và ranh giới Thiểm Tây và Tứ Xuyên tạo thành một khu tứ
giác mà người Tàu di cư tới lần đầu tiên vào thuở ấy.
Nhưng khu tứ giác đó, tức bờ Tây sông Hán là đất của ai? Chủ
đất ở đó thuộc một chủng mà họ gọi là Việt, lần đầu tiên trong sử của họ. Ở đó
có một cái núi mà dân di cư đặt tên là núi Kinh, đất đó họ gọi là đất Kinh
Man, tức đất Kinh của Man Mọi, hoặc Kinh Cức là đất Kinh có cây gai về
sau họ cũng gọi là đất Kinh Việt, tức đất Kinh của rợ Việt.
Tỉnh Hồ Bắc, nằm trong khu tứ giác đó, là đất của chủng Việt.
Danh xưng Việt chỉ mới xuất hiện vào thời này mà thôi, chớ
trước đó, tuyệt nhiên chưa có danh xưng đó.
Khoa khảo tiền sử chưa tìm được dấu vết chắc chắn của đời Hạ
để biết họ đã có văn tự hay chưa, nhưng mãi cho tới cuối đời Thương mới thấy dấu
vết của chữ Việt, mà chúng tôi gọi là tự dạng nguyên thỉ.
Chữ Việt này rất là kỳ dị. Nó chỉ là cái đuôi của chữ Việt
trong thư tịch Trung Hoa, mà dân ta gọi là Việt bộ Mễ (nhưng Tàu gọi là chữ Việt
thứ nhì đó là Việt bộ Nguyệt). Chúng tôi sẽ nói đến tự dạng này nhiều hơn.
Chúng tôi đã nói quá sớm rằng Việt từ Hoa Bắc di cư đi Nam
Dương qua Triều Tiên, Nhựt Bổn và Việt Nam. Đó chỉ là lỡ lời phải tiết lộ quá sớm,
chớ trước đó Tàu Hoa Bắc không có nói đến Việt.
Nhưng chúng tôi đã trót lỡ lời thì người ta phải tự hỏi Việt ở
Kinh Việt, có phải là Việt trên kia hay không?
Đúng, họ là Việt trên kia, nhưng không phải là từ trên kia
tràn xuống, mà họ đã nằm sẵn ở đó, không ai biết từ bao lâu. Họ đồng ngôn ngữ với
nhau một phần, nghĩa là có hai phương ngữ Việt. Hai phương ngữ đó, hiện nay đều
có mặt tại Việt Nam, vì rồi Việt Hoa Nam cũng bỏ hết đất mà di cư đến các địa
bàn định cư của Việt Hoa Bắc, chỉ có khác là hai cuộc di cư cách nhau đến 2.500
năm.
Thế nghĩa là Việt chủng làm chủ trọn vẹn nước Tàu, trước khi
Hoa chủng xâm nhập, chỉ có điều là không biết từ bao lâu, bọn Việt Hoa Bắc được
chúng tôi suy luận là không lâu vì họ không có để dấu vết lại, còn bọn ở dưới
thì có cho thấy dấu vết, nhưng không định tuổi được một cách chắc chắn, sai đến
1.000 năm từ 6.000 năm, đến 5.000 năm.
Theo khoa học thì hai thứ Việt đó thuộc chủng nào và khác
nhau ra sao thì ta sẽ biết ở chương Mã Lai chủng. Ở đây, chỉ nói đến những gì
mà người Tàu đã thấy mà thôi. Dĩ nhiên là trước đó, họ cũng đã thấy Việt phía
trên, nhưng họ không có gọi đó là Việt, mà cũng không có tả vì thời Hiên Viên
chắc chắn là chưa có chữ, mặc dầu ai nói sao đi nữa, cũng chắc chắn là họ chưa
có chữ.
Còn truyền thuyết thì quá đơn sơ, hoặc bị thất truyền nên
không ai biết Việt trên ra sao, còn truyền thuyết Tàu thì chỉ biết rằng rợ Đông
Di xâm mình và nhuộm răng đen.
Và chúng tôi xin trở lại câu sử thứ nhì của Tàu: "Năm
Quý Mão (2085 T.K.) vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ nhì là Vô Dư ở đất
Việt".
Thiên hạ cứ nói rằng đất Việt đó là nước U
Việt của Câu Tiễn nhưng đất không phải là nước, và vào đầu đời Hạ
họ cũng chỉ mới để chơn sang sông Hoàng Hà, đến Kinh Cức, thì làm sao đến đời
Thiếu Khang, tức 49 năm sau đó, họ lại chinh phục được một nơi cách đó hơn
3.000 cây số theo đường chim bay, ở dưới sông Dương Tử là đất mà dân Việt còn
hoàn toàn làm chủ để mà phong cho Vô Dư.
Ta sẽ thấy rằng rợ Việt ở đó, chống trả mãnh liệt cho tới cuối
đời Chu, thì không làm sao mà chỉ sau có 49, Tàu lại làm chủ được nhiều đất đến
thế, làm chủ tới Cối Kê của Câu Tiễn.
Nhưng hai câu sử trên rất được những người chỉ đọc sử Tàu tin
mạnh.
Sự thật thì sử Tàu chỉ chép theo lời khoe của các vua nước Việt
chớ họ không có dựa vào sử liệu nào cả về sự kiện Vô Dư là tổ tiên của các vua
Việt Cối Kê. Đất Việt không hề có nghĩa là nước Việt của
Câu Tiễn.
Lối khoe đó giống hệt như là lối khoe của Hồ Quý Ly, ông ấy
khoe rằng ông ấy là hậu duệ của vua Thuấn và vì vậy mà ông ấy đặt tên nước ta
là Đại Ngu, thấy sang bắt quàng làm họ, chớ xét ra thì Hồ Quý Ly cũng láo
khoét. Thật vậy, một họ không thế nào kéo dài từ vua Thuấn cho tới Hồ Quý Ly mà
chưa tuyệt tự (Xin xem chương Họ của Trung Hoa và Việt Nam).
Các vua nước Việt Cối Kê không đủ tinh thần tự trọng, không đủ
hãnh diện quốc gia, thấy Trung Hoa văn minh cao, nước của các ông hùng cường mà
cứ bị họ coi rẻ, nên các ông tình nguyện làm Tàu.
Như vậy câu sử thứ nhứt hoàn toàn sai sự thật, câu sử thứ nhì
cũng sai, vì lời khoe láo của Câu Tiễn ám ảnh người Tàu.
Cái đất Việt nói trong câu sử thứ nhì là tỉnh Hồ Bắc ngày
nay, tức đất Kinh Việt, chớ không phải là nước Việt của Câu Tiễn ở Cối Kê (Triết
Giang).
Về nước Sở, sử Tàu (Sử Ký) cũng lại chép lời khoe của các vua
Sở. Các vua Sở cho rằng mình là hậu duệ của Hiên Viên. Vì Sử Ký đã
chính thức hóa lời khoe của vua Sở, nên dĩ nhiên thiên hạ phải tin lời khoe của
các vua Việt, bởi Sở không phải là hậu duệ của Vô Dư thì U Việt phải là kẻ hậu
duệ đó, chớ còn ai nữa bây giờ, bởi Sở và Việt cũng đều là Việt, Vô Dư không
vào nước Sở thì vào nước Việt vậy.
Nhưng Sở mới đích thực là hậu duệ của Vô Dư còn Việt Cối Kê
là Việt thuần chủng, không có lai giọt máu Tàu nào hết.
Tả Truyện chép rằng khi ấu vương Chu Thành Vương lên
ngôi thì người nhiếp chính là ông Chu Công Đán xuống chiếu phủ dụ Sở Tử:
"Khanh hãy chế phục và bình định cho an bọn man di Việt, ngăn chúng nó làm
loạn và xâm phạm thiên trào".
Viết phụ đề Hoa ngữ cho Xuân Thu, Tả Khâu Minh còn cho
ta biết rõ hơn về cái bọn man di Việt đó.
Tuy nhiên, Tư Mã Thiên cũn g có góp phần, Sử Ký cho
biết rằng dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt họ Tự, cũng đều là dân Việt.
Hành động "phong" mà sử Tàu nói đến, cũng là láo
khoét. Phong là phong đất mà vua Tàu đã làm chủ, đằng này đất Kinh Việt chưa hề
bị chinh phục thì phong sao được.
Đó chỉ là một cuộc di cư có tổ chức, có người lãnh đạo là Vô
Dư, di cư đến một nơi hoàn toàn xa lạ, và Vô Dư phải tháo vát xoay xở, thành
công thì nhờ, bị thổ dân đề kháng thì chết.
Vua Thiếu Khang đã đem con bỏ chợ, vì theo tục Trung Hoa để
con thứ ở lại trào, có thể xảy ra tranh giành ngôi báu với con trưởng thì càng
rắc rối không biết bao nhiêu.
Vua nhà Hạ là vua đầu tiên lập ra chế độ thế tập. Như thế tống
cổ đứa con thứ là Vô Dư đi xa, là rất phù hợp với dự trù về chế độ. Khi ông vua
đầu đời Hạ nghĩ ra chế độ thế tập thì ông ta phải nghĩ ra cách ngăn ngừa việc
tranh giành ngôi báu, có thể làm mất luôn địa vị của dòng họ ông ta.
Tuy nhiên, vua Thiếu Khang có ẩn ý cho con thứ của ông một
may mắn lập nên sự nghiệp vì nếu Vô Dư thành công, y sẽ làm chúa một phương trời,
cũng là sướng cái thân vậy.
Tám trăm năm sau, Hùng Dịch mới là được phong thật sự ở đó,
mà cũng chỉ được có 50 dặm vuông (Tư Mã Thiên), tức lối 25 cây số vuông, tức
quá ít, thì Vô Dư hẳn là không chiếm được bao nhiêu đất trong buổi đầu, vì
không có chiến tranh mà chỉ là đi xin ở trọ thì không thể tới đông.
Hễ phong thì người được phong có mang chức tước, đằng này Vô
Dư không được lấy cái tước hạng bét thời bấy giờ là tước "Nam" (Công,
Hầu, Bá, Tử, Nam) mặc dầu y là con vua.
Ta có thể hiểu rằng Vô Dư chỉ lãnh đạo một đoàn người di cư
vào đất lạ, không hơn không kém, và tương lai của y, vua Tàu thấy là mờ mịt, bởi
cả bọn có thể chết vì ma thiêng nước độc hay vì cuộc kháng cự của thổ dân.
Rồi tên Vô Dư chết mất xác, nhưng dân di cư thì còn. Họ âm thầm
sống, hợp chủng và hợp văn hóa với dân Việt tại Kinh Việt.
Người Tàu lần lượt đến thêm, càng năm càng đông, và người Việt
ở đó lớp bị lai giống, lớp bị đồng hóa một cách có thuận tình, cho đến một khi
kia thì vua nhà Chu hay tin ở đó đã đông dân Tàu rồi, nên mới phong cho Hùng Dịch,
mà lần này thì có chức tước hẳn hoi. Hùng Dịch mang tước Tử ở đất Kinh Man.
Tên Hùng Dịch này cũng khoe láo tuốt. Y chỉ là con của một
dòng họ biết chữ, có làm thầy dạy con vua học, nhưng y lại khoe láo rằng y là
cháu của vua Xuyên Húc là tổ nhà Hạ. Y nổi danh quá, lại giành mất đất Kinh Cức
rồi nên các sử Tàu không còn biết đặt tên Vô Dư ngồi ở đâu, đành để cho vua của
nước U Việt giành lấy vậy.
Tại sao người Việt ở Hoa Bắc, hễ thua là bỏ đất chạy đi hết,
còn ở đây thì lại chịu hợp tác và hợp chủng? Vì tên Vô Dư không có xâm lăng
quân sự, không có đánh đuổi họ, mà chỉ xin ở trọ thôi.
Lại có bằng chứng rằng từ thời Hiên Viên đến đầu đời Hạ hai
dân tộc đã có quen biết nhau rồi, chớ không phải là mới chạm trán nhau lần đầu
như vào thời Xy Vưu.
Sử Tàu đã chép về các cuộc tuần vu vào đất Việt của đế Này, đế
Nọ mà chúng tôi truy ra thì đó là những cuộc xuất ngoại chớ không có tuần thú
gì hết trên một vùng đất mà họ chưa chinh phục được.
Ở đây chẳng những có cuộc hợp chủng trong dân chúng, mà còn hợp
chủng cả trong giới quý tộc vì chính về sau đó, một vài ông vua của nước Sở (vốn
là người Tàu) cũng cưới vợ "man di", theo như sử Tàu cho biết.
Bấy giờ vua nhà Hạ cũng đã tổ chức việc nước có quy củ, là
chia nước ra làm 9 châu, trong đó đất Kinh Việt được xem là một châu, châu
Kinh.
Đã bảo văn minh của họ đã thành hình với khoa kiến trúc, với
chế độ vua thế tập và với kỹ nghệ đúc đồ đồng lớn món thì việc chia nước thành
9 châu cũng là một điểm của nền văn minh ý thức đó.
Các nhà học giả Pháp thường dịch chữ Châu ra
là Province, nhưng sai. Châu không có trưởng châu, không phải là
một đơn vị hành chánh, bằng chứng là nhà vua có quyền phong đất cho con cháu và
công thần trong các châu, và các thái ấp phong sau ấy, hoàn toàn độc lập, chỉ
nghe mệnh lệnh của vua mà thôi, trên đầu họ không có ai khác, và chắc chắn là
không có trưởng châu, tri châu nào hết.
Như vậy châu chỉ là một vùng đất mà thôi chớ không phải là một
đơn vị hành chánh như người Âu Châu đã ngộ nhận.
Danh từ Châu vào thời đó, nếu dịch ra tiếng Pháp
thì phải dịch là Régions naturelles mới đúng nghĩa.
Và quả đúng rằng đó là régions naturelles vì giọng nói của
người Tàu ngày nay, ăn khớp với 9 châu đó, mỗi vùng nói khác nhau chút ít, tuy
cũng chỉ là tiếng Tàu với nhau, mà sở dĩ khác nhau vì họ bị phân chia bởi địa
hình, địa thế.
Cho đến ngày nay, sách giáo khoa của Tàu còn ghi là có 9 ngữ ở
Trung Hoa. Họ dùng danh từ sai. Đó là 9 giọng, chớ không là 9 ngôn ngữ. Thí dụ
Tần ngữ, Yên Tề ngữ, v.v.
Đất Kinh Việt được đặt tên là Châu Kinh. Ở phía Đông Châu Kinh,
đất cũng là do dân Việt làm chủ, và họ đặt tên là Dương Việt, và cho thuộc vào
Châu Dương.
Riêng hai Châu Kinh và Dương thì ranh giới thật là mơ hồ, nhà
vua cũng không biết nó đi tới đâu, chưa biết địa lý của vùng ấy.
Nhưng tại sao bây giờ họ dám nhận hai vùng đó là châu của họ?
Vì hai lẽ. Họ đã gặp đất tốt không thể tưởng tượng được mà họ quyết chiếm. Lẽ
thứ nhì là dân Việt đó tương đối hiền lành, chớ không quá dữ như Việt Khuyển
Nhung, nên họ xem quyết tâm của họ là chuyện chắc chắn thực hiện được, không
như trước kia mà họ chưa biết gì hết về hai nơi đó. Cũng như Mao Trạch Đông đã
cho vẽ dư đồ nước Tàu, trong đó có nước Việt của ta ngày nay vậy.
Đó là sự quyết tâm của một đế quốc, còn thực hiện được hay
không là chuyện về sau. Họ chính thức hóa một việc chưa xảy ra để tự giúp họ tự
tin, để nhắc nhở họ công việc mà họ phải làm.
Chúng tôi nói rằng có 7 châu rưỡi hoàn toàn do người Tàu định
cư là 7 châu ở Hoa Bắc và nửa châu Kinh, còn châu Dương thì chỉ là việc ghi hướng
vào dư đồ, chớ ở đó, cả dân lẫn vua đều là Việt thuần chủng, mà cũng chẳng hề
là đất bảo hộ lỏng lẻo của Tàu.
Cứ theo luận cứ của giáo sư Kim Định thì 9 châu lẽ ra phải ở
trên sông Hoàng Hà vì giáo sư chỉ nói đến địa bàn của vua Vũ. Nhưng sự thật thì
trong đó có hai châu ở dưới sông Dương Tử là châu Kinh và châu Dương.
Ở đây giáo sư Kim Định lại cũng mâu thuẫn là bài thì nói như
thế nhưng ông lại cho vẽ (hay vẽ theo sách Tàu thì không rõ) hai châu ở lưu vực
Dương Tử, và hơn thế vị trí của 9 châu của ông rất là kỹ hà học y như hình vẽ về
chế độ Tĩnh Điền.
Có đâu mà đều đặn như thế. Và nhứt là châu Từ lại không nằm ở
chỗ mà ông vẽ.
Trong bài giáo sư viết: Châu Dương gồm cả Thái Hồ.
Viết như vậy là đúng. Chỉ phiền là Thái Hồ nằm ở gần biển
Đông. Trong bức dư đồ có vẻ Tĩnh Điền của giáo sư thì vị trí của Thái Hồ ở tỉnh
Giang Tô, lại bị châu Từ chiếm mất, trái hẳn với lời ghi chép của thiên Vũ Cống
của Kinh Thi mà giáo sư cũng nghe theo, là châu Dương ăn tới tận biển
Đông.
Sự thật thì châu Từ ở trên châu Dương, châu Dương là châu cực
Đông Nam của Tàu, ở Đông của châu Dương là biển cả, không còn châu nào khác được
nữa hết.
Đó là một bức dư đồ cố ý vẽ sai, không rõ sự cố ý ấy là của
chính giáo sư hay của Tàu mà giáo sư vẽ theo nhưng thiếu kiểm soát, vẽ sai để
cho ăn khớp với những chủ trương khác.
Trong dư đồ sai đó, cái châu cực Đông Nam lại mang tên là
châu Từ. Nếu không vẽ sai như thế, dư đồ sẽ không ăn khớp với chế độ Tĩnh Điền.
*
Như vậy hành động phong ở đây, có khác ở Hoa Bắc, mà nhà vua
chỉ phong khi nào chiếm xong một vùng đất, còn ở đây thì phong là giao cho sứ mạng
chiếm lấy vùng đất đó.
Vì thế mà rồi mới không nghe tin tức gì hết về bọn được
phong, lũ ấy không có dựng sớ báo cáo tình hình, không có nộp cống cho đến đời
nhà Chu, bởi lũ ấy bận khẩn hoang, đã ra cái thể thống gì đâu. Đó là những đoàn
di cư khẩn hoang hơn là đi làm quan để hưởng thụ và đó là một cuộc đem con bỏ
chợ của vua nhà Hạ vậy thôi.
Châu Kinh có diện tích rất nhỏ.Theo thiên Vũ Cống thì ở hướng
Đông, châu ấy chỉ tới ngọn sông Hoài. Sông Hoài là con sông nằm giữa sông Hoàng
Hà và sông Dương Tử. Như vậy là đất rất hẹp.
Còn châu Dương thì lại mênh mông không có bờ bến nào cả, từ
ngọn sông Hoài ra tới biển Đông rồi từ đó, tha hồ mà xuống phương Nam.
Sở dĩ có sự chênh lệch về diện tích như vậy là vì châu Kinh
đã được người Tàu tràn tới đông đảo, và đó là phạm vi của dân di cư Trung Hoa họ
bắt đầu biết khá rõ về một vùng đất mà dân họ đã định cư, còn châu Dương là địa
bàn của Việt tộc thuần chủng mà họ chưa biết địa lý.
Những vua nước Ngô, nước Việt sau đó, khoe rằng họ là con
cháu Hoàng Đế, Đại Vũ, v.v, nhưng sử Tàu lại đính chánh sự tình đó mà ít ai chú
ý đến. Quả thật thế, chép truyện nước Ngô, Khổng Tử cho biết rằng một phản tướng
nước Sở là Vu Thần, lánh thân ở nước Tấn, đã dạy cho nước Ngô man di biết chiến
lược, chiến thuật và cách chế tạo vũ khí Trung Hoa để mượn tay nước Ngô đánh
phá nước Sở mà Vu Thần căm thù. Nước Sở cũng bị xem là nước Man di, nhưng năm ấy
(595 T.K.) thì nước Sở đã hoàn toàn bị Hoa hóa rồi, còn nước Ngô thì chưa.
Dĩ nhiên là nước Việt ở dưới nước Ngô, lại còn không biết gì
hết về nền văn minh của Trung Hoa.
Nếu chúa nước Ngô quả là con cháu vua Trung Hoa được phong ở
đó như y khoe và sử Tàu cóp theo thì hẳn khi đi nhậm chức, ông ấy có mang theo
rất đông cán bộ và chuyên viên Trung Hoa thì không thế nào nước Ngô lại dốt văn
minh Tàu đến thế, cho dẫu về sau họ biệt lập thì tuy không giao hiếu với Trung
Hoa chớ dân chúng vẫn có qua lại, Trung Hoa tiến đến đâu, họ tiến theo đến đó,
có kém hơn đôi phần, thì có, chớ có lý nào mà hơn một ngàn năm sau họ vẫn còn dốt
Trung Hoa mà phải học với Vu Thần?
Nước Việt ở xa hơn nước Ngô thì lại càng tuyệt đối không biết
văn minh Trung Hoa, và tên Vô Dư, không bao giờ là tiên tổ của Câu Tiễn cả.
Vậy những nước ở Kinh Việt và Dương Việt, không phải nước nào
cũng do người Tàu dựng lên, mà có những nước hoàn toàn Việt, từ cấp lãnh đạo
cho đến dân chúng.
Mà đừng tưởng là Khổng Tử chép láo. Khổng Tử rất khinh man
di, mà sau đó, man di Việt ở Cối Kê lại làm Bá, tức làm sếp các chư hầu, kể cả
chư hầu Lỗ của ông nữa, thì hẳn Khổng Tử bị chạm tự ái lắm. Nhưng ông cho biết
Ngô và Việt là hoàn toàn man di, thì là ông chỉ vì sự thật mà thôi.
Nếu vì tự ái quốc gia, họ Khổng đã chép láo là hai nước đó đã
được người Tàu khai hóa rồi.
Tên và biên giới của những thái ấp tự xưng là nước Này nước Nọ dưới
đời nhà Chu, có thể biết rõ nhờ những tác phẩm như Tả Truyện, Phương
dư kỷ yếu giản lãm, Độc sử phương dư kỷ yếu, Thông Giám cương mục, v.v.
chẳng những biết về cấp lãnh đạo, mà còn về dân của những nước ấy, họ là dân
Trung Hoa hay dân nào khác, đều biết được khá chắc chắn.
Tả Truyện, khi thì nói đến Tùy Hầu khi thì nói đến
chúa nước Giang, thì nước nào có Hầu thì nước đó tuy cũng là nước
của dân Việt mà bị cán bộ Trung Hoa lãnh đạo nên có sự kiện phong Hầu, còn nước
nào mà sách đó chỉ nói đến chúa thì chắc chắn là hoàn toàn Việt, kể cả ông chúa
của nước cũng là Việt, chớ không riêng gì dân, vì y không mang tước của Tàu.
Vua nhà Hạ không phải chỉ phong cho một mình tên Vô Dư ở đất
Việt mà còn phong cho nhiều người khác nữa. Sở dĩ tên Vô Dư được lưu danh hậu
thế là vì các vua của nước Việt Cối Kê về sau khoe họ là con cháu Vô Dư, mà vì
nước Việt thì đã làm Bá một thời, rất nên cường thịnh, rất nổi danh thành ra Vô
Dư cũng được thơm lây còn những người được phong khác thì về sau đã mất hết đất
trong tay nước Sở, không ai buồn viết sử cho họ hết.
Thí dụ ở Bắc Sở có nước Trần, ở Đông Sở có nước Tùy, ở Nam Sở
có nước Huyền đều là những nước do bọn di cư nhà Hạ lập ra với chủ lực dân
chúng là Việt tộc mà Tàu gọi là Nam man hoặc Việt di.
Nước Trần này, giữ ngôi được hàng ngàn năm cho tới năm 478
T.K. thì bị Sở diệt. Vì cấp lãnh đạo là người Tàu, nên khi bị diệt, họ bỏ dân,
chạy trở về Hoa Bắc và cướp ngôi của nước Tề.
Về Châu Dương thì Vũ Cống chép sai. Chương ấy cho rằng
châu Dương nằm giữa sông Hoài và biển. Sông Hoài thẳng góc với biển thì làm sao
có được một vùng đất ở giữa sông Hoài và biển? Ở giữa sông Hoài và biển
là chính sông Hoài ấy chớ. Thật ra thì châu Dương ở dưới sông Hoài, Bắc
giáp sông Hoài, Tây là châu Kinh, Đông là biển, còn Nam vẫn tự do y như châu
Kinh, người Tàu tiến đến đâu là châu Kinh châu Dương tiến đến đó.
Nhưng cái sai của Vũ Cống dầu sao cũng làm cho bức
dư đồ của giáo sư Kim Định về 9 châu kỹ-hà-học không đứng vững được nữa. Vũ
Cống chỉ sai có chữ Giữa, nhưng biết đúng là nó ra tới biển Đông, còn
bức dư đồ nói trên thì lại để dành biển Đông cho châu Từ.
Nhưng không hẳn là Vũ Cống đã sai. Người Tàu thời
xưa khá dễ dãi về tứ phương, và họ nói như vậy là nói theo quan điểm của người
Hoa Bắc, đứng trên sông Hoài nhìn xuống mãi thì quả thật tới biển Đông.
Đó là hai châu có tánh cách đặc biệt hơn bảy châu khác nhiều
lắm. Tuy nhiên, có châu Duyện ở tỉnh Sơn Đông cũng giống hệt như vậy, tức co,
giãn không chừng.
Cho tới đời nhà Chu mà ở phương Đông, người Trung Hoa cứ còn
phải đánh nhau mãi với rợ Đông Di và sứ mạng diệt Đông Di do nước Tề đảm nhận.
Dân di cư cứ đông lần lên cho đến đời vua thứ ba của nhà Chu
thì Trung Hoa mới phong thật sự cho một nhà quý tộc Trung Hoa là Hùng Dịch, với
tước Tử, là tước kế chót. Vì đó là đất man mọi, mà theo quan niệm Trung Hoa họ
Hùng không phải là Hoàng thân quốc thích mà chỉ là con cháu của một gia đình
làm thầy dạy con vua học, nên không được phong ở một vùng đất lớn, như là bọn
bà con của vua.
Nhưng dầu sao Kinh Việt cũng bảnh vì bao nhiêu nước khác dọc
bờ Đông sông Hán đều bị Hùng Dịch gọi là "rợ Hán Đông" hết thảy, thì
tức y là sếp của một cộng đồng Trung Hoa độc nhứt ở đó, trừ nước Trần ở phía Bắc
của y thì không kể.
Hùng Dịch làm tròn sứ mạng cho đến năm con cháu y ly khai với
chính quốc. Nhưng đó là chuyện của một chương sau.
Nhưng dân Việt ở Kinh Man ra sao? Đã bảo tên Vô Dư bị bỏ chợ,
chính quốc không biết tới y nữa, thành thử chính quốc cũng không có tả dân Việt
đó. Nhưng về sau, thì nhóm Trung Hoa di cư và chính quốc có liên lạc với nhau,
và nhờ thế mà Tàu Hoa Bắc mới biết Việt đó.
Thật ra thì họ đã biết Việt tại sông Bộc ở Hoa Bắc trước đời
Hạ, nhưng trước đời Hạ không có sử thành văn, còn truyền thuyết thì vì quá lâu
đời nên thất truyền, vì thế mà cho tới đời Chu Thành Vương, khi Hùng Dịch được
phong, thì dân Việt mới được Trung Hoa biết rõ.
Hơn thế, Việt Hoa Bắc không được gọi là Việt thì nếu họ có tả,
ta cũng không dè rằng họ tả dân Việt. Họ chỉ tả rõ Đông Di mà thôi, rợ này nhuộm
răng đen, nhưng nhờ các tài liệu cổ khác mà ta ráp nối lại với nhau, ta mới biết
rợ Đông Di là Lạc bộ Trãi và là cái gì nữa ta sẽ biết ở một chương sau, rất
quan trọng.
Xin nhắc lại rằng Việt ở dưới sông Hoàng Hà là dân không phải
Tàu, đã có mặt ở Hoa Bắc, nhưng bị đổi tên mà thôi, chớ không phải là chỉ ở Hoa
Nam mới là có dân Việt. Dân ở trên kia cũng là Việt, nhưng bị Tàu gọi là gì và
xưng là gì ta sẽ rõ.
Dân Việt ở Kinh Man ra sao?
Mãi cho đến đời Xuân Thu, tức một ngàn năm đã qua rồi,
mà Tả Khẩu Minh còn ám chỉ một "ngôn ngữ Việt". Quả thật thế, Tả
Truyện kể chuyện quan lịnh doãn nước Sở là Tử Ngươn đi đánh nước Trịnh, đến
bên thành Trịnh thì thấy dân chúng bình tĩnh như không có gì, lại còn lên đầu
thành mà nói chuyện với xuống bằng tiếng nước Sở tức tiếng Việt.
Câu chuyện này xảy ra dưới đời Đông Chu mà nước Trịnh nằm vắt
ngang sông Hoàng Hà, "nửa Nam, nửa Bắc", nói theo sử Tàu. Dân Việt
ở nước Trịnh đã bị Hoa hóa hết cả rồi và họ nói tiếng Tàu, nhưng nhờ ở giáp
ranh với nước Sở, nên họ biết ngôn ngữ của Việt đất Sở chưa hoàn toàn bị Hoa
hóa, chớ không phải họ là dân Việt đâu.
Xin đừng lầm lẫn danh từ Sở ngữ này của Tả
Truyện với danh từ Sở ngữ của sách giáo khoa Tàu ngày nay. Sở ngữ của Tả
Truyện là tiếng Việt, còn Sở ngữ của sách giáo khoa Tàu ngày nay là tiếng
Tàu nhưng giọng Hồ Quảng.
Ta thử tìm xem chơi cái ngôn ngữ của nước Sở ấy ra sao, chỉ
thử chơi chứ chữ Hán phiên âm tiếng Sở, đã sai rồi, rồi bị các nhà nho ta đọc
sai một lần nữa thì chẳng còn gì cả.
Đời nhà Hán, nước Ấn Độ tự xưng là Hanh Đu. Ông Tàu phiên âm
và đọc là Tsin Tu cũng tạm được, nhưng vẫn sai, thế mà các cụ nhà Nho
ta đọc ra là Thân độc thì chỉ còn có trời mà biết Thân độc là cái gì.
Chỉ có các biểu địa cầu đưa ra những danh từ đọc đúng theo những
kẻ nói ngôn ngữ ấy, ngày nay, mới là có nghĩa gì.
Nhưng ta cứ thử.
Đọc sử nước Sở, thấy họ có một viên tướng, họ là Đấu tên
là Nậu ô Đồ. Tương truyền viên tướng ấy thuở còn là hài nhi được cọp nuôi,
nên mới có tên như vậy, và đó là đặt theo ngôn ngữ của nước Sở (theo sử của nước
Sở đã chép). Trong ngôn ngữ đó Cọp, gọi là Nậu, Vú gọi
là Ô Đồ.
Ngày nay thì ở Nam Dương, Vú họ nói là Sú Sú.
Có ăn với Ô Đồ hay không, qua hai ba lần phiên âm?
Còn cọp thì họ gọi là Hari Mâu, có ăn với Nậu hay
không, qua bao nhiêu lần phiên âm? (chữ Hari chỉ là trợ ngữ có nghĩa
là trời, Trời cọp, như ta nói là ông cọp).
Nhưng ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu, ta mới thấy sự thật hiển
nhiên, đây chỉ là sẵn đà mà viết vậy thôi, và xin tạm biệt ông tướng Mâu Sú Sú
(Nậu ô Đồ). Ta đã thoáng thấy rằng Việt là Mã Lai chánh hiệu rồi đó, ít ra cũng
là Việt ở nước Sở, chớ tổ tiên ta thì lại còn là một thứ Mã Lai khác nữa.
Tàu đã biết gì về Việt ở phía dưới sông Hoàng Hà?
Thứ nhứt, chữ Việt nguyên thỉ viết rất kỳ lạ: một
nét ngang dài và một cái móc ở dưới. Đó là chữ Việt cuối đời nhà Thương, đầu đời
nhà Chu, chớ đời Hạ, không ai biết nó ra sao cả, vì không tìm được cổ tự đời Hạ
bao giờ, nếu đời Hạ đã có chữ.
Chữ Việt giản dị đó, đích thị là cái đuôi của chữ Việt thứ
nhì trong thư tịch Trung Hoa, chữ Việt mà các nhà Nho ta gọi là Việt bộ Mễ,
nhưng người Trung Hoa gọi đó là chữ Việt bộ Nguyệt vài cái bộ Nguyệt là
chính khúc đuôi ấy, chớ không phải là chữ Mễ bên trong khung vuông.
Cho tới khi Khổng Tử san định Kinh Thư thì chữ Việt
bộ Mễ mới thấy xuất hiện, chớ trước đó thì chỉ có chữ Việt nguyên thỉ là cái
đuôi của chữ Việt bộ Mễ.
Tại sao họ lại viết như vậy? Không thấy sách nào cắt nghĩa cả,
chúng tôi nghiên cứu riêng thì thấy rằng chữ Việt nguyên thỉ và đơn giản đó, có
thể có nghĩa là cái rìu, mà sau này, đến đời Chu người Tàu mới viết lại với Kim và Thích.
Bằng chứng mà chúng tôi trình ra đây chỉ do nhiều năm nghiền
ngẫm, như đã nói, không thấy sách nào giải thích cả. Cái chữ Việt đó là chữ tượng
hình, hình một loại vũ khí độc đáo mà dân Việt có, lưỡi bằng đồng pha, cán ngắn,
dùng để ném đi, chớ không phải để cầm tay mà chém trực tiếp.
Một lưỡi rìu như vậy đã đào được ở Quốc Oai, giữa Hà Đông và
Sơn Tây, mà người Pháp cho rằng giống chiếc giày hay một bàn chơn. Cán rìu bằng
nhánh cây chớ không phải bằng gỗ đẽo, bằng vào công trình hồi phục lối tra cán
cho loại rìu ấy của các nhà bác học Viện Viễn Đông bác cổ.
Chúng tôi xin trình bày ra đây hai bức họa, chữ Việt nguyên
thỉ đó, và hình của lưỡi rìu Quốc Oai với cán bằng nhánh cây, theo như đã hồi
phục (xem hình trang sau).
Thật ra thì theo sách vở, chữ Việt chỉ có nghĩa là cái búa
(le marteau) mà thôi, chữ Phủ mới là cái rìu (la hâche).
Nhưng người Trung Hoa, trong ngôn ngữ thường, đều gọi cả hai
thứ là Phủ hoặc là Việt, hoặc là Phủ Việt. Tiếng Quan Thoại,
Phủ họ đọc là Fúa, và dân ta đã vay mượn và nói sai chỉ có một chút xíu, từ
âm B, thay cho âm F mà thôi. Phủ là rìu trong
sách vở, mà là búa ở trong dân gian (ở Trung Hoa).
Tại sao có sự dùng danh từ hỗn loạn như vậy?
Là tại có một loại rìu, một bên là rìu, còn một bên là búa.
Tiếng Việt Nam cũng không phân biệt, y như tiếng Tàu. Tự điển Khai
trí Tiến đức (Hà Nội) định nghĩa búa là búa mà cũng là rìu dùng để bổ cây.
Quanh chúng tôi, chúng tôi cũng không nghe ai phân biệt búa rìu một cách quá khắt
khe. Người ta nói "Võ khí của Trình giảo Kim đời Đường là cái búa".
Mà thật ra, đó là cái rìu.
Những gì xảy ra cho Phủ cũng xảy ra cho Việt, nghĩa
là khi xưa bên Tàu, cái việt, tuy trong sách có nghĩa là búa, nhưng vẫn được
dân chúng hiểu là rìu. Mà cái việt là tiếng phiên âm, nó là danh
từ chứ không phải danh xưng, mà là danh từ của dân Việt.
Chữ Việt nguyên thỉ đời nhà Thương.
Lưỡi rìu bằng đồng đào được ở Quốc Oai và sự hồi phục cán bằng
nhánh cây của Viện Viễn Đông bác cổ. Chữ việt và rìu giống hệt nhau và trong
Hoa ngữ thì việt là cái rìu, ngày nay viết khác, một bản Kim, một Thích, nhưng
xưa thì như trên.
Dân ấy dùng danh từ đó để chỉ món vũ khí độc nhứt của họ mà
Tàu bắt chước cả danh từ lẫn món đồ, chớ Tàu đã có danh từ Phủ và Thích rồi,
không cần thêm danh từ Việt nữa mà phải sáng tạo lần thứ ba. Họ phải mượn danh
từ vì đã mượn món vũ khí.
Gọi một thứ dân bằng danh từ chỉ một món đồ độc đáo của dân
đó, là chuyện đã có xảy ra trong lịch sử, thì giả thuyết rằng họ gọi tên
dân Việt bằng danh từ việt chỉ cái rìu của Việt, không phải
là vô lý.
Về sau, tự nhiên họ phải viết tên cái rìu (tức cái việt) rắc
rối hơn, với bộ Kim, cho phân biệt với chữ Việt tượng hình cái rìu dùng để chỉ
tên dân.
Tên dân lạ, thường được Tàu đặt bằng biệt sắc của dân ấy mà
lưỡi rìu đó là một biệt sắc rất độc đáo. (Mà nếu quả như vậy thì danh xưng Việt
là do Tàu đặt cho ta, chớ không phải do ta tự xưng. Ta chỉ gọi cái rìu của ta
là cái việt, chỉ có thế thôi).
Cũng nên nhớ rằng loại lưỡi rìu Quốc Oai nói trên được cả người
Việt Nam hiện nay gọi là Búa mặt nguyệt, vì nó hơi giống mặt trăng lưỡi liềm.
Đó là nói theo ngày nay mà ta đã vay mượn Phủ rồi, chớ xưa, chắc là
nói Việt mặt nguyệt. Nhận xét này cắt nghĩa được tại sao chữ Việt mà ta gọi
là bộ Mễ, người Tàu lại gọi là bộ Nguyệt, vì chính họ cũng thấy là
cái đuôi quan trọng đó giống trăng lưỡi liềm, bằng không phải vậy thì không sao
cắt nghĩa được tại sao bộ Mễ lại bị họ gọi là bộ Nguyệt.
Đây chỉ là ức thuyết. Nhưng rồi chúng ta sẽ thấy ức thuyết
này đúng sự thật khi nghiên cứu về tự dạng thứ tư của chữ Việt.
Một người bạn có theo dõi công việc của chúng tôi, đặt ra câu
hỏi sau đây: "Dưới đời nhà Thương dân Việt Kinh Man đã biết chất đồng pha
hay chưa và đã chế tạo được cái rìu Quốc Oai chưa mà liên kết tự dạng Việt
nguyên thỉ và lưỡi rìu đó?".
Đó là một câu hỏi rất thông minh.
Chúng tôi không trả lời được, vì chúng tôi không có tài liệu
nào cả, và trên đây chỉ là ức thuyết.
Dầu sao, dân Việt cũng đã biết đồng pha vào thời Tây Chu. Vào
thời ấy họ đã chế tạo trống đồng rồi thì rất có thể dưới đời Thương họ đã biết
chế tạo rìu bằng đồng pha, vì đời Tây Chu kế tiếp cho đời Thương, hai trào đại
này không xa nhau lắm.
*
Thứ nhì, cái chủng Việt đó ăn cơm. Đó là một điều kỳ lạ đối với
người Trung Hoa là thứ dân chưa thấy cây lúa lần nào. Ở địa bàn cũ của họ, vì
phong thổ, khí hậu, người Tàu chỉ trồng được kê và lúa mì mà thôi. Nhưng họ
không biết làm bánh mì như người Tây phương nên từ mấy ngàn năm rồi, họ ăn bánh
bao.
Mãi cho tới ngày nay, người Hoa Bắc cũng tiếp tục ăn bánh bao
thay cơm. Đọc truyện Tàu, ta rất ngạc nhiên mà thấy các tay kiếm khách vào tửu
quán ăn một hơi ba chục chiếc bánh bao, trong khi đó thì dân Sài Gòn chỉ ăn được
một chiếc là no nóc và ngán ngẩm.
Đó là tiểu thuyết nói đến những câu chuyện xảy ra ở Hoa Bắc,
và bánh bao bán cho dân ăn rất nhỏ và không có nhân thịt như bánh bao đờ luýt ở
Sài Gòn.
Đó đây, trong sách vở, nghe nói ở Hoa Bắc trồng được một thứ
lúa như nếp, tức trung gian giữa lúa mì và lúa gạo, chớ không trồng được lúa gạo.
Ngày nay thì họ đã biết ăn cơm, nhưng họ ăn chơi như dân Sài Gòn ăn bánh mì, chớ
không ăn để mà sống, vì cơ thể của họ không quen. Vả lại muốn ăn cơm phải mua gạo
Hoa Nam, tốn tiền chuyên chở, hóa ra cơm là món xa xỉ phẩm đối với Hoa Bắc.
Nhưng cho tới đời Hán, món xa xỉ phẩm ấy cũng chưa được dùng ở
Hoa Bắc, vì thời ấy phương tiện vận tải còn kém lắm. Ngay những năm Hoa Bắc bị
hạn hán, lúa mì chết hết mà dân Hoa Bắc cũng đành chịu chết đói chớ cũng chẳng
có cơm mà ăn.
Trung Hoa nguyên thỉ đã có chữ Điền từ lâu, nhưng
điền không phải chỉ có nghĩa là ruộng lúa gạo, mà ruộng lúa nếp, ruộng lúa mì,
ruộng kê cũng đều được gọi là điền.
Mễ này thì Tàu chỉ mới biết một ngàn năm sau khi tiên tổ
của Hùng Dịch lấy họ Mị. Mễ và Mị chẳng liên hệ gì với
nhau hết, vì lẽ đó, và người Tàu Hoa Bắc đọc hai chữ đó cũng khác nhau, không hề
có vấn đề lầm âm như giáo sư Kim Định đã nói về Mị và Mễ.
Chữ Mị viết khá giống chữ Tân và chữ Thiên,
cho nên cụ nghè Ngô Mạnh Nghinh, dịch Phương Đình Dư địa chí, cứ dịch
là Tân, hoặc là Thiên, và nó khác xa chữ Mễ, không thể lầm âm,
cũng không thể lầm tự dạng được.
Hơn thế, tổ của Hùng Dịch lấy họ Mị một ngàn năm
trước khi Hoa tộc biết cây Mễ thì làm thế nào mà có sự lầm âm?
Tới đây rất nhiều người tự hỏi đôi đũa ăn cơm là phát minh của
dân ăn bánh bao hay của dân ăn gạo cơm. Nhìn vào Âu châu, người ta đâm tin rằng
không phải dân ăn lúa mì đã phát minh đũa đâu. Các thứ dân ăn lúa mì ở Tây
phương, ăn bằng tay mãi cho tới ngày nay giới khá giả, không xé bánh mì, mà xắt
bánh bằng dao, nhưng rồi khi đưa nó lên miệng, cũng cứ phải dùng tay. Còn dân
ăn bánh bao ở phương Đông phát minh ra đôi đũa để làm gì?
Muốn vệ sinh, có thể chỉ dùng một chiếc que nhọn và nhỏ như
cây tăm xỉa răng là đủ đưa loại bánh bao nhỏ vào miệng rồi.
Về nghi vấn này, chúng tôi có một bằng chứng rất là quan trọng.
Danh từ Đũa đích thị là danh từ Mã Lai, nó có nghĩa là Hai,
là Cặp.
Trong khi đó thì Tàu gọi đũa là Trợ, hoặc Khoái tử.
Danh từ Đôi của Việt Nam cũng là biến thể của danh từ Mã
Lai Đua, vì ta nói Đôi Đũa thì Mã Lai nói Đua Đua.
Nói thế không phải là để tranh hơn với Trung Hoa, một dân tộc
đã có một nền văn minh lớn, mà để cho thấy dân Việt cũng đã khá văn minh rồi chớ
không còn là rợ như sử Tàu cứ nói mãi.
Thứ ba, dân Việt ở nơi đó kém văn minh hơn dân Hoa không bao
nhiêu, bằng vào những câu sử Tàu tả họ cài nút áo phía bên tả. Họ đã biết mặc
áo, chớ không phải là dân còn ở lỗ.
Sử Tàu chép rằng dân Việt ở nước Sở lấy bên tả làm bên thuận.
Nhận xét đó ăn khớp với hình khắc ở trống đồng Đông Sơn Lạc Việt, mà bao nhiêu
cầm thú đều đi và bay ngược chiều kim đồng hồ, tức bay từ phải sang trái.
Điều thứ tư, họ đã tiến đến văn minh đồng pha, không biết từ
bao lâu rồi, chỉ biết đến đời Tây Chu họ đã có trống đồng pha, mà văn minh đồng
pha do họ tự tạo chớ không phải học với Trung Hoa. Trống đồng pha là một nhạc
khí tôn giáo đặc thù của họ mà thư tịch Trung Hoa đời Chu có nói đến, còn Tàu thì
không có trống đồng bao giờ.
Thư tịch Trung Hoa các đời sau cũng có nói đến trống đồng pha
của Việt, nhưng đó là Việt ở dưới nữa, ở đây chúng tôi chỉ kể đến Việt trên là
Việt đất Kinh Cức mà thôi.
Điều thứ năm, mà họ nhận thấy là dân Việt, vì ăn cơm, ăn cá
nên có mình dây (Sveltesse) chớ không bao giờ phát phì (Obésité). Còn người
Trung Hoa thì ăn thịt và ăn lúa mì, nhiều chất bổ, nên thường phát phì. Họ lại
lai giống với người Tây phương mà bịnh phát phì là bịnh chung của dân Tây
phương.
Nhận xét này đã biến thành tục ngữ của họ vào đời Tây chu.
"Tần phì Việt xấu". Họ không so sánh Trung Hoa ở các vùng khác, mà chỉ
trỏ người Tần, tỉnh Thiểm Tây, vì Hoa và Việt có biên giới chung với nhau trước
tiên tại Nam Tần.
Thế thì Tần chắc một ngàn phần trăm không phải là Việt như
giáo sư Kim Định đã nói trong V.L.T.N. Họ là Tần, ăn lúa mì và ăn thịt
nên họ mới phì.
Tàu lại có một câu tục ngữ nữa mà Tản Đà rất ưa dùng: "Gỏi
Sở, nem Tần". Đích thị Tần ưa ăn thịt (nem) nên giỏi làm món nem, còn Sở
chuyên môn ăn cá nên có tài làm gỏi cá, vì đất Sở có nhiều sông, hồ và đầm lớn.
Ăn cá nhiều hơn ăn thịt là thói quen của chủng Mã Lai.
Từ đời nhà Hạ này cho đến đầu Tây lịch, Trung Hoa càng năm
càng biết rõ thêm về chủng Việt qua những cuộc lấn vào đất Việt của họ, và càng
học được thêm rất nhiều việc của dân Việt.
Họ học thủy vận của dân Việt, học nghề đánh cá của dân Việt,
v.v, đó là không kể họ lấy những cái biết của dân Việt làm của riêng của họ mà
không hay biết, vì lấy qua trung gian người Việt bị đồng hóa, chẳng hạn đôi đũa
ăn cơm nói trên.
Ông H. Maspéro cho biết rằng vài cổ thư thường Trung Hoa nhìn
nhận rằng họ học cách lợi dụng nước thủy triều để làm ruộng của dân Việt nhưng
không chỉ rõ xuất xứ, dầu sao cũng tin được vì giữa Việt và Hoa, nhà học giả
Pháp ấy cảm tình và khâm phục Trung Hoa nhiều hơn thì không thể bảo rằng ông ấy
xuyên tạc (B.E.F.E.O. 1918).
Ngôn ngữ Hoa Nam cũng đầy dẫy tiếng Việt, Nhiều chữ
trong Nam Hoa Kinh nếu không có thiết âm thì người Tàu xưa không biết
đọc mà người Hoa Bắc nay cũng không đọc được vì nó chỉ những gì chỉ có ở đất Việt
mà thôi.
Danh từ Trà chẳng hạn là danh từ Việt mà họ học được
ở nước Đông Âu (Bắc Phúc Kiến) tại núi Vũ Di sơn là nơi có danh trà, chớ trước
đó, họ cũng biết trà, vì Hoa Bắc cũng có trà, tuy là trà dở, nhưng vẫn có,
nhưng họ gọi khác, bằng ngôn ngữ của họ, hay của rợ nào thì không biết. Họ gọi
nó là Minh (Bắc Việt đọc là Dánh) hoặc Đồ, hoặc gì gì nữa
đó.
Trong Nam Hoa Kinh, những động từ Híp mắt, Cá đớp
bóng, đều được thiết âm, vì ở Hoa Bắc quá lạnh, ít nắng, dân không bao giờ có dịp
híp mắt lại, ở Hoa Bắc cũng không có sông ngòi đáng kể, nên dân Hoa Bắc cũng
không nghe thấy cá đớp bóng bao giờ hết.
Ở đây thì giữa Hoa và Việt mới có hợp chủng và hợp văn.
Ở chương Sông Bộc, ta sẽ biết rằng bọn Việt này, mặc dầu
đồng chủng và đồng ngôn với bọn Việt Hoa Bắc, nhưng họ sống
riêng biệt, chớ không phải là Việt Hoa Bắc chạy xuống đó bằng đường bộ.
Quả thật có một nhóm nhỏ vượt sông Hoàng Hà, và vượt sông
Dương Tử sau khi lãnh tụ Xy Vưu bị diệt, nhưng đa số chạy đi bằng đường biển để
tới những nơi khác chớ không có xuống Hoa Nam. Các cuộc thám quật đã cho thấy
như vậy vì hai thứ Mã Lai đó có vũ khí và dụng cụ khác nhau, mặc dầu có sọ giống
hệt nhau.
Tóm lại, chủng Việt ở đó đã văn minh rồi, và văn minh khá
cao, cả khi chưa tiếp xúc với Trung Hoa, trước cuộc di cư đời nhà Hạ. Văn minh
đó là của họ sáng tạo ra chớ không phải bắt chước của Tàu.
Dân Việt ở đó còn mang năm biệt sắc chung cho toàn khối là tả
nhậm xâm mình và xén tóc ngắn, và một vài nhóm Việt hiếm hoi cài nút áo bên trái
và nhuộm răng đen. Năm biệt sắc ấy vô cùng quan trọng vì nó giúp ta theo dấu họ,
trong không gian và thời gian.
Chúng tôi cố tình tạm giấu biệt sắc thứ sáu mà chỉ tiết lộ ở
một chương khác thôi, đó là biệt sắc quý báu và độc nhứt giúp ta biết đích xác
ta thuộc nhóm nào trong cái đám Bách Việt đông vô số kể ấy, vì chỉ có nhóm ấy
và ta là có mang biệt sắc thứ sáu ấy mà thôi, ngoài ra không có nhóm nào khác
mà giống nhóm đó và ta cả.
Chúng tôi có nói là bọn Việt Mã Lai ở Kinh Man hợp chủng và hợp
văn với Hoa tộc có thuần tính, vì bọn Tàu di cư chỉ xin ở trọ mà thôi. Nhưng
khi họ đến quá đông, lập ra nước Sở thì Việt liên kết với nhau để đánh họ trong
một cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài nhiều trăm năm, vì Việt Mã Lai chợt thấy
nguy cơ bị mất nước.
Sự kiện này được chép trong Tả Truyện và sẽ được
nói đến ở một chương sau, trong đó ta thấy lộ ra các sự kiện sau đây:
Việt ở đó đã lập quốc rồi, và tất cả các quốc gia Việt đều
liên kết nhau quyết diệt nước Sở và Sở đã có lần lâm nguy, suýt bị Việt diệt quốc.
Lãnh đạo cuộc chống xâm lăng đó là một nhóm Việt từ Hoa Bắc
tái lập quốc ở đó.
Nhưng họ Hùng tài giỏi nên giữ vững được địa vị và cơ sở của
nước Sở, thành thử rồi Sở thắng và nuốt lần toàn thể Việt ở đó.
Thế nên mặc dầu vài nhóm Việt ở đó đã lập quốc và đã làm rung
động cả Trung Hoa chánh quốc, thí dụ dưới trào Câu Tiễn, nhưng rốt cuộc rồi dân
Việt cũng thua cuộc vì rồi Trung Hoa xâm lăng và trực trị tất cả mọi nước Việt
tên là Sở, Ngô, Việt, Mân, Đông Âu, Tây Âu, v.v.
Dân của những nước ấy bị đồng hóa, bị lai giống với Tàu và chủng Nam
Mông Gô Lích thành hình.
Chủng Nam Mông Gô Lích thành hình trong suốt thời gian trên
ba ngàn năm, từ đời Hạ đến đời Nguyên. Vào đời Nguyên này, du khách Marco Polo
có chép rằng Hoa Bắc gọi Hoa Nam là Man di, tức cuộc hợp chủng và đồng hóa chưa
hoàn thành, yếu tố Việt còn mạnh lắm tại Hoa Nam vào thời nhà Nguyên, tức tương
đối mới đây thôi. Người Hoa Nam không còn mang cái sọ của người Hoa Bắc nữa,
mà dân Việt ở đó cũng không còn mang sọ Mã Lai nữa.
Văn hóa, phong tục, ngôn ngữ Trung Hoa đã tràn ngập đất Việt,
nhưng đó là một thứ người Tàu loại khác mà chỉ số sọ khác với chỉ số sọ Hoa Bắc
đến 3 đơn vị. Vì thế nên khoa chủng tộc học mới phân biệt ra hai chủng Trung
Mông Gô Lích và Nam Mông Gô Lích. Khi sự khác biệt chỉ số sọ vượt qua
một số đơn vị nhứt định nào đó, thì hai chủng không còn được xem là một nữa, mặc
dầu họ cũng đồng chủng.
Ở đây chủ trương của chúng tôi ngược hẳn với chủ trương của
giáo sư Kim Định. Theo giáo sư thì chính văn hóa Việt tràn ngập Trung Hoa, ngay
ở Hoa Bắc và hồi thời xưa hơn (nhưng giáo sư Kim Định nói không có bằng chứng,
hoặc với những bằng chứng không đứng vững được).
Nhưng như chúng tôi đã chứng minh rằng không có dấu vết Việt
trong văn hóa Trung Hoa ở Hoa Bắc mà chỉ có dấu vết Nhục Chi và Mông Cổ mà
thôi. Mà đừng tưởng là vì lâu đời nên dấu vết Việt bị xóa, bằng chứng là dân Mã
Lai Dravidiens vẫn còn đông đến 100 triệu, hiện tại Ấn Độ ngày nay, mặc dầu họ
đã bị chủng Aryens đồng hóa từ 4500 năm rồi, mà cứ còn quá nhiều dấu vết Mã Lai
trong xã hội Dravidiens ngày nay. Và cái họ thì là chuyện không thể chối cãi.
Dưới đây là những khác biệt giữa hai chủng Trung Mông Gô Lích
và Nam Mông Gô Lích, không kể cái sọ.
Chủng Nam Mông Gô Lích bé nhỏ hơn chủng Trung Mông Gô Lích
nhiều lắm. Người Quảng Đông mà đứng gần người Thiểm Tây, trông như ta đứng gần
người Pháp. Đó là vì dân Việt bé nhỏ, họ thành Tàu thì Tàu ấy phải nhỏ, họ lai
Tàu, họ làm cho Tàu nhỏ lại.
Chủng Trung Mông Gô Lích màu da ngâm ngâm đen, còn chủng Nam
Mông Gô Lích rất trắng bởi trong chủng Việt có chi Thái mà nhiều tiểu chi như
Thể, Lô Lô rất trắng. Các vua chúa Trung Hoa từ đời Lục triều, đều tuyển cung
phi mỹ nữ ở Hoa Nam mà Dương Quý Phi là một.
Trung Mông Gô Lích thực tế, khô khan, lý trí, còn Nam Mông Gô
Lích thì lãng mạn, bồng bột, ưa văn nghệ. Nước Sở thành lập rồi, mới có thuyết
siêu hình ở đó, và chính vua Sở bắt đầu xây cung điện đẹp trước Hoa Bắc, và cái
cung điện nổi danh trước nhứt của dân tộc Trung Hoa là cung Sở Yêu, ở nước
Sở.
Sở từ cũng lãng mạn hơn Kinh Thi nhiều lắm,
còn các chuyện thần tiên quái đản của Tàu cũng đều có nguồn gốc tại nước Sở, từ
đó về sau.
Theo bác sĩ Huard, giáo sư y khoa ở Hà Nội hồi tiền chiến thì
dưới đời nhà Đường đã có những cuộc tranh luận giữa các y sĩ Tàu, họ cho rằng
những cân lượng thuốc men của họ chỉ đúng cho người Hoa Bắc mà có thể hại đến
tánh mạng của người Hoa Nam, quá bé nhỏ, quá yếu đuối.
Thế thì chủng Nam Mông Gô Lích khác chủng Trung Mông Gô Lích
hơi nhiều, chớ không phải là khác chút đỉnh đâu, khi có một cuộc tranh luận như
vậy. Thế nên khoa học mới có phân biệt như trên.
Nhưng yếu tố quyết định vẫn cứ là cái sọ.
Ta đã thấy rằng sọ Hoa Bắc khác sọ Hoa Nam về chỉ số. Nhưng
không phải chỉ có thế. Sọ Hoa Bắc có tánh cách Mésocéphale (tức sọ dài), còn sọ
Hoa Nam thì có tánh cách Brachycéphale đến 40 phần trăm, tức hơi tròn, vì từ Quảng
Đông mà Bắc tiến thì tánh cách Brachycéphale ấy càng lúc càng mất đi cho tới bờ
sông Hoàng Hà thì nó biến mất, chỉ còn lại độc một tánh cách Mésocéphale mà
thôi.
Trong khi đó thì sọ Việt và sọ Mã Lai mang tánh cách
Brachycéphale đến một trăm phần trăm. Thế nghĩa là Hoa Nam là Tàu lai Việt, tức
lai Mã Lai, và càng tiến xuống phương Nam họ càng lại mạnh hơn, cho đến biên giới
Hoa Việt thì hết, hay chỉ có chút ít tánh cách Mésocéphale vì ta có lai Tàu
chút ít suốt một ngàn năm bị trị.
Hiện nay yếu tố nhân số một của Trung Hoa ở Sài Gòn có cái sọ
dài quá sức tưởng tượng, mà ai cũng thấy được trong tivi. Người Việt Nam không
bao giờ có một cá nhân nào mà sọ dài kinh khủng đến thế.
Và một sự kiện hiển nhiên không thể chối cãi được là người Việt
Nam lại còn bé nhỏ hơn người Hoa Nam nữa.
Những người Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, Quảng Đông sang làm ăn
ở Sài Gòn đã cho thấy rõ như vậy, họ trung bình, cao hơn ta lối 10 phân tây,
còn bề ngang thì có bề thế hơn nhiều lắm. Tuy cũng có vài người bé hơn ta, mà
đó là số ít thôi.
Ở Chợ Lớn, phu gạo toàn là người Tàu, vì cái lẽ dễ hiểu rằng
người mình không vác nổi một bao gạo chỉ xanh nặng 100 kí-lô để đi xa mấy trăm
thước mỗi ngày hàng trăm bận (gạo Việt chớ không phải gạo Mỹ 45 ký-lô).
Cuộc hợp chủng Việt-Hoa ở Hoa Nam lớn lao đến nỗi nó biến hẳn
chỉ số sọ của những Hoa Bắc, biến đến cái mức độ mà khoa chủng tộc học phải
phân biệt ra Trung và Nam Mông Gô Lích. Mà cho đến cả tâm hồn, trí não, tính
tình, vóc dáng và màu da của họ cũng khác người Hoa Bắc.
Ngày nay các quyển sử Trung Hoa nhìn nhận rằng dân tộc họ do
5 chủng: Hoa, Hồi (Hồi Hột chớ không phải Hồi giáo), Tạng, Mãng, Mông tạo
thành. Họ quên mất chủng Việt là chủng đã đưa nhiều yếu tố chủng tộc vào đó nhứt
vì dân Hoa Nam đông hơn dân Hoa Bắc.
Không phải vì họ bị mặc cảm lai "man di" mà phủ nhận
chủng Việt đâu. Họ chỉ không biết mà thôi, hoặc quên đi. Họ không biết có dòng
máu Nhục Chi. Họ lại quên Việt. Nước Sở cứ bị xem như là nước của người Tàu, họ
không biết rằng đa số dân Sở là đủ thứ man di, trong đó Việt văn minh hơn hết
và chiếm đa số. Họ lại quên rằng trong cái nước Sở bị họ diệt hồi đời nhà Tần,
có nước Ngô và nước Việt trong đó, mà toàn dân là Việt.
Với Việt, sự hợp chủng len lỏi vào rất lâu đời, Hạ, Nguyên: 3
ngàn năm, và chậm chạp, các nhà bác học Pháp và Anh thường dùng danh từ Osmose
để tả cuộc hợp chủng đó. Hiện tượng Osmose làm cho người Tàu quên yếu tố Việt.
Còn với Hồi, Tạng, Mãng, Mông thì họ không thể quên vì nó mới
xảy ra về sau này (không kể yếu tố Mông nguyên thỉ lúc Mông hợp chủng với Nhục
Chi), lại xảy với ra một cách ngoạn mục vì bốn chủng ấy xâm lăng họ, chiếm đất
đai mà họ đã lập quốc nơi đó và hùng cường từ lâu rồi.
Học ngôn ngữ Trung Hoa chúng tôi thấy rằng Quảng Đông, Mân Việt,
v.v. nói tiếng Tàu sai giọng chút ít chớ không hề có phương ngữ Quảng Đông,
phương ngữ Mân Việt như toàn thể thế giới đều ngộ nhận.
Tuy nhiên, những người Tàu Hoa Nam còn giữ được lối một trăm
danh từ Mã Lai trong ngôn ngữ Tàu đọc sai đó, những danh từ ấy cũng có mặt
trong Việt ngữ, y hệt như vậy (sẽ thấy ở các biểu đối chiếu ngôn ngữ).
Thế nghĩa là Tàu Hoa Nam là Mã Lai bị lai giống và đồng hóa đến
90 phần trăm.
Từ nhà Hạ về sau, các đời vua Trung Hoa đều lấy phương Nam
làm hướng tốt, xây cung điện, thành quách, luôn luôn hướng về phương Nam. Sách
Tàu nói rằng đó là theo thuyết âm dương và thuyết ngũ hành, nhưng không phải thế.
Họ tự nhiên thấy rằng đó là hướng tốt vì đó là con đường bành trướng thành công
độc nhứt của họ, và họ làm thế để tự nhắc nhở cái nẻo đúng mà họ phải theo, cả
về sau này nữa.
Thuyết âm dương và ngũ hành cho rằng hướng Nam là hướng tốt
là nói theo kinh nghiệm của dân tộc họ, chớ không phải là nói theo quy luật thần
thánh mà dân tộc họ bắt buộc phải mù quáng nghe.
Day mặt hướng Bắc là thái độ của chư hầu và buồn cười lắm là
dưới thời Chiến quốc, các chư hầu phương Bắc, như nước Yên chẳng hạn, ngồi nói
chuyện với vua nhà Chu hay một tay Bá nào đó, lại phải ngồi ở phía Nam của ông ấy
để tỏ thái độ thần phục.
Tới đây thì ta thấy sử gia Pháp René Grouset đã sai lầm,
trong quyển "Sử ký Trung Hoa", khi ông viết rằng: "Dưới đời
nhà Hạ, dân Trung Hoa từ ngã ba sông Vị và sông Hoàng Hà di cư xuống lưu vực
sông Dương Tử và hợp chủng với dân ở đó, dân ấy đồng chủng với họ".
Phong tục day mặt hướng Nam của hoàng gia và quý tộc, rồi sau
này của cả dân chúng Tàu nữa, làm sụp đổ cả triết thuyết Chiêu Mục của giáo sư
Kim Định.
Theo giáo sư thì văn minh Tàu do Việt, mà Việt ở hướng Đông
và văn minh hơn Tàu nên bên Chiêu tức hướng Đông tượng trưng cho văn hóa, được
ưu tiên.
Nhưng Việt đâu có ở hướng Đông của Tàu. Họ ở hướng Nam đó chớ.
Bọn Việt ở hướng Đông đã chạy đi hết cả rồi, như khoa khảo tiền sử đã cho biết,
chạy ngay từ thời Hiên Viên. Mà chính ở hướng Tây, Việt mới còn lại mãi đến đời
Chu, vì khoa chủng tộc học khám phá ra rằng Khuyển Nhung tức là Mã Lai, về sau
biến thành Môn rồi Miến Điện, tới đời Đông Chu mới bị diệt.
Ở hướng Tây lại còn một thứ Việt nữa mà cho đến đời Tần mới bị
đánh đuổi vĩnh viễn, đó là rợ Khương (Khờ Me).
Như thế thì bên Mục mới là Việt, chớ có đâu lại bên Chiêu?
Nhưng Mục lại không bao giờ được ưu tiên là làm sao?
Họ cho hướng Đông ưu tiên không biết vì lẽ gì, nhưng hướng tốt
của họ là hướng Chánh Nam, mà đó là hướng của thứ Việt, còn Đông Đảo đến đời
Nguyên, mà tục dành ưu tiên cho Đông tức Chiêu đã có từ lâu đời rồi.
Cái hướng tốt đó, không có tượng trưng cho văn hóa, mà đó là
hướng gió lành, hướng họ thành công về kinh tế và về việc bành trướng biên
cương, Đông chỉ được ưu tiên phụ thuộc, đối với Chánh Nam là cái gì rất là
thiêng liêng và quan trọng.
Khi con người cần day mặt phương Nam thì đương nhiên Chiêu của
họ phải ở hướng Đông. Họ không hề kể đến Chiêu cho lắm, mà chỉ kể hướng Đông,
là hướng gió mùa, tốt hơn Mục là hướng gió lục địa.
Mà hễ khi Mục là hướng xấu thì, theo luật ham đối của Tàu,
đương nhiên Chiêu phải là hướng tốt, nhưng chỉ tốt vậy vậy thôi, không thấm vào
đâu sánh với hướng Chánh Nam cả, Chiêu chỉ tốt tương đối vì lý do hậu quả của
quan niệm ham đối của Tàu, Chiêu chỉ là hướng tốt hạng nhì mà thôi.
Ngày mùng năm tháng năm được sách vở Tàu cho là ngày xấu vì
lý do thần thánh. Nhưng thật ra buổi đầu cũng cứ chỉ vì thời tiết, vì đó là
ngày kinh khủng của Hoa Bắc về mặt khí hậu (H. Maspéro).
Tất cả đều bắt nguồn ở kinh tế và khí hậu, không có vấn đề
văn hóa Việt ở trong đó mà nếu có thì là chính Nam, chớ không là Chiêu, Mục được,
vì Việt còn sống sót cho tới cuối đời nhà Nguyên là Việt Chánh Nam, còn Việt hướng
Đông đã chạy mất hết cả rồi, ngay sau khi Xy Vưu bị diệt.
Nhưng đừng tưởng Tàu không trọng hướng Tây, không trọng Mục.
Phải chăng truyền thuyết của họ cho rằng Lão Tử đi xe tiên ở hướng Tây vào cuối
cuộc đời làm quan?
Thương, Chu, Tần đều thờ Mục, tức hướng Tây, vì đó là đất
chánh của họ, họ được phong thái ấp ở đó và nhờ đó là Cao nguyên, lại cứ bị rợ
đánh mãi nên họ quen chiến chinh và luôn luôn thắng.
Nhưng theo giáo sư Kim Định thì Tàu đích thị là Việt ở lại
kia mà, để cho cồng bà lấn lịnh ông, cả ở Hoa Bắc nữa, thì sao Việt trá hình
làm Tàu lại ngạo nghễ đứng từ phương Bắc để day mặt nhìn phương Nam theo lối kẻ
cả vì phương Nam cũng cứ là Việt?
Nếu họ là Việt thì họ đã không nhìn hướng Nam với con mắt kẻ
cả, mà với con mắt thương mến, kính nể, còn chư hầu của họ cũng không phải day
lưng hướng Nam, day mặt hướng Bắc để tỏ lòng thần phục họ.
Nhưng dầu sao, vấn đề chính cứ là Chiêu Mục, mà Chiêu được trọng ban đầu vì lý
do hậu quả. Người ta chỉ trọng Đông mà thôi. Nhưng người cần nhìn Nam, hóa ra
Đông là Chiêu của người ta, Chiêu không có cái nghĩa chính yếu, cốt tủy nào hết
mà chỉ là hậu quả đương nhiên của kẻ mạnh ưa ngạo nghễ nhìn phương Nam.
Vấn đề Đông Tây Nam Bắc đều do địa hình khí hậu và kinh tế cả.
Dân Ai Cập xem hướng Bắc là ở dưới vì nguồn sông Nil ở phía Nam của họ. Dân Cao
Miên xem hướng Đông ở trên hết vì mặt trời mọc ở đó, mà mặt trời thì ở trên cao
(theo quan niệm Cao Miên).
Dân Tàu xem hướng Nam là tốt vì họ đã thành công ở đó và có mộng
sẽ thành công nữa, vì cho tới ngày nay họ cũng chưa bỏ tham vọng về Đông Nam Á.
Lẽ thứ nhì là vì gió Bắc ở Trung Hoa là thứ gió chướng rất độc, gió Nồm mới là
gió lành.
Họ trọng Chiêu chỉ vì trọng Đông bởi Đông ở bên Chiêu của kẻ
dòm ngó phương Nam. Mà họ trọng Đông cũng chỉ vì khí hậu, bởi gió Đông lành hơn
gió Tây lục địa.
Chiêu chỉ là chuyện phụ thuộc, chỉ là hậu quả của tinh thần
trọng Đông, vì Đông là hướng gió mùa Đông Bắc rất cần cho mùa màng của họ.
Dân Việt, bất kể Bắc Nam Đông Tây vì họ không phải là kẻ Bắc
tiến, họ không có bọn thần phục ở hướng Bắc.
Nhưng họ tả nhậm không vì lẽ Chiêu Mục nào hết, mà vì lẽ tiện
lợi. Tay mặt thường thì giỏi hơn tay trái. Như vậy bắt Mục làm công việc cài
nút áo là hợp lý, một cái lý rất là tầm thường và giản dị, chớ không có triết học
nào hết.
Và vì quen làm việc bằng Mục, họ thấy là Mục phải, và
Chiêu trái, nghịch hẳn với Tàu, mà đó chỉ vì quen thói mà thôi chớ cũng chẳng
vì triết lý nào hết.
Tóm lại, đối với Việt, Đông Tây Nam Bắc đều không có nghĩa
vào cổ thời. Ngày nay họ trọng Đông Nam mà đó là nhờ khoa khí tượng cho họ biết
gió Đông Nam lành, gió Tây Bắc là gió lục địa, rất xấu, cái thứ gió Lào Nghệ
Tĩnh mà họ rất sợ.
Còn tại sao cách đây 5.000 năm họ di cư về Nam mà không về Bắc
thì quá dễ hiểu. Biển Bắc thường bị băng giá, đâu có tiện cho việc hàng hải.
Riêng vài nhóm Bách Việt như Chàm, Nam Dương thì ngày nay họ
lại trọng Tây Nam vì đó là hướng của thành La Mecca, thánh địa của họ.
*
Trong quyển Hành trình vào dân tộc học của giáo sư
Lê Văn Hảo, tác giả cho rằng chủng Nam Mông Gô Lích là chủng của các dân ở Đông
Nam Á. Nhưng các biểu chỉ số sọ nói trái lại. Đây cũng là một vị không dùng tài
liệu chủng tộc học, khi nghiên cứu về chủng tộc học.
Các thứ dân ở Đông Nam Á đều đã được đo sọ và chỉ số sọ của họ
khác xa chỉ số sọ của chủng Nam Mông Gô Lích là chủng của người Hoa Nam.
*
Chỉ số sọ của chủng Nam Mông Gô Lích là 79,14 (chỉ số trung
bình), tức cao hơn Trung Mông Gô Lích 2,58 đơn vị.
Chúng tôi chỉ đưa ra vài con số vậy thôi, chưa nói lên gì nhiều
hết. Khi các biểu đối chiếu được trình cả ra, thì quý vị sẽ thấy rằng sọ Việt,
sọ Mã Lai, sọ Thái, sọ Cao Miên, sọ Miến Điện, sọ Nhựt Bổn là một, khác hẳn với
sọ Hoa Nam hay Hoa Bắc, chỉ hơi giống sọ Sơn Đông mà thôi, và sự kiện đó phù hợp
với cổ sử Tàu tả rợ Đông Di với những biệt sắc Việt.
Chương này, tới đây thì chấm dứt được rồi, nhưng còn một vấn
đề phụ, nên xin trình bày thêm một cách sơ lược.
Chủng Nam Mông Gô Lích thành hình và đồng thời văn minh Trung
Hoa chính hiệu cũng thành hình, tại đất tổ của Việt tộc, tức Kinh Cức.
Nền văn minh mà Trung Hoa hãnh diện và cứ khoe mãi, không phải
là nền văn minh Hạ, Thương, Chu mà là nền văn minh Hán.
Nền văn minh Hán phát tích tại Hán Trung tức một vùng mà
trung tâm là ngọn sông Hán. Đó là đất tổ của Hạng Vũ và Lưu Bang, trước khi họ
Lưu lưu lạc ra Tô Châu. Nhưng dân mới thật sự là kẻ chế tạo nền văn minh, mà
nhà Hán lấy dân Sở làm chủ lực, tức dân Kinh Nam, tức người Hoa gốc Việt.
Từ năm mà nước Sở bị nước Tần tiêu diệt đến năm nhà Hán lên
ngôi, chỉ cách nhau có 21 năm mà thôi, chớ không phải là lâu đời như ta tưởng lầm.
Người nhà Hán từ vua đến quan lính, đến dân chúng, thợ thuyền đều là dân Sở, mà
yếu tố chủ lực của Sở là Việt.
Thật thế, cái sọ của người Hoa Nam gần cái sọ của người
Việt Nam mà xa cái sọ của người Hoa Bắc.
Nước Sở không hề bị diệt. Họ chỉ thất một trận lớn. Tần không
đủ thời giờ để diệt họ và nền văn minh của họ. Họ phục sinh với một cái tên
khác: Hán, mà Hán đích thị là Việt lai Hoa Bắc.
Cho tới ngày nay mà vùng Hồ Quảng, tên cũ của hai tỉnh Hồ Bắc,
Hồ Nam cứ còn là trung tâm văn hóa và kinh tế của Trung Hoa mà ba thành phố hạng
nhì của họ ở đó: Hán Khẩu, Hán Dương và Vũ Xương, nằm sát nhau, trở thành thành
phố to nhứt Trung Hoa, to hơn cả kinh đô của họ nữa.
Hai tỉnh đó ít núi, dưới đời Hạ gồm nhiều đầm lầy mà Kinh
Thư nói đến nhiều nhứt là Đầm Văn và Đầm Mộng, nay những đầm lầy ấy đều biến
thành đồng bằng, và bình nguyên Vân Mộng là một dãy đồng thượng đẳng điền của
Trung Hoa ngày nay.
Vùng đó lại được bốn con sông lớn tưới mát với hàng trăm phụ
lưu: sông Hoàng Hà, sông Dương Tử, sông Hán, sông Hoài và hàng ngàn cái hồ làm
chỗ chứa nước, đến mùa mưa lũ, làm chỗ tích trữ nước cho thấm ra ngoài, vào mùa
khô ráo, nổi danh nhứt là Động Đình hồ.
Hồ Động Đình chu vi 450 cây số, có nơi bề rộng tới 350 cây số.
Vì hồ quá lớn, bằng cả bốn tỉnh lớn nhứt của ta, nên nó mang đến bốn tên: Động
Đình hồ, Cửu Giang hồ, Ngũ hồ và Tràng hồ, tên nào cũng nổi danh trong lịch sử
Trung Hoa cả.
Xứ đó ít núi, nhưng lại có núi lớn và cao vào bậc nhứt Trung
Hoa, mà một trong ngũ Nhạc nằm ở đó, đó là núi Cửu Nghi. Nhờ vậy lại có thác lớn
và đẹp.
Truyện thần tiên và tinh thần lãng mạn của người Tàu phát
tích tại hồ Động Đình và núi Cửu Nghi này.
Hồ Quảng là cái rún của nước Trung Hoa vì nước Sở đã tổ chức
chặt chẽ mọi việc ở đó. Nước Sở bị diệt, nhưng thật ra đó là vua Sở bị diệt, và
mấy mươi năm sau thì dân Sở với cháu nội của tướng Hạng Yên là Hạng Võ và một
công dân Sở khác là Lưu Bang lại nổi lên, lập ra nhà Hán và đưa văn hóa và phồn
thịnh của Trung Hoa lên cao hơn bao giờ cả, không tiền, khoáng hậu.
Đành rằng Hoa chủng đã thiết lập nền văn minh của họ tại Sơn
Tây, Hà Nam và Thiểm Tây, nhưng đó là thời khởi lập, thời hoàn thiện chỉ xảy ra
ở một vùng đất tốt hơn, là vùng Hán Trung tức Kinh Man, tức Kinh Cức, tức châu
Kinh, tức nước Sở, tức Hồ Quảng ngày nay mà thôi.
Và chủng Việt đã góp phần xây dựng nền văn minh đó.
Trong quyển "L’Art de la Chine" của nhà xuất bản
Larousse, ta thấy được một tượng gỗ cổ đào được ở Tràng Sa. Sách ấy cho rằng đó
là sản phẩm văn hóa Hoa Nam, nhưng người Pháp họ không biết cổ Tràng Sa là đất
Việt nên họ mới nói thế.
Trong quyển "L’art du Việt Nam" của nhà
xuất bản Somgogy Paris, ta cũng thấy một tượng gỗ đào được ở Bắc Việt. Hai tượng
gỗ này khác nhau, nhưng đồng tánh cách với nhau.
*
Chỉ có từ nơi này đổ xuống phương Nam mà thôi, và chỉ có từ
thời Sở quật cường mà thôi, ta mới có quyền nói rằng ta góp phần rất lớn vào việc
kiến tạo nền văn minh Trung Hoa, chớ giành công cho ta ngay từ cổ thời và ở Hoa
Bắc, như giáo sư Kim Định đã làm thì người Tàu có quyền không đồng ý.
Hơn nữa, ta chỉ góp phần rất lớn, chớ không có sáng tạo, bởi
văn minh Hán kiện toàn văn minh Tần, Chu, Thương, Hạ, chớ không phải là một
phát minh khác, mà văn minh Tần, Chu, Thương, Hạ thì ta không có đóng góp gì hết.
Đã bảo Việt là Mã Lai, chúng tôi sẽ đưa bằng chứng như vậy, mà nền văn minh
Hán, Tần, Chu, Thương, Hạ lại không có tánh cách Mã Lai nào hết thì nói ta đóng
góp về sau thì có lý, chớ nói ta sáng tạo từ buổi đầu thì vô bằng.
Tại địa bàn thứ nhất của chủng Việt ở sông Bộc, tức Hoa Bắc,
Việt còn kém lắm, thua là chạy đi ngay, bọn ở lại quá ít để đáng được gọi là kẻ
dự phần to tát vào công việc của Tàu. Chỉ từ Sở xuống tới Quảng Đông thì Bách
Việt mới là chiếm đa số trong Hoa tộc, một đa số tuyệt đối bị đồng hóa mà người
Tàu không hay biết, hoặc cố ý giấu đi.
Nhưng ở một chương sau, ta sẽ thấy là Việt Nam lại càng khác
hơn cái dân Hoa Việt này nhiều lắm. Ta đã chạy đi trước đó nhiều ngàn năm, khoa
khảo tiền sử đã cho biết đích xác như vậy với nhiều chứng tích.
Nhưng cái "người anh em còn lại ở bên Tàu" mà giáo
sư Kim Định đã nói đến, đã chịu văn hóa khác từ ba ngàn năm rồi, thì còn gì là
anh em nữa? Ta chỉ đồng chủng với Hoa Nam (chớ không phải với Trung Hoa), có một
phần mười thôi, vì họ bị lai đi lai lại với Hoa Bắc từ 3.000 năm, còn ta thì
không. Thế nên sọ Hoa Nam mới khác sọ Việt Nam, và tâm hồn Tàu mới khác tâm hồn
Việt.
Tâm hồn và hoài bão của "người anh em" đó rất khác
xa ta, họ hãnh diện làm Tàu và cho tới năm nay họ vẫn còn khinh man di Việt, và
ở Sài Gòn thì từ năm 1954 ta chỉ thấy có ba bốn anh con trai Việt được họ gả
con cho, mà như vậy trong gần một phần tư thế kỷ rồi đó.
Đừng lẫn lộn vương triều và dân chúng, giáo sư Kim Định dạy
như vậy. Nói một cách khác, vua Tàu mới là đế quốc còn dân chúng thì không? Còn
ngờ! Dân Tân Gia Ba không hề là vương trào nào hết, thế mà họ cứ cướp đất của
Mã Lai Á để dựng một tiểu quốc Trung Hoa thì bảo sao?
Đạo Nho là đạo của Việt? Còn ngờ, vì giáo sư chưa thành công
trong việc chứng minh đó.
Mà cho dẫu là quả có thế đi nữa thì ta trọng Nho vì Nho hay ở
mặt nào đó, chớ không nên trọng nó vì nó là của ta như giáo sư đã khuyên.
Vả lại không hề có ai chống đối văn hóa Tàu hết mà giáo sư
khuyên ta đừng quên văn hóa đó "là của ta". Ta không chống đối
vì lẽ ta đã trót nhiễm nó từ hai ngàn năm rồi, muốn chống đối cũng không được,
bởi nó ăn tận vào xương tủy ta. Không hiểu sao giáo sư lại sợ cái việc không thể
xảy ra được ấy. Một anh hip-pi để tóc dài, mặc áo rằn ri, hút cần sa, nhảy
tuýt, vẫn cảm nghĩ suy luận theo Tàu phần nào, vì anh ta thường tìm "đồ
mát" để ăn, mà quan niệm nóng mát là quan niệm Tàu, chớ đối với Âu Mỹ thì
tất cả các món thực phẩm đều được cơ thể ta đốt cho thành ca-lo-ri, không hề có
món nào mát cả, chỉ có món nóng nhiều và nóng ít mà thôi.
*
Thế thì ta đã thấy chủng Bắc Mông Gô Lích là chủng Mông Cổ thật
sự và hai phụ chủng Mô Gô Lích nữa, mà cả ba thứ đó, cái sọ cứ còn xa lạ với
cái sọ Việt Nam thì lời quả quyết của giáo sư Nguyễn Phương rằng sọ Việt và sọ
Hoa là một, thì thật là liều lĩnh. Ta sẽ thấy cái sọ Việt Nam ra sao.
*
Tới đây thì ta mới hiểu một đoạn sử Tàu mà cho chí cả người
Tàu cũng không hiểu. Đó là cuộc tuần thú phương Nam của vua Thuấn. Cả Tàu lẫn
ta đều ngộ nhận về thực chất của cuộc tuần thú ấy, đều không biết gì hết về mục
đích của cuộc tuần thú và nhứt là người Việt Nam ta thì lại ngộ nhận rằng vua
Thuấn đi xa gần tới Giao Chỉ vì sử Tàu chép rằng trong chuyến tuần thú đó vua
Thuấn thăng hà tại Thương Ngô.
Địa danh Thương Ngô đã gạt gẫm Ngô Sĩ Liên, Nhượng Tống và hầu
hết người Việt. Quả có một quận tên là Thương Ngô ở giữa Vân Nam và Quảng Tây,
1.800 năm sau vua Thuấn chết không là cái Thương Ngô đó, mà là núi Thương Ngô,
tên xưa của núi Cửu Nghi ở miền Bắc của tỉnh Hồ Nam.
Và động từ tuần thú thì ai cũng lầm cả, lầm theo lối đọc quyển Xuân
Thu của Khổng Tử.
Vua nhà Chu bị chư hầu Tần bức bách phải chạy trốn sang nước
Tấn, vậy mà Khổng Tử nghiêm trang chép là "vua đi tuần thú".
Vua Thuấn làm thế nào có quyền đi tuần thú phương Nam chớ,
khi mà phương Nam là đất Việt, mà Trung Hoa chưa chinh phục vào thời đó?
Vua nhà Chu yếu quá không được các nước coi ra gì hết thì sao
có quyền đi tuần thú ở nước Tấn?
Tuy nhiên, nếu ta bám sát theo tài liệu, ta vẫn giải thích được
sự mâu thuẫn ngỡ đang có giữa khoa khảo cổ Âu Mỹ và sử Tàu.
Thật sự thì vua Thuấn không phải đi tuần thú như sử Tàu đã
chép, mà ông chỉ xuất ngoại thôi.
Nhưng vua Thuấn xuất ngoại để làm gì, và làm thế nào ông ấy
xuất ngoại được vào cái thời mà sinh ngữ các nước chưa được trao đổi với nhau
như ngày nay.
Trước hết, ta nên biết nơi vua Thuấn bỏ mình. Đó là núi
Thương Ngô. Địa danh Thương Ngô đó đánh lạc hướng ta, vì ta ngỡ nó nằm cạnh
Giao Chỉ. Quả thật quận Thương Ngô đời Hán có ở gần Giao Chỉ, giữa Quảng Tây và
Vân Nam, nhưng nó ăn lên tận mãi đến Hồ Nam, tức bằng y một tỉnh Trung Hoa ngày
nay. Đất của quận Thương Ngô là một phần đất Quảng Tây, một phần đất Vân Nam, một
phần đất Quế Châu và một phần đất Hồ Nam (xin xem chương định vị trí của Thương
Ngô).
Riêng cái núi Thương Ngô thì người ta lại biết chắc chắn rằng
là ở Hồ Nam, vì núi Thương Ngô là tên xưa của núi Cửu Nghi ngày nay.
Vậy vua Thuấn không có đi xa tận Giao Chỉ như vài sách ta đã
để lộ cho thấy. Và cái phương Nam của ông, cũng không cách điểm xuất ngoại bao
nhiêu. Ông chỉ có đi qua đất Kinh Man, tức tỉnh Hồ Bắc ngày nay mà thôi, tức một
trong nhiều địa bàn của chủng Việt.
Sao vua Thuấn lại xuất ngoại được, vì ngôn ngữ bất đồng?
Dòng họ của vua Thuấn được phong ở đất của người Đông Di thì
hẳn vua Thuấn phải thông ngôn ngữ Đông Di, mà Đông Di và Việt là một.
Tuy trong đại gia đình Việt, không phải ngôn ngữ của nhóm nào
cũng giống ngôn ngữ của nhóm nào, nhưng đó là tình trạng của ngày nay, chớ
không phải tình trạng của thời vua Thuấn mà họ chưa bị chia manh xẻ mún ra,
chưa bị ảnh hưởng ngoại lai và ảnh hưởng của khí hậu lạ do sự phân tán của địa
bàn tạo ra.
Cái vụ Đế Nghi tuần thú phương Nam, trước đó, cũng chỉ là một
cuộc xuất ngoại mà thôi.
Lại hỏi sao, về sau, vua không thể được ra khỏi thành, còn
vua xưa lại mạo hiểm đến thế? Cũng chẳng có gì là khó hiểu. Vua thuở xưa là nhà
lãnh đạo thật sự, nhứt là về võ bị và kỹ thuật, ở nước nào cũng thế, vào lúc
ban sơ kiến quốc. Chính các vua nhà Lý, nhà Trần đã cầm quân thật sự đi đánh
Chiêm Thành, và đọc sử ta, ta thường ngạc nhiên sao các vua Chàm, vua Cao Miên
cứ bị ta bắt mãi.
Đó là vì họ cầm binh thật sự, và hễ thua là bị bắt.
Họ khác hẳn vua của thời mà nước đã cường thịnh rồi, vua biến
thành bù nhìn lần lần vì chế độ thế tập đưa lên ngôi toàn là những kẻ ươn hèn
và quen hưởng thụ.
Đọc Hải ngoại kỷ sự ta thấy Thích Đại Sán kể chuyện
chúa Nguyễn Phúc Chu đang đêm chạy đi chữa lửa.
Nhà sư trịch thượng ở ấy bèn chỉnh chúa Nguyễn sao có mạo hiểm
liều thân bậy bạ như vậy, lỡ có kẻ nghịch hành thích thì sao.
Thích Đại Sán không biết rằng Nguyễn Phúc Chu đang sống trong
giai đoạn kiến quốc mà nhà vua xông pha chẳng sợ gì hết, hưởng thụ ít mà làm
nhiều, và nhứt là không nằm mãi trong cung cấm.
Đó là các nhà lãnh đạo thật sự, mặc dầu nước Việt Nam đã có
vua chúa từ nhiều triều đại rồi. Cái xứ Đàng Trong là đất mới hoàn toàn, vua của
Đàng Trong khác hẳn vua của Đàng Ngoài là vua Lê, vua Lê giống vua Tàu đời sau,
còn chúa Nguyễn thì giống vua Tàu thời cổ, nhà sư thông thái ấy không biết gì về
vua Tàu thời kiến quốc của y.
Nhưng vua Thuấn xuất ngoại để làm gì? Đó là một câu hỏi lý
thú.
Nạn nhân mãn đã bắt đầu từ thời vua Thuấn chớ không phải tới
đời nhà Hạ mới có, mà vua Thuấn thì chỉ cách nhà Hạ có một năm, bởi vua Thuấn
nhường ngôi cho ông vua đầu đời nhà Hạ rồi thì đi "tuần thú" ngay.
Ông ấy tình nguyện đi làm cái công việc dọ đường để nhà Hạ di dân mà chỉ có ông
là làm được nhờ biết ngôn ngữ của dân Việt ở Kinh Man, thuở đó chưa khác xa ngôn
ngữ dân Việt ở vùng sông Bộc quê hương của vua Thuấn. (Xin xem kể từ một chương
sau, địa bàn của chủng Việt tại sông Bộc).
Cuộc dọ đường này là cuộc dọ dẫm lần thứ nhì, để rồi di cư
ngay sau đó, chớ không còn là cuộc dọ dẫm tiền phong như dưới đời Đế Nghi nữa.
Tài liệu tham khảo riêng cho chương này:
Khổng Tử - Kinh Thi, Bản dịch Granet, Paris 1930
Khổng Tử - Kinh Thi, Bản dịch Legge, Paris 1950
Tả Khẩu Minh - Tả Truyện, Bản dịch Legge, Paris 1950
Tư Mã Thiên - Sử Ký, Bản dịch E. Chavannes, Paris 1927
Lưu An - Hoài Nam Tử, Đài Loan
Phạm Việp - Hậu Hán thư, Đài Loan N.T.N.S.
Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ, Hongkong
Phương dư kỷ yếu giãn lãm, Đài Loan
Độc sử phương dư kỷ yếu, Đài Loan
Nam Hoa Kinh, Bản dịch Nhượng Tống, Sài Gòn
R. Grousset: Histoire de la Chine, Paris
La chine ancienne et médiévale, Paris 1923
K. Maspére - La Chine antique, Paris 1952
Sở Từ - Các bản dịch của H. Maspéro
Peter Swann - L’Art de la Chine, Paris 1963
Ymré Patko - L’Art du Việt Nam, Paris 1967
H. Cordier - Histore générale de la Chine, Paris 1935
Dr. Huard, E. Saurin - Étal actuel de la crâniologie
Nguyễn Xuân Nguyên, Nguyễn Văn Đức - Indochinoise, Hà Nội
1931
Dr. Huard - La médecine chinoise, Paris 1963
Dr. Huard - Ghi chú về một cuộc tranh luận giữa các y sĩ
Trung Hoa
Mã Đoan Lãm - Ethnographie des peuples é trangers à la Chine,
Bản dịch H. de St. Denys, Paris 1871
Marco Polo - Hành trình vào dân tộc học, Sài Gòn
Nguyễn Bá Trác - Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Sài Gòn
M.T. Synchronisme chinois, Changhai 1905
B. Ta không phải là Tàu, không hề có di cư ồ ạt
Năm 1964, trước khi cho in những quyển sử mà ông soạn, sử gia Nguyễn Phương có
cho đăng một loạt bài ở tạp chí Bách khoa về phương pháp viết sử. Loạt
bài ấy có nhiều đoạn rất hay, rất đúng.
Nhưng khi đọc sử cuả ông thì thấy sử gia không áp dụng được
những phương pháp đúng và hay đó cho sách của ông. Chẳng hạn như ở những trang
232 và 233, sử gia đối chiếu hai sự kiện lịch sử này, người Tàu luôn luôn Nam
tiến trong lịch sử của họ. Người Việt cũng thế.
Rồi ông kết luận rằng sở dĩ có sự kiện quá giống nhau như vậy
chỉ vì ý chí Nam tiến đã nằm sâu trong tiềm thức của người Việt Nam bởi họ vốn
là người Tàu đổi tên là Việt Nam.
Đây là một suy luận mà không sao khoa học chấp nhận được. Hai
dân tộc hành động giống nhau không hề có nghĩa rằng họ là một, và dân tộc A làm
giống dân tộc B không hề có nghĩa là A đã cóp B.
Thứ nhứt, dân ta nhờ đất đai phì nhiêu của châu thổ Nhị Hà mà
tăng lên quá mức. Để giải quyết nạn nhân mãn, ta phải bành trướng biên cương.
Dân tộc nào ở trong trường hợp đó cũng đã làm như vậy, từ cổ chí kim, không cần
phải cóp của ai hết.
Thứ hai, phía Bắc nước ta là nước Tàu hùng mạnh, ta làm sao
tiến về hướng Bắc được. Nhà Lý có thử làm, thành công đôi phần, nhưng rồi cũng
phải bỏ cuộc. Và nhà Lý cóp ai đây, khi mà nhà Lý Bắc tiến chớ không Nam tiến?
Hướng Đông là biển cả, cũng ngăn bước của ta, hướng Tây là đất Lào núi rừng,
không phải là đất tốt. Như vậy ta có cần phải bắt chước ai khi ta Nam tiến hay
không? Và nhứt là ta có cần mang dòng máu Trung Hoa mới biết Nam tiến hay
không? Tưởng bất kỳ dân tộc nào mà ở trong hoàn cảnh của Trung Hoa và Việt Nam,
cũng đều tự nhiên mà biết và phải Nam tiến vì đó là sinh lộ độc nhứt của họ.
Bao nhiêu dân tộc khác cũng thế, mà thí dụ điển hình là dân tộc Thái. Bị người
Tàu từ phía Bắc đánh đuổi, sao Thái không chạy ra phương Đông? Vì phương Đông
là địa bàn của Chi Lạc. Phương Tây là Tây Khương địa bàn của Khơ Me đã bị Tàu
cướp rồi, còn sau lưng Tây Khương là Tân cương đã bắt đầu sa mạc hóa cách đây
ba ngàn năm, không phải là đất tương lai. Chỉ có phương Nam là địa bàn của một
dân tộc yếu hơn, đất lại phì nhiêu. Người Tây Nhung, Nam tiến để lập ra nước Miến
Điện, người Môn Cơ Me Nam tiến cũng vì lẽ ấy cả chớ không hề họ là người Tàu
nên mang cái ý chí Nam tiến trong tiềm thức của họ.
Dùng luận cứ "ý chí mang sẵn trong tiềm thức Trung
Hoa" đó của sử gia, thì Thái Lan, Miến Điện, Cao Miên đều phải là người
Tàu hết thảy, mà đó là một chuyện sai sự thật một ngàn phần trăm.
Ở chương "Đời sống của dân Lạc Việt dưới thời
Hán", ông suy luận càng kỳ dị hơn.
Ông so sánh Hậu Hán thư và Giao Châu ngoại vực ký
thấy họ chép về hai chuyện sau đây:
Hậu Hán thư kể chuyện Tích Quang dạy lễ nghĩa cho dân
man di Giao Chỉ.
G.C.N.V.K. chép rằng Giao Chỉ đã biết kỹ thuật làm ruộng khá
giỏi.
Ông kết luận có mâu thuẫn giữa hai sách đó, và G.C.N.V.K.
sai.
Không ai thấy có mâu thuẫn ở đâu hết vì một đàng viết về
phong tục còn một đàng thì viết về kỹ thuật canh tác. Một dân tộc có kỹ thuật
canh tác cao, không hẳn phải có lễ nghĩa tốt, và hai sách nói trên không hề nói
nghịch với nhau bao giờ, bởi không thể lấy phong tục ăn ở để làm căn bản mà xét
kỹ thuật nông nghiệp được. Ta có thể vừa làm ruộng giỏi mà cũng vừa không biết
lễ nghĩa. Không hề có mâu thuẫn trong hai sách ấy.
Nhưng sử gia Nguyễn Phương lại quên mất rằng Tích Quang dạy
dân ta lễ nghĩa của Trung Hoa, chớ không hề có sự kiện dân ta không có lễ
nghĩa mà ông nói là dân "Giao chỉ thuở đó rất lạc hậu". Ông cứ
lên Cao nguyên mà xem, người Thượng họ chưa có nổi một nền văn minh trống đồng
như Lạc Việt, nhưng họ vẫn có một nền đạo lý luân thường rất là tốt đẹp, và lễ
nghĩa của họ cũng tốt, chỉ cái là khác của ta và của Tàu.
Không hề có ai chứng minh được rằng lễ nghĩa của Tàu là tốt đẹp
hơn lễ nghĩa của các dân tộc khác thì sử gia không nên nói là dân Giao Chỉ lạc
hậu, cho dẫu họ không phải là tổ tiên của ta đi nữa, như sử gia đã quan niệm.
Có bằng chứng chắc một trăm phần trăm là dân Giao Chỉ đã có lễ
nghĩa riêng của họ rồi, vì sử Tàu có viết đích xác: "Đất Lĩnh Nam
theo phong tục Trung Hoa bắt đầu từ hai vị thái thú đó".
Nếu ta không có lễ nghĩa gì hết, họ đã viết: "Đất
Lĩnh Nam có lễ nghĩa, đạo lý bắt đầu từ hai vị thái thú đó".
Họ chỉ dám nói là ta theo họ còn cho rằng ta "không có
luân lý" (nguyên văn) là chính sử gia Nguyễn Phương nói chớ họ không dám
chép như thế bao giờ.
Người đọc V.N.T.K.S. tự hỏi không biết sử gia có vào các buôn
Thượng nào chưa, lắm bộ lạc còn đóng khố mà vẫn có lễ nghĩa, luân lý rất là
cao, thì không có lý do nào mà một dân tộc đã dựng nước với nhiều đời vua Lạc rồi,
mà còn ở vào tình trạng chưa có luân lý.
Cho đến cuối thế kỷ XVII mà nhà sư Tàu Thích Đại Sán, sang Huế,
còn cho rằng là ta không có lễ nghĩa luân thường, mặc dầu ta đã nhiễm Tàu nhiều
lắm rồi, vào năm ấy, thì vào đời Hán, họ cho là không có lễ nghĩa luân thường,
sao ta lại tin họ. Chính sử gia Nguyễn Phương đã dịch Thích Đại Sán, không lẽ
ông không thấy nhận xét sai lầm của người Tàu ấy?
Nhưng vì sử gia chủ trương rằng Việt Nam là Tàu thuần chủng
nên sử gia đã thấy mọi sự việc với con mắt của người Tàu. Chép việc Mã Viện đuổi
theo tàn quân của hai bà Trưng, sử gia gọi đó là "dư đảng của Trưng
Trắc". Danh từ dư đảng, phiến loạn đích thị là danh từ của
Trung Hoa. Đồng bào của hai bà chỉ nói "Dấy quân" (Ngô Sĩ
Liên) và tàn quân (toàn thể các sử gia khác). Gọi đồng bào của hai bà
Trưng, ông nói "Nam man" (trang 117).
Và ngộ nghĩnh thay, chính vì có hai lối nói mà ta biết chắc rằng
dân Việt Nam không phải là Tàu, bởi nếu họ là Tàu họ đã dùng những danh từ nổi
loạn và dư đảng của Tàu, đã gọi đồng bào của hai bà Trưng là Nam man như sử gia
họ Nguyễn chớ không gọi là "Tổ tiên ta" như họ đã gọi.
Ở đây không có vấn đề yêu nước xen lẫn vào sử học như sử gia
Nguyễn Phương hay nói. Đây là sự kiện lịch sử thật sự.
Người Thượng đóng khố có lễ nghĩa, luân lý rất tốt, thì người
Lạc Việt đã tiến hơn, như văn minh đồng pha đã cho thấy, thì không thế nào mà
không có lễ nghĩa và luân lý.
Hai lối dùng danh từ cũng cho thấy rõ rằng Việt không là Hoa.
Sự kiện thờ hai bà Trưng mà người Tàu ở đây đã cho ý kiến đã
chứng minh quá rõ, không thế nào mà họ quên gốc, để thờ anh hùng của dân Lạc Việt.
Người Tàu quên mình là Tàu, không thể có được. Sự đứng lên
giành độc lập không có nghĩa là quên gốc. Họ vừa đòi ly khai độc lập, nhưng
cũng cứ vừa nhớ rằng họ là Tàu và cứ nói tiếng Tàu. Mà họ có nói tiếng Tàu hay
không, như sử gia đã quả quyết, ta sẽ thấy ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu.
Giữa G.C.N.V.K. và Hậu Hán thư, nếu có khác biệt (nhưng
chúng tôi đã chứng minh rằng không có khác biệt), nhưng sử gia Nguyễn Phương khẳng
định rằng G.C.N.V.K. sai mà không đưa ra bằng chứng.
Đó cũng là một thái độ phản khoa học nữa. Ông không có quyền
cho quyển nào ăn khớp với tưởng tượng của ông là đúng và bài bác suông quyển
khác là sai.
Ông lại cho rằng tác giả N.V.C. lúng túng vì không hiểu tiếng
Lạc có nghĩa gì, nên giải thích bối.
Có lẽ ông thiếu tài liệu về chữ Lạc. Điều đó không sao. Nhưng
ông cũng lại dùng suy luận kỳ dị để đoán rằng tác giả N.V.C. lúng túng về chữ Lạc
mà ông cho là tác giả đó không hiểu.
Nhưng ông chưa tìm được bằng chứng rằng tác giả N.V.C. không
hiểu chữ Lạc, sao ông lại dựa vào phỏng đoán để suy diễn ra như vậy?
Mời ông xem Lạc là gì đối với hiểu biết của người Tàu thượng
cổ ở các chương khác. Tác giả N.V.C. chỉ là kẻ sanh sau đẻ muộn lại là một tay
viết sách, thì không có lý gì ông ấy không biết nghĩa của các chữ Lạc về phương
diện chủng tộc học mà người Tàu đã biết từ trước đời nhà Hạ.
Riêng về quận Cửu Chơn mà chúng tôi nhìn cũng nhận là lạc hậu, Hậu
Hán thư cũng viết láo khoét. Họ chỉ lạc hậu về kinh tế mà thôi, chớ sao lại
có chuyện trai gái ngủ với nhau rồi trai bỏ đi mất, y như cầm thú.
Mã Viện đã kiểm tra dân số và ghi rằng dân Cửu Chơn có cất
nhà. Đàn ông cất nhà làm gì nếu không để ở với vợ con?
Họ ám chỉ đến chế độ mẫu hệ ở đó mà gái làm chủ, nhưng họ
không biết gì hết về chế độ mẫu hệ. Trong chế độ đó, đàn ông vẫn có quyền gia
trưởng phần nào, và vẫn ở nhà.
Cũng nên nhắc rằng loài người chỉ mới hay rằng có chế độ mẫu
hệ từ thế kỷ XIX đây thôi, chớ không lâu lắm, khi mà nhà bác học Bachofen khám
phá ra rằng xã hội Hy Lạp theo chế độ mẫu hệ hồi buổi sơ khai của họ.
Bấy giờ giới khoa học kinh ngạc hết sức và mới tin những quyển
sách du ký của các thương gia và cố đạo tả chế độ ấy ở nhiều bộ lạc, mà các nhà
khác cứ ngỡ là các tác giả ấy bịa.
Tại sao loài người lại dốt đến thế? Là vì, mặc dầu họ theo mẫu
hệ, luôn luôn đàn ông đánh giặc, thương thuyết với nhau, làm vua và viết sử, họ
kể chuyện toàn nhơn vật đàn ông, và bỏ hết chi tiết về đời sống của dân chúng,
người đời sau không làm sao mà biết sự thật được cả.
Chế độ mẫu hệ được người thời nay biết quá trễ, nhưng họ lại
biết rất rành mạch, nhờ khoa dân tộc học. Họ nghiên cứu và thấy rằng tuy là con
cái theo dòng mẹ, đàn bà hưởng gia tài, nhưng người đàn ông cứ thật sự làm chủ
gia đình, chủ làng nước.
(Và như vậy thì lại không có vấn đề "Lịnh ông không bằng
cồng bà" mà giáo sư Kim Định đã nêu ra. Chính người đàn ông Chàm tạo lập
văn minh Chàm, chớ không phải đàn bà Chàm. Đó là điều mà chính mắt ta thấy).
Còn cái lễ cưới mà Nhậm Diên dạy dân Cửu Chơn áp dụng là lễ
cưới theo tục lệ Tàu, chớ sao họ lại không có lễ cưới? Người Sơ Đăng nay kém
hơn dân ta thuở ấy mà lễ cưới rất nghiêm trang thì tại sao thuở ấy ta lại không
có lễ cưới? Người thổ dân Úc Đại Lợi được xem là lạc hậu nhứt thế giới hiện
nay, vẫn có lễ cưới, thì không thế nào dân Cửu Chơn lại không có lễ cưới.
Chỉ vì họ không xem lễ của ta là lễ, xem lễ ta như là không
có, xem như ta là vô luân thường đạo lý, làm đúng như họ mới gọi là có luân thường
đạo lý, nên họ mới chép như vậy. Nhưng một người có óc khoa học như sử gia, sao
lại tin điều họ chép?
Một dân tộc biết cất nhà rồi mà cất rất chắc chắn đến nỗi hai
ngàn năm sau ông Pajot còn đào được một cái nhà thì hẳn không thế nào mà sống
như cầm thú vào thời còn ở hang động.
Ở chương trước, chúng ta đã thấy sử gia Nguyễn Phương hoàn
toàn sai lầm về chủng Mông Gô Lích, mà thật sự có đến ba phụ chủng Mông Gô Lích
khác nhau, khác đến cái mức mà khoa chủng tộc học đã phải xem là 3 chủng chớ
không phải một.
Trước khi học về chủng Việt, và trước khi đối chiếu sọ Việt,
sọ Hoa, sọ Mã Lai, trước khi đối chiếu ngôn ngữ Việt, Mã, Hoa ta nên kiểm soát
lại tất cả chứng tích khác của sử gia Nguyễn Phương, gồm có sử liệu, phong tục,
ngôn ngữ, v.v.
Sử liệu
Trước hết, sử gia dựa vào Hoài Nam Tử của Lưu An, để
cho rằng dân Lạc Việt chạy mất hết, bỏ đất đai lại cho người Tàu. Nhưng chúng
tôi sẽ chứng minh hai điều:
Lưu An nói chuyện ở Ngũ Lĩnh chớ không phải ở Cổ Việt, mà Cổ
Việt thì không có nằm trong đất Ngũ Lĩnh.
Lưu An chép sai sự thật vì sự kiện đó không có xảy ra một
cách tuyệt đối như vậy, và đó là cố ý sai, vì Lưu An chống lại cuộc xâm lăng của
Tần Thủy Hoàng, muốn nói rằng chiếm đất vô ích vì dân không đầu phục, không có
lợi gì hết.
Mã Viện đã thực hiện được việc kiểm tra dân số tại cổ Việt
Nam. Nội cái việc kiểm tra dân số thành công ấy cũng đủ cho thấy là dân Lạc Việt
không có bỏ nước họ mà đi đâu hết.
Nếu dân Việt bất hợp tác, chạy lên rừng trốn thì họ chạy trốn
ngay lúc xứ của họ vừa mới bị chiếm, chớ không thế nào nhận chịu sự kiểm tra
xong, mới chạy đi trốn.
Ta đọc sử Tàu không kỹ. Khi Lưu An nói đến dân Việt ở Ngũ
Lĩnh trong quyển Hoài Nam Tử thì ông vua họ Lưu ấy dùng một tự dạng
Việt rất là kỳ dị, mà không có học giả Việt Nam nào chú ý đến cả. Đó là tự dạng
thứ tư trong thư tịch Trung Hoa, mà trước Lưu An, không có ai dùng cả.
Trước đó người ta dùng Việt bộ Mễ để chỉ chi Âu tức người
Thái, và Việt Vượt để chỉ chi Lạc.
Lưu An viết một chữ Việt thứ tư không là bộ Mễ, mà cũng không
là Vượt của chi Lạc.
Lưu An rất có lý do mà làm như vậy, ông ấy rất ý thức mà làm
như vậy và chúng tôi sẽ giải thích cái ý thức siêu đẳng đó ở một nơi khác.
Ta đọc sách Tàu nhưng không kỹ, hễ cứ thấy Việt là nghĩ ngay
đến Việt Nam mà quên mất rằng có đến một trăm nhóm Việt.
Và cái vụ cháy trong rừng, bỏ đất, mà Hoài Nam Tử nói
đến, vừa không đúng, vừa không chỉ dân Việt Nam bao giờ cả.
Kế đó sử gia nói đến việc Tần trồng người ở Nam Hải, vừa
không đúng, vừa không chỉ dân Việt Nam bao giờ cả. Điều đó thì ai cũng nhìn nhận
là có thật, vì có sử liệu về chánh sách ấy của nhà Tần.
Sử gia trích Tư Mã Thiên: "Triệu Đà đã phải sai sứ
mang thư về triều xin gởi đến ba vạn con gái hoặc đàn bà góa để làm gả vợ binh
sĩ"!
Đó là chuyện xảy ra ở huyện Long Xuyên, bên Quảng Đông, sử
gia cũng biết thế, và ai cũng biết thế cả, nhưng sử gia trích ra để rồi nói
thêm ở trang 232: "Công việc nhà Tần mới bắt đầu làm đó, nhà Hán đã
tiếp tục xúc tiến, và các triều đại sau kiện toàn".
Nhưng nhà Hán tiếp tục công việc đó tại vùng đất nào? Sử gia
viết, trang 234: "Muốn biết rõ những gì xảy ra ở Cổ Việt… chúng ta thử
nhìn kỹ (…) vào những gì đã xảy ra ở đợt trước (tức ở Long Xuyên và các
cùng khác phía trên)".
Vì không có sử liệu về trồng người và di cư ở Cổ Việt, nên sử
gia Nguyễn Phương đã suy luận để chứng minh rằng có. Đó cũng là một phương pháp
làm việc mà đôi khi, bất kỳ ai cũng phải làm. Đó là chứng tích gián tiếp.
Nhưng suy luận như vậy, hỏi có khoa học hay không? Những gì
nhà Tần đã làm ở Nam Hải, nhà Hán có bắt buộc phải làm ở Cổ Việt hay không, và
nếu muốn, có đủ khả năng làm hay không? Chúng tôi sẽ chứng minh rằng không.
Sự thật thì không có tài liệu nào nói đến chánh sách trồng
người của nhà Hán tại Cổ Việt hết. Sử gia rất tin sử Tàu, cái gì sử Tàu bảo có
là sử gia nói có, bảo không sử gia nói không. Trong trường hợp trồng người, tài
liệu nhà Hán không có, sao sử gia lại tin rằng có, và cố tìm? Sử gia đã không
tìm được, nên sử gia dùng tài liệu gián tiếp để suy ra sự kiện ấy.
Không thể nói sử viết về đời Hán kém hơn sử viết về đời Tần,
thì sự vắng bóng của sử liệu đủ chứng minh rằng sự kiện không có xảy ra.
Hay là sử gia hiểu lầm về địa danh Giao Chỉ? Nên nhớ rằng địa
danh ấy, dưới đời Hán trỏ một vùng đất lớn, gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Cổ Việt
Nam. Nhưng dưới đời Tần thì không, bởi chúng tôi sẽ chứng minh rằng Tàu không
có chiếm cổ Việt.
Có chánh sách trồng người ở cái vùng Giao Chỉ đó thật sự
nhưng sự trồng người thật ra chỉ giới hạn trong huyện Long Xuyên, vì Triệu Đà
muốn nhiều mà thực hiện được rất ít, bởi ba vạn phụ nữ thì không đủ cho toàn tỉnh
Quảng Đông, tức quận Nam Hải, còn đâu để mà thành chánh sách trồng người ở Cổ
Việt Nam.
Hàng trăm năm sau, vùng Giao Chỉ đó mới được tách làm hai, Quảng
Đông, Quảng Tây gọi là Quảng Châu, còn Cổ Việt Nam thì gọi là Giao Chỉ (Bắc Việt),
Cửu Chơn, Nhựt Nam (Bắc Trung Việt).
Cái Giao Chỉ thứ nhì này chẳng dính dáng gì tới cái Giao Chỉ
thứ nhứt cả về dân tộc và địa lý.
Nhưng ta nên đi theo sử gia cho đến cùng để cùng xét những
tài liệu gián tiếp ấy, xem có đúng không.
Sử gia trích Thủy Kinh Chú: "Năm Kiến Võ thứ 10, Việt
Nam tâu trình vua rằng: Thần đã cẩn thận tiến vào Giao Chỉ với một toán binh
Giao Chỉ là 12.000 người, hợp với đại binh 20.000".
Sử gia bác lối giải thích của H. Maspéro. Ông ấy cho rằng
12.000 binh Giao Chỉ ấy là người mộ được trong tỉnh Quảng Đông vì địa danh Giao
Chỉ thời ấy có hai nghĩa, đất Giao Chỉ thật sự và những quận khác do thứ sử
Giao Chỉ cai trị.
Và sử gia cho rằng chỉ có một lối hiểu thôi. Đó là Người
Tàu đang sinh sống tại xứ Giao Chỉ (Bắc Việt). Ý sử gia muốn chứng minh rằng
ngay trước khi Mã Viện đến mà cũng đã có di cư nhiều lắm rồi nên mới mộ được
12.000 người Hoa kiều ở Giao Chỉ (Giao Chỉ thứ nhì).
Sự thật thì cả hai lối hiểu đều là những lối hiểu chủ quan,
không hơn không kém, cứ hiểu như vậy, biên ra cũng không sao, nhưng dùng để làm
chứng tích cho một giả thuyết quan trọng thì không được phép.
Người ta lại có thể hiểu theo lối thứ ba nữa thì bảo sao? Đó
là những người Giao Chỉ phản quốc, phục vụ cho địch, vì lẽ này hay lẽ khác. Thuở
ấy biên giới giữa các quận của Tàu ở đó không có đóng lại, nên dân Giao Chỉ
sang Quảng Đông rất dễ dàng, thì sao Mã Viện lại không mộ được hạng người Giao
Chỉ đó tại Quảng Đông?
Dẫu đó là người Tàu đã di cư đến Giao Chỉ hay người Giao Chỉ,
thổ dân gì cũng phải có sự kiện vượt ranh giới Quảng Đông - Giao Chỉ, của những
người ấy. Người Tàu di cư có thể vượt ranh thì người Giao Chỉ thổ dân cũng có
thể vượt ranh. Bằng chứng có người mình phản quốc là người Tàu đã lập được một
đạo thân binh, sau Lộ Bác Đức, gồm toàn người Giao Chỉ, y như vào năm 1945
Pháp đã lập ra lực lượng bổ túc gồm toán bạc-ti-dăng Việt Nam.
Dầu sao, lối hiểu thứ ba, cũng chỉ là một lối hiểu, chúng tôi
chẳng dám cho đó là sự thật, nhưng hai lối trên, cũng chẳng là sự thật hơn.
Không thể dùng một lối hiểu chủ quan để chứng minh cái gì hết.
Về việc di cư của người Trung Hoa sang Việt Nam vào thời cổ,
sử gia Nguyễn Phương chỉ đưa ra được có bấy nhiêu chứng tích đó thôi, sử gia
nói là rất nhiều và cứ nói mãi điều đó, nhưng không hề cho biết con số, vì cái
lẽ dễ hiểu rằng không có con số đó, mà không có, nghĩa là không đáng kể, sử Tàu
chẳng chép làm gì.
Sử gia cứ nói mãi về những "đợt sóng di cư liên tiếp",
về "các người Trung Quốc di cư sang Cổ Việt vẫn một ngày một đông"
nhưng không đưa ra được bằng chứng nào. Chúng tôi sẽ đưa bằng chứng ngược lại.
Có hai con số mà ai cũng biết, lại không được sử gia Nguyễn
Phương dùng mạnh trong chiến dịch chứng minh này, đó là một ngàn người quý tộc
Trung Hoa lưu vong đến nương nhờ Sĩ Nhiếp, và vào đời nhà Trần của ta, 1.500
lính do một viên tướng Tàu đến xin tị nạn chánh trị.
Tại sao cả hai con số đó không được sử dụng, mà chỉ ám chỉ sơ
đến con số thứ nhứt mà thôi? Vì nó cho biết rõ một cách quá đích xác mà những
con số quá thấp ấy lại mâu thuẫn với thuyết của sử gia.
Tuy nhiên, ở đây, ta vẫn phải nhìn nhận rằng sử gia Nguyễn
Phương có khoa học ở một điểm. Sử Tàu chép rằng Tần Thủy Hoàng đã thực hiện
chánh sách trồng người tại Nam Hải, tức trong vùng Ngũ Lĩnh, nhưng sử gia không
nói rằng nước ta cũng nằm trong vùng Ngũ Lĩnh, để mà lợi dụng sử liệu đó.
Toàn thể các sử gia Việt Nam đều sai lầm mà theo ông
Aurousseau để nói rằng Tần Thủy Hoàng đã chinh phục được Cổ Việt, tức Cổ Việt nằm
trong đất Ngũ Lĩnh.
Chúng tôi sẽ chứng minh rằng Cổ Việt không nằm trong đất Ngũ
Lĩnh và cuộc chinh phục của Tần Thủy Hoàng chỉ đi tới biên giới Việt Hoa ngày
nay mà thôi, và nước Tây Âu đã bị chinh phục, không hề là đất của ta, như toàn
thể các sử gia đều nói.
Một chứng minh thứ nhì của sử gia Nguyễn Phương, cũng cứ lấy
trong sử Tàu, đó là sự kiện hai bà Trưng chiếm được 65 thành có chép
trong Hậu Hán thư.
Sử gia cẩn thận đếm các thành mà Trung Hoa lập ra ở các vùng
nổi loạn thì chỉ thấy có 27 thành mà thôi. Sử gia cũng lại nói rằng chỉ có một
cách hiểu: 38 thành kia là những nơi định cư của thường dân Trung Hoa ở Cổ Việt,
họ tự đắp thành để tự vệ. Ý giáo sư là cứ muốn chứng minh đã có Tàu di cư rất
đông, trước Mã Viện nữa.
Không hiểu tại sao sử gia cứ cho rằng chỉ có một cách hiểu
những điều khó hiểu như vậy?
Trước hết sử Tàu nói hai bà đánh đuổi quan quân Tàu, mà không
hề nói đến việc tàn sát Hoa kiều thường dân, nếu quả đã có Hoa kiều. Sự kiện
ấy, nếu đã xảy ra, chắc Tàu mừng lắm mà không khỏi vội ghi chép để chánh nghĩa
hóa cuộc xâm lăng của họ (Nam Chiến tàn sát Hoa kiều ở Đại La được họ ghi chép
rõ ràng). Sử Tàu không chép hai bà Trưng tàn sát Hoa kiều, chỉ vì sự việc không
có xảy ra. Mà như vậy thì sao Hoa kiều lại tự vệ lớn lao, đắp cả thành lũy?
Và nếu quả họ đã làm thế, chánh phủ Trung Hoa có gọi đó là
thành hay không? (Hậu Hán thư là sử của nhà nước).
Trong lịch sử thế giới, khi nào mà chánh phủ võ trang quần
chúng, là bị ngay cái quần chúng võ trang ấy lật họ. Đó là kinh nghiệm đau đớn
mà Tàu đã phải gánh chịu nhiều lần, suýt mất nước, thì hẳn chánh phủ Trung Hoa
không bao giờ dám nhìn nhận bọn nhân dân tự vệ ấy cả đâu.
Hơn thế khi mà bốn ngàn quân chiếm đóng đã thua chạy mất hết
rồi thì thử hỏi thường dân Trung Hoa, không biết đánh giặc, có đủ can đảm tự vệ
theo lối sử gia nghĩ ra hay không? Hẳn là không.
Trải qua lịch sử bành trướng của Trung Hoa, họ đã từng bị các
thứ dân bị trị đánh đuổi, nhưng không hề có việc nhân dân tự vệ như thế. Những
thành mà sử gia Nguyễn Phương biết là những thành lớn, huyện lỵ chẳng hạn,
nhưng ngoài huyện lỵ ra, hẳn còn phải có nhiều thành nhỏ nữa, mà sử Tàu không
có ghi vì nó quá nhỏ, nên họ chỉ đếm đầu khi các thành nhỏ ấy bị chiếm, mà
không kể tên.
Lần mãi cho đến đầu đời chúa Nguyễn, sử gia mới thêm được các
nhóm Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài và Mạc Cửu, nhưng đó là giọt nước trong đại
dương vì dân ta đã non một triệu hồi cổ thời, lên đến hơn 10 triệu rồi thì ba
ngàn người Tàu, kể ra làm gì?
Bất kỳ người nào muốn bác ức thuyết của sử gia Nguyễn Phương
đều có thể đưa ra nhiều sự kiện rất vững, để chứng minh trái lại.
Chẳng hạn như cái tên Annam Đô hộ phủ. Nếu quả người Tàu
sang đây càng ngày càng đông cho đến đỗi thành đa số tuyệt đối, thành "công
dân duy nhứt ở đồng bằng sông Nhị và sông Mã", thì hẳn dưới thời Đường,
sự đa số tuyệt đối phải xảy ra rồi, vì đến đời sau, đời Tống, là người Tàu ở đó
sẽ tách riêng ra mà tự lập (Đinh Bộ Lĩnh).
Như vậy thì tại sao dưới đời Đường người Tàu lại đô hộ người
Tàu? Họ chỉ xem xứ Annam là một châu hoặc hai, ba châu của họ, chỉ có thế thôi,
chớ sao lại có chuyện đô hộ? Bằng không đô hộ, sao lại đặt tên là ANNAM đô
hộ phủ?
Tất cả các triều đại Trung Hoa đều nói xứ ta đầy sơn lam chướng
khí, không thể ở được, đến đời Càn Long, xứ ta đã bớt độc rồi mà vua ấy cũng
còn nói như vậy thì đất ta chỉ được họ xem là thuộc địa khai thác (colonie
d’exploitation) chớ không là thuộc địa thực dân (colonie de peuplement). Vả lại,
chúng tôi sẽ chứng minh rằng họ không có đủ dân vào thuở đó, để mà "thực"
tại xứ ta.
Có phải chăng là Sử Ký của Tư Mã Thiên đã viết
"Vua Hán Vũ Đế định xong nước Nam Việt rồi, cho là dân đất Mân thường mưu
đầu tối đánh nên mới bắt cả dân chúng đem lên vùng sông Hoài còn đất thì bỏ
không".
Tại sao lại bỏ không? Là tại Trung Hoa không đủ dân để lấp chỗ
trống ở đó. Đã bảo sau Chiến quốc, sau Hán Sở tranh hùng, dân Tàu sụt ghê lắm.
Triệu Đà đã xác nhận sự kiện lịch sử này khi viết rằng "Đất
Mân Việt chỉ đóng có một ngàn người". Đó là tình hình sau khi đất ấy bị
vét dân.
Đến đời Hán rồi mà người Mân Việt bổn thổ vẫn còn chiếm giữ xứ
họ thì cái việc nhà Tần di dân xuống, có thật hay là không? Có thể là có thật,
nhưng di 5 ngàn người để cho ở tám tỉnh sau đây thì thử hỏi mỗi tỉnh nhận được
mấy người: Triết Giang, Giang Tô, Phúc Kiến, An Huy, Hồ Nam, Quy Châu, Quảng
Đông và Quảng Tây?
Mỗi tỉnh chỉ nhận có sáu mươi ngàn, Cổ Việt không có nhận ai
cả, vì không hề có tài liệu nào nói về việc đó đối với Cổ Việt. Nhưng nếu cứ cố
cho là có đi, thì 60 ngàn người, làm thế nào đẩy 9 trăm ngàn vào thế thiểu số?
Nhưng Cổ Việt không hề có tiếp nhận một số người là 60 ngàn. Nếu có, cổ sử
Trung Hoa hẳn đã có ghi. Bằng như vì quá ít mà không ghi, thì cái số quá ít ấy
chẳng thay đổi được tình hình chủng tộc của non một triệu người.
Họ không đủ người, họ lại không có chánh sách "trồng người"
ở Cổ Việt. Nội cái từ ngữ Ngoại Vực trong "Giao Châu ngoại
vực ký" đủ nói rõ rằng họ không có ý muốn nhập Cổ Việt vào lãnh thổ
Trung Hoa theo lối nhập Nam Hải. Đành rằng Cổ Việt cứ phải là thuộc địa của họ
hoài, nhưng đó là một thứ thuộc địa trái độn mà quốc gia nào cũng cần.
Sự kiện họ không bao giờ chiếm đất Chàm, mặc dầu họ thừa sức
chiếm (Đàn Hòa Chi và Lưu Phong đã hai lần san bằng kinh đô Chàm) chỉ rõ cho ta
thấy rằng đế quốc Trung Hoa đã bước tới cái bước cuối cùng trên đất ta, ít lắm
là vào thời đó.
Vì lẽ gì không biết, đế quốc nào trên thế giới cũng vậy, luôn
luôn dừng chơn lại ở nơi nào đó, mà thường thì không phải là vì gặp một thứ địch
thủ nào quá mạnh đâu. Hình như lập đế quốc là một nhu cầu, mà nhu cầu thì dĩ
nhiên phải có lúc nào đó nó được hoàn toàn thỏa mãn. Nếu chỉ vì lòng tham thì hỏi
sao các đế quốc lại dừng chơn vô cớ mà thí dụ điển hình nhứt là sự dừng chơn của
Trung Hoa tại đất Chàm? Thấy rõ là có lý do khác hơn là lòng tham. Lòng tham chỉ
là một yếu tố trong đó thôi.
Nhưng các đế quốc xưa phải cần một vùng trái độn (mà nay cũng
thế), vùng ấy nằm giữa lãnh thổ của đế quốc và các rợ bên ngoài. Đó chính là
vai trò mà Trung Hoa bắt Giao Chỉ phải giữ: trực trị, nhưng không nằm trong
lãnh thổ Trung Hoa, không buông, không nhả ra, nhưng cũng không ôm sát vào
lòng. Họ đã dùng một danh từ chuyên môn để gọi ta: Xứ Phiên Li hoặc Chu
Li, rất rõ nghĩa. Phiên Li hoặc Chu Li có nghĩa là phên dậu, phên dậu che chở
cho họ. Lính của họ không đủ đông vì bị rút về sau khi thắng trận, mà dân di cư
cũng không đủ để cho họ bắt lính tại chỗ, nên khi người Pháp đã phải tuyển mộ bạc-ti-dăng
ở đây năm 1946. Trong quyển L’Art Vietnamien, ông L. Bezacier có gom tài
liệu để thử tả quân trang của đạo thân binh này.
Giới quý tộc Lạc Việt mà đại diện là hai bà Trưng, sở dĩ khởi
nghĩa cũng vì đạo thân binh này và cũng vì ngạch quan lại nhỏ gồm người bổn xứ
mà các thứ sử, thái thú đã lập ra với thâm ý thay thế các cán bộ Lạc Việt mà họ
buộc lòng phải giữ lại để dùng từ non hai trăm năm rồi. Bọn cán bộ mới mà trưởng
thành, thì cấp cán bộ cũ của Lạc Việt sẽ bị đào thải hết ráo vì Tàu không thể
tin cậy được các Lạc Tướng.
Xem đó thì biết là họ không đủ người, thì không làm sao mà họ
đẩy thổ dân Lạc Việt vào cái thế thiểu số không đáng kể được cả. Còn
nói Lạc Việt rút lên rừng mà ở hết như Lưu An đã nói, thì lại càng không đúng,
vì nếu thế thì người Tàu lấy đâu ra đạo thân binh ấy và ngạch quan lại nhỏ ấy?
Vả lại, nếu không còn thổ dân thì cũng chẳng cần đạo thân binh đó và ngạch
quan lại nhỏ đó làm gì. Để trị ai chớ?
Nhưng về sau, Tàu có sang đây đông hơn chăng?
Sử gia Nguyễn Phương cứ nói đến mãi những đợt sóng di
dân kế tiếp nhau qua các trào đại, mà không hề chứng minh. Chúng tôi sẽ chứng
minh rằng không hề có di cư, mặc dầu cổ sử Trung Hoa ngậm câm về vấn đề ấy, và
mặc dầu sự ngậm câm của họ đủ chứng minh rằng không hề có.
Về số nóc gia ở Giao Chỉ qua các trào đại, thấy trong các cổ
thư Trung Hoa, thật là đáng ngạc nhiên vì sự giảm sút dị kỳ:
Theo Tiền Hán thư thì có 92.440 nóc gia
Tấn Thư: 12.000
Lưu Tống (Châu quân chí): [1] 4.232
Tuỳ: 30.056
Đường: 14.230
(Tài liệu lấy ở Phương Đình Dư địa chí)
Sự giảm sút này được sử gia cắt nghĩa rằng sau đời tiền Hán,
người Trung Hoa không coi thổ dân Lạc Việt là dân nữa, nên không biên nóc gia của
họ vào sổ. Số nóc gia được biên là nhà của Trung Hoa di cư, nên quá ít và càng
năm càng ít. Thế là mâu thuẫn với chủ trương rằng Tàu di cư càng ngày càng nhiều.
Người Tàu có ngu dại hơn người Mông Cổ hay không? Xin nghe
câu chuyện mà R. G. kể về cuộc xâm lăng Trung Hoa của người Mông Cổ đời Nguyên.
Quân Mông Cổ định tàn sát hết người Trung Hoa để lấy đất nuôi
dê, nuôi ngựa, nuôi bò và họ đang thực hiện kế hoạch của họ. Nhưng có một người
Mông Cổ lưu lạc xuống đất Tàu ăn học làm quan, ở trong đám tù binh đông hàng
triệu người đó. Y cắt nghĩa cho người Mông Cổ hiểu rằng để dân Tàu sống, có lợi
hơn là nuôi bò, vì một người dân đóng thuế nhiều hơn hoa lợi mà một con bò sẽ
cho người nuôi.
Mông Cổ nghe xuôi tai, và nhờ thế mà bao nhiêu triệu người
Hoa Bắc thoát chết.
Mông Cổ mà còn hiểu rằng người quý hơn bò, lẽ nào Tàu không
hiểu được như vậy và không cho Lạc Việt là dân, dân hạng bét để cho họ sử dụng
như là nô lệ.
Tại sao người của đời Tiền Hán xem Lạc Việt là dân,
người của đời Hậu Hán, tiến bộ hơn (bằng chứng là Vương Mãng đã thử làm cách mạng
xã hội) lại không xem Lạc Việt là dân?
Nhưng ta cứ tiếp tục noi theo luận cứ của sử gia. Ta nhìn lại
bản đúc kết các cuộc kiểm tra dân số trên đây một lần nữa. Nếu quả đó là nhà của
người Tàu thì rõ ràng là càng năm càng ít hơn, chớ bọn di cư không phải
càng năm càng đông hơn như sử gia đã quả quyết.
Sử gia chỉ đoán liều vậy thôi, nhưng ta cứ nhận rằng sử gia
đoán đúng đi, thì dưới đời Đường chỉ có 14.230 x 10 = 142 ngàn dân di cư (kể
như họ đẻ nhiều, một nhà chứa 10 người, cho khỏi tranh luận về số khẩu trong một
hộ).
Sách Đường Thư làm xong năm 946, tức chỉ còn có 20
năm nữa là Đinh Bộ Lĩnh giành quyền độc lập. Nhưng dân Tàu chỉ đông có 142 ngàn
người thì giành độc lập được với ai kia chớ? Chỉ có một cách trả lời là dân Lạc
Việt đã đông lắm nên họ Đinh mới dựa vào dân Lạc Việt để đòi độc lập. Hẳn họ phải
đông nhiều triệu rồi mới được nhà Tống nể mặt phong vương cho họ Đinh.
Chắc chắn là có một số người đi lên núi, vào rừng, một số chạy
xuống đất Chàm và theo ông O. Jansé và Willoquet thì một số chạy sang Phi Luật
Tân, nhưng đó là quý tộc Lạc Việt chớ không phải dân, hay nói cho đúng hơn,
không phải toàn dân, bằng cớ chắc chắn là họ đã lập được một đạo binh Việt gian
với lính người mình, và để trị dân mình còn ở lại.
Sau hai bà Trưng, ta đã dấy quân nhiều lần, mà lần nào sử Tàu
cũng nói là man di nổi loạn, chớ không nói là người Tàu di cư phản loạn đối với
chánh quốc, mà man di nổi loạn được là vì họ chiếm đa số tuyệt đối.
Chính sử Tàu đã nói trái hẳn với sử gia Nguyễn Phương là người
cả tin vào sử Tàu, nhưng khi ông muốn chứng minh một điều nó ám ảnh ông, thì
ông lại bất kể sử Tàu.
Tấn thư (địa lý chí) có chép rất rõ rằng tại quận Nhựt
Nam có huyện Tượng Lâm. Từ huyện Tượng Lâm trở về phía Nam (cũng cứ trong quận
Nhựt Nam) có bốn động (tức bốn làng, động là làng của man-di) mà dân ở đó xưng
mình là dòng dõi nhà Hán.
Tấn thư được soạn vào khoảng năm 311, tức Lạc Việt đã bị
trực trị rồi từ 300 năm. Thế mà ở Nhựt Nam chỉ có 4 làng Trung Hoa ấy thôi.
Tấn thư chép câu chuyện này với tánh cách đưa ra một hiện
tượng lạ lùng đã làm kinh ngạc người chép sử, là tại sao trong xã hội "man
di" lại có 4 làng Hoa kiều thuần chủng được một cách bất ngờ như vậy.
Nếu ở đó có đông người Tàu di cư thì 4 làng nói trên không
còn là một hiện tượng kỳ dị nữa, và người chép sử hoặc người cho tài liệu cho sử
gia đời Tấn, đã không phải ngạc nhiên, và sử gia ấy đã không chép làm gì câu
chuyện trên đây.
Về sự kiện lính Trung Hoa được rút về nước hay được giải ngũ
tại chỗ để làm di dân, hợp với di dân thật sự, đẩy thổ dân vào thế thiểu số, ta
nên mượn tài liệu của chính sử Tàu để nói chuyện.
Thời Đào Hoàng (tên một viên thứ sử vào năm 321) tại Giao Chỉ
là thời đại thanh bình mà cũng chỉ có năm ngàn nóc nhà quy phục Bắc Triều, còn
tới mấy vạn nóc nhà khác vẫn không chịu lệ thuộc.
"Mấy vạn nóc nhà" ấy, ta cứ lấy số tối thiểu
là 2, hai vạn, tức là hai mươi ngàn nóc nhà. Như thế thì số gia đình quy phục
chỉ là một phần tư của tổng số mà thôi. Làm một bài toán trừ đơn giản thì ta kết
luận được rằng sau ba trăm năm đô hộ ta, Trung Hoa chỉ kết nạp được sự hợp tác
của một phần tư dân số mà thôi. Mà trong cái phần tự quy phục ấy, chắc chắn
không phải là người Tàu, vì với Hoa kiều thì đâu có vấn đề quy phục. Họ có phải
là người lai căn hay không? Cũng chắc chắn là không, vì người lai căn với một
dân một nước thống trị, đứng chung hàng ngũ với dân thống trị như Tây lai ở xứ
ta về sau này chẳng hạn. Như vậy, đâu có xem là họ "quy phục", họ được
xem là người Trung Hoa ấy chớ. Tức trong năm ngàn nóc nhà quy phục ấy, không có
người Tàu chánh gốc hay Tàu lai nào cả, mà chỉ có Lạc Việt thôi, toàn thể
là Lạc Việt. Hai chục ngàn nóc nhà kia lại còn Lạc Việt mạnh hơn nữa.
Tổng số 25 ngàn nóc nhà này lại phù hợp với con số chính thức
là 12 ngàn nóc nhà của Tấn Thư địa lý chí mà sử gia Nguyễn Phương và
chúng tôi đã trích và dùng làm tài liệu suy luận mà chúng tôi nhắc đến trên
kia. (25 ngàn là con số dưới thời Nam Bắc triều, một thế kỷ sau đời Tấn, có
khác biệt nhau đến 13 ngàn, vẫn cho là phù hợp được, vì có sự so le thời điểm).
Thấy rõ là số nóc gia chép ở Tấn Thư là nóc gia của Lạc Việt,
chớ không phải của Trung Hoa như sử gia Nguyễn Phương đã quả quyết.
Còn lại một thời gian là 8 thế kỷ đô hộ nữa. Trong tám thế kỷ
sau này thì hẳn lính Trung Hoa càng ít tới đây hơn, bởi một thuộc địa đã được
cai trị từ ba thế kỷ rồi, không ai gởi lính sang tới đây hơn là trong ba thế kỷ
trước. Như vậy, tỷ số lai căn không thể tăng lên mà chỉ có giảm xuống mà thôi,
không còn nói là trái lại được.
Bọn thương gia và phu phen, thợ thuyền có đến hay không?
Không thấy sử có viết về điều đó, nhưng chắc chắn là họ có đến, nhưng năm ba
ông thầy phong thủy, ông thầy thuốc du phương, vài người thợ, vài trăm tội đồ
không hề làm nên đa số.
Còn như mà nói rằng nếu nhà dân bổn xứ là 25 ngàn, thì nhà
dân Tàu còn đông hơn nhiều (đa số mà lại) thì đâu có việc viên thứ sử Đào Hoàng
ấy sợ dân nổi loạn đến phải làm tờ phúc trình nói trên. Chính đó là một tờ phúc
trình mà Đào Hoàng dâng lên để xin vua Trung Hoa đừng có rút quan chiếm đóng.
Người Lạc Việt không rút hết lên rừng để thành người Mường
như nhiều người đã nói, trong đó có cả sử gia Nguyễn Phương. Họ ở lại rất đông
và không bị đẩy vào cái thế thiểu số để người Tàu tràn tới, rồi tự xưng là dân
tộc Việt Nam, bởi nếu Lạc Việt thiểu số thì thứ sử Trung Hoa đã không sợ
họ nổi loạn.
Cho tới nay, không ai biết người Mường là ai cả, cứ phỏng
đoán. Ở một chương sau ta sẽ biết đích xác họ là ai.
Còn như toàn dân là người Tàu ư? Thì sao họ lại nổi loạn kia
chớ? Người Tàu vẫn có thể nổi loạn để tự lập à? Rất có thể, mà như vậy thì
không có vấn đề ¼ quy phục toàn loạt. Chừng nào tới giờ phút muốn tự lập thì chừng
ấy mới có việc nổi loạn, chớ tình hình căng thẳng không có xảy ra. Sở dĩ
tình hình này mà có là vì có người thống trị và người bị trị ở cạnh nhau.
Sự kiện "rút quân về" lại chứng tỏ rằng
những đợt sóng binh sĩ liên tiếp tới đây, không có ở lại. Có bọn di cư hay
chăng mà sử gia cũng đã nói đến? Chắc chắn là không đáng kể gì hết. Sử gia René
Grousset đã nắm được những con số của những lần kiểm tra dân số của Trung Hoa
trải qua lịch sử của họ.
Nạn nhân mãn vào đời nhà Hạ ở ngã ba sông Vị và sông Hoàng
Hà, đã được vua Thiếu Khang giải quyết rồi, bằng cách cho Vô Dư lãnh đạo bọn di
cư xuống đất Kinh Việt, cái đất mà về sau, người Tàu lai Việt ở đó lập ra nước
Sở. Chánh sách trồng người của Tần Thủy Hoàng không hề do nạn nhân mãn chi phối
mà chỉ là một hành động đế quốc muốn đồng hóa man di. Nạn nhân mãn lớn
(explosion démographique) thì mãi đến đời nhà Thanh họ mới mắc phải.
[1]Nhà Lưu Tống được sử gia Nguyễn
Phương gọi là nhà Tống, gây lẫn lộn với nhà Tống thật sự sau nhà Đường.
Sự kiện nhà Hán cứ còn giữ các cán bộ bổn xứ là Lạc Tướng,
tuy không chứng tỏ rằng họ thiếu cán bộ, nhưng lại chứng tỏ rằng thổ dân không
phải là thiểu số, mà trái lại còn là đa số cần được trị an bằng chính đám quan
lại đã có uy tín sắn. Về sau, thổ dân ấy lại càng ít thiểu số hơn vì chỉ có cuộc
chinh phục ban đầu mới cần nhiều lính, còn di dân thì không có, như đã thấy.
Vào thế kỷ thứ XV T.K. Trung Hoa mới bắt đầu di dân ra biển
Đông và xuống phương Nam. Nhưng mãi cho đến giữa đời Đông Chu lối năm 500 T.K.
mà ở mạn biển Đông chưa có người, nước Thù, vào thời Chiến quốc là một nước chỉ
gồm có 10 học tức cao lắm 10 ngàn nhân khẩu. Thế thì ba, bốn, năm trăm năm sau,
họ lấy đâu cho ra người để di dân xuống Lạc Việt? Danh xưng Lạc Việt biến mất
vào thuở đó là vì lẽ chánh trị chớ không phải lẽ dân số như sử gia Nguyễn
Phương đã nói. Thực dân Trung Hoa khác với thực dân Pháp sau này, họ xóa hết
cái gì là cố cựu của thổ dân với mục đích đồng hóa, chỉ có thế thôi. Danh xưng
Lạc Việt mất một cách nhân tạo, mất trong sách vở, trong văn kiện Trung Hoa,
nhưng không mất trên thực tế.
Về những con số này, không phải tìm tài liệu lạ cho mất công:
Chúng tôi xin lấy ngay tài liệu của sử gia Nguyễn Phương. Ở trang 331, sử gia
viết: (Năm … 858 (tức còn có 117 năm nữa thì ta độc lập vĩnh viễn với Đinh Bộ
Lĩnh)… một vị cai trị có tài tên là Vương Thức… đến nơi ông liền nghĩ đến phòng
thủ phủ thành… huấn luyện binh sĩ. Không lâu, có một bọn Nam Man kéo đến. Thức
ung dung cho người giải dịch hơn thiệt cho họ, họ rút về".
Còn có 1 trăm năm nữa thì "người Tàu Đinh Bộ
Lĩnh" tách rời xứ này ra khỏi chính quốc của y, thì hẳn quanh thành Đại
La phải đông đặc người Tàu di cư rồi, nếu căn cứ trên thuyết của sử gia Nguyễn
Phương. Thế thì làm thế nào bọn Nam Man tiến đến thành được? Họ có võ trang ư,
còn người Tàu thì tay không? Nhưng vũ khí của họ cũng chỉ là dao, mác thôi, mà
dân Tàu di cư, nhà nào cũng có dao, mác cả. Mà không phải Tàu chỉ ở quanh thành
mà thôi, vì người bổn xứ đã bị thiểu số từ lâu đời rồi thì người Tàu di cư phải
chiếm hết cả quận, huyện, tổng, làng. Không lẽ còn có một trăm năm nữa mà
"người Tàu Đinh Bộ Lĩnh" cầm đầu người Tàu di cư để ly khai, mà người
bổn xứ lại còn ở gần họ được?
Cũng cứ lấy tài liệu của sử gia Nguyễn Phương.
Năm 930 (nghĩa là còn có 45 năm nữa là "người
Tàu Đinh Bộ Lĩnh" phản loạn với chính quốc của y) Lý Tiến sang làm thứ
sử Giao Châu, Lưu Yểm căn dặn: "Dân Giao Chỉ thích làm loạn, chỉ nên tìm
cách lung lạc họ mà thôi".
Nếu dân Giao Chỉ là người Tàu di cư thì một ông vua người
Trung Hoa không bao giờ lại ăn nói như vậy. Chẳng hạn, nói đến dân Trung Hoa ở
huyện Cảnh Đức Trấn, ông ấy đã nói: "Con dân ta", ở Cảnh Đức Trấn
vừa tìm được một trái núi có đất tốt để chế tạo loại đồ sứ đẹp, tên là núi Cao
Lĩnh. Ông ấy không bao giờ nói: "Dân Cảnh Đức Trấn". Vì
thói quen của các vua Tàu là như thế, khi nào nói đến dân ngoại chủng, họ mới
chỉ dân ấy bằng tên nước của ngoại chủng đó.
Sử gia Nguyễn Phương đã chứng minh được rằng nhà Tống
"Công nhận quyền độc lập của Cổ Việt giữa thời bình". Nhưng trải qua
mấy ngàn năm lịch sử của Trung Hoa, không bao giờ giữa thời bình mà con
dân Trung Hoa lại đứng lên ly khai và nhứt là đòi hỏi ấy được thỏa mãn. Mà ở
các nước khác cũng thế. Như vậy tại sao "người Tàu Đinh Bộ Lĩnh" lại
đòi ly khai giữa lúc thạnh trị? Chỉ có một lối trả lời độc nhứt mà thôi: Đinh Bộ
Lĩnh không phải là người Tàu, hay ít lắm, dân của ông cũng không phải dân Tàu.
Sử gia Nguyễn Phương lại trích bài chế của vua nhà Tống: "Đinh
Bộ Lĩnh có chí mến văn hóa của Trung Quốc…". Nếu Đinh Bộ Lĩnh là người
Tàu, hẳn vua nhà Tống phải biết, cũng như vua nhà Tần đã biết rằng Triệu Đà là
người Tàu.
Mà người Tàu không bao giờ có chí mến văn hóa của Trung
Quốc như một số người của nước khác. Họ sanh ra, sống giữa văn hóa ấy, thấy
tự nhiên phải như vậy, theo văn hóa khác là không xong, văn hóa Trung Quốc đối
với họ như cơm mà họ ăn, áo mà họ mặc, nó quá quen thuộc mà họ giữ, không ghét
cũng chẳng mến, họ giữ nó một cách máy móc.
Vua nhà Tống mà nói như vậy thì hẳn ông ấy biết Đinh Bộ Lĩnh
không phải là người Tàu, và Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa để giành độc lập cho Lạc Việt
chớ không phải để tách rời ra khỏi nước mẹ theo lối Huê Kỳ, Úc Đại Lợi,
Tân Tây Lan.
Sử gia Nguyễn Phương chắc cũng chưa tiêu hóa nổi chính cái
thuyết của mình, nên chi ông mâu thuẫn trong lời nói. Có khi ông viết: "Ngô
Quyền giành độc lập" có khi viết: "Nước Việt Nam… rụng ra
khỏi cây mẹ".
Sự tách rời ra khỏi nước mẹ, đã xảy ra trong lịch sử của nhiều
quốc gia, nhưng nó khác việc tranh đấu giành độc lập, mặc dầu trong hành động
trước cũng có tranh đấu; cũng có độc lập, nhưng trong hành động trước là đồng
chủng với nhau, trong hành động sau là chống xâm lăng.
Có một chi tiết mà không thấy sử gia nào của ta nói đến, là mặc
dầu đặt quận, huyện ở Giao Chỉ, người Tàu không bao giờ trực trị ta cả.
Bằng chứng không trực trị là các quan thứ sử phải nộp cống
hàng năm, đến đời Đường, cũng còn cống. Đây là cống phẩm của Giao Chỉ, dưới đời
Đường: chuối, cau, mặt chiên (?), lòng chim sã (Phỉ túy).
Sử nói đó là thổ cống, nghĩa là còn có những cống phẩm khác,
không nói ra vì không đặc sắc: như vàng, bạc, chẳng hạn (trích Phương Đình
Dư địa chí).
Hễ các quận, huyện bị trực thị thì dân ở đó phải đóng
thuế, còn quan thì không có cống gì hết. Đằng này quan đầu xứ lại phải cống
như là một phiên vương thì chắc chắn sự cai trị Giao Chỉ nằm lưng chừng giữa chế
độ phiên thuộc vậy.
Mà tại sao lại thế? Là tại thổ dân quá đông mà lại không quen
phải chịu sưu thuế nên không đóng thuế trực tiếp và Trung Hoa đành phải lấy thuế
gián thu dưới hình thức cống phẩm, đến đời Đường, Giao Chỉ gần độc lập rồi, vẫn
còn cống.
Những điều trên đây chứng tỏ rằng thổ dân chiếm đa số tuyệt đối,
một đa số lớn cho đến đổi quan hệ chánh trị giữa Giao Chỉ và Trung Hoa phải mềm
dẻo uốn mình theo. Nếu người Tàu là đa số thì chánh sách của Trung Hoa hẳn đã
phải khác, thâu thuế, chớ không nhận cống phẩm.
Văn học sử Trung Hoa cho biết rằng thi hào Vương Bột đời Đường
làm bài thơ Đằng Vương Các trong chuyến đi thăm cha làm quan huyện ở
Giao Chỉ.
Mãi cho tới đời Đường mà quan Tàu còn không mang vợ con theo,
mặc dầu họ được ở các thị trấn, tương đối ít chướng khí, thì hẳn thường dân
không ham tự động được di cư cho lắm.
Nên nhớ rằng đến đời Đường người Tàu vẫn cứ còn sống theo chế
độ đại gia đình, chớ không phải hễ biết làm thơ rồi như Vương Bột là được ra
riêng.
Cuộc thăm cha xa xôi của thi sĩ Vương Bột chứng tỏ rằng quan
Tàu thuở ấy không có mang gia đình theo. Họ liều thân một mình, để vợ con họ được
an toàn, tránh cái khí hậu nhiệt đới của Giao Chỉ mà dân Hoa Bắc không chịu nổi.
Hạ chí Tuyến (tropique du Cancer) nằm ngay tại thành phố Quảng
Đông ngày nay, và qua khỏi Hạ chí Tuyến là vùng bán nhiệt đới (sub-tropical),
qua khỏi Cà Mau là vùng xích đạo nhiệt đới (équatorial), người Hoa Bắc không
làm sao mà sống được ở hai vùng khí hậu đó, chớ thật ra thì nó không có độc gì
hết như họ tưởng.
Cái huyền thoại Mã Viện thấy một con chim rơi rồi ngộ nhận là
vì khí hậu quá độc mà cả chim cũng phải rơi, chỉ là vì Mã Viện trông gà hóa quốc.
Y đã thấy một con chim bói cá, loại chim ấy không có ở Trung Hoa nên y không biết.
Người Tàu gọi nó là chim phỉ túy, miền Nam nước Việt gọi là chim thằng chài, nó
thường từ trên cao phóng xuống trông y hệt như là nó rơi đối với con mắt người
Hoa Bắc.
Lưu An trong Hoài Nam Tử đã chép rằng nhà Tần đánh
Ngũ Lĩnh chỉ vì tham lông chim phỉ túy, tức con chim bói cá mà Trung Hoa không
có.
Không ai chối cãi rằng có di cư, nhưng không hề thấy có chánh
sách dời người của nhà nước, thì cuộc di cư tự ý của cá nhân, nhứt định là rất
yếu, không đáng kể. Sử Tàu xem ra thì không đến đỗi thiếu sót những biến cố
quan trọng, chỉ có bốn động người Tàu ở Cửu Chơn mà họ còn ghi rõ thì làm thế
nào họ không ghi sự kiện hàng vạn người tràn sang đây, nếu sự kiện ấy đã xảy
ra. Từ Hán đến Tống, họ đã viết hàng chục bộ sử, sử gia này có quên mất vài việc,
thì còn sử gia khác, nhưng không thể nói rằng ai cũng quên sự kiện di cư cả.
Xin trích dẫn ra đây bài Ý lữ văn của một bậc danh
nho khét tiếng đời nhà Minh, triết gia Vương Dương Minh.
Vương Dương Minh làm quan tại triều nhà Minh, phạm tội khi
quân, bị giáng đi làm quan hạng bét ở xứ Long Trường. Ông ấy kể một câu chuyện
vừa bằng văn xuôi, vừa bằng thơ, đại khái như dưới đây:
"Năm Minh võ Tống (1515) ta đang làm quan nhỏ ở đất Long
Trường thì một buổi chiều có một viên chức nhỏ làm lại mục, từ kinh đô được
thuyên chuyển đến nơi nhậm chức, đi ngang qua Long Trường, có dẫn theo 1 con
trai và 1 người tớ.
Không ai biết y tên gì. Ta ở trong nhà, nhìn qua hàng rào
thưa, thấy y vào xin ngủ trọ ở nhà một thổ dân người Miêu. Sáng ra thì y tái khởi
hành.
Nhưng gần trưa, có người ở gò Ngô Công về cho biết ở chơn núi
có một người già chết, hai người khóc thảm thiết. Người chết là người lại mục.
Gần lối lại có người cho biết dưới chơn núi có hai thây ma, người còn sống đang
khóc lóc thảm thiết. Hỏi ra thì người chết sau đó là đứa con trai người lại mục.
Sáng hôm sau nữa thì người ta cho biết người sống sót cũng chết nốt.
Ta buồn nên ta ca rằng:
Ta với ngươi đều là kẻ xa quê
Chẳng hiểu ngôn ngữ của man di
…
Bên đường mồ mả liên kế nhau
Phần lớn là của người Trung Quốc xa nhà".
Qua bài văn của Vương Dương Minh, ta thấy gì? Là mãi cho đến
năm 1515, tức tương đối rất gần đây, mà ở Hoa Nam còn hiếm dân Trung Hoa cho đến
đỗi viên lại mục phải ngủ trọ ở nhà thổ dân.
Quan Trung Hoa thì có, nhưng cũng hiếm lắm, nên kẻ bạc phước
mới không dè rằng có Vương Dương Minh ở Long Trường để mà tìm đến.
Ta lại thấy mồ mả người Tàu chết đường nhiều quá khi họ xuống
phương Nam. Sự kiện ấy hẳn không làm cho họ ham di cư sang tận Giao Chỉ đâu, vì
Giao Chỉ còn xa hơn nhiều.
Như vậy thử hỏi 8 trăm năm về trước, có thể có người Tàu di
cư sang xứ ta đông đáng kể chăng?
Sử gia Nguyễn Phương có đưa ra một câu chuyện, không biết để
làm gì, vì câu chuyện đó hoàn toàn vô ích đối với quyển sách của sử gia. Đó là
chuyện quan Thứ sử Doanh Châu Lư Tổ Thượng đời Đường, từ chối đi làm Thứ sử
theo chỉ định của vua Lý Thế Dân, nên bị chết chém.
Nhưng đó là gậy ông đập lưng ông, vì sử gia chép thiếu một
câu quan trọng mà nay chúng tôi đưa ra đây: "Đi Giao Chỉ, thì không có về,
thà là tôi chịu chết mà được chết ở quê nhà".
Cho tới đời Đường rồi mà người ta còn sợ Giao Chỉ đến thế. Mà
đó là nhơn vật cao sang nhứt Giao Chỉ, nếu ông ấy chịu đi. Điều kiện sống của
ông sẽ giúp ông dễ chịu phần nào mà ông còn chọn cái chết chém thay cho việc đi
Giao Chỉ thì hẳn thường dân không ham Giao Chỉ lắm đâu.
Trong cuộc xâm lăng của nhà Tống, sử Tàu thú nhận có 110.000
binh sĩ chết vì sơn lam chướng khí (không kể bọn chết trận), mà chuyện đó xảy
ra 1.035 năm sau Mã Viện, thì đủ biết người Tàu không ở đất Giao Chỉ được mà
nói đến những đợt di cư liên tiếp.
Ở đây tưởng nên trở lại vấn đề bất phục thủy thổ mà tất cả
các sử gia Tàu đều nói đến, mãi cho tới đời nhà Thanh cũng còn nói.
Người ta tự hỏi nếu xưa Tàu ở Giao Chỉ không được, sao nay họ
lại ở được, cả ở đường xích đạo (Anh Đô Nê Xia) nữa.
Nhưng ta cứ kiểm soát lại xem người Tàu sống ở Đông Nam Á
ngày nay là ai. Đó là người Hải Nam, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ.
Ngoài 5 nhóm đó ra, tuyệt đối không còn nhóm nào khác nữa hết. Không bao giờ ai
tìm gặp một người Hồ Nam, một người Triết Giang tại Đông Nam Á.
Mà 5 nhóm người ấy là ai? Đó là những người Thái (Tây Âu,
Đông Âu, Hẹ, Hải Nam) và những người Lạc (Phúc Kiến, Triều Châu) biến thành
Tàu.
Dưới những đời Hán, Tần, Đường, Tống, Minh, họ còn là man di,
nên không giỏi để mà đi làm ăn xa, còn người Tàu thật sự, tức người Hoa Bắc và
Hoa Trung thì chỉ chịu đựng nổi khí hậu Hạ chí Tuyến mà thôi (tuyến này nằm
ngang thành phố Quảng Đông).
Cả đến "man di" Sở, gốc Việt, mà vẫn không dám xuống
khỏi Hạ chí Tuyến.
Người Tàu di cư xuống Đông Nam Á hiện nay, sở dĩ di cư được,
chính vì họ là những con người sống tại ranh giới Hạ chí Tuyến, có thể quen được
với khí hậu bán nhiệt đới. Nhưng những con người ấy, khi xưa, còn kém cỏi lắm,
không thể biết đi làm thợ, hoặc làm thương mại xa, còn bọn có khả năng là bọn ở
trên thì từ xưa đến nay không di cư bao giờ.
Vấn đề sơn lam chướng khí của Giao Chỉ là chuyện huyền thoại
mà họ đưa ra, khi họ không giải thích được một sự thật về phản ứng cơ thể đối với
khí hậu lạ.
Tài liệu rõ ràng hơn cả là một câu sử trong Hậu Hán thư thiên Mã
Viện truyện.
Mã Viện thắng trận rồi thì kiểm điểm lại để về nước. Binh sĩ
tử trận không đáng kể, mà "Bất phục thủy thổ mà chết 10 phần hao hết
4 hoặc năm". Đó là binh sĩ Trung Hoa, chớ không phải người Tây Âu ở Nam Việt
hay đạo thân binh Việt phản quốc mà chúng tôi đã nói đến và sử gia Nguyễn
Phương cho là người Tàu di cư tình nguyện đi lính.
Chúng ta tự hỏi có phải chăng sử gia Nguyễn Phương đã bị ông
O. Jansé đánh lạc hướng? Quả thật vậy, trong danh sách những sách tham khảo của
sử gia Nguyễn Phương thấy có quyển A.R.I.I. của ông O. Jansé, và trong quyển
sách đó, ở chương kết luận, ngắn chỉ có một trang, ông O. Jansé có viết:
Vì cuộc lấn lần của người Trung Hoa mà dân Cổ Mã Lai rút đi
xa, có lẽ về hướng Nam… (trước thời Triệu Đà).
Nhưng ông O. Jansé đã tự mâu thuẫn với ông vì trước đó mấy
dòng, ông viết rằng quý tộc Lạc Việt rất ham gả con gái cho bọn phiêu lưu
Tàu mà tài nghệ siêu quần. Đã mê Tàu như thế, sao lại bỏ nước mà đi?
Nhưng chẳng những không có bằng chứng ta ở đất cho Tàu, mà
trái lại còn có vô số bằng cớ là ta không có bỏ đất, hay nói cho thật đúng, chỉ
có một số người là bỏ thôi, đó là quý tộc Lạc Việt và tôi tớ, gia nhân, nô lệ của
họ, mà việc đó cũng chỉ vào thời Mã Viện, chớ trước thì không có, sau cũng
không có, đại đa số dân chúng vẫn ở lại, bằng cớ là khi Mã Viện đến, họ gặp
toàn người Lạc Việt chớ không có gặp người Tàu nào đã di cư ở sẵn đó.
Cho tới thời Mã Viện mà cơ thể của người Tàu còn chưa chịu được
khí hậu Giao Chỉ thì trước đó làm gì người Tàu di cư tới được như ông O. Jansé
nói, và làm gì có di cư từ đó về sau được sử gia Nguyễn Phương nói.
Có một trang kết luận ngắn mà ông O. Jansé rối lên, mâu thuẫn
lung tung. Ông nói chuyện dân bổn xứ bỏ nước là nói chuyện trước Mã Viện đấy. Bỏ
nước vì bị lấn lần hồi. Nhưng nếu thế, thì lấy đâu cho ra hai bà Trưng để mà khởi
nghĩa? Vả lại người ta chỉ có thể bỏ nước khi bị xâm lăng chớ không hề bỏ nước
trước một cuộc di cư âm thầm.
Bằng như cho rằng việc bỏ nước xảy ra vào thời Mã Viện như sử
gia Nguyễn Phương nói, thì họ Mã không thể kiểm tra dân số người thổ trước được
mà sử Tàu đã chép là việc kiểm tra ấy đã được thực hiện khá chu đáo.
Không, Lạc Việt chỉ mới hợp chủng với Trung Hoa sau Mã Viện
mà thôi. Sự có mặt của vài cái sọ Mông Gô Lích ở Bắc Sơn sẽ được giải thích rõ ở
chương Mã Lai chủng. Không hề có lai với Tàu. Đó là sọ Việt Hoa Bắc, tức sọ Cửu
Lê, lai với Mông Cổ.
Tất cả những nhà bác học Patte, Mansuy, Colan đều sai lầm ở
điểm này, và tất cả sách ta đều cóp lại. Những cái sọ Mông Gô Lích ở làng Cườm
là sọ Cửu Lê lai giống với Mông Cổ tại Hoa Bắc và di cư tới đó chớ không hề là
sọ Trung Hoa. Rồi ta sẽ thấy bằng chứng.
Những ngôi mộ Trung Hoa đào được ở Bắc và Trung Việt, là mộ
quan, mà quan Tàu xưa thì không có mang vợ con theo, như câu chuyện thi hào
Vương Bột đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ mà chúng tôi đã kể khi nãy.
Việc tống táng các ông, hóa thành việc nhà nước, việc của các
tùy viên, mà họ thì chỉ cần làm cho đúng lễ và đủ lễ, chớ không thể đưa hài cốt
về Tàu được như gia đình của những người chết.
Còn thì Hoa kiều thường dân luôn luôn trở về cố thổ, sau khi
nhắm mắt, hoặc ngay lúc còn sống, khi đã làm giàu rồi.
Một chứng tích ngộ nghĩnh mà ông O. Jansé, kẻ đào mồ cuốc mả
thiên hạ lại không thấy, để cho người khác thấy. Người khác đó là ông L.
Bézacler. Ông này viết: "Những ngôi mộ Tàu tìm thấy ở Bắc Việt và Bắc
Trung Việt đều là mộ từ thời Hậu Hán về sau, trước đó không hề có".
Mộ dân là mộ đất thì có hay không cũng chẳng ai biết. Mộ mà
ông L. Bézacler nói đến là mộ quan. Nhưng nếu có mộ của rể các lãnh chúa như
ông O. Jansé nói thì hẳn người ta cũng đã tưởng là mộ quan, và đã cho là có, vì
rể lãnh chúa phải là những nhơn vật quan trọng không kém gì quan, và họ được tống
táng theo Tàu chớ không theo Việt.
Cái câu chuyện các lãnh chúa ham gả con gái cho Tàu di cư của
ông O. Jansé chỉ là huyền thoại của một nhà bác học kém tưởng tượng khi bịa càn.
Còn đây là một sự kiện nó đánh ngã thuyết của sử gia Nguyễn
Phương bằng những vố nặng hơn bất cứ tài liệu nào.
Từ 1680 đến năm 1945, Hoa kiều ở miền Nam có lập ra hội Di
hài, mỗi năm mỗi Hoa kiều nghèo, đóng một số tiền niên liễm, để sau họ qua đời,
hội sẽ di chuyển hài cốt của họ về quê cha đất tổ họ bên Tàu.
Đó là cái hoài bão tha thiết nhứt của Trung Hoa di cư sang Việt
Nam. Nhưng thuở xưa thì có như thế hay không? Đó mới là chuyện đáng kể.
Cụ Vương Hồng Sển nguyên là quản thủ Bảo tàng viện Sài Gòn,
là một nhà chơi đồ cổ có tiếng, cụ có cho chúng tôi thấy một thứ hộp bằng sứ chế
tạo bởi những lò sứ ở Thanh Hóa của người Hoa kiều đời Đường, đời Tống. Đó là hộp
chế tạo riêng để dựng hài cốt Hoa kiều trong chiến dịch di hài nói trên.
Với cái tinh thần đó, với sự cẩn thận chế tạo cả dụng cụ cho
công việc ấy, thử hỏi ý chí lập nghiệp lâu dài của người Tàu thuở đó ở xứ ta có
hay không? Nếu quả có di cư đi nữa, như sử gia Nguyễn Phương cứ quả quyết rằng
có, thì đó chỉ là những cuộc di cư để kiếm ăn vài mươi năm, chớ kẻ di cư không
có ở lại để ly khai với chánh quốc và tự xưng là người Việt Nam đến.
Tại Chợ Lớn, hồi trước năm 1945, việc hốt cốt ở các nghĩa địa
Hoa kiều và việc chế tạo hộp di hài là một kỹ nghệ lớn, nuôi sống hàng ngàn người,
bởi Hoa kiều đông mà kỹ nghệ đồ sứ và hốt cốt cũng cần thợ đông lắm.
Từ năm bọn lưu vong nhà Minh đến Nam kỳ tới nay là ba trăm
năm rồi, thế mà nghĩa địa của họ ở Chợ Lớn chưa đầy, mặc dầu hiện nay số Hoa kiều
ở đây, kể cả những người mới nhập tịch, lên đến gần 9 trăm ngàn người (Tạp chí
Bách khoa, tháng 2.1970).
Tại sao nghĩa địa nhỏ thế mà không đầy? Là tại họ không có ở
lại. Kiếm được một số tiền là họ dông đi. Rồi chết bất thình lình, vợ con họ,
hoặc Hội di hài cũng sẽ cho hốt cốt đưa về Tàu.
Đó là chuyện đời nay mà họ tìm được lạc thú ở đây với một cộng
đồng Trung Hoa lớn, có đủ thứ đồ cần dùng cho họ, có đủ bạn bè thân hữu cho họ,
chớ xưa kia, thiếu thốn tất cả, chắc họ không ham tới lắm đâu, và nhứt là có dại
dột tới, họ không ham ở lại lắm đâu.
Tóm lại, không hề có người Tàu di cư đáng kể sang đây dưới thời
Bắc thuộc. Nhiều quyển sử cũng đã nói như sử gia Nguyễn Phương nhưng không quyển
nào chứng minh được sự kiện ấy cả. Có quyển lại chỉ nói mơ hồ mà không buồn chứng
minh gì hết.
Mà nếu không có các cuộc di cư vĩ đại liên tiếp thì dân ở đây
là dân Lạc Việt hết, không thể nào họ biến mất để cho Hoa kiều trá hình làm Việt
Nam được.
Cái chuyện người Tàu di cư tự xưng là Việt Nam là một câu
chuyện vô lý động trời.
Cứ viếng Tân Gia Ba thì biết. Họ cứ tự xưng họ là người Tàu
đi lập quốc ở hải ngoại, chớ không hề tự xưng là người Mã Lai Á bao giờ hết.
Con người có bản chất thấy sang bắt quàng làm họ, chớ chưa hề
có trường hợp bắt quàng làm họ với kẻ bị trị. Tàu giỏi hơn Việt, Tàu giỏi hơn
Mã Lai Á, thì họ không mắc chứng điên mà phủ nhận nguồn gốc Tàu của họ để tự
xưng là Việt, là Mã Lai Á.
Bọn Tàu di cư tới đất Kinh Man, tuy không tự xưng là Tàu,
nhưng cũng không bao giờ tự xưng là Việt Kinh Man. Họ bày ra danh xưng mới là Sở,
nhưng phong tục và kỹ thuật thì cứ là phong tục kỹ thuật Tàu, chớ dân Sở không
theo phong tục man di ở Kinh Man, trừ vài trường hợp nho nhỏ. Thế nên rồi nước
Sở mới được xem là một tiểu bang Trung Hoa một cách chính thức trong chánh phủ
trung ương đời Đông Chu.
Việt không phải là danh tự xưng mới bày ra sau như Sở, mà nó
là tên có đã từ lâu đời lắm mà Tàu cho là man di mọi rợ. Di cư Tàu ở Cổ Việt (nếu
có) hẳn đã bày ra một danh xưng mới như Sở, chớ sao lại tự xưng là Việt mà họ
hiểu là man di?
Bọn lai căn cũng quá ít vì bọn di cư vốn đã ít kia mà. (Nhiều
sử gia khác cũng đã nói là có đông người lai căn lắm).
Lần này ta phải dứt khoát về vấn đề này mới được, chớ không
thể bỏ qua như từ xưa đến nay, vì sử gia Nguyễn Phương đã mượn câu chuyện tưởng
tượng đó để lập ra một thuyết động trời rất là tai hại.
Con số chính thức về những đứa con hoang mà lính Mỹ bỏ rơi ở
Việt Nam, được công bố chính thức, đăng báo ngày 22.7.1971 là 5.000.
Những đứa con được thừa nhận là bao nhiêu? Đáng lý là phải ít
hơn, vì kẻ can đảm, dám chịu trách nhiệm, ít hơn. Nhưng ta cứ cho là cũng
5.000.
Vậy tổng số là 10.000. Mà lính Mỹ thì đóng tới nửa triệu.
Như thế thì một triệu lính chỉ sản xuất có 20 ngàn trẻ lai.
Ta thử tính xem bốn ngàn lính thú Trung Hoa cho ra đời bao nhiêu trẻ lai?
Một bài toán nhân sẽ cho thấy số lính Tàu tỉ suất có thể cho
ra đời con lai:
4.000 x 60 = 240.000
240 ngàn thì ít hơn nửa triệu quá xa, và số trẻ lai Tàu chỉ bằng
phân nửa trẻ lai Mỹ, tức 10 ngàn. Mười ngàn không thể làm nên đa số, bởi Tàu sản
xuất con thì Lạc Việt cũng sản xuất con, và con số non một triệu dân Lạc Việt
buổi đầu cũng tăng và cũng cứ làm đa số tuyệt đối ở xứ ta.
Có một sự kiện này mà sử gia Nguyễn Phương không chú ý tới.
Đó là danh xưng mà người Việt Nam xưa ở miền Bắc dùng để gọi người Tàu. Ta luôn
luôn gọi người Tàu là người Ngô, chứ không bao giờ gọi là Hán là Tần gì hết.
Nếu gọi theo trào đại của Trung Hoa thì hẳn danh xưng đó phải
được thay đổi, có khi gọi là Ngô, có khi gọi là Tống, là Nguyên. Đằng này
không. Như vậy chỉ có thể hiểu là ta gọi họ theo thói quen của ban đầu.
Và Ngô này chắc chắn là Ngô Tam Quốc chớ không phải Ngô Ngũ Đại
vì dưới thời Ngũ Đại, ta bị kẹt với Nam Hán, còn Ngô thì ở trên xa lắm. Ngô Tam
Quốc kiểm soát cả từ sông Dương Tử cho đến nước ta.
Nội loạn Tam quốc của Trung Hoa xảy ra vào những năm 213, 280
S.K.
Danh xưng mà ta để dành cho họ có thể đánh dấu với thời họ mới
di cư tới, tức là quá xa về sau này, quá xa với cái vụ trồng người của Tần Thủy
Hoàng.
Nhưng nói về Hoa kiều ở Việt Nam, có lẽ người miền Nam rất thạo
bởi 9 phần mười Hoa kiều sống tại miền Nam, chớ không phải tại miền Bắc và miền
Trung.
Tất cả những Hoa kiều ở miền Nam, cho dẫu tới đây dưới trào
Minh, trào Thanh hay trào Trung Hoa dân quốc sau 1911, đều tự xưng là Thoòng
dành tức Đường nhơn.
Hỏi họ tại sao không tự xưng là Hán dành vì thường
thì họ hãnh diện về nhà Hán hơn (họ xưng với các nước khác rằng họ là Hán tộc)
thì họ đáp rằng, khi họ ra đi, người trong nước họ, dặn phải tự xưng như vậy,
không vì hãnh diện nào, mà chỉ để cho người Việt Nam dễ biết họ là ai, bởi những
Việt Nam bắt đầu biết rõ họ dưới đời Đường.
Người Trung Hoa rất thích khoe khoang về nhà Hán của họ mà
khi họ phải hy sinh cái nhà Hán vĩ đại đó thì hẳn ta phải tin rằng họ nói sự thật
chớ không phải bịa chuyện, về cái vụ Đường ấy.
Và quả chúng tôi bắt được chứng tích không thể chối về sự kiện
nói trên.
Trong sách Khâm Châu Chi có chép: "Tướng Trường
Châu có quân mạnh, gồm được hết các quận Uất Châu (Quảng Tây) rồi đầu hàng nhà
Đường. Từ đó nước Trung Quốc mới có đường thông thương với Giao Châu và Ái
Châu".
Thế là rõ. Trước đời nhà đường, tuy cũng có đường, nhưng là
đường băng rừng của các đội viễn chinh, mấy trăm năm mới được sử dụng một lần,
nên quân lính đi qua rồi thì thành rừng trở lại. Chỉ sau cuộc đầu hàng nhà Đường
của tướng Trường Châu, kẻ đã mở mang Uất Châu, thì mới có đường đi thật sự và
dân Tàu mới di cư đến được.
Thế nên bọn di cư mới quen tự xưng là Đường Nhơn (Thoòng
Dành). Nhưng nhà Đường thì quá mới, vì man di Lạc Việt sắp thu hồi độc lập rồi,
trước khi bị bọn di cư làm cho thiểu số.
Nhưng hễ họ thu hồi độc lập rồi thì họ hạn chế di cư và không
bao giờ họ thiểu số cả.
Trên kia, chúng ta vừa nói đến danh xưng Ngô là xưng theo
thói quen buổi đầu. Nhưng đó là thói quen của ta. Thói quen của họ là Đường. Ai
nói đúng hơn ai?
Ta chỉ có thể hiểu là ai cũng nói đúng cả. Ngô là thời mà thường
dân Tàu bắt đầu tới đây nhưng chỉ thưa thớt thôi và Đường là thời mà họ bắt đầu
tới đông, nên mới nổi danh và được ta biết rõ, và được họ tạm dùng để chỉ căn
cước của họ.
Dầu sao, cuộc di cư bắt đầu cũng chỉ mới xảy ra lối năm 240
S. K., còn sự kiện tới đông hơn thì còn quá mới, tức năm 720 (Trùng điệp nhà Đường).
Chính vào đời Đường ấy mà theo đối chiếu của ông H. Maspéro,
mái nhà của người Trung Hoa bắt đầu cong quét lên y như mái nhà có hình khắc
trong trống đồng Đông Sơn, và đó là lối kiến trúc đặc biệt của chủng tộc Mã
Lai, chớ dân Trung Hoa từ đời Đường trở về trước, cất nhà y hệt như nhà Tây,
thượng cổ sử nóc không oằn, mái không cong quớt lên (xin xem chương Dấu vết Mã
Lai).
Nhưng cũng nên nhớ rằng sự "nhiều" đó, chỉ là tương
đối với đời Ngô, chớ việc Lư Tổ Thượng, người đời Đường thà chịu chết chớ không
đi làm quan đầu xứ ở Giao Chỉ cho thấy quá rõ rằng người Tàu chưa dám di cư vào
đất Việt, cả dưới đời Đường ấy nữa. Chúng tôi lại trích Hải ngoại kỹ sự do
chính sử gia Nguyễn Phương dịch, tài liệu này là tài liệu cuối thế kỷ XVII, tức
mới đây thôi, và chúng tôi ưa dùng nó vì đó là dịch phẩm của sử gia họ Nguyễn,
sử gia có thấy nó có giá trị nên mới dịch, thì không thể nói là sách ấy sai.
Xin trích một đoạn ngắn của bài khảo cứu của giáo sư Trần
Kinh Hòa đăng sau các chương của quyển "Hải ngoại kỹ sự":
"Trong thời gian lưu trú ở Hội An lần thứ hai, Đại Sán
thấy trong bọn Hoa kiều có hai người kế nhau tạ thế. H.N.K.S. chép rằng
"bản chất con người phương Bắc đến đây hay sanh bịnh…". Tuy chết sống
do mạng trời, nhưng người cũng có quyền di chuyển chẳng qua vì cớ Bắc Nam bất
phục thủy thổ mà ra cả".
Đó là chuyện xảy ra năm 1665. Thích Đại Sán lại là người Hoa
Nam, sống ở Hạ chí Tuyến từ lúc lọt lòng, tức ông và những người chết đã quen
được phần nào với khí hậu nhiệt đới của Việt Nam.
Chuyện gì xảy ra 1665 năm trước đó, năm mà Mã Viện sang xứ
ta, nhứt là họ Mã và đại đội binh mã của y đều là thứ người nói tiếng Trung Hoa
giọng Quan Thoại, tức người ở kinh đô Tàu mà đến, người của vùng khí hậu lạnh,
nhứt là kinh đô Tàu thuở ấy lại là Lạc Dương, Trường An, toàn là những nơi có
khí hậu lục địa, khác hẳn khí hậu lạnh mà có gió mùa ở Sơn Đông, tuy vẫn còn
quá lạnh nhưng hơi giống phần nào với khí hậu Giao Chỉ, chớ khí hậu lục địa
(climat continental) của các kinh đô Tàu xưa thì khác một trời một vực với khí
hậu ở dưới Hạ chí Tuyến? Cái câu chuyện gì đó rất là dễ biết, là Tàu Hoa Bắc
không sống được trong khí hậu bán nhiệt đới của Giao Chỉ, còn Tàu Hoa Nam thì
mãi đến đời Nguyên (theo Marco Polo) thì chưa thành Tàu hẳn để mà giỏi công nghệ
và thương mãi, dễ đi kiếm ăn xa được.
C. Bất tương đồng Hoa - Việt
I. Đối xử với các trào đại địch
Sử gia Nguyễn Phương cứ nhấn mạnh mãi về những tương đồng giữa
Việt và Trung Hoa để kết luận rằng ta là Tàu. Đó là tương đồng vay mượn. Chúng
tôi sẽ có một chương lớn về dấu vết Mã Lai trong xã hội Việt Nam ngày nay.
Nhưng trước khi trình các chứng tích đó và muôn ngàn chứng tích khác như là việc
đo sọ, việc đối chiếu ngôn ngữ Hoa-Mã-Việt, chúng tôi nghĩ rằng cần thêm một
chương cho những bất tương đồng lớn lao giữa Hoa và Việt để thấy rằng muốn tìm
sự thật lịch sử thì cần khách quan chẳng những làm một biểu danh sách tương đồng,
lại còn phải bổ túc công việc bằng biểu danh sách bất tương đồng nữa để mà cân
nhắc.
Vả lại, như đã nói, những tương đồng mà sử gia nêu ra, toàn
là tương đồng giả, tức nó chỉ là vay mượn mà thôi.
Riêng về những bất tương đồng, chúng tôi sẽ chỉ kể những điểm
lớn, chớ chuyện vặt thì bỏ qua, chẳng hạn y phục của ta có bao giờ giống y phục
của Tàu hay không, đó là điểm người khác thường đưa ra để cãi với sử gia nhưng
chúng tôi bỏ qua hết vì sử gia có thể bảo rằng tại người Việt gốc Hoa họ ăn mặc
khác người Hoa là để thích nghi với khí hậu.
Càng chứng minh được rằng Việt không là Trung Hoa, thì sự chứng
minh Việt là Mã Lai, càng được củng cố hơn lên.
Chúng tôi chỉ còn những mối biểu tượng lớn lao, còn bao nhiêu
cái khác nhau lặt vặt giữa Trung Hoa và ta, chúng tôi bỏ quên đi hết bởi một
khi chủng tộc chia thành hai dân tộc thì họ có thể làm khác nhau chút ít, những
sự khác nhau nhỏ mọn đó, không chứng tỏ được cái gì, chí như những thứ khác biệt
căn bản thì lại là chuyện khác rồi.
*
Thắng xong Chiêm Thành lần cuối cùng vào năm 1633, ta không
trực trị họ, biến xứ Panduranga thành trấn Thuận Thành, nhưng viên trấn thủ vẫn
cứ là người Chiêm Thành. Đó là một người trong quý tộc Chiêm thành hợp tác với
ta và lấy tên họ Việt Nam.
Tình thế đó cứ kéo dài như vậy trên hai trăm năm, có lần họ
theo Tây Sơn để đánh lại chúa Nguyễn, nhưng sau đó, dẹp Tây Sơn rồi, chúa Nguyễn
chỉ thay đổi quan trấn thủ mà thôi, cũng cứ là một người trong quý tộc Chiêm
Thành thân Việt, chớ không hề trừng phạt dân chúng bằng cách trực trị. Cho tới
năm Lê Văn Khôi nổi loạn tại Gia Định, viên trấn thủ Chiêm Thành theo Lê Văn
Khôi, sau đó Khôi bị dẹp rồi, vua Minh Mạng mới trực trị trấn Thuận Thành. Vua
Minh Mạng thấy rằng như thế là dòng Chiêm Thành bị dứt hẳn nên có lập đền thờ
các vua Chiêm Thành bên bờ sông Hương, gần chùa Thiên Mụ, đúng theo truyền thống
các vua chúa ta, hễ một trào đại diệt một trào đại khác rồi thì lập đền thờ ngay,
đó là giữ đạo thờ cúng tổ tiên hộ kẻ bị tuyệt tự. Truyền thống này bên Trung
Hoa chẳng những không có mà trái lại, bên ấy mỗi lần một trào đại lên là đốt
cung điện và thái miếu, quật mồ của trào đại trước, họ cố ý mà làm thế, vì lý
do tôn giáo: họ tin rằng làm như thế tức là phá cái phong thủy tốt của địch,
phong thủy tốt ấy mà bị tàn phá rồi thì địch không bao giờ cất đầu lên được nữa
cả.
Hạng Võ đã nói láo khi rêu rao rằng nhà Tần xa xỉ hại dân,
nên cần đốt cung điện Tần. Nhưng đốt xong rồi thì Hạng Võ, rồi tới các vua nhà
Hán lại xây cất cung điện khác, hóa ra dân mắc họa đến hai lần. Sự thật, đó là
chiến thuật phá phong thủy của địch.
Ta không có làm như thế, đời vua nào cũng vậy, mà còn trái lại
nữa. Nguyễn lập đền thờ các vua Lê, Lê lập đền thờ Trần, Trần lập đền thờ Lý,
hơn thế Nguyễn còn lập đền thờ Chiêm Thành, là ngoại tộc nữa.
Ai cũng nói rằng các vua chúa ta nô lệ Trung Hoa về nghi lễ
và phong hóa. Thật ra thì vua chúa ta xưa chỉ bắt chước tới mức nào đó thôi,
nhưng vẫn làm khác, theo tình cảm của dân tộc và vấn đề đối xử với các trào-đại-địch
nói trên là một bất tương đồng rất quan trọng, bởi ta cũng tin nhảm về phong thủy
như Tàu, nhưng vua chúa lại không nỡ làm như vua Tàu thì hẳn ta không phải là
Tàu, không còn cãi vào đâu được nữa.
Tới đây ta lại tự hỏi tôn giáo thờ cúng tổ tiên có thật quả
là tôn giáo hay không, hay Tàu vay mượn của ta. Hiện miền Nam còn có một triệu
người Tàu mà chúng tôi sống giữa một khu phố toàn là Hoa kiều ở Cầu Ông Lãnh,
chúng tôi lại giao thiệp với người Tàu Chợ Lớn rất thường. Thế mà vào nhà họ,
chúng tôi không bao giờ thấy họ có bàn thờ tổ tiên, trong khi đó thì trong các
gia đình Việt, bàn thờ tổ tiên chiếm vị trí sang trọng nhứt, lại dùng đồ thờ
cúng mắc tiền nhứt. Người nghèo dám hy sinh cơm áo để sắm bộ lư đồng, để đóng một
cái bàn thờ bằng danh mộc khảm xà cừ, còn người Tàu thì tuyệt đối không có bàn
thờ tổ tiên.
Họ cũng không có cúng kiến tổ tiên, không hề làm đám giỗ như
ta, trong khi mỗi ngày họ cúng đến hai ba lần những thánh thần bá vơ nào đó,
cúng cả mùa màng thời tiết nữa, như cúng Hạ chí, Đông chí, Xuân phân, Thu phân,
thần cửa, thần bếp, thần cầu xí, thần tài, cúng cả một người đàn bà bá vơ là bà
Thiên Hậu.
Đó là sự thật mà chúng tôi thấy tận mắt từ 50 năm nay, tại miền
Nam nước Việt. Còn đây là sự thật tìm thấy trong sách Tàu.
Xét tôn giáo của Trung Hoa cổ thời, không thấy nói có việc thờ
cúng tổ tiên trong dân chúng bao giờ. Sách Lễ ký, thiên Khúc lễ hạ chép:
"Thiên tử thờ cúng trời đất, thờ cúng bốn phương (thần đất tại địa
phương), thờ cúng ngũ tự; đại phu thờ cúng ngũ tự; kẻ sĩ thờ cúng tổ
tiên".
Không có nói đến lê thứ, tức lê thứ không có thờ gì hết mà
cũng không được dạy cho thờ gì hết.
Ông H. Maspéro bắt được tài liệu cho biết rằng lê thứ cũng thờ
thần đất đai với các lãnh chúa, cho tới cuối đời Chu thì các lãnh chúa diệt
nhau, trở thành quá lớn về đất đai, quá xa dân chúng nên dân chúng cũng không
còn đi theo các lãnh chúa được để mà tế lễ thần đất đai ấy. Thế rồi họ bỏ luôn
việc thờ cúng, không có cái gì khác thay thế cho nữa cả, cho đến khi Lão giáo tổ
chức hẳn với hệ thống tế lễ rồi thì dân chúng mới lại có tế lễ nữa.
Câu trên đây không có ý nói rằng thiên tử, chư hầu và đại phu
không thờ cúng tổ tiên nhưng lại cho thấy rõ rằng dân chúng không thờ cúng tổ
tiên.
Nhưng dân chúng Việt Nam lại thờ cúng tổ tiên, dân chúng Chàm
cũng thế (nhưng không quá quan trọng như Việt Nam).
Việc đối xử với các trào đại địch của vua chúa ta, và việc thờ
cúng tổ tiên cho thấy rõ hai điều:
Tôn giáo thờ cúng tổ tiên là của ta chớ không phải của Tàu,
và kẻ vay mượn là Tàu chớ không phải Việt.
Ta không phải là Tàu, chính vì ta trọng cả tổ tiên của địch
trong khi Tàu thì đào mồ cuốc mả của địch.
II. Không chôn sống người
Cuộc khai quật kinh đô Trào Ca của vua Trụ năm 1934 ở An
Dương (Hà Nam) đã cho bằng chứng không thể chối rằng các vua chúa Trung Hoa
chôn sống cung phi và nô bộc theo họ.
Có lẽ quan to của họ cũng đã làm như vậy. Tục ấy mãi cho tới
đời vua Minh Hiếu Tông mới thấy sử nhà Minh nói là được bãi bỏ vĩnh viễn.
Vua chúa và quý tộc Việt Nam không hề tàn nhẫn như thế bao giờ.
Chỉ có một ông vua ta, vua Lý Nhân Tôn là đã chôn sống Hoàng
hậu và 72 cung phi, nhưng không chôn theo ông ấy, mà chôn lúc ông ấy mới lên
ngôi, chôn để trừng trị tội âm mưu của họ, bà Hoàng hậu ấy không phải là vợ của
ông mà là vợ chánh của vua cha, còn ông là con của vợ thứ. Mẹ ông là Ỷ Lan phu
nhân bị ngược đãi vì ghen tuông, bị đày ải, nên ông mới báo oán mạnh tay như thế.
Nhưng kẻ bị chôn sống cũng chôn ở đất hoang dã nào chứ không phải là chôn chung
trong mộ phần của vua cha là Lý Thánh Tôn. Đó là xử tử tội nhân chớ không phải
chôn oan vì lý do tôn giáo như Tàu.
Nhưng đó là trường hợp độc nhứt, không tiền khoáng hậu trong
sử ta.
III. Bí mật phòng trung
Hai chủng tộc khác nhau, có thể vay mượn đủ thứ của nhau,
không trừ thứ nào hết, nhưng trừ một món. Đó là những bí mật phòng trung.
Chuyện bí mật phòng trung là chuyện mẹ nói với con, ngoài ra
không ai có thể biết được hết, kể cả người trong họ.
Như vậy bí mật phòng trung là chứng tích chắc chắn hơn hết để
phân biệt các dân tộc, họ giống nhau về gì thì giống nhưng cứ khác nhau về những
việc mà họ không thể biết được để mà vay mượn.
Câu chuyện dưới đây, không lấy ở sách vở nào ra hết, nhưng
quý vị có thể kiểm soát bằng một cuộc điều tra kín đáo.
Một bà đỡ thường đi tiếp sanh cho phụ nữ bình dân Tàu, có cho
biết rằng họ luôn luôn ngồi để đẻ con vào trong một cái chậu bằng gỗ (lâm bồn),
ngăn thế nào cũng không được. Họ chỉ rước bà đỡ lấy lệ để nhờ khai sinh cho con
họ thôi, vì họ rất ngại chầu chực cửa công về thủ tục (dĩ nhiên là không kể phụ
nữ theo lối mới, đi nhà hộ sinh, chịu theo phương pháp khoa học).
Người đàn bà Việt Nam quê mùa nhứt, cũng chẳng bao giờ đẻ như
vậy, mà nhờ bà đỡ thật sự, không có bà đỡ thì họ nhờ các bà mụ vườn, dầu sao, họ
cũng không hề để cho tạo hóa tự làm việc ấy, và họ nằm trên giường cho bà mụ tiếp
sanh. Nhà nghèo rớt mồng tơi, ông chồng cũng bỏ công ra tạo cho vợ một cái giường
đẻ bằng tre với một cái vạt giường hẳn hoi.
Xem ra thì sau non ba ngàn năm người Tàu chỉ tiến bộ có một
bước rất ngắn mà thôi. Sử Tàu chép rằng mẹ của Khổng Tử cũng đã đẻ ra ngài y hệt
như phụ nữ Trung Hoa ngày nay, tức ngồi mà tự đẻ trên một cái vịm (bồn) bằng đất
nung.
Họ có tiến bộ là ngày nay họ đẻ trong nhà, trên một cái thùng
gỗ, còn bà Khúc Lương Ngột thì phải vào hang núi mà đẻ vì người Tàu xưa cho rằng
máu đẻ là xú khí làm ô uế ngôi nhà.
Và cái thùng gỗ cũng giúp cho đứa trẻ ít đau đầu hơn là vịm bằng
đất nung của thời xưa.
Đó là bí mật phòng trung mà không nhà khảo cứu nào ngờ đến,
và còn nhiều bí mật phòng trung khác nữa, mà chúng tôi không dám chép ra đây, tất
cả đều chứng minh rằng ta và Tàu khác nhau quá xa về phong tục.
Hai chứng tích trên đây, có thể coi là chứng tích quyết định,
bởi đó là chuyện kín mà dân tộc này khó lòng mà bắt chước dân tộc khác, bởi
không thấy được phong tục kín của họ, không có tánh cách phổ biến, để người
khác vay mượn. Đó là của riêng của một chủng tộc. Chủng tộc khác không thể có
được.
IV. Cái gối
Người Trung Hoa nằm gối gỗ, gối tre, gối sành, nhà giàu thì nằm
gối bằng sứ Giang Tây. Tưởng trên thế giới, không có dân tộc nào mà có thói
quen gối đầu bằng vật cứng như vậy, giữa thành phố, giữa làng mạc. Người khác
chỉ bắt buộc phải gối như thế khi nào lạc bước giữa rừng mà thôi.
Nhà nghèo của ta cũng được nằm gối rơm, tức gối may bằng đệm,
bên trong dồn trấu.
Và đây là một bí mật phòng trung nữa, có thể nói ra được, là
phụ nữ Trung Hoa dùng đến hai chiếc gối đầu chớ không phải một, vì mái tóc của
họ búi quá công phu, và tốn tiền (phải nhờ thợ) nên các phụ nữ giàu có cũng sợ
hư, luôn luôn để lọt búi tóc giữa hai chiếc gối đầu làm bằng vật liệu cứng, vì
vật liệu mềm có thể bị đè bẹp, phình ra, lấn vào trong, chạm phải búi tóc.
V. Nuôi con
Người bình dân Trung Hoa cho con họ ăn cơm ngay sau khi sanh
chúng nó ra, mà không nhai để mớm, không nghiền, không tán như ta, cứ để y
nguyên hột cơm, đút từng hột cho một đứa bé mới chào đời chỉ có hai ngày thôi
(dĩ nhiên là cứ không kể đến những phần tử theo vệ sinh Âu châu).
Người mình, có quê mùa dốt nát tới đâu, cũng chỉ cho con ăn
cơm sau tháng đầu mà thôi, mà đó là cơm do các bà mẹ nhai rồi mớm cho con, chớ
không phải cơm nguyên hột.
VI. Mặc quần, đội nón, dùng khăn
Người đàn ông Trung Hoa mặc quần trước đời Hán. Đàn ông Việt
Nam thì cho đến đời Ngũ Đại, chưa mặc quần (theo Annam chí nguyện của
Cao Hùng Trưng). Có lẽ họ mặc sà rong như hầu hết người Mã Lai ngày nay.
Nhưng cứ bằng vào thuyết của sử gia Nguyễn Phương thì vào thời
Ngũ Đại, người Tàu đã tràn ngập xứ này rồi, không còn người Lạc Việt nữa, thì
sao đám người Tàu ấy lại không mặc quần thì thật khó hiểu.
Nông dân Hoa kiều ở miền Nam luôn luôn đội nón đan bằng máy
và từ chối nón lá của nông dân ta. Cái nón mây của họ cũng khác nón mây của phu
phen Hoa kiều ở thành phố. Nón có khoét lỗ ở giữa, đầu người đội nón phơi gần
trọn vẹn dưới nắng. Họ chỉ cần che mắt, che mặt, chớ không che đầu.
Họ vẫn có khăn như ta, nhưng không dùng để chít đầu mà dùng về
đủ thứ việc. Đó là khăn ích bụ, hình chữ nhựt, ba tấc Tây, trên tám tấc. Dầu
sao khăn cũng là một món y phục của họ, sự kiện ấy cắt nghĩa sự hiện diện của
danh từ Cân trong ngôn ngữ của họ, nhưng lại đồng thời chứng minh rằng họ dùng
khăn khác ta quá xa. Ta dùng khăn để chít đầu, còn họ thì dùng khăn như Tây
dùng cái tablier.
Khoa dân tộc học ngày nay thiên về quan sát cảnh đang sống của
các dân tộc hơn là nghiên cứu sách vở và những gì chúng tôi nói ra trong chương
phong tục này, đều là những ghi nhận quan sát tại chỗ từ non nửa thế kỷ này, nhứt
là về cái khăn của người Trung Hoa.
Có thế nào người Trung Hoa sang đây rồi nhiễm phong tục man
di, bỏ mũ, chít khăn hay không? Về lý thuyết thì rất có thể, nhưng theo thực tế
thì không, bằng vào những quan sát tại chỗ ghi chép trên đây.
Họ không nhiễm tục man di vì tự tôn mặc cảm văn minh hơn ta,
mà cũng vì những tục ấy không đem lại cho họ tiện lợi nào hơn trong đời sống của
họ hết. Chít khăn không lợi hơn đội mũ chút nào cả.
VII. Dâm phong
Cả hai bộ sách viết cách nhau 1.400 năm, Hậu Hán thư của
Phạm Việp và Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán đều chê nước ta nhiều
dâm phong. Mặc dầu họ dùng danh từ sai bét, sự kiện họ tả rất đúng sự thật, và
sự thật đó chỉ xảy ra ở xứ ta chớ không xảy ra ở bên nước Tàu năm 1911.
Thầy chùa Thích Đại Sán viết: "Kinh Lễ định phu phụ hôn
nhơn, nam lo việc ngoài, nữ lo việc trong. Phong tục nước Đại Việt lại trái hẳn,
phụ nữ tự do qua lại mua bán, cha mẹ chồng con chẳng lấy thế làm xấu hổ, hiềm
nghi".
Y cho đó là dâm phong.
Trai gái lấy nhau, không theo nghi lễ Tàu, cũng bị Hậu
Hán thư cho là dâm phong.
Dầu sao, đó cũng là bằng chứng ta khác họ. Cho tới năm 1911,
bên Tàu, đi chợ mua ăn, cũng là đàn ông đi, còn nữ thì khuê môn bất xuất.
Họ gán sai cho ta phong tục dâm dật, đành thế; nhưng sự kiện
hiển nhiên là phong tục ta khác họ quá xa, gái tự do đi đứng, không bị nhốt
theo lời dạy của Kinh Lễ đời Chu, mặc dầu ta học Kinh Lễ rất thuộc bài.
Thế thì còn gì sự tương đồng giữa phong tục gốc của hai dân tộc?
Mãi cho đến ngày nay mà trong Chợ Lớn, kẻ đi chợ mua ăn cũng
cứ là đàn ông Tàu, chớ không phải đàn bà, mặc dầu người ở đây đã chịu ảnh hưởng
Tây phương nhiều lắm rồi.
Tưởng sử gia Nguyễn Phương nên đi du lịch ở nước Tân Gia Ba
chuyến mới được. Ở đó dân Hoa kiều tới đông, đẩy người bổn xứ thành thế thiểu số,
rồi dựng lên quốc gia Tân Gia Ba, y hệt như cái nước Giao Chỉ của Đinh Bộ Lĩnh
mà sử gia đã tưởng tượng ra (nhưng thật ra thì không đúng sự thật).
Sử gia sẽ thấy rằng toàn dân Tân Gia Ba đều nói tiếng Tàu giọng
Phúc Kiến.
Rồi sử gia về Sài Gòn, nghe lại xem dân Huế, dân Sài Gòn có
nói tiếng Tàu giọng Phúc Kiến, Quảng Đông hay chăng. Sử gia quả quyết rằng dân
Việt Nam cũng nói tiếng Tàu.
Rồi mời sử gia đọc chương Ngôn ngữ tỷ hiệu ở sách
này mà xem, sử gia sẽ thấy rằng dân ta nói tiếng Mã Lai, kể cả sử gia cũng
nói tiếng Mã Lai nữa.
Trong câu ngắn sau đây: "Ta lấy nỏ bắn chim, làm rụng
lá", cả tám tiếng đều là tiếng Mã Lai đấy, tiên sinh ạ!
D. Nước Tây Âu mơ hồ và Tượng Quận bí mật
Ở chương "Nam Việt, một đợt thực dân dọn đường",
sử gia Nguyễn Phương trích Tư Mã Thiên cho rằng Tần Thỉ Hoàng đã đưa côn đồ tù
tội đến Tượng Quận để đẩy dân bổn xứ vào thế thiểu số.
Ba nhà bác học H. Maspéro (1918), L. Aurousseau (1923) và Trần Kinh Hòa (1960)
đã cố chứng minh rằng nhà Tần có đánh và đã chiếm được Cổ Việt, và Tượng
Quân đích thị là Tây Âu và Cổ Việt.
Câu sử về trồng người của Tư Mã Thiên được rất nhiều cổ thư
khác xác nhận và ta có thể xem là đúng sự thật. Nếu thuyết của hai ông Tây và
ông Tàu mà đúng thì hóa ra thuyết di cư ồ ạt của sử gia Nguyễn Phương được củng
cố thêm rất mạnh, dựa vào Tư Mã Thiên và ba ông kia.
Thật vậy, nếu:
Tây Âu = Cổ Việt Nam
Tượng Quận = Cổ Việt Nam
Mà: Tần Thỉ Hoàng trồng người ở Tây Âu và Tượng Quận.
Thì: Thuyết Nguyễn Phương rất đúng.
Nhưng các ông Tây và ông Tàu đều sai.
Có một môn học rất quan trọng đối với cổ sử học, đó là môn địa
lý cổ thời. Nhưng xem ra người Trung Hoa và ta, rất mơ hồ về môn đó.
Các sử gia ta xưa coi thường khoa địa lý cổ thời quá sức nên
gây rối trong sử học, và tinh thần đó, tới nay còn sống sót trong quá nhiều cuốn
sử.
Viết về quan mục tên là Chu Ngang (178 S.K.) tham nhũng nên
dân nổi loạn, nhà danh nho Lê Văn Hưu, tác giả Đại Việt Sử Ký, than:
"Những viên thứ sử Tàu không có nết thanh liêm, làm cho (dân ta) khốn đốn,
đất Bắc Kinh xa thẳm, không còn kêu vào đâu được".
Ấy, làm gì kêu với Bắc Kinh được vào năm đó, vì thành Bắc
Kinh, cho tới 1086 năm sau, mới được xây cất:
Không ai buồn tìm nước này ở đây, nước kia ở chỗ nào và bằng
mấy mươi quyển sử lớn đều cho rằng Tây Âu là nước Việt Nam và Tượng Quận nằm
trong đó, bởi sử Tàu gọi là dân Tây Âu bị Tàu đánh là dân Việt.
Họ quên mất rằng có tới Bách Việt lận, và khi mà Tàu nói đến
Việt, không hẳn nói đến ta.
Các ông Tây cẩn thận hơn, nhưng vì các ông làm việc cho vấn đề
Tây Âu và Tượng Quận sai nguyên tắc khoa học, nên rồi không ai định được vị trí
của Tây Âu, Âu Lạc và Tượng Quận cho đúng hết.
Vị trí Tây Âu và Tượng Quận bị sử Tàu, sử Việt lầm nát hết,
nhưng mỗi sách lầm một cách khác.
Nhà Tần diệt ba quốc gia, xin nhớ là ba chớ không
phải bốn, là Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu, rồi chia các quốc gia đó thành
quận, huyện. Ở Đông Âu và Mân Việt thì rõ ràng, còn ở Tây Âu thì rối nùi.
Mà sở dĩ có rối ren ở Tây Âu là tại Chu Khứ Phi và Cố Hy
Phùng nói bướng rồi ta và Tây lặp lại, chớ cổ sử Tàu thì rất rõ ràng, nhưng
không ai chịu đọc kỹ hết.
Sử Tàu chép rằng họ chia nước Tây Âu thành ba quận: Nam Hải,
Quế Lâm và Tượng Quận.
Nên nhớ, họ chỉ chia nước thứ ba mà họ chiếm
được thành ra ba quận, chớ không hề chia nước thứ tư vì cái lẽ giản dị là họ
không có chiếm được cái nước thứ tư đó.
Nhưng các ông lại lầm lẫn thô sơ mà cho rằng cái nước thứ ba ấy
là nước của ta.
Một cậu học trò lớp dự bị mà thông minh cũng biết được rằng
không thể nào mà nước Tây Âu là nước của ta, khi cậu ấy thấy mấy cái quận trong
đó. Nội một quận Nam Hải không mà thôi, tức tỉnh Quảng Đông nay, cũng đã to hơn
nước của vua Hùng Vương và vua An Dương Vương rồi, thì nước ta làm thế nào mà
chứa nổi đến ba cái quận khổng lồ là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận được?
Nhưng các ông cứ tin là thế vì các ông tin rằng nước của vua
Hùng và vua An Dương Vương to lắm, ăn lên tới trên xa, và hai tỉnh Quảng Đông,
Quảng Tây là của ta (thế nên Nguyễn Huệ mới định đòi lại hai tỉnh đó).
Vậy, nay ta học lại một cách khoa học xem Lưỡng Quãng có phải
là của ta hay không, mặc dầu có tới một trăm bằng chứng rằng nước của vua Hùng
Vương chỉ là Bắc Việt nay mà thôi.
Nam Hải là tỉnh Quảng Đông ngày nay, Quế Lâm là tỉnh Quảng
Tây ngày nay mà cổ dân còn sống sót ở đó đến ngày nay: đó là người Thái. Như thế,
nếu có bí, có lầm thì chỉ lầm về Tượng Quận mà thôi. Ấy thế mà bao nhiêu học giả
danh tiếng lại cứ nói và cứ cố chứng minh rằng nước Tây Âu là cổ Việt Nam.
Trước hết, xin nói rõ rằng Tàu gọi nước đó là Tây Âu, mà
không hề gọi Cổ Việt Nam là nước Tây Âu. Vậy là có hai nước chớ không phải là một.
Còn dân? Ở một chương sau chúng tôi sẽ trưng bằng chứng dân Tây Âu là dân gì,
thuộc chủng nào, hiện nay tồn tại hay không. Họ tồn tại và không phải là Việt
Nam, vì thế mà Tàu mới chỉ họ bằng tự dạng Việt bộ Mễ còn chỉ ta bằng tự dạng Việt Vượt.
Người Việt lầm thì còn hiểu được vì trong ngôn ngữ ta Việt
nào cũng viết như nhau, chí giáo sư đại học Trần Kinh Hòa là người Trung Hoa, lại
cũng lầm thì thật là khó hiểu, khi mà cổ sử Tàu viết hai chữ Việt khác nhau.
Tây Âu hay Âu Việt viết với tự dạng thứ nhì, còn Việt Nam thì viết với tự dạng
thứ ba và thứ tư, thì làm thế nào mà
Tây Âu = Cổ Việt Nam
cho được.
Nhưng ta tạm dẹp Tây Âu lại, để nói về Tượng Quận trước đã.
Chính trí thức Tàu những đời Đường, Tống, Minh, Thanh cũng chẳng
biết Tượng Quận ở đâu, chỉ biết rằng nó là phần đất thứ ba của nước Tây Âu, sau
hai đất Nam Hải và Quế Lâm.
Vì không biết nên họ gán ghép liều. Thoạt tiên, một ông Tàu,
Cố Hy Phùng, cho rằng Tượng Quận là Nhựt Nam. Nhưng viết liều như vậy đã là tạo
ra một mâu thuẫn lớn quá rồi, nhưng không hiểu sao cứ sách này chép lại sách
khác y hệt như vậy mà truyền cho tới ngày nay.
Quả thật thế, trong việc phân chia đó, ta không thấy có mặt
Giao Chỉ và Cửu Chơn, Nam Hải là Quảng Đông, Quế Lâm là Quảng Tây. Thế nhà Tần
có chiếm Giao Chỉ, Cửu Chơn hay không? nếu có thì hai nơi đó biến đi đâu mà
không có mặt trong cuộc phân chia thành quận, huyện?
Bằng như không có chiếm thì làm thế nào nhà Tần lại chiếm Nhựt
Nam ở dưới xa, để đặt thành Tượng Quận?
Các ông Tàu không bao giờ suy luận như vậy hết. Các ông Việt
cũng thế. Các ông Tây thì biết, nhưng suy luận xong, các ông Tây bí quá. Làm thế
nào mà không có chiếm Giao Chỉ lại chiếm được Nhựt Nam để đặt tên là Tượng Quận,
trong khi nhà Tần chưa có thủy quân đáng kể?
Các ông Tây không dám bịa là An Dương Vương đã cho nhà Tần mượn
đường để đi chinh phục Nhựt Nam, vì sử Tàu không có chép điều ấy. Vả lại đó là
một giả thuyết quá vô lý. Tần Thỉ Hoàng tham bạo như vậy thì không thể nào y
tha cho An Dương Vương, chỉ mượn đường mà thôi
Đang bí, các ông Tây rất vui mừng mà gặp tay Tống Nho Chu Khứ
Phi gỡ rối cho các ông.
Chu Khứ Phi viết rằng: Tượng Quận = Giao chỉ
Hẳn họ Chu thấy các sử trước lầm một cách quá lộ liễu nên dời
Tượng Quận lên trên. Mà như vậy lại càng chứng tỏ rằng không ai biết Tượng Quận
ở đâu cả, mạnh ai nấy bịa.
Đến đời nhà Lê của ta thì Ngô Sĩ Liên đã điên đầu rồi nên hòa
giải bằng cách cho rằng Tượng Quận là xứ Annam, ông không dại mà nói quá
rõ cho sai, ông ngỡ gộp lại như thế thì không còn làm sao mà sai được, lại hữu
lý hơn ông Tàu là Cố Hy Phùng nhiều lắm.
Đến trào Nguyễn, các quan viết Khâm Định Việt Sử, thấy rằng
vẫn cứ còn lôi thôi về Tượng Quận nên lại phịa thêm ra nữa là Tượng Quận vốn là
đất của bộ Việt Thường trước đời Tần, bộ này nhà Tần hợp với Cửu Chơn làm ra Tượng
Quận.
Đó là dựng đứng lên cả một cái xứ, chớ cổ sử Trung Hoa chỉ
nói đến thị tộc Việt Thường, mà như vậy là tên dân chớ không phải tên
xứ và tên bộ nào hết, nhưng họ cũng không biết dân đó ở đâu, chỉ thấy dân đó tới
cống cho vua Chu Thành Vương nhưng vua ấy không nhận lễ vì Hoa chủng và thị tộc
đó chưa hề giao hiếu với nhau lần nào.
Đến cuối đời Đường, một huyện ở Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh)
mới được mang một tên mới, là huyện Việt Thường, người đặt tên chỉ đặt phất
phơ, chớ không phải là dựa vào sử liệu nào cho biết Nghệ An nay là Việt Thường
xưa. Vả lại nếu Tượng Quận là Nghệ An thì Giao Chỉ biến đi đâu chớ, trong việc
phân chia thành quận, huyện dưới đời Tần?
Chính Tư Mã Thiên cũng không biết thị tộc Việt Thường ở đâu
nên chi ông viết rằng dân ấy muốn về nước, phải đi ngang qua nước Phù Nam, rồi
nước Lâm Ấp.
Cứ theo cái hướng mà Tư Mã Thiên chép thì trên lộ trình của
dân Việt Thường, họ gặp Phù Nam trước, mà như vậy thì nước Tàu phải ở… bên Tây.
Nhưng làm thế nào mà nước Tàu lại ở bên Tây được?
Vào thời Tư Mã Thiên thì người Tàu đã biết Phù Nam và Lâm Ấp
rồi, thế mà nhà sử lớn của họ còn sai lầm lớn lao như vậy thì hẳn không ai biết
Việt Thường ở đâu. Nhưng Tư Mã Thiên chỉ không biết chớ không có bịa.
Chính người đời sau là Trịnh Tiều mới bịa rằng câu chuyện ấy
xảy ra dưới đời Nghiêu Thuấn và cũng được rất nhiều sách ta chép lại.
Tóm lại, không có xứ Việt Thường nào cả, còn dân Việt Thường
mà Tư Mã Thiên nói đến thì không ai biết họ ở đâu, kể cả Tư Mã Thiên.
*
Nước Tây Âu và nước Âu Lạc cũng nát bét vì các ông Tàu, ông
Việt, ông Tây.
(Thật ra thì đó là các ông Tàu đời sau nói sai, chớ các ông đời
Hán có cho biết đúng sự thật).
Dư địa chí của Cố Hy Phùng lại khẳng định rằng Tây Âu =
Giao Chỉ.
Đại Việt Sử Ký và Khâm Định Việt Sử thấy cái
gương Tượng Quận đã hoảng rồi, nên tránh nói đến địa danh Tây Âu, mặc dầu đó là
quốc gia hùng mạnh nhứt ở đất Ngũ Lĩnh vào thuở ấy, đương đầu với quân nhà Tần
suốt ba năm và làm cho nhà Tần điêu đứng và giết được Tổng tư lệnh của quân đội
Tần nữa (Hoài Nam Tử).
Ngô Sĩ Liên hơi can đảm một tí, dám nói đến địa danh Âu Lạc
nhưng lại cho đó là quận Thượng Ngô, một quận mà các sách đời Hán đã cho biết một
cách đích xác rằng nằm giữa Quảng Tây và Vân Nam, ở trên lằn mức Phiên Ngung, tức
hoàn toàn ở bên Tàu, chớ không dính líu gì tới sông Nhị Hà và thành Cổ Loa cả.
Nhưng sau khi nói như vậy, ông liền viết ngay tức khắc một điều rất là mâu thuẫn:
Lộ Bác Đức để nguyên hai quận Giao Chỉ và Cửu Chơn (tức Âu Lạc)
nhưng lại lập ra ngay một quận mới là Thương Ngô.
Cái mới là kỳ dị! Âu Lạc là Thương Ngô ở dòng trên thì tại
sao dòng dưới Âu Lạc còn nguyên vẹn, mà lập thêm được Thương Ngô, với đất
nào? Nếu với đất khác thì Âu Lạc không phải Thương Ngô, còn như xén đất của Âu
Lạc, làm gì có được sự kiện để nguyên Âu Lạc?
Các sử gia ta xưa đều có đọc sử Tàu, cũng biết phê phán, biết
sử dụng sử liệu khá đúng cách, nhưng không hiểu sao về giai đoạn Tần - Hán thì
các ông lại quá bê bối.
Thí dụ về đảo Hải Nam, năm 111 T.K., Lộ Bác Đức không bao giờ
đánh chiếm được đảo Hải Nam cả, sử nhà Hán đã thú nhận như thế, đảo đó, sau năm
50 mới bị đánh lại lần nữa và mới chiếm được.
Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ viết rằng nhà Hán diệt Triệu Đà rồi
thì chia phương Nam làm 9 quận, trong đó có Châu Nhai, Đam Nhỉ (Hải Nam).
Sự thật thì nhà Hán chỉ chia phương Nam ra thành 7 quận mà
thôi vì Hải Nam chưa chiếm được, có đâu để làm 9 quận?
Tới cai trị ta, các nhà Nho Tây đọc sử Tàu và sử ta, quá nhức
đầu về những cuộc trống đánh xuôi kèn thổi ngược về địa danh, nó rất trái với
tinh thần thích biết đích xác của họ, nên họ đi tìm. Nhưng họ vẫn hoàn toàn thất
bại, vì hai nhà Nho Tây làm cái công việc đó, lại thiếu căn bản khoa học.
Sử gia Nguyễn Phương không hề có nói rằng mình hiểu như các
ông Tây. Nhưng ông trích câu sử của Tư Mã Thiên về việc trồng người làm gì? Nếu
không có mục đích ngầm chứng minh bằng tài liệu Tư Mã Thiên, qua trung gian của
H. Maspéro và L. Aurousseau.
Ở đây chúng tôi chỉ bác bỏ các ông Tây và các ông Tàu là đủ rồi,
như sử gia Nguyễn Phương có hậu ý chứng minh qua trung gian hai ông Tây thì sử
gia sẽ bị bác bỏ gián tiếp vậy.
*
Tưởng nên nói đến ông H. Maspéro trước vì ông là người phất cờ
tiên khởi đi tìm Tượng Quận, Tây Âu và Âu Lạc năm 1918, rồi sau đó thì một trận
bút chiến nổi lên, vô cùng sôi động giữa các nhà bác học Pháp, Hoa, Nhật, Việt.
Người xưa viết sai thì êm rơ, còn người nay thì bị rầy rà. Nhưng tất cả những
ông kể trên đây, cự nhau dữ lắm mà rốt cuộc ông nào cũng sai, lại còn làm rối
loạn hơn cổ nhân nữa, thế nên ta lại phải xét lại từ người cổ đến người kim.
Có đến hai Tượng Quận, Tượng Quận thứ nhứt do nhà Tần đặt ra,
Tượng Quận thứ nhì là Tượng Quận đời Hán, cũng đã tách làm đôi Tượng Quận đời Tần,
phía dưới, vùng giáp ranh Giao Chỉ, đặt tên là quận Thương Ngô, phía trên, giữ
tên cũ là Tượng Quận. Nhưng cái Tượng Quận đời Hán này thì vài mươi năm sau bị
nhập vào Quý Châu và Quảng Tây, tức bị bỏ luôn.
Ai muốn biết rõ những cổ thư nào đã cho biết đích xác như vậy,
xin xem bộ tạp chí Lục đồng biệt lục xuất bản tại Tứ Xuyên, bộ 1946
thì rõ.
Trong trận thế chiến thứ II, Tưởng Giới Thạch chạy vào đó để
kháng Nhật, trí thức Trung Hoa cũng chạy theo và những tạp chí văn hóa lớn đều
xuất bản ở Tứ Xuyên. Nhà bác học Trung Hoa Lão Cán đã nghiên cứu kỹ về hai Tượng
Quận đó, bằng vào các cổ thư Trung Hoa đời Hán.
Thế mà các nhà nho ta, thuộc làu Bắc sử, sao cứ cho là Tượng
Quận = Giao Chỉ.
Xét ra thì lý do lầm lẫn này bắt nguồn ở hai nghĩa khác nhau
của danh xưng Giao Chỉ. Lộ Bác Đức diệt nước Nam Việt của Triệu Đà rồi thì gộp
tất cả các thuộc địa mới ở vùng đó lại và gọi chung tất cả các nơi là Giao Chỉ.
Tượng Quận quả thật ở trong cái Giao Chỉ đó. Nhưng đến đời
Tam Quốc thì Tàu tách đặt Giao Chỉ ra làm hai, phần trên lấy tên là Quảng Châu,
phần dưới là Giao Châu. Trong Giao Châu có Giao Chỉ (Bắc Việt), Cửu Chơn và Nhựt
Nam.
Các sử gia nói rằng Tượng Quận ở trong Giao Chỉ thì đúng,
nhưng mà quên mất rằng cái Giao Chỉ ấy có cả Lưỡng Quãng và một phần Quý Châu
trong đó, cứ bị ám ảnh rằng Giao Chỉ thứ nhứt ấy cũng cứ là Bắc Việt.
Có người còn có cảm giác rằng Lưỡng Quãng cũng là của Hùng
Vương và An Dương Vương nữa thì Giao Chỉ I hay Giao Chỉ II cũng đều là của ta.
Nhưng rồi ta sẽ thấy rằng Lưỡng Quãng là của dân khác và danh xưng Giao Chỉ I
không có trỏ Cổ Việt Nam.
Đời Tam Quốc tách rời ra làm hai, rất có lý do, vì hai thứ
dân khác nhau mà chịu chung một chánh sách thì rất khó cai trị.
Tất cả lầm lẫn đều do hai cái Giao Chỉ khác nhau ấy mà ra.
Danh xưng Giao Chỉ I thọ không tới hai trăm năm, còn danh
xưng Giao Chỉ II thọ quá lâu đời, nên tất cả đều cứ biết có Giao Chỉ II, và hễ
nói đến Giao Chỉ là nghĩ ngay đến Bắc Việt.
Như vậy không hẳn là Cố Hy Phùng và Chu Khứ Phi đã lầm, vì
hai ông đó nói đến Giao Chỉ I, chính Tây và ta mới lầm khi tưởng Giao Chỉ I là
Giao Chỉ II, và cứ cho rằng Tây Âu, Tượng Quận là đất của ta, quan niệm ấy chỉ
đúng có non hai trăm năm, rồi khi không còn đúng nữa, hay nói cho minh bạch
hơn, chỉ đúng vào hai thời mà tất cả thuộc địa mới của nhà Hán đều được gọi là
Bộ Giao Chỉ, mà không đúng khi danh xưng mất nghĩa là BỘ, chỉ còn là QUẬN mà
thôi, và quận ấy thu hẹp lại ở Bắc Việt chớ không gồm Tây Âu, Tượng Quận nữa.
Tưởng bài nghiên cứu của Lão Cán là đủ lắm rồi, vì ông ấy nói
có bằng chứng hẳn hòi, chớ không đoán mò, nhưng ta cũng cần xét qua các cuộc
đoán mò của Tây, Tàu, Nhật, Việt vì chúng tôi đã vạch ra sự khác biệt nhau về
hai danh xưng Giao Chỉ rồi mà có người cứ còn tin rằng:
Cổ Việt = Tượng Quận
Cổ Việt = Tây Âu
Sự sai lầm, trong đoạn này, thật là rối như mớ bòng bong vì
có nhiều sách ta vẽ một bức dư đồ mà trong đó từ Lưỡng Quãng cho tới Huế đều bị
mang một cái tên độc nhứt là Tượng Quận.
Họ quên mất rằng Tượng Quận chỉ là một cái quận nhỏ trong
vùng đất lớn ấy và nếu có lầm lẫn thì chỉ nên lầm lẫn bằng cách này là gọi là
vùng lớn đó là Giao Chỉ bộ, theo lối gọi sau năm 111 TK, chớ sử Tàu không có
bao giờ mà định vị trí Tượng Quận kỳ khôi như vậy.
Họ Chu và họ Cố nói rằng Tượng Quận, hoặc Tây Âu ở trong Giao
Chỉ là trong cái Giao Chỉ I đó, chớ không bao giờ nói rằng tất cả đều tên là
Tây Âu, tên là Tượng Quận.
Sử Tàu xưa viết tắt rất nhiều sự kiện khiến người không nhìn
kỹ vào đó, cứ gán chỗ này cho chỗ kia, họ không nói rõ là có đến hai danh xưng
Giao Chỉ thuộc vào hai thời kỳ cách nhau ba trăm năm, và Giao Chỉ I và Giao Chỉ
II khác xa nhau một trời một vực. Tuy nhiên, đọc kỹ vẫn thấy được sự thật ở
đâu.
Xin nhắc lại là danh xưng Giao Chỉ I, liền sau 111 T.K. gồm
có Tây Âu, Tượng Quận, còn danh xưng Giao Chỉ II thì chỉ trỏ có Bắc Việt mà
thôi. Khi sách vở nói Tượng Quận, Tây Âu nằm trong Giao Chỉ, là trỏ Giao Chỉ I
đấy, nhưng ta lại cứ bị Giao Chỉ II ám ảnh, Tây cũng thế, nên mới rối ren hết về
giai đoạn sử thời đó.
Sự lầm lẫn của ông H. Maspéro, mặc dầu quá rõ ràng, không thể
chối cãi được, nhưng không gây hại. Chính các ông khác, đặt Tượng Quận ở Việt
Nam mới là làm xáo trộn tất cả.
Thật là khổ cho các ông Tây, theo Chu Khử Phi thì:
Giao Chỉ = Tượng Quận
Theo Cố Hy Phùng thì:
Giao Chỉ = Tây Âu
Như vậy, theo phép tam-đoạn-luận thì:
Tây Âu = Tượng Quận
Nhưng sử Tàu lại bảo rằng:
Tây Âu = Nam Hải + Quế Lâm + Tượng Quận thì mới làm sao đây?
Vậy các ông chỉ còn một cách là cố nhét Giao Chỉ và Tượng Quận
vào trong đám địa danh rối loạn ấy, bằng cách ngụy tạo sử liệu, chớ còn biết
làm sao nữa bây giờ.
Chính tại L. Aurousseau mà rồi sau năm 1945 vài quyển sử Việt,
dựa theo ông để cho rằng:
An Dương Vương là tù trưởng Cao Bằng.
Trạch Hu Tống là Hùng Vương thứ 16.
Trạch Hu Tống là An Dương Vương.
Trước khi 72 trang bản thảo cứu của ông L. Aurousseau ra đời,
sử ta tuy cũng có sai về đoạn đó, nhưng chưa bao giờ loạn như từ L. Aurousseau.
Người Âu châu họ không chịu được cái gì mơ hồ nên ông L.
Aurousseau ý thức được tầm quan trọng của Tượng Quận, đả kích phái đối lập H.
Maspéro bằng câu sau đây: "Nếu Tây Thiểm Tây của ông H. Maspéro về Tượng
Quận mà được nhận thì hậu quả trầm trọng của thuyết ấy đối với sử địa cổ thời
Việt Nam thật tai hại".
Ta cũng y trước như ông L. Aurousseau, nhưng ta nói trái lại,
ta thay tên ông H. Maspéro bằng tên của ông L. Aurousseau vì thuyết của ông L.
Aurousseau sai hơn và làm rối loạn cả đoạn cổ sử ấy của ta.
Ông H. Maspéro đặt Tượng Quận ở bên Tàu, thì không có hại gì
cho sự hiểu lầm vè cổ sử Việt Nam hết, còn ông L. Aurousseau gọi Tượng Quận
là Bắc kỳ thì một sự kiện lịch sử lớn là nguồn gốc dân tộc Việt Nam
phải bị sai lạc.
Thuyết L. Aurousseau nguy hiểm hơn những lời khẳng định sai của
sứ Tàu và Việt vì Tàu và ta chỉ khẳng định suông, không được ai tin bao nhiêu,
còn ông L. Aurousseau thì có chứng minh, khiến người yếu bóng vía và thiếu
phương tiện kiểm soát, có khuynh hướng tin theo.
Năm 1923, cũng cứ trong tập kỷ yếu BEFEO, mà ông H. Maspéro
đã trình bày năm 1918, ông L. Aurousseau bỏ ra đến 72 trang báo lớn để tìm Tượng
Quận, Tây Âu và Âu Lạc, bằng cách ngụy tạo sử liệu:
Ông viết: "Mặt khác chúng ta biết rằng những cuộc
Nam xâm của nhà Tần bắt đầu từ năm 221 T.K. bằng cuộc viễn chinh đi qua Ngũ
Lĩnh và những cuộc Nam xâm ấy kết thúc năm 214 T.K. với sự thành lập ba quận
Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Hai quận đầu đã được biết và được định vị trí tại
tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (ngày nay), chỉ còn quận thứ ba, tức Tượng Quận.
Người ta lại biết, nhờ các cổ thư như Sử Ký và Tiền Hán thư,
thời điểm chinh phục những vùng đất Tây Nam (của Trung Hoa) như Quý Châu, Vân Nam
v.v. xảy ra sau Tần Thỉ Hoàng đến một thế kỷ. Những vùng này phải được đặt ra
ngoài vấn đề. Vậy thì, Tượng Quận chỉ có thể ăn vào những xứ Annam (ý tác giả
muốn chỉ Bắc Việt và Bắc Trung Việt). Chính những xứ này, cũng cứ theo cái cổ
thư trên, đã bị nhà Tần chinh phục vào thời 221-214.
Lối thấy trên đây được quyển Hoài Nam Tử, thế kỷ thứ Hai trước
Tây lịch xác nhận, trong cổ thư đó có chép trận đánh 221-214 trong đó một
lãnh chúa Bắc Kỳ tên là Trạch Hu Tống tử trận. Vậy không thể còn nghi ngờ
gì nữa. Cái quận ở cực Nam mà Trung Hoa đặt ra năm 214 giống hệt như các xứ
Annam bị chinh phục, cũng cứ bởi những người Tàu đó vào những năm 221-224. Thế
thì cái chữ Tượng chỉ cái quận đó, đích thị là cái tiếng Tàu đã được đặt cho
các xứ Annam năm 214".
Thoạt trông, coi có vẽ chặt chẽ lắm, chính vì thế mà ông L.
Aurousseau cứ nói mãi là "chắc chắn như vậy".
Nhưng thật ra thì rất sai, bởi không hề có cổ thư Trung Hoa
nào nói rằng "Các xứ Annam đã bị nhà Tần chinh phục vào thời
220-214" hết, như ông L. Aurousseau vừa nói. Riêng Lưu An, tác giả Hoài
Nam Tử, thì lại không bao giờ có nói rằng Trạch Hu Tống là lãnh chúa của Bắc
kỳ. Họ Lưu chỉ viết: "Người ta (tức quân Tần) giết được Trạch Hu Tống, vua
của nước Tây Âu". Ông L. Aurousseau tự ý thêm hai chữ "Bắc Kỳ"
sau địa danh Tây Âu, rồi nói: "Đó, Lưu An đã nói rằng Bắc Kỳ đã bị chiếm".
Đó là cuộc nguỵ tạo thứ nhất, bằng chữ nghĩa, lại bằng "phụ đề". Bằng
chữ nghĩa là sự tự ý thêm hai tiếng "Bắc Kỳ", còn bằng phụ đề là giải
thích càn rằng giết lãnh chúa, tức là chiếm nước. Giết lãnh chúa, không
bao giờ có nghĩa là chiếm nước, và sự thật thì theo Hoài Nam Tử, vua Trạch
Hu Tống bị giết rồi, dân chúng Tây Âu cứ tự động tổ chức để đánh lại Tần mà
không cần ông vua nào nữa cả.
"Sát Tây Âu quận Trạch Hu Tống, nhi việt Nhơn giai nhập
tùng bạc trung dử cầm thú xứ, mạc chỉ vi Tần cứ, tương tri kiệt tuấn dỉ vi tướng,
vi da công Tần nhơn, đại phá chí, sáng suốt Uất Đồ Thư phục thi lưu huyết sổ thập
vạn, nãi phát trương tức dỉ bị chi…".
Tạm dịch: "Quân Tần giết vua Trạch Hu Tống của người Tây
Âu rồi thì dân Việt bèn vào rừng sống với cầm thú, không theo Tần, lại cùng
nhau tôn các tay anh hùng để cho làm tướng và về đêm ra đánh quân Tần, và thắng
lớn, giết cả tổng tư lịnh Tần là Uất Đồ Thư, máu chảy, thây chất, có đến một
trăm ngàn quân Tàu bị sát hại v.v.".
Có lẽ ông L. Aurousseau ngỡ rằng quyển sách không danh tiếng
và khó tìm là quyển Hoài Nam Tử, không ai có, không ai được đọc, ông tha hồ
vẽ rắn thêm chơn. Chúng tôi đã phải nhờ người đi Đài Loan mua quyển Hoài
Nam Tử để xem lại, vì không tìm được sách ấy ở Sài Gòn. Làm gì có danh
xưng Bắc Kỳ vào thế kỷ thứ II? Nhưng chung quy cũng chỉ vì tất cả các ông và
ông L. Aurousseau đều không biết địa lý cổ thời của vùng Ngũ Lĩnh và không biết
chủng tộc học về các thứ dân ở vùng đó, nên mới gán liều lĩnh nơi này vào nơi
khác.
Hai yếu tố quan trọng ấy, địa lý cổ thời và chủng tộc học cổ
thời, sẽ được trình bày vài trang sắp tới với cả những cổ thư Trung Hoa không
viết liều.
Mặc dầu đã ngụy tạo hai lần, bằng chữ nghĩa và bằng giải
thích, ông Aurousseau vẫn chưa hạ nổi Tây Âu. Ông tiếp tục tấn công thêm nước
đó.
Và ông L. Aurousseau lại nguỵ tạo nữa. Trong câu sử trên, Lưu
An nói rõ ràng là Vua Trạch Hu Tống, nhưng ông Aurousseau lại dịch ra là lãnh
chúa (chef féodal).
Ông là giáo sư Hán văn thì không thể bảo rằng ông không hiểu
danh từ Quân. Nhưng ông dịch sai là cố ý ngụy tạo vậy.
Tàu rất kinh man di. Nếu man di có vua, họ cũng tìm cách hạ
vua man di xuống chức chúa, tức thấp hơn vua một bực. Khi mà một ông vua Tàu
(Lưu An, tác giả Hoài Nam Tử là một ông vua đấy) nhìn nhận rằng nước
Tây Âu có vua, thì ta phải tin Lưu An một ngàn phần trăm.
Tưởng cũng nên định nghĩa rõ về các danh từ Vương, Quân,
Chúa, Lãnh chúa v.v.
Cho tới đời nhà Chu thì chỉ có Vương, trên Vương không
có ai cả. Đó là Vua. Nhưng các lãnh chúa bên Tàu lại tự ý xưng Vương khi
nhà Chu suy vi. Đó là vua tiếm xưng, nhưng vua thật sự là vua nhà Chu vì quá yếu,
đành để vậy. Hóa ra trong nước Tàu có lu bù Vương. Đó là hình thức ly khai
thành nhiều tiểu bang vậy, và đã là tiểu bang thì có quyền tự xưng Vương.
Thí dụ: An nam quốc vương.
Chợt Tần vương, một ông vua của tiểu bang Tần, đánh dẹp cả và
thống nhứt nước Tàu. Đáng lý gì trở về chức Vương cũ, ông ta lại thấy Vương bị
hoen ố rồi, nên xưng Đế, và chia nước Tàu ra thành nhiều tỉnh gọi là quận,
không còn vua chư hầu nào hết.
Nhà Tần sụp, nhà Hán lên, thấy rằng nước Tàu quá lớn, nhiều tỉnh
hóa ra ở quá xa trung ương không đủ sức tự vệ mà cũng không đủ quyền uy để trị
dân, thế nên mới tái lập chế độ chư hầu nửa chừng, tức lập ra một số chư hầu lớn
và một số tỉnh nhỏ, các tỉnh ấy cũng cứ được gọi là quận như đời Tần.
Đứng đầu chư hầu, không còn là Công, Hầu, Bá gì nữa, mà
là Vương, vì Vương đã lên Đế rồi.
Vậy Vương là vua chư hầu của một tiểu bang Tàu một
trăm phần trăm. Thí dụ Lưu An, tác giả câu sử trên đây, là ông vua của vùng Nam
sông Hoài, với chức Hoài Nam Vương, tác giả của sách Hoài Nam Tử.
Nhưng lại còn có những kẻ đứng đầu những nước ngoại chủng mạnh,
thì mới gọi bằng gì đây? Không thể gọi họ là Vương, vì họ kém hơn Vương của Tàu
về sự quan trọng, dưới con mắt người Tàu.
Danh xưng Quân được dùng để gọi những ông vua ấy.
Thí dụ Tây Âu Quân là vua nước Tây Âu, một nước độc lập chớ không phải là chư hầu.
Nhưng vua của người ta thì Tàu lại không cho là xứng đáng tước Vương mà chỉ được
gọi là Quân mà thôi.
Thật ra thì trong nghĩa tổng quát ở bên Tàu, Quân cũng
cứ là vua y như Vương, Đế, nhưng riêng trong giai đoạn sử này thì Tàu
phân biệt như thế đó và sau nữa, các vua đời sau cũng phân biệt như vậy.
Còn Chúa? Chúa dùng để chỉ vua của những nước ngoại quốc
xa lạ, nó có nghĩa là vua một nước mà quyền uy không được người Tàu biết rõ là
to tới đâu, và người Tàu cũng không xem là đáng kể cho lắm.
Chúa và Quân chỉ khác nhau có thế, dưới đời Tần
cả hai đều được xem là vua, nhưng Tàu không xem trọng nên không gọi là Vương.
Và Quân vẫn được xem hơn Chúa vì có liên lạc với Tàu, có trao sử và có thể nộp
cống nữa, nhưng vẫn không hề là vua chư hầu.
Lãnh chúa thì khác xa. Lãnh chúa là chư hầu của bất kỳ
nước nào, Tàu hay man di đều là lãnh chúa. Nhưng lãnh chúa lại có thể không phải
là chư hầu của ai cả. Khi một quốc gia chưa thống nhứt, không có vương, quân,
chúa gì hết thì có thể có lu bù lãnh chúa, mỗi ông cát cứ ở một vu ngoài, như hồi
Thập nhị sứ quân ở nước ta.
Vậy khi L. A. dịch quân ra là lãnh chúa là ông ta
đã hạ Trạch Hu Tống xuống đến hai cấp.
Với mục đích nào?
Ở mấy mươi trang trước ông vừa chứng minh rằng Cổ Việt chỉ có
bộ lạc và tù trưởng, chớ không có vua Lạc Vương hay Hùng Vương gì hết. Nếu ông
nhận Tây Âu có Vua, Chúa thì ông không làm sao mà đồng hóa Tây Âu với Cổ Việt
được, nên ông phải dịch sai một cách tri tình. Lãnh chúa chỉ là một thứ tù trưởng
quan trọng: Khi xứ chưa lập quốc thì chỉ có thể có lãnh chúa của các bộ lạc mà
thôi.
Ông lại còn có mục đích thứ nhì nữa trong cuộc ngụy tạo thứ
nhì đó. Thuở ấy, vùng đó, Tàu nói rằng đang có hai ông vua, ông Trạch Hu Tống
làm vua Tây Âu, ông An Dương Vương làm vua Âu Lạc, mà ông đã trót nhập hai nước
lại thành một, mà một nước không thể có hai vua thì làm sao đây?
Nhưng nếu ông hạ Trạch Hu Tống từ vua xuống lãnh chúa thì ổn
thỏa, bởi một nước có thể có hai, ba, bốn, năm, sáu lãnh chúa. Chỉ phiền
là sử Tàu gọi hai ông đó là Vua. Ông L. Aurousseau phải thủ tiêu bớt cái ông
vua đã làm bối rối ông H. Maspéro, ông này quá bí, không buồn giải quyết bằng
cách nào hết.
Khi ông sếp chỉ là lãnh chúa, thì nước Tây Âu, không có vua,
không có chúa, và trái lại có hai, ba, bốn, năm lãnh chúa. Thế thì An Dương
Vương có thể là lãnh chúa thứ nhì, thứ ba, thứ tư, đồng hạng với Trạch Hu Tống.
Ông ta không bị thủ tiêu về thể xác, mà về chức vị.
Khi người Tàu nói đến hai ông vua là họ nhìn nhận có hai nước
khác nhau. Ông L. Aurousseau không muốn có hai nước khác nhau, muốn hiểu rằng
Tây Âu = Bắc Kỳ, thì ông chỉ còn có một cách là thủ tiêu bớt một ông vua vậy,
và hạ ông thứ nhì xuống chức lãnh chúa.
Nhưng tưởng nguỵ tạo thứ nhì này là thừa, khi ông đã gán cho
Lưu An mấy tiếng mà Lưu An không hề nói, thì đâu có cần hạ Trạch Hu Tống nữa:
Tây Âu = Bắc Kỳ
Và vì nguỵ tạo lung tung, nên ông lại mâu thuẫn với ông. Khi
Tây Âu có hai, ba, bốn, năm lãnh chúa thì không có chúa, mà hễ không có chúa
thì không có nước, vì các lãnh chúa chưa thống nhứt, mạnh ai muốn hành động ra
sao tuỳ thích.
Nhưng sử Tàu mà ông rất tin thì lại nói rằng có nước, nước
Tây Âu và nước Văn Lang, nước Âu Lạc thì thật là bí quá đối với ông.
Ông L. A. bèn cho rằng sử ta và sử Tàu bịa khi nói đến nước
Văn Lang và vua Hùng Vương hoặc Lạc Vương. Nhưng nãy giờ, ta chỉ thấy có ông là
bịa thôi.
Xem chừng không xong, sau khi nguỵ tạo đến hai lần, ông L.
Aurousseau lại phải nguỵ tạo nữa về Lạc Vương bởi sử Tàu là cái gì rất thiêng
liêng đối với ông, mà sử Tàu đã nói có Lạc Vương, ông không dám phủ nhận. Thế
nên ông lại nguỵ tạo nữa, ở một nơi khác, trong lối dịch Giao Châu ngoại vực
ký.
Cuốn sử độc nhứt có ghi chép về Lạc Vương là quyển Giao
Châu ngoại vực ký mà không hề có ai được đọc, chỉ thấy trích dẫn ở quyển Thuỷ
Kinh Chú và Quảng Châu ký mà thôi:
"Thuở xưa, vào thời mà xứ Giao Chỉ chưa chia thành quận
huyện, đất đã có ruộng Lạc, nước lên xuống sở ruộng tuỳ thuỷ triều. Dân làm ruộng
đó mà ăn. Vì vậy mà người ta gọi dân đó là dân Lạc. Lập ra Lạc Vương, Lạc Hầu để
coi quận huyện. Có nhiều Lạc Tướng mang ấn đồng giải lụa xanh.
Về sau, con vua nước Thục cầm đầu ba vạn quân, đến diệt Lạc
Vương, Lạc hầu và chế phục tất cả các Lạc Tướng, rồi con của vua nước Thục tự
xưng An Dơng Vươn. Đó là đất Âu Lạc vậy".
Ngày xưa người Tàu nói tắt nên khó hiểu lắm. Ai đặt ra Lạc
Vương?
Trong bản dịch chữ Pháp, ông L. Aurousseau tự ý thêm vào là
"Chánh phủ Trung Hoa đặt ra Lạc Vương".
Ông L. Aurousseau là giáo sư chữ Nho thì không thể bảo rằng
ông không biết ẩn chủ từ của động từ "Lập". Lập, ở đây là dân
chúng lập ra, hoặc ông ấy tự lập mình làm Lạc Vương, sau khi chế phục được các
tù trưởng chớ không thể nào mà là Tần Thỉ Hoàng mà ông gọi là "Chánh
phủ Trung Hoa". Ngày xưa, khi một đế quốc đánh chiếm một nước thì
họ diệt ông vua của nước đó ngay, chớ lẽ nào xứ đó đang không có vua họ loại
điên rồ mà lập ra một ông vua?
Nhưng ông L. Aurousseau lại gặp rắc rối nữa. Giờ, chỉ có một
nước theo ông, mà lôi ra đến ba ông vua, chớ không phải hai ông. Ông đã hạ Trạch
Hu Tống, nhưng xoay thế nào mà lại lôi ra thêm một ông thứ ba là Lạc Vương.
Thế thì phải thủ tiêu nữa vậy, thế nào mà rốt cuộc chỉ còn có
một ông là ông Trạch Hu Tống, lãnh chúa Bắc Kỳ. Thật ra, ông L. Aurousseau
không ghét ông nào cả, nhưng ai dễ thủ tiêu thì ông thủ tiêu.
Ông thứ ba là Lạc Vương lại được thủ tiêu, không phải thủ
tiêu thể xác, cũng không thủ tiêu chức vị như đối với Trạch Hu Tống, mà thủ
tiêu uy tín. Ông ta chỉ là bù nhìn mà Tần Thỉ Hoàng mới lập ra sau cuộc chinh
phục Bắc Kỳ.
Người ta tự hỏi Tần Thỉ Hoàng có mắc chứng điên hay không mà
huy động đến nửa triệu quân, một số quân quá lớn vào thuở đó để giết ông tù
trưởng Trạch Hu Tống rồi lại lập lên vua Lạc Vương, ông này chẳng có bà
con dòng họ gì với Tần Thỉ Hoàng hết.
Ông lại quên mất cả thời điểm. Khi Tần Thỉ Hoàng Nam xâm thì
Lạc Vương đã chết thành tro rồi vì bị An Dương Vương diệt từ lâu, khi cướp nước
Văn Lang, không cần phải thủ tiêu Lạc Vương làm chi nữa hết.
Nếu còn ai để cho ông bối rối thì chỉ còn có Trạch Hu Tống và
An Dương Vương mà thôi, không cần phải bắt Lạc Vương làm chi nữa hết.
Ông lại thủ tiêu An Dương Vương một lần nữa không về mặt thể
xác, mà cũng không về mặt uy tín, mà về mặt cho ông ta trễ đò. Ông lợi dụng hai
tiếng "về sau" để giải thích rằng Về sau có nghĩa rằng Tần
Thỉ Hoàng chết rồi An Dương Vương mới thừa cơ hội đánh Bắc Kỳ rồi đặt tên cho
nó là Âu Lạc.
Nhưng An Dương Vương vẫn không bị thủ tiêu, khi mà kẻ thủ
tiêu chỉ dùng khoé nguỵ tạo. Tần Thỉ Hoàng chết rồi thì Triệu Đà nổi loạn ngay,
mà Triệu Đà thì đang có binh mạnh trong tay, thử hỏi làm sao An Dương Vương phỗng
tay trên Triệu Đà được?
An Dương Vương là ai mà nhiều binh lực hơn Triệu Đà? Vả lại
vì nói thế, nên ông chỉ cho An Dương Vương trị được có hai ba năm. Lại mâu thuẫn
nữa! Hai ba năm thì làm sao có đủ thì giờ xây thành Loa.
Ông L. Aurousseau khi thì nói rằng ông vua Thục là con của
"xứ Bắc kỳ", và sau 1945, có vài quyển sử Việt lặp lại thuyết của
ông.
Nhưng thử hỏi tù trưởng Cao Bằng làm gì huy động nổi ba
vạn binh sĩ? Thử hỏi ông là dân của "xứ Bắc Kỳ" thì khi ông mộ quân để
làm loạn, sao vua Hùng Vương (mà sử Tàu gọi là Lạc Vương) lại để ông yên thân
cho ông ta dấy binh diệt mình? Toàn là chuyện vô lý.
Ông L. Aurousseau lại còn mâu thuẫn nữa là rồi ông lại giải
thích tại sao An Dương Vương lấy "xứ Bắc kỳ" (mà ông cho là Tượng Quận)
được. Ông nói ở đó có quá ít lính Tàu nên không chống nổi quân xâm lăng.
Sự mâu thuẫn và nguỵ biện ở đây quá thô lậu và rất vĩ đại. Ý
ông muốn nói vua bù nhìn của Tần Thỉ Hoàng là Lạc Vương cai trị nhờ sức của
lính Tàu, nhưng lính đó quá ít, thế nên khi Thục Phán xâm lăng, họ chống lại
không được.
Tần Thỉ Hoàng đã huỷ bỏ chế độ tiểu bang thì không thể còn kẻ
nào mang tước Vương được hết.
Khi Tần Thỉ Hoàng chết rồi thì nước Tây Âu, tức hai tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây và một phần đất giữa Quảng Tây và Vân Nam (đó mới đích thị là
Tượng Quận) đã lọt vào tay Tàu rồi từ lâu. Vậy Thục Phán ở đâu mà xâm lăng Cổ
Việt được, vì ở đâu cũng đã là của Tàu rồi.
Nếu Thục Phán ở Cao Bằng thì y là dân của nước Cổ Việt mà như
vậy thì làm thế nào mà có sự kiện xâm lăng khi dân Cần Thơ đánh
lấy Sài Gòn. Đó là một nội loạn ấy chớ.
Tóm lại ngoài cái việc nói liều rằng An Dương Vương là Tù trưởng ở Cao Bằng,
sau đó ông L. Aurousseau lại biến ông ấy thành người nước ngoài mà không chỉ được
là ở đâu. Thế mà ông lại bác sử ta lung tung, bác cả niên đại của trào An Dương
Vương mà không đưa ra một tài liệu nào hết, theo ông thì An Dương Vương chỉ trị
có 2, 3 năm chớ không phải là 49 năm như sử ta viết.
Thuyết L. Aurousseau có thể tóm lược như sau:
Tần Thỉ Hoàng xua quân đánh nước Tây Âu, tức nước Bắc Kỳ
(nguyên văn). Nhưng Bắc Kỳ đã có nước, mà lại không có vua, cũng không có chúa
mà chỉ có lãnh chúa là Trạch Hu Tống bị giết chết rồi. Tượng Quận là tên của xứ
Bắc Kỳ, tức Tây Âu do Tàu đặt ra, sau khi chiếm lấy nước Tây Âu.
Thắng xong, Tần Thỉ Hoàng giúp nước Bắc Kỳ tiến lên nhảy vọt,
nước ấy từ bao lâu nay chưa tiến lên khỏi chế độ bộ lạc, được vua Tần ban cho một
ông vua Lạc Vương. Thế là Tần Thỉ Hoàng không phải đế quốc mà là một bậc thánh
hiền rồi đấy.
Đến khi Tần chết rồi thì một tay phiêu lưu vô danh là An
Dương Vương lại bảnh hơn quan Giám (tức quận trưởng) Triệu Đà, cướp ngay xứ Bắc
Kỳ, tức nước Tây Âu (nguyên văn của L. Aurousseau). Quân Tàu quá ít nên vua bù
nhìn Lạc Vương phải thua An Dương Vương.
Thật là một thuyết động trời, thế mà lại được vài sử gia ta đã cóp theo.
Thử hỏi nếu Tây Âu là Bắc Kỳ, trong đó có quận Tượng, thì hai
quận kia nằm ở đâu? Một quận của Tàu thuở ấy to bằng toàn quốc Việt Nam ngày
nay, làm gì Bắc Kỳ chứa nổi đến ba quận?
Ông L. Aurousseau đã bị Mã Viện đính chánh. Thật thế, Mã Văn
Uyên có kiểm tra dân số cẩn thận. Kết quả cuộc kiểm tra này có chép trong Hán
thư. Dân số của một phần Tây Âu là Nam Hải đông trên 190 ngàn nhà,
còn dân số của cả Giao Chỉ có trên 90 ngàn nhà mà thôi.
Nếu Bắc Kỳ là Tây Âu như ông L. Aurousseau nói, thì Nam Hải nằm
trong Bắc Kỳ. Nhưng nó nằm trong đó mà sao dân số lại gấp đôi Bắc Kỳ được?
Nói tầm ruồng vài mươi trang, ông L. Aurousseau thu hẹp Tây
Âu lại ở thượng du Bắc Kỳ, thế là còn nhỏ hơn nữa và mâu thuẫn càng lớn hơn vì
thượng du là đất không ở được để có thể chứa quá đông dân số như thế vào thời ấy,
và để có thể được Tàu xem là ba quận của họ.
Có lẽ ông muốn nói thượng du là một phần của Tây Âu, như H.
Maspéro và ông linh cảm cho rằng Âu và Thái, mà thượng du nay thì rõ ràng là đất
Thái, nhưng ông lại không nói rõ ràng minh bạch được như ông H. Maspéro, thành
thử còn sai hơn H. Maspéro nhiều. Nói minh bạch như H. Maspéro rằng Tây Âu chạy
dài từ Quảng Tây đến tả ngạn Nhị Hà, tuy vẫn có lý mà còn sai, huống hồ gì L.
Aurousseau chỉ hạn chế tất cả ở một vu ngoài thượng dụ Bắc Việt.
Dầu sao ông L. Aurousseau cũng cố làm cho ta thấy rằng Cổ
Việt có bị Tần Thỉ Hoàng chiếm. Mà đó là sai sự thật.
Hết hai ông Tây, đến ông Tàu.
Giáo sư Trần Kinh Hoà, bị thuyết của giáo sư L. Aurousseau gợi
ý, còn thu hẹp Tây Âu hơn. Ông viết trong tạp chí Đại học Huế năm 1960 rằng Tây
Âu = Tây Vu.
Theo nghiên cứu của ông Madrolle, tác giả Le Tonkin
ancien thì huyện Tây Vu gồm các tỉnh sau đây của Bắc Việt: Vĩnh Yên, Phúc
Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phú Thọ. Nghiên cứu ấy đúng.
Thế nên ở đó có một tiểu vương quốc là Tây Vu dưới thời Triệu
Đà.
Ta có thể suy luận mà đoán được rằng nơi đó là trung tâm văn
hoá và hành chánh của Cổ Việt, bằng vào cái luật này là dân tộc nào cũng đặt
trung tâm tại một vùng mà dân chúng sinh tụ nhiều nhứt.
Hà Nội ngày nay nằm trong tỉnh Hà Đông, nhưng xưa việc sinh tụ
của dân khác nay.
Bắc Ninh vào đời Cao Biền trở về sau vẫn cứ còn là trung tâm
văn hoá Hoa Việt, bằng vào quá nhiều di tích lịch sử lớn lao ở đó: Chùa Phật Tích,
đền Phù Đổng, bao nhiêu mộ quan nhà Hán, miếu Sĩ Nhiếp, chùa Khang Tự, đình
Đình Bảng. Cổ Loa thành và nhứt là thành Luy Lâu, kinh đô đầu tiên của thuộc địa
Giao Chỉ, tại làng Lũng Khê ngày nay.
Vua An Dương Vương đã đóng đô ở đó, Thái Thú Giao Chỉ đã đóng
đô ở đó, và trước nữa, Hùng Vương đã cũng đóng đô ở đó (Phú Thọ).
Đó là cái nôi của văn hoá, của văn minh, của chánh trị, của
dân Lạc Việt, y như Paris là cái nôi của Pháp từ ba ngàn năm rồi.
Khi Mã Viện đánh thắng ta xong thì y chạy sớ về Lạc Cương tâu
xin chia huyện Tây Vu thành huyện Phong Khê và Vọng Hải, vì huyện đó quá đông
dân cư, có đến 32 ngàn hộ, tính trung bình thì có đến 160.000 khẩu trong 32
ngàn hộ đó. Vào đầu Tây lịch mà một huyện chứa bấy nhiêu người như vậy là quá
đông, sánh với ngày nay (1965) mà toàn tỉnh Châu Đốc chỉ có 90 ngàn người Việt
Nam, mà đó là một tỉnh được xem là trù phú.
Chúng tôi thường khen các ông Tây đọc sử Tàu kỹ hơn ta và
Tàu, và quả đúng như vậy. Đất Tây Vu và ông vua Tây Vu Vương đều do các ông Tây
khám phá ra, qua cổ sử Trung Hoa.
Đó là một tài liệu phụ, âm thầm nằm riêng trong phụ lục của Hán
thư trong biểu Công thần.
Vua Tây Vu Vương là phiên thần của Triệu Đà. Khi họ Triệu bị
Lộ Bác Đức diệt thì ông này toan nổi loạn, nhưng bị tuỳ tướng là Hoàng Đồng hạ
sát, nên Hoàng Đổng mới được nhà Hán xem là Công thần. Chính cái biểu Công
thần tăm tối ấy mà không ai buồn đọc, đã tiết lộ sự kiện mới lạ đó.
Hoàng Đổng là người Tàu, và đó là cán bộ nằm vùng mà Triệu Đà
đặt ra để kiểm soát Tây Vu Vương, vốn là người Lạc Việt.
Nói Tây Vu Vương gồm 6 tỉnh, nhưng thật ra thì chỉ có 4, vì
Việt Trì không phải là một tỉnh như các ông Tây đã viết còn Vĩnh Yên và Phú Yên
thì quá nhỏ bé, nên sau Pháp sáp nhập lại thành một, tỉnh Vĩnh Phúc.
Cái nước Tây Âu nhỏ xíu của giáo sư Trần Kinh Hoà lại còn
không thể làm được một công việc tày đình mà ông vua đất Giang Hoài là Lưu An
đã chép trong sách Hoài Nam Tử: 30 ngàn nhà làm sao chống nổi với 500 ngàn
lính Tần trong ba năm và giết tổng tư lệnh của họ?
Thế mà giáo sư họ Trần lại viết rằng dân số Tây Vu quá
đông đảo đủ sức làm công việc đó. Cả Giao Chỉ mà chỉ có 90 ngàn nhà, thì
riêng Tây Vu, nằm ở tả ngạn Nhỉ Hà, làm gì quá đông đảo được?
Ông Trần Kính Hoà đưa ra những luận cứ sau đây. Chữ Vu đọc
giống chữ Âu. Vậy Tây Vu và Tây Âu là một, chỉ vì lầm mà người ta viết hai
cách, khiến đời sau ngỡ là hai nơi.
Tây Vu lại có tên là Tây Lý và Tây Ngung để đối với Phiên
Ngung.
Tây Ngung bị viết lầm ra Tây Lý, nên Tây Vu mới có hai tên là
Tây Vu và Tây Lý.
Nhưng đó là nỗ lực tuyệt vọng của họ Trần.
Chữ Vu, Tàu đọc là Día, còn chữ Âu họ đọc là Ngê-U,
theo Quan Thoại, làm thế nào mà ông Trần lại bảo rằng hai chữ đó đọc giống nhau
mà có thể lầm âm với nhau?
Dầu sao thuyết Trần Kinh Hoà: Tây Âu = Tây Vu, cũng bất chấp
lý trí vì mấy lẽ sau đây:
Tây Âu gồm 190 ngàn nhà ở Nam Hải
90 ngàn nhà ở Giao Chỉ (nếu ta bằng lòng theo ông ấy bỏ Giao
Chỉ vào Tây Âu).
Và 100 ngàn nhà ở Quế Lâm.
Tổng cộng là 380 ngàn nhà.
Trong khi đó thì Tây Vu chỉ có 30 ngàn nhà.
Thế thì Tây Vu không làm sao mà là Tây Âu được hết.
Ông Trần Kinh Hoà, mặc dầu có Tây học, vẫn suy luận theo Tàu
đời Đường, tức không theo sự hợp lý mà theo cảm giác riêng khi ông nhận thấy
Tây Vu hơi giống Tây Âu về giọng đọc, còn về tự dạng nó không giống, nhưng ông
lại tạo ra Tây Ngung để cho rằng có sự giống giữa Tây Ngung và Tây Lý, Tây Lý
và Tây Vu.
Để chứng minh mạnh mẽ thêm rằng Tây Vu = Tây Âu, giáo sư Trần
Kinh Hoà lại trích Sử Ký (Nam Việt liệt truyện): "Nhà Tần mất,
Triệu Đà đánh lấy luôn Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương".
Đây là một sai lầm lớn của Tư Mã Thiên mà giáo sư họ Trần cứ
chép. Thật sự thì Triệu Đà chỉ xưng hùng ở quận Nam Hải. Dân Tây Âu còn lại ở
Quế Lâm và Tượng Quận rồi cũng nổi loạn và cũng xưng hùng. Ở Mân Việt cũng thế.
Thấy mình còn yếu, Triệu Đà đành phải nhìn nhận bọn nổi loạn ấy và thương thuyết
với họ để ủng hộ ông ta. Cuộc thương thuyết có kết quả. Các sử Tàu khác đều
chép như vậy. Nếu lấy luật đa số thì Tư Mã Thiên phải thua, còn lấy lý mà suy
thì cũng thế, bởi Triệu Đà không có đủ quân mà tóm thâu hết các nơi được.
Rồi giáo sư họ Trần viết: "Triệu Đà tự lập làm vua, gồm
thâu Quế Lâm, Tượng Quận thì nước ấy (Tây Âu) chưa bị lệ thuộc vào nước Nam Việt".
Ở câu trước thì lấy xong Quế Lâm, Tượng Quận rồi mới lên
ngôi, nhưng cách đó có một trang thì ở đây "Tự lập làm vua rồi mới gồm
thâu Quế Lâm, Tượng Quận. Thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Nhưng sự xuôi
ngược không hại gì. Hại lắm là ý nghĩa của câu thứ nhì đó: Triệu Đà đã tự lập
làm vua, gồm thâu Quế Lâm, Tượng Quận thì nước Tây Âu chưa bị lệ thuộc vào nước
Nam Việt.
Đây là một câu sử kỳ dị nhứt thế giới.
Để xem:
Tây Âu = Nam Hải + Quế Lâm + Tượng Quận
Mà sử Tàu thì đã đồng thinh, và chính giáo sư họ Trần cũng đã
đồng thinh với họ mà nói rằng Triệu Đà xưng hùng tại huyện Long Xuyên, thuộc quận
Nam Hải.
Thế thì đã xưng hùng tại Nam Hải lại còn chiếm luôn Quế Lâm,
Tượng Quận nữa, mà nước Tây Âu chưa bị lệ thuộc và làm sao, khi ta nhìn lại
phương trình trên đây?
Vì mâu thuẫn như thế nên giáo sư họ Trần phải dời Tây Âu xuống
Tây Vu để cho ổn cái vụ Triệu Đà, Triệu Đà xưng hùng ở trên, nên Tây Âu ở dưới
chưa lệ thuộc.
Chỉ phiền là sử Tàu lại chép quá đích xác là Triệu Đà xưng
hùng tại trung tâm văn hoá của Tây Âu, vì huyện Long Xuyên, nơi Triệu Đà nổi
lên là đất dân Tây Âu sinh tụ đông đảo nhứt, vì đó là đồng bằng phì nhiêu nhứt
của nước Tây Âu.
Ấy, ông đã chủ trương rằng Tây Âu = Tây Vu, nên ông mất sự thật
trên kia đã được tất cả mọi người công nhận, kể cả ông nữa (ở một nơi khác).
Thế rồi ông lại dựa vào tài liệu Nhựt Bổn để viết:
Nhựt Nam = Tượng Quận = Giao Chỉ
Giáo sư Trần Kinh Hoà dẫn giáo sư Nhật Sugimoto Naojiro cho rằng
ông R. A. Stein nói: "Hải Vân Quan là Nam giới của Tượng Quận".
Thật ra thì R. A. Stein không hề nói như vậy. Tài liệu về
vị trí của huyện Tượng Lâm dữ dội nhứt là tài liệu của R. A. Stein,
trích một số tạp chí Hán học, xuất bản tại Bắc Kinh năm 1948. ông R. A. Stein
nghiên cứu về nước Lâm Ấp chớ không phải về Tượng Quận, nhưng dân Lâm Ấp đã dựng
nước ngay trong lòng thuộc địa Trung Hoa ở cái huyện cuối cùng
là huyện Tượng Lâm (chớ không phải quận) thành ra ông ấy phải nghiên
cứu vị trí của huyện Tượng Lâm không ăn thua gì đến Tượng Quận cả.
Ông R. A. Stein không bao giờ có nói đến Tượng Quận hết.
Giáo sư Trần Kinh Hoà chuyên môn trích sách mà không hề kiểm
soát. Đáng lý vì nghe người Nhật nói thế, ông nên tìm tạp chí Hán Học ở Bắc
Kinh, kinh đô của ông để mà đọc.
Nhưng đọc không chưa đủ, còn phải phê bình R. A. Stein.
Đây lại cũng cứ là nguỵ tạo. R. A. Stein chỉ nói đến huyện Tượng Lâm,
thế mà người ta đảm bảo rằng R. A. Stein nói đến quận Tượng.
Ta trở lại với kẻ phất cờ ban đầu là H. Maspéro, ông này cũng
nguỵ tạo sử liệu như ông L. Aurousseau.
Nguyên trong một bức thư mà Triệu Đà gởi cho nhà Hán có câu:
"Kỳ đông, Mân Việt thiên nhơn chúng, hiệu xưng vương, Kỳ tây, Âu lạc
hoả quốc, diệt xưng vương".
Ai cũng thấy rõ rằng "Kỳ tây" được viết
ra để đối với "Kỳ đông" và những gì sau "Kỳ tây" phải được
tách rời ra khỏi "Kỳ tây". Nhưng ông H. Maspéro lại viết chữ Tây hoa
rồi tách ra khỏi chữ Kỳ thứ nhì, và hơn thế lại nhập chữ Tây vào hai chữ
Âu Lạc, tân tạo một danh xưng mới là Tây Âu Lạc mà cổ sử Trung Hoa không có ghi
chép bao giờ trừ Tư Mã Thiên và Cố Hy Phùng mà ta đã và sẽ thấy hai ông đó viết
càn. Tân tạo xong thì ông có thể đồng hoá Tây Âu và Âu Lạc được rồi.
Xin nói rõ hơn, câu chữ Nho đúng là thế này:
Kỳ đông, Mân Việt…
Kỳ tây, Âu Lạc…
Ông H. Maspéro sửa lại câu thứ nhì:
Kỳ, Tây Âu Lạc…
Thế là danh xưng Tây Âu Lạc thành hình một cách quái dị, bởi
chữ Kỳ thứ nhì, nằm không một mình như vậy, còn có nghĩa gì nữa hở quý vị
nhà Nho? Vậy mà ông cứ kết luận rằng có một nước mới được thành lập tên là Tây
Âu Lạc. Và cắt nghĩa rằng đó là Tây Âu + Lạc Việt, để rồi kết luận rằng hễ nhà
Tần chiếm lấy Tây Âu thì phải có chiếm Lạc Việt vì sự sáp nhập đã xảy ra rồi với
An Dương Vương. Câu chuyện kết luận sai, vì lối đọc chữ Nho sai.
(Có một nhà bác học Nhựt Bổn, nhân đọc đoạn sử đó, nói rằng
thuở đó ở cạnh nước ta có một nước tên là Lỏa Quốc. Một ông Tây lầm chữ Nho thì
còn cho qua được, chớ một nhà bác học Nhựt Bổn mà như thế thì thật là phi Á
Đông).
Danh xưng Tây Âu Lạc là một danh xưng không bao giờ có, thế
mà nó được hai nhà trí thức Trung Hoa thời cổ nói đến.
Trong Sử Ký, thiên Nam Việt liệt truyện, Tư Mã
Thiên viết: "Triệu Đà xưng hùng tại Nam Hải rồi lấy tài vật đút lót cho
các nước Mân Việt và Tây Âu Lạc để làm nước phụ thuộc.
Thấy quá rõ là Tư Mã Thiên đã viết sai. Thật thế, sau khi
xưng hùng, Triệu Đà không đủ quân chiếm hết 3 quận của nước Tây Âu, đành phải bằng
lòng với quận Nam Hải nhỏ hẹp. Phần Tây Âu còn lại, được chính dân Tây Âu tự động
xưng hùng và quản trị. Triệu Đà đã đút lót cho cấp lãnh đạo của cái phần Tây Âu
mà lão ta chưa đủ quân để chiếm. Như vậy họ Tư Mã chỉ có quyền đồng hoá cái phần
còn lại đó với cả nước Tây Âu mà thôi, chớ không có quyền nói đến một nước Tây
Âu Lạc, vì cái nước đó sẽ được chúng tôi chứng minh rao giảng không bao giờ có.
Sự cẩu thả của Tư Mã Thiên, về sau được Cố Hy Phùng phổ biến
rộng rãi thêm, thành thử danh xưng không có, lại hoá ra có.
Nhưng là nhà khoa học, H. Maspéro thấy rõ đó là sai lầm.
Nhưng ông cũng lại rất cần danh xưng đó, thế nên ông nguỵ tạo sử liệu, để cho
nó có vẻ khoa học hơn Tư Mã Thiên và Cố Hy Phùng. Hễ có địa danh Tây Âu Lạc thì
nghĩa là Tây Âu đã được nhập lại với Cổ Việt Nam (Âu Lạc), và điều đó rất cần
cho các thuyết sai lầm của các ông là Tần có chiếm Cổ Việt Nam, và rất cần cho
sử gia Nguyễn Phương là Tần có trồng người ở Cổ Việt Nam.
Hiện tượng Tây Âu sáp nhập với Lạc Việt là một quái thai,
nhưng không hiểu sao đa số sử gia Tây, Tàu, Nhật, Việt đều bảo là có.
Quả thật thế, Tây Âu là tên nước, Lạc Việt là tên dân. Nếu quả
có sự sáp nhập tưởng tượng đó thì người ta ghép hai tên nước lại:
Tây Âu + Văn Lang
Hoặc Tây Âu + Âu Lạc
chớ không bao giờ lại ghép một tên nước với lại một tên dân.
Mà khi Tây Âu được ghép với Âu Lạc thì nó phải biến hoá ra là
Tây Lạc, chớ không bao giờ là Tây Âu Lạc cả vì cái lẽ giản dị là cả hai bên đều
phải hy sinh một chữ trùng nhau là chữ Âu, chớ không bên nào được phép giữ
nguyên tên mình, bắt bên kia phải chịu lép vế giữ có một chỗ.
Âu Lạc nhứt định không cho phép Tây Âu giữ nguyên Tây Âu, còn
mình thì chỉ được góp phần một chữ Lạc, còn Tây Âu cũng nhứt định không cho
phép Âu Lạc giữ nguyên Âu Lạc, còn mình thì chỉ được góp phần có một chữ Tây mà
thôi.
Sự sáp nhập đó, do người Tàu làm chớ không phải Âu Lạc hoặc
Tây Âu làm ư? Đồng ý, nhưng chính người Tàu mới là có thói quen ngàn đời của họ.
Nhưng rõ ràng Tư Mã Thiên đã viết ra cái địa danh đó thì tính
sao đây? Rất dễ hiểu. Trọn bộ Sử Ký, Tư Mã Thiên chỉ viết có một lần cái địa
danh đó mà thôi, còn thì họ Tư Mã phân biệt hẳn hoi Tây Âu và Âu Lạc.
Đó là một sự bịa càn, chớ các văn kiện chính thức không có địa
danh ấy, và vì bịa càn một cách kỳ khôi, nên họ Tư Mã chỉ viết có một lần địa
danh ấy mà thôi. Kỳ khôi vì không ai ghép tên nước (Tây Âu) và tên dân (Lạc Việt)
để làm một địa danh bao giờ. Có lẽ họ Tư Mã cũng thấy được rằng là vô lý, nhưng
không thể bôi, vì sách Tàu được viết trên một tập giấy in sẵn có dòng có khuôn,
hễ bôi thì phải bỏ hết cả cuốn, chớ không thể xé bỏ một tờ như bản thảo của ta,
mà xé bỏ cả quyển thì quá mất công.
Tuy nhiên, sự ghép chữ có sai nguyên tắc, nhưng nội dung của
sự gán ghép của Tư Mã Thiên không phải là không có lý do, và ta sẽ thấy lý do
đó lát nữa đây.
Chương này có vẻ như là dư, nhưng thật ra thì không. Then chốt
của thuyết Nguyễn Phương là Tần đã trồng người ở Cổ Việt và Hán đã tiếp tục. Rồi
lại có di cư ồ ạt, thế nên rồi "man di" Lạc Việt lớp bị tàn sát, lớp
bỏ nước mà đi hết, và người Tàu tự xưng là Việt Nam.
Trước khi trưng ra vài trăm trang bằng chứng Việt Nam là một,
Lạc Việt cũng thế, và họ cứ còn giữ từ đấy nhưng nay chúng tôi phải bác bỏ tất
cả những gì của bất kỳ ai mà có tánh cách xuyên tạc hay cố ý cho rằng ba sự kiện
dưới đây đã xảy ra:
Tần có chiếm Cổ Việt, có trồng người ở đó.
Hán có tiếp tục chánh sách trồng người (vốn không có xảy ra).
Có di cư ồ ạt.
Thành thử thoạt trông, người đọc thấy chương II quá dài này
như là lạc đề, nhưng quý vị sẽ không còn cảm giác đó nữa, khi rõ được ý định của
chúng tôi.
Vậy theo H. Maspéro thì Tây Âu và Âu Lạc là một, và khi Âu Lạc
là Bắc Kỳ thì Tây Âu cũng thế và Tần Thỉ Hoàng đã chiếm Tây Âu, tức là chiếm "xứ
Bắc Kỳ".
Nhưng việc tân tạo danh xưng một cách bất chấp thành văn chữ
Nho để rồi đồng hoá, không có giá trị khoa học nào hết.
Cả ba thuyết đều đưa đến đẳng thức:
Tây Âu = Bắc Kỳ
Cả ba thuyết trên đều sai. Và Tần Thỉ Hoàng không có chiếm đất
và "trồng người" ở Bắc Kỳ gì hết.
Ông L. Aurousseau, sau khi xoay đủ cách để chứng minh rằng:
Tây Âu = Bắc Kỳ (nhưng thật ra thì thâm ý của ông là muốn chứng minh một điều
mà ai cũng bí là Tượng Quận = Bắc Kỳ. Tượng Quận là một phần của Tây Âu, hễ chứng
minh được rằng Tây Âu = Bắc Kỳ, thì Tượng Quận phải đương nhiên được nằm trong
Bắc Kỳ). Sau khi làm thế rồi, ông còn thu hẹp Tây Âu lại ở Thượng du Bắc Việt.
Cái Thượng du Bắc Việt này lại còn bị thu hẹp hơn nữa là tả
ngạn Nhị Hà chớ không có hữu ngạn.
Theo cả hai ông H. Maspéro và L. Aurousseau thì Lạc Việt là từ
Nhị Hà trở xuống phía Nam, ở trên là Tây Âu.
Các ông quên mất rằng chính sử Tàu mà các ông rất tin, thú nhận
rằng đạo binh viễn chinh của Tần đã thất điên bát đảo tại Tây Âu. Đạo binh đó
đông 500 ngàn người. Thượng du tả ngạn có mấy người?
Hiện nay dân ta 30 triệu, thuở ấy non một triệu tức 30 lần ít
hơn. Thượng du tả ngạn hiện nay có lối 1 triệu tám, thì thuở ấy hẳn chỉ có 60
ngàn. Bắt được bao nhiêu lính trong 60 ngàn người? Nhiều lắm là 10 ngàn lính.
Mười ngàn chú lính Thái làm thế nào để làm khổ 500 ngàn binh Tần và giết được tổng
tư lệnh của họ, theo Lưu An đã ghi chép trong Hoài Nam Tử?
Thật là không có một chút xíu sự thật nào hết.
Vả lại hồi cổ thời, người Thái không hề có mặt ở Thượng du Bắc
Việt.
Quả thật thế, cổ vật Đông Sơn đã đào được ở Đồng Văn gần biên
giới Việt Quảng Tây, ở Đán Lầu (trên Lào Kay), ở Lạng Sơn, ở Bắc Cạn, ở Tuyên
Quang, ở Thái Nguyên, gần đồng tuổi với đồ Đông Sơn, nhưng lại khác loại với đồ
đồng của Thái vào thời đó.
Và sử Tàu chép rằng dưới đời Đường, một quan Đô hộ Tàu gốc Nhựt
Bổn, phục vụ tại Giao Chỉ, đã chống được cuộc xâm lăng của người Thái vào Thượng
du Bắc Việt.
Như thế thì bằng vào sự có mặt ngày nay của người Thái ở Thượng
du để bảo rằng nước Tây Âu ăn uống tới tả ngạn Hồng Hà như các ông Tây, ông Tàu
đã viết thì thật là không đúng với sử liệu chút nào hết.
Chỉ có cuộc xâm lăng vào thế kỷ XIII là người Thái thành
công, vì vua chúa ta bận việc nội bộ, đành phải chịu vậy, nhưng rồi vẫn khắc phục
họ được, xem họ là thần dân và họ nhìn nhận chủ quyền của ta dưới sự cai trị của
các quan thổ ti người Việt.
Tóm lại, có quá nhiều huyền thoại Tây, Tàu về Tượng Quận, Tây
Âu và Âu Lạc, đó là chưa kể huyền thoại Nguyễn Siêu mà chúng tôi không nói tới
nhiều vì huyền thoại này không được các sử gia chép theo.
Trong Phương Đình Dư địa chí (trang 168) Nguyễn
Siêu cho rằng Tượng Quận là nước Phù Nam ở mũi Cà Mau!!!
Nguyễn Siêu nổi danh là một nhà nho đọc sách Tàu nhiều nhứt
nước, nhưng ông không biết những quyển sách mà Lão Cán đã đọc để truy nguyên Tượng
Quận. Nhưng ta không nên trách Nguyễn Siêu, vì giáo sư Trần Kinh Hoà, đáng lý
phải biết rộng hơn Nguyễn Siêu, thế mà cũng chẳng biết Tây Âu và Tượng Quận ở
đâu.
Từ năm 1918 đến nay, các nhà học giả bàn cãi với nhau không
thôi về nước Tây Âu và Tượng Quận, không bao giờ mà hai nơi chốn lịch sử ở Á
Đông, lại được các nhà bác học tìm tòi nhiều cho bằng Tây Âu và Tượng Quận,
không phải chỉ là tò mò của những người hiếu học, mà hai nơi đó là hai nơi then
chốt, hai cái chìa khoá mở cửa cho thấy rõ những sự kiện lịch sử về trước và về
sau, nếu định vị trí sai về hai nơi đó thì những gì xảy ra về sau sẽ hỗn loạn,
không còn biết đâu mà theo dõi nữa.
Chung quy chỉ vì các ông không thuộc sử và nhứt là không biết
gì hết về địa lý cổ thời, như chúng tôi đã nói. Giờ muốn biết sự thật chúng ta
cần nhắc sử lại, và cần viết lại địa lý cổ thời, bằng vào những tài liệu tản
mác đó đây, viết cho thật đúng, không được phép mơ hồ nữa.
Ta cần ngược dòng thời gian, đi về lối Khổng Tử, rồi từ đó thả
xuôi dòng cho đúng nẻo, mới mong khỏi lầm lạc.
Ở đây, chúng tôi trích một câu Xuân Thu của Khổng Tử,
câu này sẽ được khai thác lại ở chương khác, cho một vấn đề khác.
Theo Xuân Thu thì năm 317 T.K. Ngô Khởi, một phản
tướng của nước Nguỵ, xuống đầu nước Sở, nước này bấy giờ đã nuốt mất nước Ngô
và nước Việt Cối Kê rồi. Tướng họ Ngô thực thi một chánh sách mới là ký hiệp ước
thân hữu với các quốc gia Bách Việt ở phía nam Cối Kê.
Đó là những quốc gia nào, ta chưa cần biết ngay tức thì và ta
cần xét lại việc khác nữa, cấp bách hơn.
Bẵng đi 99 năm, sử Tàu không buồn nói đến các quốc gia Bách
Việt đó nữa.
Sự rối loạn bắt đầu, sau 99 năm im lặng ấy, chỉ rối loạn ở
phía vùng Bách Việt chớ chuyện bên Tàu thì rất rõ: Chư hầu Tần lớn mạnh, nuốt cả
Hoa Bắc, rồi nuốt luôn Sở trong lòng nước Sở vốn đã có nước Ngô, nước Việt,
binh Tần chỉ đánh tới huyện Cối Kê rồi thôi.
Khổng Tử viết sử có đúng hay không? Nếu không, ta cũng chẳng
làm sao được, vì đó là tài liệu độc nhứt, và phụ đề của Tả Khâu Minh cũng là
tài liệu độc nhứt. Nhưng nếu cho rằng Khổng Tử bóp méo sự thật thì ngài bóp méo
các việc khác, chớ chẳng bóp méo làm gì biên giới cực Nam của nước Trung Hoa
vào thời đó.
Thế thì ta có thể tin rằng Khổng Tử viết đúng.
Vậy vài quyển sử Tàu mà sử ta cóp lại viết rằng Dương Việt ăn
xuống tới Phú Kiến (có người viết rằng ăn xuống tới Giao Chỉ) đều sai.
Khổng Tử mà có sai, chúng tôi cũng ít lắm có dựa vào Khổng Tử,
còn những quyển sách khác thì không có dựa vào đâu hết, hoặc dựa vào những quyển
sách đời Tống về sau, những tác giả ấy không làm sao mà biết sự thật lịch sử thời Xuân
Thu cho bằng Khổng Tử.
Vì đây là biên giới thật đúng ở cực Nam Trung Hoa dưới đầu đời
Tần. Đó là Ngũ Lĩnh, tên của năm dãy núi lớn và cao, có đèo (passes). Năm dãy
núi đó ở đâu và tên gì?
Ông H. Maspéro, L. Aurousseau và R. A. Stein với một ông Việt
là sử gia trào Nguyễn, Nguyễn Siêu, đã phải dày công làm con mọt sách mới tìm
được vị trí của năm dãy núi đó, vì sử Tàu xưa lộn xộn như một trận thế tru
tiên. Mặc dầu có vài quyển cổ thư Trung Hoa viết sai quá xa, các ông trên đây vẫn
loại lần để tìm biết đúng sự thật. Nhưng nếu chúng tôi kể lại đây, chắc người đọc
sẽ chóng mặt và nhức đầu lắm trong mớ bòng bong hỗn độn mà sử Tàu xưa chồng chất
lên nhau.
Thế nên chúng tôi nhờ một hoạ sĩ cóp theo hai quyển sách địa
lý, một của Pháp, một của Trung Hoa dân quốc, và quý vị nhìn vào là thấy ngay.
Năm dãy núi đó, chạy từ Đông sang Tây Nam, từ Ninh Phố đến Nam Tứ Xuyên, và tên
là Ngũ Lĩnh.
Trong Việt Nam Văn Học toàn thư, tác giả là ông Hoàng Trọng
Miên, có cho vẽ một bức dư đồ Ngũ Lĩnh. Theo bức dư đồ đó thì Ngũ Lĩnh là một
dãy núi độc nhứt có năm đèo, trong khi sự thật nó là năm dãy núi kế tiếp nhau,
và chỉ có bốn đèo thôi.
Lĩnh là núi, ngũ lĩnh là năm núi, không thể là năm đèo được.
Mà giữa năm núi, chỉ có thể có bốn đèo mà thôi.
Làm thế nào để có năm đèo được giữa năm dãy núi kế tiếp nhau?
Làm một bài toán nhỏ thì đủ thấy là chỉ có bốn đèo. Hoặc cứ vẽ ra một bức hoạ
thô sơ, thì ta cũng thấy được là chỉ có bốn đèo chớ không thế nào mà có năm
đèo.
Đất ở phía Nam của năm dãy núi ấy cũng lại được đặt tên là đất
Ngũ Lĩnh.
Nhưng đất Ngũ Lĩnh có biên giới phân minh, chớ không phải là
vô bờ bến như các sử gia Pháp và Việt hiểu lầm.
Phía Bắc là nước của Tần Thỉ Hoàng, phía đông là biển cả,
phía Tây là Ba Thục, tức cũng là đất của nhà Tần, phía Tây Nam là đất Chơn (Vân
Nam), phía Nam vô cùng quan trọng, vì sự ngộ nhận xảy ra ở đó, và sự rối loạn bắt
đầu ở đó.
Phía Nam là một thứ Ngũ Lĩnh loại bỏ túi, tức là những dãy
núi tại biên giới Hoa Việt ngày nay mà quý vị thấy rõ trong bức dư đồ, những
dãy núi này tuy không quá hiểm trở như Ngũ Lĩnh chớ cũng là một chướng ngại
đáng kể và được người xưa xem là biên giới tự nhiên cho một vùng đất: vùng Ngũ
lĩnh (xin xem lại dư đồ nước Tàu).
Thấy rõ là đất Ngũ Lĩnh đích thị là địa bàn của những quốc
gia Bách Việt mà Khổng Tử đã nói đến trong Xuân Thu, nhưng không có cổ
Việt Nam, tức không có Âu Lạc.
Bức dư đồ cho thấy như vậy, sách địa lý Tàu ngày nay cho biết
như vậy, mà cổ sử Tàu cũng xác nhận như vậy. Quả thật thế, trong quyển thứ ba của Đại
Việt Sử Ký toàn thư ngoại kỹ, Ngô Sĩ Liên viết "Năm Bính Tý (136 S.K.),
năm đầu hiệu Vĩnh Hoà đời Hán Thuận Đế, Thái thú Chu Xưởng cho Giao Châu là ở
xa 9 châu, ở ngoài Bách Việt, dưng biểu xin lập ra Phương Bá.
Thế là thật rõ, về mặt chủng tộc học, ta cứ là Bách Việt,
nhưng người Tàu từ Ngô Khởi cho tới Chu Xưởng, hiểu Bách Việt theo lối khác.
Bách Việt đối với họ thuở đó, là dân của đất Ngũ Lĩnh, không có cổ Việt
Nam trong ấy.
Tần không kể Cổ Việt vào Bách Việt không phải vì ngỡ rằng Cổ
Việt là dân khác, mà vì nó quá xa, chưa liên lạc với Tàu, Tàu không thèm biết tới
nó là một cõi giang san riêng, cách Ngũ Lĩnh bằng cái tiểu Ngũ Lĩnh loại bỏ túi
nói trên.
Đất Ngũ Lĩnh được xem là một vùng đất có biên giới rõ rệt ở cả
phía Nam nữa.
Thế mà rồi vì vài quyển sách Tàu, vì vài ông Tây lầm mà rồi
bao nhiêu sử gia ta đều cho rằng nhà Tần đã đánh chiếm ta, Tây Âu và Tượng Quận
gì cũng đều nằm trong nước ta cả thì thật khó chấp nhận.
Danh xưng Bách Việt, nghe tưởng nhiều lắm thì có thể có ta
trong đó. Mà quả thật có ta trong đó về mặt khoa học. Nhưng nhà Tần chỉ đánh
chiếm được có đất Ngũ Lĩnh mà thôi. Chúng tôi sẽ có nhiều chứng minh vững hơn
chứng minh trên đây nhiều lắm, rằng nước ta không nằm trong đất Ngũ Lĩnh và nhà
Tần không hề có đánh chiếm nước ta, vì họ đuối sức, hay vì lẽ gì không rõ. Có
vài quyển sử Tàu viết rằng vì An Dương Vương đầu hàng nên được để yên. Nhưng có
lẽ vì Tần đuối sức và sự đầu hàng của An Dương Vương chỉ là một dịp để Tần rút
quân mà không mất mặt, chỉ có thế thôi.
Nhưng riêng chúng tôi lại hiểu hơi khác. Hạ Chí Tuyến
(tropiques du Cancer) nằm ngang Phiên Ngung. Dân Tàu chưa chịu đựng nổi khí hậu
ở dưới Hạ Chí Tuyến là khí hậu nhiệt đới, thế nên họ mới bằng lòng nhận sự đầu
hàng của An Dương Vương và dừng bước lại ở Tây Âu mà không tiến xuống nữa, chớ
không phải vì họ đã thật kiệt quệ sau khi bị Tây Âu đánh rát quá.
Cứ theo vào Hoài Nam Tử thì dân Tây Âu đã giết hết
100 ngàn quân Tàu, nhưng họ vẫn còn tới 400.000 quân, tức thừa sức đánh hoài,
nhưng họ không đánh vì họ biết là lính Hoa Bắc chịu đựng không nổi khí hậu ở dưới
Hạ Chí Tuyến.
Ba quốc gia Bách Việt ở đó mà Khổng Tử đã chép 99 năm trước,
cũng được sử nhà Hán kể tên thật rõ, đó là Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu mà bức
dư đồ của ông Hoàng Trọng Miên lại bỏ Đông Âu và Mân Việt ở trên Ngũ Lĩnh,
trong khi sử Tàu chép rằng đánh Ngũ Lĩnh xong họ mới cướp được cả ba nước Đông
Âu, Mân Việt và Tây Âu. Cho đến tên vua của ba quốc gia ấy cũng được chép, và
những cuộc rối loạn nội bộ của họ, thì quân, chúa gì, đều được Tàu biết rõ và
ghi chép đủ cả, trong khi đó thì họ tuyệt đối không biết gì hết về đất Âu Lạc,
trừ cái tên An Dương Vương, và hoàn toàn mù mịt về Văn Lang, trừ nhà vua mà họ
không biết cả quốc hiệu, chỉ gọi là vua của dân Lạc (Lạc Vương).
Sự kiện mù tịt của Tàu về Cổ Việt thời đó đã cho thấy rằng Tần
không có đánh Cổ Việt, vì cái lẽ giản dị rằng không có đạo quân xâm lăng nào mà
lại dám đánh một nước mà họ không thạo sử địa và tình hình dân chúng, địa hình,
địa thế cả.
Tuy bao nhiêu đó đã đủ, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục chứng
minh để không còn ai cãi được nữa cả.
Biết địa lý ở đó rồi, biết sử thời đó rồi, thì tưởng không
còn làm sao mà cho rằng cổ Việt Nam đã bị chiếm và được đặt tên là:
Tượng Quận
Tây Âu
Xin nhấn mạnh một lần nữa rằng sử chép rõ là binh Tần đánh đất
Ngũ Lĩnh, chớ không có nói mơ hồ là đánh phương Nam. Và sử lại chép rõ rằng Tần
chỉ chia thành quận huyện có ba quốc gia mà ai cũng biết, chớ không có
chia một quốc gia thứ tư nào hết.
Đây là một điều kỳ dị đến khiến ta muốn phát khùng. Sử Tàu
chép rõ ràng là họ đánh chiếm được có ba quốc gia, và chia ba quốc gia ấy thành
quận, huyện. Cả ba quốc gia đó đều có tên, và không có tên nào trùng với quốc
gia của ta cả, thế mà rồi hàng trăm sử gia Tàu đời sau, và Tây, Nhật, Việt đều
cứ hiểu là có ta trong đó là thế nào?
Tuy nhiên, sự ngộ nhận của họ, xét kỹ ra, cũng có căn cứ chớ
không phải là họ điên khùng và hiểu bậy bạ như kẻ mất trí đâu. Ngộ nhận xảy ra
là vì vụ Thục Phán xuất binh từ Tây Âu đến diệt quốc Văn Lang, rồi đặt quốc hiệu
của Văn Lang lại là Âu Lạc.
Họ tưởng Âu Lạc bị sáp nhập với Tây Âu, mà sở dĩ họ tưởng như
vậy vì Tư Mã Thiên đã viết liều là có một nước tên là Tây Âu Lạc, cái địa danh
không bao giờ có, được Tư Mã Thiên bịa ra, khiến cho thiên hạ ngỡ là có sáp nhập.
Nhưng nếu học sử thật kỹ về đoạn đó rồi thì ta thấy ngay là
Tư Mã Thiên đã viết liều, địa danh ấy không bao giờ và sự kiện sáp nhập
Tây Âu với Âu Lạc không bao giờ có xảy ra.
Đây là dịp mà ta cần biết Thục Phán là ai, mà từ xưa đến nay
không sử gia nào tin là tên Phán ấy là con của vua Thục, mặc dầu thiên hạ tôn
kính sử Tàu đến mê muội, nhưng trường hợp này, sử Tàu viết đúng lại bị họ nghi
ngờ.
Cách đây không lâu, một nhà bác học Trung Hoa, ông La Hương
Lâm, có nghiên cứu một nhóm người thiểu số ở Quảng Tây mà Tàu gọi là Khách Gia
và khám phá ra rằng Khách Gia đích thị là người Ba Thục di cư xuống nước Tây
Âu, sau khi bị Tư Mã Thác diệt quốc.
Chúng tôi không có tài liệu đó để xem ông ấy trưng bằng chứng
cách nào, nhưng đồng thời với ông ấy, chúng tôi cũng nghiên cứu về người Khách
Gia, ngay tại Chợ Lớn.
Từ Quảng Tây sang Chợ Lớn, người Khách Gia (Quảng Đông đọc là
Hạc Cá) được Pháp gọi là Hakkas, nhưng Nam Việt gọi là Hẹ, vì họ tự xưng là Hẹcka,
tức họ nói tiếng Tàu sai giọng, Hẹcka bị thu lại thành Hẹ.
Như đã nói, để làm chương Ngôn ngữ tỷ hiệu, chúng tôi phải học
tất cả ngôn ngữ Á Đông. Ban đầu chúng tôi ngỡ họ là người Tàu ở Quảng Tây, tức
người Tây Âu xưa bị đồng hoá, nhưng hỏi họ, và tra lại sử Tàu, thì không phải
thế, mà lại đúng y như nhà bác học Trung Hoa trên kia đã nói. Họ còn nhớ là tổ
tiên của họ đã từ Ba Thục đi xuống, mặc dầu câu chuyện đã cũ hơn hai ngàn năm rồi.
Hiện họ nói tiếng Tàu, sai giọng cố nhiên, nhưng y như người
Quảng Đông, người Mân Việt, người Triết Giang, họ còn giữ được non một trăm
danh từ của họ mà ở chương Ngôn ngữ tỷ hiệu chúng tôi còn gọi là cổ ngữ Ba Thục.
Cổ ngữ Ba Thục, xem ra chỉ là ngôn ngữ Mã Lai, y hệt như cổ ngữ Tây Âu, cổ ngữ
Mân Việt, kim ngữ Chàm chớ không có gì lạ hết.
Cái nhóm Hẹ này tưởng phải được nghiên cứu tỉ mỉ hơn các nhóm
khác, vì họ có dính líu với cổ sử của ta và ta đã ngộ nhận rối ren về đoạn sử
nước nhà, chỉ vì bọn này.
Cho tới ngày nay, không ai tin rằng con của vua Thục (Thục
vương tử) lại đi xa đến thế để đánh chiếm nước Văn Lang và tự xưng là An Dương
Vương, mặc dầu sử Tàu có chép như vậy.
Nhưng sau cuộc khám phá của các nhà chủng tộc học Tây phương
rằng cổ Ba Thục là dân Thái, rồi tiếp theo đó, nhà bác học Trung Hoa La Hương
Lâm xác nhận khám phá trên, không còn chối cãi được rằng quả An Dương Vương là
con vua Thục.
Nhưng tưởng cũng nên nói rõ thêm vài chi tiết mà các ông Tây
và La Hương Lâm không biết, khiến có người còn hồ nghi.
Những sự kiện lịch sử trên đây không phải là do La Hương Lâm
khám phá ra được. Chính ta cũng biết, nếu ta đọc kỹ cổ sử của Tàu.
Quả thật thế, Tả Truyện chép rằng sau khi Tư Mã
Thác diệt nước Thục thì dân Thục (có lẽ chỉ là quý tộc Thục) bỏ xứ, sang nước
Ba, rồi tràn vào nước Sở, nhưng không phải là xâm lăng, mà là để đi đâu nữa đó
không biết.
Nước Ba đồng chủng Thái với họ, tuy đã bị Tàu trị rồi, nhưng
đa số dân chúng chưa bị Tàu đồng hoá vào thuở ấy, vả lại nó quá nhỏ nên không
có ngán (hay ngăn không được) cuộc đi qua ấy. Nhưng Sở thì ngăn quyết liệt,
đánh bật họ ra.
Sở, vào thuở đó, hết là Kinh Man rồi, tự xưng là nước Sở, tức
là bị đồng hoá sâu đậm và đã văn minh cao rồi. Một nước văn minh và cường thịnh
thì không thể chấp nhận một cuộc đi qua ngoại chủng.
Hẳn đó là một cuộc đi qua, chớ không cố ý xâm lăng, vì họ quá
ít, Sở chỉ phái một toán quân nhỏ là đánh bật họ ra được rồi.
Nhưng họ đi đâu?
Dĩ nhiên là họ đi ở trọ với một cường quốc đồng chủng với họ
là nước Tây Âu chớ không phải là đi Quý Châu, mặc dầu ở Quý Châu cũng là đất của
người Thái, vì Quý Châu là đất núi non nghèo khó, khí hậu lại xấu.
Sử Tàu chép chuyện Con của vua Thục cướp nước của
vua Lạc Vương, sử ta xưa chép lại nhưng không tin là con của vua Thục lại có thể
đi xa đến thế, từ Tứ Xuyên xuống Cổ Việt Nam, nhứt là nước Thục đã bị diệt hàng
trăm năm rồi, còn làm sao mà còn con vua Thục được. Chép lại nhưng không tin,
các ông (như Ngô Sĩ Liên) cho rằng ông ấy họ Thục chớ không phải con vua Thục ở
đâu dó, phía Bắc nước ta.
Ta còn nghi ngờ, vì cái sự kiện quá xa, và sự so le
thời điểm gần một trăm năm. Nhưng cả hai yếu tố ấy đều có thể giải thích rõ
ràng.
Ta đã và sẽ thấy rằng dân Thái có địa bàn liên tục từ Tứ
Xuyên đến Quảng Đông và Quý Châu, vì đất xấu, nên chỉ được xem là một hành lang
liên lạc giữa hai đại quốc đồng chủng: Thục và Tây Âu.
Khi mất nước, người Thục hẳn phải chạy xuống Tây Âu chớ không
thể chạy vào một quốc gia khác chủng được. Mà muốn tới Tây Âu họ chỉ phải đi
qua có hành lang Quý Châu, chớ không có quá xa như ta tưởng tượng. Mà họ cũng
khỏi phải đi bộ, nhờ con sông Tường Kha, sông này dùng được từ Quý Châu tới biên
giới Quảng Đông nay. Theo Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ thì khi bà
Lữ Hậu muốn đánh Triệu Đà, bà không biết làm thế nào để tiến quân vì không có
con đường đi, con đường mà quân của Tần Thỉ Hoàng đã dùng, không tiện và rất là
mạo hiểm.
Một ông vua Thái ở Vân Nam, tên là Đường Mông vốn ghét Triệu
Đà đã cướp đất Thái Tây Âu, bèn mách cho bà ấy con sông nói trên.
Các sử gia ta cứ nói Tứ Xuyên và Việt Nam quá xa, không
thể đi được vào thời đó, nhưng thật ra thì con vua Thục đâu có đi thẳng từ Thục
tới Văn Lang, mà ông ấy chỉ đi từ Thục tới Quảng Tây, qua hành lang Quý Châu nhờ
sông Tường Kha.
Sở dĩ thoạt tiên họ mượn đường của nước Sở để bị đánh bật ra
là vì hành lang Quý Châu có những nơi phải đi bộ, trèo núi cực nhọc, chứ không
phải sông Tường Kha là con sông suôn sẻ từ đầu đến cuối. Nhưng rốt cuộc rồi họ
cũng phải dùng cái hành lang Quý Châu đó vì bị Sở ngăn cản.
Rồi từ Quảng Tây đến Cổ Việt Nam tình hình chỉ là chuyện vượt
biên giới.
Nhưng phải tốn thời gian, năm bảy mươi năm, và cái thời gian
này làm cho các sử gia ta không hiểu được tiếng con vua Thục của sử Tàu, bởi
năm bảy mươi năm qua thì con vua Thục phải đã chết già rồi.
Khi chúng tôi đi học cổ ngữ Ba Thục để viết chương Ngôn ngữ tỷ
hiệu cho sách này, chúng tôi càng thấy rõ hơn là An Dương Vương quả đúng là con
của vua Thục, vì Thục ngữ, Thái ngữ, Việt ngữ đều do Mã Lai ngữ mà ra cả.
Xin nhắc lại rằng nước Thục rất văn minh, ít lắm cũng bằng
Trung Hoa vào thuở đó và có vài nét, họ hơn hẳn Trung Hoa vì thuở mất nước, họ
đã biết nghề sơn mài, còn Trung Hoa thì chưa biết món tương Tàu, thật ra là
phát minh của dân Thục đất Cao nguyên của họ là quê hương của đậu nành chớ
không phải đất Tàu.
Di cư đến Huyện, họ hoạt động rất mạnh, lập ra một thành phố
lừng danh vào thuở ấy là Đại Phố, và hoạt động được nhờ sự kiện đồng chủng
đồng ngôn ngữ với dân Tây Âu.
Họ tài ba lắm, nhưng không lấy nước lại được bao giờ vì khí hậu
của Thục hợp với người Trung Hoa thuở ấy nên Hoa chủng di cư vào Thục rất đông,
nên ảnh hưởng Trung Hoa ở đó quá mạnh, địa phương bị diệt quá nhanh chóng.
Ở Sài Gòn, họ cũng tài giỏi hơn tất cả các nhóm Trung Hoa
khác, nhứt là về văn hoá. Trong 10 tờ báo hằng ngày, có đến sáu bảy tờ là của
người Hẹ và tờ báo mạnh nhứt ở Chợ Lớn là của người Hẹ.
Muốn hiểu Con vua Thục, ta cần lập ra giả thuyết sau
đây:
La Hương Lâm nói chuyện tổng quát, chớ thật ra thì chỉ có quý
tộc Thục mới di cư còn dân Thục thì không. Một dân tộc đã văn minh cao, không hề
bỏ nước khi bị xâm lăng. Họ ở lại để chờ dịp khởi nghĩa. Chỉ có dân kém mở mang
mới tự thấy bất lực, bỏ nước đi tìm đất mới mà thôi.
Tả Truyện có chép chuyện đám di cư này bị nước Sở đón
đánh tại Hồ Nam là đất Nam Sở. Đó là tài liệu cổ nhứt về con vua Thục di cư
nhưng ít ai chú ý tới. Họ chọn đường Hồ Nam cho dễ đi. Nhưng gặp người Tàu lai
Việt ở đó là Sở, khác giống, họ bị đánh bật ra, mà đành phải dùng con đường khó
đi hơn là đường Quý Châu.
Quý tộc Thục hẳn đông hàng ngàn lại có thê tử và nô bộc và một
mớ quân sĩ trung thành nữa, thành thử họ tuy không phải là dân, họ cũng có thể
đông đến vài ba ngàn.
Nhưng Vua, Hoàng hậu, Hoàng tử và các Thế tử Thục đều bị tướng
Tư Mã Thác của Tần giết chết rồi thì làm sao mà còn con vua Thục được?
Ta giả thuyết rằng một bà thứ phi Thục thoát nạn. Thứ phi thì
dễ thoát, không như Hoàng hậu. Bà phi ấy đang mang thai. Tới Tây Âu một ít lâu,
bà hạ sanh một đứa con trai.
Đó là con người rất quý báu mà quý tộc Thục rất cần để dựng lại
cơ nghiệp về sau. Vì thế mà chú bé ấy không được xem là Con Vua Thục mà
được tôn làm Vua Thục trong cộng đồng lưu vong Thục. Đó là Vua lưu
vong bé tí hon.
Mặc dầu tài giỏi, bọn lưu vong vẫn chưa đủ sức vẫy vùng, nhứt
là Tần lại quật cường, làm bá chủ Trung Hoa và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Vậy họ âm thầm đợi. Ông vua Thục lưu vong ấy chết đi, có thể
để lại một đứa con trai, có thể quả thật tên là Phán như Ngô Sĩ Liên đã chép,
nhưng không phải họ Thục như họ Ngô đã lầm. Hắn ta đích thị là con vua Thục, một
từ ngữ có vẻ bí hiểm của cổ sử Tàu mà ta không tin, vì biết cha con của vua Thục
đã bị giết từ năm 316 T.C. rồi. Nhưng vua đây, chỉ là ông vua lưu
vong, chớ không phải là ông vua vong quốc và con là con của vua lưu
vong đó, tức cháu nội của vua vong quốc.
Thế thì mấy tiếng "Thục Vương tử" đã được
giải thích ổn thoả.
Năm mà kẻ tên Phán ấy 23 tuổi là năm 268 trước Tây lịch. Mười
một năm sau, tức năm ông ấy 34 tuổi, ông ấy mới cất quân đánh Hùng Vương thứ
18. Đó là vào năm 257 T.K.
Năm ấy nhà Chu chưa bị diệt và chư hầu Tần vừa bị thua một trận
lớn do Tin Lăng Quân của nước Nguỵ chủ phá.
Nhưng thời cuộc ở nước Tàu thật ra thì không liên hệ tới thời
cuộc của vùng dưới này.
Do đâu mà Thục Vương tử mộ quân Tây Âu được? Bọn quý tộc có
thoát được đông hàng ngàn, cũng chỉ là sĩ quan. Lính phải là người bản xứ.
Sự kiện những vua lưu vong được các nước tiếp khách giúp đỡ
cho, không thiếu, trong lịch sử thế giới. Phương chi như đã nói, dân Thục lưu
vong lại tài ba, hoạt động nhiều để được sự giúp đỡ ấy bằng cách giúp cán bộ
cho cái nước Tây Âu ở Lưỡng Quảng. Nước Thục là nước phát minh nhiều thứ công
nghệ như đã nói thì hẳn họ có nhiều cán bộ để cho vua Trạch Hu Tống mượn hầu đổi
lấy quyền mộ binh.
Sự giúp đỡ của Tây Âu thật ra chỉ là việc nhắm mắt cho họ mộ
quân bằng vàng mà họ mang theo.
Thục Vương tử đánh Hùng Vương để chi?
Nói nước Thục văn minh và hùng cường, nhưng dầu sao họ cũng
đã bị Tần cướp nước, tức Tần còn giỏi hơn họ nữa. Trong tình thế đó, họ không
hy vọng khôi phục lại cơ đồ thì chỉ còn cách cướp nước khác, vẫn hơn là ở trọ
nước Tây Âu mãi. Cũng nên biết rằng người Hẹ được người Hoa Nam gọi là Khách từ
thuở ấy cho tới bây giờ. Đó là khách được ưu đãi, nhưng vẫn cứ là Khách, không
có quyền như chủ nhà.
(Dân ta cũng có danh từ "Khách" nhưng chắc
chắn là danh từ của ta trỏ người Tàu mới đến sau khi Đinh Bộ Lĩnh thu hồi độc lập,
còn người Khách của Tây Âu thì đã đến xứ ta với tư cách kẻ xâm lăng mà có lẽ tổ
tiên ta phải gọi họ là chủ chớ không phải khách).
Vậy Thục Vương tử đã mộ quân được và sử liệu về sự thù hiềm hỏi
vợ thất bại của Thục Phán, cũng là sự thật… ở bên ngoài. Kẻ tên Phán ấy chỉ mượn
cớ đó để đánh Hùng Vương mà thôi.
Đó là một cuộc xâm lăng, nhưng kẻ xâm lăng, từ thủ lĩnh (Thục)
đến lính (Tây Âu) đều đồng chủng với ta, chủng Mã Lai tức Âu, tức Thái, thế nên
kẻ xâm lăng thắng trận rồi, không diệt Lạc Hầu, Lạc tướng hai cấp cán bộ của
vua Hùng Vương, vì họ cũng có chế độ y như vậy và rất cần hai cấp đó. Họ cũng
không đặt tên nước một cách mới lạ, mà đặt là Âu Lạc, tức nước mà dân Âu lãnh đạo
dân Lạc, chớ không phải nước Tây Âu nhập với dân Lạc Việt. Nhưng chỉ có họp tên
mà không có sáp nhập đất như H. Maspéro đã viết vì ông Phán không dại mà
đi cướp đất để dâng cho Trạch Hu Tống hưởng.
Nếu có sáp nhập đất đai thì chỉ có một ông vua là vua Trạch
Hu Tống, còn tên Phán thắng trận chỉ là tướng mà thôi. Nhưng sử Tàu chép rằng
có hai ông vua cai trị song song với nhau vào thời ấy thì không làm sao có
sáp nhập đất đai được.
Các sử gia, bắt đầu từ Tư Mã Thiên, đều hiểu lầm một
cách vô lý rằng có sự sáp nhập đất đai, nhưng nếu có sáp nhập thì làm sao
mà có hai ông vua cai trị song song với nhau tại hai nơi, và ông An Dương Vương
vẫn toàn quyền độc lập chớ không hề là phó vương của Trạch Hu Tống.
Cổ sử Tàu xét ra thì rất rõ, chỉ tại các ông sử gia về sau
suy luận tầm ruồng nên mới tưởng tượng ra sự sáp nhập đó, và Tư Mã Thiên lại đi
xa hơn, tưởng tượng xong, họ Tư Mã lại bịa thêm một địa danh là Tây Âu Lạc để
ngầm nói là có sáp nhập (nhưng lại bịa sai nguyên tắc là lấy tên một nước ghép
với tên một dân tộc, chớ nếu bịa đúng thì phải là Tây Lạc mới được).
Có lẽ họ Tư Mã cho đó là đất man mọi, đã thành các quận huyện
của Tàu rồi thì viết sao cũng được, có sai chút đỉnh cũng chẳng việc gì, bởi những
nơi ấy sẽ là đất của Tàu một trăm phần trăm với các tên khác, chẳng ai buồn biết
tới sử của các nơi ấy mà chi. Không dè nó lại không thành đất Tàu, và trái lại,
nó có tham vọng biết chắc về nguồn gốc của nó, nó tò mò, lần dò, lục lạo tỉ mỉ,
và làm cho lòi ra cái sự viết liều của ông ta.
Cũng xin nhắc lại rằng trong chương đó Tư Mã Thiên cũng chỉ
dùng có một lần cái danh xưng bịa kỳ khôi ấy mà thôi, còn thì ông tiếp tục gọi
đất phía Tây của Triệu Đà là Âu Lạc, chớ không nói lần thứ nhì là Tây Âu Lạc nữa,
vì lẽ gì thì chúng tôi đã giải thích rồi: ông ta chợt thấy mình ghép chữ sai,
nhưng không thể bôi xoá được mà cũng lười bỏ cả để viết lại trọn quyển.
Và cũng xin nhắc rằng Ban Cố thì lại khác, gọi phía Tây của
Triệu Đà là Tây Âu. Nhưng hai ông đó không có sai, cũng không có mâu thuẫn với
nhau.
Họ chỉ hai nơi khác nhau chớ không phải một.
Tư Mã Thiên: "Kỳ Tây, Âu Lạc…"
Ban Cố: "Tây hữu Tây Âu…"
Họ nói đến các vùng phía Tây của quận Nam Hải, các vùng đó giống
nhau về phong tục, về y phục, Tây Âu và Âu Lạc đều có thói ăn, nếp ở như nhau,
thì chỉ nước nào cũng được, cũng đúng cả, chớ không phải là họ xem hai địa danh
đó đồng nghĩa, cùng chỉ một nước.
Và cũng xin nói rõ là Triệu Đà chỉ chiếm được có quận Nam Hải.
Phần đất còn lại của nước Tây Âu được chính dân Tây Âu quật cường, quản trị và
lãnh đạo. Ban Cố gọi các phần đất còn lại đó là Tây Âu, là gọi đúng chớ không
phải sai. Như ở nước ta hiện nay ta mất hết miền Bắc, nhưng phần còn lại ở miền
Nam cũng cứ được ta và các nước khác gọi là Việt Nam.
Mà cả ở miền Bắc họ cũng xưng họ là Việt Nam và các nước bạn
của họ cũng gọi miền Bắc là nước Việt Nam.
Nhiều sử gia không hiểu cái lẽ đó nên quá bối rối về địa danh
Tây Âu. Tây Âu đã bị Tần diệt rồi, rồi lọt vào tay Triệu Đà, cớ sao lại cứ còn
Tây Âu mãi, khiến họ nghĩ Tây Âu là nước khác, mà cái nước khác đó chỉ có thể
là Cổ Việt Nam.
Họ quên mất rằng Tây Âu của Tàu chỉ lọt vào tay Triệu Đà có
1/3, 2/3 còn lại được chính dân Tây Âu quật cường và lãnh đạo hoặc bị hai ông
quận trưởng (Giám) ở đó lãnh đạo, cũng đồng cách với Triệu Đà là nổi loạn với
chính quốc của họ, và cũng cứ còn được gọi là Tây Âu, vì Triệu Đà không có cướp
địa danh, mà lấy địa danh khác là Nam Việt, tại huyện Long Xuyên.
Vì Tư Mã Thiên tiền hậu bất nhứt nên H. Maspéro thấy rằng
danh xưng Tây Âu Lạc của Tư Mã Thiên không thể dùng làm chứng tích được, nên
ông phải viết chữ nho kỳ dị:
Kỳ, Tây Âu Lạc…
để cho danh xưng đó xuất hiện một cách mà ông ấy tưởng là ổn
thoả hơn.
Nhưng nếu ổn thoả tạm thì Tư Mã Thiên mới là ổn thoả, họ Tư
Mã đưa ra cái danh xưng không có ấy là nói tắt theo Tàu rằng có sự sáp nhập đất
đai của hai nước đó, sự kiện đúng hay sai không chưa biết, nhưng lối nói tắt của
Tàu là như thế đó.
Người Tàu không ưa cắt nghĩa dài dòng. Đưa ra một danh xưng mới
là đã nói thầm lên rất nhiều việc, không riêng gì Khổng Tử đã làm như vậy
trong Xuân Thu, mà tất cả các tác giả Tàu xưa đều làm như vậy hết. Cả dân
chúng cũng làm như vậy nữa.
Chẳng hạn dân chúng có lối tả kỳ dị như sau đây: Tỵ ẩm = Uống
bằng mũi. Nhưng làm thế nào để uống bằng mũi được kia chớ?
Đó là họ tả người man di chưa biết dùng chén bát, cúi mặt xuống
dòng nước để uống bằng… miệng, nhưng mũi chạm phải nước luôn luôn.
Kể ra thì họ cũng giỏi lắm, bởi không thể diễn cách nào khác
hơn được để nói ra 24 tiếng mà chỉ phải dùng có hai chữ.
Ông H. Maspéro không biết lối ăn nói co rút như vậy nên ông
không dám dùng danh xưng mà Tư Mã Thiên đã đưa ra, nhưng họ Tư Mã có đầy đủ lý
do để tạo một danh xưng, chỉ có điều là lời giải thích thầm lặng, chứa đựng
trong đó, không đúng với sự kiện mà thôi.
Đây là một điểm sử cần được phanh phui, vì có quá nhiều cuốn
sử của Tàu và ta nói rằng có sự kiện sáp nhập đất đai giữa Tây Âu và Âu Lạc.
Nhưng hai lý do mà chúng tôi đã đưa ra, đính chánh mạnh sự ngộ nhận đó. Xin nhắc
lại hai lý do:
A. Tên Phán không dại mà chinh chiến khó nhọc để dâng kết quả
cho Trạch Hu Tống, khi y chỉ là thường dân ở trọ, chớ không hề là quan là tướng
của Trạch Hu Tống.
Sử Tàu nói là y xưng Vương và toàn quyền độc lập, không hề là
phó vương của Trạch Hu Tống như vậy thì không có thể có một cuộc sáp nhập lỏng
lẻo nào hết.
Ta lại cần phanh phui điểm sử này vì bao nhiêu ngộ nhận về Âu
Lạc và Tây Âu đều do danh xưng bịa càn Tây Âu Lạc của Tư Mã Thiên mà ra cả.
Nếu không có danh xưng bịa đó thì đâu đã ra đấy, ông H.
Maspéro, ông L. Aurousseau, ông Trần Kinh Hoà, v.v. sẽ không hiểu lầm Tây Âu là
Âu Lạc, là Tây Vu, là Thượng du Bắc Kỳ, v.v, và v.v.
Nhưng Tư Mã Thiên không là chánh phạm, tại các sử gia ấy thiếu
tinh thần khoa học đó thôi, vì sử Tàu chép rõ rằng họ chỉ chinh phục được
có ba nước chớ không phải bốn, rõ như ban ngày, thế mà các ông lại đưa một
quốc gia thứ tư vào là Âu Lạc.
Mà cũng có ông hiểu rằng Tây Âu đích thực là Âu Lạc mới chết
chớ. Nhưng hiểu như thế làm sao được, nước Âu Lạc chỉ nhỏ bằng bàn tay (nguyên
văn của vua trào Trần) thì làm sao mà chứa nổi ba quận, mỗi quận lớn hơn cả
toàn quốc Việt Nam ngày nay nữa.
(Một vài sử gia ta và Pháp cho rằng sử Tàu bịa ra An Dương
Vương. Thử hỏi các sử gia Trung Hoa bịa ra An Dương Vương để làm gì? Và một
nhơn vật chỉ xuất hiện một vài năm, còn có thể bịa được chớ một nhơn vật đã cai
trị nửa thế kỷ thì không sao bịa mà khỏi bị người đồng thời hoặc các sử quan
khác tố cáo.
Hơn thế, cái nhơn vật An Dương Vương đó không hề giúp cho
Trung Hoa hãnh diện chút nào về phương diện nào hết thì họ không có lý do bịa
ra ông ấy).
Thuyết về An Dương Vương trên đây không ổn nếu tin theo Tư Mã
Thiên. Tác giả Sử Ký viết rằng Triệu Đà diệt An Dương Vương năm 180
T.K.
Thế thì vua An Dương Vương đã 100 tuổi rồi vào năm đó, thì
còn làm sao mà đánh giặc được? Nhưng Tư Mã Thiên đã viết sai sự thật. Quả thật
thế, Triệu Đà đã qua đời năm 137 trước Kitô kỷ nguyên. Ông ta ở ngôi được 70
năm. Đó là hai điểm chắc chắn. Như vậy năm ông ta diệt An Dương Vương và lên
ngôi phải là: 137 + 70 = 207 trước Kitô kỷ nguyên. Năm 180 thì Triệu Đà chưa
làm tri huyện (Uý).
Sai lầm rõ ràng này của Tư Mã Thiên, cho thấy rằng không phải
luôn luôn Sử Ký viết đúng sự thật như nhiều sử gia đã tin và lấy Sử
Ký làm tài liệu căn bản.
Xin "biên niên" lại tất cả mọi sự kiện để kiểm soát
thử xem:
Nước Thục bị diệt năm 316 trước T.K.
Thục Vương tử lưu vong thứ nhứt sanh năm 315 -
Thục Vương tôn mà cũng cứ được gọi là Thục Vương tử, tên là
Phán sanh năm 290 -
Phán hưng binh để diệt Hùng Vương 18 năm 257 -
Phán lên ngôi lấy hiệu An Dương Vương 257
An Dương Vương bị Triệu Đà diệt năm 207 -
Nhưng không nên quên sự kiện này là Phán chỉ đặt lại tên của
nước Văn Lang mà không bao giờ có sáp nhập Văn Lang vào Tây Âu.
Ta nên thử tưởng tượng ra điều này. Sau khi An Dương Vương diệt
Hùng Vương 18 rồi thì chưa có danh xưng Âu Lạc mà cũng cứ chỉ có danh xưng Văn
Lang mà thôi, và trong giây phút mà An Dương Vương nghĩ ra một danh xưng mới,
cũng chưa có danh xưng Âu Lạc thì làm sao mà có được Tây Âu + Âu Lạc.
Trong cái giây phút đó thì An Dương Vương nghĩ đến hai giải
pháp:
Nhập tên hai nước lại. Mà như vậy thì phải là Tây Văn hoặc
Tây Lang.
Nhập tên hai dân lại. Như vậy thì: Âu + Lạc.
Ông đã chọn giải pháp thứ nhì vì giải pháp thứ nhứt ông không
có quyền dùng cũng không được phép lạm dụng tên của một cường quốc đã cho ông ở
trọ.
Không thể có giải pháp thứ ba là Tây Âu + Âu Lạc vì trong
giây phút đó chưa hề có danh xưng Âu Lạc kể cả trong ý nghĩ thầm kín của ông ấy
nữa.
Có thế nào mà cải Văn Lang lại thành Âu Lạc rồi mới có việc
sáp nhập tên hay chăng? Không. Vì không có lý do, vả lại nếu có thì phải:
Tây Âu + Âu Lạc = Tây Lạc
chớ không không làm sao mà Tây Âu Lạc được cả.
Chúng tôi còn nhớ khi làng của chúng tôi là làng Tân Uyên nhập
với làng quá nhỏ ở liên ranh, tên là làng Hiệp Hưng, hương chức hội tề của hai
làng đã cãi nhau đến một năm mới xong cái tên mới của làng, khiến hành chánh tỉnh
đã phải sốt ruột và thúc giục, cảnh cáo nhiều phen.
Người ta chọn năm tên tất cả:
Tân Uyên + Hiệp Hưng = Tân Hiệp
Tân Uyên + Hiệp Hưng = Tân Hưng
Tân Uyên + Hiệp Hưng = Hiệp Tân
Tân Uyên + Hiệp Hưng = Hưng Tân
Tân Uyên + Hiệp Hưng = Hiệp Uyên
Rốt cuộc danh xưng Uyên Hưng ra đời, từ 40 năm nay, vì dân
làng Tân Uyên bám níu vào chữ Uyên quan trọng, nó tả địa hình của làng cạnh bên
bờ vực cao của sông Đồng Nai.
Nhưng Hiệp Uyên thì không ổn vì dân làng Hiệp Hưng bám níu
vào chữ Hưng của họ. Các tên khác thì quá xoàng như Tân Hiệp, Tân Hưng, v.v.
Tên của một làng tăm tối mà còn như thế đó, thì tên nước
không phải muốn đặt sao thì đặt mà không kể đến quá nhiều yếu tố chống chọi với
nhau. Phương chi Trạch Hu Tống lại là vua của một đại cường quốc đã hạ sát được
tổng tư lịnh của đạo binh viễn chinh của Tần Thỉ Hoàng, thì ông ta hẳn có nhiều
đòi hỏi, còn An Dương Vương vừa thắng trận, vừa có nước, không phải là dễ sai
khiến.
Chỉ vào lúc Triệu Đà diệt An Dương Vương rồi thì mới có sáp
nhập, nhưng lại sáp nhập dưới một cái tên mới lạ hoàn toàn: Nam Việt.
Ở đây, vấn đề Tượng Quận lại bỗng hoá ra hết quan trọng nếu
chứng minh được rằng Tần không có chiếm Âu Lạc thì thuyết Tượng Quận là Cổ Việt
Nam tự nhiên phải đổ vỡ, bởi hễ không chiếm Âu Lạc thì không làm sao mà biến Âu
Lạc thành Tượng Quận được cả.
Nếu Âu Lạc có đầu hàng nhà Tần như vài quyển sử đã nói và An
Dương Vương chịu làm quan Giám quận để được yên thân thì hẳn sử có chép đến
quan Giám An Dương Vương, cai trị Tượng Quận, đằng này sử cứ tiếp tục gọi ông
là vua nước Âu Lạc thì cũng không có vấn đề Tàu biến Âu Lạc ra Tượng Quận,
không bằng chiến tranh, mà bằng sự ưng thuận của An Dương Vương.
Tưởng như thế, đủ chứng minh rằng Tây Âu hay Tượng Quận gì
cũng không hề dính líu đến cổ Việt Nam.
Nhưng, như đã nói, Lão Cán đã trưng ra đầy đủ văn kiện cổ để
chỉ Tượng Quận là ở đâu rồi thì suy luận nữa cũng bằng thừa.
Chúng tôi chỉ đưa thêm chứng tích để củng cố thêm tài liệu của
Lão Cán mà thôi, vì tài liệu đó ít ai có để mà đọc, nhưng đọc chứng tích của
chúng tôi tưởng cũng đủ, hơn thế nó lại mới lạ hơn của Lão Cán, Lão Cán chỉ
chép tài liệu cổ trực tiếp còn chúng tôi thì trình tài liệu cổ gián tiếp, tuy
là gián tiếp, nhưng rất vững.
Chúng tôi lại đi xa hơn Lão Cán là chứng minh được về sự kiện
Âu Lạc và Tây Âu là hai nước kh ác nhau, và Tần không có bao giờ đánh Âu Lạc cả,
trong khi Lão Cán chỉ chứng minh được về Tượng Quận mà thôi.
Bằng chứng thứ nhứt
Trước khi tìm được tài liệu cổ kim đính chánh Tượng Quận là cổ
Việt Nam, và Tây Âu là Âu Lạc, chúng tôi có thử tìm, bằng toán pháp, và nay so
lại thì kết quả của sự tìm tòi của chúng tôi ăn khớp với sự thật lòi ra ở những
bằng chứng sử liệu Tàu.
Chúng ta nên viết tắt các tên quận đời Tần và các quận đời
Hán đợt đầu như sau đây, các quận này đều ở Hoa Nam và trong đó có nước Tây Âu.
Nam Hải = NH
Tần Quế Lâm = QL
Tượng Quận = TQ
Hán đợt I
Nam Hải = NH
Uất Lâm = UL
Thương Ngô = TN
Giao Chỉ = GC
Cửu Chơn = CC
Nhựt Nam = NN
Hợp Phố = HP
Nói đời Hán đợt đầu vì ở đợt đầu, Hán chưa chinh phục Hải Nam
và chưa có hai quận Châu Nhai, Thiềm Nhĩ, nên mới có 7 quận thôi, chớ không phải
9 như Ngô Thì Sĩ đã chép sai.
Ta đặt ra phương trình sau đây:
TẦN
NH + QL + TQ =
H Á N
NH + UL + GC + CC + NN + HP + TN
Ta loại lần các quận trùng nhau ở cả hai vế. Vòng loại đầu,
ta bỏ Nam Hải và Quế Lâm ở cả hai bên vì hai quận đó giống nhau ở cả hai đời Tần
và Hán. Ta còn:
TQ = GC + CC + NN + HP + TN
Ta lại bỏ GC + CC + NN là đất cổ Việt vừa được tướng Hán là Lộ
Bác Đức mới chiếm, đời Tần chưa có, ta còn:
TQ = HP + TN
Biết rằng Hợp Phố là quận đặt sau, cắt bởi đất Giao Chỉ và
Nam Hải mà lập ra, ta bỏ HP. Vậy ta còn:
TQ = TN
Tượng Quận = Thương Ngô
Bài toán trên đây rất phù hợp với sử liệu đời Hán, vì sau cuộc
thắng trận của Lộ Bác Đức thì Tượng Quận biến mất ở vùng đó mà Thương
Ngô lại xuất hiện. Nếu không ai biết Tượng Quận và Thương Ngô ở đâu thì Thương
Ngô là tên mới của Tượng Quận rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Đành rằng Giao Chỉ,
Cửu Chơn, Nhựt Nam cũng mới xuất hiện, nhưng ai cũng biết đó là đất mới chiếm
và ta biết vị trí, còn Thương Ngô thì tại không biết ở đâu thì Thương Ngô là Tượng
Quận vậy. Hán không có chiếm đất nào mới hơn là Giao Chỉ, Cửu Chơn, Nhựt Nam,
thì một danh xưng mới, phải là tên mới của một đất cũ mà danh xưng biến mất.
Lại xin nhắc rằng cái Tượng Quận bị cắt làm hai nhập vào Uất
Lâm và Tràng Sa về sau đó là Tượng Quận đời Hán, không dính líu gì đến Tượng Quận
đời Tần là Thương Ngô. Nhưng cả hai Tượng Quận này đều không khác nhau bao
nhiêu như ta đã thấy ở ám chỉ về nghiên cứu của Lão Cán.
Nay truy ra thì Thương Ngô nằm giữa Vân Nam và Quảng Tây ở
sát Hạ chí Tuyến; về mặt Bắc của Hạ chí tuyến.
Thương Ngô sản xuất rất nhiều voi, mà nếu quả Tượng Quận
là quận có nhiều voi thì Thương Ngô không trái với sự kiện voi.
Toàn thể các nhà bác học đều bị ám ảnh vì loài voi, nhưng
chưa chắc nhà Tần đặt tên như thế là vì loài thú đó. Dưới thời Xuân Thu, ở
nước Vệ có Tượng Ấp, nhưng nước Vệ ở mãi tận Hoa Bắc, nơi đó không có con
voi nào cả thì bảo sao?
Nhưng nếu muốn voi, cứ được voi, vì dầu sao Thương Ngô cũng vẫn
là nơi sản xuất voi chớ không riêng gì "Bắc Kỳ", mà còn trái lại nữa.
Bắc Việt chưa bao giờ có nhiều voi, từ cổ đến kim, nơi đó không hề nổi danh vì
voi.
Nhưng một tài liệu cổ Trung Hoa mà chúng tôi moi ra, cho biết
Tượng là gì. Đó là một điều mà không ai chú ý đến cả.
Sách Lễ Ký, chương Vương Chế, cho biết rằng người
Tàu các đời Hạ, Thương, Chu, gọi phương Đông là Kỳ, phương Nam
là Tượng, phương Tây là Đích Đề, phương Bắc là Dịch.
Lễ Ký lại còn cho biết thêm rằng dưới đời Chu có một chức
quan tên là Tượng tư, quan ấy có nhiệm vụ trông nom việc bang giao với
các man di ở phương Nam.
Vậy Tượng Quận chỉ có nghĩa là một quận ở phương
Nam, chớ chẳng liên hệ gì tới voi cả mà bao nhiêu học giả cứ nói đến voi mãi.
Còn cái huyện Tượng Lâm của quận Nhựt Nam (Huế) thì mới có thể
là huyện Rừng Voi, vì quả ở đó có voi nhiều và nghĩa cũ của chữ Tượng =
Phương Nam cũng đã mất rồi vào năm nhà Hán đặt tên cho huyện Tượng Lâm.
Tới đây thì các ông quả quyết rằng Tượng Quận là Nhựt Nam, vì
ở đó có huyện Tượng Lâm, là những ông quả quyết liều.
Viết sử bằng cảm giác Tượng là voi không có gì nguy
hiểm bằng.
Danh từ Tượng bị hiểu lầm là voi, giống tiếp đầu ngữ Austro bị
hiểu lầm là Úc Châu, nhưng cả hai chỉ có nghĩa là Phương Nam.
Bằng chứng thứ hai
Bằng chứng này của ông L. Bézacier, nguyên quản thủ các di
tích lịch sử Việt Nam cho tới năm 1944: "Tất cả những ngôi mộ cổ của
quan Tàu ở Đông Dương, toàn là mộ đời Hậu Hán về sau (tức từ sau Mã Viện).
Không hề có một Trung Hoa cổ từ thời Mã Viện về trước".
Thế nghĩa làm sao? Rất dễ thấy sự thật. Từ đời Tần cho đến Mã
Viện, không có quan Tàu sang nước ta. Nếu nước ta là Tây Âu, là Tượng Quận như
các ông nói thì họ đã có chiếm, đã có quan của họ chết và được chôn ở đó, và mộ
quan phải còn.
Cũng không hề có dân Tàu di cư như các ông O. Jansé và Nguyễn
Phương đã quả quyết rằng có, mà đừng tưởng rằng vì dân di cư nghèo làm mộ đất
mà không có dấu vết. Chính ông O. Jansé đã quả quyết rằng họ là rể của Lạc Tướng,
Lạc Hầu, thì họ phải là những nhơn vật Hoa Kiều rất quan trọng.
Suy luận viển vông, dựa vào sử liệu gián tiếp không sao thắng
nổi khoa khảo cổ. Nhưng buồn cười lắm là chính ông O. Jansé làm công việc đào mồ
cuốc mả, nhưng ông lại không biết thấy sự thật lịch sử ở đó, để cho người khác
thấy là ông L. Bézacier, ông O. Jansé đã không thấy lại còn kết luận ngược lại
là từ đời Chu đã có người Tàu đến làm rể của các lãnh chúa (chefs féodaux) ở cổ
Việt Nam rất đông. Có lẽ là Thi Sách, chồng bà Trưng chăng?
Bằng chứng thứ ba
Bằng chứng này lại càng mạnh hơn vì đó là sử của Tư Mã Thiên.
Chúng tôi thấy là Tư Mã Thiên viết sai sự thật rất nhiều. Tuy
nhiên, cũng có vài điểm họ Tư Mã viết đúng, chớ không phải điểm nào cũng sai hết.
Về việc Tần đánh Ngũ Lĩnh tới đâu thì ta có thể tin Tư Mã
Thiên được vì ta kiểm soát chặt chẽ thì thấy ở đoạn đó Tư Mã Thiên không vô lý ở
điểm nào hết.
Thế nên vừa công kích mạnh Tư Mã Thiên ở các trang trước ở
đây chúng tôi lại đưa Tư Mã Thiên ra để làm nhân chứng với tinh thần vô tư và
không thành kiến với sử gia đó, cái nào ông ấy sai thì cứ công kích thẳng tay,
nhưng cái nào ông ấy đúng thì cần nghe theo ông ấy, không sợ bị mắng là khen
chê bất nhứt.
Một người viết một bộ sử dày hàng ngàn trang, tất nhiên cũng
viết đúng được chút ít, ta không nên thấy người ấy sai nhiều điểm quá rồi gạt
quyển sử của người ấy ra một cách bất công.
Câu sử quan trọng chỉ đích xác Tượng Quận ở đâu, do chính ông
L. Aurousseau tìm ra, nhưng ông lại không dùng câu ấy được, đúng theo nghĩa của
nó, vì ông không hiểu câu đó muốn nói gì.
Sử Ký của Tư Mã Thiên có một câu ngắn khẳng định về biên
giới cực Nam của Ngũ Lĩnh dưới đời nhà Tần. Theo Sử Ký thì sau
khi chiếm xong Ngũ Lĩnh, biên giới cực Nam của nhà Tần là nơi mà thiên hạ
cất nhà day cửa về hướng Bắc.
Tư Mã Thiên đã dùng từ ngữ bí hiểm là "Bắc Hộ" để
diễn cái ý trên đây. Ông L. Aurousseau là giáo sư chữ Nho, ông hiểu "Bắc
Hộ" là cất nhà day cửa về hướng Bắc, nhưng ông lại không biết cái
thiên văn sai lầm mà Tư Mã Thiên đã biết. Hơn thế, ông không hề nghe nói có một
nơi nào mà dân chúng cất nhà kỳ dị như vậy, nên ông cho là Tư Mã Thiên bịa, nên
ông bỏ qua, đi phỏng đoán cho sai sự thật.
Theo khoa thiên văn thật đúng thì trên trái đất, vào những giờ
trưa và vào vài ngày nào đó trong một năm, nói đích xác là vào những ngày Hạ
chí (Soistice d’été) có những nơi mà con người thấy mặt trời nằm ở hướng Bắc của
họ.
Người Tàu đã biết điểm thiên văn ấy rồi, vào thuở đó. Nhưng
những nơi ấy là những nơi nào thì người Tàu chỉ bắt đầu biết chắc vào đời Tần
mà thôi, bằng cách đặt Nhật Khuê (Ngomon) tại Phiên Ngung, sau khi chiếm trọn
Ngũ Lĩnh. Có lẽ đó là lý thuyết thiên văn của Hy Lạp mà người Tàu học được,
nhưng họ có kiểm soát lại, không biết họ bắt đầu kiểm soát từ thời nào, nhưng họ
chỉ thành công sau cuộc chinh phục của Tần Thỉ Hoàng mà thôi và họ thấy rằng lý
thuyết ấy đúng, vì khi đặt nhật khuê tại Phiên Ngung thì họ thấy hiện tượng đó
xảy ra.
Đó là nơi mà ngày nay khoa thiên văn gọi là Hạ chí Tuyến Bắc
(Tropiques Nord du Cancer). Hạ chí Tuyến Bắc chạy ngang thành Phiên Ngung, ở dưới
Quảng Đông tỉnh lỵ ngày nay chừng một cây số.
Tư Mã Thiên chỉ mới biết tới đó mà thôi rồi ông chết đi. Những
kiểm soát về sau, do Mã Viện thực hiện, ông không được hưởng.
Đám trí thức Tần nằm nhà, nghe tin sự thành công khoa học ấy,
bày ra cái huyền thoại này là dân ở đó cất nhà day mặt hướng Bắc vì họ suy luận
theo lối Tàu rằng hễ khi mà mặt trời nằm ở hướng Bắc của con người thì hẳn con
người phải day cửa hướng Bắc để hưởng mặt trời. Họ không biết rằng hiện tượng ấy
chỉ xảy ra có vài ngày trong một năm, và có vài giờ trong vài ngày đó, thì dân
không dại gì mà cất nhà như vậy.
Huyền thoại "Bắc Hộ" chắc không phải do
Tư Mã Thiên bịa ra, nhưng ông đã dùng huyền thoại đó trong Sử Ký.
Tư Mã Thiên không phải là một người nằm nhà, ông đã đi nhiều
nhứt trong các sử gia Tàu, nhưng ông tự thú rằng về phía Nam, ông chỉ đi tới
Giang Hoài (Sử Ký). Như vậy, ông dùng huyền thoại là chuyện dĩ nhiên, bởi ông
không thấy cảnh vật Phiên Ngung.
Soạn giả Sử Ký chết đi với cái huyền thoại thứ nhứt
đó.
Rồi Mã Viện lớn lên, đi viễn chinh, kiểm soát lại, và một huyền
thoại thứ nhì lại ra đời.
Xin nhắc rằng sử nhà nước của Tàu chép rằng Mã Viện đuổi theo
tàn quân của hai bà Trưng đến Cư Phong diệt được họ rồi thôi.
Nhưng những quyển sử không chính thức, thí dụ quyển Thuỷ
Kinh Chú, thì lại chép tỉ mỉ rằng Mã Viện còn đi nữa, đi cho tới cực Nam của quận
Nhựt Nam mới thôi, cái phần sau đó Thuỷ Kinh Chú viết rất dài, chớ
không phải chỉ có 6 chữ như Hậu Hán thư.
Tác giả Thuỷ Kinh Chú, Lệ Đạo Nguyên, là một thứ sử Giao
Chỉ. Suốt nhiệm kỳ của ông ấy, ông không có làm gì quan trọng cả, mà dân ta
cũng không có nổi loạn, nên sử Tàu không hề nói đến tên ông, sau sắc phong thứ
sử. Nhưng ông có viết một quyển sách rất quan trọng đối với dân ta, đó là quyển Thuỷ
Kinh Chú, trong đó việc Mã Viện đi xa xuống phương Nam, được ghi chép tỉ mỉ từng
li, từng tí, khó có thể nói rằng ông bịa. Sở dĩ sử nhà nước không chép đoạn sử ấy
vì một bí mật quốc gia của Tàu sẽ được tiết lộ ở chương Bí mật Mã Viện.
Mã Viện không có đánh ai cả, từ Cư Phong đổ xuống, nhưng ông
có hai sứ mạng khoa học mà chúng tôi chỉ kể ra đây sứ mạng thứ nhứt mà thôi, là
đặt nhật khuê để kiểm soát thêm về lý thuyết thiên văn nói trên.
Mã Viện đã đặt thêm hai nhật khuê, một ở Giao Chỉ và một ở
Huyện Tỵ Ảnh, quận Nhựt Nam.
Vài quyển sử ta viết về phong tục người Chàm, thường nói đến
vụ cất nhà day mặt hướng Bắc của người Chàm. Họ viết theo các sử gia Tàu sai lầm,
chớ sự kiện ấy không hề có bao giờ.
Sự thật khoa học này, Mã Viện chỉ biết có 1 phần 10, vì hiện
tượng ấy kéo dài cho đến đường xích đạo, tức cách Phiên Ngung 5 ngàn cây số,
cách Nhựt Nam 4.000 cây số.
Mã Viện rất cẩn thận, và ông biết rằng hiện tượng mặt trời ở
hướng Bắc của con người vào buổi trưa, chỉ xảy ra có vài giờ trong vài ngày của
một năm mà thôi.
Thấy rõ là sự hiểu biết về thiên văn của người Tàu vào thuở
đó còn thô sơ lắm; và chính vì thế mà ông L. Aurousseau cho rằng Tư Mã Thiên bịa
nên không dùng câu đó làm tài liệu, bởi trên thực tế, không ai lại dại mà cất
nhà day mặt hướng Bắc để chỉ hưởng lợi được có mấy tiếng đồng hồ trong vài ngày
của mỗi năm.
Mà cũng tại ông L. Aurousseau không biết cái trình độ kém về
thiên văn của Tư Mã Thiên, chớ nếu ông biết, ông đã cố tìm hiểu Tư Mã Thiên.
Mã Viện chợt thấy Tư Mã Thiên sai:
Không có ai cất nhà day mặt về hướng Bắc cả, bất kỳ ở đâu.
Nhiều nơi khác cũng đồng tánh cách với Phiên Ngung. Họ Mã đã
đặt Nhật Khuê ở Giao Chỉ và Tỵ Ảnh. Vì thế mà chỗ đó mới được đặt tên là huyện
Tỵ Ảnh. Tỵ Ảnh là trốn hình bóng của mình hoặc bóng của mình trốn mất, hoặc
mình che bóng của mình vào giờ Ngọ vì ở Hoa Bắc vào giờ Ngọ thì bóng của con
người ngã dài ra về hướng Bắc tức mặt trời ở hướng Nam con người chớ không có
tình trạng Đứng bóng như ở Việt Nam. Tỵ Ảnh dịch thật đúng từ ngữ Đứng
bóng của ta.
Cái quận Nhựt Nam (gồm huyện Tỵ Ảnh) sở dĩ trước kia được Lộ
Bác Đức đặt tên như vậy vì họ Lộ nghe đồn ở đó con người ở phía Nam của mặt trời
còn nhiều hơn ở Phiên Ngung nữa.
Lộ Bác Đức cũng là một viên tướng nằm nhà. Diệt Triệu Bà
xong, ông ta tiếp tục chánh sách của Triệu Đà, tức gởi đại diện Tàu xuống cai
trị vùng dưới, vùng Cổ Việt, mà không hề dám ra khỏi thành Phiên Ngung vì sợ
cái nóng nhiệt đới.
Thế nên đặt tên quận, huyện, ông ta phải căn cứ trên lời đồn.
Ông nghe đồn rằng ở dưới Cửu Chơn, hiện tượng mặt trời lại còn ở phía Bắc con
người nhiều hơn ở Phiên Ngung nữa, nên ông tách quận Cửu Chơn quá dài thành hai
quận, phía dưới là Nhựt Nam, có nghĩa là mặt trời của phương Nam rất độc đáo,
chớ không phải là mặt trời nằm ở phía Nam con người, vì như đã nói, càng đi xuống,
mặt trời càng ở phía Bắc của con người vào mùa Hạ chí.
Tóm lại, Tư Mã Thiên chỉ biết có tình hình khí tượng Phiên
Ngung là nơi mà nhà Tần đã thí nghiệm xong. Nhưng nếu họ Tư Mã biết nhiều hơn
thì ông ấy cũng sẽ nói Phiên Ngung là nơi "Bắc Hộ", vì biên giới là một
lằn mức mỏng như sợi chỉ, chớ không thể là một phần đất dài 5.000 cây số được.
Như vậy muốn lấy thiên văn để chỉ cái lằn mức đó, người viết sử chỉ có thể dùng
hai nơi là nơi bắt đầu và nơi cuối cùng vì hai nơi đó có tánh cách tiêu biểu,
tánh cách tượng trưng. Nơi cuối cùng là đường xích đạo, nơi bắt đầu là thành
Phiên Ngung.
Ngày xưa ở Trung Hoa (mà cho cả ở Địa Trung Hải cũng thế) những
nhà sử địa thường dùng thiên văn để định vị trí của những nơi xa xôi đối với xứ
của tác giả.
Như vậy Tư Mã Thiên không có làm việc trái đời chút nào hết, mà làm đúng theo
phương pháp thuở đó khi lấy hai tiếng "Bắc Hộ" để chỉ biên giới cực
Nam của nước Tàu dưới đời Tần, sau trận Ngũ Lĩnh.
Chỉ rắc rối là cái khoa thiên văn ấy chỉ mới được kiểm soát lần
đầu vào nơi bắt đầu của vùng nhiệt đới dài mười ngàn cây số mà thôi, vùng này
chạy từ Phiên Ngung cho đến đường xích đạo là lên tới cực điểm rồi hạ xuống lần
lần cho tới Nam Chí Tuyến (tropiques du Capricorne), chạy ngang từ xứ Úc Đại Lợi,
tổng cộng là 10 ngàn cây số là hết và phiền nữa là sự kiểm soát ấy lại bị huyền-thoại-hoá
với vụ "Cất nhà day mặt hướng Bắc" ly kỳ ấy.
Chúng tôi nói rằng chỉ có thể dùng hai nơi là Hạ Chí Tuyến Bắc
(tropiques Nord du Cancer) và đường xích đạo để làm nơi tiêu biểu cho lằn ranh
giới. Nhưng có thế nào mà Tư Mã Thiên lại làm sai phương pháp, lấy một lằn mức ở
Giao Chỉ hay không?
Không, bởi vì sử Tàu chỉ nói đến việc đặt nhựt khuê tại
Phiên Ngung dưới đời Tần mà không nói đến việc đặt ở nơi khác như đã nói vào thời
Mã Viện.
Câu sử trên đây giải quyết một lượt đến hai vấn đề: Tượng Quận
và Tây Âu. Khi biên giới cực Nam của Tàu mà nằm tại Hạ chí tuyến Bắc thì Tần
không có chiếm Âu Lạc, vì Hạ chí Tuyến Bắc là Phiên Ngung.
Người đặt tên cho quận Nhựt Nam cũng bí hiểm không kém Tư Mã
Thiên vì Nhựt Nam cũng gây ngộ nhận.
Thứ nhứt, hai tiếng Nhựt Nam đã làm cho nhiều người hiểu sai
rằng ở đó mặt trời ở phía Nam con người, mà thật ra thì ở đó mặt trời ở phía Bắc
của con người vào mùa Hạ chí.
Đã bảo Nhựt Nam là Mặt trời phương Nam độc đáo. Nhưng
làm sao mà hiểu như vậy cho được chớ?
Các ông Tàu dùng chữ quá bí hiểm như vậy đó. Chính ở Hoa Bắc
thì hiện tượng Nhựt Nam mới xảy ra hằng ngày, nếu hiểu theo nghĩa thông thường
Nhựt Nam là mặt trời ở phía Nam của con người.
Cũng như hiện tượng ban ngày mặt trời bị mặt trăng che, họ gọi
là Nhật thực tức Mặt trời ăn. Sự thật thì chính Mặt trăng
ăn mặt trời ấy chớ, và phải gọi là Nguyệt thực mới đúng cho. Còn như
muốn dùng chữ Nhật thì phải nói Nhật bị thực mới ổn.
Lại còn Tỵ Ảnh nữa. Thật ra thì chỉ có tại đường Xích đạo mới
có thể đặt tên là Tỵ Ảnh, còn đứng về mặt tương đối thì chính huyện Tượng Lâm tỵ
ảnh nhiều hơn huyện Tỵ Ảnh, bởi huyện Tỵ Ảnh ở trên Tượng Lâm khá xa, tức ít Tỵ
Ảnh hơn Tượng Lâm nhiều lắm.
Thấy rõ là họ đặt địa danh bậy bạ hết, và ai tin rằng Việt
Thường là đất của dân Việt Thường đời Chu Công Đán là lầm to.
Thứ hai, lối đặt tên bậy bạ như vậy đã gây ngộ nhận cho vua
Tàu một cách buồn cười và ngộ nghĩnh.
Sử Tàu chép rằng một ông quan ở Nhựt Nam được sang Tàu, được
chầu vua, và vua Tàu hỏi có phải ở Nhựt Nam thiên hạ cất nhà day cửa hướng Bắc
hay không? Người Nhựt Nam trả lời rằng làm gì có cái việc kỳ lạ như vậy, mỗi
người day cửa theo hướng tiện lợi thôi chớ, như ở gần sông day cửa xuống sông,
gần biển day cửa ra biển mà biển thì ở hướng Đông.
Ở đây sự ngộ nhận lại chạy sang nẻo khác nữa và người mình lại
hoan hô ông Nhựt Nam ấy dữ lắm. Nguyên vua Tàu có tục bắt các phiên thần day về
hướng Bắc để tỏ ý thần phục vì hướng mà Trung Hoa cho là tốt, là đáng nhìn, là
hướng Nam. Vì vậy mà người mình ngỡ câu hỏi của vua Tàu có ẩn ý muốn biết người
Nhựt Nam quả có thần phục nước Tàu đến mức mà cả toàn dân đều thực hiện cái lịnh
day mặt hướng Bắc hay không, còn câu đáp của ông Nhựt Nam cũng có ẩn ý rằng dân
Nhựt Nam không thần phục Trung Hoa.
Đó là một ngộ nhận, chớ thật ra, vua Trung Hoa chỉ hỏi thật
tình vì kém thiên văn và địa lý, còn ông Nhựt Nam cũng chỉ đáp thành thật mà
thôi.
Ta lại ngộ nhận một lần thứ ba nữa, ta khen người Nhựt Nam đó
biết binh vực cho tinh thần bất khuất… Việt Nam. Nhưng thật ra thì Nhựt Nam là
đất Chàm, mà ai cũng cứ tưởng là đất Việt. Ta sẽ thấy rõ ở chương Chàm. Nếu
có kẻ nào binh vực cho nước nào thì cái nước được binh vực là nước Chàm chớ
không phải là nước Việt.
Nhưng không có ai binh vực ai cả, vì kẻ đó là người Tàu.
Cái ông Nhựt Nam đó tên là Trương Trọng, không phải là người
Việt Nam hay người Chàm. Ông ta là người Tàu và được bổ nhiệm làm quan ở Nhựt
Nam. Có dịp về Lạc Dương chầu Tàu, nên mới có câu chuyện trên đây.
Như vậy thì không có vấn đề "ái quốc", vấn đề
"binh vực thể thống quốc gia" như vài nhà học giả ta đã đưa ra để ca
ngợi Trương Trọng. Đó chỉ là một ngộ nhận của vua Tàu, cả vua Tàu và Trương Trọng
đều thành thật. Chỉ có ta là ngộ nhận thêm rằng vua Tàu quá tin nơi sự thần phục
của "man di", còn "man di Trương Trọng" thì lại biết binh vực
màu cờ xứ sở Việt Nam. Trương Trọng là người Tàu đi trị man di, còn Nhựt Nam
cũng không phải là đất của Việt Nam vào thuở đó, hay nói cho đúng ra đó là thuộc
địa mới của vua Hùng Vương, người Chàm còn đông đặc ở đó.
Người Tàu Trương Trọng binh vực màu cờ Việt Nam làm gì, khi
ông là người Tàu di cư đến Hợp Phố và đi trị Chàm?
Kết luận: Nhà Tần không bao giờ có đánh chiếm đất Bắc Việt
ngày nào hết, câu sử của Tư Mã Thiên đã đính chánh mạnh tất cả mọi thuyết.
Chúng tôi không hề nhắm mắt mà tin Tư Mã Thiên như có một số
sử gia đã tin, nhưng riêng câu sử trên kia thì Tư Mã Thiên phải được tin bằng lời
bởi chúng tôi đã đưa ra nhiều sự kiện khác để chứng minh rằng nhà Tần không hề
có chiếm Cổ Việt, tức Tư Mã Thiên bị kiểm soát cẩn thận.
Theo Ngô Sĩ Liên thì vào đời Đường và đời Tống, Trung Hoa lại
kiểm soát lại một lần nữa tại Giao Châu và Lâm Ấp. Và đây là nguyên văn họ Ngô:
"Tống dựng nêu (ngomon) tại Lâm Ấp thì nhìn thấy mặt trời
ở phía Bắc cây nêu 9 tấc 1 phân. Ở Giao Châu thì bóng ở phía Nam cây nêu 3 tấc
3 phân.
Nhà Đường đo bóng mặt trời ngày Hạ chí. Ở Giao Châu thì bóng ở
phía Nam cây nếu, y như vào đời Tống".
Nên biết rằng Ngô Sĩ Liên viết chữ Tàu nên phần trên của câu
chuyện này có thể gây ngộ nhận, vì chữ Tàu là một thứ văn tự nói không rành mạch.
Làm thế nào mà người đời Tống có thể thấy mặt trời ở
phía Bắc cây nêu 9 tấc 1 phân được? Nói như ở phần sau là thấy bóng mặt trời (ở
phía Nam) tức thấy bóng cây, thì ai cũng hiểu được hết.
Hễ bóng cây ở phía Nam (theo đoạn sau) thì mặt trời phải ở
phía Bắc, nhưng sự kiện mặt trời ở phía Bắc không thể thấy được thì không nên
viết như thế ở đoạn trước. Mà Tàu thì lại viết như thế về đủ cả vấn đề, khiến
ta đọc sách Tàu nhức đầu lắm.
Ở chương sau chúng ta sẽ biết thật rõ hơn nước Tây Âu về mặt
chủng tộc học. Ở đây, chỉ tạm khẳng định rằng nước ấy chẳng dính líu gì hết đến
Cổ Việt tức đến Âu Lạc.
Dầu sao đất của An Dương Vương cũng còn ở ngoài vòng đô hộ của
nhà Tần, và nước Trung Hoa không bao giờ có chiếm Cổ Việt trong cuộc viễn chinh
của Đồ Thư như bài nghiên cứu dài 72 trang khổ lớn của ông L. Aurousseau đã muốn
chứng minh, và nhiều sách ta chép theo.
Đây chỉ là sự thật lịch sử chứ không vì tự ái quốc gia hay gì
gì khác, bởi vua Tần Thỉ Hoàng vẫn hãnh diện cho ta hơn là thua An Dương Vương.
Nhưng ta đã nhận có bị An Dương Vương chinh phục vào thuở đó là vì sự thật mà
thôi.
Bị Tần Thỉ Hoàng chinh phục, không xấu hơn là bị Thục Phán
chinh phục chút nào, trái lại, còn vinh diệu hơn, vì Tần sử dụng đến nửa triệu
quân còn Thục Phán thì chỉ dùng có ba mươi ngàn. Nhưng chúng tôi cứ nỗ lực phủ
nhận cuộc chinh phục của Tần Thỉ Hoàng là chỉ vì sự thật.
Bằng hứng thứ tư
Đây là bằng chứng cuối cùng và quyết định, có giá trị hơn cả
vụ Bắc Hộ huyền hoặc của Tư Mã Thiên nhiều lắm.
Quyển sách độc nhứt có tả rõ chiến trường Ngũ Lĩnh của Tần Thỉ
Hoàng là quyển Hoài Nam Tử của Lưu An, và câu sử quan trọng nhứt cho
biết Tần Thỉ Hoàng đánh tới đâu, nằm rõ trong đó.
Câu sử ấy đã được hầu hết các sử gia ta trích dẫn, nhưng họ
chỉ dùng về mặt khác mà không bao giờ chú ý đến chiến trường, thế nên họ trích
sót cái đoạn quan trọng nhứt mà chúng tôi sẽ trích ra đây. (Một ngày trước khi
đưa cho nhà xuất bản tập bản thảo này thì tôi thấy có một vị có trích đoạn đó,
đó là giáo sư Nguyễn Đăng Thục trong tạp chí Sử Địa cuối năm 1970.
Nhưng giáo sư lại có chú thích. Giáo sư trích đoạn đó, nhưng chẳng dùng nó để
chứng minh cái gì, có lẽ vì lúc dịch, tiện tay dịch hết câu vậy thôi, nhưng lời
chú thích lại khiến người muốn dùng sẽ hiểu khác. Chúng tôi viết những dòng này
khi rượt theo nhà xuất bản để ghi thêm vào, và để nói rõ rằng chúng tôi chú
thích khác và câu sử đó quan trọng lắm, khi chú thích đúng).
Đây, mấy chục chữ tối quan trọng đối với lịch sử ta: "Sai
Uất Đồ Thư xuất 50 vạn quân, chia làm 5 đạo, một đóng ở Đàm Thành, một đóng ở Cửu
Nghi, một đóng ở Phiên Ngung, một chận ở đất phía Nam, một đóng ở sông Dư
Can".
Những địa danh ở câu trên đây đều được ta biết, đại khái Dư
Can ở Quảng Tây, Phiên Ngung ở Quảng Đông, Cửu Nghi ở Hồ Nam, Đàm Thành thì có
tự điển cho rằng cách phía Tây Phiên Ngung không xa nhưng giáo sư Nguyễn Đăng
Thục cho rằng Đàm Thành ở tận mãi trên núi Ngũ Lĩnh thì hơi khả nghi vì từ Ngũ
Lĩnh đổ lên là đất của Tần, man di Việt có thua cũng không dám chạy lên đó mà
phải đóng quân nơi đó. Nhưng Đàm Thành ở đâu, chú trích sai hay đúng không quan
trọng.
Quan trọng nhứt là đất phía Nam mà trong nguyên văn
là Nam dã.
Ông Nguyễn Đăng Thục chú thích rằng Nam Dã là Dự Chương.
Nhưng nếu là Dự Chương thì đất ấy lại cũng ở phía trên. Hai
ông Lê Chí Thiệp và Phạm Văn Sơn cho rằng Dự Chương là Vũ Xương ngày nay, còn
sách địa lý của Jean Brunhes thì vẽ Dự Chương ở xa hơn vào phía trong, cách Vũ
Xương lối 500 cây số.
Nhưng theo Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ là sách
giáo khoa của Tàu ngày nay, tức sách đáng tin cậy. Dự Chương nằm ở phía Nam hồ
Động Đình, cách hồ này vài chục cây số, tức ở trên Ngũ Lĩnh rất xa. Như vậy
thì nhà Tần không có lý do nào cả mà đóng một cái núi ở đó, vì như đã nói, nếu
man di có thua thì chạy xuống chớ không điên rồ mà chạy vào nước Tàu.
Hơn thế, cứ nhìn kỹ vào trật tự của câu văn thì thấy rõ rằng Nam Dã không
thể nào là Dự Chương. Lưu An là một bậc danh nho, nổi danh về văn học hơn là
nghề làm vua vùng phía Nam sông Hoài thì ông không thể nào mà để Dự Chương năm
xen giữa hai địa điểm Quảng Đông. Ông nói về phía trên xong thì nói đến Dư Can
và Phiên Ngung ở phía dưới. Ông không có lý do mà thêm một vị trí ở trên là Dự
Chương vào hai địa danh Dư Can và Phiên Ngung, vì viết như vậy không còn trật tự
gì nữa hết. Nói chuyện phía Bắc xong rồi thì nói chuyện phía Nam là hữu lý,
nhưng cớ sao lại nhét một vị trí Bắc vào giữa hai vị trí Nam?
Không rõ giáo sư Nguyễn Đăng Thục tự ý chú thích như vậy hay
căn cứ trên sách nào. Có lẽ là theo một sách rất cổ chăng, vì đối với nhà Chu
thì bất kỳ nơi nào ở Nam Sở cũng bị gọi là Nam Dã được hết thì gọi Dự Chương là
Nam Dã là gọi đúng. Nhưng nó không còn đúng nữa trong trận đánh của Đồ Thư mà
Nam Dã đã hoá ra Bắc Dã rồi.
Lưu An sống vào đời Hán, mà đời Hán thì Dự Chương thuộc Hán
Trung, tức là Trung Dã, hoặc Bắc Dã chớ không thể
là Nam Dã.
Hai tiếng Nam Dã mơ hồ đó không phải là một địa
danh nào mà chỉ là một danh từ, chỉ đất phía Nam của Phiên Ngung, trỏ đất Cổ Việt,
nói cho thật đích xác đó là cái tiểu Ngũ Lĩnh loại bỏ túi thấy trong bức dư đồ
khi nãy.
Cả ba nhơn vật Đồ Thư, Lưu An và Lộ Bác Đức đều không biết gì
về nước Âu Lạc, nên họ phải dùng một danh từ, mà không dùng địa danh. Lộ Bác Đức
là tướng Nam chính mà cũng không ra khỏi thành Phiên Ngung thì Lưu An chỉ cần gọi
phía dưới là "Đất phía Nam" là đủ rồi.
Ngăn chặn ở biên giới đất phía Nam chỉ có thể hiểu là
ngăn chặn tại biên giới Tây Âu và Âu Lạc, nói theo ngày nay là biên giới Quảng
Đông, Quảng Tây và Việt Nam.
Tại sao lại ngăn? Ngăn để tận diệt quân Tây Âu, không cho họ
rút lui. Và ngăn để An Dương Vương không thể cấp cứu Tây Âu. Tại sao An Dương
Vương lại phải tiếp cứu Tây Âu? Vì ơn nặng mà An Dương Vương đã thọ lãnh của
vua Trạch Hu Tống, của nước Tây Âu.
Thế thì một lần nữa, một sử gia khác, cho biết cái nơi dừng
quân cuối cùng của Tần Thỉ Hoàng. Đó là Hạ chí Tuyến Bắc, tức Phiên Ngung.
Đã bảo Tàu Hoa Bắc vốn là dân xứ lạnh, quen chịu khí hậu lục
địa, không thể nào mà ở được dưới Hạ chí Tuyến vào thời đó mà đánh xuống đó cho
mất công.
Về sau này thì được, mà đó chỉ là dân Quảng Đông và Phúc Kiến
di cư, hai dân đó vốn nằm ngay tại Hạ chí Tuyến, cơ thể quen được với vùng nhiệt
đới phần nào, chớ vào thời cổ thì quân lính toàn là người Hoa Bắc.
Tất cả người Tàu di cư xuống Đông Nam Á đều là người Quảng
Đông và Phúc Kiến, ai tìm được một người Hà Bắc hay Hồ Bắc hay Thiểm Tây ở Đông
Nam Á, chúng tôi dám đưa đầu ra cho họ chặt.
Còn đây là chuyện phụ. Câu sử của Lưu An trong Hoài Nam
Tử được các sử gia Pháp, Việt, Nhật thường trích dịch nhưng chúng tôi e là
có chỗ nghi ngờ.
Thí dụ quý vị ấy dịch là "quan Uý Đồ Thư", quan
"Giám Sử Lộc".
Dưới đời nhà Tần, quan Uý ở dưới quyền quan Giám thì tại sao
quan Uý Đồ Thư lại là thượng cấp của quan Giám Sử Lộc được?
Có sách (sách Tàu) giải thích rằng Uý là Hiệu Uý. Nhưng dưới
thời ấy lại chưa có chức Hiệu Uý, là chức của đời Hán.
Bản in Hoài Nam Tử mà chúng tôi có trong tay, quá tốt,
địa danh và nhân danh đều được họ đánh dấu riêng để cho đừng lầm với danh từ. Cứ
theo bản in của chúng tôi thì chữ Uý là nhân danh, mà khi Uý là nhân
danh thì phải đọc là Uất. Ông ấy họ Uất, tên Đồ Thư, chớ không phải họ Đồ,
tên Thư và làm quan Uý.
Và cũng cứ theo bản in của chúng tôi thì Sử là động
từ còn Giám là nhân danh. Sử Giám Lộc là sai, ông Giám Lộc chớ
không phải là ông ấy họ Sử tên Lộc, làm quan Giám.
Lưu An nói rằng đó là quân của Tần Thỉ Hoàng đánh với quân Việt
và toàn thể sử gia Việt Nam đều hiểu: Việt đó là Việt Nam. Nhưng đâu có phải
như vậy. Tất cả dân Ngũ Lĩnh đều được gọi là Việt vào thuở ấy (Bách Việt kia
mà) và mãi cho tới năm nay (1970) dân Quảng Đông cũng cứ còn được gọi là dân Việt
và giọng đọc tiếng Tàu của Quảng Đông được sách giáo khoa Tàu gọi là Việt ngữ.
Việt đó có phải là Việt Nam hay không thì chắc chắn là không,
vì sử Tàu có viết rằng dân Việt đó là dân của nước Tây Âu mà Tàu cũng gọi là đất
Lục Lương, tức đất của dân cứng đầu cứng cổ. Tàu có gọi ta như thế bao giờ đâu.
Và nước Tây Âu là nước của dân nào thì lát nữa ta sẽ biết
đích xác. Họ không phải là Việt Nam.
Nhượng Tống đã chưởi Giám Lộc tắt bếp vì sử Tàu ghi rằng Giám
Lộc là người Việt, khiến ông tưởng Giám Lộc là Việt Nam phản quốc. Đã bảo bất kỳ
dân nào ở Hoa Nam cũng bị gọi là dân Việt hết kia mà.
Đây là nguyên văn câu sử độc nhứt và quan trọng vào bậc nhứt
để biết rõ giai đoạn cổ sử Việt Nam đó.
Chúng tôi đánh dấu theo sách Tàu mới, sách này cũng chấm phết
y như sách Tây, lại có gạch những từ phải được xem là nhân danh chớ không phải
là danh từ thường.
"… hựu lợi Việt chí tê giác, tượng xỉ, phỉ tuý, châu,
cơ, nãi sử Uất Đồ Thư phát tiết ngũ thập vạn chi ngũ quân, nhứt quân trắc Đàm
Thành chi lãnh, nhứt quân thủ Cửu Nghi chi tắt, nhứt quân cứ Phiên Ngung chi
đô, nhứt quân thủ Nam dã chi giới, nhứt quân kiết Dư Can chi thuỷ, tam niên bất
giải giáp thì nổ, sử Giám Lộc (vô dĩ) chuyển hướng, hựu dĩ tốt tạc cừ nhi thông
lương đạo, dỉ dữ Việt nhân chiến, sát Tây Âu quân Trạch Hu Tống, nhi Việt nhân
giai nhập tùng bạc trung, dử cầm thú xứ, mạc chỉ vì Tần cứ, tương trí kiệt tuấn
đỉ vi tướng, vi dạ công Tần nhân, đại phá chi, sát Uất Đồ Thư phục thi lưu huyết
sổ thập vạn, nãi phác trương tức dỉ bị chí".
Với câu sử của Tư Mã Thiên và Lưu An và những gì chúng tôi
đưa ra để bác bỏ các thuyết, ta đã làm sáng tỏ được:
Tần không hề đánh xuống khỏi Hạ chí Tuyến Bắc, tức Tây Âu
không là Cổ Việt.
Tây Âu Lạc là một địa danh hoàn toàn không có.
Huyện Tây Vu không thể là nước Tây Âu hùng mạnh.
Thượng du tả ngạn Nhị Hà không thể là nước Tây Âu hùng mạnh.
Trạch Hu Tống là vua của Tây Âu, theo Lưu An chép. Khi Tây Âu
không là Bắc Kỳ, không là Thượng du Bắc Việt thì Trạch Hu Tống chẳng dính líu
gì tới Cổ Việt hết.
Tượng Quận không hề là Bắc Kỳ, vì Tần Thỉ Hoàng không có chiếm
Bắc Kỳ mà lại có chiếm Tượng Quận.
Không có chánh sách trồng người tại Cổ Việt Nam để đẩy dân Lạc
Việt vào thế thiểu số.
Nhưng còn đến ba ông vua, ông Hùng Vương, ông An Dương Vương,
ông Tây Vu Vương mà vài sử gia cũng làm cho rối nùi. Ta thử giải quyết Tây Vu
Vương trước vì đó là một ông vua bé tí hon.
Tây Vu Vương chỉ là một quý tộc Âu Lạc được Triệu Đà để lại
sau khi diệt An Dương Vương. Đó là chánh sách cổ điển được thi hành vào thuở đó
cho tới thời Mã Viện, người Trung Hoa mới trực trị được dân ở đó. Phong tục,
tôn giáo, pháp luật hai bên còn quá xa lạ nên luôn luôn họ cần người "rợ để
trị rợ".
Sử Tàu chép rằng sau khi diệt An Dương Vương rồi, Triệu Đà đặt
hai điền sứ dễ kiểm soát cán bộ bản xứ còn được giữ lại là cấp Lạc Tướng. Ông
Tây Vu Vương đã toan nổi loạn, sau khi Triệu Đà chết là một sứ giả đó, có thể
ông ấy là em hay con cháu của An Dương Vương mà Triệu Đà, vì tình sui gia, tha
chết cho, và ban cho một huyện Tây Vu để ăn lộc, nhưng cũng bị người Trung Hoa
của Triệu Đà coi chừng, kẻ coi chừng là phó tướng Hoàng Đồng, người đã giết ông
ấy.
Ức đoán này, xem ra có lý, vì ông phó tướng được ghi tên
trong sử còn ông vua thì lại không. Ông phó tướng Hoàng có vẻ Trung Hoa lắm,
còn ông vua thì "man di" nên không được kể đến, tên ông phải phiên âm
phiền phức nên người chép sử bỏ luôn.
Các ông Tây, ông Tàu đồng hoá Tây Âu và Âu Lạc một cách độc
đoán nên mới tạo hỗn độn ở đoạn sử này. Tây Vu nằm trong Âu Lạc chớ không phải
trong Tây Âu. Còn Tây Âu và Âu Lạc thì không có bằng chứng là một, lại có bằng
chứng là hai. An Dương Vương ở đâu chưa rõ, đến đánh diệt Hùng Vương, rồi sử
Tàu chép rằng: "Đó là đất Âu Lạc vậy". Một địa danh mới hoàn toàn được
phân biệt với địa danh Tây Âu. Không ai được quyền đồng hoá hai danh xưng đó
vào thời ấy.
*
Vua Hùng Vương (hoặc nếu không có tên đó thì vua Lạc Vương)
dĩ nhiên không làm sao mà là Trạch Hu Tống được như vài sử gia đã viết vì bị rối
trí bởi những suy luận, những giả thuyết viển vông của hai ông H. Maspéro và L.
Aurousseau, vì cái lẽ giản dị là nước Tây Âu không bao giờ là Cổ Việt Nam, cũng
không bao giờ có việc sáp nhập đất đai.
Sự thật thì quả Âu Lạc hàm cái ý Âu với Lạc nhập lại, nhưng
chỉ là nhập trong tưởng tượng chớ không có nhập đất đai, vua An Dương
Vương là người nước Thục di cư xuống nước đồng chủng là nước Tây Âu, và sống ở
đó hai thế hệ, nên ông tự xem ông là người Tây Âu. Hơn thế lính mà ông mộ để
xâm lăng Văn Lang của Hùng Vương toàn là người Tây Âu.
Như vậy khi cải quốc hiệu Văn Lang thành ra Âu Lạc, ông chỉ
muốn ngầm nói rằng đó là nước của dân Lạc, nhưng do dân Âu lãnh đạo, nhưng
không có sự kiện sáp nhập Âu Lạc vào Tây Âu bao giờ.
Quả thật thế, ông ta không hề là tướng của vua Tây Âu, và cuộc
xâm lăng đó là việc làm riêng của ông ta, ông ta hưởng lấy, chớ sao lại khổ
công mạo hiểm đi đánh giặc để rồi trao kết quả tốt lại cho nước Tây Âu hưởng là
nghĩa làm sao?
Viết về đoạn sử đó, ông Phạm Việt Châu cho rằng đó là lần đầu
tiên trong lịch sử mà hai nhóm Việt sáp nhập với nhau, nhưng không hề có việc
sáp nhập vào thời đó. Trái lại, nếu có, cũng không phải là lần đầu tiên. Lần đầu
tiên xảy ra cách đó 2.500 năm tại Hoa Bắc khi mà một nhóm Lê họp với một nhóm Lạc
và được Tàu gọi là nhóm Lạc Lê.
Sự ngộ nhận âm thầm của sử gia Tàu và Việt là có sáp nhập Tây
Âu và Âu Lạc được H. Maspéro viết rõ ra trên giấy trắng mực đen, nhưng ông ấy
đã viết một điều quá vô lý vì chúng tôi vừa trưng ra bằng chứng không thể bác bỏ
được là không thể có một sự sáp nhập như vậy vì hai lẽ:
Thục Phán chỉ là thường dân chớ không bao giờ là tướng của
vua Tây Âu.
Như thế, y làm y hưởng, chớ không thế nào mà mạo hiểm để rồi
dâng đất cho vua Tây Âu.
Sự kiện không có sáp nhập lộ rõ ra ở chỗ y làm vua, một ông
vua trọn quyền độc lập, song song với vua Trạch Hu Tống của nước Tây Âu.
Ông H. Maspéro cũng kém tinh thần khoa học lắm khi ông quả
quyết một điều vô lý. Nếu ông có thử đặt ra ba điểm trên đây để xét kỹ, hẳn ông
sẽ tự trả lời ông, như chúng tôi đã quan niệm, và ông đã không viết liều như thế.
Dầu sao, trước H. Maspéro, Tàu và ta cũng đã hiểu lầm y như
H. Maspéro rồi, mặc dầu không viết ra. Họ hiểu lầm như thế nên họ mới kết luận
rằng hễ Tần Thỉ Hoàng chiếm được Tây Âu thì đương nhiên chiếm được Âu Lạc vì
hai nước đó đã được sáp nhập lại rồi, và gọi Cổ Việt là Tây Âu, cứ được.
Tài liệu tham khảo riêng cho chương này:
Nguyễn Phương: Việt Nam thời khai sinh, Huế 1965
H. Maspéro: Etude d’histoire d’Annam, Hà Nội 1918
O. Jansé: Archéallogical Research in Indochina, H.Y.I 1946
L. Aurousseau: La première conquête chinoise des pays
annamites, Hà Nội 1923
Khổng Tử: Xuân Thu, Bản dịch Legge
Ancourt: Les Annamites avant la dynastie des Hán
Lưu An: Hoài Nam Tử, Đài Loan
R. A. Stein: Trích dẫn Thuỷ Kinh Chú; Giao Châu ngoại vực ký,
Phù Nam Ký, Lâm Ấp Ký, Phù Nam Ký, Lâm Ấp Ký về Cổ Việt, Tạp chí Hán Học, Bắc
Kinh
L. Bezacler: L’armé e ancienne et l’art militaire du Việt
Nam, Paris 1954
L. Bezacier: L’art Vietnamien, Paris 1954
Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Sài Gòn
Tả Khâu Minh: Tả Truyện, Bản dịch Legge
Phạm Việp: Hậu Hán thư, Đài Loan N.T.N.S.
Tư Mã Thiên: Sử Ký, Bản dịch E. Chavannes, Paris 1927
Nguyễn Siêu: Phương Đình Dư địa chí, Sài Gòn
Phạm Văn Sơn: Việt sử tân biên, Sài Gòn
O.K. Ghéquier: La littérature chinose, Paris
Trần Kinh Hoà: Tạp chí Đại học, Huế 1910
Nguyễn Hiến Lê: Bản dịch Ý lữ văn, Sài Gòn
Lão Cán: Tạp chí Lục Đồng biệt lực, Tứ Xuyên 1946
Ban Cố: Hán thư, Đài Loan N.T.N.S.
Ngô Sĩ Liên: Đại Việt Sử Ký toàn thư ngoại kỷ, Sài Gòn
R.A. Stein: Nước Lâm Ấp, Tạp chí Hán Học, Bắc Kinh 1947
R. Grousset: Histore de la Chine, Paris
Nguyễn Bá Trác: Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Sài Gòn
M. T. Synchronisme chinois, Changhai 1905
Chương III
Cổ Thục, Tây Âu và chi Thái
Ở đây chúng tôi nhảy vọt. Ta chưa xét đến chi Mã Lai Lạc mà lại
xét về chi thứ nhì là chi Âu tức Thái. Nhưng chúng tôi cần làm sai nguyên tắc
cho trí nhớ người đọc không bị đứt đoạn, khi ta vừa nói sơ đến nước Tây Âu ở
chương trước.
Nước Tây Âu bí mật này, từ xưa đến nay, chưa có quyển sử nào
viết rõ về nó, nhứt là về dân của nước ấy, xưa tên gì, nay tên gì, và đây là lần
đầu mà một chi lớn của nhóm Mã Lai ở Trung Hoa được nghiên cứu với ba quốc gia
hùng mạnh của chi đó, vào cổ thời.
Tần xua quân xuống đánh vùng Ngũ Lĩnh, tức ở ngoài đất Dương
Việt (theo Khổng Tử) và nói đến ba nước; đó là nước Đông Âu, nước Mân Việt và
nước Tây Âu.
Thắng trận xong, họ chia cả ra thành quận huyện của họ. Đông
Âu là quận nào, Mân Việt là quận nào thì ai cũng đồng ý rồi, và đồng ý cả về địa
bàn ngày nay của các nước xưa đó nữa là:
Đông Âu = Nam Triết Giang + Bắc Phúc Kiến
Mân Việt = Phúc Kiến và mấy phủ ở Quảng Đông (các phủ Triều
Châu)
Tới đây thì mọi việc đều rõ, và bắt đầu từ đây, rối loạn xảy
ra, mặc dầu sử Tàu cũng đã nói rõ. Phần đất còn lại là đất của nước Tây Âu, và
đất đó, Tàu chia ra thành ba quận: Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận.
Rối loạn, như đã nói, và xin nhắc lại một lần nữa, bởi điểm
này rất quan trọng, vì ta và Tây hiểu lầm sử Tàu.
Sử Tàu viết rằng:
Tượng Quận = Giao Chỉ
Tây Âu = Giao Chỉ
Nhưng cái Giao Chỉ đó phải hiểu là Giao Chỉ bộ, có ngay sau Lộ
Bác Đức và gồm tất cả các thuộc địa mới của Tàu ở phương Nam.
Nhưng ta và Tây cứ hiểu rằng đó là Giao Chỉ quận mà Giao Chỉ
quận thì chỉ là Bắc Việt mà thôi, cái Giao Chỉ thứ nhì này, mãi đến đời Tam Quốc
mới có vì Tàu tách Giao Chỉ bộ làm hai, phía trên đặt tên là Quảng Châu, phía
dưới đặt tên là Giao Châu. Trong Giao Châu có ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chơn và Nhựt
Nam.
Vì Giao Chỉ bộ chỉ thọ có vài trăm năm còn Giao Chỉ quận (Bắc
Việt) tồn tại mãi cho đến đời nhà Đường, nên cả ta lẫn Tây cứ bị ám ảnh về Giao
Chỉ II, hễ sử Tàu nói đến giản dị là nghĩ ngay đến Bắc Việt cũng như hễ họ nói
đến Việt là ta nghĩ ngay đến ta mà quên mất rằng có đến Bách Việt.
Có rất nhiều nhà trí thức Việt Nam lại còn tưởng rằng họ
không có lầm, họ biết cái Giao Chỉ bộ ấy, nhưng dầu cho Giao Chỉ bộ có to hơn
bao nhiêu, to đến đâu, cũng cứ là đất của ta, mà người tin tưởng như vậy trước
tiên, có lẽ là vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Với những người tin tưởng như vậy thì ta không còn đưa ra hai
cái Giao Chỉ để mà làm bằng chứng nữa được, mà phải chỉ đích xác dân ở trên Cao
Bằng, Lạng Sơn, hồi cổ thời là dân nào, có phải là dân Việt Nam hay không.
Trước hết Tàu chỉ dân đó bằng chữ Việt bộ Mễ, chớ không phải
bằng chữ Việt dùng để trỏ ta, và họ đã làm như vậy từ đời Tần, Hán chớ không phải
mới làm về sau vì sợ ta đòi đất ấy lại.
Tưởng hai tự dạng khác nhau, được Tàu dùng từ đời Tần Hán
cũng đã là chứng tích khá vững rồi khi ta thấy Tàu họ ý thức vô cùng trong việc
sử dụng tự dạng Lạc. Họ không hề biết khoa chủng tộc học, kể cả ngày nay nữa,
nhưng họ quan sát rất giỏi.
Nói ta với dân đó đồng chủng tộc thì đúng, và mục đích quyển
sách này chỉ có thế, nhưng nói ta với họ là một dân tộc thì qua sai.
Chúng tôi đã chứng minh rằng nhà Tần không hề có đánh chiếm
nước ta vì họ chỉ đánh Ngũ Lĩnh, mà nước ta thì ở ngoài Ngũ Lĩnh.
Nhưng chứng minh như vậy không đủ cho mấy người có tin tưởng
trên kia vì họ lại cứ bảo rằng nếu quả đúng như thế thì nhà Tần đã đánh chiếm
được phân nửa nước ta, chiếm phần trên và phần đó cứ là đất Việt.
Hai cái tự dạng khác nhau đó không đủ họ tin, thế nên chúng
tôi lại phải trình thêm một chứng tích nữa để củng cố chứng minh của chúng tôi.
Chúng ta cùng đi tìm để biết đích xác nước Tây Âu này thử xem
sao, để cho không còn gì lòng dòng nữa. Nếu nước đó quả là nước của dân Lạc Việt
thì quí vị khác đúng, còn như đó là nước của dân khác thì chúng tôi đúng.
Nhơn đọc Tối Tân Trung Quốc phân tỉnh đồ của Tàu,
loại lớn, thấy họ cho biết rằng tất cả các cổ dân ở Hoa Nam, ngày xưa đều
còn đầy đủ mặt, chúng tôi rất ham biết cái dân Tây Âu kiêu hùng đó, cái dân đã
giết được tổng tư lệnh đạo quân viễn chinh của Tần Thủy Hoàng, biết đích xác họ
là dân tộc nào. Trong ba năm học hỏi và săn tài liệu lung tung, chúng tôi tìm
được một bức dư đồ rất hữu ích, tên là Ethnolinguistico Groups of Mainland
Southeast Asia do Human Relations Area Fites Yale University xuất
bản.
Theo tài liệu của Pháp thì bức dư đồ Huê Kỳ đó được giới khoa
học Nga xác nhận là thật đúng, và ta dùng nó được một cách an lòng, vì hai nước
nghịch nhau mà tán đồng nhau thì đúng là sự thật.
Theo bức dư đồ đó thì hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Nam
Quí Châu là địa bàn hiện kim của dân Thái, một dân tộc rất cổ mà ngày
xưa Tàu gọi là dân Âu. Chỉ bằng vào sự kiện địa bàn ta có thể kết luận rằng nước
Tây Âu là nước của dân Thái ở ba tỉnh Trung Hoa ấy ngày nay, chớ không có gì rắc
rối như các nhà bác học Tây, Tàu, Nhựt, Việt đã bút chiến lung tung với nhau
làm rối nùi mọi việc khiến ta phải điên đầu từ năm 1918 đến nay.
Nên biết rằng bức dư đồ trên đây là bức dư đồ ngôn ngữ chớ
không phải là dư đồ chính trị. Theo dư đồ chính trị thì nơi đó là hai tỉnh rưỡi
của Trung Hoa, nhưng về mặt phân phối ngôn ngữ thì nơi đó là vùng mà người dân
nói tiếng Thái.
Lại còn phải hiểu điều này nữa về kỹ thuật và quan niệm về dư
đồ phân phối ngôn ngữ. Người Trung Hoa ở hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, tuy
mười lần đông hơn người Thái, nhưng diện tích đất mà họ chiếm chỉ bằng 1/10 diện
tích đất mà Thái làm chủ. Họ chỉ ở tỉnh lỵ, huyện lỵ và các đồng bằng của tỉnh
Quảng Đông và vài đồng bằng quá hiếm hoi của tỉnh Quảng Tây và Nam Quí Châu. Sự
phân phối ngôn ngữ luôn luôn đi sát diện tích đất ngự trị của cái ngôn ngữ đó.
Vì thế mà trong loại dư đồ ấy, hai tỉnh rưỡi nói trên là đất Thái hoàn toàn,
theo khoa học (chớ không phải theo chính trị) và người Trung Hoa có vẽ dư đồ
ngôn ngữ cho chính nước của họ, họ cũng sẽ vẽ rằng đó là đất Thái cũng như khi
Việt Nam vẽ dư đồ phân phối ngôn ngữ, ta cũng sẽ để Ninh Thuận là đất ngôn ngữ
Chăm, chứ không phải để là đất Việt. Thiểu số Miêu tộc trong hai tỉnh rưỡi đó,
dĩ nhiên cũng bị chìm mất, y như dân thống trị là người Tàu đã bị chìm mất
trong bức dư đồ đó.
Mặt khác Tối tân Trung Quốc phản tỉnh đồ cho biết một
điều này rất quan trọng: là không hề có nhóm người Tàu nào gọi là người Quảng
Tây hết. Ở cả hai tỉnh rưỡi đó, chỉ có người Quảng Đông mà thôi. Chi tiết trên
đây rất quan trọng vì nó chứng minh rằng không có chủng tộc, dân tộc thứ nhì
nào làm chủ vùng biến thành Tàu và được gọi là người Quảng Đông và người Thái
chưa biến thành Tàu, còn phân chia thành nhiều nhóm, như người Nùng (chữ nho là
Nông) là một.
Nếu có dân nào khác ở đó, họ đã biến thành Tàu, nhưng mà là một
thứ Tàu khác, chẳng hạn ở tỉnh kế cận có người Tàu gọi là Phúc Kiến vốn là dân
Thất Mân, lạc bộ Mã.
Nhưng không có ai hết ngoài người Thái biến thành Tàu, được gọi
là người Quảng Đông và các nhóm Thái chưa biến thành Tàu.
Tại sao ta biết rằng họ là người Thái biến thành Tàu? Như đã
nói, các giọng nói địa phương của Tàu ăn khớp với địa bàn của các "man
di" đời xưa. Mân Việt nói tiếng Tàu khác giọng với Quảng Đông, và cả hai
nói khác giọng với Triết Giang.
Hơn thế, và đây mới là điều quan trọng, mỗi nhóm giọng đều có
giữ được lối một trăm danh từ cổ để chỉ nguồn gốc của họ.
Thí dụ Buổi chiều, người Tàu nói là Hạ Ngọ, tức
là sau giờ Ngọ. Nhưng người Quảng Đông, tuy cũng viết là Hạ Ngọ, nhưng lại
đọc là Hạ Châu. Châu là tiếng Thái Tây Âu, giống hệt Chiếu là
tiếng Thái Ba Thục và Chiều là tiếng Lạc Việt Nam, và cả ba danh từ ấy
đều là danh từ Mã Lai, cái thứ Mã Lai mà ở một chương tới chúng tôi sẽ gọi là
Mã Lai đợt I, nó khác chút ít với Mã Lai Nam Dương là Mã Lai đợt II.
Và vì là "man di" nên họ dùng chữ Tàu sai. Sau giờ
Ngọ thì có nghĩa, nhưng sau chiều (Hạ Châu) thì tức là đêm rồi, chớ đâu còn phải
là chiều nữa, nhưng Hạ Châu cứ có nghĩa là Chiều ở vùng Lưỡng
Quảng và Quý Châu.
Nội một trăm danh từ địa phương sống sót này đủ cho ta biết rằng
người Quảng Đông gốc Thái và nước Tây Âu là một cường quốc Thái dưới đời Tần, mạnh
ngang hàng với nước Sở, vì Tần Thỉ Hoàng đánh Sở, đã dùng 600 ngàn quân, còn
đánh Tây Âu cũng phải cùng đến 500 ngàn quân, và hao quân nhiều hơn lúc đánh Sở.
Dĩ nhiên là trong hai tỉnh rưỡi ấy cũng còn dân thiểu số,
nhưng họ là thiểu số nên không kể đến vì chủ đất phải là dân đa số, dầu cho họ
đã biến thành Tàu hay mới biến nửa chừng như người Nùng, hoặc chưa biến chút
nào hết như người Đồng người Cầu Di, người Lương, người Bạch Di.
Trong các thứ người thiểu số có người Mèo (thuộc chủng Miêu)
và người Choang (thuộc chủng Mã Lai, nhưng chi Lạc, nhưng đó là Lạc bộ Mã chớ
không phải Lạc bộ Trãi, vì họ rất gần với người Phúc Kiến). Lại còn một nhóm
thiểu số nữa bị Hoa hoá đến 90 phần trăm, đó là người Khách Gia mà Pháp gọi là
Hakka và người miền Nam gọi là Hẹ, gốc Ba Thục, tổ tiên của An Dương Vương.
Thế thì nước Tây Âu là nước của dân tộc nào, nay đã rõ. Đó là
nước của người Thái, thuộc chủng Mã Lai, chi Âu.
Người Quảng Đông đích thị là người Thái bị đồng hoá và lai giống
thành Tàu vì tuy ngày nay họ nói tiếng Tàu, nhưng còn giữ được lối 100 danh từ
Thái. (Ở chương ngôn ngữ, chúng tôi sẽ chứng minh rằng không hề có tiếng Quảng
Đông như người Việt Nam cứ tưởng. Dân Quảng Đông nói tiếng Tàu sai giọng chút
ít, và quan trọng nhứt là họ còn giữ được lối 100 danh từ Thái, mà danh từ Thái
đó đích thị là danh từ Mã Lai).
Điều quan trọng thứ nhì là không có người Quảng Tây, không có
người Quý Châu, tất cả đều là dân cổ Tây Âu ở y nơi đó, bằng vào lối đọc sai tiếng
Tàu của họ ở ba nơi, họ sai giống hệt như nhau, và bằng vào lối gọi của chính
người Tàu, họ gọi dân của ba nơi ấy là dân Quảng Đông hoặc dân Việt Lưỡng Quảng.
Thái là một danh tự xưng mà họ chỉ mới lấy hồi thế kỷ XIII
khi bị Hoa tộc lấn dữ dội, họ phải bỏ xứ mà Nam thiên xuống Thượng du Bắc Việt
và Thái Lan ngày nay, và có nghĩa là "thoát khỏi, tự do, thong thả", không
bị Tàu áp bức, còn trước đó họ tự xưng là Ngu hoặc Ngê-U. Quả thật
thế, Quan Thoại phiên âm danh tự xưng đó là Ngê-U, tại các nhà nho ta đọc sai
ra là Âu, chớ còn người Mường họ vẫn đọc đúng là Ngu, chỉ không biết là Mường
và Quan Thoại, ai đúng hơn ai, dầu sao cả hai, Mường và Quan Thoại, chắc chắn đọc
gần đúng danh tự xưng hồi cổ thời của chi Mã Lai đó.
Vậy cái bí mật cổ thời ấy ta đã biết: Nước Tây Âu là một quốc
gia của chi Âu của chủng Mã Lai, nằm sát các quốc gia của chi Lạc từ Hoa Bắc đến
Hoa Nam (và chúng tôi càng tin mạnh rằng truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ bắt
nguồn từ sự kiện này vì chi Âu luôn luôn chiếm địa bàn rừng núi, còn chi Lạc
luôn luôn chiếm địa bàn ven biển, không có ngoại lệ trừ nước Thái Lan chỉ mới
thành lập có 600 năm nay thì không kể).
Âu châu cũng phân biệt hai thứ Mã Lai, Mã Lai bờ biển (Malais
maritimes) và Mã Lai núi rừng (Malais des jungles). Tuy cả hai thứ đó đều thuộc
chi Lạc, chớ không phải Âu và Lạc, nhưng sự phân biệt ấy cho thấy, mặc dầu
trong một chi Lạc, hay giữa hai chi Âu và Lạc, đều có hai thứ người khác tánh
cách với nhau mặc dầu đồng chủng.
Chi núi rừng can cường dữ tợn, nhưng tiến trễ hơn chi ven biển
vì ít tiếp thu ảnh hưởng bên ngoài. Mà nhờ tiến trễ mà họ giữ được dân tộc tính
nhiều hơn.
Người Thái ở Thượng du Bắc Việt khác hẳn người Thái Lan vì
người Thái Lan đã tới bờ biển và lập quốc từ nhiều trăm năm, theo văn hoá Ấn Độ
và Phật giáo, còn người Thái Thượng du Bắc Việt còn giữ nguyên vẹn văn minh cổ
thời của họ.
Gần đây, một ông Tây đã biết, đó là người Huê Kỳ P.K.
Benedict với quyển Thái, Kakai and Indonésien in new alingment in
Southeastern Asia, A.A. 1943, quyển sách này ra đời hai năm trước bức dư đồ
trên, nhưng chúng tôi dùng bức dư đồ ấy mà không dùng quyển sách của Benedict để
làm chứng tích, vì Benedict còn nói đến Thái ở nhiều địa bàn khác. Chỉ có bức
dư đồ đó mới cho thấy rõ nước Tây Âu ở đâu, còn Thái Vân Nam, Thái Miến Điện của
quyển sách nói trên làm cho người ta sẽ rối trí.
Địa bàn Thái Lưỡng Quảng và Quý Châu là một địa bàn liên tục,
cho thấy hiện lên ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Các địa bàn của
Benedict không liên tục và ở cách xa Tây Âu đôi khi hàng ngàn cây số.
Bây giờ ta nên đặt ra một câu hỏi rất quan trọng và câu trả lời
sẽ cho ta biết một sự thật lớn. Thượng du Bắc Việt ngày nay là đất Thái. Vậy
nơi đó là đất Thái từ thời cổ đến nay, hay người Thái mới xâm lăng ta sau này,
hoặc họ di cư tới đó sau này, và vào thời nào?
Nói đến sự có mặt của dân Thái ở Thượng du Bắc Việt vào cổ thời,
ông O. Jansé đã dùng danh từ xâm lăng (invasion) mà như vậy là các
ông Tây mâu thuẫn với các ông. Nếu Thượng du Bắc Việt là đất của Tây Âu, thì
không có xâm lăng gì hết. Họ tự nhiên mà ở đó, từ thuở nào không ai biết.
Ông Lefèvre Pontalis tác giả "Notes sur quelques
populations du Nord de L’Indochine" viết: "Nói đến sự pha trộn của
hai dân tộc Việt, Thái, chúng tôi quan niệm rằng có một sự thoả hiệp nào giữa kẻ
xâm nhập với chủ cũ của đất đai, mà đó chỉ giản dị là kết quả lâu đời và chậm
chạp của nhiều thế kỷ".
Truyền thuyết về các đời Hùng Vương có nói đến chiến tranh với
Chàm, với An Dương Vương mà không hề nói đến chiến tranh với Tây Âu, thì hẳn đó
là một cuộc di cư êm thấm, không có đổ máu, mà khi nói đến di cư, tức Thượng du
Bắc Việt không phải là của Tây Âu.
Có di cư, nhưng di cư vào thời nào?
Ta cũng thử đoán mò xem, nhưng dựa trên những nền tảng vững
hơn họ.
Ta dám quả quyết rằng cho đến thời Triệu Đà, người Thái vẫn
chưa có mặt tại Thượng du Bắc Việt, vì chi tiết sau đây để tiết lộ ra sự kiện ấy.
Khi nhà Hán chia hai nước Nam Việt của Triệu Đà, một phần làm
Giao Châu, một phần làm Quảng Châu thì Thượng du Bắc Việt thuộc vào ta. Đừng tưởng
người Tàu họ làm chủ mọi nơi rồi họ muốn chia cắt làm sao, tuỳ ý thức riêng của
họ. Nhứt định họ phải theo một tiêu chuẩn nào mà tiêu chuẩn đó là như thế này:
hai thứ man di không thể cùng trị được bằng một chánh sách. Chánh sách ấy phải
mềm dẻo đối với mỗi châu, mỗi quận tuỳ theo phong tục địa phương của nhóm
"man di". Thế thì hẳn họ phải chú trọng đến dân tộc khi chia đất, chớ
không thể dựa vào tiêu chuẩn nào khác hơn được.
Hai dân tộc Âu và Lạc bị Triệu Đà sáp nhập thì Triệu Đà có lý
do riêng của y, nhưng bị nhà Hán tách ra, nhà Hán cũng có lý do của nhà Hán, cả
hai lý do đều hữu lý, nhưng sự kiện vẫn cứ là có hai dân khác nhau và thời điểm
nhập và chia ra cho ta biết rõ địa bàn của hai dân tộc đó, vào thuở ấy.
Danh xưng Việt trong quốc hiệu Nam Việt làm cho các sử gia
Pháp Việt ngộ nhận rất nhiều.
Lời phê của vua Tự Đức vào quyển Đ.V.S.K.T.T.N.K. của
Ngô Sĩ Liên là sai. Khi thấy họ Ngô chép rằng có 6 quận của nước Nam Việt bị
Trung Hoa lấy luôn làm đất Quảng Châu. Nhà vua phê "Đất nước Việt ta đã mất
vào Trung Quốc hồ quá nửa!".
Nhà vua không biết rằng thuở ấy Âu và Lạc đều được Tàu gọi là
Việt. Danh xưng Việt không chỉ riêng gì ta, và đất Việt không chỉ riêng gì đất
của ta.
Từ sông Dương Tử đổ xuống, bất kỳ thổ dân nào cũng bị họ gọi
là Việt tuốt hết. Lưu An chỉ nói đến dân Việt ở Ngũ Lĩnh, mà cứ bị các sử gia
Pháp và Việt hiểu rằng đó là Việt Nam ở Âu Lạc có kỳ chưa? Đã bảo Ngô Khởi ký
hiệp ước với Bách Việt, mà trong đó có Đông Âu và Tây Âu, mà Âu tức là Thái thì
danh xưng Việt của Tàu rất rộng nghĩa, phương chi họ đã phân biệt hai thứ Việt
bằng hai tự dạng, ngay từ thời đó chớ không phải mới phân biệt về sau này vì sợ
Tây Sơn và vua Tự Đức đòi đất lại.
Sáu quận đó là của nước Nam Việt chớ không phải của nước Việt
Nam. Mà Nam Việt thời Hán là Quảng Đông, và Cổ Việt Nam thì còn biết sáu quận ấy
là đất của dân nào thật sự, có thể là của dân Lạc, mà cũng có thể là của dân Thái,
nhưng chắc chắn là của dân Thái bằng vào tiêu chuẩn chia cắt nói trên. Tiêu chuẩn
ấy không hề được ghi chép ở sách nào hết, nhưng vẫn phải có. Sự chia cắt của
nhà Hán chỉ đi ngược chiều sự sáp nhập của Triệu Đà và các thành phần bị nhập
và bị tách phải như nhau, cũng cứ vì cái tiêu chuẩn nói trên.
Còn trước Triệu Đà, dưới thời Tần Thỉ Hoàng thì có di cư hay
không?
Cũng chắc chắn là không vì sử Tàu cho rằng xứ Tây Âu dư đất cần
đem dân Tàu xuống định cư thì dân Tây Âu không mắc chứng gì mà di cư, bỏ quê hương
xứ sở của họ. Cuộc di cư của người Miêu tộc vào Bắc Việt cách đây trên hai trăm
năm, đã cho thấy như vậy. Họ chịu đựng người Tàu suốt 5 ngàn năm, rồi bị lấn đất
dữ quá họ mới phải di cư. Tới Thượng du Bắc Việt, bị người Thái kháng cự không
cho nhập cảnh, họ liều chết đổ máu với người Thái, cho đến lúc vua ta can thiệp,
họ mới chạy lên các ngọn núi rồi được để yên trên đó từ ấy những nay. Dân bị trị
đã chịu đựng được tới 5 ngàn năm không có vấn đề bỏ đất như thời Xy Vưu vì văn
hoá đôi bên đã gần gũi nhau rồi.
Tóm lại, lúc chia hai nước Nam Việt, nhà Hán phải nhớ đến hai
nước cũ là Âu Lạc và Tây Âu, mà dân chúng còn nguyên vẹn vì có mấy trăm năm
qua. Nhà Trần, rồi Triệu Đà, có muốn nhập hai thứ dân đó lại cũng không xong. Họ
không dại mà cắt đất của nước này bỏ vào một châu khác bởi làm như vậy họ khó
cai trị hơn, vì một đơn vị hành chánh cần trùng với một nước cũ để mọi biện
pháp cải cách mới, được thi hành mà không gây xáo trộn nhiều cho dân phải bất
mãn, luật cho Giao Châu phải khác luật cho Quảng Châu.
Hơn thế người xưa luôn luôn cần biên giới tự nhiên (Frontiè
res natucelles) vì họ không biết tính kinh tuyến vĩ tuyến như người thời nay,
mà giữa Quảng Châu và Giao Châu lại có một thứ Ngũ Lĩnh loại bỏ túi như chúng
tôi đã chỉ ở bức dư đồ nói về biên giới thật đúng của đất Ngũ Lĩnh.
Hẳn Hùng Vương rồi An Dương Vương và Trạch Hu Tống đều dùng
cái tiểu Ngũ Lĩnh đó để làm biên giới giữa hai nước Tây Âu và Văn Lang rồi Âu Lạc,
không sao khác hơn được, bằng không, hoá ra giữa Tây Âu và Văn Lang không có
biên giới tự nhiên mà như vậy là trái với quan niệm các quốc gia cổ thời, trái
với chánh sách quốc phòng của họ.
Tới đây, ta thấy rằng ông O. Jansé đã lầm khi nói rằng chính
người Thái di cư đã khai hoá ta nhờ họ đã nhiễm văn minh Tàu. Tây Âu với ta đồng
văn hoá thì không thể có việc họ khai hoá ta.
Họ mà có theo văn minh Tàu để đủ sức khai hoá ta, theo văn
minh Tàu, họ cũng phải mất 500 năm nhưng cho tới thời Triệu Đà họ vẫn chưa theo
Tàu khi nhìn vào cổ vật Đông Sơn, sau Triệu Đà không bao lâu, mà ông O. Jansé viết
như thế là viết liều.
Và đây là bằng chứng thật đích xác rằng vào đầu Tây lịch người
Thái không có mặt ở Thượng du Bắc Việt.
Dưới đời Đường, một viên thứ sử (hay thái thú) ở Giao Chỉ là
người Nhựt Bổn (theo sử Tàu). Ông ấy có công lớn với nhà Đường vì đã đánh dẹp
được cuộc xâm lăng của dân Thái vào thượng du Giao Chỉ.
Thế là rõ, đến nhà Đường họ mới xâm lăng, nhưng không thành
công. Họ lại xâm lăng lần thứ nhì nữa, thành công, nhưng rồi cũng bị Cao Biền
tiêu diệt. (Mà đó là Thái Vân Nam, khác với Thái Tây Âu).
Nhưng tại sao hiện nay họ có mặt đông đảo tại thượng du? Ấy
là vì vào thế kỷ XIII thì Tàu lấn đất quá khốc liệt, họ liều chết mà xâm lăng bất
kỳ đất của ai, vì Tàu rượt theo họ bén gót. Họ lập ra hai quốc gia Xiêm và Lào
chính vào thời đó.
Còn ta thì không chống xâm lăng được vì dân ta không lên trên
ấy được bởi sợ khí hậu ở đó, nên ta đánh để vậy, dụ dỗ họ và cho quan thổ ty
lên cai trị họ mà thôi.
Và chứng tích vững như trụ đồng là người ta vừa đào được cổ vật
loại Đông Sơn ở Thượng du Bắc Việt mà chúng tôi đã nói đến ở chương trước, đồng
tuổi và đồng loại với cổ vật lưu vực Hồng Hà và khác cổ vật Lưỡng Quảng. Hai
dân tộc Việt Thái đều có chung văn hoá trước Tây lịch và đều Mã Lai với nhau cả,
nhưng chính vì họ chia thành hai dân tộc nên cổ vật Lưỡng Quảng mới có tánh
cách khác cổ vật Việt Nam.
Thế là rõ. Trước Tây lịch và liền sau Tây lịch, Thái vẫn chưa
có mặt ở Thượng du Bắc Việt và nước Tây Âu với nước Âu Lạc là hai nước phân
minh đồng chủng tộc, nhưng khác dân tộc. Và không có lý do để lẫn lộn Tây Âu và
Âu Lạc nữa.
Nhưng nếu chủ trương theo chúng tôi thì là sao cắt nghĩa nổi
sự kiện người Thái Thượng du Bắc Việt thờ hai bà Trưng?
Quả thật thế, người Pháp đã tìm thấy đền thờ hai bà Trưng
trong vùng đất Thái thượng du ngày nay, đền rất nhỏ và việc phụng tự cũng lôi
thôi, nhưng chứng minh được sự có mặt của Thái vào thời ấy ở xứ ta, nhưng đồng
thời cũng lại chứng minh rằng họ chỉ là kẻ hợp tác chớ không phải là Lạc Việt,
chính nhờ sự nhỏ nhoi của đền thờ và việc thờ phượng lôi thôi cho thấy như vậy,
khác xa với đền Hát Môn của ta và những nghi lễ vĩ đại của ta vào ngày lễ hai
Bà.
Đã bảo chủng tộc này có thể vay mượn thần thánh và cả phong tục
toàn bộ của chủng tộc khác, nhưng không vay mượn anh hùng, thì đền thờ hai Bà
trên đất Thái thượng du có ý nghĩa gì?
Đó là người Lạc Việt gốc Tây Âu, họ vốn là lính của An Dương
Vương và đã bị đồng hoá với Lạc Việt.
Chúng ta đã thấy rõ ở một nơi khác là sau khi bị diệt quốc, hậu
duệ của vua nước Thục, cũng là một nước của dân tộc Thái ở Tây Trung Hoa, di cư
xuống Tây Âu, ở đó họ mộ lính Tây Âu để cướp nước Văn Lang của Hùng Vương. Thắng
trận, lên ngôi, tự xưng An Dương Vương, họ không cho ba vạn quân Tây Âu đánh giặc
mướn hồi hương, vì sẽ không còn ai để củng cố nền thống trị của họ. Dĩ nhiên bọn
lính Tây Âu đó lấy vợ Lạc Việt và 110 năm sau, đến năm hai bà Trưng khởi nghĩa
thì đã có ít lắm là 5 thế hệ dân Lạc Thái, nhưng bị đồng hoá với Lạc vì họ là
thiểu số.
Nhưng vua Tự Đức chỉ thạo văn thơ, không biết gì khác hết thì
còn cho qua được, chớ những ông H. Maspéro, L. Aurousseau thì không thể tha thứ
về sự sai lầm này, phương chi ông H. Maspéro đã sang Tàu để nghiên cứu Thái và
Miêu thì sao ông lại không biết hai điều này:
Cái địa bàn Thái đã nói trong bức dư đồ kia, tuy ông không vẽ
ra được, nhưng hẳn ông có quan sát, có thấy.
Địa bàn đó từ xưa đến nay không hề thay đổi, hay có mà chỉ
thay đổi có một phần sáu là đồng bằng Quảng Đông nay đã bị người Tàu gốc Âu chiếm
hết, người Thái còn lại ở Quảng Đông rất là hiếm hoi.
Các ông không được phép không biết rằng dân Tây Âu là dân
Thái để viết liều rằng Tây Âu = Bắc Kỳ. Các ông cũng không được phép không biết
rằng Thượng du Bắc Việt không thể nào đương đầu nổi với Tần Thỉ Hoàng suốt một
thời gian dài từ 7 đến 10 năm mà thắng lợi trong 3 năm đầu, để hiểu rằng:
Tây Âu = Thượng du Bắc Kỳ
Ta lại thử đặt ra câu hỏi thứ nhì.
Sử Tàu chép rằng họ xén đất của quận Nam Hải (Quảng Đông) và
của quận Giao Chỉ (Bắc Việt) để lập ra quận Hợp Phố.
Quận Hợp Phố ngày nay thì thuộc vào tỉnh Quảng Đông. Vậy ta
có mất đất vào tỉnh Quảng Đông chăng?
Ai cũng cứ tưởng là có. Nhưng không. Cái phần đất bị xén ấy
chỉ là thuộc địa mới của vua Hùng Vương mà thôi.
Quả thật thế, người Tàu ở Đông Hưng - Móng Cáy (Hợp Phố xưa,
thuộc đất Giao Chỉ) nói tiếng Tàu sai giọng, nhưng không phải sai như người Quảng
Đông hay người Việt Nam, mà sai y hệt người Hải Nam.
Ở nơi khác, chúng tôi sẽ chứng minh rằng dân Hải Nam là dân Lạc-Lê
thời kỳ Xy Vưu, chớ không phải là dân Lạc bộ Trãi. Ở Cửu Chơn cũng thế. Vậy Hợp
Phố và Cửu Chơn là đất của người Lạc-Lê mà vua Hùng Vương mới chinh phục, chưa
kịp khai hoá rồi bị mất nước, nên hai đất ấy lọt vào tay Triệu Đà, rồi Lộ Bác Đức,
rồi Mã Viện. Có chứng tích vững vàng về cuộc chinh phục của vua Hùng Vương (xin
xem chương Không có đế quốc Việt Nam).
*
Ta thử tìm xem người Thái cổ thời còn địa bàn nào khác nữa
hay chăng và liên hệ giữa họ và ta ra sao.
Lúc đánh vào Ngũ Lĩnh, sử Tàu không còn phân biệt gì nữa hết.
Đông Âu, Tây Âu, Mân Việt gì cũng bị gọi là Việt hết thảy. (Chính vì vậy mà nhiều
sử gia ta mới lầm; hễ sách Tàu nói gì về dân Việt ở đó, thì họ đều cho là nói đến
ta, thí dụ Lưu An nói đến việc chạy lên núi của dân Việt, thì các ông liền cho
rằng Việt đó là Việt Nam).
Chẳng những Tàu không phân biệt, họ còn nhập lại, vì trong
thư tịch Trung Hoa vào thời ấy danh xưng Âu Việt xuất hiện, thay cho Tây Âu.
Ngày nay khoa chủng tộc học đo sọ thì thấy sọ Thái và sọ Việt
Nam là một, ngôn ngữ của hai dân tộc gần giống nhau thì hẳn người Trung Hoa, mặc
dầu không biết chủng tộc học, ngôn ngữ học vào thuở ấy, vẫn biết quan sát rất
là giỏi.
Âu là một chi của chủng Mã Lai.
Địa bàn đầu tiên của Âu tức là Thái ở Hoa Bắc, Âu có lẽ là
nhóm dữ tợn nhứt trong Cửu Lê.
Tại sao ta biết rằng Thái là một chi của Mã Lai Cửu Lê? Vì
cái sọ Thái, sọ Việt và sọ Mã Lai y hệt như nhau, và vì ngôn ngữ Thái, Mã Lai
và Việt là một.
Người Thái tự xưng là gì hồi cổ thời? Có lẽ là Lai, như tám
chi khác. Tàu phiên âm sai là Lê. Nhưng rồi họ lại tự xưng khác đi, tự xưng là
Âu, khi họ lập ra quốc gia Đông Âu và Tây Âu.
Ta biết chắc Âu là danh tự xưng chớ không phải là danh xưng
mà Tàu đặt ra cho họ, nhờ người Mường, mà ta sẽ thấy lát nữa đây.
Nhưng tại sao đồng chủng Mã Lai với nhau mà Mã Lai, Thái lại
vừa có Thái trắng, vừa có Thái đen, và vài nhóm Thái khác, được ta và Tàu gọi
là Thổ và Lô Lô cũng rất trắng?
Đó là một bí mật tưởng không thể cắt nghĩa trôi, nhưng cũng
có thể cắt nghĩa được.
Trước khi dân Mã Lai di cư sang nước Nhật thì nước đó là của
người Ai Nô mà Nhật gọi là Hà Di. Người Ai Nô thuộc chủng da trắng. Giữa Trung
Hoa và Nhựt Bổn có một dãy đảo nhỏ, các đảo Lau Cầu. Người Ai Nô làm chủ nước
Nhật thượng cổ hẳn cũng có mặt ở Trung Hoa, và một cuộc hợp chủng giữa Mã Lai,
Trung Hoa và Ai Nô hẳn có xảy ra.
Mã Lai Nhựt Bổn rất trắng, chính nhờ sự hợp chủng đó.
Một địa bàn Âu nữa ở phía Tây nước Tàu xưa. Đó là Tứ Xuyên
ngày nay và Cổ Thục xưa. Các nhà chủng tộc học cho biết rằng người Tàu Tứ Xuyên
là người Hoa gốc Thái. Chúng tôi học cổ ngữ Ba Thục và cũng thấy như vậy. Đó là
không kể địa bàn Vân Nam mà ai cũng biết.
Thế thì địa bàn của Thái liên tục và lớn hơn địa bàn Lạc,
nhưng chỉ toàn vùng núi rừng.
Lúc mới đi học cổ ngữ Ba Thục tại Sài Gòn, chúng tôi thấy
danh từ Cổ Thục quá giống danh từ Việt, chúng tôi ngỡ họ là hậu duệ của lính của
An Dương Vương, nhưng xét kỹ ra thì không phải.
Người Hẹ di cư tới Sài Gòn là di cư thẳng từ Quảng Tây chớ
không phải là hậu duệ của lính An Dương Vương. Hơn thế, cổ ngữ Ba Thục, cổ ngữ
Tây Âu và kim Việt ngữ đều giống kim Mã Lai ngữ. Như vậy là đồng gốc Mã Lai mà
ra, chớ không phải Khách Gia bên Tàu nhờ là hậu duệ của An Dương Vương nên biết
tiếng Việt, hậu duệ này của An Dương Vương ở lại Cổ Việt để thành Lạc Việt hoặc
để thành Thái thượng du, trước cuộc xâm lăng Thái đời Đường. Khách Gia đó là
con cháu thẳng dòng của dân nước Ba và nước Thục.
Ta cần đặt ra câu hỏi này: "Khi An Dương Vương bị Triệu
Đà diệt, có thể nào mà lính của ông ta chạy thối lui về Quảng Tây để hai ngàn
năm sau di cư tới Chợ Lớn hay không?".
Ta trả lời dễ dàng rằng không có, vì sử chép rằng ông ấy trị
vì tới 49 năm. Sau 49 năm không còn người lính nào mà còn tại ngũ được cả. Ông
ta đã thu nạp các Lạc Tướng của Hùng Vương được rồi thì hẳn ông ta cũng không
có mộ thêm người Ba Thục trẻ di cư xuống Tây Âu để bổ sung cho lính già mà có vấn
đề chạy thối lui.
Như vậy người Khách Gia ở Chợ Lớn không hề biết tiếng Việt
Nam trước khi di cư tới Nông Nại Đại phố hay Chợ Lớn và họ không phải
là con cháu của lính An Dương Vương.
Nếu có những người lính quá già còn sống sót vào đời Triệu
Đà, họ cũng không chạy đi đâu cả vì cái lẽ là họ đã quá già, đã thành người Lạc
Việt rồi.
Con cháu của họ cũng đã bị đồng hoá với Lạc Việt nên chẳng chạy
đi đâu hết.
Thế thì Ba Thục là Âu tức Thái, mà Thục, Âu, Lạc gì cũng là
Mã Lai tuốt hết.
Nếu việc đối chiếu sọ không nói lên gì được đối với những người
không chuyên môn thì chương đối chiếu ngôn ngữ sẽ cho thấy cổ ngữ Ba Thục, cổ
ngữ Tây Âu là một với kim ngữ Việt Nam, tất cả đều là Mã Lai.
Chúng tôi lại tìm ra một địa bàn khác của cái chi Âu này vào
thời Chiến quốc, ở dưới sông Dương Tử một chút. Tả Khâu Minh có nói đến một nước La,
một dân tộc La dưới đời Chiến quốc, lập quốc đối diện với một nước của
dân tộc Bộc Việt, tại cái nơi tên là bình nguyên Vân Mộng, ở gần hồ Động Đình.
Danh xưng La ấy, ngày nay cũng còn và Tàu dùng để
chỉ dân Lô Lô, tức cũng là dân Âu, tức Thái (xin xem chương sau về địa bàn cổ
thời của chi Lạc).
Địa bàn Quý Châu thì khỏi phải thắc mắc vì Nam Quý Châu hiện
nay là địa bàn của dân Thái. Một ông cố đạo Pháp cho rằng dân Thái ở Nam Quý
Châu là lính Thục của Tần Thỉ Hoàng, họ tàn sát hết đàn ông Miêu ở đó, rồi lấy
đàn bà Miêu, sanh con đẻ cháu đến ngày nay.
Đó là một ức thuyết sai hoàn toàn. Quý Châu là địa bàn Lạc
Thái từ thời thượng cổ, bằng vào một quốc gia mà sử nhà Thương, cho biết tên là
nước Quỹ Phương.
Sử Tàu cho biết nước Quỹ Phương ở phương Nam của họ, cái
phương Nam đó, rất là đích xác, nhưng các sử gia của ta chỉ giữ có một chữ Nam,
rồi phỏng đoán lung tung.
Nước Quỹ Phương này được họ nói đến hồi thời nhà Thương, chớ
không phải về sau này, mà như thế thì cái phương Nam ấy là phương Nam của địa
bàn thứ nhứt của Hoa chủng ở đất Việt đời Hạ mà chúng tôi đã có trình bày rõ ở
chương "Nguồn gốc Hoa chủng" tức chương "Chủng
Trung Mông Gô Lích", đó là phương Nam của đất Kinh Man, nơi mà đến đời Chu
người Tàu lai Việt ở đó lập ra nước Sở.
Tuy nhiên, vẫn chưa biết nước Quỹ Phương ở đâu.
Sử Tàu chép rằng họ có đánh giặc với nước Quỹ Phương đó dưới
đời nhà Ân, tức mạt diệp của đời Thương. Không nghe thắng bại sao cả, Tuy
nhiên, cuộc chiến tranh đó cũng cho ta đoán biết rằng nước Quỹ Phương hẳn phải
văn minh và tài giỏi, vì có bằng chứng rằng sau chiến tranh, họ còn y nguyên là
một nước, chớ không có bị Trung Hoa tiêu diệt y như bất kỳ nước nào đã đánh
nhau với Trung Hoa, trừ Đại Hàn và Việt Nam.
Quả thật thế, đền đời Chu thì sử Tàu lại chép rằng một dòng
quý tộc Trung Hoa đã cưới con gái nước Quỹ Phương làm vợ, sanh con, và cháu của
y, về sau là Hùng Dịch, được vua nhà Chu phong cho ở nước Sở.
Sử Tàu không hề nói phong cho Hùng Dịch về quê ngoại hay
quê cố ngoại y, tức nước Quỹ Phương không phải là nước Sở. Đó là bằng chứng Quỹ
Phương không ở trong đất Việt Kinh Man, mà ở dưới nữa. Và đó là dấu hiệu văn
minh thứ nhì của nước Quỹ Phương; vì quý tộc Trung Hoa hẳn đâu có cưới gái Miêu
quá xấu xí để làm vợ.
Kể ra thì cổ sử Tàu có nói đến hàng trăm nước mà nhiều nước
nay không biết ở đâu, nhưng ta thích tìm biết Quỹ Phương vì nước đó bị
tình nghi là nước Việt Nam cổ thời, bởi trong truyền thuyết của ta, có chuyện
Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân, và có triuyền thuyết nói tên nước ta
xưa là Xích Quỷ.
Sách địa lý Tàu Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ ngày
nay, khẳng định rằng nước Quỹ Phương đích thị là tỉnh Quý Châu, Quỷ biến
ra Quý.
Xét ra thì không đúng. Bên Tàu có câu tục ngữ tả tỉnh Quý
Châu, na ná như thế này: "Xứ đi ba thước thì gặp núi, đã ba ngày không thấy
mặt trời một lần".
Một vùng đất như vậy, khó lòng mà giúp cho một dân tộc nào đó
dựng lên một nước khá văn minh được tại nơi ấy.
Bắc Quý Châu, hiện nay là địa bàn của người Miêu, mà có lẽ
xưa kia cũng thế. Người Tàu không sống nơi đó được, trừ ở tỉnh lỵ và các huyện
lỵ, thì họ không giành làm gì với người Miêu, và nhờ thế mà cho đến nay, qua
năm ngàn năm rồi mà Miêu tộc cứ còn đất rất nhiều.
Đó cũng là đất của chủng Thái nữa, Thái, Miêu sống lẫn lộn ở
đó.
Dầu sao, nước Quỹ Phương cũng không thể là của Miêu tộc vì
theo các cuộc nghiên cứu dân tộc học thì cho đến ngày nay mà người Mèo vẫn còn
bán du mục, chăn nuôi giỏi hơn là làm ruộng, thì cách đây trên ba ngàn năm, họ
không thể đánh giặc với Trung Hoa mà còn giữ được nước, cũng không thể có con
gái gả cho quý tộc Trung Hoa được.
Nước Quỹ Phương không thể là của người Mèo, mà cũng không thể
nằm tại Bắc Quý Châu, vì hầu hết các sử gia đều truy ra được rằng dưới đời Tần
tỉnh Quý Châu tên là đất Dạ Lang, đất chớ không phải nước, như vài sử gia đã viết.
Quả đúng là Dạ Lang không phải là tên nước và mãi cho đến hồi
nào không thấy sử Tàu chép, mà chỉ còn đất không có tổ chức và bị Tàu đặt tên
là quận Kiện Vi?
Quả đúng Dạ Lang không phải là tên nước và mãi cho đến cuối
thế kỷ XVII, Trung Hoa mới vào được vùng ấy, không phải vì ở đó có một nước rất
mạnh mà vì nơi đó là núi rừng nhiều sơn lam chướng khí, đất lại quá xấu nên người
Tàu không nỗ lực quân sự ở đó làm gì, với lại nó nằm trọn vẹn trong lãnh thổ
Trung Hoa, không phải ở biên giới nên họ không vội.
Có thể nào mà là một nước của người Thái hay không? Chắc là
không vì Thái không có truyền thuyết đánh giặc Ân như ta, truyền thuyết thì
ngày nay, đến cả nhà bác học cũng không dám xem thường. Truyền thuyết ấy lại ăn
khớp với sử Tàu là nhà Ân tức nhà Thương quả có đánh nhau với nước Quỹ Phương.
Cảm giác của người Việt rằng nước Quỹ Phương là nước của ta,
có căn cứ chớ không phải là không, vì truyền thuyết của dân tộc, luôn luôn chứa
đựng ít nhiều sự thật trong đó.
Còn tại sao Quỹ Phương lại biến thành Xích Quỷ trong truyền
thuyết của ta thì ta sẽ biết ở một chương sau, chỉ có điều là những học giả
không tin truyền thuyết của dân tộc nói rằng lẽ nào tổ tiên ta lại đặt tên nước
xấu đến thế: "Con quỷ đỏ" (Nhượng Tống).
Nhưng chúng tôi có bằng chứng rằng nhiều quốc gia lấy quốc hiệu
10 lần xấu hơn Xích Quỷ nữa, chẳng hạn như nước Xiêm.
Xiêm là biến thể Việt Nam của Syăm. Mà Syăm là
tiếng Mã Lai có nghĩa là tù binh, đúng ra là Săm bu.
Tại sao ngày xưa người Thái Lan lại đặt tên nước họ là nước "Tù
Binh" thì chúng ta sẽ thấy ở một chương sau. Dầu sao sự kiện ấy cũng
cắt nghĩa được tại sao ta lại có tên nước là "Quỷ đỏ" rất xấu xí.
Như vậy nước Quỹ Phương có thể là một quốc gia Thái Việt ở
Nam Quý Châu, ở đó, đất ít núi rừng hơn Bắc Quý Châu, và ta đã mất nước đó
trong tay người Thái hiện tồn tại ngày nay ở đó, không rõ vào thời nào.
Hoặc nước Quỹ Phương có lẽ tự diệt. Trong lãnh thổ Việt Nam
có hai nước tự diệt đó là nước Xá của người Giarai và nước của người Mạ. Họ đã
thống nhứt các bộ lạc rồi thì vì một lẽ gì không ai biết, lại tan rã và trở lại
chế độ bộ lạc như cũ.
Trở lại giả thuyết của ông cố đạo khi nãy.
Nước Sở bành trướng ra phía Đông chớ không có ăn xuống đất
Quý Châu, và tướng nước Tần là Vương Tiễn, diệt Sở ở Hồ Bắc và Hồ Nam rồi thì
rượt tàn quân của Sở ra An Huy, không bao giờ có xuống Quý Châu cả. Đành rằng
trong quân đội Tần Thỉ Hoàng hẳn phải có người Thục bị bắt đi lính, nhưng lính
đó không bao giờ bị đưa xuống Quý Châu, vì Quý Châu ở nhiều địa bàn của nước Sở,
mà dân Mèo chưa lập quốc nên nhà Tần không có bao giờ đánh vùng núi rừng mà Tàu
ở không được ấy làm gì.
Dưới đời Hán, Trung Hoa gọi nơi đó là đất Dạ Lang
chớ không phải nước Dạ Lang. Có lẽ nước Quỹ Phương ở phía Nam địa bàn
Miêu tộc, đã bị diệt rồi, không biết vì sao.
Nhà Hán có đánh chiếm Dạ Lang, nhưng rồi cũng bỏ vì người Tàu
không ở được vùng núi rừng, và thổ dân ở Quý Châu giữ được một thứ độc lập trên
thực tế cho tới năm Mao Trạch Đông lên cầm quyền, nỗ lực triệt để để trị họ, bằng
cách ban cho họ một chế độ đặc biệt mệnh danh là tự trị, nhưng không rõ thực trạng
ở đó nay ra sao.
Như vậy thì chi Âu có địa bàn liên tục từ Tây Bắc đến Đông
Nam và Tây Nam nước Tàu, sát với địa bàn của chi Lạc.
Xem cái địa bàn liên tục của Cửu Lê ra sao:
Âu Thục: Tứ Xuyên
Lạc Lê: Hồ Nam
La: Hồ Bắc, Hồ Nam
Dạ Lang: Quý Châu (Âu + Lạc + Miêu)
Đông Âu: Nam Triết Giang, Bắc Phúc Kiến
Tây Âu: Quảng Tây, Quảng Đông
Điền: Vân Nam
Địa bàn ấy liên tục và chiếm đến 8 tỉnh của Trung Hoa ngày
nay.
Địa bàn của chi Lạc nằm sát đó, nhưng chi Lạc chiếm các đồng
bằng phì nhiêu và các vùng ven biển, còn chi Âu thì chỉ chiếm các vùng núi non
hiểm trở.
Xem địa bàn của chi Lạc ở chương sau, ta thấy chi Lạc chiếm đến
12 tỉnh rưỡi của Tàu, mà toàn là đất tốt không mà thôi, nhưng diện tích thì nhỏ
hơn.
Nhưng địa bàn của chi Lạc bị chi Âu ngăn làm đôi, tại cái quốc
gia tên là Đông Âu (Nam Triết Giang và Bắc Phúc Kiến). Ta nên nhớ rằng (chương
III) dân Phúc Kiến, tức dân Mân, cũng là "rợ Lạc". Thế thì chi Âu đã
thọc ra bờ biển, ngăn đôi Lạc Cối Kê với Lạc Thất Mân. Có lẽ đó là một nhóm Âu
đi lập quốc riêng, nhưng âm thầm vâng lệnh một ý chí tiềm ẩn của dân tộc là tìm
một con đường ra biển Đông, mặc dầu họ cũng đã có bờ biển rồi ở Quảng Đông.
Nhưng bờ biển giữa U Việt và Mân Việt giúp họ giao thương với Trung Hoa tiện
hơn là bờ biển Quảng Đông, bọn Âu ly khai đi dựng nước Đông Âu, có lẽ chỉ ly
khai vì bất đồng quan điểm chánh trị với toàn khối nhưng sự thật bên trong thì
đó là bản năng tiềm tàng của cả toàn khối, cố tìm một đường sống tốt hơn.
Hai chi Âu và Lạc lập quốc gần với nhau và chi Lạc hùng cường
hơn, nhưng văn minh thì như nhau. Thí dụ nước Thục và nước U Việt ở Cối Kê có mặt
cùng lúc dưới thời Chiến quốc, nhưng nước U Việt được làm Bá, còn nước Thục thì
bị diệt quá sớm. Nhưng nước U Việt không có phát minh nghề sơn mài như nước Thục.
Trái lại U Việt giỏi nghề đúc đồng pha và nổi danh về kỹ thuật đúc gươm và đúc
trống.
Chi Lạc nổi danh giỏi thuỷ vận chỉ nhờ chiếm được địa bàn có
nhiều sông ngòi nhứt ở Trung Hoa, và chính họ phát minh ra kỹ thuật dẫn thuỷ xuất
điền và nhập điền cho toàn cõi Á Đông gió mùa (Asie des mossons) mà cổ sử Trung
Hoa nhìn nhận rằng đã phải học với họ (H. Maspéro).
Và cả hai địa bàn đều có biên giới chung với nhau ít lắm cũng
từ Hà Nam, Sơn Đông cho tới Phúc Kiến.
Tới đây ta mới thấy tài của trí thức Trung Hoa vào cổ thời. Họ
làm việc rất là ý thức, mặc dầu sách của họ có vẻ hỗn loạn lắm. Nhưng ta phải
biết dùng tài liệu rắc rối của họ, mới thấy được sự thật.
Đã nói rằng chữ Việt nguyên thỉ là cái đuôi của chữ Việt bộ
Nguyệt mà ta gọi là bộ Mễ.
Chữ Việt thứ nhì là Việt bộ Mễ, dùng để chỉ dân Việt ở nước Sở,
tức là thứ dân Việt hỗn độn trong đó có chi Âu mà cũng có chi Lạc.
Nhưng đến thời Việt Câu Tiễn thì họ biết rõ là có hai chi,
nên lại dùng chữ Việt thứ ba là Vượt, để chỉ dân Câu Tiễn.
Lúc đánh dẹp hai bà Trưng, họ cũng lại biết dân ta thuộc chi
Lạc, tức chi ở Cối Kê, nên lại dùng chữ Việt thứ ba cho dân ta. Còn với dân Âu ở
Quảng Đông thì họ dùng chữ Việt thứ nhì là chữ Việt xô bồ, với mục đích phân biệt
chi Lạc với chi Âu.
Sự phân biệt ấy không cho phép ta lầm lẫn nước Nam Việt của
Triệu Đà với nước Âu Lạc của ta vì Việt Quảng Đông viết với bộ Mễ ngay từ thuở
đó, chớ không phải mới được sửa đổi từ ngày vua Quang Trung đòi hỏi cái đất Nam
Việt ấy mà nghi rằng họ sửa đổi để dễ chối cãi.
Việt và Thái cùng một gốc mà ra, là hai chi của Mã Lai chủng
thì có tương đồng giữa Việt và Thái, không cần phải cắt nghĩa, hơn thế, không
nên cắt nghĩa sai như các nhà bác học Âu Châu. Thấy ngôn ngữ Việt và Thái giống
nhau, họ cứ nói là ngôn ngữ ta do gốc Thái mà ra, trong khi đó thì sọ của ta lại
gần gốc tổ Mã Lai hơn là sọ của Thái thì đáng lý ra họ phải nói ngược lại. Và
như thế thì cuộc sắp loại các ngôn ngữ Á Đông của các nhà ngôn ngữ học quốc tế
đã sai cả, phải thay tên "Nhóm ngôn ngữ Thái" bằng
tên "Nhóm ngôn ngữ Việt Nam" mới đúng.
Chủ trương của chúng tôi chỉ vì sự thật khoa học mà thôi chớ
không có mục đích tranh ăn trên ngồi trước với một dân tộc đồng chủng làm gì
Vả lại, như sẽ chứng minh, Âu hay Thái hay Việt Nam gì cũng đều
là Mã Lai hết thì không có ai ở trên ai cả.
Nhưng các ông không biết điều đó, ngỡ Thái và Việt Nam thuộc
hai chủng riêng thì cũng cho qua đi, nhưng tại sao họ cứ bắt ta làm học trò của
Thái, của Cao Miên, mà không bắt trái ngược lại trong khi Thái và Cao Miên còn
ăn cơm bằng tay, mà ta thì đã dùng đũa từ lâu đời lắm rồi.
Các nhà bác học Âu Châu quả có ăn hiếp dân Việt Nam thật sự về
khoản này. Tổng số dân Thái ở Đông Nam Á hiện nay thấp hơn tổng số dân Việt
Nam, thế mà họ lại nghĩ Việt Nam từ Thái mà ra, mà không hề nghĩ Thái từ Việt
Nam mà ra. Chẳng qua là hồi tiền 1945 ta bị trị, còn Thái thì có một đại diện độc
lập là nước Xiêm. Họ được cầm cờ vì họ có đời sống quốc tế, ta phải chịu làm
đàn em vậy. Mà như thế là phản khoa học.
Việt Nam đồng ngữ vựng và ngữ pháp với Thái vì cùng một gốc
mà ra, chớ không phải là ta vay mượn như các nhà ngôn ngữ học đã nói, mà lại
nói rằng vay mượn của Thái Vân Nam nữa (sao lại đích xác quá thế trong khi
không có bằng chứng, hơn thế, có bằng chứng ngược lại). Lá cây, cổ Thục, cổ
Tây Âu và hiện nay Khách Gia và Quảng Đông đều nó là La, Lá, còn Thái
Vân Nam thì nói là Bai.
(Người Quảng Đông dùng song song hai danh từ, danh từ Tàu đọc
sai là Dịp, tức Diệp của Hán Việt, và danh từ cổ Tây Âu là Lá).
Địa bàn Thái ở Quảng Tây và Bắc Việt liên tục với nhau, còn địa
bàn Thái ở Vân Nam không được liên tục suôn sẻ như Quảng Tây và Bắc Việt chút
nào. Thái Bắc Việt và Thái Quảng Tây chớ không phải Thái Vân Nam.
Sự kiện có nhiều cổ vật bằng đồng ở Vân Nam vì có dịp tìm kiếm
ở đó, họ chưa hề tìm kiếm ở Quảng Tây nhiều được.
Nhà bác học ngôn ngữ danh tiếng Benedict, vì không biết chủng
tộc học, nên đã lầm, gọi Miêu tộc ở Hoa Nam là Indonésien. Theo quan niệm của
ông, hễ ai kém mở mang là ông bỏ vào cái bị Indonésien chớ không riêng gì Miêu
tộc. Vài nhà bác học khác cũng thế.
Vì vậy mà ông P. Benedict mới chủ trương rằng Thái Hoa Nam có
lai giống với Indonésien!!!
Hẳn ông không biết rằng Indonésien là Cổ Mã Lai và hẳn ông
cũng không biết Thái thuộc Cổ Mã Lai. Nếu ông biết mà còn nói thế thì hoá
ra Thái có lai giống với Thái là nghĩa làm sao?
Sọ và ngôn ngữ Miêu khác hẳn sọ và ngôn ngữ của Mã Lai, không
nên thấy Miêu kém mở mang mà gọi họ là Cổ Mã Lai được.
Tóm lại, đọc sách của các ông Tây ngày nay, ta vẫn phải cẩn
thận y như đọc sách các ông Tàu có đã hai ngàn năm vì cả hai ông thầy ấy của ta
đều ăn nói lộn xộn.
Tác phẩm của Benedict được giới khoa học xem là một khám phá
quan trọng về chủng Thái, nhưng tác giả chỉ đúng về mặt ngôn ngữ để làm cái việc
khám phá đó. Công của ông có lớn thật, nhưng ông cứ còn gây ngộ nhận với danh
xưng Indonésien mà ông biến thành danh từ với cái nghĩa "man di".
Riêng nhà bác học G. Coedès thì dùng danh xưng Indonésien để
chỉ Lạc trong câu: "Người Thái và người Indonésien, trước khi Nam thiên, bị
chủng Cơ Me chọc thủng vào giữa khối và chia họ ra làm hai, một cánh đi về phía
Bắc đến Quý Châu, đó là cánh Thái, một cánh đi về phía Nam, đó là cánh
Indonésien.
Ở đây danh xưng Indonésien của ông G. Coedès rõ ràng là ám chỉ
chi Lạc không còn ngờ gì nữa. Tuy nhiên, ông vẫn sai về sự kiện, vì thật ra thì
không hề có việc Cơ Me chọc thủng cái khối đó. Cơ Me, từ Tây Khương tiến ra
ngoài, rồi thì rẽ ngay tay phải, xuống Vân Nam để tràn vào xứ Lào ngày nay mà lập
quốc ở đó, chớ không có bao giờ ra tới Quảng Tây nữa, chớ đừng nói là ra tới biển
thì việc tách hai cái khối Thái Việt đó không bao giờ có xảy ra. (Nước Chơn Lạp
ban đầu nằm tại đất Lào ngày nay).
Nhóm bác học Viễn Đông Bác Cổ gồm người nghiên cứu văn minh
Cao Miên đông hơn nghiên cứu văn minh Trung Hoa, vì người Âu Châu có khuynh hướng
mê say kiến trúc đồ sộ mà họ cho là dấu hiệu văn minh cao, còn cơ cấu tế nhị của
văn minh Trung Hoa, họ không thấy. Mặc dầu vậy, sử Việt vẫn được biết rõ hơn sử
Cao Miên, ít lắm cũng từ năm 330 T.K. cho tới nay.
Ông G. Cocdès chỉ là người chuyên môn về Ấn học (Indianiste)
chớ không là Hoa học (Sinoloque) nên mới lầm như thế.
Sự thật thì Quý Châu là đất của Thái từ cổ chí kim, và họ
không hề bị Cơ Me đẩy lên đó. Và sự thật thì nếu tiếng Việt có giống tiếng Cao
Miên là vì lý do đồng chủng Mã Lai, y hệt như nó giống tiếng Thái, tiếng Miến
Điện, tiếng Tây Tạng, tiếng Thượng Cao nguyên chớ không có gì lạ hết. Ta sẽ thấy
như vậy ở các biểu đối chiếu trong chương ngôn ngữ.
Theo lời cụ Vương Hồng Sển, nguyên quản thủ Bảo tàng viện Sài
Gòn, thì chính các nhà bác học phái Sinologie đã than rất tiếc rằng đa số các
ông Tây đều nhảy sang phái Indianisme vì mê chuyện ngoạn mục, trong khi môn
Sinologie cần người hơn vì văn minh Trung Hoa tuy kém ngoạn mục, nhưng trái lại
sâu sắc tế nhị hơn và vì thế mà khó nhọc hơn, cần phải đông người, mà than ôi,
lại chỉ có quá ít người.
Khi khai quật những ngôi cổ mộ bằng gạch ở Lạch Trường, nhà
khảo cổ O. Jansé rất ngạc nhiên mà thấy mộ ấy giống mộ cổ ở Tứ Xuyên, cả hai đều
cổ lối 2 hoặc 3 trăm năm T.K., tức không phải là mộ Trung Hoa rồi vậy.
Thế nên rồi ông O. Jansé gọi "Việt Nam là cái ngã
ba của dân tộc và các nền văn minh". Ông O. Jansé đã lầm to, chỉ vì ông
không biết những đẳng thức sau đây mà quý vị sẽ thấy qua các chương sách này:
Tứ Xuyên = Thục
Thục = Âu
Âu = Việt
Như vậy nếu cổ mộ Tứ Xuyên giống hệt cổ mộ Lạch Trường thì
còn là lạ nữa, và có gì đâu mà là "Ngã ba của các dân tộc và nền văn
minh"?
Chúng tôi đã đề cao tài quật thám của ông O. Jansé, nhưng
ngoài cái tài đó, ông đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.
Đó cũng là một nhà bác học không tinh thông môn Hoa học,
nhưng lại bị biệt phái oan uổng sang khu vực ảnh hưởng Trung Hoa.
Thái và Việt giống nhau cho đến đỗi trông cứ như là một.
Bốn tượng đồng gắn trên nắp bình đồng Đào Thịnh cho ta thấy
những Cổ Việt mặc sà rong, một thứ sà rong ngắn của nông dân Lào ngày nay, sà
rong mặc tạm để làm việc trong nhà hoặc ngoài đồng, khác với sà rong đi chùa
hay đi chơi.
Còn người Việt Khê thì thổi kèn, một cây kèn giống hệt cây
Khène của Lào và Kèn và Khène chắc chắn là hai danh từ đồng
gốc mà ra, chỉ có khác là người Đông Sơn bịt khăn, còn người Thái thì không.
*
Tới đây thì truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ của dân tộc
phải được hiểu lại. Đó là chuyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra 100 cái trứng,
nở ra 100 người con, 50 theo cha xuống biển, 50 theo mẹ lên rừng.
Cho tới nay, người ta cứ xem đó là sự ám chỉ đến sự ly khai
giữa Việt Nam và Mường + Thượng. Nhưng thật ra thì không phải thế.
Truyền thuyết này ăn khớp với hai danh tự xưng Âu và Lạc và đặc
điểm của hai chi đó. Chi Âu chiếm toàn địa bàn (Âu Cơ là tiên, đem con lên rừng
mà ở) còn chi Lạc thì chiếm toàn địa bàn sông ngòi ở ven biển (Lạc Long Quân là
rồng nên đem con xuống biển).
Truyền thuyết này không cho thấy dây liên hệ nào của người Mường
và người Thượng với hai nhơn vật của truyền thuyết, mà chỉ có sự kiện lên núi rừng,
mà sự kiện này cũng ăn khớp với chi Âu, nhưng với chi Âu thì nó lại ăn khớp hơn
vì còn dây liên hệ ở danh tự xưng Âu và Lạc.
Như ta vừa thấy, địa bàn của chi Âu của chủng Mã Lai toàn là
địa bàn núi rừng, còn địa bàn của chi Lạc thì toàn là địa bàn sông biển. Lạc
Long Quân ở đây là chi Lạc, còn Âu Cơ là chi Âu, cả hai đều ở trong chủng Mã
Lai.
Và ta có thể đoán được thời điểm ra đời của truyền thuyết.
Truyền thuyết ra đời từ ngày dân Cửu Lê tách ra làm hai chi rõ rệt, chi Âu và
chi Lạc. Sự ly khai ấy có lẽ xảy ra sau khi Cửu Lê bị Hiên Viên đánh đuổi, toàn
thể Âu vượt sông Hoàng Hà, nhưng Lạc thì chia hai, một số vượt Hoàng Hà, một số
theo đường biển sang Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Hải Nam và Đông Nam Á lục địa,
tức Đông Dương. Ta sẽ thấy khoa khảo tiền sử chứng minh như vậy.
Rời đồng bằng Hoa Bắc rồi thì Âu chiếm địa bàn núi rừng ở Hoa
Nam cho tới ngày nay, còn Lạc thì vừa chiếm địa bàn sông ngòi Hoa Nam vừa chiếm
địa bàn sông ngòi ở các đất mới.
Và danh xưng Âu có lẽ xuất hiện ngay từ thời Hiên Viên đó.
Truyền thuyết trên đây bị ai đó không rõ, hệ thống hoá quá rõ
ràng đích xác, làm như đó là sự thật, và Âu Cơ lại hoá ra là cháu năm đời của
vua Thần Nông là vua Tàu.
Nhưng trong thư tịch Trung Hoa cũng có ghi chép về thế phả Thần
Nông, lại không hề có cái tên Âu Cơ này. Sự kiện đó không có nghĩa là họ sai,
vì họ có thể chỉ chép con trai mà bỏ con gái.
Nhưng truyền thuyết của ta, bị lịch-sử-hoá, thấy rõ là sai. Ở
hai châu Kinh và Dương có hàng trăm ông vua vừa Tàu vừa Việt chớ không hề có một
ông vua độc nhứt là Tàu lai Việt mà ta gán cho cái hiệu là Kinh Dương Vương và
tên là Lộc Tục.
Tóm lại, truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ của ta chỉ là
truyền thuyết, đừng tưởng rằng đó là sử. Nhưng cũng nên nhớ rằng truyền thuyết
luôn luôn chứa đựng sự thật nào đó, nó chỉ chiếm một phần trăm của toàn truyện
mà thôi.
Cái sự thật đó là Lạc và Âu sống chung với
nhau, Âu chiếm địa bàn núi rừng, Lạc chiếm địa bàn sông ngòi, ven biển, hai
nhóm đó xưa kia là một, được Tàu gọi là Cửu Lê, và họ tách ra làm hai, chính từ
ngày mà Lạc làm cách mạng, theo phụ hệ, còn Âu thì giữ mẫu hệ cố hữu.
Tách hai xong, họ vẫn còn sống cạnh nhau hoài cho đến ngày
nay.
*
Dưới đây là bản đồ hệ thống hoá do Ngô Sĩ Liên ghi ra trên giấy.
Truyền thuyết của Tàu cho rằng Thần Nông, sáng lập nông nghiệp,
là vua trực tiếp của họ. Truyền thuyết Việt Nam lại chỉ nhận Thần Nông là ông tổ
lai căn xa xôi mà thôi. Cháu ba đời của Thần Nông là Đế Minh.
ĐẾ MINH (Tàu)
ĐẾ NGHI (Tàu)
Mẹ Tàu
LỘC TỤC (Tàu lai)
Mẹ là Vu Tiên Nữ (Việt)
ĐẾ LAI (Tàu)
LẠC LONG QUÂN (Tàu lai)
+ cháu gái họ là Âu Cơ
TỔ BÁCH VIỆT
ÂU CƠ (gái Tàu)
Truyền thuyết của ta cũng nhiêu khê lắm. Cứ theo truyền thuyết
đó thì Lạc Long Quân lấy cháu họ của mình vì bà Âu Cơ là con Đế Lai.
Theo chế độ mẫu hệ kia thì được, vì con theo hệ của mẹ chớ
không theo hệ của cha, và anh em, chị em nhà chú nhà bác có thể lấy nhau.
Nhưng dầu sao, tước bỏ hết những huyền hoặc trong đó, cũng
còn lại Việt có lai Tàu rất là xa xôi, chớ không là hậu duệ trực tiếp của Tàu.
Nhưng điểm đó lại mâu thuẫn với khoa khảo tiền sử là Mã Lai
Hoa Nam lúc di cư là thuần Mã Lai.
Như thế thì ta phải tin khảo tiền sử hơn. Nhưng truyền thuyết
đã kể như vậy thì ta cũng không thể bỏ qua. Ta giả thuyết rằng kẻ lãnh đạo của
Mã Lai đợt II di cư đến Cổ Việt có thể là Tàu lai thật sự, một đứa con rơi
không được Tàu chấp nhận nên làm Việt, hoặc làm Việt vì đã nắm được quyền lãnh
đạo một nhóm Việt.
Mà như vậy thì đó là truyền thuyết của Mường là Mã Lai đợt II
gốc Hoa Nam, chớ không phải truyền thuyết của ta vì ta đa số là Mã Lai đợt I.
Dầu sao Mã Lai đợt II ở Cổ Việt cũng đã hợp tác lớn lao với
vua Hùng Vương và chính họ đã đưa trống đồng tới, thì ta cũng xét tới cùng về
truyền thuyết của họ mà ta cũng xem là của tổ tiên ta, vì hiện nay không còn
người Việt Nam nào mà biết mình thuộc đợt I hay II nữa cả. Người Mường chỉ bất
hợp tác với Mã Viện mà tách riêng ra chớ trước đó, trong nhiều trăm năm, họ đã
hợp tác chặt chẽ với vua Hùng Vương, đã lai giống đợt I tại Giao Chỉ rất nhiều,
bằng chứng là ngôn ngữ ta đầy dẫy danh từ của Mã Lai đợt II, còn ngôn ngữ Mường
thì cũng chứa đựng khá nhiều danh từ của đợt I.
Nhượng Tống không biết rằng ta là Mã Lai hỗn hợp nên đã mắng
Ngô Sĩ Liên tắt bếp khi Ngô Sĩ Liên đưa truyền thuyết Mường vào sử ta (ta sẽ biết
rõ người hơn ở chương Làng Cườm).
Nhưng Ngô Sĩ Liên đã có lý hẳn hòi mà làm như vậy vì sự hợp
tác quá lớn lao giữa đợt I và đợt II ở Giao Chỉ, trước khi Trung Hoa đến nơi.
Họ Nguyễn hay họ Trần là con cháu Hùng Vương, họ Lê hay họ Phạm
là con cháu của Mường, thật không còn ai biết nữa cả.
Trái lại các nhà ngôn ngữ học biết rằng Việt ngữ tách rời khỏi
Mường ngữ không lâu lắm. Họ nói không minh bạch, chớ đáng lý gì phải nói Việt
ngữ tách khỏi Mã Lai ngữ đợt II không lâu lắm và riêng chúng tôi sẽ có bằng chứng
là tới thế kỷ XVII ta vẫn còn dùng Mã Lai ngữ chưa biến dạng và cho đến thời
Minh Mạng, tức đến thế kỷ XIX, ta vẫn còn gọi Thuận An là cửa Eo. Eo là danh từ
Mã Lai đợt II mà ta dùng không có biến một âm nhỏ nào hết.
Vậy truyền thuyết Mường có giá trị như là truyền thuyết của
ta và xin trở về với ông Tàu lai Việt là Lạc Long Quân.
Sự lai giống đó là vua Việt lai giống chớ không phải là dân
Việt. Ngay ở chương sau đây, nghiên cứu về chủng Mã Lai, khoa khảo tiền sử cho
ta biết rằng Mã Lai không hề có lai giống với Tàu trước khi di cư xuống Cổ
Việt.
Một người ngoại quốc, nhảy lên làm vua của một dân tộc nào
đó, rất thường xảy ra trong lịch sử nhứt là, mà chuyện mới nhứt là chuyện của đồng
bào Thượng trên Cao nguyên, bị Pháp hạ, anh ta mới xuống, không thôi anh làm
vua ở đó và truyền ngôi cho con cho cháu mấy trăm năm cũng chưa thôi.
Nhưng, đừng ngộ nhận, đừng lầm lẫn vua và dân. Ông vua có thể
là hậu duệ của Thần Nông, nhưng dân thì không. Chớ nên quên điều đó. Phương chi
Lạc Long Quân đã bị lai tới ba đời, mẹ ông ta là Việt thuần chủng, còn cha ông
ta là Tàu lai Việt, thì còn gì là máu Tàu trong người của ông ta?
Tưởng cũng nên nói rằng chữ Âu, các nhà nho ta đọc là Âu,
nhưng Quan Thoại đọc là Ngê U, và khi kể truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, người
Mường đọc là Ngu Cơ chớ không là Âu Cơ như ta. Thế nghĩa là người Mường còn nhớ
lối gọi cổ thời.
Chúng tôi không biết danh xưng Âu là danh xưng hay là tên mà
Tàu đã đặt để gọi dân đó.
Nhưng bằng vào lối gọi của người Mường, họ đọc chữ Âu là Ngu,
gần giống Tàu Quan Thoại là Ngê U, ta có thể suy đoán rằng Âu là danh tự xưng.
Quả thật thế, người Mường không có chịu ảnh hưởng của Tàu,
nhưng họ lại đọc cái danh xưng đó giống người Tàu, vậy thì họ đọc theo sự nghe
Âu tự xưng, Tàu cũng thế. Nếu họ đọc qua trung gian của người Tàu như ta, thì họ
phải đọc sai, và sai y hệt như ta, vì họ là ta. (Ta sẽ thấy như vậy ở một
chương sau) nghĩa là họ phải đọc Âu chớ không là Ngu.
Chỉ phiền là trong truyền thuyết đó người Mường lại cho rằng
bà Ngu Cơ là bà thánh tổ của họ. Thế thì không còn gì chất Âu tức Thái trong vụ
Âu Cơ cả.
Thế nên ta mới hiểu rằng truyền thuyết ám chỉ sự tách rời ta
với Mường.
Có lẽ người Mường không giải thích được sự kiện tách rời đó,
và nhân thấy họ và ta quả có tách rời và họ lên núi rừng, nên họ tự đồng hoá với
Âu, và đó chỉ là một lầm lẫn mà thôi, vì ở chương người Mường chúng tôi sẽ
trình chứng tích rằng họ là Mã Lai đợt II, tức là Lạc bộ Mã.
Nước Tây Âu thành lập vào thời nào, không ai biết cả, và đó
là nước của người Thái chớ không phải là của người Lạc. Chúng tôi sẽ chứng minh
điều đó khi xét lại sai lầm của bao nhiêu là cuốn sử cho rằng Tây Âu = Cổ Việt
Nam.
Dầu sao nó cũng thành lập cùng lúc với nước Thục và Văn Lang,
và rồi ta sẽ thấy rằng khi Thục bị mất nước thì quý tộc Thục chạy xuống nước
Tây Âu đồng ngôn và đồng chủng.
Tây Âu thu hút tất cả các dân Âu ở Hoa Nam bị Tàu đánh đuổi,
nên Âu không hề có di cư đi đâu cả, cho tới ngày bị Tần Thỉ Hoàng diệt quốc.
Sau ngày đó họ cũng không có di cư. Chỉ từ thế kỷ thứ VIII, IX, X tới XIII sau
Tây lịch, bị Tàu lấn đất dữ quá, họ mới di cư đến thượng du Bắc Việt mà thôi.
Đó là một quốc gia Âu hùng cường bậc nhứt trong các quốc gia ở
phía trên chạy xuống, và khi Tàu vất vả diệt xong họ, kiểm tra dân số thì thấy
Tây Âu 10 lần đông đảo hơn Mân Việt. Âu Lạc, Đông Âu, v.v.
Nước ấy hùng cường và bất phục Tàu nên Tần Thỉ Hoàng mới gọi
dân ta là Lục Lương, tức dân du côn.
Ta có thể tưởng tượng rằng sau khi Cửu Lê vượt Hoàng Hà thì
có một nhóm Âu chạy xa nhứt đến Lưỡng Quảng để về sau lập ra nước Tây Âu, và nhờ
chạy xa như vậy nên họ mới tồn tại đến đời Tần, khác với các quốc gia Âu và Lạc
khác ở Hoa Nam đều bị Sở diệt tất cả.
Nhưng học ngôn ngữ Thái, chúng tôi thấy có một số danh từ Mã
Lai đợt II, tức Lạc bộ Mã, tức Mã Lai Nam Dương. Thế nghĩa là cái nước của chi
Âu đó cũng có chứa dân Lạc Hoa Nam, chớ không thuần Âu, y hệt như cũng không
thuần Lạc bộ Trãi tức không thuần Mã Lai đợt I.
Hơn thế, ngôn ngữ của họ lại dung túng nhiều danh từ của chủng
Mê-la-nê hơn ngôn ngữ Việt Nam, thì hẳn họ đồng chủng với Mê-la-nê nhiều hơn
ta.
Mê-la-nê là cái chủng đã làm chủ Hoa Nam và Đông Nam Á lục địa,
liền trước chủng Cổ Mã Lai.
Lạc Việt còn chạy xa hơn họ nữa, nhóm tổ tiên ta chạy bằng đường
thuỷ thì đã khác rồi, còn họ thì chạy bộ nên chúng tôi mới bảo đó là nhóm chạy
xa nhứt, nghĩa là xa nhứt trong đám chạy bộ.
Hơn thế họ lại là Âu chớ không phải Lạc, tức là xa nhứt của
đám chạy bộ và của chi Âu, còn xa nhứt của đám chạy bằng đường biển và của chi
Lạc là dân của đảo Célèbes, chớ cũng chẳng phải là dân Cổ Việt Nam, như khoa khảo
tiền sử đã cho thấy.
Tóm lại, Mã Lai đợt I, là Cửu Lê, và chia hai rõ rệt thành Âu
và Lạc, sau khi bị Hiên Viên đánh đuổi. Họ thành lập nhiều quốc gia rất cổ, có
lẽ đồng thời với nhau là Thục, Tây Âu (chi Âu) và Văn Lang (chi Lạc), còn các
quốc gia Việt danh tiếng khác ở Hoa Lạc nằm sẵn tại Hoa Nam Lạc bộ Trãi và Âu
cũng có lập quốc ở Hoa Nam, nhưng không thọ, trừ một quốc gia độc nhứt là Tây
Âu, nhờ ở xa Tàu nhứt.
Chúng tôi đi gần lạc đường ở đoạn sau của chương này. Nhưng
tiện dịp phải nói luôn cho xong, chớ phần chánh yếu của chương sách là chứng
minh mấy điều sau đây:
Nước Tây Âu là một trong ba quốc gia Thái lớn nhứt trước Tây
lịch kỷ nguyên: Ba Thục, Tây Âu và Ai Lao, tức tên xưa của một nước mà nay là tỉnh
Vân Nam. Nước này mang tên ấy vì trung tâm của nó nằm tại Lao Sơn. Đó là danh
xưng mà Tàu đặt ra để gọi nước ấy, chớ nó phải tự xưng khác, nhưng ta chưa truy
ra danh tự xưng ấy được.
Tây Âu không dính líu gì tới Cổ Việt Nam cả, dân Thái không
phải là dân Lạc Việt, mặc dầu đồng tông với nhau.
Không hề có sự sáp nhập đất đai của Tây Âu và Lạc Việt, để tạo
ra một nước Tây Âu Lạc. Sau Lộ Bác Đức thì có sự sáp nhập đó, dưới cái tên Giao
Chỉ, nhưng chỉ sáp nhập hành chánh mà thôi, nhưng rồi nhà Hán cũng tách ra ngay
thành hai phần: Giao Châu và Quảng Châu.
Tần Thỉ Hoàng chỉ chiếm được Tây Âu mà không bao giờ chiếm được
Cổ Việt Nam cả.
Vào đầu Tây lịch, Thượng du Bắc Việt là đất gần như là bỏ
không, không có người Thái sinh sống ở đó.
Người Thái dưới thời Chiến Quốc được Tàu gọi là người Âu,
nhưng dưới thời Hiên Viên được gọi là Cửu Lê, nhưng Lê cổ thời ấy lại cùng với
Lạc họp thành một khối duy nhứt, trước khi tách hai ra để Lạc di cư đi Nhựt Bổn,
Việt Nam, Nam Dương và Mỹ Châu.
Còn Thái thì ta sẽ thấy sau là họ không bao giờ di cư bằng đường
biển hết vì địa bàn của họ không ở gần biển. Họ vượt sông Hoàng Hà, rồi cũng lập
quốc cạnh Lạc ở bình nguyên Vân Mộng, rồi bị Tàu đẩy họ xuống Hồ Nam rồi xuống
Tây Âu.
Thái đã có mặt ở Tây Âu vào thời Hiên Viên chưa, cũng như Lạc
đã có mặt ở Phúc Kiến vào thời Hiên Viên chưa, không ai biết cả, chỉ biết rằng
khi Bách Việt bị đẩy khỏi địa bàn Dương Tử thì nước Tây Âu đã có rồi, và bao
nhiêu Thái đều đổ dồn vào đó, kể cả Thái Ba Thục bị mất nước hàng trăm năm trước
đó cũng đổ dồn về Tây Âu, thành thử Tây Âu lớn mạnh vô cùng và đa số binh sĩ của
Tần Thỉ Hoàng, đông nửa triệu người, chỉ chúi mũi vào Tây Âu mà thôi (Hoài Nam
Tử).
Qua lịch sử, Âu luôn luôn chiếm địa bàn núi rừng, còn Lạc
luôn luôn chiếm địa bàn sông biển. Thế nên chúng tôi mới tin chắc truyền thuyết
Âu Cơ và Lạc Long Quân bắt nguồn ở cái tình trạng đó, và Tiên Rồng chỉ là chuyện
người đời thêm thắt vào cho hoa mỹ vậy thôi.
Chủng Mã Lai gồm có 4 chi, chớ không phải 2, nhưng chỉ có
truyền thuyết cho 2 chi Âu và Lạc, vì hai chi kia có địa bàn không dính với Âu
và Lạc.
Hai chi kia là chi Khơ Me mà Tàu phiên âm là Khương và chi
Môn mà có lần Tàu cũng gọi bằng Lạc (nhưng với bộ Chuy) mà chi đó được gọi là
Khuyển Nhung thường hơn.
Cũng xin thêm rằng danh xưng Lê hiện nay cứ còn được dùng tại
Hoa Nam. Ở đó, trừ Miêu tộc ra thì những người Việt chưa biến thành Tàu được gọi
bằng lu bù thứ tên, nhưng có một nhóm cứ được gọi bằng Lê, và người Lê đồng nhứt
là ở Hải Nam chớ không phải ở Lưỡng Quảng, mà đó là nhóm Lạc-Lê chớ không phải
Thái hoặc Lạc.
Nhưng dầu gọi bằng Bạch Di, La La, Thổ, Tài gì, họ cũng chỉ
là một, tức Thái trắng và Thái đen.
Chúng tôi có quen thân với một người Tàu ở Đông Hưng di cư
sang đây. Đông Hưng là cái làng đối diện với Móng Cái của Việt Nam. Đó là người
Hợp Phố của các đời Chu, Tần, Hán.
Ông ấy nói tiếng Tàu, nhưng không sai giọng như người Quảng
Đông, mà lại sai y hệt như người Hải Nam. Thế nghĩa là dân Hợp Phố là dân Lạc-Lê
chính cống.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét