Mưa thu nhớ tằm 3
Tây Xi-Lăng-Ba hồi hộp bước ra khỏi con đường mòn xuyên rừng,
con đường nầy trổ ra một cánh đồng nhỏ, rồi dừng chơn lại, chống gậy mà nhìn
cánh đồng ấy một hồi rồi lắc đầu, thở dài.
Hằng trăm cây cao-su mới trồng độ hai tháng, đang phơi những lá héo vàng hoe dưới
nắng trưa.
Đây là lần thứ ba mà lão Xi-Lăng-Ba lặn lội lên chốn đèo heo hút gió nầy để chứng
kiến tận mắt sự thất bại của con nhà nghề là lão ta.
Lão ta nguyên là Giám-đốc Sở Canh-Nông Nam-Kỳ, xin nghỉ việc ngang xương để
doanh-nghiệp trong ngành hoạt động mà lão rất sành. Thấy nghề trồng cao su đang
lên ở đất Nam-Kỳ nầy, lão xin khẩn hoang đất mới để lập sở. Nhưng lão ít vốn
nên chỉ khẩn những vùng đất nhỏ độ vài mươi mẫu, canh tác xong xuôi vài năm mới
xin khẩn một vùng đất khác nữa, và lần nào cũng thành công cả, chỉ trừ lần nầy
mà lão đụng đầu phải một cuộc đổ vỡ không cắt nghĩa được.
Lão Xi-Lăng-Ba tư lự hồi lâu rồi lẩm bẩm:
- Kỳ quái ! Kỳ quái !
Anh Tám Hậu, tài xế ruột của lão Xi-Lăng-Ba mà lão dẫn theo cho có bạn, với lại
để dùng làm thông ngôn khi cần tiếp xúc với người địa phương, đang vác cây súng
bắn chim, đứng sau lưng chủ anh.
Anh ta không thấy có gì kỳ quái trong vụ nầy cả. Anh ta nghĩ rằng rừng thiêng ắt
hẳn phải được thần rừng bảo vệ, mà Tây Tà ngang ngược, phá rừng mà không cúng
vái tạ lễ thì thần rừng đâu có dung tha, họ phá hại sự trồng tỉa, đó là họ nhẹ
tay lắm đa, thường thì họ vật chết toi kẻ cả gan dám xúc phạm đến địa hạt của họ.
Anh ta cắt nghĩa:
- Lợp giá phe man 1,
Câu tiếng Tây ba rọi nầy, đáng lý phải là: "Les mauvais esprits de la
jnngle jettent un sort à votre entreprise" (Thần rừng trù ếm phá hoại công
việc của ông). Tuy nhiên Xi-Lăng-Ba sói đầu và bụng bự vẫn hiểu được người tôi
tớ thân tín của lão. Lão nạt đùa:
- Đừng có nói bậy.
Đoạn vỗ vai Tám Hậu, giọng buồn hiu, lão than:
- Mầy coi, đã ba lần rồi, cây đang mọc tươi tốt bỗng rũ xuống mà chết, mặc dầu
trước khi trồng thử mấy trăm cây nầy, tao đã cho những nhân viên thân tín cũ ở
Sở Canh-Nông phân chất đất kỹ lưỡng lắm. Và cây chết, liền được nhổ lên xem xét
ngay, mà không ai tìm ra nguyên nhơn vì sao mà nó chết. Có phải là kỳ quái hay
không ?
- Tại ông không cúng vái. Tám Hậu cứ bám níu vào tư tưởng của hắn.
- Đừng có nói bậy.
- Họ đồn miễu "Ông" ở đây linh lắm, và "Ông" ghét Tây lắm !
Miễu "Ông" là đình thờ Thần-hoàng làng Chánh-Hưng nầy. Nhưng đó là một
vị Thần-hoàng mà đần địa phương biết tên họ, chức tước, chớ không phải như những
ông Thần nặc danh của bao nhiêu đình làng khác.
Đó là một danh tướng Nam-kỳ đã quyết liệt kháng Pháp trong thời ta bị chinh phục.
Thua trận mãi, vị danh tướng ấy triệt thối về cái làng cuối cùng nầy để kiên thủ,
nhưng rồi Pháp cũng truy kích ông, và ông tử tiết nơi đây.
Làng Chánh-Hưng được Nam triều lập ra mười năm trước ngày Nam-Kỳ bị chinh phục,
nằm cách huyện lỵ Tân-Uyên hai mươi cây số ngàn.
Làng chỉ gồm có hai mươi nóc gia thôi, vì đó là một làng ven rừng già, một tiền
đồn ngăn giặc sơn cước quấy nhiễu các làng dưới nầy, mà cũng là một căn cứ xuất
phát để lấn vào rừng sâu theo chiến lược tàm thực, rừng nầy ăn thông lên đến rừng
của núi Trường-Sơn, ở mãi trên kìa, xa lắm.
Những người Nam-Kỳ mặc dầu là dân tiên-phuông có thành tích khai hoang đất mới,
vẫn cứ là con cháu của người Châu-thổ Nhị-Hà với nhược điểm nầy là chỉ giỏi
khai hoang các vùng đầm lầy, mà thường chịu thua rừng núi, nên chi tiền đồn
Chánh-Hưng đành phụ lòng mong mỏi của vua chúa ta vậy.
Mãi cho đến năm 1930, là năm xảy ra câu chuyện nầy, nghĩa là sau hơn tám mươi
năm được thành lập mà làng chỉ thêm được có một nóc gia, cách đó hơn mười cây số.
Đó là nhà của ông hương cả trong làng, người ở kinh lên, một nhà khai thác lâm
sản tăm tiếng, ông ấy ở biệt tịch như vậy để coi sóc rừng gỗ của ông và việc
khai thác lâm sản ở khu đó.
Dân làng sống nhờ nghề săn bắn y như thời thượng cổ, với lại làm thợ rừng cho
ông hương cả ở xóm Trường nói trên.
Họ không chịu canh tác vì không hiểu sao, đàn bà trong làng lại không hề sanh đẻ.
Có lẽ phụ nữ mắc bịnh ngã nước nặng quá nên hỏng đường sinh dục chăng ?
Không con cái nối dõi tông đường, họ không tính chuyện định cư trường cửu và ai
cũng vội vàng kiếm tiền để về những làng phì nhiêu ở dưới kia.
Thành thử trong làng không có dân đinh kỳ cựu. Nếu họ không bị bịnh sốt rét rừng
quật chết trong năm năm đầu, thì họ cũng dông mất, sau khi kiếm được chút ít tiền,
nhường chỗ cho các tay phiêu lưu mạo hiểm khác đến thay thế cho họ.
Tuy tình làng không thể sâu đậm trong những điều kiện phản định cư ấy, dân làng
cũng bảo vệ lãnh thổ của họ với tất cả bản năng giữ của của họ. Họ sống nhờ rừng
thì họ xem rừng như một bà mẹ đã nuôi dưỡng họ, và qnyết bảo vệ rừng sâu, đi
ngược lại với mục đích của nhà nước ta là lấn rừng để mở mang canh tác.
Hôm ấy lão Xi-Lăng-Ba bụng bự buồn hiu trở gót để rồi lội qua một con rạch con
mà người địa phương gọi là sông Bé, đi qua làng Lạc-An là nơi ông ta để xe. Ở
đó có đường đưa về chợ huyện.
Đó là một tay thực dân (xin hiểu theo nghĩa nguyên thỉ, tức nghĩa tốt) cương
quyết, quyết thắng mọi trở lực để đạt mục đích cho kỳ được ông ta mới nghe cho.
Nhưng người tài xế ruột của ông thì e rằng lần nầy ông sẽ phải bỏ cuộc.
° ° °
Đêm nay, anh thợ rừng Tư Tuôi đi lãnh tiền công ở nhà ông
hương cả trên xóm Trường, về xóm Vàm là xóm đông hai mươi nóc gia ấy, trễ quá,
nên anh ta đi như chạy.
Phải băng rừng hồi bảy giờ đêm, Tư Tuôi ngại lắm ; mặc dầu anh ta đã quen lặn lội
rồi. Thế nên hai tiếng đồng hồ sau đó, hồi chín giờ khuya (ừ ở đây chín giờ là
khuya lắm rồi), khi đổ ra sở thí nghiệm của Tây Xi-Lăng-Ba, anh ta thở ra kêu
đánh khì một tiếng, lòng nhẹ nhõm.
Nhưng bỗng anh ta giựt nẩy mình, lắng tai nghe ngóng. Một thứ tiếng động mường
tượng như tiếng thở khè khè của một con trăn thật to, văng vẳng đâu đây.
Tư Tuôi vểnh tai nghe thêm cho rõ thì định được hướng xuất phát của tiếng động ấy.
Anh đưa mắt nhìn về hướng đó, không hy vọng trông thấy cái gì, vì trời tối như
mực, nhưng lạ thay, một ánh lửa lóe lên từ đó.
Ánh lửa ấy màu xanh xanh, vàng vàng như lửa ma trơi. Là dân tứ chiếng và có học,
Tư Tuôi không tin nhảm, không hoảng sợ, nhưng ngạc nhiên lắm.
Anh ta suy nghĩ một hồi rồi chịu, không thể đoán được cái gì. Anh ta quả quyết
đi lại hướng mà tiếng động và ánh sáng xuất phát vì chỉ có cách xem tận nơi mới
khám phá được sự khác thường mà thôi. Anh ta bước nhẹ như một con báo, một con
cọp rình mồi và tiến lại gần mồi, đạp lá chết mà không gây tiếng động, con dao
rừng lăm lăm trong tay, sẵn sàng nghinh chiến.
Khi anh ta đến đủ gần chỗ ấy thì một cảnh kỳ dị hết sức đang diễn ra dưới mắt
anh.
Một người đàn ông đang đun nước sôi giữa cánh đồng hoang nầy bằng rê-sô "cồn"
rồi dùng một chiếc gáo như múc nước sôi ở cái nồi nhôm to lớn bắt trên rê-sô mà
tưới vào những gốc cây cao-su.
Chính cái rê-sô ấy nó đã kêu khè khè như con trăn kêu.
Tư Tuôi hả miệng, trố mắt mà nhìn một hồi, nói không ra lời. Bỗng anh ta vụt hiểu
tất cả hành động của ba Mín. Hắn không hóa điên đâu, như thoạt tiên, Tư Tuôi đã
ngỡ. Đây là vị ma rừng đã phá-hoại canh tác của lão Xi-Lăng-Ba, khiến lão ta và
các kỹ-sư canh-nông bạn của lão ta điên đầu, và chính cả dân làng cũng bí óc tự
hỏi mà không cắt nghĩa được vì sao mà đất mới, đầy phân lá ủ vạn-niên lại không
dung được một loại cây tương đối đễ trồng.
Ba Mín khệ nệ dời rê-sô và nồi nước sôi đi nơi khác vì cây cối quanh chỗ hắn ngồi
đã được hắn săn sóc cẩn thận rồi.
Hắn làm việc ban đêm, công tác một mình, chắc phải tốn sức lao động ghê lắm vì
nồi nước chứa không quá năm lít, mà nơi lấy nước thì khá xa ở đây.
Ở đây là dựa bờ sông Đồng Nai nhưng bờ sông lại cao đến bảy tám thước và đứng sửng
như vách thành, có lẽ hắn đã lấy nước ở cái suối trong xa kia.
Tư Tuôi vụt phá lên mà cười. Mín hết cả hồn vía, đứng lên như có lò-so bật, nhảy
trái qua một bên, gáo nước sôi nơi tay chực tạt kẻ thù mà hắn chưa biết là ai.
- Sao không nhúm lửa cho đỡ tốn công ? Tư Tuôi hỏi.
- Anh làm tôi sợ mất mật. Ba Mín nói khi nhận được giọng người quen. Nhúm lửa
cho Tây nó thấy dấu vết sao.
- Thây kệ chớ. Nó biết ai nhúm mà phải sợ.
- Nhưng nó biết rằng có kẻ phá hoại, và nó sẽ cho người canh gác.
- Hay lắm, anh thật cao trí. Nhưng anh làm bậy.
- Bậy đâu mà bậy. Ta sống nhờ rừng, tôi giúp cho cả làng đây chớ. Nó mà thành
công thì nó sẽ phá rạp rừng nầy để trồng cao-su.
- Nhưng nếu thằng Tây nầy bỏ cuộc thì sau sẽ có thằng Tây khác mò tới để thử lại.
Anh sẽ không còn mãi để mà ngăn cản họ.
- Nhưng ngăn được lúc nào hay lúc nấy.
- Vẫn cứ bậy như thường. Loài người tiến được nhờ định-cư, muốn định cư phải
phá rừng. Nuôi rừng là ta chỉ nuôi tạm vậy thôi.
- Nhưng sao sở Thủy Lâm lại khuyên ta bảo vệ rừng ?
- Tới mức nào đó thôi.
Dân làng nầy phần lớn gồm những phần tử có học chút ít, nhưng chiến bại mãi ở
dưới kia nên phiêu lưu lên đây. Thế nên tuy là dân rừng, ai cũng có căn bản văn
hóa tối thiểu.
- Đến một khi kia, anh sẽ thấy là anh hoàn-toàn bất lực trước sự tiến tới của
loài người, không gì ngăn được hết. Hồi đó, cách đây mười mấy năm, người ta đã
chống lại việc thiết lập đường xe lửa Sài gòn Nha-Trang, cũng bằng những cuộc
phá hoại ngấm ngầm rải rác dọc theo con đường đó, mà rồi anh coi, rốt cuộc đường
xe lửa vẫn được thiết lập như thường, hơn thế, giờ những kẻ phá hoại lại hưởng
lợi nhờ con đường xe lửa ấy.
Mín không đáp, chỉ lẩm bẩm những gì trong miệng hắn, không nghe được, đoạn hắn
ngồi xuống, tiếp tục tưới cây. Hắn ta thuộc hạng người lầm lầm, lì lì ít nói mà
hay làm, tin tưởng mạnh và kiên-tâm trì chí.
Tư Tuôi chỉ nói qua vậy thôi chớ không cố thuyết-phục bạn cho lắm, vì chính anh
cũng cần và cũng thương mến khu rừng nầy như toàn thể dân làng. Vả lại Mín là một
kẻ "không hút nước" khó lòng mà ép ý nghĩ lạ nào rịn vào trí óc hắn.
Anh ra về, bỏ Mìn lại với công việc dị kỳ và khôn quỉ của hắn, phá hoại mà
không để dấu vết, không một kỹ sư canh nông kinh nghiệm và tài giỏi nào trên đời
nầy mà phát kiến được nguyên nhơn bại hoại của mớ cây cao-su trồng thử đất nầy
cả.
Một kẻ lặng lẽ bước đi, một kẻ âm thầm làm việc trong tiếng gầm thét của thác
nước Trị-An, ở cách đây một cây số ngàn, trên giòng sông Đồng-Nai, khu rừng xảy
ra cuộc tranh giành ảnh hưởng câm lặng nầy chiếm trọn góc đất nơi giáp lưu của
sông Đồng-Nai và sông Bé.
Bên kia sông Đồng-Nai, lão Xi-Lăng-Ba cũng đang thử đất và cũng bị phá hoại bí
mật như ở đây. Dân rừng ở hai bên bờ sông, không bảo nhau mà cũng hành động y
như nhau và lạ nhứt là cũng dùng y một phương tiện phá hoại giống hệt nhau.
° ° °
Bị tưới nước sôi, cây không chết ngay đâu vì nước sôi gặp đất
là nguội đi mất mấy mươi độ tức khắc. Mín phải hì hục với mấy trăm cây cao-su đợt
thí nghiệm thứ tư nầy đến hơn một tháng mới có kết quả, vì mỗi cây phải được
"tẩm bổ" nhiều đêm liền.
Xong công việc, anh xoa tay khoái chí, đinh ninh rằng con người bền gan nhứt thế
gian cũng sẽ không đủ can đảm thí nghiệm lần thứ năm một công việc mà y không nắm
vững được yếu tố thành bại.
Dân làng - do Tư Tuôi loan tin - đã biết bí mật của Mìn và của sự thất bại của
Tây Xi-Lăng-Ba. Họ không cả tin như Mìn rằng Tây sẽ bỏ cuộc, nhưng vẫn hy vọng
được yên thân bởi ai cũng xem rừng như một bà mẹ.
Lão Xi-Lăng-Ba đã nao núng vào lần thua trận thứ tư nầy. Nhưng là một tay phiêu
lưu mạo hiểm cứng cổ và ương ngạnh, lão quyết "đánh đến giọt máu cuối
cùng". Lão suy luận rằng có lẽ đất mới vỡ còn quá hăng nồng, rồi đâu sẽ
vào đấy khi đất hả hơi. Thế nên hắn quả quyết mộ phu phá trên sáu mươi mẫu rừng,
đoạn cho chở máy cày lên đây bằng tàu, hy vọng rằng đất sẽ thuần ra khi được
cày sâu nhiều lượt.
Cái ngày mà rừng mẹ của dân làng bỗng dưng bị trầy vi tróc vảy, bị lột da, cắt
tóc đến trần truồng như nhộng sau hơn lột tháng ngược đãi do một toán phu đông
hằng trăm người, Mìn cuốn gói để trở về làng cũ.
Lúc giã biệt người đồng thôn, hắn nghẹn ngào, rưng rưng lệ mà kể lể:
- Mười năm trước đây vì mẹ tôi tái giá nên tôi bất bình, bỏ làng lên chốn ma
thiêng nước độc nầy.
Tôi ngỡ hủ hỉ được trọn đời với bà mẹ nuôi là rừng già, nhưng mà, bà con ơi, giờ
rừng mẹ lại cũng tái giá nữa với Tây-Tà. Tôi còn biết nương thân với ai ?
- Mầy đã chống lại việc má mầy tái giá dữ lắm hả ? Hương tuần Triệu hỏi.
- Ừ, nhưng không được.
- Dĩ nhiên là không được. Luật trời là người đàn là còn trẻ phải tái giá, và rừng
phải nhường chỗ cho người trồng tỉa. Tổ tiên ta đến đây để khai phá rừng chớ
không phải để bảo vệ rừng. Họ và ta khai phá không thành công, giờ có người làm
được thì sự tái giá của rừng mẹ, không có gì đáng buồn hết.
- Phản bội, bà con cô bác phản bội mẹ ta ! Bà con cô bác ở lại đây để làm cu-li
cạo mủ, tôi biết rồi.
Rồi Mín ra đi, lòng chết lạnh.
-------
Lời chú của người kể chuyện. Sự thật thì sau đó vùng đất được khai hoang ấy,
trở thành rừng vì cái chết đột ngột của Tây Xi-Lăng-Ba chớ không phải vì sự phá
hoại dai dẳng của dân làng. Nhưng lão Tây ấy thành công ở bên kia sông, cũng đã
bị phá hoại y như thế.
--------------------------------
|
Le diable fait mal : con quỉ làm hại. |
Lại mẹ tôi tái giá
Nước lớn đầy "Mà".
Mặt nước của con rạch chảy ngang trước chợ Bình Đông gần là là mặt đường nhựa.
Chiếc tàu dòng ghe từ kinh Ruột Ngựa chạy tới đây thi tốp bớt máy lại, tiến chậm
như một chiếc thuyền chèo trên dòng nước ngược.
Để bảo vệ bực đá cẩn bờ rạch cho nó khỏi bị sóng lớn đánh vào chầy ngày rồi
long vỡ, nên Đô Thành cấm tàu chạy mau chăng ?
Hay đó là nhã ý của bác tài công tàu, bác ta lịch sự như vậy để tránh cho vô số
xuồng nhỏ đậu hai bên bờ sông bị sóng xô vào bực đá ?
Không thể biết rõ sự thật về vụ hãm tốc độ nầy.
Dầu sao, cảnh tượng hằng ngày nầy cũng là một trò vui mắt đối với trẻ con, đối
với khách thừa lương trên bờ.
Không có gì thú vị đối với kẻ sống trên đất liền cho bằng ngắm đời sống thân mật
của những người quanh năm suốt tháng sống trôi nổi bình bồng trên ghe thuyền
thương hồ.
Chiếc thuyền là cái nhà của họ, và những gì tầm thường trong nhà của ta, lại
trông rất ngộ nghĩnh trên cái nhà nổi của họ, chẳng hạn như một chậu hành, một
con heo nuôi.
Cảnh tượng nầy giống một đoạn phim cố ý quay chậm, loại phim thời sự thể thao
chụp một cú đánh của một bốc-xơ chẳng hạn, hay một cuộc nhảy rào của một con ngựa
đua quây chậm để khán giả nghiên cứu chi tiết tỉ mỉ của những cử chỉ, những
hành động của võ sĩ, của con tuấn mã.
Ghe thuyền được tàu dòng như thế nầy thì cả thủy thủ lẫn chủ thuyền đều sống đời
sống nghỉ ngơi an nhàn chớ không có làm việc gì cả.
Đời sống trên nước của họ thế nào, người ta chỉ được biết khi ghe thuyền bò chậm
như thế nầy thôi, trong một con rạch hẹp, đứng trên bờ trông xuống thuyền thấy
rõ từng hột cơm rơi trên sạp ghe.
Khói của các bếp lửa nấu cơn sáng từ từ mọc thẳng lên rồi bị ngọn gió nhẹ
"đàn" ngọn, các cây khói ấy ngã nằm dài ra sau, thành một sợi dây
khói, sợi dây nầy nối với các dây khói của những chiếc ghe khác, thành một sợi
dây rất dài, dài hơn cả đoàn ghe dòng mười chiếc, bởi số ghe có hạn, còn bề dài
dây khói thì không.
Người trên bờ đánh hơi được nùi cá kho mặn từ thuyền đưa lên thoang thoảng, gợi
nhớ đời sống trong thôn ổ. Tiếng đàn độc huyền não nuột đưa hơi theo một giọng
"nói thơ" lè nhè của một ông chủ ghe già nào, càng nhắc nhở thôn quê
hơn nữa.
Đây, một bà mẹ bắt chí cho con gái bà, một đứa bé lên mười, đầu rối như ổ quạ,
kia, bốn năm chị đàn bà đang ngồi lê đôi mách.
Ấy, đời sống bình bồng cũng có đôi chỗ giống y như đời sống trên xóm, với nhũng
phụ nữ ăn không ngồi rồi, họp nhau để nói chuyện thiên hạ.
Một con heo đứng trước mũi nuột chiếc thuyền, ngơ ngác nhìn bờ rạch, rất có vẻ
thèm đất để mà ủi.
Một con gà nuôi trong ống tre, ló đầu ra, kêu lên những tiếng kêu kỳ dị của những
con quái vật dị tướng vì thân thể của nó bị ép uổng một cách quá tàn nhẫn.
Trên các nhà thuyền, người ta nuôi gà trong ống tre để ngăn chúng nó bay lên bờ.
Gà lớn lên theo bề dài của ống tre, kẹt trong đó và chỉ ló ra được có cái đầu để
mà ăn uống và thở.
Không có chiếc thuyền nào mà không trồng rau, những thứ rau cần thiết như rau
râm, rau om, hành, ớt, vài chủ ghe chơi cả cây cảnh, non bộ nữa và mui ghe của
họ biến thành những vườn hoa rất xinh mà, chiều chiều họ lên đó để thưởng ngoạn
thiên nhiên, để xem "hoa nở, chờ trăng lên".
Trẻ con hai bên bờ vẫy tay để chào người dưới ghe mà một vài chiếc rất quen mặt
bởi đã đi ngang qua đây nhiều tháng, nhiều năm rồi.
Trẻ con dưới ghe cũng ngoắt lại bọn trên bờ, hai bên quen nhau mà chưa biết,
chưa biết nhau, nhưng mà nghe rất thân với nhau.
- Cha, câu thòng dài quá sá ta !
Một đứa bé trên bờ nói đùa như vậy.
Đứa khác lại đùa:
- Một mẹ mà tới mười con, sai như heo nái.
Bỗng có tiếng đàn bà ong óng ở chiếc ghe cuối đoàn.
- Mầy thiệt còn hỗn phải không ?
Rồi tiếng của một thằng con trai đáp, giọng sân si:
- Ai biểu ổng đánh tôi ! Ổng còn đánh, tôi còn chưởi.
Người ta nghe rõ mồn một tiếng kêu rồn rột của một cây roi mây được rút ra khỏi
nẹp tre của mui thuyền lợp lá, rồi thình lình một thằng bé trạc mười ba, mười bốn
tuổi vọt bắn ra khỏi mui ghe.
Thằng bé mình trần, lưng đen thui.
Nó chỉ mặc chiếc quần xà-lỏn bằng vải đen đã trổ trắng.
Hàng hóa chở trong lòng ghe có lẽ thuộc loại hàng hóa nặng cân mà nhỏ khối,
không choán chỗ bao nhiêu, như cát ướt chẳng hạn, nên trên sạp ghe trống trơn.
Thằng bé chạy như dông, má nó cầm roi rượt theo nó bén gót.
Ghe đoàn được tàu dòng thì mũi chiếc sau cột dính lại với lái chiếc trước, bằng
một sợi đỏi to, dài độ hai thước tây. Người trên ghe "đi dạo xóm"
trên những sợi đỏi ấy, như làm trò xiếc, nhưng họ đã quen lắm rồi nên cả trẻ
con năm tuổi cũng qua được nữa.
Ra tới mũi thuyền của nó, thằng bé nhảy một cái là rơi trên sợi đỏi.
Má nó cũng chẳng kém tài, cho đến con chó mực của gia đình nó, thấy vui, rượt
theo hai mẹ con chơi, và cũng qua được.
Khi sang một chiếc thuyền như vậy, kẻ bị rượt, người rượt và con chó mực chạy
theo cầu vui, đều phải nhảy lên mui thuyền ấy vì đó là loại ghe lón, mui đặt ở
sau lái, nơi ấy chỉ rộng đủ cho người cầm lái ngồi mà thôi.
Họ chạy bay trên mui ghe rồi hết mui, họ lại phải dang tay ra như xòe cánh để
thả rơi xuống sạp của phần trước chiếc ghe; từ trên mui, xuống tới sạp cao hơn
một thước tây.
Cuộc đuổi bắt nầy giống một cuộc đua băng đồng mà các tay thi đua phải nhảy mô
đất, nhảy hố sâu, hoặc giống một cuộc đua ngựa có nhảy rào, và nhảy nhiều chướng
ngại vật nhơn tạo khác, trông rất là ngoạn mục, khiến người ở hai bên bờ rạch,
nhứt là bên phía chợ Bình Đông, thiên hạ la ó lên để hoan hô một đám vô tình
làm trò cho họ tiêu khiển.
Mẹ con thằng bé và con chó mực đã qua mười chiếc ghe rồi và thằng nầy, cách má
nó độ ba bốn thước, đang do dự trước mũi thuyền đầu đoàn.
Lái của chiếc tàu cao hơn mũi ghe đầu đoàn nhiều, sợi đỏi gần như là đứng sựng.
Đỏi nầy bằng loại kim khí, gồm nhiều sợi thép nhỏ đánh lại, chạy trên đó có thể
đứt chơn.
Còn chiếc tàu là cái gì cao sáng quá đối với thuyền gỗ của nó, nên nó sợ hãi,
cũng như ở nhà lá, nó e ngại không dám vào một biệt thự lộng lẫy.
Vả lại chạy tới mũi tàu rồi thì cũng sẽ gặp phải tuyệt đạo.
Do dự một giây nó phóng một cái là rơi xuống rạch kêu cái "tùm", nước
bắn lên ướt cả sạp mũi thuyền.
Là dân thương hồ, cả đời sống trên mặt nước, trôi nổi khắp các sông ngòi trong
xứ, má thằng bé lội có lẽ còn tài hơn nó nữa nhưng chị ta không nhảy theo nó,
có lẽ sợ ướt áo quần.
Chị ta đứng đó, cầm roi điểm điểm trên không trung, về hưóng nó rời hâm dọa:
- Mầy mà hỏng lên cho tao đánh đòn, tao la làng cho mầy coi !
La làng chẳng những là lối kêu cứu ở thôn quê mà thôi, mà còn là một mẹo làm to
chuyện mỗi khi người ta muốn dư luận đả đảo ai.
Mặc dầu không còn ở trên mặt đất và mặc đầu biết rằng, ở Sài gòn, la làng không
ăn nhậu gì cả, thằng bé vẫn sợ hãi.
Đó là nỗi sợ di truyền của nông dân lương thiện hễ ai la làng thì họ xuống nước
đầu hàng ngay.
Nhưng thằng bé cứ lội đi, mặc dầu kinh sợ, mà có lẽ chính vì kinh sợ nên nó cố
lội mau hơn. Nó đang ở vào tâm trạng nổi loạn và liều mạng của một kẻ chịu đựng
không được nữa một tình thế nào đó, và nó đã có nghĩ đến việc thoát ly gia đình
rồi, nay gặp dịp cùng đường nó quyết đi luôn; và sợ bị bắt lại, nó cố mà bơi.
Thằng bé lội ngược chiều đoàn thuyền.
Thấy trên bờ có Cảnh sát, nó hơi lo nên không dám vào đó.
Má nó sẽ la làng, ừ, nhưng Cảnh-sát cũng có thể can thiệp, vì ở đây Cảnh sát là
công lực, như trùm trưởng dưới làng vậy.
Không dám vào bờ, mà cũng không muốn trở lại đoàn thuyền, thằng bé cứ lội xàng
quây một chỗ mãi.
Nó lội đứng cho khỏi chìm và khỏi mỏi tay, vì lội đứng là lội bằng chơn, với lại
lội đứng thì cái mặt được tự do quan sát để xem phản ứng của Cảnh sát trên bờ
và của người dưới đoàn thuyền ra sao.
Cả người dưới ghe lẫn người hiếu kỳ trên bờ đều rộ lên mà cười.
Rạch nhỏ quá, việc gì xảy ra dưới ghe thuyền, người trên bờ cũng đều nghe thấy
rõ cả.
Bà chủ chiếc ghe đầu đoàn nói:
- Chị hơi đâu và đợi nó. Cứ về ghe chị mà nằm rồi tự nhiên sẽ bắt được nó. Thằng
nhỏ nầy khôn quỉ lắm đó. Nó xàng quây như vậy cho khỏi mỏi tay, một lát là ghe
nhà trôi ngang qua đó, nó sẽ níu be ghe mà nhảy lên đó một cách khỏe ru cho
coi.
Má thằng bé quăng roi lên sạp ghe, ngồi phệt xuống mà thở.
Bây giờ chị ta mới nghe thấm mệt cái sức già của chị ta.
Con chó mực hiểu ý của chủ nó rằng bà ta đã bỏ cuộc không còn gì ngoạn mục nữa
mà xem, nên nó bỏ bả mà chạy trở về "nhà" noi theo đường cũ, làm trò
xiếc trên rất nhiều sợi đỏi.
- Mà nó làm tội gì đó chị ? Bà chủ nghe đầu đoàn hỏi.
- Nó hỗn hào lắm ! Nó cứ chưởi "ổng" hoài. Ổng thì hiền khô như cục đất,
mà nó làm như vậy, tôi sợ "ổng" mang tiếng oan là cha ghẻ hành hạ con
riêng của vợ, nên tôi phải trị cho nó tởn.
Đoạn ngừng lời để thở dốc một hơi nữa rồi bà mẹ ấy mới kể tiếp:
- Có con mà chấp nối với người khác thì khó lắm thím ơi. Tôi dư biết như vậy mà
làm sao tránh khỏi ? Nào ghe nào cộ, ai lo cho mình, còn bán ghe thì lấy gì mà
nuôi con !
Khổ quá bà con ơi, thằng con dịch vật của tui nó gan trời đi lận ! Hồi tôi mới
tính chấp nối với ông nầy, nó nhứt định ngăn trở tôi. Tôi không nghe, nó bèn
trèo lên nóc nhà mà nằm. Nó ở trển từ trưa tới chiều, còn hăm dọa hễ ai bắt
thang leo lên là nó nhào xuống đất lập tức cho gãy giò chơi.
Tối nó cung hổng chịu xuống, báo hại đêm đó tôi không dám nhắm mắt vì cứ sợ nó
ngủ quên nó té gãy cổ, chớ gãy giò nói làm gì. Tôi thấp đuốc ngồi ngoài sân để
gác nó, cả xóm đều tựu lại để phụ lực với tôi, náo động cả làng.
Bà ngoại nó ở làng kế đó mà hay tin thì thím biết nó rùm đến bao nhiêu. Bả hay
tin, bả mới chống gậy qua, tới khuya lơ khuya lắc mới đến nơi. Bả năn nỉ nó thiếu
điều gãy lưỡi nó mới chịu xuống cho.
Bây giờ đoàn thuyền mới qua khỏi chợ và chiếc thuyền cuối đoàn đã qua khỏi thằng
bé rồi.
Mà lạ thay, không ai thấy nó tìm cách trở về đoàn ghe.
Thiên hạ trên bờ đâm lo, la ó lên, má nó mới hay, đứng dậy và thấy cớ sự như vậy
má nó vụt la làng om trời, la rát họng rồi kêu tàu ngừng lại.
Lẽ dĩ nhiên là tàu họ không chịu ngừng.
Ở đất Sài gòn, đi trong sông ngòi cũng như trên phố, phải tránh chỗ cho người
ta lưu thông, chớ một đoàn ghe dài như vậy, không phải muốn ngừng ở đâu và lúc
nào tùy thích mình.
Họ chỉ tốp máy khi nào tai nạn xảy ra, thí dụ một chiếc thuyền bỗng dưng suýt
chìm. Nhưng đã không phải là một trường hợp tai nạn, thằng bé rủi ro té xuồng rạch,
và nó không biết lội đâu.
Nó sẽ không chết trôi là đủ cho tài công tàu có lý do để bất kể lời của má nó.
Nếu tàu mà cứ ạch đụi vì chuyện tư riêng, chuyện nhà chuyện cửa của cái ghe mà
họ dòng, thì biết bao giờ đoàn mới đến nơi, mà hành trình của tàu lại đã được
chủ tàu chỉ định từng ngày, từng giờ, từng phút.
Đoàn thuyền được tàu kéo, cứ thản nhiên lướt qua, bỏ lại đứa con trai độc nhứt
mà thật ra bà mẹ nầy thương mến vô cùng.
°
Thằng Kẹo thấy đoàn thuyền qua rồi mới lội vào bờ bên phải, tức
vào chợ Bình Đông.
Cảnh sát trên bờ có chứng cảnh nầy, nhưng họ bất động vì thằng bé không có phạm
tội gì cả đối với bất kỳ ai khác hơn gia đình nó. Thằng bé cũng khá lớn rồi, để
sợ nó đi lạc.
Mà cho tới bây giờ, thằng Kẹo mới nghe rằng nó thoát ly gia đình thật sự, chớ
lúc nó còn lội dưới nước, nó cứ có cảm giác như nó là một đứa bé sơ sinh chưa
được cắt dây rún để lìa hẳn mẹ nó vậy.
Giờ thì chim non đã lìa tổ rồi đây. Và như một con chim non, nó vừa sợ cái khoảng
không rộng minh mong trước mắt nó, nó vừa ham mê chính cái khoảng không mà nó sợ
ấy.
Thằng Kẹo đi hoang đúng vào lúc mà con người lâm vào cái tuổi khó khăn nhứt của
một đời người, cái tuổi nhổ giò, bể tiếng và bao biến chuyển sanh lý bên trong,
và những biến chuyển nầy làm xáo trộn cả cảm nghĩ, cả một nhơn sinh quan thơ dại.
Nó nghe rất khó chịu trong người, như là bộ máy của nó trục trặc thế nào ấy, và
đồng thời nó cũng dễ đổ quạu, dễ hờn dỗi, dễ giận lẫy và rất khó tha thứ.
Vì vậy mà nó thường nổi loạn đối với những việc không đâu và nhứt là đối với
cái việc mà nó thấy là quá lớn lao, cái việc má nó tái giá.
Kẻ muốn nổi loạn, chỉ sung sướng được trong hai thái độ: đập phá hoặc bỏ cả.
Không đập phá mà khỏi bị trừng trị, nó đành phải bỏ cả để ra đi.
Và tiên tri thay, nó làm nghề móc túi thật, đúng y như lời má nó nguyền rủa,
lúc điểm điểm ngọn roi trên không trung, vì không làm gì được nó: "Cái tù
mặt mầy đó mà đi hoang thì chỉ sẽ móc túi thiên hạ mà ăn, chớ biết làm cái khỉ
khô gì !"
°
Nó móc túi thật, sau khi trôi giạt ra tới chợ Ông Lãnh, ngoài
kia, và sau mấy ngày đói khát.
Và vì không biết nghề nên nó bị người ta tóm được ngay trong chuyến làm ăn đầu.
Tuy thế, nó không bị trừng trị, vì không hiểu sao, có nhiều người truy cản Cảnh
sát và dân chúng để cứu nó.
Nó chạy bán sống bán chết và tới một đầu hẻm kia, một thầy rượt theo kịp nó và
nắm lấy nó chặt cứng.
Nó sợ điếng người, nhưng thầy ấy chỉ cười thôi, rồi kéo nó vào ngõ mà rằng:
- Ai dạy mầy móc túi đó ?
- Lạy ông tha cho tôi, không có ai dạy tôi hết. Tôi đói nên làm bậy vậy thôi.
- Không sao đâu. Tao có phải lính đâu mà mầy sợ. Tao thấy mầy lanh lợi tao
thương, mà thấy mầy vụng về tao tội nghiệp. Nếu mầy thích thì theo tao, tao dạy
nghề cho.
°
- Cô bán ở chợ nào ?
- Dạ chợ Ông Lãnh.
Nghe đến hai tiếng Ông Lãnh, Kẹo giựt nẩy mình. Tên cái chợ ấy kêu vang lên như
giọng nói của người thân.
Đó là nơi mà chàng ta mới sắp bước vào đời lâu lắm rồ. Đi học nghề rồi làm ăn,
rồi bị bắt và rốt cuộc tấp vào trại giáo hóa trẻ vị thành niên Thủ Đức.
Cụt hứng không tìm được gì để hỏi thêm, Kẹo chơi với cái ống điếu bằng củ tre
già mà anh ta tốn đến gần một năm mới gọt xong, lúc ở trại giáo hóa.
Người con gái đón xe tại xóm Sở nuôi cá Phi với một gánh nặng đầy nhóc
sa-cô-chê, sao mà dễ thương lạ ! Nàng vừa có vẻ nhu mì của con nhà, vừa lanh lợi
con mắt và cái miệng như những tay buôn bán bải buôi.
Xe đò đông nghẹt hành khách, thế mà từ lúc cô ấy bước lên chen ngồi gần Kẹo thì
chàng ta nghe mình hết lẻ loi.
Ở trại giáo hóa, Kẹo kết bạn với những thiếu niên đồng cảnh ngộ. Họ có thương mến
nhau thật đó. Mấy người giám thị cũng thương mến họ, hết lòng dạy bảo nghề nghiệp
và tánh tình. Nhưng Kẹo vẫn nghe cô đơn. Bóng một người đàn bà vẫn phảng phất
trước mặt anh, người đàn bà mà anh thương cho đến làm xằng để kêu gọi người ấy
lại.
Nhưng người ấy không lại. Kẹo có biết đâu rằng một người đàn bà quê mùa, dốt
nát như má anh, không bao giờ đọc báo mà hay tin dữ về con. Tuy lì lợm to gan
anh lại là một đứa bé dễ cảm và cần rất nhiều tình thương. Lòng anh quặn đau mỗi
khi rỗi việc, nhớ đến người đàn bà đó.
Nếu không đói khát tình thương mẹ, chắc có đâu mà anh trở thành một chiếc thuyền
sóng dập như thế nầy.
Sau ba năm ở trại giáo hóa, mép và càm anh đã lún phún những sợi râu non mọc bừa
bãi như cỏ dại. Người con trai vừa bước ra khỏi tuổi niên thiếu ấy càng nghe
mình lẻ loi hơn bao giờ cả.
Lạ, càng lớn lên càng chai tấm lòng mới phải cho, chớ sao lại càng bâng khuâng
như thương nhớ cái gì. Chắc chắn là anh thương nhớ mẹ, anh định bụng như thế,
và quyết định ra khỏi trại giam là làm một cú cho thật động trời, làm sao mà
khi bị bắt, thiên hạ sẽ đồn rùm lên cho đến trong xó quê cũng hay biết.
Nếu mà không bị bắt, anh sẽ tìm về quê mẹ giết phứt người cha ghẻ đáng giận kia
để cướp mẹ lại anh mới nghe cho.
Nhưng từ lúc bắt chợt cái nhìn lẩn trốn của cô gái buôn sa-cô-chê đón xe đò giữa
đường Thủ Đức-Sài gòn, anh nghe cái bâng khuâng đang đi lang thang của mình như
toan định-cư lại.
Bóng người đàn bà trên một chiếc ghe thương hồ xa mờ lần lần để rồi nhường chỗ
cho một chân dung rõ nét trước mặt anh.
Kẹo vẫn đói tình thương. Nhưng có thật là đói tình thương mẹ mãi chăng ? Hay là
miễn được thương là đủ rồi, bất kỳ thương ai và được ai thương lại ?
Chắc là không phải tình thương nào cũng xong đâu, vì bạn đồng trại và các thầy
giám thị lại không thương anh à ? Và anh lại không thương họ à ?
Xe chật như nêm. Cô gái muốn day trở cho đỡ mỏi nhưng ngại, nên thôi. Kẹo hiểu
ý, ngồi chồm ra trước ngoài bìa băng, thành ra sau lưng anh trống lỏng. Cô gái
ngồi thụt vào được và nghe dễ chịu ngay.
- Cám ơn anh, cô ta nói.
Đó là một câu ngọt dịu mà anh nghe lần đầu tiên trong đời, từ khi má anh tái
giá. Mà lại do miệng một cô gái xinh đẹp nữa chớ.
Người đàn bà ! Đàn ông con trai, vừa rời khỏi vú mẹ là bươn bả mà lớn để nhào
vào tay người đàn bà khác, người đàn bà mà sự dịu dàng thoa nhẹ được những nơi
bầm dập do gai góc đời đập vào, quào vào thân thể và tấm lòng họ.
Người đàn bà ! Con gái có nhỏng nhẻo như người ta hay nói đâu ! Vì đàn ông thiếu
nhẫn nại, ít chịu bền chí để dỗ dành ai. Chính đàn ông, con trai mới là cái giống
hay nhỏng nhẻo với mẹ, rồi với vợ, cả hai đều là đàn bà. Người đàn bà mà giọng
nói và bàn tay sao mà êm như đám cỏ năng mới ngả rạp, người đàn bà ấy đã chiếm
cả hồn Kẹo thời thơ ấu và bản sao của nó ngày nay lại chiếm cả hồn anh.
Tuy là dân lưu-manh, anh Kẹo còn trong trắng về đường tình. Anh chưa đểu giả với
người đàn bà nào hết. Trái lại nữa, anh bối rối, hồi hộp như bận móc túi đầu
tiên.
Bây giờ ngồi chồm ra trước, cô gái thụt lại phía sau, anh thật không biết làm
thế nào để nói chuyện với cô ta hoặc để nhìn cườm tay nây nấn của cô như hồi
nãy.
Vỏn vẹn chỉ thấy được đầu hai bàn chơn. Chơn đi đất mà trắng hơn chơn móng đỏ của
cô ngồi đối diện. Hai ngón chơn cái và hai ngón chơn trỏ của cô gái chơi giỡn với
nhau, trèo lên nhau như cảm nghe bị nhìn và khó chịu, nằm yên không được.
Bỗng nghe kêu bụp một tiếng, Kẹo giựt mình. Anh ngó xuống sàn xe thì thấy chiếc
gàu mên mà cô gái cầm nơi tay vừa rớt xuống đó và đang ngả.
Kẹo lật đật cúi xuống để đỡ lấy nó thị đầu đụng phải đầu cô gái. Anh nghe cái
mùi xà bông thơm rẻ tiền mà có lẽ cô ta dùng gội đầu hôm qua, còn phảng phất
quanh tóc cô.
Cô gái mắc cỡ, bỏ mặc gàu mên, né để tránh đụng chạm. Kẹo tiếp-tục cuối xuống đỡ
cái xách nhôm ấy rồi xách nó lên, trao cho cô gái ngồi gần.
- Cám ơn anh.
Đến hai lần cô ấy cám ơn mà Kẹo chưa tìm được đầu đề câu chuyện. Bỗng cái gì
xui khiến anh nói lớn ra ý nghĩ thầm của anh:
- Té ra cô từ nhà mà đi, chớ không phải bạn hàng dưới Ông Lãnh lên, nên mới dở
cơm theo ?
- Dạ phải.
- Trái cây nhà phải không cô ?
- Dạ phải.
- Cũng hay ! Trưa cô ăn cơm nhà cho đỡ tốn. Sao cô không bỏ vựa ?
- Vựa họ bốc lột lắm, mình không lời được bao nhiêu.
- Bóc lột ? Cô nói nghe giọng nhựt trình dữ !
Bấy giờ Kẹo mới dám ngó ngoái ra sau và thấy cô gái nhoẻn miệng cười, xấu hổ vì
danh từ khó mà cô dùng, bị người ta chú ý đến.
Chết rồi ! Kẹo cảm thấy rõ rệt là bóng người đàn bà nầy sẽ lẻo đẻo theo anh từ
đây.
Bỗng anh nghe thương mẹ hơn bao giờ cả. Thương đây là tội nghiệp cho một người
đàn bà mà lòng ích kỷ của anh đã làm khổ từ bao nhiêu năm nay. Người đàn bà ấy
có lẽ ngày nay không còn nước mắt nữa mà khóc cũng nên.
Mà người ấy có tội tình gì cho cam ? Người ấy đã yêu ! Thuở ấy anh không hiểu
được tình yêu là thế nào, nên nhứt định má anh chỉ phải thương một mình anh
thôi.
Giờ phút nầy, khi cái liếc mắt thẹn thùa, cái nhoẻn miệng dễ thương kia đột ngột
biến đổi tình cảm độc nhứt của anh, hướng nó qua nẻo khác, anh mới chợt thấy là
mình bậy lắm, đã làm khổ một người mẹ hiền lại làm hỏng cả đời mình.
Yêu sao mà dễ dàng quá, người ta chỉ mới nói cám ơn một đôi lần, người ta chỉ mới
cười hổ ngươi một lần với mình mà mình đã yêu rồi !
Cái khó là làm sao cho tình yêu phát ra từ cả hai nơi, làm sao cho nó đi cả hai
chiều, gặp gỡ nhau như hai giòng sông nơi giáp nước, rồi hòa lẫn nhau thành con
xoáy khu ốc, đời đời kiếp kiếp quấn quít nhau, kéo nhau chìm xuống đáy nước tại
khu ốc đó như đôi vợ chồng đi mút đường đời rồi cùng nhau theo ông theo bà lúc
đầu bạc răng long.
Khó lắm thay, cái chuyện đó, giữa một tên lưu manh và một chị buôn gánh bán
bưng, tuy cùi đày mà chắc chắn là trọng đạo đức.
Nhưng ngoài nào ai biết đâu ! Ngoài trại giáo hóa, Kẹo là lột thanh niên khỏe mạnh
có gương mặt hiền từ, di tích của bao đời nông nghiệp. Thanh niên lại đang nặng
túi nhờ số tiền thưởng về ba năm lao lực, nào trồng khoai, nào may cắt, nào đan
rổ, nào kết đèn.
Miễn là từ đây phải chặt gãy cây cầu nối liền bây giờ với dĩ vãng, lấy một cục
mực to bôi xóa những trang giữa của tập vở đời anh, những trang kiếm hiệp nhảy
dù, đánh nhau chí tử, hấp dẫn lạ kỳ mà thật là không ăn chịu với những trang
tình cảm xây dựng phía sau, như là phân nửa bản nhạc cao bồi man rợ ráp lầm với
phân nửa bài thôn nhạc êm đềm.
Bóng người đàn bà trước cũng mát mắt lạ nhưng lại khiến anh làm liều. Ích kỷ đã
xúi giục anh toan cướp tình thương bằng cách cầm lục liên, đeo mặt nạ.
Bóng người đàn bà bây giờ lại làm anh hoảng sợ như là anh đứng trước một công
an viên đang theo dõi hành tung của anh.
Trước sau cũng là bóng người đàn bà. Nhưng trước kia anh muốn cướp lại tình
thương, bây giờ anh định cầu xin chút tình yêu mến. Phương tiện mạnh ngày xưa
phải nhường chỗ cho lối dịu ngày nay.
Xe đã tới bến ! Anh Kẹo đỡ lấy hai thúng sa-cô-chê do anh lơ từ trên mui trao
xuống.
Thúng là thúng giạ, sa-cô-chê đầy tràn đến rớt lợt đợt xuống lề cỏ, vậy mà anh
Kẹo đỡ coi nhẹ hều như là đỡ thúng gòn.
Cô gái vừa cười vừa cám ơn, lại thêm:
- Xem tướng anh là tướng học trò mà...
- Mà giò lại là giò ăn cướp phải không cô ?
- Em đâu dám nghĩ vậy.
Kẹo đâm bạo nói:
- Cô hai nè, tôi là học trò thật đó, học trò lỡ vận và đang tìm việc. Trên ấy
cô thấy có công ăn việc làm gì hay không ?
- Anh hỏi thật hay hỏi chơi ?
- Thất nghiệp hay ho gì mà phải khoe ra đó cô. Túng cùng lắm người ta mới chịu
thú nhận điều đó.
- Ba em làm trại cưa với lại vựa bụi. Cần một người biên sổ ăn lương rẻ. Nếu
anh không bị gánh nặng gia đình, có thể hỏi làm chỗ đó.
- Trời, may quá. Lên đó rồi tìm trại nào cô ?
- Trại hương thân Hảo, hay vựa bụi năm Tỳ. Tỳ là tên em.
Kẹo thấy ngay ba năm học chữ của anh trong trại thật không uổng chút nào.
°
Mì, phở, thuốc thơm, cà-phê nước đá, la-ve, đó là những món Kẹo
thèm suốt mấy năm trời và hôm nay anh quyết hưởng cho đủ.
Sung sướng lạ kỳ. Cuộc đời bên ngoài thú vị biết bao nhiêu. Nhưng đến chiều thì
một trăm tám tiền thưởng ba năm chỉ còn lại có tám mươi đồng.
Kẹo ngồi xuống băng đá ở bồn binh, điểm lại cuộc phiêu lưu kỳ lạ của mình. Đời
lưu manh tuy vậy cũng mở cho anh nhiều cửa sổ bất ngờ. Nhưng không thể cứ học
khôn trong nghề móc túi, nghề ăn cướp cạn dọc đường. Cũng may là anh bị giam chỉ
có ba năm thôi và được phóng thích khi anh tới tuổi thành niên.
Nhứt là bây giờ, làm xằng không còn nghĩa nữa, người dàn bà mà anh muốn kêu gọi
không bao giờ nghe tiếng kêu của anh. Vả gọi nữa làm gì ?
Anh đã bừng tỉnh nhận ra rằng ai có đường nấy, ai cũng có quyền sống cả, nhứt
là về chuyện lòng.
Trong giây phút, Kẹo nghe mắc cỡ với mình quá đã ganh tị vô lối với người đàn
ông kia mà má anh cần.
- A Rít Chúa ! Phải mầy hôn mậy ?
Kẹo giựt mình, nghe ai kêu đúng tục danh nhà nghề của anh, trong bọn họ đã đặt
tên anh như vậy, không phải vì anh hà tiện mà vì Rít Chúa cùng một nghĩa với Kẹo.
Anh day lại thì ra đó là anh ba Thẹo, người mặc Âu phục đã bắt gặp anh làm ăn hụt
lần đầu, năm xưa ở chợ Ông Lãnh.
- Hú vía, anh làm tôi hết hồn.
- Tao nhìn lâu lắm mới nhận ra mầy đó. Chà, mầy bây giờ nhổ giò dữ. Lại râu mép
nữa, coi ra vẻ lắm.
Đoạn kề miệng vào sát tai Kẹo, anh Ba hỏi:
- Ra hồi nào ?
- Hồi sớm mai.
- Có tiền không ?
- Có mà hết rồi.
- Đừng lo. Tiền cứ để cho họ cất. Chừng nào mình cần dùng thì lấy mà xài khỏe
ru. Đã ăn gì chưa ?
- Chiều thì chưa.
- Ta đi Bình Hòa ăn dơi chơi rồi coi hát.
- Ba năm vắng mặt, mầy thành quê rồi, phải cho mầy sống hối hả vài ngày cho mầy
đầy đủ, mầy mới đồng hơi hám với tụi tao được.
Tao nói đầy đủ là đầy đủ. Mầy lớn rồi phải hiểu nghĩa tiếng đó. Mười chín hay
hai mươi ?
- Mười tám.
- Mười sáu còn khờ. Đi vắng về, mười tám là cúng tổ được rồi đó. Mầy nghe trong
bụng mầy nó bâng khuâng hồi năm nào, năm ngoái hay năm kia ?
- Nghe hồi sớm mai.
- Trên xe chắc ? Ứ hự, đến mười tám rồi mà còn khờ như mười ba. Thôi để rồi kiếm
được tiền nhiều, mặc sức mà yêu. Mầy thấy con gái ở đây thì mầy tức cười cái vụ
mùi trên xe của mầy dữ lắm. Kìa xem kìa, ậy bên nây, áo bà ba bông cây dừa đó,
đọ mê chết chưa ?
Kẹo không mê chết chút nào, mà chỉ thoáng thấy, qua cô mặc áo cây dừa, bóng cô
gái sa-cô-chê.
- Thôi, đi. Đừng có mọc rễ ở đây. Rồi sau, mặc sức mà ngó. Thứ đó, ở đất
Sài-gòn nầy, tàu mà chở cũng không hết.
Ăn một bụng dơi rồi, họ trở ra Sà gòn coi cải-lương. Khi ra khỏi rạp, ba Thẹo
kéo Kẹo đi bộ, dọc đường anh nói:
- Tao vừa bố trí xong một vụ. Tối mai là làm được nhưng còn thiếu một tay. Gặp
mầy thật hên quá, hên cho cả mầy nữa. Mầy đáng tin cậy, tụi tao thích. Mầy lại
đang cần tiền, thì chắc nhận lời. Chia đều. Trừ hai mươi phần trăm cho cái đầu
đã nghĩ ra và bố trí "mần ăn". Bây giờ, mầy về ngủ nhà tao, ngày mai
nghiên cứu lại tiểu tiết rồi tối mai, mầy ra nghề trở lại.
Rượu, thịt, ánh đèn, tiếng nhạc đã làm say anh con trai vừa được giáo hóa xong.
Anh đã học được nhiều nghề trong trại. Nhưng đi làm, đã nhọc xác, lại chỉ vừa đủ
ăn mà thôi, trong khi đó thì thú Sài-gòn lại nhiều và rất quyến rủ.
Thấy Rít Chúa làm thinh, ba Thẹo định bụng là nó đã ưng thuận. Hắn gọi xe. Từ
chiều đến giờ, tiền tắc-xi dễ thường đã đến bạc trăm.
Đi xe sướng thật, nhưng muốn lên xe xuống ngựa, phải có tiền. Rít Chúa bước lên
xe, do dự gần tan.
Ba Thẹo vẫn ở tại căn nhà cũ hồi trước, chưng dọn sang trọng hơn, và tủ kiếng đầy
rượu và bánh hộp.
Chỉ có chị Ba là thay đổi. Chị Ba ngày nay trẻ hơn, đẹp hơn chị Ba của mấy năm
về trước, có lẽ đã bị cho về vườn rồi.
- Mầy thấy hay không, ba Thẹo nói, phải sống như tao mới đáng sống ! Rồi mầy
cũng được như tao. Tao sẽ làm mai cho một con "tuyệt cú".
Bao nhiêu hoang mang của Rít Chúa bay mất hết.
- Em à, ba Thẹo dặn vợ, biểu trẻ nó dọn ghế bố cho chú ấy ngủ. Chú ấy là em
nuôi của anh đó đa. Mai mốt, em liệu mà kiếm người vá áo cho chú ấy nghen. Rít
Chúa à, chị Ba mầy em út thiếu gì.
Mùn tuyn trắng nõn, gối gòn mềm èo, mà sao Kẹo cứ nằm trăn trở thao thức hoài.
Anh lắng nghe một tiếng gọi, tiếng gọi của một người đàn bà (cô ấy là một cô
gái thơ, nhưng cũng cứ ở trong phái đàn bà).
Mãi đến đêm nay anh mới thật hối hận đã ngăn mẹ anh tái giá. Hẳn mẹ anh cũng đã
nghe tiếng gọi như thế, của cha ghẻ anh, tiếng gọi réo rắt quá, không sao mà bịt
tai được.
Và anh thấy rằng anh phải đáp lời tiếng gọi ấy. Mà muốn đáp lời, anh phải làm
người biên sổ cho trại cưa, người ta mới chịu nghe lời đáp của anh, chớ không
thể sống tiếp lại đời sống lưu manh nầy được.
Thật ra thì cô gái bán sa-cô-chê, không phải là người đẹp nhứt trần đời, và anh
có thể còn gặp nhiều cô gái khác đẹp hơn.
Nhưng vấn đề không phải ở đó. Chuyện quan trọng là cái tiếng gọi không cưỡng được
của phe nữ hôm nay nó cắc nghĩa thái độ tái giá của mẹ anh.
Mẹ anh đã làm đúng và anh đã hành động xằng. Bây giờ, dầu không cần tìm cô gái
bán sa-cô-chê cũng phải đáp lại tiếng gọi của một người đàn bà ở xa kia, của bà
mẹ đã mõi mòn trông đợi đứa con đi hoang.
°
Nghe Kẹo lục đục hồi năm giờ khuya, ba Thẹo hỏi:
- Làm gì mà mầy dậy sớm dữ vậy Rít Chúa ?
- Dạ, tôi về xứ.
- Trời ơi, mầy bỏ tụi tao sao ?
- Xin anh thứ lỗi, tôi nhớ má tôi lắm.
- Rồi mầy sẽ trở lên chớ ?
- Ừ, nhưng tôi lên Thủ Đức.
- Trời, muốn bị giam thêm hả ?
- Không.
- A... ha... ha... Tao hiểu rồi. Cái con bé trên xe chớ gì !
Màu thời gian
Sáng hôm nay, tại ga xe điện Gò-Vấp, ông Tám Giò lại snýt phải
một phen thất vọng.
Biết bao lần rồi, ông già nói thơ nầy được chứng kiến cảnh tàn tạ của một nghề
xưa kia ngươi người yêu chuộng.
Ngày nay người ta ưa hơn những cặp vợ chồng mù tuy cũng diễn lại cảnh cũ, cũng
manh đệm rách làm sân khấu, cũng chiếc chiếu tơi gói tất cả giang sơn của đôi vợ
chồng nghèo trôi nổi bình bồng, nhưng họ đã học đòi văn mình: Chồng thì đờn một
bài Vọng cổ tốc hành, vợ thì nói xàm lên những lời cầu kỳ mà sai mẹo luật. Hai
sợi dây đờn kìm lên thẳng đến gầ đứt ra, để cho tiếng đàn lớn thêm, có thể lấn
át cả cái rùm rì của buổi chợ sớm. Tiếng tơ căng già, chai cứng bị lay chuyển
huyên thiên dưới ngón tay hối hả của một nhạc công không bao giờ thèm nghe tiếng
đờn của mình. Cái thứ quà du côn ấy mà lại được hoan nghinh.
Ngày lại ngày, ông Tám Giò thấy đám người đứng vòng quanh chiếc đệm rách của
ông cứ thưa thớt lần, rồi một buổi kia, chỉ còn lại những trò trốn học, những
thằng bé bán mía ghim, những đứa nhỏ đi thơ thẩn không biết làm gì.
Ông Tăm, mẫu cuối cùng của giống người mù nói thơ đang bị tiêu diệt, thấy hàng
mình và lòng mình trơ trọi quá. Càng trơ trọi thêm, khi thằng cháu nhỏ, người bạn
đường đã cùng ông lăn lóc bao lâu nay, một hôm bỗng bỏ ông để đi theo một gánh
xiếc.
Chiều hôrn qua đây, người ta thấy ông lão nầy phải gở đồng xu lót tại chỗ sợi
dây đồng cắn tấm gỗ của cái thùng dội tiếng của cây độc huyền để lấy thêm tiền
cho đủ bữa.
° ° °
Sáng hôm nay ông lại mò về ga xe điện Gò-Vấp. Thấy vắng các
tay Vọng cổ, ông Tám có bụng mừng thầm. Người chờ xe thì đông và không biết làm
gì để quên nỗi bực mình trông đợi. Ông Tám chỉ bấm nhẹ sợi dây đồng và để cho
kim thanh thong thả ngân nga cũng đủ lôi kéo tất cả cái xã hôi phức tạp ấy về
phía ông.
Họ đứng đông lắm, thành vòng bán nguyệt trước manh đệm, của ông già. Có những
thầy ăn mặc đúng mốt, làm bộ như mới thấy thứ đờn quê mùa nầy lần đầu tiên. Có
những cô tân thời, ý như muốn tỏ rằng ta lại đây là cầu vui chớ ai mà thèm nghe
nói thơ. Có những ông quân nhân hiền lành và xúc cảm thật vì nhạc công đã nhắc
nhở, gợi thớ làng mạc quê nhà của họ. Và có những bà lão không lộ ý kiến gì hết,
thấy người ta bu lại thì bắt chước theo vậy thôi.
Ông Tám ngồi môt chơn xếp bằng, một chơn xếp đứng, bàn chơn đạp lên thùng đờn.
Không biết có phải đó là thói quen của những ngày còn sáng tỏ hay không, mà ông
già mù nầy lại nhắm mắt lúc nói thơ, có lẽ đề trở về với bên trong, lắng nghe lời
thơ êm vận ?
Rạng (mà cái) đông... (ngờ), mang (mà cời) gói... (ngơ) lên đường... (ngờ)...
Đoái nhìn (ờ... ờ...) quê (mà cái) cũ... (ngơ), dạ nhường xót xa...a...a...a.
Khi hát hai tiếng đầu của câu sáu, gân cổ ông già nổi lên, đôi chơn mày nhuốm bạc
nhướng mãi ra. Được bao nhiêu hơi tàn, ông gom lại hết để đưa cao tiếng hát. Đến
khi dứt câu tám thì hơi ông đã mòn, giọng thành nhừa nhựa, lè nhè.
Lâu lắm rồi mới gặp được một dịp phô tài, ông già hớn hở trông đến tội nghiệp.
Niềm phấn khởi làm tươi hẳn gương mặt đã khô héo vì nhiều thiếu thốn : từ sự phỉ
chí tài tử gặp tri âm, đếm những chén cơm hàng bữa.
Sự chăm chú của khách qua đường đã kích thích đánh thức tỉnh tấm lòng nghệ sĩ bị
đời ruồng bỏ, khiến ông già hâm hở trổ hết tài nghề.
Trông ông, người ta nghĩ đến một ca nhi về lúc phấn lợt, hương phai, một đêm gặp
khách viễn phương mộ danh đến trễ, gò gẫm chút duyên già, gom góp những mảnh
lòng xuân còn sót lại để đáp tấm tình của kẻ tới sau, và cũng để cho lòng mình
nếm dư vị muộn màng của tình ái.
Ba (mà cái) năm... ăm, cách (mà cái) biệt quê nhà...à... à...
Vợ (mà cái) con... (mà) chẳng biết...ư...ư nay đà thể nao (ngờ...)
Cái thùng gỗ đưa ra những tiếng dội ồ ề như bị nhốt trong hũ lớn. Âm ba nức nở
gợi những nỗi buồn quê xa vắng và thường khi, một chữ đờn vừa dứt, kim thanh
còn vang động thì một chữ khác dồn tới bứt đứt hơi ngân, làm tức lên như tiếng
tấm tức tấm tưởi của một người chinh phụ tiễn chồng.
Tiếng thổn thức dài của tiếng độc huyền đã làm phập phòng nhiều bộ ngực trong
đám thính giả. Thỉnh thoảng người ta nghe một tiếng nấc rụt rè điểm nhịp cho lời
thơ : những bà lão hay lạt lòng, ở vào trường hợp nào hơi bi thảm một chút xíu cũng
thừa nước mắt đè tỏ lòng thương. Mấy ông quân nhơn hùng dũng như thế mà còn cầm
lòng không đậu thay, chút chút lại thấy họ lơ đi để giấu vài giọt lệ không giữ
được. Bấy giờ những ngón tay khô như nhánh héo của ông Tám Giò đã ngừng, không
nắn nót, vuốt bẻ cần đờn nữa. Ông chỉ bấm nhẹ dây đờn, cho kim thanh ngắn rỉ rả
để đợi chờ những đồng xu bố thí.
Chiếc đờn độc huyền trước mặt ông, với cây cần mỏng mảnh đứng sững lên, với sợi
dây đồng căng từ gần đầu cần xiêng xuống thùng gỗ, trông giống như một chiếc
tàu với trụ và dây V.T.Đ.
Một phút qua... Lon sữa bò cũ nẳmtrước cây đờn vẫ còn im hơi lặng tiếng.
Bỗng từ xa vang lại tiếng trống nhạc Tây : Thùng, thùng thùng...
Khi tiếng trống đến gần thì ông lão lại nghe xen lẫn một thứ tiếng ồ ề hơn cả
tiếng cây đờn kìm của vợ chồng thằng cha Vọng cổ. Đó là một cây đờn Tây, ông
lão đã nghe nói tên một đôi lần, nhưng không biết nó ra sao.
Ông già mù sợ hãi lết sức mà nghe tiếng người rời bỏ mảnh đệm của ông. Rõ ràng
là họ chạy theo tiếng nhạc kia.
Tiếng nhạc lạ hoắc vừa trổi lên, gần đâu đó :
Ôi ta buồn ta đi lang thang cung bởi vì đâu...
Điệu ca kỳ lạ khác hẳn với điệu nói thơ cố hữu của ông, tuy nghe không chướng
như những bài vọng cổ nói xàm nhưng vẫn không phải là những chữ đờn quen thuộc
và thân yêu.
Thằng nhỏ mía ghim, thính giả trung thành của ông, có lẽ là kẻ cuối cùng vừa bỏ
ông mà chạy qua bên ấy.
Trời ơi, thật là tai hại. Có mỗi một lần thoát ách vọng cổ lại gặp ngay cái đám
đờn Tây nầy, Trưa nay lấy gì mà ăn đây.
Nhưng lạ quá, chính lão mù cũng thích nghe những điệu nhạc nó đã cướp cơm của
ông. Kể cả những điệu buồn, như bài gì mà có kẻ đi lang thang vừa rồi, nhạc ấy
cũng vui tươi hơn điệu nói thơ của ông, nó cứ một mực áo não từ đầu đến cuối.
Bà Tư bán hàng có bốn người con.....
Thì ra, cuộc đời đã biến đổi sâu lắm rồi mà lão ta không hay biết. Màu sắc của
sự vật ngoài kia chắc đã ngã từ đen qua xanh xanh, đo đỏ, hồng hồng, từ bao lâu
rồi, mà chỉ hôn nay ông mới chợt nhận ra sự đổi thay của màu sắc thời gian qua
mấy điệu hát mới.
- Có chết hay không ông Tám ?
Ông già nhận được giọng của vợ thằng cha vọng cổ.
- Chết cả lũ, ông đáp, cả vọng cổ của bây cũng chết chùm với tao.
- Ông nghĩ coi, mình thì cứ đợi họ cho tiền. Nhưng khách của mình không ai thấy
họ nợ nần gì mình hết. Ai cũng muốn giao phó việc từ thiện lại cho người bên cạnh.
Thiệt mà ! Nào ai có hiểu mình đờn ca đâu: Tự mình hát, người ta bắt buộc phải
nghe chứ không lẽ họ lại bịt tai.
Còn cái thằng cha đờn Tây kia, ai gọi nó mới hát, nó hát có giá nhứt định, chớ
không phải ăn mày như chúng mình đâu.
Quyển gia phổ
Tiếng chó sủa vang ngoài ngõ, xa. Tồn nhìn ra ngoài. Ánh sáng
xanh của chiếc đèn măn xông từ trong nhà tỏa ra sân, bị vườn cau ngăn lại.
Không trông thấy gì, anh hỏi to:
- Ai đó ?
- Tôi đây ạ.
Cái giọng miền Bắc quen thuộc với Tồn ấy lại khiến Khoa ngơ ngác; anh nhìn người
anh họ, hỏi bằng mắt rồi bằng lời:
- Ai đó vậy anh Tồn ?
- Một người bạn.
Chó đánh hơi quen, thôi sủa. Người khách ban đêm đã qua khỏi vườn cau, dừng
chân trước một cây cau ốm nhom, màu trắng mốc, mà ngó vào nhà. Y không vào ngay
như thường lệ, vì y thấy khách lạ trong ấy. Vả đêm đó là đêm ba mươi Tết, nên y
còn ngại điều gì. Tồn ra tới ngoài thềm mời to:
- Bác cứ vào.
- Vâng, nhưng bác đã vào khem chưa ?
- Vừa lên bùa dựng nêu xong là lác đến. Nhưng bác đừng ngại, tôi không kiêng cử
gì đâu.
Người khách bước lên thềm. Y mặc một chiếc áo dài bằng thét hâm, đầu bịt khăn
chữ nhứt chớ không phải chữ nhơn như Khoa thường thấy, chơn đi giày hàm ếch.
Y nghiêng mình chào Khoa rất lịch sự rồi bước vào nhà. Tồn giới thiệu hai người
với nhau.
- Chú Khoa, em họ của tôi. Bác Thụ, khai thác lâm sản ở vùng nầy. Mời bác ngồi.
- Cám ơn bác, thật tôi có lỗi quá, tôi...
- Không hề gì, tôi không có kiêng cử gì đâu. Chú Khoa nè, bác Thụ đây là chỗ bạn
thân nên tôi mời bác ấy đến ăn Tết ở nhà mình cho vui. Bác nè, chú Khoa đây còn
không được như bác; bác thì bác chỉ xa quê hương thôi, còn chú ấy thì không còn
người thân nào trên đời nầy hết, trừ tôi ra. Hai người đến đây với tôi là phải.
Thụ, kẻ xa nhà, muốn tìm thân mật, ấm cúng trong đêm giao thừa, lại phải đụng đầu
với một người khách lạ nên bác ta nhột nhạt và không khí trở nên lạnh lẽo. Làm
thinh giây lát, bác nói:.
- Tôi muốn xin phép bác xuống nhà sau thăm cụ.
- Phép với tắc gì. Ta cùng xuống dưới ấy cho vui vậy.
Trong các gia đình nhà quê, nhà bếp là nơi vui vẻ nhứt vào những đêm giỗ tiên
thường, vào những đêm ba mươi tháng chạp. Vui nhờ ở đó đông người cũng có,
nhưng cũng nhờ nhiều thứ khác. Như đêm nay chẳng hạn; nhà có ba mẹ con, buồn
hiu, thêm được một đứa cháu xa về và một người khách thân ở trọn ba bữa Tết, cả
năm người đều sung sướng trong sự sum họp và nghe đầm ấm lạ.
Ba người con trai đều đưa mắt nhìn những lưỡi lửa đang liếm đáy của một cái trã
ba bắt trên ba ông táo khổng lồ đặt ngay dưới đất.
Lửa bao giờ cũng vui, tiết ra nhiều sinh khí. Ánh lửa đỏ phủ màu mơ hồ quyền hoặc
lên năm gương mặt hân hoan vì ấm lòng và ấm da bên cạnh cái lò, trong hơi lạnh
thừa của tháng chạp còn chần chờ ở nán lại vài ngày đầu năm.
Ngoài kia bóng tối dày đặt, ngửa bàn tay lên không trông thấy, cứ lăm lăm rình,
chực chờ lửa hấp hối để tràn ùa vào.
Đó là hình ảnh xa xôi của một thời tiền sử, loài người còn ở lỗ ăn lông, tối lại
nhúm đống lửa ngoài cửa hang để hơ ấm trong những đêm đông giá lạnh, hoặc để đuổi
xua thú dữ.
"Hồi đó, hồi thuở đời xưa, trời sai ông Táo xuống làm thần giữ lửa..."
Đó là tin tưởng của dân ta qua truyện cổ tích và cũng vẫn còn là tin tương của
dân ta hiện nay trong những giờ buồn tê tái. Thường thì ta quên lửa đi, cuối
năm ta chỉ còn đưa ông Táo vì thói quen thôi, bởi vì ta đã thu nhốt được lửa
trong một cái hộp nhỏ, chỉ phát ra một cử chỉ nhẹ là có lửa rồi. Vị thần tôn
lên trong một thời tối lạnh để giữ của báu bã bị bạc đãi từ lâu.
Trong những giờ buồn tê tái, ta lẩn thẩn hình dung vẻ hãi hùng của người thượng
cổ, khi mặt trời rụng khỏi đầu non, họ lo sợ không biết rồi cái nguồn sáng và ấm
kia ngày mai còn trở lại hay không. Ta lẩn thẩn tưởng tượng đến nỗi vui mừng của
người tiền sử, họ nhảy múa quanh tia lửa đầu tiên của nhơn loại nó xẹt ra từ
hai thanh củi khô cọ xát mãi với nhau dưới bàn tay lơ đãng của một chủ hang.
Từ đó, từ ngày bắt gặp lửa một cách tình cờ may mắn, loài người sống rời rạc và
trôi nổi bình bồng, mới dừng chơn quanh đống lửa, lập nên gia đình đầm ấm, đêm
đêm hằng nhen nhúm lửa thiêng. Từ đó lửa muôn năm được nuối nấng trong lò như đời
người truyền kiếp muôn thế hệ. Loài người quí lửa cho đến đỗi dân La-mã đã bắt
bọn nữ đồng trinh canh gác lửa từ ngày nầy qua năm khác, vô phúc cho cô nào lơ
đễnh để tắt lửa thiêng, tội chết sẵn chờ các cô ấy.
Khoa cầm một thanh củi mà trở cho lửa bốc lên. Củi nổ lách tách phun lên những
đám mưa than đỏ, tua tủa như pháo hoa cải, rồi nói:
- Buffon đã nói sai khi cho rằng Cuộc chinh phục đẹp nhứt của loài người là con
ngựa. Không, chính lửa mới là cuộc chinh phục đẹp nhứt của nhân loại. Lửa nhánh
cây khô của những người đi rừng như bác Thụ đây, lửa hải đăng, nguồn hy vọng độc
nhứt của kẻ hành thuyền ngoài khơi, lửa thuyền chài nhấp nhái trong sương, lửa
câu dầm trên ruộng vắng, lửa lò sưởi của kẻ bới mớ tro lòng, tất cả đều là bậu
bạn, hay an ủi, vỗ về ta.
- Chú nói rất đúng; con Dần em tôi đây, nó thường bị má tôi mắng vì để bếp lửa
bắt. Không biết vì thói quen hay vì nỗi lo âu di truyền nào mà má tôi thường để
tâm nhen nhúm lửa cả ngày lẫn đêm. Chiều nào má tôi cũng nhắc nhở nó chụm vào bếp
vài thanh củi găng. Thứ củi ấy chắc thịt, đậu than bền. Rồi đến đêm má tôi phủ
lên đó một lớp tro mỏng. Thế là than âm thầm ngún cho đến sáng. Vốn thừa tự nỗi
lo âu truyền kiếp ấy, tôi buồn rười rượi và thương hại vô ngần mỗi khi nhìn một
mái nhà không quyện khói, vì
Cái bếp lạnh, mái nhà không quyện khói,
Là không có người nhen nhúm lửa thiêng. 1
Bấy giờ cái trã nước đã kêu ấm. Bà Cả, mẹ của Tồn, bưng lại một rổ bánh chưng rồi
lấy từng chiếc bánh một mà thả vô đó. Bánh rơi xuống nước kêu cải chũm, vài giọt
nước nóng tóe lên. Bà Cả vội giựt tay ra rồi lấy chiếc khác.
- Lạ quá, Thụ nói, sao cụ lại biết gói bánh chưng ? Hình như người miền Trung
và miền Nam chỉ biết gói bánh tét thôi chứ ?
Bà Cả cười và đáp:
- Ấy, những gia đình cổ ở đây còn nhớ cách thức gói bánh chưng.
- Gớm thật, truyền đến bảy trăm năm !
- Cái gì bảy trăm năm ?
- Thì cái bánh chưng chứ gì, từ đất Bấc vào đến vùng Thanh-Nghệ thì nó đã biến
thành cái bánh tét rồi. Bánh tét đi bảy trăm năm mới đến miền Nam. Nhưng song
song với nó, bánh chưng vẫn lót tót đi theo. Làm sao mà họ nhớ dai đền thế...
- Tôi học gói bánh chưng với mẹ tôi, mẹ tôi đã học với bà ngoại tôi và chắc là
cứ như vậy cho đến bảy trăm năm về trước.
- Thưa cụ, tại làm sao mà cụ không gói bánh tét như tất cả mọi người ở đây ?
- Bảnh tét chặt tay quá, ông tôi hồi sanh tiền ổng không ưa, nên tôi phải gói bánh
chưng rồi nó cứ quen cái lệ ấy đi.
Một chị hàng xóm bỗng bước vào, tay xách hai đòn bánh tét sống, lá gói còn tươi
rói, cột dính đầu lại với nhau. Chị ta nói:
- Thưa bà, bà làm ơn cho cháu gởi hai đòn.
- Bánh của mầy lớn quá, sao mầy không đem lại cho sớm để tao lót trã, bây giờ bỏ
vô nó nhẹp hết bánh của tao. Nhưng thôi thì cũng cứ gởi đi chớ biết làm sao bây
giờ.
Chị hàng xóm cẩn thận như thả trứng để luộc, nín thở nhìn hai đòn bánh tét nặng
nó chìm mau rồi xuýt xoa như sợ bể vỡ cái gì dưới ấy.
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh.
Khoa lơ đãng nhìn chị hàng xóm bước ra, miệng đọc hai câu đối cổ trên đây, rồi
như sực nhớ lại điều gì, day qua hỏi Thụ:
- Chắc bác thích ăn bánh chưng hơn bánh tét nhiều ?
- Đúng thư thế. Ăn Tết trong gia đình nầy, tôi thấy như về gần quê tôi hơn là
ăn Tết trong bất kỳ gia đình nào khác ở đây. Nhưng...
- Nhưng làm sao ?
- Nhưng mà cũng chưa thật phải cái không khí Tết của ngoài tôi...
- Ừ, Tồn nói hớt, năm ngoái cũng ăn Tết ở đây, bác ấy cho rằng vui nhưng cứ
nghe nhơ nhớ cái lạnh, nhơ nhớ bình thủy tiên, và rất nhiều thứ lặt vặt khác. Tất
cả những thứ lặt vặt ấy họp lại thành một chứ gì to lớn nói ra không được,
nhưng rất thân yêu.
Khoa mỉm cười nhìn những bóng hình kỳ dị nhảy chập chờn trên vách bổ khô, giây
lâu anh nói, không nhìn ai hết, có lẽ là nói với cả hai người con trai kia:
- Cải gì cũng do thói quen hết. Bác Thụ thấy trong nhiều năm lối ăn Tết của miền
Bắc rồi cứ ngỡ là Tết phải như thế, khác đi thì không phải là Tết nữa. Chúng
tôi đây cũng vậy, quen ăn Tết trong ba trăm năm, từ ngày đổ xô vào khai hoang ở
đây, với dưa hấu và đường phổi, rồi nghe không phải là Tết nếu thiếu hai món
đó. Nhưng ngoài quê của bác Thụ làm gì có dưa hấu vào đầu xuân, nên bác chỉ dửng
dưng như không, nếu thiếu dưa và đường. Thói quen gạt gẫm ta lắm đó. Con người
hay bám níu vào những hình ảnh, những màu sắc, những mùi vị quen thuộc lắm, bám
víu vào rồi thấy nó là thiêng liêng không rời được nữa. Đất, mồ mả, gia đình,
cái gì cũng thiêng liêng tuốt. Thì cũng thiêng liêng thật đấy. Nhưng cái thiêng
liêng đó chỉ do ta tạo ra để mà mến vậy thôi. Người du mục chắc không mến đất,
không bịn rịn cái lều vải của họ, và hỏa táng nên họ thấy mồ mả là thứ chướng mắt.
Tôi nói điều nầy không ngoa là sở dĩ anh Tồn bảo thủ lắm như vậy chỉ vì anh có
nhiều đồ sứ cổ quá. Nếu một tai nạn xảy ra đập bể những thứ ấy đi, anh sẽ xuýt
xoa thương tiếc vài ngày rồi sợi dây vô hình ràng buộc anh với các thứ ấy sẽ
tiêu lần lần cho đến một khi kia, anh không còn bận bịu với gì nữa cả.
Tồn và Thụ đều có cảm giác rằng Khoa là một kẻ đã ê chề vì hắn đã mất tất cả những
gì quí nhứt của đời hắn. Đó là luận điệu chua cay của nuột anh mất gốc, nhẫn nại
chịu số phận và cố tìm tư tưởng gọi là mới để an ủi mình và để nuốt cho trôi những
biến chuyển trong lòng mà hắn bắt buộc phải trải qua.
Thụ muốn đùa Khoa một câu rất ác, nhưng không dám. Bác ta nói cho nhẹ ý đi:
- Nhưng bác về đây ăn Tết chắc cũng vì thấy không khí già đình là thiêng liêng
chứ ?
Khoa không đáp vì anh thấy người anh họ đã đứng lên đi dọn một cỗ nhỏ để cúng
giao thừa. Anh tiếp tay người anh họ, sợ rằng người anh nầy khinh anh là một gã
mất gốc quên cả tổ tiên. Khi cặm nhang trên lư hương. Khoa bỗng khựng lại vài
giây khi anh trông thấy gì đó không biết nữa.
Khoa làm cái công việc nhỏ là cặm nhang ấy sao mà lâu quá. Nhưng rốt cuộc rồi
anh cũng làm xong. Bấy giờ pháo giao thừa đã trả lời nhau từ xóm nầy qua xóm khảc.
Họ không nói với nhau gì nữa cả, lắng nghe tiếng pháo nó có một giọng nói
riêng: đây là thứ pháo giận dữ, kia là thứ pháo bịnh hoạn đuối hơi, xa nữa có
thứ pháo điệu máy hát, vừa nổ vừa mỏn lần, rồi lại nổ to lên để rồi hạ giọng nữa
như là thỉnh thoảng được lên dây thiều một lần.
Bỗng Tồn dớn dác nghe ngóng rồi nói:
- Gì mà nghe có mùi khen khét.
Thụ hít gió và cũng dòm quanh rồi la:
- Khói trên bàn thờ !
Cả ba cùng nhảy xuống đất một lượt vì quả họ thấy cải gì đang ngún cháy, un
khói trên ấy. Khi họ chạy tới cạnh bàn tổ tiên nhà Tồn thì lửa đã bắt ngọn lên
cao đến đầu con lân của chiếc nắp lư đồng vỏ cua.
- Trời ơi, chết tôi rồi !
Tồn kêu lên thất thanh rồi lính quýnh, anh xô ngã cả chơn đèn, lư đồng mà vẫn
không dập tắt được ngọn lửa. Thụ thì bình tĩnh hơn, nhảy lên một cái ghế đẩu,
trật khăn ra rồi dùng khăn ấy mà dập lửa. Lửa hạ, những mảnh lửa vụn bắn tung
lên, bay như bươm bướm. Thụ lại vói tay lấy tô sứ cổ đựng đầy nước lạnh trên
bàn thờ, tưới ngập chỗ còn ngún khói. Bác ta nói:
- Sợ nhiều hơn là bị thiệt hại, anh Tồn à. Gì mà như là quyển lịch Tàu ấy.
Tồn đứng chết sửng như trời trồng, há miệng trố mắt mà nhìn những sợi khói thừa
nhỏ như sợi chỉ uốn mình theo hình khu ốc mà bay lên trần.
- Đã bảo không thiệt hại gì kia mà sao anh chết sửng ra thế ?FF
Tồn cứ làm thinh rồi chồm lên bàn thờ đưa tay kéo quyển sách thọ nạn. Giấy bản
đã cháy trọn nhưng tro còn uguyên tờ. Tồn vừa chạm tới sách thì những tờ tro ấy
lại rã nát như hoa cải rã ra khi người cải táng nạy nắp săn lên. Tay anh run
run hốt mớ tàn giấy lên, rồi ngửa tay ra mà xem. Trong một cơn tức giận, anh vò
tàn giấy bể vụn ra, đoạn rải tro xuống chơn bàn thờ. Anh chán nản nhìn Khoa mà
rằng:
- Quyển gia phổ nhà ta !
Khoa sửa lấy một vẻ mặt buồn cho hợp lúc rồi nói:
- Cũng chẳng chết ai. Chán vạn gia đình khác không có gia phổ thì đã sao. Tổ
tiên ta cũng vẫn còn nơi lòng ta, mặc dầu mất ghi trong tập giấy cháy.
Trong khi Tồn còn tần ngần đứng nhìn đống tro thì Khoa kéo Thụ trở lại bàn rượu.
- Anh Tồn anh ấy khổ sở thế vì quyển gia phổ ấy giúp ảnh bằng cớ để mà tự hào về
dòng họ cổ nhứt miền Nam của chúng tôi: còn mồ mả những mười hai đời và gia phổ
chép đến mười lăm đời. Ảnh tự hào rồi mãi vướng bận vì những bảo vật ấy. Tình
quyến luyến đó theo tôi cũng không hại gì cho lắm. Ác một cái là nó kéo theo cả
bầy cả lũ những thứ tình ý khác, cái nào cũng cổ kính như ngôi mộ cổ đóng rêu.
Thí dụ ảnh quả quyết rằng một cuộc kỹ nghệ hóa xứ sở sẽ giết chết hồn thơ của đồng
quê ta đi. Ảnh tin nơi sự thiêng liêng của một trật tự cũ, thấy ngôi miễu nhỏ
dưới gốc da là đẹp với những ông táo bể đầu, những ông vôi mẻ miệng, thấy con
trâu kéo cày, trước một rặng tre là nên thơ. Theo tôi, những trò ấy toàn là trò
quyến rủ vì quen mắt thôi. Một trăm năm nữa người ta sẽ quen với hình ảnh một
anh thợ máy ngồi trên máy cày và hình ảnh mới ấy lại sẽ nên thơ được như thường.
Anh Tồn nè ! Anh tự hào về dòng dõi ta mà làm gì ? Xã hội loài người làm bằng
muôn triệu kẻ không tên, không tuổi chớ không phải làm bằng dòng dõi họ Lê hay
họ Trần. Muôn triệu kẻ vô danh ấy, vì lưu lạc nổi trôi, có thể không biết đến
ông tổ hai đời của họ. Nhưng họ vẫn giỏi dang được và giúp rất mạnh vào sự đi tới
của loài người.
Tồn cười gay gắt mà rằng:
- Luận điệu của chú rất chí lý đối với những người không may đã mất cả. Như vậy
nó chỉ đúng một cách tương đối thôi. Ai còn thì họ có lý mà bám vào cái còn của
họ. Dừng bảo rằng họ lầm và tôi lầm, và nhứt là đừng làm cho họ mất cả để lòng
họ biến chuyển mà nghĩ như chú.
- Không, tôi có làm gì...
- Tôi không biết chú có làm gì hay không, nhưng khi nãy chú thắp nhang, đứng
nơi bàn thờ lâu quá, khiến tôi bây giờ nhớ lại mà phát nghi.
- Trời ơi, anh lại...
- Chú có tật hay cả tin rằng những ý nghĩ của chú là đúng hơn ý nghĩ của mọi
người khác và rất khổ sở mà thấy họ không nghĩ như chú. Như thế thì chú dám làm
cho người ta mất truyền thống lắm. Chú có làm hay không, không quan hệ, nhưng
chú có nghĩ đến và rất dám làm.
Khoa làm thinh và Thụ rất băn khoăn muốn biết xem sự im lặng ấy là lời thú tội
hay là thái độ xem thường kẻ kết tội oan.
--------------------------------
|
Thơ của tác giả. |
Bánh xe lịch sử
Tân truyện đối thoại hay là một vở kịch huyền hoặc ba cảnh.
Nhơn vật:
LÂM 25 tuổi.
HẠNH 23 tuổi.
Một ông Tiên.
Rất nhiều khách dự tiệc.
Cảnh I
Một bữa tiệc tàn, nơi một biệt-thự lớn, ban đêm. Ở một góc
bàn, một ông bụng bự đang chơi với những hình xếp bằng diêm quẹt. Góc khác, bốn
tân khách đang đánh bài. Phần đông cãi nhau về nhiều vấn đề.
Một điệu nhạc jazz làm nền.
Lâm và Hạnh đứng dựa cửa sổ, trông ra vườn.
Lâm: Nóng quá, mình trốn ra vườn cho đỡ bức, đi em.
Hạnh: Sợ người ta thấy rồi dị nghị. Với lại anh cứ ép em uống
rượu, bây giờ em nghe chóng mặt lắm.
Lâm: Anh cũng hơi say. Như vậy ta lại càng nên ra hóng mát
cho nó giã rượu.
Hạnh: Thỏi, đi thì đi. Mà phải len lén nhé. Em ra trước, rồi
thủng thỉnh anh theo sau.
Đôi trai gái lìa cửa sổ, tiến về hướng cửa hông. Bỗng họ lảo
đảo, đi không vững nữa. Cả hai tìm ghế ngồi phệt xuống. Họ cố gượng vài lần, rồi
gục đầu xuống bất tỉnh.
Màn hạ.
Cảnh II
Đường đi trong núi. Cây cối sum sê. Kỳ hoa, dị thảo. Chim nhiều
màu. Trái trĩu cành. Mát như sáng xuân.
Điệu nhạc Thiên Thai làm nhạc nền.
Lớp I
Hạnh: Chà ! Vườn nhà ông Hội đẹp ghê, anh hớ ?
Lâm: Lạ quá em à. Đây có phải vườn nhà ông Hội đâu. Anh đã tới
nhà ông Hội nhiều lần rồi, anh biết rõ lắm. Vườn nhà ông có đâu mà rộng lớn như
vầy. Mà kìa, em nhìn lại coi ! Mình mới trốn bước ra khỏi nhà, sao nhà đâu không
thấy sau lưng nữa ! Mà hồi nãy ban đêm, sao giờ lại ban ngày.
Hạnh: Ta say rồi ! Hay là cứ đi tới thử coi.
Hai người cùng đi.
Lâm: Suối ! Trời, nên thơ quá. Thật là cảnh lý tưởng. Anh có
ý muốn rủ em ra vườn để ngỏ với em vài điều mà bấy lâu lời anh cứ tắt mỗi khi
chực thốt ra. Nay gặp cảnh đẹp, có lẽ anh sẽ nói được. Cảm thông đi, em ơi,
lòng em hãy cảm thông với cảnh vật, cho nó thơ mộng ra, để chuẩn bị cho anh
trao gởi....
Hạnh: (bỗng níu tay Lâm). Anh xem kìa, ông già
... (Lâm nhìn theo ngón tay Hạnh).
Lâm: Ồ, ông lão, già, già ghê. Tóc râu đều bạc, đến cả chơn
mày cũng trắng phau. Em à, sao anh trông ông ấy giống ông tiên quá, mà cảnh nầy
rõ ràng cũng là cảnh tiên.
Hạnh: Tiên như vậy sao ? Anh nói y như là anh có lên cảnh
tiên rồi, có gặp tiên rồi.
Lâm: Anh chưa gặp tiên lần nào, nhưng đọc sách, anh thấy tả cảnh
tiên như vậy.
Hạnh: Mà ông ta đương quây cái bánh xe gì ...
Đôi bạn bước tới, nhìn kỹ thấy ông lão đang cầm cái tay quây
mà quây một bánh xe. Tay khác cầm phất trần miệng hát:
Chán bụi hồng dơ ẩn núi rừng,
Lưng hạc ngao du khắp bốn phương,
Nhàn hạ, rượu thơ, rồi hoa quả,
Quây bánh xe đời, dạ dửng dưng.
Lâm: Hay là ông tơ chăng ? À, diễm phúc của đôi ta đây rồi. Lạc
bước vào động tiên và gặp ông Tơ Hồng: Âu là ta hỏi thử ông coi có thể xe tơ
cho đôi ta được chăng ?
Bấy giờ ông lão nghe tiếng người, ngước lên.
Lớp II
Hạnh và Lâm: Kính lạy Tiên ông.
Ông tiên đáp lễ bằng một cái gật đầu.
Lâm: Thưa Tiên ông, Tiên ông có phải là ông Tơ chăng ?
Ông Tiên: Không, bần đạo là tiên trông nom bánh xe lịch sử.
Lâm: Bánh xe lịch sử ? Lạ, phàm phu nầy chưa hề nghe nói đến
bánh xe ấy lần nào.
Hạnh: Thưa Tiên ông, đây là xứ nào ?
Ông Tiên: Đây là Bồng Lai, quê hương của tiên.
Hạnh: Té ra, thưa Tiên ông, Bồng Lai và Tiên quả có thật ?
Ông Tiên : Có hay không cũng tùy. Loài người đã sáng tác
ra Bồng Lai, Tiên, thế Bồng Lai và Tiên hẳn có, cho vừa lòng loài người vậy.
Lâm : Vâng, thưa Tiên ông. Thuở giờ chúng con ngỡ cảnh
tiên chỉ có trong tưởng tượng thôi chớ.
Ông Tiên : (Cười ha hả). Người Tàu nghĩ cũng kỳ. Khi
không lại bắt chúng tôi có. Nên thơ lắm !
Lâm: Thưa Tiên ông, đối với đấng Tạo Hóa, đối với các Thánh
Thần, địa vị thật của tiên là như thế nào ?
Ông Tiên: Các bác Tàu kể cũng chu đáo lắm. Tạo ra chúng tôi,
lại còn sắp hạng đàng hoàng Tiên là người phàm dày công tu luyện mà thành bất
lão, bất tử ; còn Thánh Thần là linh hồn của các siêu nhân đã chết. Đối với Tạo
Hóa, Tiên tự do, độc lập, tuy cũng phải chịu kỹ luật nhà trời. Còn Thánh Thần
là công chức của trời. Chúng tôi giống nghệ sĩ hay mấy ông trong các nghề tự do
dưới phàm: luật sư, y sĩ v.v...
Lâm: Thưa Tiên ông, đã tự do, độc lập, sao Tiên ông lại phải
trông nom bánh xe lịch sử ?
Ông Tiên: À, đó là một mâu thuẫn của Tàu đó. Nhưng chỉ có ông
Tơ và tôi là có phận sự. Các Tiên khác thì ở không cà rều cả ngày.
Hạnh: Thưa Tiên ông, xin Tiên ông dạy chúng con biết thế nào
là bánh xe lịch sử.
Ông Tiên: Bánh xe nầy mỗi lần bần đạo quây tới một vòng là lịch
sử nhơn loại tiến tới một bước.
Hạnh: Thưa Tiên ông, nãy giờ chúng con thấy Tiên ông quây
luôn tay, vậy chớ nghỉ giây lát không được sao ?
Ông Tiên: Không được. Nhơn loại phải tiến không ngừng, thì
hánh xe nầy cũng phải quay luôn.
Hạnh: Thưa Tiên ông, vậy chớ bánh xe nầy quây ngược được
chăng ?
Ông Tiên: (Suy nghĩ) Quây ngược ? Ý tưởng kỳ dị nhỉ !
Quây ngược đặng nhơn loại lùi à ? Ai lại đi làm chuyện trái như vậy ?
Hạnh: (Giọng van lơn) Thưa Tiên ông, chúng con lạc bước tới Bồng
Lai, thật là thế gian hi hữu. Chẳng mấy khi, xin Tiên ông cho chúng con xem thử
dĩ vãng một lần, cái dĩ vãng đẹp đẽ mà chúng con mến tiếc.
Ông Tiên: (Cười ha hả) Được. Nhưng bần đạo chỉ e xem rồi, quí
vị sẽ đau lòng mà hết muốn trở về tục giới chăng. Dĩ vãng chỉ đẹp sau màn bụi
thời gian nó xóa mờ các nét xấu xí. Bây giờ thổi lớp bụi đó đi, chơn tướng nó sẽ
hiện ra.
Hạnh và Lâm: Nếu phải như vậy chúng con cũng đành phận.
Ông Tiên: Đó là tại quí vị kèo nài . Bụng làm thì dạ chịu, rồi
đừng có trách bần đạo nhé!
Ông Tiên chỏ ngón tay trỏ vào rặng cây gần trước mặt họ. Tức
thì nghe một tiếng nổ. Rồi rặng cây chẻ ra thành một lỗ trống không, lớn bằng
màn ảnh. Ánh sáng xanh dịu bỗng phừng lên trong lỗ vuông. Đoạn ông Tiên vói tay
quây ngược bánh xe.
Ông Tiên: À, quên, quí vị ở nước nào ?
Hạnh và Lâm: Thưa, nước Việt-Nam.
Ông Tiên: Vậy thì xem đây. Một quá khứ cận đại của Việt-Nam.
Trong khung vuông hiện ra cảnh quan về làng: mũ cánh chuồn,
võng, lọng, cáng, đẹp lộng lẫy.
Lâm: Đẹp, đẹp thật. Thật là áo, mão, cân, đai, huy hoàng, rực
rỡ ! Một thời xưa đẹp đẽ !
Ông Tiên: Cứ xem tới, rồi sẽ thấy.
Hạnh: Ồ, họ làm cái trò gì mà tợn vậy ?
Ông Tiên: Đó là lính nạt đường, dẹp cho trống chỗ để kiệu của
quan đi qua.
Ông Tiên: (Cười ha hả) Đẹp, đẹp lắm !
Rồi ông lại quay. Trong khung cảnh, một ông già đẹp người, đi
thơ thẩn ngoài đồng ruộng. Cảnh vật sung túc.
Ông Tiên: (Ngâm thơ Thế-Lữ):
Quả trĩu cành xanh, lúa ngập đồng,
Ông già yên lặng, tóc râu bông,
Mỗi chiều chống tuổi trên gậy trúc.
Thơ tả cảnh "tuổi vàng" của thời thái bình, thật là
nên thơ đó nhé !
Bấy giờ trong khung, ông lão đã về tới làng, vào một lều
tranh. Con đàn, cháu đống nheo nhóc kêu ăn.
Hạnh: Lạ nầy ! Lúa ngập đồng, mà còn có kẻ vẫn đói rã ra !
Ông Tiên: (Cười ha hả và day qua hỏi Lâm) Có đẹp không ?
Không nghe Lâm đáp, chàng chỉ ngẩn người, lắng nhìn. Lại hiện
ra cảnh sáng trăng trong một làng quê. Một đôi trai gái đang trò chuyện dưới
đám dâu.
Hạnh: Đời xưa họ cũng yêu đương chùng lén với nhau được như
mình bây giờ !
Ông Tiên: Ái tình, cái câu chuyện cổ tích tự ngàn xưa của
loài người ấy, có bao giờ mất quyền của nó đâu. Nhưng chùng lén được hay không,
rồi sẽ rõ.
Trong khung hiện ra cảnh giữa làng cũng cô gái đó, có mang, bị
hương đảng căng nọc ra đánh bằng hèo về tội chửa hoang. Cô gái nằm sấp, dưới bụng
có một lỗ sâu đào sẵn cho khỏi cấn. Mỗi lần hèo nện xuống lưng cô gái một cái
ành là Hạnh kêu rú lên thất thanh.
Lâm thở hổn hển ôm ghì lấy Hạnh. Đôi bạn mồ hôi toát ra như tắm.
Hạnh và Lâm: Van lạy Tiên ông, xin Tiên ông làm phép cho mất
cảnh nầy. Chúng con sắp chết ngộp đến nơi !
Ông tiên cả cười, rồi chỉ tay, tức thì nghe tiếng nổ, khung cảnh
mất, rồi tất cả đều tối đen.
CẲNH III


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét