Nửa đêm trảng sụp 1
Làm xong bài toán hình học không gian, Nhan ngáp dài. Nàng
xem lại đồng hồ tay thì thấy đã mười giờ bốn mươi rồi.
Cô nữ sinh đệ tứ ấy xếp giấy má sách vở lại, đứng lên toan tắt
ngọn đèn tọa đăng rồi đi ngủ, nhưng còn chần chờ đứng lại trước bàn để lắng nghe
tiếng mưa đêm xào xạc ngoài vườn, và tiếng gió hú đằng xa, nơi cánh đồng vắng
sau nhà. Sanh hứng, cô ngâm lên bài ca dao hay bài thơ của ai, cô không còn nhớ
nữa:
Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu
Con trời lấy chú chăn trâu cũng kỳ
Một là duyên,
Hai là nợ …
Bỗng tiếng mở cửa buồng bên trái làm Nhan giựt mình. Nàng day
lại thì thấy ông Tám Huỳnh, cha của nàng, hiện ra nơi khung cửa buồng ấy, trong
ánh mờ của cây đèn dầu bàn học của nàng.
Tám Huỳnh mặc áo mưa, đi giày ống bằng cao su và tay cầm một
chiếc nón lá cũ.
Hai cha con lặng lẽ nhìn nhau rồi Tám Huỳnh như sợ con, trốn
mắt nó và ngó xuống gạch.
- Ba ! Trời mưa mà ba đi đâu vậy ba ?
Tám Huỳnh ú ớ không nói được, lâu lắm ông mới thốt ra vài tiếng,
nhẹ như hơi gió thoảng, Nhan cố lắng tai mới nghe:
- Ba đi, con ở nhà vài bữa với bà Tư.
Nhan châu mày rồi hỏi:
- Có phải ba đi việc đó không ba ?
Tám Huỳnh đưa ngón tay trỏ lên trước miệng ra hiệu bảo con chớ
có to tiếng rồi đáp:
- Ừ …
- Con sợ quá ba à ! Nhan nói mà giọng nàng run run.
- Không sao, con cứ an lòng.
- Con không muốn ba đi nữa …
- Ba đã hứa nghe lời khuyên can của con, nhưng còn phải chờ dịp
như ba đã cắt nghĩa, mà dịp ấy chưa đến.
Nhan nghẹn ngào, cố nuốt nước mắt, nàng cắn môi dưới lại để
khỏi khóc ra tiếng. Ông Tám Huỳnh bước tới và đứng gần con. Ông xẳng giọng,
nghiêm mặt lại mà rằng:
- Con biết tánh ba hay tin dị đoan. Người trong nghề, ai cũng
thế. Con đừng làm cho ba sợ, con nghe chưa ?
Nhan sợ hãi, lấm lét, liếc lên nhìn trộm cha. Ông Tám Huỳnh
ngày thường trông cũng hiền từ, nhưng hễ ông nổi giận thì gương mặt ông hung tợn
lạ kỳ, khiến cho người con gái độc nhứt và được thương mến hết sức của ông cũng
phải kinh hoảng, không dám hó hé.
Thương con quá, ông Tám dịu mặt và dịu gọng lại rồi nhỏ nhẹ
nói:
- Con ở nhà đừng thức khuya, hôm nào mưa thì đừng đi học, kẻo
mắc mưa sanh bịnh. Đây, ba cho con tiền chợ và tiền bánh hàng.
Ông Tám vừa nói vừa móc trong túi ra một ghim giấy bạc một
trăm, đặt lên bàn học của con và dặn thêm:
- Ai có hỏi, nói ba đi Sài Gòn uống thuốc.
Nhan nhìn xấp giấy bạc rồi nức nở thêm:
- Nín, kẻo bà Tư hay ! Ông Tám lại xẳng giọng.
Nhưng Nhan không còn sợ nữa, nàng nói:
- Con... thương …ba !
- Cố nhiên, ba lại không biết hay sao. Nhưng chính vì ba cũng
thương con nên...
- Con đi buôn gánh bán bưng nuôi ba được.
- Đã lỡ rồi con à, đặt lại vấn đề làm gì. Ba có muốn theo nghề
nầy đâu, nhưng hoàn cảnh đã đưa đẩy ba tới đó, rồi ba không thoát được nữa.
Nhưng ba sẽ cố gắng làm vừa lòng con. Con nên nén lòng đợi một thời gian. Thôi,
ba đi con nhé ! Nhớ đóng cửa cẩn thận.
Tám Huỳnh lặng lẽ bước tới mở hé cửa rồi lách mình ra ngoài.
Nhan cũng vội bước theo cha, rồi nhìn vào bóng tối. Chớp nhoáng lên và nàng
trông thấy bóng dáng dình dàng của cha nàng dưới chiếc nón lá và chiếc áo tơi,
bước mau trong mưa gió: ông Tám quẹo ra sau nhà để tiến vào rừng sâu.
Bóng đêm lại tràn ngập không gian, khiến Nhan kinh sợ, vội
đóng cửa lại và cài then cẩn thận. Đoạn nàng tắt đèn và đánh diêm lên soi đường
để đi vào buồng nàng ở phía hữu.
Ông Tám Huỳnh góa vợ từ lâu, nhưng ông ở vậy để nuôi con. Nhà
chỉ có ba người: ông Nhan và bà Tư, một người dì họ của ông. Bà nầy ngủ ớ nhà
sau, vì thế mà ông ra đi bằng cửa trước cho khỏi bị một người như bà bắt chợt
bí mật của ông.
Bí mật ấy, cách đây một tháng, do một sự tình cờ; Nhan đã
khám phá được, sau nhiều năm nghi hoặc. Nàng đã khóc thầm nhiều ngày, rồi rốt
cuộc quyết định cật vấn cha.
Thấy không thể chối cãi được, ông Tám đành thú nhận với con rằng
ông buôn lậu, hơn thế ông chỉ huy một toán tải hàng lậu từ biên giới Việt-Miên
đến một khu rừng gần chợ Trà Võ để giao lại cho đoàn khác đưa về Sài Gòn bằng
xe hơi.
Nhan đã khuyên dứt cha, nhưng ông Tám bảo không khá lắm, phải
đợi tìm dịp để xoay nghề mới, mới buông nghề cũ được, và nhứt là phải tìm chỗ ở
mới cho thật xa, vì hễ cải tà qui chánh thì phải trốn bọn đồng đảng cũ, chúng sợ
bị tố cáo, dám thủ tiêu ông lắm.
Chỉ có một đứa con, mà là con mất mẹ, ông Tám cưng Nhan vô
cùng, vì thế nên nàng tríu mến cha y như là tríu mến mẹ. Nên chi nàng đã âm thầm
đau khổ nhiều sau cuộc khám phá đó, phần lo sợ cho an ninh của cha, phần ngại
cho danh dự của gia đình vì ông Tám Huỳnh đă được thiên hạ kính nể bởi nếp sống
ra mặt của ông, không có vết nhơ và không ai biết đời sống thứ nhì bí ẩn của
ông hết.
Nhan đi nằm nhưng trằn trọc mãi không sao nhắm mắt được. Nàng
lắng tai nghe mưa gió và hình dung ra người cha già đang lướt đi dưới phong vũ,
trong bóng đêm, có thể lâm nguy bất cứ vào lúc nào.
Nàng xấu hổ mà nghĩ rằng tiền nàng ăn xài từ thuở giờ do một
nguồn lợi bất chính mà ra, và thầm trách cha đã làm xằng. Tuy nhiên đêm nay,
như bao đêm rồi, rốt cuộc Nhan vẫn tha thứ cho cha vì có bằng cớ hiển nhiên là
ông Tám đã không muốn thế và chỉ bị hoàn cảnh đẩy đưa vào đó thôi.
° ° °
Sáu giờ chiều, giờ tan học. Đường phố tỉnh lỵ Tây Ninh, nhứt
là những đường đưa ra ngoại ô, tấp nập học sinh các trường trung học công và tư
trong tỉnh.
Nhan đi hàng hai với người bạn học gái, cả hai đều đạp xe chầm
chậm để trò chuyện với nhau, thói xấu mà nhiều học sinh không bỏ được. Nàng đi
phía ngoài, bạn nàng đi phía trong và họ qua mặt rất nhiều bạn học khác đi bộ
cùng chiều với họ.
Nhan và cô gái thong thả đạp xe, vừa gặp một chiếc thổ mộ đi
ngược chiều thì bỗng một chiếc xe Jeep nhận còi để qua mặt chiếc thổ mộ và cô bạn
gái của Nhan thụt lại đàng sau cho nàng lấy chỗ để nép vào lề hầu tránh xe hơi.
Nhưng Nhan chưa kịp nép thì đã bị chiếc Jeep quẹt xe nàng ngã
vào lề cỏ và nàng văng ra, lọt tuốt xuống mương ở ven đường. Xe Jeep còn trớn
nên phải qua mặt thổ mộ xong mới ngưng lai được. Người lái xe nhảy xuống liền.
Đó là một thanh niên đẹp trai, sơ mi ngắn tay, quần kaki Thụy
Sĩ, mà nhiều học sinh nhận ra là Trung úy Công, viên sĩ quan Quan Thuế, vị trưởng
ty Quan Thuế rất trẻ tuổi trong tỉnh.
Công hốt hoảng chạy băng qua đường, leo lề cỏ toan nhảy xuống
mương thì Nhan đã lóp ngóp leo lên được rồi. Bộ y phục trắng của nàng hoen ố cả
nước bùn và mặt mày nàng tái xanh cỡ cắt không có lấy một chút máu.
- Cô có sao không ? Công hỏi người thọ nạn, giọng run run.
Nhan đã bứt hơi thở hoặc vì thở nhiều quá nên không đáp được.
Nàng đứng lặng một hồi mới nói:
- Không việc gì, thưa ông.
- Hú vía, không việc gì thật hả cô ?
Nghe câu hỏi ngớ ngổn ấy, học trò bu quanh đó từ nãy giờ, rộ
lên cười. Công cũng cười theo họ, và cô gái thọ nạn cũng cười.
Bấy giờ Nhan đã lấy máu lại. Hơn thế mặt nàng ửng đỏ lên vì
thẹn cho quần áo ướt mem và lôi thôi trước một thanh niên lạ.
Cũng vừa bình tĩnh lại được, Công bỗng thừ người ra khi nhìn
kỹ lại thiếu nữ lâm nạn. Chàng bị xúc động mạnh trước gương mặt đẹp thùy mị của
thiếu nữ và thân thể tuyệt mỹ cúa nàng mà bộ y phục ướt đã phát lộ ra.
Tuy nhiên chàng là người tai mắt trong tỉnh, phải có tác
phong đứng đắn. Nhìn thấy chiếc xe đạp bị cong vẹo, chàng xách lên một tay và
nói:
- Tôi sẽ đền cho cô một chiếc xe khác, y hệt như thế nầy. Còn
chiếc nầy tôi mang về sửa lại tôi dùng.
- Khỏi, ông cứ sửa rồi trả lại tôi cũng được.
- Cô ở xa lắm không, tôi xin đưa cô về nhà.
- Cũng gần đây, thưa ông, để em đi bộ về cũng được.
- Ngày mai cô cứ đi học bằng xe lôi, tôi chịu tiền xe cho cô
những ngày cô chưa có lại xe đạp.
- Dạ không sao.
- Tôi xin lỗi cô đã bất cẩn, gây thiệt hại cho cô. Rồi tôi
cũng sẽ đền bộ y phục của cô.
- Cũng khỏi, thưa ông.
- Mà thật cô không việc gì chớ ?
Đám học trò lại rộ lên cười.
- Chỉ phải sợ nhiều thôi, Nhan đáp.
- Thưa cô, cô bảo nhà cô ở gần đây là ở đâu ?
- Đằng kia. Cây gõ bên đường đó ông thấy chớ ?
Nhà em ở bên trong, giữa đồng trống, cạnh một con rạch nhỏ, một
cái nhà lai cũ.
- Tôi thấy rồi. Xin sẽ mang xe đến tận nhà trả cô. Cô cứ xem
số xe của tôi. Tôi ở trong thành phố.
Nhan muốn nói "Em biết ông". Nhưng không hiểu sao,
nàng chỉ làm thinh. Công chào nàng và cả bọn, rồi xách chiếc xe đạp chạy lại
ném vào xe Jeep của chàng.
Chàng ngoái lại nhìn đám học trò cất bước rất lâu mới rồ máy
cho xe chạy vào tỉnh lỵ.
Hôm sau là ngày chúa nhựt. Cô học trò thiếu xe chắc chắn
không khó chịu lắm vì hôm ấy cô không đi học. Trung úy Công dư biết thế nhưng
không hiểu sao chàng cứ nôn nao mang xe mới đến cho thiếu nữ gặp rủi ro.
Chàng ăn sáng qua loa rồi thay y phục để ra đi. Hôm nay chưng
diện dữ lắm, quần Tergal, sơ-mi ni-lông lụa sọc, cà vạt lòe loẹt, giày đánh thật
bóng.
Đứng trước gương để xem lại mái tóc, Công hơi ngượng, nói thầm:
"Nàng sẽ nghĩ sao về mình khi thấy mình ăn vận kẻng như vầy ? Nàng sẽ cười
mình chăng ? Nhưng mặc kệ. Nào có xấu hổ gì đâu".
Công vừa lái xe vừa dòm chừng bên đường. Chàng nhận ra được
chỗ chàng gây tai nạn chiều hôm qua, rồi sau đó vài phút, lại nhận được cây gõ
thoáng thấy hôm trước. Chàng ngừng xe tại nơi đó, đoạn nhìn vào trong.
Một con đường đất đưa thẳng vào nhà ở trong xa kia. Chung
quanh nhà có vườn cây trái. Ngôi nhà lai ba căn ấy đã khá cũ vì ngói móc đã ngã
màu đen.
Công bỏ xe đạp xuống đường rồi thót lên đó, đạp vào nhà. Cổng
không đóng, nhà không có chó thì phải, nên chàng vào tới sân mà không ai hay.
Nhan đang phơi y phục vừa giặt trên sợi đây kẽm giăng ngoài
sân. Gió sớm thổi bay phấp phới mấy tà áo dài, và người phơi vừa làm việc vừa
hát, giọng rất yêu đời như bất kỳ thiếu nữ nào:
Trời hồng hồng
Sáng trong trong …
Ngàn phượng rung nắng ngoài song.
Cành mềm mềm
Gió ru êm
Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên
Đàn nhịp nhàng
Hát vang vang…
Thiếu nữ mặc đồ ngắn, trông còn đẹp hơn mặc đồ dài nữa. Chiếc
áo lỡ và chiếc quần sa teng đen sậm đối chọi một cách nhiệm mầu với nước da trắng
hồng của nàng, khiến Công lặng người như chiều hôm qua, đứng nơi sân mà nhìn
trân trối cô nữ sinh mới quen sơ có một ngày.
Thấy Nhan sắp phơi xong chiếc áo cuối cùng, Công sợ bị bắt chợt
nhìn trộm, vội bóp chuông xe đạp để tránh tiếng. Chàng làm thế thì chính thiếu
nữ là kẻ bị bắt chợt chớ không phải chàng, bị bắt chợt đang ca hát, Nhan thẹn
quá vì vậy, và vì khách lạ đến quá đột ngột, nên nàng đứng chết sửng mấy giây.
Nhưng trấn tỉnh kịp, nàng cúi đầu chào khách và hỏi:
- Thưa ông, có phải…
- Chính là tôi. Đêm rồi cô không nghe gì lạ trong người chớ ?
- Thưa cám ơn ông, em không có sao hết.
- Tôi mang xe lại cho cô, chiếc xe nầy. Nhưng không tới thì
thôi mà hễ trót tới đây, tôi cần xin vào nhà chào ông cụ bà cụ của cô để cắt
nghĩa sự có mặt của tôi ở đây, nếu không thì không đúng lễ. Vả tôi cũng cần xin
lỗi ông cụ bà cụ đã gây thiệt hại cho cô.
- Ông khỏi ngại. Ba em không có nhà.
- Thế còn bà cụ ?
- Má em đã mãn phần từ lâu rồi. Nhưng hình như là ông mua xe
mới để …
- Phải. Tôi không làm sao khác hơn được. Người thợ sửa xe cho
biết rằng sườn cũ phải yếu đi, và có thể gây tai nạn thình lình cho người cỡi
xe. Lương tâm tôi không cho phép …
- Tốn hao của ông quá.
- Không hề gì, lỗi do tôi. Vả tôi vẫn dùng chiếc xe cũ được.
Công đẩy xe tới dựng dựa nền nhà rất cao, đúc bằng đá xanh
Biên-Hòa, kẽ da qui. Nhà nầy chắc cất hồi tiền chiến, vật liệu còn rẻ nên chủ
nhơn mới dám dùng toàn vật liệu mắc tiền.
Công thấy mình không còn gì để nói nữa, và theo phép thì
chàng phải rút lui. Nhưng chàng lại cứ muốn ở lại. Thiếu nữ thật thà cũng không
biết nói gì để cầm khách, mặc dầu nàng cũng cảm giác rõ rệt là thanh niên nầy
hy vọng được lưu lại một lúc.
Nàng bối rối và ấp úng muốn nói mà nói không được, nên lại thẹn
và trông còn ưa nhìn hơn. Công thấy rằng chính chàng phải thủ vai chủ động mới
mong được làm quen với cô gái nầy, bằng không, thì phải đoạn giao sau buổi gặp
mặt lần đầu và lần cuối nầy. Thế nên, nhìn vào dây áo quần phơi, chàng hỏi:
- Còn bộ đồ trắng lấm bùn hôm qua, cô đã thử giặt chưa ?
- Dạ, em giặt ngay hồi hôm, nhưng không tẩy hết dấu vết, nên
hồi nãy em đã nhuộm đen và phơi đây.
Nàng vừa nói vừa chỉ vào một chiếc áo dài.
- Bậy quá, tôi làm cho cô chịu thiệt hại nhiều.
- Không có gì thưa ông, áo trắng em mặc đi học, áo đen em mặc
đi chợ cũng chẳng bỏ đi đâu.
- À, cô học năm nào ?
- Thưa đệ tứ, thuở bé em đi học trễ.
Nhan thấy cần phải cắt nghĩa như vậy, kẻo chàng ta chê cô bọc
dở, đã mười chín tuổi đầu rồi mà chỉ mới học tới năm đệ tứ thôi.
- Thưa cô, ông cụ bao giờ mới về, tôi đợi có tiện hay không
cô ?
Nhan mỉm cười rồi đáp:
- Ba em đi Sài-Gòn nằm nhà thương, có lẽ vài tuần nữa mới về.
Công không tìm được lý do để ở lại, nên tức lắm. Chàng nhìn
quanh quẩn và thấy con rạch con chảy cạnh ranh vườn bên hữu, chàng hỏi:
- Chắc cô giặt-giụa dưới rạch nầy ?
Người nữ tiểu chủ biết khách cố kiếm chuyện nói cà kê để ở lại
cho lâu, nên cô đâm lo. Quan thuế với buôn lậu là hai điều tối kỵ nhau như Cảnh
sát với trộm cướp, không nên để anh chàng nầy la cà ở đây mà sanh chuyện chẳng
lành. Vì thế nàng đánh trống lấp và nói:
- Em cám ơn ông về chiếc xe đạp mới, mặc dầu em không có đòi
hỏi gì cả.
- Cô đừng ngại, Tôi bị trừng pbạt như vậy là nhẹ lắm đó và
tôi gặp may mà khỏi tốn hao nhiều hơn là đã sung sướng lắm rồi.
Công chờ đợi một câu hỏi tất nhiên của thiếu nữ, nhưng nàng
không hỏi gì cả, vì rất nóng lòng tống khách, nên chàng đành cụt hứng. Nếu cô
gái hỏi câu hỏi phải có nầy: "May gì ạ thưa ông ?" thì chàng sẽ đáp:
"May mắn được quen biết với cô" !
Nếu đứng trước người nào khác, Nhan đã hỏi như vậy. Nhưng con
gái một tay buôn lậu thì chỉ mong tống cổ ông Quan thuế đi cho rồi, thì còn bụng
dạ nào mà hỏi han điều gì, cho dẫu điều đó là điều khiến nàng thèm biết.
Là người có giáo dục và biết điều, Công lại cố lì, lần đầu
trong đời chàng. Tác phong không hay của chàng chỉ do chàng đã phải lòng cô gái
nầy quá. Chàng đã bị tiếng sét ái tình và thoáng nghĩ đến việc lập gia đình mà
chàng trốn tránh từ lâu. Thế nên chàng hỏi một câu rất kỳ cục:
- Sao cô không hỏi tôi may mắn chuyện gì ?
Nhan bật cười, không cầm giữ được nữa vì thấy sự cố lì của
anh chàng nầy hay hay, khiến nàng không thể thờ ơ với thanh niên đẹp trai ấy nữa.
Tuy nhiên nàng vẫn không dám bỏ thái độ dè dặt của nàng, trước khi cha nàng giải
nghệ cải tà quy chánh.
Vì thế mà cười xong, nàng lại bối rối, không biết phải xử sự
ra sao.
May quá cho cả hai: một bà lão trạc sáu mươi lăm bước vào
sân, tay bưng một rổ đồ ăn mua ở chợ.
- Bà dì em !
Đoạn nàng to giọng, vì bà dì của nàng nặng tai:
- Thưa bà Tư, đây là ông Tào cáo đã đụng xe con chiều hôm qua
đó.
Bà lão cung kính chào ông quan to mà chức tước cháu bà vừa
nêu ra, đã làm cho bà khiếp vía như vào ngày xưa. Rồi bà nói:
- Xin mời ngài vào trong uống chén nước.
Công nhìn Nhan, cười rất mỉa mai bằng mắt như ngầm nói:
"Cô thấy không, cô không mời, tôi cũng vào được" hoặc thầm nói:
"Trời định, cô ơi, cô không muốn cũng chẳng khỏi !"
Nhan cũng đương đầu lại với ông khách bướng bỉnh bằng một cái
nhìn hùng biện như muốn nói.: "Được, nhưng ông sẽ là khách của bà dì tôi
còn tôi thì bận việc ở ngoài sau".
Tuy nói thầm thế để thách đố chơi với kẻ cố lì, chớ Nhan vẫn
vào nhà cùng với ông khách. Cái ông khách mới ham làm khách chớ ! Ông ta vừa
nghe mời là mừng quýnh lên rồi hâm hở vào trong ngay.
Bà dì thì bưng rổ đi thẳng ra sau. Bà là một người bà con
nghèo, không con cháu, theo ông Tám để dựa mà sống, nên bà biết thân tránh trèo
đèo.
Ngôi nhà lai trang trí cũng lai căng, ngoài và trong ăn hợp với
nhau một kiểu, cái kiểu khá giả của thời 1920-1940 ở thôn quê miền Nam, bên
ngoài mặt tiền xây gạch, nhưng bên trong cột và vách lại toàn bằng gỗ, sa lông
Lu Y thập tứ, ván gõ chơn quỳ chạm trổ tỉ mỉ kê cạnh bàn viết tân thời.
Nhan mời khách ngồi tại bộ sa lông, mặt ghế bằng gỗ nu, rồi
xin phép đi rót nước. Khi nàng trở lên Công hỏi:
- Sao cô lại gọi tôi là Tào Cáo ? Tào Cáo là gì ?
- Dạ, bà dì của em không biết danh từ mới "Trưởng Ty
Quan Thuế" nên em phải dùng danh tư xưa.
- Té ra cô đã biết tôi, hân hạnh ! Tôi xin tự giới thiệu
thêm. Tô Ngọc-Công. À, sao cô lại biết danh từ xưa còn tôi thì không biết ?
- Em nghe bà dì em dùng danh tư ấy nhiều lần, em hỏi nên biết.
- Nhưng tiếng Tào Cáo do đâu mà có, nghe lạ như là không phải
tiếng Vìệt ?
- Em đọc một quyển khảo cứu, thấy cắt nghĩa như thế nầy: Tào
Cáo là do tiếng Toa Cáo, là thổ ngữ Triều Châu mà ra. Toa Cáo nghĩa là con chó
lớn…
Công cười ha hả và nói:
- Té ra tôi bị gọi là con chó lớn ?
- Em xin lỗi ông, em không hề muốn ám chỉ như thế. Vả tiếng ấy
chỉ gọi Quan Thuế thời Tây thôi.
- Tôi nói cà rỡn chớ không có mích lòng đâu, cô cứ tiếp tục
giải thích.
- Dạ ngày xưa trong thôn quê miền Nam, nhứt là ở Hậu Giang,
người Triều Châu ở rất đông và họ ưa nấu rượu lậu và rất ghét Tây Quan Thuế,
nên mới gọi bọn Tây ấy bằng cái tiếng không hay đó, vì Tây Quan Thuế hay lục lọi,
hay đánh hơi.
- Nhưng mà hay, lời cắt nghĩa của cô rất hay.
- Dạ em chỉ nói theo sách thôi.
- À, xin cô cho tôi biết quý danh.
- Dạ em là Nhan, Lý thị Nhan.
Nữ tiểu chủ không thích làm quen với ông khách nguy hiểm, nên
không buồn xưng tên họ khi ông ta tự xưng tên ông. Giờ nghe hỏi, nàng chợt thấy
mình thật kém lịch sự nên gỡ tội bằng câu nói êm ái đầu tiên mà nàng thấy cần
ban cho khách:
- Họ của ông nghe hay quá !
- Cô nghe hay, có lẽ chỉ vì lạ tai thôi, bởi họ Tô rất ít có.
Nói xong, người khách bướng bỉnh nầy xin phép uống miếng nước,
rối đứng lên xin về ngay.
Nhan bỗng hối hận hết sức, đã cư xử kém đẹp với con người nầy.
Hắn không bao giờ vô lễ trong cử chỉ hay lời ăn tiếng nói. Sở dĩ hắn muốn vào
có lẽ vì tự ái bị thương, bởi hắn là khách tử tế lại không được mời vào nên quyết
tranh đấu ngấm ngầm cho khỏi bị chạm thể thống. Tranh đấu thắng lợi, hắn về
ngay, thật là lịch sự.
Và bỗng nhiên nàng nghe lòng mình có cảm tình nhiều với thanh
niên đẹp trai ấy, nên khi tiễn chàng ra cửa, nghe chàng hỏi: "Thỉnh thoảng
tôi xin phép ghé thăm cô, cô có bằng lòng hay chăng ?" Nàng vội đáp, quên
mất dè dặt cần thiết của con một tay buôn lậu:
- Rất hân hạnh được ông chiếu cố.
° ° °
Sáng thứ hai, ông Trưởng Ty Quan Thuế vào buồng giấy, mặt mày
vui tươi như vừa được thăng chức. Cô Thúy, nữ thư ký đánh máy của Ty, liếc nhìn
trộm chàng mà mỉm cười. Từ ngày ở bên Hành Chánh được chuyển qua đây, cô Thúy
có dịp quan sát ông chủ sở trẻ tuổi nầy, thấy ông có nhiều đức tính, lại đẹp
trai nên cô rất mến ông, rồi sau lại thầm yêu ông ta.
Nhưng Công lại bận nhiều công việc, hay cau có, ít để ý đến
gái đẹp. Chàng là một công chức có tác phong đạo đức gương mẫu, nên càng tránh
thân mật với nữ nhân viên. Hôm nay thấy ông chủ trẻ vui vẻ vừa vào phòng giấy vừa
huýt sáo, Thúy bằng lòng lắm. Nếu ngày nào cũng được như thế thì có lẽ hôm nào
đây, ông ta sẽ chợt thấy nàng, một thiếu nữ xinh đẹp nhưng lại bị ông ấy xem
như là không có, hay xem như là bất kỳ một thầy ký nào.
Thúy mang giấy má đến cho ông Trưởng Ty ký, và khi bước lại gần
bàn giấy của Công, nàng nghe chàng lẩm bẩm: "Tào Cáo, Tào Cáo" rồi cười
lên khanh khách.
- Thưa ông có ba ước thư gấp.
- Cô nghe trong người có sao không ?
Thúy kinh ngạc hết sực trước câu hỏi kỳ dị ấy. Còn Công thì sực
tỉnh, bối rối và vội đính chánh.
- À không, à không phải. Tôi đang đọc một quyển sách. Cô nói
gì ?
- Dạ có ba bức thư gấp.
- Được cô để đó cho tôi.
Thúy bước lui nhưng mắt vẫn không rời ngươi chủ sở kỳ dị.
Chàng mới vui đó bỗng buồn đó, và bây giờ chàng đang thẫn thờ ngó mông ra
ngoài.
Suốt tuần lễ ấy, ngày nào Công cũng muốn trở lại thăm Nhan,
nhưng rốt cuộc lại thôi. Chàng sợ cô gái thọ nạn thấy chàng săn đuổi quá mà đâm
ra khinh rẻ chăng, nên cứ dời ngày viếng thăm nầy lại mãi. Chàng bứt rứt không
an, tối nằm thì trằn trọc, ban ngày vào sở thì đâm chiêu.
Hễ Công bực bội bao nhiêu thì Thúy xao xuyến bấy nhiêu. Mặc dầu
chưa được Công để ý đến, nàng vẫn an lòng, vì tuy Công không yêu nàng mà cũng
chẳng yêu ai. Nhưng mấy hôm liền nàng quan sát và đoán thấy một biến cố trong đời
tình cảm của ông chủ sở độc thân nầy: ông ta không còn sống bình thản nữa mà rất
có thể một cô gái nào đó đã len vào đời ông.
Thúy đau khổ vô cùng mặc dầu cái ghen của nàng thật vô lý:
ghen với một kẻ không chắc có và ghen vì một người không thèm biết đến nàng.
Công nóng lòng, Thúy xốn xang như vậy cho đến sáng chúa nhựt
sau thì chàng ra ngoại ô để thăm người bạn gái mới quen. Lần nầy chàng lại ăn
diện kỹ hơn lần trước nữa và khi thoáng thấy cây gõ đàng xa, chàng hồi hộp hết
sức, không biết người ta còn chịu tiếp chàng hay không, hay câu nói cuối cùng của
người ta chỉ là một câu xã giao vì phép lịch sự thôi.
Có lẽ cũng đoán biết hôm nay có khách nên Nhan đã giặt gịa
phơi phóng từ hồi sớm, và đang sẵn sàng nơi sa lông. Nàng bước ra thềm để đón
Công và rất bằng lòng mà thấy chàng đến trễ, vì như vậy bà dì đã đi chợ về rồi,
đang lui cui đằng sau bếp. Bà điếc lắc, không biết được trên nầy đang có khách.
Nàng rất ngại tiếp bạn trai, mặc dầu bà dì cũng dễ tánh.
- Chào ông !
- Chào cô. Thưa cô, ông cụ đã về chưa ?
- Dạ chưa.
- Nhưng chắc cô có được tin tức ở dưới ông cụ có đỡ hay
không, thưa cô ? Và ông cụ nằm nhà thương nào ?
Công chỉ vì lịch sự mà hỏi thăm sức khỏe của người vắng mặt,
chớ chẳng thiết tha lắm đến ông già mà chàng chưa biết. Chàng ngỡ thiếu nữ sẽ
vui vẻ mà được người ta săn sóc đến người thân yêu của nàng, chớ không dè lại
thoáng thấy nàng châu mày và không giấu được vẻ khó chịu. Nhưng cô ta khôn khéo
hết sức, đổi buồn làm vui ngay và rối rít cám ơn để xí xóa câu hỏi rất khó đáp
của khách.
Công cũng thông minh, đoán thấy có bí ẩn gì trong gia đình nầy
nên lãng sang chuyện khác:
- Cô đi xe mới, chắc không thích bằng xe cũ mà cô đã quen ?
- Dạ, quả đúng như thế. Nhưng rồi nó cũng sẽ quen đi.
- Năm nay cô thi xong, học thêm hay nghỉ ?
- Ba em tính để em học thêm. Nhưng em thấy là cần phải đi
làm. Vì vậy em sẽ cố gắng để lầy bằng rồi xuống Sài Gòn tìm chỗ làm.
- Tôi không rõ gia đạo của cô ra sao, thật không dám bàn góp,
nhưng theo chỗ tôi biết thì rất khó mà tìm được một chỗ làm, và tìm được rồi,
cũng khó sống với đồng lương họ trả. Cô nên học để lấy tú tài là hơn. Nhưng
thôi, đó chỉ là ý kiến vặt của tôi thôi.
- Ông bảo họ trả bao nhiêu mà khó sống ?
Nhan chỉ biết đời học trò của nàng thôi nên hỏi thế.
- Nữ thư ký đánh máy hai ngàn một tháng là cao lắm rồi, bán
hàng thì chỉ được một ngàn rưỡi thôi. Nhưng ở Sài Gòn tốn kém chớ đâu phải như ở
đây đâu.
Nhan chưng hửng, thật là nàng mới nghe biết lần đầu số tiền
mà một thiếu nữ học lực cỡ nàng, có thể kiếm được. Hèn chi cha nàng đã nói nhiều
đến sinh kế khó khăn và bảo rằng đổi nghề rất khó.
Hy vọng làm kiếm tiền để nuôi cha cho ông ấy giải nghệ vừa
tiêu tan sau tiết lộ của người thanh niên nầy. Nhan ngó mông ra đường mà nghĩ vẩn
vơ giây lâu rồi sực nhớ đến khách, nàng hoảng hốt gỡ tội lạnh lạt bằng sự vồn
vã:
- Thưa ông, chắc ông không phải là người địa phương ?
- Vâng, tôi từ xa đến. Gốc tôi ở Định Tường.
- Định Tường là tỉnh phì nhiêu trù phú, không khô cằn như xứ
tôi. Lên đây, ông có nghe cảm giác nóng bức lắm không ?
- Không… nghĩa là tỉnh nầy tương đối hơi khô khan, nhưng vẫn
chưa phải là sa mạc. Người ở đây lại rất tốt và bấy nhiêu đó đủ lắm cho tôi rồi.
- Thưa ông, sao gọi là Quan Thuế ? Thuế nào lại không phải là
của … quan tức của nhà nước ?
- Quan đây là cửa ải, chớ không phải ông quan. Quan thuế là
thuế đánh vào hàng hóa đi qua các cửa ải ở biên giới. Ngày xưa, có lẽ thiên bạ
ít buôn lậu và sở quan thuế chỉ có mỗi một công việc là bắt rượu đế thôi, nên đồng
nghiệp thuở ấy của tôi mới bị gọi là Tào Cáo như cô đã cho biết hôm nọ.
Hai người cười xòa với nhau. Tuy nhiên Nhan không trọn vui vì
cứ phải nhớ lại chức vụ của Công rất nguy hiểm đối với gia đình nàng.
Một người bạn gái lớn tuổi hơn nàng đã kể cho nàng nghe những
nỗi khổ tâm của chị ấy cách đây mười năm. Chị ấy tả tâm trạng của chị ấy hay
quá, nhưng chỉ bây giờ nàng mới thấy được tất cả mọi nhận xét, mọi phân tách của
chị ấy là đúng vì nàng đang đồng cảnh với chị ấy.
Số là chị bạn nầy, hồi còn quân đội Pháp ở đây, có ông cha đi
kháng chiến.
Đơn vị Pháp quân trú phòng trong tỉnh không biết điều đó, và
thấy chị đẹp, một viên sĩ quan phòng nhì của Pháp hay lân la nhà chị.
Kháng chiến kỵ với phòng nhì, y như buôn lậu kỵ với quan thuế,
và mặc dầu tình quen biết giữa chủ và khách có đẹp bao nhiêu, chủ nhà cứ nghe
áy náy không yên trong lòng.
Ác một nỗi là vô tình hay hữu ý, vì lòng tốt hay vì xã giao
không rõ, Công cứ quanh quẩn mãi trong những câu chuyện làm cho nàng sợ sệt và
khó chịu. Chàng đề nghị:
- Hôm nào cô định đi Sài Gòn thăm ông cụ, cô cho tôi hay. Tôi
có xe, sẽ đưa cô đi, để nhơn dịp ấy trình diện với ông cụ luôn thể. Quen biết với
cô mà không được ông cụ biết đến là không phải lẽ. Xe tôi là xe riêng chớ không
phải công xa đâu mà cô ngại.
Nhan lại bối rối vì Công đã, một lần nữa, đưa nàng vào ngõ
bí. Không biết làm sao để tránh khỏi những khó chiu ấy, nàng mời người khách dễ
mến nhưng đáng sợ nầy ra vườn để xem con rạch mà hôm nọ y đã ngỏ ý muốn biết.
Con rạch chỉ nhỏ bằng bộ ván ba thôi. Khi hai người ra đến nơi, Nhan cười hỏi:
- Ở tỉnh ông chắc mương lớn hơn con rạch nầy ?
Công biết là Nhan bị mặc cảm nhỏ nhoi về xứ sở nên vội xóa ngộ
nhận của nàng:
- Quả đúng như vậy. Nhưng cô đừng tưởng tỉnh tôi oai hơn tỉnh
cô. Rạch hay mương đều do tính chất của nó chớ không phải do lớn hay nhỏ, mà rạch
thì dầu hẹp bao nhiêu, cũng quan trọng hơn những cái mương rộng.
- Tánh cách của các dòng nước khác nhau như thế nào, ông ?
- Rạch là một dòng nước chảy thẳng ra sông. Vì thế mà sông Bến
Nghé dưới Sài-gòn rộng là thế mà chỉ được người Pháp gọi là rạch thôi - họ gọi
đúng theo nguyên tắc địa lý ấy mà: rạch Bến Nghé chỉ đổ ra sông Đồng Nai, chớ
không hân hạnh được chảy ngay ra biển như các con sông xứng danh là sông: Và
cũng vì thế mà con rạch danh tiếng bên Tàu, rạch Hoàng Phố, chỉ được gọi là rạch
mặc dầu có nơi nó rộng bằng sông Cửu Long của ta.
Con rạch của cô tuy nhỏ, nhưng xứng danh là rạch thì nó vẫn
đáng kể hơn những cái mương rộng của tôi nhiều.
Nhan bỗng nghe tủi thân đến rưng rưng nước mắt. Nàng có học
cao, có giàu sang đến đâu, cũng chỉ là con gái một người không lương thiện, và
những mối quen biết của nàng sẽ lánh xa nàng, khinh rẻ nàng, kể cả mối quen biết
mới nầy mà nàng rất có cảm tình.
Cái gì cũng được gọi đúng chánh danh của nó chớ không thể xem
mặt đặt tên, mương phải cứ là mương, có rộng lớn bao nhiêu cũng mặc, và nàng vẫn
cứ là con của một tay buôn lậu chớ không thể leo lên địa vị con gái nhà lành.
Chủ nhà đã bắt ngang qua rạch một chiếc cầu tre sơn đỏ, trông
cảnh mường tượng như cảnh thôn dã đất Phù Tang. Nhan buồn dàu dàu và quên mất
khảch, nàng thơ thẩn bước lên cầu, mặt cầu cong hình lưng lừa nên nàng đứng cao
hơn người dưới đất khiến Công cảm giác như là nàng vừa xuất hiện thình lình.
Chàng lặng nhìn thiếu nữ đang day lưng lại phía chàng, thưởng
thức một thân thể tuyệt mỹ mặc dầu vì tuổi tác nên còn ngập ngừng chưa định hẳn
hình thái mà đã khéo tạc như những pho tượng cẩm thạch Hy Lạp rồi.
Công rất mê chụp ảnh và luôn luôn bỏ máy ảnh theo túi khi ra
khỏi nhà. Chàng thò tay vào túi quần rút máy ra rồi gọi:
- Cô Nhan, day lại để tôi chụp ảnh
Nhan giựt mình, sực nhớ rằng mình đang có khách, nên vội vã
xây lại. Nàng mỉm cười để chuộc tội chớ không phải vì thấy ống ảnh đã chĩa ngay
nàng mà lấy bộ mặt vui tươi.
Công không thể biết mà cũng không cần biết lý do nào khiến
thiếu nữ mỉm cười vì chàng bận ngắm nghía lại để rồi bấm nút.
Xong đâu đấy, chàng nói:
- May quá, ảnh cô sẽ đẹp lắm vì cô vui.
Chỉ bây giờ, khi chụp xong một dáng điệu lý tưởng mà chàng sợ
mất trong nháy măt, Công mới đủ thì giờ nhận thức rằng đó là may mắn cho chàng
và cho người có ảnh chụp: Nhan không có vẻ gì chuẩn bị, không có vẻ gì lấy bộ để
cho ảnh đẹp cả. Nàng cũng chẳng có lý do để vui tươi thình lình như vậy nhưng cứ
vui tươi được. Thế là may mắn tình cờ hẳn đi rồi.
Nhan đang gượng tươi cười để tạ tội đã quay đi nơi khác, thì
tươi cười thật sự ra. Từ lâu rồi nàng ao ước được có ảnh chụp nàng đứng trên cầu
tre ấy, nhưng bạn hữu của nàng chẳng ai có máy ảnh hết, còn gọi thợ ảnh trên tỉnh
xuống vì một bôi hình thì to chuyện quá nên nàng đành thôi.
Nhan lo lắng hỏi Công, như trẻ con đã có chút ít kinh nghiệm
về những "cái được" quí báu trong đời chúng nó, một chiếc bánh ngọt,
một món đồ chơi, phải cầm chắc quà trong tay rồi mới dám tin tằng mình được:
- Ông chắc rằng ảnh nầy không hỏng chớ ?
- Chắc, tôi chụp hình khá thạo. Vả máy nầy đã tốt lại dễ xử dụng,
đương giờ nầy, ánh sáng cũng tốt. Chính tôi cũng thích được chụp một bôi đứng
trên cầu, nếu cô vui lòng giúp cho, tôi sẽ chỉ dẫn vài phút là cô chụp được
ngay.
- Sao em lại không vui lòng ?
Nói xong, Nhan vội vàng xuống cầu và bước lại gần Công. Viên
sĩ quan quan thuế trao máy ảnh cho thiếu nữ và nói.
- Ta đứng yên thì nên lấy tốc độ chậm nhứt. Bánh xe giữa canh
ánh sáng, còn cái nút ở dưới hết canh quãng cách giữa người chụp và người được
chụp. Cô nhắm vào tấm kính nhỏ nầy cô thấy cây cầu rồi chớ ?
- Dạ rõ lắm.
- Được rồi.
Công giao máy luôn cho Nhan rồi leo lên cầu.
Lần đầu tiên xử dụng máy ảnh, Nhan trông giống như một anh
tân binh vừa tập xong võ khí và được cho bắn phát súng đầu tiên, hồi hộp lắm và
nhắm mắt bấm bừa, trúng hay trật, thật không bảo đảm chút nào.
Và lần đầu tiên, Nhan ngắm người bạn trai mới nầy. Phải, nàng
có thể xem Công là một người bạn được vì họ đã khá thân với nhau rồi, sau mấy lần
thăm viếng của Công và nhứt là từ nãy đền giờ.
Công đẹp trai, khoẻ mạnh và hiên ngang. Chàng đứng trong một
dáng điệu thường, không làm bộ làm tịch, không kiểu cách để che giấu cái yếu ớt
của mình hoặc che giấu sự bối rối trước một thiếu nữ, hai tay xụi xuống chớ
không cần trốn vào túi quần.
Dáng đứng ấy là dáng đứng khó khăn nhứt, đứng cho được tự
nhiên, hai tay không mắc cỡ, đã là giỏi lắm rồi. Phương chi Công lại có bộ vừa
hùng, vừa nhã, không nhơn tạo một chút nào, thì chàng còn hấp dẫn hơn đến đâu.
Bấm máy xong, Nhan lại lo sợ hỏi:
- Ông liệu em thành công hay chăng ?
Công không đáp, xem lại máy rồi hỏi:
- Quãng cách thì tôi đã canh cho cô rồi: cô lấy ánh sáng đúng
chỉ còn …
- Chỉ còn gì vậy ?
- Chỉ còn … cô thấy hình tôi đứng ngay giữa tấm kiếng nhắm chớ
?
- Dạ, ngay ở giữa.
- Không mất đầu, mất vai chở ? Công cười hỏi thêm.
Nhan cũng cười mà rằng:
- Trọn vẹn ở trỏng.
- Như vậy thì được rồi. Để cô thấy rõ lòng thành thật của
tôi, tôi sẽ trao cuốn phim cho cô đi rửa ở đâu tùy ý cô. Như vậy cô khỏi lo tôi
lạm dụng ảnh của cô.
- Em đâu dám nghĩ quấy thưa ông.
Tuy nói thế, Nhan cũng giựt mình mà chợt nghĩ đến điều đó. Ở
tỉnh, một cô con gái nhà lành mà có ảnh lọt vào tay con trai sẽ mang tâm mang
tiếng rất phiền, cho dầu ảnh không mang lấy một lời đề tặng nào cả.
Và chính vì thế mà nàng vừa chợt thấy rằng người thanh niên
mà nàng tiếp đón quá dè dặt, quả là người đứng đắn đáng tín nhiệm.
Công lại nói:
- Cuộn phim nầy được hăm mốt bôi cả thảy. Tôi bỏ ba bôi lót
ngoài đầu cuộn, vì ba bôi ấy có thể bị ánh sáng xâm phạm, chụp hay hư, và tôi
đã chụp rồi ở nhà hai bôi nữa. Nãy giờ ta chụp hai bôi vị chi là bảy bôi được
chụp. Còn những mười ba bôi nữa. Nếu đợi chụp hết cuộn thì lâu quá. Cô cho tôi
chụp thêm vài bôi cho mau hết được chớ ?
- Ông lại còn phải hỏi ! Không mấy thuở mà em được chụp hình
tại nhà, em xin ông chụp càng nhiều càng hay.
- Tôi muốn chụp một bôi cô ngồi dựa bờ rạch giặt áo, bọt xà
bông nổi lên trắng phau phau.
- Được, để em đi chuẩn bị.
Nhan chạy vào nhà để lấy áo, lấy xà bông. Trong nháy mắt,
nàng đã trở ra và đi xuống cầu ao.
Đó là một loại cầu đặc biệt rất được thông dụng ở miền Nam
nhưng lại không có tên. Danh từ cầu ao là tiếng mượn của miền Bắc để chỉ thứ cầu
ván bắt từ trên bờ xuống khỏi mặt nước độ một tấc để ngồi trên ấy giặt gịa, rửa
ráy.
Công cầm máy chạy lên cầu tre sơn đỏ để qua bên kia rạch, vì
cô gái giặt áo trên cầu ao tức là day mặt qua bờ rạch đối diện.
Bọt xà bông đùn lên, vung cao, trắng buốt như một đống bông
gòn, nổi bật lên cái đen huyền của y phục Nhan và của tấm ván cầu lâu đời, bị
nước thắm đã xuống màu.
- Trông cô giống như là cô gái giặt sa ở bến Trữ La.
- Mong ông không phải là Phạm Lãi. Em không thích bị cống Hồ
đâu.
- Cống Hồ để cứu nước cô cũng không thích sao ?
- Có bổn phận thì phải làm chớ ai lại thích. Nếu thích Trịnh
Đán đã không chết.
- A, cái vụ Trịnh Đán ấy khả nghi lắm. Sách Tàu thường nói
láo, chớ có ai mà nhớ nhà đến mang bịnh mà chết lận.
Hai người đã trở nên thân, và sau đó, Nhan có chụp thêm cho
Công mấy bôi nữa.
Đúng y theo lời hứa, Công vặn nút để cuốn hết cuồn phim vào
cái vỏ làm bằng giấy trừ ánh sáng, rồi mở máy lấy gói phim ấy ra trao cho bạn.
- Phải hy sinh năm bôi cuối cùng, nhưng ta khỏi phải đợi, có
thể rửa ngay trưa nay. Vả ba bôi chót cũng không chắc xài được thì kể như chỉ
lãng phí có hai bôi thôi.
Họ trở vào nhà, vì Nhan đòi đãi bạn nước dừa, người bạn mới
mà khi nãy, chụp chàng khoác nước rạch để rửa mặt, nàng đả buột mồm gọi bằng
anh. Công đã mừng rỡ hết sức, đã xin nàng cứ giữ mãi lối xưng hô ấy, mặc dầu
chàng chưa dám gọi lại nàng bằng em.
- Cô đưa rửa ảnh nầy nội trong ba hôm là họ làm xong. Bôi nào
chụp tôi mà được, xin cô cho tôi một tấm mỗi cái hình. Ảnh của cô tôi chưa dám
xin vội.
- Nếu không lạm dụng lòng tốt của anh, em mượn anh chiếc máy
nầy trong vài hôm nhé ! Em muốn chụp mấy người bạn gái trong khung cảnh quanh
nhà.
- Rất vui lòng, nhưng để tôi vô phim mới cái đã.
- Không, em đưa phim họ rửa rồi nhờ họ vô phim mới chớ không
dám phiền anh.
- Phiền đâu mà phiền, nhưng thôi tùy cô.
Họ đã trở nên thân ! Công không dè mà chàng làm quen thân được
với một cô gái đã có dấu hiệu rõ rệt muốn tránh chàng vào buổi đầu gặp gỡ.
Chàng thấy chàng đã hết trơ trọi một thân trên đường đời và nghĩ đến hôn nhơn với
Nhan một cách nghiêm trang.
Chàng đã biết Nhan ít nhiều và sẽ biết nàng thêm. Nhan được lắm
đó. Nàng dè dặt một cách rất dễ yêu và vui vẻ thân mật trong vòng nết na, thật
rất đáng quí.
Chàng đã yêu, chưa nhiều lắm, nhưng đã yêu hẳn rồi, không còn
ngờ gì nữa.
Chàng thanh niên hăm tám tuổi ấy mà còn yêu mau như thế, huống
hồ gì là cô gái dậy thì mà giấc mơ đầu tiên trong đời là một người con trai như
thế… như thế… mà Công đã đáp đúng lại như là tiếng vang đáp lời gọi.
Hình ảnh người con trai dễ mến nầy là hình ảnh đầu tay được
ghi vào tấm phim sống của lòng nàng, tấm phim gói kín trong giấy tị ánh sáng từ
bấy lâu nay, nàng chỉ bấm vào một cái nút thì tiếp vật kính bịt trước ống ảnh
thu hút hình chàng vào tấm phim trinh bạch ngay và không hóa chất, không ảnh hưởng
khách quan nào tẩy xóa nổi hình ảnh đó nữa.
Giấc mơ con gái vừa nổi lên là đúng lúc vị hoàng tử đẹp trai
xuống ngựa nghiêng mình thi lễ.
Ôi ! Giấc mơ thiếu nữ đẹp biết bao, nàng không phải chờ đợi
lâu và mộng đến trong mơ sao mà dễ dàng quá. Hạnh phúc chỉ ở trong tầm cánh tay
thôi, nàng vói tới là nắm lấy nó được rồi.
Nhưng mà... ! Nhan ứa nước mắt khi thực tế phũ phàng đánh thức
tỉnh phần lý trí nơi nàng vốn bị dòng tình cảm dồi dào và mãnh liệt đè bẹp đi
xuống: nàng không thể làm vợ một công chức quan thuế mà không để lụy cho chàng
về sau, nếu chàng mù quáng mà cưới nàng đi nữa.
Cuộc vỡ lòng yêu cũng đồng thời là cuộc vỡ lòng đau khổ, và
chưa chi cô nữ sinh trong trắng nầy đã phải nhỏ lệ vì cuộc đời mà cô lầm tưởng
là dễ dàng và tốt đẹp lắm.
Chiều thứ năm Công đến thăm bạn với chiếc máy ảnh vừa được vô
phim mới. Hôm chúa nhựt, khi xin phép ra về, chàng đã len lén nhét máy ảnh vào
túi quần, không muốn Nhan tốn tiền phim. Nhan ngỡ bạn không bằng lòng cho mượn
máy nên mặc dầu thấy hành động của Công, vẫn không nói gì.
Nhan chạy ra sân đón bạn để khoe:
- Bức ảnh nào chụp cũng được hết thảy anh à. Ảnh của em đẹp lắm,
nhưng ảnh của anh thì hơi kém. Thợ họ bảo tại người chụp lấy ánh sáng nhiều
quá.
Nhan cầm sẵn xấp ảnh trong tay và chìa ra cho bạn xem. Công
đưa tay đỡ lấy mớ hình ấy, xem ảnh chàng trước vì nó nằm trên hết mà cũng vì
muôn biết tác phẩm đầu tay của Nhan ra sao, ảnh nào của chàng mà bị chôn ở dưới
cuối xấp chàng cũng moi lên mà xem trước. Chảng khen:
- Cô mát tay lắm đó ! Mới chụp lần đầu mà thành công đến thế
nầy là giỏi lắm rồi. Quả ảnh tôi bị hơi nhiều ánh sáng, nhưng cũng được.
- Ảnh của anh em rửa mỗi bôi ba bản. Anh cho em xin một bản
nha ?
- Tôi chỉ mong được tặng cô mà chưa dám đó thôi.
- Em dán ảnh của anh vào tập an-bum của em.
- A... tập ảnh ! Thế cô đã cỏ nhiều ảnh rồi mà tôi quên mất.
Cô cho tôi xem tập an-bum ấy được chớ ?
- Mời anh vào nhà rồi hẳn hay.
Công theo chủ nhà vào ngồi ở ghế sa lông trong khi nàng chạy
vào trong buồng một lát. Nhan trở ra ngay với một tập ảnh bìa gỗ sơn mài, vẽ
lăng nhăng cầu kỳ. Đó là loại tập ảnh bình dân muốn làm ra vẻ "luýt"
một cách ngây ngô hay được người bình dân ta mua làm quà cưới.
Tập ảnh đã gần đầy, chỉ còn có bốn trang ở không.
- Sao cô lại dùng cả hai mặt giấy ? Công hỏi,
Nhan mỉm cười, đáp mà không e thẹn:
- Em cứ tiếc trang giấy bỏ không. Nhưng cái tục dùng giấy tập
ảnh một mặt vô lý và vô ích quá !
- Cô nói có lẽ đúng, vì giữa bất kỳ hai trang nào, cũng có giấy
lót thì không thể bảo là sợ hư ảnh. Nhưng cô lại dán ảnh vào trang chớ không
dùng góc.
Sau thận xét nầy, Công bật cười: Nhan chơi ảnh đúng y tác
phong của một nữ sinh ở tỉnh nhỏ, hà tiện từ chút, hoặc không theo đúng lối
chơi. Nhưng cô gái lại giải thích rất hữu lý:
- Ấy, dùng góc, tụi nó ăn cắp ảnh hết. Dán dính lại như vậy
khó gỡ anh à.
Nhan trình ra trang ảnh chót với những ảnh mới nhứt cứa nàng
và của bạn hữu nàng, có lẽ vì nàng ưng ý nhứt mấy bức ảnh đó.
Nhưng Công lại lật lùi các trang của tập ảnh vì cô gái bây giờ,
chàng đã biết bằng xương bằng thịt, còn xem ảnh làm gì.
Lội ngược dòng thời gian, Công làm quen với một cô Nhan năm
ngoái, một cô Nhan năm kia, còn để tóc thề, rất quê mùa với những ảnh chụp nào
cũng cầm một bó hoa, cũng ngoẻo đầu như đã ngửi mùi thơm của chùm bông, với những
ảnh chụp nào cũng đứng trước tranh sơn thủy cải lương vẽ nhà lầu, vẽ lầu đài La
Mã hay vẽ vườn bông kiểu Patenôtre. Nhưng không vì sự quê mùa ấy mà người chụp ảnh
bớt đẹp.
Công lại làm quen với một cô Nhan sáu năm về trước, tóc hớt
bom-bê, má phính, trông cứ muốn cắn một cái.
Còn cô Nhan thuở lên bảy, đứng với mẹ cũng dễ thương lắm.
- Hồi đó, hồi em lên bảy, anh đã mười ba rồi.
Công cũng buột mồm mà xưng hô thân mật bằng hai tiếng
"anh, em" như Nhan hôm trước. Nói xong chàng sợ hãi nín thinh một hồi.
Thấy Nhan không phản đối, chàng đâm bạo nói tiếp, tỏ ý tiếc về một điều:
- Trời ! Sao hồi đó anh không quen với em !
Nhan cười dòn mà rằng:
- Kẻ góc bể, người chơn trời, thì chỉ có lớn lên rồi họa may
mới gặp nhau trên đường đời thôi. Trẻ con không dám rời mẹ, còn quen xa làm sao
được.
- Cỡ như ta đã quen nhau thuở bé, rồi xa nhau, lâu lâu nhớ
nhau, chắc buồn lắm em hớ ?
- Để em tưởng tượng coi ra sao. Ừ …. chắc buồn lắm.
- Anh cảm giác hình như là đã quen với em lâu rồi, lâu lắm rồi,
quen với nhau đâu hồi kiếp trước, nên giờ gặp em, anh không lạ bởi hình bóng của
em, anh như còn giữ trong nầy.
Công vừa nói những lời chót ấy vừa chỉ vào trán chàng. Cô gái
ngây thơ nầy không biết là Công đã bước những bước đầu trên đường tỏ tình nên
cười dòn rồi hỏi:
- Anh tin có kiếp trước ?
- Hẳn là phải có. Hai người hoàn toàn xa lạ với nhau không thể
làm quen với nhau mau chóng như thế nầy đâu.
- Nghe anh nói, em cũng đâm tin thuyết luân hồi.
- Có phải ba đây hay không em ?
Công vừa nói chuyện vừa xem ảnh vì chàng sợ hãi lời lẽ táo bạo
của chàng nên không đám nhìn thẳng Nhan như hôm nay.
Lật tập an-bum tới một trang kia, dán toàn ảnh ông già bà cả,
chàng chú ý đến một người đàn ông rất có vẻ gia trưởng lắm, nên hỏi thế rồi ngước
lên nhìn bạn.
Chàng ngạc nhiên lắm mà thoáng thấy vẻ kinh sợ, hiện lên mặt
Nhan một cách đột ngột liền ngay sau câu hỏi không có gì rắc rối của chàng.
Nhưng cô nữ sinh khờ dại nầy có một bản lĩnh thọ hưởng của một ông cha hảo hớn,
nên trấn tỉnh rất lẹ rồi đánh trống lấp:
- Anh vô cuốn phim mới tốn bao nhiêu tiền ?
- Giá Sài-gòn thì hăm lăm đồng. Nhưng ở đây họ tính tới bốn
chục.
- Còn chiếc máy ảnh nầy anh mua bao nhiêu ?
- Bảy ngàn.
- Trời ơi, nhiều tiền dữ vậy ?
- Vì là máy tốt.
Nhan lấy tập ảnh lại trên tay chàng từ bao giờ, chàng không
hay. Công nhận thấy rằng cô học trò ngây thơ nầy chỉ ngây thơ vì còn trẻ tuổi quá
và vì chưa sống thôi. Cô ta sẽ oanh liệt vô cùng một khi cô ta sống thật sự, bằng
vào tài khéo léo lãng sang chuyện khác của cô ta và tài lấy một món đồ lớn trên
tay người khác như chơi thôi, giỏi như một tay làm trò ảo thuật.
- Em lo quá, Nhan cười nói mà tay ôm khư khư tập an-bum vào
ngực, chắc em không dám cho tụi nó rớ tới máy nầy đâu. Rủi tụi nó làm rớt một
cái, chắc em phải bán nhà để bồi thường cho anh.
Công bận lo ra về người gia trưởng mà Nhan không chịu xác nhận.
Thường ở tỉnh, ở làng, mà ngay cả trong các gia đình khiêm tốn ở Sài-gòn cũng
thế, người ta tay phóng đại các ảnh gia đình để treo trên vách. Người gia trưởng
luôn luôn ngự ở giữa bao nhiêu là ảnh vợ con, khách lạ bước vào nhà nào, trông
lên tường thì biết ngay ai là ông chủ.
Nhà nầy vắng bóng loại ảnh đó. Chi tiết kỳ lạ, bất thường ấy,
Công đã chú ý ngay từ lúc mới để chơn vào nhà nầy, nhưng rồi chàng quên đi, mãi
cho đến nay thái độ của Nhan bỗng làm cho sự quan trọng của nó nổi rõ lên.
Tuy nhiên, Công nghĩ đến những điều khác: đó là một ông cha
ghẻ, hoặc một ông cha nuôi, sự kiện không tốt đẹp lắm cho một người con gái sắp
lấy chồng, nên Nhan phải xấu hổ.
Nghĩ thế, chàng hết thắc mắc ngay vì cái điều đã khiến bạn
chàng mặc cảm, thật ra không có gì. Công là một thanh niên không thành kiến. Vì
thế mà chàng vui vẻ lại được như thường và pha trò để đáp lại lo ngại của Nhan:
- Anh đã làm rớt em xuống mương mà có phải bán nhà lần nào
đâu. Mà em lại quí báu hơn chiếc máy ảnh nầy nhiều lắm.
Đôi bạn đã đi đến giai đoạn "tình trong như đã, mặt ngoài
còn e".
Công đi thăm bạn một tuần lễ hai lần, không lần nào chàng dám
ở lâu, nhưng không tới, chàng chịu không được.
Vẫn đứng đắn, chàng cứ bước lần vào sự thân mật với Nhan. Còn
Nhan thì cũng vẫn dè dặt, nhưng cũng cứ đi lần tới chỗ cảm thông với một tâm hồn
phong phú.
Trong vòng hai tuần lễ nay, Công rất yêu đời, làm việc chạy
vo vo và rất dễ tính với các cộng sự viên.
Sáng hôm ấy, chàng ký một hơi đến hai mươi lăm bức công văn
mà nào phải ký tên không mà thôi đâu, còn phải đọc kỹ, còn phải suy nghĩ xem đến
phút chót chàng cần phải đổi ý hay không về lối giải quyết bao nhiêu công việc
mà chàng đã phác qua chỉ thị cho thư ký thảo ra. Thế mà chàng vẫn vui vẻ không
càu nhàu như dạo trước.
Khi ký đến bức công văn cuối cùng, chàng ngước lên nhìn cô
thơ ký đang trình công văn đã thảo, đã đánh máy cho chàng cứu xét lại để ký
tên. Công mỉm cười và nói đùa:
- Tôi oán cô lắm ! Cô đã bắt tôi làm việc nhiều quá.
Được trưởng ty khen gián tiếp như thế - phải, đó là một lời
khen, vì khi ông chủ làm việc nhiều thì trước đó các thầy các cô cũng đã làm
nhiều mới có công văn cho ông chủ ký - được khen, cô Thúy đã không vui mừng lại
châu mày và làm thinh.
Công vui bao nhiêu là Thúy buồn bấy nhiêu. Cô đoán biết Công
đã thành công trọn vẹn hay một phần nào với một cô gái nào đó.
Cô đã kín đáo dò hỏi, nhưng chưa biết được ai là tình địch của
cô. Nhan ở ngoại ô xa, những lần chàng đi thăm bạn, người ta ngỡ rằng chàng đi
dạo mát một vòng nên không ai tò mò theo dõi chàng cả.
Bạn hữu của Nhan thì biết người thanh niên ấy đang cua bạn của
họ, nhưng đó là một vụ cua đứng đắn để đi đến hôn nhân, nên họ không chê cười,
không đồn đãi ra.
Công vẫn thờ ơ không hay biết tình cảm của Thúy đối với chàng
nên ngỡ Thúy phải đứng lâu mệt mỏi nên dỗ dành:
- Đã đến bức chót, cô sắp được phóng thích rồi đấy. Sở dĩ tôi
bắt cô phải canh buổi ký tên công văn mỗi ngày, một công việc mà tùy phái làm
được là vì …
Ý chàng muốn giải thích: "Là vì tôi cần một người thạo
việc phòng có gì sai, tôi dặn dò, người ấy sẽ hiểu để nói lại với mấy người thảo
công văn. Tùy phái thì có hiểu gì đâu mà dặn. Còn không lẽ tôi qui tụ tất cả mấy
thầy thảo công văn nơi buồng nầy. Vậy phải có mặt một đại diện của các nhơn
viên tại đây, mà đại diện ấy phải là cô, vì bức công văn nào cũng đánh máy sai
một chữ hoặc một cái dấu, cô ở đây tức là làm một công đôi việc, nghe giùm người
khác và nghe chính cho cô."
Nhưng lời giải thích ấy dài quá, Công lười nói nhiều nên bỏ dở
câu của chàng. Thành thử Thúy ngộ nhận, ngỡ chàng muốn tán tỉnh cô ta nhưng còn
ngại lời. Có lẽ chàng định nói: "... là vì tôi thích bóng dáng một phụ nữ
nơi đây, nó đưa vào buồng giấy của tôi một nốt vui tươi, trẻ trung dịu dàng,
giúp cho tôi bớt mệt vì công việc."
Vì thế mà Thúy mỉm cười, rồi đôi má ửng hồng lên, nàng lấy mớ
văn kiện đi và nói:
- Cám ơn ông.
Thúy vừa ra thì người tùy phái bước vào. Hắn nói:
- Thưa ông, có người muốn vào đơn xin giấy phép…
- Vào đơn à ? Vào đơn thì cứ vào ngoài ấy, chớ sao lại báo với
tôi làm gì ?
- Dạ họ nài nỉ được ông cứu xét trực tiếp.
- Anh biết chớ, tôi chỉ cứu xét những lời khiếu nại thôi, còn
các việc khác, tôi đã ủy nhiệm cho cộng sự viên.
- Nhưng mà... thưa ông Trưởng ty …
- Nhưng mà làm sao ? Công nổi giận quát. Không có nhưng mà gì
cả.
Người tùy phái không mích lòng vì bị mắng oan uổng, và không
nản chí, hắn đứng ì đó mà lải nhải:
- Nhưng mà y là người nheo mắt năm ngoái, đã được ông Trưởng
ty tiếp ngay lúc đó mà.
Công nhảy dựng lên:
- Vậy à ! Người nheo mắt à ? Cho hắn vô ngay đi.
Công có dưới tay một số điềm chỉ viên thường. Bọn nầy rất dở
và hay khoác lác nên chúng bị thiên hạ biết mặt cả.
Chàng lại có vài điềm chỉ viên lỗi lạc, chỉ đem tin tối quan
trọng đến mà thôi, còn những vụ nho nhỏ thì họ bố thí cho bọn dở kia.
Mấy tay điềm chỉ viên cừ khôi nầy ít khi đến đây, trừ những dịp
cần đưa tin cấp bách. Thường thì họ gởi thơ riêng cho Công. Vả Công là người rất
kín đáo dè dặt thì cho dẫu họ với thăm chàng ngày một, chàng cũng không để tung
tích của họ bị tiết lộ đối với nhơn viên của chàng.
Nhơn viên mà có tốt đi nữa, cũng có người vì bép xép mà vô
tình làm mật thám cho các tổ chức buôn lậu lớn.
Năm ngoái, điềm chỉ viên nầy có đến đây một lần và xin vào gặp
mặt ông Trưởng ty. Người tùy phái ngăn cản y. Y nheo mắt với va, không biết muốn
tỏ cái gì, nhưng viên tùy phái lại ngỡ hắn có của hối lộ cho Trưởng ty và đã thỏa
thuận với Trưởng ty rồi về khoản đó; những cái nheo mắt của y dường như nói:
"Tôi là bồ với ông xếp của anh mà, ông xếp không có dặn gì hết sao ?"
Mà có lẽ y cũng định ra hiệu để nói như thế thật đó. Nhưng bồ
đây là cộng sự viên bí mật, còn anh tùy phải thì lại hiểu rằng bồ đây là kẻ
mang của đút đến.
Lần ấy y được tiếp ngay sau khi anh tùy phái vào tả hình dáng
y. Anh tùy phái nầy mãi đến giờ vẫn cũng đinh ninh rằng đó là một người đi hối
lộ Trưởng ty.
Tùy phái dẫn kẻ nheo mắt vào rồi đi ra ngay.
Đó là một người đàn ông trạc băm lăm, có tướng tài xế, mặc
bi-da-ma may bằng ú đen, chơn đi săn đan.
- Rua xếp. Y chào rất to người Trưởng ty bằng câu chào thân mật
của bọn "anh chị" thời Pháp thuộc.
Công đưa một ngón tay lên miệng ra hiệu bảo hắn im, rồi đích
thân chàng bước ra khóa cửa lại. Xong đâu đấy chàng vẫn đứng nơi cửa đó mà nghe
ngóng rất lâu mới trở lại bàn chàng.
- Bộ muốn tụi buôn lậu nó mổ mật sao mà chào to dữ vậy ? Rủi
ai nghe được lối chào thân mật đó, họ đoán biết sự thật, đồn đãi ra thì nguy
cho tánh mạng anh. Mời anh ngồi.
Người điềm chỉ ngồi trên chiếc ghế đặt trước bàn viết của
Công, toan nói thì Công đã hỏi:
- Gì đó ?
- Dạ có tin chắc là đêm mốt, tổ chức A. H. sẽ cho người tải
hàng từ Vũng Chàm qua biên giới để về Trà Võ...
- Hàng gì ?
- Dạ thuốc trụ sinh, á phiện và thuốc điếu Huê Kỳ.
- Bao nhiêu ?
- Dạ mười bành.
- Voi chở à ?
- Dạ không, bành nhỏ, do bò chở.
- Tại đâu ? Hồi mấy giờ ?
- Dạ hàng bên Xiêm qua. Họ cũng băng rừng trên lãnh thổ Cao
Miên đi qua các vùng Xiêm Rệp, Vũng Thơm, Vũng Chàm rồi tới biên giới ta, song
song với đường xe chạy. Vào biên giới của ta xong thì họ giao cho đoàn tải hàng
người mình cách đồn kiểm soát trên đường Vũng Chàm bốn cây số. Dạ, chắc xếp dư
biết rằng họ tránh đồn kiểm soát nhưng cố ý không tránh xa lắm, vì các nơi xa
thì có các toán lính quan thuế đi rỏn. Nhưng nơi gần đồn thì trống trơn…
- Phải, tôi biết.
- Họ sẽ đến đó vào khoảng một giờ khuya.
Nhận hàng xong, cả hàng lẫn bò chở, bò cho luôn, không tính
tiền, đoàn tải hàng người Việt-Nam mình mới đưa hàng về một sở cao su kia của
Pháp ở vùng Trà-Võ. Có sự tùng đảng của nhân viên sở cao su mà họ rất cần vì
hàng từ sở cao su ra đường một cách công khai trên xe cam nhông chở mủ của sở,
không ai chú ý như là từ trong rừng đi ra trên lưng bò.
- Chúng nó định kế hoạch rất hay.
- Dạ, nhưng nên đón bắt trong rừng vì khi hàng vào sở cao su
rồi thì rắc rối lắm. Ta không được phép vào sở. Họ đưa hàng ra lúc nào khó biết,
có khi chúng nó đợi hàng tháng. Khi ta rình lâu mỏi mòn nản chí, chúng nó xuất
hiện bất thình lình và đi vuột được.
- Đúng thư vậy. Nhưng đó là công việc của tôi, anh khỏi phải
xía vô.
- Dạ cũng là của tôi nữa chớ. Xếp cố bắt được, tôi mới được
chia tiền thưởng.
- Thôi được, nói tiếp đi.
- Dạ đoàn tải hàng Việt-Nam mình do tên Đức-Lưu Phương cầm đầu.
Hắn đã có hồ sơ ở đây.
- Được rồi, tôi không cần biết chi tiết đó. Chúng nó có võ
trang chớ ?
- Dạ hình như là ba cây súng trường và một cây tiểu liên.
- Còn gì nữa hết ?
- Dạ hết.
- Bấy nhiêu đó cũng đủ lắm rồi. Xem lại coi nè: địa điểm, thời
gian, vũ khí, sự quan trọng của hàng…. tốt lắm. Tôi ngợi khen anh đó, nếu tin của
anh đúng sự thật.
- Bảo đảm mà xếp.
Công đứng lên mở tủ sắt đặt sau lưng chàng, lấy ra một số tiền
trao cho người điềm chỉ mà rằng:
- Đây là một trăm tiền trà nước cho anh, và năm trăm ứng trước
một phần nhỏ về tiền thưởng, Nếu quả có á phiện, món hàng cao giá ấy thì số tiền
thưởng thật cho anh có lên tới bạc vạn.
- Cám ơn xếp,
- Thôi kín miệng nhé.
- Xếp cứ tin nơi lời cam kết của tôi.
- Và đừng gọi tôi là xếp nữa. Tây về Tây hết rồi anh không
hay sao ?
Người điềm chỉ cười mà nói:
- Dạ, bị quen miệng quá rồi khó sửa đổi lắm.
Ông Trưởng ty trẻ tuổi của ty quan thuế hàng tỉnh đi mở cửa
cho khách ra rồi bước lại cái tủ đựng văn kiện mật để tìm một tập hồ sơ mặc dầu
ông đã nói với người điềm chỉ rằng lý lịch của kẻ cầm đầu đoàn tải hàng không
đáng kể, ông vẫn tò mò muốn biết rõ hắn. Cũng có ích phần rào chớ chẳng không,
chẳng hạn, nếu hắn là một tay thiện xạ thì nên biết để mà đề phòng.
Tập hồ sơ về tên Đức-Lưu-Phương nào đó, được lập ra rất lâu,
chàng đổi về tỉnh lỵ nầy đã thấy có tập ấy rồi, một hôm rỗi việc lật xem giấy tờ
cũ. Nhưng chàng không có đọc hồ sơ đó, chỉ biết là có vậy thôi.
Hồ sơ về các tay gian manh ở Ty Quan Thuế tỉnh nầy rất nhiều
vì đây là một tỉnh biên giớí, nên Công đứng trước tủ lâu lắm.
Đã mấy lần người tùy phái vào buồng giấy của chàng để hỏi gì,
và đã mấy lần chàng bảo hắn để chàng yên.
Rốt cuộc chàng cũng tìm ra được hồ sơ đó.
Hồ sơ chỉ mỏng thôi, gồm năm ba tài liệu và một bức ảnh, tất
cả để trong một chiếc cặp bằng giấy bồi màu xanh, giấy cũ quá đã trỗ vàng.
Bức ảnh cũng đã trỗ vàng. Không biết vì sao mà ty có được bức
ảnh nầy. Ảnh chụp một bọn bảy người đang quây quần quanh một mâm cỗ đặt ngay
trên cỏ, giữa rừng. Có lẽ một đồng bọn của chúng đã phản bội, đem bán bức ảnh nầy
cho ty quan thuế chăng ?
Văn kiện giải thích bức ảnh, không có ký tên người lập ra văn
kiện, cũng không có đề ngày đề nơi lập ra.
Tài liệu đánh máy nầy liệt kê tên họ, lý lịch của từng tên
trong bọn một cách khá đầy đủ, nhưng đến tên Đức-Lưu-Phương thì chỉ thấy vỏn vẹn
có mấy hàng sau đây:
"Lãnh tụ, không biết tên họ thật. Đức-Lưu-Phương chỉ là
một bí danh thôi. Không biết chỗ cư trú ngoài xã hội công khai. Cựu Hạ sĩ quan
thời Pháp thuộc, bắn rất tài. Không ác, không hung tợn. nhưng tự vệ quyết liệt."
Trong ảnh chỉ có bảy người. Công đoán rằng bọn chúng gồm tám
người, người thứ tám đứng ngoài để chụp ảnh nầy. Tám người mà bốn cây súng, tức
là hai tên một cây, có lẽ phòng khi một tay súng bị thương hoặc chết trận thì
có bạn bên cạnh thay thế ngay. Thật là chu đáo.
Ảnh cỡ 6x9, một người trong ảnh nhỏ quá chừng trông không rõ,
Tài liệu có chua thềm rằng Đức-Lưu-Phương là tên ngồi giữa, mặc short, đầu
không đội nón.
Công kéo hộc tủ bàn viết lấy ra cái lúp thử phóng đại năm
mươi lần to hơn vật được xem xét và đặt lúp trên ảnh.
Vừa nhìn qua tấm kính phóng đại ấy, chàng đã kinh ngạc rồi. Ảnh
của tên Đức-Lưu-Phương nầy sao mà giống ảnh ông cụ của Nhan quá, bức ảnh dán
trong tập an-bum mà chàng đã thấy hơn mấy tuần trước.
Công cố nhớ gương mặt người trong ảnh kia và nhìn kỹ ảnh nầy
rồi rụng rời, mồ hôi nhỏ giọt xuống ! Hai người chỉ là một thôi.
Cũng đôi mày rậm đó cũng cái càm vuông đó, cũng cái môi dưới
hơi trề ra như khinh bỉ ai, và toàn thể gương mặt của cả hai bức ảnh đều biểu
hiện cho một cá tính ngang tàng, cương quyết, nhiều nghị lực, bên ngoài có vẻ
hung ác nhưng chất thiện vẫn bàng bạc khắp nơi trên đó.
Công rụng rời khi mà chàng chắc ý một trăm phần trăm rằng hai
người chỉ là một thôi.
Ý nghĩ đầu tiền của chàng đi về Nhan. Trời ơi, một mối tình,
một mối tình chỉ mới manh nha có mấy tuần lễ thôi, mối tình đầu của chàng, đẹp
không biết bao nhiêu, thơ không biết bao nhiêu.
Mối tình diễm dương và huyền tuyệt ấy bỗng dưng tan biến đi
trong chốc lát như một chiếc bong bóng xà bông !
Vâng, chính mối tình của chàng đổ vỡ chớ không phải hôn nhơn.
Chàng sẽ cứ yêu Nhan nếu chỉ có trắc trở khách quan nào đó thôi, chẳng hạn như
đôi bên cha mẹ không bằng lòng họ lấy nhau.
Nhưng ở đây, trắc trở lại nằm chính trong lòng mối tình ấy:
Nhan không xứng đáng tình yêu của chàng nữa.
Nàng hết xứng đáng tình yêu của chàng không phải vì nàng là
con gái của một tay buôn lậu mà vì nàng đã gian lận trong mối tình nầy.
Công tin chắc rằng không thể nào mà Nhan không biết hoạt động
bí mật và bất lương của cha nàng. Đã biết bí mật ấy, nàng đã quá trèo đèo mà
khuyến khích tình cảm của một viên sĩ quan Quan Thuế.
Tình cảm của nàng là thứ tình cảm không biết thủ phận và hành
động của nàng là hành động của một nữ điệp viên, không hơn, không kém. Đúng thế,
khi mà hai quốc gia đang chiến tranh với nhau, công dân nước nào mà tìm cách lọt
vào vòng thân mật với một sĩ quan của một quốc gia địch thủ thì kẻ ấy, dầu muốn,
dầu không, nguy hiểm như một tay gián điệp.
Trường hợp của chàng thì khác. Chàng không hay biết gì cả về
hoạt động lén lút của tên Đức-Lưu-Phương, không thể nói là chàng đeo đuổi con
gái hắn để lượm tin tức về hắn.
Chỉ có kẻ nào hành động ý thức mới là khả nghi mới là có tội.
Tuy nhiên Công chỉ là người thôi, người với tất cả những mâu
thuẫn của con người được nền công dân giáo dục cho biết rõ bổn phận của mình là
phải chặt đứt cây cầu liên lạc với bọn lưu manh, nhưng đồng thời không sao một
sớm một chiều mà thanh toán được tình yêu đã đặt lầm chỗ.
Tập hồ sơ mở ra trước mặt chàng, và Công chỉ cúi gầm mặt xuống
đó, nhưng qua bức ảnh những người đàn ông thô bạo đang ngồi giữa một khung cảnh
man rợ, một chiếc cầu tre lại hiên lên, vắt qua một con rạch con với dòng nước
uốn quanh ôm sát những gốc dừa ven một khu vườn râm mát. Bóng ai qua cầu, gió sớm
thổi bay phấp phới tà áo, nắng mai gội mớ tóc chưa vướng bụi đời và soi sáng
gương mặt vui tươi đang nhìn vào ống ảnh mà mỉm cười.
Nụ cười kia, không bao giờ chàng sẽ thấy được nữa, hay chỉ thấy
trong những lúc hồi tưởng lại cái hiện tại nầy đây khi nó trở thành một dĩ vãng
nặng ngậm ngùi, và chua xót.
Là người của thực tế và của bổn phận, Công thấy mình phải
quên Nhan. Muốn quên nàng, chàng phải thù ghét con người dễ mến và dễ thương
đó.
Vì thế mà chàng nhắm mắt lại để xóa tất cả mọi hình ảnh tốt đẹp
vừa thoáng qua nơi trí tưởng của chàng.
Mở mắt ra liền ngay tức khắc, Công nhìn thẳng vào tên đầu dộc
tải hàng. Chàng không thể mến tên nầy được. Hắn đáng khinh đáng ghét và con hắn
cũng cùng một quan niệm một tham vọng với hắn.
Cô gái ấy đã ăn gian trong tình yêu. Cô ta đã gài bẫy cho
chàng sa hố...
Công xếp mạnh tập hồ sơ lại, tim chàng đau nhói lên, không biết
vì quá phẫn nộ hay quá đau đớn.
Chàng dở ống điện thoại lên toan gọi Tỉnh đoàn Bảo an để xin
viện binh, nhưng lại hạ ống xuống, sau mấy giây suy nghĩ.
Không, chiến dịch chàng sẽ mở ra, chỉ được tiết lộ vào phút
chót thôi. Vào phút chót, chàng sẽ báo tin cho các đồn bót biết để tránh bắn lầm
nhau, nhưng chừng ấy không xin viện binh kịp mà chỉ có thể trông cậy vào lực lượng
riêng của chàng thôi.
Xem nào ! Bên ấy đông tám người và có bốn tay súng, kể cả cây
tiểu liên. Bên quan thuế chỉ có sáu, năm nhơn viên và chàng, cũng vẫn bốn tay
súng, toàn súng trường, kém hẳn họ cây tiểu liên. Nhưng đánh giàn trận thì cây
tiểu liên không hay bao nhiêu. Chính súng trường mới là đáng sợ vi tầm đạn đã
đi xa, đi mạnh lại ngay đích hơn.
Bên Quan thuế lại được ưu thề của kẻ bắt chợt.
Như vậy lực lượng đôi bên có thể nói là đồng cân với nhau, và
chàng phải thắng, phải tự lực mà thắng.
Chận hàng không phải mục đích chánh, mà tiêu diệt một cái
khoen của sợi dây xích buôn lậu nầy mới là chỗ nhắm thật của Công.
Quan Thuế với buôn lậu quốc nội chỉ chơi trò cút bắt với nhau
thôi, một bên trốn và một bên tìm. Tìm được kẻ trốn, phạt họ hay cho họ vào tù
là xong. Thật là hiền lành không có vấn đề thắng bại.
Nhưng buôn lậu biên giới là cả một khối địch thủ quyết tử. Họ
được võ trang mạnh mẽ và tự vệ hẳn hòi.
Công mở bức họa đồ mà trước khi ra cửa, người điềm chỉ đã
trao cho chàng.
Giấy họa đồ nhầu nát vi hắn đã vò lại nhét vào giữa những điếu
thuốc vấn trong gói thuốc Mê Da trắng loại bình dân sáu đồng một gói của hắn, để
phòng có rủi lọt vào tay bọn buôn lậu, chúng nó cũng không tìm được bằng cớ
đích xác nào về hành tung của hắn.
Nét vẽ thì ngây ngô vụng dại.
Nhưng đại khái bức họa đồ cũng giúp Công biết gần đúng lộ
trình của bọn tải hàng.
Chàng nghiên cứu thật kỹ bức họa đồ nầy và đồng thời dựng lên
một kế hoạch phục kích và tấn công, với những thế biến nếu cục diện xoay chiều
do trục trặc nào đó.
Xong đâu đó, chàng đứng lên, đi qua đi lại trong buồng giấy,
tay nhét túi quần, mặt nhìn gạch.
Phải tìm Nhan để mắng nàng ba tiếng cho đỡ ấm ức trong lòng.
Nhan mà chàng mến, chàng kính, chàng yêu ấy nó đã gian lận với chàng.
Chàng nghĩ thế nhưng thật ra chàng đã gạt gẫm lòng chàng. Từ
năm hôm rồi, chàng không có gặp Nhan và nhớ nàng lắm.
Chàng rất thèm thấy mặt người chàng yêu, có thể là thấy lần
chót. Năm mươi tám tiếng đồng hồ nữa, có thể chàng sẽ bị chính cha Nhan đưa
sang thế giới bên kia, hoặc chính chàng sẽ hạ ông ta giữa trận địa.
Cả hai trường hợp ấy đều không cho phép chàng tái ngộ với
Nhan.
Nhưng không, con người của bổn phận luôn luôn ẩn núp cạnh đó
để chỉnh kẻ si tình, vội to tiếng ngăn cản. Không nên tìm Nhan. Cuộc hội kiến nầy
không thể chỉ là một cuộc vĩnh biệt câm lặng. Chàng sẽ trách móc nàng, sẽ nặng
lời với nàng. Mà như thế tức là báo động cho bọn buôn lậu biết để đề phòng.
Biết đâu nàng lại không là một nhân viên của tổ chức ấy. Việc
chàng khám phá được bí mật Đức-Lưu-Phương, nội cái việc ấy cũng đã khiến chúng
sanh nghi và sợ hãi, tất chúng phải đổi chương trình.
"Không, anh phải bất động về mặt ấy !".
Năm ngươi tám tiếng đồng hồ sao mà dài như cả thiên thu đối với
người đếm từng phút.
Công chờ đợi cái đêm kinh khủng ấy như em bé trông ngóng mẹ
đi chợ về. Kinh khủng không phải vì sẽ có đổ máu, chàng đã khá quen chiến trận
rồi, mà kinh khủng vì một viên đạn của chàng có thể chui thẳng vào trán tên Đức-Lưu-Phương
mà chàng không muốn hạ, không nỡ hạ.
Chàng thầm mong một may mắn bất ngờ nào xảy ra, chẳng hạn như
bỗng dưng hắn ăn năn hối lỗi, bỏ hàng ngũ ra để đầu hàng. Mà không cần gì hắn
phải qui thuận. Hắn cứ cải tà qui chánh một cách êm thấm là đủ rồi.
Và đêm ấy sẽ không có mặt hắn trong đám địch thủ của chàng,
không có mặt một cách vĩnh viễn từ đêm đó và vế sau nầy nữa.
Ngoài, sẽ không ai biết rằng thân phụ của ý trung nhơn của
chàng đã có một quá khứ nặng nề tội lỗi.
Kẻ khuất mặt và lương tâm chàng thì tha thứ dễ dàng.
Hoặc thình lình Nhan đến thăm chàng để khóc lóc thú nhận nguồn
gốc của nàng rồi phủ nhận ông cha không xứng đáng ấy, nàng sẽ cùng chàng đi thật
xa, xóa tất cả dấu vết sau lưng họ để cùng hưởng cái hạnh phúc mà chàng xây đắp
trong mộng từ suốt tháng nay.
Chàng sẵn lòng bỏ địa vị chức tước để cùng đi xa với một cô
Nhan biết hối lỗi và ngay thẳng, mặc dầu cô Nhan ấy là con của ai đi nữa.
Sự rút lui của chàng trên đường tình cảm, không do nguồn cội
của Nhan cho lắm mà vì chàng tin rằng Nhan đã im lặng trong ý thức, tức là mặc
nhiên đồng lõa với kẻ gian.
"Anh bất công lắm, mặc dầu anh tên là Công ! Kẻ si tình
nổi lên phản đối con người của bổn phận. Anh thử đứng vào địa vị của Nhan xem.
Nàng không im lặng làm sao được ? Con gì lại đi tố cáo cha ? Biết đâu nàng lại
chẳng đồng ý với thân phụ của nàng và không ngớt khuyên dứt ông ấy. Lại con gì
mà đành bỏ cha để đi theo trai ? Nàng đã rủi ro ở vào thế bí, tùy anh cân nhắc
mả xử sự chở đừng mong hão những chuyện viễn vông".
A, kẻ si tình mà lại thiết thực đấy ! Phải ! Đừng mong hão những
chuyện viễn vông. Dẫu sao, Nhan cũng vẫn là người với những yếu hèn, những mâu
thuẫn của con người: nàng không thể phản bội người đã cho nàng máu mủ, đã
thương yêu nàng. Nàng biết phân biệt thiện, ác nhưng ràng cũng biết có tình
thương trên đời nầy nữa, chớ không phải chỉ có bổn phận không mà thôi.
Năm mươi tám tiếng đồng hồ nữa ! Súng sẽ nổ rền trời giữa rừng
sâu và đoàng một tiếng, có một kẻ kia ngã gục.
Nếu quên được bổn phận, chàng sẽ mong kẻ ấy là chàng, Nhan sẽ
đau xót, sẽ ôm hận suốt đời mỗi khi nhớ lại người thanh niên mà nàng đã yêu, bị
chính cha nàng hạ sát. Nàng biết sự việc sẽ đưa đến tai họa ấy ngày nào đó,
nhưng không có làm gì để ngăn tai họa xảy ra, thế là mối tiếc hận của nàng sẽ
không bao giờ nguôi.
Công quyết trả thù, nhưng chỉ thích trả thù bằng cách đó
thôi. Giết cha Nhan thì kẻ đau khổ sẽ chính là chàng. Nhan chỉ căm thù thôi mà
gây căm thù, không hại cho Nhan bằng gieo đau keo cho chàng.
Quả chàng tàn nhẫn. Chàng muốn tàn nhẫn với Nhan. Nhưng trong
tàn nhẫn ấy ẩn tàng tất cả tình yêu to lớn của chàng. Không quên được Nhan nữa,
chàng muốn cho tình của Nhan đối với chàng còn mãi mãi trong lòng Nhan, một mối
tình mới, có đẹp đẽ đến đâu, chỉ giúp nàng quên được người tình cũ thôi, mà
không thể xóa niềm tiếc hận, nỗi xót thương.
Năm mươi tám tiếng đồng hồ nữa ! Súng sẽ nổ vang rền một góc
trời biên giới và đoàng một tiếng, có một kẻ kia té quỵ xuống.
Hắn bị thương nặng nhưng không chết. Hắn lết được vào các bụi
rậm rồi thoát thân ! Kinh sợ quá, hắn sẽ giải nghệ trở về sống đời sống lương
thiện và bình thường.
Mặc dầu hai cha con sẽ biết kẻ gây thương tích cho ông gia
trưởng nhà Nhan là ai, họ sẽ sẵn lòng quên, vì chàng chỉ làm bổn phận thôi.
Nạn nhân là kẻ nặc danh đối với chàng mà chàng hạ một cách lạnh
lùng, không oán ghét.
Năm mươi tám tiếng đồng hồ nữa, mối tình bí ngõ của chàng sẽ
có lối ra, không lợi cho chàng, nhưng thà là thế còn hơn.
Công kéo hộc tủ, rút từ trong đó ra cây Colt 9 mà vào văn
phòng chàng tạm để trong đó cho nhẹ mình.
Vũ khí hộ thân nầy không phải là khí giới chiến đấu. Chàng
dùng nó để tự vệ tới mức nào đó thôi. Lần nào trước khi thi hành một chiến địch
hơi nguy hiểm, chàng cũng săm soi cây súng nhỏ nầy. Chàng khá tin dị đoan, có cảm
giác rằng một ngày nào đó chàng sẽ phải dùng nó để tự đưa mình đi một chuyến hết
sức xa, không có đường về, để khỏi lọt vào tay địch thủ.
Vả dạo nầy trong rừng sâu, an ninh về mặt khác cũng vắng
bóng. Chung quanh chàng có đến hai thứ người cần hạ chàng, chớ không riêng gì bọn
buôn lậu biên giới đâu.
Chàng săm soi cây Colt 9 như để thăm hỏi nó xem có biết trước
nạn nhân là ai hay chăng ? Những người thường xử dụng vũ khí thời nào cũng thế,
họ cảm thấy rằng vũ khí như có linh hồn, biết báo động, biết xót thương, biết
căm hận.
"Gươm linh" là danh từ người xưa hay dùng. Danh từ ấy
đã được đổi ra là "súng linh" từ ngày mà người Á Đông thôi múa kiếm.
Thình lình Công nghe kêu oái lên một tiếng ngay cửa. Chàng ngẩng
lên thì thấy cô Thúy đã lặng lẽ vào buồng giấy, mà chàng không hay.
Thường thì người giúp việc thân cận của các ông bự có phòng
giấy riêng, được phép vào đó mà khỏi gõ cửa, chẳng hạn như tùy phái, thư ký
đánh máy vân vân...
Vì thế mà cô thư ký nầy mới bắt chợt được ông Trưởng ty đang
nhìn thẳng vào họng súng và cô ngỡ ông ta chĩa thẳng họng súng vào mặt ông để
quyên sinh.
Thúy đứng nơi cửa mà chết điếng, mặt tái xanh. Công đặt súng
xuống bàn, cười và hỏi:
- Cô sợ súng đến thế sao ?
Thúy ấp úng:
- Dạ không, em ngỡ...
- Cô ngỡ tôi toan bắn cô ?
- Dạ, không phải, em ngỡ ông toan…
Công chợt hiểu, cười ha hả:
- Cô ngỡ tôi định tự tử ?
- Dạ.
- Cô đã dùng tiếng "ngỡ" tức là rồi cô biết ngay rằng
cô lầm ?
- Dạ.
- Do đâu mà cô biết ngay điều ấy ?
- Nếu ông toan tự vận, ông đã nổi giận vì bị quấy rầy, hoặc
ông đã lãy cò để em không kịp báo động.
- Thông minh lắm. Và tại sao cô lại nghĩ ngay rằng tôi toan tự
tử. Tôi có thể nhìn súng để giải buồn ?
- Tại em thấy ít lúc sau nầy ông bất thường.
- Tôi bất thường à ?
- Dạ.
- Thí dụ ?
- Ông hay đâm cáu thình lình và không có lý do chánh đáng. Rồi
ông vui vẻ quá, dễ dãi quá. Ông lại hay thẫn thờ, hay lo ra.
- Vậy à ?
Công làm thinh rất lâu: chàng đang thẫn thờ, cái vẻ thẩn thờ
mà Thúy vừa nói đến. Một lát sau, sực tỉnh, chàng hỏi:
- Cô vào có việc gì ?
- Dạ để nhắc ông chuyển hồ sơ phù động của em qua Hành Chánh
để em xin vào công nhựt.
- À, tôi đã chuyển rồi hôm qua. Nè cô Thúy…
- Dạ.
- Giờ tôi mới nhớ rõ lại giọng kêu của cô khi nãy. Nó kinh khủng
một cách khác thường.
Nếu tôi mà có toan quyên sinh đi nữa, thì tưởng cũng chẳng có
gì đáng cho cô mất vía đến như vậy.
Thúy bối rối, ú ớ rất lâu mới giải thích:
- Em rất sợ cảnh chết chóc ! Em là gái, có đâu gan dạ được
như nam phái.
- Nhưng tôi đã chết đâu. Cảnh đổ máu cô chưa thấy kia mà.
Nhìn vẻ bối rối của Thúy và nghe lời cắt nghĩa miễn cưỡng của
nàng, Công cảm giác như chàng hơi hiểu được cái gì. Chàng chỉ nghe mang máng
như thế thôi chớ không dám chắc lắm vì chàng là người khiêm tốn không huênh
hoang ra mặt mà cũng chẳng huênh hoang ngầm cả tin rằng mình bảnh lắm, thiếu nữ
nào cũng cảm tình với mình.
Tuy nhiên, cảm giác mong manh nầy cũng xui chàng nhìn kỹ cô
gái đang đứng trước mặt chàng và chàng kinh ngạc không biết bao nhiêu mà thấy rằng
nàng xinh đẹp lắm, và xinh đẹp hơn Nhan nữa là khác.
Thúy đã thành nhơn, có vẻ đờn bà hơn Nhan, đã qua xong thời kỳ
trổ mã nên đẹp lộng lẫy trong khi nhan sắc của cô gái dậy thì kia còn chập chững
dò đường.
Thúy lại sành điểm trang hơn Nhan. Hóa trang tuy nhơn tạo
không nên thơ bằng vẻ đẹp đơn sơ mộc mạc nhưng lại dễ quyến rủ hơn.
"Lạ quá, Công nghĩ thầm, sao từ thuở giờ mình không chú
ý đến Thúy ? Thúy tánh tình cũng tốt thì có kém Nhan đâu nếu không hơn, Nhan
trước kia kìa, chớ Nhan bây giờ thì … hừ … thì…"
- Cô được biệt phái qua đây bao lâu rồi cô Thúy ?
- Dạ chín tháng.
- Thật là kỳ dị. Tôi không hay rằng có cô làm việc ở đây.
Công buột miệng mà thú nhận điều đó nó có vẻ bí hiểm đối với
người khác. Nhưng Thúy đã nghĩ qua rồi nên hiểu ngay. Nàng vui mừng đến muốn ngột
thở, toan nói một câu nhưng trống ngực của nàng đánh mạnh quá, nàng phải đợi một
lát mà giọng vẫn còn như mệt hổn hển:
- Dạ vì ông bận việc luôn. Nhưng cũng rất hân hạnh cho em là
rốt cuộc ông vẫn biết là có em.
- Cô nói văn hoa lắm ! Thật ra tôi biết chớ sao không, nhưng
thú thật tôi chỉ mới nhìn thấy cô đây thôi.
- Dầu sao cũng cám ơn ông.
Thúy có làm việc hãng tư ở Saigon một lúc. Nàng đã quen thấy
tác phong của nhiều chủ hãng dưới ấy, đã quen với tác phong của các chủ hãng
trong xi nê nên những lời của Công không làm nàng xúc động bao nhiêu. Một cô
gái tỉnh có thể xem đó là những lời tán tỉnh khơi mào.
Đàn ông bây giờ họ biết nịnh và lắm khi chỉ nịnh bậy một câu
cho vui vậy thôi chớ không hề có hậu quả gì khác.
Nàng đã đoán đúng vì Công thuộc hạng đờn ông ấy. Chàng thành
thật mà gián tiếp ngợi khen kín đáo sắc đẹp của Thúy mà chàng chợt thấy. Nhưng
không vì thế mà chàng yêu Thúy hay có ý nghĩ quấy gì về Thúy.
Phải lâu lắm chàng mới quên Nhan được, còn lăng nhăng cho vui
cuộc đời là một điều chàng không nghĩ đến, phương chi Thúy là một người dưới
tay chàng và chàng rất sợ mang tiếng.
Thúy không xúc động nhưng phải hy vọng sau cuộc đối thoại đó.
Tình thế đã tiến được một bước thuận lợi cho nàng là: "Chàng đã nhìn thấy
ta rồi ! Hiện giờ có thể chàng chưa nghĩ gì cả, nhưng rồi chàng sẽ nghĩ. Bằng
hơn là từ thuở giờ chàng như là một kẻ đui mù".
Đến trưa cái ngày mà Công chờ đợi, thấy chàng tập hợp nhơn
viên, những nhơn viên hoạt động bên ngoài, với súng ống xe cộ, Thúy đâm lo.
Công rao lên là đi Saigon. Nhưng Thúy đã biết phong tục của
Quan thuế, họ giữ bí mật công việc gần như trong quân đội, nên nàng vào buồng
giấy của Công, đứng lấp ló nơi cửa.
- Gì đó cô Thúy ?
- Dạ … chiều mai... ông Tỉnh trưởng mới tiếp các Trưởng ty
trong tỉnh, đã có giấy báo trước…
- Ừ, rồi sao ?
- Ông nhớ để có mặt.
- Ừ, cám ơn cô đã làm bổn phận đắc lực.
- Nhưng ông đi.
- Tôi sẽ về tới nội trong buổi sáng mai.
- Nhưng mà...
- Nhưng mà làm sao ?
- …. có súng ống...
- Ừ, có súng ống tôi lại càng về sớm hơn.
- Em nghĩ, nhơn viên đi cũng đủ rồi. Như lỡ, xin lỗi ông,
ông… bị thương thì sao ?
- Thì Tỉnh trưởng càng khen tôi chớ sao. Nếu tôi bị thương
xoàng, ổng sẽ vuốt ve rờ rẫm vết thương của tôi. Còn như tôi bị thương nặng, vắng
mặt, ông sẽ hỏi lý do, người ta sẽ giải thích, ổng sẽ khen ngợi tôi.
Công nói rồi cưới xòa. Nhưng chàng nín cười thình lình. Chàng
chợt thấy tất cả lo lắng và tuyệt vọng lộ ra nơi mặt Thúy.
Không, một nhơn viên không lo lắng cho an ninh của thượng-cấp
đến như thế. Cảm giác của chàng ngày hôm kia quả không sai.
Mặc dầu không nghĩ gì về cô thư ký đánh máy nầy cả, Công cũng
cảm động lắm và an ủi:
- Cô đừng lo. Tại cô không quen hoạt động bên ngoài mới ngại
đó thôi, chớ chúng tôi đi như đi dạo mát, không hề gặp nguy hiểm.
- Em sợ lắm.
- Tôi hết sức cám ơn cô. Nhưng để rồi cô xem, ngày mai tôi ăn
cơm trưa ở đây như từ hai năm nay.
Thật ra Công cũng hơi sợ. Đã bảo chàng tin dị đoan kia mà. Sự
ngăn cản là một điểm chẳng lành đối những kẻ hay tin nhảm. Nhưng chàng cố tươi
cười ra vẻ xem trận đánh sắp tới đây như là một trò chơi của trẻ con, một là để
trấn tỉnh Thúy, hai là để trấn tỉnh chính cả chàng nữa.
Thúy cứ đứng đó mãi khiến chàng phải bất lịch sự:
- Thôi, cô để tôi yên vài phút để tôi chuẩn bị những chi tiết
cuối cùng.
Cúi gầm mặt xuống bàn, Công lại nhướng mắt lên mà nhìn trộm
Thúy, chàng thấy hình như Thúy rưng rưng lệ. Để an lòng mình, chàng tự bảo rằng
chàng quá chủ quan nên ngỡ Thúy quí trọng chàng lắm chớ thật ra cô ấy chỉ lo lắng
có chừng mực thôi.
Thúy lui ra rồi, Công xem lại coi bức họa đồ có thật nằm
trong túi áo trong của chàng hay không, đoạn mở hộc tủ rút cây Colt 9 ra thọc
vào bao da đeo bên hông trái của chàng.
Xong đâu đấy, chàng ra sân để lên đường cùng với nhân viên của
chàng, Từ tỉnh lỵ lên tới đồn biên giới, theo đường Vũng Chàm, chỉ mất hai tiếng
đồng hồ là cùng nếu chạy xe thong thả, và kể đến tình trạng không được tột lắm
của con đường đó. Và bây giờ chỉ mới có bốn giờ. Lẽ ra Công không nên đi sớm
như vậy, rất dễ bị thiên hạ thấy chàng ra quân. Biết đâu chúng nó không đặt người
rình sự động tịnh của chàng và biết đâu chúng nó lại không có một lối thông tin
mau lẹ đi báo động cho bọn tải hàng đề phòng ?
Nhưng độ rày xê dịch về đêm không được an ninh lắm.
Vả lên tới đó rồi còn phải báo tin cho các đồn bót hay chớ
không thể âm thầm làm việc. Chàng phải còn dư ít lắm là một tiếng đồng hồ nơi
đó trước khi trời sụp tối.
Vì thế mà chàng đành không giữ trọn bí mật của kỳ xuất chinh
nầy.
Chỉ có Công là ăn mặc trây-di như quân nhân, sáu nhơn viên
khác chỉ mặc âu phục thường, bằng đủ thứ vải đủ thứ màu.
Tuy họ không có súng máy cho oai, nhưng súng trường của họ lại
đắc dụng hơn cả tiểu liên nữa. Đó là bốn cây garant bắn tự động, mỗi cây có thể
bắn ra một loạt tám phát, bốn cây cùng bắn một lúc thì còn ghê hơn cả trung
liên nữa.
Súng garant lại bắn được xa lắm, mạnh lắm và dễ trúng đích
hơn tiểu liên và trung liên nữa.
Cả bảy người đều là tay thiện xạ, phần đông là cựu quân nhân,
trừ Công ra, nhưng chàng đã được huấn luyện quân sự hẳn hòi theo cấp cao đẳng.
Nếu cần phải đánh xáp lá cà, họ vẫn đủ bản lãnh so dao găm với
địch thủ, cái thứ vũ khí âm thầm ấy mà ai cũng có mang theo, kể cả Công nữa.
Xe của họ là loại xe cam nhông mái lá sườn tre, dài nhằn, thứ
xe chở hàng của ta, người trong thành phố sẽ ngỡ là xe vận tải thường. Kẻ khác ở
các truông vắng cũng ngỡ như vậy vì phía sau xe được phủ màn bố bịt bùng, phía
trước chỉ có một nhân viên lái xe mặc thường phục ngồi mà thôi.
Công bảo họ soát lại vũ khí và y phục rồi ra hiệu cho cả đoàn
lên xe.
Thúy đứng trong ty mà nhìn chính Công mở dây gai để buông bức
màn bố xám xuống. Tấm bố xổ ra, che mất mặt của chàng, rồi che khuất thân mình
chàng, đoạn đôi giày trận của chàng cũng không còn trông thấy nữa.
Xe vụt chạy ra đường, tiến về hướng Tây Bắc.
° ° °
Đêm không trăng, nhưng trời sáng sao. Ai đã từng sống ở thôn
dã đều biết rằng ánh sáng của tinh tú, xem như là không đáng kể, thật ra đủ tỏ
rạng để soi đường cho bộ hành, để giúp họ làm những công việc rất quen tay.
Rừng biên giới Miên - Việt ở vùng nầy không phải là rừng già,
lắm nơi cây cối nhỏ bé và lưa thưa quá như cây chồi, nên đoàn Quan thuế đi
không khó khăn bao nhiêu.
Mặc dầu Công đã đưa chỉ thị thật đích xác, đường đi nước bước
được chỉ dẫn rành mạch, chàng vẫn đi trước để dẫn đầu.
Họ không ngậm thẻ như lính trận ngày xưa trong những cuộc đi
cướp doanh trại, nhưng cả bảy người đều lặng lẽ bước, chỉ có điều là họ không
tránh được đạp lên lá chết, lên nhánh mục rơi xuống đất. Nhánh lá khô gãy kêu
răng rắc đánh thức tỉnh những con chim ngủ tối, chúng hoảng hốt đập cánh, kêu
nhau, nhưng rồi im trở lại vì thấy không có nguy hiểm gì.
Ở đây, muông thú cũng hiếm hoi. Thỉnh thoảng họ mới nghe một
con mang một con mển nào chạy qua trước mặt họ hay bên cạnh họ, tiếng bước nhẹ
nhàng như chơn chúng được bọc gòn, chỉ làm cho lá chết cựa mình là cùng.
Họ lặng lẽ bước. Lâu lâu viên chỉ huy đoàn dừng bước lại
thình lình, đứng do dự trước một đám đất trống hay một ngọn đại thọ mà hắn thấy
không hệt với những gì đã được tên điềm chỉ tả tỉ mỉ.
- Thèm một điếu thuốc muốn chết đi xếp ơi ! Một nhơn viên
than nho nhỏ.
- A quên, Công thủ thỉ, ai có đem hộp diêm và quẹt máy theo ?
Cả bọn đều có mang lửa trong người họ. Nghe hỏi như vậy họ mừng
rỡ hết sức, ngỡ được hút thuốc cho đỡ ghiền, nên nhao nhao lên khoe đức tánh lo
xa của họ.
- Đưa đây xem ! - Đưa hộp diêm anh cho tôi mượn. - Đâu quẹt
máy của anh đâu ?
Công đi qua một vòng thì gián tiếp tịch thâu tất cả bảy món đồ
chơi nguy hiểm đó. Một ánh lửa lóe lên là kế hoạch của chàng sẽ đổ vỡ và đoàn
có thể lâm nguy.
Công đã quên tiên liệu điều nầy nên khi nghe anh chàng đầu
tiên đòi hút thuốc, chàng hoảng lắm.
Cả bọn tiu nghỉu và hối hận đã xin phép để bị tịch thâu lửa.
Phải họ dè như vậy họ đã đặt chỉ huy trưởng của họ trước một sự việc đã rồi. Có
bị quở trách, bị tịch thu gì, cũng đã được rút xong vài khói.
Rồi họ lại tiến lên, theo hướng Tây Nam mà trực chỉ.
Thỉnh thoảng kẻ dẫn đàn lại phải dừng bước nữa, ngước mặt lên
trời nhìn qua những tàng lá thưa để tìm sao hầu minh định lại vị trí và hướng
đi của họ.
Mặc đầu sương đêm đã bắt đầu rơi và âm khí của rừng không được
khô ráo lắm, mồ hôi của họ đã toát ra dầm dề và cả đoàn đều khát nước rát cổ họng.
Họ khởi hành vào lúc vừa khuất mình, tức vào khoảng hơn bảy
giờ rưỡi tối và giờ đã mười giờ hơn. Đi suốt ba tiếng đồng hồ trên những nẻo đường
không suông sẻ, phải vẹt nhánh lá, phải nhảy qua những cây chết ngã trên đường,
họ đã thấm mệt.
Tuy khát, họ không được giải lao, Công đã cấm ngặt họ mang nước
theo vì uống nước vào sẽ đau xóc hông, không đi được nữa.
Họ tạm giải khát bằng nửa trái chanh gói cất trong túi và lấy
ra ngậm cho đỡ khô cổ.
Cả đoàn đang đều bước tiến trong bóng tối thì họ bỗng thấy
ánh sáng minh mông trước mặt họ. Ánh sáng nầy chỉ tương dối sáng thôi, sánh với
bóng tối vây phủ lấy họ suốt ba tiếng đồng bồ qua.
Đó là thứ ánh sáng đêm sao soi lên mặt sông mặt hồ, và quả thật
họ ngỡ đang đi đến ven một cái hồ rộng nào giữa rừng.
Trước mặt họ không còn cây cối gì nữa cả. Công đưa tay lên ra
hiệu cho họ dừng bước. Bàn tay của chàng nổi bật lên, đen thui, trước thứ ánh
sáng mờ đó.
Bây giờ đoàn người vốn dẫn hàng một, đã dồn cục lại sau lưng
Công.
Cải hồ mà họ tưởng tượng ra nãy giờ chỉ là một cánh đồng trống
minh mông, rộng ước chừng năm mươi mẫu.
Nơi đây, ngày xưa, cỏ lẽ người Sơn cước đã đốt rừng để làm rẫy.
Qua mấy mùa lúa, theo thói quen, họ bỏ rẫy nầy vì đất đã bớt màu mỡ, để đi đốt
khu rừng khác.
Từ ấy những nay rẫy lúa bỏ hoang biến thành trảng tranh và đầu
mùa khô nầy, do một rủi ro nào đó không rõ, toàn thể trảng tranh nầy bị cháy rụi.
Họ đoán như thế về điểm cuối cùng của tình trạng cánh đồng,
vì mặt đất ở đây đen thui. Cỏ xanh về đêm cũng không thể nào đen sẫm đến như thế.
Công thì thầm:
- Ta đi vòng qua phía bờ bên kia, mà phải đi dọc theo ven rừng.
- Sao không băng ngang cánh đồng, xếp ?
- Đưa đầu cho chúng bắn à ? Chúng nó cũng sẽ đến cánh đồng nầy
và cũng không dại gì mà băng ngang để làm đích cho ta dễ nhắm. Chỉ có rừng rậm
mới là tùng đảng của họ và ta.
Nhưng chúng nó sẽ bọc cánh đồng nầy dọc theo ven rừng phía
bên kia, nên ta phải qua bên ấy để… đón khách.
Khi đi tới vị trí đã nhắm, Công xem lại đồng hồ dạ quang đeo
nơi tay thì thấy đã mười một giờ rưỡi rồi.
Họ lùi xa vào trong vì không thể tiên đoán được bọn tải hàng
sẽ đi sát bờ ruộng hay không, không khéo chúng lại đi sau lưng họ thì hỏng cả.
Cuộc bố trí đã được sắp đặt hồi còn ở ty, nửa tiếng đồng hồ
trước lúc khởi hành, nên ai nấy đều biết vị trí mà họ phái đứng rình nên không
đợi viên chỉ huy dặn dò gì thêm, họ phân tán cả ra.
Muỗi rừng nhiều quá, họ rất khổ sở mà chỉ được xua tay đuổi
chúng thôi, chớ không dám đập. Đập một vố vào chính gò má của mình, bất quá giết
được vài con là cùng trong muôn ngàn con đang bay đặc không trung. Nhưng chết một
con, mòn một mũi và giết được thì hả giận đỡ khổ phần nào.
Thời gian trôi chậm như rùa bò, ai cũng nghe mỏi mệt cả nhưng
không dám ngồi. Ngồi là ngủ quên mất. Ngồi dựa gốc cây là cái thèm của mọi người
bây giờ, họ thèm ngồi như vậy như đang qua truông vào trưa hè, thèm nước dừa.
Có lẽ họ thèm ngồi còn hơn thèm thuốc điếu nữa.
Ai có đồng hồ dạ quang, thỉnh thoảng đưa tay lên xem. Đã quá
nửa đêm rồi mà theo lời viên chỉ huy của họ thì bọn tải hàng phải đi qua đây lối
mười hai giờ khuya.
Riêng Công, chàng hơi lo lo là bọn chúng đã đi qua rồi. Nếu
thế thì mất công toi, uổng không biết bao nhiêu. Nhưng chàng không nghe mình có
lỗi. Đoàn không thể ra khỏi đồn bót biên giới trước khi trời khuất mình vì như
vậy là gián tiếp báo tin cho bọn buôn lậu.
Ra khỏi đồn bót họ đi không kịp thở thì có trễ hội là tại bọn
kia đi giỏi quá chớ không phải là chàng tính sai thời dụng biểu.
Công cố nhớ đến một câu chuyện để tự an ủi cảnh bị muỗi đốt
lúc nầy. Đó là câu chuyện con mòng.
Vào đầu mùa mưa: mầm giống mòng ẩn đâu không rõ, bỗng sanh sản
vô số kể. Thú rừng phải đào ngũ rừng xanh, trốn ra những chồi cây gần xóm làng,
còn bò vào rừng kéo củi bị chúng cắn phải rống lên.
Con mòng to bằng đầu mút đũa, thế mà hằng trăm hằng ngàn con
cắn một con vật thì cho đến con voi cũng phải sụm đừng nói chi là bò.
Những tiều phu, những anh đánh xe bò kéo củi thì có giày, có
bao tay, bao cổ, bao má - cố nhiên là chế tạo thô sơ bằng giẻ rách - còn bò thì
không được tự vệ bằng gì cả.
Thành thử mỗi xe bò đi kéo củi đêm, vào mùa đó, phải được hai
người đi theo. Họ được võ trang bằng một thứ dao to bãng mà không có lưỡi bén.
Họ dùng dao ấy để gợt mòng trên da bò, gợt một nhát, nếu biết cách, giết được hằng
trăm con, còn như làm thiếu phương pháp thì ít ra cũng đuổi được mấy trăm con
mòng ấy trong mấy phút.
Được cái là mưa xuống chừng chín mười đám là mòng bị tiêu diệt
cả cho đến đầu mùa mưa tới.
Dạo nầy mới đầu tháng tư. Một tháng nữa, chắc phải để bọn
buôn lậu tự do, nếu không chế ra được thứ mặt nạ lưới như thợ nuôi ong bên Âu
châu. Không thể bắt nhơn viên của chàng chịu lì cho mòng cắn mặt và tai như các
lão thợ rừng đã rán chịu.
Mười hai giờ mười lăm… mười hai giờ rưỡi…
Cả đoàn bắt đầu thối chí trừ Công. Chàng quyết phục kích suốt
đêm và đã trót cực khổ, cố chịu luôn kẻo phải hối hận khi được tin về sau rằng
chúng qua đây hồi gần sáng.
Mệt mỏi, buồn ngủ, bị muỗi đốt, giờ họ lại nghe đói và một nỗi
thèm mới lại nổi lên, thêm vào ba cái thèm trước là thèm thuốc, thèm nước, thèm
nằm. Họ ao ước được húp vài chén cháo gà như ở nhà đi coi hát ra, mặc tình mà
đánh chén.
Một giờ khuya … Công nằm xuống, bươi nhẹ lá khô rồi nghiêng mặt,
đặt tai sát xuống mảnh đất con vừa được vạch trần ra. Thuở bé chàng có đi Hướng
Đạo và học được lối nghe tiếng chơn đi đằng xa ấy của người da đỏ, mà hướng đạo
sinh thường học tập.
Vừa đặt tai xuống đất là chàng giật nẩy mình, ngẩng lên ngay,
toan hành động liền, nhưng chàng hạ tai xuống để lắng nghe lại cho thật chắc ý.
Cứ theo phỏng định của chàng thì có một đoàn người rất đông
đang tiến về đây, còn ở cách xa chàng độ một ngàn bước. "Rất đông" chỉ
là cảm giác thôi. Tiếng bước của bò mạnh hơn tiếng bước của người nhiều lắm và
bò có tới bốn cẳng thì một chục con bò, làm ồn như hàng trăm người.
Bấy giờ Công lồm cồm ngồi dậy rồi đứng lên. Chàng đưa vào miệng
hai ngón tay thổi lên một tiếng "hoéc" như tiếng tu hít.
Đó là ám hiệu ra lịnh cho người phục kích chuẩn bị. Sáu người
kia đang chán nản có ý muốn "nằm đại xuống để ngủ mẹ nó cho đã cơn mỏi mệt,
chớ hơi đâu mà rình ma" chợt nghe hiệu lịnh; giựt mình đánh thót một cái rồi
tỉnh hẳn ra.
Họ xem lại coi gốc cây mà sau đó họ núp, có đủ to hay không,
đoạn họ quì một chơn. Súng đã được lên đạn từ lức ra đi, giờ họ mở khóa an
toàn.
Bây giờ ai cũng nghe được tiếng xào xạc đằng xa cả. Bò khua
lá, tuông nhánh mà đi, không thể ra lịnh cho chúng im lặng tiến như người.
Không khí im phăng phắc, thế mà nghe như gió thổi rì rào
trong tàn cây. Lại nghe như là một đám mưa đang chạy lên đầu rừng, từ đằng ấy lại
đây.
Bỗng tiếng rì rào im bặt. Chúng đã tới trước cánh đồng và có
lẽ dừng lại để nghe ngóng.
Mặc dầu đây không phải là chuyến xuất chinh lần đầu của họ, cả
bảy người, kể cả viên chỉ huy đều hồi hộp. Gặp địch thình lình, thích lắm, có
thể chết ngay hay hạ chúng ngay, và thần kinh khỏi bị căng thẳng một cách khó
chịu trong nhiều phút như thế nầy.
Nhưng lạ, sao chúng im lâu quá ! Có suy nghĩ để quyết định
cái nẻo phải theo, cũng mất mười phút là cùng. Đó là một hạng người định việc một
cách chớp nhoáng, cho đến đỗi mạng người kia mà chúng chỉ quyềt định trong nháy
mắt thôi. Chúng lại không có thói quen nghĩ ngợi dọc một con đường tương đối ngắn
như đường tải hàng đêm nay.
Khó chịu quá ! Từ khi tới nơi, họ đợi mấy tiếng đồng hồ liên
tiếp mà không nóng lòng bằng mười lăm phút nầy.
Hai mươi phút đã qua rồi … Công đâm lo, tự hỏi phải chăng là
họ đổi hành trình ?
Bỗng cả bọn đều nín thở. Đoàn tải hàng đã tiến tới trước mặt
họ rồi. Chúng đi theo một nẻo thật bất ngờ, đi ngoài đồng trống nhưng sát mé rừng.
Vì thế mà bò không khua lá nên họ không hay, ngỡ chúng còn ở đằng đầu cánh đồng.
Bọn nầy quả là những tay chuyên nghiệp. Đi như vậy mau hơn là
đi trong rừng. Bên kia cánh đồng có ai rình nhìn qua không thể thấy, chúng chỉ
sơ hở chỗ nầy là bọn phục kích có thể rình bên nây cánh đồng.
Công đã dặn dò từng ly từng tí. Phải hạ bò trước vì bò là những
cái đích lớn, bắn là phải trúng chắc một trăm phần trăm.
Bò ngã, bọn buôn lậu bắt buộc phải chiến đấu chớ không thể tẩu
thoát vì hàng hóa còn quý hơn là mạng sống của chúng nữa; bảo vệ hàng hóa hay
là chết, đó là châm ngôn của bọn tải hàng, cái khoen quan trọng nhứt trong một
sợi dây xích buôn lậu.
Hạ bò trước tức là báo động cho địch biết để ẩn núp và phản
công, bên quan thuế không còn hưởng được ưu thế của sự đánh bất thần. Nhưng bù
lại, họ được cây cối bảo vệ còn bên buôn lậu thì phải ở chỗ lộ thiên mà đánh trận.
Sự bù đấp nầy chỉ có được một cách bất ngờ, trong truờng hợp
độc nhứt nầy thôi nhờ bọn buôn lậu chọn đi ngoài đồng trống.
Nếu không, bên quan thuế phải chịu thất thế. Nhưng Công đã
cân nhắc kỹ như một nhà chiến lược nhà nghề. Thất thế nhưng được việc. Hạ người
trước vẫn không thể hạ hết trong loạt súng đầu mà bò sẽ hoảng sợ chạy mất cả.
Như thế, mất hàng hóa, tang vật, lại không tiêu diệt được trọn ổ.
Đoàn phục kích hồi hộp vì thế: Họ phải hành động một cách
"lạy ông tôi ở bụi nầy", bọn buôn lậu sẽ kịp núp và bắn trả họ một
cách hữu hiệu vì chúng sẽ nhìn lửa súng trong đêm tối mà biết họ núp ở đâu.
Họ phục kích thành một hàng dài, và đoàn tải hàng cũng tiến tới
thành hàng dài. Một con bò đã lọt vào vòng. Họ chưa nhúc nhích. Hai con bò lọt
vào vòng, ba con bò lọt vào vòng…
Chúg nó nổi bật lên nền sáng mờ của cánh đồng như những cái
hình cắt bằng giấy đen dán lên mặt một chiếc đèn kéo quân mà trong đó cây nến
đã cháy lụn chỉ còn lập lòe một đốm lửa.
Bốn con bò đã lọt vào vòng... Năm con bò...
Bọn tải hàng mỗi đứa dẫn một con vật mang bành hàng hóa lớn
trên lưng.
Sáu con bò... Bảy con bò…
Đoàng !... Công bắn ra phát súng lịnh và bốn cây garant tức
thì nhả đạn. Không có con bò nào thoát cả vì đích gần và to quá.
Cuộc tự vệ của bọn tải hàng thật chớp nhoáng, khiến bọn nầy
suýt ẩn núp không muốn kịp. Cây tỉểu liên của chúng, nhờ bắn gần nên có hiệu lực
thật đáng sợ chớ không như họ tiên liệu. Có lẽ chúng núp sau những xác bò vừa
ngã chớ ngoài ấy không có mô đất, gốc cây nào cả.
Bên Quan thuế không còn thấy gì được hết vì khi bò ngã xuống
đất rồi thì người cũng nằm liền theo, địch đã thấp xuống và lẫn trong màu đen của
cỏ cháy.
Hai bên chỉ xem lửa mà bắn nhau thôi. Trong đêm tối, có những
con đôm đốm thật to và bay nhanh qua, đưa thoi trên không trung.
Tuy nhiên bên Quan Thuế thiện chiến hơn rõ rệt vì họ bắn rất
ít. Kẻ nào bắn nhiều trong trường hợp không thấy địch là là kẻ đó bắn bừa bãi,
đã dễ bị lộ tung tích lại hao đạn, không thể cầm cự lâu được.
Đạn bay vèo vèo và bên kia có tiếng chưởi thề rùm trời.
Mười phút đã qua mà không hỏa lực của bên nào giảm hết, chứng
tỏ rằng chưa có ai bị thương. Đành rằng cả đôi bên đều có đem theo người trừ bị
để thay thế kẻ nào ngã gục, nhưng nếu có sự thay thế như vậy, hỏa lực đã kém đi
trong mấy mươi giây.
Bỗng cây tiểu liên nín tiếng. Bên kia lại chưởi thề inh ỏi.
Có lẽ súng kẹt đạn. Quả thế, cây súng máy ấy nín luôn và chỉ được thay bằng tiếng
chửa thôi.
Hình như ba tay súng trường giựt mình. Nãy giờ chúng ỷ lại
vào cây tiểu liên nên bắn như mưa rào. Giờ thấy cần tiết kiệm đạn, chúng hạ hỏa
lực xuống.
Bọn nầy chắc không được huấn luyện quận sự nên chỉ biết bắn –
có thể bắn rất tài - mà không biết cách rút, nhứt là khi chiến trường là nơi trần.
Chúng cứ nằm đó mà bắn cầm chừng, cốt ngăn địch tiến tới. Có
lẽ đây là lần đầu tiên mà chúng bị bắt chợt ngoài đồng trống giữa rừng, khi sau
lưng và trước mặt đều có cây cối che chở, dầu cho có dốt đánh giặc, chúng cũng
rút được tương đối dễ dàng.
Bây giờ Công điều động các tay súng của chàng để họ mở rộng mặt
trận, kéo dài hàng ngũ ra, đoạn phân ra làm ba cánh, hâm dọa bao trùm bọn buôn
lậu.
Nếu chúng nó sợ bao vây, rút lui có phương pháp cũng lâm nguy
vì hễ càng lui tức là càng ra ngoài trống; rút lui sái phép còn dễ chết hơn.
Bằng như chúng quyết tử vì không thể lui được, thì cánh tả và
cánh hữu cũng tiêu diệt được chúng vì đạn của họ không bị chướng ngại bò ngăn cản,
tức là địch bị đánh ngang hai hông.
Sự việc xảy ra theo dự đoán thứ nhì. Bọn buôn lậu quyết tử có
lẽ vì không biết phép rút, không dám rút.
Súng lại nổ như mưa rào khi chúng bị cánh tả và cánh hữu của
Quan Thuế tấn công bên hông. Cây tiểu liên kẹt nãy giờ lại lên tiếng trở lại được.
Thình lình một súng trường bên buôn lậu im hơi.
- Rồi một mạng, Công lẩm bẩm.
Mạng ấy được thay thế sau đó một phút đồng hồ. Và đồng thời
bên Quan thuế cũng có một nhân viên bị thương.
Kẻ bị thương thuộc cánh hữu trong đó có Công. Chính chàng
thay cho người nầy. Không muốn cho ai thọ nạn thêm nữa cả, chàng hô to lịnh
ngưng chiến.
Chiến thuật cửa chàng bây giờ là chọc cho chúng nó bắn cho hết
đạn, đợi sáng ra, bắt sống cả lũ. Khi mà địch không rút được thì áp dụng chiến
thuật ấy rất lợi sinh mạng của chiến đấu viên.
Nhưng có lẽ hai cánh kia không nghe được lịnh chàng nên họ tiếp
tục vừa bắn vừa tiến, nhứt là khi cây tiểu liên của bên kia lại kẹt.
Quan thuế lại bị thương một người nữa trong cánh trung ương
do viên đạn cuối cùng của cây tiểu liên ấy.
Rồi bên buôn lậu, một tên ngã, và được thay thế tức khắc.
Cánh tả của quân chàng bắn như đốt pháo tết, có một lần họ bắn
liên thinh tám phát đạn một lượt vì súng garant là loại súng bắn tự động.
Bên buôn lậu lại mất một cây súng trường mà không có người
thay.
Công đoán rằng chúng nó bị thương đến sáu tên, nếu không, phải
có ba cây súng nổ.
Độ năm phút sau một cây súng nữa nín tiếng.
Thình lình súng nổ rền trời giữa cánh đồng trống, đạn bay vèo
vèo bên tai họ và cả bọn phải vội nằm rạp xuống sát đất.
Phản ứng kỳ lạ của cả đôi bên trong trận nầy là họ đều im bặt.
Không bên nào biết được đó là súng của bạn hay súng của thù, nên họ thấy bất động
là hơn.
Cứ bằng vào các đóm lửa, Công đoán bọn ấy đông trên hai mươi
tay súng.
"Lạ quá, chàng nghĩ, đồn bót không thể bắn mù quáng như
vậy trong khi chưa biết vị trí của thù và của bạn. Không thể nào họ lại tiếp viện
một cách dốt nát như thế. Vả lại mình có xin tiếp viện bao giờ đâu.
Còn nghi là viện binh của bọn buôn lậu thì càng vô lý hơn. Bọn
nầy tự lực tự vệ, không bao giờ có viện binh cả".
Thấy rõ ràng là bên kia cố ý bắn bừa vì chúng đoán biết thù
hay bạn gì, phản ứng cũng như nhau là im tiếng súng bởi chưa biết ai bắn.
Phải thành thạo chiến trận lắm mới đoán được như vậy. Chúng bắn
bừa để chọc cái phản ứng im lặng toàn thể nơi đây cốt xáp lại gần chỗ nầy.
Chừng xáp lại gần xong rồi, chúng mới hành động thật và bên nầy
cả hai địch thủ nới biết chúng là ai.
Công đoán quả không sai. Lũ nầy đứng xổng lưng mà bắn vì các
lằn lửa cao lắm. Vừa bắn chúng vừa chạy tới rất lẹ, xem như là vào chỗ không
người.
Lúc chúng chỉ còn cách đây độ hai trăm thước thì sau một khẩu
hiệu hô to lên, chúng thôi bắn và nằm rạp xuống cả.
Thật là tài tình. Chúng có thể cứ tiến tới như thế mà khỏi phải
bắn một viên đạn nào.
Người ta lo bắn nhau, cỡ có thấy chúng đi nữa, cũng không hề
tấn công chúng. Nhưng chúng làm như vậy là cốt để cứu cái bên lâm nguy mà chúng
biết là bên bạn, vì trong khi chúng tiến thì bên tấn công phải ngưng bắn, và như
thế bên lâm nguy không bị tiêu diệt.
Điều nầy, Công mới chợt nghĩ ra và tức thì chàng biết ngay đó
là thù.
Kẻ thù lại tự xưng là kẻ thù bằng lời kêu gọi to sau đây:
- Chú Tám đừng lo, có tôi cứu đây. Ráng mà núp một hồi là tôi
thanh toán hết.
Tức thì súng bên ấy lại nổ. Hằng trăm con đôm đốm to tủa ra từ
bóng đêm.
- Rút !
Công vừa quát lịnh triệt thối, vừa bắn trả cho bạn đồng đội của
chàng lui.
Cả ba cánh rút vào rừng rất chậm chạp nhưng đúng phương pháp
lắm; một cánh bắn hai cánh rút, cứ thay phiên như vậy, ba cánh đểu rút được cả
mà không bị địch tràn tới tàn sát.
Công tuyệt vọng quá. Đây là một hột cát rơi vào bộ máy đồng hồ
của chàng, làm sai cả kế hoạch của chàng đi.
Sự can thiệp bất ngờ của một đệ tam nhân hoàn toàn chưa biết
ai, làm chàng ngạc nhiên hơn là tức giận.
Thắng lợi đang nắm chắc trong tay, bỗng nhiên vuột đi vào
phút chót do một sự tiếp cứu không hề dự phòng trước được.
Bốn tay súng không địch nổi với hai mươi tay, chàng đành phải
cho quân mình triệt thối. Quân tiếp viện cho bọn buôn lậu ý chừng không định ăn
thưa với Quan thuế nên chi mặc dầu hơn binh một cách có thể đè bẹp công quyền,
họ chỉ làm áp lực cho Quan thuế rút lui chớ không xung phong, cũng chẳng truy
nã.
Tuy nhiên họ tiếp tục bắn không ngớt và Công đoán biết mục
đích của hỏa lực đó: nó che chở cho sự dọn dẹp chiến trường.
Độ mười lăm phút sau, đoàn quân ma nầy vừa bắn vừa đi lùi trở
lại đầu cánh đồng, nơi mà bọn buôn lậu đã xuất phát.
Thế là ít ra cả đoàn tải hàng, từ người sống đến xác chết đều
thoát được do ngã đó, nếu hàng hóa bị bỏ lại đi nữa.
Bây giờ đã ba giờ sáng rồi. Công tập họp binh sĩ để kiểm điểm
quân số và săn sóc thương binh ! May quá, hai người bị thương xoàng khi nãy không
lưu huyết nhiều lắm. Chính họ đã tự lết đi được lúc cả đoàn rút lui vào rừng.
Khi xong đâu đó, cả đoàn Quan thuế nghe gà rừng gáy chập đầu.
- Giờ làm sao Trung úy ? Một nhơn viên hỏi thăm.
- Đợi sáng chớ còn làm sao.
- Uổng quá !
- Thật là lạ. Thắng bại là sự thường và chính tôi đã bại nhiều
trận rồi, nhưng chưa bao giờ gặp một cuộc can thiệp bất ngờ như thế nầy.
- Xếp của tụi nó tên là chú Tám.
- Ừ nhưng biết tên hắn, không giúp ta được gì.
- Không rõ hắn chết hay sống ?
- Có lẽ hắn xử dụng cây tiểu liên. Tiểu liên bị kẹt hai lần,
nhưng không hề giảm hỏa lực rồi lại được thay thế. Ít ra, hắn không bị thương
trong lúc bắn.
- Nếu Trung úy cho lịnh xung phong, ta đã toàn thắng trước
khi bọn kia đến.
- Ừ, nhưng ai ngờ. Đã chắc thắng, còn xung phong làm chi cho
hao binh. Ai ở vào địa vị tôi cũng đều hành động y như tôi.
Họ làm thinh và chờ đợi. Súng bên kia đã thôi nổ từ lâu, Công
đoán họ đã đi xa lắm rồi.
- Xếp ơi, không biết hàng hóa còn hay không.
- Có lẽ chỉ còn xác bò thôi. Chúng nó đâu có hốt hoảng mà phải
bỏ cả.
Gà rừng đã gáy chập nhì. Cái phần sinh vật thức đêm của rừng
rú bắt đầu im hơi và cái phần dậy một lượt với mặt trời lại khởi sự đánh tiếng
đâu đây.
Đầu rừng đằng hướng Đông đã rựng sáng, Chân trời nơi đó ửng hồng
lần lần. Mặt trời sắp lộ diện để thản nhiên soi sáng như đã làm từ bao nhiêu
muôn năm rồi, soi sáng chiến địa đẫm máu mà mấy tiếng đồng hồ trước đây, cái chết
bay kề sát tai mỗi người trong cả đôi bên.
Công ra hiệu cho đoàn Quan thuế bất động nhưng chính chàng lại
cầm cây Colt 9 đi thị sát chiến trường.
Ngoài kia, ánh sáng đã đủ tỏ để cho chàng thấy rằng chiến trường
đã trống người. Chàng hô lịnh cho đoàn chàng tiến tới.
Khi họ đổ ra cánh đồng thì họ thấy mười xác bò nằm ngổn ngang
trên cỏ cháy, những bành hàng hóa trên lưng bò đã bay theo bọn người rút lui
trong đêm.
Nhiều con bò bị trúng gần hai mươi viên đạn, nát cả bụng. Máu
bò và máu người đã đông đặc trên mặt đất đen.
Họ nhìn cảnh tượng ấy mà tưởng tượng xa vời hơn, hình dung ra
những xác người mà bọn can thiệp đã mang đi, riêng Công, chàng nghĩ đến cái
"chú Tám" có đôi mày rậm và cái càm vuông.
Thế là chàng không bị hạ. Chú ta có thể bị thương nhưng được
cứu thoát với cả hàng hóa nên chắc sẽ không nản chí ra hàng như chàng mong ước
hão.
Mặt trời chưa nhô lên khỏi đầu rừng đằng hướng đông, nhưng đã
đủ sáng để họ có thể lên đường mà không sợ sự phản trắc nào nữa cả.
Vì thế mà Công nhét súng vào bao rồi ra lịnh phản hồi.
Giữa trận mưa đạn cuối cùng khi đêm, một tiếng gọi nho nhỏ:
- Chú Tám ! Chú ở đâu ?
Tám Huỳnh rên hừ hừ, vừa rên vừa hỏi:
- Ai đó ?
- Thạch Poul đây chú Tám à !
- À, Poul, cám ơn lắm. Nhưng sao lại biết tôi lâm nạn ?
- Sẽ giải rõ về sau. Chú bị thương có nặng lắm không ?
- Ở vai. Đau lắm.
- Ta nên đi ngay, rồi sẽ hay.
Bấy giờ Thạch Poul đã mò kiếm được tám Huỳnh trong khi quân của
hắn bắn. Hắn quì xuống rút khăn mu xoa ra để băng vết thuơng của Tám Huỳnh cho
máu bớt chảy và hỏi:
- Chú đi được không ?
- Tôi mệt lắm, chắc vì máu ra nhiều.
- Được, để tôi cõng chú.
Nói rồi hắn ra lịnh cho sáu tay súng tiếp tục bắn che chở cả
bọn, còn bao nhiêu người thì tìm các tên bị thương mang đi và mang hết cả hàng
hóa theo.
Nằm sấp trên lưng của Thạch Poul, Tám Huỳnh không mừng rỡ được
cứu thoát, chính vì chân tướng của ân nhân của chú.
Thạch Poul là một người Cao Miên lai Triều Châu, mẹ Thổ cha
Khách, nhưng lớn lên lấy họ mẹ.
Y sanh đẻ tại làng Phú-Tâm, quận Đại Ngãi, tỉnh Vĩnh-Bình.
Năm y hai mươi tuổi, tức cách đây mười năm, y xin vào làm bạc-ti-dăng cho đoàn
quân viễn chinh của Pháp chớ không theo nghiệp làm rẫy của người cha Triều Châu
vừa chết, vì rất lười lại thích tiêu pha, ăn nhậu.
Làm bạc-ti-dăng đã thỏa được tánh hung tợn khát máu của y, lại
cho y nhiều dịp cướp giựt của dân lành đế có tiền xài phí.
Hai năm sau đó, quân đội Pháp triệt thối toàn diện và giải
ngũ tại chỗ tất cả lực lượng bổ túc của họ, vì thế mà Thạch Poul được trả tự do
trong tỉnh Tây-Ninh là nơi y phục vụ.
Thay vì về xứ, y ăn cắp súng ống và lựu đạn để đi ăn cướp.
Ban đầu y đánh cướp quanh các quận, các làng trù mật trong tỉnh, nhưng mấy
tháng sau, khi trật tự được vãn hồi một cách hoàn toàn, y rút vào rừng làm cướp
biên giới. Trên bước đường rày đây mai đó chốn biên thùy, hai người đã có địp gặp
nhau vài lần.
Bọn nầy, tuy là hoạt động khác nhau, vẫn xem nhau là bồ bịch,
thường có sự hỗ tương giữa họ. Tuy nhiên đây là lần đầu mà hai bọn nầy có dịp
giúp nhau và chịu ơn nhau.
Khi trời sáng hẳn thì họ đã được gần hai cây số rừng dày che
chở.
Tám Huỳnh kiểm điểm lại người và vật thì mới hay đoàn của chú
hao hết ba mạng tử thương và hai mạng bị thương nặng, chưa kể chú.
Thạch Poul hô lính dừng chơn rồi bàn với Tám Huỳnh:
- Nên chôn mấy người xấu số cho đỡ gánh nặng, phải không chú
Tám ?
Tám Huỳnh rưng rưng nước mắt và nói:
- Chớ biết sao bây giờ. Nhưng xin em ra lịnh cho tụi nó làm dấu
cho rõ ràng để ngày sau anh dễ tìm kiếm.
- Cố nhiên.
Bấy giờ máu vai của Tám Huỳnh đã thôi chảy, hai tên bị thương
kia cũng không ra máu nữa, mặc dầu họ chỉ được săn sóc một cách thô sơ thôi. Đó
là may mắn thường gặp của bọn giang hồ mã thượng.
Tuy nhiên một tên Cao Miên đề nghị vào rừng hái lá để dát vết
thương cho họ. Hắn khoe:
- Thuộc hay lặm ! Ba bựa thì khọi liên. 1
Bấy giờ Tám Huỳnh mới đủ thì giờ nhìn kỹ lại kẻ mà mấy năm
chú mới gặp một lần, mặc dầu tiếng tăm hắn đã lừng lẫy trong chốn Lương Sơn Bạc
nầy.
Thạch Poul cao lớn dềnh dàng, nước da đen và nét mặt giống
người Miên hơn là người Trung Hoa với vẻ hung tợn man rợ của giống người bán
khai chỉ mới văn minh chừng bốn năm trăm năm nay đây thôi.
Hắn thọc hai tay vào túi quần, đứng nhìn đống hàng hóa bằng
đôi mắt thèm thuồng. Tám Huỳnh đã lo lắng từ lúc được cứu nguy, mặc dầu chú chỉ
mới thấy đôi mắt nầy thôi.
Đành rằng Thạch Poul giải vây cho chú vì cái nghĩa hổ tương của
bọn cường san - vâng giữa bọn nầy với nhau vẫn có một thứ luân lý, đạo đức
riêng của chúng - nhưng khi thấy lợi, không thể hắn không động lòng tham.
Nếu hắn đòi trả công thì rắc rối quá !
Bọn cướp đông non ba mươi tên mà hết hai mươi tên là người
Miên. Tám Huỳnh cũng biết tiếng Miên rất rành và nghe giọng chú rõ rằng chúng
là người Miên ở bên kia biên giới, giọng nói khác người Miên thổ sanh trên đất
nước Việt.
Bọn nầy đã thạo nghề ăn cướp lục lâm lắm rồi, nên chi Thạch
Poul không có ra lịnh gì hết mà chỉ có sáu tên lo đào huyệt mà bằng đại đao,
còn bao nhiêu chia ra mà giàn thành thế thủ đề phòng chống trả một cuộc tấn
công bất thần của những đoàn quân tuần tiểu biên giới.
Thạch Poul nhìn hàng hóa một hơi rồi bước tới gần Tám Huỳnh
đang được đặt nằm trên lá ú, quì xuống và hỏi:
- Đã đỡ chưa ?
- Đỡ nhưng khát nước muốn chết.
- Tại ra máu nhiều.
- Sao em lại biết anh lâm nạn mà cứu ?
- Tôi biết tin chú nhận hàng tải về Trà Võ.
- Thạo tin lắm. Tám Huỳnh khen.
Thạch Poul cười hề hề:
- Vì nghề nghiệp mà. Ở đây, một con thỏ chết tôi cũng phải biết.
- Cám ơn em lắm, không biết đến bao giờ anh mới trả được đại
ân nầy.
Tám Huỳnh gọi hắn bằng em ngọt xớt, và chỉ dám xưng anh với hắn
thôi. Chú ta nói thế để ngầm tỏ rằng: "Mầy nên biết bao sẽ đáp ơn bằng
cách khác, chớ mầy không được rớ tới hàng hóa nầy đâu nhé. Mầy mà gây sự với bọn
buôn lậu - ừ, sau lưng tao, còn nhiều người nữa - thì sẽ khổ cho mầy bằng 10
cái nạn bị quan quần trụy nã".
- Gì trong nầy ? Thạch Poul hỏi.
- Á phiện với lại thuốc nhuộm Đức quốc. Ban đầu họ nói có thuốc
trụ sinh nhưng đến phút chót thì không có.
- Uổng quá, nếu có, tôi xin vài ống phòng hờ những lúc tôi và
binh sĩ tôi bị vết thương làm độc.
Tám Huỳnh bây giờ mới thật an lòng. Thạch Poul dùng tiềng
"xin" nghĩa là hắn không có, hay đã bỏ ý định đòi chia phần.
Bấy giờ tên đàn Thổ đi hái thuốc đã về đến nơi. Hắn đã nhai
nát cả mớ lá cây hái được nên không còn biết đó là lá gì. Thạch Poul- nói:
- Tôi đã xem kỹ, không còn đạn trong vai chú. Ở tay chơn hai
người kia cũng thế. Thuốc nầy dát thì ngăn được sự làm độc và chắc chắn là chận
được ngay sự lưu huyết.
Thạch Poul để cho tên Thổ dát thuốc cho ba người bị thương,
còn hắn thì đổ rượu cho họ lần thứ ba.
Giữa rừng sâu, bọn cướp nầy chỉ giải khát bằng rượu đế mà
chúng đựng trong thững bình nước bằng nhôm mà quân đội Pháp đã bỏ lại. Mỗi đứa
đeo tới ba bốn bình trên mình và chúng uống rượu như hủ chìm.
Từ lúc Tám Huỳnh kêu khát đến giờ, Thạch Poul đã đổ cho họ
hai lần rượu mạnh rồi,
Vết thương của bọn buôn lậu được bó rịt bằng giẻ rách lấy
trong đồ tế nhuyển của đám cướp rừng. Hai người kia bị thương xoàng ở bắp tay,
bắp chơn nên ngồi dậy được, duy chỉ có Tám Huỳnh thì cứ năm đó mà rên.
Bây giờ mấy lỗ huyệt đã đào xong, không sâu bằng huyệt mả thường,
nhưng đủ che chở cho thú rừng không đào bới được xác người.
Lễ hạ huyệt rất đơn giản nhưng cũng rất long trọng vì chú Tám
đã cố ngồi dậy, lết lại đó để ném xuống mấy lỗ huyệt vài hòn đất.
Chú khóc ra những giọt lệ chân thành vì mấy kẻ xấu số là chiến
hữu lâu năm của chú, họ đã từng chia ngọt xẻ bùi với nhau.
Chú van vái thầm với linh hồn họ rằng sẽ đưa vợ con họ tới đó
và nếu được sẽ cải táng họ về sinh quán hay trú quán của họ.
Thạch Poul sai người của hắn hạ mấy cây thật to cho chận lên mấy
nấm mộ để làm dấu và để ngăn thú đào bới.
Xong đâu đấy, họ lại lên đường. Bấy giờ khỏi mang ba xác chết,
người của Thạch Poul đỡ lấy công việc của chúa tướng họ và một đứa trong bọn
cõng Tám Huỳnh.
Thấy Thạch Poul đi theo sát bên mình, Tám Huỳnh hỏi:
- Ta đi đâu đây, em ?
- Vượt biên giới trở qua bên kia.
- Để làm gì mới được ?
- Chú không có nhờ tôi tải hàng giùm chú cho đến nơi mà hàng
cần đến, thì không lẽ bỏ hàng giữa rừng. Còn thân chú nữa ! Chỉ có ở bên kia
biên giới là việc kiểm soát lôi thôi, hàng sẽ có chỗ cất an toàn mà chú dưỡng bịnh
cũng không sợ quấy rầy. Hay là chú có ý gì hay hơn, chú cứ đề nghị, tôi sẽ giúp
y theo ước muốn của chú.
- Không, anh không có ý kiến gì cả và em sắp đặt tài lắm.
- Nhưng vào lãnh thổ nước em có xa hay không ? Anh ngại lắm.
- Không phải nước của tôi. Tôi không có nước nữa. Tôi sống
ngoài vòng pháp luật của bất kỳ quốc gia nào. Không, chỉ vượt biên giới độ vài
trăm thước là đủ. Biên giới sẽ che chở chú khỏi bị bên Việt-Nam truy nã, còn sự
kém tổ chức bên kia sẽ để chú yên thân.
- Tốt lắm.
- Tôi sẽ gởi chú ở một xóm bạn của tôi, rồi chú làm sao đó
thì làm, tôi không có thì giờ ở lại với chú để giúp đỡ thêm.
- Bấy nhiêu đây là nhiều lắm rồi, anh cám ơn em lắm đó.
Họ đi độ ba tiếng đồng hồ trong rừng, không có chuyện gì xảy
ra cả. Họ vượt biên giới hồi nào Tám Huỳnh không hay, chừng Thạch Poul cho biết
rằng sắp đến xóm bạn, chú Tám mới rõ đây là đâu.
Không phải ở nơi nào dọc theo biên giới giữa hai lãnh thổ
cũng có sông núi hay trụ, cột để làm ranh cả đâu. Những vùng rừng núi thường chỉ
để vậy, có cuộc tranh chấp xảy ra thì đôi bên sẽ chờ các nhà bác học, các nhà
toán học xác nhận. Căn cứ vào những lối tính toán gì đó mà người thường không
thể biết được.
Mà thiên Nhiên ở hai bên biên giới lại giống hệt nhau vì cùng
một dãy đất, một khí hậu, cho đến người, mặc dầu khác giống nòi, khác phong tục
vẫn gần gũi như và sống theo một nếp sống gần giống nhau.
Tám Huỳnh không nghe gì khác lạ cả lúc vượt biên giới trong sự
bất giác. Giờ hay biết đã qua tới bên nây rồi, chú vẫn không nghe gì và không
tin được rằng cái vô hình, cái vô sắc vô hương ấy lại có thể che chở chú.
Mãi cho đến lúc nếp tha la đầu tiên lố dạng, chú mới tương đối
an lòng.
Nếp nhà sàn đầu xóm ấy nát như bất kỳ chòi tranh nghèo khó
nào của ta. Chủ nhà là một người Miên già, râu tóc bạc phơ, nhìn họ tiến đến
trong vẻ dửng dưng của lão ta như là lão đã từng nhìn thấy cảnh nầy rất nhiều lần
rồi.
Họ không ghé, cũng chẳng ai hỏi gì, nói gì cả và cả đoàn tiến
vào xóm ẩn sau một rặng cây sao đương mùa thay lá.
Xóm đông được sáu tha la. Chung quanh đó là rừng dày, không
có dấu hiệu nào chỉ dân trong xóm là nông dân nhưng xóm lại nuôi nhiều trâu bò.
Có lẽ đây là một xóm "hàng đẹn". Danh từ "hàng
đẹn" là danh từ riêng của các tỉnh Đông và miền Nam có nghĩa là trâu bò trộm
cướp.
Ngôi tha la giữa xóm rộng lớn hơn cả và có vè khá giả hơn cả.
Họ đi đến đó và chủ nhà tuột thang xuống, chạy tới nghinh tiếp Thạch Poul rất
cung kính.
Tám Huỳnh cũng biết chút ít tiếng Miên nên nghe được những đìều
sau đây:
- Tôi gởi ba người khách và một mớ hàng hóa trong nhiều ngày.
Họ bịnh và cần dưỡng sức.
- Xin vui lòng.
- Chừng nào họ muốn đi tùy ý họ. Họ có nhờ giúp đỡ gì thì
giúp, nhưng được phép đòi tiền công.
- Dạ.
- Liệu không nguy hiểm chớ ?
- Quan quân chưa hề tới đây bao giờ cả.
- Nếu họ tới thì làm sao ?
- Tùy. Tùy hàng hóa là thứ gì.
- Đồ lậu.
- Có súng ống chớ ?
- Không.
- Thì cũng chẳng sao. Nhưng tốt hơn nên để ngoài rừng.
- Sợ mất.
- Bảo đảm điều đó.
- Sắp tới mùa mưa.
- Sẽ che chòi.
- Được. Cứ làm, rồi tính tiền công.
Họ khiêng chú Tám lên nhà sàn và Thạch Poul lên theo với chú.
Hắn không nói gì cả, chỉ ngồi đó một lúc rồi hỏi:
- Chú đã nghe được những gì tôi nói với họ ?
- Nghe.
- Vậy có gì không bằng lòng ?
- Không có gì cả.
- Thôi tạm biệt.
Họ bắt tay nhau, không ai quyến luyến ai nhiều, nhưng riêng
Tám Huỳnh thì hơi cảm động sau hành động đẹp của Thạch Poul.
Tên tưởng cưởp nầy đã biết cái đẹp riêng của giới giang hồ mã
thượng, cứu người đồng cảnh lâm nguy mà không đòi hỏi gì cả.
- Ta sẽ gặp nhau trên đường đời. Tám Huỳnh nói.
Hắn tuột thang để xuống đất và thấy mấy tên bộ hạ của Tám Huỳnh
cũng đang giã từ bộ hạ của hắn.
Bấy giờ nằm đó, Tám Huỳnh cố lắng nghe trong bước đi của đám
cướp, mới chợt nhớ rằng đây là mùa ve.
Tiếng ve kêu rân trong cây cối quanh đây ngăn chú Tám nghe được
tiếng bạn đường rời xóm.
Ve Cao-Miên vẫn kêu y hệt như ve nước nhà, khiến chú Tám cảm
giác rằng chú đang nằm giữa xứ sở.
Khi bốn tên bộ hạ sống sót của chú lên thăm chú, chú mới nhớ
lại thực trạng của đoàn chú.
- Đỡ chưa chú Tám ?
- Đỡ đau, nhưng không biết có nhiễm độc hay không.
- Bây giờ ta tính sao ?
- Tìm tổ chức để báo cáo rất khó và rất tốn thì giờ. Hàng
không mất thì ta sẽ đưa hàng đi đến nơi, làm như không việc gì xảy ra cả, chỉ
có thế thôi.
- Nhưng trễ hẹn.
- Trường hợp bất khả kháng biết sao bây giờ ?
Bấy giờ chủ nhà dọn cơm lên, một bữa ăn sang trọng đối với họ,
với món ăn chánh là món mắm bò hóc.
Cả bọn buôn lậu ai cũng có sang qua tại xứ Cao-Miên một thời
gian, nhưng không ai ăn được món quốc túy ấy của họ cả.
Chú Tám xin muối và me, món ăn thường bữa của dân tộc nầy.
Họ uống rượu hơi nhiều, vì rượu để dồi dào trong bữa ăn nầy,
vì họ cần say để quên.
Tám Huỳnh căn dặn:
- Các em ăn uống xong thì nên nằm ngủ, kẻo say sưa, sanh chuyện
lôi thôi với họ mà khó cho mình.
- Chừng nào ta lại lên đường, chú Tám ?
- Phải mua bò và tuyển thêm người. Tiền công mà tổ chức trả
cho ta, tôi chừa chút đỉnh cho các em, còn bao nhiêu sắm bò hết.
Chuyến nầy các em sẽ không khá, mà riêng tôi lại lỗ vốn nữa.
Nhưng để mai mốt hẵng hay. Mọi việc đều tùy vết thương của
tôi.
Đêm ấy Tám Hưỳnh nhức nhối không nhắm mắt được. Qua nửa đêm
chú nghe ớn lạnh rồi sốt rét lên.
Chú không nóng nhiều lắm, nhưng biết rằng sẽ sốt dữ trong những
ngày sau đó. Đã có kinh nghiệm bản thân, chú Tám biết sự làm độc của các vết
thương nặng ra thế nào rồi.
Vấn đề về vùng văn minh để vào một nhà thương xin điều trị đã
được xem xét trước hết và bị loại trước hết.
Các nhà thương Việt-Nam, công lẫn tư, sẽ báo động cho cảnh
sát hay để điều tra căn nguyên của vết thương chú. Chú lại không có thông hành
để dám đi xuống các tỉnh Cao-Miên.
Sự nhiễm độc càng ngày sẽ càng tiến triển và chú sẽ chết sau
một thời gian ngắn chịu đựng rất nhiều đau đớn.
Trong những giờ trằn trọc, chú Tám nghĩ đến gia đình. Con chú
sắp trưởng thành, nhưng nó là gái, một hạng gái mà chú đã dưỡng dục trong gần
như cảnh nhung lụa thì khó lòng mà nó biết tháo vát để sống còn.
Chú Tám thương xót con quá, nên trong vài giây chú đã khóc.
Những tên đầu trộm đuôi cướp vẫn có nhưng phút yếu hèn và vẫn giàu lòng thương
người thân yêu của chúng.
Bỗng một tia sáng lóe ra nơi trí tay buôn lậu nầy: "Quả
ta già rồi nên lú lẫn, chú lẩm bẩm. Trước, mình đã là tay trùm buôn lậu, chớ có
phải đâu là sống khiêm tốn với địa vị tải hàng nầy. Mình đã có lần nghĩ đến việc
huấn luyện con Nhan vì thấy nghề làm giàu mau một cách khỏe ru. Phải, con Nhan
bị giáo dục lầm cho mềm yếu ra, chớ nó vẫn có điều kiện sống một đời dọc ngang
oanh liệt.
"Không còn vấn để huấn luyện cho nó theo mình được nữa rồi,
vì giáo dục đã lương thiện hóa nó. Nhưng có thể tạm nhờ nó lúc nguy khốn nầy".
Chú Tám đã hết thối chí. Chú chóng chỏi được một cách dễ dàng
với những cơn đau, với sự sốt rét vì nhiễm độc nó đang hành hạ chú và chú trông
cho mau sáng để…
° ° °
Đoàn Quan Thuế về tới tỉnh lỵ Tây Ninh hồi mười một giờ sáng.
Xe ghé qua nhà thương hàng tỉnh để gởi mấy nhân viên bị thương rồi về sở để giải
tán.
Mặc dầu cả thành phố không ai hay biết gì hết, Công cũng xấu
hổ như kẻ đi săn về tay không.
Các tay săn không mát tay, còn có thể dọc đường mua một con
thỏ đánh bẫy, bắn vào đầu nó một phát đạn để về chợ làm màu với làng nước.
Chàng, chàng chỉ biết khoe mấy nhơn viên bị chết hụt.
Khi xe vào ty thì đã hết giờ làm việc, nhơn viên đã đóng cửa
về nhà họ cả rồi.
Công mừng thầm mà không gặp mặt cô Thúy. Cô ấy sẽ mỉm cười mỉa
mai để chế nhạo ngầm chàng: "Tôi biết mà, ông chỉ có tài bắt nhơn viên ông
làm bia đỡ đạn. Tôi đã ngây thơ tìm cách ngăn cản một người ít can đảm, kém khả
năng như ông. Ông có dám chết đâu mà phải sợ hão vô ích".
Vâng, chàng thích chết trận hơn là thua trận với nỗi khổ của
nhơn viên chàng. Cũng may là không ai bị theo ông theo bà cả, cũng chẳng thấy
ai gãy gìò gãy tay gì.
Vào buổi làm việc chiều, Công gọi Thúy vào buồng giấy của
chàng với một chiếc máy đánh chữ.
Chàng cần nhờ người nữ thư ký nầy đánh ngay bổn báo cáo mật về
cuộc đi bắt hàng lậu hụt đêm rồi, trong đó chàng sẽ tường trình tỉ mỉ mọi việc,
đánh thành nhiều bổn, một bổn gởi về trung ương, một bổn gởi bên tỉnh đường và
hai bổn chuyển qua quân đội và Bảo an để bên ấy nghiên cứu nghi vấn về cuộc can
thiệp bất ngờ nó có thể do quân phiến loạn, hoặc biết đâu, do đám quân nhân vô
kỷ luật của một quốc gia lân cận nào đó.
Vừa thấy mặt chàng, Thúy đã reo lên:
- Chào ông Trưởng ty và xin mừng ông về tới nơi được bình an
vô sự.
Công nhột nhạt hỏi:
- Cô có mỉa mai hay không chớ ?
Thúy chưng hửng, trố mắt nhìn chàng một hồi rồi nói:
- Em đâu dám hỗn như vậy. Vả lại có gì mà mỉa mai.
- Tôi đã không làm tròn bổn phận.
- Em biết đâu được là ông có làm tròn nhiệm vụ hay không.
Nhưng thắng bại là sự thường. Ông đã dám mạo hiểm để đi làm phận sự, đó mới là
điều đáng kể.
- Cám ơn cô.
Công nghe rằng Thúy đã thành thật mà mừng chàng thoát nạn.
Nhưng Công không có máu háo sắc. Thiếu nữ xinh đẹp, dịu dàng
đang ngồi trước mặt chàng trong cảnh thân mật chung phòng kín đáo, mà chàng được
biết phần nào tình cảm đối với chàng, thiếu nữ nầy quả có giúp chàng tạm yêu đời
trong chốc lát thật đó, nhưng không hề gợi thèm muốn nơi chàng.
Còn yêu thì… Rất có thể chàng đã yêu Thúy một cách trong sạch
để đi đến hôn nhơn, nếu chàng chú ý đến Thúy trước khi gặp Nhan. Nhưng câu chuyện
đã không xảy ra như vậy.
Không, Thúy không giúp chàng quên Nhan, mà tai hại hơn, nàng
lại nhắc nhở cô con gái của tay buôn lậu mà có lẽ đêm rồi chàng đã hạ sát.
"Mình sẽ phải đau khổ trong bao lâu mới quên được mối
tình mà mình muốn "hạ sát" ngay ? Phải, chính mình phải hạ sát mối
tình đó trước khi hạ sát ông bố của nàng ! Ái tình quả là một địch thủ đáng sợ.
Được võ trang bằng mười cây đại liên, hàng trăm khẩu đại bác, có trong tay cả
chục sư đoàn cũng không làm sao hủy diệt nó nổi.
Nó là binh ma, chuyên đánh du kích … ở trong lòng ta, ẩn hiện
khó dò nên trong lịch sử nhân loại có không biết bao nhiêu bậc vĩ nhân, không
biết bao nhiêu tướng lãnh đã đầu hàng một cách vô điều kiện.
Công ý thức chắc chắn rằng chàng sẽ không đầu hàng, và vì thế
mà chàng biết rằng chàng sẽ cực kỳ khổ sở trong trận đánh quá chênh lệch nầy.
Nhìn Thúy, chàng nói thầm: "Cô Thúy ơi, tôi đoán biết ý
tình sâu kín của cô đối với tôi và cám ơn cô lắm. Nhưng không, cô không đủ bản
lãnh để giúp tôi quên ai đâu. Tôi mong được quên, tha thiết mong như vậy để khỏi
chịu đau khổ và bây giờ bất kỳ ai đưa tay ra, tôi cũng bám níu vào họ cả, miễn
họ là một tấm ván khá vững, cứu tôi khỏỉ chết đuối. Nhưng mà cô phải là Nhan,
hay một bản sao của Nhan, hoặc phảỉ là một khách giang hồ lão luyện trong tình
trường !".
Công lười viết nên đọc ngay cho Thúy đánh bản báo cáo dài 18
trang giấy nầy. Khi nói đến tên đầu dọc của bọn tải hàng lậu, chàng do dự rất
lâu, không biết có nên tiết lộ căn cước thật của hắn hay không.
Là người của bổn phận, Công sẽ không phân vân giây phút nào,
nếu căn cước ấy là yếu tố cần thiết để bắt kẻ gian.
Nhưng chàng biết rằng theo pháp luật, chỉ được bắn hắn tại trận,
với đủ bằng cớ trên tay hắn thôi thì sự biết căn cước thật của hắn chỉ giúp phần
rất nhỏ cho Quan thuế, nên chi một chút xíu tình thương xót Nhan, xui chàng nín
về điểm đó.
Đến khoản tiền năm trăm ứng trước cho người điềm chỉ, Công
cũng bỏ qua. Không thể tính với ai được số tiền đó mà nói cho choán giấy vì
theo phép thì chỉ thưởng khi nào việc đã thành ! Chàng chịu lỗ tiền túi vậy.
- Coi chừng, Công ngưng đọc để căn dặn, cô không thạo Việt ngữ
lắm thì phải lắng nghe cho kỹ. Trong bản báo cáo hôm nọ, cô đánh: "cờ bay
phấp phới" ra cờ bay phất phới. Tiếng phất phới không bao giờ có trong
ngôn ngữ của ta, có chăng là phất phơ, mà phất phơ nghĩa lại trái hẳn phấp phới.
- Dạ.
- Với lại cô cứ đánh đúng đắn mãi. Tôi có bao giờ đọc như thế
đâu, tiếng đúng đắn cũng không bao giờ có trong Việt ngữ, chỉ có đứng đắn thôi,
mà đứng đắn nghĩa lại khác xa một trời một vực với đúng mà cô tự động biến
thành đúng đắn.
Rồi Công nổi hứng hát:
Cờ bay là bay phấp phới
Rồi chàng lại hát:
Ngoài sườn non cuối thôn.
Phất phơ ngậm ngùi bay.
- Cô đã nghe chưa ? Trong hai bài hát rất phổ biến mà ai cũng
biềt, khi thì cờ bay phấp phới, khi thì cờ bay phất phơ, hai lối bay khác hẳn
nhau, cố nhiên.
Thúy cười nói:
- Ông hát hay lắm. Nhưng điều làm em ngạc nhiên là dân Quan
thuế vẫn phải thạo Việt ngữ.
- Chớ sao ? Ai cũng phải thạo Việt ngữ cả. Tôi có một người bạn
thân, anh ấy học rất giỏi mọi môn, nhưng khinh miệt Việt Ngữ. Tuy nhiên anh ấy
vẫn đỗ đạt cao được vì trong các cuộc thi văn hóa tổng quát ta rất dễ dãi đối với
tiếng mẹ.
Chừng đỗ kỳ sư rồi, được làm Trưởng ty, anh ấy rất khổ mà phải
làm báo cáo hằng tháng. Anh ấy đã cố gắng nhưng vẫn viết sai be bét, khiến
trung ương xem thường anh lắm.
Nếu anh ấy làm quan thật to, để có biên tập viên viết cho,
nhưng vì làm quan nhỏ quá, phải tự lực mọi việc, thành thử anh ta sợ làm phúc
trình như tôi sợ chữ Nho hồi ở trung học. Nào, ta đọc đến đâu rồi ?
- Đến... "Thì bỗng thình lình có sự can thiệp bất ngờ cứu
nguy cho bọn buôn lậu sắp kiệt lực. Hỏa lực của bọn can thiệp sáu lần mạnh hơn
của ta, nên chi…"
- À… nên chi chúng tôi bị bắt buộc phải rút lui để bảo toàn lực
lượng...
Tiếng máy chạy đều đều, tiếng phím đập lên ống cao su mới,
nghe nhẹ nhàng như tiếng máy mê-trô-nôm. Công nhìn tám ngón tay thon của Thúy
chạy nhảy trên các hàng phím và nghĩ: "Lạ quá, nghe nói thì Thúy con nhà
lao động nghèo cực lắm. Cớ sao tay chơn của nó thon và dịu như là tay chơn của
các tiểu thơ khuê các ?
"Giọng nói của nó cũng trang nhã lắm. Nó xứng đáng làm vợ
một công chức trung cấp như mình. Nhưng mình lại không yêu nó thì biết
sao."
- Cô Thúy nè !
- Dạ !
- Năm nay cô bao nhiêu tuổi ?
- Dạ hăm mốt
- Lớn hơn …
Công lỡ lời giựt mình nín lặng và Thúy châu mày. Nàng đoán biết
Công bị "người ấy" ám ảnh. Người ấy trẻ tuổi hơn nàng. Nàng thở dài
mà nói thật khẻ như nói thầm một mình:
- Em đã già quá rồi !
- Đâu có. Tôi muốn nói cô lớn hơn em gái tôi có hai tuổi mà
đã tự lực sống được, còn em tôi thì nó cứ ỷ lại vào má tôi.
Chàng nói láo không giỏi. Làm việc ở đây già hai năm chàng
kín miệng lắm nhưng nhơn viên của chàng đều biết rõ gia đạo chàng, nhờ hợp lại
nhiều chi tiết do chính chàng sơ hở để tiết lộ mỗi khi một ít. Chàng chỉ có hai
người chị thôi, ngoài ra không có anh, em gái hay em trai nào nữa cả.
Bản báo cáo mật đánh xong nội buổi chiều đó. Công đọc lại thật
kỹ rồi ký tên liền khiến Thúy vào mấy phong bì ngay trong buồng giấy của chàng
rồi mới giao cho người tùy phái phụ trách "công văn khứ lai".
Nửa tiếng đồng hồ sau đó, chàng ngả người lên lưng ghế để thắc
mắc về sự can thiệp đêm rồi mặc dầu lòng chàng đang sôi nổi về chuyện khác.
Công có cái đức tính lớn của những kẻ hành động. Bộ óc chàng
giống một cái tủ có nhiều ngăn, mỗi ngăn có cửa riêng. Ngăn tình cảm có chứa đầy
nhóc tài liệu, giấy tờ trong ấy có tràn trề ra ngoài, chàng cũng dồn giấy vào
được, đóng ép cửa ngăn lại để rảnh lòng cứu xét ngăn bổn phận.
Chàng nghiền ngẫm nhiều giả thuyềt về bọn can thiệp mãi cho đến
sáu giờ chiều, nhân viên đóng cửa ra về hết cả rồi, bấy giờ chàng mới mở ngăn tủ
kia ra.
Đó là sự tức giận Nhan, bị dồn ép hổm nay, từ giây phút khám
phá sự thật về "chú Tám". Chàng phải dứt khoát với Nhan và nhơn tiện
trút ra tất cả hằn học của chàng. Chàng đã yêu nhiều nên tức lắm, niềm uất hận
tràn đầy vì cảm nghe mình bị gạt gẫm mà cũng vì quá… tiếc thương.
Kéo tủ ra lấy bức ảnh trong tập hồ sơ Đức-Lưu-Phương bỏ vào
túi, chàng bước ra khỏi buồng giấy của chàng bằng cái cửa hông mà chàng giữ
riêng chìa khóa, tự tay mình khóa cửa lại, phân vân vài phút rồi cương quyết bước
lên chiếc xe Jeep riêng của chàng, chiếc xe tạo hạnh ngộ, ngỡ nó là xe duyên,
không dè … !
Khi xe chạy gần tới chỗ chàng gây tai nạn ngày nào, Công bớt
máy rồi hãm lại đúng ngay chỗ ấy.
Giờ nầy cũng là giờ tan học và học sinh cũng đang tấp nập
trên đường. Thời gian, nơi chốn, hoạt cảnh, mỗi mỗi đều vẫn y nguyên như cũ,
Công thừ người, cảm nghe như là một phép lạ nào đưa chàng giật lùi trong cái dĩ
vãng gần ấy.
Trong giây phút chàng sống lại một cách mãnh liệt, xúc cảm của
chàng vào chiều hôm ấy khi gặp mặt ai lần đầu.
Tất cả thơ mộng của cuộc vỡ lòng yêu như bừng dậy thình lình,
khiến chàng say ngây ngất.
Nhiều học sinh cũng còn nhớ buổi chiều ấy và chỉ chỏ vào xe của
Công, nói gì với nhau không rõ rồi cười.
Công tỉnh giấc mê sau mấy phút, đưa mắt nhìn quanh thì không
thấy Nhan. Có lẽ nàng đã về rồi, hoặc chiều nay nàng không có giờ học.
Không muốn người ta dị nghị khi họ nghe bọn học trò đồn đãi rằng
chàng ghé nhà Nhan, Công tắt máy rồi ngồi đó mà đợi cho tụi trẻ đi qua thật xa.
Khi trên đường vắng bóng học sinh, chàng mới cho xe chạy tới. Năm phút sau, đã
đến trước cây gõ, chàng cho xe quẹo vào ngõ đất hai bên trồng hai hàng cây gòn,
cây nào cũng đứng dang tay ngang ra mà mới hôm nào đây chàng thấy đó là những
cánh tay đón mừng, nhưng hôm nay lại thấy nó đưa ra để chận lối.
Đây là lần đầu tiên Công cho xe vào ngõ, những chuyến thăm viếng
trước, chàng để xe ngoài lộ và đi bộ vào đây.
Trước chàng thích dành cho Nhan sự bất ngờ, thích bắt chợt
nàng đang làm lụng. Giờ thì không còn những trò ngộ nghĩnh ấy được nữa, và
chàng phải dè dặt một khi chàng biết cha của Nhan là ai. Ngày kia, sẽ có người
biết như chàng, và không nên để họ nói: "À, đã có lần ông Trưởng ty Quan
thuế giao thiệp thân mật với con gái của anh buôn lậu ấy. Không biết ngoài vấn
đề tình cảm ra còn có sự tùng đảng hay không".
Công chưa kịp xúc động lúc nhìn vào sân nhà thấy trên sợi dây
kẽm phơi áo quần, đang phấp phới bay những chiếc áo đã khô từ lâu mà chưa kịp lấy
vô, hình ảnh trung thành của buổi sáng lịch sử (lịch sử của đời chàng) mà chàng
đến đây và bắt chợt cô gái bị xe chàng đụng vừa phơi áo vừa ca hát. Chàng chưa
kịp xúc động, chưa kịp lắng nghe cảm giác của chàng xem thế nào khi nhìn lại cảnh
nầy với một tâm trạng khác hẳn buổi đầu, trái hẳn với tâm trạng vào thời kỳ ngộ,
thì Nhan đã từ trong nhà tối om chạy bay ra, nhảy xuống các bực thang từ hai nấc
một.
Nàng còn mặc áo dài - có lẽ đi học vừa về tới nơi, còn bận gì
chưa kịp thay y phục - chiếc áo dài trắng y hệt như chiếc áo té mương ngày nào.
- A, anh Công. Sao lâu dữ không thấy anh xuống chơi làm em
trông đợi muốn chết.
Công đã vào tới giữa sân, Chàng dừng bước lại, nhìn sững Nhan
mà nghẹn ngào.
Trời ơi, Nhan đẹp quá, dễ thương quá, và chàng yêu Nhan quá.
Đứng trước mặt cô gái mỹ lệ, nhu mì nầy, trong giây phút, chàng quên tất cả và
đâm ngờ rằng "vụ chú Tám" chỉ là cơn ác mộng thôi. Không, chàng không
tin chắc rằng đó là cơn ác mộng. Để yên tâm, chàng thò tay vào túi quần mong
cho bức ảnh không có trong đó.
Ô nầy lạ ! Nó không có trong đó thật. Như thế hẳn là chiêm
bao rồi chớ còn gì nữa ? Công mừng đến run rẩy tay chơn, nhưng để chắc ý một lần
nữa, chàng lại thò tay vào túi quần bên kia và bỗng thừ người ra: bức ảnh nằm
trong túi đó.
Hy vọng cuối cùng của chàng tan rã như chiến thắng của chàng
đêm rồi, vào giây phút chót.
"Hay là mình bỏ tất cả, Công nghĩ, bỏ địa vị, bỏ chức tước,
bỏ sở làm, đi cho thật xa với Nhan để làm lại cuộc đời của cả hai ?"
Chàng không ham danh lợi, và vốn là con nhà giàu thì lối
thoát nầy không có gì thiệt hại cho cá nhân của chàng cả.
Nhưng người công dân xứng đáng ẩn núp sau kẻ si tình nổi lên
phản đối: "Không, anh không thể chỉ nghĩ đến cá nhân anh. Anh biết một tên
gian manh, đang nắm điều kiện tảo trừ nó, mà trốn phận sự là đào ngũ rồi
đó".
Nhan vừa chạy vừa dang tay ra vừa cười nói. Vẻ mặt sầu thảm lạ
kỳ cúa một anh Công không hề mở miệng thốt ra lời nào làm cho nàng kinh ngạc hết
sức.
Còn độ năm thước nữa là tới trước mặt khách, cô nữ tiểu gia
chủ nầy cũng dừng bước lại thình lình và tất cả những cử chỉ của cô cũng ngưng
lại mà không được xóa bỏ.
Người ta thấy một cô Nhan trố mắt há miệng, hai tay dang ra,
như một thiên tai khủng khiếp nào trong nháy mắt đã cướp lấy sự sống của mọi
sinh vật ở một vùng trong lúc các sinh vật ấy đang hoạt động.
Công càng nghẹn ngào hơn và lâu lắm mới kêu lên được:
- Nhan !
- Anh !
Nếu người con gái của gã buôn lậu là một đứa lẳng lơ trắc nết,
hay một tay đĩ thỏa ăn chơi, thạo những mánh khóe mê hoặc đờn ông thì nàng chỉ
thi thố sơ sơ sở trường của nàng cũng đủ đánh ngã người thanh niên đang bị chèo
kéo giữa bổn phận và tình yêu nầy.
Công lại nghẹn ngào một hồi lâu nữa sau tiếng kêu thương xót
và như là kêu cứu ấy, đoạn chàng toan quay đi, toan chạy trốn: Chàng không nỡ nặng
lời với Nhan, mặc dầu bổn phận đã thắng nơi chàng rồi.
Nhưng không thể không dứt khoát hôm nay. Nếu chàng bỏ đi, tất
nhiên sẽ phải trở lại, nguy hiểm lắm, chàng có thể ngã trong một lúc yếu lòng,
chàng có thể bị tình nghi oan uổng nếu rủi ro có một kẻ nào khác biết gia trưởng
nhà nầy và tên buôn lậu chỉ là một.
Quyết định xong thái độ, Công cố lấy một vẻ mặt lạnh như nước
đá, nhưng đau thương vẫn còn bàng bạc nơi đó và hòi:
- Cô có đi thăm ông cụ của cô hay không ?
Nếu chỉ "bị" hỏi thăm tin tức về cha nàng thôi, chắc
Nhan không sợ hãi. Nàng đã quen được với lối khách sáo nầy của bạn nàng rồi, lối
khách sáo đã làm nàng rụng rời trong buổi đầu vì nàng ngỡ đó là lời dò hỏi của
mót kẻ đã biết sự thật về cha nàng.
Nhưng Công lại dùng tiếng "cô" khó hiểu và khả nghi
thay cho tiếng "em" êm ái mà chàng đã dùng từ lúc họ thân nhau.
- Anh, sao anh lại gọi em bằng cô ?
- Vì giữa cô và tôi không còn gì nữa rồi.
- Anh, em không hiểu...
- Rồi cô sẽ hiểu. Tôi đến để vĩnh biệt cô…
- Trời ! Anh…
- … và luôn tiện báo tin cho cô hay rằng thân phụ cô có thể
đang đau nặng.
- Anh, anh làm em…
Công không nói không rằng gì nữa, lặng lẽ móc bức ảnh chụp giữa
rừng ra rồi vứt vào không trung, trước mặt Nhan.
Đó là một cử chỉ phũ phàng, nhưng Nhan đang bấn loạn tinh thần
không còn mích lòng về thái độ bất lịch sự nào nữa.
Nàng chụp lấy bức ảnh đang bay, liếc mắt nhìn qua và tái mặt
đi. Mắt đán vào ảnh, Nhan chết điếng, mồ hôi nhỏ giọt mặc đầu gió chiều đang lộng
thổi.
Trong giây phút, nàng chợt hiểu tất cả: Công đã khám phá ra sự
thật về gia đạo nàng khi so sánh người ngồi giữa trong bức ảnh nầy với người
gia trưởng trong tập an bom của nàng mà chàng được xem hôm nọ.
Cô nữ sinh tội nghiệp nầy chỉ là người thôi với mớ tình người
rất thông thường của kẻ phàm tục, chớ không phải là một nữ thánh, nên chết sững,
nàng chỉ điếng hồn vì sự sụp đổ thình lình của hạnh phúc của nàng. Không, lòng
hiếu thảo đối với cha không sao lấn át được tình cảm rất gần gụi đây là tình
yêu. Nàng không còn là một thiếu nữ nữa và chưa bận tâm đến số phận của người
cha mà ám chỉ khi nãy của Công cho đoán biết rằng ông có thể đang lâm nạn.
Nhan cắn môi thật chặt, nấc lên mấy tiếng ngắn, nhưng không
khóc ra tiếng, cũng chẳng cho lệ trào ra. Một niềm uất hận vô biên đang thổi
phình quả tim nàng nó không đau mà lại tức vì nao nức niềm hận kia.
Nàng hận gì, hận ai ? Nàng hận số phận mình, chỉ có thế thôi.
Gió chiều cứ lộng thổi, tóc Nhan bay rối tơi bời, vạt áo sau
của nàng vẫn bay, nhưng Công thấy nó bay phất phơ chớ không phấp phới.
Không biết bao nhiêu giây phút đã trôi qua, đã bị gió thổi
bay đi, thời gian và không gian bây giờ đối với họ chỉ là một thứ thôi, vì cả
hai đều đang quặng đau vì một ý nghĩ: họ sẽ xa nhau ngàn năm và ngàn dặm.
Bấy giờ Nhan mới ngẩng lên, cô mỉm cười một nụ cười chua xót
mà rằng:
- Giờ ông đã biết sự thật, em chối cãi cũng vô ích, và chắc tự
bào chữa cũng vô ích. Thôi, vĩnh biệt vậy. Nhưng em cần nói rõ rằng gần một năm
nay, khám phá ra sự thật, em đã khuyên dứt ba em và ba em đã bằng lòng hoàn
lương trên nguyên tắc, chỉ còn đợi dịp thôi.
- Vậy à ? Vậy thì tôi không thể phiền trách cô đã đánh lừa
tôi. Nhưng không có bằng cớ về những điểm cô vừa tiết lộ. Dầu sao, sự hoàn
lương ấy chưa xảy ra và không biết bao giờ mới xảy ra, dầu sao trong tình trạng
nầy, tôi cũng phải tuyệt giao với cô. Vả lại, vả lại …
Công lại nghẹn ngào, không nói được những gì chàng thấy phải
nói. Nhan vừa lo sợ, vừa hi vọng. Biết đâu lý lẽ cuối cùng của chàng, lý lẽ quyết
định nhứt lại không là một lý lẽ bấp bênh, nàng sẽ bác đi được để cứu vãn tình
thế:
- …Vả lại, vả lại … đã gãy đổ cả rồi cô à ! Đêm vừa qua tôi
suýt bị ông ấy hạ trong một cuộc săn đuổi hàng lậu do ông tải đi, theo tin mật
báo. Tôi mà còn sống đây thì có lẽ chính ông đã thọ nạn. Bên ấy lực lượng bị
tiêu diệt hết chín phần mười.
Bây giờ Nhan mới chợt nghĩ đến cha nàng và tin khủng khiếp nầy
lại làm nàng tái mặt.
Nhan đã khóc…
Nàng òa lên mà khóc, nức nở mà khóc, chớ không nhẫn nại nuốt
niềm đau cho thân phận mình như khi nãy nữa.
Công nhìn bạn, thương xót vô ngần. Chính chàng cũng đau, còn
đau hơn bạn chàng nữa, Chàng đau niềm đau của chính chàng cộng với niềm đau của
bạn.
Nhan khóc rất lâu, khóc đến không còn giọt nước mắt nào nữa,
mới ngước lên nhìn thẳng vào mặt Công mà hỏi:
- Ông có chắc là đã hạ ba em hay không ?
- Trong đêm tối, tôi không làm sao biết được ai thọ nạn, ai
an toàn. Dầu sao cũng xin cô thứ lỗi. Tôi không thể không thi hành phận sự.
- Ông khỏi phải tự bào chữa, ông đã được lý do chánh đáng
binh vực cho ông rồi. Ông có thể nào cho em biết địa điểm trận đánh đêm rồi hay
không ?
- Ở một nơi gọi là "Đồng cháy". Nhưng vô ích, như
cô muốn mạo hiểm. Đến phút chót, đoàn buôn lậu được toán đồng nghiệp cứu nguy
và ông cụ cô có bề nào đi nữa, chắc đã được họ dời đi nơi khác rồi.
Nhan thẫn thờ nhìn vào buổi chiều, buổi chiều sâu minh mông
đang thay màu đổi sắc từng giây từng phút để tiến đến đêm tối mịt mùng như đời
nàng.
Công nghẹn ngào gọi:
- Nhan, Nhan ơi, dầu sao, trong đời anh, anh chỉ yêu một mình
em thôi.
Đây là lời tỏ tình đầu tiên, mà thanh niên nầy thốt ra để rồi
chạy trốn và thiếu nữ nầy đón nghe và lắng nghe nó xé từng mảnh lòng nàng.
- Em cũng chỉ… Trời ơi! Dầu sao em cũng xin cám ơn anh vậy.
Công đã xây lưng mà chạy. Chàng chạy bay ra khỏi cổng, nhảy
lên xe, mở máy vội vàng, sang số de để chạy được ngay, khỏi mất thì giờ trở đầu
xe.
Nhan ôm mặt khóc mà té quị lên nền cát trắng của sân nhà.
Không một tiếng vang đáp lại niềm đau thương của thiếu nữ nầy.
Nàng hoàn toàn cô độc với nỗi khổ của nàng, cho đến cả bà dì nàng cũng chẳng
hay biết gì hết.
Nhan bị số kiếp không may mà trước nó, nàng đã bất lực, đè bẹp
xuống sâu, và buổi chiều minh mông, tùng đảng với số kiếp như đang mỉa mai cười
chế nhạo cô gái nhỏ xíu đang nằm giữa không gian vô biên.
Người con gái trơ trọi nầy lồm cồm ngồi dậy, muốn kêu cứu với
ai, nhưng chỉ thấy chung quanh mình sự thờ ơ của thiên nhiên. Người không
thương xót nàng mà cảnh cũng chẳng nhỏ lấy một giọt lệ tội nghiệp.
Nhan đơn độc chịu đựng số phận.
Chú thích:
|
Thuốc hay lắm, ba bữa thì khỏi liền. |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét