Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2021

Nửa đêm trảng sụp 2

Nửa đêm trảng sụp 2

Về nhà để ăn tối, Công nhìn chiếc gàu mên cơm xách mà người nấu cơm tháng vừa cho người mang đến, nhìn gàu mên cơm như thuở bé chàng nhìn tô thuốc Bắc mà mẹ chàng kề vào miệng chẳng những lúc ốm đau.

Ăn là một khoái lạc. Và khi con người đang có một mối sầu lớn, họ sợ tất cả mọi khoái lạc trên đời.

Chàng đã đỡ xốn xang, cái xốn xang của những ngày qua.

Chàng vừa gây đổ vỡ và lòng chàng đã nhẹ phần nào. Nhưng đổ vỡ ấy kéo theo đổ vỡ của những xây dựng trong lòng chàng.

Giờ thì lòng chàng rỗng không, sau những ngày nô nức phấn khởi, nô nức hy vọng tương lai, nô nức viễn ảnh hạnh phúc.

Niềm đau bây giờ không xốn xang dữ dội nhưng êm ái thấm rêm cả tâm hồn chàng.

Tắm rửa xong, Công ngồi lại bàn ăn, uống khai vị bằng một ly nước đá chanh. Đêm hôm qua, vào giờ phút nầy, chàng ra khỏi đồn biên giới. Lúc ấy, giữa Nhan và chàng vẫn còn một cây cầu. Cây cầu tuy mong manh nhưng có hi vọng được sửa chữa.

Giờ thì đã hết rồi. Chiếc cầu hoàn toàn gãy đổ do cuộc phá hoại của chàng. Lúc giựt mìn cho đổ chiếc cầu đó, tâm trạng của chàng giống hệt tâm trạng của một người dân bắt buộc phải tự đốt chính nhà mình trong một cuộc tiêu thổ trước sự xâm lăng của giặc ngoài.

Hắn đau không biết bao nhiêu, nhưng không thể không hành động, và hành động xong, lòng hắn rã rời, đứng chết sững mà nhìn công trình phá hoại của hắn nằm chồng lên công trình xây dựng của hắn.

Sau những phút thẫn thờ, hắn vẫn còn đau, nhưng thêm vào đó nỗi ngậm ngùi thương tiếc, niềm đau lắng lần xuống nhưng luyến tiếc dâng trào lên.

Giờ thì đã hết rồi !

Công lấy cơm ra ăn, nhưng nuốt không trôi, đành buông đũa.

Đoạn chàng lại thay đồ mát ra, mặc y phục làm việc vào rồi thả bộ ra chợ. Bước vào một hiệu chạp phô khách trú, làm bộ mua một gói thuốc điếu và một bao diêm, Công đứng trước quầy nói vài câu ngắn với người đờn bà Việt-Nam, vợ chủ hiệu:

- Tôi cần gặp Tư Đặng tối mai, vào giờ nầy tại đây.

- Dạ.

- Hắn phải tới trước tôi độ một tiếng đồng hồ để không ai thấy chúng tôi vào đây một lượt…

- Dạ.

- Hắn vô buồng trong lúc không có ai.

- Dạ.

- Rồi đợi tôi trong ấy.

- Dạ.

- Kín miệng nhé ! Thôi chào thiếm.

Tư Đặng là người điềm chì bí mật đã cho tin để Công phục kích Tám Huỳnh đêm rồi.

Họ chỉ gặp nhau một cách trinh thám thế nầy thôi. Công muốn cho hắn hay tin... chẳng lành và nhờ hắn điều tra xem bọn can thiệp là bọn nào.

Nhìn cảnh buôn bán, Công nhớ Sàigòn và bỗng có ý muốn xin thuyên chuyển về thủ đô. Chàng mong nhịp sống quay cuồng ở đó sẽ giúp chàng quên.

Bỗng bị vỗ vai thình lình, Công giựt mình day lại thì thấy đó là ông Ngộ, giáo viên hưu trí, bạn cờ tướng của chàng.

Chàng mừng rỡ hết sức vì ông nầy có thể giúp chàng qua được cái đêm đáng sợ nầy. Những đêm sau, niềm đau sẽ vợi đi phần nào rồi.

Công bỏ ngay ý định xin thuyên chuyển về Sàigòn. Trong một đô thị lớn, thiên hạ tuy đông hàng triệu dân, nhưng chàng sẽ trơ trọi giữa rừng người thờ ơ ấy.

Ở đây, ít ra cũng có tình, tình người với người, tình nầy cho chàng ảo giác rằng chàng không cô độc lắm trên đường đời.

° ° °

Đây là đêm thứ ba mà Nhan trằn trọc mãi cho đến lúc gà gáy chập đầu. Hai mắt nàng sưng húp, và sợ bà dì hỏi nguyên do, nàng cáo bịnh không ăn uống gì cả từ buổi chiều hội kiến lần cuối cùng với Công.

Nhan đau, tủi, hận và lo sợ cho tánh mạng của cha nàng. Ông Tám ra đi đã được một tháng rồi. Thường thì ông chỉ vắng nhà lâu lắm là hai tuần lễ thôi.

Sự về trễ bất thường trong chuyến nầy đã làm cho Nhan lo sợ trước phát giác của Công. Giờ nỗi lo sợ ấy biến thành sự hoảng hốt.

Nếu biết chỗ thì dầu nguy hiểm thế nào, chắc nàng cũng đã xông pha để tới đó cho đỡ phải xốn xang không biết đến ngày nào mới thoát khỏi nỗi lo sợ rất khó chịu nầy.

Sức tưởng tượng của tuổi trẻ đã vẽ vời ra lắm thảm kịch đau thương, Nhan hình dung tất cả những thảm kịch ấy và càng tưởng tượng hão, Nhan càng sợ, càng sầu, càng khóc.

Bỗng có tiếng gõ cửa trước. Nhan vội kéo mền lên trùm kín cả mặt, cả đầu. Cô gái vừa trưởng thành nầy vẫn còn tính con nít là sợ ma và sợ trộm, và phản ứng cũng con nít lắm, nàng làm như hễ trùm mền kín mít là không gì động tới nàng được.

Nhan nín khe tới không dám thở, cứ lo thở thì "hắn" biết có nàng trong nhà. Chỉ có tiếng trái tim của nàng đập mạnh là nàng không làm sao mà đậy cho nó im được.

"Hắn" lại gõ cửa. Lần thử nhì nầy "hắn" gõ mạnh hơn. Nhan suy luận rằng đây là cướp hoặc kẻ sát nhơn chớ không phải ma. Nếu là ma nó đã vào nhà được như chơi, có đâu lại phải kêu gọi.

Cướp hay sát nhơn gì mặc kệ, hễ chúng nó ngỡ nhà đi vắng cả thì chúng nó bỏ cuộc, để trở lại đây đêm sau. Mà đêm sau nàng sẽ ngủ dưới nhà bếp với bà dì hoặc xin bà dì lên đây mà ngủ với nàng.

"Hắn" lại gõ cửa lần thứ ba, còn mạnh hơn lần thứ nhì nữa, và Nhan càng cố nín thở.

Nàng tự hỏi có nên mở cửa sau, thoát ra ngoài để kêu cứu hay không ? Nhưng nó, hoặc chúng nó có thể đông lắm, và có thể đã đặt người chận cửa sau rồi.

- Hai ơi !

"Trời ! Nhan kêu thầm lên. Nó lại biết thứ của mình ! Mà là tiếng đờn bà nữa chớ ! Thôi chắc là ma rồi ! Cướp gì lại đờn bà ! Còn đờn bà lương thiện đâu có mạo hiểm đi đâu giờ nầy ! Chết ! Nó trêu cho mình sợ chơi một lúc rồi tàng hình lách qua kẽ cửa mà vào đây"

Toàn thân Nhan run rẩy lên như bị sốt rét.

- Nhan ơi ! Dì đây con !

Bỗng Nhan giựt nẩy mình. Nàng chợt nhận ra giọng của "dì Năm". Dì Năm là một người đờn bà trạc bốn mươi, khá xinh đẹp, lời ăn tiếng nói rất khôn ngoan và tướng người rất oanh liệt.

Dì được cha nàng giới thiệu với nàng cách đây bốn năm như là một người thật tín cẩn để bà nầy liên lạc với nàng, những khi cha nàng vắng mặt lâu ngày, hoặc đến thăm coi nàng được yên ổn hay không, hoặc mang tiền bạc đến.

Nhan có cảm giác rằng dì Năm là nhơn tình của cha nàng. Ông Tám không tục huyền, nhưng ông cũng chưa già thì rất có thể ông có nhơn tình.

Về sau, khi biết được bí mật của cha, nàng còn đoán thêm rằng dì Năm là đồng đảng của cha nàng.

Tuy nhiên Nhan chưa dám lên tiếng vội, mặc dầu linh tính nàng như báo trước rằng dì Năm đem tin dữ đến, cái tin mà Nhan rất sợ, nhưng cần phải biết.

- Nhan à ! Dì Năm đây mà con, con không nhận ra tiếng dì sao ?

Bây giờ Nhan mới dám ngồi dậy, tuột xuống đất rồi đi chơn không, rón rén bước nhẹ ra ngoài.

- Nhan !

- Dạ.

- À, con đã nghe, dì đây mà !

- Dì Năm đó hả dì ?

- Ừ ! Dì đây chớ ai.

- Gì đó dì ?

- Mở cửa cái đã.

Nhan mở cửa mà cố ý không thắp đèn. Nàng he hé cánh cửa đã mở dòm ra ngoài, thấy dạng dạng cái dáng quen thuộc của bóng người đờn bà ấy, mới dám mở bét cửa ra.

- Để con thắp đèn.

- Đừng. Nghe đây.

- Dạ, gì đó dì.

- Ba đau nặng.

Nhan vừa chết điếng, vừa mừng rỡ. Quả cha nàng đã bị thương trong trận đánh mà Công đã cho nàng biết. Nhưng ông không chết. Có thể vết thương nặng lắm, nhưng dầu sao cũng còn hy vọng.

Nàng bối rối, quính quíu hỏi:

- Có sao không dì ?

- Không đến đỗi gì. Nhưng ba con cần gặp con.

- Hiện ba ở đâu ?

- Ở trong rừng xa lắm. Con phải đi ngay với dì, đừng đợi sáng thiên hạ chú ý.

Con gà đầu tiên đã gáy chặn đầu khi nãy, có lẽ ở xa nên không gây được tiếng vang. Chính nó cũng nín đi sau hồi gáy quá sớm đó. Nghĩa là giờ nầy còn khuya lắm.

- Để con cho bà dì hay.

- Không nên.

- Nhưng nếu không cho hay, sáng ra thấy mất con, bà sẽ làm tở mở lên thì rầy rà lắm.

- À phải, con nói đúng.

Nhan kéo dì Năm vào trong rồi đóng cửa trước lại. Hai dì cháu mò mẫm vào buồng rồi nàng mở cửa sau chạy một mình xuống nhà bếp để đánh thức và mời bà dì lên.

Họ cứ nói chuyện trong bóng tối ở buồng trong của nhà trên, nơi dùng làm phòng ăn của các ngôi nhà lai căng kiểu nầy. Bà dì nhận ra tiếng nói của dì Năm nhưng dè dặt nói:

- Dầu sao cũng để sáng hãy đi chớ.

Bà không lo thân gái dậm trường của Nhan mà bà lo một sự phản bội nào của người bạn của cháu trai bà. Dì Năm và Nhan không thể nói sự thật cho bà biết được, nên gạt ngang:

- Có chuyện cần lắm, dì cứ tin nơi cháu.

- Bà đừng lo, cháu biết là dì Năm tốt. Vả lại có chuyện cần lắm.

Hai người ra đi bằng ngõ trước để đánh lạc hướng tò mò của bà dì nhưng vẫn tạt vào rừng phía sau như ông Tám Huỳnh hôm nọ.

Sau nhà là một cánh đồng trống, kế đó rừng chồi lúp xúp rồi tới gì đó nữa Nhan không biết vì từ bé đến giờ nàng chưa băng qua cánh đồng trống sau nhà lần nào.

Rừng chồi nầy chỉ mỏng thôi và họ theo đường mòn đi không tàn một điếu thuốc là đã ra khỏi đó rồi.

Bấy giờ trời đã rạng đông, Nhan ngạc nhiên lắm mà thấy sau rừng chồi là những đám đất được trồng tỉa săn sóc, từ thuở giờ vì là con gái, lại con một, nàng không hề được vào đây, cứ ngỡ thế giới văn minh dừng lại nơi ven rừng chồi, sau đó là man rợ với những thú dữ, những cổ thụ vạn niên.

Sau cánh đồng được canh tác, là xóm làng đông hằng hai ba mươi nếp nhà tranh. Hỏi ra nàng mới biết đây là xóm ngoài của một làng ở trong kia, làng nầy gồm đến bốn ấp lại gồm hai ba xóm như thế nầy.

Họ sẽ qua làng nầy mà không ghé xóm nào hết để đến một làng ở trong nữa là làng của dì Năm.

Đây cũng là một khám phá mới lạ của Nhan. Những năm đầu dì Năm lui tới nhà nàng, nàng đinh ninh rằng dì Năm ở Saigon vì ông Tám cứ nói là đi Saigon khi nào ông cần vắng nhà, mà hễ ông đi Saigon độ ba bốn hôm, thì dì Năm nầy tới thăm nàng.

Năm ngoái, bí mật của ông Tám bị phát giác riêng đối với nàng, thì nàng lại tưởng tượng rằng dì Năm ở một chợ quận nào đó trong tỉnh.

Thì ra làng của dì năm là cái trạm trên đường ra biên giới tìm cha nàng và dì là một liên lạc viên của cha nàng.

Bấy giờ những tia nắng đầu tiên đã bị đầu lá đầu cỏ ướt sương phản chiếu lóng lánh. Chắc ý rằng không ai rình nghe họ cả vì người nông phu làm lụng gần họ nhứt cũng đứng cách xa đó hơn hai trăm thước, Nhan mới dám mở miệng hỏi:

- Con lo quá dì ơi, bịnh trạng thật của ba con như thế nào dì ?

- Ba bị đạn nơi vai. Đạn đã ra, nhưng vết thương làm độc.

- Trời ! Ba có bị mất máu nhiều lắm hay không dì ?

- Chắc là có, nhưng khi dì tới nơi thì vết thương đã được băng bó từ lâu. Ba xanh lắm.

- Yếu lắm không dì ?

- Người nào khác có lẽ đã nguy. Nhưng ba rất tráng kiện.

Và bấy giờ dì Năm nầy mới thấy đôi mắt sưng húp của Nhan, dì ngạc nhiên hỏi:

- Hình như con đã khóc nhiều lắm ?

- Dạ.

- Có gì không yên ở nhà ? Chuyến nầy dì khó ở, nên không có ra thăm con được nên không hay gì hết.

- Con chiêm bao thấy ba lâm nạn.

- Thật à ?

- Dạ, con chiêm bao liên tiếp mấy đêm liền.

Nhan đã tiên liệu phải có câu hỏi nầy lúc thấy trời hừng sáng và đã bịa sẵn câu trả lời khá ổn nó khiến cho người dì Năm nầy càng tin tưởng nơi những điều thần bí mà dì đã vốn tin tưởng từ lâu.

Nhan lại hỏi lại câu hỏi khi nãy:

- Dì nói ba đang ở xa lắm, vậy không phải ở nhà dì sao ?

- Không Ba ờ trong rừng sâu, cho người về gọi dì. Hiện người ấy đang ở nhà dì, hắn ở đó hôm nay để đưa con theo lời ba con dặn. Dì còn yếu nên không theo được, nhưng con đừng lo, hắn là người tín cẩn của ba.

Vài nông dân nhận ra dì Năm. Họ chào hỏi dì nhưng không biết Nhan là ai. Nhan đã mặc bộ bà ba vải Xiêm cũ nhứt của nàng, đội nón lá để che bớt gương mặt học trò ở chợ, quá trắng trẻo trong khung cảnh nầy, nhưng vẫn không khỏi bị họ chú ý và tò mò có ý muốn tìm biết.

Hai dì cháu đã chậm bước hơn hồi khuya nhiều lắm vì người dì đau ốm mới khỏi, còn cô cháu thì không quen đi bộ xa, nên cả hai chưa chi đã mệt.

Gầu chín giờ sáng họ mới tới xóm của dì Năm.

Dì Năm sống một mình trong một nếp nhà ngói nhỏ ba căn xông, tức không chái. Có lẽ dì là một góa phụ không con hay có con gái lớn đã đi lấy chồng rồi.

Một người đờn ông dưới bốn mươi, tay mặt được băng bó sơ sài đang nằn dài trên ván bên trái mà ngáy pho pho.

Dì Năm gọi:

- Chú Tư ơi !

Hắn giựt mình chồi dậy, dụi mắt lia lịa. Râu hắn có lẽ nửa tháng rồi không được cạo lần nào, nên trông hắn dữ tợn lạ.

- Chú có nấu cơm chớ ? Dì Năm hỏi.

- Dạ có.

- Cám ơn. Đây là con của anh.

- À, cháu.

- Chào chú. Ba con thế nào chú ?

- Chớ chị không có kể cho cháu nghe à ?

- Có nhưng mà... ơ... dì kể không rõ lắm.

Cứ theo lối xưng hô thì dì Năm là vợ không chánh thức của cha nàng rồi không còn ngờ gì nữa. Nhan không thấy điều gì không ổn trong vụ nầy nên mặc nhận ngay tình trạng đó.

- Để ăn cơm rồi hãy hay.

- Ừ, dì Năm nói, dì cháu tôi chưa ăn gì hết. Chú đã lót dạ rồi chớ ?

- Đợi chị không được tôi đã ăn trước.

Dì Năm dọn cơm ở nhà bếp, trên một bộ ván hai bằng gỗ tạp.

"Chú Tư" ấy mặc dầu đã ăn rồi, vẫn theo họ xuống đây.

Chu nói:

- Ba cần gặp mặt cháu để nhờ cháu một việc. Ăn cơm rồi, ta nên lên đường ngay. À, chị Tám, chị dở chú cháu tôi một mo cơm, một gói mắm với lại cho một bầu nước nghen chị.

- Ừ.

Nhan nóng lòng hỏi:

- Nhưng làm sao mà ba cháu bị thương ?

- Trận đánh lớn lắm và dữ dội lắm. Bên "mình" bị phục kích bất ngờ nên thua.

Tiếng "mình" của miền Nam có nghĩa là "ta" của miền Bắc. Nghe tiếng ấy, Nhan rất khó chịu vì bị bỏ vào một giỏ với những người buôn lậu.

Nhưng cả tên ấy và người dì ghẻ của nàng đều không dè rằng nàng không đồng ý với ông Tám.

- Liệu ba cháu có hề gì không chú ?

- Anh Tám nói vết thương thì không sao nhưng sự nhiễm độc có thể nguy cho tánh mạng của ảnh. Hiện ảnh nóng li bì.

- Trời !

Nhan ăn vội vàng rồi chính tay nàng lo chuẩn bị những thứ mà "chú Tư" đã đòi hỏi: cơm mo, bầu nước.

Xong đâu đó, họ ra khỏi làng.

Băng các ngã tắt trong rừng, họ chỉ phải đi bộ mười tám cây số thôi. Nhưng Nhan không quen đi bộ cứ đòi nghỉ mãi, nên cho tới lúc trời sụp tối họ mới đến nơi.

Nhan bỡ ngỡ hết sức mà nhìn những ngọn đèn leo lét trên tha la cao. Nàng nhìn lối kiến trúc nhà cửa trong ánh sáng lờ mờ của một đống lửa un muỗi thì đoán biết đã vượt biên giới Việt-Miên rồi.

Theo "chú Tư", Nhan trèo thang để lên tha la và lên tới nơi nàng mới nghe tiếng rên hư hừ của ông Tám.

Tám Huỳnh nằm lim dim mà rên, Nhan đã vào nhà rồi mà ông không hay. Dưới ánh đèn dầu hôi, Nhan nhìn gương mặt hốc hác bơ phờ của cha mà thương đứt ruột. Nàng đưa tay sờ lên trán cha rồi thút thít khóc.

Ông Tám chừng như nửa tỉnh nửa mê, giựt mình và mở mắt ra, ông nhìn trân trối thiếu nữ đang ngồi cạnh ông, một hồi lâu, tỉnh hẳn ông mới chợt nhận ra đứa con yêu quí của ông.

- Ba ! Nhan gọi nho nhỏ.

- Con ! Con tới đã lâu chưa ?

Nhan khóc tấm tức tấm tưởi và đáp:

- Con chỉ mới đến nơi thôi. Ba nghe trong mình thế nào ba ?

- Hiện giờ thì chưa sao. Mới sốt dữ từ trưa đến giờ thôi, nhưng sẽ nặng nếu không có thuốc.

- Làm sao ba ? Hay là ba cứ ra mặt, về nằm nhà thương rồi ra sao thì ra.

- Không thể được. Ba gọi con lên để nhờ con mấy việc quan trọng nầy mà mấy chú ở đây không làm được, dì Năm cũng không.

Tám Huỳnh vừa nói vừa thò tay vào túi áo trong lấy ra bốm ghim giấy một trăm đồng. Tiền công của mấy người còn sống sót, chú đã phát cả rồi, lại dùng một phần tiền công của chú để đưa họ thuê người thay thế cho những người vắn số để tải hàng lần thứ nhì. Còn lại bao nhiêu chú trao hết cho con mà dặn:

- Con về chợ, tìm cách mua cho được thuốc trụ sinh. Giá nào cũng mua. Con biết hể dám xài tiền thì gì mua cũng được. Còn lại bao nhiêu, con đưa hết cho thầy chích dạo Mẫn, nhờ thầy đến đây săn sóc ba. Dì Năm con sẽ đưa đường thầy. Còn tiền ăn của con thì mượn đỡ trong tiền công của mấy cộng tác viên tử nạn của ba, số tiền mà ba sẽ tìm vợ con họ để trao lại và hiện giờ chú Tư đang giữ. Chú ấy sẽ giao tiền con khi đưa con trở về tới nhà dì Năm.

Việc thứ nhì khó khăn hơn nhiều, và biết tánh ý con, ba lo con không nhận; ba muốn nhờ con tải hàng thay cho ba.

- Tải hàng ?

- Ừ, dầu sao cũng phải đưa hàng đến nơi, không mong trả lại họ vì họ đã đi mất rồi. Bỏ hàng tức là cướp hàng - họ sẽ nghĩ như thế - và sự trừng phạt sẽ kinh hồn, không trốn ở đâu mà thoát khỏi họ cả.

- Con nghĩ ba nên thừa dịp nầy mà trốn luôn.

- Ba đã nói không trốn đi đâu mà thoát được cả kia mà, phương chi đã trót nhận tiền công thì tội càng nặng hơn.

Người nhận hàng sẽ không dám nhận nếu kẻ giao hàng lạ mặt. Con cũng lạ mặt, nhưng có bằng cớ con là con của ba, họ sẽ tin. Con về nhà lấy bức ảnh con chụp chung với ba và bà dì đưa cho họ coi. Đây, nhà cửa và tên họ người ấy, con học thuộc lòng rồi đốt ngay tại đây.

Tám Huỳnh lại trao cho con một mảnh giấy mà khi sáng sợ chết thình lình, chú đã ghi địa chỉ người nhận hàng.

Con chỉ có mặt trong đoàn để bảo đảm rằng đoàn không phải là nhân viên khiêu khích của Quan thuế, còn thì mọi việc đều do chú Tư cán đáng cả.

Con khỏi phải sợ bị tấn công thình lình như ba. Đoàn rất thạo tránh mặt quan binh. Chỉ khi nào bị phục kích mới lâm nguy. Mà muốn phục kích họ phải có tin tức.

Người trong đoàn không thể phản bội bằng cách thông tin cho họ vì cộng sự viên của ba, đến phút chót mới biết công việc mình phải làm.

Phản bội vừa rồi mà do bọn giao hàng cho ba ở biên giới, một người trong bọn đó, ba sẽ biết người nào nhưng chưa biết.

Vậy con bằng lòng nhận công việc thứ nhì chớ ?

Hưởng thụ khí bẩm của cha, Nhan thuộc hạng người quyết định lẹ làng. Mặc dầu rất không muốn, nhưng biết không còn cách nào khác, nàng nhận ngay. Nàng chỉ còn băn khoăn về sức khỏe của cha thôi.

Nhưng Tám Huỳnh trước khi mê sảng trở lại, đã biện luận: "Ba chết hay sống gì cũng đều do con mau chân hay không".

Nói rồi ông không còn biết gì nữa và Nhan đành lau lệ theo "chú Tư" mà lên đường nội trong đêm đó.

Đêm nay Nhan mới an lòng mà vĩnh biệt xóm Miên nầy với mấy tha la xơ xác và những người dân nghèo khổ không thể tưởng tượng được.

Trở lại đây với thuốc men và người thầy tiêm thuốc dạo mà nàng đã mua chuộc sự phiêu lưu mạo hiểm bằng một số tiền khá to, nhưng hai ngàn đồng trong một tuần lễ, với lời hứa thưởng thêm về sau, khi người bịnh hết sốt, Nhan nấn ná ở lại với cha ba ngày.

Trong những lúc ngắn ngủi tỉnh táo, Tám Huỳnh đã nài nỉ con gái giao hàng ngay vì chú thấy thời tiết rất thuận tiện, trời đã bắt đầu mưa.

Nhưng Nhan cả quyết không chịu lên đường. Nàng định cha nàng có bề gì thì nàng sẽ bỏ trôi tắt cả chớ không dại mà nhúng tay vào chàm trong khi cha nàng hấp hối trên nếp tha la hẻo lánh nầy.

Bốn mươi tám tiếng đồng hồ sau đó thì Tám Huỳnh hết sốt nhưng phải mười hai tiếng nữa chú mới tỉnh hẳn.

Tỉnh hẳn nhưng vẫn còn yếu lắm. Tuy nhiên sự thoát nạn của chú đã rõ. Nhan không còn lý do ở lại nữa.

Đêm nay là đêm mồng năm tháng năm.

Trời tối mịt, ngửa bàn tay lên không thấy. Không trung giống như một bồn mực Tàu khồng lồ.

Sở dĩ họ dẫn hàng một theo lối người da đỏ mà tiến được trong rừng sâu là nhờ một lối soi đường mà chỉ có người thành thạo việc băng rừng ban đêm mới biết xử dụng.

Người đi sau nhắm vào một vệt sáng mờ mờ, nhỏ bằng bàn tay hiện lên trên lưng của kẻ đi trước mà nối bước.

Vệt sáng ấy mang hình một lá cây, mà quả nó là lá cây thật. Người ở rừng đặt tên nó là lá dán vì nó có tánh cách rít, dán lên vải được. Ngoài tánh cách ấy, lá dán chứa khá nhiều chất lân tinh ửng sáng lên trong bóng tối.

Bò cũng được dán lá sau mông và mấy kiện hàng thì được dán bằng hai lá đâu ngọn lại với nhau, phòng khi gặp nạn, bò chết hàng rơi, họ sẽ tìm thầy hàng được đễ dàng.

Họ dẫn hàng một mà tiến lên. Trong đêm tối, ai ở gần đâu đó sẽ ngạc nhiên mà thấy mấy mươi vệt sáng mờ di động như là những bóng đèn ma.

Chính "chú Tư", cộng sự viên thâm niên nhứt và tín cẩn nhứt của Tám Huỳnh dẫn đầu đoàn tải hàng đêm nay vì chú là người độc nhứt thạo nẻo, ngoài Tám Huỳnh ra.

Nhan đi giữa đoàn, sau lưng nàng là một cộng sự viên sống sót. Người ấy có phận sự bảo vệ nàng nếu rủi ro có sự phản trắc của bọn phu mới mộ, toàn là người đàng Thổ cả.

Đêm nay họ chỉ có hai tay súng thôi, nhưng lại vững tin được an ninh hơn vì họ có kẻ tùng đảng là sự tối trời và đám mưa rỉ rả đã bắt đầu rơi.

Đêm nay, không thể có kẻ phản bội trong đoàn để mật báo với Quan thuế. Bọn phu Cao Miên có phản trắc cũng chỉ để cướp hàng thôi, nhưng chúng không được võ trang, và do chủ nhà tuyển lựa kỹ càng. Chủ nhà là người của Thạch Poul, được Thạch Poul dặn dò phải giúp đỡ tận tình bọn tải hàng.

Thỉnh thoảng chớp nhoáng lên giúp họ trông thấy nhau, trông thấy cảnh vật chung quanh, nhưng họ lại rất sợ thứ ánh sáng phù du nầy. Thà cứ đi trong bóng tối, quen được với bóng tối, thấy vệt lá càng về khuya càng sáng hơn, chớ sau một cái chớp lòe ngắn ngủi mấy giây đồng hồ, họ bị lòa mắt, như đui hẳn đến năm bảy phút đồng hồ.

Bấy giờ mưa đã nặng hột. Nhan có mang áo tơi theo. Đó là thứ áo tơi bằng nhựa, mỏng dánh màu mè lòe loẹt mà các nữ sinh rất ưa, nhưng chỉ che được mưa thưa trên một quảng đường ngắn từ trường đến nhà.

Gặp phải mưa rừng đầu mùa, loại áo đó chẳng những không giúp ích gì được mà còn làm cho kẻ mặc nó lạnh thêm.

Có những đám mưa đầu mùa có vẻ khoái trá trút xuống tất cả hằn học của một tháng chuyển khó khăn. Không gian như ngập lụt: nước trước mặt nước sau lưng, nước dưới chơn, nước trên đầu.

Thêm vào có một trận cuồng phong có thể thổi bay cả bò nữa, khiến Nhan phải bám chặt vào nơi dây cột bành hàng hóa vào lưng bò ràng xuống bụng con vật.

Cả đoàn không ai hiểu nhờ may mắn nào mà họ chưa bị nạn vì thỉnh thoảng một cây to tróc gốc ngã xuống tuôn lá rừng nghe ồ ồ như nước thác đổ. Cây cối chỉ ngã trước mặt họ và sau lưng họ thôi. Thật là phước bảy mươi đời.

Đường đi đã khó lại càng khó thêm vì những thân cây ngã phải tránh nếu … thấy được. Bằng không thấy được là kẻ đi đầu phải ngã quay ra.

Nhan lạnh run cầm cập và mặc dầu nước tuôn xối xả xuống người nàng, nàng nghe khát khô cả cổ họng. Trong chuyến đi nầy, không ai vị nể nàng cả và nàng phải theo đúng tốc độ của đoàn, thành thử nàng mệt lả sau hai tiếng đồng hồ xông pha.

Nhan nghĩ rằng nếu nàng ngất đi, chắc họ sẽ cột nàng lên lưng bò rồi cứ tiến chớ không nghỉ phút nào cả.

May quá, gió đã hạ mà mưa cũng nhẹ hột lần. Vệt sáng trên lưng của người đi trước, khi nãy bị màn mưa xóa mờ đi, giờ đã khá rõ, kẻ đi sau đã hết phải trố mắt mà dòm, khổ sở vô cùng vì làm thế tức là mở cửa cho nước mặc sức mà tưới vào mắt họ.

Lá ủ trong rừng hút nước rất mau, nhưng họ vẫn còn nghe phèm phẹp dưới chơn mỗi khi hạ bước xuống.

Man khê, suối dại sanh ra thình lình. Bất kỳ chỗ trũng nào cũng góp nước bốn phương cả để đưa đi đâu không biết và những con suối "nhảy dù" ấy sẽ chảy suốt đêm để ngày mai lại, không còn lưu dấu vết nào trên đời nầy cả.

Nhiều con suối sâu không thể tưởng tượng được, sâu ngập mất đầu người. Ấy, lúc ráo người đi rừng gặp những cuộc đất trũng, họ xuống dốc, lên dốc mà không hề nghĩ rằng khi chỗ ấy mà đọng nước thì vô phương vượt qua.

Nước suối lại chảy mạnh ghê người, có biết lội cũng không mong lội ngang được.

Thành thử đoàn phải tránh, phải đi vòng, phải tiến quanh co theo những nẽo đường định sẵn trong hành trình và nhiều lúc "chú Tư" phải dừng bước lại rất lâu để định hướng.

Họ khởi hành vào lúc sụp tối, định nửa đêm sẽ đến địa điểm gặp người nhận hàng, nhưng cứ tình trạng nầy, "chú Tư" lo tới sáng vẫn còn lẩn quẩn trong rừng. Chú đã mất tự tin và nhiều lần tự hỏi thầm không biết đoàn còn ở trên con đường phải theo hay không.

Những ngọn đèm ma leo lét là những chiếc lá dán ấy, đang tiến phất phơ thì bỗng nghe hô to:

- Đứng lại, ai đó ?

Đồng thời cả đoàn nghe tiếng lên đạn, cách họ chỉ độ mươi thước thôi.

Bọn phu đàng Thổ thuở giờ chưa hề thấy cây súng lần nào nên bình tĩnh được. Cũng may, nếu không, chúng đã bỏ chạy cả, đã chẳng ai dẫn bò, mà bên kia sanh nghi chắc đã nổ súng.

Ba người Việt, Nhan và hai tay buôn lậu có súng, đang lạnh bỗng nghe băng giá đổ lên xương sống của họ. Họ rợn cả người, mọc ốc cùng mình. Hai tay súng, làm thế nào đương cự với mấy mươi vũ khí mà họ đoán ra sự hiện hữu, bằng vào tiếng lên đạn trong đêm.

Cũng không thể tẩu thoát được vì kẻ thù đang đứng gần sát họ, hơn thế, đang bao vây họ.

- Ai ?

Tiếng quát vang dậy trong rừng sâu, rồi từ bốn phương dội lại, nghe như hàng trăm người hát.

"Chú tư" cỏ cảm giác rằng đó là một giọng quen quen. Nhưng dầu sao, chú cũng còn có một đường là tạm "ra mặt" cái đã, rồi hẵng hay, tùy cơ mà ứng biến.

- Ai ?

- Chúng tôi, người ngay !

- Người ngay sao lại băng rừng đêm tối ?

Tiếng "ngay" có hai nghĩa: đối với công quyền, ngay là lính tráng, đối với cường đạo, ngay là buôn lậu, là lũ cướp đường.

Đối với lính tráng, kẻ băng rừng ban đêm là bọn cường san, đối với lũ lục lâm thì người băng rừng ban đêm là người của công quyền. Thành ra những câu hắn đáp ấy chưa cho bên nào biết bên nào, thuộc hạng người nào cả.

Bỗng "chú Tư" nhận ra giọng Thạch Poul, chú kêu lớn:

- Bọn Tám Huỳnh đây mà ông Thạch ơi !

- Bọn chú Tám thật à ?

- Dạ thật.

- Chú ấy đâu ?

- Còn nằm ở xóm mà ông gởi hôm nọ.

- Sao không đợi chú ấy khỏi hẳn bịnh ?

- Tôi không biết, tại anh Tám ảnh nóng đưa hàng đi. Có lẽ Saigon trông đợi.

- Có gì làm bằng cớ ?

- Ông không tin tôi à ?

- Tin sao được. Các anh có thể giết chú Tám để đoạt hàng. Mà như vậy tôi có bổn phận trừ khử các anh.

Thạch Poul nói thế nhưng ai cũng phải hiểu là: "Mà như vậy, tôi có quyền cướp hàng nầy vì các anh phản bạn."

"Chú Tư" bối rối hết sức. Chú nói:

- Có mấy người phu mới mướn, toàn là người … người … người một nước với ông, vậy ông cứ...

Chú ta suýt dùng tiếng "Đàng Thổ" là danh từ làm mích lòng Thạch Poul.

- … Vậy ông cứ hỏi họ xem "chú Tám" có bị bọn tôi thủ tiêu hay không.

- Không thể tin bọn đó được, mặc dầu chúng là đồng bào của tôi, vì biết đâu, các anh lại không mua chuộc chúng bằng những hứa hẹn tốt đẹp mà láo khoét nào đó.

Thạch Poul có lẽ muốn bắt bí bọn tải hàng để có cớ mà cưỡng đoạt hàng hóa. Và sau, có gặp Tám Huỳnh, hắn sẽ viện lẽ ngộ nhận để giải thích sự cướp giựt của hắn.

"Chú Tư" càng bối rối hơn, nhứt là khi chú nghe Thạch Poul hô:

- Chuẩn bị.

- Hãy khoan, ông Thạch ơi ! Tôi còn bằng cớ nầy. Có cô hai đây, con ruột của anh Tám tôi, xin ông xem, nếu như mà cô ấy giống anh Tám tôi thì cho chúng tôi đi, bằng không thì chừng đó sẽ hay.

Thạch Poul làm thinh và nín lặng rất lâu trong bóng đêm. Có lẽ hắn đang suy nghĩ. Nếu quả có thiếu nữ vừa được nói đến mà là con của Tám Huỳnh thì hỏng cả ý định của hắn, hắn không thể nói là ngộ nhận được nữa. Nhưng người ta đã mời, không xem lại càng có lỗi. Đoạt mà không chịu kiểm soát là cướp giựt rồi.

Sự im lặng của hắn kéo dài ra, Nhan chỉ hồi hộp sơ sơ thôi. Kẻ kia là ai, nàng không đoán được, nhưng cứ nghe mấy câu đối thoại, nàng đoán được rằng kẻ ấy nể cha nàng lắm.

Bấy giờ Thạch Poul mới lên tiếng:

- Nếu quả như thế, xin mời cô ấy bước ra đây. Tôi không thể bỏ thế sẵn sàng chiến đấu của tôi.

Nói xong hắn bấm đèn bin nhưng không rọi vào đoàn tải hàng mà chỉ làm hiệu thế rồi tắt mất. Trong bóng tối, hắn nói lớn, nhưng giọng dịu hơn giọng dùng để nói chuyện với chú Tư luc nãy:

- Mời cô bước tới ba mươi bước.

Thấy rõ hắn đã dời chỗ đứng sau khi bật đèn và tắt đèn ngay. Rất kinh nghiệm, hắn cẩn thận vô cùng. Bị lộ tung tích vì lửa đèn mà chính tay hắn thắp lên, hắn phải hành động như thế là khôn lanh đúng mức, không kẻ làm liều nào mà ám hại hắn được cả.

Bấy giờ Nhan mới phát sợ lên. Nàng không sợ kẻ kia nhưng mà rợn người khi nghĩ rằng mình phải đứng giữa hai lằn súng của hai bên. Vạn nhứt một sự hiểu lầm nào của bất kỳ bên nào xảy ra, cũng đưa nàng qua thế giới khác cả, tan xương nát thịt dưới hằng trăm viên đạn.

Bấy giờ tất cả can trường của một tên giang hồ mã thượng được truyền lại đứa con thừa tự nầy, thừa tự sự nghiệp vật chất lẫn tinh thần.

Run sợ, nhưng Nhan quả quyết bước ra. Nàng nói lớn:

- Tôi ra đây !

- Ừ, mời cô ra.

Một, hai, ba, bốn… Nhan ngập ngừng trong mấy bước đầu, nhưng sau đó nàng đi tự nhiên.

… Năm, sáu, bảy, tám… Nhánh chết bị đạp kêu răng rắc bên trong cảnh lặng nầy mà mưa gió đều ngưng như để nín thở đếm bước đi của Nhan. …Chín, mười, mười một, mười hai…

Vạn vật nín thở, người của đôi bên cũng nín thở mà chính kẻ đang bước ra cũng nín thở.

- Đã đủ số ba mươi rồi.

Nhan nói lớn lên xong là ngồi xuống ngay. Đây cũng là sự lanh trí thừa tự cửa Tám Huỳnh.

Nếu hai bên bắn nhau, nàng sẽ nằm luôn. Giờ ngã ngay xuống đất, người ta nghe động, chớ không êm được như ngồi. Ngồi đã lặng lẽ, đã tránh được ngay những lằn đạn cao mà giây lát có nằm cũng sẽ lặng lẽ.

- Cám ơn cô ! Bây giờ mời cô bước trái qua năm bước. Anh em đàng ta, nếu có gì bất trắc đừng đợi lịnh tôi, đừng sợ trúng tôi, bốn chục cây súng cứ bắn bừa qua bên kia.

Thạch Poul quả là một tay lợi hại. Hắn đoán bên kia có lẽ chĩa súng nhắm theo hướng đi của cô gái. Họ có thể hy sinh cô nầy để hạ chàng. Chàng mà bị hạ thì cả bọn cướp có thể vở tan.

Vì thế mà hắn không đứng đợi tại nơi mà Nhan phải đi tới.

Giờ có lẽ họ vẫn còn theo dấu Nhan lúc nàng bước trái đi nơi khác để chĩa súng tìm chàng, nhưng chàng đã ra cái lịnh ác liệt kia cho chúng sợ rồi. Vả đã hỏng kế hoạch một lần, họ đâu ngờ là lần nầy vẫn chưa phải là lần hai người đó nhìn mặt nhau, nên không chuẩn bị nữa.

Nhan đã đến nơi thứ nhì, giựt nẩy mình mà nghe kẻ kia đã đứng ngay trước mặt nàng.

Hắn nói nho nhỏ:

- Xin lỗi cô !

Rồi bấm đèn bin rọi ngay mặt Nhan. Bị chói Nhan phải nhắm mắt lại. Có lẽ học được tánh nịnh đầm lúc theo Tây, hắn đưa bàn tay xòe ra lọc bớt ánh sáng và nói:

- Cô mở mắt ra được rồi, đã hết chói.

Nhan ngước lên nhìn vì kẻ kia to lớn quá sức và sợ hãi mà thấy gương mặt của hắn hung tợn quá, mặc dầu hắn đang cố lấy một diện thái duyên dáng và hiền lành.

Nàng run vì còn lạnh hay sợ không rõ.

Thạch Poul nhìn sững thiếu nữ mạo hiểm nầy rất lâu. Từ mấy năm nay, hắn đã đoạn tuyệt hẳn với thế giới văn minh, không hề thấy đờn bà con gái dễ coi chớ đừng nói đẹp.

Trong cuộc sống khô cằn ấy, một thiếu nữ xoàng xoàng, đối với hắn cũng đã là tiên nga rồi, phương chi Nhan là một nhan sắc đáng kể.

"Chú Tư" hồi hộp lắm. Chú độ rằng hắn động lòng. Hắn rất có thể cướp cô gái nầy. Mà cướp Nhan tức là khai chiến với Tám Huỳnh. Đã khai chiến, hắn liều và sẽ cướp luôn hàng hóa.

Nhưng hồi hộp nhứt không phải là Nhan, không phải là chú Tư mà chính là - kỳ dị thay - Thạch Poul.

Lần đầu tiên trong đời hắn, hắn rung động trước một mỹ nhơn. Từ thuở giờ hắn chỉ thèm khát họ thôi.

Lâu lắm… im lặng… Gió mưa như cũng nín thở chờ đợi cái gì...

Nhưng cái gì đó, không xảy ra.

Thạch Poul nói:

- Quả cô giống chú Tám lắm. Nhưng sao lại đi về hướng đồn bót ?

- Vậy à ? Trời ơi ! Tôi nào có biết !

- Chỉ còn bốn cây số nữa là đến đồn biên giới trên đường Vòng Chàm.

- Chết rồi ! Trời ơi ! Chú Tư chú ấy dẫn đường !

- Anh Tư à ! Thạch Poul gọi to lên.

- Dạ.

- Lại đây tôi hỏi.

- Dạ.

Chú Tư không nghe những câu đối thoại trên, nên bước tới và phập phồng trong bụng lắm. Khi chú đến gần đó, Thạch Poul hỏi:

- Anh có chắc là đi đúng đường lắm hay không ?

- Dạ, tôi cứ nghe ngờ ngợ không vững lòng lắm. Đám mưa to vừa rồi đẻ ra nhiều con suối thình lình mà bọn tôi phải đi vòng để tránh, thành thử …

- Thôi được tôi nghi anh định phản nhưng hỏi sơ, anh đáp như vậy là tôi biết anh thành thật Anh đã lầm đường rồi đó. Bây giờ khởi hành ngay đi kẻo không kịp đêm ray. Nè, đi đường nầy !

Nhan và chú Tư nhẹ nhõm trong người.

- Cám ơn ông. Chú Tư nói

- Cám ơn ông. Nhan cũng bắt chước nói theo.

- Không có gì mà cám ơn cô à. Tôi với chú Tám là chỗ quen biết với nhau. Thôi, giã từ cô.

- Giã từ ông.

- Mong còn gặp lại nhau.

Nhan đã xây lưng nhưng chưa đi. Tuy thế nàng không đáp lại ước vọng của Thạch Poul. Đây là chuyến đầu, mà cũng là chuyến chót của nàng, nàng quyết như vậy và không mong gặp lại bất kỳ nhơn vật nào của giới lục lâm cả.

Đoàn lại lên đường và mười vệt sáng mờ như mười ngọn đèn ma gần lụn vất vưởng bay trong gió.

Sau lưng họ, Thạch Poul đứng nhìn theo rất lâu mà không thấy gì cả. Hắn muốn xé bóng đêm ra, hắn muốn rượt theo những người vừa thoát khỏi tay hắn.

Hai hôm sau cả bọn đều trở về xóm tha la một cách bình an, nhưng không có cô con gái của chú Tám.

Nhan viết cho cha ba chữ để ông ấy an lòng và trở về nhà bằng xe đò, sau khi giao hàng xong, nàng băng bụi ra lộ lớn mà đón xe.

Chú tư "lập bo" lại cho chú Tám nghe các chi tiết trong chuyến đi đó, không quên kể lúc lạc đường gặp Thạch Poul chỉ nẻo cho.

Chú Tám rất cảm động mà nghe tên tướng cướp lỗ mãng ấy lại làm một cử chỉ đẹp thứ nhì nữa.

Chú Tám nghe trong người đã thật khỏe, nên giải tán ba đồng đảng kia, chỉ lưu chú Tư lại cho có bạn với chú ta thôi.

Vả chú cần ăn uống sung sướng để lấy lại sức, và chú Tư sẽ làm cho chú vài món ăn sạch sẽ ngon lành, như gà ướp nướng chẳng hạn.

Chú không thể về làng dì Năm ngay với vết thương khả nghi, vết thương tố cáo của chú, và định nấn ná tại đây cho kỳ lành hẳn hẵng hay.

Qua ngày thứ ba, hai chú đương giải trí bằng cách đánh cờ chó ngay dưới chơn thang tha la thì cả hai đều giựt mình mà nghe ai gọi thình lình từ ven rừng:

- Chào chú Tám.

Xóm nầy là một cái gò trọc, rừng rú bao quanh, người Cao Miên thường chọn đất lập xóm như vậy.

Kẻ gọi chú Tám đã vẹt khối lá xanh mà leo lên giốc gò. Thì ra, đó là Thạch Poul.

Chú Tám mừng rỡ hết sức, bỏ cuộc chơi, đứng lên toan chạy ra đón khách. Nhưng hắn đã mau chơn chạy trước đến trước mặt chú và hỏi:

- Thưa chú, bữa nay chú đã nghe đỡ ?

- Ừ, đỡ nhiều, cám ơn em lắm. Qua nghe thằng Tư đây nó kể lại…

Nhưng Thạch Poul đánh trống lấp:

- Cầu trời cho chú mau lành. Cháu trở lại đây thăm chú lần chót rồi cháu đi khỏi nơi nầy một con trăng.

- Vậy à ?

Chú Tám hơi ngạc nhiên mà thấy Thạch Poul hôm nay lễ phép như một người Việt-Nam có giáo dục, chớ không phải chỉ nể vừa chừng một người Cao-Miên như hôm nọ nữa.

- Cháu định đến ăn cơm với chú một bữa để chia tay đây.

Thạch Poul có xách theo một giỏ bằng mây trong đựng gì lu bù đậy bằng lá chuối. Hắn vừa nói vừa dở lá ra thì họ thấy mười phong bánh bồn lập và hai gói trà Tàu.

Thạch Poul dở một lớp lá nữa thì lòi ra nào là bánh hỏi, nào thịt quay, nước mắm ớt đựng trong ve nhỏ và một chai rượu đế.

Dưới tất cả các thư ấy là một cây Colt 12 to tướng.

Hắn lấy súng ra trước hết trao cho Tám Huỳnh mà nói:

- Cháu xin tặng chú để hộ thân.

- Trời, cám ơn em không biết bao nhiêu. Em cho anh món nầy, bằng như cho hằng trăm ngàn đồng.

- Xin chú cứ gọi cháu là cháu đi mà.

Hắn trải lá ngay trên sân cát rồi dọn bánh hỏi thịt quay ra. Nước mắm thì hắn thắt một thứ dĩa bằng lá cây để rót vào dĩa ấy.

Hắn nói:

- Đồng bào của cháu luộm thuộm lắm, họ không có lấy một cái dĩa để tạm mượn. Chú có cần nấu nước uống trà phải nhờ họ đi mua nồi đất vì nhà họ chỉ có một cái nồi độc nhứt để nấu cơm mà thôi. Ở đây chắc chú sẽ buồn miệng. Vậy có bánh in bồn lập.

- Em chu đáo lắm.

Họ cùng ăn bóc như người Cao Miên, rượu thì họ ngửa mặt lên trời há miệng ra mà rót vào đó như người Nga, hoặc như những tay uống rượu cừ cửa ta, họ làm thế và gọi đùa là "đổ dế" tức đổ nước vào hang cho dế cơm trồi ra để bắt.

Chủ nhà cũng được mời chung đám với họ. Bữa ăn vui vẻ hết sức, trong đó có lối ba người chết thèm, hai người Việt-Nam chỉ được ăn muối hơn một tuần lễ rồi, và một ngươi chủ nhà Cao Miên mà từ lúc lọt lòng mẹ tới giờ mới được nếm vị thịt quay lần đầu.

- Nếu không gì bí mật lắm, Tám Huỳnh hỏi, thì em định đi đâu ?

- Dạ cháu làm ăn ở giữa Mộc Hóa và Soài Riêng. Chắc chắn sẽ được một trăm con trâu.

- Giàu to.

- Dạ cũng gần bạc triệu.

- Bảnh quá ! Qua giải nghệ để theo em được không ?

Họ cười xòa với nhau, nhưng rồi Thạch Poul nghiêm sắc mặt lại mà nói:

- Đây là chuyến làm ăn cuối cùng trong đời cháu. Nếu được một trăm con trâu đó, cháu sẽ giải nghệ ngay.

- Thật à ?

- Không muốn cũng không được vì có lịnh.

- Có lịnh ?

- Dạ lịnh không nói ra, mà cháu phải nghe.

- Hơi lạ !

- Rồi chú sẽ rõ.

Tám Huỳnh ngỡ tiếng "rồi" chỉ một tương lai xa, nên không hỏi tới cho biết.

Có một chi tiết nầy hơi lạ là hôm nay Thạch Poul không uống một giọt rượu, hắn là một tay cự phách của cái dân tộc mà "có ba xu rượu vào thì ông trời tôi cũng không sợ". Thế mà…

- Coi kìa, nãy giờ không thấy em uống, uống đi chớ để mừng anh.

- Dạ cháu đã thề bỏ rượu.

- Qua ngạc nhiên lắm.

- Rồi chú sẽ rõ.

Họ ăn uống hồi mười giờ sáng. Ăn xong, ai nấy đều lên tha la để đánh một giấc tới xế mới dậy.

Khi Tám Huỳnh mở mắt ra thì nghe ve kêu vang trời ngoài kia. Dễ thường có đến hàng muôn con ve hay sao mà cuộc hòa tấu của chúng lại ồn đến thế.

Thạch Poul đã thức đâu hồi nào, đã rửa mặt xong nên trông hắn tươi tỉnh lắm. Hắn nói:

- Cháu muốn thưa với chú một câu chuyện riêng.

- Vậy à ?

Tám Huỳnh ngồi dậy rồi lấy súng nhét vào túi quần, cây colt 12 mà Thạch Poul vừa biếu rồi nói

- Như thế ta ra ngoài rừng.

- Dạ, cháu cũng định đề nghị như vậy. Chú mang súng theo là phải.

- Còn em ?

- Dạ cháu có hằng chục tay súng, chúng ở ngoài ấy từ sớm đến giờ.

- Vậy à ?

Họ tuột thang rồi chẫm rãi đi ra ven rừng. Thạch Poul đã khai mào lúc xuống tới lưng chừng dốc:

- Thưa chú Tám. Cháu biết lễ giáo của người Việt Nam lắm...

- Em giỏi đa.

- Và phục lễ giáo ấy lắm.

- Cám ơn em.

- Nhưng theo lối sống của cháu, không thế nào cháu làm đúng lễ giáo đó được.

- Cố nhiên.

- Lắm khi cháu buộc lòng có vẻ thô lổ, xin chú biết cho.

- Không hề gì.

Tám Huỳnh rất lấy làm kỳ, không hiểu sao tên cướp man rợ nầy hôm nay lại đâm ra văn hoa lễ phép quá.

Họ đã vào rừng. Nhìn lên một tổ rồng treo lơ lửng ở một cành sao, Thạch Poul hỏi:

- Thưa chú, chú sống trong rừng mãi như cháu được không ?

- Không.

- Cháu cũng không ! Buồn lắm. Cháu muốn ra.

- Cũng tốt.

- Cháu muốn "làm lại cuộc đời".

Hắn nói rồi cười hề hề và thêm:

- Cháu nghe trong cải lương họ nói như vậy hay quá nên cháu bắt chước.

- Em sành tiếng Việt Nam lắm.

- Chẳng nói giấu gì chú, cháu muốn lập gia đình.

- Cũng tốt.

Thạch Poul làm thinh rất lâu sau câu nầy. Mũi giày hắn bươi đất, bươi cỏ lia lịa rồi không ngước lên, hắn gọi:

- Chú Tám ơi !

- Gì em ?

- Cháu muốn… xin cầu hôn… xin cưới cô con gái của chú.

Tên tướng cướp hét ra sấm sét và đã sát hại hàng trăm người nầy, giọng hắn run run, và tay hắn cũng run rẩy khi hắn phải thốt ra cái câu mà chính hắn cũng thấy là quá táo bạo đó.

Biết xem người, hắn đoán đúng được rằng Nhan không phải lá gái tầm thường, không phải để làm vợ những kẻ như hắn.

Tám Huỳnh kinh ngạc hết sức nên cũng không nói gì được sau lời cầu hôn "ba gai" cửa gã cường đồ.

Đã trót nói, Thạch Poul đâm bạo, và đưa ra bửu bối mà hắn xem là rất linh nghíệm:

- Thưa chú, cháu không làm đúng lễ giáo Việt-Nam được như đã trình bày khi nãy. Xín chú biết cho.

Cháu định cưới cô ấy bằng một trăm con trâu mà cháu sẽ mang về trao tận tay chú. Thưa chú, chú khỏi lo cháu phản trắc, vì cháu giao trâu trước hoặc giao một lúc với sự rước dâu.

Một trăm con trâu ! Một triệu đồng bạc ! Tám Huỳnh thấy ngay rằng đó là số tiền chú mơ uớc để hoàn lương, quá đầy đủ, hoàn lương đúng theo sở vọng của Nhan.

Nhưng mỉa mai thay, chú hoàn lương bằng cách xô con chú vào đường bất lương !

Nhưng dầu chú có nhẫn tâm như thế, Nhan cũng sẽ không chịu nào ! Chú tám tức giận cho tên tướng cướp trèo đèo nầy lắm. Hắn không biết phận hắn, vói cao quá, khiến chú rất khổ tâm. Chú đã thọ ơn nặng của hắn đến hai lần thì khó lòng mà gạt bỏ ngay lời đề nghị của hắn, còn xem xét kỹ thì làm sao mà xem hết cho được khi có sự chênh lệch rất to giữa nếp sống của hắn và phong thế của con chú.

- Em có biết rằng chuyện ấy rất khó hay không ? Chú Tám hỏi sau một lúc ngại ngùng.

- Dạ cháu biết.

- Nó chỉ quen ở chợ.

- Thế nên cháu mới quyết định bỏ nghề như đã nói trong bữa ăn. Cái lịnh mà cháu đã ám chỉ ấy là lịnh của chú và của cô con chú.

- Nó lại có học, học nhiều lắm, đối với bọn ta.

- Dạ cháu biết. Và cũng vì thế mà cháu thề bỏ rượu. Thưa chú, chắc chắn cô ấy sẽ không ưng lấy cháu, nhưng cháu hy vọng vào áp lực của chú.

- Em bắt tôi làm áp lực ?

- Dạ, chớ còn biết thế nào nữa.

- Và chính em làm áp lực với tôi bằng một trăm con trâu ?

- Cháu không dám. Đó là lễ cưới.

Tám Huỳnh giận run. Nhưng chú cố trấn tỉnh và cố thông cảm với quan điểm của tên tướng cướp vì quanh đây có đến hai mươi tay súng của hắn.

Kể ra thì hắn không thể làm đúng lễ giáo hơn thật đó. Còn nói trèo đèo thì khối người khác cũng trèo đèo như hắn mà còn không có một trăm con trâu để bù cho sự chênh lệnh quá rõ ràng.

Chủ hỏi:

- Nếu con tôi nó ngoan cố và tôi không giúp được em thì sao ?

- Thì cũng cứ như trước chớ không vì thế mà cháu dám phiền chú. Cháu yêu cô ấy thật tình, chắc chú đã đoán biết. Chớ nếu chỉ thèm muốn cô ấy mà thôi thì đêm đó, cháu đã cướp cô ấy dễ dàng và cướp luôn cả hàng hóa nữa. Tổ chức của chú, cũng đáng ghê thật đó, nhưng cũng khó làm gì được cháu.

Cháu yêu thật tình và nếu không được, cháu sẽ khổ đau y như trong cải lương mà cháu thấy là rất đẹp. Cháu muốn làm một người sung sướng, còn như không được toại nguyện thì làm một người đau khổ như trong cải lương. Cộc đời buồn hiu của cháu sẽ hay, ngộ hơn, nhờ mối đau thương giữa rừng sâu ấy.

Tám Huỳnh suýt bật cười. Trong khi nhiều thanh niên ta muốn thủ ở ngoài đời thật những vai kép hát bóng Âu Mỹ thì thanh niên Cao Miên nầy lại muốn thủ ở ngoài đời thật những vai kép cải lương Việt Nam. Đó là mặc cảm của kẻ kém cỏi hơn người.

Chú Tám cố nén cười và nói:

- Cám ơn lòng biết điều của em và vì thế mà tôi sẽ cố gắng thuyết phục con tôi.

- Cháu tin là chú sẽ cố gắng !

Tám Huỳnh thương xót tên nầy, không nỡ dứt khoát ngay, chớ chú biết rằng không được và không có định thuyết phục Nhan.

- Xin cáo biệt chú vậy và tháng sau ta sẽ gặp nhau. Cháu sẽ đưa trâu về đây, báo tin chú hay và nếu việc đó mà thành thì cháu sẽ giao trâu cho chú tại nơi mà chú chỉ định.

- Từ giã em, và một lần nữa, cám ơn hai bận cứu nguy của em.

- Không có gì đáng kể thưa chú, Chú Tám ơi, cháu còn một chuyện nầy…

- Ừ, em cứ nói.

- Thà là mất lòng truớc mà được lòng sau.

- Đừng.ngại.

- Trong giới của ta, ta quen dè dặt, nên bị méo mó vì nghề. Vậy nếu thành thì cháu sẽ giao trâu cùng lúc rước dâu. Như thế ai cũng khỏi phải sợ ai bội ước.

- Em nói đúng. Thôi, giã từ.

- Chúc chú mau lành bịnh.

Họ bắt tay nhau rồi Thạch Poul biến mất trong rừng dày.

Tám Huỳnh còn ở lại xóm Tha la đến mười ngày mới dám tính chuyện về làng. Vết thương tuy chưa lành hẳn, nhưng đã kéo da non và không cần băng bó nữa, chú mặc áo vào là không còn ai biết chú đã bị đạn nơi vai.

Chú thưởng tiền người chủ nhà đã cho chú đùm đậu, rồi giã từ chú Tư để chú nầy về với vợ con, đoạn chú lên đường về xóm của dì Năm nằm dưỡng thân năm ba bữa nữa.

Ở tỉnh nhỏ, không bí mật nào giữ lâu được cả.

Bạn thân của Nhan đã đánh hơi được mối tình giữa cô nữ sinh nầy và ông trưởng ty Quan Thuế trẻ tuổi và độc thân, không phải do sự khoe khoang của người nào trong cuộc cả mà vì Nhan đã mượn máy ảnh quí giá của Công để chụp hình họ, và vì mấy bức ảnh mà Công đã chụp Nhan mà họ thấy dán trong tập ảnh.

Nhan là một người bạn tốt, họ cũng tốt bụng nên cả thảy đều im đi, mãi cho đến ngày mà họ thấy rnắt bạn họ sưng lên chù vù vì đã khóc nhiều, họ mới nổi nóng.

Gái thơ thường thì chỉ biết đời một cách phiến diện và cực đoan. Một mớ thấy con trai tốt quá, cao đẹp quá, mớ khác, phần đông là con nhà nề nếp, thấm nhuần khuyên răn của cha mẹ và nhiễm nhiều tiểu thuyết luân lý, thấy con trai toàn là một lũ quỉ sứ như nhau.

Họ đoán bạn họ bị người công chức bảnh trai ấy dụ dỗ làm hại cuộc đời rồi bỏ rơi, nên họ thương xót lắm, và oán ghét người thanh niên "điếm đàng" ấy lắm.

Tình cảm của họ sôi nổi quá nên họ giữ kín bí mật đó không được nữa. Tin tức bị xì ra và cả chợ đều biết câu chuyện nầy, nghĩa là biết một câu chuyện tưởng tượng do bọn nữ sinh dựng đứng lên để trả thù cho bạn họ, trong đó người con trai gương mẫu trước kia bị bôi mặt lọ lem.

Tám Huỳnh sống khuất dạng, ít giao thiệp với ai, Công cũng thế, thành ra cái tin được loan đi nhanh chóng như một vệt thuốc pháo dài ấy lại không lọt vào hai nhà nầy.

Cái người mà câu chuyện tình đểu giả kia làm cho khổ tâm nhứt là Thúy.

Thì ra, người con gái bí mật đã làm Công mất hồn dạo trước là Nhan, con bé Nhan học trò mà Thúy chưa biết mặt, nhưng nghe tên, vì Nhan được xem như là hoa khôi trong tỉnh.

Nhưng Nhan đã bị thất sủng.

Đó là một điểm làm nàng vui mừng.

Nhưng cô bé nầy lại bị thất sủng chỉ mua một tháng yêu đương thôi. Thế thì người con trai mà nàng yêu thầm là một kẻ mau chán quá, không kể cái bất lương đã bỏ rơi một cô gái thơ.

Nếu chính nàng bị bỏ rơi sau khi được hưởng hạnh phúc với Công trong vài năm, nàng sẽ không ghê tởm Công và sẵn sàng nhận chịu số phận ấy !

Đằng nầy chỉ có một con trăng thôi ! Người thanh niên ấy là một kẻ đáng khinh nhờm nhứt trần đời !

Người chủ sở mà Thúy xem như thần tượng bỗng dưng hiện ra với một gương mặt ác quỉ, hung thần, vì cái ngày mà Thúy nghe được sự tác tệ của chàng, nàng buồn mửa lắm khi vào sở, phải đứng gần chàng hay bị chàng đứng cạnh nàng.

Con người thơm tho đạo đức ấy bỗng tanh mùi địa ngục và nơi gương mặt đẹp của hắn, dưới mắt Thúy, ẩn hiện tà tâm ác khí, nguy hiểm không biết bao nhiêu vì gian ác của hắn được mã đẹp bên ngoài che giấu cho.

"Thật hú vía, Thúy tự nhủ thầm, mình thật tốt phước. Nếu hắn chú ý đến mình, mình đã ngã. Mình sẵn sàng đợi hắn mở lời để rơi vào tay hắn kia mà."

Nhưng không hiểu sao nàng cứ bị đôi mắt của hắn thôi miên, đôi mắt mà nhìn vào cái gì, chiếc máy đánh chữ, tờ công văn, vạt áo đen của những nông dân trồng thuốc đến xin giấy tờ, nhìn vào đâu Thúy cũng thấy nó hiện ra với lối nhìn vừa cương quyết vừa mơ mộng thật dễ say mê của nó.

"Nhưng sao hắn lại âu sầu như thế kia" ? Thúy tự hỏi. Vẻ âu sầu đó không phải là hối hận. Vả con người bần tiện như vậy không thể biết hối hận đâu.

Hắn âu sầu, thẫn thờ, rồi như đi vắng, hay giựt mình đánh thót lên khi nàng hỏi hắn điều gì. Y hệt như lúc hắn mê Nhan, nhưng bi thảm hơn nhiều chớ không phải chỉ lo ra, đảng trí như lúc đó.

"Hay là không phải… và bọn nữ sinh ấy chỉ đặt điều nói xấu chàng ?" Thật ra Thủy không tìm được dấu hiệu nào để nghi ngờ như vậy ngoài sự khác biệt giữa hai lối thẫn thờ của Công. Nàng hoài nghi về lời đồn đãi, có khuynh hướng muốn bào chữa cho Công chỉ vì "khi thương trái ú cũng tròn".

Lòng nàng còn mang nguyên vẹn cảm tình với ai, chỉ có lý trí của nàng là lên án hắn thôi. Lý trí thủ vai công tố viện để buộc tội, nhưng lòng đặt ngay nghi vấn để xin tòa cho đình lại hầu điều tra bổ túc.

Bấy giờ ngôn ngữ của luật gia mới được xử dụng để nói lên điều mà lòng rất thèm nói: "một khi chưa hoàn thành điều tra, chưa luận án thì bị cáo được xem là còn vô tội".

Vì thế mà khi Công gọi:

- Cô Thúy ơi !

Thì Thúy vẫn nhỏ nhẹ vâng dạ như không có gì xảy ra, như kẻ lưu manh mà nàng đã ghê tởm vẫn cứ là một tâm hồn cao quí như bao giờ.

- Cô Thúy ơi !

- Dạ.

- Cô có thấy là lũ đờn ông chúng tôi ngốc hay không cô Thúy ?

- Ông muốn nói về cảm nghĩ, hành động nào của họ, em chưa được rõ nên trả lời không được.

- Họ cứ muốn tiếp tục yêu những người không xứng đáng tình yêu của họ, và nếu cần phải dứt, họ cứ đau khổ về sự dứt đó.

Thúy cười rất chua chát mà rằng:

- Về mặt đó thì cả phụ nữ chúng tôi cũng ngốc không kém đàn ông chút nào. Phụ nữ cử tiếp tức yêu những kẻ không xứng đáng tình yêu của họ.

- Vậy à ?

Công ngạc nhiên hỏi, vì, mặc dầu là một công chức rất giỏi, Công chưa có tí kinh nghiệm nào về tình yêu, nhứt là về những đau khổ do tình yêu.

Thúy cũng chẳng kinh nghiệm. Đây là bài học mà nàng vừa học được ở chính bản thân nàng.

- Vậy à ? Nếu quả có như cô vừa nói thì cả loài người đều ngốc…

- … Về phương diện yêu đương. Vâng, họ đều ngốc cả…

- Tại sao như thế hở cô ?

- Em cũng không biết tại sao. Có lẽ tại lòng người như vậy.

- Không thế nào yêu một cách khôn ngoan hay sao cô Thúy ?

- Em không biết.

Thúy không biết yêu thế nào cho khỏi phải đau khổ nhưng nàng vừa biết sự thật về vụ Nhan-Công, một sự thật đại khái như thế nầy. Nhan đã phạm lỗi gì đó, nặng lắm (rất có thể là cô bé ấy vừa yêu một học sinh, lại vừa yêu Công và Công đã khám phá được sự trắc nết của nàng). Công thấy nàng không còn xứng đáng nữa, đã dứt với nàng, nhưng đau khổ lắm.

"Nếu quả như thế, Thúy nghĩ, thì chàng sẽ quên, và mình không đến nỗi tuyệt vô hi vọng đâu !"

Và nàng càng ngày càng làm dáng hơn lên, càng cố siêng năng và dịu dàng hơn lên.

° ° °

Tám Huỳnh về nhà một cách... kiếm hiệp như ra đi, nghĩa là vào lúc giữa khuya, một đêm mưa gió.

Những lần trước ông đón xe giữa truông ở xa lắm để về tỉnh lỵ một cách công khai giữa ban ngày. Từ khi Nhan biết sự thật, ông từ trong rừng đi thẳng ra nhà lúc tăm tối.

Sáng ra, người dì họ của ông chỉ hơi ngạc nhiên sơ sơ thôi vì bà cũng như Nhan, nghi là ông có nhơn tình, cái dì Năm ấy, và đã từ nhà người nhơn tình đó mà về đây hồi hừng đông.

Ông Tám gọi cửa và vào nhà, ông hỏi con:

- Có gì lạ không con ?

- Không ba à. Ba đã thật khỏi chưa ba ?

- Đã khỏi hẳn.

Ông Tám đã khỏi hẳn nhưng Nhan lại đang bịnh nặng, cái bịnh sầu tình của nàng. Nàng ngạc nhiên quá mà tự hỏi sao mình không chết trong những cơn đau xé tim vừa qua, sao mình không tự tử để thoát đau một cách vĩnh viễn mà còn sống được đến hôm nay.

Hôm nay, niềm đau đã hóa thạch. Sự ê chề đã bọc ngoài tim nàng một lớp chán chường khiến hương sống không còn mùi, vị sống đã nhạt phèo chớ không được cái đắng cay chua chát của những ngày mới bị hất hủi.

"Không có gì lạ ba à". Đó là câu trả lời của nàng với cha, trả lời đúng y tình trạng bên ngoài mà mọi người đều thấy.

Quả không có gì lạ cả. Con rạch con cứ chảy bên nhà, mấy cây bưởi cứ ra hoa, và thiên hạ cứ vui sống. Biến cố lớn lao trong đời nàng chỉ có một mình nàng là hay biết, là chịu đựng thôi.

"Không có gì lạ ba à !" Chỉ có một người con gái nhỏ xíu vừa bị đè bẹp dưới một trái núi đau thương. Chỉ có một thiếu nữ hai mươi, trong vòng sáu hôm, đã sống qua hằng mấy năm tân khổ. Chỉ có một sụp đồ của cả một đời người mà người ấy hoàn toàn vô trách nhiệm, hoàn toàn bất lực trước một tai họa mà nàng biết trước rằng khó tránh.

"Không có gì lạ ba à !" Nhan đáp xong, cắn môi lại đến muốn đứt thịt. Nàng trợn trạo nuốt cái tiếng nấc của uất hận nó chỉ đợi ai nhắc nhở đến biến cố vừa qua là vọt lên từ đáy lòng nàng.

- Thôi, con đi ngủ, để cửa đó ba đóng cho.

Nhan đi thức chớ không đi ngủ. Nàng đã thức trong nhiều đêm rồi và đêm nay, có lẽ nàng còn xốn xang nhiều hơn mấy đêm trước nữa.

Giờ ông cụ đã thoát nạn và khỏi bịnh, cô gái tội nghiệp nầy không còn phải lo sợ cho cha nữa và để cả tâm trí để nhơi nỗi sầu của nàng.

Nhan lăn trở mãi cho đến khi nàng giựt mình thức dậy thì cảm giác rằng mình chỉ ngủ quên đâu lối một tiếng đồng hồ thôi.

Cửa ngoài đã mở cả ra và một giọt nắng rơi ngay trên mình nàng.

Nhan ngồi dậy bước xuống giường, hé màn dòm ra ngoài thì thấy cha nàng đang ngồi uống trà nơi ghế sa lông.

Ông cụ có thói quen ăn sáng thật sớm, không ăn gì khác hơn là ăn cơm với cá kho, rồi uống nhiều chén trà thật đậm.

Nàng lặng lẽ ra sau rửa mặt thì thấy bà dì đã sẵn sàng để đi chợ. Bà dặn:

- Bà đã nấu cơm cho ba con ăn. Con cứ dọn lấy mà lót lòng.

- Dạ, bà để đó cho con.

Nhưng rửa mặt xong, nàng chải gỡ rồi lên nhà trên với cha chớ không ăn sáng. Hôm nay Chúa nhựt, không phải đến trường mà nàng thì chỉ quen ăn bánh mì thit nguội mua trước trường thôi, thói quen từ thuở nhỏ còn rơi rớt lại, giờ đã biết mắc cỡ nhưng không bỏ được.

Nhan lại ngồi cạnh cha và hỏi:

- Ba nói đã khỏi hẳn, nhưng có thật là khỏi hẳn hay không ba, hay còn đau nhức ?

- Thật khỏi hẳn.

- Nhưug ba ốm đi nhiều lắm.

- Cố nhiên. Ba đã nhịn đói nhiều ngày, chưa kịp lấy lại sức.

Tám Huỳnh nhìn con, ngày thường mỗi khi nhắc đến nghề của ông, Nhan vẫn buồn, nhưng không héo xào quá như bây giờ. Ông nói:

- Con cũng gầy sút đi nhiều lắm. Con đừng có phiền muộn quá mà không tốt cho sức khoê của con. Thế nào rồi ba cũng giải nghệ.

Ông Tám đâu có dè rằng con ông tiều tụy vì lẽ khác. Nhan rưng rưng nước mắt nhưng chỉ làm thinh. Nàng vẫn cứ còn muốn cho cha nàng giải nghệ như bao giờ, nhưng chợt thấy là đã trễ quá rồi. Việc lớn của đời nàng đã đổ vỡ thì thật là nàng không thiết tha với sự giải nghệ đó cho bằng dạo trước nữa.

- Ba sẽ giải nghệ, ông Tám tiếp, không phải bị một lần rồi tởn - ba đã bị biết bao nhiêu lần rồi, nhưng giải nghệ để cho vui lòng con.

- Cám ơn ba !

Nhan nói xong câu ấy rồi nức nở ra mà khóc.

- Thôi con à ! Ba hứa chắc mà, không sớm thì muộn ba cũng …

Bỗng ông Tám cười lớn lên, cười ha hả một hơi rồi dỗ Nhan:

- Nè, con nín đi, ba kể cho nghe một câu chuyện buồn cười hết sức, xảy ra trong lúc ba bịnh nằm dưỡng trong xóm tha la.

Thấy cha vui, Nhan cũng cố nén sầu để ông Tám được trọn vẹn thơ thới lòng. Nàng hỏi:

- Chuyện gì đó ba ?

- Có một người đến cầu hôn, muốn xin cưới con.

Nhan cũng bật cười: ai lại cầu hôn giữa rừng.

- Nó xin cưới con bằng một trăm con trâu.

Bây giờ Nhan cười dòn lên, cười vui thật sự. Nàng đoán đó là một tay công tử nhà quê mới có chuyện cưới vợ bằng trâu.

- Con có biết một trăm con trâu là bao nhiêu tiền hay không ?

- Mấy ngàn ba ?

Ông Tám lại cười ha hả rồi nói:

- Con thật không biết khỉ khô gì ngoài đời cả. Một trăm con trâu là gần một triệu bạc chớ sao lại mấy ngàn.

- Dữ vậy lận sao ba ?

- Ừ. Ba mà nhận lời và nhận lời được thì một sớm một chiều giải nghệ được ngay. Nhưng chuyện nầy đối với ba chỉ là một chuyện cà rỡn hôi, mặc dầu họ đề nghị nghiêm trang.

Nhan giựt nẩy mình khi nghe hai tiếng "giải nghệ". Nàng làm thinh mà nhìn cha rất lâu, trong trí nàng đang xây dựng lên cả một chương trình, một kế hoạch.

Lâu lắm nàng mới hỏi:

- Sao lại cà rởn ba ?

- Vì hắn là người Cao-Miên.

- Vậy à ?

Nhan có một giọng cụt hứng rõ rệt. Kẻ tinh ý đoán được là nàng đã cứu xét đề nghị đó với nhiều thiện chí và có thể đã nghĩ qua việc lấy chồng miễn cưỡng để cứu cha ra khỏi cảnh bùn nhơ.

Nhưng quả thật nàng không thể lấy một người Cao Miên, mặc dầu nàng không có óc kỳ thị chủng tộc.

- Ừ, nó là đàng Thổ. Thật trèo đèo.

- Đằng Thổ … trèo đèo… Nhan lập lại lời cha như một tiếng vang.

Và kẻ tinh ý chấc sẽ thấy nàng đang cố gắng cực kỳ để cứu xét lại vấn đề, đang làm một nỗ lực tinh thần cuối cùng.

Nhưng không, Nhan đã buông trôi câu chuyện, rơi vào một sự uể oải sau những phút căng thẳng tột độ. Không thể nào nàng làm vợ một người ăn cơm bóc được cả. Ít ra người chồng tương lai của nàng phải có một dúm tối thiểu văn minh chẳng hạn như một nông phu Việt Nam, biết dùng đũa cho nó sạch sẽ con người ra.

Kẻ ấy không là một công tử nhà quê, cũng không được là một nông dân đồng chủng với nàng.

Tám Huỳnh lại cười lớn mà tiếp:

- Tệ hơn nữa, hắn là một tướng cướp. Vì một lẽ riêng, ba không dám giận hắn, nếu không ba đã nổi xung thiên tạt cho nó gãy họng rồi vì sự trèo đèo vô lễ của nó.

Mắt Nhan bỗng lại sáng lên như khi nãy vừa nghe cha đánh giá một trăm con trâu.

- Tướng cướp ?

- Ừ, một tên tướng cướp xem mạng người như cỏ rác.

Nhan không buồn hỏi cha xem vì sao mà ông không dám nổi giận trước đề nghị trèo đèo của tên cướp Miên, vì nơi trí nàng đang sôi nổi trở lại kế hoạch vừa bỏ trôi.

Mắt nàng lại sáng lên. Hi vọng khi nãy đã bỏ nàng mà đi, thình lình trở về trên mặt nàng mà nhìn vào, người ta đoán biết sau vầng trán ngây thơ ấy, một tâm tư đang bấn loạn.

- Ba nhận lời đi ba.

Ông Tám Huỳnh đang nâng chén trà lên gần kề môi, giựt mình dừng tay lại, rồi trố mắt, hả miệng mà nhìn con.

- Con không nói đùa chớ ?

Nhan chỉ lắc đầu, đôi mắt mơ màng nhìn xa vào khoảng không.

Ông Tám nhìn con rất lâu sau câu hỏi ấy. Quả thật Nhan không đùa. Nàng nghiêm trang hơn bao giờ cả và bỗng ông Tám thấy rằng không khí ở đây vụt trở nên nghiêm trọng vô cùng.

- Con không đùa chớ ?

- Không ba à.

- Đừng có nói điên. Nó mua con đó chớ không cưới như thường đâu. Nó căn dặn ba như có nhận lời nó thì nó giao trâu cho ba cùng lúc với ba giao con cho nó giữa rừng sâu. Như vậy là hạ con xuống ngang hàng với trâu, đánh đổi con như con vật.

- Vậy à ?

- Ừ, con thấy không ? Ba chỉ kể để cười chơi, nhơn cái câu chuyện cần tiền giải nghệ ấy. Ba nói rõ như vậy để con khỏi tủi thân ngỡ ba đã xem xét lời đề nghị của nó. Sao con lại nhận lời ?

- Nếu quả như thế thì càng nên nhận lời ba à. Nhận có lợi lắm.

- Quả như thế là quả làm sao ?

- Quả hắn đòi tiền trao cháo múc.

- Ba không hiểu vì sao mà con nghĩ điên như vậy.

- Như thề nầy: nếu hắn là người lương thiện, con không thể nhận, vì nhận là phải làm đúng lời giao ước là làm vợ hắn. Con làm thế nào mà ưng lấy một người đằng Thổ được.

- Cố nhiên.

- Nhưng nếu hắn là tướng cướp thì vấn đề hiện ra dưới một bộ mặt khác.

Không ai lại phải giữ chữ tín với một tướng cướp và không cần thương xót hắn. Ba nhận lời, con làm vật trao đổi, rồi con sẽ trốn đi sau cuộc trao đổí.

Tám Huỳnh cười khà:

- Con cũng lưu manh nữa à ? Thật cha nào con nấy. Nhưng con ngây thơ lắm. Con không làm sao trốn thoát tên cướp lợi hại ấy được cả. Rừng rậm là giang sơn của nó mà nó đã thuộc lòng cả từng gốc cây, từng ngọn cỏ. Hơn thế nơi xó nào, nơi đầu truông, gốc bụi nào nó cũng có đặt người của nó.

Nếu con bằng lòng thì dầu muốn dầu không, sẽ phải làm vợ nó suốt đời. Như vậy là một hy sinh của con rồi, hy sinh to lớn quá, ba không thể chiều ý con.

- Con tin chắc là con sẽ trốn được, nhứt là từ lúc nghe ba nói hắn buộc phải trao đổi tại chỗ. Ba cứ bằng lòng đi.

- Không thể được.

- Ba bẳng lòng, nhưng đưa điều kiện và nhờ điều kiện ấy mà con sẽ thoát.

- Điều kiện nào ?

- Là cuộc trao đổi chỉ có thể diễn ra tại Trảng Sụp.

- Trảng Sụp ?

- Vâng, Trảng Sụp.

- Sao con biết Trảng Sụp ?

Nhan cười dòn lên và đáp:

- Sao ba hỏi lạ thế ? Người xứ nầy ai lại không biết Trảng Sụp.

- Cố nhiên là biết. Nhưng chỉ biết tên thôi. Ba dám chắc trong mười ngàn người không có hơn một người đã đi đến đó và đã biết rõ nơi ấy, mặc dầu nó chỉ cách xa tỉnh lỵ có bốn, năm cây số thôi.

- Mà con đã đi đến đó.

- Thật à ?

- Dạ thật !

- Hồi nào ?

- Năm kia, năm con học đệ lục. Tụi con Cánh, cái tụi "ba gai" mà ba đã biết, tụi con của ông Hợp đó mà, chúng nó rủ con đi trong một thời gian mà ba vắng nhà.

- Trời, lũ con nít bây giờ thật là liều lĩnh, mà lại con gái nữa mớí rắn mắc chớ !

Cô Nhan bỗng nhớ sực lại như mình đang sống vào năm cô học đệ lục ấy, cười ngã nghiêng ngã ngửa rồi nhỏng nhẻo nói:

- Tại ba đi hoài, con ở nhà con buồn lắm.

- Thật hú vía ! Tụi bây mà chết trong ấy thì thật không ai hay biết.

- Nhưng con còn sống nhăn tới bây giờ.

- Nhưng tụi bây biết mà biết có rõ không, tả thử tao nghe coi nào.

- Dạ, Trảng Sụp là một cánh đồng mà ngày xưa do cuộc thiên tai nào không rõ, thình lình sụp xuống thành một cái hồ sâu. Cái hồ ấy được lấp đầy lần lần và ngày nay thì gần bằng mặt với những cánh đồng chung quanh.

- Đó là con nói về địa lý, địa chất học nhưng sai bét, sai đúng theo tin tưỏng của người thường. Cái tên của cái trảng ấy cũng sai theo tin tưởng đó.

- Chớ thế nào ba ?

- Sự thật là như vầy: Đó là nơi đất trũng ngày xưa, rất lâu đời rồi. Mặt đất ở đó thấp quá sức nên vùng ấy là cái rún của các vùng đất chung quanh, luôn luôn tụ nước. Đất bị ngâm nước hằng trăm năm, hàng ngàn năm thì tan thành bùn non.

Nhưng cùng với tháng, năm, nước mưa mang đất các nơi khác về lấp đầy lần lên chỗ trũng đó thành thử ngày nay mặt cánh đồng thấp ấy chỉ còn thấp hơn mặt đồng chung quanh một ít thôi.

Tuy nhiên, lớp đất trên mặt tương đối rất mỏng. Bên dưới vẫn là bùn non. Trảng không chở nổi một sức nặng đáng kể như một con heo chẳng hạn.

Ai phiêu lưu vào đó là bị đất sụp, chôn mất dưới ấy.

Danh từ Trảng Sụp tuy sai về mặt địa lý, vẫn đúng về mặt nầy. Léo hánh vào trảng đó là bị sụp chôn sống ngay. Rồi sao nữa, trảng ấy nằm ở đâu ?

- Nó nằm ở giữa núi Bà và con đường đi Vũng Chàm.

- Đúng. Nhưng nó ở gần tỉnh lỵ quá, đi ba bốn cây số là tới nơi. Ba sợ hắn không dám đến Trảng Sụp.

- Có được một trăm con trâu, chắc hắn phải là một tên cướp lợi hại và nhiều bản lãnh.

- Cố nhiên. Nhưng hắn không dại mà vào một chỗ gần quan quân trong khi không cần thiết lắm.

- Mình phải trình bày điều kiện như là rất cần thiết.

- Trình bày làm sao ? Ừ, ba quên hỏi tại sao con lại đòi hỏi như vậy.

- Ba bảo ba sợ hắn tráo trở, bắt con rồi không giao trâu; giữa rừng hắn mạnh, ba yếu, tức ba sẽ bị lường gạt mà không tự vệ được. Giao trâu gần đồn bót tức là liều vào chỗ nguy hiểm. Mà vào một chỗ như vậy rồi, không thể dám phản trắc, vì sợ ba trả thù bằng cách báo động lên.

- Nhưng nếu hắn không dám liều ? Điều kiện ấy cần thiết thật đó, nhưng lại đơn phương, chỉ cần thiết cho ta thôi.

- Không dám thì thôi vậy. Nhưng con tin là hắn sẽ dám.

- Nhưng con đừng ngỡ dựa thế gần đồn bót mà chạy trốn được, cũng đừng ngỡ ba có thể báo động mà quân lính cứu kịp. Tóm lại, con không thể bội ước, còn nó mà có bội ước, ta sẽ cua tay.

- Con xin thưa rõ, và luôn tiện giải thích lý do con đòi hỏi như vậy. Phải, ba nói rất đúng rằng con khó mong ỷ lại vào đồn bót mà chạy trốn được. Nhưng con sẽ tạo thuận lợi cho sự chạy trốn của con chính nhờ địa thế của Trảng Sụp.

Thưa ba, con sẽ báo tin cho công quyền hay buổi trao đổi ấy để họ tấn công bọn cướp. Đó là sự thuận tiện mà con tạo ra để thừa dịp tẩu thoát.

Tám Huynh cười ha hả rồi nói:

- Con thật là trẻ con, khờ dại lắm. Bị tấn công, nó chết, con lại sống được à ?

Không, Nhan có rất ít hy vọng sống sót. Nhưng đó là một cuộc tự tử trá hình, tự tử vì nàng thấy đời nàng đã vô nghĩa, tự tử vì chỉ có cái chết của nàng mới giúp cha nàng đủ phương tiện giải nghệ.

Ít hy vọng sống sót, không phải là hoàn toàn không hy vọng. Thế nên Nhan cũng cười và đáp:

- Thưa ba, hắn không chết đâu. Trong đêm tối, loạt súng đầu của công quyền không sao giết hắn ngay được…

- Nhưng những loạt súng sau ?

- Vâng, hắn không chết ngay, nhưng phải nằm xuống lập tức và không đủ thì giờ gữ con trong giây phút đó. Con sẽ vuột ra - thí dụ hắn đang ôm chặt con mà lăn đi - cũng nằm xuống như hắn rồi lăn đi mấy mươi vòng. Bị bắn rát quá, hắn đâu còn dám mò theo mà tìm con.

Tám Huỳnh nghe cũng hay hay nên hỏi:

- Rồi sao nữa ?

- Rồi nhứt định hắn phải bỏ con để tự vệ.

- Ừ, nhưng con cũng có thể bị đạn.

- Thưa không. Công quyền sẽ nhắm lửa súng của địch mà bắn vào đó. Con đã xa súng của hắn hằng chục thước rồi.

- Hừ, con nhỏ nầy nói có vẻ quân sự dữ đa !

- Dạ, dầu sao, con cũng là con của một tay buôn lậu từng xông pha tên đạn mà ba.

- Ừ, đúng như vậy.

- Vậy hắn phải bỏ con để tự vệ. Và chắc chắn là hắn phải thua vì khi công quyền được chuẩn bị thì nhứt định mạnh hơn.

- Ừ, rồi sao nữa ? Hắn thua, hắn rút lui, con ở lại ?

- Nếu hắn rút lui được, ba sẽ chết dưới sự trả thù của hắn. Ba đã nói hắn là một tướng cướp vô cùng lợi hại kia mà !

- Ừ, thế đó !

- Đến đây mới thấy tất cả quan trọng của vai trò Trảng Sụp. Hắn sẽ bị tấn công nhiều mặt, cố nhiên, trừ mặt Trảng Sụp, điều nầy cũng cố nhiên, mặt đó kể như là một tấm vách phành thì không ai phục binh làm gì.

- Ba như bắt đầu hiểu rồi.

- Chỉ còn có một con đường để rút lui thôi, tất nhiên hắn phải dùng vì dầu sao nẻo ấy cũng có chút đỉnh hy vọng sống: biết đâu Trảng Sụp đã thật khô rồi, không ai khi không mà đi kiểm soát xem Trảng Sụp ngày nay đã thật khô chưa trừ bọn học trò tinh nghịch tụi con.

- Ừ, khá lắm.

- Và hắn sẽ bị chôn sống trong đó.

- Kể ra thì cũng hay. Nhưng ba nghe xong phải rởn óc. Ác quá, và bất lương quá !

- Chính con cũng đau lòng, nhưng hắn đã giết người. Còn về điểm bất lương hay không, con nghĩ trâu ấy cũng không phải của hắn.

- Cố nhiên, nhưng mà làm sao ấy.

- Có lẽ con còn đau lòng hơn ba nữa vì chính con là chủ mưu, mượn tay công quyền để giết hắn, nhưng không hiểu sao cá tánh của con lại mạnh mẽ được đến độ nầy, con cũng ngạc nhiên lắm !

Tám Huỳnh không biết là con ông đã tuyệt vọng, đã quá ê chề nên đâm liều. Ông ngỡ rằng nó thừa hưởng khí bẩm ngang tàng của ông nên mới oanh liệt như vậy, điều đó thì cũng đúng phần nào thật.

Ông Tám làm thinh suy nghĩ giây lâu rồi lắc đầu:

- Hỏng, không được đâu con à.

- Sao lại không được, thưa ba ?

- Điềm chỉ cho công quyền, con sẽ được thưởng công, bằng tiền chẳng hạn, nhưng trâu thì phải để làm tang vật, họ không thể chia cho ta được.

- Không có vấn đề chia. Họ phải để hết cho ta, đó là điều kiện của con.

Ông Tám Huỳnh cười ha hả rồi nói:

- Trẻ con đừng có tin tưởng điên khùng. Không ai nhận điều kiện của con đâu.

- Con chắc một trăm phần trăm là họ sẽ nhận.

- Họ sẽ gạt con thì có.

- Gạt thế nào ?

- Nghĩa là họ nhận bừa, xong chuyện họ sẽ thưởng công con rồi trâu sẽ bị dẫn về phú de như thường.

- Không, thưa ba, đổi chác xong là ba lùa trâu đi ngay, ba đi khỏi đó rồi họ mới tấn công. Nếu không, ba cũng chết mà trâu cũng không còn. Cho là họ không trọng sanh mạng của ba đi nữa, họ cũng phải tiếc trâu và đợi ba đi khỏi rồi họ mới đánh…

- Đành là thế. Nhưng họ có thể phục binh ở một mặt trận thứ nhì, ở ngoài mặt trận đó để chận ba lại.

- Con có một lá bài bí mật để đòi họ bảo đảm lời hứa.

- Lá bài gì ?

- Đã bảo là bí mật thì con không thể nói rõ cho ba nghe.

- Ba là ba của con mà.

- Cho dẫu vậy đi nữa.

- Coi chừng bật mí đa con.

- Coi bộ ba không tin tưởng vào kế của con...

- Chỉ về điểm cuối cùng ấy thôi. Chiến lược của con, con sắp đặt xem ra cũng khá ổn.

- Nói thí dụ, ta bị họ gạt, chận bắt trâu thì đã sao đâu ?

- Ừ, thì đã sao đâu.

- Như vậy sao ba không thuận theo kế hoạch của con thử xem. Gì đi nữa thì con cũng sẽ được thưởng công vài ngàn để con ăn bánh…

- Chỉ được có vài ngàn ăn bánh trên cái chết của người khác thì…

- Nhưng cái người khác đó là một kẻ mà tay đã bẩn máu.

Tám Huỳnh bỏ quên chi tiết nầy là Thạch Poul là đại ân nhân của ông mà cũng là ân nhân của Nhan nữa. Còn Nhan, nàng biết đại khái kẻ cứu nàng là một người quen với ba nàng, có lẽ cũng là một tên buôn lậu, không ưa giới đó lắm nên không tò mò hỏi rõ về sau. Thành thử Thạch Poul mãi đến giờ phút nầy vẫn cứ là một kẻ hoàn toàn xa lạ đối với nàng.

Tám Huỳnh cứ làm thinh, khiến Nhan lại hối, giọng van lơn cầu khẩn:

- Ba nghĩ thế nào ? Nhận đi ba ?

- Để ba xét lại thử coi.

- Dạ ba xét giùm, con mong ba sớm giải nghệ.

Ông Tám nhìn theo đứa con gái thân yêu nó đi xuống nhà sau để ăn sáng và bỗng nhớ đến vợ mà dáng đi, điệu đứng được truyền lại nguyên vẹn cho con.

Cả hai mẹ con đều oai phong lẫm liệt mà không thô kịch. Nhan mặc dầu còn ngây thơ, chưa tự tin trong tuổi non nớt của nó, cũng đã hách lắm rồi. Nó mang máu giang hồ của ông trong người nó, mẹ nó lại mang máu hiên ngang của của ông cố ngoại nó là một tướng giặc cuối cùng của phong trào Cần Vương.

Những kẻ dũng mãnh như thế ấy thì nếu làm anh hùng, anh thư không được, tất nhiên biến thành cường đồ, không sao tránh khỏi.

Đêm ấy, nửa khuya, ông Tám Huỳnh giựt mình thức giấc vì một cơn nhức ở vai. Vết thương của ông đã lành hẳn rồi, đụng chạm mạnh, mà bóp nặng cũng không đau.

Ông Tám Huỳnh biết ngay rằng cơn nhức nầy do khí trời ẩm ướt đã âm thầm dày vò những tế bào, những dây thần kinh bị tì vết thương bắp thịt của ông.

Đó là khuyết điểm cơ thể mà thuốc men phải bất lực và ông sẽ đau nhức như vậy cho đến ngày xuống mồ mỗi bận trời trở gió.

Năm nay ông bốn mươi chín, sức khỏe và sức mạnh đã bắt đầu xuống. Chứng tật mới nầy, mang sẵn trong người, sẽ hành hạ ông dữ lắm những lúc ông xông pha mưa gió.

"Đã đến lúc phải giải nghệ rồi" ông Tám thở dài mà nghĩ thầm như vậy. Ông thở dài vì nỗi ngậm ngùi phải từ bỏ một nghề mà, mặc dầu nhận là trái đạo đức, ông vẫn thương mến vì nó có vẻ đẹp riêng của nó. Ông thở dài vì viễn ảnh phải nhờ vả con, nó chạm tự ái của ông quá.

Ông nghĩ ra thì cuộc đời thật phi lý hết sức. Mười lăm năm ngang dọc, bât chấp luân lý và pháp luật, đôi khi có thể giết người nữa trong những trận đánh tự vệ, thế mà khi trở về già, chỉ còn hai tay không, muốn dưỡng lão phải nhờ đến một kỳ công của một đứa con gái thơ dại.

Ông Tám đánh diêm lên, thắp cây đèn trứng vịt trên bàn đầu giường rồi mở tủ lấy một viên thuốc an thần uống cho qua cơn nhức nhối. Thuốc nầy cũng có dược tánh dỗ giấc ngủ nên nửa tiếng đồng hồ sau đó, ông thiếp đi và ngủ quên luôn cho tới tám giờ sáng mới thức dậy.

Hôm ấy chúa nhựt. Ông Tám đi ra sau rửa mặt thì thấy "dì Năm" đang ngồi nói chuyện với Nhan.

Đây là lần đầu tiên mà người vợ kế không chánh thức của ông đến đây lúc ông có mặt nên ông Tám ngạc nhiên lắm, và hơi lo. Ông hỏi:

- Dì nó tới có chuyện gì ?

- Để rồi tôi sẽ nói. Ông nghe trong người làm sao ?

- Như thường.

- Nhan nói ông ăn ít lắm mà ?

- Ừ, nhưng không sao đâu. Có lẽ tôi bắt đầu già nên vậy.

- Nhan không đi học sao con ?

- Dạ, bữa nay chúa nhựt ba à.

- Vậy hả. Dì nó lên nhà trên uống nước và có nói gì thì nói.

Ông Tám biết người bạn của ông muốn nói chuyện riêng và sự có mặt của Nhan là một trở ngại.

Nói xong, ông trở gót liền không đi rửa mặt nữa.

Dì Năm bước xuống ván và nói với con ghẻ:

- Để rồi dì sẽ trở xuống với con.

Dì Năm mới lên tới buồng tiếp khách chưa kịp ngồi, ông Tám đã hỏi:

- Có gì, dì nó ?

Di Năm lặng lẽ bước đến ngồi sát ông Tám, hạ giọng xuống mà nói:

- Chú Tư chú nhờ tôi đem tin gắp đến cho ông.

- Tin gì ?

- Là tên Thạch Poul nào đó nhắn rằng trâu đã về.

- Vậy à !

Tám Huỳnh không nói gì nữa, ngó mông ra sân nhà nhưng nhìn rất xa vào một đêm tối mịt kia trước Trảng Sụp.

Thạch Poul đã về, về trước thời hạn là một tháng mà hắn đã hoạch định. Từ ngày hai người chia tay đến nay chỉ mới có mười chín ngày thôi.

Thạch Poul đã về ! Đây là dịp ngàn năm một thuở, nếu không chụp lấy thì không thể có được một may mắn thứ nhì nữa.

Nhưng mà, cứ theo kế hoạch của Nhan, đây là một cuộc cướp giựt, không hơn không kém. Bắt ăn cướp là một chuyện khác. Nhưng phản bội ăn cướp bằng cách gài bẫy chúng để cướp của chúng là một chuyện khác nữa.

Giới giang hồ mã thượng vẫn biết xấu hổ phần nào và vẫn trung kiên với lề lối lương thiện riêng giữa chúng với nhau.

Thạch Poul đã về ! Trâu đã về ! Đó là những con trâu mà có lẽ hắn đã phải hạ sát hằng chục người mới chiếm được. Không, ông Tám không thương xót hắn, cũng chẳng kể đến cho hắn về cái ơn nặng mà ông đã thọ với hắn. Chính ông đã gián tiếp cứu hắn một lần năm I954, khi hắn mới bắt đầu tung hoành trong vùng nầy.

Hắn đã chạm đến dư đảng Bình Xuyên, bị họ gài bẫy bắt sống được và toan mổ mật hắn. Tám Huỳnh đã xin họ xá tội cho hắn, mong kết nạp thêm một thủ hạ giỏi giắn. Nhưng hắn chuộng tự do và không thích trên đầu có ai, nên sau đó, hắn lại hoạt động riêng như cũ.

Nhưng cái nếp lương thiện riêng của giới cường san cứ khiến ông Tám phân vân.

Một trăm con trâu ! Ngót một triệu đồng ! Kể ra thì thằng nầy cũng khá lắm. Hắn dám xài như thế thì biết quí trọng tình yêu song phương, chớ hắn đã có dịp bắt cóc Nhan, để cưỡng hiếp nàng. Nhưng như vậy, nếu cho rằng sự cưỡng hiếp ấy là tình yêu đi nữa thì nó chỉ đơn phương thôi.

Tánh dại gái của tên cướp đường nầy mang một vẻ đẹp độc đáo của man rợ pha trộn với văn minh, khiến ông Tám thấy hay hay, ngồ ngộ.

Dì Năm kính trọng sự im lặng của người chồng mà dì kính phục, nhưng vẫn phải nói hết câu chuyện:

- Chú Tư chú nói người ấy nhờ ông xin ông quyết định mau, và dầu nhận dầu không cũng trả lời cho y rõ kẻo y tốn công chờ đợi.

- Được rồi, bà để tôi tính. Chú Tư nó còn ở trong ấy chớ ?

- Dạ còn.

- Bà nên về ngay, nói với chú đi trả lời thay cho tôi là tôi sẽ đến gặp người ấy. Nhưng nó hẹn gặp tôi ở đâu ?

- Dạ ở "Đồng Cháy".

- Tốt lắm.

- Ông sẽ ghé tôi hay chăng ?

- Cố nhiên là ghé.

- Thôi tôi về ông nhé.

- Ừ, bà về đi.

Dì Năm lặng lẽ đi ra sau trong khi Tám Huỳnh vẫn thẫn thờ ngồi đó với cái đầu bù, với gương mặt còn ngây ngủ của ông.

Dì Năm ra sau, bắt gặp một cô Nhan còn thẫn thờ hơn ông bố của cô nhiều lắm, khiến dì ngạc nhiên cho gia đình nầy quá, cả cha lẫn con đều như là kẻ mất hồn.

Nhưng Nhan thẫn thờ vì lý do khác cha nàng. Hôm nay là chúa nhựt. Niềm đau của nàng, cứ chúa nhựt là gay gắt hơn lên.

Mới tháng trước đây, sáng chúa nhựt nào Công cũng đến thăm nàng và nàng đã nghe như cầm chắc hạnh phúc tên tay. Tất cả đều qua như trong một giấc mộng, mộng đẹp, nhưng nàng tỉnh giấc mộng một cách bàng hoàng như là ra khỏi cơn ác mộng.

Nhan còn như nghe giọng chàng văng vẳng đâu đây, như thấy bóng dáng chàng thoáng ngoài vườn, rồi in chồng lên hình ảnh mong manh ấy là một hình ảnh mơ hồ khác mà vừa thoáng thấy nàng bắt rùng mình.

Đó là gương mặt rừng rú của tên tướng cướp đàng Thổ nó đưa tay dìu nàng đi một khi cha nàng nhận đủ một trăm con trâu, lễ cưới của nó. Lễ cưới ? Không, đó là giá tiền nó mua một con heo.

Bỗng Nhan nhớ lại mấy lời nói đùa lúc Công chụp ảnh nàng giặt áo trên cầu ao. Đó là những lời nói gở, nói tiên tri một cách đáng sợ về tương lai của đời nàng. Công đã nói: "Trông cô giống như là cô gái giặt sa ở bên Trữ La".

Cô gái giặt sa ! Thì ra nàng sẽ bị đưa đi cống như Tây Thi !

Nàng đã nói rằng mình không thích bị "cống Hồ". Đó chỉ là một lời nói thôi, nó theo điển tích, nhắc chuyện Hạnh Nguyên tức Vương Trường bị cống sứ cho rợ Hồ ở miền Bắc Trung- Hoa. Câu chuyện ấy xảy ra sau câu chuyện Tây Thi đi cống Phù Sai những một ngàn năm, nhưng được phổ biến hơn, nên thành điển.

Muốn nói bị cống sang nước Ngô mà nàng nói "bị cống Hồ" và giờ thì, kinh dị thay, bị cống "Hồ" thật sự rồi đây. Một tướng cướp rừng, gốc đàng Thổ không Hồ là gì ?

Công đã hỏi "Cống Hồ để cứu nước, cô cũng không thích sao ?" Và nàng đã đáp: "Có bổn phận thì phái làm, chớ ai lại thích".

Nàng bị đưa đi cống Hồ để cứu nhà, tuy sẽ không rạng danh sử ký như Tây Thi, như Hạnh Nguyên đã cứu nước, nhưng nàng vẫn thấy đó là bổn phận thiêng liêng mà nàng phải làm. Làm nhưng không thích. Mà còn trái lại nữa.

Nghĩ đến đây Nhan nghe đau một cơn đau thật sự, một cơn đau vật chất nơi dạ dày của nàng và nơi tim nàng. Niềm đau tinh thần, khi to lớn quá, biến thành cơn đau xác thit chăng ?

Rồi Nhan lại tưởng tượng xa hơn, cho đỡ đau xót. Nàng hình dung ra trận đánh sau đó, mà nàng sẽ ngã gục dưới một viên đạn nặc danh, hoặc bị vùi thây trong Trảng Sụp một cách âm thầm, tăm tối.

Nhưng rồi nàng lại đỡ đau xót vì thà là như thế còn hơn phải làm vợ một tên tướng cướp rừng. Phải, nàng đinh ninh rằng kẻ ấy sẽ cứ sống đời sống lục lâm mãi mãi, vì, mặc dầu hắn có thể là sẽ giải nghệ, nhưng Tám Huỳnh thấy đó là một đề nghị điên rồ nên không buồn kể lại lời thề của hắn cho con nghe và về tới nhà, nhắc đề nghị ấy để cười chơi, ông thấy, không cần chi tiết đó Nhan cũng nhận lời thì cũng chẳng kể ra làm gì nữa.

Thà là như thế còn hơn. Mà nếu được ngã gục dưới chính một viên đạn của Công thì càng quí.

Nhan thích chết vì tay Công như trước đây Công thích chết vì tay của cha nàng. Người ta yêu nhiều quá nên người ta hờn, muốn hủy mình không đủ, mà muốn cuộc sống của người ta bị người yêu hủy lấy.

Giữa khuya đêm ấy, ông Tám Huỳnh lại ra đi và hai hôm sau là về, ông đã gạn hỏi con lần cuối cùng để đi thương lượng và thương lượng có kết quả.

Vì thế mà đêm ông về, sáng ra, đi học, thay vì vào lớp, Nhan ra chợ làm bộ mua sắm nầy nọ rồi vào lúc tám giờ, nàng đến ty Quan Thuế.

Thúy đang đọc bản phúc trình hằng tháng phải đánh máy mà ông trưởng Ty viết tháo quá, đọc qua mấy lượt mới mong hiểu hết, thì nghe người khách phụ nữ ấy nói với tùy phái:

- Thưa chú, tôi muốn xin vào thăm ông trưởng Ty.

- Có việc gì cô cứ hỏi các thầy các cô ngoài nầy.

- Không, việc quan trọng cần phải gặp ông trưởng Ty mới được.

- Xin cô cho biết tính cách ấy quan trọng đến mực nào tôi mới có thể vào "tâu lại" với "bệ hạ" của tôi, bằng không...

Viên tùy phái nói pha trò vì hắn ngỡ đây là một nhơn tình vụn vặt qua đường của "xếp" hắn, Nếu nàng là ngươi yêu thật sự của Công, hắn đã chẳng dám dễ ngươi như vậy. Mà người yêu thật sự, chỉ việc đưa thiếp, hoặc sẽ sai khiến hắn bằng gọng hách dịch chớ không nhút nhát như cô học trò nầy, tay ôm cặp, mặt ngây thơ quá chừng.

- Tôi tiếc không thể nói được vì là chuyện mật.

Anh tùy phái nheo mắt rồi cười rất hóm hỉnh và nói cũng bằng giọng hóm hỉnh, như đã cười đã nói với người điềm chỉ đặc biệt mà hắn ngỡ là người đem của đút tới.

- Bí mật à ? Nhưng tôi cũng cần biết quí danh của cô để chủ tôi quyết định có thật bí mật hay không chớ ?

- Tôi là Nhan.

- Vậy cô Nhan đợi một lát.

Nãy giờ Thúy nghe một cách lơ đãng nhưng cái tên vừa thốt ra bỗng làm cho cô tái mặt.

Cô ngước lên và vừa trông thấy cô nữ sinh nầy, cô bỗng rụng rời. Quả thật Nhan đẹp ghê hồn, đúng y như lời của cả chợ đồn đãi về nhan sắc của nàng.

Người như thế nầy thảo nào Công không mất ăn mất ngủ sao được ?

Người tùy phái vào buồng giấy của Công rồi, cô nữ sinh nầy đứng bẽn lẽn ở hành lang ty Quan Thuế vì cô nghe nhột nhạt dưới những cái nhìn soi bói cúa người trong sở nầy, nhứt là của Thúy.

Ấy, đã bảo cô nữ sinh ngây thơ hiền hậu ấy tỏ ra có bản lãnh, dám sống một đời sống oanh liệt của giới giang hồ mã thượng, nhưng cô ta chỉ có thể bảnh trước lằn tên mũi đạn thôi, và vẫn rụt rè sợ hãi trong một xã hội mà người ta trọng sự thạo sống hơn là kẻ dám chết.

Nhưng sao ông Trưởng Ty chưa quyết đinh ? Cả Nhan và Thúy cùng vài nhơn viên được nghe câu chuyện đều nóng lòng đợi anh tùy phái trở ra xem thế nào ?

Họ đoán có lẽ Công sợ mang tiếng và định phủ nhận cô nhơn tình học trò đã liều lĩnh đến đây chớ không an phận núp lén nữa.

Có người còn đoán xa hơn: Họ nghi Nhan đã mang thai với Công và quyết đến làm dữ.

Không một ai có ý mơ màng về sự thật cả. Sự thật là Công đoán Nhan đến để cầu cứu về điều gì liên hệ đến cha nàng. Có lẽ ông ấy bị một nhân viên nhỏ bắt về môt vụ nhỏ nào đó chăng và, là kẻ không biết xấu hổ, nàng mang mặt lì đến để nhơn danh tình bạn cũ mà xin xỏ nọ kia.

Chàng khó nghĩ quá. Thương xót người bạn cũ ấy, chàng vẫn thương xót và hơn thế, tình yêu của chàng vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chính vì thế mà chàng không muốn thấy mặt nàng nữa.

Tuy nhiên, rốt cuộc chàng cũng nói:

- Thôi, cho cô ấy vào !

Người tùy phái cười bằng mắt, một nụ cười nhiều ý nghĩa rồi mở cửa gật đầu làm hiệu để mời cô học trò vào.

Anh ta đóng cửa lại sau lưng Nhan và Thúy đứng lên. Không có gì xấu hổ bằng rình mò, riêng đối với lương tâm mình cũng đã thế, huống chi trước mặt mọi người.

Thúy đứng dậy rồi do dự thật lâu, nàng mới quả quyềt cầm xấp bản thảo của tờ phúc trình bước tới trước cửa buồng giấy của Công, làm bộ muốn vào có việc cần, nhưng đợi cho khách ra rồi mới dám gõ cửa.

Công nghiêm nghị hỏi, mà không ngước lên khi thấy dạng khách vào phòng:

- Chào cô, có việc gi ?

- Chào ông, một chuyện tối quan trọng và tối mật.

Công châu mày hỏi:

- Chuyện tư hay chuyện công ?

- Dạ chuyện công.

Người Trưởng Ty Quan Thuế nầy ngạc nhiên lắm. Nhưng chàng hành động tức khắc, theo thói quen của chàng. Chàng đứng dậy, bước thụt ra sau mở toát cửa hông buồng giấy ra, rồi lại đi tới phía trước để mở lớn cửa ngoài trổ ra hành lang.

Bắt gặp Thúy giật nẫy mình, toan rút lui mà không kịp, chàng hiểu ngay, mỉm cười và hỏi cho cô ấy đỡ ngượng:

- Đọc không được hả cô Thúy ? Được, cô cứ đánh dấu mấy chữ khó đọc, rồi lát nữa, khách về tôi sẽ bảo cho.

Người trưởng ty Quan Thuế nầy rất bằng lòng về tánh cẩn thận của chàng. Thường, thì khi nào tiếp một người khách khả nghi đối với bên ngoài, chàng mở toang cửa ra để ngăn sự rình nghe có thể có.

Lần nầy sự việc đã xảy ra đúng như chàng nghi ngờ và kẻ tò mò phải tiu nghỉu trở về chỗ ngồi của mình.

Xong đâu đấy, chàng mời khách ngồi lại ở chiếc ghế đặt trước bàn viết của chàng còn chàng thì ngồi bên kia bàn, tức là trên ghế của chàng.

- Chuyện gì cô cứ nói.

Giọng chàng cố bình thản nhưng không thể được. Nhan cũng cố lấy giọng và thái độ thường như hai người xa lạ với nhau nhưng xúc động cứ làm cho nàng nghẹn ngào nói không suông câu.

Cả hai đều ngầm hiểu là tình cảm của họ đối với nhau chưa chết, không thể chết được.

- Thưa ông, tôi đến để báo tin ông biết là một đêm kia một tướng đàng Thổ sẽ đưa một đàn trâu một trăm con về gần thành phố nầy…

- Cô đã gõ lầm cửa rồi đó ! Quan Thuế chỉ bắt hàng lậu, còn bắt cướp là công việc của cảnh sát.

- Nhưng thưa ông, trâu ấy mặc dầu là của cướp giựt, nhưng bọn cướp đem đến đây bán như bán hàng lậu.

- À, cô ăn gian cũng khéo. Được, cứ kể như là hàng lậu đi, rồi sao nữa ?

- Nếu ông nhận một điều kiện của tôi, thì tôi sẽ tiết lộ thời gian và địa điểm giao trâu cho ông bắt kẻ gian.

- Điều kiện gì, cô cứ trình bày thử xem.

- Là ông để yên người mua, chỉ bắt kẻ bán thôi.

Công bật cười, chàng cười ha hả rồi nói:

- Tức là kẻ mua định mượn tay Quan Thuế để cướp giựt hàng của quân cướp: A ha... ha… tài lắm, mưu lược đó. Tôi đoán người mua là thân phụ của cô. Quả thật …

Chàng suýt thốt ra cái câu phũ phàng: "Quả thật: Đầu buôn lậu, đuôi cướp, quả thật con nào cha nấy, cá mè một lứa với nhau", Nhưng chàng kịp cầm giữ và nói ra ý khác:

- Quả thật là trí Khổng Minh Gia Cát, nhưng tôi rất tiếc mà nói ngay rằng tôi không thể nhận điều kiện của cô. Không, luật nước và lương tâm tôi không cho phép tôi hành động như vậy.

- Thưa ông, giữa hai kẻ gian manh, ông trừ được một kẻ không lợi cho xã hội à. Làm việc cần mềm dẻo chớ nô lệ luật pháp mãi, hay ho gì !

- Không, tôi không thể tùng đảng với một người gian manh.

- Thưa ông, cái tiếng "gian manh" ấy là tôi nói để hợp với lời đoán mò của ông thôi, chớ thật ra bên mua sẽ trả tiền sòng phẳng, lúc nhận hàng. Tiền trao cháo múc họ mới chịu giao hàng chớ.

- Vậy à, tôi quên nghĩ đến chi tiết đó.

- Như vậy, lương tâm ông sẽ yên được.

Công suy nghĩ rất lâu rồi thở dài nói:

- Cũng chẳng yên được. Biết kẻ mua hàng lậu, gặp họ đang hành động quả tang mà nhắm mắt thì...

- Ông nên chọn. Trừ khử một người hay là không làm gì ai được cả.

- Nhưng tôi băn khoăn tự hỏi vì sao mà cô muốn bênh vực người mua.

- Vì người ấy là cha tôi.

- Té ra tôi đoán đúng.

- Dễ đoán quá mà !

- Nhưng tại sao cô lại muốn tôi trừ khử quân cướp ? Đã trả tiền rồi, chúng có bị trừ khử hay không, cô vẫn không thâu được thêm lợi nào kia mà ?

- Ông nói đúng, nhưng tôi cần trả thù.

- Trả thù ? Cô mượn tay Quàn Thuế, tức công lực để trả thù riêng ?

- Vâng. Nhưng nào có gì đáng trách đâu. Một kẻ đã hại ông, ông đi thưa cho hắn bị bắt, bị tù, không là mượn tay công lực sao ?

- Ừ, cũng khá trôi chảy, lối giải thích của cô. Nhưng thù gì mới được chớ ?

- Ông đi xa quá. Chi tiết đó, tưởng ở ngoài phạm vi của ông.

- Xin lỗi. Tôi đi xa quá thật. Vậy xin lập lại một lần nữa là tôi rất tiếc. Và tôi cũng rất tiếc mà được biết rằng cô ác lắm !

- Tôi ác à ? Thưa ông. Tôi ác chỗ nào ?

- Cô trả thù ác quá !

Nhan nổi giận vỗ bàn hét:

- Ông không nhận thì thôi, ông không được quyền mắng tôi. Ông không biết gì hết về những bí ẩn trong vụ nầy thì không được xét đoán.

Công cũng nổi xung thiên hét:

- Tôi không cần biết rõ ẩn tình, mà chỉ biết việc làm hiện giờ của cô thôi. Cô là một người ác.

- Tôi không ác, ông phải biết lý do xui người ta hành động mới xét đoán hành động ấy là không thiên lệch. Ác làm sao mà khi chúng nó muốn dùng thế lực đồng tiền để mua thân thể tôi. Thế có phải là phong kiến hay không, giữa thế kỷ hai mươi nầy ?

Công giật nẩy mình rồi hỏi:

- Thật như vậy à ? Chúng nó mua cô bằng một trăm con trâu ?

- Đúng như vậy.

- Và tiền trả món hàng ấy chính là cô ?

- Đúng như vậy.

Chàng châu mày, lâm thinh một lát rồi mỉm cười, gay gắt nói:

- Nhưng ai bắt buộc cô phải bán thân ?

- Tình thế bắt buộc. Tôi quyết giúp cha tôi giải nghệ cho người đời họ hết khinh rẻ gia đình tôi. Chúng nó biết không ai cưỡng nổi với lòng tham một triệu bạc, nên mới đề nghị cuộc buôn bán bất nhơn đó. Hạng người như thế mà ông thấy rằng không cần trừ khử sao ?

Công cắn môi của chàng thật mạnh, thấy rõ là chàng đang tập trung tất cả tư tưởng của chàng để quyết định. Lý trí của chàng nhủ rằng quả thật cần phải trừ khử tên cướp đó, nhưng thật ra tiềm thức của chàng lại âm thầm xui khiến chàng nhận lời hành động vì một lý do khác: cái thứ tiền mua trâu mà tên tướng cướp sẽ mang đi, chàng không đành để nó mang đi.

Lâu lắm, chàng mới nhìn người khách kỳ dị nầy mà hỏi:

- Nếu tôi không nhận điều kiện của cô thì…

- Thì tôi cũng cứ bán mình.

- Cô liều à ?

- Không liều thế nào được ? Đời tôi còn gì nữa đâu, chỉ vì nghề nghiệp của cha tôi. Giờ tôi không còn mong cứu chính tôi được nữa, nhưng ít ra hành động như thế, tôi sẽ cứu được cha tôi ra khỏi đường tội lỗi.

- Chắc chắn là chúng nó có võ trang ?

- Cố nhiên.

- Và tôi phải hạ chúng nó trong một trận đánh nhau ?

- Cố nhiên, ông sợ à ?

Người trưởng ty Quan Thuế mỉm cười mà rằng:

- Vâng tôi sợ. Sợ lắm. Sợ phải giết chính cô !

Nhan cười lên một chuỗi cười dòn dã mà rằng:

- Ông chớ nên tự tin quá và khinh địch quá. Tôi chỉ lo cho nhơn viên Quan Thuế lâm nguy thôi. Chúng nó nhiều súng lắm, trên hai mươi tay, mà toàn là tay thiện xạ cả.

- Cố nhiên. Nhưng thế nào cũng có một đôi kẻ bị hạ cả bên thắng nữa mà kẻ ấy rất có thể là cô vì cô là phụ nữ yếu đuối rồi không hiểu tại sao thân phụ của cô lại chịu "bán" cô bằng lối đó. "Bán"con đã là một việc không hay rồi, mà bán vào cửa tử thì …

- Ông có dám chắc rằng ông hạ nổi tôi ở loạt súng đầu hay không ?

Công chỉ cười mà không đáp, chàng cười một cái cười chua xót, đau đớn. Nhan tiếp:

- Không bị hạ do loạt súng đầu là tôi thoát được. Vì thế mà ba tôi mới chịu bán tôi trong điều kiện nguy hiểm đó.

Thật ra Nhan không tin rằng nàng sẽ thoát. Nhưng đó là một lối tự tử của nàng thì nàng không băn khoăn lắm về điểm bị hạ hay không.

Và cũng chính vì quyết chí quyên sinh nên nàng mới yên thân được với lương tâm của nàng mà hành động như vậy. Công đã bảo nàng ác và quả nàng ác thật, nếu không có ý chí quyên sinh kia.

Nầy nhé. Cha nàng mua trâu trả tiền sòng phẳng là không lường gạt người bán nữa.

Cái "tiền sống" ấy, khi đã làm tròn bổn phận trả giá cho món hàng rồi, thì nó có quyền tự hủy, người cầm nó phải giữ gìn nó, không giữ được, mất thì rán chịu, không được kêu ca vào đâu.

Vả người vợ bất đắc dĩ có quyền và có bổn phận tố cáo một người chồng cường đồ để xã hội trừ khử hắn. Để trọn niềm chồng vợ, người vợ ấy, làm xong phận sự một công dân tốt rồi tự tử, đạo nghĩa vẹn toàn.

Sự thoát thân trong cảnh hỗn loạn của lằn tên mũi đạn chỉ là cái cớ mà nàng đưa ra để cho cha nàng nhận lời thôi và để cho Công nhận lời mà không ngại ngùng gì cả.

- Vậy thì được. Xin cô cho biết thời gian và địa điểm.

- Nhưng ông có hứa sẽ để yên cho người mua hàng hay không chớ ?

- Hứa !

- Lời hứa danh dự phải không ?

- Xin lấy cả danh dự của tôi để hứa.

- Tôi tin ông bằng lời. Nhưng cần nói rõ chi tiết, ông phục binh, nhưng để cho bầy trâu đi qua khỏi đó rồi mới tấn công.

- Đồng ý.

- Người mua trâu sẽ quất trâu chạy thật mau. Bọn cướp chỉ lui binh theo tốc độ thường thì khỏi lo chúng vượt khỏi tay ông.

- Đồng ý về mọi chi tiết.

- Vậy đêm hăm chín ta tháng nầy tức là tháng âm lịch tức còn bốn hôm nữa, vào khoảng 12 giờ khuya, tên tướng cướp ấy sẽ giao trâu bên nầy Trảng Sụp.

Công kinh ngạc hỏi gạn lại:

- Trảng Sụp gần đây à ?

- Vâng !

- Táo bạo quá ! Thật là táo bạo.

- Ông sẽ cho phục binh ba mặt, trừ mặt Trảng Sụp.

- Ừ. Nhưng sao lại chọn Trảng Sụp ?

- Đó là kế hoạch của chính tôi. Nơi nào khác, tên cướp ấy cũng sẽ khai huyết lộ được cả để thoát thân, cho dẫu ông phục binh bao nhiêu đi nữa.

Chỉ có Trảng Sụp là chướng ngại vật không thể vượt được, mà chắc chắn là hắn sẽ triệt thối vào nẻo đó vì tuy nguy hiểm nhưng không có phục binh, hắn sẽ hy vọng vào một may mắn cuối cùng là Trảng Sụp khá đủ khô cho hắn khỏi sa lầy.

Công kinh dị hết sức, trố mắt mà nhìn trừng trừng nhà chiến lược tập sự nhưng quả thật rất lỗi lạc nầy.

Chàng nghĩ rằng các tay giang hồ mã thượng và con cháu họ, nếu chịu hiến dâng tài sức cho quê hương xứ sở thì họ sẽ phục vụ đắc lực vô song vì đó là những phần tử thích hoạt động, mạnh cá tính. Chàng khen:

- Cô sắp đặt tài như một danh tướng. Tôi tiếc mà …

- Thôi được. Tôi đặt cả tín nhiệm vào lời hứa danh dự của ông. Xin phép ông.

- Chào cô và chúc cô may mắn.

Nhan rời khỏi bàn giấy của ông trưởng ty Quan thuế cùng một lượt với một thiếu nữ nữa từ nãy giờ núp ở bên mép khung cửa hông, và nghe không sót một tiếng câu chuyện "mật" nầy.

Công rất cẩn thận, đã ló mặt ra dòm bên ngoài lúc chàng mở cửa nầy, nhưng chàng sơ ý thăm chừng giữa câu chuyện.

Thúy lặng lẽ và buồn bã trở vào chỗ của nàng, lòng bấn loạn vì những điều mới khám phá được. Nàng đã biết một phần sự thật về mối tình giữa Công và Nhan. Hiện nay họ đã đoạn tuyệt với nhau rồi vì một lý do nào đó, tuy nhiên hai người vẫn còn yêu nhau, bằng vào những cơn nức nghẹn của cả hai, qua suốt cuộc đàm thoại.

Nhưng sự đoạn tuyệt ấy, chẳng những không giúp cho nàng an lòng, mà trái lại còn khiến nàng sợ hãi bối rối.

Rất có thể là cô nữ sinh ấy vì hận nên dụ Công vào chỗ hiểm để sát hại chàng. Mà dầu cô ta có thật tình đi nữa, vụ nầy cũng sẽ gây rối - rối cho Thúy cố nhiên - vì kinh nghiệm tiểu thuyết và phim ảnh đã cho Thúy thấy nhiều trường hợp tương tợ mà một cuộc cứu nguy sẽ xô hai người vào tay nhau, giúp bọ quên hận cũ.

Lại cũng có thể vì nóng lòng cứu bạn đang mắc kẹt trong hiểm địa, Công phải xông pha liều lĩnh hơn là nếu chàng chỉ chiến đấu thường thôi, và như thế thật là nguy cho tánh mạng của chàng.

Thúy bứt rứt muốn ngăn Công, muốn nói thẳng cho chàng biết rằng người ta có thể gài bẫy để hại chàng. Nhưng làm thế nào để cắt nghĩa nhờ đâu mà cô được biết sự thật về cuộc thương lượng, cuộc vận động của Nhan ?

Thú thật đã rình nghe à ? Không, xấu hổ lắm. Công lại có thể nổi giận thì nguy vì giữa nàng và Công chưa có gì cả cho đến một tình bạn sơ sơ cũng không, chỉ có mối tình đơn phương của nàng mà có lẽ Công không hay biết, hoặc biết mà không kể đến.

Sau cuộc hội kiến hôm nay giữa ông Trưởng Ty Quan Thuế và một cô nữ sinh, có đến hai người ăn ngủ không yên. Người thứ nhì bấn loạn tâm thần là Công.

"Vậy nó quyết liều. Công nghĩ. Nếu mình không nhận đi đánh bắt cướp (hay buôn lậu cũng thế) thì nó sẽ lọt vào tay bọn cướp. Mình đã dứt khoát với nó rồi nhưng mà…

"Bằng như mình đi, không chắc cứu được nó, hoặc có cứu nó được trên tay của quân cướp thì cũng chỉ cướp được cái xác không mà thôi: nó sẽ bị bọn cướp làm thịt khi chúng biết nó phản trắc, hay là nó sẽ ngã gục dưới một viên đạn của chính mình.

"Cuộc đánh bắt buôn lậu nầy có tánh cách cảnh sát lắm, vì Quan thuế cần chụp hàng hóa chớ không biết làm gì với mớ xác người Cao Miên ấy. Quan Thuế biên giới vẫn phải hành động như Cảnh Sát là thường vì buôn lậu biên giới quyết tử. Nhưng mà trong trường hợp nầy, mình không bị bắt buộc hành động như vậy mà cố ý hành động như vậy.

"Chắc chắn bọn cướp, một khi nhận được tiền, tức được con người của Nhan, chỉ mong an thân về rừng an hưởng như ngày xưa Đổng Trác mang Điêu Thuyền về xứ Mi-O.

"Mình lại không cho chúng nó làm thế, không phải để chận hàng mà để… !

Công đứng lên, do dự rất lâu đoạn ra sân, lên chiếc xe Díp riêng của chàng chạy thẳng lại tỉnh đoàn Bảo An để xin binh tiếp viện đêm đó. Lần nầy, Quan Thuế không thể giữ bí mật và hành động đơn độc được nữa vì địch thủ mạnh mẽ lắm, theo chỗ Nhan cho biết.

° ° °

Mười giờ đêm. Trời không chuyển mưa nhưng vẫn không có sao. Công bố trí như vầy:

Công lực sẽ tấn công ba mặt trừ mặt Trảng Sụp, đúng y theo kế hoạch hữu lý của Nhan, nhưng chi tiết của cuộc bố trí còn quan trọng hơn.

Cánh tả và cánh hữu của mặt trận do bên công lực dàn ra, phải mạnh mẽ vô cùng còn cánh trung ương thì sao cũng được, mặc dầu chính cánh này khởi sự tấn công trước.

Đối phương sẽ không nhận cuộc chiến đấu mà chỉ lo rút lui thật lẹ, thì cánh ấy bắn cầm chừng là đủ rồi.

Cánh tả và cánh hữu, hỏa lực phải kịch liệt để bắt buộc chúng rút về hướng Trảng Sụp. Hai cánh nầy sẽ kéo dài ra để giáp nối vời cánh trung ương hầu kết cho vòng giây bán nguyệt được liên tục thì bọn cướp dầu có muốn cũng không còn dám mở đường máu phía trước mặt chúng, tức là ở cánh trung ương mà chúng nhớ rằng rất yếu ở những phút đầu.

Hai cánh mạnh mẽ nói trên, do Bảo An đảm nhiệm, Quan Thuế ít người, lại yếu về huấn luyện quân sự hơn Bảo An nên giữ thế trung ương. Vả lại chính Quan Thuế chỉ huy trận đánh này, Bảo An chỉ cho mượn binh thôi, thì Quan Thuế giữ mặt trung ương là hợp lý.

Nhưng Công có một ẩn ý gì bố trí như vậy.

Người của cánh trung ương sẽ thấy rõ là cánh nầy để cho hàng vuột đi rồi mới tấn công. Như thế, trong cánh trung ương không thể cho phần tử lạ xen vào mà sự tiết lộ bí mật nầy có thể gây rắc rối cho chàng.

Thượng cấp sẽ đặt dấu hỏi và chàng không sao giải thích cho trôi.

Cánh hữu đóng phía trong hướng núi Bà Đen, còn cánh tả thì thì đóng phía ngoài hướng quốc lộ đi Vũng Chàm.

Trong cánh tả ấy có một chiến đấu viên kỳ lạ hết sức. Đó là một thiếu nữ mặc y phục Thanh Nữ Cộng Hòa mà Bảo An ngỡ là nhân viên của Quan Thuế vì lúc Công chia quân và chỉ định vị trí cho họ, tự nhiên người nầy len lỏi nhập đoàn với họ mà Công không hay biết nên không nói gì cả.

Người chiến đấu viên nữ phái ấy hồi chín giờ tối đêm nay, đã nai nịt hẳn hòi để đến trình dìện trước Ty Quan Thuế.

Ông Trưởng Ty ngạc nhiên hỏi:

- Cô đi đâu đây ?

- Thưa ông, nhơn đi hóng mát, em thấy các anh em chuẩn bị xuất quân nên em vội về nhà thay y phục để đi theo chơi.

Công cười ha hả rồi nói:

- Bộ cô tưởng chúng tôi đi du lịch sao ?

- Thưa ông, em biết ông đưa các anh ấy đi đâu và…

Hết hồn, Công chận hỏi:

- Cô biết chúng tôi đi đâu ?

- Thì không đi bắt á phiện lậu, cũng bắt tơ lụa lậu không có gì mà lạ.

Công hú vía rồi nói pha trò:

- Cô đừng tưởng chuyện chơi. Cô nghe tiếng súng đầu, cô sẽ sợ đến ngất đi và chúng tôi sẽ phải khiêng cô, rối cho chúng tôi lắm.

- Thưa ông, em đã được huấn luyện bán quân sự, em bắn có hạng lắm.

- Cho dẫu là vậy đi nữa, tôi cũng không có quyền đem một nhơn viên văn phòng đi theo trong các cuộc ruồng bắt hàng lậu.

- Ông cho em đi, ai biết !

- Lương tâm tôi biết. Không thể được.

- Em van ông !

- Cô đừng nài nỉ mà tôi phải nổi giận lên thì không tốt.

Thúy không dám hó hé nữa nhưng lúc dang ra để đi ẩn núp đâu đó, nàng đã rút một cách tài tình cây Colt trong bao da mà Công đeo bên hông trái của chàng.

Vì trời tối nên Công không lo bị thiên hạ thấy mặt, dám ngồi phía trước với tài xế, chớ không núp trong mui xe như trong chuyến đi phục kích Tám Huỳnh ở Đồng Cháy và Thúy thừa dịp đó ra khỏi chỗ ẩn núp của nàng và nhảy lên xe, từ phía sau.

Nhân viên Quan Thuế được lịnh ngậm câm, nên không ai hỏi gì nàng. Và họ cũng ngỡ Công bằng lòng cho nàng theo vì thấy hai người đối thoại với nhau lúc nãy.

Đến trước Bảo An, Quan Thuế đậu lại, nhưng không ai xuống xe cả. Trong khi Bảo An lăng xăng lên xe của họ thì Thúy bước ra đứng ngoài bìa hết cho họ thấy nàng và đinh ninh rằng nàng được tham dự vào trận đánh nầy vì (họ đoán thế) có lẽ bên Quan Thuế thiếu người nên dùng cả nhân viên văn phòng.

Bố trí xong đâu đó thì đã mười một giờ đêm rồi. Cả ba cánh quân đều đinh ninh rằng họ phải đợi ít lắm là một tiếng đồng hồ vì cứ theo tin tức mà Công đã nói lại cho họ biết thì đến nửa đêm, bọn buôn lậu mới tới. Ừ, Công đã cho Bảo An biết rằng đây là một lũ buôn trâu lậu từ bên Vũng Chàm vượt biên giới qua đây.

Nhưng thiên hạ vừa mới nằm yên chỗ thì họ đã nghe tiếng gió ào ào. Trên những cánh đồng quanh Trảng Sụp, cây chồi nho nhỏ mọc lúp xúp, và trâu đi tới là phải tuông lá cùng những cây thấp ấy.

Rồi tiếp theo đó, móng trâu nện đất, nghe như thiên binh vạn mã tiến về đây.

Mặt trận phục kích của công lực là một hình tam giác, diện tích rộng mấy mươi mẫu, và khoảng cách từ góc nầy đến góc kia xa đền hai ba cây số.

Bọn lùa trâu, đi vòng phía trong Trảng Sụp để đổ ra trước trảng. Tới nơi, những con trâu đi đầu được nắm mũi vàm níu lại để đợi những con trâu sau dồn tới.

Khi trâu đã dồn cục lại thành khối, hai cánh quân tả hữu bèn trườn tới để siết chặt vòng vây, đúng y theo chỉ thị của người chỉ huy trưởng của họ, đặt bọn "buôn lậu" trong tầm súng của bọn họ...

Trâu bị mòng đốt, quất đuôi lia lịa lên lưng chúng và bị níu dậy vàm, chúng khịt mũi và dậm cẳng không ngớt nên chi mặc dầu người cố im lặng, trâu đã gây tiếng động ồn ào.

Cầm đầu cánh quân trung ương, Công nằm xa bầy trâu chừng năm trăm thước. Chàng chỉ thấy dạng dạng lờ mờ những bóng đen đang động đậy trước một nền trời tối thui.

Hình như là Tám Huỳnh và đoàn tùy tùng của ông ta đang lướt đi, Công chỉ nghe động mà đoán thế thôi và không biết rằng chính Thạch Pôul cũng lướt tới để gặp Tám Huỳnh.

Bọn nầy quen hoạt động giữa đêm khuya nên thấy được bằng mắt, bằng tai, bằng khứu giác của họ.

Khi họ gần tới bên nhau, Thạch Pôul hỏi lớn:

- Chú Tám đó hả ?

- Ừ.

- Kính chào ba !

Hai bên lặng lẽ tiến lên, Thạch Pôul bỏ đàn trâu lại sau lưng hắn và Tám Huỳnh bỏ cánh quân phục kích lại sau lưng ông ta.

Họ đã gặp nhau. Thạch Pôul nói nho nhỏ:

- Xin lỗi ba.

Rồi hắn bắm đèn rọi, rọi xuống đất. Tuy thế, ánh sáng gián tiếp ấy cũng cho hắn trông thấy rõ là bên Tám Huỳnh không có võ khí.

Hắn yên lòng lắm và nhứt là vui lòng vì hắn thấy Nhan đứng cạnh cha. Tắt đèn xong, bắn hỏi:

- Thưa ba, công việc tiến hành đúng theo chương trình đã thỏa thuận hay có gì thay đổi ?

- Không có gì thay đổi hết.

- Như vậy ba cho phép con rước em con chớ ?

Hỏi câu đó, hắn lại bật đèn lên soi mặt đất và trong ánh sáng phản chiếu lờ mờ, hắn nhìn Nhan và nói:

- Em vui lòng theo anh chớ ?

Bấy giờ Nhan mới kịp nhìn lên và nàng ngạc nhiên hết sức, kêu một tiếng:

- Ông Thạch !

- Ừ, chính anh đây, người đã gặp em trong đêm mưa gió ấy.

Nhan rụng rời. Mãi cho đến bây giờ, nhứt là hồi nãy đây, nàng vẫn quyết tâm thoát khỏi tay tên tướng cướp đã đổ tiền ra để mua nàng, vì tuy định tự tử trá hình, nàng vẫn nghe bản năng tự tồn sai khiến.

Nhưng giờ thì đã khác hẳn rồi, Thạch Pôul là ân nhân của gia đình nàng, theo lời cha nàng đã kể lại tỉ mỉ trận hắn đánh cứu ông thoát khỏi tay Công.

Đã không đáp được ơn hắn, ít ra nàng cũng phải chết tại chốn nầy, chớ không thể phản bội. Ừ, nàng phải chết ! Chết vì không thích làm vợ kẻ nầy mà cũng không thích man trá đối với hắn.

"Trời ơi ! Vĩnh biệt, Nhan than thầm, ba ơi con xin vĩnh biệt ba, vĩnh biệt ai kia đang phục kích sau lưng con và vĩnh biệt cõi đời."

Ông Tám đáp lại lời yêu sách của Thạch Pôul:

- Không được ! Thạch Pôul được võ trang, bên nầy tay không. Vậy bên ưu thế phải nhượng bộ đôi chút. Cho trâu qua là hơn.

- Thưa ba, như vậy cũng đuợc.

Tên tướng cướp vững tin lắm vì hắn biết tuy Nhan bị gả ép mà lúc chợt thấy hắn là ân nhân, nàng đã đổi ý và vui lòng về nhà chồng, bằng vào tiếng kêu của nàng.

Hắn thò hai ngón tay vào miệng và thổi lên một tiếng oét dài. Tức thì đàn trâu được điều động đi tới. Trâu tiến lên hàng ba, ba con đầu được một tướng cướp nắm dây mũi dẫn đi, những con sau bị lùa.

Tên tướng cướp nầy, giao dây lại cho một tên tùy tùng của chú Tám trong ánh sáng gián tiếp của tia đèn bin rọi xuống đất mà Thạch Pôul mới thắp lên.

Trâu lướt qua, người của chú Tám cũng tách ra khỏi đoàn lần lượt theo bầy và dùng roi mang theo để quất cho những con vật ấy chạy mau.

Trâu lướt qua trước mặt họ. Thạch Pôul kín đáo hườm sẵn cây tiểu liên. Nếu cha con Tám Huỳnh mà ló mòi phản trắc là hắn nổ súng ngay.

Trâu lướt qua, lướt qua ! Chỉ còn độ 30 con nữa thôi, mà chúng sắp hàng ba thì cũng như còn có mười con. Thạcn Pôul sốt ruột hỏi:

- Thưa ba, giờ con rước em con được chưa ?

- Được.

- Cám ơn ba. Con sẽ gặp lại ba. Thôi, đi em !

Nhan nấc lên lột tiếng, cố nuốt nghẹn mà nói:

- Ba ơi, vĩnh biệt !

- Can đảm lên con !

Tám Huýnh ngạc nhiên lắm không hiểu sao con gái ông lại nói như vậy.

Thạch Pôul an ủi cô gái mà hắn xem đã là vợ hắn rồi:

- Có gì đâu mà em nói nghe thảm quá. Anh sẽ ra mặt, đưa em về thăm ba.

Tám Huỳnh đã xây lưng, nhảy theo ba con trâu đuôi đàn. Nhan ngó ngoái lại, nhìn trong bóng đêm và kêu lên một tiếng rất đau thương:

- Ba !

- Con, mạnh giỏi nhé !

Tiếng của hai cha con tan biến, chết mất trong khoảng không mênh mông.

Thạch Pôul nắm lấy vai vợ và nói:

- Em đừng buồn, vài ngày nữa là ta sẽ về thăm ba.

Từ nãy đến giờ Công và Cánh Quan Thuế đã lặng lẽ trườn tới. Khi chàng nghe tiếng trâu đã chạy khỏi đó xa rồi, chàng thò tay vào bao da để rút cây Colt ra, nhưng võ khí nầy không còn trong đó nữa.

Chàng thừ người ra giây lát, không biết cây súng đã mất từ lúc nào và trong trường hợp nào. Nhưng kịp nhận định tình thế là cần phải ra lịnh tấn công ngay, chàng lết lại gần người nhơn viên nằm gần chàng nhứt và kề miệng vào sát tai hắn mà nói thầm:

- Bắn tiếng súng lịnh lên đi. Mà bắn chỉ thiên chớ đừng nhắm cái gì cả.

Chàng mong tiếng súng lịnh chỉ thiên ấy giúp cho Nhan đủ thì giờ nằm xuống trước khi cuộc tấn công thật sự diễn ra. Cuộc tấn công nầy sẽ nhắm vào lửa súng của địch, tức là phải đợi một lát, tức là Nhan đủ thì giờ vuột khỏi tay Thạch Pôul mà lăn đi nơi khác. Thạch Pôul bận chiến đấu phải bỏ nàng.

Tiếng súng lịnh đã nổ lên. Nhưng sự việc lại không xảy ra như chàng mong và như Nhan đã trình bày với cha, mà riêng nàng, nàng cũng định làm thế.

Như cái máy, Thạch Pôul nằm xuống lẹ làng trong nháy mắt. Hắn đã có thành tích đánh trận hồi làm bạc ti dăng cho Pháp và suốt mấy năm cướp đường của hắn.

Hắn kéo vợ hắn theo dễ dàng và Nhan quyết không phản ứng nữa.

Ý nghĩ đầu tiên của Thạch Pôul là sự phản bội của cha con Tám Huỳnh. Nhưng hắn nghĩ lại thì không phải, Nhan đã riu ríu ngã theo hắn, không cưỡng lại chút xíu nào, cũng không có ý vùng vẫy để thoát, một khi đã nằm xuống rồi.

Hối hận lắm và càng thương vợ hơn nên hắn an ủi:

- Em đừng sợ, không sao đâu. Bị lộ tin, nhưng không có gì đáng lo.

Hắn đã quay đầu lại phía phát ra tiếng súng lịnh và Nhan cũng làm theo hắn. Hắn chưa kịp cho lịnh thì một đồng đảng của hắn kém kỷ luật đã bắn vào hướng phục binh. Tiếng súng ấy chọc cho hai mươi cây súng của bọn cướp nổ lên một lượt và bây giờ bên Quan Thuế mới nhắm vào lửa súng của quân cướp để tấn công.

Thạch Pôul hô lịnh bằng tiếng Cao Miên:

- Chỉ bắn cầm chừng để rút lui. Rút vào hướng núi !

Bên Quan Thuế có bảy cây súng mà bắn lơi lắm, nên bọn cướp vừa bắn trả, vừa đùa giởn, vừa lui.

Chúng bò lui chớ không biết chia ra làm ba cánh như tất cả các đơn vị chánh qui trên thế giới đều biết, để một cánh bắn cho hai cánh rút lui thong thả.

Nhan vẫn bò lùi theo Thạch Pôul, lòng nát ngướu như tương. Nàng chết thì đã đành rồi, nhưng dạ không được yên vì vô tình nàng đã xô ân nhân của gia đình vào vực thẳm.

Cô gái không may cho cả đến trong bước liều nầy, trong giây phút, thầm mong hão một phép lạ nào xảy ra để cho người ơn của gia đình nàng thoát nạn chẳng hạn như Trảng Sụp khô thình lình hóa thành đất chắc như những cánh đồng chung quanh:

Thạch Pôul sẽ không sa lầy, trốn thoát được, còn phận nàng thì rất dễ giải quyết. Nàng chỉ vùng đứng lên là sẽ ngã gục xuống vì lát nữa đây đạn sẽ bay tới từ ba phía và sẽ đươn võng nơi đây.

Thình lình trong bóng tối dày mịt bên phía núi Bà loé lên hai ba đốm lửa. Nhiều đốm kéo dài ra thật nhanh chóng như những ngôi sao băng trên trời, rồi kế đó Nhan mới nghe tiếng nổ rồi mấy giây sau nữa mới nghe tiếng đạn bay vèo. Ánh sáng đi nhanh hơn tiếng động, nên bọn cướp kịp nằm rạp xuống liền khi thấy lửa, chừng đạn bay đi đến nơi là chúng đã núp được rồi trừ vài tên bận bắn trả cuộc tấn công của cánh Quan Thuế.

- Lui lại ! Thạch Pôul quát "Ra phía đường cái"

Bây gỉờ bọn nầy không còn dám khinh địch nữa, không phải vì sợ bị đánh ở hai mặt, nhưng vì mặt thứ nhì nầy hỏa lực mạnh quá, số súng không kém số súng của chúng bao nhiêu. Cộng hai mặt đánh lại thì địch hơn chúng rõ rệt.

Tuy nhiên chúng nó không hoảng hốt và chống cự hẳn hòi một cách can đảm và quyết liệt.

Thạch Pôul nói:

- Chắc ba không kín miệng thế nào nên mới lậu sự. Có lẽ ổng đã thương lượng bán trâu và bị họ phản bội chăng ? Khi nãy, anh đã ngỡ chính ba với em man trá nên suýt hại em rồi, thật hú vía ! Rồi thấy em ngoan ngoãn theo anh, anh mới chợt thấy rằng anh lầm.

Nhan cứ làm thinh mà lùi theo Thạnh Pôul. Tên tướng cướp xử dụng cây tiểu liên nhưng không bắn, có lẽ hắn tránh lộ tung tích chớ không phải vì tay trái hắn phải nắm tay Nhan đâu. Hắn bắn một tay dễ dàng như thường.

Bấy giờ chúng nó đã trở về vị trí rút lui ban đầu, tức là ngay trước Trảng Sụp. Chúng lùi lần ra phía đường đi Vũng Chàm, trong khi cánh quân trong phía núi Bà kéo dài ra để giúp sức với cánh quân trung ương, không để lọt kẽ hở nào cả.

Chiếc quần ka ki xanh của Nhan đã rách nát nơi đầu gối và da đầu gối của nàng với lại da cùi chỏ của nàng đã rướm máu, rát như bị phỏng nước sôi.

Đồng trống. nhìn tổng quát xem như là phẳng lặng lắm, nhưng có bò trên ấy mới hay là nó lồi lõm và cây mắc cỡ gai góc mọc đầy mặt đất.

Đây là lần đầu tiên mà thiếu nữ trưởng giả nầy chịu khổ hạnh, nhưng cũng vì đây là lần cuối cùng trong đời nàng, nên nàng xem đau đớn xác thịt như không có. Trước cái chết sắp đến nơi, không gì còn đáng kể nữa cả.

Bỗng sự vỉệc xảy ra y hệt như khi nãy, nhưng lần nầy súng lại từ hướng Qưốc lộ đi Vũng Chàm bắn vào. Ở cánh nầy, lửa cũng đỏ trời, có thể còn đông tay súng hơn ở phía trong núi nữa.

Thạch Pôul giọng bối rối nói:

- Nguy rồi ! Ta bị bao vây cả ba mặt. Mặt không có phục binh lại là nơi sình lầy !

Cánh quân phục kích phía đường cái lại điều động để tiếp hợp với cánh Quan Thuế và cánh trung ương nầy, yếu ở những phút đầu, đã được tăng cường ở cả hai bên hông nên mạnh mẽ ra.

Bấy giờ vòng vây giàn thành vòng bán nguyệt cứ thâu hẹp lại lần lần. Quân cướp đã ngã hết bảy tám đứa dưới cuộc tấn công của cánh quân phía núi, lại ngã thêm bảy tám đứa nữa sau loạt súng đầu của cánh quân phía ngoài đường.

Thạch Pôul nói như nói một mình:

- Coi nào ! Mở đường máu ở phía nào lợi hơn nè ?

Không, không thể liều được. Chúng nó đông quá mà ta lại hao hết phân nửa binh rồi. Trời! Thật là xui xẻo. Nhan ơi ! Có thể ta không được hưởng ngày hạnh phúc nào hết đó, Nhan à !

Ta chỉ còn một đường, ừ, một con đường thối là đường phía sau lưng. Nhưng cứ theo chỗ anh biết thì Trảng Sụp vẫn còn là nê địa.

Nhưng mà… biết đâu ! Có thể có nơi đã khô. Ta nên thử thời vận vậy. Tới cũng chết mà lui cũng nguy thì lui là hơn vì con đường ấy còn cho ta chút đỉnh hy vọng.

Bọn cướp còn được mười một tay súng với cây tiểu liên không bắn. Cánh quân trung ương do Quan Thuế làm nồng cốt tiến thật lẹ vì họ thấy hỏa lực của đối phương giảm lần. Quân cướp gần hết đạn nên chỉ bắn cầm chừng để ngăn các cuộc xung phong thôi.

Bấy giờ, bọn Thạch Pôul chỉ còn cách công lực độ ba trăm thước thôi. Nhơn thấy bên kia bắn quá yếu, Công ngỡ chúng nó đã bị diệt gần hết nên ra lệnh cho cánh trung ương do chàng chỉ huy trực tiếp, tiến lên xung phong.

Bấy giờ cây tiểu liên mới bắt đầu lên tiếng cùng với mười một tay súng kia, tất cả đều nổ già mà lượt.

Công lực bị thương ba người và cuộc xung phong phải tạm hoản. Nhưng nhờ thế mà công lực khám phá được sự hiện hữu bất ngờ của cây súng máy, tất cả hỏa lực của đoàn quân phục kích đều đổ dồn về nơi xuất phát của những loạt đạn tiểu liên.

Thình lình cây súng máy nín bặt và Nhan nghe Thạch Pôul kêu:

- Trời ơi ! Nhan ơi, anh bị đạn rồi Nhan à, ở bả vai !

Sau mấy giây im tiếng của Thạch Pôul, Nhan lại nghe hắn hét lớn:

- Danh Eo ! Đây cây tiểu liên đây !

Rồi hắn buông tay Nhan ra, sang súng qua tay trái đoạn ném mạnh cây súng máy ấy qua cho một chiến hữu của hắn.

Nhan không còn nghe đạn bay vèo vèo sát bên tai của nàng nữa vì Thạch Pôul thôi bắn là nơi hai người nằm, tối om, bên công lực đưa sức mạnh đi nơi khác.

Phía trong núi có tiếng hô:

- Ai muốn đầu hàng thì bỏ súng, bò tới đây, vừa tiến, vừa đánh tiếng nho nhỏ !

Họ biết quân cướp - trừ tên đầu đảng ra - không phải là những chiến sĩ quyết tử, nên mới đề nghị nhận sự đầu hàng riêng rẻ của chúng như thế, chớ đó là một quyết định nguy hiểm: chúng có thể phái kẻ trá hàng đến gần họ để bắn thình lình tấn công bằng những vũ khí đánh gần như lựu đạn chẳng hạn.

Sau lời đề nghị ấy, bên quân cướp im bặt tiếng súng thình lình. Cả bọn đều suy nghĩ để lấy quyết định và mấy mươi giây sau đó, súng lại nổ trở lại, nhưng bấy giờ chỉ có năm cây súng - trong đó có cây tiểu liên - là lên tiếng. Thế tức là có một cường đồ chuẩn bị đầu hàng.

Chúng không sợ bị đồng bọn trừng phạt vì trong khi bọn kia lùi, chúng chỉ còn việc nằm y tại chỗ là rời khỏi khối. Rồi từ vị trí đó, chúng bò tới để liên lạc với địch mà đồng bọn vẫn không thấy được chúng để hạ chúng.

Bên cánh quân án ngữ phía trong núi, chừng như cũng đoán biết được thế, nên ngưng bắn để cho bọn đầu hàng dễ tràn tới và để bọn ngoan cố không còn đích nào nơi phía đó để bắn trả, có thể luôn tiện sát hại bọn đầu hàng.

Lòng Công, từ phút đầu đến giờ, nóng như bị lửa đốt. Chàng băn khoăn, bứt rứt vì tánh mạng của Nhan. Súng nổ rền trời khắp nơi, không thể kêu lên mà Nhan nghe được, mà dầu có nghe, chưa chắc nàng đã chịu trả lời.

Khi nãy cuộc xung phong quá sớm do chàng ra lịnh cũng bị sự sốt ruột của chàng chi phối.

Sau đó, bao nhiêu hỏa lực đổ dồn về phía cây tiểu liên của địch làm chàng lo sợ vô cùng vì có thể Nhan không thoát được và đang nằm cạnh tên tướng cướp cầu hôn.

Kể từ lúc mà cây súng máy ấy nín, chàng xót xa không biết bao nhiêu, cầm bằng như cả hai đứa nó đều tan xương nát thịt dưới trận mưa dạn.

Bấy giờ bên quân cướp chỉ còn có năm tay súng thôi, mà cây tiểu liên phải tiết kiệm đạn hầu chống với các cuộc xung phong thế nào cũng sẽ diễn ra.

Bốn cây súng trường phân công nhau mà giữ ba mặt tấn công, thì kể như là không còn lực lượng nữa rồi.

Thạch Pôul chán nản vô cùng. Phần vết thương ra máu linh láng làm cho hắn bắt đầu mệt, nên hắn xuống tinh thần, bỏ trôi cuộc chiến đấu, không buồn chỉ huy nữa mà chỉ lo lùi cho thật mau để tìm kế thoát thân.

Nhan vẫn bò lùi với hắn. Nàng không nỡ sống sót lại từ giây phút chợt nhận ra kẻ mà nàng lừa gạt chính là người mà đáng lý ra nàng phải trả ơn.

Nếu hắn là một người tạm được, có lẽ nàng đã khuyên hắn đầu hàng, để rồi đáp nghĩa bằng cách đi nuôỉ hắn mỗi tuần tại khám đường và đợi hắn cho đến ngày hắn mãn hạn tù đó.

Nhưng hắn lại chỉ là một tên tướng cướp đàng Thổ thôi thì nàng đành phải chết vậy.

Đã tính đến cái chết, Nhan không buồn chọn lối chết và nơi chết nữa. Chết ngay bây giờ, tại đây với một viên đạn trong đầu, hay lát nữa bị bùn chôn sống cũng thế thôi.

Vì vậy mà nàng không có phản ứng khi Thạch Pôul níu nàng theo hắn.

Đang bò, Nhan bỗng nghe Thạch Pôul kêu lên:

- Đã tới bìa Trảng rồi, coi chừng đa nghen, Nhan !

Vì yếu, vì mệt, nàng đã rớt lùi lại sau nãy giờ. Thạch Pôul không còn nắm tay nàng được nữa mà chỉ nắm cổ chân thôi, nhưng cũng chỉ thỉnh thoảng mới quơ nắm cốt để thăm chừng coi nàng có theo kịp hay chăng chớ tay trái của hắn, cánh tay độc nhứt còn dùng được cũng bận làm việc khác trong cuộc bò lùi nầy.

Thạch Pôul kêu lên như thế vì hắn vừa gặp một mực đất thấp hơn cuộc đất mà trên đó hắn đang bò.

Hai mặt đất cách biệt nhau độ bốn tấc. Mũi giày của hắn chạm phải một nền đất phẳng mặt và có vẻ cứng rắn. Hắn mừng rỡ hết sức và tụt xuống đó mà không do dự, không lo sợ gì cả.

Hai gối hắn đã đặt lên mặt đất phẳng và một cảm giác lạ khiến hắn phải dừng chơn để nghe cho rõ. Hình như là mặt đất rung rinh.

Thạch Pôul ngỡ hắn rối trí nên mất sáng suốt thôi, nên bò lùi một bước nữa và quả mặt đất rung rinh thật.

Bấy giờ hắn mới bắt đầu hoảng. Đây là thứ đất mà người Việt Nam gọi là đất "mặt võng", hoặc đất "không chơn" lớp trên khô cứng, như thường, nhưng chỉ mỏng độ vài tấc thôi, còn lớp dưới toàn là bùn non.

Tuy nhiên nhiều cuộc đất như thế, vẫn dùng canh tác được, vì lớp bùn phía dưới không sâu quá, người bước chân vào đó chỉ bi sụp tới đầu gối mà thôi.

Thạch Pôul tuy hoảng nhưng lại nhiều hy vọng. Nếu đất nầy mà như vậy là hắn được một nơi trú ẩn lý tưởng: Hắn cứ lùi sâu vào trong là công lực không thể dám theo. Suốt đêm nay, hắn sẽ cố vượt hết cái trảng nầy và qua tới bờ bên kia là thoát,

Nghĩ thế, hán lồm cồm chồi dậy thử, nghĩ rằng nếu có sụp thì sụp gần bờ cũng chẳng sao, vả lại hắn còn liên lạc với một người ở trên khô là Nhan, người nầy sẽ níu hắn lại.

Súng không có bắn về hướng Thạch Pôul. Hắn quì gối lên mặt trảng rồi phân vân mấy lát, hắn đứng lên.

- Trời ơi ! Nhan ơi ! Sụp rồi ! Cứu anh.

Thạch Pôul nghe như đất dưới chân hắn là một lớp giấy. Nó lủng đúng nơi bàn chân của hắn đang chở cả sức nặng của hắn. Trong nháy mát hắn đã chìm tới gối và cứ tiếp tục chìm nữa, tuy chậm bơn.

Lẹ như chớp, hắn ngã người tới trước, đưa tay lên để chụp lấy chơn Nhan. Hắn chỉ chụp được bờ đất cứng mà thôi. Bối rối, hắn quờ quạng mò kiếm và mừng rỡ vô cùng mà chạm phải chơn của nguời vợ vừa cuới không đầy một tiếng đồng hồ nầy.

Nhưng Nhan, vì sự dời chỗ tình cờ, đã nằm bên phải của hắn, hơi xa, hắn phải vói mới nắm được cổ chân của nàng bằng tay mặt là cái tay quá yếu vì vết thương nơi vai bên đó.

Nhan thình lình nghe có biến thì thất sắc. Bản năng tự tồn của con người mạnh quá, đánh bạt cả mọi quyết định khi họ đứng trước thềm một cái chết kinh khủng.

Giờ phút ấy, con người chỉ còn là một con vật rất ham sống, chỉ nghĩ đến sự sống sót, hy sinh cao cả vì nghĩa vụ không biết có thắng nổi bản năng cố sống của họ hay không chớ một sự liều chết bá vơ, không căn bản vững, không tồn tại được nơi trí họ mà chỉ có sự sống là còn đáng kể thôi.

Vì thế mà Nhan còn hoảng sợ hơn Thạch Pôul nữa khi nàng nghe hắn kêu lớn như vậy. Nàng hình dung ra một người bị bùn non nuốt lần. Hắn chìm đứng, hết chơn đến bụng, rồi đến ngực. Hắn chới với như kẻ sắp chết đuối, rồi đất bùn đè ngực hắn khiền hắn ngộp thở.

Hai bàn tay của Nhan cố bám vào những cây mắc cỡ yếu không cưỡng lại nổi với sức trì của nàng. Hai cùi chỏ của Nhan cố bám vào những mô đất lồi nhỏ nó tróc đi thành bụi.

Trong giây phút, Thạch Pôul chợt hiểu sự thật là Nhan phản bội hắn, dụ hắn để đưa hắn sa chân vào đây còn chính nàng thì tìm cách ở lại.

Siết chặt bàn tay quanh cổ chơn của cô dâu kỳ dị nầy, Thạch Pôul cười gằn nói:

- Đâu có được em nhỏ ! Anh chết thì em cũng phải đền tội chớ ! A…ha...ha...ta chết vì một đứa con gái kể ra thì cũng ngốc lắm, nhưng kẻ phản ta không thể sống để chê cười ta !

Với bàn chơn ở không, Nhan đạp lên tay của Thạch Pôul, nhưng tay hắn siết chặt lại như gọng kềm. Chẳng những thế, trong lúc hắn chìm hắn níu nàng theo và Nhan cứ bị kéo đi lần lần, chầm chậm nhưng chắc chắn là không thoát.

- A... ha... hạ ! Em nhỏ ơi, em nhỏ phải theo anh xuống âm phủ để trả lời về hành vi của cha con em nhỏ.

Cánh tay của Thạch Pôul yếu đi vì vết thương nơi vai của hắn. Hắn muốn sang tay lắm nhưng vì Nhan nằm trệch một bên, ngay tay mặt của hắn, đã phải vói mới níu nàng được thì ý muốn trên đây không thể thực hiện.

Sức trì của tự hắn giảm dần. Nhan chỉ còn bị lôi theo sức nặng đang chìm của hắn thôi.

Mặt đất dưới vế Thạch Pôul đã bể, rồi bụng hắn lại đè cho lớp đất trước đó bể thêm thành thử cái lỗ dưới người hắn càng giây phút càng rộng thêm ra, bành trướng lên tới bờ đất cứng.

Nhan dang hai cánh tay ra để mò kiếm những chướng ngại vật quanh nó vì trước mặt và dưới ngực hàng không còn gì để bám níu cả.

Bỗng nàng nghe như đang hấp hối mà được uống một liều thuốc hồi dương linh nghiệm: nách nàng vướng phải một gốc cây. Đây là cây nhỏ độ bằng bắp vế bị đốn không sát gốc, cái gốc còn lại khá cao, cao khỏi bề dày thân thể nàng, đủ mạnh để bịn nàng chống lại với sức trì của Thạch Pôul.

Biết rằng tay nàng yếu lắm, Nhan không cử động nữa, không xoay thế nằm để ôm gốc cây đó mà chỉ giữ tình trạng may mắn là để cho nách nàng máng vào gốc cây ấy thôi.

Thình lình nghe sức trì mạnh khác thường của Nhan, Thạch Pôul tức sôi gan. Hắn chuyển vận tất cả tàn lực của hắn để mà lôi kéo "con ác phụ" nầy theo hắn nhưng vô hiệu quả.

Hắn nghiến răng trèo trẹo rồi trong tuyệt vọng, hắn bóp muốn nát xương cô gái tay yếu chân mềm nầy.

Bên phía quân cướp chỉ còn có ba cây súng tiếp tục chống cự thôi. Cả cây tiểu liên cũng đã êm hơi vì hết đạn sau mấy loạt xung phong giả vờ của công lực.

Mấy tên cướp cố lì nầy nằm cách xa bờ trảng lối năm mươi thước vì chúng không vội lùi để thoát thân như chủ soái của chúng.

Bấy giờ, không còn chờ đợi dược nữa, Công hô lịnh cho cả vòng vây xung phong ồ ạt cùng một lúc với nhau.

Đây là cuộc xung phong thật sự và cuối cùng để tận diệt cái ổ kháng cự còn sót lại.

Chính Công đã dẫn đầu cánh chàng trong cuộc xung phong đó. Chàng vừa chạy lên, vừa gọi to:

- Nhan, em ở đâu ? Hãy nằm sát xuống, nếu em còn sống !

Thạch Pôul nghe gọi cười dài:

- Bằng cớ đã hiển nhiên là mi bội phản.

Rồi hắn nghiến răng như muốn nhai xương thiếu nữ phản trắc và bàn tay hắn hóa ra một chiếc kềm vặn siết chặt đến nỗi Nhan suýt ngất đi vì đau đớn đã lên đến độ tột cùng mà con ngườì có thể chịu được.

Bỗng hắn buông tay ra. Sức lực của hắn vừa bỏ hắn mà bay đi, đi theo những dòng huyết từ vết thương nơi vai hắn chảy ra, dòng huyết không khô đọng được bởi cánh tay mặt của hắn đã bị thương lại phải làm việc quá sức.

Bùn non nuốt hắn chầm chậm, chầm chậm khi mà hắn không còn bám được vào chơn Nhan nữa. Nhưng cũng cùng lúc ấy, người nữ sinh mạo hiểm kia cũng ngất đi.

- Nhan ơi !

Ba cây súng kháng cự một cách tuyệt vọng đã nín. Chúng nó bị thương nên rên la om trời.

- Nhan ơi !

Công vừa chạy tới vừa gọi to. Bấy giờ chàng đã vượt qua khỏi mấy tên cướp bị thương, đạp lên thân thể của chúng.

Bỗng từ phía trái chàng, tức là từ phía ngoài quốc lộ 22, trong cánh quân phục kích nơi hướng đó cũng đang xung phong, một tiếng súng lục phát ra.

- Trời ơí !

Công kêu lên rồi té quị xuống. Trong cảnh hỗn loạn nầy, kẻ bắn ra phát súng lục đã trà trộn để thoát được và trở về đoàn của y là cánh Quan Thuế.

Lúc bắn viên đạn ấy, Thúy đã hồi hộp vô cùng. Tin vào tài thiện xạ của nàng, nàng định bắn gãy chơn Công đễ ngăn chàng phiêu lưu mạo hiểm thêm mà lâm nguy, vì chỉ còn có mấy mươi thước nữa là chàng sẽ rơi vào miệng con ác quỷ đã từng hả mồm rình mồi từ đời kiếp nào không ai rõ được là cái trảng sát nhơn kia. Vả lại biết đâu một tên cướp lại không căm hận sâu sắc đến đỗi dùng hơi tàn của nó mà bắn chàng một phát để rửa thù.

Tuy nhiên nàng vẫn sợ hãi. Người bắn giỏi nhứt trên thế giới cũng có lúc nhắm sai, huống hồ gì trong đêm tối, muốn bắn chơn người ta mà đạn lại tìm cách chui vào bụng họ thì sao ?

Nhưng không thể để cho chàng coi rẻ tánh mạng chàng vì một cô gái chưa chắc đã còn sống, mà cỡ "con ấy" còn sống, Thúy cũng phải tìm cách làm cho hai người xa nhau.

Trà trộn được để đổi vị trí, Thúy vẫn không hết sợ hãi, nhứt là cái tiếng kêu của Công ấy, nó làm cho nàng đau xé cả ruột gan.

"Công bị thương nơi đâu và vết thương sẽ đến đỗi nào hay không ?" Thúy nhớ tay nàng hơi run mà nàng thì chỉ thấy được dạng dạng một bóng người lướt tới thôi, nàng đã bằng vào tiếng gọi Nhan của chàng mà bắn hơn là đã thấy rõ và nhắm kỹ bóng người.

Bây giờ người ta bật đèn bin để cứu cấp thương binh. Một người hô lên:

- Ông Trưởng ty bi đạn nơi bắp vế.

Thúy hoàn hồn lần lần và lần bước tới gần Công.

Bên công lực có sáu người bị thương tất cả, kể cả người Trưởng ty Quan Thuế. Không vết thương lào đáng ngại hết. Tuy nhiên viên hạ sĩ quan Bảo An, đặt dưới huyền điều khiển của Công từ đầu hôm tới giờ, cũng nắm quyền chỉ huy và ra lịnh rút.

Họ lượm thêm những tên cướp còn rên siết, tịch thu tất cả võ khí mà bọn cướp tử thương đã ném đi hay còn cầm trong tay khi tắt thở, hẹn sẽ thu dọn chiến trường thật sự ngày mai rồi điểm lại người, họ rục rịch kéo nhau về.

Công kêu lên:

- Anh em tìm dùm xác một thiếu nữ.

Viên hạ sĩ quan Bảo An ngỡ Công chỉ Thúy nên nói:

- Thưa Trung úy, cái cô ở Quan Thuế ấy vẫn được bình an.

- Cô nào mà ở bên Quan Thuế ? Công ngạc nhiên hỏi.

- Em đây, thưa ông ! Thúy lên tiếng trong bóng tối. Ông nghe trong người thế nào ?

- Ai cho phép cô đến đầy ?

Không ai thấy được mặt chàng, nhưng người ta đoán người Trưởng Ty đang tức giận tím mặt.

- Dạ, em có xin phép ông.

- Mà tôi có cho phép hay không chớ ? Được để rồi cô sẽ biết. Không, bà con ơi, xác người thiếu nữ khác kìa !

- Không có xác thiếu nữ nào cả.

- Sao lại không, xem lại cho kỹ giùm tôi.

- Dạ đã xem kỹ lắm, toàn là xác đàn ông không mà thôi.

- Cô ấy có thể mặc y phục đàn ông.

- Nhưng không có người Việt Nam nào tử thương cả, chỉ toàn đàn thổ không mà thôi.

- Kiếm giùm tôi bà con ơi !

Viên hạ sĩ quan không đáp nữa mà cương quyết hô lịnh rút. Mặc dầu Công phản đối kịch liệt, chàng vẫn bị khiêng ra xe như trăm ngàn thương binh khác.

Được đặt nằm trên xe Quan Thuế, Công nghe bên cạnh chơn chàng một hơi người. Vết thương được băng bó sơ sài vẫn để lưu huyết và chàng đã nghe nó bắt đầu nhức nhối, nên rên nho nhỏ.

- Ông ơi, liệu đạn có trúng xương hay không ?

Nhận được tiếng của người bên cạnh ầy là tiếng của Thúy, Công cả giận nạt:

- Tôi không cần cô săn sóc.

Mấy giây im lặng rồi chàng nghe một tiếng nấc nhỏ và ngắn. Cơn giận của người thanh niên nầy nguội được khi chàng ta đã hả hơi, chàng nghe rõ lại lòng chàng thì thấy mình tàn nhẫn quá.

Thật ra, Thúy không làm nên tội gì cho nặng. Nàng không phải là nhân viên hoạt động của Quan Thuế mà khép nàng vào tội bất tuân kỷ luật.

Nhân viên văn phòng có trốn mà theo đoàn thì cô ấy chịu trách nhiệm lấy, rủi ro có chết thì thiệt thân cô ta chớ không ai bắt tội chàng đuợc.

Cô ta cũng chẳng làm vướng chân vướng cẳng ai trong khi xuất quân và trong trận đánh thì... cơn hằn học của chàng thật vô lý hết sức, hay nó có lý mà một lý do rất là quanh quẹo. Chẳng qua chàng tuyệt vọng về sự mất tích, mất xác của Nhan, nên đổ lên đầu của kẻ nào rủi ro quấy rầy chàng, tất cả xót xa bực dọc của chàng.

Hối hận quá, Công đưa tay ra và chạn phải tay Thúy. Chàng nắm chặt lấy tay nàng để tạ tội, để an ủi người con gái mà chàng xem như là trẻ con, chàng cũng có cảm giác nàng là trẻ con hơn, từ lúc thấy sự trốn theo đoàn của nàng tinh nghịch như là trò đùa của học trò.

Thúy cảm xúc quá và tủi thân, nàng nức nở mà khóc.

Xe đã về tới trước cửa nhà thương hàng tỉnh, Công buông tay Thúy ra nhưng giờ chính nàng lại cầm lấy tay chàng và thỏ thẻ nói thật khẻ:

- Em ở lại nhà thương để nuôi anh.

Nhân viên Quan Thuế không đợi băng ca của nhà thương, ráp nhau khiêng Trưởng ty của họ vào trong đó. Công không kịp phản đối đề nghị của Thúy thì đã bị mang đi rồi.

Thúy yếu chơn nên muốn theo họ, nàng phải chay. Bỗng nàng nghe kêu:

- Thúy ơi !

- Dạ.

- Thuý đi về đi.

- Dạ không.

- Đừng có trẻ con, ở nhà sẽ lo sợ cho Thúy.

- Em xin phép rồi.

Công toan hỏi để biết nàng xin phép với gia đình đi đâu thì giật nẫy mình. Tay trái chàng vừa chạm phải bao súng và lạ lùng thay, cây súng lục đã mất, lại nằm trong đó.

Công thừ người ra, ngỡ mình chiêm bao. Rõ ràng là lúc muốn ra lệnh tấn công, chàng đã không tìm thấy vũ khí của chàng. Cớ sao bây giờ…

"Nhưng thôi, chàng nghĩ rồi mình sẽ tìm ra sự thật. Giờ cần đề phòng, không khéo nó lại mất nửa !"

Chàng rút súng ra, xem coi có khóa hay không rồi gọi:

- Thúy nè !

- Dạ.

- Thúy tạm giữ cây súng nầy, mà phải cẩn thận đa nghen.

- Dạ.

Công được đưa tuốt vào buồng mổ với bao nhiêu thương binh khác.

Thúy đứng chờ ngoài hành lang, nghĩ lại nàng giựt mình. Trên xe, nàng đã len lén cất súng trở lại trong bao của Công một cách tài tình như đã ăn cắp khí giới ấy lúc đầu hôm.

Nàng quên mất rằng Công đã hay rằng súng mất rồi khi tìm lại được ở chính trong mình hắn, hắn sẽ sanh nghi đoán biết có kẻ lấy dùng rồi bí mật trả lại. Hắn có thể nhờ một ban giảo nghiệm nào lấy dấu tay trên súng và kẻ cắp tất phải bị lột mặt nạ.

Thật là hú vía. Giờ thì mặc sức mà lấy dấu tay, mà giảo nghiệm đi. Nàng đã được phép cầm súng chánh thức rồi thì bá súng mang dấu tay của nàng không có gì là bí mật cả.

Công bị đạn ở bắp đùi. Viên đạn bị xéo một bên chỉ đâm thủng một chéo thịt rồi lọt ra ngoài, nên khỏi mổ xẻ gì cả. Chàng được băng bó lại, tiêm thuốc trụ sinh ngừa nhiễm độc rồi đưa qua buồng bịnh đặc biệt.

Thúy mệt lắm mà cũng nghe khoẻ hẳn ra khi thấy công nhân nhà thương khiêng một chiếc băng ca ra khỏi buồng mổ, người bệnh nằm trên đó, bất ngờ thay lại là Công. Chàng chỉ mới được đưa vào trong ấy không hơn I5 phút kia mà.

Cô nữ thư ký liều lĩnh lại chạy lúp xúp theo băng ca, qua nhiều hành lang rồi mới tới phòng dành riêng cho những công chức cao cấp trong tỉnh.

Bấy giờ chuông nhà thờ đã đổ. Công nói:

- Thúy không thể bỏ làm việc. Vậy nên chuẩn bị để rồi về nhà thay y phục và ăn sáng. Cám ơn lòng tốt của Thúy lắm đó, nhưng giờ tai qua nạn khỏi rồi.

- Không còn đạn trong ấy phải không anh, và xương chân không sao chớ ? Thúy muốn biết chắc sự thật để đỡ thắc mắc và đỡ hối hận.

- Không sao. Nay mai là anh đi được. Thúy trả cây súng lại anh. Khi nãy anh sợ phải mổ, phải chịu thuốc mê không ai giữ nó, nên mới giao cho Thúy, giờ thì anh cần tránh cho Thúy trách nhiệm nặng nề ấy.

Khi Thúy trao trả súng cho nguyên chủ của nó, người nầy nhìn thẳng vào mắt nàng, nghiêm sắc mặt lại rồi hỏi:

- Thúy nè !

- Dạ.

- Thúy phải thú nhận sự thật, không được chối quanh mà anh nổi giận lên.

- Gì a anh ? Thúy lo lắng hỏi.

- Có phải Thúy đã đánh cắp cây súng nầy, đã bắn anh rồi trả lại trong bao của anh hay không ?

Thúy tái mặt rồi gục đầu lên tay Công, òa ra mà khóc trong một sự tự thú câm lặng nhưng rõ ràng.

Rất thông minh, Công đã suy luận ra những điều rất đúng sự thật ấy, vì ngoài Thúy ra, không có ai xáp lại gần chàng lúc chàng chuẩn bị xuất binh cả, và từ lúc bị thương tới khi vào nhà thương cũng chỉ có Thúy là đeo sát chàng thôi. Chàng lại tìm được lý do vì sao mà Thúy bắn chàng, chỉ trừ duyên cớ biết cuộc xuất chinh nầy để mà đòi theo thì chàng thật mù tịt.

Lâu lắm, Thúy mới thổn thức nói:

- Anh tha tội cho em. Em cũng xin thú thật rằng sở dĩ em hành động như vậy là vì em yêu anh. Tùy anh thương xót em hay không, số phận em ở trong tay anh, nếu anh đầu cáo thì em chết nhưng em cũng mát dạ.

- Không có vấn đề đầu cáo em một khi em chịu xác nhận hành động của em và khi được biết chắc tình cảm của em đối với anh nó xui em dại dột như vậy. Nhưng em nên biết rằng anh không thể quên Nhan.

- Em biết. Nhưng em không cần. Em yêu anh đơn phương là đủ cho em lắm rồi, còn được anh yêu lại chỉ là một xa xí phẩm và em không dám mong.

Cảm động, Công xoa đầu Thúy và lẩm bẩm một mình: "Tội nghiệp cho em nhỏ không biết bao nhiêu ! Em nhỏ ơi, em nhỏ chớ nuôi hy vọng. Những cử chỉ thân mật của anh không có nghĩa là anh yêu em nhỏ đâu, anh chỉ xem em nhỏ như một đứa em dễ thương thôi

Tuy Công chỉ nói với chàng, nhưng Thúy vẫn lắng tai nghe và đáp:

- Em dư biết thế anh à, dầu sao em cũng không hết yêu anh, và được gần gũi anh một đôi ngày, em cũng đã sung sướng lắm rồi.

- À nầy, còn tại làm sao em biết được có trận phục kích đêm nay để mà đòi đi theo ?

- Nói ra càng xấu hổ. Thấy Nhan đến thăm anh, em đã ghen và đã rình nghe…

- Rình ? Rình ở đâu ?

- Ngoài sau khung cửa hông. Tất cả những hành vi của em đều do một nguyên nhân mà ra, anh bắt tội hay tha thứ gì cũng vì độc một duyên cớ ấy mà thôi.

- Thôi em nên về kẻo ở nhà trông đợi.

Trưa hôm ấy Công được biết thêm những chi tiết sau đây:

Bằng vào lời khai của tên cướp bị thương thì chúng nó đông ba mươi đứa, kể cả chủ tướng của chúng là Thạch Pôul.

Người ta lượm được mười hai tên bị thương và đi thu dọn chiến trường lần thứ nhì, sáng hôm nay, đếm được mười bảy xác chết. Thế nghĩa là còn một tên mất tích.

Họ xem xét quanh đó thì thấy đất ở bờ Trảng Sụp có một chỗ bị xây xát. Một vết dài cây mắc cỡ mọc trên đồng bị trốc gốc và có dấu bị chà đạp nát hết dọc theo vệt đó. Họ kết luận rằng tên thứ ba mươi vì rút lẹ hơn đồng đảng của chúng nên lọt vào trảng và bị bùn nuốt tươi đi, vì mặt trảng quả có bể một nơi rất rộng, bùn non đã khép chặt lại rồi, nhưng lớp đất khô mỏng ở trên thì vẫn hả miệng.

Người ta có định câu cái xác có thể có ở dưới ấy, nhưng thấy rằng không thể thực hiện được dự định đó nên lại thôi và tạm kết luận rằng cái xác chìm dưới bùn là của Thạch Pôul.

Riêng Công, chàng sa lệ khi được biết những chi tiết về cuộc thắng trận của chàng. Cái mồ bùn non ấy chắc chắn là chôn đến hai xác người: xác của Thạch Pôul và của Nhan.

Vòng vây đêm rồi chặt chẽ quá, có cánh cũng không thoát được thì Thạnh Pôul chết là phải, nhưng cô gái yếu đuối là Nhan lại càng không thể vượt vòng mà trốn đi.

Nhan đã chết ! Đây là lần đau thứ nhì của Công, lần thứ nhứt nổi lên khi chàng được biết nàng là con của một tay buôn lậu và đã xem nàng chết rồi kể từ ngày hôm ấy.

Công đã tự nguyện với mình là chỉ giữ nơi lòng mối tình đầu của chàng thôi, còn cá nhơn của con người chàng yêu thì phải quên. Nhưng nào chàng có quên được ! Sở dĩ chàng nhận lời đi phục binh bắt cướp đêm rồi (mà Nhan đã ăn gian trình bày bọn cướp như một bọn buôn lậu) chỉ vì sốt ruột nghe Nhan bán mình cho tên cướp ấy thôi.

Nhan đã chết ! Đối tượng của mối tình của chàng không còn nữa, thì niềm đau của chàng có tánh cách khác hẳn nếu Nhan yêu người khác, hoặc vì hoàn cảnh mà về tay người khác.

Đây là cái ngậm ngùi ngàn kiếp khôn nguôi, là cảm giác trống rỗng quanh mình và trong lòng, là cái tâm trạng chán chê mang ơn một kẻ bỗng dưng mất hẳn mọi giác quan đối với cuộc đời nó không còn hương vị màu sắc âm điệu gì nữa cả.

Bốn ngày sau đó, Công xin ra khỏi nhà thương và mười hôm sau là chàng đi đứng mạnh dạn được như thường.

Thúy đã hết mặc cảm phạm tội, kể từ ngày cuối cùng Công còn nằm trong nhà thương. Hôm ấy đến thăm người chủ sở đã trở thành bạn của nàng, Thúy nói:

- Anh có thể quên mất được lỗi của em và tha thứ luôn em hay không ?

- Anh đã quên từ lúc nắm tay em trên xe, mặc dầu lúc ấy anh đã đoán biết ai bắn anh. Thật ra anh mang ơn em lắm đó. Nếu em không làm xằng thì có lẽ anh đã hy sinh tánh mạng một cách vô ích đêm đó, và hiện anh đã nằm dưới đáy bùn.

Hết mặc cảm, Thúy hy vọng hơn bao giờ cả. Tình địch của nàng không còn nữa thì chướng ngại bây giờ chỉ là mối sầu của Công thôi.

Mà không có mối sầu nào trên đời nầy lại không phai với thời gian. Công sẽ quên cho dẫu là nàng không giúp được gì vào sự quên đó.

Ngày tháng trôi đi sẽ xóa hình ảnh Nhan trong tâm trí chàng và người em gái nhỏ bên cạnh chàng đã sẵn sàng hơn ai cả để cho chàng lưu ý tới.

Tuy nhiên Thúy phải bền chí lắm vì xem ra thì tương lai còn xa quá, Công như là cái xác không hồn và ngoài công việc ở sở ra không thiết gì nữa cả. Người bạn gái mới quen, chàng cũng không buồn trò chuyện. Thoảng hoặc Thúy có hỏi gì, chàng cũng chỉ ừ hử cho qua loa vậy thôi.

Chiều lại sau giờ làm việc, chàng hay lấy xe đi đâu không rõ. Không rõ là Thúy không rõ kìa, chớ những người ở ven quốc lộ 22 đi Vũng Chàm thường thấy chiếc xe Díp sơn trắng của chàng đi về hướng Trảng Sụp.

Cứ đi trên con đường ấy không mà thôi vào thời buổi nầy cũng đã nguy hiểm rồi. Nhưng lên tới xóm trường học ngang vị trí mặt trận ngày nào, Công còn bỏ xe ngoài đường để băng bộ qua nhiều cánh đồng và nhiều khóm chồi để vào thăm mộ của người yêu.

Ngày đầu chàng đã tìm được cái chỗ mà đất có bị xây xát, đã đánh dấu nơi đó và chiều chiều đến đó, chàng đứng chiêm nghiệm rất lâu, mãi cho đến lúc trời tím sẫm mới ra về.

Một hôm, cách cái đêm mà Nhan đã phiêu lưu rồi đi luôn một chuyến rất xa, qua thế giới khác mà không trở về nữa, cách cái đêm ấy hăm lăm ngày, đang đứng trầm ngâm trước miệng lỗ đã được nước mưa chở phù sa tới lấp gần đầy, thình lình Công nghe tiếng bước nhẹ sau lưng chàng.

Nhanh như chớp, chàng rút súng ra và xây lưng lại liền. Trước mặt chàng một người đàn ông vậm vỡ, nưóc da đen, gương mặt trước kia có lẽ là hung bạo và uy nghi lắm, đang mím một nụ cười héo hon mà nhìn chàng.

Tóc y đã bạc trắng không ăn khớp với dáng người còn tương đối trẻ tuổi của y và Công có cảm giác rằng mớ tóc nhuộm sương của cái người trạc năn mươi ấy, chỉ vừa bạc trắng ra đây thôi, bạc một cách thình lình sau mấy ngày sầu muộn.

Y nói:

- Xin ông cất súng. Tôi chỉ là một kẻ đi hành hương rất hiền lành.

- Đi hành hương ? Sao lại ở đây ? Người ta hành hương trên núi Bà kia chớ !

- Vâng, ở đây, vì con gái tôi đã bỏ mình nơi đây.

- Cô ấy chết nơi đây ?

- Ừ !

- Mộ chỗ nào ?

- Tôi không biết, chỉ biết thế nào nó cũng đã bỏ mình nơi đây rồi.

Công không cần hỏi thêm. Người đó là tên Đức Lưu Phương trong tập hồ sơ ở sở chàng và câu chuyện kỳ lạ y vừa kể là cái chết của Nhan chớ không có gì lạ.

Trong giây phút, chàng nghe một niềm cảm thông với người đối diện kéo chàng xít lại gần y trong địa hạt của tấm lòng. Chàng cất súng vào bao rồi nắm lấy tay y mà nói:

- Tội nghiệp ông !

- Không, tôi không đáng thương xót. Tôi chỉ đáng nguyền rủa thôi, vì tôi đã vụng tính nên con tôi mới chết.

Công nghĩ không cần thú nhận mối tình của chàng mà ông cụ nầy không biết, cũng không hỏi về cái chết của Nhan làm gì, vì dĩ nhiên là ông sẽ không nói sự thật tại sao ông lại để con ông liều lĩnh đến thế nầy. Chàng chỉ nói như nói một mình:

- Biết hối lỗi bao giờ cũng tốt và không lúc nào gọi là trễ cả. Thôi, vĩnh biệt ông.

- Vĩnh biệt.

Hai kẻ hành hương chia tay nhau trong khi hoàng hôn đổ xuống ngập đồng.

Họ dùng hai tiếng "vĩnh biệt" đó là dùng theo nghĩa đen chớ không phải là nói bóng bẩy, không phải ngầm bảo nhau rằng tuy ở cùng một thành phố với nhau mà mỗi người đều có mối sầu riêng nên không ai buồn tìm thăm lại nhau sau cuộc gặp gỡ tình cờ chiều hôm nay.

- Vĩnh biệt ? Ừ !

° ° °

Ông Tám đã bán đổ bán tháo tám mươi bảy con trâu còn đứng vững, và bán rẻ mạt mười ba con trâu què vì bị đuổi chạy như chạy giặc trong đêm đó. Ông vội vã như vậy để trở về nhà nghe ngóng tin tức của Nhan.

Không thấy con về, ông đã đi tìm xác nó cũng chẳng gặp một chéo khăn, một nhúm tóc nàng trên chiến địa mà ông đã dò từng phân đất.

Hỏi thăm những người lính chôn xác thì họ bảo không có xác phụ nữ nào hết. Ông bảo chú tư dọ hỏi trong giới lục lâm thì Thạch Pôul biệt tích.

Nếu Nhan còn sống đi nữa thì trọn đời họ, cha con cũng không thể gặp nhau vì ông biết Thạch Pôul tội ác dẫy đầy, không sao dám ra đầu hàng. Nó đã đưa con ông đi Xiêm đi Lào rồi để không bao giơ trở về nữa.

Tám Huỳnh bỗng thấy cuộc giải nghệ để an hưởng của ông hóa ra vô nghĩa lý nên ông cúng cả số tiền bán trâu vào các tổ chức phước thiện và xã hội trong tỉnh. Điên trí, ông lại bán tuốt ngôi nhà của ông, cất cho người dì họ một nếp nhà nhỏ gần chợ hơn, và cho tiền bà ta bổ hàng bán quán chạp phô nhỏ, rồi sau cuộc hành hương cuối cùng chiều hôm nay, ông rời khỏi xứ nầy.

Riêng Công thì …

Sáng hôm ấy, Thúy đánh máy nhiều công văn và khi đọc một bức bản thảo kia, nàng rụng rời rồi gục mặt lên bàn máy đánh chữ mà khóc: đó là lá đơn mà Công đệ trình lên cấp trên để xin thuyên chuyển về Saigon.

° ° °

Nhan ngỡ mình không thể nào đi tới nơi trước khi mặt trời mọc.

Núi Bà thấy dạng dạng trên nền trời tối thui, trông cứ ngỡ là gần lắm, nhưng đi mãi mà cũng chẳng tới đâu.

Phần máu nơi cánh tay nàng ra nhiều quá nên nàng nghe mệt khi chỉ mới băng đồng độ một cây số thôi và bây giờ nàng đã muốn lả rồi.

Chính cái vết thương nơi cánh tay nầy đã làm cho cô gái hiền lành nầy kinh hoảng quyết định trốn luôn, chớ không dám nghĩ đến chuyện về nhà.

Sau một trận đánh long trời lỡ đất như thế, người ta dĩ nhiên sẽ bắt tất cả ai từ Trảng đi ra thành phố với một vết thương còn mới ràng ràng, áo quần bẩn máu và bẩn bùn đất.

Nàng chỉ biết một chỗ có thể tạm ẩn thân đợi lành vết thương, là những chùa chiền, am tự, trên núi Bà, nên tự nhiên đi về hướng núi.

Cái vết thương mà nàng ngỡ là đáng lo ngại lắm ấy, xem lại thì cũng chẳng có gì. Nàng bị đạn hồi nào, thật không hay, có lẽ lúc Thạch Pôul bắn tiểu liên ngăn xung phong và vì thế, làm đích cho đối phương nã súng.

Viên đạn xuyên qua thịt của cánh tay lẹ quá, người bị thương không kịp nghe đau đớn gì, phần sợ hãi vì tiếng súng nổ rền trời, phần sau đó lo bám níu cho khỏi bị Thạch Pôul kéo theo xuống trảng nên vết thương có thấm đau chăng nữa, nàng cũng không nghe thấy được.

Nhưng giờ thì sự đau đớn đã rõ rệt rồi. Thêm vào đó sự đau đớn do các vết thương khác, khắp trong thân thể nàng, gây ra, làm cho nàng cảm giác rằng người nàng đã nát bấy cả ra. Đó là các vết thương ở đầu gối, ở cùi chỏ, ở ngực, những nơi cày đất bị gai mắc cỡ làm rách da.

Nhan băng qua một khu chồi thưa, cây nhỏ và thấp, và nghe tiếng gà rừng gáy. Bấy giờ, càng gần núi, mà trời cũng tương đối hết đen mịt, nàng lại không thấy được bóng dáng trái núi vì tàn cây che tầm mắt của nàng.

Nhưng thình lình, trong đêm lặng, tiếng chuông chùa vang lên, khiến nàng giựt nẩy mình trong mấy giây đầu, đứng khựng lại mà sợ hãi.

Trong cảnh tịch mịch, những tiếng động man rợ xem thế mà không đáng ghê sợ bằng những âm thanh của xã hội văn minh, nhứt là khi âm thanh ấy lại đột ngột nổi lên.

Trong rừng rậm, tiếng chuông chùa bất thường quá, cũng như là giữa Sài-gòn tiếng cọp béo vậy, khiến mới nghe qua, ai cũng phải hết hồn cái đã, rồi ý thức lại được về nguồn gốc của cái thứ tiếng đáng sợ ấy rồi mới hết sợ.

Bấy giờ Nhan mừng rỡ vô cùng. Đấy là tiếng chuông công phu sáng của một cái am nào trong núi, am tự riêng thờ Phật, lẫn lộn với những am khác thờ rất nhiều thứ thần và nhứt là thờ Bà.

Lần đầu tiên trong đời nàng, Nhan nhận được vẻ an ủi của tiếng chuông chùa, tiếng nói cụ thể của lòng bác ái, của chủ trương độ thế vì nàng đang ở vào một tình cảnh cần cả hai thứ ấy, cần một tấm lòng bác ái cứu nguy nàng trong bước đường trốn tránh nầy và cần một triết lý nào để độ tâm hồn nàng qua khỏi cơn khủng hoảng tình cảm đầu của một người con gái không may.

Định rõ lại vị trí, Nhan ngạc nhiên hết sức. Nhà tiếp khách hành hương và những cái am đầu trong dãy am từ chân núi lên tới đảnh, đều ở tại đầu đường. Mà đường từ tỉnh lên núi, ở phía đàng kia. Đây là rừng rậm, thế sao tiếng chuông chùa lại nghe gần quá, nhứt là ngay ở trước mặt nàng ?

Có lẽ là một kiểng chùa hẻo lánh và vô danh của nhóm ẩn tu nào chăng ? Nếu quả như thế thì may mắn của nàng lại nhiều.

Những am đông đúc khách thập phương, có vẻ công cộng quá, người tu hành bác ái đến đâu ắt hẳn cũng phải sợ pháp luật mà không dám chứa nàng.

Tiếng chuông trống công phu sáng như kích thích thêm sức lực cho con người suýt muốn nằm lì xuồng nệm lá khô, mặc kệ rồi ra sao thì ra.

Nhan đi mau như một kẻ khoẻ mạnh mới khởi hành và độ mười lăm phút sau, nàng thấy, qua những thân cây ốm, ánh đèn leo lét đằng xa.

Chỉ có bây giờ nàng mới biết cái đích thật đúng để mà lướt tới chớ từ sau trận đánh đến lúc nghe tiếng chuông đầu, Nhan chỉ nhắm chừng mà đi phóng mạng thôi.

Ngọn đèn thấy từ đàng xa, lúc ẩn lúc hiện, vì có lẽ đèn thắp trong nhà, vách che thưa, nhưng vì tre cũng che khuất ngọn đèn tùy chỗ đứng của người thấy. Hơn thế, cây chồi cũng thủ y cái vai của vỉ tre, tùy vị trí của Nhan.

Càng lúc, tiếng chuông trống càng rõ hơn và bây giờ Nhan nghe được cả tiếng gõ mõ nữa.

Bỗng, tiếng chó sủa vang lên. Nhan càng bước mau hơn nữa và thình lình, chạm phải chướng ngại vật nàng phải dừng chơn.

Đó là một hàng rào tre thưa làm bằng gốc tre già chôn thấp tới bụng.

Ở đây không còn cây cối gì nữa cả, có lẽ chùa rào sát ven chồi nên cây mới hết một cách đột ngột như vầy.

Ra khỏi bóng tối của chồi rậm, Nhan mới hay là trời đã hừng sáng rồi.

Ngôi chùa trong vòng rào, trước mặt nàng, chỉ là một nếp nhà tranh rộng năm gian vừng vách phên tre và sau đó là một dãy nhà phụ thuộc, cũng bằng gỗ hay bằng tre gì không thấy rõ, cũng lợp tranh.

Hai con chó của nhà chùa sủa nà và chạy ra rào chồm lên vồ sủa, khiến cho người trong chùa phải lưu ý chạy ra.

Họ nạt chó, nhưng vẫn không dám tiến tới. Nếu không nghe tiếng nạt chó, Nhan không thể nhận ra hai nhà sư thấy dáng mờ ấy là hai vị sư nữ còn trẻ.

Nhan giựt mình mà thấy mình không hề nghĩ tới sư chùa này thuộc phái nam hay phái nữ, cứ nghe tiếng chuông là mừng, không hề ý thức về chi tiết quan trọng đó, quan trọng lắm, vì nếu sư thuộc nam phái, họ sẽ không nhận nàng.

Quả nàng đã qua cơn bỉ cực rồi đây, nên tới không định mà vẫn lạc bước vào chùa sư nữ.

- Cô ơi cô cứu dùm con cô ơi !

Nghe tiếng kêu cứu là tiếng con gái, một sư nữ bên trong hỏi:

- Ai đó ?

- Dạ con, con mắc nạn giũa đường, cô ơi !

- Đi trịch qua bên mặt, có cửa ngõ ở đó.

Nhan làm y theo lời sư nữ, đã tới cổng chùa rồi mà hai sư nữ vẫn chưa dám ra, còn đứng bàn tán với nhau nho nhỏ bên vách chùa.

Trước cổng chùa là một con đường mòn bằng chồi, chắc để đổ ra lộ xe đưa lên chân núi, đằng hướng đông, cách đây có lẽ đến hai ba cây số cũng nên.

Hướng đông ấy đã ửng hồng rồi và tiếng chuông trống công phu đã dứt. Có lẽ đã trông thấy rõ người ngoài cổng chỉ đơn độc nên hai sư nữ đâm bạo bước ra.

- Con xin chào hai cô !

Nghe giọng họ và thấy dáng họ còn trẻ, Nhan gọi họ bằng cô nhưng sợ lắm, tự xưng con.

- Tín nữ ở đâu mà đến đây ? Sư nữ lên tiếng khi nãy hỏi như yậy.

- Thưa cô, con đi núi Bà hôm qua, sáng nay về tỉnh, nhưng vì xuống núi sớm quá, đi xe Lam bết ta và gặp trận đánh dọc đường nên bị thương, con sợ quá chạy vào rừng rồi lạc bước tới đây.

- Bị thương ? Tín nữ bị thương có nặng không, chúng tôi không biết cứu thương.

- Dạ chỉ xoàng thôi. Nhưng con xin nước và xin nằm nghỉ chớ không xin cứu thương.

Sư nữ nín lặng giây phút rồi nói:

- Tín nữ cứ đứng đây tôi sẽ trở ra liền.

Hai sư nữ chạy vào trong, ý chừng để thỉnh ý sư bà rồi trở ra ngay thật. Họ mở cổng và mời:

- Tín nữ vào đây.

Nhan được đưa đến dãy nhà phụ thuộc phía sau, vào một căn hẹp mà bữa ăn sáng đã dọn ra. Chùa nầy đông một chục nhà sư nên Nhan đếm được mười chén cơm đã bới ra.

Sư bà, không già, không ốm, có phần hơi đẫy đà nữa là khác, từ chùa trên xuống đây sau khi Nhan đã vào nhà.

Được mời ngồi trên một chiếc ghế đẩu, nàng đứng dậy ngay, bái sư bà mà không nói gì.

Sư bà cũng làm thinh mà nhìn nàng rất lâu nhứt là nhìn chiếc áo sơ mi của nàng rách nơi cánh tay trái và máu khô đóng cục trên đó.

- Tín nữ uống một chén trà nóng, ăn một chén cơm rồi hẳn hay.

Sư bà mời mà như ra lịnh, không bằng lòng khách chối. Nhan tự nhận được điều đó.

Nàng cũng cần hai thứ nầy lắm, nên không nghĩ ngợi lâu và nhận luôn chén trà mà sư nữ im lặng khi nãy, người cùng đi với cô sư nữ đã mở cổng cho nàng, bưng tới trước mặt nàng.

Bị ra máu nhiều, Nhan khát nước lắm nên xin:

- Sư cô làm ơn cho tôi xin thêm một tô, có pha nước lạnh ! Tôi khát quá.

Tuy nhiên chén trà ngon và đậm, hớp từng hớp, giúp cho nàng đỡ khát nhiều lắm. Hiệu lực của trà ngon và nóng là thế, nên khi tô nước pha mang ra đến nơi, Nhan không nghe còn thèm lắm nữa, tô nước mà nàng đã mơ suốt đêm nay, chỉ là một món giải khát thường thôi, uống không nghe ngon nữa.

Nhan không đói, nhưng vẫn ngồi tại mâm cơm với chín vị sư nữ. Phải, họ chỉ có chín người thôi, và chén cơm thứ mười là chén cơm bới ra cho nàng đó.

Tất cả đều lặng lẽ ngồi ăn, không ai nói với ai một lời nào. Nhưng Nhan không dám quan sát họ. Nàng chỉ nhìn mâm cơm mà thực đơn khá sang trọng: tương, chao, mắm đậu, đậu hủ chiên dầu và rau cải.

Sư nữ trẻ tuổi nhứt đã cho nàng uống nước, cho Nhan mượn một cái muỗng để múc cơm cho dễ, tay trái bị thương không cầm chén được.

Chim chóc đã đại tấu bản nhạc mừng ngày quanh chùa và ngọn đèn dầu được tắt liền. Mâm cơm bỗng mờ đi và thực khách nhắm chừng cái dĩa đồ ăn mà gắp.

Nhan chỉ ăn có một chén thôi rồi xin phép bước xuống khỏi mâm cơm. Không quen ăn lót dạ sớm quá như thế nầy, nàng ăn chén cơm đó rất khó khăn.

Nàng đi ra ngoài, và bây giờ mới nhận định vị trí của kiểng chùa.

Chùa cất sát chơn núi, trên một cuộc đất triền rộng độ một mẫu. Sân chùa có giếng nước, có trồng bông hoa và quanh chùa, sát hàng rào tre là rừng rậm.

Bây giờ hình ảnh sư bà thoáng thấy dưới ánh đèn mờ khi nãy mới hiện trở lại nơi trí Nhan.

Sư bà không có vẻ sư bà … ơ … hơ… nghĩa là, nàng nghĩ không có vẻ một người tu hành lâu năm. Có lẽ đây là một bà giàu có, chết chồng, không con, chán ngán cuộc đời, rủ năm ba chị em, người mộ đạo như bà lên đây cất chùa để tu tâm dưỡng tánh cho qua tuổi già buồn bã của các bà. Mấy sư nữ trẻ tuổi có lẽ được kết nạp về sau.

Cơm nước xong rồi, sư bà mời Nhan qua căn nhà kế cận. Ở đây có ba bàn, có trường kỷ chạm trổ, lối Trung Hoa xưa. Có lẽ đây là đồ đạc riêng của sư bà đưa lên đây lúc cất chùa nầy, chớ ngôi chùa hẻo lánh có vẻ nghèo khổ nầy không cần bàn ghế đẹp như vậy.

Hiện diện nơi nhà tiếp khách nầy có hai vị sư nữ nữa rất có vẻ sư nữ thực thụ lắm. Nhưng họ lại ở dưới quyền của sư bà trẻ tuổi thì giả thuyết của Nhan chắc đúng phần nào, đây là chùa riêng của tư nhơn mà chủ chùa được "làm xếp" không kể tuổi đạo và đạo đức của bà ta.

Sư bà lại nhìn Nhan rất lâu rồi hỏi:

- Tín nữ cần được đưa ra đường hay không ?

Nhan bối rối hết sức. Nàng định lánh thân một lúc, chớ làm sao mà dám ra mặt trong tình trạng nầy. Nhưng nàng đã bịa một câu chuyện để giải thích sự có mặt của nàng ở đây, câu chuyện khá ổn, khó thể bịa giỏi hơn được. Ác lắm là câu chuyện như vậy lại không cho phép nàng ở lại. Phải, nàng không có lý do gì để xin ở lại cả.

Lâu lắm, nàng mới ấp úng đáp:

- Thưa bà, đáng lý thì con phải về, nhưng con lại thích kiểng chùa nầy, nên có ý định xin sư bà cho con thí phát qui y tại đây.

Sư bà lại làm thinh một hồi lâu nữa, xét nét Nhan rất kỹ đoạn nói:

- Việc ấy để rồi sẽ xem xét lại sau. Điều cần kíp là bần đạo muốn biết tín nữ có thể ở lại hay không. Vết thương của tín nữ phải được săn sóc như thế nào, bần đạo không rõ. Nếu tín nữ phải đi nhà thương thì sao ?

Nhan kéo tay áo sơ mi rộng lên. Làm công việc nầy nàng nhăn mặt vì vết thương bị động, đau lắm !

Khi cánh tay nầy phơi trọn vẹn ra, một cánh tay no tròn và trắng nỏn, tuy nước da hơi tái vì lạnh và vì Nhan bị ra máu nhiều, cả ba nhà sư thấy một vết đạn xuyên thủng thịt nhưng cạn, ở bên ngoài gần da: máu không chảy nữa và hai đầu vết đạn ấy được máu khô hàn kín lại.

Nàng nói:

- Thưa bà, con không nghe gì đáng ngại cả.

Nếu dám nói sự thật, nàng đã xin một bộ y phục đàn bà để thay cho bộ âu phục khả nghi của nàng, khả nghi vì con gái ở tỉnh nhỏ ăn mặc như vậy là bất thường, nhứt là nàng từ trên núi về tỉnh, khả nghi vì bộ âu phục của nàng bẩn máu và bẩn bùn. Xin được thứ ấy là về tỉnh được ngay.

Nhưng nàng không thể khai sự thật, nên đành phải tạm xin qui y vậy, rồi sẽ về sau.

Bây giờ sư bà mới mời hai bà sư già ra khỏi phòng nầy rồi nghiêm sắc mặt mà nói với Nhan:

- Tín nữ cũng dư biết rằng thời buổi nầy không an ninh. Vết thương của tín nữ làm cho bần đạo sợ lắm. Bần đạo không muốn mang vạ lây, tín nữ biết chớ ?

- Dạ con biết, nhưng quả thật con là học trò ở dưới tỉnh lỵ lên đây.

- Có thẻ căn cước chớ ?

- Thưa có.

- Cho bần đạo xem thử coi.

Nhan thò một tay vào túi áo trong của sơ mi, lấy thẻ ra trao cho sư bà. Xem thẻ xong, sư bà gật đầu và nói:

- Quả đúng như lời của tín nữ nói. Nhưng mà cứ theo trong giấy thì tín nữ còn cha. Sao lại còn người thân, đang đi học mà tính chuyện quy y, phải nói cho thật để bần đạo liệu.

Nhan đóng kịch không giỏi nhưng bỗng nàng nấc lên mà khóc được, vì câu chuyện bịa mà nàng sắp nói ra, mang một phần sự thật, đau thương thật sự, khiến nhắc tới nó là nàng phải khóc.

Nhan thổn thức kể:

- Thưa bà, hôm qua con lên núi thí phát mà trên ấy không cho, nên nay con về gặp rủi hồi khuya.

Thưa bà, sở dĩ con muốn xa lánh cuộc đời là vì…

Nhan chỉ bịa chi tiết thôi. Sự thật lớn là nàng đau khổ vì tình, được thú nhận với nhà tu hành nầy.

Sư bà nhờ hai bà sư cao niên kia săn sóc vết thương cho Nhan, nhưng chưa quyết định gì. Mãi cho tới tối, sư bà mới có ý kiến:

- Thôi thì con cứ ở lại đây một lúc xem sao, nhưng đừng vội thí phát. Việc quy y không bao giờ muộn cả, phải chờ xem nghe rõ lòng con và nhứt là đợi phản ứng của gia đình con coi ra sao rồi hẳn hay.

Nhan chỉ mong được thế thôi. Lành bịnh rồi, nàng sẽ ra khỏi nơi đây, không ai nghi ngờ gì được: Sự mất tích của nàng, chắc đã được gia đình nàng giấu nhẹm, ông cụ xin phép nghỉ học cho nàng vì lý do sức khoẻ và bạn học của nàng có tới thăm, ông cụ sẽ bảo là nàng đi Sài gòn chữa bịnh và không ai thắc mắc nhiều.

Mặc dầu không ai sai khiến gì, Nhan cũng tự động làm công quả cho nhà chùa vì họ tốt với nàng quá, mà nhứt là vì có công việc thì dễ quên.

Nàng cần quên mối sầu riêng của nàng, mối sầu riêng ấy là mối sầu thiên cổ mà muôn triệu cô gái đã mang, trải qua lịch sử.

Chùa đông sư nên công việc cũng chẳng còn gì. Nhan phải giành giựt với các sư nữ trẻ tuổi để chiếm độc quyền việc kéo nước giếng, công việc nhọc nhằn nhứt ở đây.

Đất đai khô cằn mà sư bà muốn sân chùa có thảm cỏ xanh quanh năm, có cây ăn trái, có hoa, có rau cải, tóm lại muốn biến đám đất chơn núi nầy thành khu vườn phì nhiêu sung túc, thành ra chùa cần nhiều nước lắm, phải kéo nước từ sáng sớm đến hơn mười giờ và từ xế đến lúc hoàng hôn mớí đủ để tướì cho ẩm ướt cả một mẫu đất khát nước.

Thế mà nàng chỉ khuây khỏa được một cách tương đối thôi, mặc dầu nàng có tính khá mạnh vì được thừa hưởng của cha mẹ một khí bẩm ngang tàng. Nàng đã không tự tử, không đi tu ngay sau khi bị người yêu chặt đứt cây cầu nối liền với hắn, thì biết nàng can đảm hơn các thiếu nữ thường đến bực nào.

Thế mà… !

Gió sớm, mây chiều, mưa rơi, lá rụng, tất cả đều gợi nhớ cho nàng, tất cả đều se thắt lòng nàng lại trong một niềm đau không khốc liệt như buổi đầu nữa, nhưng vì đã thấm sâu nên làm tê tái cả tâm can nàng.

Nhiều hôm Nhan tự hỏi: "Sao mình không tu quách cho rồi ?" Lời xin thí phát qui y của nàng chỉ là một thỉnh nguyện miễn cưỡng để được cho nương náo nơi đây một thời gian thôi nên nàng hay tự hỏi như thế.

Ừ, sao nàng lại không tu quách cho rồi, khi mà đời nàng không còn ý nghĩa nữa. Đó là cuộc đời hưởng thụ ấy, chớ còn cuộc đời xã hội thì khác. Nàng còn có thể giúp ích được nhiều hơn vì khỏi phải vì sinh kế mà nghĩ đến quyền lợi cá nhân của nàng.

"Ừ, sao mình lại không tu quách cho rồi ?"

Tự hỏi như vậy, nhưng Nhan rất sợ hãi cảnh đi tu. Lòng trần của nàng còn nặng lắm ! Đây là một cô gái khoẻ mạnh nên yêu đời, yêu đời tất cả mặt đẹp lẫn mặt xấu, mặt vui lẫn mặt buồn của cuộc đời.

Tình yêu không thể chết sau đau thương đầu của đời nàng, mặc dầu người yêu kể như không còn nữa.

Nàng sẽ kéo dài cuộc sống của nàng trong thương tiếc, trong kỷ niệm, êm đềm của dĩ vãng và nhứt là trong mong mỏi mỏng manh một cuộc xoay chiều tình cảm của ai.

Không thế nào mà Nhan quên Công được. Kẻ đã khinh miệt, đã giận hờn người yêu là hắn, mà hắn còn không quên nàng được nữa là nàng, nàng mà hình ảnh của Công còn tươi tốt trọn vẹn trong lòng, không tì vết nào cả.

Sư cô Diệu Tâm, một cô gái hăm lăm, vị sư nữ trẻ tươi nhứt ở đây là người săn sóc nàng nhiều hơn cả, săn sóc về mặt tinh thần cố nhiên.

Có những buổi chiều hai chị em - vâng, sư Diệu Tâm xem mình như người ngoài đời trong cuộc giao tiếp với cô khách chưa vào vòng đạo pháp nầy - hai chị em ngồi trên một tảng đả, tảng đá núi tiên phuông đã bỏ đi khá xa khỏi chơn non, nhìn chim bay về núi mà hồi tưởng lại những mối tình mà họ đã bỏ lại dưới kia, đàng xa kia, dưới cõi trần đầy nước mắt.

Trong chuông trống thu không như an ủi không biết bao nhiêu mà cũng ngậm ngùi không biết bao nhiêu, ngậm ngùi vì nó làm nổi rõ lên đạo và tục phân cách đôi đường, cái thế tục mà một kẻ chưa quên hẳn và một kẻ còn yêu đắm đuối, nhưng lại phải xa.

Sư Diệu Tâm nói:

- Buổi ban đầu, chị cũng ngỡ không bao giờ quên được y như tâm trạng của em bây giờ đây. Nhưng rồi tâm bịnh coi tàn bạo, thế mà rồi lần lần cũng lành được em à. Giờ chị đã gần khỏi rồi, chị ý thức được thực chất của nó, chị dám quả quyết với em là em sẽ quên.

- Chị người ờ đâu mà đến đây ?

- Chị gốc Bình Dương,

- Người ấy…

- Vâng, người ấy đã phụ chị y như em.

- Không, em khác chị. Người ấy không phụ em, chỉ vì em có lỗi thôi nên phải…

Nhan không nói được hết lời, ôm mặt mà khóc nức nở.

Sư Diệu Tâm kính nể sự nức lên của đau khổ của bạn nên để cho Nhan khóc cho đã thèm rồi mới an ủi:

- Dầu người ấy phụ em vì bạc nghĩa hay vì lỗi của em, cái nhân cũng đưa đến một cái quả là em mất người đó nên đau khổ, thì có khác chị bao nhiêu đâu !

- Khác chớ chị. Chị chán chê tình yêu, em vẫn không thấy tình yêu là đáng sợ.

- Như thế sao em không yêu người khác mà đau khổ làm gì ?

- Ác một nỗi là em không thể tách rời người yêu ra khỏi tình yêu được, em cứ lầm lộn hai thứ, hễ tình cảm tràn ngập lòng em thì em nghĩ ngay đến cái người khinh rẻ em ấy.

- Em phải quên mới được. Nếu không trở về với lẽ phải, đời em sẽ khổ vô cùng. Em yêu một người có thể đoái hoài đến em, mặc dầu cách biệt địa vị xã hội thì còn hy vọng mong manh nào, chớ đeo đuổi theo một người đã khinh khi em thì …

- Em có cảm giác là người ấy… đêm đó em nghe hình như hắn gọi em.

- Đêm nào ?

Nhan giựt mình nín lặng. Nàng suýt bị lộ tẩy, tự tiết lộ bí mật của cái đêm kinh khủng mà nàng tự nguyện đi cống Hồ.

- Không… ừ… ơ… hơ… cái đêm mà hai đứa giận nhau rồi em bỏ em đi.

- Em bỏ em đi. Như vậy chính em khinh miệt hắn chớ hắn đâu có khinh miệt em.

Nhan ú ớ rồi không đáp được.

Sư Diệu Tâm đánh hơi được những bí ẩn gì trong đời Nhan, nhưng sư cô bỏ qua để cố thuyết phục một người bạn gái mà sư cô quyết biến thành một đạo hữu đồng lứa cho có bạn trong đời tu hành của sư cô.

Những sư nữ khác đều lớn tuổi hơn sư cô, họ cảm nghĩ khác, nên sư cô nghe lẻ loi, muốn có bên cạnh một kẻ đồng tâm để sớm hôm kể chuyện lòng cho nhau nghe. Sư cô rất đói tình bạn vì tình yêu vô dụng cần được một nơi để mà tháo trút ra.

Hơn thế, sư cô ghen với một bạn đồng niên còn có thể hưởng cuộc đời, muốn lôi kéo cô ấy vào cái xó ẩn dật vĩnh viễn của sư cô.

- Dầu sao em cũng phải quên.

- Em sẽ cố gắng.

- Và em sẽ quên được.

- Em chỉ mong như vậy thôi.

- Chị không biết sư bà còn đợi gì nữa mới cho em thí phát.

Một con trăng đã hai lần khuyết một lần tròn rồi. Nhớ thương của Nhan ít đi về với cha hơn là đi về với ai. Nhưng không phải là lòng không hề nghĩ đến người cha thân yêu của nàng.

Người cha ấy giờ là một người sung sướng, an nhàn, đang sống một đời sống sung túc với số tiền bán một trăm con trâu kia. Nàng nghĩ như vậy nên rất an lòng về cảnh nhà và con người luôn luôn ít nhớ kẻ sung sướng.

Nhan tưởng tượng cha nàng đi dọ hỏi nghe ngóng sau đêm đó và biết không có xác người con gái nào trên chiến địa, ông đã tưởng nàng và Thạch Pôul đã thoát được.

Ông mất một đứa con thì cũng hơi buồn nhưng nó đi lấy chồng xa chớ không có gì và ngày kia nó sẽ về. Không, ông chỉ buồn sơ sơ thôi vì nhà thiếu mất một người, nhưng ông không đau khổ.

Vì thế mà nàng an dạ được.

Nhan nghĩ có lẽ cha nàng đã sắm vài chiếc xe đò để đưa hành khách, thâu hoa lợi mỗi ngày để sống. Mà cũng có thể ông mua ruộng, ông cho vay. Tóm lại ông sống yên ổn.

Chỉ có ân nhân của gia đình nàng là đáng thương. Nàng có dè đâu hắn, chỉ ngỡ đó là một tên cướp thường thôi.

Lòng nàng mang một mối hận nghìn đời, đã phản bội và làm hại người ơn của nàng.

Trời ơi, Nhan kêu than thầm, đời ta đã bị hủy hoại rồi ! Nếu được yêu chăng nữa thì tình cảm cũng ê chề vì cái hận nầy nó khiến lương tâm ta phải hốt hoảng cho đến bạc đầu.

Con trăng thứ nhì lại bắt đầu soi núi về đêm, ngọn núi mọc ngay sau lưng chùa, núi không cao, nhưng vì ở ngay chơn nó nên nàng thấy nó ngất ngưởng và nghe mình nhỏ nhoi cô độc vô cùng trong cảnh thiên nhiên bao la hùng vĩ.

Nhan đã tậu được một bộ áo quần vải đen của người bình dân thôn quê. Nàng sẽ hạ san một ngày kia trong bộ y phục đó, chiếc quần tây và chiếc áo sơ mi hẳn là không thể mặc đi đứng được mà khỏi bị người ta chú ý tới.

Giờ đã về được rồi đây vì vết thương đã lành hẳn rồi. Nhưng nàng ngại miệng khó nói ra quá để mà xin đi.

Người ta đã tốt với nàng, và người ta mong mỏi có thêm một đạo hữu. Hy vọng thầm lặng của những người ơn nầy, Nhan không nỡ phá tan.

Họ sẽ buồn không biết bao nhiêu, nhứt là họ đinh ninh nàng đợi để qui y. Họ dọn lòng để đón một "sư nữ", cuộc xin về tục của nàng sẽ đột ngột gieo đau lòng cho họ.

Vì thế mà Nhan làm thinh, nấn ná nơi đó một con trăng thứ nhì.

Sư bà không có làm gì cả mà chỉ đợi thôi. Chùa nầy không phải là một ngôi chùa bí mật và nếu gia đình Nhan có tá hỏa lên vì sự mất tích của nàng, ắt họ sẽ đổ ra đi tìm nàng và ắt hẳn có người tới đây như bao lần rồi chùa đã được tiếp rất nhiều khách phương xa lặn lội đến tìm người của họ mà họ cảm giác rằng đi tu ở một ngôi chùa hẻo lánh nào.

Hai tháng đã qua. Đó là thời gian khá đủ để có thể tin rằng người thân của Nhan không đi tìm nàng.

Sư bà đã âm thầm chọn ngày và chuẩn bị cho buôi lễ qui y của cô gái học trò đã ngỏ ý về với Phật ngay từ buổi đầu đến đây.

Vì thế mà sư bà kinh ngạc không biết bao nhiêu khi một buổi xế trưa kia, Nhan đến để xin phép về trần.

Nàng lấp ló nơi cửa rất lâu mà không dám vào. Sư bà đang nằm võng đọc quyển sách gối đầu giường của sư bà là quyển "Hồi dương nhơn quả".

Một khi kia, sư bà nghe động, gở kiếng ra ngóng lên, thấy cô nữ sinh sắp thành sư cô có vẻ muốn vào nói gì, sư bà gọi nàng vào, chỉ ghế nàng ngồi rồi hỏi:

- Có gì đó con ?

- Thưa bà, con đã do dự trót tháng nay, nhưng nghĩ cứ hèn nhát mãi e sanh rắc rối thêm nên con đến xin thú thật với bà là con còn nặng trịu lòng trần, muốn xin bà cho phép con về dưới.

Đã tu dưỡng nhiều năm rồi, Sư bà đã tập được thuật đàn áp tình cảm của mình. Sư bà bình thản như không có gì xảy ra, chỉ ngồi mà làm thinh rất lâu, nhưng nghĩ rất mau vì tình thế mới nầy, xét thử có nên khuyên dứt thiếu nữ tội nghiệp nầy hay chăng.

Lâu lắm, sư bà mới thở dài mà rằng:

- Thôi cũng được, lòng con đã như vậy thì còn biết sao bây giờ. Nhưng con định chừng nào mới rời khỏi nơi đây ?

- Thưa, điều ấy tùy quyết định của bà.

Sư bà khỏi phải nghĩ nhiều về chi tiết nầy vì sư bà đã chọn ngày rồi.

- Bữa kia ngày lành, đáng lý là ngày con thọ lễ qui y. Vậy con ra đi ngày đó.

- Xin vâng mạng bà.

"Giác Duyên Tự" chiều hôm nay buồn ghê. Và Sư cô hờ tuy chưa khăn gói lên đường hoàn tục nhưng người ta đã kể như là mất cô rồi nên cái am đông đảo người tu hành nầy đã nghe thiếu thốn rồi.

Đó là nỗi buồn của một gia đình có người thân yêu đau nặng, được y sĩ mật báo rằng hắn không qua khỏi, lại định đúng cái ngày mà hắn thở hơi cuối cùng.

Sư cô Diệu Tâm đã nỗ lực lần cuối cùng để thử giành ảnh hưởng với cõi tục, nhưng vô hiệu quả.

Những ngày chót ở đây, Nhan cứ thơ thẩn quanh những gốc cây, những tảng đá mà nàng đã thuộc lòng hình dáng và màu sắc. Nàng đã bắt đầu yêu nơi nưong náu tạm bợ nầy và muốn ghi thật sâu những hình ảnh thân mến nầy vào ký ức nàng để mang theo làm kỷ niệm trong đời nàng.

Diệu Tâm lẽo đẽo theo sau bạn và hỏi:

- Em còn mong mỏi gì ở ngoài đời ?

- Còn thiết tha yêu sống chị à !

- Nhưng về dưới ấy em làm sao quên được ?

- Chính vì ở đây cũng chẳng quên được nêm em mới về gần ba em, tình thương của ba em đối với em, sẽ giúp em đỡ đau khổ.

- Chị ước mong điều nầy, em đừng ngỡ chị chúc dữ em. Chị ước mong theo quan niện nhơn sinh của chị, tức là chúc lành đó. Chị van vái em sẽ trở lại đây ngày nào.

- Em không cầu nguyện điều đó, nhưng nếu phải lánh đời, chác chắn là em sẽ trở lại đây.

Ngày chia tay đã tới, Nhan đã từ biệt sư bà và tất cả các sư nữ khác từ đầu hôm, và đến khuya hai vị sư còn trẻ là sư Diệu Minh với lại sư Diệu Tâm thức đậy lo cơm nước sớm hơn ngày thường để Nhan ăn lót dạ trước. Xong đâu đó, Diệu Minh ở lại để dọn mâm cơm sau, còn Diệu Tâm thì đưa bạn lên đường.

Ra tới cửa ngõ, Nhan dừng bước lại để nhìn sao tắt trên trời. Nơi chốn và thời gian tạo lại đúng khí hậu của cái đêm mà sau những giờ kinh dị, nàng lạc bước tới trước cổng chùa nầy.

Nhan bồi hồi sống lại tất cả xúc động của đêm ấy và nghe như mình vừa qua một cơn ác mộng.

Đôi bạn dấn bước vào con đường mòn đưa ra đường lên núi, mới đi được có một thôi ngắn mà bóng đêm và cây cối đã khép kín lại không trung sau lưng nàng, bóng dáng ngôi chùa không thấy đâu nữa cả, chỉ trừ ngọn đèn leo lét đã soi đường lưu lạc của nàng đêm ấy.

Tiếng chuông trống công phu bây giờ vang lên khiến Nhan lại dừng chơn do dự. Nàng đã quyết về trần, nhưng còn lưu luyến nơi đây phần nào, nhứt là viễn ảnh tương lai của nàng dưới kia thật là mờ mịt.

Rồi nàng cất bước lên đàng, mặc cho chuông chùa kêu gọi. Rạng đông đã tô màu son Tàu lên nền trời giữa những thân cây.

Khi chiếc xe Lam-bết-ta rồ máy chạy đi, Nhan day lại thì thấy sư cô Diệu Tâm, người bạn hai trăng của nàng, mặt buồn dàu dàu đứng nơi đầu con đường mòn mà nhìn người sư nữ hụt vể trần, không biết sư cô thương hại nàng hay ganh tị với nàng. Riêng Nhan, nàng luyến mến người bạn đồng lứa ấy lắm.

Tự nhiên không bảo nhau mà hai cánh tay cùng đưa lên một lượt, một tay vẫy tiễn đưa và một tay vẫy giã từ.

Khi về tới cây gõ trước nhà thì cô nữ sinh đã quên được mùi thiềng mà cô không có duyên hưởng.

Đây là khí hậu mà nàng đã quen thuộc từ thuở mới lọt lòng, chưa để chơn lên con đường đất mà như đã nghe được cái hương vị thân yêu và hỗn họp của khói nhà bếp, của phân chuồng, của cấy cỏ, cửa muôn ngàn thứ không tên không tuổi mà khứu giác, vị giác nghe qua là nhận ra ngay.

Nhan tưởng tượng ra nỗi vui mừng nghẹt thở của cha nàng, ông cứ đinh ninh rằng nàng đã chết và niềm vui đột ngột nầy vì thế càng to không biết bao nhiêu.

Nhưng lạ, nàng mới vào tới cổng đã bị một bầy chó bốn con sủa vồ, và chạy ra nghinh chiến. Cũng may là cửa ngõ đã đóng chặt.

Nhan đoán cha nàng bỏ nghề, sợ bọn buôn lậu, và cũng sợ Thạch Pôul nữa, sợ hai phe ấy báo thù nên nuôi chó để tự vệ.

Nhưng ảo tưởng của nàng tan ngay. Một chị đàn bà từ trong chạy ra, miệng mắng chó om sòm.

Người ấy lạ hoắc. Nhan chưa hề thấy lần nào trong thành phố nầy hay ở các ngoại ô thành phố.

Chị từ từ hỏi:

- Cô kiếm nhà ai ?

- Tôi là con chủ nhà. Tôi đi vắng ít lâu nay.

Chị đàn bà trố mắt hả miệng nhìn Nhan rất lâu rồi nói:

- Cô không hay gì hết sao ?

Nhan rụng rời, ngỡ cha nàng đã mang hại nên sau mấy giây chết điếng, hoảng sợ hỏi rối rít:

- Làm sao ? Hay cái gì chị ? Ba tôi có sao không ?

- Không. Ông ấy chỉ bán nhà cho cậu mợ tôi rồi đi mất.

- Trời !

Nhan thừ người ra đứng làm thinh rất lâu mới hỏi được:

- Ba tôi đi đâu chị ?

- Không ai biết cả. Có lẽ ông ấy bỏ xứ nầy đi xa lắm.

- Trời !

Vì bối rối và buồn lo quá, Nhan quên hỏi thăm về người bà dì họ của nàng mà nàng ngỡ đã theo cha nàng.

Thấy người con gái nầy đáng thương quá, chị đàn bà mở cổng rồi mời:

- Cô vào trong nầy uống miếng nước…

Nhan thất thểu bước vào sân, ba bốn con chó lại bu quanh nàng để sủa, khiến chị đàn bà phải vừa đưa khách vào nhà, vừa xua chúng nó mấy phen chúng nó mới chịu phân tán ra.

Nhan ngồi phệt lên bực tam cấp chớ không chịu vào nhà. Nàng nhìn mấy chậu kiểng mà cha nàng đã bán luôn với nhà đất nầy và thấy sao như là cây trồng trong đó đang đứng cú rủ mà nhớ ai.

Gạch tam cấp đã đóng rêu xanh nhiều lớp và đã mòn lẵn dưới bước đi của khách ra vào và chính của nàng.

Mỗi vật ở đây, một gốc ổi, một tảng đá, một chậu cây đều mang một chút xíu thời niên thiếu của nàng.

Nhan lại đứng lên, thơ thẩn đi qua hông nhà bên phải. Cây cầu cong cong bắt qua con rạch nhỏ vẫn còn y nguyên, và sáng hôm nay giống hệt sáng hôm nào mà nàng đã đứng trên mô cầu cho ai chụp ảnh.

Chị đàn bà nãy giờ vẫn đi theo tò tò bên cạnh Nhan, lại mời:

- Cô vào nhà uống miếng nước.

Để nhìn lần cuối cùng những vật thân yêu bên trong, Nhan bước theo chị ấy.

Cha nàng bán luôn cả đồ đạc nữa nên bộ ghế sa lông Lu Y thập tứ vẫn còn ngự trị giữa nhà. Bên tả là một bộ bàn ăn lớn chỉ dùng khi nào nhà có giỗ thôi, bên hữu là một bộ ván ba bằng gõ mặt dày một tấc năm mà thuở bé, qua mùa nắng, nàng ưa cởi trần nằm sắp lên đó cho mát bụng, mát ngực.

Nhan đứng dựa cây cột cái bằng gỗ đỏ, to đến hai người ôm, hơi chửa ở khúc giữa trông như cây đèn sáp rờ rẩm để thưởng thức sự láng bóng của nó. Nàng dòm vào buồng nàng nhiều lần tự hỏi người ta đã thay đổi gì trong ấy ?

Chị đàn bà nhận thấy sự tò mò của nàng nên nói:

- Cậu mợ tôi ở buồng bên kia, buồng của ông hồi trước. Còn tôi thì ở buồng nầy, chắc là buồng của cô.

Nhan chỉ gật đầu và chị ấy nói:

- Cô vào đây xem, tôi chỉ đổi mùng khác thôi.

Mới để chơn tới cửa buồng là Nhan đã nức nở rồi. Từ đây không bao giờ nàng thấy lại buồng ngủ của nàng nữa cả.

Thương xót quá, chị kia nói:

- Hay cô ở lại đây chơi vài ngày cho có bạn với tôi. À cô đi đâu mà ông cụ bán nhà lại không cho cô hay tin ?

Nhan không đáp, lau lệ mà hỏi lại:

- Chị là chi của ông bà mua nhà đây và ở đâu mà tới đây ?

- Tôi là cháu ruột của cậu tôi. Chúng tôi cũng người gốc gác ở đây, nhưng cậu tôi vốn là công chức, bị thuyên chuyển từ tỉnh nầy qua tỉnh khác mấy mươi năm nay nên người bổn xứ quên mất gia đình chúng tôi.

Nay cậu tôi hưu trí về xứ tìm mua nhà mới gặp ông thân của cô, và nhà nầy mới về tay gia đình chúng tôi. Cậu mợ tôi bữa nay đi vắng.

Nhan đứng đó đưa mũi lên đánh hơi, như để cố hít lấy mùi hương của nơi nàng ăn ở, đoạn theo người cháu của chủ mới của ngôi nhà cũ nầy để ra sau bếp.

Ở đây cũng không có gì thay đổi cả trừ chiếc võng của bà dì, chắc đã được bà dì mang theo và một chiếc võng mới thay thế vào đó.

Người cháu chủ nhà rót nước bưng đến trước mặt Nhan rồi hỏi:

- Giờ cô tính sao ? Mời cô uống nước.

Nhan vẫn không đáp. Nàng đang "tính sao" nên tâm trí bận rộn lắm. Nàng ngồi như cái xác mà hồn đã xuất ra sau một hồi thần chú của một tay phù thủy nào.

Nhan ngồi như thế hàng giờ, người cháu chủ nhà lặng lẽ đi lo công việc của chị ấy và bỏ nàng một mình với tâm tư của nàng.

Không phải là Nhan chưa tìm được giải pháp nào, nhưng nàng cố nán lại đây để ghi những hình ảnh, để thu nhận những âm thanh, những mùi vị cho thật sâu dậm với lòng nàng hầu mang theo như những kỷ niệm không bao giờ phai.

Lâu thật lâu nàng mới đứng lên xin phép ra đi.

Chị cháu chủ nhà ái ngại hỏi:

- Nhưng cô đi đâu ?

- Tôi có bà con ở gần đây.

Chị nầy tiễn Nhan ra cổng và ngạc nhiên lắm mà thấy thiếu nữ tội nghiệp nầy rẽ sang tay phải rồi băng đồng đi vào khu rừng sau nhà.

Chị ta không biết được rằng bên kia khu rừng ấy còn xóm làng đông đúc.

Nhan đi chậm lắm vì mỗi khi đến nột ngả rẽ đường mòn nào, nàng cũng phải dừng chơn lại để kêu gọi trí nhớ rất lâu mới quyết định lựa chọn được nẻo đi.

Nàng chỉ qua đây có hai lần thôi mà qua trong những lúc tâm trí rối loạn và định không bao giờ trở lại nữa nên quên mất đường đi.

Mãi cho tới khi đứng bóng, nàng mới tới được nhà người kế mẫu: nàng đinh ninh rằng cha nàng lùi về sống hẳn ở đó.

Thấy mặt con ghẻ, bà kế mẫu nầy hơi lo sợ, vì Nhan đến đây ắt hẳn có việc bất thường.

- À con ! Trời, con dang nắng đỏ cả mặt mày. Sao không đi sớm một chút ?

- Dạ, con đi sớm lắm nhưng lạc đường.

- Trời, cũng may mà rồí con cũng tới được. Thôi nghỉ đi rồi ăn cơm trưa với dì.

- Nhưng ba con đâu dì ?

- Ba con ? Chớ ba con không có ở ngoài ấy à ?

- Ba con đã bán nhà rồi đi đâu mất. Con ngỡ ba con vào trong nầy.

Bà kế mẫu của Nhan rụng rời:

- Trời ơi, bán nhà ? Đi mất ? Con nói thật hay con nói chơi chớ ?

- Dạ con nói thật dì à !

- Nhưng sao con lại không hay ba con bán nhà ?

Nhan kể hết mọi việc cho người dì ghẻ nầy nghe, người mà nàng thương mến và tin cậy, không sợ bà lậu sự cho ai biết.

Bà nghe xong cũng chết điếng và ngồi thừ ra đó. Bà đoán rằng ông Tám đã giàu có rồi phụ bà, bỏ xứ mà đi để tìm hưởng thụ nơi khác.

Là người tốt, bà không hận lắm mà chỉ tủi cho phận bà thôi. Bà nấc lên mà khóc rồi hai mẹ con cùng khóc với nhau rất lâu, quên bữa ăn trưa đúng ngọ, mặc dầu cả hai đều đói.

Dì Năm dẹp thảm được trước người con gái có đến hai mối sầu chớ không phải như dì và trách:

- Cha con của con thật là xằng. Con thì con liều mạng quá, còn cha con sao không thử đi tìm con hay ở nhà, mà chờ đợi, lại bỏ xứ mà đi.

- Chắc ba con ngỡ con chết nên buồn mà đi tu ở đâu đó không biết chừng.

- Chuyện đã dĩ lỡ như vậy rồi thì con ở đây với dì. Nếu con bỏ đi, ba con mà có về đây thì lật nữa.

Nhan bây giờ trơ trọi một thân nên được bà mẹ ghẻ tốt bụng nầy cho tá túc thì sung sướng lắm rồi. Nàng thầm cám ơn dì Năm lắm nên nhận lời liền.

Nhan bản chất rất ham sống và yêu đời, nên mặc dầu xóm hẻo lánh nầy cũng buồn nhưng nàng nghe dễ chịn hơn lúc ở chùa nhiều.

Trong nhà chỉ có một người mà thôi, mà lại là một bà già mà tâm hồn cách biệt nàng vì niên kỷ, tuy nhiên nàng vẫn nghe được an ủi hơn là ở trên núi, vì bà già nầy gần gũi với nàng hơn là những sư nữ trẻ ở chùa Giác Duyên, bởi vì bà già nầy là người của thế tục, tuy cao niên nhưng tâm trí vẫn mang những cảm nghĩ thường của con người.

Ở đây, Nhan nghe an ủi hơn ở chùa, nhưng không thể không sốt rưột. Nàng đêm đứng ngày trông mong đợi người cha già. Một tuần qua, một tháng qua, qua hai con trăng đã tròn đã khuyết.

Đến tháng thứ ba, Nhan thật hoàn toàn tuyệt vọng mà bà kế mẫu của nàng cũng thế.

Cứ theo lời dì Năm thì họ ăn ở với nhau gần tám năm rồi mà không khi nào ông Tám vắng mặt lâu hơn một tháng cả.

Có đi đâu xa, có bận gì lắm, mỗi tháng ông Tám cũng về đây một lần, ở năm bảy ngày rồi mới đi nữa.

Làm nghề nguy hiểm, ông Tám thường hay trối trăn:

- Bà nè, tôi có mấy lời nầy, bà ráng mà nhớ cho kỹ. Tôi có thể chết đường, chết sá bất cứ lúc nào. Vậy hễ lâu quá mà không thấy mặt tôi, bà có thể kể như tôi đã chết rồi.

Muốn cho bà khỏi lo, bận gì mỗi tháng tôi cũng về thăm bà. Như vậy, không phải là trường hợp đặc biệt nếu tôi không về sau hai tháng đi vắng. Nếu như thế, tức là tôi đã chết rồi vậy.

Nếu bà còn nghĩ đến tôi, xin bà thương con Nhan như con bà, về mà ở với nó, hay đem nó về ở với bà.

Tôi sẽ mang ơn bà dưới chín suối.

Bà Năm nhắc lại những lời trối trăn hằng tháng ấy rồi khóc mù. Nhan cũng khóc. Nhưng nàng không tin rằng ông Tám đã chết. Được tiền bán trâu, chắc chắn cha nàng đã giải nghệ thì không còn vấn đề chết trận nữa. Ông cũng đủ kinh nghiệm để tránh cuộc báo thù đồng nghiệp cũ.

Hôm ấy dì Năm đi chợ tỉnh. Ấy, hằng ba tháng một, bà mới đi mua sắm các thứ cần dùng một chuyến, như mọi người ở làng xa khác. Cá, thịt, đã có người bán dạo mang vô tới nơi.

Mãi cho tới chiều, bà mới gánh một gánh đầy về nhà, nào là đường, muối, nhang, đèn v.v... những món hàng hoá để lâu không hư.

Dì Năm bảo cho Nhan biết rằng cứ theo lời cái ông Phán mua nhà ấy thì hôm đó, ông Tám nhận tiền xong trước mặt hội đồng xã, thì ông ký tên tờ đoạn mãi, đoạn lên xe đò mà đi Sài gòn, chỉ mang theo va ly quần áo thôi. Dì Năm đoán:

- Không chắc gì ba con đi Sài gòn, nhưng dầu sao cũng đi xuống chớ không phải đi lên.

- Dì định ba con đi đâu ?

- Nào dì có biết.

- Con thì con tin chắc ba con đi Sài gòn.

Kể từ chiều hôm đó, Nhan cứ nhơi mãi kế hoạch đi tìm cha nàng. Nàng thấy đó là một bổn phận tối cần phải thi hành: ông cụ đi mất chỉ vì ngỡ rằng con của ông chết, vậy nàng phải ra mặt cho ông thấy, không thôi không bao giờ ông về cả.

Trong kế hoạch của Nhan có một điểm làm cho nàng phân vân lắm. Nếu xin phép ra đi chắc chắn dì Năm không cho, bằng như trốn nhà thì thật là vô lễ.

Tiền bạc thì nàng còn được vài trăm trong túi tình cờ bỏ theo mình cái đêm đi Trảng Sụp ấy.

Nhan dò hỏi những người lân cận thì biết còn một con đường nữa đưa ra quốc lộ. Con đường mòn nầy đi ra cách xa nhà nàng độ ba cây số về phía Nam, tức về hướng Sài-gòn.

Từ hôm về ở đây, Nhan thức khuya dậy sớm thay cho bà kế mẩu, và nàng nấu nước, quét dọn, thả gà, cho heo ăn xong rồi bà mới dậy.

Khuya hôm nay, nàng thức sớm hơn mọi đêm, cũng làm đủ cả công việc, rồi chận bức thơ mà nàng viết trưa hôm qua dưới vỏ bình tích để ló ra ngoài thật nhiều giấy cho dì Năm thấy ngay lúc dì uống nước giấc sáng, xong đâu đó, nàng xách gói lên đường.

Dì Năm có đọc thơ ấy kịp lúc cũng không thể đuổi theo nàng vì nàng mượn con đường dưới mà dì không dè.

Con đường nầy tắt hơn đường trên, nhưng xuyên nhiều chồi bụi hơn. Nhan sợ nhưng cố làm gan. Nàng thấy không còn nguy hiểm nào to hơn nguy hiểm trong đêm kinh khủng "cống Hồ" năm tháng trước, nên vượt sợ hãi được bằng suy luận.

Nàng ra tới quốc lộ thì đã trưa trờ trưa trật rồi, dễ thường bây giờ đã tám giờ hơn.

Gói quần áo bằng giấy nhựt trình cầm nơi tay, Nhan có vẻ một thôn nữ ở đâu trong xóm trong, và khi xe xuống, nàng đưa tay ra đón, không ai ngạc nhiên hết.

Chỉ có khi nàng lên xe xong, hành khách trên xe mới nhìn sững nàng thôi, vì cô thôn nữ ấy lại đẹp một vẻ đẹp đài các, không có vẻ gì lam lũ làm ăn cả.

May quá, trên xe hôm đó không có ai quen cả, chỉ trừ một người Trung Hoa chủ tiệm thuốc bắc là biết mặt nàng vì nàng hay lui tới hiệu của chú ấy để mua cam thảo, mua trái táo. Nhưng chú không biết nàng là ai nên cũng không hỏi han gì.

Đây là chuyến đi Sài gòn thứ tư của Nhan. Từ khi nàng khôn lớn, và mãi đến lúc xe xuống tới Bà Quẹo rồi nàng mới chợt nhận thức rằng Sài gòn là một thành phố to lắm, to quá để có thể tìm được người nàng muốn tìm, giữa rừng người đông hàng triệu sanh mạng đó, và mãi cho đến khi xe đỗ ở bến Phan văn Hùm, cô nữ sinh liều lĩnh nầy mới hoảng lên trước cảnh bơ vơ nơi xứ lạ của nàng.

Xứ lạ nầy không phải là một xứ lạ hiếu khách như tỉnh nhà của nàng mà người cháu của ông Phán mua nhà sẵn lòng mời nàng ở lại vài hôm chơi, mặc dù họ chưa hề quen biết nhau.

Cái xứ lạ nầy là cái xứ lạ thờ ơ, lạnh lạt, đi bên cạnh nhau mà không thèm biết có nhau, ở khít vách nhau mà không buồn tới lui thăm viếng nhau.

Nhan chỉ được cái liều mạng chớ chưa có một tí kinh nghiệm nào về cuộc đời cả. Tánh liều mạng "mẹ đẻ" của nàng được sự nóng lòng gặp cha nung cho nóng lên nên nàng làm mà không suy nghĩ, có nghiền ngẫm kế hoạch phiêu lưu thật đó, nhưng quên phứt cái điểm tối quan trọng là nơi nương náu của nàng một khi xuống tới thành đô.

Bước xuống xe, Nhan ngơ ngác nhìn quanh, khách thấy thì biết ngay đó là một cô gái tỉnh lưu lạc về đây.

Mấy anh xích lô máy và xích lô đạp níu xe mà chạy đua với mấy xe nãy giờ bu lại hỏi:

- Về đâu cô hai ?

- Xe lôi ăn rẻ cô tư !

- Cô cứ nói tên cái xóm đi, tôi sẽ tìm nhà dùm cô, bảo đảm mà.

Nhan làm thinh, thơ thẩn đi về hướng ngã sáu Quẹt Đon. Tới trước tiệm cà phê ở góc đường tại ngã sáu thì mấy anh phu xe chán nản, không theo nàng nữa.

Họ vừa buông tha Nhan thì một mụ đàn bà mập tù lù, đang ngồi uống la ve nơi một chiếc bàn đặt ngoài vỉa hè hiệu giải khát ấy, đứng lên đón đường nàng và hỏi:

- Cô mua vé số Kiến Thiết hôn ? Giấy cặp, hăm bốn đồng.

Nhan lắc đầu nhưng bà mập cứ theo riết nàng. Đôi má phính của mụ mập bị chai la de giấc sáng nung đỏ lên khiếu Nhan hơi sợ sợ mụ ta nên mau bước lên.

Nàng càng đi mau, mụ mập càng nhặt bước.

- Cháu nè ! Đứng lại dì hỏi thăm cái nầy.

Giọng dịu ngọt của mụ sao giống lời ăn nói của dì Năm. Lúc bơ vơ, Nhan rất cần một chỗ bám, nên chi hơi sợ, nàng vẫn dừng chơn.

- Sao mấy thằng đó mời mà cháu không chịu đi xe. Bộ nhà gần sao ?

Như bất kỳ ai, mụ mập biết ngay cô gái nầy vừa xuống xe đò, tức là từ tỉnh tới đây. Mụ dọ để biềt nhiều thêm.

Nhan do dự lâu lắm rồi đáp:

- Thật ra thì cháu không quen với ai hết.

- Vậy sao ? Chớ cháu xuống Sài gòn làm gì ?

- Cháu tìm chỗ làm.

- Cháu biết nghề gì ?

- Cháu ơ hơ… cháu nấu ăn, giữ em.

- Khó lắm. Ngỡ cháu biết nghề, dì chỉ chỗ cho mà làm chớ còn nấu ăn, giữ em phải ở lại nhà chủ, cháu lạ hoắc, chủ nào mà dám chứa cháu ! Cháu nên trở về làng cho xong.

Nhan không đáp chỉ lắc đầu thôi.

- Chắc cháu không tiện trở về ? Hay là, nếu cháu chịu làm ăn công rẻ thì làm với dì.

Nhan vẫn làm thinh nhưng nhìn đôi mắt nàng, mụ mập biết nàng mừng rỡ và hy vọng.

Rất cao tay, mụ nhấn mạnh về điểm tiền công rẻ, cho thiếu nữ lưu lạc khỏi nghi ngờ. Nếu mụ tốt quá, mời nàng về nuôi, nàng sẽ sợ hãi mà từ chối.

- Dì cũng nghèo làm sao dám mướn người làm theo người ta, họ trả tới sáu bảy trăm một tháng, lại nuôi cơm.

Nếu cháu chịu làm rẻ mạt cho dì một tháng chừng một trăm bạc thôi thì về mà làm. Cháu tạm ở nhà dì cho quen nước quen cái một lúc rồi tìm chỗ làm được tiền hơn chớ dì không cam để lường công cháu đâu.

Nhan vẫn làm thinh một hồi nữa rồi nói:

- Làm cho dì mà làm công việc gì ?

- Thì nấu cơm, quét dọn chớ làm gì. Dì ở ruột mình, ăn cơm quán thét rồi nuốt cũng không vô nữa. Vả lại khoá cửa bỏ nhà mà đi buôn bán như vầy, dì không an lòng, quân gian nó có thể phá cửa ẵm hết áo quần đồ đạc của dì ngày nào đó.

Có cháu tiện cho dì không biết bao nhiêu, miễn là cháu không đòi hỏi nhiều.

Mụ mập mặc áo dài lỡ tức là thứ áo bà ba thật dài vạt khách, áo của những ngưòi đàn bà tu tại gia. Mà quả thế, đầu dì cũng cạo trọc lóc.

Trong một trăm người đàn bà loại đó có ít lắm là tám mươi lăm người mang cái gì không ổn trên lương tâm. Chiếc áo dài lỡ tuy chỉ là phục sức bề ngoài, không tượng trưng cho cái gì được, hơn thế, còn kín đáo hơn áo bà ba nữa là khác, nhưng áo ấy lỡ trót là loại áo mà những bà lỡ thiện lỡ ác thích mặc và quen mặc, thành thử đó là dấu hiệu của những kẻ làm nghề bất khả thú nhận.

Nhưng cô học trò khờ dại đâu có biết như vậy. Trái lại cô thấy bà nầy có bề ngoài mường tượng những bà trên chùa Giác Duyên, nên tín nhiệm được bà ta.

Và cô đang cần nơi nương náu cấp thời thì trừ khi bà ấy là bà chằn cô mới tránh chớ bà ta không có vẻ nữ tặc thì được bà ta nhận cho làm, cho đùm đậu là sung sướng lắm rồi.

Vì còn sớm nên mụ mập chưa về nhà, mụ bán vé số ở bến xe, nhưng không muốn dắt cô gái nầy tò tò theo mụ, gặp người quen trên tỉnh của cô họ xuống Sài gòn bằng những chuyến xe sau chăng.

Vì thế mà riêng hôm nay, mụ xoay qua đi bán từng gia đình dài theo con đường Võ Tánh, bắt đầu từ ngã sáu Quẹt Đon.

Mãi cho đến mười một giờ hơn mụ ta mới kêu xích lô đạp cùng Nhan đi đâu đó, cô gái nầy cũng không rõ nữa.

Xe chạy vòng do một hồi rồi đổ xuống một đại lộ mà đầu dưới rất dơ và rất rối trật tự vì xe cộ. Nhan xem bảng tên đường mới hay đó là đại lộ Nguyễn Thái Học.

Xe ngừng lại trước đầu một dãy xe cam nhông thật bự. Mụ mập đưa Nhan ra sau dãy xe đó thì cô nữ sinh nhà quê thấy nhiều sập bán cơm, bán các thức ăn khác như là bì bún chả giò, cua luộc, sò ốc.

Mụ mập ngồi xề xuống một chiếc ghế đẩu thấp, trước một sập bán cơm và kéo Nhan mà rằng:

- Ngồi xuống ăn cơm với dì con.

Người bán cơm cũng trạc tuổi mụ mập nhưng còn mập hơn mụ nữa. Bà ta hỏi:

- Ăn gì chị chín ?

Mụ mập lại hỏi Nhan:

- Con ăn cơm sườn, cơm cà ri, hay cơm gà ?

Nhan không biết sao mà đáp nên nói:

- Con ăn như dì.

- Con chị đó hả ? Mụ bán cơm nhìn Nhan cười mà hỏi thế.

- Không cháu tôi kêu tôi bằng dì ruột. Nó ở tỉnh mới lên.

- A, chị gốc ở tỉnh nào, tôi quên mất ?

- Vĩnh Long.

- Chắc ở tỉnh không yên nên cháu nó lên đây ?

- Ừ, cho ăn như thường lệ.

Mụ bán cơm vừa hỏi chuyện, vừa làm, vừa réo con mà chưởi.

- Con dịch tể, mầy không phụ với tao, để lo đi đánh đũa hử ?

Một con bé lên mười, dơ không tưởng tượng được, bỏ chơi ở giữa vỉa hè, vùn vằn đứng lên đi lại sập, mặt quạu đeo và miệng lẩm bẩm những lời nguyền rủa gì khòng ai nghe được cả.

Nó nhận nơi tay má nó hai dĩa cơm sườn rồi bưng đến trước mặt khách.

- Cho ớt đi cưng.

Dì Chín kêu ớt rồi bảo Nhan:

- Ăn đi cưng, rồi về nhà mình.

Ai, dì chín cũng cưng tuốt, con bé dơ dáy ấy và Nhan. Dì nói cưng như là nói: "Con nhỏ dịch tể kia", giọng không thương mến chút nào.

Ở đây, cái gì cũng dơ cả, từ mặt bàn hôi cái mùi nước mắm thấm vào gỗ lâu ngày, không sao tẩy xoá được, đến đôi đũa sơn nhớt nhợt, khiến Nhan nhờn quá, tuy nhiên hôm nay sao nàng lại đói bụng tợn thế không biết, nên nàng nhắm mắt mà nuốt, và nghe ngon.

Vừa ăn, dì Chín vừa nói với mụ bán cơm:

- Tôi chỉ ăn đây ngày chót thôi.

- Dời nhà đi xóm khác sao ?

- Không, bắt đầu từ ngày mai, cháu tôi nấu lấy, ở nhà.

- Ra tôi mất mối ?

Dì chín cười hề hề mà rằng:

- Chỉ mất một lúc thôi rồi nó sẽ đi làm và tôi lại trở về với bồ.

- Đi làm ở đâu ?

- Ở hãng dầu. Nó đánh máy giỏi lắm, cậu nó làm ở hãng dầu, nhắn nó lên vì có chỗ làm cho nó.

- Giỏi. Vài bữa nữa là lên cô rồi.

- Và biết đâu lại không lên bà.

Dì Chín nói pha trò câu nầy xong thì cười ha hả, má của dì, ngực của dì, bụng của dì đều rung rinh.

- Ừ, cô ấy xinh đẹp như vậy thì có đường lên bà lắm đa nghen.

Cả hai mụ mập đều nhìn lại Nhan một lượt khiến nàng xấu hổ không dám ngước lên. Vì chỗ ngồi hanh nắng, vì mắc cỡ nên má nàng ửng hồng lên khiến hai mụ nhìn sững nàng đến một mụ quên ăn, một mụ quên làm.

Ba người khách đàn ông, lơ hay tài xế gì đó không rõ của mấy chiếc cam nhông đậu che quán, vừa ngồi xề xuống và gọi:

- Cơm cà ri má Tư !

- Cơm gà má Tư !

- Cho một dĩa cơm trắng với thịt luộc, mắm thái !

Một anh bỗng thấy Nhan và hỏi:

- Con của má Chín hả má Chín ?

- Ừ.

- Má Chín có rể chưa ?

- Chưa.

- Trời, con mà được má Chín...

- Mười cái bảng mặt của mầy cũng không vói được, đừng có nói tầm bậy.

- Má Chín thách con hả ?

- Ừ, thách đó. Tốt hơn là câm miệng lại, kẻo chổi chà lên đầu bây giờ.

Họ đã ăn xong, dì Chín trả tiền, kéo Nhan đứng lên vừa nói:

- Đi lại đây uống nước sâm cưng.

Hai dì cháu giả vừa băng qua tới bên kia đầu đường Cô Giang thì nghe bên nầy mụ mập cười rộ lên với bọn lơ xe. Dì Chín day lại trợn với họ một cái rồi nói:

- Tụi nó ! Cái thứ hỏng biết thân. Nè dì dặn con, con lấy chồng thầy, chồng ông thì lấy chớ đừng thèm cái tụi nó, không đáng xách dép cho con.

Dì Chín lại chỉ trước mặt:

- Đây là chợ Cầu Muối. Chợ nầy gần nhà mình hơn hết thì ngày mai con đi chợ nầy. Chợ ông Lãnh ở dưới kia, chỗ hai dì cháu mình ăn cơm đó đi xuống một chút, tới mé sông thì gặp chợ.

- Sông gì dì ?

- Thì sông Ông Lãnh chớ còn sông gì. Mà có người lại kêu là rạch Tàu Hủ.

- Còn sông Bến Nghé ở đâu dì ?

- Chắc ở đâu dưới Cần Thơ, dì dốt nát đâu có biết.

Họ ngược đại lộ Nguyên Thái Học và đến một ngã ba đường kia, dơ không thể tưởng tượng được. Đường giống đường mương, nước và bùn sình ngập tới mắt cá, trên vỉa hè rác lên tới bụng và xe cam nhông với lại xe ba bánh đậu chật cả lối đi.

Dì Chín quẹo tay trái vào con đường bẩn thỉu ấy và cắt nghĩa:

- Đây cũng còn thuộc chợ Cầu Muối nhưng mép nầy là vựa trái cây và vựa la ghim.

Họ đi một đỗi qua khỏi cảnh bùn lầy nước đọng ấy rồi tới một ngã tư, đi khỏi ngã tư đó nữa thì đến trước một dãy nhà tuy cất dựa đường lớn mà lụp xụp như trong xóm nghèo.

Nhiều ngõ hẻm chen giữa dãy nhà ấy mà trổ ra đường lớn. Dì Chín đưa Nhan vào ngõ hẻm thứ ba, qua nhiều căn nhà lụp xụp nữa, rồi không còn ngõ hẻm hay nói cho đúng, không còn ngõ đất. Ngõ vẫn tiếp tục nhưng trên ván sàn dưới ấy là ao vũng gì Nhan chưa rõ được.

Nhà Dì Chín cất giống hệt bao nhiêu nhà khác, tức chỉ rộng lối hai thước năm và sâu sáu thước, kể cả nhà bếp. Vách ván, lợp lá.

Nền nhà cũng lót ván vì đây là nhà sàn. Giữa nhà trên và nhà bếp không có sân trong, tức là cái sàn nước lộ thiên hẹp để ánh sáng lọt vào, thành thử trong nhà tối như ban đêm, nấu cơm phải thắp đèn giữa trưa.

Bốn thước sâu nhà trên của dì Chín ngăn ra làm hai buồng, buồng ngoài lót một bộ ván mỏng, buồng trong một cái chõng tre, buồng trong là buồng ngủ của chủ nhà.

Dì Chín sắp đặt:

- Con là con gái, cần chỗ kín đáo, vậy dì nhường buồng dì cho con, dì ở phía ngoài.

Rồi dì Chín đưa Nhan xuống bếp. Dì có sắm đủ cả vật dụng cần thiết để nấu như là dao, thớt, son, chảo.

- Lát nữa đây dì dẫn con đi tiệm mua gạo, mua nước mắm, mua muối, mỡ, hành, tiêu v.v. Bây giờ, đánh một giấc cái đã.

Dì Chín nói xong trở ra buồng ngoài. Dì mới ngả lưng xuống ván đã ngáy khò khò rồi.

Nhan vào buồng mà chủ nhà đã nhường cho nàng. Buồng tối đen, không trông thấy gì cả, chỉ nghe muỗi kêu vo vo như sáo thổi. Nàng phải chạy xuống nhà bếp để thắp cây đèn dầu thoáng thấy dưới ấy khi nãy. Nhưng vừa bước ra khỏi cửa buồng, Nhan chợt nhận ra buồng có mắc đèn điện vì cái công tắc bằng sứ trắng được gắn trên khung cửa buồng nầy.

Nàng vói tay vặn đèn và bóng tối bỗng tiêu tan mất cả, để lộ ra cô độc một chõng tre trơ trẻn. Trên vách máng vài chiếc áo, vài cái quần, chỉ có thế thôi.

Nhan ngồi bó gối trên chõng, soát lại tình thế và ý nghĩa của cuộc phiêu lưu nhỏ của nàng. Chỉ có chuyến đi nầy, nàng mới chợt thấy là Saigon to quá, mà địa vị của nàng trong đô thị minh mông ấy nhỏ mọn quá, không biết làm thế nào mà tìm cha được.

Nhưng đã trót phiêu lưu, nên đi cho trọn con đường. Trở về núi à ? Không thể được.

Trở về nhà chăng ? Nhưng ở đó, nàng vẫn trơ trọi một thân như ở đây, hơn ở đây nữa. Chưa chắc nàng sẽ gặp được một dì Chín như thế nầy với một nếp chòi cho nàng dung thân !

Ngồi buồn một lát, Nhan tắt đèn rồi bước ra ngoài. Nền nhà và ngõ ván cùng một mực với nhau, có thể nói ngõ đi luôn vào nhà, nhà đi luôn ra ngõ.

Ngõ hẹp lắm và mặt trời qua buổi đứng bóng độ nửa tiếng đồng hồ là không còn rọi được vào đó nữa. Thành thử ngõ là nơi trốn rất lý tưởng, một ngày có bóng mát hơn mười tiếng đồng hồ và lại không gió nữa.

Người trong xóm, ra đó để đi tìm một chút thoáng khí, ngồi la liệt đó đây, trẻ con bò từ đầu ngõ đến cuối ngõ trông như họ ở cùng một nhà với nhau.

Trước cửa nhà kế cận nhà dì Chín, một người đàn bà trạc tuổi dì Chín nhưng trái nguợc hẳn với dì là ốm tong teo, đang ngồi vá áo.

Thấy Nhan bước ra, bà ta cười rồi đập tay xuống sàn ván nói:

- Lại ngồi đây chơi cô.

Nhan lặng lẽ bước ngang hai bước là tới nơi rồi ngồi xuống cái nơi mà bà láng giềng đã định.

- Cô là gì của chị Chín ?

- Dạ cháu.

- Cháu ruột hả ?

Nhan xác nhận điều đó mà không do dự vì nàng thấy nói thật hay nói láo cũng chẳng có gì quan trọng đáng kể.

- Cháu kêu bằng … ?

- Dì.

- Ở dưới không yên hả ?

- Dạ không yên.

Trò chuyện qua lại một hơi, Nhan được biết rằng xóm nầy gọi là xóm Láp Bê cất trên một đám đất trủng rộng lớn minh mông, trong một xóm nhà nào cũng cất trên trụ cây cả.

Một đứa bé bò tới trước mặt nàng, nhìn nàng một hơi rồi tín nhiệm, nó bò vào lòng nàng.

Nó dơ không thể tưởng tượng được và đầu nó bị sài ăn thấy mà bắt nôn. Nhưng Nhan không thể không tiếp đón xứng đáng người bạn đầu tiên của nàng nơi xứ lạ.

Chỉ trong vòng có mười phút đồng hồ kể từ lúc nhận người bạn mới, Nhan bị gần hai mươi đứa trẻ vây lấy, từ đứa mới biết bò đến đứa đi lững chững và đứa đã biết chạy nhảy.

° ° °

Dì Chín trông không hiền nhưng cũng không có vẻ ác. Dì dịu ngọt nhưng Nhan không hoàn toàn tín nhiệm nơi sự dịu ngọt của dì mà nàng lắng nghe, và tế nhận được cái bải buôi cố ý mua chuộc cảm tình.

Suốt năm hôm liền, dì không hề hỏi Nhan một tiếng về dĩ vãng, về gia thế, xứ sở của nàng, tuy thế, Nhan vẫn không vững dạ, luôn luôn đề phòng, sẵn sàng thủ thế.

Qua ngày thứ sáu, ăn cơm tối xong, nhơn trời mưa, dì Chín mới gọi Nhan lại ngồi chung ván với dì rồi nói:

- Dì giúp con, thì con không nên hại dì. Vậy con phải nói cho thật. Con bỏ nhà bỏ xứ ra đi như vầy sẽ có ai thưa kiện gì con hay không ?

Nhan chưng hửng hỏi lại:

- Thưa dì, con không hiểu dì muốn nói gì.

- Nghĩa là có thể con trốn chồng rồi họ tức giận đi cáo gian con. Dì nói cáo gian vì hôm ấy con đã không có gì khả nghi hoặc đáng giá trong mình con hết. Như vậy, mà họ có đầu cáo thì chỉ là cáo gian thôi. Dầu sao con cũng sẽ bị chuyện lôi thôi và dì cũng sẽ bị họ làm khó dễ vì chứa con.

- Thưa dì, dì khỏi phải lo điều ấy. Quả thật con chưa có chồng lần nào.

Quan sát Nhan thật kỹ, mấy ngày rày, dì Chín phải tự nhận với dì rằng Nhan thật thà và chơn thật. Như thế, có thể tin nàng được ở điểm nầy.

Như vậy thì chỉ còn một giả thuyết nữa về nàng thôi, giả thuyết cắt nghĩa thật ổn sự đi trốn của nàng. Phải, dì biết chắc rằng Nhan đã trốn xứ mình mà đi, chớ không đứa con gái nào lại đi tìm sinh kế một cách liều lĩnh, không ai dẫn đường như vậy.

Giả thuyết đó là Nhan bị ép duyên. Nếu giả thuyết ấy đúng - mà có thể là nó đúng - thì Nhan sẽ không bao giờ dám trở về với cha mẹ nữa, ít lắm cũng trong năm năm đầu. Thế thì kẻ như nàng không có người thân, không được ai bảo vệ cho cả.

Dì Chín đã yên dạ được điểm ấy. Dì mà có gả bán Nhan cho ai thì dì chỉ lo Nhan phản đối thôi chớ khỏi phải sợ người thân của nó.

Còn một điềm cuối cùng rất quan trọng là giá cả gả bán đứa cháu nuôi nầy. Nếu nó còn con gái, dì sẽ gả nó lối khác với giá con gái, bằng như mà nó đã thành đàn bà rồi thì lại có khác giá khác nữa.

Dì Chín thường ngắm cái tướng đi, cái điệu đứng của Nhau, không phải để thưởng thức nhan sắc của nàng mà dì đã nhận thấy ngay lúc mới gặp nàng bơ vơ đằng ngã sáu Quẹt Đon.

Dì ngắm Nhan để xem nàng có phải là trinh nữ hay không. Trong giới nghề cũ của dì, người ta tỏ ra thành thạo về vấn đề nầy lắm và họ có cả lô phương pháp để thử.

Chẳng hạn như phương pháp đo cần cổ bằng một sợi dây nhợ. Họ làm một cái vòng rộng bằng hai viền chu của cổ cô gái cần thử, rồi yêu cầu cô gái ấy cắn vào một điểm ở vòng dây ấy, đoạn tròng vòng dây qua đầu cô gái. Nếu vòng dây qua lọt thì họ bảo rằng cô gái đã mất tân.

Và chẳng hạn như cái phương pháp rắc rối nầy là họ nuôi con thằn lằn loại da thịt trắng trong, nuôi bằng hồng đơn. Đúng ngày mồng năm tháng năm, họ thích huyết con thằn lằn ấy rồi lấy hưyết đó bôi lên cổ tay cô gái mà họ muốn biết bí mật cơ thể, hễ máu thằn lằn dính khắn lên cổ tay của thiếu nữ là thiếu nữ còn trinh, bằng như rửa nó trôi mất thì …

Dì Chín không tin những trò dị đoan ấy lắm và chỉ còn căn cứ vào lối nghiên cứu sự nở nang của cô gái để đoán ra sự thật thôi. Nhưng dì cũng không tín nhiệm cho lắm vào cái khoa nầy, nó đã làm cho dì leo cây rất nhiều bận.

Đừng có tưởng cứ hễ lép là con gái còn tân và đứa nào nở nang quá sức là hư hèn rồi đâu. Sự thật lắm khi trái ngược lại khiến ai cũng điên đầu.

Ngắm mãi đứa cháu nuôi từ ngày nầy qua ngày khác, dì Chín đành lắc đầu chịu bí.

Phải chi dì là con trai, dì yêu Nhan lắm, và có cưới lầm một cô Nhan đã mất tân, dì sẽ không tha thiết gì mà cũng chẳng bị ai rầy rà.

Cái nầy dì gả nó cho người ta và phải nạp giấy bảo đảm chắc chắn thì không thể nói ẩu được nếu dì không chắc mười bó một giạ.

Lắm khi dì Chín nói tục để rình phản ứng của Nhan. Nhan đã hổ ngươi đỏ mặt tía tai thật đó, nhưng điều ấy cũng không chứng tỏ một trăm phần trăm rằng nó còn là trinh nữ. Lắm đứa lộn chồng ba kiếp rồi là vẫn còn mắc cỡ như thường, lại lắm đứa giả dối tuyệt diệu đáng bực thầy của người lớn nữa, chúng nó đã là kẻ chán chường rồi là vẫn đóng trò hổ ngươi rất khá.

Dì Chín thấy là phải còn lâu lắm dì mới khám phá ra bí mật của Nhan và chừng ấy dì mới quyết định được. Trong khi chờ đợi, dì cứ tiếp tục bán vé số như thường.

Ba đám đất kiếm ăn của dì Chín là bến Nguyễn Cư Trinh, bến Phan văn Hùm và bến An Đông, nhưng giờ dì đổi đất săm, đi bán ở các vùng sang trọng, không hy vọng bán được hơn, còn trái lại nữa, nhưng với ý định bắt liên lạc lại với những kẻ mà ngày trước thường lui tới nhà dì, một ngôi nhà khá giả ở lối đầu đương Phan Đình Phùng gần khu đài phát thanh.

Sáng hôm ấy, thả rều trên vỉa hè Nguyễn Huệ sau các hàng hoa, dì Chín thình lình nghe gọi:

- Ê bà chủ mạnh giỏi ?

Day lại, dì nhận ra đó là một người đàn ông trạc băm sáu băm bảy tuổi, làm nghề gì, tên họ gì dì không hề biết mặc dầu đã quen với nhau nhiều và lâu lắm. Dì chỉ quen gọi hắn là ông chủ nhà in thôi, theo lời tự xưng của hắn.

- Nhớ tôi không ? Hắn hỏi.

- Thưa nhớ chớ sao không. Ông cũng mạnh giỏi ?

- Như thường. Sao đôn rày coi bộ bà chủ xuống phong độ ?

Dì Chín lắc đầu:

- Giải nghệ rồi, nghèo quá.

- Vậy hả ! Giải nghệ thiệt chớ ?

- Sao không thiệt.

- Vĩnh viễn chớ ?

- Giải nghệ đến muôn năm.

- Như vậy thì hết vui rồi.

- Nhưng tôi lại vui. Giờ tôi sống được với gia đình, với con cháu tôi, chớ không phải bắt buộc chúng nó ở riêng như trước nữa

- À, cái đó thì thú… cho bà, riêng cho bà thôi, bà có đông con cháu lắm không ?

- Chỉ cỏ một ngoe thôi.

- Gái hay trai ? Có vợ con gì chưa ?

- Cháu chớ không phải con. Cháu gái. Chưa chồng. Nó đẹp kinh hồn, tôi đang đi tìm người để gả đây.

Ông chủ nhà in ngầm biết danh từ "cháu gái" của bà mập nầy, nó có nghĩa là một thiếu nữ còn nguyên trinh đã nạp mình cho bà ta để bà ta nạp lại cho người khác.

Hắn cười hề hề nói:

- Cái đó thì bà phải tìm các chú ba trong Chợ Lớn mà gả, chớ còn bọn Việt Nam chúng tôi không ưa lắm ; hay có ưa cũng tiếc tiền.

- Tùy người chớ, ông nói "bọn Việt Nam" thì không trúng rồi đa.

- Thôi chào bà chủ. Ngỡ bà có em, chớ cháu thì xin tha cho vậy.

° ° °

Dì Chín đi tuốt xuống bếp để rửa mặt thì thấy bếp lạnh tanh, mặc dầu bây giờ đã đứng ngọ rồi.

Ý nghĩ đầu tiên của dì là Nhan đã cuốn gói trốn đi rồi.

Trong mấy mươi năm trường, bà mập chỉ sống trong không khí cuốn gói trốn đi, sống với những người cuốn gói trốn đi mà bà chứa chấp, vì cảm tình đồng cảnh, bởi chính bà ta cũng là một kẻ cuốn gói trốn đi, và nhứt là chứa chấp họ vì đó là những người mà bà ta lợi dụng được. Vì thế mà bà mà nghĩ ngay tới chuyện đó trước hơn giả thuyết nào khác.

Mụ mập cứ bình tĩnh rửa mặt như thường vì nhà mụ không có gì để mà sợ bị mất cắp. Tiền bạc vàng vòng dì thủ cả trong mình dì, chỉ để nhà vài bộ quần áo thôi.

Bình tĩnh nhưng không khỏi băn khoăn: "Tại sao nó lại trốn kìa ? Nó không mắc mình món nợ vật chất và tinh thần nào cho đáng mà mình cũng không cấm đoán nó ra đi !"

Bà không cấm Nhan ra đi, mà Nhan cũng chưa biết sự độc hiểm bàn tay bà đến thế nào mà nàng trốn đi thì khó hiểu thật.

Bà bước lên, mở đèn và dòm vào thì thấy Nhan đang chổng khu, ôm gối cố cắn răng cho tiếng kêu đau của nàng không lọt ra ngoài.

- Con đau bụng phải không ?

- Không dì à. Nhan rên hừ hừ mà đáp rất yếu đuối. Không phải phá bụng.

- Chắc con bị sán lãi.

- Cũng không phải nữa.

Bà mập đâm nghi: "Hay là Nhan uống thuốc phá thai ? Ừ, biết đâu là nó có chửa hoang và trốn nhà vì thế ?".

Bà thừ người ra. Nếu như thế thì rồi. Phải đưa nó đi nhà thương ngay, kẻo nó chết trong nhà mà mang họa.

- Con nè, để dì kêu xe chở con đi thà thương Tư Dũ nhé ?

- Không, con không sao đâu dì.

- Chớ con đau làm sao dì không biết thuốc men gì hết, dì lo quá. Dì hỏi thiệt con con có uống thuốc cây hay không ?

"Thuốc cây" là danh từ xưa của một loại thuốc trụy thai rất được xử dụng. Bà mập không biết rằng loại thuốc ấy không còn lưu hành trên thị trường nữa từ mấy mươi năm nay rồi.

- Không dì à. Nhan không hiểu rõ lắm nhưng đáp thế vì quả thật nàng không có uống thuốc gì cả.

- Chớ con đau làm sao ?

- Con đau ở dưới đì.

Bà Mập dường như bắt đầu hiểu, bà thở ra nhẹ nhõm và hỏi:

- Có phải mỗi tháng đau một lần hay không con ?

- Dạ, phải.

- Trời, ngỡ gì. Làm dì hết cả hồn vía.

Bà Mập chợt nhận ra đó chỉ là chứg "đau bụng máu" chớ không có gì lạ, chứng bịnh mà theo y học khoa học nguyên nhơn là kinh kỳ khó khăn.

- Như vậy thì dễ lắm, để dì mua thuốc cho con.

Bà Mập nó xong đi ra hiệu thuốc Bắc ở đằng đường Đề Thám. Bà mua hai thứ thuốc, một viên thuốc trị đúng chứng bịnh của Nhan và một viên thuốc tể bổ thường.

Về nhà, dì rót một tách nước đem vào buồng rồi giải thích cho đứa cháu nuôi nghe:

- Dì mua hai thứ, một thứ uống vô thì hết cấp kỳ, một thứ công hiệu rất chậm. Sự chọn lựa của con phải thận trọng, nếu không thì hại tới tánh mạng con liền.

Thứ thuốc công hiệu lạ, nếu con không còn con gái, con uống vô thì một giờ đồng hồ sau con sẽ vật mình vật mẫy rất đau đớn rồi trào máu mà chết, không phương cứu chữa. Vậy con phải liệu lấy, đừng có ham mau khỏi mà nguy.

Hai viên thuốc nằm trên bàn tay dì, viên thuốc tể bổ to bằng hai viên thuốc trị bịnh.

Nhan rên hừ hừ ráng lồm cồm ngồi dậy để chọn thuốc. Nàng hỏi:

- Thuốc nào mau hết đâu dì !

Bà mập chỉ viên thuốc bổ, nhưng hỏi:

- Con biết thế nào là còn "con gái" chớ ?

- Dạ biết.

- Con nghe rõ dì nói về sự nguy hiểm không phương cứu chữa chớ ?

- Dạ nghe.

- Vậy phải thận trọng. Chết ngay chớ không nói quá đâu. Đừng có ham hết đau liền.

- Dạ con biết.

Nhan đưa bàn tay run rẩy ra lượm lấy viên thuốc bổ, bà mập lại gặn đục lóng trong:

- Con liệu lấy, dì lo sợ quá.

- Không sao đâu dì. Con còn con gái.

Nói xong nàng lũm viên thuốc bổ rồi ực một ngụm nước trà nguội.

Bà mập đã biết được chắc chắn một trăm phần trăm điều gì mà bà muốn biết. Thì ra bà đang nắm trong tay một món hàng quí giá mà từ năm giải nghệ đến giờ bà không có dịp buôn bán nữa.

Buôn thứ hàng nầy lời lắm và lời một cách khỏe ru bà rù, lời bằng ba tháng dãi nắng dầm mưa đi bán từng tấm giấy sồ.

Còn một viên thuốc, để chẳng làm gì, và bà cũng muốn Nhan khỏi bịnh, bà nói:

- Nếu như vậy thì con uống viên thuốc thứ nhì nầy được. Uống hai thứ nó mau hết hơn.

Nhan nghe lời và uống món thuốc trị bịnh thật tình.

Mãi cho đến xế, Nhan mới khỏi. Thuốc không công hiệu về phương diện khỏi đau, nhưng nó phá đường kinh và vì thế mà kết quả cũng được như ý muốn.

Kể từ hôm đó, dì Chín cưng Nhan hơn trưởc nhiều lắm. Thỉnh thoảng dì đưa Nhan đi coi cải lương để Nhan có dịp thấy và thèm sự xa hoa, hào nhoáng của phụ nữ ở thành phố.

Dì hay chỉ những cô gái đẹp mà nói:

- Dì tiếc là dì nghèo, không "dọn" cho con được. Con mà có áo quần đẹp, có nữ trang vào mình thì dì dám chắp cả mấy trăm ngàn đứa con gái ở Sàigòn nầy, không đứa nào sánh kịp con hết.

Dì lại hay chỉ những đôi vợ chồng hay đôi tình nhơn son trẻ ngồi xe hơi:

- Nhan sắc của con đáng được hưởng địa vị của cái con ngồi xe hơi Huê kỳ kia, con thấy chớ ? Con đẹp gấp một trăm lần mà cứ đi bộ và bận đồ rách mãi, dì tức lắm.

Thỉnh thoảng, vào những chiều mà Nhan không phải làm lụng nấu nướng gì cho lắm, dì Chín dẫn Nhan đi theo để triển lãm nàng ở những nơi mà dì bắt liên lạc với những khách hàng cũ của dì.

Nhan cũng thích được dắt theo vì đó cũng là một lối đi tìm cha và luôn tiện xem thành phố mà góc nào cũng còn mới lạ đối với nàng cả.

Nhan chỉ biết tìm cha như thế thôi, cả những lúc đi một mình. Nàng đi mua ăn ở rất nhiều chợ: chợ Thi Bình, chợ Bến Thành, chợ Năng Xi, chợ Ông Lãnh, chợ Cầu Muối, cốt để dòm ngó nghe ngóng chớ không biết làm sao hơn để truy cho ra tung tích ông Tám Huỳnh.

Thấy công việc nàng đeo đuổi rất ít hy vọng, Nhan không nản chí, cũng chẳng ân hận đã xuống đây. Nếu ở trên ấy nàng cũng chẳng bước hơn được bước nào, còn chưa rõ đói no là khác. Ở trên ấy, chắc nàng không đủ can đảm đi ở mướn như thế nầy đâu.

Dì Chín gợi thèm cho Nhan khao khát những sung sướng vật chất mà những cô gái đẹp được hưởng, thương xót nàng, tiếc cho thân phận không may của nàng rồi nói:

- Nhưng biết đâu được. Con trai hễ nghèo khổ thì nghèo khổ hoài, nhưng con gái đẹp thì khác. Tụi bây làm quan rất dễ dàng lắm, có đứa sớm mai còn gánh nước mướn, chiều lại đã ở vi la lầu rồi. Tùy cái phước riêng của mỗi đứa.

Đẹp như con thì lên bà không dám cầm chắc trong tay, chớ làm cô thông ký thì dễ ợt, muốn làm bất kỳ giờ phút nào cũng được.

Đó rồi dì mập kể ra một dọc bản danh sách thật dài của những cô Xưân, cô Thu, cô Sương, cô Thúy nào đó, cô làm thầu khoán, cô làm vợ "còm mi", cô lên bà chủ hiệu kim hoàn, cô làm chủ rạp hát bóng.

Bà mập bước rất từ từ chớ không vội vàng. Ba mươi năm kinh nghiệm của dì dạy cho dì rất sành thuật xem người và biết người. Nhan thuộc vào hạng gái "khó xài", kiên thủ thành trì đến mức cuối cùng.

Nhưng mức cuối cùng ấy vẫn có và lắm thiếu nữ cùng tác phong với Nhan mà rốt cuộc vẫn mở cửa thành qui thuận nếu dì tấn công đúng chiến pháp.

Quá ba mươi ngày giúp việc bếp núc cho dì mập, hôm ấy dì mập cầm một trăm bạc đưa cho Nhan, mếu máo mà rằng:

- Đưa số tiền nhỏ mọn nầy cho con, dì xấu hổ quá, và thương con đứt ruột. Ai lại xinh đẹp như tiên lại phải chịu cảnh lam lũ nầy. Người như con, phải ở nhà lầu, phải đi xe hơi, hô một tiếng là chẳng những bảy tám đứa tôi tớ dạ răn rắc mà thôi, mà cho đến cả cái người đàn ông biết trọng hoa quí ngọc cũng phải chạy tới quì dưới chơn con.

Con nè ! Hay là để dì gả con lấy chồng ? Dì biết một thầy, khá lắm, lương tháng mười mấy ngàn… Nhưng con đừng lo dì gả bắt rể, con vẫn ở đây với dì hoài. Dì ra giá nó phải cưới con ít lắm là hai chục ngàn, số tiền ấy, dì đưa hết cho con, không thâm lạm đồng xu nhỏ, xu lớn nào hết, cho đỡ cực cái thân con con nhé ?

- Con đội ơn dì lắm, nhưng không thể được dì à !

Nhan thật thà không hiểu vỡ nghĩa của câu "dì gả bắt rể, con ở đây với dì hoài... hai chục ngàn dì đưa hết cho con" nên thật tình nàng cám ơn bà già nầy lắm.

- Sao vậy con ?

- Vì con đã thề nặng là không lấy chồng.

Dì mập phá lên cười. Cả má, cả ngực, cả bụng dì đều rung rinh mà cho đến sàn nhà cũng rung rinh nữa. Dì hiểu rằng cô bé nầy đã thất vọng vì mối tình đầu trong sạch và nguyện ở vậy trọn đời, cái lối ngưyện của con nít, đứa nào thề xong cũng tin chắc rằng mình giữ được lời thề, nhưng lụi hụi rồi đứa nào cũng yêu thằng khác cả, có đứa sầu tình không quá ba tháng.

Cười xong, dì đi ngồi lê đôi mách, bụng quyết định lắm với con bé này, dì phải dùng thủ đoạn mới được chớ không thể ngon ngọt với nó.

° ° °

Ra khỏi "ba", Công đã ngà ngà say. Nhưng chàng không muốn về. Đêm nay xui xẻo quá, đi chơi không gặp đứa nào hết, say một mình thật không thú vị gì cả.

Từ ngày được thuyên chuyển về Sài gòn, người thanh niên gương mẫu nầy đổi đời ra mà hư thân mất nết cho đến lắm lúc hồi tỉnh lại trong những giờ sáng suốt ngắn ngủi, chàng phải đâm hoảng cho tương lai chàng, đâm ngượng với lương tâm mình, đâm nhờm chính bản thân mình.

Ảnh hưởng của một đô thị lớn, rất nhỏ trong sự thay đổi nếp sống của chàng. Khi con người ta vững tinh thần thì không gì lung lạc được.

Nhưng Công không còn vững tinh thần nữa. Cuộc đời của chàng, chàng thấy nó vô vị, trống không.

Chàng tìm lãng quên trong trác táng và không đêm nào chàng về nhà trước hai giờ khuya.

Người thanh niên mất hướng nầy đứng ngơ ngác và phân vân một hơi trước quán rượu, đoạn gọi tắc xi để đi đến một quán giản khát có ca nhạc mong tìm bạn cho qua hết nửa đêm nay như vào những đêm khác.

Và quả nơi đó chàng gặp bạn thật, hai thằng bạn trời ơi của chàng, chúng nó ở giới khác, giới thương mại, nhưng quen thân với chàng nhờ cả ba đều là dân trác táng.

Công ngạc nhiên hết sức mà thấy tước mặt hai đứa, hai chai Co ca Co la. Chàng nhừa nhựa hỏi:

- Đêm nay tụi bây tu cái gì ?

- Cần dưỡng trí, dưỡng sự sáng suốt để lát nữa lên cảnh tiên.

- Vậy à ? Nhưng tao không sáng suốt trí não mà cũng đã lên tiên rồi, lên tiên chính trong cảnh ngây ngất của tao đây.

Nói xong chàng gọi ly coan trô để lên cao thêm trên non tiên riêng của chàng.

Cái gã trả lời với Công rằng sở dĩ hắn không uống rượu đêm nay để được sáng suốt tâm trí hầu lên tiên, gã ấy tên là Được.

Được hất hàm lên bục nhạc hỏi Công:

- Tao đố mầy nàng vừa ca xong và nàng mới ra nầy, nàng nào hấp dẫn hơn ?

- Nàng nào à ? Tao thì tao thấy ai như nấy.

- Vậy à, sao mà kỳ lạ thế ? Họa chăng là mầy say, thấy một hóa hai.

- Một hóa mười hay hóa trăm cũng thế thôi. Tao nhìn thấy tất cả phụ nữ dưới trần nầy không chỉ thấy có một người, chỉ thấy có một gương mặt…

- … Của người lý tưởng của mầy ?

- Ừ !

- Như vậy mầy đến đây mà làm quái gì ? Sao không đi theo nàng của mầy có hơn không.

- Nàng của tao ấy à ? Nàng của tao đã đi mất rồi.

- Và mầy sầu tình ?

- Ừ !

- Đồ ngốc.

- Có lẽ, nhưng tao không biết làm sao hơn được.

- Nàng nầy đi thì tìm nàng khác chớ ai lại có hiếu mãi với một nàng như mầy.

- Tao có thể tìm nàng khác, nhưng không quên được nàng ấy thì biết làm sao.

- Tại mầy chưa gặp người vừa mắt đó thôi. Mầy ở đây và đừng có uống nhiều quá, để tỉnh trí rồi lát nữa theo tao…

- Lên tiên à ?

- Ừ.

- Tao nhờm những cảnh tiên ô trọc của mầy lắm !

- Không phải như mọi lần đâu. Làn nầy tao đi thăm một bà mần ăn mà.

- Mần ăn mà có nuôi tiên ?

- Không, cháu ruột của bả. Bả gả cho tao. Có hẹn đêm nay cho rước dâu.

Công cười khà:

- Mầy có mở phòng nhì sao mà rước dâu ?

- Nói cho đúng ra là bả bắt rể.

- Mầy cưới nàng bằng một trăm con trâu hả ?

Được và bạn của hắn không hiểu vụ một trăm con trâu nên phá lên cười. Hắn nói:

- Nó say quá rồi !

- Tao đâu có say.

- Không say sao đem trâu vô quán nầy mà làm gì ?

- À, tao nhớ lại một vụ cưới vợ bằng trâu, nạp lễ cưới và rước dâu giữa đêm tối.

- Thằng nầy say quá sức say rồi đây.

- Say sao lại biết liên lạc hai trường hợp, trường hợp tao thấy và trường hợp mầy khoe.

- Mầy thấy thật à ? Thấy ở đâu ?

- Xa lắm.

- Nhưng nếu quả có, cũng khác chuyện của tao. Chuyện của mầy là rước dâu, chuyện của tao là bắt rể.

- Cô dâu trong truyện của tao bị rước về địa phủ.

- Trời, sao ghê thế ?

- Nàng sa chân vào Trảng Sụp.

- Còn cô dâu của tao thì không chết, mặc dầu cũng sa chân vào Trảng Sụp.

- Ở Sài gòn nầy mà có Trảng Sụp à ?

- Sao lại không, không có mà rất nhiều cô đã sụp xuống bùn.

- Lạ quá !

- Không có gì là lạ hết.

- Tao cưới nó để làm chồng nó trong hai tuần thôi. Thế là đi đời nó rồi.

- Mầy tàn nhẫn quá sức.

- Kể ra cũng chẳng thua thiệt gì. Tao không có một trăm con trâu, nhưng cũng phải tốn đến băm lăm ngàn. Nó đẹp kinh hồn.

Công đã say thật sự. Tửu lực của chàng rất kém nên mới uống có mấy ly đằng kia và một ly ở đây, chàng đã chìm trong cảnh không phân biệt trời đất nữa.

Một thiếu nữ mà Được gọi từ lâu nhưng bận chạy bàn từ nãy giờ, bây giờ mới xề lại ngồi với họ.

Công cầm tay cô ả và hỏi:

- Trảng Sụp có sâu lắm hay không em ?

Cô gái cười khanh khách và nhìn hai người tỉnh và hỏi:

- Sao mới có một ly mà anh nầy lại...

- Ấy, nó sầu tình chớ không phải say đâu.

Bỗng đèn màu tắt phụt xuống và đèn trắng bừng sáng lên. Cô gái hoảng hốt giựt tay lại nói:

- Ông cò vô ! Say nhiều hay say ít, anh cũng rán mà đứng đắn, kẻo nguy cho tụi nầy.

Công nhựa nhựa hỏi:

- Ông cò vô à ? Vô để bắt thằng Thạch Pôul hả ! Anh đã bắn nó chết rồi. Còn em thì anh cứu em ra khỏi chốn nầy, sợ gì, anh bồ với ông cò mà.

Cả bọn cười ngã nghiêng mặc dầu đèn trắng cháy lên là ám hiệu có cảnh sát hay kiểm tục vào đây hay ít lắm cũng đang đi qua trước cửa quán, khiến cô gái bối rối cố lập nghiêm nhưng không được trước những lời nói điên của người khách say.

Được xem lại đồng hồ tay rồi hoảng hốt nói:

- Á chết, đã tới giờ hẹn rồi !

Trong khi hắn trả tiền thì đèn trắng lại tắt và đèn màu lại soi mờ phòng ca nhạc như trước.

Công lại cầm tay cô gái và nói:

- Mong ba gom tiền bán trâu rồi giải nghệ.

Cô gái nghẻo đầu mà cười, nhưng Được đã nắm tay Công kéo lên và nói:

- Đi mầy !

- Đi đâu ?

- Đi Trảng Sụp.

- A… ha... ừ, đi Trảng Sụp vào lúc nửa đêm. Nửa đêm...Trảng Sụp... ha... ha… ha...

Người say để bạn lôi đi, không còn biết phải trái gì nữa cả.

- Ha… ha… ha... nửa đêm... Trảng Sụp... !

Công la hét và cười đùa trên xe của Được mãi cho đến khi xe đỗ trước xóm Láp Bê, Được bịt mồm chàng, chàng mới nín.

- Nè ! Im nghe không, làm ồn thì chết.

- Sao lại chết ?

- Lính bắt chớ sao.

Công yếu đuối tinh thần, không suy luận được, nghe nói "lính bắt" cũng hoảng lên câm mồm lại.

Thằng bạn kia đã chia tay với họ trước quán ca nhạc, nên Được dìu bạn một mình, tiến vào ngõ hẻm ván của bà Mập.

Xóm lao động ngủ yên, ngõ tối hù, Được phải đánh diêm lên mấy lần để soi nẻo.

Tới trước nhà bà Mập, hắn dừng lại, ngắm nghía rất lâu cho chắc ý rồi gõ cửa. Cửa mở lên, bà Mập hỏi:

- Sao lại hai người ?

- Bạn của tôi. Không sao đâu, nó ngồi ngoài.

Họ vào nhà. Được thấy đèn dầu phàn nàn:

- Sao dì nói có đèn điện ?

- Có nhưng vách ván, không nên để hai bên thấy. Vả ông xem mặt nó mấy lần rồi kia mà.

- Thôi được. Đưa tôi vào trong.

Được vừa nhận Công ngồi lên ván của chủ nhà, vừa đòi hỏi như vậy.

- Nhưng tiền ?

- À quên. Đây đủ băm lăm ngàn. Sở dĩ tôi đem bạn theo là tại dì đòi tiền trước. Nếu không y nước nhứt như lời dì khoe, tôi hô lên một tràng thì thằng nầy sẽ chận họng dì mà lấy tiền lại dì biết chưa ?

- Bảo đảm mà ! Khéo lo xa thì thôi.

Bà Mập đưa Được vào buồng trong, cũng thắp đèn dầu như buồng ngoài. Chõng tre không buông màng Nhan đang mở mắt trao tráo.

Anh chàng trác táng nhìn lại thì đúng là cô gái mà hắn đã coi mắt. Nhưng sao nàng mở mắt mà mặt như khờ và thần sắc khác hẳn người thường.

Hắn mỉm cười gọi nhỏ: "Sen !".

Nhan không cựa quậy, chỉ mở tròn xoe đôi mắt kinh sợ cực độ mà nhìn người đàn ông lạ mặt nầy.

- Sao kỳ lạ vậy ? Được hỏi.

- Thuốc đặc biệt. Để nó tỉnh, nó sẽ không chịu đâu. Còn cho nó uống thuốc ngủ, ông mất thích thú, ông lại không bằng lòng.

Được muốn kiếm chuyện, nhưng nghĩ sao không biết, nói:

- Thôi cũng được.

Đoạn hắn gọi nho nhỏ:

- Công ơi vô đây tao chỉ cái nầy.

Công đi ngã xiêu ngã tó, bước vào buồng và nghe bạn hỏi:

- Có xứng đáng là tiên hay không ?

- Để xem nào !

Người say cố nhướng mắt lên nhìn. Kẻ bị đánh thuốc nửa mê nửa tỉnh cứng miệng không kêu được nhưng cầu cứu to lên bằng đôi mắt của nàng.

Anh chàng say nhướng mắt mà nhìn ! Anh ta nhìn, nhìn sửng sốt, rồi ngỡ mình chiêm bao, anh ta đưa tay lên giụi mắt.

Không, anh không chiêm bao, và cô gái nằm trên chõng là Nhan, là kẻ mà anh ngỡ là chết rồi vào lúc nửa đêm nơi Trảng Sụp.

Nửa đêm... Trảng Sụp ! Trời ơi, đây mới thật là Trảng Sụp, Trảng Sụp nằm giữa lòng đô thị và sa chơn vào Trảng nầy thì bùn nhơ không những chôn chặt thân thể nàng mà làm hoen ố cả linh hồn nàng, nó phải còn được trong trắng nơi lòng người.

Công giậm chân lên sàn gỗ một cái rầm khiến nhà cửa rung rinh cả, rồi hét:

- Nhan, sao em tệ thế ! Anh thật không dè !

Mụ Mập kinh sợ đến cực độ và nói:

- Trời ơi, bạn ông làm rùm cả xóm rồi, chết thôi.

- Công, đừng làm điên. Đi ra ngoài nằm một chút là hết say.

Uất hận đầy hông, Công bước tới, điểm mặt Nhan mà nói:

- Thì ra em là một thứ….

Liền khi đó, cơn say của chàng bỗng bay mất. Chàng tỉnh hẳn và tế nhận được tình trạng kỳ lạ nơi Nhan, qua đôi mắt đứng tròng của nàng, chàng bỗng chợt hiểu tất cả .
Thộp ngực mụ Mập, chàng quát:
- Con mẹ nầy, phải cho mầy ở tù mới được. Em của tao mầy biết không?
Mụ Mập mặt không còn một chút máu, lập cập van lơn:
- Tôi lạy ông, tôi lỡ dại, xin ông tha cho tôi.
Day qua nhìn bạn đang đứng chết sững, Công lại hét:
- Còn thằng mắc dịch nầy nữa ! Lái xe đưa tao về nhà không thì chết bây giờ.
Nói xong, Công đỡ xốc cái xác dịu nhỉu lên vai. Hai dòng nước mắt của Nhan từ từ chảy xuống má nàng. Vác cô gái, anh chàng chạy nhanh như chạy đua. Được ríu ríu chạy theo bạn và mở cửa sau xe cho Công đặt Nhan lên.
- Tao nghĩ lại thì nên ghé bịnh viện Đô Thành trước. Tao không biết em tao đã bị đánh thuốc gì.
Xe rồ máy chạy như bay.
Năm 1963
Bình Nguyên Lộc
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...