Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2021

Uống lộn thuốc tiên 1

Uống lộn thuốc tiên 1

"Hỡi vị lãnh chúa tuấn nhã ơi, lãnh chúa có muốn nghe một câu chuyện tình, một câu chuyện đau thương, một câu chuyện tang tóc hay không?"

Đó là câu khai mào mà bọn ca nhạc sĩ lưu diễn bên Âu Châu thời Trung Cổ đã mở đầu bản trường ca "Tích Tăng và Ỷ Sơ" (Tristan et Yseult) mỗi khi họ ghé qua một đền đài nào để kể chuyện cho các tay bá của thời phong kiến Âu Châu nghe.

Người kể câu chuyện dưới đây cho tác giả nghe, cũng đã pha trò mà khai mào y như vậy vì câu chuyện có thật nầy tương tợ chuyện cổ tích Tích Tăng và Ỷ Sơ phần nào. Đây là một câu chuyện tình đau thương nhất thế kỷ, nhưng có chết chóc hay không rồi các bạn sẽ rõ.

Ông Hóa gỡ cặp kiếng giả ra, dụi mắt, mỉm cười và ngước lên hỏi Minh:

- Tại sao thầy cứ nài nỉ tôi mua ngôi nhà ấy ? Nếu không tin cậy thầy nhiều, tôi sẽ nghi là thầy làm trung gian cho bên ấy, để ăn hoa hồng.

Người thư ký của ông chủ cũng cười rồi giải thích:

- Thưa ông, là nhà doanh nghiệp lớn, không lẽ ông quên rằng thời nay trên thế giới, đồng tiền của quốc gia nào cũng cứ càng ngày càng mất giá, thành thử lối để dành tiên vững hơn hết là sắm của.

- Đó là bài học A B C... của khoa kinh tế, tài chánh, nhưng sắm thứ của khác lợi hơn.

- Nhưng ngôi nhà ấy lại rẻ mạt. Ông nghĩ, ba ngàn thước đất giữa trung tâm thành phố, đất khô ráo với vườn hoa - hay nói cho đúng, vườn cây cảnh theo lối Nhựt mà phải mười lăm năm săn sóc nó mới được như thế - với một biệt thự mười hai buồng, kiến trúc tân thời nhứt thủ đô mà giá có ba triệu đồng...

- Giá bán thì có rẻ thật đó, nhưng ta mua xong lại không biết làm gì.

- Ông mua ông ở.

- Trời ơi, nhà nầy có năm buồng mà ra vào chỉ có mình tôi, nếu không có thầy, tôi đã chết vì quạnh hiu, sắm nhà mười hai buồng để mà chết ngộp trong ấy hả !

- Ông cho Huê Kỳ mướn.

- Không lợi đáng kể. Không bằng tôi bỏ số tiền mua nhà vào một vụ làm ăn khác, kín đáo hơn, không phải chịu thuế.

- Ông không mua ngôi nhà đó thì uổng lắm.

- Thôi, bỏ vụ ấy kẻo mất thì giờ.

Viên thư ký trẻ tuổi đâm cáu, xếp mạnh hồ sơ lại, rồi hờn dỗi, hắn ngồi khoanh tay không thèm làm gì cả.

Đó là một thanh niên hai mươi tuổi, đẹp mũ mĩ như con gái và hiền từ như một tu sĩ. Hắn là học trò khó, mồ côi cha mẹ, đăng báo tìm việc và được ông Hóa nhận cho làm thư ký riêng của ông từ hơn một năm nay, cho hắn ở chung nhà, thương yêu hắn như con nên hắn mới có thái độ nói trên.

Ông Hóa là một trong vài ba tay tỉ phú của ta, mướn thư ký giỏi, bao nhiêu một tháng ông mướn cũng nổi cả. Sở dĩ ông chọn tên học trò chưa có kinh nghiệm làm việc nầy là vì hắn gồm được mấy điều kiện sau đây mà các thư ký chuyên nghiệp thiếu hẳn: hắn không có gia đình nên ở mãi cạnh ông được. Thư ký riêng thì các chủ nhơn họ hay cần dùng đến vào những giờ bất ngờ nhứt, lắm khi một giờ trưa, hoặc mười hai giờ đêm họ đưa công việc gấp, bắt phải làm ngay. Điều kiện thứ nhì là chính nhờ hắn không có gia đình và còn trẻ, không giao thiệp với giới làm ăn nào được, nên ông Hóa không phải lo hắn bép xép mà tiết lộ bí mật doanh nghiệp của ông.

Nhưng điều kiện thứ ba mới là điều kiện nồng cốt. Ông Hóa cô đơn quá. Từ ngày bà Hóa qua đời, cách đây mười năm, ông trơ trọi một thân với đống tiền của mà ông không biết làm gì.

Không con cháu, ông không lo của cải không người thừa hưởng bằng sợ sự vắng vẻ quanh ông. Ông chọn Minh vì hắn hiền hậu, dễ thương, ông xem hắn như là một người bạn được. Nơi bàn ăn của ông, ông có một thực khách thường trực, nơi phòng khách của ông, trong những giờ đầu hôm sau bữa cơm tối ông có một kẻ đối thoại giúp ông giết thì giờ.

Ông Hóa ngồi sau bàn viết nhìn căn phòng minh mông nầy mà chán ngán. Phòng rộng đến sáu mươi bốn thước vuông, bốn buồng dưới của ngôi biệt thự nầy đã được phá vách ngăn để biến thành cái phòng rộng nầy, vừa là phòng tiếp khách, phòng ăn và phòng làm việc của ông và của Minh.

Nếu nơi đây vang lên tiếng cười của vài đứa cháu nội, hay cháu ngoại, nổi lên tiếng chạy đùi đụi hay tiếng cãi nhau, đánh nhau của chúng đi nữa, ông có bực mình thật đó, nhưng ông cũng vui dạ phần nào.

Nếu bà Hóa mà còn trên đời nầy, ngồi nghe nhạc đằng kia, thì thỉnh thoảng ông được dịp ngước lên nhìn bà một cái để vững tin rằng đời ông còn có một ý nghĩa gì.

Ngồi ở bàn viết đối diện, cách đó ba thước, thầy Minh đã hết hờn mát. Thầy ta lật tập hồ sơ khác rồi nói:

- Thưa ông, còn các con nợ nữa !

- Ừ, các con nợ rồi sao ?

- Những người thiếu vài trăm ngàn, không đáng kể, nhưng có ông Hoạch, ông ấy thiếu những bốn triệu.

- Ừ.

- Mà hai năm liền, ổng không trả một đồng xu tiền lời.

- Ừ.

Ông Hoạch là bạn doanh thương của ông Hóa. Hai người đã cùng bước ra ngoài đời với hai bàn tay trắng cùng lên với nhau, nhưng mười năm sau nầy, ông Hoạch lại tuột thang, cứ xuống mãi, cho đến đỗi phải bỏ xứ là đi.

- Thưa ông, cứ theo cái định luật tiền bạc càng ngày càng mất giá thì hoá ra con nợ lợi lắm mà các chủ nợ thì thiệt thòi.

- Ừ.

- Như thế ta cần thanh toán vụ lòng thòng nầy.

Bọn thư ký riêng, anh nào, chị nào cũng mắc phải bịnh chung nầy là họ xem họ như là chủ nhơn vì mãi hành động như là chủ nhơn, trả lời điện thoại lắm khi họ xưng "tôi" với kẻ ở bên kia đầu dây để giải quyết những vấn đề của chủ họ; chính họ đã trả lời thơ, bằng văn của họ, ý nghĩ của họ - ý nghĩ mà họ đoán đúng ý nghĩ của chủ họ. Họ được sai đi mua vé hát, chọn tuồng và lựa ghế cho chủ họ, họ mua cà vạt cho chủ họ mà màu sắc phải đúng ý chủ họ, tóm lại đã tự xóa bỏ bản ngã của họ để chui vào cái vỏ của các chủ nhơn, cho đến đỗi ngày kia họ thấy rằng:

"Mình với ta tuy hai mà một.

"Ta với mình tuy một mà hai."

Minh đã dùng đại danh từ "ta" để nói đến kẻ sắp phải hành động. Hắn nói "ta" một cách tự nhiên như của cải của ông Hóa là của cải chung của ông ấy và của hắn.

Ông Hóa cười hỏi:

- Thanh toán bằng cách nào ?

- Ông ấy còn một biệt thự ở Sài Gòn, đang cho thuê lấy lợi.

- Biệt thự ấy đã bị chủ nợ khác chụp bộ, nói cho đúng ra, ông Hoạch đã cầm thế biệt thự để lấy vốn mà tái khởi hành trên đường doanh nghiệp của ông.

- Sao ông không chụp bộ để ổng thế cho người khác ?

- Tôi không nỡ.

- Tôi có theo dõi việc làm ăn của ông Hoạch, hiện giờ ổng thầu nhiều công trình kiến trúc và...

Trên ấy là trên Ban Mê Thuột. Ông Hoạch mang cả vợ con lên cao nguyên từ hai năm nay, một là để gần gũi công việc, hai là có thể sống lụm thụm trong một căn nhà xoàng xoàng mà khỏi sợ giới làm ăn quen biết ở đây dị nghị.

Đang ở biệt thự mà tụt xuống ở phố trệt, thiên hạ còn xem ông ta ra gì.

- Và làm sao ?

- Và ổng sắp nhận chi phiếu thanh toán công việc mà ổng đã hoàn thành hơn nửa năm rồi.

- Rồi sao nữa ?

- Ông có thể xin chụp chi phiếu.

- Tôi cũng không nỡ. Vốn liếng của ổng chỉ còn có bấy nhiêu đó thôi.

Minh lại giận dỗi và nói lớn :

- Như vậy ông nên cho không ông ấy món nợ đó, đã có ơn còn khỏi phải chịu thuế …

Ông Hóa giựt nẩy mình, nhìn trừng trừng viên thư ký trẻ tuổi mà rất thông minh của ông rồi gục gặc đầu:

- Thầy nói mà có lý đó. Tôi phải chịu thuế lợi tức về bốn triệu ấy. Ừ, hủy chỗ nợ ấy còn có ơn hơn.

Thư ký Minh còn nói gì nhiều lắm, nhưng ông chủ không thèm nghe. Ông húy hoáy vẽ lên giấy những hình ảnh ngoằn ngoèo, lại viết ra một chữ mà người lạ trông vào không thể nào hiểu nổi ý nghĩa : "MINH".

Chữ Minh ấy được viết ra hằng trăm lần, bằng đủ kiểu chữ, chữ nằm, chữ đứng, chữ in, chữ kẻ hoa lá, bao trùm hết tờ giấy trắng lớn trải trên bàn trước mặt ông Hóa.

Tại sao ông lại viết tên người thư ký của ông ta ? Ông không thương hắn hơn, không giận hắn hơn, sau câu chuyện nầy. Quả hắn đã tỏ ra khá thông minh thật đó, nhưng ông không thán phục hắn đến đỗi tiềm thức của ông bất giác thần thánh hóa hắn và bộc lộ ra bên ngoài bằng cách viết tên hắn, một hình thức thần tượng.

Minh … Minh … Minh … Minh … Minh … Minh … Minh … Minh …

- Thưa ông ...

Ông Hóa giựt mình ngẩng lên.

- Thưa ông, tôi xin phép tối nay không ăn cơm nhà...

- Ừ.

- Tôi lại xin phép về trễ...

- Ừ.

- Gần nửa đêm tôi mới về.

Ông Hóa mỉm cười, nhìn lại người con trai vừa ra khỏi tuổi dậy thì. Hắn khổ quá vì đời sống vật chất nên từ thuở giờ hắn không có thì giờ mơ mộng. Giờ no cơm ấm áo rồi, hắn bắt đầu thèm nọ kia đây.

Ông cười hiền lành, có chiều thương mến nữa, và hỏi:

- Có hẹn với cô nào ?

Minh mắc cỡ, đỏ ửng cả tai như con gái nhà quê, vội cãi:

- Thưa không, tôi đi xi-nê với bạn. Xong tôi ăn cơm với nó rồi đi trà thất.

- Bạn trai hay bạn gái ?

Minh lại đỏ cả tai:

- Thưa bạn trai, bạn học cũ. Nó đi lính thủy, nay có dịp ghé Sàigòn...

- Cũng hay. Tôi chỉ tò mò chơi vậy thôi chớ Minh có quyền hưởng tuổi xuân, và hưởng tự do. Cái nghề thư ký riêng kể ra cũng khá bực mình.

Nhưng tôi đã bù cho Minh bằng lương cao rồi. Tuy nhiên thỉnh thoảng cũng phải để Minh đi giải trí.

- Dạ, cám ơn ông lắm, nếu ông hiểu cho như vậy.

Ông Hóa khi thì gọi thư ký của ông bằng thầy, lúc gọi tên như bây giờ, tùy theo tính khí của ông nó thay đổi bất thường.

Lúc nào ông gọi hắn bằng tên gọn lõn là lúc ông vui tính hay ông thương mến hắn, nhưng tuyệt nhiên ông không hề gọi hắn bằng cháu và cho phép hắn kêu ông bằng bác như hắn đã yêu cầu.

Ông xem hắn là một người bạn vong niên rất thân được, chớ không thế nào mà nhận tình bác cháu một cách vô lý như nhiều người đã làm.

- Thưa ông, ông có gì gắp đưa tôi làm ngay cho xong.

- Cũng chẳng có gì. À, mà ... không mà thôi … Không, không có gì gắp cả. À, đêm nay tôi cũng đi ăn cơm ở ngoài …, ở nhà một mình buồn quá. Nếu Minh có muốn …

- Dạ cám ơn ông. Tôi đã trót hẹn với bạn.

- Cũng tốt.

Ông Hóa quen có bạn cùng bàn, từ hơn một năm rồi nên không chịu được cái cảnh ngồi nhơi cơm một mình chăng ? Không, Minh đã xin phép đi ăn cơm tối ở ngoài nhiều lần rồi mà ông vẫn ở nhà một mình được, mỗi lần như thế, không nghe sao cả kia mà !

Sự thật ông ta bỗng nghe cô đơn từ nãy giờ, giữa câu chuyện đòi nợ mà thư ký của ông đã gợi ra.

Chưa bao giờ mà gian phòng nầy, ngôi nhà nầy, khu vườn quanh nhà nầy lại quanh quẽ đìu hiu đến thế.

Ông Hóa đứng lên, chậm bước đi quanh phòng khách. Tình cờ ông ngước lên và chợt thấy những màn cửa sổ và những riềm màn đã cũ quá rồi, màu kem của vải đã ngã ra màu gì không rõ, một thứ màu không tên và không còn hợp với màu sắc của bàn ghế trong nhà nữa.

Ngày mai ông sẽ gọi nhà trang trí đến và hai tiếng đồng hồ sau đó, tất cả sẽ được thay mới.

Tuy nhiên, không vì thế mà ông không cần đến một người đàn bà. Nếu có "Nàng", nàng sẽ theo dõi hằng ngày những việc lặt vặt như thế nầy, đã cho đổi kịp đúng lúc, và nhà nầy khỏi phải chịu một thời gian trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong lối trang hoàng mà màu sắc không ăn hợp với nhau.

Tình trạng của mấy bức màn khiến ông Hóa lại liên tưởng ngay đến các lọ hoa đặt nhiều nơi trong phòng nầy, trên đầu chiếc tủ sách, trên một chiếc ghế cao ở góc hai bức tường, trước cửa sổ trông ra đường v… v…

Tôi tớ không biết chọn hoa, không biết cắm hoa, còn ông thì không có thì giờ. Căn phòng nầy khô khan như sa mạc, nặc danh như là phòng chờ của một nơi khám mạch của bác sỉ không thấy được bàn tay của một người nội tướng, để cá tính thú riêng của nàng vào đây, ký tên lên những săn sóc nho nhỏ như việc cắm hoa vào lọ, việc chọn màu hoa,chọn màu áo, nệm ghế v. v…

Ông bước lại cửa sổ trông ra vườn. Khu vườn quanh nhà vẫn được anh làm vườn săn sóc tử tế, nhưng vẫn là khu vườn nặc danh, cây hoa nầy chết, được thay bằng cây hoa khác, cùng một loại với hoa cũ chớ không thay đổi tùy theo hứng, tùy theo tâm trạng của một bà chủ nhơn.

Từ biệt thự bên kia tường rào, nổi lên tiếng dương cầm mà ông Hóa biết là tiếng đàn của bà Mạnh, vợ của ông giáo sư đại học còn trẻ, chủ nhơn của ngôi nhà mà bên vợ ông ấy vừa tậu cho đôi vợ chồng.

Bà Hóa ngày trước không biết chơi dương cầm, nhưng bà đờn tranh khá giỏi. Từ lâu rồi, ông Hóa không được nghe tiếng tấm tức tấm tưởi của cây đàn mười sáu dây đồng mỏng mảnh ấy nữa.

Cho đến cả cái giọng mắng đầy tớ của bà ngày xưa, ở dưới bếp, mà ông ghét lắm, cái giọng ấy bây giờ ông vẫn nghe thèm.

Không phải ông không nguôi tình vợ chồng sau đại tang trong gia đình ông. Ông thèm, ông nhớ là thèm và nhớ giọng người đàn bà, đàn bà nào cũng được, miễn là có tiếng người - cho dẫu là những tiếng chua ngoa - miễn là có tiếng người nơi đây cho ấm cái nhà minh mông nó lạnh lẽo quá với sự vắng lặng ở đây.

° ° °

Trong khung cảnh đặc Tàu của nhà hàng Vân - Cảnh, ông Hóa nghe đỡ lẻ loi phần nào. Ở đây có ca nhạc nhưng không phải là phòng trà nên các ông già dám đến. Ông già mà đi phòng trà thì bị con nít nó chế nhạo là già còn chơi trống bỏi nên họ tìm các quán ăn có ca nhạc để mà gỡ gạc.

Nhìn qua các bàn một lượt, ông Hóa thấy mình không đến đỗi là một tiếng đàn lạc điệu ở cái nơi giải trí mà khách đủ hạng tuổi nầy.

Không nghe lẻ loi, ông lại thấy mình trơ trọi. Phần đông, khách đi có cặp. Đó là những đôi vợ chồng hay nhơn tình thì không rõ, nhưng vợ chồng hay nhơn tình gì họ cũng vui song phương.

Ông Hóa đến đây vì Minh đã vô tình gợi ý cho ông sau khi gợi buồn. Ông đi tìm vui và tìm ở loại quán mà viên thư ký trẻ tuổi của ông đi tìm đêm nay.

Ông đi một mình, mặc dầu ông có bạn rất đông, vì nỗi buồn của ông không thể được bạn an ủi. Chỉ những đôi nam nữ kia giúp ông nguôi sầu được thôi. Ông ngỡ như vậy. Nhưng chẳng những họ không giúp ông nguôi sầu, họ lại làm tăng cô đơn của ông lên.

Nếu còn bà... !

Đó là một lời hối tiếc mà ông Hóa nói thầm trong bụng ông. Nhưng mặc dầu nói thầm, ông nói rất yếu, làm như là sợ chính ông nghe được.

Ông thành thật với chính ông, và không thấy lòng mình phấn khởi lắm, hay đau khổ lắm. Lúc hối tiếc như vậy, ông không chịu nói lên hối tiếc ấy, không muốn nghe lời ấy làm sợ phải xấu hổ với chính ông vì sự giả dối trong lời ấy.

Không, ông tiếc không có bạn, người bạn đời đi bên cạnh ông chớ không tiếc bà cho lắm.

Bà là người vợ tào khang, vợ của buổi đầu, của thời tay trắng. Ông đã chọn bà vì nhiều lẽ khác hơn là bằng vào khiếu thẩm mỹ của ông, ông đã hy sinh sắc đẹp để được người vợ đảm.

Nếu bà còn sống, ông vẫn thương yêu quí mến, không hề nghĩ tới việc lăng nhăng với ai khác. Nhưng bà đã không còn, mộ bà đã xanh cỏ từ bao năm rồi, nếu có hình ảnh người đàn bà lướt qua trong trí ông thì hình ảnh ấy phải trẻ hơn, phải đẹp hơn.

Câu hối tiếc: "Nếu còn bà... ? được đổi lại là: "Tại sao ta lại không tục huyền ?"

Lúc mãn tang bà, ông Hóa có nghĩ đến điều ấy, nhưng ông ham làm ăn và bận làm ăn nên cứ lần lựa với ông, không quyết định được.

Không phải là ông mới nghe cô đơn hôm nay đâu, nhưng cảm giác trơ trọi của ông, ông lấn át nó được vì ông thấy một người đàn ông góa, giàu có, không con, chọn vợ khó khăn lắm. Khó lòng mà biết người ta ưng lấy ông vì ông hay vì tủ tiền của ông.

Ông sợ hãi không được hạnh phúc với những người đàn bà đang rình nơi sẵn sàng qui mô để nhào vô kiếm ăn.

Không phải là sự chịu đựng cô đơn của ông hôm nay đã quá mức mà ông thấy trống trải minh mông chung quanh ông. Chẳng qua là một ý nghĩ thoáng qua nơi trí ông trong lúc người thư ký trẻ tuổi của ông kèo nài ông đòi nợ thiên hạ.

Ý nghĩ ấy vừa được Minh gieo giống và mọc mầm một cách nhanh chóng, đâm chồi nẩy lộc, mới có mấy tiếng đồng hồ qua mà những rễ chằng chịt của nó đã ăn sâu vào tâm não ông, y hệt như là bọn làm trò ảo thuật trồng cây trong một chiếc nón lật ngửa, hột mới gieo hai giây sau, cây đã mọc cao, đã đâm bông trổ trái rồi.

Tất cả phụ nữ có mặt hôm nay nơi đây đều đẹp và đều khá trẻ, tương đối với tuổi tác của đàn ông của họ. Nhưng ông Hóa không ước ao được một người bạn như vậy...

Một hình ảnh khác, mơ hồ như ảo ảnh trong sương mù, đang vất vưởng bay trước mắt ông. Đó là hình ảnh của người phụ nữ mà ông vừa nhắm.

Nàng trẻ lắm. Ông không biết rõ giờ nàng ra thế nào, nhưng chắc chắn là nàng rất trẻ. So sánh đàn bà trẻ ở đây với nàng, ông bỗng đâm hoảng. Nàng bấm ra sữa như thế có thể xứng với ông được chăng ?

Ông Hóa nhìn quanh và chỉ thấy tường vẽ những bức tranh, những đề tài trang trí màu sặc sỡ, đặc biệt của Hán tộc chớ không tìm được tấm gương nào cả.

Ông muôn soi gương lại thử xem mặt mũi mình, bộ tịch mình ra sao ấy, ai cũng mỗi ngày soi gương ba bốn lượt nhưng không thấy rõ mình cho lắm nên đến những giây phút cần thiết nào đó họ lại phải nhìn lại họ.

Bỗng một đôi nam nữ từ đầu thang lầu đang đi ngang qua chiếc quầy rượu để tiến đến một bàn trống theo sự chỉ dẫn của người chiêu đãi trưởng.

Người đàn ông trạc tuổi ông, tức là trên năm mươi. Nhưng nàng thì chỉ độ hăm lăm, hăm sáu thôi.

Ý nghĩ đầu tiên của ông Hóa là câu tục ngữ bất hủ: "già mà còn chơi trống bỏi".

Thật là trông không được tí nào, đôi nam nữ vào phòng. Người đàn ông ấy phải can đảm vô cùng mới dám mang cái đầu bạc của hắn đi bên cạnh người con gái còn trẻ măng đó.

"Nhưng đầu mình chưa bạc". Ông Hóa nói thầm lên để an ủi ông, và ông rất mừng mà thừa hưởng được ở phía bên họ ngoại cái tộc tánh không bạc đầu. Mẹ ông hồi còn sanh tiền đã tám mươi mà tóc chỉ mới nhuốm sương thôi.

Nhưng ông vẫn không vui được lâu vì liền đó ông nhớ ngay rằng nàng của ông lại trẻ hơn cô gái vừa vào với ông lão bạc đầu. Sự chênh lệch nơi ông vẫn y nguyên như nơi cặp nầy, mặc dầu tóc ông còn xanh.

Ông Hóa còn đang ngẩn ngơ, chợt Minh lại lù lù bước vào. Nó đi đầu, sau lưng theo một vài thằng con con với lại một thiếu nữ độ mười bảy, mười tám tuổi, cô bé nầy ăn mặc như khách của loại phòng trà của tuổi trẻ, nghĩa là quần "din" màu, sơ mi cũng màu nốt.

Ông Hóa bỗng đâm ra thèm làm Minh trẻ trung sôi nổi và ông nghĩ ngớ ngẩn rằng nếu thay hồn đổi xác được cho Minh, ông dám đánh đổi cả sự nghiệp của ông để lấy cái thể xác hai mươi của anh thư ký nghèo xơ nghèo xác của ông.

Tất cả những gì ông Hóa thấy trước mắt ông đều kêu lên rằng : "Không thể được !" đều thầm nhủ ông rằng: "Không nên ông ơi !"

Nhưng ông Hóa cố suy luận để cãi lại tiếng nói bí mật của kẻ vô hình nào đó, và để cãi lại chính ông, ông Hóa thứ nhì, ông Hóa con người lý trí.

"Ta sẽ bất chấp người đời, ta tạo hạnh phúc cho ta mà không cần ý kiến của ai cả. Ta sẽ sống tay đôi với nàng, một cách ích kỷ trong tổ ấm của ta."

Ông Hóa từ thuở nhỏ đến giờ luôn luôn thích sống riêng rẽ. Khi nào trốn chung đụng được với người đời, ông không ngần ngại trốn, ngoài sự giao thiệp làm ăn cần phải có của ông.

Giờ đây, ông quyết sống riêng rẽ tay đôi, y như đã sống riêng rẽ một mình. Ông vội vã gọi tính tiền rồi hối hả ra đi, làm như phải thực hiện ngay ý định của ông là trốn xã hội để bảo vệ hạnh phúc của ông.

Về tới nhà, ông Hóa không quên ám ảnh khi nãy là con người của ông mà ông cần phải xem lại.

Ông soi vào gương của chiếc tủ buồng ngủ, gương bàn phấn của bà để lại.

Lạ lùng quá. Nếu ông chỉ thấy ông không mà thôi, thì ông vẫn trẻ; đó là điều chắc chắn chớ không phải là ảo ảnh đâu. Ông trẻ hơn bạn đồng liêu của ông nhiều lắm và ông nhớ ra thì ông cũng trẻ hơn bà nhiều, từ thuở bà còn sanh tiền mặc dầu hai vợ chồng sống với nhau, và mặc dầu bà không sanh nở lần nào.

Nhưng khi ông hình dung nàng đứng cạnh ông, ông thấy rằng ông già quá sức. Cũng thời tướng tá đó, bộ tịch đó, hình vóc đó, mặt mũi đó mà nó biến đổi ngay từ phút trước qua phút sau.

Ông Hóa cởi áo ngoài ra để thấy ngực ông còn nổi, bắp tay ông còn săn, rồi thình lình nổi giận lên, giận tất cả người đời hay làm tài khôn có dư luận về bất cứ chuyện riêng tư của ai, ông quất mạnh áo vào kiếng, nút áo chạm mặt gương kêu lẻng kẻng, rồi trợn mắt lên, ông quát:

- Mặc kệ chớ ! Ta sẽ sống riêng rẽ tay đôi !

° ° °

Sáng hôm ấy, ông Hóa thức thật sớm và đánh thức thư ký của ông thật sớm.

Đôi bạn già trẻ ăn sáng vào một giờ bất thường, bảy giờ thay vì tám giờ rưỡi như mọi ngày. Khi tách cà phê của ông vừa cạn, ông Hóa móc từ túi ra một mảnh giấy, trao cho Minh còn đang ăn miếng bánh mì bơ, và dặn:

- Ăn xong đi ngay lên nhà bưu điện trung ương để đánh bức điện tín nầy. Lên đến trên ấy là vừa đúng lúc họ mở cửa, nhào vào trong ấy cho thật lẹ để chiếm quyền ưu tiên nơi ghi sê cho đánh ngay kẻo trễ.

Ông nói giọng xẵng với Minh và nói trỏng, không kêu hắn bằng thầy hay bằng anh bằng Minh gì cả. Chẳng ông còn giận, và trong số người ông còn giận ấy, có anh thư ký vô tội nầy.

Anh ta chắc chắn không dám có dư luận gì về hành động, về tác phong của chủ anh ta, nhưng anh ta trẻ. Trẻ là một điều đáng giận đối với ông Hóa trong lúc nầy.

Minh vừa nhai bánh vừa đọc mấy dòng chữ trên mảnh giấy mà chàng vừa nhận và sẽ phải sao ra trên giấy in của nhà bưu điện.

Điện tín thảo như thế nầy:

"Ông Nguyễn Văn Hoạch, thầu khoán mười tám Trịnh Minh Thế, Ban Mê Thuột"

"Gặp tôi lập tức tại Sài Gòn. Stop, Chuẩn bị ở lại ba hôm".

Lê Văn Hóa

Mắt Minh sáng lên ấy, hắn bị ám ảnh vì số nợ người ta thiếu chủ hắn mà hắn cứ ngỡ như là người ta thiếu hắn.

Thấy ông chủ quyết định đòi nợ, theo đề nghị của hắn, hắn sung sướng lắm.

Ông Hóa lại nói xẵng hơn:

- Ăn cho no rồi đi, để lo công việc.

Sự tươi vui của Minh khiến ông càng ghét chàng hơn. Ông ngỡ chàng đã đoán được mưu sâu của ông và buồn cười cho mưu ấy.

Minh ngốn ngấu chỗ bánh còn lại, uống vội tách cà phê rồi đi ngay. Chàng ra khỏi cửa, ông Hóa mới biết hối hận đã giận ghét người thư ký siêng năng của ông một cách vô lý.

Ông mỉm cười lẩm bẩm: "Tội nghiệp, để rồi mình thưởng tiền nó."

Cái nghề thư ký riêng, luôn luôn ở nước nào cũng thế phải chịu đấm ăn xôi như vậy hàng ngày. Thư ký riêng là cái bao cát để các chủ nhơn trút hết lên đó tất cả tức giận của họ, họ bị vợ chửi, họ đổ ấm ách lên đầu thư ký riêng, họ làm ăn thất bai, họ càu nhàu với thư ký riêng, họ o mèo không được, họ ăn hiếp thư ký riêng cho đỡ tức.

Xôi đây là đồng lương và tiền thưởng sau những trận đối xử bất công. Nhưng chỉ có chủ nhơn tốt như ông Hóa mới bù lại tánh khó chịu của họ bằng tiền thưởng. Mấy ông chủ đắng, họ chỉ cho ăn xôi hàng tháng vài ngàn thôi.

Ông Hóa ngồi trước bàn viết của ông, nhìn vào khoảng không một hơi rồi có ý muốn lấy xe rượt theo Minh lắm.

Ông bỗng đâm sợ việc làm táo bạo của ông, sợ bức điện tín sẽ đến nơi rồi không ngăn chận được nữa cái bộ máy mà ông đã trót bấm nút để huy động.

Sợ bộ máy huy động, nhưng lại muốn huy động bộ máy. Sự mâu thuẫn nầy làm cho ông khổ sở đến nửa tiếng đồng hồ, muốn đứng lên đi, lại cố níu mình ngồi xuống.

Khi ông nhìn lại đồng hồ, ông nghe người ông nhẹ nhõm. Đã tám giờ bốn mươi lăm phút rồi, và bức điện tín đã được nhận, không thể nào thoát được cả.

Thế là ông thoát, thoát một của nợ, thoát ý muốn rượt theo Minh, tuy vẫn không thoát lo sợ vì hành động kỳ quặc của ông.

Lo sợ nhưng trông chờ. Ông Hoạch mà có xuống ngay theo lịnh của chủ nợ ít lắm cũng phải ngày mai mới đến Sài Gòn. Thế mà ông Hóa bắt đầu trông đợi ngay kể từ giây phút nầy.

Ông tưởng tượng đến hành trình của điện tín, nó đi từ ghi sê qua phòng kiểm soát đến phòng máy. Ông thấy nó đi chậm như rùa và bực tức thủ tục.

Ông Hóa theo dõi những làn sóng điện trong không trung, chuyển bằng âm ba những chữ ông viết, qua núi rừng để lên Ban Mê Thuộc, cái thềm của cao nguyên Việt Nam.

Lên đó, từ nơi tiếp nhận cái tin vô tuyến ấy, đến khi mà tin được ghi lên tờ giấy xanh thì đã sáu giờ chiều rồi.

Chắc ngày mai điện tín mới được phát. Thế là ngày mốt ông Hoạch mới tính chuyện về Sài Gòn. Nhưng có chắc gì là ông ta sợ chủ nợ quá đến bỏ cả những công việc quan trọng và cấp bách của ông ta để về ngay đây đâu.

Thật là bực mình !

Nếu ông có phép mầu, ông sẽ nhảy vọt một cái lên trên ấy. Nhưng có máy bay lên xuống hàng ngày kia mà !

Không, ông không thể đi được. Lên đó ông sẽ hoảng sợ không dám nói gì cả. Ở đây trong khung cảnh thân mật và quen thuộc với ông, ông nghe mình là ông chủ nợ, vững tin nơi địa vị, ưu thế của ông và tự tôn mặc cảm được để mà dám ăn dám nói.

Không, tốt hơn là nên chờ.

Và ông Hóa chờ, mất ăn mất ngủ đến sáu hôm, ông Hoạch mới dám dẫn xác đến cho.

Ông đang tức giận muốn mắng khách vài câu, con nợ có đâu mà ương ngạnh đến thế, nhưng không hiểu vì sao, thấy mặt con nợ là ông phát run lên.

Ông bối rối như anh học trò mười bảy tuổi và ấp úng nói:

- Chào ông Hoạch !

Con nợ kinh ngạc. Chủ nợ nói bằng tiếng Pháp, điều ấy không có gì lạ lắm, nhưng hắn lại gọi con nợ bằng ông chớ không phải bằng anh như ngày trước.

Ông Hoạch đâm lo, đoán rằng tiếng ông ấy là tiếng của kẻ quyết làm mặt lạ cho dễ đòi tiền.

Đâm lo, nhưng ông càng không hiểu hơn vì kẻ quyết làm lơ ấy lại có vẻ sợ ông. Đây không phải là một cảm giác mơ hồ đâu, ông Hoạch thấy rõ ràng ông Hóa sợ ông.

Tuy nhiên là con nợ, ông vẫn biết thân con nợ, nên ông giải thích để tự biện hộ:

- Tôi không về ngay được theo bức điện tín của anh vì...

- Không hề gì, chuyên nhỏ mọn đó. Ông đoán được tôi mời ông về đây để chi hay không ?

Ông Hoạch mỉm cười chua chát trước tình bạn bị phủ nhận, nói:

- Tôi cũng có nghĩ đến số nợ tôi thiếu anh. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng...

- Tới bao giờ ông mới chịu thanh toán ?

- Nhưng vẫn chưa thể trả được năm nay.

- Ông phải biết rằng sự nhẫn nhục nào cũng có giới hạn. Tôi dám chắc không có một chủ nợ thứ nhì ngồi nhìn sự im lặng của ông từ hai năm nay...

- Tôi thật có lỗi lắm. Nhưng kể từ hôm nay, tôi xin trả tiền lời...

- Không. Rồi ông có thể nín đi sau vài tháng trả tiền lời như vậy. Tôi mời ông xuống đây để báo cho ông hay trước là tôi sẽ đệ đơn xin áp chi phiếu mà ông sắp nhận được nay mai, chi phiếu thanh toán công việc xây cất cho nhà binh của ông.

Ông Hoạch rụng rời, rút khăn lau mồ hôi lạnh rịn ra trên trán ông rồi nói bằng một giọng thỏa mãn của kẻ đuối sức:

- Vốn liếng của tôi chỉ còn có bấy nhiêu đó thôi. Nếu anh không thương, tôi sẽ hoàn lại hai bàn tay trắng như hồi ta mới xuất thân.

- Thương ông, nhưng tôi phải thương chính tôi trước chớ. Đồng tiền là núm ruột mà ! Vả, giúp ông năm năm đã quá lắm rồi. Tôi không thể làm hơn được nữa.

- Giúp tôi cũng như anh cho vay. Lấy vốn về anh cũng chỉ bỏ băng, chẳng ích lợi gì cho anh.

- Nhưng hai năm liền, ông không trả một xu lời.

- Tôi sẽ trả.

- Không bảo đảm. Vả tôi thu hồi vốn về để bỏ băng hay làm sanh lợi, ông không cần biết mà phải kể như là tôi sẽ làm sanh lợi nhiều hơn và chắc chắn hơn.

- Chi phiếu lãnh xong, phải trả tiền vật liệu, tôi cũng chẳng còn bao nhiêu. Nếu anh lại chặn tiền, tôi sẽ bị các chủ nợ khác họ nhao nhao lên, làm tôi mất cả tín nhiệm, tôi còn làm ăn gì được. .

- Chính vì thế mà tôi phải đòi số tiền ông thiếu. Ông đã làm tan nát cái vốn mà tôi cho ông mượn để tái khởi hành...

- Không có nát...

- Không nát sao lại nợ các nhà buôn vật liệu ? Phải có tiền trả nợ cho họ chớ.

- Vì tôi thầu lớn quá, anh cho mượn bốn triệu mà tôi thầu những tám triệu nên mới mua chịu vật liệu.

- Ông sẽ lãnh chi phiếu tám triệu ? .

- Ừ.

- Ông trả vật liệu bao nhiêu ?

- Hai.

- Trả tôi bốn, tức còn được hai.

- Quên công thợ à ? Và quên nhiều khoản tạp phí khác mà thầu khoán nào cũng phải chịu như là xã giao, như là đi đứng. Mà cho dẫu là còn nguyên hai triệu như anh tính theo lối học trò làm toán trừ cũng chẳng làm ăn gì được.

- Tôi không biết.

- Thật ra, tôi chỉ còn năm trăm ngàn một tiếng đồng hồ sau khi lãnh tiền chi phiếu, và nếu anh xin sai áp thì...

- Không biết.

- Anh nỡ nào !

- Tôi cần tiền.

- Hay là tôi tự tăng tiền lời ?

- Tôi thích làm ăn hơn là cho vay cắt cổ.

Ông Hoạch chống hai khuỷu tay lên gối của ông, úp mặt trên hai bàn tay không biết để giấu nước mắt hay vì ông choáng váng, lấy cái thế ngồi ấy để cho khỏi té.

Dầu sao trông ông cũng thiểu não vô cùng, khiến cho người chủ nợ rất đau xót, mặc dầu ông ta chỉ đòi nợ giả thôi.

Ông Hóa đi qua đi lại trong buồng khách tránh không dám nhìn kẻ bại trận nữa. Sự im lặng ở đây chỉ bị tiếng giày của chủ nhà khua động làm cho huyên náo lên thôi ngoài ra hai người không ai nói qua lời nào nữa cả.

Lâu lắm, ông Hoạch mới ngồi thẳng lên rồi thở dài nói:

- Với năm trăm ngàn, tôi chỉ đủ tiền mở một hiệu tạp hóa trong xóm. Tôi mười đứa con, như anh biết, tất cả đều còn đi học. Bỗng dưng có một mớ sẽ phải đi tìm việc làm, hay ít ra cũng phải bỏ học vì cha chúng nó không đủ tiền để đóng học phí cho chúng nó...

- Ông định kêu gọi lòng thương của tôi chắc. Nhưng nó chỉ là khí giới cùn của kẻ thấp chí. Thật là không xứng đáng với một người đã từng vật lộn với đời. Sao ông chịu thua số mạng sớm như vậy.

- Tôi không còn ở vào tuổi chiến đấu nữa.

- Tôi không tin như vậy. Riêng tôi, tôi vẫn đang chiến đấu và sẽ chiến đấu mãi.

- Có lẽ anh còn đủ sức khỏe.

Ông Hóa sung sướng đến mọc ốc cùng mình. Ông nhìn nhận:

- Chắc là như vậy.

Rồi ông đứng thẳng người lên như một quân nhơn trước mặt thượng cấp, lấy một dáng bộ hùng dũng nhưng trông rất buồn cười.

Ông Hoạch mặc dầu đang rầu thúi ruột cũng muốn bật cười lên.

Ông Hóa cải lão hoàn xuân bằng lối đứng ấy xong, nói:

- Cũng còn giải pháp cứu vãn tình thế của ông chớ cũng chẳng biết hết đâu, ông chớ vội rủn chí.

- Xin anh mách giùm.

- Rồi ta sẽ cùng nghiên cứu với nhau về giải pháp ấy. Ông xuống đây chỉ để gặp tôi hay có công việc gì nữa ?

- Mục đích chánh là đáp lời kêu gọi của anh. Luôn tiện tôi cũng giải quyết vài vấn đề lặt vặt ở nơi khác.

- Có cần nhiều thì giờ lắm không ?

- Nội ngày nay là xong cả.

- Vậy tôi mời ông ăn ở tại nhà tôi, nếu ông không chê tệ xá. Kể từ giờ phút nầy, ông là thượng khách của tôi.

- Cám ơn anh. Nhưng trưa nay tôi phải đi ăn một bữa cơm hẹn...

- Xin ông cứ tự tiện. Tối nay và những ngày sau ông ăn cơm với tôi.

- Đồng ý. Nếu không còn gì nói về món nợ thì tôi xin phép đi ngay. Chiều nay tôi sẽ trở lại vào khoảng sáu giờ rưỡi.

- Sẽ mong ông vào giờ đó

Ông Hoạch đi rồi, ông Hóa trở về với lo lắng của ông. Giai đoạn đầu của chiến dịch, tuy cũng khó thi hành, nhưng cũng làm tạm xong. Ông ngại miệng quá, lúc đòi nợ một cách gắt gao và tàn nhẫn như vậy, nhưng chỉ có vài câu đầu đã là khó thốt ra mà thôi. Đã trót mở miệng thì những câu sau tuôn ra một cách tự nhiên, cho dẫu có phũ phàng hơn mấy câu khai mào nhiều.

Nhưng giai đoạn thứ nhì, giai đoạn quyết liệt mới là một cục nghẹn mà ông sẽ khạc chẳng ra mà con nợ cũng sẽ nuốt chẳng vào.

Ông Hóa giỏi tổ chức, sắp đặt nhiều chiến lược rất tài trong việc doanh thương, nhưng đối với chuyện nầy ông bối rối vô cùng vì ông thấy trước là ông sẽ rất vụng về, và e thiếu khôn khéo mà hỏng việc.

Nội cái việc tiếp khách hôm nay, ông đã nhà quê quá rồi, huống hồ chi là chuyện lớn hơn, khó hơn, tế nhị hơn nhiều.

Khi nãy, ông vì quá nôn nao thi hành chiến dịch mà quên mất hỏi thăm khách một lời về sức khoẻ hắn, về gia đình hắn, quên cả mời hắn uống một chén trà thường lệ và cổ điển trong phong tục ta.

Mà nào ông có kém xã giao như vậy bao giờ đâu. Con buôn, tuy nghĩ nhiều về tiền bạc vẫn biết thế nào là xử thế đẹp, thế mà ông đã xử thế như một kẻ thất phu.

Ông Hóa mắc cỡ quá, đưa tay lên dụi mắt để xóa hình ảnh buổi tiếp khách thô lỗ của ông rồi lại bàn viết ngồi, lấy bút giấy ra hí hoáy ghi những điều ông sẽ phải làm để rõ ra ông là con người lịch sự, hơn thế con người biết kính nể kẻ mà ông sắp phải kính nể vào hàng bề trên của ông.

Chỉ có bây giờ, tỉnh táo trí não, ông mới đủ sáng suốt nghiên cứu một tác phong đúng điệu chớ tối nay, trước mặt ông Hoạch và trước khi sắp nói ra những điều ghê gớm, ông sẽ cuống lên, không biết xử thế ra sao nữa.

Ông lại phải ghi rõ những điều mà ông nghiên cứu bây giờ chớ biết mà quên vì bối rối, ông cũng sẽ nhà quê như thường.

Ghi xong, ông lại học thuộc lòng, sẽ dượt lại nhiều bận như diễn viên sân khấu tập tuồng, kỳ cho thật thuần thục ông mới nghe cho.

Ông Hóa ghi chép:

1) Nài nỉ mời ông Hoạch tắm.

2) Cho ông Hoạch nghe mấy dĩa nhạc mới nhứt.

3) Trong lúc nghe nhạc cho ông Hoạch uống khai vị.

4) Tặng ông Hoạch hai hộp xì gà La Havane.

5) Gởi tặng bà Hoạch hai lọ nước cốt Chanel.

6) Gởi tặng các con ông Hoạch hai mươi hộp kẹo ngoại quốc.

7) Giải thích vì sao mà tặng sớm thế chớ không đợi ông Hoạch lên đường về Ban Mê Thuộc mới tặng.

8) Mời ông Hoạch đi ăn cơm ở hiệu Diamond...

9) Nhưng trước khi đến hiệu, đưa ông ấy ghé thăm bà Lữ (đã có xin hẹn trước).

Viết tới đây ông Hóa mỉm cười đắc chí và ông sung sướng vô cùng khi nghĩ đến người đàn bà ấy.

Bà Lữ nhũ danh Lê Thị Ngọc là góa phụ của kỹ nghệ nghệ gia Nguyễn Văn Lữ.

Bà ấy năm nay đã bốn mươi rồi nhưng trẻ như ba mươi và đẹp có tiếng trong giới phú hào Sài Gòn.

Ông Hóa chỉ nói một tiếng thôi là được ngay người góa phụ triệu phú nầy. Nhưng ông ta không nói, vì không nghe có hứng nói. Giờ ông đã có hứng rồi, nhưng lại muốn nói lời đó với người khác.

Ông Hoạch sẽ được dịp thấy sự giàu sang của bà Lữ, nhứt là thấy sự thân mật giữa bà Lữ và ông Hóa, sẽ thấy tình cảm nồng nhiệt của bà Lữ với ông Hóa, và sẽ thấy quí trọng mối tình của ông Hóa đối với... một người khác, vì so sánh thấy ông Hóa có thể được của quí mà không màng, chớ không phải ông là kẻ không còn đường đâu.

10) Họ đi ăn cơm.

11) Họ lại đi xi nê.

Sau đó ông Hoạch sẽ trằn trọc, sẽ băn khoăn tự hỏi sao chủ nợ không hề đá động đến món nợ. Ông ta sẽ ngủ không yên.

° ° °

Sự việc xảy ra theo đúng chương trình mà ông Hóa đã thảo, đúng từng chi tiết một. Chỉ có cuộc viếng thăm bà Lữ là không đúng lắm, không phải vì có sự sai lạc nào, nhưng vì ông Hóa không biết bà Lữ sẽ tiếp khách ra sao nên không tưởng tượng ra được cuộc hội kiến ấy, chỉ ghi tổng quát là: trước khi đến hiệu ăn, ghé thăm bà Lữ.

Không đúng vì xảy ra nhiều chuyện lặt vặt bất ngờ, không thể tiên đoán.

Bà Lữ thấy ông Hóa lần đầu tiên đưa bạn đến, ngỡ ông ta đã quyết định xong, muốn hỏi thêm ý kiến của bạn trước khi tỏ tình hoặc muốn khoe với bạn chăng, nên bà mừng quá sức, mừng quýnh quáng và thân mật với khách hơn thường lệ.

Còn ông Hoạch thì thấy thế lại ngỡ họ sắp cưới nhau nên ông mừng. Ông đoán rằng ông Hóa sẽ được hạnh phúc với người đàn bà nầy, và khi con người được hạnh phúc, họ sẽ dễ dãi ra.

Nếu ông đánh cù cưa được tới ngày đám cưới, thì sau đó dễ khất nợ lắm.

Mặc dầu thế, ở rạp xi nê ra, về nhà ăn thêm một bữa "súp bê" rồi lên buồng ngủ, ông Hoạch cũng băn khoăn như ông Hóa đã dự tưởng, tự hỏi sao mà chủ nợ bỗng nhiên lại tử tế đến thế, làm như quên mất vụ đòi nợ, làm như đó là hai người, kẻ đã tiếp ông khi là sáng một tay trọc phú keo kiệt, rồi tối lại là một người bạn tốt.

Ông Hóa đã hỏi thăm từng đứa con của ông, đi từ dưới lên trên, bắt đầu từ đứa út mới lên năm.

Ông Hóa đã hỏi đùa:

- Có thật là út hay không ?

Đôi bạn già cười xoà với nhau rồi ông Hoạch than:

- Cha già con muộn, không biết khi nó lớn lên, tôi sẽ còn sống hay không, để lo cho nó.

Kế đến thằng bảy tuổi được săn sóc tới, rồi con chín tuổi con mười một tuổi v,v...

Nhưng ông Hóa chỉ hỏi thăm có chín đứa thôi mà quên mất trưởng nữ của ông Hoạch, khiến ông ta hơi giận bạn. Thường thì các ông cha bà mẹ hay hãnh diện về những đứa con đã trưởng thành của họ, phương chi người trưởng nữ ấy lại là một đứa con gái đặc biệt hết sức mà vào bất kỳ trường hợp nào, vợ chồng ông Hoạch cũng mang ra khoe, như dân tộc Pháp khoe cái tháp Eiffel của họ, dân Ai Cập khoe Kim tự tháp, dân Hoa Kỳ khoe thác Niagara.

Ông Hóa đã sống một đêm như con người chớ không như cái máy đếm tiền. Ông biết vui khi nghe kể tánh tình nghịch của trẻ con, ông biết cảm động lúc ông Hóa ám chỉ xa gần tới nếp sống thắt lưng buộc bụng của ông, mà lắm trẻ thèm kẹo nhưng không được hưởng.

Rồi ngày mai sẽ ra sao ! Ông Hóa tự hỏi: Cái máy đếm tiền sẽ xua con người đi để ngự trị giữa phòng việc, để hăm dọa sai áp măng đa nữa hay chăng ?

Không ngủ được, ông Hoạch bước xuống giường đi lại cửa sổ hóng mát. Thấy dinh cơ đồ sộ của ông Hóa, ông Hoạch hơi tiếc rẻ. Ông Hóa không có người thừa kế thì sự nghiệp nầy...

Rồi ông tủi thân mà nghĩ tới mười đứa con của ông, chúng nó sẽ ra rơm, nếu chi phiếu bị sai áp.

Con gái thì ông Hoạch không thương xót lắm. Chúng nó đứa nào cũng đều đẹp cả, đều có thể lấy chồng khá. Chỉ tội cho đám con trai, không thể ăn học tới nơi tới chốn.

Nhìn những tảng đá dựng dưới sân để làm cảnh, chở từ bên Nhựt về, mỗi tấn tốn hao bảy tám vạn bạc, ông Hoạch tủi thân quá, sa nước mắt dầm dề.

° ° °

Ông Hoạch trưởng giả hơn ông Hoá nên dậy thật trưa. Lúc ông mở mắt ra nắng mai đã chiếu nghiêng vào cửa sổ tức là mặt trời đã lên cao.

Thế mà ông cứ nằm đó, lười dậy ngay. Ông nhìn cái bụng bự của ông mà buồn cười. Đã mấy mươi lần ông toan tập thể dục cho mất bụng, nhưng lần nào cũng không đủ can đảm. Ông đã trốn sau luận điệu nầy: "Chậc ! Đã sắp làm ông ngoại rồi thì có bụng mới oai chớ !"

Bấy giờ ông ngạc nhiên và nhớ ra hình dáng rất thon của ông Hóa, bạn đồng niên với ông.

Ông Hóa đầu cũng đã hoa râm, đó là một tai hại không ngăn được, nhưng hồng hào lắm và tướng đi điệu đứng rất thể thao.

"Có lẽ nó thành công mãi nhờ thế chăng ?" Ông Hoạch tự hỏi rồi tự đáp: "Ừ, có thể là như thế lắm. Nó còn đủ sức khoẻ nên còn đủ khả năng vật lộn với đời."

Nghe cuộc sống náo nhiệt dưới đường, ông Hoạch bắt buộc phải dậy để qua buồng bên rửa mặt.

Khi ông xuống dưới nhà thì thấy ông Hóa đã ngồi sẵn tại bàn viết tự hồi nào rồi. Ông ta cười hỏi:

- Ông ngủ yên giấc chớ ?

- Cám ơn, lạ nhà nên hơi khó nhắm mắt. Nhớ mấy đứa nhỏ quá.

Ông Hóa hối người nhà dọn bữa ăn lót lòng ra và dặn có ai hỏi, dầu có việc cấp bách đến đâu, cũng nói ông đi vắng.

Người thư ký riêng của ông, không rời ông phút nào, cũng được cho ra sau ăn sáng và cho nghỉ việc suốt ngày, tùy ý muốn đi chơi đâu thì đi, nhưng không được trở về nhà trước bảy giờ tối.

Bữa ăn thật lặng lẽ mà tiếng nhai bánh mì của đôi bạn già nầy vang lên rõ mồn một trong không khí im lặng của phòng giấy một ngôi nhà gần như hoang vu.

Ăn xong ông Hóa mời khách lại nằm trên chiếc ghế bành da to tướng và ông cùng nằm trên chiếc thứ nhì đặt cạnh đó.

Mỗi người ngậm một điếu xi gà to bằng ngón chân cái và cả hai đều làm thinh mà nhìn những khoanh khói tròn từ từ bay lên trần, ông Hóa chưa biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào, ông Hoạch đợi chờ chủ nợ quyết định số phận của ông.

Hai người nằm cạnh nhau, trò chuyện với nhau dễ dàng nhưng không trông thấy nhau. Ông Hóa đã cố ý sắp đặt như vậy, vì ông rất sợ gặp đôi mắt của con nợ.

Lâu lắm, lúc điếu xì gà của ông cháy còn phân nửa, ông chủ nhà mới hỏi:

- Ngươi trường nữ của ông năm nay được mấy mươi ?

Ông Hoạch thấy làm kỳ cho chủ nợ nầy lắm. Đêm rồi hỏi thăm cả nhà mà lại bỏ quên con bé Minh yêu quí của ông. Giờ sắp đòi nợ lại đột nhiên săn sóc tới đứa ấy.

- Năm nay cháu nó đúng hai mươi.

- Cô ấy học ở đâu, thưa ông. ?

Lần nầy, ông Hoạch không ngạc nhiên. Đáng lý gì người bạn cũ nầy phải gọi cho con bé Minh là "cháu Minh" chớ không phải "cô ấy" nhưng hắn đã làm mặt lạ để dễ đòi nợ thì cô ấy là ổn.

- À, nó đậu Brevet hồi mười bảy tuổi còn ở Sài gòn, như anh đã biết, rồi thì theo tôi lên trên ấy, không đi học nữa.

- Đã có nơi nào gấm ghé chưa, thưa ông.

- Ối lu bù. Nhưng đáng kể chỉ có hai người: một vị bác sĩ quân y trên ấy và một vị thiếu tá trẻ tuổi, cũng trên ấy.

- Cô ấy chọn ai, thưa ông ?

- Nó không chọn ai mới phiền. Nó bảo nó không yêu họ. Con gái đời bây giờ thật rắc rối.

Điếu xi gà của chủ nhà đã tắt, nhưng ông ta không buồn đốt trở lại. Ông ta nhai nát cả đuôi thuốc, và làm thinh.

Ông khách cũng không đốt lại điếu thuốc tắt của ông. Ông bực mình vì lo sợ mà chủ nợ cứ chưa chịu nhập đề để ông biết số phận của ông ra sao. Ông lại lấy làm kỳ cho chủ nợ, câu hỏi nào cũng có cái đeo ngoài sau: "thưa ông" cả:

- Cô ấy học ở đâu, thưa ông ?

- Cô ấy đã có nơi nào gấm ghé chưa, thưa ông ?

- Cô ấy chọn ai, thưa ông ?

Đôi bạn già nầy, cộng chung tuổi tác lại thì được một thế kỷ và mười năm lẻ, mỗi ông vừa đúng năm mươi lăm. Nhưng ông chủ nợ, mặc dầu trên chơn, vẫn tỏ ra kính sợ con nợ, còn con nợ mặc dầu to lớn, bụng bự, vẫn tự ti mặc cảm.

Họ nằm cạnh nhau và mỗi người nghĩ khác nhau và nhứt là mỗi người đều thủ thế.

"Một thế kỷ đã trôi qua rồi chăng" con nợ sốt ruột tự hỏi, vì y thấy lâu quá mà chủ nợ không chịu hô cái lịnh khủng khiếp: "Hãy xuống dao đi !" cho tên đao phủ vô hình đưa ông ta sang thế giới bên kia.

Vâng, ông xem chủ nợ như là ông tướng giám sát cuộc hành quyết ông hôm nay. Ông chết hay sống gì cũng ở trong tay ông tướng nầy cả.

Nhưng kìa, chủ nợ đã chịu mở miệng. Hắn nói:

- Cũng còn giải pháp tốt lành cho khó khăn của ông, chớ cũng như chưa đến nỗi tuyệt vọng đâu.

- Ừ, tôi chờ đợi anh mách cho giải pháp ấy.

- Chẳng hạn như có ai chịu giúp ông số tiền ấy.

Ông Hoạch cười ha hả mà rằng:

- Anh tính còn ma nào dám giúp kẻ đang xuống nữa ! Anh là người tốt cuối cùng mà anh đã thôi tốt thì tôi chỉ còn nước chết thôi.

- Còn chớ lẽ nào không. Nếu không tìm ra người tốt thì tìm người bạn vụ lợi vậy.

- Tôi thật đã đến nước không còn gây lợi cho ai được nữa cả.

- Tôi tin là ông còn. Chẳng hạn như giúp nhau điều gì có qua, có lại, ông ban cho họ ân huệ gì đó rồi họ có thể tặng không cho ông bốn triệu bạc như chơi.

Ông Hoạch lại cười ha hả:

- Tôi có phải làm quan to đâu mà ban ân huệ, mà ký một cái giấy là người ta mang ơn bằng bạc triệu.

- Không quan to, là thường dân, là cùng đinh đi nữa, cũng cứ ban ân huệ to được như thường.

- Tôi thật không hiểu.

Chủ nợ lại bắt con nợ đợi chớ không chịu giải thích ngay. Mỗi lần ông ta muốn mở miệng để nói là mỗi lần tim ông ta đập mạnh, máu dồn lên mặt ông ta khiến ông ta nghẹn và ngộp như khi trao lời lần đầu tiên với một người con gái thuở ông ta còn thiếu niên.

- Ông Hoạch ơi !

- Gì a anh ?

Đôi bạn không trông thấy nhau nên ngươi nầy phải gọi lại cho người kia sau một hồi im lặng, sợ người kia ngủ gục chăng ?

- Ông có thể ban ân huệ, ân huệ của ông đáng giá gấp hai, gấp ba số tiền đó.

- Anh làm tôi sốt ruột quá. Nếu anh không nhạo báng tôi, không gạt cho tôi hy vọng nhiều để rồi khổ nhiều thì anh cứ nói phứt đi cho rồi.

- Như thế nầy... chẳng hạn như có một người muốn xin cưới con ông và lễ cưới, ngoài nữ trang thường lệ và thêm vào đó phẩm vật đặc biệt là số tiền kia thì ông nghĩ sao ?

Ông Hoạch hoàn toàn tuyệt vọng và rất giận kẻ đối thoại đã làm ông mừng hụt. Ông xẵng giọng:

- Đời nầy nhan nhản chỉ có bọn đào mỏ. Những kẻ đang gấm ghé con tôi cũng thuộc vào loại ấy thì điều mà anh vừa nói chỉ là tiểu thuyết dự tưởng là thôi.

- Thì ông cứ thí dụ như là chuyện ấy có thật đi mà, để cho biết ý kiến.

- Nhưng tại sao người ấy lại dại đến thế mà cưới vợ mắc tiền như vậy. Tôi có đòi hỏi vô lý như vậy đâu ?

- Ông không đòi hỏi nhưng tự người ta tình nguyện nạp sính lễ to vì người ta thấy con ông xứng đáng được quý trọng.

- Tôi sẽ hồ nghi nếu có người đề nghị như vậy, vì một là họ điên, hai là họ âm mưu cái gì.

- Nếu người ta kém cỏi quá và định bù chỗ kém cỏi của người ta bằng sính lễ, ông còn hồ nghi hay chăng ?

- À ra thế ? Nhưng anh ấy phải cụt cả hai giò mới bù nhiều như vậy. Nhưng nếu thế thì con tôi lại không ưng lấy hắn dầu lấy hắn có bù hai chục triệu đi nữa.

Ông Hóa đã bước tới trước then chốt của câu chuyện. Chính cái sự kém sút ấy là then chốt giúp ông mở được cánh cửa hay không, tùy bên kia nghĩ sao về then chốt đó.

Có những điểm kém sút thật là quá kém sút, đối với người nầy, nhưng không hẳn là kém đối với người kia. Chẳng hạn như đối với một bà cụ, một thiếu nữ xinh đẹp kinh hồn mà không biết nấu canh chua thì thiếu nữ ấy chỉ đáng vứt đi thôi. Chẳng hạn như đối với vài cô gái, một chú rể tương lai giàu sang nhưng kém học thì chẳng hy vọng gì đâu.

Ông Hóa làm thinh rất lâu rồi nói:

- Kể ra thì cụt cả hai giò cũng không hẳn là chướng ngại lớn cho lắm, vì cái anh cụt giò còn có thể tháp giò giả mà ngày nay người ta chế tạo rất khéo trông cứ như là giò thật. Nhưng thật ra cái gì cũng tương đối và cũng tùy lối thấy của đương sự cả.

Thật là khó nói, cái điều mà tôi sắp nói ra đây, vì con người nhiều thành kiến lắm. Tuy nhiên không thể bắt ông đợi mãi, tôi phải cố gắng mà ..để...để... Ông nè, nếu như mà chính tôi cầu hôn thì tôi sẽ có hy vọng hay không ?

Ông Hóa đợi rất lâu vẫn không nghe người nằm khuất trong chiếc ghế bành bên cạnh đáp gì cả. Ông đã sợ hãi phải nghe người ấy phản đối, chớ không dè rằng hắn đang chết sững như vừa bị một tiếng sét.

Quả ông Hoạch choáng váng người như bom nổ bên tai.

Nhưng chính nhờ vố đánh thôi sơn nó làm ông chết lặng ra đó mà ông đủ thì giờ suy luận trước khi nổi giận, và suy luận xong, ông không nổi giận được nữa.

Tham vọng của ông Hóa, theo ông Hoạch nghĩ, thật không hề phạm đạo đức hay làm rối trật tự xã hội. Như vậy, không trách cứ ông ấy vào đâu được cả. Ông ấy cũng không có dùng áp lực bao giờ, bằng vào lối hỏi: "... tôi sẽ hy vọng hay không ?"

Sự đòi tiền ráo riết có thể xem là một áp lực thật đó, nhưng xét cho kỹ thì không đúng. Ai ở vào địa vị ông Hóa cũng đã đòi nợ ráo riết như vậy vì con nợ đã thất hứa về tiền lời, còn về cái vốn nợ lại cũng quá hạn phải trả gần nửa năm rồi.

Đây là một sự đổi chác, nếu trắng trợn xét việc, chỉ có thế thôi không hơn, không kém. Mà người đời ai lại không đổi chác chớ ?

Một anh đỗ bằng cấp cao, đi hỏi vợ giàu. Cô cậu ấm lại không đổi chác bằng cấp và của hồi môn à ?

- Mông xừ Hóa, "vu" đã nghĩ kỹ rồi chớ ?

Ông Hoạch dùng tiếng Pháp mà hỏi bạn, và thôi gọi ông Hóa bằng anh nữa.

Ông Hóa rất mừng mà được nói chuyện bằng tiếng ngoại quốc, đỡ ngượng miệng hơn.

- Vâng tôi đã nghĩ rất kỹ.

- Mục đích gì ?

- Tôi muốn tục huyền, có gì lạ đâu.

- Cố nhiên là không có gì lạ. Nhưng sao lại hy sinh nhiều thế ?

- Ấy, đã bảo con người nhiều thành kiến. Sự cao niên của tôi, trong xã hội Việt Nam hiện tại, có thể bị xem là một sự kém sút đối với thành kiến của thiên hạ; phải được bù bằng một hy sinh như vậy.

- Nhưng nếu hy sinh ấy vẫn không lung lạc được tâm hồn của con Minh thì sao ? "Vu" nên nhớ rằng ta bằng tuổi nhau, tức năm mươi lăm...

Ông Hóa vội cãi:

- Không ông lớn tuổi hơn tôi, ông năm mươi sáu.

- Được, tôi lớn tuổi hơn "vu". Nhưng con Minh nó chỉ mới có hai mươi thôi, tức nó trẻ hơn "vu" đến ba mươi lăm tuổi.

- Tôi cưới vợ chớ có kiếm nhơn tình đâu mà ông muốn ám chỉ đến tình yêu. Minh là một cô gái có giáo dục, tôi tin là cô ấy sẽ tròn bổn phận làm vợ, bấy nhiêu đó là đủ cho tôi lắm rồi. Còn tình yêu có thể đến sau, hoặc không đến cũng được.

Vả lại hy sinh ấy không phải để cho Minh. Minh sẽ hưởng trọn tài sản của tôi, nhiều gấp hai mươi lần tiền ấy.

Hy sinh đó là để tặng ông.

- Vu, muốn làm áp lực đối với tôi để chính tôi lại làm áp lực đối với con tôi ?

- Ông thương thì xem đề nghị của tôi là hợp lý, bằng ghét, thì xem là nó áp lực, tôi không thể đặt ảnh hưởng trên lối nghĩ của ông. Tùy ông liệu định.

- Nếu tôi từ chối, vụ đòi nợ nầy sẽ ngã ngũ ra sao ?

- Thú thật với ông là tôi chỉ đòi nợ để làm áp lực thôi. Nhưng nếu ông từ chối, tôi sẽ rút lời cầu hôn lại, và giữ nguyên tình trạng cũ, tức là không làm gì ông cả, hoặc tuyên bố ông có thiện chí nhưng không trả nợ được, để rồi tặng luôn ông số tiền ấy, trước pháp luật.

Ông Hoạch lại chết lặng một lần nữa, cái nầy mới kỳ lạ hơn là lời cầu hôn khi nãy nữa. Bỏ ra bốn triệu để cưới vợ thì chỉ điên hơi hơi thôi, chớ còn cho không một kẻ người dưng bốn triệu thật mất trí đứt đi rồi.

Ông Hoạch là người tốt, thường nghĩ tốt cho người khác. Ông lại nghĩ kỹ và thấy rằng ông Hóa không điên. Thế nên ông kết luận: Ông Hóa tốt.

Ông đứng dậy, chìa tay ra để bắt lấy tay ông Hóa nói:

- Cám ơn, cám ơn nhã ý ấy. Tôi thật không biết nói sao để...

Bây giờ hai người đàn ông mới thấy mặt nhau. Ông Hóa hơi ngượng nhưng trước sự thành thật của ông Hoạch, ông trở lại được như thường và nói:

- Xin ông đừng ngỡ tôi tốt...

- Tôi tin chắc rằng ông tốt, vì thế mà tôi cố gắng thuyết phục con tôi !.

Ông Hóa muốn nói: "Ông đừng ngỡ tôi tốt, chẳng qua là thằng thư ký ruột của tôi nó bày mưu cho tôi biếu không ông số tiền ấy, vì tôi cho ông vay số tiền ấy có sổ sách nhà nước biết và nếu ông giựt, tôi không là chủ nhơn của bốn triệu bạc có sanh lời, tức khỏi phải chịu thuế". Nhưng ông Hoạch đã làm ông mất hứng nên ông thôi luôn.

Về Ban Mê Thuật, ông Hoạch không có thuyết phục gì ai hết. Đó là công việc của bà mẹ. Ông cha chỉ biết hò hét, đập bàn dập ghế mà không đi tới đâu cả. Ông Hoạch không ép duyên con được nên ông để cho bà dỗ dành Minh.

Bà Hoạch không biết có phải là cháu tám mươi đời của Trương Nghi, Tô Tần, hay không mà bà chỉ bỏ ra có mười lăm ngày là thành công.

Đề nghị cho không bốn triệu của ông Hóa nếu chẳng cưới vợ được cũng cho luôn, ông Hoạch giấu nhẹm, không cho vợ biết. Vì thế mà bà quá sợ phá sản nên đã quýnh lên, vận dụng tất cả tài biện luận của bà để Minh nghe lẽ phải. Lẽ phải đó là thế bí, thế cùng của ông Hoạch. Nếu bị chụp chi phiếu là không còn có vượng trở lại được, tức không thể chuộc nhà, và chủ nợ thứ nhì sẽ xin khánh tận ngôi nhà còn sót lại dưới Sài Gòn. Đầu hôm sớm mai, ông Hoạch sẽ trở lại giai đoạn hai bàn tay trắng của thuở hai mươi.

Lẽ phải đó là mấy đứa em trai của Minh mà Minh rất thương yêu. Chúng nó học rất xuất sắc và ông Hoạch có tham vọng để chúng nó đi luôn tới đại học, nếu được đại học ngoại quốc thì càng hay - theo ý ông - chắc chắn là chúng nó sẽ không tiếp tục được nếu ông Hoạch nghèo thình lình.

Trong gia đình ông Hoạch, từ bao đời rồi, và cả từ thế hệ của ông là thế hệ được tiếp xúc với Tây phương, cá nhân chủ nghĩa bị xem là ngụy thuyết và luôn luôn đức tính hy sinh cho gia đình cho bà con dòng họ được đề cao.

Minh được giáo dục trong khuôn khổ đó, thành thử bà Hoạch thành công, không phải là chuyện đáng ngạc nhiên cho lắm.

Hai tuần lễ đó là hai tuần lễ bồn chồn của ông Hóa. Ông nóng như bị lửa đốt nhưng không làm sao được vì lúc chia tay, ông Hoạch có khuyên ông nên bền chí, bởi đó là một việc khó khăn tày trời, không muốn mau mà được.

Ông Hoạch đã cho một thời hạn là một tháng nhưng mới có một tuần, ông Hóa đã bắt đầu mong đợi.

Con nợ là kẻ lắm ưu thế, vì chủ nợ hứa hủy nợ, cho dầu hôn nhơn không thành đi nữa, tuy nhiên hắn vẫn lo và nóng lòng y như chủ nợ.

Ông Hoạch thấy rằng ông không thể nhận không món quà đế vương ấy - vì thế ông mới giấu vụ hủy nợ vô điều kiện với vợ ông, mà nhận với sự gả bán, ông chỉ hy vọng mong manh.

Thường thì cái gì không dám mong lại hay được. Ông Hoạch được lời hứa ưng thuận của con, còn ông Hóa thình lình cũng được một cuộc viếng thăm bất ngờ.

Thấy mặt ông Hoạch vui tươi, ông Hoá mừng đến muốn run lên, nhưng cố nén lòng vì sợ phải thất vọng.

Ông Hoạch đến để báo tin mừng và để nói có mỗi một điều thôi mà ông cho là rất quan trọng. Giờ ông kêu ông Hoá bằng "toa".

- Nó bằng lòng, nhưng với điều kiện nầy, "toa" nên nghĩ là nó báo trước sẽ không yêu "toa".

- Cũng chẳng sao - Ông Hóa thật tình chớ không phải nói gượng. Đó là sự dĩ nhiên.

- Chính vì dĩ nhiên mà nó lại đặt thành vấn đề rõ rệt nên "mỏa" mới lo. "Mỏa" càng lo hơn là nó không chịu định nghĩa rõ hai tiếng "không yêu" ấy là thế nào ?

- Nhưng cô ấy hứa làm bổn phận một người vợ chớ ?

- Cố nhiên là nó hứa. Nhưng hai tiếng không yêu có thể chỉ là... không yêu mà thôi, mà cũng có thể hàm những ý khác mà hậu quả không thể lường được.

- Tôi không sợ.

- "Toa" đừng có quyết định càn. Nếu nó phản bội toa, toa khó lòng mà trách cứ nó vì phản bội là hậu quả dĩ nhiên của sự không yêu.

- Tôi biết tự vệ.

- Tùy "toa". "Mỏa" rất lo cho "toa" và lương thiện mà lưu ý "toa" về điểm nguy hiểm ấy.

- Tôi chịu trách nhiệm về quyết định của tôi.

- "Mỏa" thì không dám nhận trách nhiệm nào cả.

- Đồng ý.

Ông Hoạch không định ở lại, toan về ngay bằng chuyến xe đò Kontum chạy bốn giờ chiều. Nhưng ông Hóa cầm khách để thảo luận về chi tiết cuộc hôn nhơn kể như xong đoạn đầu.

- Thưa ông - Ông Hóa đã lễ phép nhưng chưa xưng hô theo kẻ đã vào vòng - Thưa ông, tôi xin cưới gấp có được hay chăng ?

- Bao lâu nữa sẽ làm lễ cưới mà gọi là gấp ?

- Chẳng qua tôi sợ cô Minh đổi ý chớ không có mục đích nào khác hết. Tôi xin cưới trong tháng nầy, hôm nay là mồng bốn, độ cuối tháng thì tiện lắm.

- Không có gì trở ngại, nhưng nếu không chuẩn bị kịp cho hạ tuần tháng nầy thì thượng tuần hoặc trung tuần tháng tới, chắc cũng chẳng muộn lắm chớ ?

- Thưa không muộn lắm. Và tôi xin cưới, hỏi một lễ thôi.

- Cũng dược.

- Thưa ông, có thể nào gia đình ông về Sài Gòn để...

- Trời, "toa" muốn "mỏa" về Sài Gòn rồi ở đâu ?

- Tôi mua cho gia đình ông một biệt thự.

- Kể ra thì toa cũng tốt bụng lắm đó. Nhưng nghĩ lại không được. "Mỏa" đã hủy hết các mối giao thiệp của "mỏa" ở Sài Gòn - trừ người Tàu - vì lũ bạn cũ đã khinh miệt "mỏa" khi "mỏa" xuống chơn. Đồng thời "mỏa" gây tình quen biết trên ấy. Từ đây "mỏa" sống với người trên ấy chớ không phải người dưới nầy. Như vậy làm đám cưới ở đây không có nghĩa gì cả.

- Nhưng nếu có tiền trở lại, ông lại được lũ nó kính và ông trở lại sống với lũ nó.

- "Mỏa" chán ghét bọn trở cờ ấy lắm rồi và quyết sống với người trên Ban Mê Thuột thôi. À nè, đám cưới con Minh, "mỏa" làm rình rang đa nghen, một là vì đó là đám cưới của đứa con đầu lòng, gia đình nào được cưới gả lần đầu cũng sung sướng và muốn làm lớn...

- Chánh đáng lắm.

- Như vậy dưới nầy phải lên cho thật đông, ít nhứt là hai mươi xe, không cần mang lễ vật gì cả cho nhọc vì đường xa, chỉ phải đông thôi.

Quan sát ông Hóa, thấy ông ta sợ hãi, lo lắng và cứ lặng thinh, ông Hoạch hỏi:

- Toa nghĩ thế nào, nhận điều kiện ấy chớ ?

- Thưa... ơ... hơ, tôi định rước dâu bằng máy bay cho nhanh. Như vậy không thể lên đông. Vả lại tôi đi cũng bất tiện lắm lắm ơ... hơ... thưa... tôi định xin ở trển ơ... hơ... đưa giùm dâu xuống đây...

Ông Hóa chưa nói dứt câu, chợt giựt mình nghe ông Hoạch vỗ bàn kêu lột cái rầm.

Lần nầy ông nổi giận và dám nổi giận, không phải vì ông gần thành bố vợ mà làm oai, mà vì những lời của ông Hóa, ông nghe thật trái tai.

- Bộ tưởng "toa" là vua hay sao chớ ? Dầu sao "toa" cũng phải làm nở mặt cho gia đình "mỏa" chớ có đâu lại bắt "mỏa" hành động như là đưa con đi cống Hồ vậy.

Không, nhứt định là không ! Cho dẫu phải sạt nghiệp, "mỏa" cũng cương quyết từ chối của "toa" nếu "toa" không chịu lên trên ấy rước dâu. "Mỏa" đã bảo "mỏa" giao thiệp lại trên ấy, chớ không phải sống cô độc trong gia đình "mỏa". Như vậy "mỏa" không thể mang xấu với người chung quanh.

Cuộc ngoại giao đêm ấy lâm vào ngõ bế tắc. Ông già năm mươi lăm mà phải đi rước dâu thì phiền lắm, nên ông già ấy sợ là phải. Hơn thế là phải đi bằng xe hơi một quãng đường rất dài, ứ hự là mệt mỏi.

Dầu sao, ông Hóa cũng không ỷ lại vào lễ cưới bốn triệu của ông. Ông ngỡ bốn triệu bạc giúp ông cưới được gái hai mươi, tại sao nó không giúp ông hưởng ngoại lệ về nghi lễ cưới xin.

Các bậc vương đế đã được hưởng ngoại lệ, thì một kẽ chịu bỏ ra bốn triệu sao lại không được hưởng ?

Vì suy luận như vậy mà ông hờn ông bố vợ tương lai và không thèm thảo luận nữa.

Thấy chú rể hờ cứ im lặng có bộ bần dùng, ông Hoạch cũng phát ghét nên bỏ đi ngủ.

Nhưng cả hai đều là tay doanh nghiệp chớ không phải nghệ sĩ. Họ thực tế như các nhà ngoại giao, biết dẹp tình cảm riêng lại để nghĩ đến quyền lợi, và tới phút chót của cuộc đổ vỡ nào, họ cũng nỗ lực thử tìm giải pháp để cứu vãn tình thế.

Đêm ấy cả hai tay lái buôn đều cố gắng tìm một thỏa hiệp lưng chừng giữa hai ngoan cố, đúng theo nguyên tắc thương mại và chánh trị.

Nhưng mặc dầu bao nhiêu thiện chí của ông; ông Hoạch cũng chẳng nghĩ ra được gì cả. Gia đình ông nô lệ phong tục cổ truyền, nhứt là bà, biết quí trọng lễ nghĩa và nghi lễ hơn là một ngôi biệt thự mà ông Hóa sẽ phải mua cho ông nếu ông chịu cho cử hành hôn lễ tại Sài Gòn.

Gia phong ấy không cho phép ông nhượng bộ trong vụ nầy mà ông thấy rằng ông chỉ đòi hỏi những điều tối thiểu mà thôi.

Riêng ông Hóa đã tìm được một giải pháp thỏa hiệp hồi hai giờ khuya. Ông không chắc ông Hoạch sẽ chấp thuận giải pháp đó, nhưng ông cũng tạm yên lòng được với sáng kiến đã tìm thấy trong bóng tối của đêm dài, và nhờ thế mà ông ngủ yên được tới sáng.

Các tay ngoại giao không hề hờn giận nhau sau những trận xô bàn đá ghế, la hét om trời, mắng nhau chửi nhau nữa. Các con buôn cũng thế.

Sáng ra, họ rua với nhau và trò chuyện vui vẻ như thường trước bàn ăn, và suốt bữa lót dạ, họ chỉ nói chuyện học hành của con cái, ông Hóa lập chương trình đưa mấy đứa em vợ tương lai đi du học phương, xa, và ông Hoạch rất hài lòng về chương trình đó.

Xong bữa ăn, chủ nhà mời khách bước qua ghế bành mà nằm, không quên tống cổ chàng thư ký riêng ra khỏi phòng nầy.

- Thưa ông, ông Hóa khơi chuyện trước, tôi nghĩ không nên để cho đại sự gãy đổ vì một chi tiết nhỏ nhặt.

- Cố nhiên, ai lại bậy thế. Nhưng "mỏa" chỉ đòi hỏi quyền lợi tối thiểu thì không thể nhượng bộ được.

"Toa" thử tưởng tượng sự bất bình của bà nội nó, hiện ở trên với "mỏa", với lại của bên ngoại nó, cũng sẽ có mặt ngày cưới, nếu chú rể không thèm đến, coi bên vợ không ra gì hết.

"Mỏa" sẽ ăn làm sao nói làm sao với bên ngoại sắp nhỏ và với chính mẹ của "mỏa" ?

- Vâng, ông chánh đáng lắm, còn tôi thì cũng... ơ... hơ... cũng có thiện chí nhưng bị một trở ngại thật lớn lao mới có thái độ không biết điều như vậy. Thôi thì mỗi bên cố gắng một chút là được.

- Ừ, "mỏa" sẵn lòng cố gắng, nhưng cố gắng thế nào ?

- Thưa ông, trên ấy không ai biết tôi cả...

- Ừ, rồi sao ?

- Tôi cũng chẳng còn cha mẹ...

- Ừ "mỏa" nóng nghe đề nghị mới của toa lắm.

- Như thế nầy: một thanh niên sẽ trá hình làm Lê Văn Hóa, cùng với họ đàng trai đông đảo, gồm toàn là bà con ruột thịt của tôi, để khỏi lậu sự, thay tôi lên rước dâu.

Chỉ có ông bà và cô dâu biết sự thật thôi thì tôi nghĩ sẽ tốt đẹp như thường. Đường xa, không ai ham đưa dâu mà lo bị lộ tẩy, và trong đoàn đưa dâu chỉ có ông bà mà thôi.

Hôn thú sẽ lập ở Sài Gòn, cái đó không pháp luật nào ngăn cản.

Thưa ông, tôi nghĩ rằng và hơn thế, tin chắc chắn rằng cô Minh sẽ hài lòng lắm. Một thanh niên thay tôi, sẽ làm cô Minh đỡ ngượng.

Ông Hoạch làm thinh rất lâu, sau đề nghị thỏa hiệp của chú rể kỳ dị rồi nói:

- Thật là kỳ đời. Rể và dâu chênh lệch lớn về tuổi tác thì mỏa đã thấy rất thường, nhưng mà sai người trá hình đi rước dâu thì thật chưa nghe nói.

- Thưa ông, chưa ai làm, không phải là cái cớ ngăn mình làm.

- Đành là thế nhưng cũng dị kỳ.

- Cho là dị kỳ đi nữa nhưng chỉ dị kỳ đối với những người biết câu chuyện trá hình ấy thôi, mà không ai biết cả thì khỏi ngại. Hơn thế, cô Minh sẽ bằng lòng.

- Nó bằng lòng.

- Vâng, cô ấy sẽ bằng lòng lắm. Ông thử hình dung ra... ơ... một chú rể như tôi...

- Ừ, chắc nó sẽ bằng lòng. Nhưng dầu sao "mỏa" cũng phải thảo luận lại với gia đình "mỏa" và dọ xem coi trong đám tân khách của "mỏa", có ai biết "toa" hay không. Lê Văn Hóa thương gia ở Sài Gòn... ừ, xem họ đã biết mặt mũi ông Lê Văn Hóa ấy hay chưa.

- Cố nhiên là ông phải thảo luận lại. Nhưng nếu ông đồng ý với tôi, xin ông cố gắng để thuyết phục gia đình vào điểm ấy.

Ông Hóa có hai chiếc Mercédès. Ông tặng luôn ông Hoạch một chiếc để ông nầy làm chơn về trên ấy với lại để sau có xe mà đưa dâu.

Ông Hóa không cho mượn tài xế, và hôm rước dâu, chiếc xe nhà của ông, ông sẽ mượn tài xế lạ lái rồi cho hắn nghỉ liền ngay lúc dâu rể về tới Sài Gòn. Phải bớt nhơn chứng chừng nào hay chừng nấy, và nhứt là người tài xế lái xe rước dâu phải không biết sự thật. Hắn mà xì ra một chút xíu cũng đủ tiết lộ tất cả.

Đưa dâu chính ông Hoạch cũng phải lái chiếc Mercédès của rể tặng cho, vì ngoài hai vợ chồng ông ra, không nên có người thứ ba nào theo về nhà đàng trai cả.

° ° °

Quyền lực của các vị chủ nhơn ông đối với thư ký riêng của họ quả có lớn lao thật đó, nhưng tuy thế vẫn có hạn định chớ không hoàn toàn tuyệt đối.

Có những sứ mạng, về mặt vật chất, không khó khăn bằng vào một làng hẻo lánh, giữa thời loạn để đòi nợ chẳng hạn, nhưng bọn nầy lại không chịu nhận, và phải thương lượng khó khăn mới có kết quả.

Ông Hóa đã đưa ra lý lẽ khá vững là bên đàng gái rất thủ cựu mà ông thì lên cơn đau khớp trong tuần lễ nầy. Nhà gái thủ cựu bám riết vào ngày lành tháng tốt mà thầy coi ngày đã chỉ định cho, nhứt quyết không chịu dời ngày hôn lễ, còn chú rể lại không thể xê dịch thì giải pháp thỏa hiệp duy nhứt phải là sự trá hình của một người thân tín để đi rước dâu, không sao khác hơn được.

Tuy nhiên Minh vẫn còn do dự mãi và khi chàng biết được rằng đàng gái chính là con nợ mà chàng đã xin chủ chàng chụp măng đa, hoặc cho không số nợ, chàng mới chịu nhận cho.

Chàng đoán biết ông Hóa đã chọn giải pháp thứ nhì là cho không số nợ, mà cho không thì cũng uổng nên mới cưới con của con nợ bằng số nợ ấy.

Dầu sao lối ra nầy cũng thỏa mãn chàng về điểm thắc mắc đã làm chàng khó chịu: số nợ không trả vốn cũng chẳng trả lời. Thư ký riêng bị méo mó nghề nghiệp, cứ muốn công việc tròn trịa y như họ là các chủ nhơn khó tánh, các ông nầy có nhơn đức mà quên chăng nữa, thư ký của họ cũng không chịu quên.

Để cho Minh thật hết ngần ngại, ông Hóa nói rõ:

- Tuy họ thủ cựu, nhưng chỉ thủ cựu về vài mặt thôi là coi tuổi coi ngày v.v... nhưng họ bỏ những nghi lễ phiền phức như là lạy hai họ chẳng hạn.

- Thưa ông, nếu họ bắt làm hôn thú ngay ?

Ông Hóa cười mà rằng:

- Họ dại gì mà quên lời hứa với tôi là về đây mới làm hôn thú ? Ừ, họ dại gì mà cột con họ dính lại với một anh thư ký, về mặt pháp lý ?

- Thưa ông nếu họ hỏi lôi thôi gì ?

- Ngồi họ, chỉ toàn là người lớn không mà thôi, không ai trò chuyện với trẻ con đâu mà anh lo. Có hỏi chăng là hỏi sơ sịa về công việc làm ăn của anh - nghĩa là của tôi - nhưng anh cũng sành như tôi thì đâu có phải bối rối.

Mặc dầu đã ừ rồi, Minh không có vẻ gì phấn khởi cả, trái lại nữa, mặt chàng cứ đăm chiêu mãi.

Ông Hóa cố hết sức để đoán xem còn cái gì làm cho chàng ngần ngại. Lâu lắm, ông mới ngỡ tìm thấy lý do bí ẩn ấy, nên cười nói:

- À, còn chỗ nầy nữa khiến anh có thể lo, là cô dâu không già đâu. Cô ấy trẻ đẹp lắm, xứng với anh lắm, anh rước dâu giùm một ông già mà khỏi phải lo xấu mặt.

Nhớ, lên xe cùng lên ngồi ở băng sau, ra khỏi thành phố Ban-mê-thuột rồi hẵng hay, chớ đừng nhớ địa vị chủ và người làm công mà ra ngồi trước với tài xế thì hỏng đa nhé.

Tuần lễ ấy ông Hóa đích thân đưa thư ký của ông đến hiệu may ruột của ông để may mặc.

Minh không có giao thiệp nên chưa hề sắm đồ lớn. Hắn cũng không sành ăn mặc nên cần người dìu dắt.

Ông Hóa lại đưa chàng đi sắm giày, sắm cà vạt, và mua sắm xong cả mới bắt đầu chỉ bảo hắn vài cách lịch sự riêng về cái đám rước dâu nầy thôi, chớ không tham vọng dạy hắn tất cả lề lối xã giao phải học nhiều năm tháng mới thạo.

Ông Hóa không thể chịu được bị người của thành phố Ban Mê Thuột chê cười ông quê dốt. Ừ, nếu Minh vụng, họ sẽ không cười chàng, mà cười chính ông Lê Văn Hóa đại thương gia ở Sài Gòn. Họ sẽ quên mặt Minh, một tuần lễ sau đó nhưng cứ nhớ Lê Văn Hóa, một chú rể đã không biết nghiêng mình thi lễ cách nào cho đẹp, còn thua các anh chiêu đãi trưởng ở các nhà hàng nhiều lắm.

Ông giảng giải:

- Phép lịch sự của Âu châu rất là dễ, khi nào anh quên những lời tôi chỉ bảo, hay đứng trước một trường hợp lạ, chưa học qua cách xử thế ra sao, thì anh cứ hành động đúng ý theo lẽ phải là trúng ngay bon, vì phép lịch sự ấy căn cứ trên lẽ phải, trên sự hợp lý.

Minh cười:

- Nhưng tôi biết thế nào là hành động đúng lẽ phải ?

Ông Hóa cũng cười mà rằng:

- Khó ở chỗ đó. Nhưng cái khó nầy không thật khó như đối với những bài toán làm ăn, bài toán rắc rối gia đình nên cũng dễ suy luận mà tìm được lẽ phải.

Chẳng hạn, từ nhà ra xe, anh nên đi bên trái hay đi bên phải của cô dâu.

- Dạ, đó là một điểm tôi chưa hề nghĩ đến, và rất khó đoán biết.

- Rất dễ. Nầy nhé, hễ nam mà đi với nữ thì phải đi bên trái của nữ, tức là để nữ đi bên phải của mình.

Phép nầy có từ thuở có đường sá xe cộ, vì bên phải là bên trong, núp tránh được sự đụng chạm với khách qua đường, với ngựa, với xe, tức bên đó là bên an toàn, cần nhường cho phái yếu.

Dâu và rể cũng như là bất kỳ nam và nữ nào khác, chớ cũng chẳng khác gì, thành thử hễ làm đúng với người thường là đúng với cô dâu.

Còn chẳng hạn như lên xe thì để người yếu, hoặc người ta kính trọng lên xe trước, cái đó anh đã thấy thường, chắc khỏi phải nói, nhưng anh thấy hay chăng là về điểm đó ta cũng hành động theo lẽ phải ? Lên xe là lên nơi an ổn hơn đứng ở dưới có thể chịu mưa chịu nắng, thì ta lên sau là phải.

Bên đàng trai, công việc phiền phức chỉ có bấy nhiêu đó thôi. Nhưng bên đàng gái thì người ta bận rộn ghê lắm.

Vì đường xa nên phải đãi ăn khách rước dâu, đó là cực nhọc lớn đối với người ở thành phố, vì không được xóm giềng phụ giúp như ở thôn quê, dầu mà có đặt nhà hàng làm cả, cũng còn cực.

Nhưng mối lo nghĩ lớn của ông Hoạch, bà Hoạch là con gái thân yêu của ông bà.

Ông bà mong cho cô can đảm nhận chịu số phận, nhưng thấy cô can đảm quá, ông bà đâm lo, băn khoăn không biết con họ đang nghiền ngẫm mưu kế gì, chẳng hạn như cuốn gói ra đi vào phút chót, hoặc uống một ống thuốc ngủ đêm cuối cùng.

Nếu cô khóc thầm hay khóc công khai gì, ông bà cũng bực, nhưng ông bà thấy rõ được là phản ứng đó rất tự nhiên, rồi khỏi phải lo sợ. Cái nầy cô cứ lầm lầm lì lì, không thể đoán được cô đang xây đắp ý nghĩ hắc ám gì trong đầu cô và đang nhơi các ý nghĩ ấy.

Những đêm cuối cùng, bà Hoạch bắt con gái bà ngủ với bà để thỏa tình mẹ con, nhưng chính thật là để ngăn kịp lúc một cuộc quyên sinh có thể xảy ra và chận kịp lúc một cuộc thoát ly gia đình cũng rất có thể xảy ra.

Mặt khác bà kín đáo soát buồng của Minh, gỡ nệm, lật gối nơi nào cũng xem xét kỹ lưỡng xem có bắt gặp món thuốc độc nào hay bức thơ tuyệt mạng nào hay chăng.

Thần kinh của hai ông bà bị căng thẳng đến độ tột cùng, và cả hai đều trông đứng trông ngồi cho cái ngày trọng đại ấy đến cho rồi.

Thiệp báo hỷ đã gởi đi khắp nơi, không gây tiếng vang khác thường ở Cao nguyên nhưng làm cho giới doanh nghiệp ở Sài Gòn xúc - động ghê lắm.

Thật là môn không ngứa mà bạc hà tăng tăng. Chính cô dâu, mà ai cũng ngỡ là nạn nhơn, lại bình tĩnh như thường, bình tĩnh cho đến sáng hôm ngày chánh lễ cưới, cha mẹ cô thức đậy thấy con vẫn còn ở trong nhà và sống nhăn, ông Hoạch, bà Hoạch mới đám thở ra.

Tuy nhiên lo lắng của ông bà chưa gọi là hết được. Chừng nào trao con gái tận tay ông Hóa dưới Sài Gòn, ông bà mới an tâm cho.

Họ đàng trai lên đường hồi ba giờ khuya và lên đến nơi hồi mười giờ sáng.

Không có tai nạn nào xảy ra từ lúc họ đàng trai trình giờ đến lúc nhập tiệc cả.

Minh chỉ giựt mình lúc cha mẹ đưa đi trình diện đôi vợ chồng với các bàn tiệc và bị nhiếp ảnh viên chụp hình.

Ông Hoạch phải cho phép một nhà nhiếp ảnh trong tỉnh làm ăn, kẻo họ sanh nghi, ông Hóa đã yêu cầu ông không phát tặng các ảnh ấy cho các tân khách và mua đứt kiếng ảnh của hiệu chụp hình.

Nàng không thấy chú rể giả, nói đúng ra là không thấy rõ mặt hắn mà nàng không buồn nhìn làm gì.

Khi đứng sau lưng một số thực khách để chụp hình, nàng chỉ chợt nhận ra rằng hắn cao hơn nàng độ nửa cái đầu.

Những chi tiết sau đây, Minh không quan sát mà vẫn thấy được. Là hắn ăn mặc hợp thời trang, một bộ lễ phục may rất khéo. Hắn lại có tướng ăn mặc và đi đứng dễ dàng lắm, tuy hắn có xúc động mấy giây ngắn từ lúc đến trước nàng để cùng được đưa đi trình diện.

Sở dĩ Minh bình tĩnh, can đảm được như thế vì nàng đã có thái độ rõ, và yên chí được với dự định của nàng. Số phận nàng không sửa đổi được, thì nàng cam chịu vậy cho đến cái lúc thực hiện được dự định mới nghe.

Họ đàng trai ra về hồi một giờ trưa, tiệc tùng xong là đi ngay vì đường xa lắm và đàng gái đưa dâu chỉ có hai người, đúng y theo kế hoạch của ông Hóa, hai người đó là ông suôi gái và bà và chính ông lái xe, mặc dầu theo tuổi tác của ông thì lái trên một đoạn đường trường như thế sẽ nhọc quá sức ông.

Cô dâu mặc áo dài may bằng một thứ hàng trắng thưa và mỏng nhưng cứng mình, tuy không dài cho đến phải có hai đứa bé theo sau để nâng vạt sau lên, nhưng cũng phết gót.

Nàng thướt tha đi bên cạnh một thanh niên cúi mặt xuống mãi vì thẹn, cái trắng tinh của áo nàng, của vòng hoa voan trắng trên đầu nàng nổi bật lên bên cạnh màu đen mướt của chiếc quần nỉ và đôi giày véc ni của chú rể.

Người tài xế của chiếc xe hoa đã mở sẵn cửa và đứng đợi họ, trong bộ li-vê trắng, cứng hồ của hắn.

Cả hai đều hồi hộp lúc nhìn thấy cửa xe mở toác ra để đợi họ.

Từ nãy giờ, mặc dầu đã đứng cạnh nhau chụp ảnh, đã đi bên nhau, mỗi người đều kiên thủ được trong thế giới riêng biệt của họ nhờ khoảng trống quanh họ bảo vệ họ, giúp họ cách biệt với nhau được.

Giờ, một căn buồng nhỏ đã làm cho họ khó chịu rồi huống chi là một thùng xe hơi, một chiếc băng sau, chỉ vừa cho hai người ngồi mà khỏi đụng chạm nhau, chung quanh là vách sắt che kín họ, ngoài khó lòng mà trông vào thấy được rõ ràng cảnh bên trong.

Nhưng quanh đó nữa, một lát đây, khi ra khỏi thành phố rừng xanh bát ngát bao la, là núi đồi trùng điệp.

Người tài xế ngồi phía trước là một nhơn chứng thật đấy, nhưng là một nhơn chứng nặc danh. Đối với hắn họ cũng nặc danh vì hắn chỉ mới được thâu nhận đêm rồi và sẽ bị thải đêm nay, với một số tiền an ủi lớn.

Có lẽ vì nhịp bước của cô dâu đưa mau theo nhịp tim của cô một cách bất giác và vì tăng gia tốc độ đi thình lình nên Minh vấp phải chính vạt áo trước của nàng và chúi nhủi tới.

Chàng rể giả hốt hoảng và phản ứng chớp nhoáng của chàng không để cho lý trí kịp xui chàng dè dặt.

Chàng nói: "Ý chết" rồi đưa tay ra chụp ngay lấy vai người... thiếu nữ mà chàng không có quyền động đến.

Thời nay câu "Nam nữ thọ thọ bất thân" không còn giá trị gì nữa cả. Nhưng trong trường hợp nầy, không ai bảo cho, Minh cũng thấy rằng một sơ hở nhỏ cũng sẽ gây ngộ nhận tai hại về sau.

Cửa xe đã gần kề, vì thế mà Minh, cô dâu mới, mau bước chạy đến đó như để chạy trốn, mặc dầu biết rằng lên xe rồi thì lại phải ngồi cạnh nhau càng khó chịu hơn, nàng cũng cứ thấy rằng cái buồng hẹp đó giúp nàng thoát ra khỏi cuộc bách bộ vai sánh vai nầy.

Và vì mau bước mà nàng đã vấp.

Khi nhờ người rể giả níu lại, nàng đứng được ngay ngắn, nàng lại vụt chạy đi như bay và nhảy lên xe thật lẹ.

Cái vấp ngã và bị chụp nơi vai, khiến Minh xúc động ghê hồn vì phải qua hai lần sợ hãi. Lần nầy mới đích thật là chạy trốn.

Nàng quyết nhảy lên xe rồi đóng lẹ cửa lại, sẵn lòng quên chỉ thị của cha mẹ, ông Hoạch và bà Hoạch đồ đi đồ lại không biết mấy trăm lần rằng nàng phải để cho chú rể giả cùng lên ngồi băng sau với nàng.

Xe rước dâu là chiếc Mercédès thứ nhì của ông Hóa, tối tân hơn chiếc mà ông đã biếu bố vợ nhiều, ngoài và trong được cải thiện về tiện nghi, không hề có gai góc nào cả.

Thế mà vạt áo dài của cô dâu lại bị kẹt ở cửa xe.

Vì quýnh quáng, cô dâu ấy đã trì, đã kéo mạnh và chéo áo kẹt càng kẹt cứng hơn. Chàng rể giả đã bước theo kịp và đỏ cả hai tai, chàng ta cúi xuống để gỡ rối cho nàng.

Lần thứ nhì, Minh nghe thân thể nàng bị đụng chạm. Đây là một cảm giác đụng chạm gián tiếp, như ngày xưa phụ nữ quí phái Á đông bị đàn ông lạ thấy mặt là nghe như đã thất tiết rồi.

Khi vạt áo của Minh được giải thoát, nàng không thể đóng cửa lại được nữa như đã quyết chí nãy giờ, bởi chàng rể trá hình đã ló phân nửa đầu của chàng vào phía bên trong và thân hình của hắn cũng choán cả lối quỉ đạo mà cánh cửa phải theo để mà đóng lại.

Mà cho dẫu không bị chướng ngại ấy, cô dâu cũng không thể đóng cửa. Nàng đã sợ hãi, đã thẹn quá mà mất cả bình tĩnh, mất cả trí khôn, chỉ lo lết tuốt vào trong xa sát cánh cửa bên trái của chiếc xe.

Hai vạt áo dài quá dài của cô dâu, vạt sau trải rộng trên mặt băng, vạt trước trải trên thảm lót xe.

Chàng rể giả, trước khi bước lên đó đã phải nhẹ nhàng cầm từng chiếc vạt một để đưa về người mặc áo.

Và lần thứ ba, cô dâu lại nghe cảm giác bị hắn đụng chạm vào người nàng.

Ông Hoạch và bà Hoạch đã theo dõi con từng giây từng phút, đã lo sợ một chuyện không hay xảy ra, và khi người tài xế li-vê bố trắng đóng cửa xe lại kêu đánh phập một cái, ông bà mới thở ra, mồ hôi hai người toát dầm dề...

Ông bà thì nghe nhẹ nhõm cả người, nhưng con của họ bỗng như bị không khí dồn ép trong khoảng hẹp của thùng xe đè bẹp xuống !

Minh nghe ngột thở thật vì tim nàng đã đập mạnh và mau quá sức. Đoàn xe đưa dâu chuyển bánh đi tới từ hồi nào nàng không hay và mãi cho đến khi các ngoại ô xa của thành phố hiện ra với những nếp nhà lụp xụp của nó, nàng mới trở về với thực tại.

Sanh trưởng ở Sài Gòn, Minh chưa nguôi tình sinh quán từ ba năm nay theo cha mẹ lên đây, lần nào có dịp về thủ đô nàng cũng nghe lòng rộn vui như cá về với nước, như chim về với rừng. Chỉ có một lần nầy là ánh nắng trên đường mang một màu xám xịt, và tâm trạng của cô gái nầy là tâm trạng của một Hạnh - Nguyên trên đường cống Hồ.

Thêm vào nỗi sầu thân phận, cái khó chịu nhứt thời bên cạnh một người con trai lạ khiến cho Minh nghe như mình bị đưa lên đoạn đầu đài.

Nàng ngồi sát cánh cửa trái, để một khoảng cách lớn giữa người con trai ấy với nàng, vì thùng xe to, băng xe rộng nên khoảng cách ấy vừa cho một người Á đông mập lớn ngồi xen vào.

Minh day mặt ra đường nhìn khối xanh của chồi cây mọc hai bên lộ, khối xanh nầy dựng lên như bức tường che đậy rừng già bên trong, nghĩ miên man đến cái không may của đời nàng.

Nguyên là nữ sinh của trường Marie Curie từ bé đến lớn, Minh thấm nhuần tinh thần của nền giáo dục Pháp và dành cho cá nhân một địa vị quan trọng trong đời sống con người: tự do cá

nhân, hạnh phúc cá nhân v.v...

Với ý thức hệ đó, nàng đau khổ nhiều hơn những thiếu nữ khác được giáo dục theo ta, khi nàng phải quyết định đời nàng theo quyền lợi gia đình.

Nàng thấy cá nhân nàng chỉ là con số không, cái cá nhân quan trọng đối với xã hội Âu Mỹ mà nàng đồng quan niệm ấy.

Sở dĩ nàng không nổi loạn, lại ngoan ngoãn hành động, theo ý muốn của gia đình là vì nhơn sinh quan của nàng chưa đủ sức đương đầu với giáo dục gia đình mà nàng đã tiêm nhiễm. Hơn thế tình nhà mạnh mẽ lắm nơi bản ngã vị tha của nàng.

Lâu lắm, nàng mới sực nhớ lại sự có mặt của người con trai lạ cạnh nàng.

Ông Hóa đã cho nàng biết rõ hắn là ai, qua trung gian của thân phụ nàng.

Hắn trùng tên với nàng và là thư ký riêng của chồng nàng.

Cái ý "thư ký" vừa nghĩ đến, làm cho Minh bỗng công phẫn hết sức. Nàng thấy rằng cho dẫu sắp đặt giả trá đi nữa, ông Hóa ít ra cũng phải cố chọn một người xứng đáng với thể thống của nàng, nàng trước đây, nàng bây giờ với nàng ngày sau, chớ sao lại đưa một anh thư ký vào vụ nầy ?

Cũng lại giáo dục gia đình nữa ! Nhưng Minh không đáng trách lắm đâu. Không có người con gái nhà giàu có sang trọng nào mà không nghe như nàng, tức là không phân biệt giai cấp, ít ra cũng về những vấn đề tế nhị như thế nầy.

Nàng có thể trò chuyện thân mật với một viên thư ký, có thể cho hắn ăn cùng bàn, đi cùng xe, và không hề khinh miệt địa vị thấp của hắn, nguồn cội tối tăm của hắn, nhưng mà để hắn giả làm chồng nàng trong mấy tiếng đồng hồ thì nhứt định không.

Đây là mối hận đầu trong đời làm vợ của Minh, nàng thấy nàng bị xem rẻ.

Cô dâu ngồi day mặt ra phía rừng lâu quá nên mỏi phải day trở lại nhìn tới trước.

Bấy giờ trước mắt nàng là một bức tường khác, trông cũng kiên cố lắm, đó là cái lưng áo trắng của người tài xế, cái lưng to như một tấm thớt đình. Tấm thớt đình là thành ngữ mà Minh nghe mẹ nàng thường dùng chớ nàng chưa thấy tấm thớt đình lần nào cả.

Trông cao lên một tí, Minh thấy tóc nơi ót của người tài xế lòi ra ngoài mí của chiếc kê bi của hắn, tóc ấy hoa râm. Chi tiết nầy làm cho nàng dễ chịu hết sức.

Những kẻ cao niên ít hay tò mò đến việc trai gái lắm. Ngước lên nhìn tấm gương chiếu hậu, Minh thấy quả người tài xế không có dòm vào đó để theo dõi những gì xảy ra trên băng sau.

Sự dễ chịu nầy giúp cho phẫn nộ của nàng dịu lại và bây giờ hông nàng như có mắt, nàng quan sát thanh niên ngồi bên cạnh nàng, cũng ngồi nép vào cửa xe như nàng nhưng ở cửa bên phải.

Trong giây phút, Minh có ý nghĩ dại nầy, là nếu xe đụng, có thể bộ máy đóng cửa không toàn hảo, cửa sẽ bật ra và cả hai sẽ văng xuống đường dễ như chơi.

Hông nàng như có mắt ? Thật ra nàng quan sát người láng giềng bằng ký ức còn mới, bằng những gì đã thoáng thấy lúc cùng nhau đi trình diện qua các bàn ăn, và lúc từ nhà ra xe.

Cuộc quan sát nầy thật ra chỉ là một cuộc soát lại những gì đã thấy trong một lúc bối rối thôi.

Hắn cũng còn trẻ lắm, chỉ mới hăm hai thôi nhưng chững chạc như một người đứng tuổi. Hắn ăn mặc đẹp lắm, không đẹp vì giá cao của hàng vải cho lắm, không đẹp vì tài khéo cắt may của thợ cho lắm, mà đẹp vì hắn có tướng ăn mặc.

Mặt mũi hắn thế nào ? Minh nhớ ra là hắn trắng trẻo, nhưng không được rắn rỏi lắm. Tuy nhiên hắn vẫn tuấn tú khôi ngô.

Nếu nhìn hắn bằng con mắt của cô gái sống cách đây ba bốn mươi năm thì hắn là một người con trai đẹp một vẻ đẹp lý tưởng, hắn có tướng thơ sinh. Nhưng con gái đời bây giờ thích con trai thô bạo hơn, thể thao hơn, nước da đen cũng được, miệng mũi thô cũng được, mà phải rắn rỏi, phải nhiều nam tính trong thể chất.

Nhưng chắc các ông cụ dự tiệc cưới đã thấy là hắn đẹp trai, cố nhiên.

"Cũng tạm cứu vãn được bề ngoài". Minh nghĩ thầm như vậy.

Và ý nghĩ nầy làm cho nàng bớt xem thường người thanh niên bên cạnh nàng. Hơn thế, nàng lại nghĩ tốt cho địa vị của hắn !

Cái nghề thư ký riêng chỉ mới xuất hiện ở xứ ta có mấy năm nay thôi, chưa có biệt sắc, chưa có truyền thống rõ rệt.

Minh, cô dâu thật, nghĩ về địa vị xã hội của Minh, chủ rể giả, qua những hình ảnh mà cô thấy tả trong các tiểu thuyết Âu Mỹ.

Bên ấy thư ký riêng thường là những người có trình độ tương đối khá cao, ít lắm cũng phải có văn bằng văn hóa tổng quát, tức là bằng tú tài.

Vì vị trí then chốt của họ trong công việc làm ăn của các chủ nhơn ông mà không bí mật nào họ không biết, từ bí mật doanh thương, đến bí mật gia đình, bí mật sức khoẻ bí mật tư tưởng, nên chỉ có những kẻ hạnh kiểm toàn bích mới được chọn.

Tương lai của bọn thư ký riêng khá rực rỡ. Lắm ông nhà giàu có ghi rõ trong tờ di chúc của họ, biếu một phần tài sản cho thư ký riêng của họ để tưởng thưởng sự trung thành của các cộng sự viên đặc biệt ấy.

Nhưng không có khoản tiền bất ngờ ấy, bọn thư ký riêng, anh nào cũng khá giả cả và rất nhiều người trở nên giàu có về sau.

Lương họ rất cao, họ lại khỏi tiêu xài gì hết vì ăn ở nhà chủ. Vì thế mà anh nào cũng tiết kiệm được rất nhiều tiền. Vài chủ nhân ông, gặp hồi nguy khốn đến phải vay tiền thư ký của họ nữa.

Hơn thế, nhờ địa vị của các anh ấy, các anh rất thạo làm ăn, và khi có vốn, các anh lại hùn hạp

để doanh thương, phần đông thành công và làm giàu.

Cái anh thư ký riêng của ông Hoạch chắc không được như thế đâu, nhưng cũng không phải là một viên thư ký thường như muôn ngàn viên thư ký khác.

Bấy giờ đoàn xe xuống đến chân một cái dốc dài rồi lại bắt đầu bò lên một cái dốc khác.

Xe cô dâu chạy giữa đoàn, và đường rất thẳng, nên Minh thấy được những chiếc xe trước nối đuôi nhau mà bò lên, trông đẹp mắt hết sức.

Đằng xa kia, đầu dốc như gác lên trời và con đường đứt khúc nơi nền xanh ấy.

Trời trong vắt và nền trời mường tượng như mặt bể xanh. Minh thấy đó là bể khơi mà cũng thấy đó là vực thẩm, là "chơn trời" thuở bé con của nàng.

Thuở bé, nàng tưởng tượng trái đất vuông vức như một bộ ván, và khi người ta đi đến chân trời, tức là đến bìa bộ ván khổng lồ là quả địa cầu, thì người ta đứng trước một vực thẩm, bên kia là hư vô, không còn gì nữa cả, ai rơi vào đó là mất xác.

Quan niệm bé con của gái thơ, được hình ảnh các đầu dốc về sau nầy cụ thể hóa ra và lúc còn là học trò, mỗi lần đi xa nghỉ mát, và có dịp ngồi xe leo dốc là nàng sợ hãi sẽ phải rơi vào khoảng hư vô đó.

Nhưng giờ đây, Minh cứ muốn tưởng tượng của tuổi ngây dại là sự thật, và cứ muốn được rơi vào khoảng hư vô trên đầu dốc thôi.

Rơi vào đó cho xong cuộc đời không may mắn của nàng, cuộc đời mà đối với nàng không còn chút mùi vị, màu sắc nào nữa cả.

Xe chạy đã được hai tiếng đồng hồ rồi. Nắng trưa nung không khí trong chiếc thùng sắt nầy làm cho nhiệt độ của nó lên cao và mặc dầu kiếng của cửa xe được hạ sát xuống, gió vào vùn vụt, cả hai cùng đổ mồ hôi nhễ nhại.

Sau lưng dựa của băng trước, chủ xe có gắn thêm một thứ giỏ bằng nhôm, chia ra làm nhiều ngăn dể đựng vài thứ cần dùng dọc đường lúc phải đi xa.

Chú rể thật - chú rể mà hiện giờ đang nằm nhà - đã chu đáo đặt vào dó một bình thủy trà ngon và vài cái tách, căn dặn chú rể phải săn sóc cho cô dâu, mời cô ta giải khát khi nào trời nóng bức quá.

Minh - chàng rể - với tay tới rút bình thủy ra và lấy tách rót nước đoạn day lại mời cô dâu, hắn vừa kính cẩn dâng nước vừa lễ phép nói bằng tiếng Anh:

- Thưa bà, đây là nước trà ông soạn cho bà giải khát lúc đi đường, chính tay ông soạn lấy. Thưa bà trời nóng, chắc bà thích nước đá chanh, nước cam hơn, nhưng không có gì giúp ta mau hết khát bằng nước trà nóng và ngon, mau hết khát lại hết khát rất lâu mới nghe khát nữa.

Người Tàu chỉ uống trà nóng khi khát nước.

Thanh niên thanh nữ có học của ta ngày nay vì theo chương trình Việt nên không thạo tiếng Pháp. Về sau, bị mặc cảm dốt ngoại ngữ, họ hối học tốc hành một thứ sinh ngữ tương đối dễ dàng nào đó. Phần đông học tiếng Anh.

Minh - cô dâu - chỉ thạo tiếng Pháp, quen nói và quen nghe tiếng Pháp, nên chi câu Anh ngữ trên đây mà nàng chỉ hiểu lõm bõm thôi, làm cho nàng thoạt tiên hơi ngạc nhiên.

Nhưng rồi nàng hài lòng lắm. Anh thư ký nầy kể ra cũng thông minh. Nếu anh ta nói bằng tiếng Việt, người tài xế nghe biết bí mật vụ nầy thì kỳ lắm.

Cô dâu đưa tay cầm chén trà rồi nói:

- Cám ơn anh !

Nàng nói bằng tiếng Pháp. Và đại danh từ "anh" là ta dịch ra như thế thôi, chứ thật ra nàng đã dùng tiếng "vous" mang rất nhiều nghĩa. Nó có thể là ông, là chú, là mầy, là anh, là chị, là cô, là bà, là lu bù thứ nữa.

Có lẽ nàng dùng tiếng "Anh nầy" theo nghĩa Anh của người miền Bắc, Anh tức là Mầy, mà Mầy đây không phải là Mầy thấp hèn mà là Mầy, kể nhỏ hơn Tao, nhưng có thể thống, Tao phải nể. Cha kêu con bằng anh theo nghĩa đó.

Nước nóng lắm, Minh ngồi uống từng hớp nhỏ, sau mỗi hớp lại đặt chén trà lên dĩa cầm nơi tay khác.

- Thưa bà, ông chủ cũng có chuẩn bị sẵn bữa ăn chiều cho bà, cũng để trong giỏ nhôm nầy. Các xe khác cũng có mang bữa ăn theo, vì theo tục lệ, ta không được ghé dọc đường mà ăn.

Cô dâu mỉm cười hỏi :

- Bữa ăn chiều cho tôi ? Còn anh và tài xế nhịn đói sao ?

Chú rể giả cũng cười và nói rõ hơn :

- Thật ra đó chỉ là một thôi, để tỏ sự cung kính của tôi đối với bà, chớ tôi và tài xế vẫn có phần ăn để chung trong đó. Vả lại, khi ra lịnh chuẩn bị bữa ăn nầy, ông chủ chỉ nghĩ đến bà thôi, thì bảo rằng đó là bữa ăn cho bà cũng không sai bao nhiêu.

Buồn cười lắm là họ nói chuyện với nhau mà kẻ dùng tiếng Pháp, người tiếng Anh, mà cả hai đều chỉ lõm bõm ngôn ngữ của người đối thoại của họ.

Cô dâu lại hỏi :

- Anh nói theo tục lệ không được ngừng dọc đường để ăn, thế dọc đường có hiệu ăn sao ?

- Thưa có. Lát xế đây ta sẽ đến một xóm Thượng hẻo lánh, xóm Bù Đăng, nơi đó có mấy cái quán của người mình, quán xép nhưng nấu ăn khéo lắm, hành khách đi Cao nguyên và từ Cao nguyên xuống, thường ăn ở đó.

- Anh đi Cao nguyên thường lắm à ?

- Thưa không, có lẽ còn ít hơn bà nữa, nhưng tôi là đàn ông, lại nghèo, nên ở đâu tôi cũng ghé ăn được nên thạo vậy thôi.

- Anh vào giúp việc cho... cho... cho... chồng tôi được bao lâu rồi ?

- Dạ, trên hai năm.

- Trước anh làm ở đâu ?

- Thưa, tôi chỉ mới đi làm lần đầu trong đời tôi thôi, trước tôi là học trò.

- Vậy à ? Anh học tới đâu rồi ?

- Dạ, năm vào làm với ông chủ, tôi chỉ mới đậu bằng trung học đệ nhứt cấp thôi. Tôi nghèo nên học trễ lắm. Hai năm nay tôi tự học và đỗ tú tài I.

Thấy chén nước của bà chủ cạn phân nửa và chắc đã nguội, người thư ký vội lấy bình thủy ra, mở nắp và đưa miệng bình thủy tới, hắn hỏi :

- Xin phép bà ?

Minh làm thinh chìa chén ra, nhưng chợt nhớ đến kẻ phục dịch mình, nàng hỏi :

- Anh không khát à ?

Chú rể giả vừa phục dịch xong cho cô dâu, đáp :

- Thưa bà, tôi cũng uống đây chớ.

Nói xong, hắn lấy ra một chén tách thứ nhì và tự phục dịch mình.

Thoáng thấy người thanh rên nầy cùng rót một thứ nước ở chính cái bình thủy, một liên tưởng làm cho Minh giựt nẩy mình.

Cảnh tượng nầy đúng là cảnh tượng trên một chiếc hải thuyền, vào một đêm trăng kia, lâu lắm, trong vực sâu của đêm tối thời gian Âu châu... một cảnh trong truyện Tích-Tăng và Ỷ-Sơ mà nàng đã được học ở trường.

Công chúa tóc vàng Ỷ-Sơ là con gái của một vị Quốc vương trị vì nơi một đảo kia, ngoài khơi của Đại tây dương, có lẽ là nước Anh chăng ?

Một sáng kia, cùng triều thần đi săn bắn, một vị quốc vương khác trong lục địa tình cờ bắt được trong không trung một sợi tóc vàng óng ánh và thơm phức mùi trinh nữ.

Trong giây phút, vị Quốc vương nầy ngẩn người ra mà tưởng tượng đến dung nhan kiều diễm của chủ nhơn sợi tóc mà ông cầm chắc giữa hai ngón tay, xe qua xe lại để xúc giác của ông tận hưởng sự mịn màng của tóc.

Lát sau ông hỏi quần thần:

- Người con gái nào mà có thể có tóc như vầy ?

Một lão quan râu bạc chảy như thác nước xin xem sợi tóc rồi tâu rằng:

- Tâu Quốc vương, chỉ có công chúa Ỷ-Sơ là có được tóc nầy trên đời thôi.

Về trào Quốc vương mơ công chúa Ỷ-Sơ đến bỏ ăn bỏ ngủ và sau một thời gian ngắn, ông quyết định cầu hôn.

Ông ra lịnh sắm sửa hải thuyền và sai vị lão quan thạo việc năm châu bốn bể ấy mang quốc thư của ông và lễ vật ra tìm hòn đảo ấy để cầu hôn.

Phần nghi lễ do vị quan già ấy phụ trách, còn về mặt võ biền thì Quốc vương giao phó cho một viên tướng trẻ tuổi, tướng Tích Tăng mà Quốc vương đã nhận là con nuôi.

Cuộc cầu hôn có kết quả. Cái đêm cuối cùng còn ở trong cung cấm, trước buổi rạng đông mà nàng phải xuống thuyền để viễn du về nhà chồng trong lục địa, công chúa Ỷ-Sơ được vương mẫu cho một bình rượu tiên mà rằng:

- Con nè, con chưa biết mặt mũi của chồng con ra sao, còn mẹ thì nghe thiên hạ đồn rằng vị Quốc vương góa bụa ấy đã già lắm rồi.

Như thế, con sẽ rất khó lòng mà yêu chồng con, mà không tình yêu, hôn nhơn của con còn ra gì ?

Nay mẹ thỉnh được bình rượu tiên nầy nó có tánh chất giúp cho tình yêu hai con và nhứt là của con nẩy nở ra. Về nhà chồng, đêm tân hôn con sẽ đem bình rượu nầy ra rồi cùng với chồng con giao bôi.

Có như thế con mới được hạnh phúc.

Rồi công chúa xuống thuyền, thuyền trương buồm tách bến ra khơi, đưa Ỷ-Sơ về một nơi mà tương lai nàng nằm cả trong bầu thuốc tiên huyền diệu của vua bà trao tặng.

Lúc ấy vào độ trăng tròn, sóng êm gió lặng. Đây là lần đầu tiên mà nàng công chúa khuê môn bất xuất rời gia đình để đi một chuyến xa thật xa, dặm nghìn non sâu nước thẳm.

Nỗi nhớ cha mẹ, nhớ nhà, nhớ nước khiến Ỷ-Sơ nghe mình trơ trọi quá. Nàng thơ thẩn đi lên bông thuyền nhìn trăng nhấp nhô đầu sóng ở đằng chơn trời hướng đông, nghe cả trời biển bao la trùm cô đơn lên tấm thân liễu yếu của nàng.

Thình lình một bóng đen dài thật dài làm cho công chúa kinh hãi, kêu rú lên một tiếng. Vì trăng mới mọc cho nên bóng của vật gì trên bông thuyền cũng kéo dài ra cả, còn công chúa thì chưa ra khỏi lầu son lần nào, nên không biết điều đó.

Bóng đen dài ấy lại vụt chạy về hướng công chúa khiến công chúa lại càng thêm khủng khiếp hơn và

khi thấy hai cánh tay khổng lồ của bóng quỉ vung lên sàn gỗ bông thuyền, công chúa suýt ngất đi.

Tiếng đế giày nện lên bông giúp công chúa tự trấn tỉnh được và một trang võ tướng tuấn tú khôi ngô hiện ra trước mặt công chúa.

Ỷ-Sơ là người phụ nữ độc nhứt trên thuyền, không kể đám thế nữ theo hầu hạ nàng, nhưng bọn nầy ăn mặc riêng biệt, trông thấy là biết ngay, chớ không gấm vóc ngọc ngà như nàng công chúa nầy.

Vì thế mà võ tướng gập mình lại liền mà thi lễ:

- Thưa công chúa, tôi đang ở dằng mũi thuyền, nghe kêu, ngỡ có biến chạy đến đây, không dè là công chúa. Thưa có việc chi dạy bảo, công chúa cứ sai khiến.

Ỷ-Sơ vẫn còn đánh trống ngực, thở hổn hển nói:

- Không, không có việc gì cả. Ta thấy bóng tướng quân trên bông gỗ, ngỡ bóng quỉ nên sợ hãi vậy thôi.

- Té ra là vậy. Thần thật đáng tội lắm, xin công chúa thứ lỗi cho.

- Không hề gì. Nhưng tướng quân là ai.

- Thưa, tôi là Tích-Tăng, tướng cận vệ của quốc vương nước tôi. Tôi có sứ mạng bảo vệ phái đoàn cầu hôn nước tôi và bảo vệ đoàn hoa thuyền nầy.

- Vậy à ? Ta có nghe danh Tích Tăng là viên tướng lỗi lạc của vương quốc của tướng công, nay mới thấy mặt đây.

Bấy giờ ánh trăng không bị mạn thuyền cao che khuất nữa và Tích Tăng lặng người ra mà thấy trước mặt mình một nàng tiên nga kiều diễm.

Ỷ-Sơ cũng thấy, nổi bật lên nền trời hướng Đông đầy ánh trăng, một bóng dáng hùng dũng uy phong và cũng ngây người nín lặng rất lâu.

Thấy không còn lý do đứng nơi đó, Tích Tăng lại gập mình lần nữa để chào mà đi. Nhưng Ỷ-Sơ hỏi:

- Còn bao lâu nữa ta mới tới đất liền ?

- Thưa còn ba hôm nữa.

- Té ra ta đi đã được nửa đường rồi vì, ta ra khơi đã ba ngày nay.

- Thưa phải.

- Buồn quá tướng quân ơi, ta nhớ nhà quá !

- Thưa công chúa, vương quốc của chúng tôi là một vương quốc phồn thịnh, người đông của nhiều, khí hậu hiền hòa, cảnh vật xinh tươi. Rồi công chúa sẽ vui sống bên ấy và quên được nỗi nhớ nhà.

- Ta chỉ mong được thế thôi. Nhưng cũng khó lòng mà làm quen với đất mới trong mấy tháng đầu. Đâu tướng quân kể cho ta nghe những điều hay lạ bên ấy coi.

- Thưa công chúa...

Trong khi Tích Tăng bắt đầu kể chuyện thì công chúa Ỷ-Sơ vẫy tay ra hiệu cho bọn hầu thế nữ từ đàng xa. Một nàng thế nữ lướt tới bẩm:

- Chờ lịnh công chúa.

- Mi vào phòng ta lấy ra đây một bình rượu ngon và hai cái chén ngọc, để ta thưởng Tích tướng quân coi nào.

Sự may rủi của số mạng đã xui người thế nữ cẩn thận ấy vội vàng nên lấy lầm bình rượu tiên mà vua bà đã ban cho công chúa.

Tích Tăng kể chuyện nghe hay quá nên được công chúa liên tiếp thưởng nhiều chén rượu. Công chúa cũng tự rót cho mình để thưởng trăng, và nhận chìm niềm sầu viễn xứ.

Huyền diệu ơi, khi bình rượu vừa cạn thì cả hai bỗng nghe mình yêu đắm đuối kẻ đối thoại với mình và...

Câu chuyện còn rất dài, nhưng cô dâu chỉ nhớ tới đây thôi, khi liếc nhìn chú rể trá hình tự rót trà cho chàng ta cũng từ bình thủy độc nhất ấy ra.

Minh mỉm cười vì chợt thấy mình nhạy liên tưởng quá và giàu tưởng tượng quá nên phải lo sợ hão. Thuốc tiên và nước trà, là hai thứ khác nhau một trời một vực.

- À, anh tên gì,

nàng lại hỏi sau một hồi mà cả hai đều nín lặng.

- Dạ, tôi tên Minh.

Minh ngạc nhiên hết sức trước sự trùng tên mà nàng chỉ mới biết đây thôi. Tất cả những gì thuộc về người thư ký của ông, ông Hóa đã cho gia đình nàng biết cả, có gởi cả ảnh của hắn lên Ban Mê Thuộc nữa. Mẹ nàng cũng đã kể lại những chi tiết ấy cho nàng nghe, trừ tên của hắn mà có lẽ bà Hoạch cho là không quan trọng nên bỏ qua. Ảnh hắn, nàng không buồn xem, nhưng nếu tên hắn mà được cho biết có lẽ nàng đã chú ý lắm vì sự trùng ngộ nghĩnh đó.

- Anh có biết chăng là tôi cũng tên Minh ?

- Dạ không.

- C...hồng tôi gọi anh bằng gì ?

- Dạ, bằng tên của tôi.

- Như vậy trong hai ta, có một kẻ phải tạm hy sinh tên mình, ít ra trong gia dình của chồng tôi, nếu không, sẽ gây nhiều lộn xộn.

- Dạ, vâng.

Thư ký Minh nhận ra ngay điều đó mà hắn thấy là hữu lý. Nhưng hắn bỗng châu mày, rồi tủi thân đến muốn rưng lệ. Hắn biết rằng, bà chủ tương lai của hắn tuy nói "trong hai ta" nhưng chắc chắn kẻ phải chịu hy sinh là hắn rồi, không còn ai vào đó nữa.

Lắm trường hợp, chính đương sự tự động cải danh đổi tánh mà không nghe buồn. Nhưng nếu y làm thế vì một áp bức nào, một áp lực nào, cho dẫu là áp lực ấy đưa ra dưới hình thức nhẹ nhàng là gợi ý đi nữa, hắn cũng nghe tủi thân như là chính một bộ phận trong con người của hắn, một ngón tay chẳng hạn, mà cha mẹ hắn đã yêu quí và hắn cũng xem trọng, bị cắt đi.

Bà Hóa tương lai bắt chợt được dấu hiệu của phản ứng tâm lý nơi người thư ký nầy và thấy rằng thật là bất công nếu sự việc xảy ra như vậy, nên nàng an ủi:

- Nhưng thôi, để tôi tự đặt cho tôi một biệt hiệu để chồng tôi gọi tôi. Vả tên Minh của tôi cũng không có vẻ là tên phụ nữ cho lắm.

Thư ký Minh muốn nói: "Cảm ơn bà" nhưng hắn lại làm thinh, vì nếu nói câu cám ơn đó, hóa ra hắn đã chống lại đề nghị của bà chủ tương lai của hắn, và được tha cho sự thiệt thòi đó nên mới mang ơn.

Họ không còn nói gì với nhau nữa nên cả hai đều làm thinh rất lâu.

Ánh dương xế bóng về hướng tây soi nghiêng vào cửa xe phía bên người rể giả nhưng chỉ rọi vào thân dưới tà áo của cô dâu thôi. Tuy nhiên, Minh cũng day mặt qua hướng đông, tức qua phía trái của con đường để tránh bị chóa mắt.

Vì thế mà nàng không biết được anh thư ký riêng của chồng nàng đang làm gì.

Thình lình nàng nghe Minh la lên:

- Bù Đăng.

Cô dâu giựt mình đánh thót một cái, day qua thì thấy Minh ngồi khom mình, hai tay vịn lưng dựa băng trước và cằm gác lên đầu lưng đó, nhìn tới đằng xa kia. Cũng nhìn theo kẻ chung chuyến, cô dâu thấy dạng mấy nóc nhà tranh.

Không mấy chốc xe đã chạy ngang qua cái xóm mà người thư ký đã nói đến lúc hai người mới bắt đầu đàm thoại với nhau.

- Sao chỉ leo heo có mấy nhà thôi ?

- Dạ, chỉ có mấy cái quán cơm đó thôi, trong xa kia còn một xóm Thượng. Thưa bà, bà dùng bữa ăn chiều chớ ?

- Sao lại ăn cơm sớm thế nầy ?

- Tôi chỉ hỏi vậy thôi.

Thư ký Minh bị mấy quán cơm nầy nhắc nhở đến bữa ăn, và cứ ngỡ hễ tới đây là phải ăn, như hành khách xe đò vậy.

Nhưng người tài xế hỏi lớn:

- Ông cho tôi ăn được chớ ?

Cả hai đều rụng rời vì họ nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ cớ sao anh nầy lại hiểu được, phải chăng là y đã biết rõ cả bí mật của họ.

Để thử cho biết, cô dâu hỏi y bằng tiếng Pháp:

- Bác đã nghe đói rồi sao ?

Người tài xế làm thinh và họ an lòng. Có lẽ hắn chỉ biết lõm bõm một vài tiếng Anh hay tiếng Pháp và nghe mấy động từ "ăn sớm", "dùng bữa", hắn đoán đúng họ đang nói chuyện ăn.

- Cứ cho hắn ăn trước và dặn hắn nên cẩn thận trong lúc ăn.

Cô dâu nói bằng giọng thường nhưng vẫn hách một cách kín đáo mà không cố ý. Những kẻ giàu có quen ra lịnh, thường có được giọng ấy. Nếu họ tốt, cố làm dịu lời lẽ người ta vẫn cứ nghe rõ rằng đó là cái lịnh.

Thư ký Minh làm thinh, lấy bánh mì trao trước cho người tài xế. Vì anh ta không được buông cả hai tay ra để ăn, nên Minh chỉ trao thêm một món dồi khô thôi, chớ không khui những hộp chả gan, những hộp thịt bò hấp ra.

Bấy giờ mặt trời đã xuống thấp lắm rồi, đốt đỏ đầu rừng hướng tây.

Đầu rừng nầy chạy dài trên một dãy núi đồi trùng điệp, cứ càng phút càng đen sẫm lại trông như là sơn thủy cải lương vẽ trên giấy bồi cắt theo những hình hợp với cảnh.

- Phía bên kia dãy núi nầy là nước Lào phải không anh ?

- Thưa không, đó là xứ Cam bốt.

Họ quên mất hỏi chuyện bằng tiếng ta. Cô dâu ngạc nhiên hỏi:

- Cam bốt ? Sao anh lại dùng tiếng Pháp để chỉ xứ Cao Miên.

- Dạ, họ tự xưng như vậy và yêu cầu thiên hạ gọi họ như vậy.

- Có lẽ họ yêu cầu các chánh phủ của các nước trên thế giới chăng. Và các chánh phủ vì lịch sự ngoại giao, nên thỏa mãn họ, chớ ta là dân, ta đâu có bổn phận phải nghe họ, và ta cứ kêu theo sự quen miệng lâu đời thôi chớ.

- Dạ, có lẽ bà nói có lý.

- Tôi theo chương trình Pháp nên dốt Việt sử, anh có biết cái nàng công chúa gì mà gả cho vị quốc vương Cao Miên để đổi lấy quyền di dân vào Nam đó hay không ?

- Thưa bà, tôi cũng không biết câu chuyện đó.

- Nhưng câu chuyện ấy sao mà giống câu chuyện Huyền Trân công chúa quá.

- Ừ giống quá... Lịch sử là một cuộc tái diễn muôn đời... thật là buồn.

Cô dâu đã trở lại nói bằng tiếng Pháp câu trên đây rồi cắn môi, châu nầy, mắt rưng rưng lệ Lâu lắm nàng hỏi:

- Anh có thường giao thiệp với người Huế hay không ?

- Dạ không. Chi vậy bà ?

- Chắc là anh không biết cái bài ca Nam bường gì mà hát lên thân phận của Huyền Trân...

- Dạ, tôi có biết.. Bài ấy tôi đã học ở nhà trường.

Nói rồi thư ký Minh hát bằng giọng Huế sai be bét:

"Nước non nghìn dặm ra đi.

Mượn màu son phấn đền nợ Ô, Ry."

Hình như là thư ký Minh có nghe một tiếng nấc thật khẽ và thật ngắn. Sợ hãi, chàng nín bặt rồi nói:

- Xin lỗi bà.

Hắn không xin lỗi đã hát bài hát gợi buồn nữ chủ hắn, mà xin lỗi một việc xa xôi rồi là cái việc mà hắn đã vô tình làm, cái việc xúi chủ hắn đòi nợ ông Hoạch.

Mặc dầu vô tình, hắn vẫn tự thấy hắn có lỗi gián tiếp.

Người tài xế đã ăn xong bữa ăn của hắn. Hắn ném vỏ chuối tráng miệng qua cửa xe và xin nước uống. Biết ý hắn, Minh trao tới một chai nước lọc cho hắn uống cho thật đã khát. Hắn mở nút rồi đưa miệng vào miệng của cái chai mà nghiêng mà nút.

Xong đâu đấy, hắn mở đèn trong xe và đèn pha ngoài vì trời đã chạng vạng rồi mà sương rừng chiều dày lắm.

Họ làm thinh và mãi cho tới Đồng Xoài, cô dâu mới đòi ăn.

Người thư ký dọn riêng cho bà chủ tương lai của chàng bữa ăn trên một mâm bằng tre rất đẹp, mâm đặt trên băng xe, giữa hai người.

Bữa ăn gồm bánh mì, phô mai, chả gan hộp, chuối để ăn với phô mai, còn món tráng miệng là một chùm nho tươi.

Thấy chàng thư ký ăn riêng, Minh nói:

- Anh cứ ăn chung cho vui, tôi cho phép đó.

- Cám ơn bà lắm. Nhưng ăn chung phải day ngang để vói qua mâm, mỏi lắm. Bà cũng nên bưng mâm để trên vế bà cho khỏi phải day qua bên nây mãi.

Ngoài kia, đêm đã xuống. Hai người lặng lẽ ngồi ăn, như là hai người thân ở chung nhà, vừa giận nhau mỗi người day mỗi ngả, mặc dầu chung chiếu.

Chàng thư ký xong bữa từ lâu rồi mà bà chủ vẫn còn gậm bánh. Nàng nuốt không trôi hay có tánh quen của giới trưởng giả ?

Mãi cho đến khi xe vào thành phố Bình Dương, cô dâu mới rớ tới món chuối phô mai.

- Đây là đâu ? Nàng ngơ ngác hỏi.

- Dạ, quốc lộ xuyên thành phố Bình Dương.

- Gần tới rồi à ?

Minh hỏi câu ấy xong, buông rơi trái chuối ăn dở chừng và miếng phô mai xuống mâm.

- Dạ, chỉ còn có ba mươi cây số nữa thôi, người thư ký đáp.

- Chỉ còn có ba mươi cây nữa thôi ! Minh lặp lại câu nói của người thư ký như một tiếng vang.

Chú rể giả thật thà, ngỡ bà chủ hỏi gặn lại nên lại đáp một lần nữa:

- Vâng, chỉ còn có ba chục cây số nữa thôi, chạy một lát là tới nếu không kẹt cầu xe lửa.

- Chạy một lát là tới !

- Vâng còn gần lắm thưa bà !

Anh thư ký cứ dại dột đồ đi đồ lại mãi cái ý gần tới, khiến lòng Minh đã nát nghiến lại càng nát nghiến hơn.

Nàng để mâm xuống băng, chùi tay bằng những chiếc khăn Nhựt Bổn bằng giấy mỏng rồi vứt giấy qua cửa xe.

- Thưa bà, bà không ăn tráng miệng ?

Thư ký Minh hỏi.

- Thôi, tôi no lắm rồi.

Chàng thư ký vội rót nước trao cho Minh. Nàng chỉ hớp có mấy hớp thôi rồi trao trả tách nước mà không day qua phía chú rể giả.

Nàng nhìn tới phía trước, trong đêm tối mịt mù của không gian, và hình dung ra cảnh đô thành sáng trưng đèn, cái đô thành thân mến mà trước đây nàng háo hức về thăm lại, nhưng giờ, đi gần tới đích lại phát sầu.

Xe chạy sao mau quá ! Bún, Bình Nhâm, Lái Thiêu, Đồng Chó Ngáp rồi cầu Bình Lợi. Có lẽ Minh sợ tới nơi quá mà thấy như vậy, mà cũng vì bác tài xế mệt mỏi nên cố đạp ga để về tới cho sớm hầu nghỉ ngơi.

Tới Cầu Bình Lợi, đoàn xe phải đậu lại sau một dọc xe lu lịch và xe đò rất dài, vì bấy giờ có một chuyến xe lửa sắp đi qua.

Cái trạm bất đắc dĩ nầy đã làm cho hằng ngàn người bực bội nóng nảy, nhưng một người trong đó lại nghe dễ chịu vô cùng.

Minh mong hão một tai nạn gì xảy ra, như cây cầu sắt kiên cố bỗng dưng sập xuống để lùi cái giờ đến nơi mà nàng rất là không muốn thấy.

Cầu mà có sập, người ta cũng sẽ sửa chữa lại, và có thể hành khách vẫn qua sông được ngay nội đêm nay nhờ những chiếc đò ứng dụng mà dân địa phương đem ra kiếm tiền.

Minh biết thế, nhưng vẫn cứ mong hão điều đó.

Xe lửa, nhứt là xe hàng hóa, những chuyến xe bất thường, thường thì tới các nơi gác cổng rất trễ, khiến những kẻ đợi chờ cảm giác như là phải đợi rục xương rục cốt.

Nhưng đêm nay nó cũng cứ tới sớm một cách dễ ghét. Nó tới sớm và qua cầu với một tốc độ chóng mặt. Các anh gác cổng gỡ cổng lên cũng nhanh nhẩu lạ kỳ.

Khi xe tới Cầu Bông, Minh cúi xuống mở chiếc va li nhỏ đặt dưới chơn nàng từ lúc ra đi tới giờ. Hành lý về nhà chồng của nàng gồm hai rương da lớn để ở trong thùng hành lý và chiếc va ly nầy đây, tất cả được người nhà mang trước ra xe lúc gần tan tiệc cưới.

Vì chưa kinh nghiệm về bản tánh của phụ nữ nên thư ký Minh kinh ngạc hết sức khi thấy cô dâu lấy từ trong va li ra dụng cụ và vật liệu son phấn.

Mấy tiếng đồng hồ ngồi xe dưới nắng trưa và bữa ăn vừa rồi đã làm phấn lợt son phai, nên Minh phải "làm lại sắc đẹp" của nàng.

Cái đó thì đã đành rồi. Nhưng Minh không cần kia mà. Nàng "làm lại sắc đẹp" để ai xem chớ ?

Vả từ buồng ngủ bước ra với đầu bù tóc rối, với cái mặt không võ trang, Minh cũng đẹp nhứt trần đời rồi, sánh với ông chồng của nàng kia mà !

Còn tiệc cưới thường lệ, sau khi rước dâu về nhà, lát nữa đây, cũng không có. Ông Hóa đã đãi bà con - những người trong đoàn rước dâu hôm nay - đã đãi họ rồi hôm qua. Còn bạn hữu của ông, ông không đãi, mà chỉ gởi thiệp báo hỉ thôi. Đây là một đám cưới cử hành trong vòng thân mật thật sự - phía bên đàng trai - chớ không phải rao lên một cách khiêm nhượng đâu.

Bà con của ông Hóa sẽ giải tán ngay khi xe dâu vượt qua cửa ngõ nhà ông, như ông đã thỏa thuận với họ trước rồi, trong nhà cũng chẳng có khách khứa nào ngồi họ cả, như đã thỏa thuận với bên đàng gái, còn vợ chồng ông Hoạch thì cũng về khách sạn ngay sau đó.

"Như thế, bà Hóa làm đẹp để chi ?" Thư ký Minh cứ băn khoăn tự hỏi điều đó.

Chàng nhìn lại Minh, bỗng bị xúc động mạnh, mà thấy nàng tươi như hoa nở. Từ sáng đến giờ chàng vẫn thấy rằng nàng đẹp, nhưng chỉ thấy nàng tươi sau khi đã thấy nàng héo vì đi xa trong nắng và vì bữa ăn thôi.

Ông Hóa chắc chưa hề thấy một cô Minh hai mươi tuổi lần nào. Ông đã biết cô Minh ấy hồi cô ta còn ở Sài Gòn, tức là hồi cô ta mười bảy, đang dậy thì, có lẽ đang nhổ giò cao lỏng khỏng và đang ốm tong teo.

Cái cô Minh đã đi qua hết con đường trổ mã nầy đây, người có diễm phúc thấy sắc đẹp rực rỡ của cô ta là chàng, chớ không phải là ông Hóa.

Thư ký Minh thừ người ra khi nghĩ đến chú rể ở nhà, và chàng nghe khó chịu lắm trước một cuộc phối hợp so le như vậy mà chàng chỉ phảng phất nghĩ đến thôi, từ hôm nay.

So le đối với chàng, không ở chỗ tuổi tác mà ở cái sắc đẹp của đôi tân lang tân giai nhơn nầy.

Phải chi ông Hóa đẹp già đi cho cam ! Đằng nầy ông lại xấu xí quá và người ông rất thô.

Chàng nghe khó chịu và hơi tiêng tiếc, không biết có phải đó là sự tiếc ngọc thương hương theo sách xưa thường nói hay không chẳng rõ, nhưng riêng thư ký Minh, chàng chỉ tiếc thương mơ màng, không biết chắc mình thương tiếc cái gì.

Không có nghi lễ nào hết khi xe dâu về tới nhà chồng. Bà con ông Hóa đậu xe lại trước ngõ, đợi xe dâu vào nhà rồi họ đi luôn.

Vợ chồng ông Hoạch đưa con lên tới đầu thang lầu rồi từ giã nhau, đoạn ông Hoạch bắt tay từ giã ông Hóa rồi vợ chồng ông ra xe đi liền.

Ông Hóa dùng tiếng Pháp mà nói với vợ lại nói theo bọn quí phái, gọi vợ bằng bà:

Ông chỉ tay tới trước và nói:

- Đó là buồng ngủ của bà, buồng riêng của một mình bà thôi.

Vừa nói ông vừa đi trước, Minh nối gót theo sau. Ông mở cửa ra, đoạn nghiêng mình và nói:

- Xin bà nhận buồng của bà.

Nói xong ông mỉm cười rồi xây lưng đi, Minh không để ý xem ông đi đâu, vội bước vào phòng đó và khép cửa lại.

Phòng rộng lắm, và Minh độ cỡ năm thước trên sáu thước. Thấy có cửa buồng không cánh cửa đưa buồng nầy ăn thông với buồng nào không rõ, Minh bước lại xem thì ra bên kia là buồng tắm và buồng vệ sinh.

Có lẽ chủ nhà vừa trang bị lại một mớ đồ đạc ở đây để hiện đại hóa buồng nầy, nên nhiều món đồ bằng kim khí nước kền sáng choang. Mặt rây của vòi phun nước ngó xéo để cho trăm ngàn giọt nước nhỏ bắn xiên, không ướt tóc phụ nữ, khác hẳn với mặt rây phun nước của cái "đuốt" đàn ông nó ngó ngay xuống gạch.

Một chiếc bồn tắm rất rộng đối với người Á đông, làm bằng gạch tráng men xanh có kẻ nét để giả như lót gạch, nằm sát vách tường lót gạch men trắng.

Rồi bồn rửa mặt, rồi bi đê, mỗi mỗi đều tinh khiết. Buồng vệ sinh ở trong xó xa kia cũng không để phảng phất một tí mùi nào cả.

Trở gót lại buồng chính dành riêng cho nàng, Minh cũng thấy được sang trọng và nhứt là khiếu thẩm mỹ của người trang trí phòng ngủ nầy.

Rương và va li của nàng đã được người nhà mang lên đây khi nãy, còn nằm nơi một xó phòng.

Hai chiếc tủ bằng gỗ bằng lăng trắng (giường cũng bằng thứ gỗ đó), vừa đủ chưng mớ đồ tế nhuyễn đựng trong rương và va li.

Thấy trên tủ đầu giường có một mảnh giấy, Minh bước lại xem, đó là hai hàng chữ do con gái viết, nét chữ nguệch ngoạc nhưng không trật chính tả: "Thưa bà, con ở dưới bếp, bà cứ bấm nút điện sau chiếc tủ nầy là có con chạy lên."

Minh toan làm theo lời con sen dặn, để khiến nó soạn quần áo của nàng ra hầu cất vào tủ, nhưng nàng lại thôi. Nàng không muốn hành hạ ai cả, giờ đã hơn chín giờ đêm rồi, nên để cho gia nhơn nghỉ là hợp nhơn đạo.

Minh mở rương ra, lấy một bộ đồ mát rồi tắt đèn để thay y phục. Trong bóng tối nàng thử hình dung xem con sen bao nhiêu tuổi mà nó gọi nàng bằng bà. Có thể nó cao niên hơn nàng nữa, nhưng nó biết đâu được là nàng chỉ mới hai mươi. Vả không kêu nàng bằng bà sao được khi chồng nàng ăn nói một cách quan liêu như thế kia.

Thay quần áo xong, Minh muốn mở đèn lên, nhưng nghĩ sao không biết nàng đứng dậy bước qua buồng tắm.

Cửa sổ phòng ngủ nầy mở toang ra, ánh đèn dưới vườn gián tiếp soi đường cho Minh đi. Nếu đây là chiếu bóng thì khán giả sẽ thấy ánh sáng vừa bừng cháy lên nơi khung cửa phòng tắm và nghe nước rơi lào xào chớ không thấy gì khác nữa.

Cảnh sau là cảnh buồng ngủ, sáng đèn, và Minh mặc bi da ma, đang đứng trước tấm gương bàn phấn để chải lại mớ tóc ướt vừa lau khô.

Giờ, tắm rửa khoẻ khoắn, nàng còn tươi hơn lúc xe qua Cầu Bông nữa.

Bỗng nàng nghe ai gõ cửa cộp cộp ba tiếng. Minh bối rối lắm, nhưng cứ soi gương và chải tóc, có lẽ để che giấu sự bối rối của nàng hơn là săn sóc cái đầu.

Nàng nói, cố bình thường ở cái giọng, nhưng vẫn nghe được là nàng bị xúc động:

- Cứ vào !

Ông Hóa khi nãy bận đại lễ phục, giờ cũng đã thay đồ mát rồi. Nhưng ông mở cửa bước vào buồng nầy mà Minh vẫn chưa thấy ông, chẳng tấm gương không ngó ra cửa ấy.

Ông Hóa hỏi, cũng cứ bằng tiếng Pháp:

- Bà đã nghe đỡ mệt chớ ?

- Cám ơn, đã đỡ.

- Tôi định rước bà bằng một chuyến tàu bay riêng, nhưng tại ông già ổng buộc phải đi xe hơi.

Minh làm thinh, và ông Hóa bền chí đứng chờ. Một lát thấy tân giai nhơn cứ kéo dài một công việc đã xong tân lang nói:

- Mời bà lại đây !

Giọng ông không xẵng, cũng chẳng có dịu dàng và ông ngồi lên chiếc ghế bành bọc nhung đỏ đặt bên hông giường.

Minh kéo hộc tủ bàn phấn ra cất bàn chải, rồi tự nhiên bước tới giường mà ngồi lên đó, ở mép giường phía bên không có ghế bành.

- Ảnh hưởng của con gái Pháp trên thái độ của bà hôm nay, giúp tôi dễ chịu được, và tôi thấy tôi may mắn mà được bà tự nhiên cho vậy.

Tôi sợ một phản ứng khác, buồn hơn, khó liệu cho tôi hơn. Nên tôi... cám ơn bà... đã ơ... hơ đã giúp tôi khỏi bối rối.

Minh vẫn cứ làm thinh và bình thản lạ lùng.

- Nhưng mà rồi tôi lại bối rối quá, ông Hóa tiếp, trước sự bình thản của bà. Tôi thích thấy bà bối rối hơn, cho tôi đỡ mặc cảm, và tôi ước ao được nghe một lời của bà.

Minh vẫn cứ làm thinh mà nhìn vào khoảng không.

- Thưa bà, bà công phẫn lắm à ?

Minh mỉm cười chua chát:

- Nếu ông biết rằng tôi công phẫn thì ông còn đáng trách hơn. Đã biết tôi công phẫn sao ông còn...

- Nếu như tình cảm bà sai thì sao ? Một đôi vợ chồng như ta, có làm rối trật tự xã hội hay không ? Tôi có phạm đạo đức cổ truyền hay không ? Bà không đáp, tức là bà không tìm được lý lẽ để mà binh vực tình cảm của bà, thì...

- Nhưng ông không kể đến lòng người à ? Không phải hễ ông có tội để tôi buộc tội, tôi mới công phẫn được. Phải, đối với pháp luật, đối luân lý, ông không hề phạm tội. Nhưng ông làm cho tôi không sống được đời sống tình cảm phải có của tôi.

- Bà cứ sống đời sống tình cảm ấy đi chớ, bà cứ mơ người hoàng tử đẹp trai, nào tôi có ngăn cản bà được đâu.

- Nhưng tôi là con nhà có giáo dục, tôi không muốn phản bội ông trong tinh thần.

- Hoan hô sự thành thật của bà và tấm lòng trong sạch của bà. Kể ra thì bà nói cũng có lý; nhưng người đời, không phải ai cũng được đầy đủ cả, và thiếu mất cái tình cảm ấy, cũng không đến nỗi nào kia mà.

- Nhưng không thiếu vẫn hơn chứ !

- Đồng ý. Tôi sẽ bù lại cho bà bằng sự qui phục và chiều chuộng của tôi. Minh ơi, còn về...

- Xin ông gọi tôi bằng biệt hiệu của tôi do ông đặt lấy vì trên xe tình cờ tôi đã được biết thư ký ông cũng tên Minh, mà như vậy lộn xộn lắm.

- Ý hay đó. Minh muốn biệt hiệu như thế nào ? Tôi không sành những tên mỹ miều, Minh nên tự đặt lấy vậy.

- Vậy ông gọi tôi là Huyền Trân.

- Huyền Trân, đẹp lắm ! Hình như là có một con phố gần đây tên như thế. À, phải rồi, đó là tên con đường chạy sau dinh Độc Lập. Không biết cái tên Huyền Trân ấy đã làm gì và sống vào thời nào ?

Minh - à không, Huyền Trân - Huyền Trân bật cười. Theo chương trình Pháp nàng dốt Việt sử mà có người như lão nhà giàu chẳng hạn, còn dốt hơn, thế mà lão vẫn thành công được như thường trên đường đời.

- Huyền Trân cười gì ạ ?

- Không.

- Huyền Trân ơi, còn về sự so le tuổi tác giữa đôi ta, Huyền Trân nên hiểu như thế nghĩa là tuổi tác không do năm tháng chồng chất lên đầu mình, mà do sức khoẻ thật của các tế bào của ta.

- Ông có thể mang những tế bào hai mươi, nhưng ông cảm nghĩ như người của thế hệ trước, làm sao có sự cảm thông giữa ông và tôi được.

Ông Hóa cười lớn mà rằng:

- À, còn điều đó nữa. Nhưng Minh há lại không biết rằng có những người của thế hệ nầy mà cảm nghĩ như người của thời Minh Mạng, Tự Đức hay sao, và trái lại có những người luôn luôn theo sát và theo kịp trào lưu tư tưởng và cảm xúc.

- Không, người ta có thể theo kịp những trào lưu tư tưởng, nhưng không thể nào cảm xúc y như lứa tuổi khác. Vả lại, nhìn mớ tóc đen một màu đen nhơn tạo mà có lẽ ông mới nhuộm hôm qua, không làm sao tôi khỏi nhớ mãi rằng ông nghĩ khác tôi.

- Dầu sao, hôm nay, cả hai ta đều cởi mở hoàn toàn, trắng trợn nói ra những thắc mắc ẩn kín của Huyền Trân và những thú nhận không dám thú của tôi.

Ta khỏi bị ẩn ức nào đè nén lòng ta nữa, khỏi bị sự mắc cỡ vô lý dồn ép những gì mà ta tưởng là xấu xa, dồn ép xuống tận đáy tiềm thức ta để rồi biến thành khó chịu, bực bội ngầm và thù hận ngầm.

Giờ tôi chỉ biết xin Huyền Trân giữ lời hứa là làm bổn phận người vợ.

- Tôi là con nhà có giáo dục, không thể sai lời hứa với ai hết.

- Hoan hô lý trí của Huyền Trân.

° ° °

Đêm nay kẻ thức sáng trắng là chàng thư ký riêng của ông Hóa. Trước buồng của hắn đặt trên lầu, và từ hơn một tuần lễ nay, chủ nhà đã cho thợ xén trong cái phòng khách rộng minh mông dưới nhà để xây cho hắn một buồng nhỏ, cạnh cái phần trong của buồng khách, cái phần dùng làm phòng ăn.

Sức tưởng tượng của tuổi hai mươi rất mãnh liệt, và sự khó chịu nơi hắn phát khởi từ lúc xe dâu vượt qua Cầu Bông, bắt sức tưởng tượng nầy làm việc thật nhiều khi hắn tắt đèn muốn ngủ.

Thật là vô lý hết sức, niềm đau của hắn, trong khi đương sự thì có vẻ tỉnh khô, hắn nghe cái đêm tân hôn của chủ hắn phũ phàng quá, và mặc dầu ông ấy là người có học, có giáo dục, biết lịch sự với đàn bà, biết thưởng thức vẻ đẹp của nghệ thuật, của tình yêu, hắn vẫn cứ thấy ông là một kẻ "Tuồng chi là giống hôi tanh".

Hắn theo dõi trong trí tưởng những biến chuyển của cuộc giao tiếp giữa đôi tân lang và tân giai nhân, đến một giờ khuya khoắt kia, hắn đoán rằng "Đào tiên đã bén tay phàm", hắn ôm mặt mà khóc mù.

Sáng ra, hắn càng tủi thân hơn, mặc dầu hắn biết trước nếp sống mới của hắn như thế nào rồi, và nhận là hợp lý.

Căn buồng của hắn không ăn thông với buồng khách, buồng ăn quanh đó, mà trổ cửa ra sân sau.

Ông Hóa đã sắp xếp hai buồng nhỏ của dãy nhà phụ thuộc dưới kia, một biến làm buồng tắm cho hắn, và một biến làm buồng ăn. Kể ra hắn được ăn ở đúng địa vị của hắn, nhưng làm sao mà hắn khỏi buồn khi rửa mặt xong bước vào buồng ăn riêng mà từ đây, hắn sẽ ngồi ăn một mình chớ không chung bàn với ông Hóa nữa.

Đêm rồi, hắn ghen tức với ông Hóa, còn giờ thì hắn lại ghen tức với bà chủ. Chính cái bà chủ ấy là kẻ lạ mặt xen vào giữa tình nhơn của chủ hắn và hắn, giành tất cả quyền hạn và ưu đãi mà hắn được hưởng từ thuở giờ.

Tuy nhiên, hắn vẫn biết thân hắn, nên ăn sáng xong từ lâu mà hắn vẫn cứ ngồi lỳ nơi bàn ăn, vì hắn thoáng thấy ông Hóa, bà Hóa xuống dưới nhà để ăn lót dạ.

Bữa ăn nhà giàu kéo dài quá, khiến hắn rất sốt ruột, và tự nguyện từ đây, đi ăn sáng phải cầm theo một quyển truyện trinh thám để có thể giết thì giờ trong khi chờ đợi lúc thuận tiện để ra nhà trước.

Bà chủ ăn xong, còn được ông chủ trình diện gia nhơn gồm bà bếp, chị Sen, tức chị Lầu hai mươi tám tuổi, cái chị đã gọi Huyền Trân bằng bà và xưng "con" với nàng trong mảnh giấy đêm rồi. Anh làm vườn và chú tài xế cũng được trình diện luôn.

Huyền Trân xem lại thì chú tài xế nầy là người khác chớ không phải người lái xe đêm hôm qua.

Ông Hóa nói mà không giải thích:

- Ấy họ toàn là người mới cả. Những người cũ đã được cho nghỉ việc ngày hôm qua.

Ông Hóa là người kinh nghiệm và thượng trí. Ông biết gia nhơn cũ rất quí mến ông, và họ sẽ ghen mà thấy tình trìu mến của họ bị cô gái lạ mặt nầy chia xẻ và sẽ hận cô ta.

Ông đưa người mới thì mọi việc sẽ êm ru và người ta sẽ vâng lời bà răm rắp, trừ anh thư ký, nhưng anh nầy lại không trực thuộc bà thì không đáng ngại. Bà Hóa cũng đoán biết được những lẽ ấy nên không hỏi ông lý do vì sao mà đổi người giúp việc.

Gia nhơn được giải tán cả sau buổi trình diện, chỉ có chị Lầu là được giữ lại thôi.

Bà Hóa ra khỏi bàn, đi lên lầu và gọi chị Sen theo. Đi trước, bà chủ hỏi mà không day lại:

- Chị làm những công việc gì trong nhà nầy ?

- Thưa bà con giặt ủi, dọn quét và để bà sai vặt.

- Chị đừng xưng con với tôi nữa, nghe chưa ?

- Dạ.

- Chị vào buồng tôi, sang quần áo từ các rương và va li qua chiếc tủ trong buồng ấy, còn rương không thì cất đâu tùy chị. Nhà có kho chớ ?

- Dạ có.

- Vậy cất trong kho.

- Dạ.

- Chị vào làm từ hồi nào ?

- Dạ, tôi được nhận vào đây từ hôm kia, lãnh lương kể từ ngày hôm qua, nhưng mới đến đây hồi năm giờ sáng. Mấy người khác cũng vậy.

- Như thế, các người làm sao thạo được công việc ?

- Dạ, đã vậy mà tụi tôi lại không hề gặp mặt người cũ để họ giao việc và chỉ bảo nầy kia. Thưa bà, bà đi đâu xa mới về ?

- Ư… ừ… ừ…

Huyền Trân đáp một cách yếu ớt rồi đi thẳng qua buồng giữa, không ghé lại phòng nàng.

Trong bữa ăn, ông Hóa đã đưa cho vợ xem bản đồ nhà nầy mà ông Hóa phác họa sơ trên giấy.

Từng lầu chia ra làm ba buồng rất rộng, cả ba đều trông về hướng đông, tức là ra phố. Buồng hướng nam, vị trí tốt nhứt, ông nhường cho bà ngủ, còn ông thì ngủ ở buồng hướng bắc. Buồng giữa, ông gọi là phòng gặp mặt, tạm dịch ở tiếng Pháp "Salle de séjour" và ở tiếng Anh "living room" ra, trang trí thân mật và ấm cúng hơn phòng tiếp khách dưới nhà nhiều lắm.

Phòng tiếp khách chỉ có đẹp, có sang, mà lạnh lùng và hơi nặc danh chớ không mang được dấu hiệu của sự sống, không có bản ngã riêng như phòng nầy.

Một chiếc bàn con, một tủ rượu, còn bao nhiêu chỗ đều do ghế bành choán cả, ghế bành bọc nỉ màu cho mùa lạnh.

Tranh tường qua hết các thời đại, các họa phái từ cổ điển đến lập thể, tuyển lựa trong những bức tranh màu nóng và tươi.

Và giữa phòng, một cây dương cầm có đuôi.

Tất cả ghế bành đều đặt sát tường trông ra phía phòng. Thành thử ngồi nghỉ nơi đâu cũng nhìn thấy ngươi chơi dương cầm cả, thấy được đủ cả mọi khía cạnh của người ấy, vì ở góc cạnh phòng nào cũng có ghế bành. Đây là một chiếc dương cầm cũ mới mua lại của một mệnh phụ phu nhơn người Đức. Ông Hóa nghe vợ biết chơi dương cầm nên vội mua nhạc khí nầy trong tuần lễ trước đám cưới, ông quyết sắm một cây đàn to nhứt, mắc tiền nhứt chớ không dè Huyền Trân chỉ là một nhạc công sơ đẳng, không cần đến loại đàn có đuôi.

Người vợ mới về nhà chồng một hôm nầy không biết làm gì, không biết đi đâu nên mới lên cái phòng hợp nhất với tình trạng bỡ ngỡ của cô, nhưng lên đây rồi, cô cũng chẳng biết làm gì. Trong phòng không có lấy một cuốn sách, một tờ báo nào, cho đến một máy thu thanh nhỏ cũng vắng bóng.

Đây là phòng mà gia đình gặp mặt nhau trong ngày để sống với nhau nên không thể cho phép tâm trí của mỗi cá nhơn bị kéo đi nơi khác, vào việc nào khác hơn là việc sống với nhau.

Ông Hóa mua đàn, nhận luôn cả thư viện về âm nhạc của bà mệnh phụ phu nhơn người Đức ấy và để các sách, các bản nhạc trong những ngăn kệ kê sát vách.

Huyền Trân bước lại đó lục lọi một hồi và lấy ra tập trường ca Tích-Tăng và Ỷ-Sơ, một nhạc phẩm dài hơi của thi sĩ trứ danh Đức quốc hồi thế kỷ mười chín, thi nhạc sĩ R. Wagner.

Đây là loại nhạc cổ điển khó quá đối với một cô gái chỉ học vừa xong vỡ lòng nhạc Pháp và chỉ đờn được các tiểu ca khúc tân thời thôi.

Nhưng Huyền Trân cứ chọn nhạc phẩm nầy vì trong đó có cái đoạn danh tiếng. "Cái chết của công chúa Ỷ Sơ" mà nàng đã thích và từ đây càng thích hơn bao giờ cả.

Ngồi lại trên chiếc ghế đẩu mặt tròn không lưng dựa đặt trước cây đàn, Huyền Trân giở nắp đàn lên, mở tập nhạc ra để trên kệ sau hàng phím rồi cho những ngón tay thon của nàng đi dạo trên những phím ngà huyền diệu ấy mà từ đó cả một thế giới âm thanh huyền hoặc vang lên.

Ông Hóa đã cắt đặt xong công việc dưới nhà, vừa lên tới nơi. Huyền Tràn ngồi day lưng ra cửa phòng không đóng, nên không hay chồng vào.

Tân lang đi giày hàm ếch đế kếp, rón lén bước nhẹ lại ngồi xuống một chiếc ghế bành đặt cạnh cửa, miệng ngậm xì gà, mắt nhìn cái lưng ong của vợ.

Nếu có một nhạc công giỏi nào hay một nhạc sĩ nào ở gần đây, nghe bà chủ mới của nhà nầy đàn nhạc khúc cái chết của công chúa Ỷ Sơ chắc họ sẽ phải trốn đi ngay vì không có gì khổ bằng nghe đàn nghe hát sai, nếu tai ta không bằng tai... trâu.

Nhưng tân lang lại cóc cần, không phải vì ông dốt nhạc lắm, mà vì ông không cần nghe nhạc. Ông chỉ thích nhìn một phụ nữ trẻ đẹp ngồi trước cây đàn, và có vài tiếng đàn vang lên là đủ rồi.

Cảnh một thiếu phụ xinh đẹp ngồi trước cây dương cầm gợi lên cái gì mỹ miều, cái gì sang trọng, cái gì dịu dàng an ủi lắm.

Ông Hóa lại vui dạ hết sức vì ý nghĩ thứ nhì nầy là một người đàn bà đẹp và một cây dương cầm, dùng làm cảnh rất đắc lực trong những buổi tiếp khách sang của ông.

Ông sẽ mời danh sư về nhạc đến đây dạy thêm cho bà có thể tấu nhạc trước tân khách một cách đàng hoàng như một nữ chủ trong giới phú hào Tây phương.

Ông Hóa đổi vị trí ngồi, bước sang qua phía bên hông của nữ nhạc công để ngắm hai bàn tay, ngắm những ngón tay của nàng hoạt động.

Huyền Trân vẫn không hay biết gì hết, cứ tiếp tục đàn. Khi đàn xong khúc nhạc nầy rồi, cô gái vừa biến thành đàn bà ấy ngồi nhìn sững hàng phím, lắng nghe dư âm của tiếng nhạc cuối cùng, dư âm của tiếng kêu than của người đàn bà qua muôn ngàn thế hệ, kêu than số kiếp của họ.

Dưới nhà, người thư ký riêng của ông Hóa, không sành nhạc lắm, cũng ngồi thẫn thờ cảm thông với tâm sự nhạc công mà hắn đoán qua điệu nhạc buồn đó.

Bức trần xi măng của nhà dưới, tức nền của từng lầu, như là làm bằng pha lê trong suốt đối với người con trai mà tấm lòng nguyên trinh đã bầm dập trong vòng hăm bốn giờ qua.

Hắn hình dung được đúng y cái dáng ngồi, nét mặt và đôi mắt mơ buồn của bà chủ mới mà hắn và những con số nhảy múa trước mặt hắn bỗng rã rời ra rồi tan biến đi, hắn chỉ còn thấy tờ giấy trắng của quyển sổ kế toán.

Ông Hóa thò tay vào túi quần lấy ra một tập ngân phiếu không thiếu một tờ, nhưng không dám nói gì, sợ Huyền Trân đánh mất giấc mơ kỳ thú lắm của nàng.

Giấc mơ con gái huyền ảo không biết bao nhiêu, của một bà Hóa của tuần lễ trước, hôm nay không còn nữa và thay thế bằng giấc mơ của một thiếu phụ trẻ đẹp mà thường thường cũng không kém phần thần tiên... đối với người khác. Ông Hóa dư biết điều đó. Và ông cũng dư biết rằng đối với Huyền Trân thì không phải thế.

Có lẽ nàng thất vọng chăng ? Không, thật ra nàng đã thất vọng ngay từ lúc thân phụ nàng cố thuyết phục nàng vì nàng thấy rằng không thể từ chối được.

Giờ tâm trạng nàng đã khác rồi. Giờ nàng đang đau niềm đau số kiếp, và ông sẽ tìm đủ cách để giúp nàng tìm thấy ý nghĩa của sự sống, tìm thấy lý do vui sống, tìm thấy hạnh phúc.

Ông Hóa cầm lo le tập ngân phiếu rồi đứng lên đi bách bộ sau lưng Huyền Trân.

Ông đi hơi nhiều vòng rồi mới nghe nắp đàn dậy lại kêu đánh phập một cái.

Huyền Trân xô ghế đứng lên, xây gót có lẽ để đi ra ngoài và bốn mắt gặp nhau.

Ông Hóa vẫn dùng tiếng Pháp để nói chuyện với vợ, nhưng không còn gọi nàng bằng bà nữa, mà dùng đại danh từ "toa" mà theo ta là "em".

- Anh đã mở chương mục vãng lai tại Tổng ngân khố. Đây là tập séc tên em. Hai trăm ngàn anh bỏ trong đó là tiền túi cho em, chương mục ấy thỉnh thoảng sẽ được bồi bổ thêm. Còn tiền túi tiêu vặt năm ba hôm đầu, anh đã bỏ trong túi áo của em. Em có muốn mua sắm gì nhiều tiền, cứ nói anh sẽ ký ngân phiếu riêng của anh cho em thanh toán, vì nên nhớ rằng tiền của em là chỉ để tiêu vặt thôi như là may sắm chút ít chẳng hạn.

Huyền Trân không hoan nghinh tiền bạc mà cũng không chê. Nàng đã lập sẵn thái độ rồi nên hành động không do dự, không bỡ ngỡ vì sự hỗn độn tình cảm có thể có của nàng.

Nhận lấy tập séc, nàng nói cũng bằng tiếng Pháp:

- Cám ơn anh !

Chợt thấy tên mình ghi ngoài bìa cuốn ngân phiếu nàng ngạc nhiên hỏi:

- Nguyễn Thị Minh thì đúng là tên em, nhưng sao lại CÔ Nguyễn Thị Minh.

- Ấy kho bạc họ muốn làm dễ dàng khách hàng đàn bà, nên có những bà năm mươi, con đàn cháu đống vẫn được ghi là Cô. Nếu không dùng tên con gái của khách hàng như thế thì các bà sẽ khổ lắm mà phải nhờ chồng cho phép mới viết séc được, rắc rối lắm.

- Tiện thì có tiện, nhưng, nếu rủi ro em vắn số thì tiền tồn khoản của em trong ngân khố sẽ mất vì Nguyễn Thị Minh là con gái, anh không có quyền thừa hưởng gia tài của một người con gái.

Ông Hóa trố mắt nhìn vợ, Huyền Trân nghiêm trang mà nói điều nầy chớ không có vẻ gì cà rỡn hết.

- Sao em lại nói chuyện gở như vậy ?

- Phải tiên liệu mọi trường hợp chớ.

- Đành là thế nhưng nên trừ trường hợp ấy ra. Không ai lại nghĩ đến chuyện xui xẻo.

Rồi ông Hóa vụt cười lớn mà rằng:

- Nhưng em chớ lo trời sập. Ba có quyền thừa hưởng tiền của em.

- Như thế lại bất công, vì chính tiền nầy là tiền của anh.

- Thôi cho qua vấn đề đó. Em đi chiếc xe đó nghe thế nào ? Có thích hiệu xe nào khác hay không ?

- Chiếc xe nào ?

- Chiếc xe nhà, xe mà em dùng để đi từ trên ấy về đây. Anh sợ màu đen buồn mắt em.

- Em không lưu tâm đến điều đó.

- Kể từ giờ phút nầy, em cắt đặt công việc cho người nhà, muốn sửa đổi gì tùy ý em, họ là người mới cả và chỉ làm theo chỉ dẫn sơ của anh thôi, rất dễ bắt họ theo thói quen của em.

Tài sản của anh - à của ta - đã được kể ra đầy đủ trong tập mục lục tài sản, kể cả nợ họ thiếu ta nữa. Tập mục lục ấy anh để cạnh số tiền túi cấp bách hai mươi ngàn đồng, trong tủ của em. Em cần biết rõ của cải của em.

Huyền Trân chỉ làm thinh. Ông Hóa muốn cho vợ biết rằng số nợ bốn triệu đồng mà ông bố vợ thiếu, không còn ghi trong đó nữa.

Ông Hóa chỉ chiếc một ghế bành cho vợ rồi nói:

- Tuần lễ nầy anh không làm việc nên ngày dài quá, anh bối rối không biết làm gì cho hết thì giờ, nếu em không bận gì thì ngồi lại đây với anh.

Huyền Trân lặng lẽ làm theo lời chồng.

Khi nãy xuống dưới nhà ăn sáng, nàng đã cẩn thận mặc bên ngoài bộ bi da ma một chiếc áo ki mô nô trong bộ mười hai chiếc mà ông Hóa đã đặt mua từ bên Nhựt, gởi qua bằng phi cơ.

Khi vào phòng nầy, vì ham đánh đàn, nàng quên cởi áo choàng ấy ra và mãi đến bây giờ nàng mới thoát xiêm.

Ông Hóa vội bước lại gần vợ đỡ lấy chiếc áo ki mô nô, gác lên đầu một chiếc ghế bành, đoạn lại ngồi gần vợ.

Cả hai đều làm thinh vì Huyền Trân không có gì để nói cả, còn ông Hóa thì thấy rằng nói là bổn phận của vợ ông chớ không phải là của ông.

Có phải chăng là "lẽ có" của một người vợ, trong các gia đình giàu sang mà ông chồng không cần sự phụ lực của người bạn đời, có phải chăng cái "lẽ có" của nàng là an ủi ông, làm đẹp hơn lên cuộc đời của ông ?

Ông Hóa cũng biết rằng đành là thế, nhưng người chồng cũng phải nịnh đầm, săn sóc đến vợ cái đã. Cả hai lẽ đó ông đều biết nhưng ông hơi hờn vợ ông. Nàng như là cố ý ngậm câm, chớ không phải thiếu đề tài câu chuyện, không phải đợi ông săn sóc.

Ngồi độ mười phút, ông phải đầu hàng và nói:

- Em học nhạc thêm em nhé ? Anh không biết em giỏi hay dở, nhưng cứ nghe họ bảo rằng phải tốn đến mười năm công khó mới đàn ra hồn, thì anh đoán rằng em cần học thêm.

Anh có quen với một bà người Pháp dạy nhạc có tiếng, anh có thể mời bà ấy đến đây, nhưng anh sẽ để em đến nhà bà ấy, đặng em có dịp đi tới đi lui cho vui.

- Tùy anh.

- Trước kia, hồi còn ở dưới nầy em giải trí làm sao ?

- Em bơi lội.

- Ở dâu ?

- Trong hồ tắm trường Marie Curie, trên vườn Thảo Cầm.

- Giờ em còn thích lội hay không ?

- Còn.

- Tốt lắm. Anh sẽ ghi tên em vào số khách bơi lội của hồ tắm của câu lạc bộ thể thao của người Âu ở đây. Tối nay ta đi ăn cơn ở ngoài rồi đi xi nê em nhé.

- Tùy anh.

- Tại sao em cứ hay nói "tùy anh" hoài vậy ?

- Chớ anh thích thấy em chống lại anh sao ?

Ông Hóa cười ha hả mà rằng:

- Không. Nhưng anh thích thấy em phấn khởi hơn là chiều ý anh.

Ông Hóa không có lập chương trình đi hưởng tuần trăng mật ở xa vì ông sợ Huyền Trân không thích đi ra ngoài với ông. Phải ông dè nàng cứ "tùy anh" mãi như thế nầy, cuộc du lịch ấy đã có rồi. Bây giờ thì đã muộn, đi ngay ngày mốt nầy, sẽ không hơn gì ba tháng nữa sẽ đi.

Cái thú vị chuồn mất sau đêm tân hôn sẽ không được hưởng thì hai năm sau sẽ đi cũng thế thôi.

Ông Hóa tiếp:

- Tối nay ta đi ăn ngoài và đi xi nê chỉ để trốn khách thôi. Họ sẽ lục tục đến thăm ta và phải đi trả lễ mệt lắm. Cho những phiền phức ấy lùi càng xa càng hay.

Ông Hóa đã ban cho vợ hai tự do lớn, đi học nhạc và đi bơi lội. Nhưng Huyền Trân lại thoáng thấy trước sự trơ trọi của nàng ở hai nơi đó, nên không hoan nghinh là phải. Người ta đi giải trí tay đôi mới vui, không đi tay đôi được vì lẽ gì đó thì nằm nhà là hơn.

Tuy nhiên, đi tay đôi vẫn không vui. Tối lại, ông Hóa đưa vợ đến một hiệu ăn chia làm nhiều buồng riêng cho gia đình, mỗi buồng đều có máy lạnh và bữa ăn tối nay lạnh vô cùng, bởi vì Huyền Trân không có gì để nói với chồng cả.

Nàng có rất nhiều tâm sư, nhưng chỉ có thể trao gởi cho một người bạn thôi mà ông Hóa không phải là bạn của nàng. Cho đến cả những ý nghĩ thông thường và thiển cận về vật chất, về một miếng bít tết mềm, về một miếng thỏ xi vê nấu khéo, người ta cũng không buồn nói với một người không phải là bạn.

Ông Hóa thì xem vợ là bạn được. Nhưng người bạn ông cứ ừ hữ mãi thành thử ông phải cụt hứng.

- Sao em cứ làm thinh hoài vậy. Ông mỉm cười hỏi thế.

- Em nghe nhiều người đàn ông bảo rằng họ thích lấy vợ Nhựt vì phụ nữ Nhựt chỉ thích phục dịch, không hề xen vào đời sống của chồng vợ. Anh không thích như vậy hay sao ?

- Không, anh không ích kỷ như vậy. Trái lại anh thích sự cởi mở theo lối Âu châu.

- Rất tiếc, bản chất của em là bản chất của phụ nữ Nhựt.

Ông Hóa mỉm cười, biết vợ giả dối vì lẫy đời. Đó là một hình thức phản kháng, một hình thức chống đối tiêu cực của kẻ bất lực. Ông sẽ đập tan lối đề kháng thụ động đó hay nói cho dúng, ông sẽ giúp vợ ông yêu đời, ông tin chắc ở tài lực ông, nên không nổi giận cũng chẳng lo lắng.

Ông hóm hỉnh nói:

- Bản chất của phụ nữ Nhựt là thế, đúng như vậy. Nhưng sau mấy năm bị ngoại bang chiếm đóng, phụ nữ Nhựt vẫn thay đổi được và một số lớn đã quan niệm theo Âu Mỹ, hay nói cho đúng theo mọi dân tộc khác, kể cả dân tộc ta. Như vậy, cái bản chất đó không phải là cái gì bất dịch đâu.

- Có lẽ anh nói đúng. Nhưng bảy năm chiếm đóng sau một trận chiến tranh khốc liệt, dễ lung lay con người hơn là hai ba mươi năm thái bình. Có lẽ đến năm bốn mươi tuổi, em sẽ quan niệm như người đàn bà Việt Nam.

Huyền Trân nói được cái câu dí dỏm đó (mà lại là một câu tiêu cực đề kháng nữa) thì đắc ý lắm và mỉm cười.

Ông Hóa mừng rỡ như U Vương nhà Châu đã mừng khi nhìn thấy nàng Bao Tự cười trước cảnh tiu nghỉu của các chư hầu bị khói Cam Toàn báo động láo, vội vàng cất binh chạy tới rồi ra về không.

Rồi ông van nài giọng cầu khẩn:

- Em chống đối lại anh cũng được, miễn là em nói cái gì như nãy giờ. Bị chống đối anh sẽ thích chí hơn là thấy sự lạt lẽo của em.

- Nếp nhà của em đã luyện em ra người lương thiện, mà trong trường hợp của em, chống đối hay lộn nài tháo ống là bất lương.

- Nhưng em tẩy chay anh như vậy còn ác hơn là chống đối nữa.

- Em không có tẩy chay anh. Tại bản chất của em như vậy thôi.

- Khó tin lắm. Nhưng cũng khó bẻ em lắm ! Em nên thành thật với em mà suy luận rằng tiêu cực đề kháng là một lối chống đối ác hiểm. Anh không có tội lớn lắm đến phải bị như vậy à, xin lỗi anh đã làm buồn em.

Tới bây giờ anh chỉ hỏi em các lối giải trí của em bên ngoài. Trong nhà em giải trí như thế nào ?

- Em đọc sách, em chơi cờ tướng và em...

- Chơi cờ tướng ?

Ông Hóa há miệng trố mắt nhìn vợ mà hỏi gằn như vậy. Suốt đời ông ông chưa hề thấy phụ nữ Việt Nam chơi cờ tướng.

- Vâng, chơi cờ tướng.

- Hay lắm, nhưng lạ lắm.

- Lạ lắm nhưng có bậy hay không ?

Ông Hóa không đáp lời vợ, đứng dậy đi qua đi lại, có vẻ bị kích thích dữ lắm.

- Chơi cờ tướng. Chơi cờ tướng ! Ông lẩm bẩm một mình và mỉm cười vì ông thoáng thấy đó là một cái cớ giúp ông trở lên bạn của Huyền Trân được.

- Không, không bậy, trái lại nữa, rất tốt. Cờ tướng cao hơn tứ sắc nhiều, nhưng không hiểu sao phụ nữ ta lại giải trí bằng tứ sắc mà không hề chơi cờ tướng. Có lẽ họ không thành thật với họ và đánh tứ sắc vì lẽ khác, vì… tiền chăng ?

Quí hóa lắm, anh cũng mê cờ tướng, nhưng thiếu tay. Anh sẽ sắm một bàn cờ thật quí để...

- Nhưng em lại thích làm vườn hơn và em cần làm lụng lắm để giết thì giờ.

Ông Hóa cụt hứng. Có lẽ Huyền Trân đã trót lỡ lời nói thật những sở thích của nàng, nhưng khi thấy ông quyết tham gia vào một trong mấy trò chơi ấy, nàng vội rút lui. Như thế thì sự tẩy chay đã rõ rệt quá rồi.

Ông đã tiên liệu đủ mọi khó khăn mà Huyền Trân đã gây ra khi về nhà chồng, và đã nghĩ cách đối phó, nhưng thật ông chưa hề nghĩ đến hình thức thụ động rất khó chịu nầy nó là khí giới tự nhiên của kẻ yếu mà ... khôn.

Sài Gòn ngày... tháng... năm...

Thưa Ba Má.

"Con được hạnh phúc.
"Nhưng nhớ Ba, Má và các em lắm.
"Vài tháng nữa con sẽ về thăm Ba, Má và các em.
"Kính chúc Ba Má được sức khoẻ, trường thọ và các em vui vẻ học hành.

Nguyễn Thị Minh.

Huyền Trân nghiên cứu suốt ba hôm mới viết được bức thư sáu dòng chữ nầy.

Đó là sự vắn tắt cố ý để người đọc thư đoán rằng nàng đang say mê hạnh phúc của nàng mà không còn thì giờ để nghĩ đến ai cả, cho dẫu là đến những người thân yêu nhứt trong đời nàng từ thuở giờ, mà bây giờ đã bị đẩy xuống hàng ghế thứ nhì.

"Vài tháng nữa con sẽ về…" Nhớ lắm, khỏi làm dâu làm con ai, chồng lại tốt, phương tiện rất dồi dào, thế mà vài tháng nữa mới về có phải chăng là nàng đang triền miên vui duyên thắm ?

Theo giao hẹn, họ không trở về đằng gái ba ngày sau lễ cưới. Nghi thức ấy bỏ đi thì cái thời gian là Minh để ra đặng hưởng tuần trăng mật, dài hay ngắn tùy cả ở hạnh phúc của nàng.

Trong những ngày bà chủ nhà cặm cụi viết thư thì anh thư ký lại làm thơ.

Không riêng gì ở đất nước Việt Nam nầy đâu, mà toàn thể thiếu niên trên thế giới đều thế, hễ lên tới trung học là cậu nào cũng thử làm ít lắm là một bài thơ trong đời học sinh trung học của họ.

Đó là thời mà tình cảm của con người bắt đầu ló dạng mà lối diễn tả tình cảm đó, là thơ văn.

Nhưng cậu học sinh trung học Minh của những năm trước chỉ than mây khóc gió một cách bông lông thôi. Ngày nay chàng đã có cái đích cụ thể để mà sầu.

Người thư ký cần cù nhanh nhẹn và thực tế ấy bỗng hóa ra một người khác. Gia nhơn mới không thấy được sự biến đổi ấy, mà cả đến ông chủ cũng chưa thấy vì tuần lễ đầu nầy ông không làm việc, ít gặp thư ký của ông lắm.

Mà thư ký của ông cũng cố lánh mặt ông những khi họ phải chạm trán với nhau, những khi ông Hóa xuống dưới nhà để làm cái gì đó.

Minh không ý thức về sự thay đổi nơi chàng, nhưng cố tránh ông Hoá vì chàng đã oán ghét ông ta. Ngoài vẻ thẫn thờ của chàng và sợ ông Hóa bất chợt dấu hiệu bên ngoài của căm thù nầy, sự phải bối rối trước một người mà chàng phải kính trọng, nhưng lại không giả dối được để vâng dạ.

Ông Hoá, người chủ nhân đạo đức, rộng lượng và dễ thương của chàng bỗng mang vẻ mặt của một thứ cường hào ác bá thời phong kiến, một thứ Nghị Hách 1 thời thực dân tiền chiến, chuyên làm áp lực bằng tiền hay bằng quyền uy để hưởng gái tơ.

Chàng hiệp sĩ sẵn có trong bụng của mỗi người, chàng hiệp sĩ mà tiểu thuyết võ hiệp của buổi thiếu thời đã tạo ra, được âm thầm nuôi nấng trong tiềm thức của mỗi người, chàng hiệp sĩ thích cứu khổ, phò nguy tế nhơn độ thế, chàng hiệp sĩ ấy bỗng bừng tỉnh giấc sau một thời gian ngủ quên rất dài.

Hình ảnh của chàng kỵ mã áo đen, nửa đêm phi ngựa đón dưới cửa sổ đền đài của vị lãnh chúa bạo tàn, cướp nàng công chúa mắc nạn để sau yên ngựa rồi phóng nước đại vào rừng sâu, hình ảnh hào hùng đã làm giựt gân bọn thiếu niên ấy, rất đẹp rất nên thơ.

Thế nên chàng thi sĩ mới ra đời có mấy hôm làm chưa xong hai bài thơ tình đã phải, nhường chỗ cho một vị tiểu tướng yên hùng, cả quyết ăn thua đủ với Nghị Hách.

Tuy nhiên, tuổi trẻ có ngây thơ đến đâu, chàng thư ký Minh cũng biết rằng thời thế đã thay đổi, không còn cỡi ngựa vung gươm được nữa.

Chàng phải hành động khác hơn, cóp theo các phim nghẹt thở ngày nay, thực tế khoa học, không cần có thiên tài mà vẫn thành công ngoạn mục và ở trong cái sê-căng cuối cùng, cô gái mắc nạn và được giải thoát cũng sẽ vào tay chàng thanh niên đẹp trai đã cứu nàng ra khỏi hỏa ngục của một mối tình gượng ép.

Vậy chàng cố bình tĩnh để dựng kế hoạch và chờ dịp thuận tiện hầu thi hành kế hoạch đang xây dựng. Nhờ thế mà chàng bớt đau khổ phần nào.

Tối hôm ấy Minh đi thơ thẩn ngoài vườn, lắng nghe và cố tìm hiểu ý nghĩa của nhạc bản Cái Chết Của Công Chúa Ỷ Sơ mà Huyền Trân đánh mãi ngày nầy qua ngày khác, khiến chàng đâm ngờ rằng bà chủ nhà đánh nhạc để giải trí hoặc để tập cho nhuần tay.

Sức tưởng tượng mạnh mẽ của tuổi trẻ giúp chàng dựng lên cả một pho truyện trinh thám: đó là tiếng kêu cứu của một tần cung nữ bị sanh cầm trong chốn thâm cung, y như dã sử đã cho rằng khi sắp bị đốt sống theo xác chồng, và hay tin viên tướng trẻ là Trần Khắc Chung từ Thăng Long đến, Huyền Trân công chúa đã cho bọn thế nữ người mình theo hầu cận nàng, hát lên bài hát ám hiệu cầu cứu sau đây:

Đàn kêu tích tịch tình tang...

Ai đem công chúa xuống 2 thang mà về.

Chàng dốt nhạc, nhưng bản nhạc nào cũng gồm một hay vài giai điệu mà nghe vài lần là thuộc ngay và nhận ra bản nhạc ấy liền khi nghe lần thứ ba, thứ tư.

Chàng quýnh lên vì nghe rằng lời cầu cứu ấy tha thiết và tuyệt vọng lắm, nếu chàng không ra tay ngay thì giai nhơn sẽ lâm nguy mất.

Đêm tân hôn của họ, sau khi nghe nước xối ào ào rồi sau đó lặng trang, Minh đã nghe tim chàng bị xé nát mà tưởng tượng đến cảnh ván đã đóng thuyền.

Nhưng rồi chàng lại cố mà tưởng tượng rằng... chưa. Vâng, chắc chắn là chưa, vì giai nhơn đã chống cự, đã bịa lý lẽ để lùi ngày thành thân thật sự với ông chồng.

Thế nên giờ chàng mới bồn chồn mà lo sợ trễ quá nếu cứu không kịp.

Bỗng hai tia đèn pha xe hơi dọi thẳng vào vườn xuyên qua hai cánh cửa sắt bông nặng nề đang đóng kín.

Chàng vừa day ra để xem gì đó thì nhận được chiếc D.S của ông Trường Thạnh.

Công việc mở cổng là công việc của chị người nhà, nhưng chàng sẵn đứng đó nên chạy ra mà không do dự.

Chính ông Trường Thạnh lái xe và bà Trường Thạnh ngồi cạnh ông.

Đây là một cặp vợ chồng so le nữa, vì ông Trường Thạnh trang lứa với ông Hóa còn bà chỉ mới ba mươi thôi. Tuy nhiên họ xem được lắm, chớ không chênh lệch nhau quá như ông chủ bà chủ của chàng.

Ông Hóa có điện thoại trên lầu và Minh đoán rằng ông Trường Thạnh đã báo trước cuộc viếng thăm nầy. Quả thật thế, bà Trường Thạnh xác nhận điều đó bằng một lời yêu cầu:

- Thầy ký ơi, làm ơn báo tin cho ông Hóa giùm chúng tôi.

Nếu không có hẹn, bà ấy đã hỏi: ông Hóa có ở nhà không thầy ký ?

Minh dạ một tiếng rồi chạy vào mở toang cửa phòng khách ra, đoạn chụp ngay ống nói của điện thoại nội thự, kêu lên lầu: "- A lô ! Ông chủ ? Vâng Minh đây ! Dạ, có ông bà Trường Thạnh đến thăm !"

Chàng buông ống nói xuống thì khách đã vào tới thềm. Chàng lời họ vào trong rồi bước ra sân.

Minh biết kín đáo như bất kỳ người thư ký riêng tín cẩn nào. Chàng không hề rình ở sau các lỗ khóa, hoặc sau các cánh cửa sổ để bắt chợt câu chuyện của chủ chàng.

Nhưng trong trường hợp nầy, chàng vẫn không đi xa và đứng xấn rấn cạnh cửa lớn, nhìn vào nhà. Ông Hóa có tật hay gọi chàng giữa những lúc đàm thoại với bạn làm ăn của ông, để hỏi thăm vài chi tiết, để biết một con số, hoặc để sai chàng gọi điện thoại kêu ai đó.

Ông Hóa nhảy xuống thang lầu như bay vì đã có hẹn mà ông không đợi sẵn dưới nhà, ông sợ khách phiền.

Họ chào hỏi nhau lăng xăng, cả đôi bên đều xin lỗi nhau đã chưa đi thăm nhau và bà Trường Thạnh hỏi:

- Còn chị nhà đâu anh ?

- À, nhà tôi nó xuống tới bây giờ, nó còn làm dáng ấy má ! Xin lỗi anh chị để tôi đi hối thúc nó, kẻo nó lại đánh phấn thì đến mười giờ đêm mới xong.

Hôm nay Minh tưởng tượng họ đang chiến tranh với nhau hay ít lắm cũng găng nhau dữ lắm. Lời lẽ của ông Hóa làm cho chàng ngạc nhiên hết sức.

Ông Hóa lại chạy bay lên lầu và một phút sau, dắt tay bà chầm chậm xuống từng nấc thang một.

Chàng thư ký chết sững mà nhìn một bà Hóa vui tươi, sung sướng mà trước đây mấy giây đồng hồ chàng còn hình dung bà ta đầu bù tóc rối, gương mặt bèo nhèo và bị ông kéo lôi xuống như kéo một tội nhân.

Từ ngày rước dâu tới nay, nghĩa là sáu hôm đã qua, Minh mới thấy mặt lại Huyền Trân.

Những lần nàng xuống ăn sáng, điều khiển anh làm vườn, đi phố v.v... chàng cố tránh nàng mà cũng không dám liếc nhìn trộm nữa.

Huyền Trân như lớn thêm bốn năm tuổi, xem nàng đứng người ra - nhưng không phải vì thế mà nàng già đi, còn trái lại nữa - và vẻ ngây thơ nữ sinh quá trẻ con của ngày rước dâu đã viễn du mất rồi.

Đứng người ra, Huyền Trân lại đẹp lộng lẫy, khiến Minh ngây ngất nhìn nàng mà ngỡ đó là người khác.

Thiếu kinh nghiệm, chàng không dè mà sáu hôm sau khi lấy chồng, một người trinh nữ lại biến đổi như thế về thể chất.

Nhưng vui tươi sung sướng trên mặt nàng là vui tươi sung sướng thật hay giả vờ ? Đành rằng nước da của Huyền Trân hồng hào ra và tự nhiên là người ta thấy nàng tươi hơn, tuy nhiên bộc lộ bên ngoài của những biến đổi sinh lý không hẳn phải đi đôi với biểu lộ của tâm trạng nàng.

Minh cố tình mà thấy sự miễn cưỡng trong vẻ yêu đời của Huyền Trân và thấy niềm đau thương của nàng ẩn hiện sau nụ cười gượng ép của nàng.

Đôi vợ chồng nầy không chênh lệch quá như chàng đã tưởng tượng. Nghĩa là họ vẫn so le, nhưng có lẽ là chàng đã hình dung một sự cách biệt lớn lao quá nên giờ thực tế làm chàng thấy họ khá xứng đôi.

Vả lại như đã nói, Huyền Trân đã lớn thêm ba bốn tuổi, đã ra vẻ người lớn hẳn rồi thì một người lớn trẻ không so le với một người lớn già như một ông già so le với một đứa con nít.

Có lẽ gia đình ông Hoạch đã giáo dục con gái họ một phần nào theo Âu châu, hoặc theo xã hội phú hào Á đông ta, nghĩa là con gái lớn tới tuần cập kê là họ tập cho chúng quen với việc lấy chồng, với tác phong một người vợ chớ không để chúng hoàn toàn dốt hẳn về chuyện đó rồi cứ trẻ con ngây thơ mãi, nên chi bà Hóa tiếp khách một cách rất là người lớn.

Bà ta có phong độ của một bà chủ nhà đứng tuổi không mặc cảm về sự trẻ dại của mình, không mặc cảm về ông chồng già của nàng.

Minh chợt nhận thấy điều nầy là phụ nữ họ hơn hẳn nam phái về chỗ người lớn ấy. Nếu họ muốn, là họ làm được ngay. Đồng tuổi tác, đồng giáo dục, đồng huấn luyện, một thanh niên hai mươi không thể có được một tác phong của một người chồng đàng hoàng như một thanh nữ hai mươi lấy bộ một bà chủ hách dịch.

Mới có sáu hôm thôi mà Minh thấy đã có sự cách biệt rõ rệt giữa chú rể giả của ngày nào và cô dâu bất đắc dĩ của ngày nào.

Mới ngày nào đây, họ còn xứng lứa vừa đôi với nhau biết bao nhiêu !

Cô nữ sinh trong trắng ấy đã mau chân trong cuộc chạy đua với chàng trên đường đời, bỏ chàng lại khá xa và sẽ còn bỏ xa thêm nữa.

Năm mươi lăm tuổi của ông Hóa thì già quá đối với cô gái hai mươi nầy, nhưng hai mươi hai tuổi như chàng thì lại trẻ con quá đối với nàng. Tuy nhiên sự già quá ấy dầu sao vẫn có được cái oai vệ, cái hách dịch tự nhiên của người lớn bù cho, chí như sự trẻ dại của chàng... !

Minh. thử hình dung chàng đang ngồi trước mặt khách, thay thế cho chủ nhà. Cả ba người trong đó, hai vợ chồng ông khách và bà chủ nhà đều sẽ lấn lướt chàng từ lời ăn tiếng nói đến cử chỉ. Chàng sẽ là kẻ lép vế nhứt trong bọn, trong khi chàng phải là người kẻ cả nhứt mới xứng đáng địa vị chủ nhà và chủ của linh hồn bà vợ.

Trong giây phút, chàng hiệp sĩ giang hồ kiếm khách chuyên cứu khổ phò nguy nầy bị mặc cảm tự ti tưới nguội cái hăng say ra tay nghĩa hiệp của chàng.

Chàng mặc cảm và đâm ra nghi ngờ, tự hỏi mình còn lý do để mưu toan giải thoát người đẹp mắc nạn nữa hay không ?

Người đẹp có quả bất mãn và đau khổ vì số phận của nàng chăng, hay đã được hạnh phúc thật sự trong tay một kẻ nhiều kinh nghiệm, già chiến thuật, hạnh phúc thật sự trong nhung lụa, trong đủ thứ tiện nghi, trong mọi hưởng thụ vật chất ?

Bà Hóa thật xứng đáng một nữ chủ gia theo quan niệm của Âu Mỹ, nghĩa là một nội tướng đủ tư cách thay mặt chồng để tiếp khách mặc dầu người chồng vẫn có ở đó chứ không phải đi vắng.

Trong xã hội ta, một tác phong như vậy bị chê bai, vì người nội trợ có vẻ lấn lướt chồng quá, nói nhiều gấp ba chồng, cướp hết khách như ông chồng không có mặt. Nhưng những người bị Âu hóa thấy đó là một bà chủ thức thời.

Một ông chồng lịch sự, lịch sự theo Âu Mỹ như ông Hóa rất hãnh diện mà có được một người vợ đủ khả năng như thế và rất sung sướng mà thấy bà ấy trổ tài. Ông không mặc cảm vì chính ông còn bảnh hơn vợ ông nữa, sỡ dĩ ông thụ động chỉ vì muốn nhường cho vợ công việc tiếp khách thôi.

Riêng Minh, chàng bỗng nghe mình nhỏ nhoi quá.

Chàng không làm được như ông Hóa mà Huyền Trân làm được, tức là hơn hẳn chàng rồi. Chàng hình dung ra mình đang ở địa vị ông Hóa và thấy Huyền Trân là kẻ cả của chàng rõ rệt.

Ảo tưởng bình đẳng và đồng đẳng với Huyền Trân buổi đưa dâu, ảo tường được nuôi nấng cho tối đêm nay, bỗng tan đi thình lình và Minh nghe mình xa Huyền Trân hằng vạn dặm. Hai người như đã cầm tay nhau đi song song trên đường đời, nhưng Huyền Trân mau bước vượt tới còn chàng thì kém cỏi nên rớt lại đằng sau, không hy vọng rượt theo kịp bạn nữa.

Kìa, khách đã đứng lên xin về. Minh vội bước tránh qua bên góc sân bên kia, núp sau tàn một cây nguyệt quế già.

Huyền Trân đi trước với ông khách còn ông Hóa thì đi sau với bà vợ của kẻ kia. Họ đứng nơi sân mà nói thêm vài mẩu chuyện nhỏ nữa rồi khách mới lên xe.

Khi hai cánh cửa sắt được con sen đóng lại rồi, Huyền Trân trở gót đi vào trong ngay mà đi thật lẹ chớ không so bước với ông để chậm rãi mà chuyện trò thân mật trong khung cảnh thần tiên nầy đáng lý mỗi đêm, đôi vợ chồng mới phải đếm bước trong đó.

Vườn hoa nhà ông Hóa rộng như vườn hoa các võ quan Tây trên đường Nô Rô Đôm đời Pháp thuộc với những cây phượng vĩ, những cây đa cổ thụ mà về đêm, thắp đèn trên ngọn cây, dưới nầy những lối đi được soi sáng một cách rất là thơ mộng.

Bao nhiêu tủi thân của Minh dường như được xóa hết thình lình trước lạnh lạt của cái bà vợ cố ý trốn thân mật với chồng nầy. Bà ta chỉ vui vẻ lúc có khách để trình diện với người ngoài một bộ mặt hạnh phúc giả tạo của gia đình bà và một khi khách ra khỏi nhà, bà ta lại rút trở vô cái vỏ lạnh lùng câm lặng của bà ta.

Tình yêu vô lý của Minh, chàng ngỡ nó vô vọng từ lúc thấy Huyền Trân bảnh quá, và sung sướng quá trong địa vị người vợ. Nhưng sự cổi lốt bất ngờ của bà chủ nhà bất đắc dĩ, đóng kịch hạnh phúc để tiếp khách khiến tình chàng tỉnh dậy như một võ sĩ bốc Ăng-lê vừa bị đánh nốc ao đo ván nãy giờ, bây giờ lại ra khỏi ngất lịm.

- Minh ơi !

Ông Hóa gọi chàng trong lúc bất ngờ, khiến chàng ngạc nhiên mấy giây; chàng lặng lẽ rời chỗ núp chạy đến trước mặt chủ nhân.

Có lẽ ông Hóa bị vợ bỏ rơi nên kêu chàng nói bậy bạ điều gì cho có vẻ bận rộn để ngầm cắt nghĩa sự không kịp đi với vợ, cho đỡ ngượng vậy thôi.

- À, Minh anh lấy bằng lái xe hồi nào ?

- Dạ, đã hai năm rồi.

- Lái đã giỏi chưa ?

- Dạ, rất dở, vì tôi không có xe để tập thêm.

- Bắt đầu ngày mai, anh thuê xe mà tập, đây tôi cho anh một ngàn đồng để mướn xe, và cho mượn tài xế để nó dìu dắt anh. Nội trong một tuần lễ, anh phải lái cho thạo. Qua tuần lễ đó, tôi sẽ cho phép anh tập bằng xe tôi, chớ bây giờ thì không dám, sợ anh quẹt trầy xe hết.

Độ rày tôi cần đi đứng nhiều ban đêm, mà tài xế thì bảy giờ tối nó đã về mất rồi. Tôi có thể cho tiền xúp để nó ăn cơm tối rồi trở lại, tôi có thể mướn tài xế khác để lái giấc tối, nhưng không sao bằng người ruột trong nhà.

Vậy anh sẽ lái xe tôi về đêm. Tôi sẽ trả lương đêm anh bằng hai lương tài xế ban ngày, mặc dầu không phải đêm nào cũng đi và có đi cũng chỉ đi vào tiếng đồng hồ.

Minh làm thinh không nhận đề nghị cũng không từ chối. Thư ký riêng không thể từ chối công việc nào cả trừ những công việc mà họ cho là phạm nhơn phẩm của họ. Mà dây không phải là trường hợp đó.

Nhưng Minh bần dùng là vì chàng vốn vừa bị mặc cảm nhỏ nhoi trước Huyền Trân rất bảnh thì công việc mà ông Hóa đề nghị với chàng sẽ hạ chàng xuống thấp hơn nữa đối với bà chủ.

- Anh không bằng lòng à ?

Ông Hóa ngạc nhiên hỏi gặn như vậy, vì ông đã quen quá rồi với sự vâng lời không suy tính của Minh từ thuở giờ.

- Thưa ông cũng được, nhưng tôi tập xe ban ngày thì công việc giấy tờ ai làm và tài xế đi theo dìu dắt tôi thì ai mà lái xe cho ông.

- Không cần, bỏ hết mọi công việc trong hai tuần lễ để lo tập xe. Còn tài xế thì Minh đã biết, ở nhà nó cũng không có công việc gì mà làm.

Quả thật thế, ông Hóa ít đi đâu lắm. Thương lượng làm ăn, ông chỉ dùng điện thoại thôi. Công việc chính của tài xế của ông là lau xe và rửa xe chớ không phải lái xe. Vả lại, chính ông lái xe rất thạo thì không cần hắn lắm.

- Nè, tiền đây. Thuê loại xe cùng một loại số với xe nhà nầy để khỏi bỡ ngỡ khi trở về với xe ở nhà.

- Dạ.

Ông Hóa bỏ chàng bơ vơ nơi sân rồi đi lên lầu. Con sen lo đóng cửa phòng khách và trên kia, những tiếng nhạc quen thuộc lại nối đuôi nhau mà bay qua cửa sổ gởi về đâu không rõ tâm sự của người thiếu phụ không toại nguyện chốn lầu son.

Hôm sau và những ngày sau đó, Minh dượt xe buổi sáng. Buổi chiều tài xế phải đưa vợ chồng ông Hóa đi thăm bạn hữu, thăm trả lễ những cuộc viếng thăm liên tiếp hằng đêm của những người quen thuộc với ông Hóa.

Biết tánh chủ mình, ra thời hạn là ra đúng không thích bị ai làm sai lệch, nên Minh cố tập cho thạo trong một tuần lễ.

Nhưng chàng chỉ có một buổi sáng thôi, buổi chiều tài xế bận công việc của hắn. Thành thử chàng lái suốt mỗi buổi sáng từ tám giờ đến mười một giờ, mệt nhoài.

Đã vậy mà sau ba hôm tập dượt, tài xế lại còn bắt chàng phải lái từ bảy giờ sáng đến đúng ngọ. Hắn cho rằng phải lăn xả vào giờ đi làm và giờ tan sở, phải bị kẹt xe mỗi mười thước đường, có thế mới mau giỏi.

Minh không còn tâm trí nào để nghĩ đến bà chủ trẻ tuổi của chàng nữa. Cuộc đời phẳng lì buồn tẻ của chàng càng phẳng lì, buồn tẻ hơn vì chàng ngủ riêng dưới nhà một mình và ăn tại buồng ăn hẹp dưới bếp.

Chàng quen lần với nếp sống ấy và gần an phận được rồi. Hai cái ghen của chàng cũng đã dịu. Hai cái ghen ? Ừ. Chàng ghen với bà chủ đã cướp mất người bạn già của chàng. Chàng ghen với ông chủ đã ấp yêu một thiếu nữ mà suốt mấy tiếng đồng hồ, trên xe hoa, chàng đã nuôi nấng một ảo mộng phạm thượng dưới một bộ mặt ngoài cung kính và biết thân.

Bắt đầu tuần lễ thứ nhì của khóa dượt xe, ông Hóa hỏi thăm tài xế của ông về tiến bộ và khả năng của Minh rồi cho phép chàng lái xe nhà.

Lại bắt đầu bảy ngày khổ dịch nữa. Minh bỗng thấy mình vụng về như trong ngày đầu của tuần trước vì xe nhà lớn và dài hơn xe thuê nhiều, khiến chàng đâm hoảng khi vào những con phố đông đúc.

Và như tuần trước, bảy ngày bận rộn và mệt nhọc nầy là bảy ngày tâm thần chàng được yên ổn một cách dễ chịu.

Đêm đầu của tuần lễ thứ ba của mùa tập xe, là đêm xuất quân đầu tiên của Minh.

Đêm ấy vợ chồng ông Hóa đi ăn cơm ngoài. Tài xế được giữ lại để kèm Minh mà ông Hóa chưa vững tin.

Tuy nhiên, ngồi cạnh thầy Minh, tài xế tài tử, anh tài xế nhà nghề không được nói, không được làm gì cả, và chỉ can thiệp vào giây cuối cùng trước một tai nạn có thể xảy ra thôi, nếu anh ta can thiệp kịp. Bằng như không kịp thì thôi.

Minh đã lái tròn trịa, mặc dầu chàng dám lo ra như một tài xế nhà nghề lái thật giỏi.

Chàng lo ra vì sự im lặng bất thường ở sau lưng chàng.

Huyền Trân đã khéo léo xử sự cho khách ngỡ nàng sung sướng lắm, hạnh phúc lắm. Nhưng có lẽ nàng xét rằng thư ký của chồng nàng và tài xế là những người không đáng kể nên không cần làm bộ làm tịch gì cả.

Ông Hóa có lẽ cũng quên mất rằng trên xe có hai nhơn chứng nên không yêu cầu bà có một thái độ bình thường.

Sự bất đếm xỉa nầy, một lần nữa làm cho Minh tủi thân. Chàng thấy chàng là một đơn vị không đáng kể trong xã hội của Huyền Trân, chàng là một con chốt lúc cờ mới xuất quân.

"A, con chốt ! Minh nghĩ, con chốt thì không nặng bao nhiêu thật đó khi bàn cờ còn rậm ri, còn đông đúc quân lính. Nhưng đến lúc cờ tàn thì phải biết uy lực của một con chốt là như thế nào !"

Ý nghĩ thoáng qua nầy an ủi anh con trai lộn xộn, không chịu thủ phận. Anh đã trót uống lộn thuốc tiên chăng ?

Cô dâu đã cười để tự chế diễu mình đã tưởng tượng nhiều quá và nước trà không phải là rượu yêu. Nhưng thuốc tiên đâu phải chỉ ở trong rượu. Thuốc tiên là ảo tưởng của chàng. Thuốc tiên là bao nhiêu ngộ nhận của bao nhiêu tân khách ngồi họ, ngộ nhận đó đã gây ngộ nhận của chính người trong cuộc nữa, mặc dầu người trong cuộc đã ý thức rằng y chỉ đóng trò thôi.

Các diễn viên sân khấu, diễn viên nào lại không có những phút quên cái tôi của họ, nhị hóa nhơn cách của họ, tưởng họ là người của vở kịch, cũng vui buồn giận ghét thương yêu như người trong vở ?

Đó là ảo tưởng diễm huyền mà ai đã trót mang, cứ tiếc thương mãi, cứ muốn nuôi nấng nó mãi kẻo nó tan đi.

Vả kẻ nuôi ảo tưởng nầy chưa chắc chỉ có một mà không hai, chưa chắc gì có chú rể giả là nhị hóa nhơn cách mà thôi đâu, Minh tin chắc như vậy.

Ngoài sau, hai vợ chồng mới cứ ngậm câm như vừa giận nhau đâu lúc sắp sửa ra đi.

Minh nhớ có đọc một bài báo ngoại quốc nói đến một cặp vợ chồng già kia ở Luân Đôn.

Sau bốn mười lăm năm chung sống, họ không còn gì nói với nhau nữa cả. Những chiều dắt tay nhau đi dạo mát ngoài phố, ngậm miệng mãi họ thấy rằng trơ, nhưng lại không bao giờ ai tìm được đề tài câu chuẩn cả, trong hai ông bà ấy.

Rốt cuộc bà vợ phát minh ra một trò chơi tinh xảo để tạo một cảnh kịch thân mật vui vẻ giữa hai vợ chồng.

Phát minh ấy là thế nầy : bà đếm từ một đến mười, rồi ông đếm từ mười đến hai mươi, rồi tới phiên bà, và cứ như thế mãi, chưa tới số một trăm họ đã buồn cười và cả hội đồng cười vang phố, cười vui thật tình chớ không phải cười giả nữa.

Kẻ qua đường thấy môi của họ cứ nhóp nhép mãi và thấy thỉnh thoảng họ cười ngả nghiêng ngả ngửa, ngạc nhiên lắm và tự hỏi sao họ lại còn nhiều điều vui ngộ để nói với nhau.

Minh định sẽ làm cho bài báo ấy lọt dưới mắc ông Hóa một cách kín đáo để giúp ông ra khỏi tình trạng khó chịu của ông. Nhưng càng nghĩ kỹ lại thì thấy rằng không được.

Trò chơi ấy chỉ có bồ mới có thể chơi.

Ít ra bà vợ cũng phải chịu khó tham gia để cử động môi của bà ta, chớ nếu ông chồng cứ đếm một mình mãi, có lẽ chính vợ ông cũng cho là ông nổi cơn điên.

Minh chỉ thương xót chủ chàng một chút xíu thôi vì chàng nghe sung sướng lắm trước cảnh lạnh nhạt của đôi vợ chồng nầy.

Rõ ràng là Huyền Trân không phải của ông Hóa, không chịu thuộc về ông Hóa. Mặc dầu nàng cũng không phải của chàng, nhưng chàng thích thấy nàng rảnh rang, độc lập như vậy.

Chàng là kẻ chiến bại và đã lùi về một vị trí mới, ở sau mặt trận cũ rất xa, nhưng rất hãnh diện về điểm kiên thủ nầy.

Khi xe hoa từ Ban Mê Thuộc về đến Cầu Bông, chàng đã hốt hoảng, toan làm hiệp sĩ để bắt cóc người đẹp rồi quất ngựa bôn đào. Nhưng mộng chàng không được thực hiện giai nhơn đã qua đêm tân hôn với vị lãnh chúa trong đền đài rồi.

Sự thua trận của chàng là không cứu vãn được thân thể của người đẹp cho nó còn hoàn toàn trinh trắng.

Vi trí mới mà chàng quyết chống giữ đến giọt máu cuối cùng là tình trạng vô chủ của tâm hồn Huyền Trân.

Ừ, ván đã đóng thuyền rồi không làm sao cho bát nước đổ lại đầy, thì ít ra Huyền Trân phải còn nguyên tấm lòng, không chịu trao gởi cho ai của nàng, để cho chàng mơ.

Bữa ăn của những ông nhà giàu với phụ nữ đẹp thường được kéo dài đến đỗi các bác tài xế phải ngáp. Thế mà bữa cơm tối đêm nay lại ngắn quá.

Người tài xế thật thụ chưa kể hết hai tích cải lương cho Minh nghe thì hai vợ chồng ông chủ đã ra. Cũng may là Minh từ chối đi nhậu với hắn.

Ông chủ gọi tài xế lại, cho hắn một trăm bạc bảo hắn về. Ông đã tín nhiệm Minh được rồi ở chuyến đi xuôi chèo mát mái và chuyến về, chàng được lái một mình khỏi bị ai âm thầm kiểm soát nữa cả.

- Đi một vòng cho mát cưng nhé ?

Ông Hóa hỏi bạn bằng tiếng Pháp và bà Hóa đáp bằng câu đáp cổ điển của nàng.

- Tùy anh.

- Chạy vòng lớn !

Ông Hóa lên sau bà, đóng cửa lại rồi ra lịnh như thế. Ông quên rằng "vòng lớn" chỉ là danh từ mà ông đặt riêng để nói với tài xế của ông, người khác không thể hiểu được.

Vòng lớn của ông là cái vòng mô phỏng theo "Vòng Tòa Bố" của người Pháp hồi tiền chiến, có thay đổi chút ít nhờ vài con đường mới mở sau nầy.

Minh bối rối muốn hỏi nhưng không hiểu sao lại thôi. Có lẽ chàng định giấu mình luôn trong im lặng, lên tiếng là Huyền Trân sực nhớ đến chàng ngay, nghĩ đến chàng ngay, thấy ngay rằng chàng chỉ là người tài xế phụ làm xúp ban đêm.

Không biết cái vòng lớn của chủ mình là cái gì, Minh quyết chạy trên những con đường trống trải có nhiều bóng tối và gió, nhứt là con đường dài bao trùm thành phố Sài Gòn lại. Vòng lớn kia mà ! Biết đâu tuy chạy bậy, ông chủ ổng thấy hay hay, ổng sẽ công nhận cái vòng mới đó và hủy bỏ vòng cũ của ổng đi chăng ?

Thế nên chàng đâm ra Tự Do rồi đổ xuống sông. Tới nơi, chàng quẹo trái để vào Cường Để. Không nghe ông chủ nói gì cả về vòng lớn bí mật đó.

Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hồng Thập Tự - Cầu Thị Nghè ! Xe chạy đã khá tốn xăng rồi mà ngoài sau đó hai ông bà cứ diễn kịch câm mãi.

Bà Hóa không có gì để nói với ông, hay có những điều không thể nói với ông. Còn ông thì vẫn có nhiều chuyện lắm, nhưng biết chắc rằng bà không thích nên cũng chẳng buồn nói. Chẳng hạn như ông định gom hết tiền cất vài cái buyn đin rồi ở không mà an hưởng tuổi già, khỏi tranh đua nữa cho nhọc trí, nhưng dưỡng già lại là một hoạt động tối kỵ đối với tuổi trẻ.

Những bà vợ trẻ họ rất ghét chồng họ làm ăn bề bộn rồi không còn thì giờ để săn sóc họ. Nhưng chồng họ ở không, họ cũng chẳng thích.

- Khi nãy chạy ngang qua hồ tắm học trò, em nghe làm sao ?

Ông Hóa thật là ích kỷ. Từ hồ tắm học trò tới đây, có cả hai cây số mà ông chỉ mới hỏi cảm tưởng của vợ về cái nơi gợi nhớ đời nữ sinh của nàng ấy thôi.

- Nhớ nhiều kỷ niệm nhưng xa lắm rồi !

- À, hổm nay em lội trong câu lạc bộ có vui hay không ?

- Hồ tắm sạch lắm, sạch nhứt thủ đô, người tắm cũng có vẻ sạch và chắc chắn là rất lịch sự

- Em nói "có vẻ sạch" là nói mỉa mai đó. Ừ, bề ngoài họ có vẻ sạch, nhưng họ có thật sạch hay không chỉ có trời mà biết.

Tuy nhiên em có thể tin chắc là họ sạch vì em khen họ rất lịch sự. Người lịch sự không bao giờ để người khác chịu đựng bẩn thỉu của mình. Đã có bạn chưa ?

- Em có vẻ là một thiếu phụ góa chồng, lẻ loi lắm. Người Âu họ không đánh bạn với ta.

Ông Hóa biết vợ ám chỉ điều gì và định đi tới đâu trong câu chuyện. Nàng trách khéo ông đã bỏ nàng một mình đó. Những kẻ có vợ có chồng chỉ thích cùng giải trí với người bạn đời của họ thôi, cho dẫu người ấy không xứng lứa vừa đôi với họ lắm.

Nhưng ông Hóa không còn phong độ để chơi thể thao nữa. Thành thử ông phải đánh trống lấp để hướng câu chuyện qua nẻo khác. Nhưng không tìm được đề tài nào cả, ông lại ngậm câm như trước.

Trong cái im lặng đó, cả ba người trên xe đều nghĩ đến một việc sau đây, làm như là họ nhờ thần giao cách cảm truyền ý nghĩ của họ cho nhau.

Họ nghĩ đến những cặp vợ chồng so le ở bên trời Âu. Bên ấy y như là bên Tàu, người ta kết hôn như vậy là thường. Âu châu và Trung Hoa là hai nơi giàu có lâu đời, văn minh vật chất rất là tế nhị và con người nghĩ ra được lắm cách hưởng thụ cuộc đời.

Những lão Tây già độ lượng phóng khoáng chớ không phải ích kỷ như những lão Tàu đâu.

Trong khi người Tàu giấu tỳ thiếp mười bảy mười tám tuổi trong buồng the thì trái lại người Âu châu khuyến khích cho các bà vợ trẻ của họ có bạn trai cùng lứa.

Họ không chạy theo kịp những bà vợ còn cứng gối của họ mà cũng không đành để các bà ấy trơ trọi, buồn hiu, nên những mùa tắm biển vào hè, và những cuộc trượt tuyết trên núi vào mùa băng giá là những dịp mà các ổng thả cửa cho các bà ấy.

Các ổng tin nơi tiết hạnh của các bả lắm chăng và không biết ghen là gì sao ?

Không, các ổng không tin và vẫn biết ghen. Nhưng các ổng không ghen với thanh niên mà các ổng xem là kém các ổng. Nếu có xảy ra các mối tình tội lỗi thì mấy ổng sẽ xem đó là thứ tình học trò, thứ tình con nít, không đáng kể, và các bả sẽ quên đi.

Độ lượng của các ông chồng già Âu châu là một thủ đoạn khôn khéo vô cùng. Họ mượn tay thanh niên, những thanh niên mà họ kín đáo khuyến khích, thường là những anh chàng xoàng xĩnh về học vấn, về thông minh và chưa có dịa vị, họ mượn tay các người ấy để giữ vợ họ, nếu không các bà sẽ chán nản mà xin ly dị mất.

Cả ba người trên xe đều nghĩ đến phong tục Tây phương nầy, nhưng mỗi người nghĩ mỗi cách.

Huyền Trân nhờm gớm phong tục dó. Minh thì lại mơ ước được làm ông thần giữ của cho ông chồng già.

Riêng ông Hóa, ông đặt thành vấn đề hẳn hoi. Ông tự hỏi ông có nên rộng lượng như thế không.

Huyền Trân được giáo dục theo Âu châu, từ học đường cho đến gia đình, đã tiêm nhiễm tinh thần tự do cá nhân của châu Âu, không thể nhốt nàng được như các ông lão Trung Hoa nhốt tỳ thiếp.

Nàng yêu đời, ham sống, nhứt là ham sống động, như vậy nàng sẽ nghe cô đơn hơn là một thiếu phụ thường, một thiếu phụ được giáo dục theo lối khuê môn bất xuất.

Một người bạn trai cho nàng ?

Ông Hóa đặt vấn đề, tìm ra giải pháp, nhưng không dám nhìn rõ giải pháp đó. Dầu sao, ông cũng còn là người Á đông, hơn thế người Á đông chịu văn hóa Trung Hoa, nghĩa là một kẻ rất quí trinh tiết của phụ nữ.

Nhưng ông đã bắt đầu thấy rằng khó lòng mà nhốt người vợ yêu quí của ông được.

Nhốt đây là nhốt tấm lòng của nàng, chớ thân thể nàng thì ông chủ trương để bạn tự do.

Nàng sẽ buồn ghê lắm và sẽ tìm một tâm hồn bầu bạn.

Trên xe lại lặng trang, xe đưa đám ma cũng không im thin thít như thế nầy ! Minh buồn cười lắm mà nghĩ đến câu chuyện ngộ nghĩnh nầy là nếu ông Hóa là một chánh khách quan trọng của một nước Đức quốc xã mà buồng ngủ bị sở Gestapo của Hít-Le gắn máy vi âm hầu rình nghe câu chuyện phòng trung của ông để kiểm soát tư tưởng của ông, thì nhơn viên phụ trách công việc rình rập, nghe ngóng ấy sẽ ngỡ rằng máy vi âm hỏng vì cặp vợ chồng nầy không hề nói điều gì với nhau cả.

Cho đến những tiếng thở dài cũng không vang lên không trung vì hình như là Huyền Trân cũng chẳng buồn thở dài nữa.

Xe đã qua hết con đường Hàng Xanh vắng vẻ rất hợp cảnh cho những câu chuyện tâm tình, mà Minh chỉ nghe có một tiếng đánh diêm quẹt của ông Hóa rồi thôi.

Qua khỏi trường Mỹ thuật Quốc gia, đường lại vắng trở lại và Minh lại lắng tai chờ đợi.

Quả thật máy vi âm hỏng. Hay họ là những tên phản nghịch nguy hiểm, lắm thủ đoạn, bút đàm với nhau cho kẻ rình nghe hỏng giò chơi ?

- À, em còn tiền tiêu xài hay không ?

Ông Hóa hỏi bạn khi xe chạy ngang khu hồ tắm Chi lăng.

- Còn nhiều.

Câu hỏi nầy là một phát minh rực lỡ của một ông nhà giàu. Có lẽ ông ta đã bươi trí tìm kiếm lâu lắm mới phát kiến ra được câu hỏi đó cho đỡ tẻ không khí.

Đó là một săn sóc ân cần rất cảm động... đối với một người có đầy đủ cả mọi thứ nhưng thiếu tiền. Huyền Trân thì có đầy đủ tiền nhưng lại thiếu thứ khác, thành thử nàng thấy săn sóc của chồng quá thiển cận.

Số phận của những ông nhà giàu là thế. Họ bị khinh bỉ một cách bất công. Những bà vợ trong các gia đình khiêm tốn thường thỏ thẻ với chồng:

- Anh ơi, làm thế nào rán kiếm tiền để sắm một máy hát âm thanh nổi.

Nếu ông chồng rán được thì bà vợ xem đó là một kỳ công đáng thán phục và đề cao.

Trong các gia đình phú hào, các bà vợ trẻ lại lo cái khác không thèm đếm xỉa đến tiền mà các ông chồng già chỉ biết dâng tiền, tiền, tiền thì bảo sao các bà lại không khinh thường các ông.

Nhưng có phải chăng là bất công và các ổng đáng tủi thân ta cần thương xót các ổng. Có tiền nhiều quá, lắm khi cũng là cái tội đáng trách đối với đàn bà. Họ làm như các ông không còn biết gì khác hơn là tiền, không trọng gì khác hơn là tiền. Nếu tiền làm đẹp mặt người khác thì lắm khi nó lại làm xấu mặt các ổng.

Minh nghĩ rằng chủ của chàng đã hớ. Cứ bằng vào cái vốn học vấn và giáo dục của Huyền Trân, người ta có thể đoán biết nàng thích cái gì. Một thiếu phụ hạng ấy thì thường ưa nghệ thuật và thể thao. Ông Hóa có đủ điều kiện để thỏa mãn vợ ông, vì ông không dốt nghệ thuật cho lắm, biết xem tranh, biết thưởng thức thơ, biết nghe nhạc thì sao ông không nói đến thứ ấy. Còn thể thao thì tuy ông ngại bơi lội, ngại lái xe hai bánh, ông vẫn có thể bàn rộng về cái thú chuồi trên mặt nước sau chiếc bo bo.

Minh sẵn lòng nhắc khéo chủ chàng để cứu vãn hạnh phúc của ông, nhắc khéo ưu thế mà ông đang nắm trong tay là tuy ông đã mua vợ ông bằng tiền, nhưng ông vẫn có những cái khác hơn là tiền mà ông quên sử dụng.

Nhưng một hậu ý tội lỗi lại ngăn chàng thực hiện thiện chí của một viên thư ký trung thành.

Trái lại, chàng còn mong ông Hóa càng ngày càng lỗi lầm sâu sắc hơn lên. Chẳng hạn như cứ nói mãi chuyện sắm hột xoàn cho Huyền Trân, chuyện đổi xe mới cho nàng, chuyện tậu biệt thự nghỉ mát cho nàng ở Cao nguyên hay ở bờ biển.

Từ đó cho đến khi về tới nhà, người ngoạn cảnh im lặng không kém máy tốt của chiếc Mercédès mà họ ngồi trên đó.

Minh cất xe rồi đi ngủ, hay nói cho đúng là đi nằm để lắng nghe điệu nhạc quen thuộc. "Cái chết của công chúa Ỷ-Sơ", điệu nhạc làm khổ tai hàng xóm hằng đêm vì đàn sai, và vì cứ được đàn đi đàn lại mãi độc một bản đến nhàm.

Nhưng đêm nay Huyền Trân không đàn. Có lẽ vì đã khá khuya rồi và nàng tha cho người lân cận một đêm vậy.

Chàng lắng đợi tiếng đàn và lắng nghe tác động của thuốc tiên nó lần lần nhiễm sâu vào các tế bào của chàng. Thành ngữ "thấm thuốc" của ta thật là bóng bẩy và gợi hình ảnh.

Minh đã bị liều thuốc yêu đương thấm lần vào tim chàng. Mặc dầu ý thức rằng tình của chàng tội lỗi và có thể vô vọng, chàng cứ mơ người thiếu phụ mà chàng cho là đáng thương.

Có biết quả thật người ta đáng thương hay không, hay người ta rất sung sướng mà chỉ vì người ta ít nói nên chàng ngộ nhận ?

Mà cho dẫu người ta có đáng thương đi nữa, thì chắc chàng cũng chỉ thương xót vừa vừa vậy thôi chớ không phải vì sự thương xót to lớn quá mà chàng phải ra tay nghĩa hiệp, yêu để an ủi người ta như chàng đã giả dối với chàng mà tự bảo như vậy.

Chàng yêu là yêu, không cắt nghĩa tình yêu của chàng được. Hay có muốn giải thích nguồn gốc của tình yêu ấy thì nên đổ lỗi cho liều thuốc tiên mà ông Hóa đã dại dột trao cho người tuổi trẻ ấy. Liều thuốc tiên ấy là sự trá hình của chú rể giả đi rước dâu thay cho ông.

Chàng đã yêu !

Và càng yêu, chàng càng tủi thân. Chàng là một con sâu đất, đêm đêm bò lên nằm ở miệng hang, say sưa nhìn vì sao lấp lánh trên trời, mê nàng sao ấy vô cùng, nhưng nàng ở cao quá !

Nàng ở trên kia, ngay trên đầu chàng. Nàng đang làm gì, đang nghĩ gì, và có bao giờ nhớ tới chàng rể giả ngày nào không ?

Từ hôm ấy đến nay, bốn tuần trăng đã qua rồi, mà chàng chưa được trao cho nàng một lời. Minh cứ ước ao mình là anh làm vườn. Anh nầy thì được bà chủ nhà sai khiến luôn, bảo hủy một bụi bông đã cỗi, bảo xén một bãi cỏ không được mỹ thuật lắm. Chàng không trực thuộc bà chủ thì đã đành, mà cũng tại chàng cố tránh bà ấy. Chàng chỉ thích xuất hiện ra trước mặt người đẹp dưới hình thức một nhơn vật đặc biệt và xuất chúng mà thôi. Địa vị khiêm tốn của chàng trong nhà nầy như bóp teo chàng lại trong con mắt của bà chủ. Chàng là kẻ không đáng kể.

Sáng ra, vừa mới bét mắt, anh tài xế đã hớt hơ hớt hải chạy vào nhà Minh. Anh ta cho hay vợ anh ta đẻ khó, được bà đỡ nhà hộ sinh tư trong xóm đưa vào Từ Dũ để mổ mà đưa rất trễ, nên đã khó khăn lại rắc rối thêm.

Mặc dầu anh ta chỉ kể vậy thôi, nhưng Minh biết anh ta muốn nhờ chàng xin phép cho anh ta nghỉ ngay. Chàng dùng điện thoại nội thự để gọi ông Hóa, trình bày việc nhà của tài xế và xin phép giùm hắn.

Lúc chàng bỏ ống diện thoại xuống, anh tài xế sốt ruột hỏi:

- Thầy xin phép giùm tôi được mấy bữa ?

- Anh nghỉ cho tới chừng nào chị ấy thật đỡ.

Anh tài xế rối rít cám ơn chàng rồi dông liền.

Minh biết rằng chàng sẽ phải kiêm nhiệm luôn chức tài xế, nên vội thay đổi y phục để ăn điểm tâm. Tuy chủ nhà ít đi đâu, nhưng ông ta hay đi bất thình lình và nóng tánh, ông ta không chịu được phải chờ đợi ai cả.

Bà chủ ăn sáng xong, lên lầu và độ mười lăm phút sau bà trở xuống ăn mặc y phục đi phố. Bà trang điểm sơ sài như thường bữa nên ít tốn thì giờ về khoản nầy lắm.

Chiếc xe đã được Minh đánh ra ngoài, đậu nơi con đường trải đá đỏ xắn ngon lành vào thảm cỏ xanh của sân nhà, đưa thẳng ra cổng.

Bà thong thả lên xe và thấy Minh chạy lại trước xe mở cửa bước lên chỗ tài xế, bà mới chưng hửng:

- Tài xế nghỉ rồi à ? - Bà hỏi.

- Dạ, anh ấy xin phép nghỉ để đưa vợ đi nhà thương.

Hai vợ chồng ông Hóa ngủ riêng buồng nên bà không nghe được câu chuyện điện thoại lúc nãy.

Bấy giờ bà Hóa mới chợt nhớ ra rằng tài xế không có mở cửa cho bà lên xe như thường ngày hắn đã làm. Minh vẫn biết điều đó, nhưng không thèm thi hành vì chàng cho rằng chàng không phải là kẻ chịu hạ nhơn phẩm mình như vậy.

- Tổng Ngân khố.

Bà chủ ra lịnh ngắn ngủi và giọng của bà là một giọng trung lập, không có hồn không dịu cũng không xẵng. Đó là giọng nói với những người không đáng kể.

Minh mở máy rồi sang số thật mạnh. Chàng đổ chút căm tức của chàng lên cái hộp số vô tội của chiếc xe mà máy móc tinh xảo rất là ngoan ngoãn, dễ điều khiển chớ không trục trặc như một con ngựa chứng bao giờ.

Đến nơi, bà chủ làm biếng vào kho bạc, viết ngân phiếu tên chàng cho Minh vào lãnh mười hai ngàn.

Mười lăm phút sau, trao tiền cho chủ xong, Minh lại nghe một cái lệnh khác:

- Hiệu Dư Âm !

Cũng may là chàng làm nghề thư ký riêng, nên biết hiệu nầy ở đâu. Tài xế và thư ký riêng là hai hạng người mà địa chỉ nào họ cũng phải biết. Các chủ nhơn, lên xe xong chỉ thảy ra một cách cụt ngủn những cái lịnh như thế nầy, Tòa Đại sứ Hòa Lan hoặc Phòng chưởng khế.

Đáng sợ hơn hết là địa chỉ các tư gia: "ông Đại Xương" hay: "Bà Vĩnh Lợi". Nhưng đó còn có cái hiệu, chí như "Ông Thành" hoặc "Cô Phiến" thì thật là chết. Họ quen đến mười hai ông Thành và bốn năm cô Phiến gì đó, phải đoán xem họ đang muốn mua sắt của ông Thành I hay muốn bán cao su cho ông Thành II, đoán xem họ đang nhớ cô Phiến tóc thề hay cô ưa mặc "din".

Hiệu Dư Âm là một hiệu chuyên bán máy thu thanh, máy hát âm thanh nổi và dĩa hát ngoại quốc ở đường Tự Do.

Bà Hóa vào đó rất lâu, Minh phải đậu xe đằng xa trong con phố hẹp Nguyễn Thiệp để chờ bà. Có chờ đợi như thế nầy, chàng mới biết các tài xế xe nhà ăn tiền rất đáng công, mặc dầu nhiều anh một tháng lái xe tổng cộng không quá mười tiếng đồng hồ.

Không có gì khổ bằng ngồi không, đứng không để chờ ai. Anh tài xế nào thích đọc tiểu thuyết kiếm hiệp thì còn đỡ khổ chớ các anh không ưa sách vở thì tổn thọ vô cùng vì bực mình suốt ngày, suốt tháng suốt năm.

Minh chắp tay sau mông, đi bách bộ trên vỉa hè Tự Do, nhìn khách qua đường xem họ có nhìn chàng hay là không để đoán xem họ nghĩ về chàng thế nào, xem chàng là một tài xế hay là gì gì, chàng có phải là một kẻ không đáng kể trong xã hội chăng.

Chàng thất vọng lắm vì không có ai nhìn chàng cả. Họ thờ ơ đi qua như không có chàng ở dó, như bà chủ đã xem chàng là một cái máy để huy động máy xe hơi.

Chàng nhớ có nghe một người bạn cao niên nói "ở đời ngoài những kỳ công làm chấn động dư luận thì không kể, ngày thường mà muốn được người ta chú ý tới phải có một cái mũi vẹo, một bộ râu trịch thượng hay một diện mạo Tống Ngọc. Nhưng lý tưởng là họ xem như không có ta. Họ xem như thế tức là ta không què giò, không cụt tay, không gù lưng, tức là tương đối khá lắm rồi."

Quan niệm của người bạn ấy thật chí lý nhưng Minh cứ muốn chàng khác thường. Chàng tự nguyện sẽ làm cái gì khác thường sau hồi thất vọng nầy. Ừ, đã không xuất chúng được ở bề ngoài thì chàng sẽ xuất chúng bằng việc làm vậy.

Có phải chăng tâm trạng kỳ khôi ấy là nguyên động lực tạo ra anh hùng hào kiệt, tạo ra các nhà bác học lừng danh, tạo ra những văn nghệ sĩ lỗi lạc ?

Người ta yêu một người dàn bà mà vì kém cỏi quá, người ta âm thầm nỗ lực làm việc để đạt thành tích hầu xứng đáng với người đàn bà đó. Chỉ hơi phiền là kết quả thật lâu đến, nhứt là trong địa hạt văn nghệ. Tới lúc lừng danh thì tóc đã bạc rồi như cái ông lão Picasso ấy, đợi đến bảy mươi hai mới cưới vợ, và chắc chỉ cưới được cái bản sao của người đàn bà gây hứng thôi vì người ấy cũng già xọm như ông rồi.

Minh quyết sẽ hành động mau lẹ để khỏi chịu cảnh nổi danh ba bốn mươi năm về sau, nổi danh một cách vô ích khi mà Huyền Trân đầu bạc răng long rồi.

Ông lão Picasso mặc dầu đã cưới được cô gái hai mươi, chắc vẫn không toại nguyện vì cô gái trẻ măng ấy không phải là nàng tiên của lão ngày xưa.

Thình lình Minh đi mau bước vô cùng. Sự gia tăng tốc độ ấy ăn nhập với sôi nổi trong lòng chàng. Chàng đang phẫn nộ ông Hóa.

Nếu tài văn nghệ đã bù được cho cái duyên không may của cô gái hai mươi lấy lão Picasso bảy mươi làm chồng, thì không có gì bù cho Huyền Trân cả và ông Hóa được nàng là một sự bất công hết sức.

Nghĩ tới đó, Minh giận run, làm như nạn nhân chính là chàng và làm như ông Hóa đã phạm trọng tội cần bị trừng phạt nặng nề.

Chàng đi như sợ bị trễ xe lửa và khi sực nhớ lại bộ tịch của mình, Minh xấu hổ chậm bước lại. Binh tĩnh được như cũ, chàng lại xấu hổ cho tình cảm của chàng tất cả những trò trẻ con của chàng đều là những hình thức ghen tương, không hơn không kém.

Tình cờ ngước lên chàng thấy người của hiệu Dư Âm ở bên kia phố, xách ra khỏi hiệu một cái thùng khá nặng và Huyền Trân nối gót theo người ấy, cũng ôm xách kè kè.

Tức thì chàng chạy băng qua phố, bất kể xe cộ, để giúp đỡ Huyền Trân.

Khi ra đi chàng không thèm mở cửa xe cho bà chủ vì thấy chàng không có bổn phận. Giờ chàng cũng không có bổn phận trong tư cách công nhân của ông Hóa.

Nhưng chàng lại thấy có bổn phận của người con trai trước một thiếu phụ bề bộn bưng xách.

Tới nơi, chàng nói:

- Thưa bà cho tôi giúp đỡ bà.

Huyền Trân mỉm cười, trao cả cho Minh và nói:

- Cám ơn thầy ký.

Họ nối đuôi nhau mà đi lại xe, Minh chạy trước để mở cửa, người của hiệu Dư Âm đi giữa, Huyền Trân chẫm rãi theo sau.

Chiếc thùng được để ngay dưới chân của bà Hóa. Minh đặt những gói nhỏ mà chàng rước lấy khi nãy, và đoán là dĩa hát, đặt nó lên băng, cạnh Huyền Trân.

Đoạn chàng ra trước, lên xe toan mở máy. Nhưng Huyền Trân lại nói. Đây là lần thứ nhì từ khi về nhà chồng mà bà Hóa trao lời với chàng. Lần thứ nhứt chỉ cách đây có năm phút thôi. Lần ấy chàng đã xúc động lắm rồi, mặc dầu nó chỉ là một câu ngắn và hơi phũ phàng: "Cám ơn thầy ký". Nếu bà nói: "Cám ơn Minh" chắc chàng sung sướng không biết bao nhiêu.

Vì thế mà Minh không mở máy xe, cố lắng nghe xem bà chủ nói gì. Dịp quan trọng như vậy, chàng không thể bỏ qua và sẽ ân hận lắm nếu bà ấy nói gì êm dịu hơn mà chàng lại nghe sót một vài tiếng. Bà nói:

- Tôi sắm máy ký âm. Chẳng, tôi thích một bài hát trong đài phát thanh mà tìm dĩa mua thì không thấy có bán trên thị trường, nên định rình nghe hễ họ có cho hát lại thì tôi ghi.

Ý nghĩ đầu tiên của Minh, sau lời kể lể của bà Hóa là cái thói lãng phí của nhà giàu: họ sắm một máy ký âm thứ thật đắt tiền để chỉ ghi có một bài hát thôi.

Nhưng một nghi ngờ thoáng xẹt qua trí chàng như chớp nhoáng. Nghi ngờ nầy ghê gớm quá khiến chàng chết điếng mấy giây và lúc tỉnh lại, chàng cho xe chạy liền, đáng lý thì theo phép lịch sự, chàng phải nói lại với Huyền Trân vài lời.

Để chuộc tội, chàng hỏi hơi trễ:

- Thưa bà, bà có mua băng nhựa chớ ?

- À, có.

- Trước nhà, thỉnh thoảng có một người ăn mày đàn bà đi qua. Người ấy "kêu cơm" giọng tốt lắm và thân thiết lắm. Khi nào họ có qua đó nữa, tôi sẽ gọi vào cho bà lấy bài "kêu cơm" ấy.

- Ý hay lắm và thầy chắc biết thưởng thức cái đẹp lắm. Phải, không phải chỉ có ca hát mới hay, mà tiếng chim kêu cũng cần ghi y như là một giọng hát danh tiếng.

- Dạ.

- Nhưng mà...

Huyền Trân bỏ lửng câu nói của nàng, và Minh đoán rằng câu đó chỉ có thể là: Nhưng mà vô ích thôi Minh ơi ! Huyền Trân còn thiết gì nữa mà ghi cái nầy hay cái nọ ? Tất cả đều vô nghĩa, cho dẫu là nghệ thuật đi nữa. Và còn chẳng bao lâu ...

Sở dĩ chàng đoán nghe như vậy là vì nghi ngờ khi nãy.

Huyền Trân xem ra chẳng buồn nói chuyện với chàng, và lời cám ơn lúc chàng rước gói, chỉ là nói vì lịch sự thôi. Như vậy sao nàng lại khoe chiếc máy ký âm ?

Phải chăng là có một chuyện rất buồn, liên hệ đến máy ký âm nó đè nặng lòng nàng, nàng cần nói với bất kỳ ai lời nào cho vơi niềm sầu ?

Phải chăng là Huyền Trân muốn quyên sinh, định ghi lại mấy câu vĩnh biệt để cha mẹ nàng, em út nàng cất làm kỷ niệm ?

Những lời nàng nói bây giờ với chàng là những lời phân trần với một nhơn chứng ngoài gia đình, như các cô sầu tình kia lúc sắp sửa nhảy xuống cầu Bình Lợi, hay réo khách đi đường mà la:

- Bà con ơi, tôi chết đây, chết vì không sống được với nỗi đau khổ của tôi.

Người ta trối trăn với người thân yêu, nhưng người ta phân trần với bất kỳ nhơn chứng nào.

Dự đoán ghê gớm ấy, Minh lập ra trong trí chàng một cách rất là trinh thám vì giàu tưởng tượng và vì quá là lo âu cho thiếu phụ mà chàng si tình, chớ biết đâu nàng chỉ sắm máy ký âm để ghi bài hát, chỉ giản dị có thế thôi.

Dầu sao, bà chủ đã có nói chuyện với chàng. Sung sướng ôi ! Trời hôm nay đẹp ghê hồn, và tất cả tài xế đều chạy xe một cách biết điều và dễ thương, cho đến đỗi những người đi xe đạp, những anh phu xích lô đạp đi đường bất kể luật lưu thông là thế, hôm nay chàng thấy họ cũng dễ mến lạ.

Chú rể giả hôm tháng trước không hạnh phúc như thầy thư ký hôm nay vì trên xe hoa cô dâu buồn quá, có chê chàng cô cũng phải nói cái gì cho đỡ buồn. Chàng chỉ là một mẩu thuốc tàn đỡ ghiền lúc người ta bị giam cầm trong khám. Ra khỏi ngục thất, người ta lại hút Ăng Lê chớ.

Hôm nay thì khác rồi, Huyền Trân không muốn thì thôi chớ nếu nàng muốn ắt sẽ có hàng ngàn người xứng đáng trò chuyện với nàng bất kỳ giờ phút nào và bất kỳ ở đâu. Thế nghĩa là nàng không xem thường chàng vậy.

Minh nhớ lại một kỷ niệm xa xôi mà buồn vô hạn trong mấy giây, rồi thầm cám ơn Huyền Trân không biết bao nhiêu.

Năm ấy chàng từ Cần Thơ lên Sài gòn mong tìm việc. Xe chết máy dọc đường, giữa ruộng. Hành khách của chuyến xe rủi ro đó toàn là nông dân quê dốt, trừ một ông có vẻ sang trọng và chàng, một học trò khó, nhưng có được phong độ của người có học. Ông ấy buồn quá và hành khách đón xe dọc dường mà đi lần hết cả, thành thử ông ta chỉ biết nói chuyện với chàng.

Hai người quen nhau khá thân và chàng được biết ông ấy là một công chức cao cấp. Khi tới phiên họ đón được xe họ cùng lên thủ đô rồi chia tay nhau tại bến An Đông với nhiều quyến luyến bịn rịn, ông nọ có mời cả chàng đến nhà ông ta chơi nữa.

Nhưng một tuần lễ sau gặp lại ông ta ngoài phố, chàng chạy a tới chào hỏi thì sự thờ ơ lạnh nhạt của ông ta như tát nước lạnh vào mặt chàng.

Ông ấy quả đã thật tình mến chàng lúc ở giữa đồng ruộng, và lúc đi chung xe, nhưng về tới Sài Gòn, bao nhiêu là bạn hữu hay ngộ hơn chàng đã khiến tâm trạng ông ta đổi đi.

Tâm trạng của Huyền Trân đối với chàng không thay đổi, thế nghĩa là cảm tình của nàng đối với chàng trên xe hoa không phải là cảm tình tạm bợ của một thợ săn đối với rượu đế giữa rừng sâu, nơi không có Huýt ky là món sở thích của hắn.

Về tới nhà Minh vội mở cửa xe cho bà chủ. Giờ thì khác, chàng chịu làm cái công việc mà khi sáng chàng chê vì chàng tự nhủ rằng bây giờ chàng làm là vì nịnh đầm.

Huyền Trân xuống xe xong, Minh ôm xách các thứ vào nhà và tới nơi, gọi chị Lầu tiếp tay cho chàng vì chàng tránh lên gác.

Lúc cho xe vào ga ra. Minh sực nhớ lại rằng Huyền Trân không căn dặn chàng: "Nè thầy ký, hôm nào có chị ăn mày "kêu cơm" thảm thiết ấy đi ngang qua đây, thầy nhớ gọi vào nhé !"

Đáng lý gì Huyền Trân phải dặn như vậy, căn cứ vào sự đón tiếp nồng nhiệt đề nghị của chàng khi nãy.

Sự im lặng của nàng nhắc cho chàng nhớ câu nói bỏ dở nửa chừng của nàng trên xe: "Nhưng mà..." và khiến chàng lo lắng trở lại.

Nhưng mà ... làm sao ! Có phải chăng là "Nhưng mà đã trễ lắm rồi vì chỉ còn có mấy hôm nữa thôi là tôi đã xa lánh cõi đời nầy rồi !"

Xế hôm đó, trong khi Huyền Trân đánh đàn trên lầu thì ông Hóa xuống nhà gọi chàng mà hỏi:

- Minh nè, hiện giờ Minh lãnh được bao nhiêu mỗi tháng tất cả ?

- Dạ, lương thư ký bốn ngàn. Tháng tới sẽ có lương tài xế đâu hai ngàn rưỡi nữa là sáu ngàn rưỡi tất cả.

- Không vợ con, không tốn tiền ăn ở, chắc Minh không muốn làm thêm nữa, có phải không ?

- Vâng.

- Nhưng Minh nên làm thêm nếu có công việc. Không bao nhiêu mà đủ cả. Ta phải gom cho thật nhiều, phòng những lúc ốm đau bịnh tật, những lúc thất nghiệp.

- Dạ ông dạy đúng. Nhưng tôi không nên phung phí tâm lực mà bê trễ việc của ông.

- Minh nói cũng đúng, nhưng làm thêm cho tôi thì không sao. Minh chịu làm tài xế ban ngày hay không ?

Người thư ký riêng của ông Hóa làm thinh vì chàng không thích công việc đó. Biết ý chàng; ông Hóa nhấn mạnh:

- Tôi muốn như vậy.

Đó là một cái lịnh mà Minh không thể không nghe.

Chàng đáp một cách yếu ớt.

- Tùy ông.

- Đây, cho Minh một ngàn đồng để sắm quần áo đẹp mà mặc. Tóc phải hớt mỗi tuần. Không được làm khác lời.

- Dạ.

- Chẳng khi trưa vợ tôi nó phàn nàn rằng chiếc xe đồ sộ quá và nó ngồi một mình phía sau có vẻ quan liêu, và cái vẻ quan liêu ấy làm cho nó bệ vệ và già đi.

Nó đòi sắm một chiếc xe nhỏ để nó tự lái lấy ! Nhưng tôi thì không dám cho nó mạo hiểm.

Tôi đã tìm được một thỏa hiệp là để nó ngồi phía trước với người lái khi nào không phải chính tôi lái. Mà như vậy người lái xe phải có tư cách, chớ không thể là một tài xế.

Minh thừ người ra, tại sao ông Hóa lại dám nghĩ ra thỏa hiệp nầy và nhứt là dám dùng nó ? Và tại sao Huyền Trân lại nhận.

Giây lát sau, chàng ngần ngừ rồi nói:

- Thưa ông, nhưng giựt chén cơn của anh tài...

- Minh không có giựt chén cơm của ai hết. Tại tôi đập bể chén cơn của nó đó chớ. Nhưng tôi sẽ thưởng nó ba tháng lương và cho nó tiền lo thuốc cho vợ nó.

Nếu không nhiễm các thứ tiểu thuyết trinh thám và nghẹt thở, Minh dã mừng như trúng số độc đắc. Thế nào ! Khi không mà giấc mơ của chàng lại thành sự thật à ? Từ đây chàng sẽ là một chàng công tử quần áo bảnh bao, lái xe nhà, bên cạnh là một người đẹp có hạng.

Nhưng chính vì sự đắc thắng dễ dàng đó mà chàng đâm sợ. Chàng thấy đó là một cái bẫy mà ông Hóa gài chàng vào để hại chàng. Hồ nghi của chàng có vẻ trinh thám lắm nên rất hấp dẫn đối với chàng.

Vì thế mà mặc dầu sợ, chàng vẫn ham. Đây là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, xứng đáng với chàng hiệp sĩ dạ hành đã ân hận trót sanh vào thời buổi quá trật tự, không thi thố tài năng được.

Minh phấn khởi đi sắm thêm quần áo. Chàng mua những chiếc sơ mi thể thao, những chiếc sơ mi ba gai, những chiếc sơ mi trai lơ và y như Huyền Trân, chàng thấy xe Mercédès bệ vệ, quan liêu quá, chàng không thể bảnh trai được khi lái loại xe ấy, nó làm cho chàng già ra.

"Nếu ta xúi ổng sắm một chiếc D.S. !" Nhưng Minh vừa nghĩ xong điều nầy thì bật cười. Nếu ổng chịu sắm xe thể thao thì chính Huyền Trân sẽ lái lấy chớ có cần gì chàng. Để có cái tư cách mà ông Hóa đòi hỏi, Minh lại phải sắm giày. Từ thuở giờ chàng hà tiện nên đi giày da nội hóa hai trăm đồng một đôi. Nhưng giày tốt, hai đôi là đi hết chín trăm bạc rồi, một ngàn đồng ông Hóa biếu, không đủ đâu vào đâu cả. Chắc ông chủ đã quên cái khoản giày nầy, chớ ông rộng rãi lắm.

Tuy nhiên tất cả những trò vật chất xa xỉ vừa mua sắm không giúp Minh thấy chàng xứng đáng với Huyền Trân.

Ông Hóa nghĩ khác, nên ông hài lòng. Ông ta chỉ cần một bề ngoài sạch sẽ và khá giả của chàng thôi.

Chàng muốn vượt lên cao thực sự trên cái thang giá trị, giá trị tinh thần ấy, chớ còn chàng ăn mặc sang thế nào, Huyền Trân cũng cứ thấy kẻ ngồi cạnh nàng là một viên thư ký, không hơn không kém.

Về học vấn, chàng không bị mặc cảm vì chàng không chơi bời lêu lỏng nên có rất nhiều thì giờ để tự học, chàng giỏi hơn các anh tú tài khác bội phần, không những chỉ biết bài nhà trường không mà thôi, lại thạo cả văn nghệ, chánh trị, các vấn đề văn hóa lớn.v.v...

Nhưng chàng muốn được cao đẹp một cách ngoạn mục kia, chẳng hạn như phải làm một cuộc hy sinh lớn lao nào, hoặc chịu những khổ hạnh nào, có thế mới thật là xứng đáng với người ngọc.

Sáng hôm sau, vợ chồng ăn điểm tâm xong, bà Hóa lên lầu trang điểm, còn ông Hóa thì ra ngoài sân để điểm binh người tài xế mới của ông.

Minh đã đánh xe ra sân đúng y theo truyền thống của các tài xế nhà nghề. Chàng lau xe, nhưng làm khác tài xế nhà nghề là lau nhè nhẹ bằng nùi giẻ chứ không phải quậy cho bụi bay lên đầy trời bằng chổi lông gà.

Ông Hóa đứng sau lưng chàng mà chàng không hay, cứ bình tĩnh làm việc như thường. Thoạt tiên ông chủ nhà rất hài lòng. Nhưng nhìn kỹ lại viên thư ký riêng của ông, ông đâm lo.

Ăn diện vào, Minh khác hẳn anh chàng lù khù hôm trước. "Tuy nó không được vạm vỡ, thể thao lắm, tức là không được đẹp trai theo quan niệm bây giờ, ông Hóa nghĩ, nhưng nó vẫn đẹp trai, đẹp như một thư sinh thời con trai của mình."

Ông đã quá xem thường anh con trai nầy nên ông mới dám ra một quyết định mà người khác sẽ cho là liều lĩnh. Giờ ngắm kỹ thanh niên vụt bảnh trai ra thình lình nầy, chính ông chợt thấy quyết định của ông là phiêu lưu quá.

Huyền Trân là một thiếu phụ có học vấn, có giáo dục, con nhà lành. Tất cả những đức tánh ấy cũng không ngăn được nàng ngoại tình. Tuy nhiên có ngoại tình nàng cũng sẽ ngoại tình đúng thể thống của nàng, nghĩa là không yêu một anh chàng bá vơ nào đó, như anh thư ký riêng của ông chẳng hạn.

Đó là cái nếp hư của những người đàn bà vào hạng Huyền Trân. Ừ, hư cũng có ba bảy đường hư và mỗi hạng người hư theo một nếp, không nếp nào thanh cao được cả, nhưng có nếp tương đối ít bẩn thỉu.
Sự thật là như vậy… nếu Huyền Trân lớn tuổi hơn một chút, ra vẻ đàn bà hơn lên một chút.
Giờ nàng chỉ là một cô bé thôi với tất cả ngây thơ, nhẹ, hời hợt của tuổi hai mươi thì một thanh niên sạch sẽ như thế nầy là một mối nguy đó.
Gầm mặt xuống, ông Hóa chậm rãi vào nhà để làm việc, tâm trí nặng trĩu những băn khoăn mới nhóm, những suy tư rắc rối phức tạp về tình yêu, về tiết hạnh người của đàn bà.
Nếu không có những quyến rũ khách quan, nếu không gặp rủi ro trong đời sống tình cảm thì trong một ngàn bà vợ, có đến chín trăm chín mươi chín bà trọn tiết được với chồng cho đến lúc xuống mồ. Cái bà thứ một ngàn còn sót lại ấy, thuộc hạng người lẳng lơ thì không đáng kể.
Nhưng trừ phi nhốt vợ trong nhà như người Nhật Bổn, trừ phi bắt vợ che mặt bằng một tấm khăn đen như người Á rập, không làm sao mà các bà tránh quyến rũ khách quan được cả.
Chú thích:

1.

Nhân vật điển hình của tiểu thuyết Việt Nam, tác giả là Vũ Trọng Phụng.

2.

Huyền Trân sắp bị đưa lên giàn hỏa đã xây cất xong. Xuống thang là xuống thang giàn hỏa, chớ không phải lên thang như nhiều người đã hát.

5.10.1967
Bình Nguyên Lộc
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...