Quán tai heo 2
Vỉa hè đại lộ Lý Thái Tổ đã được giải tỏa hoàn toàn. Tất cả
các sạp gỗ đều được khiêng đi hết từ hai hôm rồi. Sự náo nhiệt về đêm, ở đoạn
đường từ Ngã Bảy lên đến nhà thương nhi đồng, thu hẹp lại trong mấy tiệm ăn vắng
teo mà tiệm vắng nhứt là quán Tai heo của bộ ba Các-Hải-Châu.
Thấy cả ba dắt tay nhau đến, Hai Lọt đang ngồi ngáp, bỗng
sáng mắt lên. Ba người khách không nuôi nổi một cái quán, nhưng họ có thể kéo
khách khác, những kẻ lỡ đường, thấy trong ấy có người, có thể a dua vào đó hơn
là nếu họ thấy quán vắng như chợ chiều.
- Chào quý ông! Mắm nêm kỳ này ngon tuyệt diệu, bữa nay lại
có một món ăn đặc biệt mà tôi để dành riêng cho ba ông.
- Món gì mà đặc biệt? Ông Các nhừa nhựa hỏi. Ông ấy đã uống ở
đâu rồi, và ông đến đây vì bạn, vì quán, chớ không phải để nhậu chút nào cả.
- Dạ, vú nai. Quý lắm đa ông. Cả năm mới bắn được một con nai
đang nuôi con, mà ai bắn nấy hưởng. Nhờ người này là bà con với tôi, nên tôi mới
năn nỉ y, nài lại được cặp vú.
Ông Các chưa biết mùi vị của món này nên hỏi Bắc Hải là tay
sành tất cả mọi việc từ cái chén khoanh măng đến con rươi Gò Công !
- Thế nào? Món ấy có khá bằng tai heo hay không?
- Nó hơn tai heo cũng như thơ của Lý Thái Bạch hơn thơ của thằng
Dương Châu, tức là một ngàn lần hơn.
- Gớm thế à?.
- Nó dòn lại thơm sữa, ngon nhứt trần đời đó a cụ. Thôi, có
thì đem ra đây nhậu một bữa coi ông Hai. À, Châu, tiểu thuyết của mầy đăng được
mấy bữa rồi ?.
- Bốn !
- Kể tao nghe coi.
- Không có đọc à ?
- Trời ơi, giờ mầy lại bắt tao đọc cả truyện đánh nhau nữa hả.
Anh hùng lâm đại nạn trong trường hợp nào?
- Chuyện như vầy. Có một lũ tét-di-bồi vào quán Tai heo nhậu.
Nhậu say, chúng nó cợt nhã với một cô chiêu đãi viên rất đẹp...
- Đẹp như Hoàng vậy à? Bắc Hải hỏi đùa bằng tiếng Pháp.
- Tao đánh bể mõm của mầy, con khỉ già. Tao cấm mầy chê nó xấu
và chê nhạo tao ngốc.
- Bao giờ thằng ngốc cũng sợ người ta chê mình ngốc cả. Nhưng
ta tha thứ mầy, nhờ mầy ngốc nên nước Việt nam mới có được một bài thơ hay.
Thôi kể tiếp đi.
- Bị cô ả cự tuyệt, nhưng nó...
- Tao biết tại sao cô ả cự tuyệt, vì cô ả mê mầy...
- Nín đi, con khỉ già, không thôi tao thủ tiêu hết dĩa vú nai
cho coi.
Thằng nhỏ bưng dĩa đồ nhắm lên, và Bắc Hãi kêu rượu:
- Rượu thuốc cho ông giáo, bia cho tôi, và nước cam cho
"cô" Dương Châu.
- Mầy khinh tao không uống được rượu à ? Đánh cá đi. Tao với
mầy uống nửa kết, ai ngã trước phải trả tiền bàn này.
- Rồi, nguéo tay...
- Anh Châu không được uống rượu đa ! Đó là lời ngăn cản của
Hoàng, nãy giờ làm thinh mặt bí xị.
Từ ngày được Dương Châu yêu, nàng hết lịch sự được với hai
ông khách kia nữa, vì nàng ghét cay, ghét đắng họ, họ là những người rù quến
Dương Châu uống rượu.
- Chà, cưng dữ ! Bắc Hải pha trò.
- Cưng nhơn ngãi như thế thì chủ quán đuổi có ngày; nuôi ong
tay áo là như thế, cụ Các nói.
- Anh đánh cá lỡ rồi, cho anh uống một lần chót đi cưng.
Tiếng động cơ nhỏ nổ vang rền trước cửa quán. Họ nhìn ra thì
thấy ba ông khách, một ông cởi xe gắn máy, hai ông khác đèo nhau bằng xe
Lambretta.
- Tụi tao đi cứu anh hùng lâm đại nạn đây.
Người cởi xe gắn máy hét to như để đua nổ với động cơ mà hắn
không chịu tắt.
- Ông nội ơi. Bắc Hải van, tôi lạy ông nội tắt máy giùm,
không thôi tôi điên mất.
- À. Tao quên.
Cả ba vào quán và hỏi:
- Thằng nào là anh hùng ?
- Thằng này, Dương Châu tự xưng như vậy. Vì nó dám cãi lời
người đẹp để uống rượu thi vơi cái hủ chìm này đây.
- Còn đại nạn gì ?
- Nạn phải ăn vú nai. Ê, ngồi xuống đây làm thử một miếng coi
ta.
Bấy giờ, chiếc bàn tròn lớn nhứt giữa quán được khách vây quanh
giáp vòng. Hai Lọt mắt nở như hoa và láy mắt ra hiệu cho Hoàng săn sóc họ ân cần
thêm chút nữa.
Cô chiêu đãi viên độc nhất của quán Tai heo trông uể oải lạ.
Vắng khàch mãi, cô ta xuống tinh thần, nhưng nay đã có chỗ dựa, cô không còn
nghe yêu nghề nữa.
Tuy nhiên họ là bạn của Dương Châu, nên cô ta vẫn niềm nỡ tiếp
đón.
- Dạ, ba anh uống chi ?
- Ăn vú nai, chắc phải uống sửa người ta, khỏi hỏi,
Người đáp như vậy là một thanh niên trạc hăm sáu tuổi, đầu
còn bù hơn đầu Dương Châu nhiều, và râu thì có lẽ dài hơn của thi sĩ này đến một
phân. Đáp xong, hắn hỏi Dương Châu bằng ngoại ngữ:
- Phải nàng đó chăng ?
- Phải.
- Tao vẽ nàng được không ? Không đẹp nhưng khả họa lắm. Tuy
thế vết đẹp xưa cũng còn thấy được.
- Để tao can thiệp cho mầy vẽ. Nhưng giờ thì nhậu rồi hẳn
hay.
Bắc Hải cười hề hề mà rằng:
- Quán tai heo được một thi sĩ làm cho nổi danh, giờ một họa
sĩ lại đòi đưa chiêu đãi viên của quán vào lịch sử nữa thì tam bách dư niên hậu,
người ta còn nhắc đến quán này.
- Nhưng thằng Đan vẽ người xấu như ma, e nó bôi lọ cái quán vừa
nổi danh chăng ? Một thanh niên mới đến nói thế.
Đan trả lời ngay:
- Vẽ xấu bằng mày làm thơ chớ gì. Thằng Hiền nó làm thơ như
thế vầy tụi bây ơi:
Tôi mở cửa sổ ra,
Tôi thấy toàn nóc nhà
Đen thui, đen thui, đen thui, đen thui.
Chàng thi sĩ thứ nhì tên là Hiền này, mặt hiền từ lắm, trắng
trẻo và đẹp trai. Hắn ăn mặc cũng sang trọng quần flanelle, sơ-mi-sét may bằng
một thứ vải trắng trổ hoa.
- Thôi nhậu chứ, các cậu !
Ông giáo sư Lê Thiệu Các vừa mời vừa gắp một miếng vú nai, chấm
mắm, bỏ vào mệng nhai nghe dòn rụm.
- Thơm sửa lạ kỳ ! Ông khen.
- Vừa dòn vừa bùi.
Câu khen sau này là của Tấn, người con trai mà thi sĩ Hiền đã
đèo theo ngoài sau xe Lambretta của chàng. Tấn "mần" một miếng vú
nai, nốc nuột hơi bia, rồi hát:
Quand un soldat saute le mur,
Quand un banquier s' enjuit à Namur,
Il y a toujours une raison:
Coquin d'amour ! 1
Hát xong, người nhạc sĩ ấy lại ứng chế một điệu mới với lời
ca mới, bằng tiếng Việt:
Khi thằng ấy làm thơ,
Tại quán Tai heo
Tức nhiên tả lại chữ tình mắc dịch
Giờ muốn hắn điên
Để cho ta thêm nhiều vần sầu thảm
Ta nên nhảy ra làm tình địch !
Cả bọn cười ồ lên. Dương Châu day ra gọi Hai Lọt mà rằng:
- Đời ông lên hương rồi ông Hai ơi ! Tụi này mà tới đây là
không bao giờ rời quán này, để rồi ông xem.
Hai Lọt cười ha hả, bụng mở rung rinh như bụng Đổng Trác và
nói:
- Nhờ bà con cứu tôi, không thôi tôi chết mất. Bồ câu bay đi
tìm quán mới hết trọi hết trơn.
Dương Châu nói đúng. Ba anh chàng này là văn nghệ sĩ và họ sẽ
tìm thấy vẻ đẹp kín đáo và khó hiểu nơi cái quán xép hôi mùi mắm nêm này khác với
anh ký giả trẻ tuổi hôm nọ, anh ta ngỡ gặp ngay nữ chiêu đãi viên thật đẹp, gặp
ngay nuột khung cảnh thần tiên và đã thất vọng nhiều lắm.
Đây là những văn nghệ sĩ chưa thành công trên đường đời, còn
sống ẩn trong bóng tối. Họ không tiền để la cà nơi các quán sang trọng, họ lại
bị mặc cảm ở các nơi đó và nhứt là nghe mất tự do ở các nơi đó.
- Xin mời cụ. Hiền nói.
Ông Các nhấm miếng vú nai thứ nhì và lại khen:
- Số Dzách !
- Hẳn chứ lị !.
Nếu người miền Bắc hay bắt chước giọng Sài gòn thì người Sài
gòn cũng thích bắt chước giọng miền Bắc. Cả hai đều vụng về, Nam không thể giống
Bắc được và Bắc cũng chẳng giống Nam, nhưng họ cứ bắt chước nhau vì thấy việc ấy
hay hay.
Cụ Các đợi lũ nhãi ranh này dứt cơn cười, điểm vào mặt Hiền
mà rằng:
- Thằng này Bắc kỳ lắm.
- Sao lạ vậy cụ ? Thiên hạ nhao nhao lên hỏi.
- Nó vừa mời tao đó, không nghe sao ? Nó học đòi lịch sự ấy
mà !
Ông Các không ngại chơi với các thanh niên đáng con cháu ông,
cũng chẳng ngại bắt chuyện thân mật với người nghèo khó. Ông bảo rằng ông thích
cái bình dân, sự cởi mở của dân Sàigòn lắm.
Tấn thúc cùi chỏ vào hông Dương Châu mà rằng:
- Mầy chưa trình diện Nàng Thơ của mày cho tụi tao. Phải đặt
khay trầu rượu, rồi hai đứa ra lạy tụi tao mỗi người ba lạy mới được, ông giáo
sư đây là ông tiên chỉ, sẽ chứng giám cái đám này cho.
Hoàng giận ghét bọn này lắm, nên nãy giờ dang ra ngồi nơi một
xó kia. Vừa nghe đề nghị pha trò cửa Tấn, bỗng dưng một sự ớn lạnh chạy dài
theo xương sống nàng và da nàng mọc óc cùng khắp nơi như da gà đã nhổ sạch
lông. Đó là sự sung sướng và cảm động cực độ khi nàng nghe những người bạn của
Dương Châu ngầm muốn nhìn nhận nàng là vợ của người con trai râu dài ấy.
Dương Châu hơi lo sợ bạn chàng vốn đang không có thiện cảm với
lũ này, hờn thêm vì câu pha trò, và nổi giận dằn không dược, làm rùm lên thì bậy
quá.
Chàng day ra sau để rình phản ứng của nàng trên mặt nàng, thì
lấy làm lạ hết sức mà thấy Hoàng ứa lệ hạnh phúc. Chàng mỉm cười với bạn và
kêu:
- Lại đây em !
Hoàng ngoan ngoản bước lại bạn, lệ lấp lánh dưới ánh đèn làm
cho nàng bỗng dưng đẹp hẳn ra. Dương Châu nói:
- Từ rày em kêu ba thằng này bằng chú, em của anh đó...
- Phản đối, ê em của mầy hồi nào ?
- Song tàn hoài !
- Thôi để nó lấy le một chút cho oai với Nàng Thơ mà !
- ...Còn lũ nó thì kêu em bằng chị.
- Cái đó thì đồng ý.
- Thôi, bao nhiêu đó đủ rồi. Rót rượu ra rồi hai đứa lạy đi,
tao lì xì cho một ghim... mía.
- Mấy đứa em của anh mất dạy lắm, em đừng giận, con nít mà mệt
trái tim. Tuy vậy, em cũng rót rượu thêm cho mỗi đứa, gọi là ra tay một bà chị
săn sóc em dại.
- Nàng đẹp chớ, Hiền khen bằng ngoại ngữ.
- Ừ, trước kia chắc đẹp lắm.
- Mầy bị tiếng sét đánh vào đầu lúc nào Dương Châu, mới đây
hay hồi đó ?
- Hồi đó.
- Đừng có nói láo nghe không. Nếu mới đây cũng chẳng xấu hổ
gì mà phải giấu. Nếu mới đây thì là mầy lượm hoa rơi thật đó, nhưng điều ấy lại
chứng tỏ rằng mầy có óc thẫm mỹ. Mỹ nhơn đang độ hương sắc lẫy lừng thì thằng
ngốc nào cũng biết thưởng thức và cũng ham yêu cả. Người bảnh là người tế nhận
được dư hương.
Vậy mới đây hay lâu rồi ?
- Gặp nhau hồi ba năm trước, nhưng chỉ mới yêu ba tuần lễ nay
thôi.
- Cũng hơi lạ. Tụi bây nghĩ sao về nguồn cảm hứng của nó ?
- Dễ hiểu lắm, có gì đâu mà lạ. Không phải cứ hễ gặp gái đẹp
là có hứng ngay đâu. Phải không thỏa trong tình yêu, hay yêu được trong đau đớn,
trong chua xót mới có thể làm thơ. Có phải không Dương Châu ?
- Đúng y như vậy.
- Thôi mà, độc lập rồi thì nói tiếng Việt Nam cho người ta
nghe với mà ! Hoàng phản đối vì nàng khó chịu, đoán biết họ nói lén về mình.
Trên mắt Hoàng, lệ sung sướng ứa ra khi nãy vẫn chưa khô, nên
Tấn hút gió lên điệu Tiễn em.
Khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em !
Hoàng hiểu ngụ ý của hắn nên tức cười, cười một cái và những
hột lệ bị bắp thịt của má đẩy mí mắt lên rơi xuống được. Nàng tươi hẳn ra và
nói lên câu thứ nhì của bài hát mà nàng đổi đi một chữ:
Chưa bao giờ vui thế !
- Thì ngồi xuống đây với anh coi nào.
Cô chiêu đãi viên ké né ngồi kế bạn như gái lành, bưng ly bia
của Dương Châu mà uống một ngụm.
- Em hết cấm anh uống rượu chớ ?
- Nếu uống rượu giúp anh vui, và bạn anh vui thì em không còn
dám cấm nữa.
- Còn nhớ năm ấy em cũng đã cấm anh uống rượu.
- Lúc đó em làm bộ để anh ngỡ em yêu anh.
- Còn bây giờ...
- Bây giờ thì cấm thật vì yêu... thật. Nhưng lại thôi cấm vì
cũng yêu thật hơn.
- Mùi quá ta ! Chị Hoàng nè, tụi tôi ba đứa đều sống cu-ky,
chị làm sao cho tụi tôi được hạnh phúc như thằng Dương Châu, đi chị.
- Đã chị, sao lại Thằng ? Được, nếu các chú muốn vui qua đường
thì tôi làm mai cho không biết bao nhiêu là mối, nhưng muốn yêu thì phải tự tìm
lấy.
- Muốn yêu, nhưng yêu tại đây. Ở đây không có ma nào hết, tìm
làm sao cho ra.
- Cái đó thuộc thẩm quyền của ông Hai.
Hai Lọt cười ha hả:
- Ấy, hồi trước tới ba bốn, năm, sáu cô, nhưng nay thì quán ế
như vầy, các ông tính !
Mấy dĩa vú nai đã hết sạch và họ đã uống hết nửa kết bia.
Thình lình Tấn hô:
- Rút tụi bây !
- Đồng ý, nhưng đi đâu lây giờ.
- Xuống quán Anh Vũ xem kịch của thằng Thình ra thế nào ?
- À, cái đó thì mỗ xin tha. Ở đó khách ăn mặc chững chạc quá,
bành tô, ca vát hẳn hòi, ngồi gần họ, mỗ sợ họ coi rẻ cái áo hở cổ của mỗ.
- Muốn vào quán Anh Vũ phải toan tính trước ba hôm để lo ủi
áo đàng hoàng.
- Có ai bắt buộc đâu.
- Khách họ bắt buộc. Ta thì hứng lúc nào vào lúc ấy với bộ đồ
nhầu nát của ta. Như vậy làm sao....
- Khó nghĩ chơn khó nghĩ, thôi thì về ngủ cho xong.
- Dương Châu ơi, mầy làm khổ chủ đa nghen, tụi tao đi đây.
Nói xong cả ba thằng ranh con đều đứng lên một lượt. Không hiểu
sao cụ Các và Bắc Hải cũng đứng dậy theo họ.
Nếu họ kéo nhau đi cả thì quán Tai heo không còn nghĩa gì,
cho nên Dương Châu cũng muốn đi. Nhưng còn, còn Hoàng, tuy một mình Hoàng không
đủ lôi kéo chàng, nhưng chàng lại không nỡ đi, sau khi Hoàng vừa hưởng được hạnh
phúc to lớn nhứt trong đời nàng.
Lần đầu tiên trong đời chàng, Dương Châu thấy rằng yêu là lụy.
Chàng, một con người say mê nghệ thuật và dành quyền ưu tiên cho nghệ thuật
trên cả sức khỏe, trên cả cái no ấm của chàng, bỗng dưng ngày nay phải kể đến một
món khác, nón này bắt đầu chen vào giữa chàng và cái đẹp văn nghệ
- chớ sao ? đang ăn uống, vụt tốc đứng lên mà đi để không biết
đến đâu, lại không là đẹp à ?
Tuy biết rằng không thể rứt đi được. Dương Châu cũng theo bạn
hữu ra đứng trên vỉa hè để nhìn họ đi. Khi hai kẻ đi bộ là ông Các và Bắc Hải
khuất nẻo rồi, chàng vẫn còn thẩn thờ đứng đó, ngó mông ra bồn binh giữa ngã bảy..
Trời chuyển mưa, nóng bức nên người trong các xóm quanh đó đổ
ra ngồi đen nghẹt trên lề xi măng của bồn cỏ. Một cô gái có ý muốn đi, nhưng
không làm sao đi được cả vì xe cộ nối đuôi nhau mà đến từ tứ phia để rồi tản ra
khắp tứ phía.
Dương Châu ngạc nhiên hết sức, tự hỏi không biết họ làm thế
nào mà ra được nơi đó, nó giống hệt một hòn đảo mà quanh hòn những dòng nước cuồng
loạn chảy xiết, không lội ra được, cũng không thể bơi thuyền mà ra hoặc rời đảo.
Chàng cũng đang bị bỏ tù trong một hòn đảo như thế, đảo ái
tình, và làm sao mà chàng ra đó, và ra bằng cách nào ? Quên mất rồi. Giờ thì
nghe bực bội, nhưng quanh cù lao yêu đương đã có những dòng nước vô hình
- nước mắt của ai chăng ?
- ngăn chàng lội trở vào bờ.
Quán hai heo, anh hùng lâm đại nạn.
Đại nạn là đây, là mối tình cạn xợt này, tuy cạn nhưng vẫn chết
đuối trong đó được như thường.
Dương Châu lắng nghe lòng chàng thì mới hay rằng chàng không
yêu nhiều lắm như chàng ngỡ. Lòng thương xót một kỹ nữ về chiều đã gạt gẫm
chàng, chỉ có thế thôi. Nhưng chàng lại không thể gạt gẫm ả ta được. Đã trót
làm cho người ta thoảng thấy hạnh phúc, chàng không có can đảm xô người ta vào
tuyệt vọng.
° ° °
Tác giả thiên truyện võ hiệp "Sơn đông kiếm hận" lục
lạo khắp cả các ngăn của chiếc bóp phơi của chàng mà chỉ tìm được có mười bốn đồng,
nằm ở ba nơi khác nhau. Chàng mừng rỡ biết bao mà chợt nhận rằng còn một ngăn nữa,
ngăn bí mật rất khó thấy vì nó lẫn với bao ngoài của cái bóp. Chàng thọc tay
nào đó và tim chàng bỗng đập thình thình vì đầu ngón tay chàng đụng phải thứ giấy
mềm quen thuộc.
Dương Châu kẹp tờ giấy ấy bằng hai đầu ngón tay, rút ra thì ô
hô, đó là tờ giấy hai đồng.
Tiền nhuận bút một tháng của thiên tiểu thuyết chàng đã lấy hết
cả rồi mà chỉ mới viết được có ba tuần lễ thôi, có muốn vay trước tiền thù lao
tháng sau, cũng phải đợi đến đầu kỳ tiền tới trong khi đó thì Hai Lọt lại nẹo
tiền cơm tiền cà phê uống chịu, và nhà chàng ở đậu cũng quyết liệt đòi tiền
nhà.
Nhớ ra thì Hoàng không có tiêu của chàng xu nào cả, trừ những
bữa ăn ở ngoài mà cả hai cùng hưởng và những buổi xi nê. Cô nhơn tình này tuyệt
nhiên không phải là nguyên nhơn của sự cháy túi của chàng. Mà cả đến những sự
tiêu pha ngông nghênh của chàng cũng không làm cho chàng phá sản được: non một
tháng, đi ăn cao lâu có hai lần, và xen ba phim, có phải chăng là một văn nghệ
sĩ phải được quyền hưởng thụ tối thiểu như vậy ?
Chẳng qua là cái món văn nghệ chánh mà chàng sản xuất là thơ
không đổi ra tiền được mà cái món văn nghệ phụ để câu cơm là thiên chuyện võ hiệp
kia cũng không có giá.
Xe buýt ngừng nơi trạm đã ba chuyến rồi mà Dương Châu không
hay, mãi cho đến chuyến thứ tư chàng mới chợt thấy chiếc xe khổng lồ ấy và vội
thót lên để ra Sàigòn.
Bây giờ đã gần mười giờ sáng. Những nhân viên quan trọng của
các tờ nhựt báo đều đổ xuống nhà in vì đó là giờ báo lên khuôn. Dương Châu đứng
nơi bàn thầy cò mà réo:
- Thanh Vân ơi !
Tiếng của viên thợ ký tòa soạn hỏi, nghe xa lắm trong kia:
- Ai đó ?
- Dương Châu.
- Chiều hãy đến, giờ bù đầu đây, còn nói chuyện gì được.
- Nhưng mỗ có chuyện gấp.
- Mặc mầy.
- Tội nghiệp mà tía nội.
Một người ấn công mang ra bàn thầy cò bảng vỗ nguyên trang nhứt
của tờ "Sớm Mai". Thanh Vân đi theo anh ta bén gót, tay cầm một cây
bút chì nguyên tử. Hắn không thèm nhận ai cả và tới bàn mà trên đó trải ra tờ bản
vỗ còn ước mèm, hắn vùi đầu vào trong đó ngay.
- Đuổi nhà dấu hỏi hay dấu ngã ta ?
Hắn hỏi to lên mà không biết là hỏi ai: người thầy cò trẻ tuổi
đáp:
- Dấu hỏi. Dũi một thứ lụa, mới là dấu ngã.
Viên thầy cò là người miền Bắc nên hóa thành quyển từ diển hỏi
ngã của ông chủ bút dốt chính tả là Thanh Vân này. Nhưng y cũng không thông
thái lắm nên hỏi lại:
- Anh nè, dư luận sôn sao hay là xôn xao, ích xì hay là ếch ?
Cả hai địa phương Nam, Bắc xem ra đều bí chánh tả như nhau
nên họ cần nhau lắm.
Mặc dầu đang rầu gần thúi ruột, Dương Châu cũng bật cười. Chàng
pha trò:
- Các tía hay chế nhạo dân Sàigòn chúng tôi viết sai và đọc
sai thí dụ: "Vầng giăng vằn vặt giữa giời" thì đọc là: "Dần dăn
dằn dặt dữa dời" nhưng các tía lại nói "Thưa quí ngài, chúng tôi xin
chân chọng chình bày ba bản nhạc do Hoài Chung Hoài Bắc và Chần Văn Chạch".
Thanh Vân cười hả hê và thích bạn quá, ngước lên hỏi bằng ngoại
ngữ:
- Mầy cháy túi rồi hả ?
- Mầy đoán hay như thầy bói.
- Bữa nay lấy tiền trước chưa được đâu.
- Tao viết rất rẻ mà không cho mượn tiền trước thì tụi bây là
một lũ bốc lột nhơn công còn gì.
- Mầy viết rẻ vì mầy viết rất tồi.
- Mấy thằng khác lại hơn gì tao.
- Nhưng tụi nó đã nổi danh, và có độc giả. Mầy cứ cố mà nổi
danh đi thì viết dở bực nào cũng lấy được ít lắm là sáu bảy ghim một tháng.
- Tao đã nổi danh rồi đó.
- Mầy nổi danh làm thơ, có dính líu gì đến truyện kiếm hiệp
đâu: Vả lại cái tên vừa nổi tiếng của mầy, mầy không chịu ký dưới tiểu thuyết
thì mong gì.
- Tao cần tiền ghê lắm.
- Mầy chịu nhận công tác mới hay không ?
- Cái gì tao cũng nhận tuốt hết, miễn là đưa tiền ngay.
- Nè, nhà báo cần mục "Sắc đẹp của quí bà quí cô"
và mục "Hỏa tiễn, dĩa bay" mầy viết nổi hay không ?
Dương Châu đứng chết điếng, không đáp được một lời "Trời
ơi, chàng than thầm, muốn có cơm ăn, đến phải dạy đờn bà đánh móng tay và phải
cóp báo ngoại quốc để trám đầy cái mục dĩa bay ấy. Thơ ơi là thơ, từ đây mi sẽ
pha mùi son phấn và nùi thuốc súng rồi đây nhé".
Thanh Vân không hiểu được bạn nên không thương xót chút nào,
lại còn kể ơn:
- Bồ lắm nên tao mới giúp mầy như vậy chớ tụi nó viết cừ lắm
mà tao chưa chịu nhận bài.
Nói rồi hắn cúi xuống sửa bản vỗ:
- Giòng viết với GI hay D ?
- Tùy, thầy cò đáp và cắt nghĩa lôi thôi.
Dương Châu không thèm nghe họ, chán nản bước ra khỏi nhà in.
° ° °
Họ ngồi đó, sáu người không ai nói với ai một lời nào cả. Bảy
ly nước cam đã vợi đi hết sáu, ly thứ bảy còn chờ một người, hắn đang đứng truớc
tấm vách quán bên trái, đưa lưng ra đám bạn hữu của hắn.
Đó là anh chàng họa sĩ chuyên vẽ con trâu giống trái núi và mặt
người giống mặt nhện. Vách quán bằng ván, được bọc bằng một lớp giấy isorel sơn
dầu. Anh chàng họa sĩ hôm nay có mang theo cả dao và dầu sơn; hắn định vẽ gì
lên đó, nhưng lại thôi; giây lát sau hắn quả quyết lấy dao quệt dầu rồi ký lên
vách một cái tên to tướng.
Hắn đứng án ngữ, che mất chữ ký nên không ai thấy, đến chừng
hắn trở lại bàn, bút-tích của hắn mới lòi ra.
- Bộ mầy tin chắc mầy sẽ nổi danh sao mà lưu chữ ký lại ?
- Ai biết đâu !
- Đừng có bán da gấu.
Thi sĩ Hiền nói thế, nhưng lại đứng lên lấy dao và dầu để ký
tên. Nhưng hắn không biết xử dụng dao, mà cầm cọ cũng không xong tuốt nên hắn
đi lại bàn, rút một chiếc đũa rồi chấm đũa vào dầu.
Hai Lọt ngỡ anh chàng họa sĩ vẽ tranh nên làm thinh cho y
trang trí không công quán của ông ta. Chừng ông ta thấy chữ ký và thấy anh
chàng thứ nhì cũng lại toan viết lên đó những nét chữ xấu như dấu mèo cào. Y
như anh chàng thứ nhứt mà ông ta không kịp ngăn cản, ông ta phản đối:
- Quý thầy chơi kỳ cục vậy, tội nghiệp tôi chớ.
- Ông không biết, tấm vách này sẽ đáng giá hằng triệu bạc nhờ
chữ ký của bọn tôi. Nè, tụi bây, ở xóm văn nghệ Saint-Germain-des-prés có một
hiệu sách mà trần phủ đầy những chữ ký của văn nghệ sĩ. Hoa Kỳ đòi mua tấm trần
ấy mấy trăm ngàn đô la mà mua chưa được.
- Thôi đi dốc tổ, làm sao mà họ ký lên trần được ?
- À, cái đó thì mỗ chịu, chỉ thấy trong báo bên Tây nói thế,
mỗ kể lại thế thôi.
Ông giáo sư Lê Thiệu Các nhừa nhựa hỏi:
- Ở đây anh nào đã đọc bài phú Tiền Xích Bích chưa ?
- Thưa có ạ, hồi còn đi học, nhưng lâu rồi nên quên mất.
- ... thương cho thân ta như hạt cát trong bể mênh mông mà
non sông thì dài vô cùng...
- Ý cụ muốn ám chỉ điều gì ?
- Tôi muốn nói kiếp người phù du mà không ai chịu nhận thế, cứ
muốn sống mãi với thời gian. Các anh có đi núi, đi biển, có quan sát một tí thì
thấy hòn đá nào ở nơi đó cũng phủ đầy chữ ký. Họ muốn bất tử trong không gian
và thời gian.
- Vì tự biết mình phù du quá nên họ cố bám níu vào hiện tại
cho đỡ tủi thân, tôi nghĩ như vậy.
- Bất tử trong thời gian thì tôi hiểu, nhưng trong không gian
là thế nào, Hoàng hỏi.
- Là vang danh thiên hạ, bắt ai cũng phải biết rằng có mình.
- Như vậy thì phải nổi danh như anh Dương Châu của tôi mới bắt
người ta biết được chớ, Hoàng nói.
- Anh Dương Châu của chị nổi danh như cái bong bóng xà bông,
danh bể ngày nào không biết chừng, đừng có hỉnh mũi lắm.
Tấn nói thế cho đỡ tủi thân. Thật ra, trong bọn chưa ai danh
tiếng lẫy lừng cả. Dương Châu cũng chỉ mới được người ta chú ý đến thôi. Nhưng
họ cảm nghe rằng họ sẽ nổi danh, không chắc lắm, mà rất „có đường".
Đây là những văn nghệ sĩ đang hoài thai những gì mới lạ,
thoát sáo, nhưng thai chưa đến ngày tượng hình đầy đủ, nên họ chưa đẻ ra gì được
cả. Có thể rồi họ sẽ ôm thai của họ xuống đáy mồ và không lưu dấu gì lại của những
ngày họ trải qua trên trái đất này cũng nên. Mà cũng có thể họ sẽ hiến cho đời
những đứa con „thần đồng quái kiệt". Mà cũng có thể họ sảo thai, vì quá
háo danh, cố đẻ sớm quá. Tất cả đều do sự nỗ lực đúng mức hay không của họ và
điều kiện bên ngoài.
Thỉnh thoảng có một anh đẻ quái thai trình bày vài bức tranh
mà người ta không biết treo đầu nào lên trên, đầu nào xuống dưới, nhưng cho dẫu
thế, những cái thai ấy cũng mang những mầm mới lạ, thoát ra ngoài sự tầm thường.
Trong thế giới văn nghệ, những tài hoa lớn ở trong chính cái
đám vô danh và kỳ cục này mà ra. Hoặc là họ sẽ bị sự quên lãng lôi cuốn đi mất
vì sự nín câm luôn của họ, hoặc họ sẽ nổi bật lên, nhảy vọt lên cao chớ quyết
là họ không thành công một cách trung bình đúng theo khuôn sáo, nề nếp cũ.
Trong khi đó thì họ phải chịu đựng muôn đắng ngàn cay trong
cuộc mưu sinh và trong cuộc giao tế với xã hội người thường.
Lần lượt cả sáu, trừ Hoàng không biết viết, đều ký tên lên tấm
vách giấy bồi của quán Tai heo, rồi họ ngồi lại bàn mà làm thinh không ai nói với
ai lời nào cả.
Làm thinh là sự sanh hoạt ráo riết, mãnh liệt của những người
kỳ dị này. Khi nào họ nói là tâm trí họ rong một cách tuyệt vọng, cần phải lấp
đi bằng câu chuyện cho đỡ khó chịu. Hễ họ cảm-nghĩ gì là họ nín lặng, sung sướng
tuyệt vời, sống với cảm nghĩ ấy, lật qua lật lại cảm nghĩ đủ chiều để nhìn đủ mọi
cạnh của nó. Một tình cảm, một tư tưởng hay một ý nghĩ vặt vạnh đi nữa cũng phải
được giú cho chín muồi trong cái hũ kín mít mà tròn đặt trên cổ mỗi người.
Có khi họ ngồi như vậy hằng giờ, khiến Hoàng, chủ quán, hoặc ẩm
khách, thực khách ngỡ họ là một lũ điên, kéo nhau vào quán kêu rượu rồi để cho
ruồi bu, tất cả đều mắc bịnh á khẩu thình lình.
Khi tình cảm, tư tưởng đã chín muồi rồi, hoặc được họ ngỡ là
chín muồi, thì được ghi ngay lên giấy lập tức. Những anh chàng nào cần xưởng vẽ
hoặc cần một nhạc cụ, vội vã đứng lên đi, không từ giã ai hết, cũng chẳng nghĩ
đến trả tiền quán.
Từ đó mà đến xưởng hoặc về nhà, họ rất dễ mà đâm đầu vào xe
hơi, vì trên đường đi, họ tiếp tục sống mãnh liệt với đề tài vừa mới xây dựng
lên.
Họ ngồi đó, cả sáu đều giống nhau ở cái chỗ miệng họ như bị
chứng tê liệt đột phát khép nó lại, nhưng cả sáu đều khác nhau ở nhiều chi tiết.
Ông giáo sư Lê Thiệu Các phải thỉnh thoảng thưởng thức một ngụm
„lượng dường" pha bằng rượu thuốc với cà phê đen, ông mới có hứng.
Bắc Hải thì luôn luôn gõ ống cối trên vành bàn, mặc dầu trong
cối không còn một hạt bụi làm thuốc nào cả. Làm cử chỉ đó, anh ấy như là tự gõ
lên đầu mình để bắt tia lửa thình lình phải xẹt ra.
Thi sĩ Hiền bụm mặt lại bằng cả hai bàn tay, vì trong ánh
sáng, anh ta không nghĩ gì được cả. Tâm tư anh như là phải được bóng tối dồn ép
lại thành một khối kết tinh nhỏ. Nếu quán Tai heo mà chịu tắt đèn mỗi đêm anh
ta đến, chắc anh ta sẽ vui lòng trả thêm tiền, muốn đòi bao nhiêu anh ta cũng
chẳng mặc cả.
Cả bọn hình như cũng giống Hiền phần nào vì tất cả đều sinh
hoạt về đêm, chỉ về đêm thôi. Ban ngày họ vẫn làm việc, nhưng làm những công việc
không dính líu đến văn nghệ, như là học thêm, dạy học, giặt gỵa, đi mua sắm nầy
nọ v.v...
Đêm phải chăng giúp cho cảm nghĩ họ cô đọng lại, khỏi phải
loãng đi trong sự chộn rộn của sanh hoạt đô thành ?
Bấy giờ đã hơn chín giờ rưỡi rồi và họ ngồi đó mà ngậm câm có
gần hai tiếng đồng hồ. Hoàng đã ngáp trên hai mươi cái và đã mỉm cười với Dương
Châu cũng chừng ấy cái sau những lần ngáp.
Một chiếc Peugeot mui trần sơn trắng chạy đến đậu ngay trước
cửa quán, rồi một thanh niên đẹp trai và ăn mặc cực kỳ sang trọng lái chiếc xe ấy,
bước xuống xe, xâm xâm vào quán, miệng cười, mắt nhìn cái bàn của bảy thằng
câm.
Thấy khách sang lần đầu tiên chiếu cố đến quán Tai heo, Hai Lọt
rối lên. Lão nhảy ra khỏi quầy thâu tiền, kéo ghế cái rột để mời khách ngồi lại
trước bàn sang trọng thứ nhì của quán. Bàn sang hạng nhứt đã bị bọn sơ mi tưa
bâu chiếm cả rồi.
Nhưng ông khách sực nức mùi nước hoa ấy đã xáp vào bàn của bọn
kỳ dị, đưa tay rua Bắc Hải và xin được giới thiệu với cả bọn:
- Anh Tiếu, một người yêu văn nghệ.
Tiếu đưa tay trước để bắt tay từng người và được bắt năm bàn
tay mềm và lạnh.
- Hiền, thi sĩ, Tấn...
- Hân hạnh, hân hạnh, hân hạnh...
Người nói „hân hạnh, hân hạnh" là hắn. Hắn ngồi lên chiếc
ghế mà Bắc Hải chỉ cho, mới vừa ngồi xong thì Hai Lọt gọi:
- Ông ơi, cảnh sát biên phạt kia, không cho đậu xe ở đây.
- Mặc, nộp phạt cũng như là thuê chỗ đậu xe chớ gì.
Không ai nói với hắn lời nào cả, vì họ không biết hắn là ai,
vì tác phong hắn khác họ, họ thấy đó là một ngoại nhân khả nghi. Bắc Hải không
hiểu sao, cũng làm thinh sau khi giới thiệu. Có lẽ anh ta cố để vậy, hễ Tiến mà
tự nhập bọn được thì quý, bằng không thì thôi, chớ có nhét trôi anh ta vào đó một
tiếng đồng hồ cũng chẳng ích lợi gì.
Họ không nói gì, nhưng cũng không chìm đắm trong triền miên của
họ nữa. Tất cả đều kín đáo quan sát người khách mới đến.
Tiến, ban đầu hơi ngượng, rồi về sau tỏ vẻ bực bội lắm, và sự
câm tức lộ ra rõ ràng trên mặt hắn ta. Hắn ngồi đâu được nửa tiếng đồng hồ thì
đứng lên xin phép ra đi.
Hắn đóng cửa xe mạnh như chưởi thề: „Mẹ tụi bây, ta đếch cần
làm thân với cái bọn chết đói của bây !"
Dương châu nói:
- Ngỡ nó tầm tiên học đạo, ai dè...
- Sao anh biết anh ấy không phải là kẻ tầm tiên ? Ông Các hỏi.
- Nếu thế thì nó phải sùng bái sự im lặng của chúng ta, kính
cẩn mà nhìn ta mơ mộng, chớ sao nó lại như bị kiến cắn chơn. Sao mầy lại chỉ
cho thằng ấy đến đây, Bắc Hải ?
- Nó làm cuộc chê nhưng sính văn nghệ. Nếu nó mến văn nghệ thật
thì cho nó theo bọn ta cho vui. Bằng như nó chỉ đến vì hiếu kỳ như ta đã thấy
thì cũng chẳng sao. Nó sẽ uống rượu, khách ở đây sẽ đông...
- Nhưng ta có cần khách thường đâu ?
- Chủ quán cần. Vả lại nó không phải là khách thường. Đã bảo
rằng nó đến vì hiếu kỳ, tức là nhìn nhận nó có dính líu thật xa với ta. Mà có
tướng dở thì đỡ tướng hay, luôn luôn lợi cho ta. Tụi bây là một lũ ngốc, thằng
nào cũng ngu như trâu và tự ái thì lớn như cái lu.
Thấy ngay là nó không mến văn nghệ nên nó đã không chịu ngồi
mà chiêm ngưỡng cái phim chiếu bóng câm của ta. Như vậy nó chỉ là một thằng hiếu
kỳ. Biết vậy ta phải niềm nở tiếp nó, nó mới đến nữa.
- Ê, khỉ già nói bậy. Ta có làm trò xiết đâu mà cần nó đến
coi.
- Tụi bây ở trên mây xanh như vậy nên mới khổ cả lũ. Chính mấy
thằng sính văn nghệ và a dua đó mới nuôi sống văn nghệ, ở nước nào cũng thế cả.
- Vậy phải nịnh chúng nó mới có mà ăn à ?
- Không cần nịnh. Đừng khinh miệt chúng nó là đủ rồi.
- Trưởng giả !
- Ấy, vì nghĩ bậy như thế mà thằng Dương Châu hôm nọ từ chối
không thèm đi ăn cơm với ông Huỳnh, nhà xuất nhập cảng danh tiếng. Ông ấy định
làm Mạnh Thường Quân văn nghệ mà bị nó dội một gáo nước lạnh lên đầu nên ông ấy
xỉu luôn.
Mà nào có phải nịnh ai cho cam. Người ta tha thiết mong mỏi
mình chơi với người ta. Người ta trọng đãi mình thì tại sao lại lánh mặt. Tụi
bây bị mặc cảm rõ ràng hay tụi bây ganh tỵ thì không rõ.
- Chưa chắc là bị mặc cảm đa nghen tía nội. Bằng cớ là ta dám
vào bất cứ nơi sang trọng nào một cách đường hoàng nhưng tự ta đi kia, không chịu
ơn ai hết.
Đi với lũ nó thì phải ăn mặc đàng hoàng như lũ nó, chớ ăn mặc
như bọn ta thích, lũ nó xấu hổ với người đời. Có trưởng giả hay không chớ ?
- Mầy vẫn có y phục trưởng giả kia mà ?
- Phải rồi, nhưng hôm nào tao thích mặc thứ gì, tùy tao, thằng
nào bắt tao theo nếp của nó, tao ghét lắm.
- Ai mà bắt.
- Lũ nó không bắt ra mặt, nhưng thầm mong, tức là bắt ngầm,
tao chịu cũng không nổi.
- Dị kỳ ơi là dị kỳ.
- Dị kỳ mà mầy cứ vẫn còn ở trong bọn, tức là mầy nhìn nhận sự
dị kỳ ấy được quyền sống.
- Có lẽ.
- Còn có lẽ khỉ khô gì. Nếu không chắc như vậy, mầy đã đi mất
tự đời thuở nào rồi.
Hiền bỗng hô:
- Đi ta !
- Đi đâu ?
- Đi đâu cũng được, miễn là phải rời khỏi chỗ này. Đã đến lúc
hết muốn ngồi đây rồi.
Cả bọn đứng lên một lượt khiến Hoàng và Hai Lọt ngơ ngác nhìn
bọn này lại nổi cơn điên một lần nữa. Khi không đang ngồi đó yên lành, không ai
đuổi xô gì cả thì có một đứa hô đi, tức là cả lũ ùn ùn kéo nhau ra khỏi quán, hệt
như một bầy khỉ, không định trước rằng, lát nữa đây sẽ làm gì và cứ làm theo
con khỉ nào dở chứng trước tiên hết.
--------------------------------
|
Khi một anh lính leo tường, |
Hoàng, trán và mũi dán vào kính tủ hàng, nhìn mê mệt bao
nhiêu là chế tạo phẩm hào nhoáng trong đó, từ chiếc sắc da sấu đến cái quẹt máy
nhỏ xíu. Giây lâu nàng đứng thẳng lên rồi thỏ thẻ nói:
- Nay anh cho em một lọ be đờ Sâm banh được chưa ?
Dương Châu giựt nẩy mình. Lọ nước hoa Bain de Champagne mà
chàng đã hứa bướng với Hoàng hồi nàng còn ở trên Tuyết Hương, được nàng cứ nhắc
đi nhắc lại mãi từ khi đôi bạn tái ngộ với nhau, và chàng cứ cù cưa cú cứa mãi
mà chưa mua nổi cho bạn. Chàng bối rối đáp:
- Để cuối tháng hãy hay.
- Hổm nay anh hẹn cuối tuần, mà đã hai tuần qua rồi, nay anh
lại hẹn cuối tháng thì không biết mấy tháng nữa mới có. À, này anh, em không biết
chữ, vậy chớ be đờ Sâm banh là ve nào đâu ?
Dương Châu trỏ lọ nước hoa xấu xí hơn hết trong tủ, khiến
Hoàng kêu trời.
- Trời ơi, sao mà giống chai xá xị dữ vầy nè ? Chắc anh xí gạt
em chớ dầu thơm hạng sang, sao ve lại xấu quá như vậy !
- Anh cũng không hiểu vì sao mà hãng hế tạo họ trình bày tệ đến
thế, nhưng anh gạt em làm gì. Có nhãn giá kia, tới ba trăm tám lận.
- Tại anh hết đó. Hôm nọ có hai trăm sáu không chịu mua, giờ
thì giá các vật đều lên.
Dương Châu nghe hơi xót xót trong lòng: nếu giá vật không
lên, mà lại sụt đi nữa, thì cũng không bao giờ chàng mua nổi lọ nước hoa ấy cho
bạn. Chàng kiếm cớ để xí xóa bối rối và hổ thẹn, nhưng cớ của chàng lại đúng sự
thật:
- Bain de Champagne là nước hoa của đàn ông. Phụ nữ mà dùng
loại nước hoa ấy, có vẻ đĩ thỏa lắm.
Chàng còn đang đứng tần ngần đó thì thình lình có ai vỗ vai
chàng. Anh thi sĩ cháy túi này day lại thì té ra đó là Ngọc, người bạn đồng sở
với chàng ngày xưa. Ngọc đi với hai người bạn trai khác mà anh ta không giới
thiệu, mặc dầu cả bốn bắt tay nhau.
- Đi ta, vô đây uống nước chơi !
Ngọc chỉ hiệu Brodard ở phía bên kia đường Tự do. Chàng thấy
ngay rằng đưa Hoàng vào quán sang trọng ấy rất không tiện, nên xin phép bạn,
nói nhỏ riêng với nàng một câu rồi đi theo bọn Ngọc.
Bấy giờ chàng mới quặn đau hơn bao giờ cả. Chàng đã đầu hàng
phong tục trưởng giả. KHÔNG DÁM LÀ CHÀNG NỮA, không dám bất kể thiên hạ nữa,
nên mới bỏ rơi bạn giữa đường Tự do này.
Thì ra, chàng vẫn chưa là nghệ sĩ lắm như chàng ngỡ, hay chỉ
nghệ được trong môi trường của chàng thôi. Ra khỏi thế giới riêng biệt của
chàng, chàng đâm ra kính nể khuôn sáo của người thường mà chàng miệt thị là bọn
trưởng giả.
Chàng không dám đẩy Hoàng vào đây không phải vì dĩ vãng của
Hoàng mà bọn người trong đó không thể biết, mà biết cũng chẳng cười chê gì, mà
chỉ vì Hoàng quê kịch đối với không khí của cái hiệu ăn và giải khát có máy lạnh
ấy thôi. Ở đó người ta dung tha con đĩ mà không dung tha sự quê kịch và chàng sợ
họ không dung tha chính chàng là kẻ dìu dắt sự quê kịch.
Vừa kêu món uống xong, Ngọc đã hỏi:
- Sao nghe mầy nổi danh, có khá hay không ?
Hỏi xong, hắn nói với bạn hắn, giọng đầy hãnh diện:
- Nó là thi sĩ Dương Châu đó.
Rồi lại giới thiệu trễ muộn bạn hắn với chàng:
- Thắm cũng làm văn nghệ. Tý có đi Tây.
Dương Châu suýt bật cười. Tại quán Tai heo của lũ văn nghệ sĩ
đói, không bao giờ mà ai nghe được một câu giới thiệu bất hủ như vậy. Cái chức
vị "Có đi Tây" thật là đúng lịch sự xã giao của cái bọn mà Dương Châu
đã tránh để khỏi bị họ xem bằng nửa con mắt khi có ai cắc cớ giới thiệu chàng
là thi sĩ.
Còn cái anh chàng Thắm "cũng làm văn nghệ" kia sao
mà lạ hoắt, Dương Châu nhìn mãi mà không nhận được một văn nghệ sĩ nào nơi con
người đó cả. Chàng đã quen hoặc biết mặt tất cả văn nghệ sĩ ở thủ đô, nhưng
chưa hề gặp người này.
Dương Châu sợ bạn thất vọng, nhứt là bẽ mặt với anh em của
va, nên đáp phân hai:
- Cũng dễ thở, nhưng không sung sướng cho lắm.
Một lần nữa, chàng không dám là chàng, không dám thú nhận cảnh
cơ khổ của giới chàng. Và nói xong lời dối trá ấy, lòng chàng lại quặn thắt
đau, nhớ đến cô bạn mà chàng đã bỏ rơi khi nãy với món quà thèm muốn của cô ta
mà chàng rất sẵn lòng mua tặng bạn nhưng không sao chạy ra tiền.
Cái anh chàng "có đi Tây" nói:
- Hồi tôi ở bên Tây, tôi thấy văn nghệ sĩ rất giàu. Xã hội Âu
châu rất cưng văn nghệ sĩ của họ và nuôi hạng người này rất đầy đủ.
Anh chàng "có làm văn nghệ" cười ha hả mà rằng:
- Bên cạnh những văn nghệ sĩ giàu mà anh thấy đó, còn khối
văn nghệ sĩ không đủ tiền mua bánh mì cho mỗi bữa ăn. Anh có phải là người
trong giới đâu mà biết những điều đó.
- Là tại họ bất tài.
- Hà... hà... rõ ràng là anh không biết gì hết. Nhiều văn nghệ
sĩ bên ấy, đến khi nhắm mắt không hòm chôn, mới được nổi danh, danh lẫy lừng,
thế nghĩa là họ không bất tài. Vậy xã hội Âu châu cũng không nuôi phủ phê tất cả
những con người văn nghệ sĩ của họ như anh tưởng đâu.
Nhưng về sự cưng văn nghệ sĩ, xã hội ta cũng thế, nào có kém
ai đâu. Anh không nghe nói số lương tháng của các nghệ sĩ sân khấu à ?
Dương Châu nói lên ý nghĩ riêng của chàng mà từ lâu nay,
trong cay đắng của cuộc đời, chàng đã thoáng có trong trí chàng, ý nghĩ ấy còn
mờ mờ ảo ảo, nay gặp dịp trao đổi quan niệm giữa hai người bạn một giờ này, nó
mới thành hình hẳn.
- Tôi thì tôi nghĩ rằng, xã hội có bổn phận nuôi ba hạng người
này: các nhà bác học, các triết gia và các văn nghệ sĩ.
- Anh nói có lẽ đúng. Nhưng anh cứ làm văn nghệ cho anh, thì
ai dại gì mà nuôi anh.
- Chớ làm cho ai bây giờ ?
- Làm cho mọi người, cho nhơn dân.
- Thì ai muốn ngâm thơ tôi, cứ mà ngâm, tôi có cấm đoán ai
đâu.
- Nhưng tôi ngâm thơ anh, tôi không thấy có lợi thì tôi ngâm
làm gì. Anh cứ than khóc những mối tình tan vỡ, trong khi tôi đói bụng thì sao
lại đòi tôi nuôi anh ?
- Vậy ra thi sĩ phải đổi công. Tôi phải khóc cái đói bụng của
anh tôi mới mong khỏi đói bụng như bây giờ là lúc mà tôi cứ khóc nàng ?
- Trong xã hội, ai cũng có bổn phận đối với ai cả, không
riêng gì thi sĩ đâu.
- Nhưng tôi đã làm bổn phận là giúp họ "mua vui một vài
trống canh".
- Cái công đó ít quá so sánh với số cơm gạo mà anh cần hằng
năm mà người khác phải cung cấp cho anh. Hồi cổ thời, một chánh khách đã nói:
"Thi sĩ là hạng người đáng mến, đáng quý, nhưng ta nên đặt vòng hoa tráng
lệ lên đầu họ rồi đuổi họ ra khỏi biên giới lãnh thổ ta vì họ là những người rất
vô ích".
Danh từ thi sĩ mà chính khách ấy đã dùng với nghĩa rộng, chỉ
luôn rất nhiều văn nghệ sĩ như là họa sĩ chẳng hạn.
Quả thật thế, phần đông văn nghệ sĩ rất vô ích, họ ở không hằng
tháng, hằng năm, để chỉ sản xuất được có mỗi một tác phẩm nhỏ xíu ăn không được,
mà cũng chẳng nưng đỡ được tinh thần ai hết.
Nhưng giờ thì người ta đã tìm được lối thoát cho văn nghệ sĩ
rồi, là họ cứ hữu dụng đi, thì sẽ no.
- Như con trâu vậy à ? Mầy cứ kéo cày đi, rồi tao sẽ cho bó cỏ
! Tôi lại lo họ sẽ cân công và cỏ thì nguy. Văn nghệ sĩ chúng tôi rất cần lười
biếng và ở không, phải ngồi hằng ngày này qua ngày khác mà nhìn một chiếc lá
rơi mới tìm thấy một mớ hứng rồi sau đó lắm khi cũng chưa viết gì ngay được cả.
Như vậy, hai mươi kí lô cỏ mỗi ngày, bỏ lên đầu cân bên này thì cái cân sẽ
nghiêng ngửa thế nào vì bên đầu kia chưa có được gờ ram văn nghệ nào cả.
Dương Châu có cảm giác rằng anh bạn nọ tuyên truyền cho một
chế độ nào, vì chàng cũng đã nghe luận điệu tuyên truyền ấy đôi lần rồi.
Anh bạn cười rất rộng lượng rồi cãi:
- Không cân như anh tưởng đâu. Người ta vẫn biết nhịp sản xuất
văn nghệ sĩ rất khác nhịp sản xuất của thợ. Ai mà cân dại dột như vậy.
- Nhưng người ta lại bắt chúng tôi sản xuất theo ý muốn của
người ta.
- Theo ý muốn của đa số.
- Chưa chắc lắm. Thằng Ngọa Hổ nó viết truyện võ hiệp được
tám vạn người mê say, có phải là đúng theo ý muốn của đa số hay không ? Thế mà
tôi chắc không chế độ nào thèm nuôi nó đâu, vì nếu hiểu hai tiếng "hữu dụng"
theo nghĩa của anh thì truyện võ hiệp không hữu dụng tí nào cả.
Anh bạn "có làm văn nghệ" nói:
- Hay lắm. Anh chịu thảo luận nên lòi ra nhiều mối hay. Rồi
ta sẽ gặp lại nhau để dứt khoát vấn đề này. Giờ đây tôi thấy bạn hữu đã muốn
ngáp nên xin chấm dứt, nói chuyện thtrờng cho vui. Tôi rất thích những người
băn khoăn về số kiếp văn nghệ sĩ như anh. Có băn khoăn mới cố mà tìm ra lối
thoát.
Dương Châu nói:
- Tôi không ngáp đâu. Tôi có ý kiến riêng về vụ này. Theo tôi
thì cũng tại dân trí cả. Tôi thấy bên Tây, văn nghệ sĩ cũng không hữu dụng theo
cái nghĩa của anh dùng, mà họ vẫn sung sướng nhứt đời. Một quyển tiểu thuyết
tình lãng mạn có thể nuôi họ đàng hoàng trong ba năm dài, mà họ khỏi phải viết
theo chỉ thị nào cả. Ỏ xứ ta, một quyển tiểu thuyết chạy nhứt chỉ bán được ba
ngàn cuốn là cùng. Có phải chăng là vì dân ta ít tiêu thụ văn nghệ nên văn nghệ
sĩ mới đói. Chừng nào sách bán chạy hằng triệu cuốn như ở Âu Mỹ, thì các văn
nghệ sĩ sẽ thoát cảnh bần cùng. Cái điểm "hữu dụng" không phải là giải
pháp đúng về nghệ thuật mà chỉ đúng về một sự mua bán công bằng thôi: "Mầy
chế tạo ghế tròn, mầy bán ế à ? Vậy cứ chế ghế vuông đi, tao mua hết cho. Có ai
thích ngồi ghế vuông hay không, mặc tao, mầy chỉ cốt bán được thôi nhé !"
Ngọc thấy buổi cà phê đãi bạn mà chàng muốn vui vẻ sắp thành
sóng gió nên hòa giải theo lối ba phải:
- Ai nói nghe cũng xuôi tai hết. Thôi, ta bước sang chuyện
khác vậy. Minh nè, từ ngày mầy nổi danh, trong sở mấy thằng tre trẻ áp nhau viết
văn làm thơ hết trọi. Mầy báo hại lắm nhé. Tụi nó không còn làm việc được nữa.
- Phải chi tụi nó biết tao đang đói...
Dương Châu lần này dám dùng cái tiếng thật đúng đó, vì chàng
biết bọn kia không tin. Vã lại sau một cuộc thảo luận như vừa rồi, chàng nghe
lòng được cởi mở hơn đối với những người thông cảm với kiếp sống của con người
văn nghệ.
- Đói no, tụi nó bất chấp, miễn là làm ra được cái gì hay thì
thôi, nhứt là miễn nổi danh thì thôi.
Nổi danh ! Giờ nghe hai tiếng đó, Dương Châu rất buồn cười.
Nhưng quả năm xưa, chàng đã thiết tha mong mỏi như vậy. Hình thư con người, thằng
nào cũng muốn nổi danh cả, không nổi danh trong ngành này thì trong ngành khác,
không ca hay số dách thì phải đánh tơ nít giựt cúp mới được.
Cho chí những đứa không đánh máy nhanh như chớp để được giải
quán quân đánh máy, cũng cố mà nổi danh bằng cách ký tên lên các tảng đá trên
núi, ngoài biển như cụ Các đã nói.
Giờ đây, chàng chỉ còn bị ám ảnh vì những cưu mang trong
lòng, cần cho nó ra ngoài bằng phương tiện nghệ thuật, không thôi nó hành hạ chịu
không nổi. Sự ám ảnh thứ nhì là phương tiện nghệ thuật nói trên. Chàng đã chạy
theo suốt cả tuần lễ một ý nghĩ nhỏ rồi lại bỏ một tuần lễ nữa để làm một tiếng
thật là thơ để nói cái ý nhỏ đó ra, và khi chụp được nó, chàng sướng như thợ
săn bắn được thịt, hay anh chàng mê gái chinh phục được một cô nàng.
Sự nổi danh, y như là thi đậu bằng cấp. Hằng bao năm mơ nó,
mà được rồi thì không còn nghe thú vị gì nữa cả.
° ° °
-
Chị Hoàng ơi ! Tôi đang xây dựng giai tác của đời họa sĩ của
tôi đây !
Nghe Đan nói câu ấy, Dương Châu bỗng giựt mình. Chàng nhìn lại
đôi con mắt say sưa của người bạn của giờ thứ nhì trong nhóm quán Tai heo và
nghe rằng thằng bạn ấy đã bắt đầu để tim hắn máy động trước tình yêu.
Bấy giờ vào một buổi sáng nắng tốt. Hoàng đến đây vào buổi
sáng từ một tuần nay vì sự can thiệp của chính chàng, chớ nàng chỉ làm ban đêm
thôi. Đan đã yêu cầu nàng mặc chiếc áo choàng trắng của nữ chiêu đãi viên thường
để vẽ nàng dưới bề ngoài ấy. Hoàng đứng như tượng gỗ, tay hưng một mâm rượu và
đồ nhắm, trước cửa buồng của quán.
Đành rằng Đan đã tìm thấy dấu vết của những nét đẹp xưa đang ẩn
kín khắp người của Hoàng, đã mê những nét đẹp ấy theo lối con nhà nghệ sĩ mê bất
kỳ cái đẹp nào, mê một cách trong lành, không ra ngoài tình ái-mỹ của mình, và
quyết đưa ra ánh sáng những nét đẹp đó, nhưng cách nhìn người mẫu của họa sĩ bấy
giờ khác hẵn mà anh con trai nhiều kinh nghiệm về ái tình là Dương Châu không
thể lầm với cách khác được.
Cơn ghen bỗng nổi lên, chàng muốn nhảy lại xé rách tấm bố
căng mà Đan đã bệt màu lên đó. Đôi môi dầy của Hoàng đã được thằng khốn kiếp
này vẽ quá lố ra cho dầy hơn thật trạng khiến nhìn bức chơn dung gần xong,
chàng thấy một cô Hoàng đầy nhục dục, và cứ nghe như là Đan muốn hưởng sự nhục
dục ấy trong tưởng tượng của nó bằng cách vẽ ra như vậy.
"Không, Đan không có gì hơn mình cả, Dương Châu tự bảo
thầm như thế để được an lòng. Hắn cũng râu dài, áo quần nhầu nát và lang thang
như mình. Mình không kém hắn, lại đang thủ thành kiên cố, kẻ muốn hảm thành, lực
lượng phải nhiều hơn thế kia".
Bỗng nhớ lại một chi tiết, chàng đâm sợ và nổi giận muốn bẻ cổ
ngay cô chiêu đãi viên đang đứng làm người mẫu.
Số là Hoàng đã dẩy nẩy không chịu đứng cho Đan vẽ. Chàng đã dụ
dỗ bạn bằng cách nói khéo cho Đan mua tặng nàng lọ Bain de Champagne mà nàng mơ
ước từ bao lâu nay. Chàng muốn làm một công mà hai việc, thoát khỏi hai ám ảnh:
Đan không còn đeo theo chàng để nhờ chàng can thiệp và Hoàng không còn đòi chèo
chẹo lọ nước hoa nữa.
Cái hôm mà Hoàng nhận quà biếu, Dương Châu đã nghe quặn đau
nơi lòng, trước sự hí hửng của nàng. Nàng đã ôm lọ nước hoa trên ngực như là một
đứa bé gái ôm con búp bê vừa nhận được.
Món quà mà nàng ao ước từ lâu và chàng cứ lần lựa mà không tặng,
giờ người khác tặng nuột cách dễ dàng quá, làm sao nàng khỏi cảm tình với người
ấy và biết đâu khỏi so sánh hai người?
Dương Châu đứng dựa lưng vào quầy thu tiền, tần ngần lâu lắm.
Hôm nay, lần đầu tiên trong đời chàng, chàng nghĩ nhiều về ái tình và lòng người
và từ đầu dây này sang mối nhợ khác, chàng phân tách chính lòng chàng. Lòng
chàng ích kỷ lắm ! Đã nghe rõ là không yêu người ta nhiều, và lắm lúc bực mình
muốn dứt, lại khổ sở mà nhận rằng khó dứt, thế mà bây giờ lại ghen.
Xấu bụng lắm Dương Châu ơi ! Mầy muốn vứt đi, người ta toan
lượm, mầy lại tức như người ta cướp của quý của mầy.
Hay là biếu quách Hoàng cho Đan ! Ý nghĩ này làm cho Dương
Châu bật cười và Đan với lại Hoàng cũng cười theo. Đan ngỡ bạn cười chế diễu
anh ta vẽ xấu, và Hoàng thì ngỡ nhân tình của ả ta cười việc đứng trơ như tượng
gỗ của nàng.
"Ừ, Dương Châu nghĩ. Cứ để cho thằng Đan nó chinh phục
con Hoàng cho nó nếm mùi yêu đương mà sáng tác mạnh thêm. Nếu Hoàng ngã vào tay
thằng ấy thì Hoàng sẽ có chỗ nương dựa và mình khỏi phải tội nghiệp nó nữa.
Mình chỉ thương xót nó bơ vơ thôi, mà có Đan là nó nghe ấm lòng rồi, còn cần
quái gì mình nữa.
"Hoàng thật khó chịu. Nó đòi chụp ảnh chung với mình !
Thành ra mình cứ phải từ chối là từ chối, cứ phải nói dối là nói dối, đến bực
mình !
Giờ có một thằng ngốc nhảy vô gánh tất cả mọi khó chịu đó thì
đỡ khổ cho mình biết bao !"
Lý trí chàng bảo thế, nhưng lòng chàng thì khác xa. Tự nhiên
Dương Châu thấy bạn đẹp hơn ngày thường và dễ thương hơn ngày thường. Cơn ghen
thoáng qua như tiêm vào người chàng một chất kích thích. Chàng thấy bạn quyến rủ
hơn và tự ái xui chàng quyết giữ cô nhơn tình tạm bợ ấy.
Chàng đang có cái tâm trạng của một đứa bé ích kỷ, vứt đi món
đồ chơi mà nó chán, mà khi thấy đứa khác lượm mót thì nó cà nanh, quyết giành lại
cho được mới nghe.
Chị Hoàng ơi ! Tôi đang xây dựng giai tác của đời họa sĩ của
tôi đây ! Chị có biết hay không là chị sẽ trường sanh bất tử vì bức chân dung nầy
? Tôi sẽ để ở dưới là: "CHƠN DUNG CÔ HOÀNG, NỮ CHIÊU ĐÃI VIÊN QUÁN TAI
HEO".
Bây giờ Dương Châu đã thôi nghĩ miên man. Chàng uể oải bước lại
sau lưng bạn để xem toàn thể bức chân dung.
Nhà thơ này kinh ngạc biết bao nhiêu mà thấy sự thành công rực
rỡ của bạn chàng. Quả đây là một cây cọ tàí hoa, hắn đã làm nổi bật lên tất cả
bản chất riêng của người mẫu mà mắt người thường không thấy được. Duyên thầm, mỹ
miều kín, nét đẹp xưa, tất cả những thứ ấy đều được tế nhận và ghi ký bằng màu
sắc, nhứt là màu sắc.
Cây cọ tài hoa này chắc chắn là không được người đời thưởng
thức vì chơn dung hắn vẽ không giống người thật bao nhiêu, lại vẽ vụng quá, cổ
người quá cao, chơn người quá dài, bàn tay, bàn chân lại giống rễ cây, và ly,
chai trên mâm, méo mó như do một anh thợ điên chế tạo nên.
Như chàng, anh họa sĩ tài hoa này đang đói và chắc chắn là sẽ
đói mãi, nếu anh ta cứ không chịu vẽ quảng cáo hoặc vẽ người đẹp, cảnh đẹp mà bất
kỳ ông nhà giàu dốt nào cũng biết thưởng thức. Thi sĩ phải viết truyện kiếm hiệp
mới đủ tiền trả quán, mà họa sĩ thì phải vẽ tranh tứ thời mới đủ cơm ăn.
Trong giây phút phấn khởi trước một nghệ phẩm thành công, và
trước liên tưởng về số kiếp chung của hai người, Dương Châu bỗng nghe thương mến
bạn vô cùng. Chàng vịn vai người họa sĩ tài hoa, mắt rưng rưng lệ thảm.
Không, Hoàng phải là của Đan mới được, vì chính Đan mới là kẻ
đưa Hoàng vào nơi bất tử. Bài thơ của chàng không cụ thể bằng bức chân dung này
đâu.
Và chính mối tình của Đan mới là to lớn. Chỉ có kẻ nào yêu thật
là yêu mới sáng tác ra được mộl tác phẩm như vầy, vì tác giả phải để hết cả tấm
lòng y vào đó mới thành công tới mức ấy.
Chàng, chàng chỉ yêu Hoàng trong một cơn ngông mà thôi, không
có gì là sâu đậm hết. Nếu ngày sau mà Đan sẽ hết yêu Hoàng đi nữa, thì hắn cũng
xứng đáng được Hoàng yêu bây giờ vì tình yêu chơn thật và to lớn của hắn hiện
nay.
- Thế nào bồ ? Đan hỏi, đương đầu nổi với bài thơ khoai đắng
bánh ngọt của bồ hay không?
- Hơn đứt bài thơ. Mầy đã để rất nhiều MẦY trong nầy và cũng
đã để rất nhiều NÀNG trong đó nữa. Mầy xứng đáng được yêu nàng và được nàng yêu
hơn tao.
Đan khoác tay ra dấu bảo Hoàng đi, và nói:
- Hôm nay bấy nhiêu đó là đủ rồi chị Hoàmg à. Chị chịu khó
làm tượng đá vọng phu thêm ba lần nữa là xong.
Hắn ta đã đánh trống lấp khi bạn hắn nói đến tiếng yêu. Tình
cảm thầm kín của hắn, hắn thấy là bậy nên rất sợ bị sự xúc động lật tẩy hắn.
Con người văn nghệ của xứ nào cũng bị mang tiếng nhiều về
tình trường, vì giới văn nghệ là giới mà trong đó (tương đối và bằng theo tỷ số)
đã xảy ra nhiều mối tình lộn xộn hơn cả.
Nhưng nào con người văn nghệ có muốn thế đâu ! Đó là những phần
tử của nhơn loại đã rủi ro, và do tình cờ sinh lý, mang phải một bộ thần kinh
quá nhạy. Vì thế mà họ dễ rung cảm, và vì dễ rung cảm nên họ thành văn nghệ sĩ.
Họ dễ rung cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của sự vật, của tư tưởng, của tâm
hồn. Vì thế mà họ yêu nhiều hơn kẻ khác và yêu xô bồ hơn.
Làm văn nghệ và yêu vô trật tự chỉ là hậu quả của một sự cấu
tạo cơ thể mà họ không dự phần trách nhiệm. Luân lý đôi khi đã thắng trong sự
chèo kéo nơi nội tâm họ, và tiếng nói của lý trí đôi khi có được uy quyền.
Nhưng thường thì con người văn nghệ đầu hàng tình cảm của họ, mặc dầu họ muốn
chống trả và có chống trả. Đan đang muốn chống trả.
Hai người bạn trai nắm tay nhau đi lùi ra mấy bước để ngắm xa
bức chơn dung gần xong ấy.
Dấu vết của vẻ đẹp ngậm ngùi của ngôi đền đài cổ kính hoang
tàn là Hoàng đã được tất cả mọi con mắt nghệ sĩ của quán Tai heo nhận thấy ngay
từ lúc họ mới đến. Nhưng chỉ có hai người là bị cảm nặng thôi. Dương Châu đã
yêu vẻ đẹp ấy trong một lúc buồn chán và bơ vơ rồi sau không rời được nữa và giờ
đây thì Đan, anh chàng nầy đã hóa thành một cây si vì được dịp ngắm kỹ ngôi đền
nhiều hơn hết, được dịp phân tách tỉ mỉ để vẽ và nhờ thế, được thưởng thức vẻ đẹp
ấy bằng cả trí và lòng anh.
Hoàng và tiếp theo đó Hai Lọt, cả hai đều áp đến mà xem công
trình người họa sĩ đầu bù mà hổm nay họ chưa thưởng thức vì Đan chỉ ghi những
nét vẽ phác nên đó thôi. Hôm nay hắn mới dùng dầu để vẽ vài nét của gương mặt
cô nữ chiêu đãi viên gầy.
Chủ quán và cô công nhân của quán vừa mới thấy bức tranh thì
kêu rú lên một tiếng thất vọng và sợ hãi:
- Trời ơi, Hai Lọt nói, thầy vẽ ai chớ có phải vẽ con Hoàng
đâu ! Cái mặt thấy mà sợ !
Hoàng thì mếu máo, giọng muốn khóc mà rằng:
- Em đâu có xấu dữ vậy ! Các anh ác vừa vừa chớ !
Dương Châu an ủi:
- Em không sành xem tranh, đẹp lắm đó chớ !
- Đã không giống lại còn...
- Không cần giống.
- Không cần thì vẽ làm gì ?
- Ậy, khó nói cho em hiểu lắm. Em cứ tin là chơn dung này đẹp
là đủ rồi.
- Làm sao mà em tin được. Nó xấu như ma, con nít dòm vô cũng
thấy liền.
Hai người bạn trai đành lặng thinh nhìn nhau mà mỉm cười. Có ẩn
chua xót phần nào trong cái mỉm cười ấy vì không trao ý cho nhau, mà cả hai đều
nghĩ đến số phận của bức tranh. Có lẽ nó sẽ bị dùng để làm nóc che một cái sạp
thuốc rê nào, hoặc bị dùng làm cửa một chuồng gà nào vì người biết thưởng thức
hiếm hoi quá; cũng chẳng có được những trọc phú a dua như bên Âu Mỹ, mua tranh
để khoe của hoặc để mang lốt sành đời.
Nếu bức tranh này mà không bị gió mưa thắm mục, Dương Châu
nghĩ, nếu do một tình cờ nào mà nó được lưu lại đời sau và chừng đó mới có người
thưởng thức và chừng đó cô nữ chiêu đãi viên đứng kia đã vào lịch sử rồi, nếu
thế thì càng tủi hơn biết bao vì chính cái người được bức tranh đưa vào cõi bất
tử giờ đây lại cũng chẳng đoái hoài đến tranh.
Ý nghĩ đó bỗng làm cho Dương Châu càng thương bạn hơn lên.
Cái bạc bẽo của đời đối với họa sĩ phải được đền bù ít lắm cũng bằng sự mãn
nguyện trong mối tình cua y. Y xứng đáng mối tình đó và đáng được hưởng mối
tình đó.
Bất giác chàng ngâm nho nhỏ nhũng câu thơ chua xót mà chàng
đã ngâm để khóc riêng phận chàng:
Xắn từng mảnh tâm hồn
Viết lên cho người đọc,
Người mãi theo vàng son,
Sương chiều như ai khóc.
Trong khi Hoàng ra sau nhà, Dương Châu rốc túi lấy ra năm
mươi đồng trao cho bạn một cách đế vương, làm bộ như là chàng đang giàu có lắm,
cho Đan khỏi e ngại gì hết. Chàng nói:
- Hoàng nó cứ đòi tao đưa đi xi-nê trưa nay. Nhưng tao bận và
mệt quá, mầy lãnh nhiệm vụ này cho tao, tao sẽ thưởng công cho.
Đan tin bạn bằng lời nên mừng rỡ nói:
- Mầy đưa tiền và cho Hoàng đi với tao là thưởng công rồi,
còn gì nữa.
- Còn công làm cái khổ dịch ấy.
- Không, đó là thú dịch chớ.
- Tùy mầy.
Nhưng trưa lại, lên thư viện có chút việc. Dương Châu thấy
Đan đang vùi đầu vào một quyển sách giấy vàng khè. Chàng bước đến gần bạn, vỗ
vai hắn và nói thầm thì:
- Mầy ăn hết năm chục của tao rồi trốn phận sự hả ?
Đan ngước lên, lắc đầu chán nản:
- Nó không chịu đi, tao biết làm sao ! Tao thích đi với nó lắm
chớ, chắc nó sợ mầy ghen.
- Mốc xì ! Tao có nói với nó là giao cho mầy công việc ấy ! Tại
mầy không chịu cạo râu, không chịu chải tóc, đầu cổ như thằng điên nên nó mắc cỡ
mà lánh mầy nơi chỗ đông người chớ gì.
- Ai biết đâu. Nhưng quả tao đã xài hết tiền của mầy rồi. Để
thủng thỉnh tao trả cho.
- Thôi đi tía nội.
° ° °
12 giờ khuya. Cả bọn đứng lên để mỗi đứa về một ngã; Hoàng
đưa nội bọn ra tới vỉa hè và hỏi nho nhỏ:.
- Hôm trước chú nào nói muốn yêu, chị quên mất rồi ?
- Chú đây cháu à ! Hiền đáp. Mấy thằng kia cũng có nói, nhưng
cháu nên giúp một mình chú thôi.
- Nè, sắp có tiên nữ đến rồi đó nha !
- Vậy a ? Chừng nào ?
- Ai đó ?
- Đẹp hay không ?
- Suỵt, nói nho nhỏ vậy.
- Sao mà bí mật thế ?
- Cháu của ổng, dưới nhà quê lên. Nghe ổng khoe thì đến đàn
bà cũng nhiểu nước miếng ! Ế quá, nên ổng định tăng cường, coi họa may có rù quến
thêm khách được chăng ?
- Vậy thì là trái cấm rồi !
Hoàng cười mà rằng:
- Biết đâu được, để xem.
Lũ quỉ đi rồi, Đương Châu kéo bạn vào quán hỏi:
- Sao hồi trưa em không đi coi chiếu bóng với thằng Đan ?
- Xí, em không thèm đi với nó đâu.
- Sao lạ vậy ?
- Nó xấu lắm.
- Nó đã làm gì em ?
- Nó ngó em.
- Trời ơi, có biết bao nhiêu người đã ngó em...
- Nhưng nó ngó một cách khác thường.
- Thì có biết bao nhiêu thằng khác đã ngó em một cách khác
thường.
- Hồi đó thì không sao, nhưng bây giờ thì khác.
Khổ quá, tại sao lại có chuyện không ăn rơ trong cuộc đời ?
Dương Châu tự hỏi như vậy. Những cô gái lãng mạn, thích thay đổi người yêu sau
những cuộc tình duyên ngắn ngủi, sao các cô ấy lại không đi buôn hương cho đỡ
khổ không biết bao nhiêu là anh tình nhơn, lại xui cho cô gái "thường
nhân, phàm phu tục tử" này vướng phải kiếp ấy ! Hoàng là một phụ nữ thường
tình với tâm hồn thường nhân của nó. Nó chỉ mong ước được làm người thường
thôi, không tham vọng phiêu lưu trên đường tình, thì tại sao... ?
° ° °
Vợ Hai Lọt đang quét nhà còn ông ta thì gom ly để rửa lại,
theo thường lệ mỗi sáng, thì một chiếc xích lô đạp ngừng trước quán Tai heo.
- Cậu ! Mợ !
Nghe tiếng con gái ngoài xe kêu như vậy, hai vợ chồng ngẩng
lên nhìn rồi Hai Lọt la:
- Trời, con Bảy Rùa !
- Dữ ác hôn, vợ Hai Lọt nói. Tao với cậu mầy đợi mầy gần rụng
rún !
Thấy cháu đưa một tấm giấy năm chục, mà anh phu xích lô nhận
rồi toan đạp xe đi, Hai Lọt bước ra vỉa hè hỏi:
- Đi từ đâu tời đây mà năm chục lận ?
- Từ bến xe Lục tỉnh cậu à.
- Trời ơi, chú xich lô, chú xí gạt con nít nhà quê hả ?
- Tại cô chịu giá.
- Phải, nhưng nó không biết.
- Tôi đạp cả giờ đồng hồ.
- Tại chú đạp chạy vòng vòng để đòi tiền nhiều. Trả bớt lại
hay không thì nói đi nè !
Anh xich lô thấy bộ Hai Lọt dữ tợn nên chịu thua ngay và thối
lại bốn mươi đồng, không quên cằn nhằn nho nhỏ mấy tiếng.
Con Rùa khệ nệ kéo lết vào quán hai bao cà ròn đựng đầy nhóc
cái gì không biết.
- Gì mà nặng dữ vậy ? Vợ Hai Lọt hỏi.
- Dừa, thơm, với lại ốc. Bà ngoại gởi lên cho cậu mợ đó.
Bà ngoại của nó chỉ là dì của Hai Lọt chớ không phải mẹ ruột,
mặc dầu nó ăn nói như vậy (Đáng lý ra nó phải nói: bà ngoại của cháu mới đúng).
Con Bảy Rùa mồ côi cha mẹ, ở với bà ngoại từ thuở bé. Bà ngoại
nó nghèo lắm, nên Hai Lọt tháng trước có nhắn về Chợ Bưng, xin người dì cho nó
lên đây, một là để đỡ tốn một miệng ăn cho bà, hai là nó có dịp lập thân. Nó có
bóng sắc mà cứ lam lụ ở xó kẹt Chợ Bưng là cái xóm leo heo mười hai nóc nhà,
phía trong ga cũ Tân Hiệp thì rồi nó sẽ "lấy chồng cuốc đất" thôi. Đó
là luận điệu của vợ chồng Hai Lọt mà bà dì ấy đã nghe xuôi tai.
Con Bảy Rùa rinh hai bao quà vào tới nền quán thì mặt mày đỏ
rần lên vì mệt. Đôi má trắng của nó ửng hồng khiến mợ dâu nó buông chổi đứng
nhìn nó, chết sửng mấy giây. Mợ ấy cười nói:
- Con Rùa năm nay đã trổ mả rồi đó !
Rùa mắc cỡ, nên càng đỏ mặt hơn lên. Mợ Hai bấy giờ mới bước
lại phụ lực với nó. Con Rùa không có gi cả để cho mợ dâu nó khỏi xem thường.
Nhưng sắc đẹp của nó mà mợ nó vừa chợt thấy bỗng làm cho mụ chủ quán đâm ra nể
nang nó.
Nhan sắc nghĩ cũng có sức nặng đó chớ, ngay cả với đàn bà ! Tự
nhiên vợ chồng Hai Lọt vui mừng lên như là nắng ấm vừa rọi vào căn nhà u tối.
Quả thật hai vợ chồng đã gọi sự viện trợ này để mong quán có khách trở lại,
nhưng cả hai đều không dè mà cuộc tăng cường được mạnh mẽ đến thế, bằng một kiện
tướng cự phách, có thể đánh ngã tất cả mọi chiêu đãi viên của bất kỳ quán sang
trọng nào của thủ đô.
Cả hai đều bu quanh đứa cháu, vồn vã hỏi thăm việc nhà việc cửa
dưới Chợ Bưng làm cho con Bảy Rùa nghe vui thích ngay sau hồi bợ ngợ của cuộc
tiếp đón lạnh lạt của mấy phút đầu.
Hai vợ chồng chưa hết ngạc nhiên về nhan sắc của đứa cháu.
Còn nhớ cái năm mà hai vợ chồng từ giã thôn xóm để chạy loạn lên Sài-gòn, thì
con Rùa còn để bánh bèo; cái bụng ỏng của nó chằn chịt gân xanh, mũi dãi lòng
thòng, hai con mắt tèm hem thấy mà phát gớm.
Cách đây ba năm, hai vợ chồng có về xứ một lần. Con Rùa bấy
giờ đã hết dơ bẩn, nhưng nước da mét chằn, nó ốm mà cao lỏng khỏng chớ có đâu
mà thân thể chắc nịch như ngày nay và có đâu mà hồng hào như được nuôi dưỡng bằng
cao lương mỹ vị thế này.
Vợ Hai Lọt cùng con Rùa sắp các thứ trong bao ra, vừa sắp mụ
ta vừa kêu:
- Trời ơi ! Dì Tư thật là hành xác cháu tôi quá, đường xa mà
bắt nó bưng xách nặng như vầy...
- Con thức dậy từ hồi khuya, gánh ra ga cũ, rồi gởi gióng,
đòn gánh trở về bà ngoại, đón xe mãi mà xe nào cũng đầy, làm phải đợi tới trưa
trờ, trưa trật.
- Tội nghiệp ! Sáng con đã ăn gì chưa ?
- Dạ, ngoại nấu cơm, con ăn hồi khuya.
Con Bảy Rùa mặc quần đen Mỹ-A, áo bà ba ni lông màu xanh lá
cây, trông quê chết đi. Nhưng thấy rõ là nó đã làm đủ cách để được đẹp hơn ngày
thường trong bộ y phục mới may ấy: đôi guốc cao gót màu hồng, quai guốc gắn đầy
bông xanh đỏ, và chiếc khăn mu xoa chạy rìa tai bèo bằng chỉ cô tông bẹc lê nhiều
màu mà nó nhét túi để lòi chéo ra là những món trang sức nó ngỡ là đắc dụng lắm.
Ngày sau, quen với phồn hoa rồi, nó cũng sẽ téc ni cô lo như
bây giờ, nhưng theo lối khác, kín đáo và tế nhị hơn, nhưng rõ là nó đã biết hiệu
lực của trò téc ni cô lo.
- Cha, con sợ đi lạc quá cậu mợ ơi ! Ở dưới họ dọa hễ đi lạc
thì bị bắt bán tào kê, con nghe cũng ghê y như hồi con còn bé, nghe họ dọa hễ
đi lạc thì bị Chà và bắt nấu cà ry.
- Lớn cái đầu rồi mà còn sợ, mợ Hai nói. Tao đã dặn kỹ là cứ
biểu xích lô đạp chạy lại Ngã Bảy là tới nơi. Tao có nói giá tiền xe nữa mà !
- Ai nhớ dâu. Với lại con thấy nhà cửa, xe cộ nhiều quá, con
ngộp, quên mất hết mọi lời mợ dặn.
- Thôi, con đem các thứ nầy ra ngoài sau hết.
Khi hai mợ cháu đi chợ về, lui cui nấu nướng thì Hai Lọt bỏ
quán, đang trống khách, ra sau bếp mà bàn với vợ, trước mặt đứa cháu gái mới đến
còn băn khoăn về số phận của nó.
- Tôi nói mụ nghe, tôi đã đổi ý về con Bảy Rùa rồi.
- Sao lại đổi ý ? Đổi làm sao ?
- Cứ theo cái thể của nó mà để nó làm nữ chiêu đãi viên thì uổng
lắm.
- Chính ta đang cần nữ chiêu đãi viên.
- Không, ta chỉ cần sự có mặt của nó thôi. Tôi tính để nó ngồi
kết còn nữ chiêu đãi viên thì chừng nào quán có thêm khách đông, mướn bậy đứa
nào xấu xấu cũng được.
Mợ hai còn đang làm thinh, tay lặt đầu tép, thì cậu Hai thêm
luận cứ sắc bén như sau đây:
- Với lại tướng nó còn quê mùa quá, đi đứng coi sao được.
Nhưng nó mà ngồi yên, sau quầy thì trông như tiên hạ giáng xuống phàm.
Mợ Hai ngước lên tươi cười khen:
- Từ thuở giờ tôi mới thấy ông có mưu trí được một lần. Sẽ gắn
mề đai cho ông đó.
Bảy Rùa hồi hộp lắm, không biết số phận nó sẽ ra sao. Nhưng
tiếng "nữ chiêu đãi viên", "ngồi kết", "quầy", lạ
hoắc đối với nó nên nó ngơ ngác nhìn hết mợ đến cậu.
Mợ hai nói:
- Còn cái tên của nó, tính sao ? Gì mà Rùa, nghe kỳ cục hết sức.
- Ấy, trong căn cước nó là Nguyễn thị Ớt đó chớ. Tại nó chậm
như rùa, nên cả làng kêu nó như vậy, thành quen đi.
- Ớt lại càng xấu hơn nữa.
- Để rồi tôi giao cho mấy thầy nhựt trình lo điều đó.
Vợ chồng Hai Lọt kêu lũ con trai, khách uống nước cam, là mấy
thầy nhựt trình tuốt hết, thằng nào cũng được hai vợ chồng phong cho chức đó cả.
Con Rùa, tức Ớt, lại còn lo hơn. Tên của nó, sao lại phải
giao cho nhựt trình lo cho ?
Từ đó đến chiều, quán vắng hoe, và con Rùa Ớt được dịp ngồi tự
do ngoài trước mà ngắm xe cộ qua lại không ngớt như nước chảy dưới rạch Bưng của
xứ nó.
Khi đèn đường bực sáng lên thì Hoàng tới quán. Đã được chủ
quán cho biết rằng nàng sắp có bạn, mấy hôm nay nàng mong đợi cô bé này lắm, và
nay gặp mặt cô ta, nàng biết ngay đó là đồng nghiệp mới.
Tuy nhiên nàng không khỏi sửng sốt, đứng trơ ra cả buổi mà
nhìn cô thôn nữ xinh đẹp ghê hồn ấy. Như vợ chồng Hai Lọt, nàng không dè nó đẹp
đến thế.
Nhìn người bạn mới một hồi, bỗng Hoàng nghe lòng quặn thắt
đau. Năm xưa tuy nàng không đẹp bằng con bé này bây giờ, nhưng cũng có hạng lắm.
Nghèo khó đã đưa nàng đến thị thành và nhu cầu tài chánh đã đưa nàng vào vực thẩm.
Mặc được một chiếc áo dài đẹp, xức được vài giọt nước hoa,
bôi lên mặt một lớp phấn, một làn son, thỉnh thoảng đi xem hát một lần, nghĩ
nào có hạnh phúc gì cho cam. Thế mà tất cả những ham muốn lặt vặt ấy đã làm hỏng
mất cả một đời người.
Cái sắc đẹp này đây, không khéo rồi sẽ có người lợi dụng, rồi
thì đạo binh hư thân mất nết sẽ đông thêm một người !
Thôn quê khốn khổ quá nên thành phố có sức quyến rủ mê hồn.
Nhưng nó quyến rủ mà phũ phàng, ít khi nâng đỡ những kẻ nghe theo tiếng gọi của
nó để cho họ một đời sống xứng đáng với công khó mà họ phải đưa ra khi vào nhập
bọn.
Hoàng bước lại vịn vai con bé mà rằng:
- Em ! Chị mừng em mới đến !
Bảy Rùa e thẹn và ngập ngừng ấp úng hỏi:
- Thưa cô, cô tìm ai ?
- Không, chị làm công ở đây, giúp cho ông Hai bà Hai.
- Vậy hả ? Sao hồi sáng tới giờ em không thấy cô ?
- Gọi chị bằng chị. Chị chỉ làm đêm thôi. Chị làm chiêu đãi
viên.
Bảy Rùa vẫn chưa biết chiêu đãi viên là gì nhưng chưa dám hỏi.
Hoàng vào trong thay áo choàng trắng, và con Bảy Rùa nghe mợ
nó kêu nó.
Nó chạy theo vô trong ấy thì cậu mợ nó nói:
- Con cũng lấy một chiếc áo choàng trắng như chị Hoàng đó mà
mặc vào. Con ngồi kết, không cần ăn bận như vậy, nhưng con chưa có áo dài đẹp,
không lẽ lại mặc bà ba ngồi ở ngoài ấy mà coi cho được.
Bảy Rùa thấy Hoàng mặc áo đó trông đẹp quá nên nó không do dự,
lấy chiếc áo thứ nhì của các chị trước để lại, vẫn máng trên vách từ hổm nay, cởi
bà ba rồi mặc áo ấy vào.
Nhà không có gương lớn nên nó hỏi Hoàng:
- Coi được hôn chị ?
- Đẹp ra phết.
- Ra phết là cái gì chị ?
- Chị bắt chước theo ông giáo. Ổng ưa nói như vậy lắm, chị
cũmg chẳng hiểu là gì.
Mợ Hai cười nói:
- Nó mà đi uốn tóc thì đẹp nhứt Sài-gòn. Và con trai ở đây sẽ
chết hết.
- Chưa chắc đâu bà Hai, Hoàng cãi. Em nó mới lên Sài-gòn lần
đầu, nói thì xin lỗi, chớ nó còn tướng quê. Tóc quăn không lợp với phong cách của
nó, đẹp đâu có bằng để tự nhiên như vậy. Vả lại con trai Sài-gòn thích gái quê
hơn.
- Sao lại thích gái quê hơn ?
Biết nói sao hai ông bà này cũng không hiểu nổi sở thích của
con trai nên Hoàng làm thinh, không buồn giải đáp câu hỏi của bà chủ quán.
Cậu Hai dặn:
- Con ngồi kết nên dạn dĩ, kẻo họ cười.
Lần này thì Hoàng thấy phải cãi, vì quyền lợi của quán mà
nàng cần bám vào để mà sống.
- Không đâu ông Hai. Nó càng nhút nhát, càng e thẹn, họ càng
ưa.
- Thiệt tao không hiểu.
- Để rồi ông bà coi.
- Ngồi kết làm sao cậu ? Bảy Rùa sợ lắm nên muốn học nghề cho
mau, kẻo ló đuôi dốt xấu hổ lắm.
- Có gì đâu. Khách kêu rượu, con Hoàng cho biết, con rót ra
ly hoặc đưa nguyên chai cho nó bưng đi, rồi con biên giá tiền trên giấy đoạn cất
đó. Chừng nào khách họ bảo tính tiền thì cứ lấy giấy đó ra, Hoàng nhận tiền
giao lại cho con. Con ngồi sau cái quầy...
- Cái quầy là cái nào cậu ?
- Là cái thùng tròn tròn ngoài trước, có mặt như mặt bàn đó.
Rượu và ly để trong tủ, sau lưng con.
Mợ Hai nói:
- Phải dạy nó rót Rôm và Mạc-ten bao nhiêu chớ. Ông không nói
cho nó biết, nó rót đầy ly thì mình bán nhà.
- Bà cứ lo. Mấy bữa đầu tôi đứng kèm theo nó, làm cho nó coi
chớ. Thôi, hai đứa đi ra ngoài đi.
Trước đây, Hoàng ngỡ đồng nghiệp mới thuộc hạng gái trật búa
như nàng và như nhiều người khác cùng nghề, nên đã hứa làm mai làm mối nàng với
lũ quỉ kia. Nhưng từ lúc thấy mặt cô gái quê ấy, nàng đã đổi ý và quyết bảo vệ
Bảy Rùa cho đến cùng.
Khi cô thu ngân viên leo lên chiếc ghế cao ngồi xong xả thì vợ
chồng Hai Lọt bước ra rồi cả ba người đều ngắm nghía cô bé khiến cô ta mắc cỡ,
má ửng hồng lên. Hoàng nói:
- Ông chủ bà chủ thấy không, nó càng e thẹn càng đẹp.
- Ừ, Hoàng nói đúng. Cháu tôi đẹp quá.
- Đẹp ra phết. Mụ chủ quán lại nhái giọng và lời nói của giáo
sư Lê Thiệu Các khiến cả ba cười ồ lên.
- Thôi, bây giờ ta tập trận xem thử nào !
Hai Lọt nói rồi đi lại bàn mà ngồi và kêu:
- Rôm soda em, và một dĩa tai heo.
Hoàng cười ngặc nghẹo bước lại nói nhỏ với Bảy Rùa:
- Rôm soda !
Cô thôn nữ chỉ cười trừ và cứ ngó trơ ra đó. Hoàng dạy:
- Lấy một cái ly ở dưới kệ quầy, ngay đầu gối em. Đặt ly lên
bàn rồi day ra sau lưng lấy chai rượu vuông kìa. Ấy, như vậy đó, rót rượu vào
ly cao chừng một lóng tay rưỡi thôi. Lại day ra sau cất chai vuông và lấy ra
chai soda kìa. Ấy, đặt tất cả lên mâm, đừng quên cái đồ khui nấp soda, rồi trao
mâm cho chị.
Hoàng vừa bưng mâm đi, vừa day lại nói:
- Lấy một miếng giấy nhỏ để cả xấp đó rồi dùng viết chì
nguyên tử mà biên: "1 rôm soda" chữ so viết chữ o, chớ không phải ếch
ô đa nhe, còn đa thì phải viết là da.
- Lạ quá, Bảy Rùa nói, đa sao lại viết là da ?
- Ậy, chữ Tây mà, hay chữ huê kỳ gì đó chị cũng không rõ nữa,
mà phải viết như vậy.
Hoàng đã tới bàn Hai Lọt. Nàng đặt mâm lên bàn, rồi xây nhìn
lại, đứng chống nạnh mà hỏi bạn, giọng kẻ cả:
- Đã thuộc chưa ?
- Em quên hết trọi rồi, sao mà lộn xộn quá như vầy nè.
- Còn một thứ rượu nữa, chai tròn. Nội hai thứ đó đủ làm cho
em điên đầu rồi. La ve cũng hai thứ, thứ lớn và băm ba. Còn nước cam thì lu bù.
Nhưng không ai uống nước cam hết, chỉ trừ bọn quỉ dịch văn nghệ sĩ thôi.
- Văn nghệ sĩ là gì chị ?
- Là mấy ông nhựt trình đó, Hai Lọt đáp thay cho Hoàng. Tao
thì tao kêu như vậy, còn văn gừng hay lòi xỉ gì tao cũng không biết hết.
Vợ chồng Hai Lọt đi vào trong. Hoàng bưng mâm trả cho quầy rồi
đứng dựa vào quầy, ngó mông ra đường rất lâu. Lâu lắm, nàng thở dài, hỏi bạn mà
vẫn không nhìn con bé:
- Tại sao em lại lên đây ?
- Em mồ côi cha mẹ. Ngoại em nuôi em. Mà ngoại em nghèo quá,
nên cho em cho cậu mợ em lo.
- Ở dưới không có công việc sao ?
- Tới mùa, em đi xúc ốc, đi cấy gặt, nhưng vẫn nghèo.
- Chị thương em lắm, em à !
Hoàng nói câu đó mà rưng rưng nước mắt. Con Bảy Rùa không sao
biết được tình thương đó nó hàm rất nhiều thương xót trong ấy và rất nhiều ngùi
thương cho chính thân Hoàng mấy năm trước, mà đứa em này là hình ảnh trung
thành.
- Em cũng thương chị lắm !
Con Bảy Rùa thương Hoàng vì tánh nó như tánh bất kỳ cô gái
quê nào khác, mau thân và mau thương bạn mới nào săn sóc đến nó.
- À, tên em là gì em ? Từ sớm đến giờ cứ nghe cậu mợ em kêu bằng
con Bảy.
- Em tên Rùa, mà trong giấy thì tên Ớt.
- Lát nữa đây, có mấy anh đó lại, hỏi tên em, em đừng nói.
Nói họ cười chết. Để chị biểu anh Dương Châu của chị đặt cho em một cái tên thật
tốt.
Nàng vừa dứt lời thì lũ quỉ kia đã đến nơi, chở nhau bằng đủ
thứ xe hai bánh. Hôm nay thiếu ông giáo Các nên chỉ có năm mạng, năm thằng nhãi
ranh mà Hai Lọt rủa là ngũ quỉ.
Hoàng tươi lên và nói nhỏ với bạn:
- Mấy anh này là văn nghệ sĩ mà chị đã nói đó. Cái anh mặc
ka-ki vàng là anh Dương Châu, chồng của chị.
Bảy Rùa bối rối lên, không phải vì thấy con trai mà vì khách
vào tức là nàng sẽ phải làm những điều mà nàng chưa thuộc. Nhưng may quá, cậu
nó cũng ra ngoài, đứng sau quầy, cạnh ghế nó, nên nó hết lo sợ ngay.
Lũ quỉ chia ra làm hai phe: hai thằng uống bia hai thằng uống
nước cam và một thằng trung lập uống nước cam pha bia. Hoàng đã thuộc lòng thói
quen của họ nên chào tất cả mọi người bằng một nụ cười rồi đi lại quầy ngay.
Cả năm chưa tới bàn, chợt thấy cô thu ngân viên mới, cậu nào
cũng liếc nhìn một cái, và khi nhìn xong, cậu nào cũng đứng chết sững. Thành ra
năm mạng đứng thành nuột hàng, không làm, không nói gì cả.
- Xin giới thiệu với quý thầy, con Bảy đây là cháu tôi, kêu
tôi bằng cậu !
- Hân hạnh ! Nhạc sĩ Tấn là người đầu tiên ra khỏi tình trạng
á khẩu của toàn đội.
- Hân hạnh !
- Hân hạnh !
Cả bọn reo vang lên, trừ Dương Châu. Hoàng mỉm cười và quan
sát từng người và tế nhận được mức độ lung lay của từng người. Dương Châu như bị
sét đánh; điều đó khiến nàng mừng thầm. Mấy cậu kia ít si, sẽ để cho bạn nàng
yên, còn Dương Châu thì đã bị nàng nắm vững rồi.
Hoàng kéo nhơn tình lại quầy rồi nói nhỏ:
- Nó tên là con Bảy Rùa. Nhưng anh phải đặt ngay cho nó một
cái tên đẹp tức thì đi, kẻo tụi nó hỏi, không biết nói sao.
Dương Châu nhìn Rùa giây lâu rồi nói ngay với cô thu ngân
viên:
- Cô cứ xưng là Linh Quy.
Hoàng dẫy nẫy:
- Tên gì kỳ quá, không đẹp như Bạch Tuyết, Hồng Đào.
- Em không biết mốc xì gì hết. Linh Quy tuy không đẹp lắm,
nhưng vẫn đẹp hơn Bạch Tuyết nhiều. Bạch Tuyết sáo quá trời.
- Thôi cũng được, Hai Lọt hòa giải. Con Bảy ráng nhớ tên đó nghen.
Chàng nhạc sĩ chưa sáng tác lần nào là Tấn, uống rốc ly rượu
rồi khen:
- Rượu của cô ấy ngon quá !
Khen xong, chàng hỏi to lên, bằng thơ nhái của Nguyễn Trải:
Cô ở đâu mà bán rượu ngon ?
Chẳng hay rượu ấy hết hay còn
.........................
Đã có chồng chưa, được mấy con ?
Con Bảy Rùa không hiểu hết bài thơ nhưng biết câu chót nói
gì, nên má nó ửng hồng lên. Hiền nói:
- Cái tên Hồng Đào phải để dành cho em này mới phải cho. Cô
ơi, cho thêm một chai băm ba mà phải chính tay cô rót lấy.
Vừa nói, anh ta vừa đứng lên đi lại quầy. Bảy Rùa run tay và
rối loạn đầu óc, day ra sau mà không biết phải làm gì cả. Hai Lọt nhắc:
- Con lấy ly trước đi chớ !
Hoàng chạy đi gấp nước đá bên trong đem ra bỏ vào cái ly mà Bảy
Rùa vừa đặt lên mặt quầy. sau khi đập bể hết hai cái chai lúc mò mẫm dưới kệ.
Hai Lọt trao chai băm ba khui xong cho cháu và con Bảy chỉ còn nghiêng chai rót
rượu vào ly thôi. Hiền khen:
- Bàn tay tiên, nâng chén ngọc, rót rượu đào !
Hắn làm cho con Bảy Rùa càng bối rối thêm nên bọt tràn khỏi
ly, ướt cả bàn mà nó vẫn không ngưng rót. Hiền cười với ông chủ quán bụng bự:
- Xin lỗi nha cậu Hai. Bọn trẻ tuổi chúng tôi đùa chơi mà
không ác ý.
- Hề gì.
- Cô em tên chi vậy cô em ?
Con Bảy rùa quên mất cái tên kỳ lạ mà Dương Châu vừa lén đặt
cho nó khi nãy, nên chỉ cười trừ. Hai Lọt đáp thay cháu:
- Em nó tên là Linh Quy.
- Linh Quy, trời, tên đẹp mà tân kỳ, không sáo như Thu Thủy.
Hồng Vân, Thanh Yến tí nào. Ê, tụi bây ơi, cô thu ngân viên tên là cô Linh Quy.
- Hoan hô cô Linh Quy !
- Hoan hô !
- Linh Quy là một con rùa linh, tức là vật báu trong nhà. Chú
Hai sẽ phát tài cho mà xem.
Con Bảy rùa giựt mình và nghe tủi thân quá. Thì ra phận rùa,
sửa đổi thế nào cũng vẫn là rùa. Thì ra Linh Quy chỉ là rùa thôi chớ không có
gì lạ hết, mặc dầu mới nghe lạ tai, nó ngỡ tên ấy hay ho lắm.
- Elle est jolie à croquer ! 1
Ký giả Bắc Hải nãy giờ làm thinh, giờ mới thốt ra câu đó, khiến
cả bàn đều reo lên: "Phật bước xuống bàn rồi tụi bây ơi !"
- Lời khen của anh Bắc Hải có sức nặng ngàn cân, vì anh là
con người không đếm xỉa đến sắc đẹp phụ nữ.
- Tao nhớ lại một đoạn "Tây sương ký" trong đó có một
vị sư đã khen cô Thôi Oanh Oanh: "Trời, con người sao mà đẹp là đẹp"
Cả hai lời khen của hai người đều nặng như Thái Sơn.
Tấn giao kết, cũng cứ bằng ngoại ngữ như bất kỳ lúc nào nói
lén ai:
- Con rùa cái này sẽ thuộc về đứa nào có tác phẩm hay trước
nhứt do nàng gợi hứng. Tao đã giao rồi đó đa nghen, tụi bây không được tranh.
- Khỉ mốc. Nếu mầy có tác phẩm trước mà nàng không cảm mầy
thì sao ?
- Theo tao thì chỉ nên để nó yên và mỗi đứa yêu thầm nó một
chút thì hơn. Như vậy đứa nào cũng sẽ có hứng hết, và hứng sẽ mạnh lắm vì khôn
thỏa. Chúng ta đứa nào cũng đa cảm, yêu nhiều lắm và biết yêu lắm. Nhưng chính
vì đa cảm mà chúng ta có thể yêu không bền, thì có tội nghiệp cho nó lắm không
?
Làm như thằng Dương Châu vậy mà được. Nó yêu một cô gái bơ vơ
đã dạn dày sương gió như Hoàng thế mà tốt đó. Nếu một khi kia nó hết yêu thì
Hoàng cũng chẳng bị thiệt hại một gờ ram nào cả.
- Mầy muốn nói tao bỏ Hoàng mà không mang tội với trời đất hử
?
- Đúng như vậy.
- Tao chỉ mong nghe ai xác nhận điều đó thôi. Thật ra tao có
yêu Hoàng đâu.
- Đừng có nói láo. Mầy hết yêu Hoàng thì có, nhưng mầy không
đủ can đảm thú nhận.
- Mầy là con bướm trắng.
Đan nghe lòng quặn thắt đau và bước lại đứng gần Hoàng như để
an ủi nàng: "Anh thì anh không bao giờ phụ bạc như vậy đâu. Nếu em bị nó bỏ
rơi thì anh sẵn lòng tế độ em, người kiểu mẫu thương mến của anh ơi !"
Và Hoàng tuy không thông ngoại ngữ vẫn đoán biết được rằng họ
đang nói về Linh Quy, đang mỗ xẻ cái duyên thầm, cái vẻ ngây thơ của nàng, đang
khảo sát về bàn tay, cần cổ của nàng và có lẽ đang dùng nàng treo giải thưởng
gì đó, đứa nào thắng là được nàng.
Công phẫn và lo sợ, nàng bước lại đứng gần bên người bạn gái
quê mùa, con mồi ngon của bao nhiêu là quyến rủ ở chốn phồn hoa này, hình ảnh
trung thành của nàng mấy năm về trước. Nàng lại gần bạn trong một hành động máy
móc như để an ủi bạn "Chị quyết bảo vệ em tới cùng. Chị không muốn em phải
bước chơn vào con đường tội lỗi mà chị đã đi qua. Đứa nào toan dắt em vào nẻo ấy
thì sẽ biết tay chị".
Nàng liếc mắt nhìn quanh một vòng để điểm xem cái bảng mặt
nào là bảng mặt nguy hiểm để mà đề phòng.
Cụ Các thì đã già và rất nghiêm trang, Bắc Hải thì không
thích gái. Hai mặt hiền từ này hôm nay không có đến.
Dương Châu thì nàng đang nắm chặt trong tay, còn Đan là kẻ mới
bắt đầu si tình nàng, khó lòng lại mê người khác.
Chỉ còn anh chàng nhạc sĩ chưa có bản nhạc nào là Tấn và anh
chàng thi sĩ đa cảm là Hiền thôi, thì cũng đỡ công việc kiểm soát phần nào.
Sẽ có khách khác, nhưng Hoàng không lo. Nàng thấy cái đám này
quyến rủ quá nên sợ chúng nó lắm, và chỉ sợ chúng nó thôi.
Có khách khác thật. Đờn ông con trai họ rất thính hơi.
Ngày thlường đi qua đây, họ không thèm liếc sơ vào một cái.
Nhưng Linh Quy chỉ mới ngồi sau quầy thâu tiền có hai hôm là họ đánh hơi được
ngay.
Đầu tiên là những tay nhậu cừ ngày trước, đã theo chợ mà lên
Trần Quốc Toản với mấy cái ba lộ thiên.
Sân chợ Trần Quốc Toản hôi tanh mùi cá đến đỗi đi ngoài đường,
ngang qua đó, khách bộ hành cũng chịu không nổi, thế mà họ ngồi tại sân đó nhắm
rượu một cách sung sướng ngon lành thì đủ biết nơi ấy quyến rủ là bao.
Nhưng không làm sao mà quyến rủ cho bằng cái búi tóc và gương
mặt không đánh phấn "mặt thiệt" của cô Linh Quy của quán Tai heo cũ của
bọ cả.
Cái búi tóc và da mặt trần không làm con người đẹp hơn chút
nào, trái lại nữa, nhưng hai thứ ấy ướp vào con người một thứ hương trinh mà đờn
ông ở các đô thị lớn không làm sao tìm thấy được và họ rất thích hương của đóa
hoa đồng nội đó vì họ đã ngấy hương nhơn tạo của nước hoa ở thành phố.
Mấy tay khách sộp nầy được Hoàng hoan nghinh nhiệt liệt vì họ
để buộc boa hậu và nhứt là họ không nguy hiểm cho Linh Quy. Ấy, bao giờ nàng
cũng nghĩ đến Linh Quy và lo cho Linh Quy cả.
Đó là những người lớn tuổi, hầu hết đã có gia đình từ lâu và
có địa vị vững vàng. Họ không tán tỉnh cô bé nhà quê được, và không mong đưa cô
bé vào con đường tội lỗi được.
Vợ chồng Hai Lọt cũng thích bọn khách này lắm, mà chắc chủ
quán, chủ ba, chủ trà thất nào cũng trọng bọn này, bọn già, có nhiều tiền mà
không bao giờ gây chuyện rắc rối cho ai cả.
Riêng Linh Quy, nàng chưa có ý kiến gì về họ. Nàng chỉ nghe
mang máng rằng nàng thích bọn văn nghệ sĩ hơn, vì bọn này trẻ tuổi, lại ăn nói
lạ lùng một cách ngộ nghĩnh, khác xa bọn có tiền.
Bọn có tiền, mặc dầu không mong mỏi gì cả, vẫn cứ đến đây đổ
tiền. Uống rượu bên cạnh một cô gái đẹp, dầu sao cũng thú hơn uống bên cạnh năm
ba cô gái xấu.
Với lại, lúc rủ nhau đi, họ láy nhau bằng mắt và nói bóng nói
gió đến người đẹp là họ nghe thích như đã là bạn thân với người đẹp ấy.
Mê quán nhứt là lão "Papa Cung". Và kìa lão ta đã tới,
cùng đi với một người bạn trẻ hơn độ mười lăm tuổi, một kỹ nghệ gia chuyên chế
tạo vật dụng bằng cao su. Cập bài trùng này không đêm nào là vắng bóng ở Quán
Tai heo này từ mấy lúc gần đây. Họ là khách cũ, trở lại vì tiếng đồn vang dậy gần
xa về Linh Quy, nhưng rồi mê quán vì Hoàng.
Papa Cung mặc áo ba túi như những ông sồn sồn, còn ông Báu, bạn
trẻ của lão thì mặc sơ mi chim cò như thanh niên. Cả hai đều quyết cải lão hoàn
đồng bằng y phục.
Papa Cung vừa ngồi xuống, dựa lưng vào trong thì Hoàng ở đâu
từ trong buồng bước ra, lấy mắt làm hiệu cho ông Báu bình tĩnh rồi bịt mắt Papa
lại bằng hai bàn tay của nàng.
Papa nhe hàm răng giả trắng dờ ra mà cười, hàm răng đầy đủ
nhưng không làm lão ta bớt móm chút nào.
- Để luôn, đừng lấy tay ra ! Lão nói.
Giữa lúc ấy thì Dương Châu tới nơi. Chàng cười rũ rượi mà thấy
ông già sung sướng đến muốn hoàn đồng thật sự.
- Mù ! Hoàng gọi.
- Dạ ! Papa đáp.
- Ăn cứt quạ, hay ăn cứt cu ?
- Ăn cứt cu.
Đêm nào trò chơi "Hỏi mù" cũng tái diễn trở lại và
khán giả cũng đều cười vang nhà, không cười vì cái trò không vui ấy mà vì cái
buồn cười của một lão già mê gái một cách dại dột.
Lão ta rất hãnh diện mà được độc quyền về hai bàn tay bịt mắt
của Hoàng, và lần nào đến quán, lão cũng chần chờ ngoài sân mấy phút cho Hoàng
thấy và đủ thì giờ trốn vào buồng. Rồi thì luôn luôn lão ngồi đưa lưng vào phía
cửa buồng để có cớ mà bị Hoàng bịt mắt một cách bất chợt.
Lão làm bộ đoán:
- Linh Quy chớ ai.
Và Hoàng bịt mũi lại, nói:
- Trật lất.
- Như vậy thì là chú Hai rồi.
- Trật lất.
- Thì chỉ còn nuột mạng nữa thôi. Biết rồi. Nghe mùi dầu thơm
là người ta biết ngay mà !
Lão ăn nói theo thế hệ của lão, nước hoa thì gọi là dầu thơm.
Cặp bài trùng này uống mỗi người hai cồng-xom mỗi bữa tối,
thì kể ra cũng là khảch xộp, tuy nhiên còn thua cái ông gì mũi cao mà nước da
đen, tóc quăn có vẻ là người Ấn lai Việt. Ông ấy uống một đêm đến sáu cồng-xom.
Đêm nay thích chí quá, Papa Cung quyết giữ lời thề là phải thắng
thằng cha Ấn Việt mới được, nên gọi thêm một cái rôm-soda thứ ba.
Linh Quy đang mò kiếm chai rôm để ở ngăn kệ ngang gối cô thì
bọn đầu bù bước vào. Vị thủ lãnh danh dự của họ là cụ Lê chống gậy đi đầu hết.
Mặc dầu ông chúa đầu đàn rất bình dân và thương mến tuổi trẻ,
bọn này vẫn nể nang người bạn vong niên của họ, nên chi hôm nào cụ Lê cầm đầu
là cả bọn đều ngoan ngoản rất dễ thương.
Cả bọn đều tìm bàn ngồi duy chỉ có Hiền thì ghé lại quầy thâu
tiền. Hắn gọi bạn:
- Mỗ làm được một bài thơ hay, xin tặng Nàng, các tía có muốn
nghe thì lại đây.
- Không, đọc cho lớn đi.
- Sợ phiền bà con đây chăng ?
Papa Cung nói:
- Không hề gì. Tụi tôi cũng ưa thơ lắm.
- Papa ưa những thơ gì ?
- Tụi tôi ưa loại thơ này:
Ngóa An nam, lứ cắc chú,
Vô khám cùng nhau chung một lũ.
À, ra lão ta thích thơ trào phúng truyền khẩu của những nhà
nho miền Nam thuở trước.
- Còn em, có ưa thơ không ? Hiền day lại hỏi Linh Quy.
- Ưa lắm chớ.
Mới lên Sài-gòn có tám hôm mà Linh Quy đã rửa sạch được vẻ
nhà quê của nó. Cái vẻ nhà quê là thế nào, dám chắc không nhà khoa học nào phân
chất được, không văn sĩ nào tả ra được, mặc dầu nó vẫn có. Nó bàng bạc trong khắp
con người, trong tướng đi, trong tà áo, trong cả giọng nói, điệu cười.
Cũng thời hai bàn tay đó, y hệt như ngày nào, nhưng giờ trông
lại khác hẳn. Thật là huyền diệu, sự thay đổi tùy theo cảnh sống, người và cảnh
vật chung quanh hòa hợp với nhau một cách tế nhị.
- Em ưa loại thơ nào ? Hiền hỏi tiếp.
- Em ưa thơ Lục Vân Tiên.
Thật là thất vọng ! Một cô gái, những buổi trưa buồn, nghê
nga hát:
Cả kêu mấy chú cõng con,
Cớ sao mấy chú bon bon chạy hoài.
Cô gái ấy chắc chắn là không thưởng thức được những gì kín
đáo gói ghém trong thơ.
Hèn chi, chàng nghe những thằng si tình chúng nó làm thơ đăng
báo tặng các nàng nhưng các nàng cóc cần biết.
- Ê, đọc đi ta !
- Bài thơ nhan là gì cái đã nào !
- Ngâm đi, chớ đừng đọc !
- Ngâm cho hay như Hoàng Thư nha !
Hiền lắng giọng toan ngâm, nhưng lại nói:
- Suýt thì mỗ quên. Bài thơ nhan là "Căn gác nhỏ"
Vừa nghe tên bài thơ, cụ Lê giựt nẩy mình, dáo dác nghe
ngóng, rồi gương mặt cụ bỗng buồn dàu dàu. Không ai chú ý đến phản ứng khó hiểu
của cụ hết, và Hiền bắt đầu ngâm:
CĂN GÁC NHỎ
Ngõ hẻm bùn rêu đầu gác nhỏ,
Văn nhân tài tử mươi lăm người.
Ngọn đèn suốt canh thâu lấp ló,
Văn nhân lên ở cao gần trời.
Tiền không, vui trong đời mộng tưởng,
Viết nhiều, áo họ lòi khuỷu tay,
Bờm tóc như bòng bong ngất ngưởng,
Khi nào họ gật đầu khen: hay !
Thương khách tài hoa mê nàng Đẹp.
Thay cơm bằng hai xu phở bò,
Có khi óc đầy nhưng bụng lép.
Thu chăn đành ngủ dài cho no.
Rồi họ yêu đời, yêu họ quá,
Tri âm là muôn ngàn tim thơ.
Rồi mơ đến Bồng lai cảnh lạ,
Song vào Đông hưng viên đang chờ.
Bừng mắt, thì mưa thầm tí tách,
Gió thổi làn mây bay ơ hờ,
Sờ bụng không cơm, chia khuỷu rách,
Nhìn trời họ nhẩm mấy vần thơ.
Cả quán đều vỗ tay như ở các trà thất mặc dầu phần đông khách
nhậu không thưởng thức nổi những vần chua xót đó.
- Hay quá !
- Hay quá !
- Tao không dè mà nó cừ khôi dữ vậy, Dương Châu nói.
- Liệu hơn bài "khoai ngọt bánh đắng" của mầy hay
không ?
- Mỗi bài một vẻ...
- ... mười phân vẹn mười ?
- Mỗi bài một vẻ, nhưng bài CĂN GÁC NHỎ giọng vừa đau thương,
vừa cười cợt thế mới chua xót hơn.
Cụ Lê Thiệu Các nhin Hiền trân trối, nhưng cụ cười thầm lặng
bằng cả mắt của cụ rồi nói:
- Anh làm thơ tài thật đó. Nhưng anh làm bài thơ ấy hồi mấy
tuổi ?
Cả hai, một già một trẻ, nhìn nhau nửa giây rồi cả hai đều
phá lên cười, cười rũ rượi, cười sặc sụa. Hiền chảy nước mắt ướt cả mặt chàng.
Bọn đầu bù còn đang ngơ ngác thì Hiền rời quầy thâu tiền, lại
bàn ngồi với bạn rồi nói với vị giáo sư già:
- Lũ này là một bọn ngốc và dốt, dễ gạt như trẻ con phải
không cụ ?
- Không, họ bị xúc động mạnh quá, nên không chú ý đến chi tiết.
Bắc Hải gõ ống cối vào cạnh bàn cộp cộp rồi nói:
- Tôi ngạc nhiên ngay vì một chi tiết kỳ lạ, nhưng ngỡ mình dốt.
Đó là chữ nho nên định bụng rồi sẽ hỏi lại sau. Giờ thì tôi hiểu cả rồi.
- Sao đó anh ? Thằng quỉ đó gạt gẫm tụi mình gì đó ?
- Bài thơ này không phải của nó.
- Đạo văn, ê !
- Trời ơi là xấu hổ ! Trong bọn ta có một con chiên ghẻ.
- Đả đảo thằng đạo văn !
- Tẩy chay thằng đạo văn !
- Tống cổ nó khỏi quán cho rồi !
- Hãy khoan ! Bắc Hải khuyên bạn. Nó chỉ đùa chơi thôi.
- Giờ bị lật tẩy thì thằng lưu manh nào chẳng nói rằng mình
đùa.
- Không, có bằng cớ rõ rệt rằng nó đùa. Nó cố ý cho ta thấy sự
giả dối, tức là nó không có ý gạt ta. Tại ta ngốc quá nên không thấy thôi.
- Cho ta thấy bằng cách nào đâu ?
- Trong đoạn thứ tư, câu thơ thứ tư, có ba tiếng ĐÔNG HƯNG
VIÊN. Ta phải tự hỏi Đông hưng viên là cái gì. Người biết trả lời được ngay, và
biết đó là trò đùa ngay, còn người không biết cũng có thể suy luận mà đoán được
phần nào.
- Anh biết sao anh vẫn bị gạt như tụi tôi ?
- Tôi quên mất, chỉ mới sực nhớ lại đây thôi. Đông Hưng, tên
lột làng ở biên giới Hoa Việt, quê hương của ông tướng Tàu Trần Tế Đường. Đông
hưng viên là một hiệu ăn Trung hoa mà chủ nhân gốc ở làng đó. Hiệu ăn ấy không
có ở Sài gòn, cũng không có ở Chợ lớn mà lại đặt trong một xã hội có bọn người
văn nghệ thì đích thị là ở một Hà nội hồi tiền chiến rồi chớ không đâu khác hơn
được, vì trừ Sai gòn ra thì không thành phố nào của ta mà có dược không khí văn
nghệ cả.
- À phải rồi !
- Nhưng anh nói rõ thêm về bài thơ và tác giả của nó nghe
chơi.
- Hỏi cụ Các.
- Phải rồi, cụ trước ở Hà nội, chắc biết về vụ này rõ ràng.
Cụ Lê thiệu Các đôi mắt nhìn xa vào dĩ vãng, mũi phồng lên,
môi mấp máy. Cụ nghẹn ngào rất lâu mới nói được:
- Bài thơ ấy chưa bao giờ được đăng báo cả nên ở Sàigòn này
hiện nay chỉ có vài người biết thôi, mấy người bạn thân của tác giả. Tôi không
hiểu sao anh Hiền lại thuộc bài thơ mà chính cả văn nghệ sĩ gốc Hà nội cũng
không được biết. Tác giả của nó là...
Cả bọn đều hồi hộp chờ nghe một cái tên mà họ tin là quen thuộc
và họ đang thương mến vô ngần vì người thi sĩ ấy cũng đã đau khổ vì cuộc sống
như họ.
- ... của nó là nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, tác giả tập thơ
danh tiếng NGÀY XƯA...
- Ồ...
- Trời ơi !
- Hèn chi mà...
- Thương biết bao nhiêu !
- Thi sĩ đã chết hồi hăm hai tuổi, cụ Các tiếp, tức là lúc
các anh còn nằm trong nôi...
- Mặc dầu đáng cha tôi, tôi cứ nghe anh ấy là bạn..
- Anh ấy đã ngưng sống hồi bằng tuổi ta, nếu có một phép mầu
nào giúp anh ấy sống lại, thì đồng lứa nhau với tụi tui chớ gì.
- Nhưng thật sự thì anh ấy là thi sĩ hăm hai mãi trong thời
gian, không cần sống lại, anh ấy vẫn cứ là bạn của ta.
Cụ Các bùi ngùi nói:
- Hễ tôi nhớ không khí văn nghệ Hà nội thuở còn thanh xuân là
lòng se thắt lại. Sôi nổi biết bao, cảm động bịết bao.
- Họ có khổ như bọn tui hôn cụ ?
- Thì cũng "cùng một lứa bên trời lận đận" làm sao
mà khác cho được.
- Buồn quá các cha ơi ! Nếu cứ nhơi mãi những chuyện buồn thì
ta đến phải tự tử mất. Hãy vui với hiện tại xem nào !
- Tao có câu chuyện này vui đây. Không vui nhộn như tụi bây
mong mỏi đâu mà chỉ vui nhè nhẹ thôi.
Hôm qua tao gặp anh Sáng. Đó là một người bạn vong niên của
tao. Năm nay anh ấy đã bốn mươi rồi.
Thuở thanh xuân anh ấy là một cây ăn chơi, về sau có làm văn
nghệ một lúc và bây giờ thì đang tu hành.
- Hay ! Làm văn nghệ xong, chỉ có hai đường phải theo, hoặc tự
tử hoặc đi tu; anh ấy đã chọn đúng một nẻo đó.
- Im, để tao nói nốt về cái triết lý anh ấy tìm được. Khá ngộ
nghỉnh. Anh ấy bảo rằng cái sung sướng nhứt trần đời mà bọn phàm phu tục tử
quan niệm, là một trong tứ khoái.
Nhưng đã làm văn nghệ rồi thì mới thấy quan niệm ấy là sai.
Ôm một cô gái đẹp trong tay, có sung sướng thật đó, nhưng không thắm vào đâu đối
với sự ôm ấp một đề tài, sự cưu mang một ý tình và khi đẻ ra được một tác phẩm
ưng ý thì cái sướng lên đến cực độ, thú gấp trăm lần hôn được nuột má đào, một
trăm lần ăn nằm với mỹ nữ. Có như vậy hay không các bồ ?
- Tao không biết,vì tao vẫn còn cưu mang, chưa đi nhà hộ sinh
lần nào cả.
- Nhưng cưu mang ý tình, thai nghén đề tài có sướng bằng, hoặc
hơn ôm ấp mỹ nữ hay không ?
- Hơn.
- Một trăm lần hơn.
- Ba trăm lần hơn.
- Như vậy thì lão Sáng nói đúng rồi đó.
- Rồi sao nữa tía ?
- Rồi bây giờ đi tu, tu lâu ngày...
- Đã thành tiên chưa ?
- Đã mà chưa.
- Nghĩa là ?...
- Nghĩa là chưa thành cái thứ tiên trong truyện Tàu, thần
thông biến hóa, nhưng đã thành địa tiên, đã thưởng thức được cái sung sướng tuyệt
đối, một trăm lần to hơn sung sướng đẻ ra tác phẩm của bọn văn nghệ sĩ chúng
ta.
- Đáng ngờ lắm.
- Thì khi ta nói rằng đẻ tác phẩm sướng hơn ôm mỹ nữ thì bọn
phàm phu tục tử cũng bảo là đáng ngờ. Chỉ có thằng nào có qua cầu rồi mới hay.
Tụi bây chưa tu lần nào mà.
- Ậy, rồi sao nữa ?
- Lão ấy bảo rằng, nếu tu lâu ngày và tu đúng cách thì kẻ tu
hành bước được đến cái giai đoạn mà kẻ ấy có thể thoát trần, có thể cực độ cảm
thán, có thể xuất thần, người Pháp gọi là en extase. Và những phút xuất thần ấy
là những phút thần tiên nhứt trong kiếp sống của con người.
- Quảng cáo quá ta. Bộ nhà ngươi lăng xê cho một quyển sách
thần học nào hả ?
- Im. Tao có kinh nghiệm, tao thấy rằng quả thật cái sướng
văn nghệ to hơn có sướng vật chất nhiều lắm, và biết đâu anh ấy lại không nói
đúng về sự to tát của cái sướng linh hồn thoát tục. Ở đời có ba cấp bực sung sướng...
- Mệt trí lắm tía à, nói chuyện thấp hơn, vui hơn. Tao thì
tao thấy muốn đẻ phải nhờ bà mụ, thằng Dương Châu được bà mụ Hoàng tiếp sanh
cho, còn tụi mình không tiền rước mụ nên hoài thai mãi không biết đến bao giờ.
- Hoài thai lâu năm ta sẽ đẻ ra Lão Tử. Ấy, sử Tàu bảo như vậy
đó. Má ông ấy thọ thai ông ấy đến mười mấy năm trường.
- Nhờ thế mà Lão Tử mới lỗi lạc.
- Con chúng ta cũng sẽ lỗi lạc, nhờ già ngày tháng.
- Tụi bây nói đùa bậy bạ mà đúng. Những vụ sảo thai, những vụ
đẻ non vì háo danh, luôn luôn chết yểu.
- Ê, Linh Quy có thể làm bà mụ được lắm ta ! Bọn này khởi
dùng ngoại ngữ.
- Nên nhớ rằng trong vụ chửa đẻ của bọn văn nghệ sĩ chúng ta,
bà mụ phải kiêm luôn người giúp kết thai.
- Có phải chăng là Dương Châu đã thọ thai với Hoàng trước rồi
mới nhờ Hoàng đỡ đẻ ? Tao e Linh Quy không làm được nhiệm vụ thứ nhứt.
- Tao cũng e như vậy. Đan nói. Tao đã thích vẽ Hoàng, nhưng
tao không muốn vẽ Linh Quy chút nào cả. Linh Quy trông thì đẹp, nhưng đó là cái
đẹp nhờ tuổi trẻ, nhờ sức lực đang lên. Cô gái hai mươi nào lại không đẹp cái vẻ
đẹp riêng của tuổi dậy thì.
Nhưng nó không có đặc điểm nào cả như Hoàng. Chừng nó đẻ xong
một lứa thì tụi bây sẽ thấy cảnh tang thương nơi nó. Cái trẻ không còn mà dấu vết
của đặc điểm không có thì là con số không rồi.
Con Linh Quy nó giống hệt một bài văn, môt bài thơ, một bản
nhạc sáo, đọc nghe êm tai lắm, nhưng không có gì cả. Một bức tranh vẽ cảnh đẹp
cũng đê mê đối với con mắt dốt nghệ thuật, nhưng rồi sẽ còn lại cái gì ?
- Dầu sao, nó cũng quyến rủ, Dương Châu nói.
- Phải, bởi vì trong con người của chúng ta có đến hai thằng
tôi, một thằng văn nghệ sĩ và một thằng thường.
Thằng văn nghệ sĩ tìm cái đặc sắc, nhưng thằng thường lại mê
văn sáo, đọc nghe trôi chảy như thế nầy: "Một chiều thu ảm đạm, từng cơn
gió thoảng, từng chiếc lá vàng rơi mãi giữa một trời buồn minh mông trong lòng
đô thị. Ôi thu về, thu năm xưa, đem lại..."
- Thằng văn nghệ sĩ ngốc lắm và sẽ khổ vì khó tìm cái đặc sắc.
Vậy dẹp thằng văn nghệ sĩ lại, tao, thằng Hiền thường, tao mê văn sáo đây cho đẻ
được mau lẹ. Nào bà mụ ôi, xin bà ra tay tế độ.
Nói rồi Hiền đứng lên đi lại quầy thâu tiền.
- Linh Quy nè ! Em bảo em thích thơ Lục Vân Tiên, vậy em có
muốn nghe thơ Tục Vân Tiên hay không ?
- Tục Vân Tiên là như thế nào anh ?
- Tục là tiếp theo. Tức là chuyện nối theo chuyện Lục vân
Tiên.
- Em chưa biết cuốn thơ đó.
- Để anh đọc em nghe. Của anh đặt đó:
Ngày xưa, hồi còn thơ
Một chiều nắng đẹp khoe màu tơ
Tôi cùng em, hai đứa
Thơ thẩn ngồi chơi trên ngạch cửa.
Tóc em chừa bánh bèo
Môi chưa hồng, da mét vì nghèo !
Đầu tôi còn húi trọc,
Khét nắng, hôi trâu, thèm đi học
Em cầm một củ khoai
Cạp vỏ bằng răng rồi chia hai.
Thứ khoai sùng lượm mót,
Mà sao nó ngọt thôi là ngọt
Linh Quy giật nẩy mình, trố mắt mà nhìn Hiền rất lâu, vẻ mặt
sợ hãi trông thấy.
- Thế nào, có hay bằng Lục Vân Tiên hay không ?
Nàng làm thinh lâu lắm mới nói được:
- Sao anh biết ?
- Biết cái gì ? Hiền ngạc nhiên mà hỏi lại như vậy.
Linh Quy rưng rưng nước mắt rồi nói như nói thầm:
- Anh Dừa, anh ấy đi đâu mất từ lâu rồi. Em đã chia khoai
sùng lượm mót với ảnh. Sao anh biết ?
- Anh là thầy bói mà ! Em còn yêu anh ấy hay không ?
- Em thương ảnh lắm.
- Nhưng ảnh đã đi mất rồi.
- Ừ.
- Làm sao bây giờ ?
- Em cũng không biết làm sao.
- Em nè, nội đây đứa nào giống anh Dừa hơn hết ?
- Anh Đương Châu.
- Anh cho em biết rằng anh Dương Châu tức là Dừa đó. Nó đã
thay đổi vì ở đây lâu ngày. Hai người quen nhau lâu lắm rồi hả ?
- Dạ, hồi còn thơ, như trong thơ đã nói. Ảnh đi đã hơn mười
năm rồi.
- Đã mười năm rồi, làm sao mà nhìn cho ra. Nhưng nó biết em,
vì nó biết ông Hai. Nghe nói em là cháu ông Hai là nó nhớ ngay người bạn cũ năm
xưa, mặc dầu nó quên mặt em vì chính em cũng thay đổi.
Nhờ thế nó mới biết rõ kỷ niệm hồi đó, và mới đặt được thơ
đúng y với tình cảm của em và nó thuở ấy. Anh đã nói láo với em, chính bài thơ ấy
là của nó làm ra dấy.
- Thật như vậy à ?
- Sao lại không thật. Anh nói láo với em làm gì.
- Anh ấy giỏi quá.
- Em nghe có hay lắm không ?
- Hay lắm.
- Hay như gì ?
- Hay như thơ Phạm Công Cúc Hoa.
- Em có thích tác giả bay không ?
- Tác giả là gì, em không biết.
- Là người làm ra thơ.
- Vậy à. Em thích anh Dương Châu lắm chớ.
- Em có yêu nó hay không ?
- Nói bậy nè, anh rể của em mà.
- Té ra em không yêu nó.
- Anh nói bậy nè.
- Anh hỏi, chớ có nói gì quả quyết đâu. Em không yêu nó vậy
chớ nội đây em yêu ai ?
Má Linh Quy lại ửng hồng nhưng ít hồng hơn hôm mới lên đây.
Nó đã bớt nhút nhát, bớt e thẹn nhiều rồi.
- Em không biết.
Nó cười mà đáp như vậy.
- Lẽ cố nhiên là em không biết. Nhưng đâu em thử lắng nghe
lòng em coi, em nghe ra xem em yêu ai ?
Linh Quy vùng vằng phản đối:
- Anh hỏi kỳ cục quá hè !
- Yêu nào có xấu hổ gì đâu mà em mắc cỡ...
- Mà kỳ quá hè !
- Không kỳ đâu, ai cũng yêu hết, chị Hoàng cứ công khai yêu
thằng Dương Châu. Em không thấy à ?
- Mà chỉ lớn rồi.
- Lớn mới được phép yêu, còn trẻ tuổi mà yêu thì bậy lăm hả ?
Đâu có phải vậy em, chị Hoàng hồi còn trẻ như em, đã yêu rồi...
- Thôi mà anh, đừng hỏi kỳ cục mà.
- Chắc em chưa biết. Vậy anh hỏi quyết em, em đáp một tiếng
là đủ rồi. Vậy chớ em có yêu anh hay không.
- Hứ anh quỉ nầy !
- Anh hỏi, chớ anh có o em đâu mà rủa anh là quỉ.
- Anh còn hỏi nữa em mét cậu cho mà coi.
- Ê, phụ nhỉ gì đó ta ? Tấn hỏi lớn như vậy rồi bước lại quầy,
chỉ Hiền mà hỏi nhỏ Linh Quy:
- Thằng này nó ghẹo em hả ? Em cứ nói thật đi đặng anh cho nó
một vố để nó đi chầu Diêm Vương cho rồi.
- Mầy đâu có biết chuyện bí mật của tụi tao. Đừng có khai ra
nha em.
Hiền bỏ đi, cố ý gieo nghi ngờ trong lòng Tấn cho hắn cà nanh
chơi.
Thấy lũ này rù rì mãi với Linh Quy, người cà nanh chính là
Dương Châu, anh chàng bị sét đánh lúc cô gái Chợ Bưng mới đến quán.
Dương Châu cũng đứng lên đi lại quầy. Nhưng chàng bị hộ tống
ngay, người hộ tống là Hoàng. Khi đôi bạn đến nơi thì bắt gặp Linh Quy đang cười
ngất. Nó ngã đầu ra sau mà cười, đưa cái cổ trắng nõn và no tròn ra.
Cười đã đời rồi nó nói:
- Sao anh nào cũng hỏi y một câu đó hết vậy không biết. Y như
là học cùng một sách một vở với nhau.
- Té ra thằng Hiền cũng vừa hỏi như vậy ? Thằng xỏ lá ! Rồi
em trả lời với nó ra sao ?
Hoàng hỏi bạn:
- Hai anh ấy hỏi em gì đó ?
- Hai ảnh hỏi em yêu hai ảnh hay không ?
- Đồ mắc dịch, Hoàng rủa. Con người ta quê mùa ngây thơ, đừng
có bày chuyện tầm bậy.
- Bậy gì mà bậy chị. Nó yêu em, hay yêu thằng khác, bậy chỗ
nào, xin chị trả lời coi. Thế chị yêu thằng Dương Châu có bậy lắm không ?
- Chị khác, nó khác.
- Khác cái khỉ khô.
- Không bậy là khi nào các chú chịu cưới nó, còn phá chơi thì
chị cấm hẳn.
- Chị liệu cấm nổi hay không nè ? Đừng nói gì, hoặc năn nỉ,
người ta tha cho, còn như thách đố thì phải biết.
Hoàng hơi sợ nên dịu giọng:
- Chị không dám thách đố. Còn cấm được hay không, chị cũng
không biết. Có điều là chị có phận sự bảo vệ nó thì chị phải làm cho tròn.
- Ai mượn chị bảo vệ ? Cậu mợ nó không đủ bảo vệ nó à ?
- Không ai mượn, nhưng chị là chiếc xe trước, biết đường đi gập
ghềnh nên dìu dắt cho em nó khỏi vấp té, chỉ có thế thôi.
Anh Dương Châu của chị ảnh đã cắt nghĩa cho chị biết rằng văn
nghệ sĩ là những người cao quý, chị mong thấy ảnh nói đúng.
Tấn bật cười, nói vời Dương Châu bằng ngoại ngữ:
- Gậy ông trở tại đập lưng ông rồi đó bồ ơi ? Nó lại kêu gọi
đến cái cao quý của lũ ta mà mầy đã khoe với nó. Như vậy còn có nước đầu hàng.
Dương Châu cũng cười xòa.
Trong con người anh văn nghệ sĩ có đến hai cá nhân: một cá
nhân thường, tệ hơn thường với tánh đa tình của hắn, và một cá nhân siêu việt
biết thế nào là thanh cao và thích hành động như thế.
Cá nhân thứ nhì bỗng xuất hiện liền ngay sau khi Hoàng kêu gọi
đến nó. Tấn nói với nàng:
- Nhưng hỏi pha trò như thế đã làm hỏng đời em chị chưa ?
Hoàng bật cười mà rằng:
- Tôi cũng tệ lắm. Chỉ vì thương em nhỏ quá mà hóa ra quá gắt
gao. Các chú tha lỗi cho nhé!
- Chị phải trầu rượu xin lỗi cả bọn thì chúng tôi mới tha, bằng
không tụi tôi bắt cóc em gái của chị cho coi.
Đoạn day qua Linh Quy:
- Đó em thấy chưa, rốt cuộc chị ấy cũng phải cho phép các anh
ghẹo em như thường. Từ đây, em không còn ai binh vực nữa rồi đa nghen, liệu đấy,
không mét được với ai nữa đâu.
- Em mét cậu mợ.
- Úy trời ! Em tưởng cậu mợ binh em chắc. Để rồi em coi.
--------------------------------
|
Nó xinh đến muốn nhai nó như nhai cốm ! (Lối nói của người
Pháp) |
Bọn người cao niên nhậu cừ, nhiều tiền mà rất biết điều đã
thêm sâm nhung vào thang thuốc suy nhược cho con bịnh già "Quán Tai
heo" nó đang ngáp gió để rồi thở phào phào trong một cơn hấp hối xót xa.
Con bịnh ấy bỗng dưng khỏe trở lại rồi nhờ chịu thầy chịu thuốc,
nó hồng hào lại gần như xưa.
Hai Lọt sắm ra-dô trăng-dít-to mà ông ta ao ước từ lâu, còn
bà Hai thì chuộc lại tất cả nữ trang cầm thế từ mấy tháng nay.
Ông Hai cười to hơn bao giờ cả, còn bà Hai thì ban ngày đi
đánh xệp từ sáng đến chiều.
Quán Tai heo từ lúc mở ra đến giờ chưa khi nào tiếp khách
thanh niên cả, trừ bọn văn nghệ sĩ ẩn thân này, vì từ thuở giờ quán chưa hề có
gái đẹp.
Thanh niên không để mắt tới quán, nhưng sao họ lại biết quán
vừa thu nạp một cô thu ngân viên "đổ nước nghiêng thùng" ? (Thành ngữ
đổ nước nghiêng thùng là của họ dùng để tả Linh Quy).
Biết thế, họ ùn ùn kéo đến để phá rối sự an ổn nơi đây.
Đó là những anh chàng "du đảng tiến bộ", danh từ
tân tạo để chỉ bọn tét-đi-bồi đã biết bỏ những món phụ tùng cổ điển có tánh
cách tố cáo lọ hà những đôi giày Santiago, những lối tém tóc, những lối may mặc
không đứng đắn.
Tuy nhiên, tác phong họ lại tố cáo họ hơn là quần áo giầy,
tóc nữa.
Những lão cao niên uống nhiều rượu, để buộc boa hậu rút lui lần
hồi vì họ đổ tiền ra để ngồi không dám cục cựa thì hóa ra dại lắm.
Bọn du đảng tiến bộ bị mặc cảm rõ rệt. Hễ ai tình cờ ngó
chúng một cái là chúng ngỡ họ ngó mỉa mai và gây sự ngay với kẻ rủi ro ấy.
Hai Lọt kêu trời và bấy giờ lão ta mới biết lời đồn trong giới
bán ba là đúng: ở đâu mà bọn này lai vãng tới là sớm muộn gì cũng phải dẹp
quán, dẹp ba.
Mà chúng có luôn luôn đem lợi đến cho cam. Để phá chơi, chúng
uống nước ngọt, uống nước đá lạnh, quán không chịu bán cái món năm cắc một ly ấy
cũng không được với chúng. Nước ngọt thì hai đứa một chai, quán tốn hai cái ly
phải rửa về sau và hai cục nước đá.
Hai Lọt thường than cho tình trạng này và khẩn khoản yêu cầu
Bắc Hải "cho nhựt chình kêu".
Lão ta không biết rằng "nhựt chình" có kêu thì kêu
tổng quát, chớ không thể kêu riêng giùm Quán Tai heo hay quán tai bò nào cả.
Nhưng giả thử "nhựt chình" có kêu thì ai sẽ làm gì
chúng. Khách lánh chúng vì tác phong của chúng. Cảnh sát chỉ can thiệp khi nào
chúng có hành hung ai, mà ai cũng nhịn chúng hết thì cảnh sát làm sao có dịp
can thiệp ?
Những ngày vui của Linh Quy đã hết. Nàng chỉ vui được có một
tháng đầu thôi với mấy anh văn nghệ sĩ hiền lành, có đùa thì cũng đùa một cách
thanh nhã, và từ lúc mà Hoàng gây sự với Tấn về sau, cả bọn đều hồi tâm, xem
nàng như một đứa em gái nhỏ. Ắt hẳn họ yêu nàng, nhưng họ chỉ yêu thầm trong
lòng họ thôi, và chắc cũng có cậu định cưới nàng làm vợ, nhưng không ai còn muốn
nghĩ đến chuyện qua đường nữa cả.
Những ngày vui của Linh Quy đã chết.
Cô gái quê đi tìm sinh kế nầy, cũng có vì ham Sài gòn mới lên
đây chớ người ta vẫn có thể đi kiếm ăn ở nhiều nơi khác được.
Tháng đầu, nàng đã được toại nguyện. Nhưng rồi những người
con trai phá phách một cách thô tục kia làm cho đôi khi nàng khổ sở đến phát
khóc trước mặt trăm người.
Cho đến cô gái giang hồ vừa hoàn lương mà còn không chịu được
thì một thôn nữ trong trắng làm thế nào mà yên thân với những trận bắn đậu phọng
ran vào người nàng mỗi đêm ! Cho đến Hoàng cũng nghe khổ sở như chính ả ta bị
phá phách. Đờn bà con gái, cho dẫu trắc nết hư thân đến đâu, họ cũng ghê tởm
khi nghe những tiếng thô tục, khi thấy những cử chỉ mất dạy. Nếu bọn con trai
kia, hay bọn khác mà biết được cái điểm tâm lý ấy thì chắc họ không dại gì mà
thô tục nữa.
Mà sở dĩ những cái bực mình nầy mà xảy ra, cũng chỉ tại Linh
Quy cả. Thường thì khách có say khướt cũng chỉ dám cợt nhã với chiêu đãi viên
thôi, thu ngân viên ở ngoài đám đất tung hoành của họ.
Bọn nầy tên nào cũng đẹp trai và ăn mặc chải chuốt khiến Linh
Quy có cảm tình với chúng, chịu để chúng bắt chuyện trong mấy ngày đầu rồi thì
việc ấy thành nếp lần lần và đó là những cái nếp cứng như được nhúng hồ rồi ủi
ép.
Những ngày vui đã hết và hễ tối lại là cả nhà
- bọn văn nghệ sĩ bấy giờ cũng được kể như người nhà
- nơm nớp lo sợ chuyện không hay xảy ra.
Những ông khách đứng đắn mà còn tới lui nơi đây chắc cũng nơm
nớp lo sợ như vậy nhưng họ chưa đi là vì còn tiếc không khí quán nầy.
Đêm hôm nay, một đêm thứ bảy đầu tháng, tức là đêm nhiều hi vọng
nhứt của các nơi giải trí, các quán ăn, các quán giải khát ở đô thành.
Hai Lọt đứng gần cháu, nhìn khách lần lượt vào quán, bụng vái
lầm thầm cho bọn trẻ ranh mà nhậu nhẹt li bì ấy dung tha cho ông ta một đêm.
Trước kia, ông gọi bọn văn nghệ sĩ là lũ quỉ ma, nhưng thành ngữ mà ông dùng
cho bọn ấy có nghĩa rất thân mật, mến thương. Thành ngữ lũ quỉ ma dùng gọi bọn
du đãng nầy bây giờ là dùng theo nghĩa đen thông thường với tất cả ghê tởm mà
thành ngữ ấy gợi ra.
Cũng thời phá phách, bướng bỉnh, nô đùa mà bọn đầu bù trang
nhã dễ thương chớ không phải vô duyên và thấy muốn bạt tai như bọn đầu láng
bóng nầy.
Lão chủ quán mỉm cười chào bốn cậu bạn mến, luôn luôn vào sau
năm ba ông khách đầu. Từ khi quán có khách trở lại, họ thấy khỏi cần tới thật sớm
để làm mồi hầu ủng hộ quán nữa, bởi vì tới sớm quá là một cái khổ dịch.
Lão ta nghe thương yêu bốn thanh niên nầy hơn bao giờ cả, và
xem họ như con cháu trong nhà. Mặc dầu ham tiền, lắm lúc lão mơ gả cháu lão cho
một cậu trong bọn nghèo xơ nghèo xác nầy.
Cụ Các và Bắc Hải cũng được lão quí mến lắm, nhưng không được
lão thương như thương bốn anh chàng điên một cách dễ cảm động nầy.
Cả bốn đều dừng bước trước quầy thâu tiền rồi cậu nào cũng
thò tay vào túi quần lấy ra một hộp diêm, đặt lên bàn.
Hai Lọt và Linh Quy lấy làm ngộ nghĩnh và chăm chú theo dõi từng
cử chỉ của bốn cậu, xem bốn cậu dở trò bất ngờ gì đây.
Hoàng luôn luôn ở trong tình trạng báo động, vội vã chạy đến
để can thiệp nếu có cậu nào ló mòi quyến rủ đứa em gái cưng của nàng. Dương
Châu hổm nay bị véo gần nát bấp vế nên đã tỏ ra một người anh rễ đàng hoàng, mặc
dầu anh ta vẫn còn mơ yêu cô gái Chợ Bưng. Tuy thế nàng vẫn vui với cả bọn và
như Hai Lọt và Linh Quy, nàng chờ đợi bọn nầy dở trò. Đan đố:
- Đố Linh Quy gì trong mấy hộp quẹt nầy ? Nhưng hãy khoan, để
anh đọc cái nầy. Tụi bây ơi, hôm kia tao đi Mỹ Tho, à không, Định Tường, cứ
quên địa danh tân tạo mãi, tao đi thăm bạn dưới ấy và bắt gặp tang chứng về một
cuộc ve vản của thằng Bắc Hải.
- Nó ve vản ai ?
- Lạ quá ! Nghe nói nó không ưa gái mà ?
- Không, nó ve vản Nàng thơ.
- À, ngỡ gì.
- Tao bắt được trong tập lưu bút của một nữ giáo viên một bài
thơ con cóc của nó.
- Có chép lại không ?
- Không, tao học thuộc lòng.
- Bảo thơ người ta là thơ con cóc, lại học thuộc lòng.
- Ấy, tao phải học thuộc lòng vì tao không có giấy bút trong
tay.
- Thơ ca tụng ống cối hử ?
- Không thơ như vầy:
Gởi gắm với bạn hiền
Vì túng tiền liên miên
Mười năm sau
Hết bê bối
Đi xe hơi mới
Ta sẽ viết dài thêm.
- Tuyệt ! Hiền khen.
Trong bọn, Hiền là kẻ uy tín nhứt về thơ, nên hễ hắn khen là
bọn kia đồng ý liền:
- Hay quá !
- Trào phúng rất có duyên !
- Than nghèo một cách hách một cây.
Đan đã trót chê vì không biết thưởng thức, ngẩn ngơ hỏi:
- Hay thật à ?
- Hay hơn tranh của mầy nhiều lắm.
- Vậy thì thôi, nhưng để đến năm l967 xem anh ta có hết bê bối
chăng.
- Chắc chắn là sẽ hết, nó có tài lắm.
- Tụi mình lại không có tài à ?
- Tụi mình có tài hơn nó, nên cứ sẽ bê bối trọn đời.
Đan lại day lại quầy và lặp lại câu hỏi khi nãy:
- Đố Linh Quy gì trong mấy hộp quẹt nầy ?
Con Bảy Rùa đã dạn Sài gòn, dạn bạn trai và sự ranh mảnh tinh
nghịch của gái quê đã có nhiều dịp trổ ngón sau quầy tiền nầy. Nó cười rồi đáp:
- Các anh đặt vật xong, phải để cho cậu của em đốt vàng bạc bỏ
vào đó, rồi em bịt mặt bằng khăn đỏ, uống một ly rượu xong, đọc vài câu thần
chú, đoán mới trúng. Nào, anh Tân mua ly rượu mạnh đi nhé !
Nó đã học một sách môt vở với bọn nữ chiêu đãi viên mà vị
giáo sư độc nhất truyền nghề ở đây bây giờ là Hoàng. Đó là thứ sách vở cổ điển
dạy rằng cứ gạ cho khách mời rượu mình, rượu càng mạnh, càng đắt tiền, càng
hay, không cần uống được hay không, bởi vì uống hay đổ, tiền vẫn từ túi khách
mà đi vào kết. Hôm nay nó nói đùa nhưng không đùa bằng lối khác mà đùa như thế
vì đã bị méo mó vì nghề nghiệp nên nghĩ ngay đến ý đó.
Đan rút ra ba điếu Oắt-Lăng dài, đốt như đốt nhang rồi van
vái lâm râm, đoạn nắm tay lại bắt ấn và hô:
- Âm binh trú lại ! Đó, anh đã làm xong thủ tục phù thủy, em
nói đi là vừa. Bà bóng thời nguyên tử khỏi uống rượu vẫn đoán trúng phong phóc.
- Thần chú gì mà "âm binh trú lại" ? Dương Châu hỏi.
Tao nghe họ đọc bằng tiếng Á Rập kia chớ.
- Rất tiếc là tụi bây không biết câu chuyện về lời thần chú
trứ danh đó. Nếu biết thì tụi mình đã được cười nãy giờ. Số là có một tư chức
cáp với một ả giang hồ về già. Hai cô cậu túng tiền nên xoay ra vợ làm ông Trạng,
chồng làm thầy phụ... Hễ mỗi lần gia chủ nào đặt vật là ông thầy phụ dở hộp vật
ra đốt vàng bạc bỏ vào đó, đoạn dùng ám hiệu hoặc khẩu hiệu mật truyền cho vợ
biết món vật trong hộp hầu nói cho đúng.
Hôm ấy gia chủ đó đặt một trái lựu rõ ràng vào một cái ô đồng.
Hắn cũng dở thủ đoạn đốt vàng bạc thám hiểm rồi hét lên câu thần chú mà tao vừa
đọc khi nãy. "Âm binh trú lại" là một câu có vẻ phù thủy lắm đấy nhé,
nhưng lại giúp cho con mẻ hiểu ngay trú lại là trái lựu.
Nhưng hôm đó tổ trác, nên khi khách hiếu kỳ hàng xóm, giúp
tay chủ nhà dở hộp ra thì lại thấy trong đó một trái... mảng cầu, kỳ lạ chưa !
Gia chủ và khách bèn áp nhau vác hèo rượt ông Trạng và chồng ổng
chạy trối chết một bữa.
- Mầy nói vô lý chớ. Lựu làm sao hóa mảng cầu được ?
- Sau, nghe lại thì chủ nhà đã nhờ một tay quỉ thuật chế tạo
một trái lựu giả, có tánh cách biến ra một trái mảng cầu, cũng giả, nhưng cả
hai đều giống hệt như thật.
- Nhưng mà ta đã đi xa đề quá rồi. Em Linh Quy đoán xem cái
gì trong bốn hộp quẹt nầy ?
- Cây diêm, Bảy Rùa nói bừa.
- Nếu diêm thì ai đố em làm gì ?
- Vé chiếu bóng.
- Nếu vé chiếu bóng thì là để biếu em đó. Nhưng biếu một lần
bốn vé thì phí của quá. Các anh không điên như vậy đâu.
- Em chịu.
- Đây là bốn món quà các anh đã phải lặn lội lên tận chùa ông
Tạ để tìm mà biếu em. Mà là quà thi đua mới quí chớ. Bốn món cùng một thứ, hễ
quà của ai to hơn hết, đẹp hơn hết là anh ấy quí em nhứt và em phải yêu anh ấy
nhé.
Nói xong, cả bốn đều mở hộp diêm ra. Bảy người châu đầu vào
nhau trên mặt quầy để xem món quà kỳ lạ mà bọn văn nghệ sĩ đã quảng cáo rùm beng.
Bốn con rùa vàng, thứ bọ có cánh tương tợ như rùa, thường sống
trên lá rau lang, từ từ bò ra khỏi hộp.
Màu vàng óng ánh của ba con và màu xanh lá mạ non của con thứ
tư lấp lánh dưới ánh đèn, trông đẹp như bốn viên ngọc quí.
Chỉ có Hai Lọt là thất vọng vì lão ta trọng tiền hơn bất kỳ
thứ gì khác và từ nãy giờ lão hy vọng họ biếu cháu lão một thứ nữ trang gì nho
nhỏ như chiếc cà rá chẳng hạn.
Hoàng và Linh Quy thì thích mê. Linh Qui còn trẻ con, năm
ngoái đây vẫn còn chơi rùa vàng với con nít trong xóm, và bây giờ rùa vàng gợi
nhớ làng mạc mến yêu, nó dường như ngửi được mùi sằn dã tiết ra từ thân những
con vật bé bỏng nầy.
Hoàng tuy đã già mà vẫn còn trẻ con như Linh Quy và nhứt là ý
thức bơn, nàng biết rằng ở đất Sài-gòn nầy mà tìm cho ra bốn con rùa vàng để
làm quà tặng bạn là cả một kỳ công và có tha thiết lắm mới lặn lội ra ngoại ô để
săn rùa.
Ngoại ô có nhiều quà quí hơn, nhưng họ chỉ chọn rùa vì họ
luôn luôn nhớ đến tên Linh Quy, tức là rùa; đó là một điều mà Hoàng thấy là rất
đáng kể nên nàng cảm động lắm.
Hai Lọt đã ngẩng lên rình khách, không còn thiết đến mấy nón
quà không đổi ra tiền được ấy; nhưng sáu đầu xanh vẫn còn châu lại với nhau để
theo dõi bước lần dò của bốn con rùa tí hon đang ngơ ngác trước một khung cảnh
lạ lùng.
Tiếng động cơ nhỏ nổ rền trời ngoài cửa mà sáu người mê say
rùa vàng vẫn không hay biết. Hai Lọt và những ông khách khác nhăn mặt rồi bịt
tai lại. Những kẻ xử dụng xe gắn máy nom thấy phản ứng của người trong quán,
thích chí hết sức nên lại còn cho máy nổ già hơn.
Khói của bảy chiếc xe đầu độc cả bầu không khí như tiếng nổ của
nó đã đầu độc sự yên tĩnh nơi đây.
Xem chừng hành hạ người ta đã đủ rồi, bọn nầy tắt máy và rần
rộ đi vào quán. Thấy bọn đầu bù bu quanh quầy thâu tiền và cả cô gái xinh xinh ngồi
kết cũng châu đầu với họ, chúng xáp lại, chen lấn để đứng sát quầy xem coi có
trò gì ngộ nghỉnh nơi đó.
Bọn du đảng không ghét bọn văn nghệ sĩ lắm như chúng đã ghét
các bọn du đảng khác, vì chúng quan niệm rằng bọn nầy lôi thôi như thế thì
không phải là địch thủ của chúng về mặt tán gái. Bọn nầy cũng không bao giờ
thèm nhìn chúng nên không hề gây mặc cảm cho chúng.
Tuy nhiên chúng vẫn không ưa họ được, vì họ đã dám là họ, tỏ
ra ta đây cũng khá bản lĩnh chớ chẳng vừa.
Chợt thấy bốn con rùa rau lang, chúng reo lên:
- A, ngộ quá ta ! Có, thứ nầy mà gắn lên áo cô kết-xe thì tuyệt.
Nói rồi một đứa lượm một con rùa vàng đoạn với tay đặt con
rùa lên vải áo choàng của Linh Quy, mà lại cố ý đặt đúng ngay vào chỗ lồi nhứt
trên ngực cô thu ngân viên nầy.
Linh Quy giận tím mặt hất tay gả ta. Gả cười ngất và cả bọn đều
cười rộ lên.
- Rùa leo núi tụi bây ơi !
- Nhưng có hai quả núi thì phải hai con.
Nói đoạn một đứa khác lượm một con rùa nữa, toan tái diễn cái
trò mất dạy của thằng thứ nhứt.
Linh Quy ngã người ra sau, hươi tay lia lịa và hét:
- Mấy anh không được phép chơi như vậy !
- Để anh gắn hột xoàn cho em mà em !
Tên ấy chồm tới thiếu điều nằm trên mặt quầy, quyết gắn rùa
lên ngực Linh Quy cho được mới nghe.
Dằn không được nữa, Tấn nắm lấy tay hắn. Ngạc nhiên vì lần đầu
tiên trong đời hắn, có kẻ cả gan dám có thái độ ấy, hắn nhìn Tấn giây lát, đoạn
trấn tỉnh lại, hắn cười gằn hỏi:
- Anh muốn gì ? Của anh hả ?
Ý hắn muốn hỏi: "Cô thu ngân viên là nhơn tình của anh
hay sao mà anh binh vực cô nàng như vậy".
Nhưng Tấn lại cố ý hiểu khác và trả lời khác đi, vì quyền sở
hữu về một cô gái mong manh quá, không thể dùng nó mà cải lộn để thắng ai:
- Là của tôi. Ai cho phép anh lượm lên ?
- A ha, anh nầy phách dữ ta ! Không biết bọn nầy hay sao ?
- Biết hay không, không quan trọng. Không ai được phép lấy
món gì của tôi mà không hỏi tôi.
- Quí lắm à ?
- Quí hay không mặc tôi.
- Nếu tôi cứ bắt rùa thì anh làm gì tôi ?
Hỏi xong, hắn không đợi trả lời, đè tay lên ba con rùa còn lại
rồi chà cho nát cả ba con.
Tấn đã buông tay tên ấy ra từ lúc nãy. Bấy giờ không còn biết
nói gì nữa với một con người du côn như thế, chàng giận run và đấm mạnh lên bàn
tay đang chà rùa của tên du đảng.
Tên nầy không ngờ mà Tấn mạnh đến thế. Quả đấm của chàng quả
là thôi sơn, khiến hắn đau điếng người.
Hắn buột mồm hít hà một tiếng rồi mắc cỡ với người đẹp, hắn vẹt
Dương Châu ra để lấy chỗ trống đặng đánh Tấn đang đứng sau người tình của
Hoàng.
Bị vẹt, Dương Châu day lại sừng sộ:
- Sao anh vô phép dữ vậy ?
- A ha, bọn nầy một lũ, muốn gây sự đây mà !
Tên nói câu nầy là tên đầu đảng của chúng. Hắn thêm: "Tụi
bây cứ tự vệ đi. Nhưng mà phải anh hùng. Hễ tụi nó mấy thằng ra mặt làm dữ, thì
tụi mình cũng chừng ấy đứa thôi, chớ không được đông hơn đa nhé !"
Bọn văn nghệ sĩ chỉ có hai "thằng" ra mặt là thằng
Tấn và thằng Dương Châu. Nhưng bứt mây động rừng, cả toàn đội của hai bên đều dự
chiến sau cuộc chạm đấm sơ sài của bốn tướng ở hai phe.
Trước quầy thâu tiền, một cuộc hỗn chiến gây ra, toàn bằng đấm
đá vì không phe nào có khí giới cả.
Linh Quy lần đầu tiên chứng kiến một cuộc xô xát trong quán,
chật đường đất mà đông người nên xem ghê rợn quá. Nàng ban đầu tái xanh mặt, rồi
giây lát sau kêu khóc rùm trời, chun núp dưới quầy, không dám nhìn họ nện nhau
nữa.
Bọn du đảng là thanh niên thành, lại không hay làm lụng, cũng
không tập thể thao, thêm thường trác tráng phí sức nên sáu trự mà coi mòi không
thắng được bốn thanh niên có tập luyện thân thể mỗi ngày trong nhà, theo lối Thụy
Điển.
Tuy nhiên sự thắng bại vẫn chưa phân, và họ nện nhau ành ành,
đá ngã rầm rầm những chiếc ghế quanh chiếc bàn đặt kế cận đó.
Hai Lọt cứ xấn rấn quanh đám giặc chòm ấy, muốn giảng hòa vì
đó là thái độ phải có của một người chủ quán, để khỏi mích lòng khách khác, phải
tỏ ra không binh ai, bỏ ai trong bất kỳ cuộc xung đột nào. Lão là một chủ quán
thạo nghề.
Hoàng tuy mới hăm lăm tuổi mà đã sống rất nhiều giữa không
khí quán lều. Nàng đã chứng kiến hằng trăm trận đánh lớn nhỏ, có võ khí hay
không, có đổ máu hay không, mà nguyên nhân toàn là vì gái cả. Nên chi nàng không
bối rối và mặc dầu sốt ruột mà thấy người yêu bị ọc, nàng vẫn tỉnh táo để làm
cái gì phải làm trong một trường họp như vậy: đi gọi cảnh sát.
Bọn du đảng thấy không làm xuể nổi bọn văn nghệ sĩ nên một đứa
trong bọn xách ghế lên mà đập. Người họa sĩ đã vẽ chân dung cho cô gái giang hồ
hoàn lương bị một cẳng ghề xán xuống đầu, máu trán của chàng phun lên thành vòi
cao.
Nóng ruột vì bạn, và vốn thấy rằng phải thắng không thôi sẽ
chết với bọn du đảng, ba chàng kia cũng kẻ xách ghế, người cầm vỏ chai băm ba,
nhào vô đập tới tấp.
Bấy giờ cả hai phe đền tự võ trang bằng bất kỳ món gì họ chụp
được, và không có anh nào ở cả hai bên là không vở trán hay sặc máu mũi.
Hai Lọt kêu trời như bọng, không phải vì tiếc vỏ chai băm ba
mà vì bao nhiêu khách ăn nhậu hằng ngàn bạc đều rùn rùn chạy đi hết, vài người
vì khiếp sợ, phần đông giả đò kinh hãi để quỵt tiền.
Bà Hai Lọt kêu cứu: "Bớ mã tà ! Bớ mã tà", nhưng bà
ta lại chạy ra sau, ngoài xóm chuồng bò để kêu la chớ không dám thoát ra do cửa
trước, thành thử nếu có cảnh sát gần đó, họ cũng chẳng nghe.
Đến hơn mười phút sau, khi bao nhiêu vỏ chai băm ba vở nát,
hao nhiêu cẳng ghế gãy lìa, Hoàng mới chạy bộ theo một cảnh sát viên, người nầy
đạp xe đạp, nhưng không hiểu sao lại đạp quá chậm.
Còn cách đó mấy mươi thước, y thổi tu hít vang trời, nhưng lũ
giặc chòm xem như không có y, cứ tiếp lục trận đánh kinh nóc tôn, động nền ván.
Nền ván đã bẩn máu, không còn là một tấm ván trinh bạch, mà bọn
thanh niên cũng không cậu nào lành lặn cả. Có một cậu bên đám du côn ngã gục xuống
và không dậy nổi nữa, nằm đó mà hứng miểng chai.
Cảnh sát viên tới trước cửa quán, hô to lên:
- Đứng yên, đừng có lộn xộn !
Nhưng cả hai phe đều càng lộn xộn hơn, họ cố tìm một sự quyết
định, trước khi bị bắt.
Cảnh sát viên bèn rút súng lục, bắn chỉ thiên ra ngoài mấy
phát, nhưng chẳng ăn thua gì. Tuy nhiên mấy tìếng súng chỉ thiên ấy không phải
hoàn toàn vô ích bởi đó là một thứ tiếng kêu gọi người đồng đội nếu những người
đồng đội có ở gần đâu đó.
Người cảnh sát viên nầy bắn xong, thọc súng vào vỏ da, đoạn
thót lên xe, ý chừng để đi gọi tiếp viện. Nhưng tiếp viện đã đến nơi: ba cảnh
sát viên đi xe đạp từ hướng chợ mới Trần Quốc Toản phóng nước rút xuống đây.
Người cảnh sát viên đầu liền bỏ xe, lấy ma trắc ra rồi đứng đợi
ba đồng đội kia, họ cũng làm y như vậy khi tới nơi rồi cả bốn hè nhau một tiếng,
xông vào quán. Một người dõng dạc hét:
- Có đứng yên hay không thì nói đi !
Bọn đánh lộn bây giờ mới chịu hạ võ khí, vi họ biết họ không
dịch nổi với bốn người chưa thấm mệt như họ, bốn người nầy lại có khí giới đáng
sợ hơn là ma-trắc nữa, với lại bọn du đảng cũng muốn bị bắt lắm. Chúng thích
đánh lộn, đánh rất hăng nhưng thiếu tinh thần, nên có gay cấn một hồi là chúng
thối chí và rất dễ bại.
Thà là bị lính bắt, chớ thua trận thì mất mặt quá, đối với
chúng.
Một ông cảnh sát viên cao niên hỏi:
- Ai là chủ quán ?
- Dạ bẩm tôi, Hai Lọt run sợ đáp như vậy.
- Chú cũng đi theo về bót nữa.
- Dạ tôi vô can.
- Thì điều tra xong mới biết chớ.
Đoạn ông ấy day qua ra lịnh cho nhơn viên của ông:
- Cho tất cả đi nhà thương cứu cấp của đô thành rồi về bót
sau. Gọi ba chiếc tắc xi biểu tài xế nó chạy chầm chậm để đợi xe đạp của ta. Thằng
nằm vạ, liệu nó nặng thật thì biểu tụi kia khiên nó lên xe.
Quán trống trơn sau khi đám giặc chòm bị cảnh sát đưa đi cả.
Hoàng vội đóng cửa ngay, trong khi bà Hai và Linh Quy ngồi khóc rấm rứt.
Người nhơn tình của Dương Châu nói:
- Không có gì đâu mà sợ, một lát ông Hai ổng về chớ có gì.
Bà hai khóc hu hu:
- Nhưng tiền bạc, không lấy được đồng xu.
Hoàng bật cười. Thì ra bà Hai khóc vì tiếc tiền chớ không phải
vì lo cho số phận của chồng bà.
- Thì cái nghề bán quán nó như vậy đó. Thỉnh thoảng gặp xui một
lần. May là ông Hai ổng vô can thật sự chớ nếu chúng nó mà thù ổng, chúng nó sẽ
đốt quán chớ chẳng chơi đâu.
Linh Quy lau lệ hỏi:
- Liệu các anh ấy phải ở tù hôn chị ?
- Ai biết đâu, cái đó còn tùy.
- Tùy gì ?
- Tùy cái thằng nằm dài trên sàn ván. Nếu nó chỉ nằm vạ thôi
thì không sao, chớ nếu nó mà chết thì là ở tù rục xương.
- Trời ơi ! Nhưng sao chị tỉnh rụi vậy ?
- Chớ khóc lóc có ích lợi gì ?
Đêm nay, Hoàng đi về xóm Sáu Lèo một mình. Nàng thả bộ vì từ
đây, có lẽ nàng sẽ trở lại cuộc đời gió sớm mưa chiều như trước và trong khi
chưa kiếm được tiền, phải hà tiện vậy.
Tới công trường Cộng Hòa, nàng do dự vài giây rồi quả quyết
mượn con đường Phạm Viết Chánh đang phóng dở chừng để qua Cho Thắng cho gần.
Khu này vắng vẻ lạ thường, mà đường mới vừa được đổ đất, rất
là khó đi. Những tảng đất sét to bằng cái nồi, không vững chơn, thường tinh nghịch
lăn đi, dễ trợt té lọi giò lắm.
Đêm tối dày mịch trước mặt nàng cũng như tương lai của nàng bắt
đầu từ ngày mai nầy
° ° °
Sáng hôm sau, hồi chín giờ, một cảnh sát viên đến mời cô kết-xe
lại bót để làm nhơn chứng cho cảnh sát lấy lời khai coi có phù hợp với lời khai
của hai bọn kia hay không.
Hoàng không có mặt ban ngày để mà trấn an cô thôn nữ nầy, cô
ta sợ quýnh lên, òa lên mà khóc. Con thỏ đế thứ thì là bà Hai, vì vậy phải thủ
vai người lanh. Bà mắng nó:
- Cái con nầy ! Nếu mầy có tội thì người ta đã bắt mầy hồi
hôm nầy rồi. Mầy phải tới bót mới được, để khai mọi việc, người ta mới thả cậu
mầy chớ! Có lẽ người ta nghi mầy là người dưng, ngồi đây để quyến khách bậy bạ,
cậu mầy khai sự thật mà ai tin. Người ta đợi mầy đó. Nè, tiền xích lô nè, kêu
xe mà đi.
Linh Quy không phải bối rối bởi lạ đường sá, vì người cảnh
sát viên đáng lý gì chỉ là người tống đạt giấy gọi, lại phần nào là người truy
tầm một nhơn chứng có thể trốn luôn. Trong giới nhơn viên quán tiệm có một số
người làm thêm những nghề không thể chấp nhận nên họ rất là không ưa bị cảnh
sát gọi.
° ° °
Quán Tai Heo anh hùng lâm đại nạn,
Nhưng "Xóm Sáu Lèo, thục nữ không quyết ra tay".
Hoàng không bạc nghĩa, không phải là không hết lòng với người
mà nàng yêu, nhưng "ra tay" cách gì bây giờ ? Nàng không quen biết lấy
một người tử tế, có bề thế phần nào để cậy họ vào bót bảo đảm cho Dương Châu,
mà cảnh sát cũng chưa đưa họ ra tòa mà nói chuyện đi chạy tiền để nhờ luật sư
biện hộ.
Tất cả sự "ra tay" của thục nữ thu hẹp lại trong việc
gởi bánh mì thịt quay vào tiếp tế bốn thanh niên gặp rủi. Mà việc giúp đỡ không
đáng kể ấy cũng đã là một gánh nặng cho Hoàng rồi, vì hôm sau Hai Lọt được trả
lại tự do thì một biến cố lớn xảy ra cho xóm nầy, nàng mất chỗ làm.
Bốn văn nghệ sĩ còn ở trong bóng tối có thể bị khép tội rất nặng.
Cả bốn đều không có công ăn việc làm rõ rệt, Dương Châu có viết báo vớ vẩn
nhưng viết những bài dĩa bay, hỏa tiển cóp trong báo Pháp thì không làm sao mà
xin được thẻ nhà báo.
Dĩ nhiên là họ đã khai họ là văn nghệ sĩ, nhưng ở xứ ta, đối
với phần đông, văn nghệ chỉ là công việc phụ mà thôi, không phải nghề giúp văn
nghệ sĩ sanh sống, trừ nghề diễn viên sân khấu cải lương, mà họ lại không là
kép cải lương mới chết chớ !
Cho đến đỗi trong cái địa hạt bị xem là phụ thuộc ấy, họ cũng
chưa có tên tuổi gì.
Tấn là một nhạc sĩ chưa hề sáng tác được lấy một bản nhạc nhỏ.
Hiền là một sự vô danh to tướng, còn Đan thì nếu hắn cho mấy ông cảnh sát xem
tranh của hắn, các ổng sẽ la trời vì ngỡ đó là một thằng điên nghịch với dầu
màu.
Không nghề nghiệp, trước hết, họ có thể bị khép vào tội du đảng.
Họ lại là những người tấn công trước.
Bọn du đảng chánh hiệu thì lại có giấy tờ hẳn hòi, chứng chỉ,
chứng minh thư năm ba cái mỗi đứa, có gian thì có ngoan, giấy tờ là bùa hộ mạng
của bọn nầy. Họ lại được xem như là nạn nhơn, vì lời khai của Hai Lọt và của
Linh Quy không gian dối, nhìn nhận bọn văn nghệ sĩ ra tay trước.
Nhưng sở dĩ họ bị giữ quá lâu là vì cái thằng được khiên tới
nhà thương, thằng ấy bị thương nặng thật sự, chớ không phải là nằm vạ đâu.
Nó bị đánh bằng chơn ghế trúng chỗ nhược nơi sọ và tiếp tục ở
trong tình trạng mê sảng rất lâu ngày, nhà chức trách đợi xem nó có chết hay
không mới cho vụ nầy ngã ngũ được.
Quán Tai heo, anh hùng lâm đại nạn.
Hoàng trôi giạt lên Phú Nhuận, ba tuần sau đó, tức hai tuần lễ
sau khi mất chỗ làm. Nàng không có căn bản hóa đá vọng phu, nhưng nếu có, nàng
cũng không thể bồng con đứng đợi mà được với cái bao tử.
Mặc dầu nàng có thể giữ liên lạc với bọn Dượng Châu được,
nhưng hết cả tiền bạc rồi, nên nàng chặt đứt luôn cây cầu. Bỏ bạn không
"nuôi", nàng sẽ phải ngỡ ngàng với bạn quá, thì cút luôn là thượng
sách vậy. Vã lại kinh nghiệm dạy nàng không nên quá tin nơi tình yêu của bất cứ
người nào bên nam phái, thì đợi Dương Châu trong đói khát, biết sẽ đi tới đâu !
Năm tuần lễ sau, bốn thằng điên văn nghệ được trả tự do vì
tên du đảng hấp hối, rốt cuộc rồi không chết.
Các vết thướng nơi trán, nơi mũi, nơi tay của họ đã lành,
nhưng những vết máu làm bẩn sơ mi của họ vẫn còn, thâm đen lại, và có thể sẽ
còn mãi mãi không thuốc tẩy nào mà tẩy sạch được.
Công việc đầu tiên của họ là trở lại chốn cũ để thăm những cố
nhân xem sao: Hoàng, Linh Quy, ông Hai Lọt.
Vô gia đình, họ xem ba nhân vật trên là nhưng người thân yêu
mà họ có bổn phận đi thăm trước nhứt. Không nhà cửa, họ xem quán Tai heo gần
như là nhà của họ, mến thương quán hơn nhà trọ thập bội.
Khi chiếc tắc-xi chở sái phép đến bốn người ngừng tại bồn
binh Ngã Bảy thì cả bốn đều rụng rời.
Xuống xe, đứng tại góc Lý Thái Tổ
- Phan Thanh Giản, họ thấy được xe cộ chạy trên đường Trần Quốc
Toản nhờ một khoảng trống trước kia có, rồi bị nhà cửa lấp đi và bây giờ nhà cửa
lại bỗng như biến mất thình lình.
Số là cái khúc đường Petrus Ký nối dài ấy đã được đổ đất từ
lâu rồi, nhưng dân chúng cứ tràn tới, dùng đất đổ đường làm nền nhà, khoảng trống
vừa được khai hoang có mấy tháng, sầm uất trở lại như cũ, xóm Chuồng bò trong ấy
cũng tiêu mất luôn.
Đây là cái biến cố lớn lao, nó biến Hoàng ra một cô chiêu đãi
viên thất nghiệp bị gió cuốn đi luôn. Hai Lọt về nhà mới có một hôm là được lịnh
dở cái quán cất bất hợp pháp ấy đi, lịnh nầy ra chung cho tất cả mọi người
choán đường.
Cả bốn đều tần ngần đứng nhìn đoạn phố đã được trải đá đỏ, và
những tảng đá đỏ to bằng cái nón ấy, đã được xe hủ lô cán bằng phẳng để rồi lại
trải đá xanh.
Tại hai góc mới, góc Lý Thái Tổ
- Petrus Ký nối dài, và góc Petrus nối dài
- Phan Thanh Giản, phu thợ nề lớp đang đào móng, lớp đang dộng
cừ tràm để cất nhà lầu. Nhưng bên trong, chưa có gì rục rịch và những nếp nhà lụm
thụm còn sót lại sau cuộc giải tỏa, đang ngơ ngác và ké né nhìn con đại lộ
tương lai mà tháng tới đây sẽ là một trục giao thông quan trọng được phủ nhựa,
rồi những nếp nhà lụm thụm ấy, tự nhiên, không có nhà chức trách nào giải tỏa họ,
họ cũng phải đi: người ta sẽ mua mắc nhà lá của họ để cất nhà gạch.
Không còn dấu vết gì của quán Tai Heo trên đời nầy cả ! Cả bốn
đều ngậm ngùi hình dung ra ba gương mặt thân yêu mà họ biết rằng khó lòng mà
tìm lại được.
Đó là những cùng đinh tăm tối giống như cỏ ngoài nội, cỏ nội
bị bứng gốc rồi thì không ai biết đâu mà tìm nữa. Cho đến đỗi đại mộc kia mà
còn
Đại mộc lưu giang bất đắc hồi cố giả
huống hồ gì là cây cỏ không tên.
Bức chơn dung của "cô Hoàng nữ chiêu đãi viên quán Tai
Heo", Đan vẽ xong, để lại quán, và chắc ông Hai Lọt đã mang theo để che
chuồng gà trong một xó nào đó tồi tàn hơn ở đây nhiều.
Linh Quy sẽ lấy chồng thợ sơn, hoặc sẽ bị cậu mợ của nó bán
làm bé cho lão nhà giàu nào, nó có thể sẽ ở nhà lầu, nhưng vì làm bé nên nó
không ló mặt đi đâu, và bởi thế mà cũng không thể tìm ra nó.
Còn Hoàng ? Cây điệp bông nâu trước quán đã bị đốn rồi, Dương
Châu không tìm thấy cây điệp bạn ấy nữa, nên tạm nhìn nuột cây khác trên lề đại
lộ Lý Thái Tổ, anh lính tiên phong hay hậu tập của một hàng điệp bông nâu trồng
trên lề đường nầy.
Có khi gốc tử đã vừa người ôm !
Mặc dầu ở đường Hoàn Lương, mặc dầu lấy chồng văn sĩ, Hoàng vẫn
không sao hoàn lương được.
Mà Dương Châu không phải chỉ nghĩ riêng đến Hoàng mà thôi
dâu. Chàng nhớ tới cả bảy tám đứa chiêu đãi viên trên Tuyết Hương, nhớ đến bao
nhiêu là những cảnh bèo trôi giạt như Hoàng rồi lại nghĩ tới phận mình, phận của
bao người bạn của chàng.
Không biết rồi họ sẽ có sự nghiệp gì hay không, hay là cũng
như Hoàng, như Linh Quy, họ sẽ chìm mất trong số đông không tên, không tuổi !
Chàng bước lên đống đất đào móng, đổ cao ngồn ngộn rồi gọi
bác cai phu mà hỏi:
- Bác cai nè ! Chắc bác không biết những người trong cái quán
cất tại đây giờ dời về đâu?
- Không!
- Nhưng sao họ dọn đi gắp dữ vậy?
- Gấp đâu mà gấp. Nhà nước đã báo trước ba bốn năm rồi mà họ
cứ ở lì đó, sau khi cất liều nhà cửa. Hôm ấy họ lại vác hèo ra đây để chống lại
với nhơn viên công lực nữa chớ!


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét