Tâm trạng Hồng 1
Cô Năm chiêm bao thấy cô bị chó rượt. Cô chạy mệt gần bứt hơi
thì giựt mình thức dậy.
Ai vừa tỉnh ác mộng cũng mừng được thoát nạn và nhứt là cũng bán tín bán nghi,
trong vài giây đầu, không rõ mình bị nguy thật hay chỉ là chiêm bao, không rõ
mình quả có thoát chăng. Nên chi thần trí của người nằm mơ vẫn cứ còn bấn loạn
trong suốt thời gian ngắn ấy.
Vì vậy mà khi nghe la, cô không cử động được mau lẹ như đã sắp đặt từ lâu. Từ
lâu rồi, cô có sắm một cây đèn pin, rồi đêm đêm, cô nhét đèn dưới gối, định hễ
có động là bấm đèn liền. Hà tiện, cô không chong đèn. Nửa đêm nếu có gì mò kiếm
được công-tắc đèn điện là mất đi cả buổi rồi. Vì thế, từ ngày thầy Năm qua đời,
ban đêm cô luôn luôn thủ sẵn món hộ thân đó; trong nhà có đờn ông lạ thì đề phòng bao nhiêu cũng chẳng thừa.
Ban đầu cô nghe tiếng cô hai Thiền hỏi nho nhỏ "Ai đây?". Không nghe
đáp. Cô hai Thiền lại hỏi to "Ai đây?". Cũng không nghe đáp lại. Rồi
thì cô ta la oái oái lên như thấy ma hay gặp trộm, gặp rắn gì ấy. Kế đó nghe tiếng
guốc bị ai đá chạy chuồi trên gạch.
Cô Năm, trống ngực còn đánh thình thình vì vụ chó rượt, bấy giờ rụng rời, không
cựa quậy gì được cả.
- Chị Năm ơi, thắp đèn lên mau nó. Cô hai Thiền la hấp tấp như vậy.
- Gì đó Hai, cô Năm ú ớ hỏi.
- Thì thắp đèn lên, mau đi mà, có thằng nào nó mò em đây nè.
Hai phút đồng hồ đã qua rồi. Tên ăn trộm ái tình có dư ngày giờ để về sào huyệt.
Bấy giờ mới nghe ngoài trước có tiếng diêm đánh vào hộp quẹt rồi giọng một người
đờn ông lớn tuổi hỏi :
- Gì đó các cô ?
Ánh sáng diêm quẹt lóe lên, tiếng guốc cạ gạch kêu sột-soạt, tiếng chơn ai bước
đi vài bước. Diêm lại tắt. Cây diêm thứ nhì cháy lên, rồi người đánh diêm đi lại
nơi vặn đèn.
Cắc... Cắc... Ánh sáng chan hòa buồng trong và buồng ngoài.
Căn phố cô Năm ở ngăn ra làm hai buồng như phần lớn phố Sài Gòn. Buồng ngoài
sâu sáu thước không chưng dọn bàn ghế gì cả ; đêm đến thì mở năm chiếc ghế bố
ra cho năm người đờn ông ăn cơm tháng nằm ngủ. Buồng trong sâu bốn thước ngăn
sơ sịa ra làm ba phòng nhỏ bằng giấy isorel. Cô Năm và hai cô gái khác, cũng là
người ăn cơm tháng, ngủ ở ba phòng nhỏ ấy. Chị ở thì ngủ sau bếp.
Năm kia, thầy Năm qua đời, cô Năm mới băm hai tuổi. Không biết nghề gì sanh
nhai, co xoay ra nấu cơm tháng. Phụ nữ ăn cơm tháng thì hiếm lắm, nên cô Năm phải
nhận cả đờn ông. Được cái là có hai cô khách hàng ngủ phía trong, mà một là cô
Thiền, em họ của cô, nên cô Năm cũng đỡ lo ngại phần nào.
Ông Phán Ca, người mở đèn, cởi trần và vận sà-rong, đứng nơi ngưỡng cửa buồng,
một chơn trong một chơn ngoài, hỏi lại lần nữa, giọng chẫm rãi, bình thản :
- Gì đó các cô ?
Cô Năm cũng đã ra khỏi buồng cô, và vừa bước qua buồng cô hai Thiền, cô vừa hỏi
một câu gần gần như vậy :
- Gì đó vậy hai ? Cô nói mau, giọng run run.
Cô hai Thiền, bấy giờ đã đứng xuống đất, đầu nhô lên khỏi đầu vách ngăn, tay bới
tóc miệng nói tía lia:
- Thật là quá lắm. Có một thằng khốn nạn nó cả gan vào đây mà mò em ; em la lên
nó chạy đi rồi.
Cô ba Anh ở buồng kế, cũng đã dậy từ lúc nãy, nhưng bấy giờ mới dám bước ra,
nói :
- Hú hồn hú vía. Tôi sợ quá trùm mền kín mít, không dám hó hé.
Ông phán Ca cười ha hả mà rằng :
- Đêm khuya gà gáy ó o. Thằng quỉ nào mà chơi rắn mắt vậy ? Tụi bây làm bậy bạ,
cô Năm cổ phiền, cổ đuổi đi cho coi.
Ông nói với bọn đờn ông ở ngoài, nhưng vẫn nhìn ba người phụ nữ bên trong. Bọn
đờn ông không bìết có nghe hay không, vì chưa ai rục rịch cả như là còn ngủ say
vậy, mặc dầu nãy giờ trong nhà đã ồn lắm rồi. Họ rất có lý do để mà im như vậy
: Anh chàng phạm tội, lẽ cố nhiên, làm bộ ngủ say; những anh khác, có thức cũng
chẳng dám hó hé vì sợ bị người ta nghi oan.
Và nín lâu chừng nào càng không dám lên tiếng chừng nấy, vì thức liền hay ngủ
say luôn, tự nhiên hơn là nín một lúc rồi ra mặt.
Ông phán Ca là người tuổi tác không ngại gì nên mới dám vào liền. Vả ông ngủ rất
sẻ thức, nghe động trước hơn ai hết, và lúc có tiếng la, ông chưa biết gì, chưa
toan tính thái độ, nên vào được tự nhiên.
Ông Ca là người phì nộn, da thịt hồng hào và rất vui tánh. Ông nhìn mãi cô hai
Thiền mà cười chúm chím, khiến cô nầy khó chịu và tức mình lắm. Chắc ông phán
đang nói thầm trong bụng : "Cô em ơi, có bị như vậy cũng đáng kiếp cho cái
tánh nhí nhảnh của cô. Trống không, ai dám đánh thùng, bậu không, ai dám dở
mùng chun vô".
Nhưng ông cũng an ủi một câu :
- Cũng đáng tiếc thật đó, nhưng nghĩ lại chưa có gì hại lắm thì cũng may, thôi
thì cô bỏ qua đi cho rồi.
- Bỏ qua làm sao được, cô hai Thiền xon xỏn cãi, tức lắm mà ! Làm như vầy ai mà
còn ở yên đây được. Tôi phải làm cho ra lẽ nội đêm nay tôi mới nghe cho...
Câu nói của cô Hai chưa dứt thì ngoài trước bọn đờn ông rục rịch lên tiếng hỏi
"Gì đó ? Gì đó?
- ...Tôi có bằng cớ đây nè, bắt nó như chơi, cô Thiền tiếp.
- Bằng cớ gì, ông phán Ca hỏi.
- Tôi níu rách túi áo trên của áo bi-da-ma của nó. Bây giờ xét liền, ai mà có
túi áo rách thì đích thị nó là thủ phạm.
- Chết rồi, chết rồi tụi bây ơi, ông phán Ca cười ha hả mà nói như vậy.
Bốn người đàn ông ở ngoài lần lượt vào buồng trong. Họ cùng hỏi: "Gì đó ?
Gì đó ?"
Không ai đáp và bốn người bên trong nhìn trân trân bốn người mới bước vào. Lạ
quá, cả bốn đều mặc bi-da-ma chớ không ai ở trần như thường lệ. Có lẽ những kẻ
cởi trần sợ bị tình nghi, đã vội vàng tròng áo lên. Nhưng không ai bị rách túi
áo trên hết. Ừ, nãy giờ thủ phạm đủ thì giờ đổi áo khi nghe cô Thiền hăm xét.
Ông phán Ca kể đầu đuôi câu chuyện cho họ nghe một cách vắn tắt mà đầy đủ bằng
câu hát mà khi họ chưa đến ông đã hát một vế :
"Đêm khuya gà gáy ó o.
Hỡi người quân tử vậy chớ mò đi đâu ?"
Mọi người còn làm thinh thì cô Thiền dọa tiếp :
- Chị Năm, chị giúp em làm cho ra nội đêm nay. Bây giờ ta đi xét rương, xét
va-ly của từng ngưòi.
Thầy tư Tê nói :
- Cô có quyền gì mà đòi xét rương của người ta ?
- Tôi có quyền, trong trường hợp đặc biệt nầy.
- Tôi không bằng lòng để cô xét.
- Không cho xét tức là sợ. Sợ tức là thủ phạm.
- lm, cô không được vu cáo. Tôi kiện danh dự đa !
Thầy tư nói giọng cà rỡn, vẻ mặt luôn luôn thản nhiên, nhưng cô hai Thiền thì tức
giận tím môi, tay run như đang lên cơn sốt rét. Đuối lý, cô ngoe nguẩy đi vô buồng
cô, rồi lại trở ra liền, tay xách chiếc áo dài, míệng nói :
- Để tôi đi gọi cảnh sát nghen chị Năm, coi ai ngăn đuợc tôi xét rương cho biết.
Tôi quyết lột mặt nạ tên quỉ ấy mới nghe, cho nhựt trình họ đăng hình nó lên để
cả xứ đều biết mặt mo của nó.
Cô Năm hoảng sợ chạy lại nắm lấy tay người em họ rồi lôi tuốt cô ta vào buồng
cô. Ngoài nầy
bọn đờn ông rút lui về ghế bố. Thầy sáu Bê ngòm ngoàm :
- Ðồ dịch vật, làm mình mất giấc nhủ.
Ông phán Ca đùa :
- Ai có tịch thì liệu mà thủ tiêu chiếc áo tố cáo ấy đi, kẻo lát nữa cảnh sát đến
thì không khéo lại vác chiếu ra tòa.
- Bộ chỉ có ngưòi đó là rách túi áo sao, thầy bảy Bê cãi ; áo ai lại không có
lúc rách túi.
- À, chắc là mầy rồi đa ;
áo mầy rách hả ?
- Thôi ngủ, sáng còn đi làm các cha ơi ! Thầy ba Hát khuyên như vậy, và cả bọn
đều im ; nhưng chắc không ai nhắm mắt được, nhứt là thủ phạm.
° ° °
Lôi em vào buồng, cô Năm nói nho nhỏ :
- Chị lạy, em đừng có làm rùm lên...
- Trời biểu em cũng không bỏ qua vụ nầy. Cô Hai la lớn lên như vậy.
- Em nên nghĩ tới chén cơm của chị mà thương hại chị, chị van em !
- Chị muốn kiếm một chục người khác ăn cơm tháng, em cũng kiếm giùm chị được.
- Em nên nhỏ giọng một chút và nghe chị đây : Đuổi họ đi thì chị sẽ đuổi, nhưng
tìm khách khác mà đờn ông thì nhứt định không. Chị đã lo sợ xảy ra chuyện không
hay từ lâu. Vậy nhơn dịp nầy chị từ chối khách đờn ông đến mãi mãi.
- Ừ, em sẽ rủ nữ sinh đến.
- Nhưng nếu nhà nầy bị tai tiếng thì còn nữ sinh nào dám trọ ở đây. Vì vậy chị
van em làm êm đi cho để chị còn kiếm được chén cơm hằng ngày.
- Nhưng em tức lắm, và ít ra cũng phải kín đáo gỡ mặt nạ thằng đó đặng em mắng
nó một hồi cho đã nư chớ.
- Được, chị đã có kế.
- Em giao cho chị đó, chị tra làm sao cho ra thì tra.
Suốt nửa phần sau đêm ấy không ai ngủ được cả. Cô ba Anh sợ quá, đòi chong đèn
thật sáng. Được toại nguyện, cô vẫn không dám nhắm mắt. Cô Hai Thiền là nạn
nhơn, nên cố nhiên là thao thức. Cô Năm chủ nhà thì bị đèn sáng chói quá, khó
chịu lắm. Bọn đờn ông phía trước thì bận rình nhau, xem có thằng nào len lén dấu
áo hay không, nên cũng thức luôn.
Sáng ra không khí trong nhà lờ lợ như hồi họ mới đến ở trọ nơi đây. Bọn đờn ông
thì sượng
sùng, còn bọn phụ nữ thì mắc cỡ. Đờn bà lạ quá, người ta làm bậy mà họ lại xấu
hổ, cái mới kỳ. Cô Năm cho chị bếp đi chợ thật sớm. Hai cô gái ngày thường thì
mượn chị nầy đi mua xôi mua cháo về ăn sáng tại nhà. Hôm nay vì chị nầy không
còn ở đó nữa, và vì cũng muốn lánh mặt bọn đờn ông, nên đi làm thật sớm. Có lẽ
họ nhịn đói luôn, vì chắc chắn là họ không dám ngồi tiệm.
Khi bọn đờn ông sửa soạn vừa xong, cô Năm bước ra nói :
- Quí ông, quí thầy ! Cái chuyện hồi hôm con em tôi nó quyết không nghe cái người
làm quấy đó. Nhưng tôi thì tôi muốn bỏ qua. Vậy xin quí ông, quí thầy liệu cho.
Ai có lỡ lầm trong giây phút thì ăn năn chừa lỗi và nhứt là nhớ thủ tiêu chiếc
áo ấy đi, kẻo con em tôi nó đợi tôi tra xét mãi không được, nó đi thưa bót thì
khổ. Hiện giờ nhà không aì hết, tôi lui ra sau bếp, ai có muốn lưu áo ra thì đi
trước, tôi thề không hay biết gì cả.
Thầy bảy Đê phản đối :
- Trời ơi, cô báo hại bữa nay anh em tôi đi làm trễ hết. Nói như cô thì còn ai
mà dám ra khỏi nhà nầy trước người khác.
Cô Năm cười rất vô duyên mà rằng:
- Thì tôi nói vậy, quí ông tùy liệu làm sao thì làm.
Nếu quả sắc đẹp là của trời ban cho thì cô Năm là một kẻ bị bỏ quên, không thừa
tự được một chút xíu mĩ miều nào hết của tạo hóa. Đã xấu xí, cô lại vô duyên đến
thấy mặt là phát ghét ngay. Mới có băm lăm tuổi mà trông cô già như người trên
bốn lăm.
Thế mà lạ thay, khi cô vừa nói xong những lời trên đây thi cả bọn có cảm giác
như là cô bỗng đẹp hẳn ra, không phải đẹp một vẻ đẹp vật chất mà nặng nề của
loài người, mà đẹp phúc hậu như Phật bà phủ hào quang. Rồi người nào cũng sực
nhớ đến tích ông vua gì ở bên Tàu ngày xưa ấy, một đêm kia hội quần thần và
cung nữ giữa một cánh đồng để thiết dạ hội. Trong lúc tiệc rượu tưng bừng thì một
trận cuồng phong thổi qua và tất cả đèn đuốc đều tắt. Giữa đêm tối, người ái
phi của nhà vua bỗng la hoảng lền. Khi đèn đuốc sáng trở lại thì nàng ái phi nầy
mét với nhà vua rằng có một vị quan đã làm xằng là ôm nàng ta lúc đèn tắt. Nàng
quí phi kiều diễm ấy đã lẹ tay bẻ được cái vảy mão của kẻ xúc phạm đến nàng và
nạp tang chứng cho nhà vua, nàng đòi truy nã kẻ phạm tội ngay tức khác.
Nhà vua chỉ mỉm cười rồi ra lịnh tắt đèn để diễn lại cái trò hồi nãy, nhưng hơi
khác một tí : lần nầy không có quí phi và tất cả những vị quan có mặt đều phải
tự mình bẻ vảy mão của mình mà vứt đi.
Khi đèn sáng lên, thì nhà vua và quí phi không còn biết cách nào truy ra thủ phạm
nữa.
Cho đến ông Phán Ca, người vui tánh và hay đùa thế kia, cũng kinh ngạc đến thừ
người ra mà nhìn trân bà chủ nhà mà lòng và mặt rất khác xa với nhau.
Cô Năm không hiểu họ nghĩ gì mà coi bộ họ lấy làm lạ dữ vậy, nên cô rút lui ra
sau bếp ngay cho đỡ khó chịu.
Trưa hôm đó, cô Năm không cho cả nhà ăn cơm chung như mọi ngày. Đờn ông ăn cơm
chung một buồng ở bàn ngoài ; ở đây dẹp ghế bố là được một buồng ăn rộng rãi, mở
bàn tròn xếp ra là xong. Bọn đờn bà ăn ở nhà bếp.
Năm ngưòi đờn ông vây quanh chiếc bàn tròn, cố mà vui vẻ ; ngày thường ai buồn
cứ mà buồn, ai mệt cứ mà bơ phờ ra, nhưng hôm nay mà như vậy thì họ nghi chết.
Thành ra ai cũng muốn tỏ cho người khác thấy là ta đây trên lương tâm không có
gì cả. Và mỗi người ai cũng sắp đặt sẵn một chuyện hay và dài để kể cho trám hết
bữa ăn hầu đánh tan không khí khó chịu.
Thầy sáu Bê vừa toan kể chuyện xe đụng ở Ngã Sáu Vẹt-Đon thì lão Phán già mắc dịch
vụt hỏi :
- Hồi sớm mai đứa nào đi sau hết ?
Thật là đáng ghét cái lão già nầy. Làm bộ bảnh hoài mà biết đâu cái thằng đi mò
hồi hôm lại không phải là lão. Ừ, có rất nhiều bằng cớ để tình nghi lão ta. Khi
cô Thiều la lên thì có mặt lão ở trong ấy trước hơn ai hết. Thức hồi nào mà chờ
sẵn để thắp đèn vậy ? Lão lại có cởi trần, phải chăng là vừa bỏ cái áo tố cáo
ra ? Còn tại làm sao mà lão cứ nhìn cô hai Thiền mà cười chúm chím lúc nội vụ vừa
đổ bể ra ? Lão già nầy không vừa gì đâu. Nghe lại thì trước kia lão có đến ba đời
vợ, và từ ngày góa bụa đi ở trọ, lão cũng chẳng tỏ ra tiên phật gì. Nội nhà phải
chăng là lão đi đêm thường nhứt và về khuya nhứt ?
Không nghe ai đáp, lão lại hỏi lần nữa :
- Hồi sớm mai đứa nào đi sau hết ?
Và tiên đoán không ai đáp mình, lăo thêm :
- Tôi thì tôi đi trước thiên hạ. Cô chủ cổ biểu ai muốn thủ tiêu áo thì đi trước,
nhưng thâm ý ý cổ ngầm biểu người đó đi sau hết. Ậy, nói như vậy cho đỡ ngượng
thằng đi sau mà.
Lão ta nói xong, cười ha hả, hết nhìn người nọ đến người kia. Thầy ba Hát giận
run, ra miệng:
- Tôi đi sau hết. Mà chưa chắc là để lưu áo ra ngoài. Bộ cái người đi trước hết
không thể đáo trở lại mà lấy áo à ?
Thấy không khí sắp căng thẳng, thầy tư Tê pha trò :
- Tôi làm thầy hít, đánh hơi một cái thì biết người bí mật đêm qua là ai.
Người bí mật ? Phải, thầy tư vô tình đã thốt ra danh từ đúng nhứt để chỉ người đó.
Câu chuyện hơi giống một phim trinh thám loại trưởng giả giới ở cái khía có người
bí mật, bí mật nhưng luôn luôn có mặt: một xác chết và bao nhiêu người hoạt động
quanh xác chết. Từ đám tân khách, viên thư ký, những người nhà, ai cũng có thể
là thủ phạm cả, tuy nhiên không làm sao biết được kẻ sát nhơn là ai. Hắn vẫn
qua lại trong khung cảnh đó, vừa có mặt, vừa vô hình.
Không để cho bạn hữu bị xao lãng vì cuộc pha trò mà thầy tư sắp đưa ra, thầy ba
Hát nói gằn từng tiếng :
- Người ta bảo tuổi già hay sanh ngụy, lời tục ít khi sai.
Cố pha trò để xí xóa mọi hiềm khích, thầy tư Tê chỉ ngay mặt thầy sáu Bê mà đề
quyết :
- Mầy chớ ai. Tao nhìn kỹ thì thấy mũi mầy hơi run rồi vẹo đi. Bà con coi kìa,
bị tôi đoán trúng tim đen, nó sượng ngắt và không dám ngước lên.
Quả thật thế, thầy sáu Bê bẽn lẽn như con gái, cúi gầm mặt xuống, rồi hai tai ửng
đỏ lên. Cả bọn nhìn người bạn trẻ nầy rồi cười xòa, quên hết giận hờn.
Sáu Bê là một anh con trai hiền từ và nhút nhát. Lời tục thường nói : "Núc
ních trật chín trật mười". Thầy ta thấy khách đờn bà con gái thì trốn mất.
Ngữ đó thì còn làm gì dám o mèo mà hễ không dám thì hay làm xằng. Và bây giờ bị
chỉ ngay mặt thì sượng. Thôi đích thị là thầy ta rồi chớ còn ai vô đó nữa.
Thầy tư Tê chỉ nói đùa vậy thôi cho ôn hòa không khí, nào ngờ nói đúng sao mà.
Thầy thương hại bạn quá nên chĩa mũi nhọn qua kẻ khác, một kẻ láu lỉnh, biết tự
vệ :
- Nói chơi vậy chớ tôi dám cá rằng thằng Đê là thủ phạm, chắc chắn như dê xồm
thì phải có râu. Có bằng cớ ràng ràng đây nè.
- Coi chừng tao kiện đa, bảy Đê hăm.
- Kiện còn mau chết nữa, đã bảo có bằng cớ kia mà.
- Bằng cớ đâu ?
- Nè ! Đêm hôm qua mầy cãi: "Ai lại không có áo rách túi." Thế nghĩa
là túi áo mầy rách. Mà tại sao nó rách ? Có phải là chính mầy đã vuột chạy rồi
bị cô Hai níu hay không ?
- Lý luận chặt chẽ lắm, thầy ba Hát khen.
- Chặt chẽ như cái gọng kềm làm bằng giấy bồi, thầy bảy Đê xì một cái rồi trả
đũa lại ngay. Nè, tao cũng có thể đưa bằng cớ kiểu đó để buộc tội mầy. Mầy là
thằng khả nghi số một. Lúc mới vào ở trọ nơi đây, mầy đã ló mòi, chọc ghẹo cô
haí Thiền nhiều lần, nhưng đơn của mầy không được cứu xét. Tuy thế, ai dám chắc
mầy chôn luôn mốì tình dê xồm của mầy ? Và phải chăng là chỉ có một mình mầy là
phản đối không cho họ xét rương ? Thấy rõ là mầy đã sợ quýnh.
Phải, thầy tư Tê cũng khả nghi thật. Mèo chuột của thầy ta thì khó lòng mà nhớ
cho xuể. Thầy ba Hát nhìn cả hai đối thủ ấy rồì nói :
- Hai anh đều có tỳ có vết, nhưng sao tôi lại cứ nghi ông phán Ca hoài. Đó là
do tánh linh thôi chớ không bằng cớ gì đích xác hết. Bây giờ tôi giao một điều,
hễ ai mà phạm đến đỉều đó thì kẻ ấy là người quân tử trong đêm rồì. Nè, tôi
giao hễ ai ăn miếng phao câu nầy thì ngưòi ấy là kẻ gian.
Cả bọn cười một cái rần. Trong dĩa thịt gà xào lăn, một cái phao câu bị chôn
phân nửa mình dưới đống bún Tàu nấm mèo. Thấy ông phán Ca toan gắp món ngon đó,
thầy ba Hát "kỳ đà"
bằng lời giao kết trẹo họng nầy.
Ông phán Ca cười khà khà và lật đật gắp cái phao câu mà lũm rồi nói :
- Đến mười cái, tôi cũng dám ăn, mặc kệ bị nghi nhiều lần.
Thấy thiên hạ tố lẫn nhau hăng quá, sợ làm thinh sẽ bị tình nghi nhiều, thầy
sáu Bê trẻ tuổi, nãy giờ lẳng lặng mà cười, bấy giờ mới mở miệng :
- Tôi thì nghi anh ba Hát...
- Bằng cớ đâu, Hát hỏi.
- Anh đẹp trai, lại được cảm tình của cô hai.
- Ờ...ờ...ờ... mắc cỡ không ? Nếu tao đẹp trai và được cảm tình của cổ thì cổ
làm thinh chớ sao lại la lên.
Sáu Đê thật thà nên đuối lý sớm quá, anh ta nín luôn.
Thầy ba Hát đẹp trai thật ; mà người đẹp hay đa tình ; phải chăng là thầy ?
Ông phán Ca lại pha trò :
- Bây giờ đem tụi bây mà lận mề gà thì lòi kẻ gian tức khắc.
- Mề gà, phao câu gì tía cũng ăn trụm một mình, thì lận tía chớ sao lại lận bọn
tôi, tư Tê phản đối.
- Không phải, tụi bây dốt lắm, lận mề gà là danh từ kỹ thuật riêng biệt mà.
- Nghĩa của thành ngữ ấy là sao ?
- Đó là một lối tra tấn của Pháp ngày xưa. Báo La Lutte có tả tỉ mỉ lối tra tấn
nầy. Nó bắt người bị tình nghi nằm sấp, trói hai tay hắn sau lưng hắn rồi từ từ
kéo hai tay bị trói ấy lên phía đầu hắn. Như vậy, các bắp thịt ngực của hắn bị
vặn vẹo lộn mèo, đau thấu ông trời xanh.
- Ghê quá, như vậy thì thà là chịu trước cho xong, không có tội cũng khai bừa
cho êm chuyện.
Ba Hát nói:
- Nếu làm như vậy thì nội bọn mình, ai cũng có cả, mà cho dầu cô Hai cổ bị thế,
cổ cũng sẽ khai là chính cổ đã mò cổ.
Cả bọn cười ngả nghiêng ngả ngửa.
Bữa cơm trưa đã xong. Chị bếp lo triệt hạ chén dĩa xuống. Bọn đờn ông đi ra sau
rửa tay rửa miệng. Câu chuyện trong bữa ăn giúp họ hả được sự đè nén, như là kẻ
có lỗi được xưng tội với ông cha, nên chi họ tự nhiên như thường. Khi thầy bảy
Bê bưóc qua ngang cửa nhà bếp thì chạm trán với cô hai Thiền. Thầy hỏi đùa :
- Cô có nghi ai hay không cô hai ? Đừng nghi tôi tội nghiệp nghen cô.
Bọn phụ nữ vẫn còn mắc cỡ, nghe pha trò như vậy thì bất bình lắm. Cô hai Thiền
nổi giận gây:
- Tôi nghi bất kỳ ai, cho đến khi nào tôi lột được măt nạ con quỉ đó mới thôi
nghi. Mà thầy đừng có làm bộ ta đây can đảm, dám hỏi đùa, tức là ta đây vô can.
Hừ, kẻ gian chừng nào càng làm bộ tỉnh chừng nấy.
Thầy bảy Đê cụt hứng, và từ đó, hai phe nam, nữ không trao lời trao mắt với
nhau nữa.
Hai ngày đã qua. Ngày nào cô hai Thiền cũng hỏi thăm cô Năm coi đã tra xét
chưa. Cô Năm luôn luôn đánh cù cưa, nói để thủng thỉnh sẽ hay. Chiều ngày thứ
ba là ngày cuối tháng, cô hai hỏi :
- Hôm nay họ trả tiền. Chị đã biểu họ dọn đi hay chưa ? Khổ quá, họ đi thì em
không hả giận được vì chị chưa truy ra tên thủ phạm.
Cô Năm thở dài đáp:
- Chị không có biểu họ dọn đi.
- Sao lạ vậy ? Chớ chị đã quên dự định đem nữ sinh vào thay thế họ à ?
- Chị không quên, nhưng chị định không làm như vậy nữa.
- Trời ơi ! chị tiếp tục nuôi ong tay áo à ? Chị lại giết em bằng cách không
cho em rửa thù. Thôi, em đi thưa cảnh sát, mặc kệ chị.
- Vô ích, chị đã làm lơ cho họ lưu áo ra ngoài rồi.
- Trời !
Cô hai Thiền đấm ngực cô một cái rồi ngã vật lên giường của người chị bà con, đập
tay xuống nệm thình thình và kêu trời liền miệng. Giây lâu sau, cô mắng cô Năm:
- Chị thật không biết điều chút nào hết. Chị ham tiền, không kể phẩm giá của bà
con em út. Cũng may là em chưa bị hại... Nhưng chị dại lắm, tiền, em đã hứa
giúp chị kiếm được dễ dàng kia mà.
- Em mắng thì chị ngậm câm mà chịu. Chừng nào em dịu rồi sẽ hay. Nhưng chị cũng
cần đính chánh ngay cho em rõ là chị không vì tiền đâu. Sở dĩ chị có thái độ đó
chẳng qua là cũng vì thương người mà thôi
- Thương người ? Vậy ra người bậy cũng thương nữa sao?
- Người bậy cũng thương để cho họ cảm mến mà cải ác tùng thiện. Vả lại tội nào
lại không có trường hợp giảm khinh.
- Chị nói tức quá. Thật chị không biết phải chút nào hết. Thôi mặc chị, bây giờ
không mong trừng trị chúng nó, em cũng quyết đập thùng đập trống cho bọn nó
mang xấu chơi. Rồi chị đừng có trách em nghen.
Cô Năm nhìn người em họ mà thương hại. Cô hai Thiền nầy đẹp lắm, nhưng lại đẹp
một vẻ đẹp lẳng và tánh tình cũng thế. Cô biết rõ em cô cũng chẳng trong sạch
gì đó, nhưng mà khó nói ra quá, những nhận xét tỉ mỉ của cô từ mấy ngày rày.
Nay nghe em cô tính chuyện làm rùm, cô thấy là không thể nín nữa được. Cầm tay
em, cô nhỏ nhẹ mà rằng :
- Nầy em, chị mà bỏ trôi vụ nầy là, như đã nói, vì lòng thương người. Nhưng
cũng vì danh tiết của em nữa đó.
- Danh tiết của em ? Thế làm rùm thì họ cười em chớ không cười bọn nó à ? Em
nói cho chị biết, xưa khác nay khác. Đời xưa con gái bị cưỡng hiếp thì giấu
luôn, đời nay nó đi kiện tới Tòa áo đỏ. Em mà có bị ô nhục rồi, em cũng dám làm
rùm nữa à chị. Nhưng em đã bị gì đâu !
- Phải, chị dư biết điều đó, nhưng em lại ở vào trường hợp khác.
- Thì càng nên làm rùm, vì em chưa bị gì hết.
- Không, em đã bị nhiều lắm.
Cô Hai nhìn chị mà ngạc nhiên. Cô Năm chẫm rãi nói:
- Có những điều rất khó nói ra nhưng chị buộc lòng phải nói, vì em đã đẩy chị
vào ngõ bí. Chị nói ra xong chắc em mắc cỡ mà oán chị lắm. Nhưng thương em
không biết bao nhiêu, chị không chê cười gì em đâu, em đừng hổ thẹn rồi lạt
tình bà con.
Cô Hai nghe qua thì đâm lo, nhưng nghĩ mình không làm gì nên tội, cô an lòng lạì
được và hỏi:
- Em sốt ruột quá, chị nói mau thử coi.
- Tại sao đêm hôm đó em không hoảng sợ la oái oái liền, mà chỉ bình tĩnh hỏi
nho nhỏ : "Ai đây ?" thôi. Em có la thật, nhưng không la ngay mà chỉ
la một lát sau đó thôi ?
Cô Haì điếng người đi. Nơi ta có nhiều tâm trạng và nhiều biến chuyển tâm trạng
vi tế quá, mà chính ta cũng không nhận thức được. Tại sao cô Hai có tháì độ ấy
? Ắt hẳn là có lý do, nhưng lý do đó tế nhị và phù du quá nên cô cũng quên luôn
nếu cô đã nhận ra nó đi nữa. Cô Năm ở ngoài cuộc, lại cần suy xét nhiều để lập
thái độ, nên đã truy ra lẽ sâu kín đó. Cô nói tiếp :
- Nếu đưa nội vụ ra ánh sáng, cảnh sát điều tra, sẽ hỏi em câu đó, em mới trả lời
làm sao cho trôi. Rồi vì hời hợt, nông nổì, người ta sẽ kết luận rằng em có hẹn
với một người và đang chờ người đó nên mới bình tỉnh mà hỏi nho nhỏ như vậy. Thế
thì còn gì là danh tiết của em.
Cô Hai giựt mình rồi ôm mặt mà khóc òa, giây lâu mới nói được :
- Trời ơi, oan cho em quá ! Nào em có hẹn với ai đâu ? Chị nghi cho em như vậy
tội nghiệp em lắm. Em thề...
- Không, chị không nghi như vậy đâu. Chị dư biết là em không có gì bậy bạ, ít lắm
là từ khi về ở với chị. Chị chỉ nói thí dụ thôi, tạm đoán là kết luận của những
người hời hợt nông nổi thôi.
- Khổ quá chị ơi, em cũng không hiểu tại sao em không tri hô lên liền.
- Chị thì chị hiểu.
- Chị hiểu ? Chị hiểu em hơn em hiểu em ?
- Đây nè, em đang có cảm tình với một người đàn ông trong nhà nầy, và em biết
chắc người đó cũng đang có cảm tình với em. Người bí mật ấy cũng rõ tâm tình em
đối với hắn. Trong tình thế đó, hắn mà tỏ tình là xong ngay. Nhưng hắn bậy lắm,
đã làm xằng. Có lẽ hắn là một anh chàng thiếu kiên nhẫn hơn là một kẻ nhút
nhát. Kẻ nhút nhát ưa gởi thơ, nhưng kẻ nóng tánh lại hay làm ẩu. Mà sở dĩ hắn
dám cả gan làm xằng cũng vì hắn đinh ninh sẽ thành công ; hắn biết rõ tình
trong của em kia mà ! Chị thí dụ hôm ấy em giựt mình thức dậy vào giữa đêm
khuya ; em vừa nghĩ đến hắn thì hắn men tới. Em đoán là hắn, vì em thầm mong đợi
hắn, và trong giây phút mơ mộng ông "hoàng tử", em quên nhận thấy cái
khả ố của một cử chỉ như vậy, mà lại sẵn lòng tiếp đón hắn. Nhưng là gái, em cẩn
thận, kiểm soát lại coi có phải thật là hắn hay không. Em vừa hỏi lấy lệ
"Ai đây", vừa mò kiếm một dấu vết gì nơi hắn, một chiếc nhẫn quen mắt
chẳng hạn. Nếu em đã tìm được thì em đã êm luôn và thất thân với hắn rồi. Ấy,
vì nhũng lắc léo tình cảm đó, nên đờn ông họ mới dám đi mò, chớ họ dại gì mà
làm chuyện điên ấy. Thường thường thì họ thành công, nhưng lắm khi cũng leo cây
như trong vụ nầy.
Đêm ấy chính thật là hắn đó, nhưng rủi ro cho hắn, là đêm đó hắn rời cái dấu hiệu
kia vì lẽ gì đó chưa biết được. Tìm không ra căn cước kẻ mò em, em mới đâm sợ,
hỏi xẵng và to: "Ai đây?". Hắn hoảng, ngỡ em cự tuyệt, nên làm thinh
rồi chạy đi vì em lại la lên.
Mặt cô Hai đổi sắc lần lần. Ban đầu cô còn mắc cỡ khi bị chị nói đúng tim đen,
nhưng người chị phân tách sâu vô chừng nào, thì cô càng sợ chừng ấy và không
còn biết hổ ngươi nữa. Trời ơi, cô nghĩ, quả thật thế, không sai một mảy may
nào hết. Trời, lòng người kín nhẹm thế kia mà có người cũng trông thấu suốt được
như trông vào đáy một cốc nước mưa à ? Cô nắm chặt tay chị, siết mạnh để tỏ
tình biết ơn. Cô Năm hiền từ tiếp :
- Em coi, người bí mật ấy xằng thật đó, nhưng cũng đáng tội nghiệp. Người ta hư
danh lắm khi cũng vì vài giây rủi ro thôi, nên để họ suy nghĩ mà hối lỗi. Như vậy,
chị tha hắn, có phải vì quá dễ dãi, hoặc vì quá tham tiền như em ngỡ đâu.
- Nhưng cũng không chắc đêm đó chính là hắn.
- Không thể là người khác được. Nếu như là người khác, thì loài đờn ông ngu
không thể tưởng tượng được: khi không lại dám đi mò người ta. Mà sự thật thì họ
không ngu lắm đâu.
- Cái người mà chị bảo là bí mật đó, chỉ bí mật đối với chị thôi, riêng em, em
biết hắn là ai rồi.
- Cố nhiên là em biết liền ngay sau khi nhận sự phân tách của chị là đúng.
Nhưng chị cũng đã biết hắn là ai rồi.
- Chị đã khám phá được bằng cớ gì ?
- Không có bằng cớ gì cả, chị chỉ suy luận mà đoán ra người đó thôi.
- Ai đó vậy ?
Cô Năm kề miệng sát tai cô Hai rồi thì thầm vài tiếng. Cô nầy mỉm cuời mà rằng
:
- Đúng là hắn.
- Không phải thánh, đoán cũng được. Nội nhà, chỉ có hắn là đẹp trai nên em mới
cảm. Em có tiếc không ?
- Tiếc gì ?
- Hai người yêu nhau mà rủi lỡ cuộc....
- Không lỡ đâu chị. Em lại còn mừng mà đã la đêm đó. Hắn thấy em đoan trang và
sẽ yêu em hơn.
- Em lầm. Hắn ngu gì mà không nhớ ra rằng em đã mò kiếm dấu vết, và ngu gì mà
không nhớ rằng em đã do dự trước khi la lên.
- Nhưng em mò kiếm dấu vết của hắn chớ của ai.
- Hắn biết đâu được. Hai người chưa đi lại với nhau lần nào kia mà. Hắn có biết
đâu rằng em chú ý đến chiếc nhẫn của hắn. Em có thể mò kiếm chiếc nhẫn của người
khác. Điều chắc chắn là chính hắn bị cự tuyệt.
Cô Hai làm thinh, mặt buồn dàu dàu.
Mười hôm sau, một tai họa xảy đến cho cô Năm. Cô đi chợ thay cho chị bếp một bữa.
Khi băng ngang qua đường, cô bị một chiếc xe mười bánh ủi té nhào rồi cán lên
cô. Khi người ta chở cô vào nhà thương thì bác sĩ bảo rằng chơn mặt cô bị cán dập
nát không thể để được.
Hai tháng nằm nhà thương, cô ra về, nách kẹp nạng, cẳng gỗ nện lên đường kêu cồm
cộp. Mặt cô cũng mang nhiều vết thẹo dài và sâu, trông cô càng xấu xí hơn xưa bội
phần.
Ở nhà, khách đờn ông đã cuốn gói đi hết. Họ vốn muốn đi từ lâu rồi, nhưng sợ bị
nghi nên làm mặt chai mày đá mà ở lại. Bấy giờ, nhơn dịp cô chủ thọ nạn, không
ai lo việc nhà chu đáo, họ thoát được tự nhiên.
Hai cô gái thì ở lại, tự nấu lấy mà ăn vì chị bếp cũng dông mất.
Cô Năm rủn chí muốn chết đi cho xong. Bây giờ thật không biết làm sao mà sống
được nữa vì tiền đã cạn, lại không ai đi chợ mỗi ngày, cái công việc mà khó
lòng giao cho một chị bếp vì hạng người nầy ăn truất tiền chợ dữ lắm.
Ngày kế hôm về nhà, cô đang ngồi nhai trầu bỏm bẻm tìm mưu thì có người dì của
cô đến thăm.
- Cháu à, dì đến đây thăm cháu mà cũng để làm mai cho cháu đó.
Cô Năm cười ngất. Cô thấy lời của dì kỳ dị quá để có thật.
- Dì nói thật mà. Dì vừa làm mai trong vừa làm mai ngoài. Người đi nói cháu
không ai đâu lạ hơn là thầy ba Hát, trước ăn cơm tháng ở đây.
Cô Năm kinh ngạc đến muốn chết sửng ra. Thầy ba Hát có đến thăm cô lúc cô nằm
nhà thương nhưng ai có dè được rằng thầy ba trả ơn bẻ vảy mão môt cách xứng
đáng như thế. Qua cơn thất thần, cô Năm nhận thức được sự chinh lịch quá sức ở
bề ngoài, giữa hai người, nên thối thác. Bà dì vội cắt nghĩa :
- Mới nghe nó đề nghị, dì cũng ngỡ nó nói đùa, toan mắng nó. Nhưng sau biết ra
thì nó thành thật hơn ai hết. Dì không hiểu được lẽ gì đã xui nó xin cưới cháu,
nhưng chắc chắn là nó không lầm: nó dư biết cháu xấu xí, lại nghèo. Khi mà người
ta đâm đầu vào một chỗ chết như vậy, là người ta đã có lý do mạnh và vững lắm,
cháu khỏi lo hạnh phúc không bền.
Nửa tháng sau đó ở Sài Gòn có môt cái đám cướì mà cô dâu chống gậy đi lửng chửng
bên cạnh một chú rể đẹp trai vô cùng. Người ta đoán rằng cô dâu xấu mặt nầy
giàu to và chú rể là một anh chàng đào mỏ số một.
Cô Hai có dự đám cưới ấy. Không bao giờ cô thấy đức hạnh quí giá bằng hôm đó,
và không bao giờ cô thấy lòng nhơn quí giá bằng hôm đó. Lòng nhơn của chị cô đã
biến đổi một người
và đã đưa chị lên một địa vị mà chị không hề dám mong mỏi.
Trong đêm tân hôn, cô dâu cẳng gỗ hỏi chú rể đẹp trai :
- Đêm ấy chiếc nhẫn anh không có đeo à ?
- Xui xẻo quá, ban chiều anh vuột nhẫn ra để tắm, rồi quên đeo trở lại.
- Anh bậy lắm.
- Vì thế anh mới hối hận và tự nguyện sẽ làm một cái gì để chuộc tội với lương
tâm.
- Thành ra trong hôn nhơn nầy không có tình mà chỉ để chuộc án thôi ?
- Tình sẽ đến về sau. Anh có một người vợ lòng quảng đại như lòng bà tiên, anh
còn mong gì hơn.
Bổn cũ soạn lại
Ông hội đồng Thạch từ dưới Bặc-Liêu lên thăm con học ở
Sài-gòn.
Anh Sanh ấy đánh điện về nói bị cúm nặng nên không thi tú tài phần nhứt được, lại
còn xin ba ngàn để uống thuốc.
Ở tỉnh, ông đọc báo, thấy nói bịnh cúm mà lạnh mình. Mặc dầu bị hù đến khiếp đảm,
ông cũng mạo hiểm lên thủ đô để thăm con.
Nhưng lên đến nhà trọ nơi Sanh ăn cơm tháng thì nghe người bà con chủ nhà nói
Sanh không có cúm két gì cả và đi chơi ba ngày rồi chưa về.
Ông Thạch lại trường hỏi thăm, gặp ông đốc. Ông nầy châu mày nói :
- Ứ hự ông ơi, thiên hạ a tùng với bịnh cúm dữ lắm, cả người lớn nữa, người làm
việc kìa, chớ không phải chỉ có học sinh không mà thôi. Không chừng họ sẽ dựng
tượng cho bịnh cúm mà coi!
Ông hội nằm nhà trọ đợi luôn ba bốn bữa mà Sanh vẫn biệt dạng.
Tức mình, ông lẩm bẩm: "À, mầy cúm à ? Tao cho mầy co luôn, tao cúp viện
trợ cho mầy biết tay !"
Lẩm bẩm rồi cằn nhằn, rồi than trời trách đất, đoạn ông từ giã chủ nhà ra về.
Ông không quên ghé thăm Phán Đậu, bạn học thuở nhỏ. Câu chuyện giữa đôi bạn già
nầy cố nhiên là quanh quẩn quanh vấn đề con cái học hành.
Phán Đậu có phước quá, trai đầu lòng đậu tú tài toàn phần, con gái thứ đậu
trung học đệ nhứt cấp Pháp.
Ông ta vốn là bạn thuở nhỏ của hội đồng Thạch, hai người thương mến nhau lắm,
ông ta lại có chịu ơn nặng của vợ chồng ông hội đồng, lúc tản cư, cách đây mười
năm, nên ông tìm đủ lẽ để an ủi bạn.
Nhưng ông Thạch không bị thuyết lý về lý lẽ nào cả. Ông thở dài mà nói:
- Làm ăn được tiền rơi bạc rụng như tôi cũng chẳng làm gì. Phải chi tôi mua sự
cần mẫn cho nó được thì bạc vạn tôi cũng không tiếc.
- Tốn tiền không phải là phương pháp hay và hiệu quả. Nhưng lắm khi dám tốn
cũng thành công được.
Ông bạn cầm ông Thạch ở lại chơi một đêm để nói chuyện cho phỉ tình, vì họ ít gặp
nhau lắm.
Sáng ra, họ chia tay vui vẻ. Ông Thạch hình như mừng bạn rồi quên rầu về con.
Ông hẹn năm bảy lần rằng năm tới sẽ lên thăm ông Đậu nữa.
Trong khi đó thì cậu Sanh về nhà trọ ngủ luôn một ngày, một đêm, và thêm nửa
ngày nữa mới dậy nổi.
Chủ nhà cho cậu hay là có ông Hội đồng lên thăm cậu, đợi cậu đến mấy hôm liền.
Nghe xong, cậu toát mồ hôi muốn cúm thật sự và tự nguyện từ rày không dại đi
luôn nữa, mà sáng đi, chiều về cho khỏi gặp rủi ro như vừa rồi.
Các trường tư, qua đến mùa thi, đã bãi học. Nhưng cậu Sanh không về Bặc-Liêu,
mà đóng tiền các lớp tăng cường để học thêm. Ông Thạch hăm he dữ như vậy nhưng
vẫn để tiền lại tiếp tế cho cậu.
Như đã định, cậu Sanh sáng nào cũng ôm cặp ra đi.
Ở Sài Gòn, bất kỳ giờ phút nào ta cũng gặp học sinh ôm cặp đi cả, và bất kỳ ở
đâu cũng có học sinh. Việc đó có nhiều lý do. Các buổi học ở các trường khác
nhau, có nơi học bảy giờ, có nơi học tám, chín giờ, nơi học một giờ trưa, nơi lại
học ba bốn giờ chiều.
Nhưng trong số lớn đi học thật tình, cũng có đôi ba cậu đi học theo lối cậu
Sanh. Không ai để ý đến họ cả, vì chính giờ giấc các nhà trường rất là phiêu
lưu như đã nói trên.
Tuy thế, nếu có người quan sát kỹ thì họ sẽ ngạc nhiên tại sao có người ôm cặp
vào sở thú từ bảy giờ đến đúng ngọ. Trong khoảng thời gian ấy, không có giờ nào
trường mở cửa à ? Và nếu không thì ở nhà. Còn đi dạo sao lại ôm cặp ? 1
Trưa hôm đó, hồi một giờ rưỡi, Sanh đứng nhìn mê hai đứa bé độ mười hai tuổi
chơi trò Tạc-Dăn dưới gốc da, sau tòa án.
Trong sân sau tòa án, gần góc rào, có một cây da lâu đời, có lẽ mọc lên đâu hồi
Tây mới lại.
Từ những nhánh ngang, rễ thòng xuống tìm đất như những cặp lạp xưỡng dài treo
phơi khô. Vài cọng rễ chưa tới đích, còn non mềm, đánh đòng đưa trước gió.
Hai thằng bé, dáng chừng là học sinh vì thấy có cặp nhỏ để dưới cỏ, tại gốc da,
leo rào vào đó rồi đánh đu ở mấy cái rễ hổng chơn ấy mà xích tới xích lui như Tạc-Dăn
trong phim xích dây leo trong rừng để nhảy cho mau từ cây nầy qua cây khác.
Sanh thèm chơi như vậy lắm, nhưng cậu ta đã quá tuổi rồi, và lại đã biết sợ cảnh
sát, nên chỉ đứng ngoài mà nhìn như đứa bé nhìn những hũ kẹo trong cũi đồ ăn có
khóa.
Hai đứa bé làm Tạc-Dăn mãi, chừng đâm chán, nên xoay ra làm xiệc. Đứa bên nây
xích qua, đứa bên kia xích lại và khi hai đứa gần đụng nhau, thì chúng đưa tay
mà đổi dây. Dây bị đổi vật treo, vẫn tiếp tục sự di chuyển.
Hai sợi tréo nhau thành hình chữ X: hai đứa bé giống hai trái đồng hồ, nhưng
chúng không kêu tíc-tắc lại hát:
"Hò dô ta, nầy anh em ơi !"
Bỗng một đứa sút tay, rớt cái bịt như trái mít rụng. Sanh giựt mình mà nghe một
tiếng cười trong trẻo gần cậu.
Cậu ngó lại thì ra đó là một nữ sinh, có vẻ đồng chí của cậu lắm, vì vào giờ nầy
mà còn ở đây thì khả nghi quá. Các lớp, nếu không mở cửa hồi một giờ rưỡi thì
cũng mở hồi 2 giờ, mà nếu đi học 2 giờ thì đã lo mà đi, chớ đâu lại xem xiếc.
A ha, nơi đây là chỗ đồng chí gặp gỡ, hai đồng chí lớn xem hai đồng chí tí hon
làm trò xiệc. Nhưng cô nữ đồng chí nầy phải đồng tâm mới được !
Sanh nghĩ như vậy và quyết định làm quen cho biết cô ta có phải là đồng tâm với
mình chăng.
Cô bé kẹp tóc chớ không uốn như các cô gái khác. Đời bây giờ, con gái lớn mà
còn kẹp tóc là một sự lạ mắt và chính cái lạ mắt ấy khiến Sanh thích lắm. Sanh
càng thích vì cô gái mặt mày hiền từ thùy mị, chớ không lanh lợi lắm như bạn đồng
học với cậu.
Mấy cô quá lanh lợi, nếu có gợi tà tâm của cậu thì có, chớ chưa hề làm cho lòng
cậu xôn xao như gương mặt cô nầy.
Cô ta da trắng, để tự nhiên, lại mặc áo dài trắng, một màu trắng tinh tuy không
làm nổi nước da, nhưng lại gợi những gì tinh anh trong sạch lạ. Sanh nói:
- Mấy em nhỏ chơi vui quá cô há, tiếc rằng mình đã quá tuổi chơi như vậy.
Cô bé mỉm cười đáp:
- Bọn nó có sáng kiến lắm.
Sanh lại mơ màng, đôi mắt ra vẻ thơ mộng rồi thở dài mà rằng:
- Cái tuổi hoa niên tươi đẹp kia, không bao giờ trở lại cả !
Nhưng chàng ngạc nhiên mà nghe cô bé cười dòn, hơi mỉa mai:
- Anh già mấy mươi mà đã đâm ra tiếc thương quá khứ rồi vậy ?
Sanh giựt mình. Thì ra cô gái nầy khác các cô gái mà chàng quen. Họ thì, cũng
như cậu ta, nhiễm tiểu thuyết lãng mạn và hay than đời, hay làm bộ tiếc những
gì đã qua, đã mất.
Nghĩ kỹ lại thì thái độ ấy thật vô lý hết sức; nay nghe cô gái nầy hỏi thế cậu
nhận ra ngay và hơi mắc cỡ cho cái vó cụ già non của mình.
Nhưng nhờ thế mà Sanh hiểu ngay tâm hồn cô bé. Đó là một cô gái bằng lòng sống
với tuổi của mình, yêu đời tự nhiên, không làm bộ yêu đời quá trớn, cũng chẳng
cố chán đời cho nó nên thơ.
Chàng nói cho đỡ ngượng:
- À, không tiếc nhiều lắm, nhưng cũng hơi tiêng tiếc thôi... Cô học trường nào
?
- Trường bà huyện Thanh Quan.
- Lớp mấy đó a cô ?
- Đệ ngũ.
- Còn tôi, tôi là Sanh, lớp đệ nhị trường Vũ Môn.
- Kỳ rồi anh có thi chớ ?
- Không, đóng tiền thi xong là bị cúm ngay. Năm tới thi cũng chẳng muộn.
Sanh đã xưng tên mình, muốn cô gái cũng xưng tên cho biết. Thấy cô ta quên đáp
lễ, nên cậu phải hỏi:
- Xin lỗi, cô tên chi ?
- Em tên Chi.
- Tôi hỏi cô tên chi ?
- Em nói em tên Chi.
- À, phải, Chi, chữ C hoa. Lót chữ chi cô ?
- Chữ Dao, Trần-Dao-Chi.
- Sao lại không lót chữ Kim nghe cho hay, cô ?
- Em cũng không biết tại sao, vì không phải em đặt tên em được. Vả lại, nếu lót
chữ Kim thì xoàng quá.
Sanh rất khổ. Cậu không hiểu Dao nghĩa là gì, và tại sao Dao lại không xoàng.
Nhưng cậu không dám hỏi, sợ lòi cái dốt của mình ra. Cậu lại hơi sờ sợ cô bé,
vì cô ta ra vẻ không dốt chút nào. Tại sao đồng chí trốn học mà lại không dốt
cà ? Cái mới khó hiểu.
Dầu sao hai tiếng Dao-Chi nghe cũng rất êm tai nên chàng khen:
- Phải, Dao-Chi cũng đẹp lắm !
Chàng không nói: "Tên Dao-Chi cũng tốt lắm", mà nói Dao-Chi cũng đẹp
lắm là cố ý nói hai nghĩa, nghĩa sau để khen nhan sắc cô gái.
- Buổi chiều có môn gì mà cô cúp cua ? Sanh hỏi.
Cô bé ngạc nhiên, nhìn chàng trừng trừng:
- Em có cúp cua đâu, sao anh hỏi lạ vậy ?
Ừ, sao hỏi lạ vậy. Sanh cũng không biết. Có dấu hiệu gì tỏ ra cô cúp cua đâu ?
Chẳng qua là suy bụng ta ra bụng người đó thôi.
Sanh bối rối rồi ấp úng nói:
- À, tôi, hơ... tôi tưởng cô cúp cua. Tôi thì sắp đi học đây.
Nếu Chi cúp cua thì tuyệt. Họ sẽ cùng nhau phàn nàn giáo sư quá nghiêm khắc hay
bất tài, hoặc phàn nàn môn sinh ngữ vô ích, không đáng học.
Nhưng Chi lại chối thì đành cụt hứng vậy. Chàng lẩm bẩm: "À, con bé tinh
ranh, làm bộ ta đây siêng học. Cái mặt đó mà, nếu chẳng không thuộc Sữ, Địa thì
cũng bị Toán, nghỉ để khỏi góp bài làm. Em nhỏ ơi, anh đây là tổ sư trốn học, đừng
có qua mặt anh mà !"
Thấy Sanh bị cứng họng, cô bé hỏi:
- Chiều nay anh học môn gì ?
- Văn học sử, Sanh đáp đùa.
- Anh học ban nào ?
- Ban khoa học.
- Ban khoa học đâu có Văn học sử.
Thế à ? Không có à ? Sanh nào có biết có hay không có. Hay cô bé nói bậy. Chàng
đánh trống lảng :
- Trời nóng lạ ! Phải mà, tụi nó thí nghiệm bom nguyên tử mãi, làm sao khỏi
nóng. Bom ấy nóng lắm ! À, cô có nghĩ gì về bịnh cúm không ?
- Không.
- Tôi thì nghi lắm. Thế nào trong hai khối, cũng có một khối để vi trùng cúm
trong bom nguyên tử, với mục đích nghiên cứu chiến tranh vi trùng.
- Vậy à ? Em quên xét coi có phải như thế không.
- Cần gì phải xét. Đích thị là thế rồi.
Lạ quá, Sanh dốt ló đuôi, nhưng cô gái vẫn vui vẻ trò chuyện với cậu như thường.
Sanh tỏ ý muốn kết làm bạn hữu lâu dài với cô, cô ta cũng rất sẵn lòng. Sanh hỏi
:
- Làm sao hôm khác tôi được gặp cô nữa ?
- Cứ mỗi sáng, từ chín đến mười giờ là em có mặt trong sở thú tại cầu tre giả bằng
xi-măng, gần hồ sấu.
À, không trốn học mà mỗi sáng thì có mặt trong sở thú. Em nhỏ ơi, ta là đồng
chí với nhau rồi, còn giấu giếm làm chi.
Sáng hôm sau, Sanh vào nơi hẹn hò, võ trang bằng một túi kẹo, và văn trang bằng
một cặp da đầy nhóc những gì không hiểu, ngoài cầm thêm một quyển tiểu thuyết
tây.
Chỗ cầu tre giả bằng xi-măng vắng teo và rất nên thơ. Hai bên cầu cây cối rậm
rì, đường đưa đến đó uốn khúc quanh co như đường mòn trong rừng, dưới cầu nước
chảy, tuy không trong veo, chớ cũng ro re và mang lá khô đi như suối thật.
Đôi bạn ngồi trên thành cầu, đối diện với nhau, chỉ cảm thông nhau trong cảnh đối
diện đàm tâm ấy cũng đủ rồi.
Bỗng Chi mất thăng bằng thế nào mà suýt té ngửa ra sau. Thanh cầu nhỏ quá và
tròn, rất khó ngồi, lơ đĩnh một chút để trọng tâm thân trì sai một chút xíu là
có thể té ngửa ra sau.
Chi kêu lên một tiếng, Sanh hoảng hốt nhảy xuống đất để chạy qua đỡ bạn thì cô
nữ sinh đã lấy thăng bằng lại được rồi.
Tiếc đỡ hụt, Sanh nói :
- Cô qua bên kia mà ngồi với tôi, có ngã tôi đỡ liền.
Nhưng Chi vẫn ngồi yên đó, thả giấy chì bao kẹo xuống nước mà chơi.
Sanh không biết làm sao, đành dời đô qua bển. Sợ Chi phản đối, cậu chỉ ngồi xa
bạn thôi.
Ngày vui thật chóng tàn. Chi xem lại đồng hồ rồi hốt hoảng nói :
- Chết rồi. Trễ rồi. Thôi để em đi.
Sanh đưa bạn ra đến cửa sau, đợi tắc-xi chạy khuất dạng mới trở vào vườn bách
thảo để mà tư lự như kẻ mất hồn.
Ngày hôm sau, họ lại gặp nhau. Lần nầy Sanh ngồi sát bên Chi mà không nghe Chi
rầy rà gì cả, nàng cũng chẳng xê đi như Sanh lo liệu.
Hôm ấy họ thân mật hơn hôm trước đến ba bốn phần. Chi có ngã, và Sanh được đỡ bạn.
Nhưng chỉ có ngần ấy thôi rồi vãn hát.
Liên tiếp trong một tuần lễ, họ ngồi đó đến thanh cầu láng bóng lên. Nếu tình
thế cứ kéo dài thì có lẽ xi-măng sẽ mòn đến vài phân.
Nhưng tình thế không kéo dài vì Sanh muốn thâu ngắn.
Hôm ấy, sau mấy mươi lần nuốt nước miếng và tằng hắng, Sanh liều mạng nói những
gì cậu muốn nói hỗm nay mà không dám.
Nghe qua, Chi cười nghiêng ngửa, đưa răng ra rất ngây thơ. Sanh phải đưa tay
luôn sau lưng cô kẻo cô rơi lúc nào không biết chừng vì cả thân thể cô đều rung
chuyển. Giây lâu Chi mới nói được :
- Còn đi học mà anh bày chuyện làm chi. Học xong cái đã rồi hãy hay.
- Nhưng anh yêu em lắm, một ngày xa em là một ngày xốn xang trong lòng.
- Như vậy thì dễ quá. Anh cứ đến nhà em mà ở trọ là thấy em mặt em luôn.
Sanh muốn bứt hơi vì mừng. Lẽ nào mà dễ dàng quá như vậy !
- Má bằng lòng cho anh ở trọ sao ? Sanh biết Chi chỉ còn mẹ thôi và đang ở với
mẹ.
- Hễ em nói là má bằng lòng, miễn anh đứng đắn.
Được, đứng đắn hay không, miễn ở gần được rồi sẽ hay. Sanh nghĩ thế và vội vã dọn
nhà ngay hôm đó.
Cả nhà Chi, chỉ có hai mẹ con và một chị bếp, nên rộng minh mông. Tuy thế, Sanh
được chỉ định cho ở buồng trước là buồng tiếp khách, tối ngủ trên đi-văng nơi
đó.
Bà mẹ của Chi là một bà mẹ hiền, không lôi thôi, dễ tánh mà không dễ dãi. Bà
xưng dì và kêu Sanh bằng con.
Bà hỏi Sanh về gia đạo, về tuổi tác và thật tình mến tánh tình của cậu học trò
đệ nhị nầy.
- Con Chi nó nói con là bạn của nó, một người bạn tốt. Nó bảo chỗ con ở ăn cơm
tháng đông đảo quá, con thiếu điều kiện học, nên nó xin dì cho con ở đây. Thật
ra thì cũng bất tiện, nhưng mà dì thương con và tin con nên cũng bằng lòng vậy.
Thôi thì con ở một lúc xem sao.
Nhà sạch sẽ và ngăn nắp quá. Trật tự trong nhà khiến Sanh đoán biết ở đây kỹ luật
ghê hồn, nên cậu ta cố gìn giữ.
Hôm sau, vào sở thú, cậu buồn như bị tình nhơn phụ bạc. Chi không vào đó như mọi
ngày. Cậu Sanh chạy ra đầu lối mòn mà đón, thấy tà áo nào phất phơ đằng xa cũng
mừng quýnh lên, nhưng lần nào cũng mừng hụt cả.
Đến gần đúng ngọ, chàng lủi thủi lên cửa trước đón xe ô-tô-buýt mà về, tức giận
bạn vô cùng.
Nhưng tới nhà, thấy Chi tươi cười đón chàng ngoài cửa là chàng quên giận ngay.
Chàng hỏi nho nhỏ :
- Sao em không vô, báo hại anh đợi muốn chết.
Chi cười ngất :
- Đã gần nhau, thấy mặt nhau luôn ở đây, còn vô đó làm chi !
Sanh không biết cãi làm sao, đành ngậm miệng, nhưng trí làm việc tới tấp để tìm
mưu.
Hôm sau, cậu ta không vào sở thú nữa mà chỉ dạo phố ngoài Sài-gòn thôi.
Đời thật hết mùi vị. Trước kia, chưa gặp Chi, dạo phố rất thú. Bây giờ sao mà
chán phèo thế nầy ? Khi trưa lại, cậu về nhà, tới cửa ngõ là nghe kêu sau lưng
:
- Anh Sanh !
Chàng day lại thì đó là Chi. Chi mặt hầm hầm hỏi :
- Anh đi đâu suốt sáng hôm nay ?
- Đi học chớ đi đâu. Sanh cười hề hề đáp.
- Anh nói dối. Em theo anh từ sáng đến giờ. Anh học thuộc được mấy con đường và
mấy cửa hàng ?
Sanh hết hồn hết vía, nhưng thoạt thấy Chi tay không, cậu mừng rỡ nói :
- Còn em, cặp đâu, cũng cúp cua chớ gì ?
- Em quyết rình anh hôm nay, nên đi tay không.
À, con bé quá quắc lắm. Chưa chi mà đã theo rình mò như một bà vợ ghen. Sanh
nghe êm dịu lạ trong lòng trước sự săn sóc đó.
Ăn cơm trưa xong, Chi ra lịnh :
- Ngày mai, em đưa anh đến trường, và tới giờ, em trở lại đón anh. Mà coi chừng,
giữa khoảng thời gian ấy, em có thể rình gần đâu đó, đặng xem anh có bỏ lớp nửa
chừng mà ra hay không.
Thật là quá lắm rồi, Sanh nghĩ, con bé nầy ló đuôi độc tài rồi đây. Mà nào có
được nước mẹ gì cho cam ! Mới có tám giờ tối là nó rút vô buồng ngủ với má, có
muốn nói gì với nó, thật chẳng biết làm sao. Ăn ở thì phải ké né như đi làm rể,
còn bây giờ thì đi học có người đưa rước như trẻ em. Ở tù lỏng không bằng !
Sanh đã yêu Chi quá rồi, xa Chi là chàng sẽ héo như cây gặp hạn. Chàng giống
như con chim của thầy bói, bị ghiền nhựa lắm rồi, muốn sổ lồng bay cao, mà cứ
tiêng tiếc nàng tiên nâu.
Hôm sau Chi làm thật, đưa đón đàng hoàng. Sanh hỏi :
- Em không lo trễ học à ?
- Em không cần, nàng đáp xẵng lè.
Bạn học để ý nhiều ngày cái trò đưa rước, nên nhạo Sanh:
- Tụi bây ơi, chị hai em bé Sanh hôm nay đưa nó đi học có cầm theo khúc bánh mì
chả lụa. Mà Sanh à, chị hai mầy sợ mầy bị xe cán hay sợ mầy bị tụi tao ăn hiếp
?
Sanh xấu hổ đến muốn ứa nước mắt. Nhưng khổ nhứt là phải giam hãm mình trong lớp
suốt bốn tiếng đồng hồ.
Mấy cái ông giáo sư ấy mới đáng ghét làm sao ! Họ nói dai nhách và buồn ngủ lạ.
Sanh không muốn nghe cũng chẳng được, vì thỉnh thoảng họ gõ thước lên bảng đen
rầm rầm, giựt mình rồi phải để cho lời họ vào tai.
Yêu khó lắm thay ! Ngồi ngủ gục, Sanh mới phát minh ra được ý đó. Phải dè nó rắc
rối khổ sở như thế nầy, chàng nào thèm làm quen với Chi làm chi.
° ° °
Bà mẹ thỉnh thoảng đưa Chi đi xem chiếu bóng, mời Sanh đi
theo.
Trong bộ ba ấy, Sanh có vẻ một người anh ruột của Chi hay một người anh họ đi
theo hộ tống. Con trai nó cứ ngó Chi mà trầm trồ, xem cái ông anh ấy như không.
Sanh thật tức, đi với gái mà không được hãnh diện tí nào cả.
Nhưng được cái là vào rạp, bà cụ làm sao cũng sắp đặt cho Chi ngồi giữa hai người.
Thật là an ủi.
Bà cụ nầy quả là tay gớm lắm chớ không vừa đâu: Bà ta rào con, mà không rào bằng
vách tường, sợ Sanh nó nản chí rồi bỏ đi, mà chỉ rào bằng song ly sắt thôi.
Thành ra:
"Thấy em như thấy mặt trời,
Thấy thời thấy vậy, trao lời khó trao."
Con Chi nó giống mẹ nó như cùng một lò mà ra, thật là rau nào sâu nấy. Khi nào
thấy Sanh buồn chán lắm thì tối tối, lúc Sanh ngồi mơ mộng trước tập bài, nó ra
mà nói vài câu chuyện. Nhưng chắc nó có dặn trước với bà cụ sao không rõ, mà y
như là lần nào mới nói vài lời là bà cụ đã gọi giựt ngược:
- Chi à, khuya rồi, đừng có làm rộn anh con, để nó học nó thi cho đậu.
Chết chưa, bà cụ bắt mình phải thi đậu năm nay. Có học mẹ gì đâu mà đậu.
Nhưng hai tiếng "anh con" ấy nó êm đẹp làm sao, nghe làm sao như
là...
Sanh viết thơ về mấy lần, tỏ thiệt nỗi khổ của mình cho cha mẹ nghe, yêu cầu
ông bà lên coi mắt Chi cho cậu. Nhưng ông bà cứ giả câm giả điếc, không thèm
đáp thơ, chỉ gởi tiền thôi, mà gởi vừa đủ tiền cơm và xe pháo.
Thiệt là hết hy vọng. O con Chi không được, mà quyết cưới nó cũng chẳng xong.
° ° °
Trong bữa ăn, bà cụ ưa nói chuyện đời, đủ thứ chuyện để dạy
con.
Một hôm bà cụ cho hay:
- Con à, con Thơm, con của ông Ích Thành ấy, nó đã lấy chồng. Mà sao lạ quá, nó
tú tài mà lấy thằng chồng chưa đậu trung học đệ nhứt cấp.
Điều nầy thì Sanh không đồng ý với bà cụ chút nào. Người ta yêu nhau vì tâm hồn
giống nhau chớ nào vì bằng cấp tương đương ?
Bà cụ tiếp, lần nầy nói với Sanh:
- Dì thì dì chỉ gả Chi cho đứa nào học giỏi ít lắm là bằng nó thôi.
Sanh cười ngất mà phê bình:
- Như vậy em Chi con sẽ đắt chồng lắm, vì học sanh lớp đệ ngũ thì thiếu gì, tàu
mà chở cũng chẳng hết.
- Ai nói với con là nó học đệ ngũ ?
- Dạ, em Chi con nói chớ ai.
Bà cụ mỉm cười vói tay ra sau, kéo một hộc tủ và lấy trong đó ra một tấm giấy.
- Đây, giấy chứng chỉ đậu trung học đệ nhứt cấp Pháp, nó xin để bổ túc hồ sơ
thi vào đệ tam Gia-Long đây.
Sanh tiếp giấy đọc, thì quả như vậy. Thì ra Chi nó không cúp cua thật, nó đang
bãi trường, và hổm nay nó đi là đi chơi đó thôi.
Sanh suy nghĩ về chỗ nầy dữ lắm. Quan niệm của chàng rõ rệt: yêu nhau về tâm hồn.
Đành vậy. Nhưng mà cũng khó chịu về cái chỗ chinh lịch bằng cấp và không bằng cấp
nầy nữa.
Phải chi cậu rủi ro thi rớt, nhưng vẫn hiểu biết mọi việc thì còn đương đầu với
Chi được. Cái nầy, cậu đã nhảy lu bù lớp, không có học qua đệ tứ lần nào thì những
cái biết của Chi cố nhiên là cậu không thông. Cậu nhảy lên cho mau đến đệ nhị để
thi rớt tú tài cho oai và để... xin việc khác đó thôi, thì.....
Độ rày Sanh đã tìm ra được mưu cao giúp chàng thoát khỏi nanh vuốt của các giáo
sư, khỏi phải nghe lời giảng của họ.
Chàng mua những chuyện trinh thám và võ hiệp vào lớp mà đọc. Xem chuyện đến lúc
gay cấn, mê man, thì giáo sư có đập gãy thước vào bảng đen, chàng cũng khỏi giựt
mình ngó lên. Ờ, đến cái lúc mà chàng thanh niên anh dũng đi cứu giai nhân tuyệt
sắc, bị chúa đảng Huỳnh Ngưu bắt cóc, thanh niên rơi vào hầm bí mật trong đó có
một con trăn khổng lồ, thì đố mà trời đánh cậu, cậu có hay thì thôi...
Một hôm, cậu đang mải miết theo dõi cuộc săn đuổi cướp bằng xe díp thì ông giáo
sư Việt ngữ kêu:
- Anh Sanh, cành dao là cành gì ?
Sanh cứ gầm đầu mà đọc. Bạn hữu hai bên thúc cùi chõ vào chàng, chàng mắng bậy
vài tiếng rồi tiếp tục đọc. Ngoài sau có anh phải lấy thước đâm vào lưng cậu, cậu
mới giựt mình và nghe kêu tên mình.
Lẽ cố nhiên là Sanh không biết cành dao là cành gì.
- Đâu, anh đọc lại hết câu thơ ấy nghe coi ? Giáo sư bảo.
Trời đất quỉ thần ơi, biết câu thơ nào mà đọc bây giờ.
Giáo sư mỉm cười, bảo Sanh ngồi xuống rồi tự đọc lấy:
"Một vùng như thể cây quỳnh, cành dao"
- Cành Dao nói chữ nho làm sao ? Giáo sư hỏi.
Chị Thanh đáp:
- Dao chi !
Nghe đến tiếng Dao Chi, Sanh lại giựt nẩy mình. Chàng ngước lên ngó dáo dác,
không thấy Dao Chi đâu cả. Chàng hỏi lại bạn mới rõ đầu đuôi. Thì ra Dao Chi là
cành cây dao, hay hơn Kim Chi là cành bằng vàng. Phải, Chi nói đúng. Dao Chi
thì mới lạ hơn Kim Chi, đã có hằng ngàn cô gái tên là Kim Chi rồi, tên ấy thường
quá.
Trưa hôm ấy về nhà, Sanh ngâm thơ lớn lên:
"Một vùng như thể cây Quỳnh, cây Dao".
Cốt ý cho Chi biết ta đây cũng hiểu nổi Dao Chi là cái gì, chớ không phải chỉ
có ai kia hiểu mà thôi đâu.
Chi mỉm cười hỏi:
- Đố anh câu thơ đó ở đâu.
Mẻ, bị nó "côn" rồi đây. Khổ thân chưa ? Bày đặt làm bảnh, bây giờ phải
trơ ra, có phải xấu hổ không ?
Để khỏa lấp, Sanh thở dài:
- Học chán quá. Giá trị con người ở tâm hồn, ở tư tưởng chớ có phải ở ba cái
sách vở kia đâu. Người đời thật vô lý hết sức.
Chi cãi:
- Anh làm công dân, đến lúc nước nhà đứng trước một ngã ba số mạng, anh lấy tâm
hồn anh ra mà lập thái độ được à ?
- À, cái đó thì phải biết rõ lịch sử, ông giáo nói như vậy. Nhưng lịch sử, anh
đọc ba ngày là thông, mình lại phải học nào là toán, nào là lý hóa cho điên cái
đầu.
- Học toán có ích cho việc ở đời lắm chớ.
- Em buôn bán, em làm sổ kế toán bằng hình học à ? Hay bằng đại số học ?
- Học toán không phải để làm toán, mà để gây cho mình tinh thần toán pháp.
- Tinh thần toán pháp là như thế nào ? Bày đặt hoài.
- Tinh thần toán pháp là tinh thần không chịu nhận cái gì liền, cái ấy phải được
chứng minh ta mới nhận. Thí dụ anh nói "một trong hai khối có để vi trùng
cúm trong bom nguyên tử". Đó là anh nghe người ta đồn rồi nhận liền. Nếu
anh chịu suy luận chắc anh nói khác.
- Ạ, ạ, suy luận làm sao? Hà hà, rắc rối lắm.
- Nè, nếu anh có tinh thần toán pháp, anh dè dặt suy xét điều đó rồi mới nhận.
Anh suy xét bằng cách suy luận nầy: "Có thể nào như vậy được hay không
?" Rồi anh lại dùng cái biết về lý hóa mà giải đáp. Biết rằng bom nguyên tử
tiết ra một sức nóng ghê hồn, không có sanh vật nào chịu nổi cả, thì anh sẽ kết
luận rằng để vi trùng trong bom nguyên tử hẳn là không được.
Sanh ngẩn người ra. Té ra sự học có ích một cách
thực tế như vậy à ?
Bắt đầu từ hôm cãi nhau ấy, Sanh đâm đầu vào việc học như đã đâm đầu vào tình
yêu.
Lạ quá ! Học không phải là việc khó khăn khổ sở như chàng ngỡ từ thuở giờ. Lời
giảng của giáo sư hết nghe buồn ngủ nữa, và chàng thâu thập các hiểu biết dễ
dàng.
Chỉ phiền là nhiều môn không theo được, vì đã bỏ đoạn đầu. Các môn ấy như sợi
dây xích sắt, phải dính liền với nhau mới được.
Bấy giờ Chi đã tựu trường, theo Đê-tam ở Gia-Long. Lòng tự ái của Sanh trốn đâu
mất cả. Chàng hết che giấu cái dốt của mình như xưa và tự nhiên hỏi bài Chi, những
bài về các năm trước, để hiểu bài năm nay.
Sanh thông minh lạ kỳ ! Học xong tam-cá-nguyệt đầu, là đã theo kịp tốp thứ nhứt
gồm năm anh tài có tiếng trong lớp.
Tuy vậy, chàng vẫn không chỉnh mảng, không dễ ngươi, cứ làm việc bất kể giờ
khuya khoắt.
Bà cụ lo cho hai cô cậu rất chu đáo. Khuya nào cũng có phần ăn lại sức cả. Sanh
thật đủ điều kiện nỗ lực.
Hễ tối lại thì, nửa tiếng đồng hồ sau bữa ăn, cô cậu ngồi đối diện trước bàn.
Thật là:
"Sáng đèn để ghế hai hàng,
"Bên anh học toán, bên nàng học văn."
Học một hơi mệt, Sanh ngửng mặt lên ngâm câu ca dao nhại ấy, rồi cả hai nhìn
nhau mà cười.
Bà cụ thật bất nhơn. Trước kia giữ con như giữ hột xoàn, tám giờ là bắt cô ấy
vô buồng trong.
Bây giờ cô cậu bận học, cụ ta lại cho hai đứa ở ngoài nầy một mình tới khuya lơ
khuya lắc.
Bà cụ lại dám cho Sanh đưa Chi đi xem chiếu bóng mà không có bà theo. Ý ạ, bà cụ
tính quá sức, biết rằng cô cậu đã thuần rồi đây.
Nhiều đêm, Chi lại đứng sát cạnh Sanh, mà chàng nghe không sao cả. Hay nói cho
đúng ra, chàng vẫn nghe một rung động dễ chịu, nhưng rung động ấy không gợi tà
tâm như trước nữa, mỗi lần gần sát Chi.
Bây giờ chàng đã yêu vẻ đẹp của sự học, và tuy không quên vẻ đẹp con người,
chàng vẫn thấy còn có thể say mê một cách trong lành hai cái đẹp ấy thôi, chớ
không mê sắc u muội được như ngày nào.
Lắm đêm, chàng nắm tay bạn, Chi không nói gì, chàng đâm liều hôn lên đó, Chi
cũng vẫn không phản đối.
Thế mà chàng thôi, dừng lại được nơi đó, không đòi hỏi gì thêm cả,
Khi mà trí óc con người mệt nhoài vì làm việc, con người thôi nghĩ quấy, và
thân thể càng bị cái mệt kia đè bẹp đi xuống. Thảng vật chất đôi khi có nổi loạn,
cũng bị đàn áp ngay, vì tinh thần bây giờ chẳng những đã không xui dại nó nữa
mà còn la rầy nó, vì tinh thần ấy đã gột sạch hắc ám và hóa ra trong lành rồi.
Mỗi lần bà cụ nói gì, bà đều nhập chung Sanh và Chi lại. Bà nói: "Hai đứa
bây" hoặc "hai con".
Sanh nghe thích như hai đứa đã là vợ chồng với nhau rồi, đã thân nhau lâu rồi,
không còn bị sự cách biệt xúi thèm khát gì nữa cả.
Tuy nhiên, cũng có lần Sanh suýt phạm tôi. May nhờ có nàng tiên cứu cho, chớ
không thì không hiểu tình bạn giữa Sanh Chi sẽ ra sao.
Số là bà cụ thấy Sanh đã thuần rồi, nên thỉnh thoảng dám đi vắng. Có khi đi vắng
cả một ngày đêm.
Hôm ấy, bà đi đâu không rõ mà mãi đến ba ngày ba đêm chưa về. Chắc Chi biết thời
gian vắng mặt của bà nhưng nàng dại gì mà cho Sanh rõ.
Đêm đầu, không xảy ra chuyện gì lạ ngoài vài câu chuyện thân mật, và một cái vuốt
nhẹ của Sanh lên mái tóc bạn.
Đêm sau, Sanh băn khoăn tự hỏi: "Quái, sao bà cụ lại không về ?"
Chàng khó chịu cho sự vắng mặt ấy lắm, vì tà tâm của chàng lại lố dạng, và đang
lấp ló đâu đó.
Nên hay không ? Chàng tự hỏi, rồi xấu hổ với mình quá, chàng cắm đầu vào sách.
Dầu sao chàng cũng là một người trai trẻ mà thể chất đầy dẫy sinh lực, một thứ
sinh lực phải kềm cương cho chắc, không thôi thì hỏng to.
Không nên ! Chàng tự đáp. Nhưng lại tự bàn thầm: "Quái, ai lại có con gái
mà dám bỏ nó ở nhà một mình với trai và đi vắng ban đêm ? Hay là bà cụ mến mình
quá rồi, không cần gìn giữ con nữa. Hoặc giả bà ta cố ý vắng mặt để khuyến
khích mình cũng nên ?
"Nhưng chậc ! Biết đâu rằng không phải vậy và mình đoán sai ?"
Tà tâm một khi không đến thì thôi, mà hễ đến thì khó đuổi lắm. Nên chi Sanh bị
nó ám ảnh mãi, không học hành gì được cả.
Chàng xét nét Chi thì thấy nàng không sợ hãi, tự nhiên như thường, và cũng
không lả lơi hơn trước. Chàng đâm sợ cái vẻ bình thản của con người tốt đó, tốt
đến không thèm biết có tà tâm bao quanh mình. Chàng lại đâm mắc cỡ trước cái
nghiêm trang của con người mà chàng để tà tâm của chàng xâm phạm đến một cách
âm thầm.
Rốt cuộc chàng không dám. Nhưng suốt đêm không nhắm mắt được. Và ngày mai lại
thì ăn năn quá lẽ, thấy sao mình đã ngu quá, bỏ trôi dịp may hiếm có.
Chàng sợ bà cụ tối nay về. Nhưng tối bà cụ không về. Trái lại chàng lại đâm lo.
Sợ bà ta về, mà bà ta không về, lại đâm lo vì không biết đêm nay sẽ ra sao. Liều
và toại nguyện, hay liều rồi chết ?
Đêm nay, chàng nhìn Chi bằng đôi mắt khác thường, khi thì như van lơn cầu khẩn,
khi thì dữ tợn lạ lùng, luôn luôn thì mang nặng ẩn khí đói khát và đẫm ý chí liều
mạng.
Cầm tay Chi, chàng không cầm nhẹ nhàng âu yếm như trước, mà tàn bạo nắm lấy nó,
như con thú hóa điên.
Chi bỗng hiểu. Nhưng nàng không tỏ vẻ sợ sệt chút nào. Nàng ôn tồn nói:
- Em thú thật với anh rằng em yêu anh. Nên lỡ với anh rồi, em cũng sẽ không hối
hận gì cả. Nhưng mà xấu hổ quá anh à. Nếu chỉ xấu hổ với người khác thì còn có
ngày quên được. Đằng nầy lại xấu hổ với mình cả đời, thì chịu sao kham.
Anh bước tới gương mà xem lại mặt của anh kia. Mắt anh không có vẻ mắt của người
học trò nữa rồi. Nếu em lại hiến thân cho một người mà tình yêu nhường bước cho
thú tánh thì em sẽ mắc cỡ với em đến biết bao giờ.
Còn anh, anh cũng sẽ xấu hổ mà bỏ học cũng nên.
Sanh giựt mình, xin bạn tha lỗi cho.
° ° °
Hết lục-cá-nguyệt đầu là Sanh giỏi nhứt lớp. Chi nhìn bạn mỉm
cười ra vẻ bằng lòng lắm. Có lẽ nàng tự bảo thầm: "Con người nầy bây giờ
đã ra con người rồi đây; và đó là công trình của mẹ con ta !"
Gần cuối năm bà cụ như nhớ sực lại, rồi sợ hãi hỏi:
- Thế nào Sanh, con. Con liệu năm nay đậu hay không ?
- Thưa dì, có hy vọng lắm.
- Con phải đậu mới được.
Bà cụ nói dễ nghe dữ chưa. Tại sao phải đậu mới được. Ta đây không thèm đậu thì
ai làm gì ta. Mà bà cụ có trách nhiệm gì mà làm bộ lo lắng đến thế ?
Mùa thi.
Hai mẹ con cô Chi, lạ thay, lại là người sợ Sanh rớt. Vai chánh trong cuộc, đã
say mê sự học, thì vẫn còn say mê nhưng không màng đến cuộc thi lắm. Chàng đã cố
gắng, đã hiểu biết, không đủ hay sao ?
Nhưng mà Sanh vẫn đậu bài viết.
Hú vía, bà cụ và Chi bấy giờ mới thở ra một cái khì.
Chi theo bạn vào xem cuộc thi vấn đáp, không sót bữa nào.
Hôm ấy trời mưa tầm tã, bà cụ đang ngồi ngoáy trầu bỗng nghe tiếng cửa xe hơi mở,
đóng, ngoài đường, rồi Chi la lên:
- Má ơi, anh Sanh con đậu rồi !
Chi la lúc còn ngoài sân, la to cho đến chị bếp ngoài sau cũng nghe và chạy ra.
Bà cụ nhảy xuống khỏi ván, bỏ guốc chạy chơn không đua với chị bếp để ra ngoài
hàng hiên.
- Đâu, nó đâu, bà cụ hỏi.
Sanh ngoài mưa bước vào nói:
- Dì và Chi đã giúp con đậu rồi đó dì. Giọng Sanh run run, và một chút xíu lệ
trôi theo nước mưa rơi xuống gạch.
Thôi, sướng nhé ! Bây giờ thì yêu được rồi đa ! Nhưng Sanh lại không nghĩ thế.
Thì đành là chàng vẫn yêu Chi, nhưng yêu suông như suốt năm nay cũng chẳng có
sao kia mà.
Bà cụ hối thúc Sang đánh điện về Bặc-liêu. Bức điện tín ấy Sanh viết như vầy;
"Thi đậu. Ba má lên, số 879, đường Bùi Chu"
Nhưng hôm sau, chàng nhận được điện tín hồi đáp như vầy:
"Ngày mai lên. Đón ba má ở khách sạn Nam-Tân hồi chín giờ"
Mặc dầu thất vọng, nhưng thôi cũng được. Chắc cha mẹ chàng sợ làm rộn người ta,
ở khách sạn cho tiện. Rồi ổng bả sẽ đi thăm nhà trọ để coi mắt dâu, muộn gì.
Sáng hôm sau, Sanh ra đón cha mẹ. Mừng; khen ngợi; thưởng tiền; và đưa nhau vô
Chợ-lớn ăn cao lầu.
Sanh khẩn khoản yêu cầu ông Hội đồng đi lại thăm nơi chàng ăn cơm tháng để cám
ơn người ta.
Ông Thạch nạt đùa:
- Họ nấu cơm tháng ăn tiền, chớ bộ nấu giùm không sao mà phải cám ơn. Bày đặt
hoài ! Hai năm nay mầy không có về Bặc-liêu lần nào hết, bây giờ phải thu xếp về
ngay.
Sanh tiu nghỉu, cầu cứu với bà Hội đồng. Chàng hỏi:
- Chớ ba với má không được thơ của con nói về vụ đó sao ?
- Được chớ sao không, mà mầy phải biết tánh ba mầy. Việc vợ con của mầy là do ổng
chọn, chớ mầy chọn ổng nào có chịu, ổng theo xưa mà !
Sanh chết điếng người. Như vậy chàng sẽ phải yêu Chi ngoài vòng lễ giáo à ? Nếu
không thì chàng sẽ khổ, mà nếu được thì tội nghiệp cho mẹ con Chi lắm !
Ông Hội đồng Thạch lại ra lịnh:
- Bây giờ mầy ở đây luôn, không về nhà đó nữa, rồi mai đi thăm bác phán Đậu, rồi
về Bặc-liêu.
Ứ hự ! Người chàng muốn ổng bả đi thăm, ổng bả lại nằng nằng quyết một không
thèm đi, lại bắt đi thăm lão phán Đậu.
Lão phán đáng ghét ấy hơi gàn gàn, có mấy đứa con rắn mắt chịu không nổi. Chàng
nhớ cách đây mười hai năm, lão phán có đưa gia quyến tản cư về ở đậu nhà chàng.
Bọn đó có gì đáng đi thăm đâu.
Nhưng chàng vẫn nghe lời cha mẹ. Và ngày hôm sau họ đến thăm lão phán gàn.
Lão ta mừng rỡ, khen ngợi Sanh thông minh, đẹp trai, đủ thứ việc.
Xong đâu đó, lão kêu vợ con ra mừng khách. Khi cửa buồng mở toác ra, Sanh chết
sững như bị trời trồng.
Phán Đậu cười ha hả giới thiệu:
- Nhà tôi ! Con gái tôi !
Rồi cả năm người đều cười xòa, trừ Sanh ra. Thì ra, bà chủ nấu cơm tháng là vợ
phán Đậu và Chi là con của lão ta.
Thì ra, họ toa rập với nhau mà diễn lại tấn kịch Lưu-Bình, Dương-Lễ mà chàng
không dè.
Đầu năm ngoái, đôi bạn già đã bàn soạn với nhau rất lâu để tìm mưa kế.
Ông Thạch dám xài tiền, dám bỏ ra năm mươi ngàn để sang một căn phố riêng cho
bà Đậu thi hành quỷ kế của chồng bà.
Còn ông phán vì quá thương bạn, quá nhớ ơn xưa nên mới dám hy sinh để cứu vớt đứa
cháu hư hỏng.
Hy sinh ? Phải, đây là một cuộc hy sinh lớn, vì nếu Chi yếu đuối, thì nàng sẽ
không giữ mình trong sạch được.
Mà nào phải hy sinh một cô tỳ thiếp như người xưa đâu, mà hy sinh một cô con
gái thơ ngây mà đáng giá.
Bỗng nhiên, Sanh hết nghe mình ghét ông phán Đậu nữa. Trong chốc lát, lão ta hết
gàn ngay, và có vẻ ông nhạc gia thật bảnh.
Đây chỉ là bổn cũ soạn lại thôi chớ không phải sáng kiến gì mới lạ. Nhưng Sanh
vẫn mắc điếm như thường. Cuộc mắc điếm mới lợi làm sao !
Bấy giờ chàng thấy chơn trời chàng mở rộng ra, và chắc chắn được vợ hiền.
Phải, ông Thạch đã thề thốt hết lời với ông Đậu là hai người sẽ làm suôi với
nhau, một khi mưu kế họ thành công.
--------------------------------
|
Câu chuyện xảy ra trước phong trào lành mạnh hóa xã hội |
Trên Bộc trong... sầu riêng
Ra tuồng trên Bộc, trong dâu
Nguyễn Du
Thấy chồng săm soi cây chĩa ba, bà Hương trưởng Nếp hỏi:
- Ông định đêm nay đi xăm ếch hả ?
Ông Nếp cười rồi đáp:
- Ờ, nhưng mà xăm "ếch bà" hay nói đúng hơn là xăm "ếch
ông".
Thấy vợ ngơ ngác, ông Nếp hạ giọng xuống rồi cắt nghĩa:
- Bà không thấy chó sủa nhiều trong mấy đêm liền sao ? Ăn trộm nó biết tôi với
bà ở trong, nên nó rình miết...
- Con Điệp của mình cũng tệ quá, ngủ như chết. Tôi chắc nó không hay biết gì
nên không thấy nó nói gì hết.
- Sáng nay tôi ra vườn đếm lại thấy mất gần cả chục trái.
- Nên ông rình để đâm ăn trộm ! Ghê quá, rủi đâm trúng thì làm sao ?
Ông nếp cười ha hả:
- Bà nói kỳ cục. Đã quyết đâm, mà sợ đâm trúng thì đâm làm gì.
- Tôi ớn lắm khi tưởng tượng thằng ăn trộm nó kêu cái ẹo như con ếch kêu.
- Bà đừng lo. Chĩa ba nầy chỉ để hộ thân thôi. Tôi quất bằng hèo cũng đủ cho nó
sụm rồi.
- Chỉ sụm thôi thì được. Ông đừng có báo hại mà tôi phải chiêm bao cả năm: tôi
sợ ông đâm nó lắm !
Vườn sầu riêng của Hương
trưởng Nếp to nhứt làng Bình-Nhâm. Sầu riêng nhà ông lại có tiếng là đều đặn,
trái nào chắc trái nấy, chớ không phải đầu vườn thì sượng, cuối vườn thì mỏng
cơm như ở các nhà khác.
Nên chi tới mùa là ăn trộm nó xấn rấn bên nhà ông thường hơn ở đâu cả.
Sầu riêng giá sỉ, mạt lắm cũng hai mươi đồng một kí. Mỗi đêm bị trộm độ chục
trái, tức trộm trên hai mươi kí, có phải là vứt đi ngót bốn trăm không ?
Như vậy nhà nào cũng cất chòi ngoài vườn rồi người nhà thay phiên nhau mà thức
ngoài ấy để gác sầu riêng.
Năm đêm liền, vợ chống ông Nếp không được thơ thới trong người, nên cô Điệp,
con gái của ông bà phải canh liên tiếp.
Có lẽ vì mệt mỏi mà cô ngủ quên nên trộm nó mới làm già.
Mặc dầu chưa thật khỏe mạnh, ông Nết quyết thay phiên cho con đêm nay, vì ông rất
nóng của, rất sốt ruột mỗi khi sáng lại, nhận thấy vườn bị trộm trong đêm rồi.
Tên trộm nầy là một thằng đáng giận. Của lấy, của ăn. Nó ăn tại gốc, bỏ vỏ bừa
bãi ra đó như chửi vào mặt chủ vườn.
Ông mà túm được nó thì, trước khi đem nạp cho nhà chức trách, ông sẽ nện cho nó
một trận cho bỏ ghét.
Trời mới chạng vạng mà trong vườn đã tối om như giữa canh khuya. Tàng măng cụt
dày mịt đã gọi đêm về rất sớm trong đó.
Ông Nếp kêu con đang dọn dẹp dưới bếp:
- Điệp à, đem nóp lên đây cho ba.
Cô Điệp dạ một tiếng rồi lên nhà trên, nhưng tay không. Cô hỏi:
- Ba hỏi nóp làm chi, ba ?
- Đêm nay ba thế cho con, để con ngủ một bữa.
- Ý trời, ba không được mạnh, chịu mù sương với hơi ẩm sao được ?
- Thây kệ, ba coi bộ con đuối sức rồi, để ba thay một bữa.
- Mệt bao nhiêu con cũng ráng. Để cho ba trúng cảm, con sao đành.
- Thôi, đừng nói lôi thôi, đem nóp lên cho ba.
Cô Điệp mặt buồn hiu và lo lắng, ú ớ như muốn nói gì nữa. Nhưng biết tánh cha
là người khó đổi ý, cô nhẫn nại đi xuống nhà sau mà lấy nóp lên.
Hương trưởng Nếp cụ bị một cục thuốc to và một cuộn giấy quyến, uống một tô trà
Huế thật bự, rồi thong thả ra vườn.
Vườn ông Nếp nằm giữa đường, mặt tiền rộng sáu mươi thước và ăn sâu vô trong
trên hai trăm thước.
Nhà ông cũng gần đường, nhưng chòi canh thì nằm co ro tận ngoài sau cùng.
Nhưng ông Nếp không ra chòi ấy liền. Ông đi rảo quanh các ranh vườn ông. Chòi
canh vườn ông Thìn lấp ló giữa những thân cây trống gốc; đứng ở ranh đất nhà,
ông Nếp thấy điếu thuốc người láng giềng chốc chốc lại lóe sáng lên trong bóng
đêm. Ông kêu nói:
- Anh Sáu đó hả ?
- Ừ ! Tôi đây ! Hôm nay chú canh ?
- Ừ ! Mấy đêm rồi có gì lạ không ?
- Bên tôi thì không, nhưng bên chú thì chó sủa dữ lắm.
Rồi cả hai không nói với nhau gì nữa. Ông Nếp đi tuốt ra chòi.
Chòi rộng chỉ vừa hai người nằm, nóc cao tới đầu người đứng. Chỉ có bốn cây cột,
dùng làm chân chõng luôn.
Ông Nếp leo lên chiếc chõng treo trên bốn cây cột đó, mò kiếm chiếc gối bằng
tre, rồi ngả lưng xuống.
Ông đem nóp theo phòng hờ nhưng không dùng. Nằm trong nóp đã ấm lại không bị muỗi
đốt. Dễ chịu như vậy, rủi ngủ quên đi sao ? Nên chi ông đành lòng thỉnh thoảng
đập cái bạch vào da mình, không biết như vậy có giết được con muỗi nào không,
nhưng cử động thì bớt lạnh lại bớt buồn ngủ.
Ông hút liên tiếp một hơi sáu điếu thuốc, điếu nầy mồi qua điếu khác, hầu lát nữa
nhịn thèm. Phải, ông quyết giả đò ngủ quên để đập ăn trộm cho đã giận, nên định
không động đây, không để đốm sáng nào cho trộm thấy hết.
Đêm quê vắng lặng sớm quá. Nhưng lại uyên náo âm thầm mà chỉ có kẻ rình trộm mới
hay biết: côn trùng hòa tấu những bản nhạc buồn muôn đêm không thay đổi, và chó
sủa kẻ gian chẳng biết mỏi mồm.
Ông Nếp nằm đó lắng tai nghe. Ở những khu vườn trong xa, chó đưa người từ đầu
xóm đến cuối thôn. Gần hơn, giữa khu vườn, thỉnh thoảng nghe soạt một tiếng rồi
tiếp theo đó một vật rơi nặng xuống đất ẩm kêu cái bịch. Đó là sầu riêng rụng. Ấy
thế, sầu riêng không thể hái lúc già mà vú được như xoài. Nó chỉ chín trên cây
thôi và len lén rụng về đêm. Ăn trộm khỏe ru, chỉ việc đem cà-ròn tới lượm mang
đi.
Ông Nếp đếm thử theo tiếng động thì từ đầu hôm đến giờ rụng đi năm trái rồi.
Bỗng phía trước, chó nhà ông sủa vang lên. Nhưng nó chỉ sủa vài mươi tiếng
thôi.
Kẻ qua đường đã đi khỏi đó rồi chăng ? Rất có thể là như vậy lắm. Nhưng ông Nếp
lại nghĩ khác, vì ông đã quan sát kỹ lưỡng mấy đêm rồi. Đêm đầu chó sủa suốt
hai tiếng đồng hồ, đêm sau nó sủa trong một tiếng thôi, rồi mấy đêm kế đó, thời
gian báo động của nó càng đêm càng rút ngắn lại.
Phải chăng trộm đã đánh thuốc độc cho chó bằng thức ăn ? Ông nghi rằng thế.
Nhưng sáng ra, ông không thấy chó chết hoặc bịnh hoạn gì hết.
Thành ra, mặc dầu ông vẫn không hiểu tại sao chó càng đêm càng biếng sủa, nhưng
ông cứ tin rẳng gian phi vẫn có mặt cả trong lúc chó im thin thít.
Ông lồm cồm ngồi dậy, chõng tre kêu răng rắc khiến ông phải ngưng ngồi giữa lúc
thân mình ông chưa đứng hẳn. Ông chống tay để dựng thẳng người lần lần lên.
Gì mà nghe như vật nặng rơi xuống mương, kêu lủm chủm. Ông Nếp mở bét mắt ra
soi bóng tối mà vẫn không thấy gì hết. Nhưng ông tưởng tượng ăn trộm đang lần
dò mò kiếm sầu riêng rụng. Ông vái thầm cho nó đi bậy vào gốc cây, rồi một trái
sầu riêng nặng cỡ bốn kí-lô và lởm chởm chông gai cứng rơi xuống trên đầu nó
cho nó chết tươi cho rồi.
Ông Nếp bước xuống đất, mò dưới chõng thì tay đụng phải cây hèo giấu dưới đó.
Ông định lấy chĩa ba nhưng nhớ lại rằng bà Hương trưởng rất sợ án mạng, nên ông
tạm dùng hèo vậy.
Ông Nếp đưa mặt tới mà dòm, làm như hễ chồm tới một chút là gần tên ăn trộm hơn
một chút và vì vậy dễ thấy nó hơn. Nhưng bóng đêm tùng đảng vẫn dày đặc một
cách đáng tức.
Thình lình ông nghe nhánh khô dướì đất như bị ai đạp lên, kêu rốp một cái. Tiếng
động kêu lên ở phía trái ông. Ông Nếp nín thở lắng nghe. Tên trộm hình như cũng
đang nghe ngóng nên phía đó lại im phăng phắc.
Nhưng kìa, tiếng động lại nổi lên, một tràng tiếng rôm rốp nầy kế tiếp một
tràng khác sau một thời khắc ngắn. Rõ ràng là tên trộm đang bước.
Ông Nếp bước trịch qua một chút thì...
Đàng xa, bên vườn Ba Nâu, có một khoảng đất trống. Đêm nhiều sao rọi chút ít
ánh sáng xuống đó và vệt sáng mờ ấy làm nền, giúp cho ông thấy dáng một người
đang dè dặt bước.
Nó lần đi tới chỗ ông đứng, như vậy, ông chỉ có thể đâm nó bằng chĩa ba mà
thôi. Ông Nếp rón rén bước để tránh đường đi của kẻ gian và để sang qua bên
hông của nó.
Bấy giờ, nó chỉ còn cách chỗ ông đứng độ ba gốc sầu riêng nữa mà thôi. Ông đưa
ngang cây hèo, co gối để hạ mình xuống thấp rồi dồn hết thần lực vào hèo, ông
quất ngang tới.
Hèo đi có gió, rồi chạm phải gì kêu một cái cộp.
Tiếp theo đó là tiếng kêu: "Trời ơi !" nho nhỏ và tiếng người té nghe
một cái thụi.
Ông Nếp biết rõ là ăn trộm bị thương
chỗ nào, vì ông đã hạ cây hèo ngang ống quyển nó. Tiếng cộp là tiếng gõ va vào
xương ống quyển của hắn.
Tuy vậy ông cũng rút cây đèn ló ở lưng quần ra để rọi cho rõ thêm và để biết
vài chi tiết khác.
Tên trộm rên hừ hừ, nằm nghiêng dựa bờ một cái mương, và lạ kỳ hết sức, con chó
nhà cũng đang ở đó và đang theo hửi nó.
"Chó nãy giờ ở đâu mà không nghe sủa, và bây giờ cũng chẳng lên tiếng như
vầy ?"
Hai câu hỏi trên, ông Nếp vừa thấy rằng đáp không được, thì ông bị nhiều câu hỏi
khác dồn tới trong đầu ông.
Hà, ăn trộm mà lại mặc âu phục đàng hoàng: sơ-mi cao-bồi bỏ ngoài, quần trô màu
cứt ngựa, giày da, đế cao-su sống.
Ông Hương trưởng bước tới rọi đèn vào mặt nó thì nhận ra đó là một gã thanh
niên độ hăm lăm tuổi, mũi cao, da trắng, đẹp trai lắm.
Ông Nếp ngờ ngợ một lát vì nét mặt đặc biệt của tên trộm. Bỗng ông nghĩ ra điều
nầy: đó là nét mặt riêng biệt của người Tàu, nói rõ hơn, của người Triều-Châu.
Chỉ biết được có bấy nhiêu đó thôi, còn tại làm sao mà người con trai tướng
sang, y phục mắc tiền nầy lại đi ăn trộm thì ông nghĩ không ra.
Ông khom xuống hỏi nho nhỏ, vì ông nghi có chuyện lạ, không muốn làm náo động
xóm làng:
- Mầy tên gì, và ở đâu ?
Tên trộm cứ rên, lâu lắm mới nói được:
- Đau chết tôi bác ơi !
- Ai bác, cháu, với mầy là đồ quân trộm cắp. Tao hỏi mầy tên gì và ở đâu ? Nói
mau đặng tao đưa ra nhà việc. Cho mầy biết một phen đặng mầy tởn tới già.
Giữa những tiếng rên, tên trộm nói :
- Bác ơi, cháu là Xường Hia, ở Lái-Thiêu.
- Ừ, mầy là cắc chú, Tiều, phải không, tao xem mặt là biết liền. Mầy là con cái
nhà ai, chệch lò gốm hay chệch lò đậu ?
- Hừ... hừ... hừ, cháu là con của chú Duỳn.
- Của ai ? chú Duỳn, chú Duỳn chứa cờ bạc đó à ?
- Dạ phải.
- Trời ơi, bộ tía mầy sạt nghiệp rồi sao mà mầy đi ăn trộm ? Cha con mầy ác lắm,
nên bị tổ trác đêm nay cũng phải.
- Ý ôi trời ơi,.. đau chết đi thôi... Hừ... hừ, bác ơi, cháu không phải ăn trộm
bác à !
- Chớ mầy đi đâu nửa đêm nửa hôm trong vườn người ta ?
- Thưa bác, khó nói lắm. Xin bác thương
giùm mà tha cho cháu. Thật tình cháu không phải ăn trộm.
- Không ăn trộm nòi, thì ăn trộm nảy. Thôi được. Mầy gãy cẳng rồi hả ? Nằm đó
tao đi kêu Hương quản đây.
- Cháu lạy bác, bác ơi ! Đừng kêu tội nghiệp.
- Thì mầy khai thật đi, tao nghe coi.
- Cháu khai ra, sợ bác còn giận thêm.
Ông Nếp sanh nghi, tắt đèn rồi nói :
- Cứ khai thử xem làm sao, bằng không, tao đi kêu làng liền bây giờ.
- Hừ... hừ.. hừ bác ơi, xin bác thương
cháu... số là... hừ... cháu có hẹn với cô hai...
- Cô hai nào ? Ông Nếp hỏi mà trống ngực ông đánh thình thình.
- Dạ cô hai Điệp, con của bác.
Ạch... ông Nếp đá vào lưng nó một cái rồi quát:
- Nói bậy !
Nhưng ông run lập cập. Đứa con gái mà ông ngỡ chính chắn lắm, đoan trang lắm, lại
rước trai ban đêm. Hèn chi mà sáng sáng không nghe nó nói gì về vụ chó sủa về
khuya hết, và hèn chi mà con chó nhà sủa càng đêm càng thưa. Phải mà, nó giới
thiệu nhơn tình nó với con chó rồi, con nầy đâu có sủa nữa.
Con chó thật là đồ phản chủ. Hèn chi hồi nãy nó chạy lại liếm và hửi chú tửng
gãy giò nầy.
Ông Nếp lặp lại:
- Mầy nói bậy, mầy chết bây giờ.
- Dạ quả thật như vậy. Không tin bác kêu cô hai mà hỏi thử coi.
Ông Nếp ngồi phệt xuống đất. Làm sao mà không tin được ? Ông chỉ khổ là không
biết làm sao đây. Tha cho nó thì cũng tức lắm. Nhưng dầu có cắn răng mà tha, nó
cũng chẳng lết đi đuợc: cả hai ống quyển nó đều gãy.
Kêu Hương quản chăng ? Hẹn với gái chưa chắc nó sẽ bị tội gì mà ông còn mang xấu
với làng nước nữa là khác. Ra làng, nó khai tạch hoạch ra thì thiên hạ sẽ hay hết
rồi đồn rùm lên.
Thủ tiêu nó để phi tang ? Thằng dịch nầy phá con gái ông, đối với ông, thật nó
đáng chết. Nhưng giết nó thì dễ mà làm cho mất xác nó, khó vô cùng.
- Bác ơi, cháu lên đây bằng xe máy, xe còn để ngoài đầu vườn ngoài của bác. Ai
mà đi ăn trộm bằng xe máy đó bác !
Khổ ơi ! Ông Nếp nghe đến điều sau đó thì càng rầu thêm nữa. Đó là một cục nợ
thứ nhì, tang chứng cho cục nợ thứ nhứt nầy.
Mà thế nào cũng phải tính cho xong nội đêm nay. Bây giờ đã mười giờ khuya rồi.
Vài giờ nữa là người ta sẽ thức sớm lượm sầu riêng, là bạn hàng sẽ qua lại dập
dìu.
Ông ngồi đó hằng giờ, bóp nát trí mà không nghĩ ra mưu mẹo gì cả. Lắm lúc ông tức
giận sôi gan cái chú tửng đã làm khổ ông. Ông muốn đập vài hèo cho nó hui nhị
tì cho rồi, nhưng ông dằn được mà mỗi lần nén cơn giận là ông run lên.
Bỗng tìm ra được một kế, ông đứng phắt dậy.
° ° °
Cô Điệp thao thức mãi không chớp mắt được. Cô van vái thầm
người khuất mặt xui cho Xường-Hia đêm nay không lên. Đành rằng ông già sẽ rình
liên tiếp đến bắt được trộm mới nghe. Nhưng mai nầy cô đi chợ, cho Xường-Hia
hay là êm chuyện.
Mỗi lần chó sủa là cô giựt mình đánh thót một cái. Cô tưởng tượng tình nhân
đang đạp xe máy nơi một xó rào rồi dò dẫm ra sau chòi.
Xường-Hia chắc đang lọt mương. Là dân chợ, y lội vườn rất dỡ, nhứt là về đêm.
Con gái Hương trưởng Nếp hồi hộp mà hình dung ngườì yêu đang bước gần tới chòi.
Cha cô núp sẵn dưới gốc một cây măng cụt.
Rồi... trời ơi, ghê quá... cô Điệp không dám tưởng tượng thêm nữa. Tuy nhiên rồi
cô cũng phải nghĩ tới. Hình ảnh rình trộm của cha cô cứ theo ám cô mãi, xua
hoài nó không đi.
"Đó rồi ông già ổng nhảy ra, đâm mạnh chĩa ba vào bụng tên dạ khách. Chĩa
ba lụi vào thịt nghe cái sựt. Xường-Hia la trời nhào xuống, ruột gan lòi ra
lòng thòng lểnh thểnh."
Cô Điệp rùng mình. Cô lại nghĩ tiếp, theo một giả thuyết khác. "Đó rồi ông
già ổng nhảy ra. Nhưng Xường-Hia có võ nghề. Ừ, chú Duỳn nổi danh là tay giang
hồ mã thượng, lại không truyền võ cho con à ? Y tránh kịp rồi giựt chĩa ba mà
đâm lại ông già."
Cô Điệp nước mắt ràn rụa khi nghĩ rằng cha cô có thể mang hại vì cô.
Lắm lúc cô muốn mở cửa chạy ra chòi quì lạy thú tội với cha, để tránh tai họa xảy
đến. Nhưng cô không dám, nên đành nằm đó mà xót xa.
Cái lần chó nhà cô sủa, tim cô như muốn phá ngực cô mà nhảy ra. Cô nín thở muốn
hụt hơi, nhưng đợi mãi mà không nghe động tịnh.
Cô đoán đủ điều, nhưng đều thấy là sai. Nếu Hia bị thương, thì ông Nếp đã đi
kêu làng. Nếu Hia chạy thoát, cha cô đã rọi đèn sáng cả vườn và tri hô lên rồi.
Cô đợi gần hai tiếng đồng hồ mà không nghe thấy gì lạ nên định bụng đêm nay Hia
không có lên. Rồi mỏn quá, cô ngủ quên luôn.
Sáng hôm đó, cô Điệp dậy thật sớm, chạy ra vườn xem có gì lạ hay không.
Ông Nếp đã vào nhà sớm hơn nữa để uống nước trà hừng đông thường lệ mà cô Điệp
đã nấu và châm sẵn.
Trời mới mờ mờ đất, chưa phân biệt được gì. Tuy nhiên Điệp vẫn cố quan sát
quanh chòi, coi có dấu vết chiến đấu nào sót lại không.
Không, cây cỏ vẫn y nguyên, không có lấy một nhánh tươi nhỏ nào gãy hết, hoặc một
chòm cỏ nào trốc gốc cả.
Nhưng kìa, gì mà trăng trắng như chiếc khăn tay ? Điệp bước sấn lại chỗ đó, cúi
xuống dòm thì thày quả đó là chiếc khăn mu-soa. Nàng cầm lên thì hỡi ơi, rõ
ràng là khăn của người yêu! Chữ Tống, họ của Hia, thêu nơi góc khăn theo lối cổ
triện, hiện ra mờ mờ trong ánh sáng mới hừng.
Điệp ngồi xuống dòm sát dưới cỏ thì bỗng khủng khiếp vô cùng: một bãi máu to bằng
bàn tay, đã khô lâu rồi, đang bám vào đất bồi đen-đen ươn-ướt nơi bờ mương.
Điệp bối rối vô cùng. Thế nầy là anh ấy đã bị thương. Tuy chạy thoát được nơi
đây nhưng không rõ có về đến nhà và có sống được hay không.
Đứa con gái trên Bộc, trong sầu riêng nầy héo xụ trở vào nhà, loay hoay làm rớt
một cái thau kêu cái rổn, đánh bể một cái tộ và làm ngã chồng vỉ tráng bánh
tráng kêu cái rầm.
Ông Nếp nhìn con hầm hầm, khiến Điệp lấm la, lấm lét không dám ngó lên.
Trong nhà không khí khác lạ lắm. Bà Nếp thì buồn hiu và chẳng nói với Điệp lời
nào như mọi bữa.
Đây là một nỗi lo mới cho Điệp. Chắc chắn ba má cô đã biết hoặc đã nghi cái gì
rồi. Liệu cô khỏi đòn bọng hay chăng ?
Cô Điệp hối hả làm công việc cho mau xong để đi xẹt lại đằng hàng xóm, coi có
nghe tin tức gì về một người con trai người ta bắt gặp nằm giữa đường lòi ruột
hay không.
Nhưng tuyệt nhiên không nghe ai nói đến tai nạn gì lạ xảy ra cả. Và suốt ngày
đó, Điệp bứt rứt vô cùng, trông cho mau hết ngày, vì hôm sau là ngày đi chợ,
nàng sẽ có địp xuống dướì nghe ngóng.
Ngày kế đó, Điệp tới bữa đi mua thức ăn để dự trữ hai ha hôm trong tuần. Cái gì
nàng muốn biết là được biết ngay. Thiếm Phòn ở sạp chạp phô tại chợ Lái-Thiêu vốn
rõ cuộc tình duyên thầm lén của cặp Hia Điệp vì thiếm là thùng thơ miệng của
hai đàng, cho Điệp hay rằng Hia đã mất tích một ngày và hai đêm rồi.
Hia ra đi tối hôm kia, hồi tám giờ, đi bằng xe đạp. Người nhà chỉ biết có thế,
và cả chợ không ai gặp y đêm đó cả, nên chẳng biết y đi về hướng nào.
Điều chắc chắn là y không có lấy tiền bạc của ông già y. Thế tức là không phải
y trốn nhà. Cũng không lẽ bị ai giết để giựt tiền.
Nghe xong, mặt Điệp tái lét. Thiếm Phòn ngỡ nàng lo sợ cho tánh mạng của người
yêu, nên cũng chẳng ngạc nhiên.
Điệp mua hối hả vật nầy thức nọ, quên năm bảy món và không thèm đếm tiền họ thối
lần nào cả, rồi thót lên thổ mộ về nhà.
"Thôi thế là chết rồi,
nàng nghĩ. Chắc chắn là ông già ổng đã thủ tiêu anh ấy rồi. Bị thương
có máu, nhưng nạn nhơn thì không ai tìm ra, thì có phải là y đã bị chôn vùi đâu
đó rồi chăng ?
Ðiệp như đứa mất hồn, làm đâu quên đó, đập món nầy, đánh rơi món khác.
Khi ăn cơm trưa xong, nàng lại chạy ra vườn, tìm quanh quất coi có gặp chỗ đất
nào bị đào và mới lấp lại không.
Ông Nếp rình từ cử chỉ nhỏ của con. Ông giận sôi gan, và khi Điệp trở vào ông
hét:
- Tao đă chôn nó rồi, đố mầy kiếm mộ nó được !
Nói xong ông chụp đầu con, kéo xển Điệp vô trong rồi rút roi đuôi cá đuối mà quất
thôi như mưa sa gió táp
Vừa quất ông vừa nói :
- Nè, tao có con, tao gả cho An nam[1], chớ nào tao có thèm gả cho chệch đâu.
Mà lại là chệch hút máu người ta nữa. Thứ cái quân gạt người lấy của đó, lạy
tao, tao cũng chẳng thèm ngó.
Nói xong ông lại quất lia lịa.
Sợ hàng xóm hay được mang xấu, cô Điệp chỉ kêu trời nho nhỏ mà chịu, cắn răng
hít hà và van lơn cha nới tay cho.
Khi đã mỏi tay, ông vừa quất roi cuối cùng vừa nói :
- Chết đi cho rảnh rồi tao chôn chung với nó một lỗ.
Cô Điệp rêm cả mình mẩy, lùi vào xó bếp mà khóc thút thít. Bà Hương trưởng cứ
ngồi đó mà gọt củ cải không thèm nói tới con một lời.
Nhưng cái đau nơi thân thể nào có thấm vào đâu đối với cái đau nơi lòng.
"Thế là không còn anh Hia yêu dấu nữa, anh Hia đẹp trai, và nói tiếng Việt
còn sành hơn các cậu trai quê khác !.Nhưng ông già chôn anh ấy ở đâu cà, mà
mình tìm mãi không ra ? Còn chiếc xe máy của ảnh lưu lạc về đâu ? Mỗi đêm ảnh đều
đạp xe máy lên đây kia mà ?
Điệp bỏ ăn suốt bốn hôm, rồi sau đó, chỉ liếm láp qua loa thôi. Nàng gầy đi
trông thấy. Mới có mấy ngày mà má nàng hóp vô, nước da ngả màu huỳnh đàng, tóc
thì rối nùi không buồn chải gỡ gì hết.
Chiều chiều cô hay đi ra bờ rạch ở ranh vườn hướng Tây. Cô hồ nghi ông Hương
trưởng vứt xác Hia xuống đó, nhưng đầu rạch, cuối rạch, không thấy và không
nghe nói có xác ai nổi lên.
Đêm đêm, cô van vái vong hồn Hia về báo mộng coi anh ấy bị chôn ở đâu, để biết
mà săn sóc mả mồ. Nhưng hồn Hia chắc còn vương vấn đâu đó,
nên chưa về được.
Điệp thường đọc tiểu thuyết trinh thám. Trong đó vụ sát nhơn nào, rốt cuộc cũng
bị trừng phạt.
Thám tử họ tài lắm: chỉ có một chéo khăn, một mẩu thuốc lá, một dấu chơn làm chứng
mà họ cũng tìm ra được thủ phạm, hoặc tìm ra được nơi vùi xác nạn nhon.
Điệp rất sợ ngày kia, một thám tử đại tài nào sẽ khám phá được cái mồ bí mật mà
chính nàng tìm mãi không ra.
Hởi ôi, đã mất người yêu, rồi lại mất cha già, vì thế nào ông Hương trưởng cũng
sẽ hị bắt, bị tù đày hay xử tử cũng nên.
Những lúc nghĩ tới vụ đổ bể tùm lum ra đó, Điệp lại khóc òa.
Ông Hương trưởng thì lạ lắm. Ông không đi đâu nữa cà, trái với tật dạo xóm của
ông mọi lần.
Tối lại, đêm nào ông cũng bắt Điệp canh vườn chớ không phải thay phiên như trước.
Có lẽ ông nghĩ : "À, như mầy hư rồi, cũng chẳng giữ làm chi, vả lại càng
nên bắt mầy chịu lạnh cho đáng kiếp.
Bốn ngày sau, tới ngày đi chợ. Điệp lại dò la tin bạn, nhưng thiếm Phòn vẫn
không biết gì thêm về Hia. Chú Duỳn đã đi cớ bót. Có nhựt trình đăng tin nầy nữa
và họ cũng đã nêu ra nhiều giả thuyết đọc nghe hay như tiểu thuyết trinh thám.
Chú Duỳn lại có treo giải thưởng: aì mà tìm được con chú, hễ tìm sống thì đền
ơn năm muôn, chỉ xác thì một muôn, còn ai mà biết dấu vết gì mách cho, cũng được
hưởng năm ngàn.
Người Tàu rất thích ăn sầu riêng. Họ lại khoe của bằng số tiền ăn sầu riêng mỗi
năm. Năm rồi, chú Duỳn khoe đã ăn hai muôn bạc sầu riêng thì biết chú giàu đến
bực nào. Nên khi đứa con trai một của chú mất, tốn bao nhiêu để tìm ra nó, chú
cũng chẳng tiếc.
Đó là những tin tức ăn trợt, không giúp Điệp biết thêm gì hơn về vụ mất tích của
người yêu.
Lụi đụi mà nửa tháng đã qua. Vết roi cá đuối đã lành, nhưng vết thương
bên trong chưa khép, Bà Hương trưởng bớt ghẻ lạnh với con, còn ông Hưong thì
càng bữa càng quạu quọ hơn.
Một buổi trưa kia, thấy ông Hương
nằm thiếp đi trên bộ ván giữa nhà, Điệp mới đám ló lên nhà trên, lại bàn thờ lấy
bộ truyện Thuyết Đường đọc cho đỡ buồn.
Cô vừa thò tay lên bàn tổ tiên thì bỗng văng vẳng nghe tiếng rên hừ hừ nho nhỏ.
Cô dừng tay lại, nín hơi để nghe ngóng. Ảo tưởng chăng ? Tiếng rên nhỏ quá, mơ
hồ quá, như ở đâu dưới âm phủ vọng tên, hoặc như tiếng oan hồn thoảng qua trong
gió.
Cô đợi vài phút thì bỗng nghe lại tiếng đó. Cô rán lắng tai thì có cảm giác rằng
tiếng ấy ở bên chái nhà phía tả.
Nhẹ và lẹ như con mèo, Điệp bước lại chái, kê sát tai vào vách nhưng đợi hơn mười
phút mà khỏng nghe gì nữa hết.
Ông Nếp cựa mình khiến cô con gái hoảng sợ rút êm xuống nhà bếp.
Nhà ông Nếp kiến trúc theo lối nhà có của ngày xưa ở thôn quê: ba căn hai chái,
nhưng hai chái lại đóng vách ba bên bốn bề thành hai cái buồng thật kín. Ngồi
giữa nhà, người khách cứ ngỡ nhà chỉ có ba căn vì chái bị ngăn ra bằng vách bổ
kho kiên cố. Hai cái chái ấy dùng làm lẫm lúa rất tiện nhiều bề. Trộm có đào
huyệt có khoét vách thì gặp lúa ngay, không thế nào vào nhà được.
Mùa sầu riêng trùng với giữa mùa lúa, nên chái bên tả đã trống trơn, vì lúa đã
bán hết phân nửa.
Những lúc lẫm lúa trống, Điệp cũng không đến đó làm gì, lại còn cố tránh nó vì
thuở bé cô rất sợ cái xó nhà tối thui có vẻ đầy ma quỉ ấy.
Tối hôm ấy Điệp cố ngủ sớm để có thể dậy vào giữa khuya. Quả thật, khi cô mở mắt,
nhìn sao trên trời thì biết bấy giờ cũng đã hơn hai giờ đêm rồi.
Thuộc nẻo trong vườn, cô đi thoăn thoắt ra nhà, đứng phía sau nghe ngóng giây
lâu xem ông Hương trưởng thức hay ngủ. Ông nầy đang ngáy pho pho ở buồng sau
đó.
Yên lòng, Điệp bọc qua phía tả, lần lại sát vách, rồi kề tai vào. Giây lâu cô
như muốn ngộp hơi: tiếng rên lại nổi lên ! Đây là nhà thờ xưa đã mấy đời. Không
biết bao nhiêu người đã chết trong đó rồi, thì có thể có ma lắm. Nhưng ma chỉ
hiện cho người ta thấy, chớ ít khi nghe nói ma rên.
Đánh bạo, Điệp gõ nhẹ vào vách và hỏi nhỏ: Ai đó ? Không nghe đáp mà tiếng rên
cũng dứt.
- Cộp, cộp, cộp, ai đó ? Cô lặp lại.
Tiếng rên lại vang lên và tiếp theo đó như ai lấy ngón tay gõ vào thanh ghế bố
cũng kêu lên cộp cộp nhưng nhỏ quá vì thanh ghế bố không dội tiếng được như
vách.
Điệp cứ hỏi ai đó mãi mà không nghe đáp. Mỏi quá và sợ động, cô rút lui về chòi
và thao thức đến gà gáy.
Nửa tháng nay làng trên có dịch thổ tả. Nhà nước tổ chức chích thuốc ngừa tại
các làng chung quanh. Vì dịch mạnh nên sự bắt buộc tiêm thuốc rất gắt. Người ta
đi từ nhà bảo phải ra công sở chích thuốc.
Điệp đã tiêm rồi, ông bà Hương trưởng không thể lánh mặt được nên cũng phải ra.
Ở nhà một mình, Điệp tìm được chìa khóa của kho lúa (ống khóa khi mua có hai
chìa, mà ông Nếp chỉ giữ một thôi, còn một móc trên cây đinh dưới bếp rồi quên
luôn). Nàng bậm môi mở đại lẫm lúa ra mặc dầu rất sợ không biết cái gì trong
đó.
Thừa cơ cửa mở, ánh sáng a vào, đuổi bóng tối chạy rút vào phía bên trong. Mùi
bụi bậm chọc Điệp nhảy mũi liên tiếp hai ba cái. Nàng không thấy gì cả, vì đang
ở ngoài sáng mờ nhìn vào đó, mắt còn lòa.
Nhưng ngó kỹ thì thấy bên trong có dạng người nằm trên sạp. Người nầy nghe tiếng
mở cửa, ngước lên dòm.
Cả hai chợt nhận ra nhau và Điệp kêu:
- Anh Hia !
Hia làm thinh, khoát tay, ý muôn bảo Điệp đừng có lên tiếng.
Con gái ông Nếp chạy a lại chỗ chú tửng nằm, ngồi xuống ôm bạn rồi khóc òa.
Giây lâu nàng tấm tức tấm tưởi hỏi:
- Tại làm sao mà ổng nhốt anh như vậy ?
- Thả anh thì anh đi không được. Còn giao anh cho cảnh sát làng thì ổng sợ đổ bể.
Ổng định nuôi anh lành rồi thả đi.
- Mà anh bị thương ở đâu ?
- Bị ổng quất gãy giò.
- Trời ơi, em cứ ngỡ anh chết, em lo sợ và rầu chín ruột.
- Em có cái gì ngọt ngọt cho anh ăn được không ? À mà sao em dám vào đây ?
- Đừng hỏi lôi thôi, ổng về thì khốn, em lấy chuối anh ăn.
Khi Điệp trở vô, Hia ngốn một hơi hết bốn trái chuối chà. Điệp lấy vỏ chuối bỏ
vào túi áo nàng cho mất dấu rồi nói :
- Bây giờ anh nên đi rồi em sẽ liệu phận em.
- Đi không được, xương chưa lành. Mà em đừng lo, sớm tối gì anh cũng ra khỏi
nơi đây. Chỉ cực khổ một lúc thôi.
Điệp lại khóc rấm rức một hồi. Khi sực nhớ rằng cha mẹ gần về, nàng vội từ giã
bạn rồi ra đi, khóa cửa lại cẩn thận.
Ông Nếp về tới nhà thì thấy Điệp đang xắt chuối cho heo ăn nên không nghi ngờ
gì cả.
Ông cũng định
"cho heo ăn" nhưng nhớ ra rằng hồi nãy đã quên giấu cơm. Ông dùng thầm
với ông ba tiếng "cho heo ăn" đó vì ông tức chú tửng Xường Hia lắm.
Đêm ấy, sau vài giờ ngồi ngoài vườn lạnh để tính kế, ông nhớ ra lẫm lúa bỏ
không và quyết nhốt Hia vào đó, đợi cho liền xương.
Ông dịu giọng bảo rằng :
- Thôi tao nuôi bịnh mầy một lúc, rồi lành thì tao cho về. Bây giờ thả mầy, mầy
đi không nổi, mà giao cho cảnh sát cũng tội nghiệp mầy. Nhưng mầy phải nhớ điều
kiện sau đây: là mầy phải cắn răng cam chịu, rên la thì tao giết liền.
Xường Hia hiểu ngay thâm ý của ông Nếp. Nhưng cũng đành phải vưng dạ chớ biết
sao.
Ông Hương trưởng cõng chú tửng trên lưng. Đi được vài bước, nghe nặng quá, ông
nổi dóa lên, muốn quăng nó xuống cho rồi.
Chợt nhớ ra một điều, ông quăng y xuống đất thật và bỏ y ở đó mà đi mất.
Nửa giờ sau, ông trở về với bốn tấm tre cứng. Ông Nếp đã thấy nhiều trường hợp
cứu thương, nên ông biết bó cẳng gãy.
Ông kẹp mỗi ống quyển của Xường-Hia vào giữa hai tấm tre đó rồi lấy dây chuối
khô mà cột lại bên ngoài, bó băng nhiều tuôn dây như người ta ràng bánh tét.
Chú tửng cắn răng hít hà mà kêu trời liền miệng. Công việc nầy mà đợi vào nhà mới
làm thì Điệp nó hay đi còn gì. Nên chi ông Nếp mò trong bóng tối mà ràng rịt
hai cẳng gãy của chú tửng.
Ông không biết kéo làm sao cho hai khúc xương gãy ngay đường lại, hầu chỗ xương
gãy ăn khớp, nhưng ông không bận tâm lắm về vụ đó.
Ông nghĩ bất quá là nó mang tật, chớ cũng chẳng sao. Ngày sau, nó mà đi cà dẹo
thì càng đỡ khổ cho con gái đẹp trong xóm trong làng.
Xong đâu đấy, và đợi cho Xường-Hia bớt đau, bớt rên, ông mới cõng y lên lần nữa
mà vào nhà.
Bắt đầu từ đêm ấy, ông khổ không tả được.
Mỗi bữa ăn, ông phải ép vài chén cơm cho nó dẽ dặt rồi giấu trong túi với lại một
miếng cá khô.
Ăn cơm xong, ông lừa dịp Điệp chạy đâu đó, để đem cơm nước vào dưng cho tên tù.
Bị mất công, người gác ngục bất đắc dĩ tức mình lắm, khổ nhứt là việc tiểu tiện
và đại tiện của Hia.
Ông có cho hắn một cái hũ. Nhưng hắn không ngồi dậy được thành hắn đi bậy ra
đó, dơ dáy hôi thúi chịu không nổi.
Sợ mùi hôi thúi bay ra ngoài lộ việc, ông Nếp lại phải mỗi ngày mấy bận, lén
vào đó giúp y tiểu tiện, đại tiện. Thật là con cưng không bằng.
Lắm lúc bưng cái hũ đi đổ, ông nổi dóa muốn tưới lên đầu nó cho nó đáng kiếp.
Giận quá mà! Hồi thuở cha ông bịnh già, đến lúc cụ ngặc mình ông còn chưa nuôi
dưỡng chu đáo đến như thế.
Mỗi ngày Hia chỉ ăn có hai bữa cơm khô, và uống vài lần nước. Nhưng sự thiếu thốn
ấy không lỗi tại ông Nếp. Ông không làm sao hơn được.
Ông chỉ ác có mỗi một việc sau đây: là ông nấu vỏ măng cụt, bắt Xường Hia uống.
Nước vỏ măng cục có dược tánh làm cho táo bón. Như vậy, ông bớt được nhiều lần
đi đổ hũ. Ông không sợ mất công lắm, nhưng vô ra nhiều lần quá, rủi Điệp nó bắt
gặp thì hỏng việc.
° ° °
Từ ngày Điệp khám phá ra cái ngục kín ấy thì Hia dễ chịu được
đôi phần.
Đêm nào người yêu của chú tửng cũng đem vào khám bánh, chuối, măng cụt, thơm,
nước trà, v. v...
Dễ chịu hơn nữa là nàng đem tin tức bên ngoài vào khiến Hia khỏi thấy mình sống
cách biệt với thế gian.
Ông Nếp thì yên lòng nên đêm nào cũng ngủ say trong nhà. Đôi bạn nhờ thế mà rù
rì được từ nửa đêm đến gần sáng, Điệp bỏ phế việc canh vườn và ăn trộm thật sự
mặc sức mà lượm sầu riêng.
Đêm ấy là đêm thứ ba mươi từ khi Hia bị gãy giò.
Điệp mới rón rén bước vào lẫm lúa thì ai rờ trúng nàng. Nàng hoảng hốt muốn la
lên thì Xường-Hia cười hì hì và suỵt một tiếng bảo im.
- Anh đã đi được rồi !
- Chút ít thôi, còn run dữ lắm nhưng không nghe đau nhức gì trong ống chơn hết,
chắc là lành rồi.
- Vậy thì anh nên xa chỗ nầy...
- Vô ích em ơi, lại còn có hại nữa là khác !
- Sao lạ vậy ?
- Thì em tính ! Đã tu chín kiếp rồi, còn một kiếp dại gì ngã mặn. Chịu cực khổ
suốt tháng,
mấy ngày nữa thì lành, đi ra đường hoàng, trốn làm gì cho khó thấy mặt nhau về
sau.
Vả lại anh mà trốn, thì chỉ nhờ em thôi. Như vậy rồi em cũng phải trốn nữa mới
yên được. Rắc rối lắm mà nào có đáng gì.
Vì vậy, anh quyết ở lại cho trọn đạo rể con.
Nói xong Hia cười dài, cười một cách ghê rợn khiến Điệp phải rùng mình.
Nàng rờ chơn bạn thì nghe, qua hai ống quần, bốn thanh tre vẫn còn cồm cộm.
- Lành rồi chắc gỡ tre ra được chớ ?
- Đợi cho chắc ý mới dám gỡ. Ngứa ngáy ở trỏng khó chịu muốn chết đi. Nhưng anh
cũng phải ráng.
- Sao họ nói phải bó ngải mới lành ?
- Ở nhà thương
người ta bó bằng thạch-cao, chớ không có ngải nghệ gì hết. Hình như là tự nhiên
để lâu thì nó lành chớ không cần thuốc. Ờ đây tre thay thế cho thạch cao, thì
cũng tạm được.
° ° °
Trưa hôm sau, Điệp đi chợ, ông Nếp vào lẫm lúa thấy Hia vịn
vách mà lần đi, ông nói :
- Mầy đi được rồi, thì khuya nay tao đưa mầy ra đường, mầy đón xe sớm và về.
Còn xe máy của mầy tao cất phía trong kia kìa, thì đến chừng thiệt mạnh, mầy trở
lên, giả đò đí mua trái cây, tao sẽ trả cho.
Xường-Hia lễ phép nói:
- Thưa bác, cháu mang ơn bác nuôi dưỡng bấy lâu thật không biết lấy chi đền
đáp. Nên chi cháu quyết định ở lại đây luôn.
Ông Nếp kinh ngạc một giây, rồi nổi giận đùng đùng. Ông muốn tống cho chú tửng
một đạp cho y gãy giò một lần nữa.
Nhưng ông dằn được, quày quã bước ra và đóng cửa lại một cái rầm.
° ° °
Nằm sải lai trên ván giữa, ông Nếp gác tay lên trán mà thở ra
vào, khổ tâm muốn chết được.
Bà Hương trưởng thì cứ thủ phận thái mắm sau bếp. Từ thuở giờ, bà không quyền dự
vào việc lớn của ông, nên cứ lo nồi cơm trách cá với con.
Vụ nầy bà Nếp đã biết nhưng không ngờ nó rắc rối như vậy về sau.
Bà xỉa qua xỉa lại cục thuốc, suy nghĩ giây lâu rồi nói :
- Thôi, chắc nó nằm vạ đặng buộc mình gả con Điệp cho nó, chớ không gì lạ.
Gả thì ông quyết không gả rồi. Nhưng tình sự như vầy, ông cũng phải hứa bướng với
nó đi. Nó mà ra khỏi nhà nầy rồi thì không còn gì đáng lo nữa hết.
- Khổ quá, có con gái như chứa súng lậu trong nhà, lời tục nói không sai.
Hai ông bà bàn qua lại mà không hay Điệp đã đi chợ về. Nàng rình nghe rõ đầu
đuôi và buồn cười lắm.
- Chết ông già rồi, nàng nói thầm. Phen nầy mà không gả thì nó nằm vạ đến Tết
cũng không chịu vế. Tốn cơm cho ổng biết chừng !
Điệp mừng lắm và khen phục người yêu biết cách lợi dụng tình thế.
Tối lại ông Hương
trưởng lại vào lẫm. Lần nầy ông cầm theo một gói bánh và xách theo một bình
trà. Lại thắp đèn sáng lên.
Chủ khách lễ phép với nhau, coi có vẻ lắm.
- Cháu à, ông Nếp ngọt giọng nói, cháu ăn bánh uống nước, rồi bác nói chuyện
cháu nghe.
Hia xin phép rồi tấn công bánh liền. Y ăn được nửa bữa, ông Nếp vô đề :
- Cháu nè, bề gì con của bác nó cũng đã hư với cháu rồi. Nên bác nghĩ, không gả
cho ai mà hơn gả cho cháu. Vậy mai cháu về thưa lại với ba cháu, cậy mai lên hỏi
là bác gả liền.
Xường-Hia hạ tách trà xuống, cười hóm hỉnh rồi nói :
- Bác thương
như vậy, cháu đội ơn bác vô cùng. Nhưng cháu quyết ở đây. Bác nghĩ thử coi, hẹn
với con bác mà tội đáng bao nhiêu. Bác lại nỡ nhốt cháu hơn tháng trời, cực khổ
không thể tả. Bác biết, ngang nhiên mà nhốt người như vậy, sáu tháng tù là
ít....
Ông Nếp tái xanh mặt đi. Ừ thằng nầy nó muốn gì mà lại nói kỳ cục vậy. Muốn làm
rể lại dám hâm dọa ông nhạc à ? Nhưng cũng làm tỉnh, ông nói :
- Thì chuyện đã lỡ rồi, dầu sao cháu cũng sẽ là rể con trong nhà, buồn làm
gì....
- Liệu bác sẽ nhớ lời hay không ?
- Bác người lớn lẽ nào đi nuốt lời.
- Hay là bác bảo đảm bằng cái gì ?
- Cháu muốn cái gì ?
- Mùa nầy bác bán sầu riêng, măng cụt được ít lắm là bốn chục ngàn. Xin bác đưa
cháu số tiền ấy để làm tin, bằng không, cháu sẽ nằm vạ hoặc ra đi rồi đồn rùm vụ
nầy lên, coi ai xấu cho biết.
- Trời!
Ông Nếp chỉ biết kêu trời lên một tiếng thôi. Thật là quá lắm rồi, không thể tưởng
tượng được.
Lần nầy ông không giận được nữa, chỉ sợ thôi. Ông nhỏ nhẹ kiếu từ tên tù, hứa sẽ
trả lời rồi rút êm ra.
Lẽ cố nhiên bà Hương
lại được dự vào đại sự nầy.
- Thì ra nó nằm vạ để tống tiền mình ! Bây giờ bà tính sao ! Tôi nghĩ chỉ giết
nó mới yên được bà ơi !
- Ý, thôi đi ông ơi, ông nói làm chi cái đó, ghê quá.
Ông Nếp cũng ghê lắm. Ông không phải là một tay sát nhơn. Chỉ vì bí quá nên
nghĩ quẩn mà thôi.
Hai vợ chồng im lặng giây lâu, rồi ông đấm vào ngực một cái mà nói :
- Tức chết đi thôi. Tôi phải giết nó mới được. Mặc kệ, rồi sau sẽ hay. Tối mai,
tôi đem đồ ăn tẩm thuốc độc vào cho nó.
° ° °
Bảy giờ tối. Điệp đã ra chòi. Ông Nếp hồi hộp bưng tô cháo gà
vào khám. Ông liều lần chót, vì đồng tiền là núm ruột của ông.
Ông vừa thọc chìa khóa vào ống, bỗng giựt mình nghe tiếng người trong bóng tối
:
- Thôi ba, để con liệu cho.
Ông Nếp tức giận tràn hông, cầm tô cháo ném vào hướng mà ông nghe tiếng con.
Bị cháo nóng đổ lên người, Điệp hít hà nhưng vẫn nói :
- Ba bình tĩnh lại, con vô để cứu ba đây. Con nghe biết hết mọi việc rồi.
Đoạn nàng bấm đèn lên, bước lại mở khóa. Ông Nếp đứng chết cứng ngoài hàng hiên
và nghe tiếng con trong lẫm. Điệp dõng dạc kêu :
- Xường Hia, lại đây !
Nghe tiếng bước lần, đoạn lại nghe:
- Nè, tao nói cho mầy biết. Mầy đầu cơ vừa vừa thì người ta còn bóp bụng chịu.
Mầy làm quá, phải nổ.
Bây giờ thì mầy ra ngay mà về Lái-Thiêu. Mầy cứ đi tố cáo tao đi, không ai sợ
đâu. Ừ, tao ra tòa sẽ khai là mầy ghẹo tao không được mà tối vẫn mò lên, tao ngỡ
ăn trộm, đập mầy. Tao sợ tội, lén cha mẹ giấu mầy trong nhà mà nuôi cho lành. Ừ
tội gì ?
Tội nhốt người à ? Tao sẽ được hưởng trường hợp giảm khinh, tao đập mầy để tự vệ,
tao giấu mầy cũng để bảo vệ cái danh tiết tao. Tội gì ? Hừ, tao hỏi mầy ?
Hà, mầy đầu cơ tới cái danh tiết của con gái người ta nữa à ? Trời ơi, tao ngỡ
mầy chỉ học đòi đầu cơ hàng hóa thôi chớ. Đi ra cho mau.
--------------------------------
|
Câu chuyện xảy ra trước khi nước nhà thâu hồi độc lập và viết
ra với lại đăng báo sau đó ba năm, nhưng tác giả vẫn ghi đúng lối nói của người
dân thuở ấy. |
Cô Hời bán thuốc
Ở xóm lao động ai cũng biết thầy Sanh, không phải tại vì thầy
ta đẹp trai, hay có quyền thế, hay chi chi đó nữa, mà chỉ vì thầy ta chưa vợ.
Ờ, đã hăm chín tuổi rồi, có công ăn việc làm, lại con nhà nền nếp và khá giả mà
mãi gần nửa đời người vẫn độc thân, cũng là một việc hiếm có đó chớ.
Dân Sài gòn tuy thờ ơ với nhau, đèn ai chỉ sáng nhà nấy thôi, chớ gia đạo ai
làm sao, người ngoài cũng biết cả.
Trước hết có những chị bếp hàng xóm dòm dõ nhà mình. Họ tò mò như nhà mình là một
cái thùng đựng con gì trong đó. Chị bếp nhà mình mà có việc ra ngoài là họ chụp
ngay để điều tra: bên trong mấy người, đi chợ bao nhiêu v. v...
Điều tra xong, họ về báo cáo, phúc trình lại với các chủ nhà trong xóm. Các chủ
nhà làm bộ không ưa nghe chuyện thiên hạ, nhưng tay thêu khăn, tai lại để ý lắng
nghe những bí mật mà họ rất thích biết.
Người con trai già mà có vợ thì hóa ra một người đàn ông tầm thường. Nhưng nếu
hắn còn độc thân thì, à lạ lắm thay ! Người ta đánh dấu hỏi lăng xăng, người ta
hồ nghi đủ thứ, người ta lập giả thuyết lu bù.
Các bà, các cô có em, có cháu gái chưa chồng rất chú ý đến con người đó. Còn
nói gì các cô em, cô cháu nầy thì băn khoăn đặc biệt về cái thằng cha kỳ dị ấy.
Vì vậy, họ biết thầy Sanh, mà biết rất rõ. Anh chàng không đẹp trai lắm, nhưng
không xấu. Không ngáo, nhưng vẫn không phải là tay lêu lỏng. Chàng ta là công
chức, tức là địa vị rất vững. Cha mẹ còn đủ, một người chị chưa chồng và một em
gái còn bé.
Cho đến tư tưởng của thầy mà họ cũng biết được thì quả là cái tài trinh thám của
dân Sài-gòn đã khá cao vậy.
Cả nhà đều sốt ruột cho cảnh độc thân của thầy ta lắm. Ông cha bà mẹ thì rất
thèm ẵm cháu nội. Cô chị thì vì có hiếu nên chưa lấy chồng, sợ cha mẹ không ai
phụng dưỡng.
Một hôm, nhọc quá vì nội trợ, cô chị hỏi:
- Chị hỏi thật em, tại làm sao mà em không chịu lo bề gia thất ?
- Con gái đời bây giờ làm em chán quá.
- Em đừng có vơ đũa cả nắm mà tội nghiệp người ta. Cũng có người vầy người
khác. Như chị đây, không phải khuê môn bất xuất mà có hư hèn gì đâu.
- Em không nói về mặt hạnh kiểm đâu.
- Chớ em chán họ chỗ nào ? Trời, con gái bây giờ đẹp hơn con gái ngày xưa nhiều
lắm chớ!
- Đành vậy. Em chán là chán về tâm hồn họ kia. Không có cô nào đủ thông minh để
nói chuyện cho mình ưa nghe cả. Cô thì nói toàn chuyện xi-nê, cô khác lại không
ngớt lải nhải về du lịch, phần đông bắt mình cứ nghe chuyện cải lương và hột
xoàn.
- Chớ em muốn họ nói chuyện gì ?
- Thì chuyện mưa, chuyện nắng, hoặc không cần chuyện gì mà nói làm sao cho người
ta ưa nghe kia, chớ hành tội người ta phải nghe mãi chuyện mình thích thì kém
thông minh quá.
- Bộ em cưới họ về để cả ngày hai vợ chồng bây trò chuyện mãi với nhau à ? Chị
sợ rồi bây sẽ không có lấy môt phút để mà đàm đạo.
- Càng ít ngày giờ càng cần nói cho hay. Đã hiếm dịp nói mà nói toàn chuyện cơm
nếp thì khổ lắm.
Ý kiến về con gái ấy, cố nhiên cũng được bên ngoài biết. Con gái hàng xóm nghe
được, giận
thầy Sanh lắm. Cũng may cho thầy là không có chứng cớ, chớ nếu có, họ dám níu
thầy ta mà cự lắm. Con gái bây giờ mà !
Thầy Sanh, trước kia có bạn gái rất nhiều, bây giờ thì không còn giao thiệp với
phụ nữ nào cả. Thầy ta chán họ, họ giận thầy ta. Họ chỉ giận thôi, chớ không
ghét, và biết đâu lại không có người yêu thầy ?
Ngày bốn bận đi, về; còn chúa nhựt thì thầy dạo phố một mình ên.
Đó là một người con trai rất tò mò. Nhiều kẻ hay vỗ ngực tự xưng là thổ công
Sài-gòn, nhưng chưa chắe đã biết Sài-gòn bằng thầy ấy.
Đố ai biết ở đường Hai-Mươi có cái gì lạ nè ? Cái gì đáng chú ý, đáng nói đến,
giữa cảnh phồn hoa của đô thành nầy ? Không ai biết ? Cố nhiên rồi ! Các ông thổ
công ơi, các ông thổ công chỗ nào đó vậy ? Nè nghe thầy Sanh chỉ đây:
"Trên đường Hai-Mươi, có người biến trụ rào Bịnh-viện Bình-dân ra một cây
da trước miễu. Thành ra dưới chơn trụ xi-măng ấy, thiên hạ đem chất đống nào là
ông táo, bình vôi, cao ngồn ngộn: vỉa hè bỗng biến thành nơi tụ tập cô hồn như
các chùa hư miễu nát ở thôn quê."
Sáng chúa nhựt nào, thầy Sanh cũng ra chợ Bến-thành, rồi bắt từ đó mà đi nữa,
đi đâu ? Tùy hứng.
Nhưng đi đâu cũng vẫn đi bộ, để mà xem xét.
Hôm ấy, noi theo đường Phạm-Ngũ-Lão mà ra Bồn-binh, chàng gặp một bọn người thiểu
số ngồi sát vách thành "đề-bô" xe lửa.
Đó là những khách quen mắt, nếu không quen mặt, mỗi năm đến Sài-gòn độ ba, bốn
kỳ. Họ là người Hời, gốc Ninh-Thuận, Bình-Thuận, vào đây để bán thuốc và bán những
món nữ trang bằng mây đan nhuộm màu.
Thấy ai đi ngang, họ cũng gọi giựt ngược, rồi lấy ra khoe nào là rễ cây trị nhức
mỏi, nào là thuốc cao trị tức, nào là trăm ngàn thứ lá khô gì đó.
Không, bọn ngươi nầy đã bị Sanh quan sát từ lâu rồi, và nhiều lắm rồi, họ không
còn quyến rũ chàng được nữa.
Chàng nhìn sơ một lượt rồi quay mặt rảo bước. Bỗng một giọng nằng nặng kêu.:
- Chụ tạm ơi, mua thuộc ! (chú tám ơi, mua thuốc).
Tiếng kêu ở cách xa đám kia đến hơn mười thước. Chàng để ý ngay vì đó là giọng
con gái, tuy là giọng nặng của tất cả các thứ người sơn cước nhưng chàng vẫn
phân biệt được là tiếng gái tơ, vì vẫn có điệu trong trẻo trong cái nằng nặng ấy.
Trai thích gái là thường. Mà Sanh để tâm đến tiếng gọi cũng bởi người gọi đó
sao mà ở lẻ loi một mình, chớ không chùm nhum với nhau như bọn kia.
Chàng day mặt vào vách thành rồi đứng khựng lại như bị trời trồng. "Ờ, lạ
quá ! lạ quá !"
Chàng lẩm bẩm.
Cô gái Hời lẻ loi ấy sao mà trắng lạ, trắng hơn cả nhiều cô gái Sài-gòn nữa. Nước
da ấy nổi bật lên màu đen huyền của bộ y phục Hời và khởi sắc thêm nhờ lu bù những
vòng, kiềng, bằng mây nhuộm màu mà cô gái đeo nơi tay và nơi cổ.
Cô Hời nhìn chàng, vừa mỉm cười, vừa mời:
- Mua thuộc, chụ !
Sanh vui tươi lên, bước sấn tới nói:
- Kêu tôi bằng chú, tôi không mua.
- Chợ kêu bặng gì a ? (Chớ kêu bằng gì a ?).
- Kêu bằng anh.
- Không quen, không kêu bằng anh. (Từ câu nầy, xin không nhái giọng nặng nữa,
cho bạn đọc dễ hiểu).
- Thì thôi vậy.
Sanh làm hộ toan bỏ đi, thì cô gái hỏi:
- Kêu bằng thầy được không ?
Con bé nầy quỉ quái lắm đây ! Nó biết nhượng bộ để níu khách, mà chỉ nhượng vừa
đủ thôi không chịu lỗ lã.
- Cũng tạm được, chàng đáp. Nào cô bán thuốc gì đâu ! Có thuốc cảm không ?
- Không hiểu.
- Ơ... hơ... thuốc cúm ấy mà !
Sanh muốn chơi chữ để ghẹo cô gái, nhưng cô ta không hiểu bịnh cảm, thành ra
chàng phải dịch ra là cúm, không còn chơi chữ được nữa.
- Thuốc cúm hả ? Ở ngoài tôi, cúm, khỏi uống thuốc. Người Anh-Nam họ dạy chúng
tôi, hễ cúm thì cúng lễ và đọc thần chú là hết ngay.
- Thần chú làm sao ?
- Đọc như vầy:
Trăm lạy ông Cúm, Bà Co,
Ông ở xứ Nghệ ông mò vào đây.
Có thiêng xin hưởng của nầy,
Giúp cho tín chủ khỏi ngay tức thì.
Sanh nghe câu thần chú thi cười ngất rồi hỏi nữa:
- Còn thuốc gì khác ?
- Lu bù thứ: thuốc tức, thuốc nhức, thuốc sốt rét, thuốc trị nọc rắn.
Kể một thứ thuốc là cô gái trình lên một cái quảu mây đựng đầy rễ xắt khúc và
lá cây khô. Không thèm để ý tới lời khoe hàng, Sanh lại hỏi:
- Cô ở đâu mà vào đây bán thuốc ?
- Tôi ỏ Ray Hài.
- Ray Hài là ở đâu ?
- Ở Phan-Rang, đi sâu vô rừng.
- Sao còn trẻ quá, cô em lại phải lặn lội như vầy ? Xem đám người kia ! Họ toàn
là đàn bà đứng tuổi không mà thôi.
- Cha mẹ chết hết rồi.
- Tội nghiệp dữ không. Còn chồng cô, sao không nuôi cô ?
- Tôi giá chồng.
Sanh ngạc nhiên hết sức. Cô gái chỉ độ mười tám tuổi thôi, sao lại goá chồng được.
- Giá chồng, chàng hỏi gặng lại ? Thế cô em lấy chồng được mấy năm rồi ?
Cô gái cười như chim líu lo, rồi cười ngắt nga, ngắt ngưởng giây lâu mới đáp được:
- Giá chồng là giống Chà ấy mà !
Sanh kinh ngạc quá lẽ. Cô gái Hời nầy nói tiếng Việt chưa sạch giọng nặng, và
đã biết nói lái rồi. Và câu nói lái ấy lại ám chỉ đến một việc mà chỉ người
thông minh và có học sử địa mới hiểu được.
Theo sử thì nước Chiêm-Thành do một ông Hoàng Ấn-Độ đi phiêu lưu dẫn theo một
đoàn tàu với mấy ngàn thủy thủ, đến đó khai hóa cho dân bản xứ và lập quốc cho
họ. Mấy ngàn người phiêu lưu nầy lấy vợ bản xứ và lần lần, dân ở đó bị lai giống
cả, nên ngày nay người Hời quả thật có những nét Ấn-độ trên gương mặt của họ.
Cô gái tự đùa dân tộc mình một cách tài tình và cũng đã đánh trống lảng một
cách tài tình. Sanh hỏi đon hỏi ren cho biết cô ta đã có chồng chưa, nhưng rốt
cuộc vẫn không biết gì.
- Giống Chà thì càng đẹp chớ sao, thi chồng nó càng cưng, càng khỏi lặn lội xa
xuôi...
Sanh thành thật mà nói như vậy. Nét Ấn-độ trên vẻ mặt người đàn bà, giúp người
này có một vẻ dữ tợn bí mật, không dễ yêu, nhưng dễ mê và dễ bị rù quến. Và quả
cô gái Hời trắng trẻo nầy hao hao giống một cô gái Ấn Độ lai Việt ba bốn đời.
Lần nầy cô bán thuốc rừng mới chịu nói thật:
- Tôi chưa có chồng.
- Vậy à. Cô em có muốn ở luôn Sài-gòn hôn ?
- Sài-gòn làm gì có rễ thuốc để đào mà bán. Ở đây lấy gì ăn ?
- Cần gì bán thuốc. Cô em lấy chồng Sài-gòn là khỏi bán gì hết.
- Lấy chồng Anh-Nam được à ? Họ có thèm mình đâu ?
- Sao lại không thèm ?
- Lúc lấy chồng chưa đuợc, thì sống làm sao ?
- Tôi nuôi cô em. Cũng như nuôi một bạn gái gặp lúc túng cùng vậy mà.
Cô gái cúi xuống đăm đăm suy tính rất lâu, đoạn thò tay vào một cái giỏ mây lấy
ra một con dao rừng sáng quắc. Con dao giống hệt cái mác mà nhỏ và rất ngắn, lưỡi
trông chừng bén ngót như lưỡi đoản kiếm.
Dựng đứng con dao, cán chống lên vỉa hè, cô ta hỏi:
- Thầy liệu chắc lo cho tôi được trọn không ?
- Sao lại không ?
- Tôi muốn thầy thề.
- Ờ thì thề.
Sanh cười hì hì, không tin vụ mắc lời thề bao nhiêu.
Cô gái bỗng nghiêm nghị ra, nhìn trừng trừng vào khoảng không rồi nói:
- Hôm nay, tôi bỏ rừng mẹ của tôi, ở đây luôn với một người bạn vì tin lời người
ấy. Nếu người bạn đó mà gạt gẫm hoặc bỏ tôi nửa chừng thì lưỡi dao đẫm máu con
vật đầu tiên tôi giết trong đời, sẽ cắm vào ngực hắn để trả thù giùm tôi sự phản
bội quê rừng của tôi.
Sanh rợn người lên. Chàng ngỡ con bé bắt chàng thề, và chàng sẽ thề bậy, ông vặn
họng, bà bẻ cổ gì đó. Cái nầy chính nó lại nguyền; mà nguyền cái việc nó làm được
mới ghê cho chớ.
Chàng lại rùng mình mà nhìn cặp mắt xa xăm của cô ta. Hình như tất cả cái man dại
của rừng rú u linh hiện về đó, mộc mạc, chân thành, nhưng hung dữ lạ kỳ quyết
không dung tha một phản bội nào cả.
Nhưng nghĩ kỹ, chàng cười thầm, chế nhạo cô gái rừng: "Được, cô em à, nửa
chừng ta đây quất ngựa chuối, rồi cô em mới đâm ai ?"
Nghĩ xong, chàng rủ cô gái:
- Thôi ta đi nè.
Cô Hời tươi cười trở lại, hỏi:
- Đi đâu ?
- Cô em đừng ăn nói như vậy nữa, không đẹp. Cô em phải hỏi: "Ta đi đâu hở
anh" để nghe cho êm tai. À, cô em không được nói "tôi" nữa, phải
xưng "em" mới được. Cũng không được dùng danh từ "Anh-Nam"
mà phải nói Việt-Nam.
- Vậy à, hở anh ?
Sanh cười ngất mà rằng:
- Hễ nói "vậy à" thì phải thôi, chớ không nói "hở anh" nữa.
- Trời, rắc rối, khó khăn quá, khó còn hơn là qua các sơn khê trên núi, ở ngoài
xứ em.
Sanh mê chết đi. Chàng biết gái rất nhiều nên đâm ra chán lối ăn nói của họ.
Nay quen được với một cô gái Hời biết nói đùa có duyên như là "giá chồng
giống chà", biết so sánh lạ lùng như là "khó hơn qua khe núi",
biết nói bập bẹ tiếng Việt, thì mới lạ và thú vị biết bao !
Chàng cuối xuống xách giỏ cho người bạn mới rồi nói:
- Ta đi mua sắm vài thứ, rồi về nhà.
- Nhà anh ở xa không ?
- Không xa.
- Cỡ hú một tiếng thì nghe hay không ?
Sanh mê quýnh lên, sức muốn hôn đại cô Hời một cái. À con bé ăn nói mới ngộ
nghĩnh chớ. Hú một tiếng ! Nó nói y như là còn ở trong rừng.
Chàng kêu một chiếc xích-lô máy, rồi chỉ xuống chợ quần áo cũ. Cảnh tượng thật
là kỳ lạ hết sức khiến khách qua đường ai cũng quay đầu lại nhìn: một chàng
trai ăn mặc âu phục lịch sư, ngồi kề một cô sơn nữ cổ đầy vòng mây. Có người
đoán đó là một đôi vợ chồng rủ nhau đi chụp ảnh mà chị vợ thì trá hình như vậy
cho lạ mắt.
Chàng hỏi bạn:
- Em đi xe có thích không ?
Cô Hời cười và nói:
- Thích lắm, vui lắm lắm. Ở Ray Hài chỉ có một con đuờng mòn trong rừng. Đi thì
bằng xe bò, rất chậm.
- À, em tên gì?
- Em tên Chế-Bồng-Nga.
Sanh ngạc nhiên. Sao lại Chế-Bồng-Nga ? Trùng tên với một ông vua Hời.
- Thật không ? Chàng gặng hỏi.
- Tên cha mẹ em đặt ra, giả làm sao được hở anh.
- Giỏi, em dùng tiếng hở anh lần nầy trúng đa.
Vừa khen bạn chàng vừa suy nghĩ kỹ về cái tên ấy. Tên Chế-Bồng-Nga có vẻ con
gái quá. Ông vua kia đặt tên như thế là bậy. Cô con gái nầy mang tên đó là hợp
lắm.
- Anh muốn cho em sửa tên lại một chút cho có vẻ Việt Nam được không ?
- Được, hở anh.
Sanh cười ngất:
- Cứ "hở anh" mãi, không phải lúc nào cũng "hở anh" nghe
chưa em ?
- Anh nói rằng nói như vậy là dịu, là êm.
- Tùy theo câu chớ.
Tuy rầy bạn, song chàng thích mê cái lối nói sai ấy. Nghe sao mà dễ thương lạ.
Và từ đây hễ Nga nói câu gì chàng cũng lắng tai nghe, và đều ưa nghe cả, và nàng
càng nói sai, chàng càng mê.
Xe tới chợ quần áo cũ, Sanh mua cho bạn hai áo bà ba, hai áo lỡ, nhiều quần và
một chiếc áo dài. Chàng định sẽ đưa nó đi may thêm ở tiệm, nên chỉ mua ít thôi
cho nó có mà mặc đỡ mấy ngày đầu.
Mua xong, lại kêu xe tắc-xi quanh co dạo phố, cho Nga xem Sài-gòn chơi. Trên
xe, Sanh tiếp lại câu chuyện bỏ dở khi nãy:
- Nầy, anh muốn sửa tên em lại là Lê-Thị-Nga, được không ?
- Lệ-Thị-Nga là làm sao ?
Sanh xí gạt:
- Thì cũng y như Chế-Bồng-Nga vậy. Tiếng Việt Lê tức là Chế trong tiếng Hời đó.
- Tùy anh.
Đi dạo xong, họ dông tuốt xuống chợ cũ ăn cơm. Vào tiệm vừa ngồi xong, Sanh giựt
nẩy mình. Một người cảnh sát đứng ngoài lề đường ngó vào lâu lắm.
Ừ, chàng nghĩ, nếu họ nói mình dụ dỗ gái tơ thì làm sao ? Khổ quá, nếu nó ăn mặc
ta thì không ai để ý, đằng nầy cái bộ đồ Hời của nó như đâm vào mắt người ta
thì có chết hay không? Hay là thấy chướng mắt, người cảnh sát ấy nghi nó là gái
ăn chơi nên ăn mặc ba lăng nhăng, xét giấy nó thì mình khổ lắm.
Bữa ăn không ngon vì lo lắng trên, mà cũng vì bận tính kế về nơi ăn chốn ở của
Nga và chàng.
Kế hoạch cửa chàng là như vầy:
"Hiện giờ trong ruột xóm Sáu Lèo, có một căn nhà lá muốn sang. Chỉ hai
ngàn thôi, một tháng tiền nhà hai trăm rưỡi. Chàng sẽ dối cha mẹ là xin phép
nghỉ hăm chín ngày để đi Đà-Lạt. Thế là ở với bạn được trót tháng. Rồi hết hạn
hăm chín ngày đó, sẽ tính kế khác.
° ° °
Nội buổi chiều chúa nhựt đó. Sanh mua sắm đã đủ hai chiếc giường,
một cái tủ nhỏ, một cái bàn con vài chiếc ghế, một cái lu. Cơm nước thì đặt họ
xách, một phần ăn chín trăm, vì cô Hời nào có biết xào nấu gì.
Bốn giờ chiều là xong cả. Đôi bạn vui quá xá. Sanh dạy Nga:
- Cái bàn.
Nga lặp lại:
- Cái ban.
- Tủ kiếng.
- Tụ kiệng.
Rồi cả hai ngã ra mà cuời muốn lộn ruột, lộn gan.
Sanh nói:
- Mấy tiếng ấy chưa khó bao nhiêu. Những tiếng trừu tượng chỉ vật vô hình mớì
là điên đầu. Thí dụ câu sau đây: "Anh Sanh ơi, lòng em như một sáng xuân,
em nguyện dâng hết cho anh, và em thề yêu anh đến bạc đầu". Đâu em nói lại
nghe coi.
- Câu ấy nghĩa là gì ?
- Không cần học nghĩa, nói cho trôi cái đã, rồi hãy hay.
Nga học năm lần là thuộc hết.
Sanh dặn:
- Hễ anh đi đâu về là em chạy lại anh mà nói câu đó, nghe chưa. Bây giờ thì nói
cái nầy, dễ hơn: "Em yêu anh lắm".
- Em yệu ạnh lặm.
- Em muốn áo đẹp.
- Em muộn ạo đép.
Sanh nhìn lại Nga, và nhớ đến việc may áo. Chàng bảo:
- Đâu em ra đứng ngay trước mặt anh cho anh xem.
Nga ngoan ngoãn vâng lời.
Thân thể nàng cũng khá coi. Nhưng mặc áo may ở tiệm nào, vừa vặn hơn, chắc là sẽ
đẹp thêm. Mặt mày nàng cũng khá yêu kiều. Nhưng quả thật không đẹp. Cô gái Hời,
trong y phục Hời, chàng thấy đẹp quá, vì người Hời được thế là đẹp hẳn đi rồi.
Nhưng bây giờ nàng làm gái Việt, mà gái Việt chỉ đến mức độ đó, chưa phải là mỹ
nhân.
Dầu sao, chàng vẫn mê, mê cách ăn nói ngộ nghĩnh của Nga, mê cái tâm hồn kỳ lạ
còn dấu kín trong kia mà chàng quyết tâm sẽ khám phá.
Ăn cơm chiều xong, nói bậy bạ, nói lu bù thứ một hồi là đúng chín giờ đêm.
Sanh cầm tay bạn dẫn Nga vào buồng, vừa đi vừa nói:
- Đi ngủ đi thôi, khuya rồi. Ở Ray Hài em đi ngủ lúc nào ?
- Lúc chim bay về núi.
Nghe nói ngộ nghĩnh, Sanh yêu bạn quá, ôm Nga mà hôn lên trán một cái. Nga thả
trôi, không cưỡng một chút nào.
Khi hai người đến giường, Sanh ngồi xuống trước và kéo bạn theo.
Nga bịn đứng lại và nói:
- Anh phải ngủ ở ngoài chớ.
- Sao lạ vậy ?
- Có phải vợ chồng đâu và ngủ chung.
Sanh cười hề hề, ôm đại cô gái Hời mà kéo xuống giường. Cô ta vùng một cái rất
mạnh, vuột ra được, rồi trong nháy mắt vói tay hất gối, lấy dưới ấy ra con dao
thề khi sáng.
Nàng hầm hầm nét mặt, cầm con dao thủ thế và nói:
- Đạo giáo và phong tục xứ tôi không cho phép như vậy. Nếu anh còn như thế nữa
thì anh phải chết. Hoặc nếu anh giỏi hơn thì tôi chết. Đằng nào anh cũng không
phạm tới tôi được.
Sanh như thấy tất cả man rợ của rừng thiêng lại hiện về nơi mắt Nga. Đây là sự
cả quyết của một tâm hồn chất phác trung kiên với lời hứa của mình và tin tưởng
hết lòng nơi lời hứa kẻ khác.
Chàng đứng lên bẽn lẽn và nói:
- Anh xin lỗi em !
Ra tới ngoài, chàng thở dài. Thì ra lỗ quá. Mình nào có dè phong tục nó nghiêm
khắc như vậy. Ngỡ dụ dỗ nó để qua đường, nào dè chỉ tốn tiền toi. Mình nào có
dư cơm, dư tiền gì để nuôi một cô gái rừng rồi còn phải gả cô ta lấy chồng nữa
! Và, sao nó lại nói được nhiều câu tiếng Việt khó đến thế kia ?
Sanh ngồi nhìn ngọn đèn dầu, hối hận cho ác ý của mình, và bối rối cho nẻo ra của
tình thế.
Chàng ngồi đó không rõ bao lâu nữa, nhưng nghe chừng đã khuya lắm.
Bỗng chàng cảm giác một sự đụng chạm nhẹ trên vai. Day lại thì thấy Nga đứng
đó, bàn tay nhỏ xíu đặt trên vai chàng.
- Anh có giận em không ? Nga hỏi.
- Không, thật tình không. Tại anh quấy mà ! Nhưng thấy em bằng lòng anh nắm
tay, bằng lòng anh hôn, nên anh ngỡ...
- Đó là những cái nhỏ nhỏ không hề gì. Vả lại em cũng yêu anh, em yêu anh lắm.
Mà phải là và chồng kia mới được nằm chung.
Rồi nàng ôm đầu Sanh, hôn lên tóc bạn.
- Thôi, anh đi ngủ đi, nàng nhỏ nhẹ nói và kéo Sanh lại giường của chàng.
° ° °
Sanh tuy thế, vẫn chưa tuyệt vọng. Kinh nghiệm về đàn bà cho
chàng biết rằng, bền chí là thành công. Huống hồ gì Nga lại yêu chàng thì...
Đạo giáo, lễ nghi, phong tục nào mà mạnh cho bằng sự kêu gọi của xác thịt ?
Ngày hôm sau, chàng đưa bạn đi xem sở thú. Nga chỉ thích bồn bông và bãi cỏ
thôi. Còn thú thì nàng chê. Nàng nói:
- Anh mà thấy cọp trong rừng khi cái mình vàng rằn đen của nó rẽ đám lá xanh mà
ló ra thì mới đẹp. Cọp ở ngoài em, coi rất oai. Còn cọp ở đây, sao mà như chó
trong chuồng.
Chiều ra bến tàu thì Nga thích mê. Nàng chưa bao giờ thấy nước, trừ cái chuyến
đầu đi xe lửa vào Sài-gòn.
Ăn kem, Nga rất ưa. Và mỗi lần Nga khen cái gì là Sanh hy vọng thêm một lần.
Tình nàng sẽ nở lớn và sự cắn câu thú đô thành sẽ sâu thêm, thì ngày kia...
Đêm nào đôi bạn cũng trò chuyện tới khuya. Thỉnh thoảng Nga hát, cho Sanh nghe
những bài hát gì mà điệu nhạc thì buồn như nhớ nhung vạn kỷ.
Chàng chẳng hiểu gì ráo, nhưng đinh ninh rằng đó là tiếng khóc dân Hời nhớ tiếc
quê cha đất tổ mà họ phải bỏ đi, trước sự Nam tiến mãnh liệt của người mình.
Nếu tìm bạn để trò chuyện thì Sanh đã mãn nguyện rồi. Nga không bị riêng một thứ
gì ám ảnh để cứ bắt người đối thoại nghe mãi thứ đó. Hơn thế, những điều nàng
nói lại mới lạ đối với chàng, luôn luôn thay đổi, hôm nay chuyện ma rừng, hôm
sau chuyện phù thủy, bữa kia lại chuyện rắn to, chuyện hoa lá ăn thịt thú rừng
v. v...
Nhưng người con trai nầy không định cưới cô gái sơn cước làm vợ và vốn bị xác
thịt xúi dục, nên ác ý buổi đầu vẫn lẽo đẽo theo chàng.
Họ sống chung được nửa tháng rồi. Cô gái Hời thì học tiếng Việt rất tiến, nhưng
sự tấn công tình ái của người trai Việt không đi đến đâu cả.
Lại chết một cái là cô gái sơn lâm ấy hồn nhiên, thẳng thắn một cách lạ. Cô yêu
chàng thì cô cứ để cho chàng ôm trong tay. Thay áo, cô cũng chẳng cần che giấu
như người văn minh.
Như thế tính làm sao đây với sự quyến rũ ?
Có lúc Sanh định bỏ trôi tất cả, hôm nào đó, đi dạo một mình rồi đi luôn. Cho
con bé trợt mỡ bò chơi. Nhưng tánh tham khiến chàng tiếc, không phải tiếc vốn
đã bỏ ra, mà tiếc một người con gái dễ thưong.
Một hôm chàng nói vói Nga:
- Hay là để anh cưới em làm vợ ?
- Phải, em cũng định hỏi anh coi tại làm sao anh nói yêu em lắm, mà lại không
cưới em, phong tục xứ nầy kỳ quá ! Nói yêu mà chỉ muốn việc khác thôi.
- Thì anh cưới em đây.
- Chừng nào cưới ?
- Mai cưới.
- Hứ, làm sao mau quá như vậy cho được. Em biết rồi mà !
Em đã rõ phong tục ở đây. Cưới vợ lâu lắc lắm, phải đi hỏi, đi lễ, rồi mới cưới,
mau lắm cũng cả tháng.
- Ai nói với em như vậy ?
- Mấy chị đàn bà ở hai bên đây họ nói: em hỏi họ hôm trước.
- Trời, anh cấm em chơi với họ mà !
- Em chỉ hỏi có bấy nhiêu đó thôi chớ có chơi với họ đâu. Số là em ngỡ cưới vợ
khó lắm nên anh không cưới em, em mới hỏi cho biết cách thức.
- Họ xí gạt em đó ; cưới vợ là như thế nầy: Anh với em rủ nhau đi ăn nhà hàng,
rồi về nhà thề với nhau, rồi ở chung với nhau một ngày là thành vợ chồng.
- Lêu lêu mắc cỡ, không biết ai xí gạt ai đa !
Cả hay cười xoà rồi Sanh hôn bạn một cái đoạn bảo:
- Đâu đem kể chuyện đường rừng nào hay cho anh nghe thử xem.
- Hay thì không thiếu chi chuyện hay. Nhưng để em kể một chuyện không hay lắm,
mà liên hệ đến em cho anh nghe.
Năm đó cha em dẫn em lên nguồn...
- Nguồn gì ?
- Nguồn là sông. Nhưng ngoài ấy không cứ có sông mà gọi là nguồn. Hễ đi sâu
trên rừng già là họ nói lên nguồn.
- Lên nguồn làm gì ?
- Đi buôn mọi. Ba em đi bán muối, đổi lấy ngà voi và trầm, đem về bán lại cho
Việt
Nam. Ừ, năm đó cha em dẫn em lên nguồn. Không biết xích mích với người trên ấy
làm sao mà họ giết ba em. Em chạy vuột được, hay nói cho đúng, họ không giận em
nên để em chạy. Em băng rừng tám ngày đêm, ngủ trên cây, ăn toàn trái rừng, và
uống nước suối, qua nhiều khe núi lạnh mình. Khe sâu thâm thẩm dưới ấy mà chỉ
có một thân cây leo bò bắc ngang qua khe, phải ôm dây ấy mà qua. Còn độ nửa
ngày đường nữa thì tới đồng bằng, thì em gặp một gò mối. Một con cọp mẹ đang
cho con bú sau gò mối đó. Em không biết, đi trờ tới,
nó nghe động giựt mình ngỡ ai toan bắt con nó. Nó nhảy ra chụp em.
Em té quỵ xuống vì quá sợ, nên nó chụp hụt chỉ trúng chơn thôi. May sao có mấy
người thợ rừng Việt Nam nghe la chạy đến cứu em. Bây giờ còn thẹo đây
Nàng nói rồi vén ống quần lên cho Sanh thấy cái thẹo khá dài nơi chơn.
Người con trai ngắm cảnh đó một giây thì thú tánh bỗng thức tỉnh. Chàng ôm lấy
bạn, nhưng lần nầy sơn nữ nhìn thấy đôi mắt đầy tia máu của Sanh thì chợt hiểu
nên kinh sợ vùng ra mà chạy.
Sanh rượt theo nàng bén gót và cố sức vượt qua khỏi cô gái để ngăn nàng lấy khí
giới.
Bị ngăn cản, Nga toan đánh tháo lui nhưng không được.
Sanh đã chụp được nàng rồi và hai cánh tay cứng rắn của chàng như hai gọng kềm
không cho Nga cựa quậy nữa.
Vốn thấp hơn, sơn nữ dùng đầu đánh hất lên trúng càm Sanh nghe một cái cộp.
Nhưng chàng trai vẫn không nao núng.
Nga nhảy dựng lên để đánh bồi thêm, liên tiếp mấy bận mà Sanh ngước tránh được
cả. Thừa lúc anh chàng lo ngước tránh, Nga chuyển hết thần lực vùng ra.
Sanh bị sút tay và thấy con mồi suýt thoát, chàng vật mạnh cho nàng ngã xuống.
Chàng hú hồn mà chỉ thấy bạn ngã xuống giường thôi. Lúc vật Nga, chàng chỉ lo vật
cho được, quên nguy hiểm; vật xong lại sợ Nga ngã mạnh quá xuống đất, rủi chết
chăng ? Nhưng may quá.
Sanh nhào lại thì bị Nga tống cho một đạp gần té ngửa. Chàng nhào tới nữa, lần
nầy thủ thế nên bắt được chơn của cô gái.
Còn một giò, sơn nữ vẫn đạp lung tung. Chỉ còn một tay khó lòng mà bắt chơn kia
được, Sanh bất động, thở dốc, vừa thở vừa tránh những cái đạp liên tiếp.
Giây lâu chàng liều mạng, chịu đựng và xáp bừa vào. Nga đạp được mấy cái thì
Sanh đã tới sát quá, chơn co vào được mà tống ra không xa nên không còn hiệu quả
nữa.
Bấy giờ tóc Sanh đã rơi xuống che khuất hết trán chàng. Mắt chàng dữ tợn một
cách lạ kỳ, không dữ vì giận, muốn hạ địch thủ, mà vì dục vọng đã biến chàng
thành một con thú thèm thuồng.
Nga đã đoán trước chiến lược của kẻ bạo hành, không để bị ôm cả tay nữa. Nàng lừa
khéo thế nào mà Sanh chỉ ôm được thân hình nàng mà thôi.
Với hai cánh tay còn tự do, nàng ôm lại Sanh, rồi cả hai cùng ráng mà vật lộn với
nhau.
Nga yếu hơn nhiều nên không mong thắng. Nàng chỉ vật cầm chừng để trườn lưng lần
lên phía gốì.
Sanh sơ ý không thấy toan tính đó nên một khi kia, Nga đã tới đích, vói ngược
cánh tay mà rút con dao thề.
Sanh thấy dao thì đã trễ. Chàng đang ôm Nga, hai cánh tay khép lại nơi sau lưng
nàng mà bây giờ thì nàng nằm ngửa, hóa ra tay chàng bị đè xuống dưới.
Như vậy, chỉ ôm nhau vật thì mạnh thế, còn đỡ dao thì rút tay ra không kịp nữa.
Trong phút giây, Sanh thấy cái chết của mình thật vô lý hết sức. Chàng vốn
không thiếu gì về xác thịt, mà tại làm sao điên cuồng trong một lúc đến phải chết
dưới tay một cô gái Hời. Trời ơi, con người quả điên nhiều cơn điên khó hiểu !
Chán nản qua, chàng không còn sợ hãi nữa, nới rộng cái siết tay rồi nói:
- Anh chịu thua rồi đó. Em giết anh, anh cũng vui lòng, nhưng lảng xẹt ôi là lảng
xẹt !
Nàng quát:
- Buông ra !
Sanh không riu ríu nhưng vẫn làm y theo lời bạn.
- Ngồi dậy ! Nga lại quát.
Sanh lại ngồi dậy. Không phải vì chàng quá hèn, sợ chết đến nỗi biến thành một
cái máy. Nhưng đã thua rồi, buông người ta ra và ngồi dậy là phải.
- Đứng xuống đất ! Nga tiếp tục ra lịnh.
- Lùi vào vách trong !
Khi người con trai tội nghiệp nầy đứng yên sát vách trong, Nga dịu giọng nói:
- Em không muốn giết anh. Em chỉ tự vệ để ra khỏi nhà nầy đêm nay, để về rừng của
em. Em không hối tiếc gì hết mặc dầu em rất muốn lấy anh. Nhưng anh quả không
thật tình yêu em thì hối tiếc làm gì. Thôi anh ở lại mạnh giỏi, em đi đây.
- Khoan !
Lần nầy tới phiên Sanh quát.
- Khoan ! Anh quyết định ngăn em của anh đi, dầu phải chết.
- Tại sao anh lại muốn chết dữ vậy ?
- Vì anh đã yêu em quá rồi bắt đầu từ phút nầy.
- Yêu mà như vậy đó hả ?
- Không. Khác. Anh sẽ cưới em.
- Như thế thì em ở, nhưng anh lại phải ra khỏi đây. Nếu không làm sao em dám ngủ.
- Ra thì ra.
- Khoan đi. Anh cưới em bằng cách nào ?
- Anh thưa thật với ba má anh.
- Rủi ba má anh không bằng lòng ?
- Bằng lòng mà !
- Rủi anh đổi ý ?
- Thì em trở về rừng. Có lỗ lã gì đâu.
- Đành vậy nhưng bây giờ sẵn được thế, em buộc anh bảo đảm. Anh làm giấy hứa cưới,
em mới chịu.
- Hà, hà, cưới hay không là quyền của tôi.
- Mà em yêu anh lắm rồi, bắt quyết anh phải cưới. Hai đứa yêu nhau, tại sao
không cưới.
Sanh tức cười lắm. Con bé rừng rú thật thà, tin cái giấy quá xá. Thôi, chàng
nghĩ,
để mình viết bậy bạ gạt nó chơi.
- Nào viết giấy !
Nga chỉ lên bàn:
- Anh ngồi lại, viết theo em đọc.
Sanh cười thầm, làm y theo. Nga đọc:
Tờ hứa cưới
Tôi là Phạm Kim-Sanh...
Chàng giựt mình hỏi:
- Sao em biết tên họ anh ?
- Thì anh nói hôm trước.
Sanh không nhớ ra đã nói tên mình. Nhưng chàng không ngại. Nga đọc tiếp:
... có dan díu với cô Lê-Thị-Nga...
Sanh nín cười muốn bể ngực. Đem ra Toà giấy nầy sẽ ăn trợt. Có cái gì chứng nó
là Lê-Thị-Nga đâu. Mình cứ chối, nói nó lượm giấy ấy ở đâu không biết, thế là
huề.
....Cô Lê-Thị-Nga sở dĩ hiến thân cho tôi vì tôi hứa cưới cô. Nếu tôi phụ lời,
tôi sẽ bị truy tố về tội dụ dỗ gái vị thành niên.
Sanh ngạc nhiên hết sức, không viết được. À, tại sao nó nó lại biết những danh
từ "hiến thân", "vị thành niên", "truy tố",
v.v...
Nhưng mặc kệ. Nội cái tên Lê-Thị-Nga đủ trợt mỡ bò rồi, còn nó học ăn, học nói ở
đâu
không cần biết lắm.
° ° °
Sanh kể đầu đuôi gốc ngọn cho cha mẹ và chị nghe. Chị chàng
nghe xong cười ngất.
- Em thật là đồ đíên. Đùa gì mà đùa bất nhơn.
- Mà có lúc em yêu nó thật chị à. Nhứt là lúc sau cùng. Nó thì ngỡ em không
yêu, nên định đi. Trong giây phút, em yêu quá, nói ra, nên nó ở lại bắt làm giấy.
Bây giờ thì em không rõ em còn yêu nó nữa hay không. Cũng may là chỉ làm giấy bậy
bạ thôi, chớ nếu bảo đảm bằng cái gì chắc chắn là khổ, nếu lòng mình thật không
yêu nó.
- Chị muốn biết mặt con bé coi nó ra làm sao mà có lúc em yêu nó thật tình. Được
không ?
- Sao lại không ?
- Mai, mười giờ sáng, em đưa nó lại đây.
- Xin đúng hẹn. Để chị xem. Cũng khá đứa, mặt mày khá đẹp, nhưng ngu lắm, tin
giấy tờ lắm.
Mười giờ sáng hôm sau, chị của Sanh đang ngồi thêu áo thì Sanh bước vào, mắt
lái chi, tay vói ra sau kéo tới một cô gái.
- Ô kìa, em Nga ! Cô chị kêu lên thế rồi sửng sốt. Sanh cũng chết đứng ra.
Nga cúi đầu chào, rồi liền đó xin phép ra liền, nói là để cho cả nhà liệu tính.
Khi khách ra khỏi, người chị nói:
- Thôi chết em rồi. Nó là gái trong xóm nầy, chớ Hời gì đâu mà Hời.
- Trời ơi, thật sao chị ?
- Nó là cháu bà Phủ Đẩu, ở cái nhà ngói cũ lụp xụp đằng kia.
Nhà ấy Sanh thường gọi đùa là "Hồ phụ nữ", ám chỉ đến một phim chớp
bóng tên là "Lac aux dames". Trong nhà toàn đàn bà con gái không, con
bà phủ, cháu bà phủ, người ăn cơm tháng. Cô nào, cô nấy cũng dạn dĩ mà chưa chồng.
Có lần chàng làm quen với một cô nhưng sau chán quá, không giao thiệp nữa.
Chàng không thấy mặt Nga lần nào nên mới lầm.
- Trời ơi, làm sao chị ?
- Khổ lắm, chị nhớ ra nó họ Lê thật, thì các giấy tờ đó, một khi nó đưa ra tòa,
em ở tù mọt gông.
- Thôi, em cưới quách nó là yên chớ gì. Nó cũng dễ thương lắm. Được không chị ?
- Sao lại không, ở xóm này, nó không hề bị tai tìếng, lại giỏi nữ công.
° ° °
Đêm tân hôn, Sanh hỏi Nga:
- Em đùa làm chi mà kỳ vậy ?
- Nghe danh anh chán gái Việt, em mới giả làm gái Hời để nói chuyện cho anh mê.
Em vốn yêu anh từ lâu, mà không được anh để ý. Chỉ có cách đó anh mới ngó em
thôi.
- Còn làm sao em trá hình ?
- ...Giỏi lắm hả ? Khó gì. Em đón tụi Hời, nài mua một bộ đồ, vài gói thuớc, biết
anh hay quan sát dọc đườg, em ngồi đó là anh dính.
- Còn chuyện đường rừng và cái thẹo ?
- Thì cứ cóp theo tiểu thuyết mà nói. Anh nào có biết trật trúng gì. Thẹo là thẹo
chó cắn hồi em còn bé.
- À, con dao đâu ?
- Em giấu rồi.
- Đưa đây.
- Ai dại gì đưa. Có nó, ai kia mới sợ em chớ. Nè, bây giờ em là gái Việt, anh
còn yêu được không ?
- Được như thường. Nội cái trò đùa của em cũng đủ tỏ bản lãnh em gớm lắm. Tâm hồn
em chắc chắn rất phong phú, anh không chán hạng gái như vậy đâu.
Anh hùng bất đắc dĩ
Huấn hai tay nhét túi quần, đứng trên vỉa hè mà ngó vào hiệu
ăn "Sơn-Trân".
Đó là hiệu cơm ta lớn nhứt ở Sài-gòn, rộng hai căn phố phá vách ngăn.
Chàng đưa mắt quét mấy dãy bàn đến ba lượt, thấy tất cả các gương mặt quen hổm
nay, thêm vài mặt mới nhưng tuyệt nhiên không tìm được Thinh.
Huấn là thi sĩ với tất cả cái nghĩa đầy đủ của danh từ ấy. Vì thế chàng thường
tung tiền và trót tháng nay cháy túi đến phải cặp tàu một người bà con, vốn là
công chức.
Không tìm thấy Thinh, chàng âu sầu nét mặt, day ra đường rồi nhìn ngược, nhìn
xuôi.
Hiệu "Sơn-Trân" ở đường Gia-Long. Thường thì Thinh từ chợ Bến thành cỡi
Vết-ba chạy vô đó, hôm nay Huấn ngó cả đằng hướng ngã sáu Quẹt-Đon, vì biết đâu
anh ấy lại không sanh chứng mà chạy vòng quanh chơi. Mỗi lần nghe tiếng động cơ
nhỏ nổ là mỗi lần Huấn giựt mình, rồi hy vọng và đều thất vọng cả. Thét rồi
chàng oán tất cả những xích-lô máy, mô-bi-lết, xì-cút-tơ, vì trong lúc khó khăn
chàng cứ tưởng những người đi các loại xe ấy cố ý gạt chàng chơi.
Đã gần một giờ trưa rồi, bụng chàng đói lắm mà người bà con mãi không thấy tăm
hơi. Bạn hữu của chàng, thằng nào cũng đã bị chàng cặp tàu rồi cả, chúng nó cũng
nghèo xác nghèo xơ, thì còn biết trông cậy nơi ai.
Chàng hơi muốn đánh liều vào đại trong tiệm làm một bụng, rồi nếu may ra người
bà con đến thì mọi việc đều xuôi bằng không, ra sao thì ra. Nhưng quả thật
chàng không dám. Từ bé đến giờ, chàng chưa liều mạng làm xấu lần nào cả. Vả lại,
trong đó có một người ngồi, một cô gái đẹp mê hồn đã làm cho thi sĩ bâng khuâng
suốt một tuần nay thì...
Cô gái độ hăm hai tuổi, ngày nào cũng vào đây ăn, đúng giờ khắc như một người
đi làm. Huấn đã viết được hai bài thơ về "Cặp mắt đẹp" và về
"Mối tình câm" mà chàng ưng ý lắm.
Trong giây phút, Huấn bật cười. Đã đói lên đói xuống mà còn đèo bòng. Rõ thật
là thi sĩ ngông.
Chàng đang đói bụng, lại đói cả lòng, vì tình yêu của chàng như là điện một chiều,
có đi mà không có lại. Huấn rất nhát gái, nên suốt tuần nay chàng chỉ ngồi
trong xó mà nhìn bóng giai nhân. Vả lại bộ y phục tàu của chàng và mớ tóc râu
hai tuần không phải là những món trang sức đáng được chàng trình diện với đàn
bà.
Bỗng đàng xa, một người quen đạp xe máy chạy đến. Đó là anh tống thơ văn ở buồng
giấy của Thinh.
Anh chạy giấy, thấy Huấn thì thắng xe lại rồi hỏi:
- Ông hay gì không ?
- Không. Gì, gì đó ? Huấn hoảng hốt hỏi lăng xăng.
- Ông Thinh bị xe đụng chết ngay trước sở.
- Trời !
Tiếng kêu trời của Huấn cụt ngủn mà đầy đau thương. Chàng thương bà con thật
tình, nhưng cũng thưong chính chàng nữa, và tất cả nguy ngập của tình thế của
chàng đều được chứa đựng trong tiếng kêu than ấy.
Huấn lảo đáo muốn té xuống lề đường. Chàng đã nhịn đói từ sáng đến giờ, nên người
yếu đi, giờ lại bị cái vố nầy nữa thì còn đứng vững làm sao được.
Chàng giải quyết trong hai phút là xong vấn đề Thinh. Xác Thinh chắc đã được chở
đến nhà thương để khám nghiệm, rồi cho thân nhân hay để mang về chôn. Chàng sẽ
đưa đám ma ấy, nhưng hiện giờ khỏi phải bận tâm, anh ấy đã chết rồi kia mà !
Nhưng vấn đề của chàng thì vẫn nan giải. Nếu chỉ nhịn đói hôm nay thôi thì cũng
chưa đến nỗi gì. Nhưng ngày mai, ngày mốt, ngày kia ? Đi làm thì chàng đã có
làm mấy sở rồi, mà đều bỏ sở cả, vì chịu không được cảnh tù túng cũng có, mà vì
tủi thân khi bị chủ rầy là lẽ chánh. Vả bây giờ có muốn tìm việc cũng không phải
đầu hôm sớm mai gì mà tìm ra.
Bí quá, chàng nghĩ đến việc quyên sinh. Tự tử để khỏi khổ thêm nhiều ngày nữa.
- Chết, thế nào mình cũng phải chết !
Nhưng mà trời ơi ! lần đầu tiên gặp người lý tưởng, chưa kịp trao lấy một lời
chào mà đã vĩnh biệt cõi đời thì hận nầy biết bao giờ cho nguôi !
- Trời ơi, chết làm sao cho đành !
Tuy nhiên chàng soát kỹ lai một lượt các giải pháp thì chỉ thấy còn cái chết mới
giúp chàng ra khỏi nẻo bí, trừ phi đi cướp giựt, điều mà chàng không thể làm được.
- Nhưng trước khi chết, mình phải làm một việc oanh liệt mới được.
Cái việc oanh liệt mà chàng tự nguyện thầm đó rất là buồn cười: có gì đâu, chàng
nhứt quyết đến trước mặt cô gái để nói rằng chàng yêu cô ta, nói xong tự tử
ngay tại chỗ, hay ù té chạy mất, tìm cái chết nơi khác, thế nào cũng được. Mà
có lẽ chết tại trận xem giựt gân hơn.
Thật là vô lý và vô ích, nhưng Huấn nhứt định làm thế vì chàng là thi sĩ ngông
kia mà.
Chàng nuốt nước miếng mấy phen, vỗ ngực nhè nhẹ để dám đánh bạo. Nhưng ý muốn
tiến bước mà chơn vẫn như bị chôn xuống đất.
- Mầy ngốc quá, chàng tự bảo: mầy sắp chết đây mà còn sợ cái gì. Mầy có làm xấu
đến đâu năm phút nữa là sẽ không còn biết gì, không còn khó chịu về sự chê bai
của ai nữa hết.
Nghĩ xong những điều đó, chàng lấy bộ hùng dũng cho đỡ sợ rồi mạnh dạn bước vào
hiệu ăn.
Đi ngay lại bàn cô gái, chàng oai nghiêm đứng thẳng người trước mặt giai nhân.
Bấy giờ mỹ nhân ngước lên, rồi nhìn thấy tóc Huấn, có lẽ đã hai tháng chưa được
hớt xén gì cả, nàng ngỡ ăn mày định xin tiền, nên nàng hơi khó chịu ra mặt.
Huấn bước tới đó bỗng tắt tiếng, nói không được một lúc lâu, rồi rán hết sức
bình sanh, chàng nói to lên :
- Thưa cô, tôi yêu cô lắm !
Cả tiệm ăn đều kinh ngạc và bao nhiêu mắt đều hướng về phía con người hì hợm
đó. Một anh chàng điên chăng ? Họ tự hỏi.
Mặt Huấn đổi màu sắc mau lẹ trông thấy: ban đầu nó đỏ ké, rồi trắng dợt lần lần,
đến tái xanh. Chàng run rẩy và đổ mồ hôi có giọt, tay quờ quạng để lấy con dao
trên bàn, định dùng dao ấy đâm vào cổ chàng. Nhưng vụng về thế nào mà đụng phải
cái lọ hoa bằng thủy tinh mà giai nữ để ở một góc bàn.
Cái lọ ngã xuống, cô gái đang kinh ngạc vì cử chỉ đường đột của Huấn lại phải
hoảng hốt kêu "ái" một tiếng thất thanh rồi đứng lên mà chụp bình
hoa. Nhưng đã trễ quá rồi, chiếc lọ đã rơi xuống gạch kêu một cái cảng rồi bể
ra từng mảnh.
Chiếc lọ nầy bằng thủy tinh Saint-Gobain. Trước đó hai tiếng đồng hồ, cô gái đã
mua nó ở một hiệu trên đường Tự-do, giá sáu ngàn tám. Cô định dùng nó làm quà
biếu đền ơn một người quen đã giúp cô vào làm ở một hãng kia. Hồi nãy có người
quen muốn xem, nên cô lấy nó ra khỏi hộp các-tông và vì lỡ bữa, nên chưa kịp
cho vào hộp trở lại.
Cô gái thả rơi mình xuống ghế, vẻ mặt tuyệt vọng vô cùng. Rồi lần lần cơn giận
bừng lên, cô căm tức nhìn Huấn mà nói :
- Cái ông nầy, làm sao lại đánh vỡ cái lọ quí của tôi ? Ông phải đền ngay cho
tôi mới được.
Cả cô gái và bao nhiêu khách ăn đều quên cử chỉ điên rồ của Huấn khi nãy; họ chỉ
còn chú ý đến một anh chàng dơ và rách vừa gây thiệt hại lớn lao là đánh vỡ một
lọ hoa quí giá.
Cô gái thì tức mình ấm ách, khách ăn thì lo ngại không hiểu rồi sẽ ra sao vì
coi bộ chú chàng nầy rỗng túi, lấy đâu ra tiền để bồi thường.
Còn Huấn thì hoảng quá cũng quên mất vụ tự tử và tấm tình nồng nhiệt của chàng,
chàng chỉ thấy mình đang đứng trước một tai họa mới, không thể gỡ ra.
Cô gái lại xẵng giọng mà hỏi nữa :
- Nào ông bồi thường hay không thì nói đi, để tôi gọi cảnh sát đến tính vụ này.
Huấn ú ớ không đáp được. Bấy giờ đâm đầu chạy đi tự tử thì xong cả. Nhưng họ có
thể lầm là chàng ta chạy nợ, cái đó xấu lắm, nên chàng vẫn không chạy được.
Bỗng giai nhân kêu rú lên một tiếng kinh sợ. Huấn giựt mình ngó ngoái ra sau lưng,
vì chàng nhận thấy cô gái đang nhìn ra đường, biết là nguồn sợ hãi của cô ta ở
đó.
Trên vỉa hè, trước hiệu ăn, một người đờn ông đứng tuổi, y phục và tướng mạo hết
sức sang trọng đang đứng dòm vào. Hắn nhìn cô gái mà cười cái cười rất ác hiểm
như đang hăm he, dưới một cái mép có bộ râu của các tay lưu manh trong phim chiếu
bóng.
Huấn day trở vô thì thấy cô gái bối rối lên. Giây lâu, cô ta bình tĩnh lại thì
Huấn nhận ra ông khách bí mật ngoài đường đã đi mất.
Cô ta cố trấn tĩnh và dịu giọng hỏi hắn :
- Hình như là ông không đủ sức bồi thường phải không ?
- Phải, Huấn đáp rất yếu, có lẽ vì đói hơn là vì sợ.
- Ông có cần chỗ làm hay không ?
- Hiện giờ thì cần.
- Thế ông làm cho tôi để lấy lương bồi thường cái lọ, ông nhận hay không ?
- Cũng tùy. Làm công việc gì, thưa cô ?
- Trước, ông làm nghề gì ?
- Thi sĩ.
Cô gải mỉm cười mà rằng :
- Như vậy ông yêu tôi thật vô ích. Tôi cũng mến phục thi sĩ lắm, nhưng nếu yêu,
tôi sẽ yêu một võ sĩ, một thể tháo gia, đủ sức khoẻ lo cho gia đình. Nhưng
thôi, tôi muốn mướn ông làm thơ ký cho tôi.
- Rất hân hạnh.
- À, mà hình như là ông chưa ăn cơm trưa thì phải.
Không đợi Huấn xác nhận dự đoán ấy vì nàng biết không bao giờ Huấn xác nhận cả,
nàng kêu một bữa ăn, cho một người ăn thôi.
Bây giờ khách đã ra hết. Cô gái yêu cầu Huấn ăn nhanh chóng vì đã quá trưa rồi.
Huấn y lời, không phải để vưng lời bà chủ mà vì chàng đang đói.
Ngồi ăn, chàng cố cầm giữ bật cười mỗi khi nghĩ đến tình thế oái oăm từ nãy giờ
trong vòng có mấy mươi phút mà họa, phước kế tiếp nhau mà đến và đi, và rốt cuộc
được ăn, được chỗ làm có lương bổng, mà lại làm với người ngọc nữa kia chớ.
Chàng bỗng lại nghe buồn buồn trong lòng. Cái con người đã quyết định một cách
đột ngột và kỳ dị số phận của chàng, con người đó chắc chắn không phải là môt
cô gái tầm thường, một cô gái ngây thơ, mơ mộng như tất cả những thiếu nữ chàng
tả trong thi ca của chàng.
Như vậy cô ta không phải là người lý tưởng của chàng nữa rồi. Chàng được thoát
nạn, được tiền, nhưng lại mất người mơ ước. Nếu biết thế, chàng có thèm yêu thầm
làm chi suốt tuần nay cho khổ thân.
Huấn ăn xong bữa cơm chỉ mất có tám phút, mặc dầu chàng ăn thật nhiều. Cô gái
trả tiền xong, ra kêu tắc-xi, nói lên một địa chỉ, rồi hai người cùng đi.
Bấy giờ Huấn mới có dịp và mới đủ trí tỉnh để xét nét cô ta. Giai nhân trông vẻ
mặt còn ngây thơ, nhưng cử chỉ thì sành đời. Đó là một cô gái thơ có bộ điệu vững
chắc của một người đàn bà đứng tuổi, và những thông thạo của một người thượng
1ưu.
Đến khúc đường Lê-văn-Duyệt, gần Nhà Kiếng, cô gái bảo tài xế ngừng lại trước đầu
một ngõ hẻm. Hai người xuống xe và Huấn theo cô ta vào ngõ, đến một căn nhà hẹp
kia.
Khi mở cửa thì Huấn thấy nhà bày trí rất là đơn giản, rõ ràng chưa đủ đồ để
trang hoàng căn nhà.
"Thế mà dám mướn thơ ký à ?" Chàng lẩm bẩm.
Cô gái chỉ một chiếc ghế mời Huấn ngồi. Cả hai đều làm thinh rất lâu. Cô gái,
trông bộ dường như muốn nói gì, nhưng không nói được, giây lâu cô tằng hắng mấy
cái mà rằng :
- Tôi là Phượng, Huỳnh-thị-Phượng...
Cô Phượng như cụt hứng thình lình và Huấn cũng không biết nói gì để giúp cô ta
xuôi câu chuyện. Một lát lâu, cô Phượng tiếp :
- Tôi mượn anh giúp tôi một công việc. Công việc đó tôi đã bảo là làm thơ ký,
nhưng thật ra thì không phải.
Lại một hồi lâu im lặng nữa khiến Huấn náo nức muốn rõ câu chuyện có vẻ bí mật
mà cô gái ngại lời mãi, chưa nói ra được.
Chàng mở đường :
- Thưa cô, đã làm công giúp cô để lãnh lương, thì công việc gì, tôi nghĩ cũng
như nhau, và tôi luôn luôn sẵn lòng làm tròn phận sự, trừ những việc trái với
lương tâm tôi và có hại cho danh dự tôi, hoặc hại quyền lợi đồng bào ta.
- Ấy, thế mới rầy rà. Công việc mà tôi cậy anh giúp tôi, theo tôi, cũng không
có gì bậy bạ. Nhưng tôi ngại anh khó tánh rồi từ chối. Tôi biết hạng văn nhơn
thi sĩ như anh, hay câu nệ lắm.
- Xin cô cứ giải bày thử xem.
Cô Phượng đánh bạo bằng một cố gắng lộ rõ trên mặt rồi nói :
- Như thế nầy. Tôi là người yêu bất đắc dĩ của Trấn, cái anh chàng đứng ngoàì
hiệu ăn dòm vào khi nãy...
Huấn kinh dị hết sức trước phát giác nầy. Chàng nghe quặn đau nơi lòng như vừa hay
tin tình nhơn phản bội mình.
- Chúng tôi đều ở Cần-thơ. Tôi trốn hắn lên đây mấy tháng nay thì hôm nay hắn
dò đã ra tung tích tôi rồi. Tôi không yêu hắn, lại rất sợ hắn. Hồi nãy tôi vụt
nãy ra cái ý mà tôi cho là hay, là dùng quyền chủ nợ để bắt ép anh làm một công
việc khó. Công việc đó là... là... giả làm chồng của tôi để bảo vệ tôi thoát khỏi
móng vút của hắn.
- Ồ, Huấn kêu lên một tiếng đầy công phẩn.
- Thì tôi đã biết thế. Tôi biết anh sẽ không bằng lòng làm cái việc kỳ dị ấy. Đối
với anh, thà ở tù còn hơn. Vì vậy, tôi bỏ ý định bắt ép anh, mà chỉ muốn thuyết
lý làm sao cho anh bằng lòng.
- Cô thuyết lý làm sao tôi cũng không bằng lòng cả.
- Anh chỉ thủ vai chồng của tôi khi nào ta gặp hắn thôi. Ngoài ra, anh là thơ
ký của tôi, là bạn của tôi, như thế không khó chịu lắm đâu.
- Không khó chịu lắm nhưng trái đạo lắm.
- Đạo gì đó hở anh ?
- Đạo làm người chớ đạo gì.
- Đạo làm người cấm diễn kịch à ?
- Diễn kịch ? Thật đó chớ. Hay nói cho đúng ra đó là diễn kịch thật.
- Hễ diễn kịch thì không thế nào thật được.
Bực tức đến cực điểm, đỏ mặt phừng phừng, Huấn quát:
- Thưa cô, tôi không phải là ma-cô.
Phượng bình tĩnh thở dài:
- Anh nóng tánh quá, và lạm dụng danh từ quá. Anh có bảo vệ tôi để tôi làm tiền
ai đâu mà gọi là ma-cô. Anh chỉ bảo vệ một nạn nhân thôi. Nạn nhân ấy đã,
đương, và sẽ sống một đời lương thiện và trong sạch như bất kỳ ai.
- Tôi đã quyết định rồi đó. Bây giờ cô cứ kêu cảnh sát bắt tôi về tội phá hoại
báu vật của cô
- Thế anh không yêu tôi nữa à ?
- Tôi đã hết yêu cô từ khi tôi biết câu chuyện này.
- Nói láo. Anh đã ghen tức lên, anh đau khổ trông thấy, mà quả quyết là hết
yêu. Hết yêu thì phải dửng dưng chớ.
Huấn tức nghẹn ứa nước mắt ra. Phương chêm thêm :
- Anh còn yêu tôi là anh sẽ đau khổ mãi, nhứt là mỗi khi anh nhớ lại hắn đang
làm khổ tôi. Gần tôi, anh có lợi hơn. Anh giữ chừng người yêu của anh cho nàng
khỏi phải sa trở lộn vào nẻo cũ. Anh có nhận là tôi nói phải hay không ?
Huấn ôm mặt khóc rấm rức như con gái. Đến khi cạn lệ, chàng ngước lên, thở dài
mà rằng :
- Như vậy cô mướn tôi làm gác-đờ-co cho cô không được sao, lại phải bày chi cái
trò kỳ cục quá vậy ?
- Không được. Hắn có sợ gác-đờ-co đâu. Hắn dữ tợn lắm, lại nhiều tiền. Hắn mà
đánh không lại gác-đờ-co, hắn sẽ mướn hàng chục du côn thì đến võ sư cũng phải
mềm xương
với hắn, chớ đừng nói người ốm nhách như anh.
Chỉ có một người mà hắn ngán thôi. Người đó là chồng của tôi. Người chồng bao
giờ cũng có quyền. Nếu hắn lại bất kể quyền của chồng tôi, hắn cũng phải biết rằng
chỉ có người chồng mới đủ cả quyết mạo hiểm để bảo vệ vợ mình.
Huấn lại thở dài nhẫn nại :
- Thôi, tôi cũng đành phải nhận vậy chớ biết sao ! Nhưng tôi có một điều kiện
mà cô phải theo.
- Tôi cũng có điều kiện của tôi. Nhưng nào, điều kiện của anh đâu ?
- Là tiếng anh mà cô dùng để xưng hô với tôi đó là một tiếng phải đầy thân mật
! Giờ đây cô kêu tôi bằng anh một cách dửng dưng như kêu anh cai, anh thợ, anh
tài xế, anh người nhà. Cô nên nhớ rằng, làm công cho cô, tôi cần quên sự thật để
khỏi đau khổ. Mà chỉ có vẻ dịu dàng chứa đựng trong tiếng anh đó mới làm tôi
quên được thôi.
- Tôi sẽ cố gắng làm vừa lòng ANH.
- Coi kìa, cái tiếng ANH cô vừa thốt ra đó, vẫn còn lạt lẽo lắm. Thế cô kêu tôi
bằng ông như trước còn hay hơn.
- Tôi phải tập lần chớ. Còn đây là điều kiện của tôi: anh chỉ thủ vai một người
chồng giả thôi. Ngoài ra anh không được đòi hỏi gì khác nữa cả.
- Vâng, hẳn là phải như vậy. Tôi diễn kịch như thế đến bao giờ mới thôi ?
- Đến chừng nào hắn hết đeo đuổi theo làm khó dễ tôi nữa. Và chừng đó, anh sẽ
thôi việc không điều kiện.
- Đến bao giờ tôi khởi công, thưa cô ?
- Ngay bây giờ. Hắn giỏi lắm, có lẽ hắn đã tìm được nhà tôi rồi cũng nên. Vậy
phải có mặt anh ở đây luôn.
- Ở đây luôn, nghĩa là cả về đêm nữa sao, thưa cô ?
- Nếu cần thì cũng phải đến như thế. Mà tôi thấy là cần.
- Thế ra tôi không được sống tự do à ?
- Tự do là thế nào, anh hiểu làm sao về tiếng ấy ?
- Tôi cần những gì mà tôi trở về với chính lòng của tôi, trong một xó nào đó.
Tôi lại cần làm việc, tiếp rước bạn hữu, v. v...
- Anh đã có vợ chưa ?
- Chưa.
- Tốt lắm. Vậy anh có quyền làm bất cứ chuyện gì anh thích như làm thơ, ngâm
thơ, tiếp bạn, tại nhà tôi. Anh tiếp bạn đông chừng nào càng tốt chừng nấy. Nếu
hắn có léo hánh đến, thấy nam nhi đông quá, chắc phải ngán. Một mình anh với tướng
mạo thi sĩ của anh khó mà đương đầu với hắn lắm.
Huấn tức giận đứng lên, ưỡn ngực ra, xăng tay áo sơ-mi để chưng sơ bắp thịt tay
của chàng, co cánh tay lại cho bắp thịt ấy gò lên cao, vỗ vào con chuột banh
bách rồi nói :
- Cô đừng khinh, thi sĩ nầy đủ bản lãnh đương cự với bất cứ tên côn đồ nào.
Phượng bật cười :
- Anh hùng lắm ! Dám mong anh sẽ không là anh hùng rơm.
Huấn cũng bật cười cho cử chỉ lấy le lố bịch của mình vừa rồi.
Phượng lại hỏi :
- Hiện anh ở đâu ?
- Tôi ở trọ nhà một người bạn.
- Anh nên mang ghế bố và rương trấp lại đây ngay. Anh ở buồng ngoài, mặc sức mà
làm thơ và tiếp bạn. Tôi đi đâu thì anh hộ tống.
- Thưa cô, còn lương bổng thế nào ?
- Hai ngàn một tháng.
- Làm cái việc tối nguy hiểm ấy mà chỉ có hai ngàn một tháng à ?
- Tôi không giàu lắm. Tôi chỉ là một công nhân thôi. Tôi chia lương tôi cho anh
được đến đó là cùng mức. Mỗi tháng tôi trừ đi bảy trăm đồng, đến mười tháng là
đủ giá tiền chiếc lọ.
- Cô trừ nhiều quá vậy còn đâu tôi ăn xài ?
- Anh không lo. Lẽ cố nhiên là anh sẽ hộ tống tôi lúc tôi đi ăn cơm và sẽ ăn với
tôi.
Huấn thở dài. Tình thế oái oăm đến đỗi chàng không chắc đây là chuyện thật hay
chiêm bao. Đó là câu chuyện không giống câu chuyện nào cả, cả đến những chuyện
tiểu thuyết dị kỳ nhứt mà chàng được đọc.
Cô Phượng hối thúc :
- Anh nên đi ngay. Trong lúc anh vắng mặt, tôi sẽ đóng chặt cửa lại.
- Cô sợ nó đến thế à ?
- Không sợ mà phải bỏ xứ từ Cần-Thơ lên đây.
Huấn nắm chặt hai tay lại, bậm môi rồi nói bằng một giọng quả quyết :
- Tôi sẽ bảo vệ cô cho tới cùng.
Nói xong chàng hùng dũng ra đi. Lần này xem ra bớt lố bịch hơn lúc nãy bội phần.
° ° °
Tối hôm đó, cô Phượng đi ăn cơm với một chàng trai không đẹp
lắm, nhưng dễ coi, Huấn đã hớt tóc, cạo râu, và thay y phục sạch sẽ. Nhưng nhà
thơ ta nhút nhát và vụng về quá khiến không ai tưởng chàng là bạn của Phượng được.
Không là bạn mà đi ăn chung với nhau là
một sự lạ, nên ai cũng dòm.
Phượng không tỏ vẻ ngại ngùng chút xíu nào hết, dạn dĩ nói cười như một người
đàn bà có chồng. Trái lại Huấn thì e lệ như gái tân, thỉnh thoảng đỏ mặt lên một
lần và suốt bữa ăn, nghe nhiều hơn là nói.
Ăn xong, Phượng đứng lên, ra cửa, nhường cho Huấn trả tiền, bằng tiền cô đã
trao trước cho chàng lúc còn ở nhà.
Phượng vừa đặt chơn xuống vỉa hè thì Trấn đã lù lù hiện đến, thơm nức nước hoa
và đẹp trai hơn bao giờ cả. Đó là một người đàn ông đứng tuổi mà rất khỏe mạnh
hồng hào, đẹp người và tướng sang, duy vẻ mặt thì hơi hiểm ác.
Phượng hoảng hốt đứng khựng lại, day ra sau để cầu cứu. Bấy giờ, Huấn vừa ra tới,
thấy là hiểu ngay. Không rõ vì chàng diễn kịch giỏi quá, hay vì chàng thừa dịp
để lợi dụng mà chàng nắm lấy tay Phượng mà rằng :
- Đi em !
Phượng không cưỡng, ngoan ngoãn như cô vợ trẻ mới cưới, rảo bước theo chồng,
trong khi Trấn bậm môi tím mặt. Hắn nhìn đôi bạn trẻ nắm tay nhau đi, nghĩ gì
không rõ; một lát lâu, rồi hắn chạy theo họ. Hắn vượt khỏi họ, đoạn đứng lại,
quay lưng chào Phượng một cách lễ phép, cái lễ phép mỉa mai và hàm một vẻ sâu
hiểm lạ lùng.
- Chào cô Phượng.
- Chào ông, Phượng lạnh lùng đáp.
- Cô đi với ai, tôi được hân hạnh làm quen không ?
- À, nhà tôi, anh Huấn.
Đoạn chỉ Trấn, cô nhìn Huấn mà nói :
- Ông Trấn, chủ hãng xe đò Bà-Thắc ở Cần-thơ.
- Hân hạnh !
Trấn vừa nói vừa đưa tay để bắt tay Huấn. Huấn cũng lịch sự đưa tay ra. Trấn siết
tay người quen mới thế nào mà thấy Huấn nhăn mặt cố nín kêu ái lên.
Trấn buông tay Huấn ra rồi cười ha hả rất đắc chí.
- Vô lễ ! Huấn tức lắm quát vào mặt Trấn như vậy.
- Ông bảo ai vô lễ ? Trấn sừng sộ hỏi.
Huấn không thèm đáp, lại cầm tay Phượng mà dắt đi, vừa tiến bước vừa nói :
- Sao em có một người quen tồi thế ? Anh mà dè vậy, anh để tay mà vuốt con chó
Ki-Ki ở nhà sạch còn hơn.
Trấn đứng đó, cười hừ hừ và nói to :
- Bún thiu !
° ° °
Đôi bạn ở chung với nhau được bốn hôm. Từ ngày chạm trán với
Trấn lần đầu, Phượng tự nhiên kêu Huấn bằng anh một cách thân mật trông thấy.
Cái tiếng anh mà Huấn tha thiết được nghe nó êm dịu đó, nay bỗng nhiên nó đến,
không phải vì Phượng tập đã quen mà vì người con trai nầy tuy yếu đuối về thể
chất, vẫn biết tự trọng, không hèn nhát, đương đầu với kẻ địch một cách cũng dễ
coi.
Y lại có những nết ăn ở thật đàng hoàng. Đêm hôm tăm tối ở nhà một trai, một
gái mà y đứng đắn được thì đáng khen biết bao.
Còn nói gì đến lối trò chuyện của y thì tuyệt. Từ thuở giờ Phượng chỉ giao thiệp
với người thường. Phần đông người quen biết của nàng đều giàu sang, nhưng họ ăn
nói thì như nhau, như bất kỳ ai, không gì lạ cả.
Huấn thì khác, hắn có giọng thị đời rất là buồn cười, không phải thị đời như
ông nhà giàu xem ai cũng tưởng phải phục lạy đống tiền của ông ta, mà thị tất cả
những cái xoàng xĩnh về tâm hồn và tư tưởng.
Một hôm Phượng đang cầm một đóa hoa hồng mà săm soi, Huấn ở ngoài sau bước ra
khen :
- Chà hai cái bông đẹp dữ.
- Hai cái ở đâu mà hai cái ?
Huấn nhìn kỹ rồi nói :
- Trời ơi, tôi thấy môi cô, cứ ngỡ đó là cái bông thứ nhì.
Lối nịnh đầm nghệ thuật ấy quả Phượng chưa bao giờ được nghe trong giới của
nàng.
Phượng làm thủ quỹ ở hãng Ngũ-Dương. Mỗi ngày bốn bận Huấn đưa rước nàng. Lạ
quá ! Con người làm bộ hùng dũng mãi rồi nó hóa ra hùng dũng thật sự đó.
Huấn đi thẳng người, nện gót mạnh cho ra vẻ oai phuông. Làm hoài như vậy chắc
đâu như là tập thể thao sửa người sao ấy, mà nay anh chàng xem ra hiên ngang
quá lẽ, cái hiên ngang tự nhiên chớ không phải cái huynh hoang rởm, đáng tức cười
như trước.
Trưa hôm đó gần mãn giờ, Phượng vừa lo xếp tiền lại vừa trao mỉm cười với Huấn
đang đứng đợi ngoài cửa.
Thình lình Trấn xuất hiện. Hắn xâm xâm đi lại gần thi nhơn rồi hai người nói gì
với nhau Phượng không thể nghe được.
Sự thật là như vầy. Trấn hất hàm hỏi nhà thơ:
- Ê thằng ăn mày ! Mầy làm ma-cô một tháng mấy ngàn ?
- Đồ mất dạy, cút đi cho khỏi mắt tao.
- Có đủ tiền nuốt nhựa hay không ?
- Im cái mồm, đồ khốn nạn.
- Có liếm láp gì đuợc về mặt khác hay không ?
Tức tràn hông, Huấn dương oai nện cho Trấn một vố như trời giáng. Trấn né khỏi.
Vì hắn ta đứng gần một xe nước mía nên cái vố hụt của Huân xáng vào cột nóc xe
nầy, gãy sập cả phía trên.
Trong cơn giận dữ, con người bỗng hóa mạnh vượt bực thường.
Trấn kinh ngạc và đâm hoảng, bỏ mà đi rất mau.
Phượng chứng kiến cảnh ấy từ đầu chí đuôi và cũng ngạc nhiên cho sức mạnh bất
ngờ của con nhà thơ ẻo lả kia.
Vội vàng thu xếp mọi viêc, nàng ra cửa, cầm lấy bàn tay Huấn đã bầm tím vì sự
va chạm, xuýt xoa giây lâu rồi kêu nho nhỏ :
- Anh !
Huấn mỉm cười, Phượng sốt ruột hỏi :
- Anh có sao không ?
- Bây giờ thì nó thấm đau, nhưng không hề gì.
- Đi, đi về, không ăn cơm một bữa, về đây em bóp thuốc cho.
Lần đầu tiên Phượng kêu Huấn bằng anh trơn, chớ không "anh Huấn" như
trước. Đó là một lối kêu âu yếm của một cô tình nhơn hay của một người vợ. Và
cũng lần đầu tiên, Phượng xưng em với chàng.
Trưa hôm đó họ không ngủ trưa, không phải vì đói bụng mà vì họ có nhiều câu
chuyện nói với nhau.
Vừa bóp dầu cho Huấn, Phượng vừa nói :
- Hồi nãy thằng ấy nó đi một đỗi xa thì dừng lại. Em thấy quanh nó có bốn người
đàn ông, dáng côn đồ. Bọn nó nói gì với nhau rồi chỉ chỏ về hướng mình. Chắc chắn
là thế nào nó cũng mượn tay du côn để hạ anh. Anh có sợ không ?.
- Sao lại không. Nhưng tôi vẫn bảo vệ cô đến cùng.
- Phục lắm, em phục anh ở chỗ đó. Nếu anh không sợ thì khác hẳn rồi. Đàng nầy sợ
mà cứ làm, mới là can đảm. Nhưng anh nên nghĩ thử, có đáng liều như vậy hay
không ? Ai mà liều thân vì hai ngàn đồng lương một tháng !
- Sao cô lại gợi cho tôi câu hỏi bất lợi cho cô như vậy ?
- Vì... vì... ơ... hơ bây giờ thì em mến anh quá, không nỡ để anh mang hại.
- Tôi bảo vệ cô không phải để lãnh lương. Cô nhớ thử xem. Chính vì luận điệu cuối
cùng của cô, tôi mới nhận lời. Luận điệu gì, chắc cô còn nhớ.
- Nhưng nếu anh biết sự thật nhơ nhớp về em, chắc anh sẽ hết yêu em ngay. Em
nghĩ nếu làm thinh ra gạt gẫm anh; như vậy bất lương quá. Thà em nói thật hết rồi
tùy anh liệu định.
- Ý đừng ! Cô đừng kể gì nữa cả. Tôi mất con người của cô, tôi còn sống được. Nếu
cô kể lôi thôi làm tôi mất luôn hình ảnh đẹp về cô mà tôi giữ trong lòng thì khổ
cho tôi lắm.
- Anh không muốn nghe, vẫn cứ phải nghe, trừ phi anh bịt tai lại.
Em con nhà giàu. Em ở trong một quận xa, được cha mẹ cho ra tỉnh học. Ở đó em
trọ tại nhà của hắn. Hắn có vợ và bốn con.
Em vốn mang một chứng bịnh tệ lắm. Mặc dầu con nhà giàu và được cha mẹ rộng rãi
về tiền tiêu phí, em vẫn thích ăn cắp...
Kể tới đó, Phượng nhìn Huấn, nhưng thấy chàng vẫn không đổi sắc.
- Mà ăn cắp gì ? Nhiều khi thật không đáng gì cả: một quyển sách, một chiếc
gương con. Một hôm vợ Trấn, bà ấy đi vắng, để tủ hơ hỏng thế nào mà lòng tham của
em bị thúc đẩy dữ quá, nên em mới mở ra, đánh cắp một mớ nữ trang của bà ấy.
Nói tới đây Phượng khóc mùi mẫn và nghẹn lời không kể tiếp được. Ngỡ bạn hối hận,
Huấn khuyên giải :
- Bịnh của cô, tôi đã biết rồi. Nó thuộc về tâm bịnh và y học kêu là chứng
cơ-lép-tô-ma-ni, Có thể chữa được, và cô gần như vô trách nhiệm.
- Em cũmg biết thế. Em khóc không phải hối hận, mà tức cho cái sức khoẻ của
mình, tức cho sự dốt nát của mình, không biết đâu mà chạy chữa đến đỗi phải hỏng
đi một đời.
- Hỏng thế nào ?
- Hắn thình lình về nhà và bắt quả tang em đang ăn cắp. Hắn nhục mạ em thật
không nương lời, cốt làm cho em hóa hèn tâm trí trước cơn thóa mạ ấy, để hắn dễ
sai khiến.
Em không hóa hèn nhưng hắn hâm dọa đưa ra pháp luật cho cha mẹ em mang xấu
chơi, nên em hoảng. Em thương cha mẹ em quá, không muốn người bẽ mặt với xóm
làng, nên em phải sợ vì chỗ đó.
Rốt cuộc hắn đấu dịu, nói là nghĩ tình quen lớn với gia đình em, không nỡ làm
ra, nhưng hắn buộc em làm giấy nhận tội và...
Phượng lại nghẹn lời và nức nở lên. Giây lâu nàng mới tiếp được trong khi đó
thì Huấn hồi hộp đợi phát giác của Phượng mà chàng đoán biết nhưng vẫn muốn nghe
rõ ràng.
- ... Và làm tình nhân của hắn. Trời ơi, đau đớn nào cho bằng. Không phải là
gái trắc nết, và vẫn mong giữ mình trong sạch cho đến ngày gặp bạn trăm năm.
Nhưng tình thương cha mẹ lại lớn quá biết sao. Ba má em được người người kính mến
vì chỗ hiền đức, lương thiện nên chuyện nầy đổ bể ra, ông bà đau buồn biết bao
nhiêu. Vì thế em phải liều thân.
Huấn tức sôi gan, chưởi lên :
- Đồ khốn nạn, quân tàn nhẫn !
- Em nhắm mắt đánh liều thư vậy được sáu tháng. Thật là ê chề cho thân mình và
ghê tởm cho con người khốn kiếp. Tủi nhục không biết bao nhiêu mà tả cho được.
Một hôm em đánh lừa được hắn và giựt tờ thú tội em đã làm, nhai nát mà nuốt đi.
Nó chỉ cười dài một cách nham hiểm, nói rằng miếng giấy ấy không còn quan trọng
nữa. Em đã ăn ở với nó rồi thì nó có quyền đối với em. Em mà bỏ nó thì nó giết
em tức thì.
Em nào có sợ chết, nên em trốn lên Sài-gòn tìm việc mà làm. Rồi từ đó câu chuyện
làm sao anh đã biết hết rồi.
Huấn đau lây niềm đau khổ của bạn, lặng thinh rất lâu rồi nói :
- Tôi ngỡ là cô kể cái gì dơ bẩn lắm nên tôi lo. Không dè chỉ có thế, khiến tôi
lại thấy cô hoàn toàn trong trắng như bất kỳ cô gái nào. Quả thật cô là một nạn
nhân, và công việc của tôi không có gì xấu hổ cả.
- Tối nay em phải đi thăm một người bà con đau nặng. Chắc chắn là hắn có đặt
người rình nhà mình, mà có lẽ chính nó rình cũng nên. Nếu anh theo em thì nó sẽ
hạ anh. Biết dĩ vãng không hay của em rồi, anh liệu lấy. Em không muốn bắt buộc
anh. Trước kia thì khác giờ thì khác rồi.
- Không ! Biết dĩ vãng của cô, tôi càng cả quyết hơn bao giờ hết để bảo vệ cô.
- Cái đó tùy anh. Thật ra anh không bị ràng buộc chút nào hết vì số lương nhỏ mọn
kia.
° ° °
Người bà con của Phượng ở đường Nguyễn-Khắc-Nhu. Đó là con đường
vắng vẻ nhứt ở Sài-gòn, hai bên chỉ leo heo vài căn phố, và hông dài của những
biệt thự xưa, tối om. Đèn đường cũng hiếm như sao trên trời lúc chuyển mưa về
đêm.
Đôi bạn ở một hiệu kem ra, đi bộ chầm chậm lại đó cho mát.
Phượng để ý thì hình như sau họ, có người đi theo. Nhưng khi họ từ Trần-Hưng-Đạo
quẹo xuống Labbé, tại góc Au Châlet cũ thì người ấy trở bước, mà có vẻ hối hả lắm;
hắn thót lên xe đạp của ai trao không rõ rồi rạp mình mà phóng tới.
Phượng lo lắng nói :
- Hình như nó đi báo cho nhau biết con đường mình sắp qua.
Giọng nàng hơi run run khiến Huấn phảì cầm lấy tay nàng để truyền bình tĩnh qua
cho nàng an dạ bớt. Huấn nói :
- Tôi tưởng chắc nó cũng chẳng giết cô đâu.
- Đành thế. Em lo là lo cho anh kia.
- Tôi cũng không có gan trời gì, nhưng không thể bỏ cô được. Thì cứ tự nhiên mà
đi tới vậy. Ta có thể kêu xe mà đi. Nhưng nếu nhờ xe mà thoát lần nầy, lại sẽ cứ
lo sợ những lần
sau. Chi bằng đụng độ một lần quyết định cho yên thân mãi mãi.
Phượng siết chặt tay Huấn, đi kề sát chàng, thỏ thẻ nói:
- Anh à, em chỉ muốn lui ra đường lớn thôi. Hay có đi nữa đợi xe mà đi.
- Chỉ còn một đỗi đường ngắn, sao lại đi xe.
- Giờ phút nầy sao em nghe lạ quá trong lòng. Em không muốn anh mang hại. Em cứ
tưởng tượng đến việc có thể xảy ra lát nữa đây là đủ xốn xang trong nầy.
- Không thể trốn mãi trọn đời được. Đụng độ lần nầy cũng như là tiêm thuốc ngừa
bịnh độc, tiêm một lần, đỡ lo rất lâu, nếu không phải là đỡ lo cả đời.
Đôi bạn qua khỏi hông Au Châlet, qua khỏi hông sau thành cũ, rồi qua một vựa củi.
Đã đến ngã tư Cô Bắc - Nguyễn Khắc Nhu.
Ngọn đèn đường tại đó, hôm ấy, vì một tình cờ lại chết bóng. Tư bề vắng teo và
tối om.
Hai người cứ đi tới, và khi vào giữa ngã tư thì nghe hô một tiếng rồi bốn bề đều
có người đổ tới.
Trong ánh sáng mập mờ của đèn xa đưa lại, họ thấy rõ tám tên côn đồ còn trẻ, đi
tay không, nhưng tên nào cũng dềnh dàng cả.
Huấn hai tay nhét túi quần, nhìn quanh một 1ượt rồi dõng dạc nói :
- Mấy người anh em, mấy người có biết đây là vụ gì hay không ? Vụ hai người đàn
ông tranh nhau một người đàn bà.
Có lẽ các anh cũng có lần ở vào tình cảnh ấy. Nhưng tôi chắc các anh thích tự lực
mà tranh nhau với người ta, như thế mới anh hùng, con đàn bà mới phục cho. Chớ
còn mượn tay người khác thì ông già tám mươi làm cũng được. Có phải không các
anh ? Riêng ta ở ngoài cuộc ta cũng thích thấy họ tranh nhau ngay chớ không núp
lén nhờ người khác. Hai con gà trống đá lộn, các anh thấy có phải là mê hay
không ? Gà trống nó có mượn ai đâu. Tôi mà như các anh, tôi đứng đây mà xem gà
đá cho mãn nhãn. Đời người mấy khi được xem một trận như vậy.
- Người anh em nói nghe được ! Một đứa trong bọn khen.
Huấn rất khéo, biết bọn nầy chắc chắn có đọc tiểu thuyết võ hiệp, và rất phục
anh hùng, rất thích làm anh hùng nên đánh vào tính chất ấy của họ.
Trấn đang đứng sát tường hãng Labbé để lược trận, thấy bọn du côn ra vẻ bị thuyết
lý, hét to :
- Cứ mần tới đi tao ! Ở tù, tao nuôi cho mà.
Nghe tiếng Trấn, Huấn nói :
- Đó, con gà trống hèn mạt là con đó. Thằng già dịch, mầy có giỏi thì ra đây mà
chịu số phận cái mui xe mía.
Nghe gì mà "số phận cái mui xe mía", các tay hảo hớn bỗng đâm ngán,
dang ra.
Tức mình, Trấn xốc tới, Huân bước đến đón tiếp địch thủ đường hoàng. Nhưng Trấn
khựng lại khiến nhà thơ ngông cười dài khinh bỉ :
- Mầy sợ à ? Phải mà, cái thứ thịt bệu của mầy thì có dám cho trầy da non mà
mong. Nhưng mầy sợ cũng chẳng khỏi. Phải cho mầy tởn tới già mới được.
Vừa nói, Huấn vừa hầm hầm áp tới. Trấn cứ lùi lần rồi trong nháy mắt hắn ta bỏ
chạy. Huấn rượt theo, không thấy Trấn cúi xuống đống đá của kho đô thành.
Phượng thì thấy rõ. Nàng kêu lên thất thanh, nhưng đã trễ quá rồi. Viên đá đã
bay ra sau trúng ngay trán Huấn, máu ra có vòi.
Trong khi Trấn dông mất thì Huấn ngã trên tay Phượng. Vừa lúc ấy một chiếc xe
xích-lô đạp qua, Phượng dìu bạn lại đó bảo chạy ra bịnh viện Đô-Thành.
Trên xe, Huấn thở mạnh và mau. Phượng khóc hu hu mà rằng :
- Trời ơi, đến giây phút em yêu được anh, anh lại sắp chết, trời ơi là trời!
Huấn ngóc dậy hỏi lẹ :
- Em yêu anh thật à ?
Phượng làm thinh, ôm chặt đầu bạn, áo nàng ướt đẫm máu. Huấn lại chui đầu ra
nói :
- Không, anh không chết đâu, máu ra nhiều mệt chút vậy mà.
Xe đã tới trước bịnh viện.
Bao bố nhìn mặt
Hạnh tuy còn ít tuổi mà lo xa như một ông cụ.
Anh sửa soạn nào bông gòn, dây hăng tanh-ti-dót đủ cả rồi cho mọi thứ vào cái hộp
cứu cấp bằng da của anh.
Từ Sài-gòn lên đó mười ba cây sô. Biết đâu dọc đường lại không té trầy chơn hoặc
tới nơi leo cây, lội rạch lại không bị gai quào, nọc đâm.
Hộp cứu cấp ấy anh dùng mang thuốc, mang ống tiêm để đi chích dạo trong xóm
Hòa-Hưng.
Để thuốc, gòn vào đó xong, anh mới nhận ra rằng anh đã chuẩn bị như là đi làm
nghề, chỉ trừ thuốc và ống tiêm không có bỏ vào đó mà thôi
- Hay là bỏ đủ vào đó ? Biết đâu...
Thế rồi anh thêm vào hộp một ống chích, ba cây kim, vài mũi thuốc khỏe, vài mũi
thuốc cầm máu.
Vừa lúc ấy thì Thế tới ngoài ngõ, bóp chuông xe máy leng keng và kêu với vô:
- Rồi chưa ta ? Đi nè, kẻo trưa, nắng lắm !
Họ lên Vĩnh-Phú để uống nước chè tại lò đường của dì của Thế.
Vĩnh-Phú là một làng vườn, đất ẩm nên hợp với sự trồng mía.
Từ quốc lộ Sài-gòn-Bình-dương ra đến sông Sài-gòn, địa phận của làng, mía
trương cờ lên, trùng trùng điệp điệp trắng xóa như một biển lau sậy.
Đây đó những hòn đảo xanh rì: đó là nhà dân, với vườn tược bao bọc chung quanh.
Xa, thật xa ngoài bờ sông, những trại ngói dài với ống khói cao, nhả khói lên
đen ngòm cả bầu trời trong trẻo của thôn dã. Đó là những lò đường trong làng.
Nhờ có công nghệ nên làng trù mật lắm. Nhưng tuy dân có của thế mà không ai ở
không cả. Cả làng làm việc như cái ổ ong.
Đây, vài mươi phu cuốc đất. Đất đen như than, mà mềm như bùn. Lưỡi cuốc rất to,
xắn xuống rồi lấy lên từng cục trông ngon như nhưn bánh trung-thu chai bằng đậu
đen.
Kia, một nhóm phụ nữ phát mía, những đám mía đã tới tuổi nấu đường.
Trong lò lửa cháy rần rần, trông vui và ấm lạ.
Tiếng ông che nghiến răng kèn kẹt như câm giận sao dân làng bắt các ổng làm việc
nhiều thế để hưởng lợi.
Ông che là những khúc gỗ tròn, đứng kề sát nhau, lăn quay như con vụ. Mía đút
vào đó, ổng nghiến dẹp lép, nước chảy ra không sót một giọt. Bàn ép của các xe
mía là những ông che tí hon nằm ngang.
Dì của Thế là một chủ lò đường, nhà làm ăn rần rần nhưng không con.
Bà thấy Thế lên thì mừng rối rít, hối trẻ ví gà để đãi cháu một bữa gà luộc nước
chè.
Hai anh em hỏi thăm sức khỏe bà dì xong là thoát ra ngoài. Uống nước chè là
chuyện phụ. Họ lên đây chỉ để hưởng thú quê một ngày chúa nhựt, sau cả tuần lễ
ngộp thở ở Đô-thành.
Cặp Mạnh, Thế đi xuống bến, mở xuồng của dì cột nơi đó, rồi bơi ra giữa dòng.
Nước sông Sài-gòn ở nơi đây xanh lơ như nước sông trong tranh, nên hai anh em
muốn ở mãi dưới ấy cho đến bữa cơm trưa.
Nhưng mới bơi được một đỗi là bà dì đã cho người gọi giựt ngược lên. Bà ta nhận
được lịnh khai thuế gì đó mà đọc không hiểu mấy bữa rày, nên nóng được đứa cháu
thông thái cắt nghĩa cho nghe.
Không được chơi nước thì chơi lửa vậy, đôi bạn tự an ủi thế. Và giải thích xong
giấy tờ cho chủ lò nghe là họ ra liền, không ngồi nóng ghế chút nào.
- Nước chè là nước làm sao vậy ? Mạnh hỏi.
- Là nước mía nấu sôi để làm đường, mà chỉ mới sôi đến độ nào đó thôi.
- Vậy hả ? Thành ra thịt gà luộc trong đó ăn ngọt ?
- Ừ.
Người thợ nấu đường đứng xem chảo nước mía sôi một hồi, dường như thăm hỏi từ
bong bóng mật đang sùng sục trồi lên hụp xuống, đánh hơi cái mùi ngon ngọt thơm
thơm từ chảo bốc ra, rồi nói: "được rồi".
Đoạn anh ta thọc gáo vào chảo múc đầy một gáo nước chè, đổ ra hai cái tô đặt cạnh
đó, trong tô có sẵn vài lát gừng.
- Mời hai cậu uống nước !
- Nước chè đây à ? Mạnh hỏi bạn.
- Ừ, uống cho biết kẻo chết thành ma nhà quê.
- Ma chợ chớ. Nếu ma nhà quê thì đã sành uống nước chè.
Mạnh thổi vào tô nước nóng, rồi uống từng hớp kêu soạt soạt cái thứ nước ngọt một
vị ngọt tươi và cay cay hơi gừng ấy.
Người thợ nấu đường khác đi lại, tay cầm hai cùi thơm phủ một thứ nước sơn vàng
láng mà trong.
- Hai cậu mút cái nầy rồi uống nước mới ngon.
- Gì đây ?
- Đường gần tới. Nhúng cái gì vào đó, rồi mút cũng ngon cả, cùi thơm, cùi bắp,
vỏ bưởi, đu đủ sống, v. v...
- Như con nít mút kẹo vậy. Thế ơi, ngộ quá !
Mạnh mút một cái, hớp một hớp nước chè nóng, vừa lắng nghe mùi nước mía ngập ngừng
muốn biến ra mùi đường mà chưa thành hẳn, vừa nhìn người ngồi che cho che ăn.
Anh ta ngồi ngay dưới đất, rút mía nơi đống mía sau lưng rồi đút vào hai con
che trước mặt.
Che nuốt lần lần những cây mía cứng ấy như một con quái vật đang đói một cơn
đói khổng lồ, ăn mãi, không bao giờ no cả.
Hai con trâu kéo một cây trục đóng dính vào đầu một con che, đi vòng quanh bất
tận. Đó là động cơ sống hai... ngưu lực, dùng để quay cái bàn ép to tướng kia.
Con che kêu rít lên, nghe rợn cả người, khiến Mạnh có cảm giác đó là một vật sống
có linh hồn, mà đây là một linh hồn hiểm ác.
Như đang cùng một ý nghĩ với bạn, Thế nói:
- Họ sợ hãi kêu con che bằng ông che nghĩ cũng phải. Họ hay cúng kiến nó lắm,
và con che nào cũng có "cô hồn" cả.
Cho che ăn về đêm là một công việc cảm tử. Hễ ngủ quên trong nháy mắt, đút luôn
tay mình vào đó là chỉ có trời cứu. Ở đấy vài năm lại xảy ra thảm kịch ấy một lần.
Bỗng ai nấy đều giựt mình kêu thét lên một tiếng khủng khiếp. Họ dòm lại thì,
trùng phùng kỳ lạ thay, tay người thợ ngồi che vừa bị
"ông" che ngoạm phải.
Tiếng kêu la của nạn nhơn nghe kinh sợ lạ kỳ như tiếng một người thoạt thấy ma,
rồi lại tuyệt vọng quá sức như người vừa rơi xuống miệng hố sâu, không mong ai
cứu được cả.
Trong khi ấy thì cặp trâu cứ bình thản kéo cây trục, cho con che lăn quay đi.
Lẹ như chớp, anh thợ nấu đường nhảy tới nắm mũi trâu mà chận nó lại.
Nhưng tay anh thợ ngồi che đã bị nuốt đến cườm.
Cả xóm bu lại tháo che ra. Bàn tay anh nầy dẹp lại như con khô hố. Huyết quản
và hồi huyết quản bị bể máu ra có vọt, còn nạn nhân thì đã bất tỉnh nhơn sự vì
mất máu và vì sự đau đớn.
Mạnh lật đật chạy vào nhà lấy đồ nghề ra băng bó cho nạn nhơn, tiêm cho hắn một
mũi thuốc khoẻ và một mũi thuốc cầm máu, rồi hối thúc:
- Mau mau đưa anh đó đi nhà thương, không thôi anh ta chết mất.
- Liệu cứu đuợc không cậu ? Bà chủ hỏi.
- Chắc chắn được, nếu đi kịp. Xuống nhà thương, ngưòi ta biết cách và đủ phương
tiện thì hy vọng lắm.
Khi người ta đưa kẻ rủi ro đi rồi thì vừa tới bữa ăn.
Bà chủ lo âu cần mời khách, và cố nhiên nhấn mạnh về công của anh bạn trẻ nầy.
- Thuở giờ, bà nói, chúng tôi chỉ để vậy mà chịu chết. Nay nghe theo lời cậu thử
một chuyến xem sao. Nhưng dầu sao cũng cám ơn cậu lắm. Trong làng mà có một người
biết thuốc như cậu thì đỡ biết bao !
- Hay là mầy ở luôn đây mà tàm thầy lụi vườn, Thế nói cà rỡn. Bà chủ cũng cười
mà rằng:
- Thiệt chớ ! Ở đây không thiếu mối đâu. Giàu thì không giàu, nhưng cậu kìếm tiền
sống dư dả. Muốn tìm đôi bạn, cũng chẳng thiếu gì nơi.
Thế thúc cùi chõ vào hông Thịnh một cái rồi nói:
- Mê chưa ? Cái vụ tìm đôi bạn đó mới là hấp dẫn đa !
Mạnh làm thinh, nhưng không và cơm nữa. Anh ta đang bi lời đề nghị chơi chơi nầy
quyến rủ.
Thầy chích dạo ở Sài-gòn đã nhiều lắm rồi. Lóng nầy anh ta phải đạp xe máy rả cả
giò để đi từ mối nầy tới mối khác, họ càng ngày càng hiếm hoi ra.
Giây lâu, anh ngước lên hỏi bà chủ:
- Nhưng ở đây tìm nhà ở, khó hay dễ thưa dì ?
- Cũng khó lắm. Mà tôi có một cái trại ngoài kia, cậu ở đó vài tháng, chừng có
tiền, tôi sẽ cho đất mà cất nhà.
° ° °
Dân ở đây chỉ mắc phải có ba bịnh thôi: rét rừng, kiết lị, và
bón uất. Bịnh sau đó, giây ra muôn ngàn biến chứng, nào là nhức đầu chóng mặt,
tức ngực, vân vân...
Mạnh biết rõ thế nên anh ta "làm thuốc" rất mát tay, chữa đâu lành
đó. Dân làng phục lăn anh ta và kêu anh là thầy thuốc. Có người lại tôn Mạnh là
đốc-tơ.
Ở Sài-gòn, sao anh ta lèn xèn, thế mà lên đây cũng bộ y phục ấy, nhưng trông
anh ta lại sang trọng ra.
Mạnh thấy là mình đã tìm được đất dụng võ, và quyết yên phận sống nơi xó nầy đến
già với cái mộng mua vườn mua đất và có vợ.
Vì ảnh hưởng kinh tế, ở những làng trù phú lâu đời, con gái thường dễ coi và
nhiều khi đẹp.
Mới ở có một tuần mà Mạnh đã chú ý đến năm cô, cả năm đều cùng xóm với anh, đó
là chưa nói đến nhiều xóm khác mà anh đi chưa tới.
Thật ra năm cô gái ấy không đẹp đẽ gì bao nhiêu. Một cô được nước đa trắng trẻo
như gái chợ. Hai cô đen mà đen duyên, trông rất đễ yêu. Cô thứ tư hơi to lớn,
nhưng thân thể nở nang đều đặn tuyệt mỹ. Cô chót nói chuyện nghe mê lắm, thông
minh và khôn ngoan như một cô gái có học nhiều.
Yêu họ mà qua đường thì thú lắm. Mà cỡ cưới họ làm vợ cũng chẳng hại. Nhưng Mạnh
còn tham lam. Biết đâu xóm khác lại không có người lý tưởng. Hấp tấp rủi còn nữa
thì có phải là tiếc lắm hay không ?
Anh ta nghiễm nhiên là nhà tai mắt ở đây rồi, uy tín có thừa, bóng sắc như bóng
sắc của anh, đối với gái quê cũng là có đường lắm, thì tội gì không chọn hoa
khôi trong vùng để mà yêu hoặc để mà lập tổ ấm.
Hôm ấy anh đi chữa bịnh cho một ông lão ở xóm Lò mứt chuối.
Anh đạp xe đạp trên bờ các con đê,
qua hết đám mía nầy đến đám mía khác, thì bỗng trước mặt anh một chiếc cầu ván
đón đường.
Cầu ván làm bằng ba tấm ván nối dài lại, thành hình thang trong khoa hình học;
bề ngang cầu chỉ vỏn vẹn rộng có bốn tấc thôi.
Anh Mạnh xuống xe, rồi người và ngựa (ngựa hai chân) cặp song song nhau mà qua
cầu.
Cầu ván đóng đinh lắc lẻo, gập ghình, rung rinh thấy mà bắt ngán. Thỉnh thoảng
cái bàn đạp bất nhơn đập vào ống qnyển anh ta một cái đau điếng người.
Tấm ván giữa cầu cao hơn tấm ở đầu cầu. Đẩy xe tới đó, ông thầy lụi bị đập một
cái nữa, đau quá, ông ta toan cúi xống mà xoa chân thì bánh xe trước đã trật
ván 1ọt xuống mương.
Cố níu xe lại, thầy lụi ta lại bị xe trì rồi cả hai rơi xuống nước một cái tùm.
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà anh ta mới ngã mình ra khỏi cầu ván, Mạnh
thoáng thấy một cô gái đứng ở bờ mương đối diện, cách đó độ hai mươi thước.
Cô gái xinh đẹp lắm. Trong lúc hốt hoảng mà Mạnh nhận được điều đó, chứng tỏ sắc
đẹp của cô ta quả sáng rực lên.
Hình như cô ta đang cười rũ rượi, tuy không ra tiếng.
Mương sâu cỡ hai thước; gặp lúc nước ròng, các mương trong đều đánh tháo ra
ngoài sông nên nước chảy siết. Mạnh lại không biết lội.
Hồi té, anh không sợ bao nhiêu, đoán nước dưới ấy giỏi lắm tới ngực là cùng.
Anh không bông xe nên vì nặng, rơi tới đáy rất lẹ. Bấy giờ anh mới thả tay ra để
đứng dậy.
Lần đầu tiên trong đời anh, Mạnh mới hay rằng hoạt hoạt động dưới nước khó vô
cùng. mà lại lại dưới dòng nưóc đang chảy mạnh.
Anh đứng lên, nghe nằng nặng ở trên đè xuống, và gì mà như ai xô anh tới trước.
Đã nghe ngộp, anh ráng hết sức bình sanh chống lại áp lực ở tứ hướng và đứng dậy
thật mạnh. Anh đã đứng được, nhưng mặt anh vẫn còn ở dưới nước.
Tất cả những sự việc trên đây xảy ra mau hơn là thì giờ dùng để kể nó lại nơi
đây, sự việc chỉ xảy ra trong nháy mắt thôi.
Mạnh hoảng hốt đến cực độ, chợt biết rằng mương sâu hơn thân người cao. Trên
anh, khối nước còn đè nặng lên đầu anh.
Mạnh vừa quýnh lên thì thấy một bóng đen lù lù tiến đến làm anh khủng khiếp vô
cùng, nghĩ tới những con thủy quái ghê gớm đọc thấy trong tiểu thuyết.
Nhưng một cánh tay thò tới, thoạt tiên làm anh khiếp vía, ngỡ vòi con mực trong
phim chiếu bóng kia. Nhưng anh chợt hiểu.
Người cứu cấp nhảy lên bờ mương trước rồi nắm tay anh mà kéo. Manh níu cỏ thoát
lên cho đỡ nặng người kia.
Anh mắc cở đến muốn nhảy xuống mương vì người đó là một cô gái, cái cô gái gặp
mình mà cười hồi nãy.
Cô ta nhảy trở xuống nước để lôi xe máy lên, lần nầy khó khăn hơn nhiều, vì tuy
xe nhẹ hơn người mà nó lắc lẻo khó kéo lắm.
Mạnh, tuy thế, vẫn cố dẹp tự ái lại, đứng lên để cám ơn người nghĩa. Người nầy
chỉ mỉm cười, có lẽ quê mùa, ngây thơ, không tìm được lời khiêm nhượng nào để
xóa lấp câu cám ơn của nạn nhân chăng ?
Mạnh lại hỏi thêm:
- Thưa cô, nhà cô ở đâu ?
Cô gái chỉ mỉm cười như trước, rồi không hiểu sao đâm đầu chạỵ đi một nước, trước
sự kinh ngạc của Mạnh.
Anh ta ngó theo cho đến lúc cô ấy khuất dạng, sau một đám mía, ngó theo để biết
hướng nhà cô ta, mà cũng là ngó theo cái thân hình tròn trịa lộ rõ ra vì y phục
ướt dán sát vào da thịt cô.
Thầy lụi chích xong, hỏi người nhà ông lão:
- Ở xóm nầy, cái cô gái có nút ruồi trên môi trên là gì và nhà gần hay xa ?
Bà lão ngơ ngác, còn dâu bà thì mỉm cười nói:
- Chắc thầy hỏi con Bánh ?
- Con Bánh ? Tên ngộ quá ! Nhưng tôi không biết tên cô ấy, cô ta đẹp lắm, nhờ
nút ruồi trên môi.
- Chắc chắc là con Bánh rồi. Nhà nó ở trong kia, nhà ngói cũ nhỏ, có hòn non bộ
ngoài sân.
Rồi chị ta cười bí mật, hỏi gì cũng không chịu nói thêm nửa lời.
Bận về, Mạnh ra đường cái mà đi, không dám theo bờ đê nữa. Anh thay y phục, ăn
cơm mà một chị hàng xóm làm giùm cho rồi đi nghỉ.
Ngủ trưa thức dậy, Mạnh diện bộ đồ bảnh nhứt của anh như chiều thứ bảy đi xem
chiếu bóng ở Sài-gòn, rồi đẩy xe ra lộ lớn để xuống xóm cô Bánh.
"Cô Bánh, tên xấu quá, mà người lại đẹp. Mạnh vừa đi vừa nghĩ vừa buồn cười.
Nhưng bánh nầy là bánh bò bông, nên trắng nõn, lại là bánh đám cưới, làm hoa
hòe ra, trông ngon lắm. Nhưng biết có phải là cô Bánh hay không ?"
Anh ta đạp xe như đua nước rút, không mấy chốc là đã đến nơi. Đẩy xe đi dài
theo bờ mương, anh nhớ lại tai nạn hôm qua mà tức cười.
- Cô ta cười là phải. Bộ mình qua cầu không quen, trông thấy lọm khọm ai mà nín
cười cho được. Lại té xuống nước nữa ! Mà chết hụt trong một cái mương hẹp mới
ác chớ !
Mạnh đi riết vô trong thì quả gặp cái nhà mà chị nọ đã tả. Trước sân có hòn non
bộ hẳn hòi.
Chó sủa vang mà không thấy dạng người ta. Mạnh bẻ một cành tre ngoài hàng rào cầm
quất chó rồi bước vào sân.
Không thấy bóng người, mặc dầu cửa mở. Có lẽ cả nhà đều ở ngoài đồng. Đứa bé
coi nhà đã trốn đi chơi chăng ?
Mạnh đứng ngoài sân tằng hắng hai ba tiếng. Cũng không nghe động tịnh. Đánh bạo,
anh đi vòng ra sau bếp thì mừng thay, cô gái nút ruồi, cô Bánh, đang nấu nướng
gì đó.
Cô gái đưa lưng ra ngoài, chắc là điếc hay sao mà Mạnh lên tiếng cô ra vẫn chẳng
day ra. Tức quá anh thầy lụi bước đại vào nhà bếp.
Bấy giờ cô Bánh mới day lại, thoạt tiên chưng hửng rồi vui mừng lộ rõ ra trên mặt
cô. Cô cúi đầu chào khách rồì đứng đó làm thinh.
Thấy cô ta quá ngây thơ quê mùa, Mạnh thích lắm. Chàng nói:
- Thưa cô, ơn cô tôi không sao qnên được, nên nay quyết đến để...
Cô gái mở miệng ra, ú ớ cái gì không biết nữa và Mạnh bỗng chợt hiểu tất cả: đó
là một cô gái câm.
Chàng buồn cười hết sức, không cầm giữ được, nên bật tiếng cười dài.
Cô gái mắc cỡ, bỏ chạy ra đám mía trước nhà rồi lủi vào đó mất dạng.
Mạnh biết đợi thế nào cô ta cũng chẳng vô, nên ra về, tự hẹn sẽ đến.
Ngày mai chàng trở lại nơi đó, vì dầu sao cô gái ấy cũng đẹp mà chàng còn trẻ với
tình yêu chan chứa, với dục tình muốn thoát cương.
Cô Bánh thấy khách toan chạy đi, nhưng nghĩ sao không rõ, lại thôi.
Mặt cô vừa bẽn lẽn vừa có vẻ giận dỗi. Mạnh hiểu ngay những phản động trong
lòng cô ta, nên anh vào chào cô rất lễ phép và nghiêm mặt lại như trọng nể cô lắm.
Quả nhiên cô Bánh hết giận ngay.
Quên bịnh tật của cô, Mạnh hỏi Bánh một câu. Bánh u ớ lu bù những giọng líu lo
gì đó, khiến thầy lụi sực nhớ lại thực trạng về cô.
Mạnh cố suy tính coi phải ra dấu thế nào cho cô ấy hiểu câu hỏi của chàng. Câu ấy
là như vầy:
- Còn ba má cô đâu ?
Rốt cuộc chàng vuốt cằm như vuốt râu, muốn nói người có râu, tức ông già, tức
cha cô gái. Rồi chỉ vào nhà, lại chỉ ra đồng.
May quá, cô gái hiểu và chỉ về đằng xa dưới kia, rồi lấy cây chổi giả bộ như cuốc
đất.
- Ba tôi cuốc đất dưới kia.
Chàng muốn hỏi nữa, nhưng không biết ra dấu làm sao nên đành cụt hứng. Đôi bạn
đứng đó mà làm thinh, miệng tuy ngậm câm, mà lòng nói với nhau nhiều lắm.
Đối diện đàm tâm mãi cũng chán, Mạnh lấy ra một gói nhỏ trao tặng Bánh. Đó là
ve dầu thơm thứ lô-canh rẻ tiền mà chàng đã mua chiều hôm trước trên chợ
Lái-Thiêu.
Cô gái không nhận, xua tay lia lịa. Mạnh làm ra vẻ khẩn khoản lắm, ra dấu nói nếu
cô ta không nhận thì chàng sẽ đập lọ vào gốc cây rồi về và không trở lại thăm
cô ta nữa.
Cô Bánh rốt cộc nhận quà, rồi ra dấu bảo Mạnh đứng đó. Cô chạy vô nhà một lát
thì trở ra với
một chiếc khăn mu-xoa thêu rìa xanh đỏ trông rất quê.
Nhưng Mạnh tỏ vẻ vui mừng như được bảo vật. Rồi họ chia tay nhau, cả hai đều bằng
lòng.
Sáng hôm sau, Mạnh vừa tiêm xong thuốc cho bốn năm người khách không bịnh nhiều,
lại ngay nhà chàng được, thì cô Bánh đã đến.
Cô Bánh vừa bước tới sân là Mạnh nghe nực nồng mùi dầu thơm rẻ tiền. Cô ta làm
dáng ghê lắm: nón bài thơ bọc áo ni-lông; áo bà ba bô-bơ-lin thêu trôn; đồ
trong màu hường dạ ra ngoài rõ bông, quần lãnh tây thêu lai; guốc quai tréo.
Chiều hôm qua, Mạnh đã điều tra kỹ và biết cô Bánh là con một của một gia đình
trung nông, ông cha là hương chức trong làng, chủ ba bốn mẫu mía.
Cô có học trường câm ở Lái-Thiêu mấy năm nên biết viết, biết đọc sách thầm, biết
thêu thùa, làm hoa giấy, v. v...
Mạnh tiễn khách tới sân rồi luôn tiện mừng bạn vừa đến. Chàng mời Bánh vào nhà,
trà nước đàng hoàng, rồi ra dấu để đàm đạo.
- Cô đi chợ phải không ?
- Không, em lại đây.
- Cô có xức nước hoa, tôi tặng hay không ?
- Có, không nghe mùi đó sao.
Lại làm thinh, vì những câu muốn hỏi khó ra dấu quá.
Cô Bánh làm bộ như viết chữ. Mạnh chợt hiểu, chạy vào lấy giấy và một cây viết
chì ra trao cho bạn.
Cô Bánh viết ngay mấy câu sau đây. Chữ rất xấu, chánh tả lại sai be bét:
"Anh Thầy Chít ơi"
Đọc xong lời kêu gọi, Mạnh cố nén cười đến tức muốn bể ngực. Thì ra cô gái đã
điều tra, và có lẽ ai đã viết cho cô đọc để biết anh ta là thầy chích. Nhưng cô
ta lại lầm tưởng thầy chích là tên của anh, nên mới viết hoa hai chữ T và C.
"Anh Thầy Chít ơi !
"Em tới thăm anh. Hỏi xao (sao) anh hổng tập lội, kẻo té nữa rồi ai dớt (vớt)
cho. Anh có vợ con chưa ? Ai nấu cơm anh ăn ?"
Lần nầy Mạnh dám cười, cười thẳng thắn, anh đáp:
"Cô Bánh ơi !
"Tôi có té thì kêu cô vớt liền. Tôi chưa vợ. Tôi ăn cơm tháng với chị gần
bên.
"Phải chi tôi ở gần cô, tôi mượn cô nấu tôi ăn. Cái khăn cô tặng tôi đẹp
quá. Tôi cất kỹ để dành, lâu lâu, tôi lấy ra nhìn, cũng như là thấy mặt
cô."
Đôi bạn bút đàm với nhau tốn đến năm tờ giấy mà nói toàn những chuyện vớ vẩn
không mà thôi.
Rồi Bánh ra về, hẹn sẽ đến nữa. Họ thỏa thuận với nhau là lặp nhau nơi đây tiện
hơn ở đâu cả,
và Mạnh sẽ không đến nhà Bánh cho cha mẹ Bánh khỏi nghi nan.
Cưới Bánh làm vợ thì Mạnh không tính tới, cố nhiên rồi, mặc dầu nàng là con nhà
khá giả trong làng.
Nhưng con trai thì tánh hay tham, nên Mạnh thấy bỏ đi cũngr uổng. Vả lại làm bạn
với một con câm cũng vui trong cảnh buồn tẻ ở xó quê nầy. Tỏ tình với nó cũng
thú lắm.
Đôi bạn qua lại với nhau đâu được mười lăm hôm thì bữa đó Mạnh viết:
"Cô Bánh ơi,
"Tôi thương cô lắm mà không biết cô có thương tôi hay không ?"
Cô Bánh đáp:
"Anh Thầy Chít ơi,
"Sao lại không thương, em thương anh từ lúc vớt anh lên bờ. Không thương
còn lại đây làm chi."
Mạnh lại viết:
"Cô Bánh ơi,
"Từ đây tôi kêu cô bằng em. Tôi mừng quá, tôi sung sướng quá. Tôi muốn nói
chuyện với cô thật nhiều, thật lâu mà bây giờ sắp có khách khứa lu bu. Vậy tối
cô lại có được hay không ?
Bánh lại đáp:
"Thầy Chít ơi.
"Ngày thường thì không được. Mà tối nay được. Ba em đi dọn đám ma nhà bà
con dưới Bình-Phước. Má em thì quáng gà. Tối nay em lên lối tám giờ."
Mạnh bôn chôn trông cho mau tối. Tối đến, anh lại hồi hộp đợi bạn.
Bánh lên, anh nhắc chõng tre ra sân, ngồi cho mát. Cả hai đều biết cuộc gặp mặt
đêm nay có mục đích gì, chớ nói chuyện bằng chữ sao cho tiện bằng ban ngày.
Sự gần gũi lần đầu trong đời người giữa đôi bạn trai gái, quá thần tiên và đẹp
như mộng, đẹp hơn cả mộng nữa, bởi vì sự ấy đã là mộng rồi trong đó đôi bạn
không còn ý thức rõ ràng về thực tế chung quanh.
Mạnh cầm lấy tay bạn thì nghe Bánh thở như ống bễ lò rèn. Chàng chợt nhận ra
mình cũng thở như...
° ° °
Cuộc sống ở thôn quê cứ lặng lẽ trôi qua như mây bạc trên trời,
hay như nước dưới dòng sông.
Thỉnh thoảng có một con cá, trồi lên mặt nước vùng vẫy một cái mạnh làm xao xuyến
sông lặng rồi đâu trở lại đó như cũ.
Con cá trong làng là vụ cô Bánh. Cô Bánh có thaì. Với ai, nào ai biết đâu.
Tới chừng bụng cô ta lớn bà con mới tóa hỏa ra.
Hai ông bà bắt con mà đánh một trận như trời giáng. Đoạn ông hương bà hương mới
tra gạn Bánh để biết nó đã tư tình với ai.
Bánh cứ một mực lằc đầu.
Cùng thế ông hương phải viết giấy.
"Đứa nào ở với mầy cho mầy có thai, mầy nói ra đặng tao bắt nó cưới mầy. Nếu
không thì xấu hổ tao, tao giết mầy chết."
Cô Bánh viết đáp cụt ngủn:
"Con không biết."
Nổi giận, ông hương đạp con một cái lăn cù rồi đánh bồi thêm túi bụi, đánh đấm,
đánh đá như người đập nệm phơi ngoài nắng.
Bà hương nóng ruột con, nhưng không dám nói gì. Bà suy nghĩ dữ lắm trong trận
đòn đó và bỗng tìm được kế để cứu đứa con gái thân yêu.
- Ông
à ! Hay là nó không biết thật. Nó câm lại điếc, làm sao biết hết trai trong
làng được.
Đánh con đã mỏi tay, nên ông hương mới chú ý đến lời bà.
Ông hơi nao núng, nhưng chỉ làm thinh. Bà đề nghị:
- Tôi nghĩ nên giao vụ nầy cho cậu hương quản của nó tra xét. Là hương chức
đương quyền, cậu nó được phép tra hỏi cả làng. Mình cũng chẳng còn sợ tiếng tăm
gì nữa, vì vụ nầy đã tùm lum ra rồi, ai lại không thấy cái bụng của con Bánh.
- Bà làm sao xong thì làm. Con của bà, dạy dỗ nó là phần của bà, tôi giao cho
bà hết đó.
Hương qnản Nhãn là một hương chức không bận trí về pháp luật cho lắm. Ông thấy
phương tiện nào mà ông ngỡ hay thì cứ dùng. Và ông cũng sốt ruột cho con cháu
nên không ngần ngạì mà thi hành đến một biện pháp mà thôn quê đã bỏ hẳn ba bốn
mươi năm nay rồi là tựu dân phái nam lại cho cô Bánh nhìn mặt.
Có lẽ thấy quân đội Pháp cho bao bố nhìn mặt nên ông phát hứng làm theo, chớ chắc
không phải nhớ tục xưa đâu.
Sáng hôm ấy tất cả trai tráng trong làng đều bị lùa vô xóm trong. Đàn ông còn
trẻ cũng không thoát được khổ dịch đó, vì biết đâu cô ta lại không bị một anh
có vợ nào dụ dỗ.
Nhưng vì hương quản không đủ phương tiện bố ráp, nên các cậu trai chuồn đi rất
nhiều. Đó là những cậu có chọc ghẹo cô Bánh (có tịt hay nhúc nhích ấy mà !) và
những cậu đã bị bao bố của Tây nhìn mặt một lần, biết rõ những cái gặt đầu ẩu xị
của lao bố, nên quyết dĩ đào vi thượng.
Đàn ông con trai đứng giàn hầu hai hàng như lính giàn mặt trong một cuộc duyệt
binh. Hương quản Nhãn dắt cháu đi giữa hai hàng rào người đó
Đằng kia, dưới gốc sao, trên gò đất, nhiều vị hương chức, cha mẹ Bánh, vài bậc
kỳ lão, và con trẻ cả làng đều tựu để chứng kiến cuộc truy tầm thủ phạm bí mật,
vô hình này.
Cô Bánh hơi bối rối, như là cô đang đứng trước một vấn đề nan giải. Bước vào giữa
hai hàng rào người, mặt cô ra vẻ miễn cưỡng nhẫn nại chịu đựng sự phanh phui nầy.
Qua mặt ai là người đó tái xanh đi, và chừng cô bước khỏi đó, họ mới thở ra,
nghe nhẹ hẳn cả người.
Người câm là một kẻ lòng dạ khó lường, nên ai nấy đều sợ hãi, nghĩ cũng phải lắm.
Lạ quá, cô Bánh ngập ngừng, do dự trước bốn người con trai, nhưng mỗi lần như
thế, cô lại đi qua luôn.
Mạnh đứng cuối hàng. Cô Báuh dường như không dè có mặt chàng ta nơi đó. Đến chừng
đi trờ tới, thấy ông thầy chích, cô ta như sực tỉnh, áp tới mà níu áo thầy.
- À...
Cả làng đều à lên một tiếng dài, trong khi Mạnh ngạc nhiên thật tình và phản đối
bắng tiếng "ủa" to.
Hương quản Nhãn cười ha hả:
- Ngỡ ai, té ra thầy ba. Thôi cũng được. Thầy chưa vợ, dễ tính lắm mà.
Mạnh hất tay Bánh rồi nói lớn lên, giọng giận dữ:
- Các ông làm như vậy oan tôi lắm. Phải có bằng cớ gì đích xác kia, chớ còn một
lời quả qnyết cảm của một người á khẩu đứng làm sao cho vững !
Hương quản Nhãn ra lịnh giải tán dân làng, họ mừng quýnh, đổ túa vô trong các
đám mía.
Còn lại vài ông hội tề và cha mẹ cô Bánh. Hương quản Nhãn dịu giọng dỗ ngọt Mạnh:
- Thầy ba à, nếu ra tòa, tôi chắc là tòa cũng sẽ phải tin cháu tôi. Vả lại khi
không nó vu oan cho thầy làm chi ? Thôi, ta thỏa thuận với nhau là hơn, cháu
tôi nó xinh đẹp lại giỏi dắn; anh chị tôi cũng nhân từ, anh chị tôi sẽ gánh hết
tổn phí đám cưới đám hỏi cho thầy, thầy đừng lo. Con một của nguời ta đó mà.
Mạnh sầu đến muốn cắn lưỡi mà chết. Thật là một nỗi oan Thị-Kính !
Đêm ấy anh quả có gặp Bánh tại nhà, quả có cầm tay nó, vuốt lên tóc nó và quả
đã có nhiều tà ý.
Nhưng kỳ lạ quá, và mãi đến ngày nay Mạnh vẫn không hiểu sao mà đêm đó chàng có
thái độ như vậy. Không phải chàng ân hận đã dại dột bỏ qua dịp may, mà chàng ngạc
nhiên sao mình đã đứng đắn được như vậy.
Cầm lấy tay Bánh, Mạnh bỗng nghe ghê tởm mình quá. Dụ dỗ gái thường tuy không tốt
gì, nhưng còn nghe ít tội một chút. Đàng nầy cô gái câm thật là một con mồi thật
thà quá. Lòng chàng nghe khó chịu vô cùng như kẻ anh hùng ái ngại khi xuống tay
hạ sát một người không được bảo vệ.
Bị cầm tay, cô Bánh giựt nẩy mình, rồi trong giây phút đê mê, cô ta ngã vào
lòng Mạnh. Mạnh xô cô ta ra mấy lần mới được.
Bánh ngạc nhiên hết sức và chưa kịp hỏi nguyên do của sự thay đổi thái độ của bạn
nàng thì Mạnh đã đưa tay biểu cô ta đi.
Bánh vẫn không chịu hiểu, ngồi lì đó mãi. Mạnh phải kéo cô ta dậy và đẩy đi như
đuổi tà, cô ta mới chịu cúi trở xuống giường lấy khăn.
Cô gái ban đầu khóc vài tiếng rồi như nén sầu và đâm giận, vùng bỏ đi một nước.
Ngày hôm sau, Bánh lại đến, mặt hầm hầm. Mạnh xua tay bảo cô ta đi ngay cho.
Câm tức cực độ, cô ta viết:
"Em có làm gì mà anh ở ác dữ vậy. Em giận anh lắm đó ! Em buồn muốn chết
đi. Bộ anh thương người nào khác phải không ? Coi chừng."
Mạnh có ác đâu, anh tốt lắm đó chớ. Anh chỉ vụng về thôi, không biết cách khước
từ làm sao cho cô gái hiểu là không nên lén lút như vậy.
Từ đêm đó đến nay, anh không hề hội kiến với Bánh lần nào nữa cả. Thì làm sao
mà nó có nghén được vói anh !
Trời hỡi nè, oan nầy ai thấu cho mình ? Mà tại sao con Bánh nó vu oan giá họa một
cách thất đức như vậy không rõ. Nó trả thù vì đã căm giận mình à ?
Không sành pháp luật lắm, Mạnh nghe những lý lẽ của hương quản mà đâm lo. Ừ, ra
tòa, tòa nào lại không nghe lời con Bánh ? Sao cả trăm đàn ông con trai, nó
không chỉ ai, lại nhè mình mà níu. Nó oán mình, ai biết cho ? Vả nếu nó khai ra
vụ đêm đó, càng chết thêm, vì có ma nào tin được rằng một cậu trai gặp bạn gái
ban đêm, cô bạn sắp hiến thân cho mình, mình lại khước từ ?
Thôi thì đành chịu số phận, rồi hãy hay. Anh định bụng, sau tiệc cưới anh sẽ trốn
đi. Bỏ vợ không ai làm gì đuợc, còn bây giờ mà họ đưa ra tòa là dính ngay cái tội
dụ dỗ gái thơ.
Đám hỏi.
Người trong làng thấy đám nầy cũng xứng đôi vừa lứa, nên họ quên chuyện tồi tệ
mà chỉ khen hai trẻ tốt đôi.
Bánh là cô gái câm đấy. Nhưng tật nguyền của cô được của cải bù lại. Cô là con
một của một gia đình khá giả kia mà !
Nhưng Mạnh không nghĩ thế. Anh kiếm tiền để sống, kiếm dư tiền nữa để làm cho một
cô gái lý tưởng được hạnh phúc.
Cô Bánh quả có xinh đẹp thật, nhưng mà cưới một người câm thì hạnh phúc anh sẽ
giảm đi bao nhiêu ? Tệ hơn thế, người câm ấy bây giờ đã bị hoen ố rồi !
Anh định trốn, nhưng tính lại thì cũng không phải là chuyện dễ. Ra đi là muôn mắt
dòm mình, trốn đâu cho thoát. Không lẽ giả đò dạo mát rồi lủi đại vào rừng. Vào
đó, đi lạc đường sẽ khổ đến đâu.
Còn cái chỗ làm ăn nữa ! Không phải mỗi lúc mà tìm ra được một chén cơm trắng,
cơm thơm như thế nầy, trốn về Sài-gòn, biết còn kiếm được khách hàng như trước
nữa hay không ?
Khổ ơi là khổ ! Mạnh lẩn thẩn đâm ra ăn năn. Phải dè lúc đó mình cứ việc... thì
ngày nay dầu bị cảnh nào cũng mát bụng đi.
Đạo đức làm chi, thương người làm chi mà phải quà quạ nuôi tu hú như bây giờ ?
Ai ăn mắm ở đâu, mình lại chịu khát nước !
Trong thời gian ấy, Thế có lên hai lần. Nó hay tự sự, đã không tìm được mưu kế
gì cứu bạn, lại cười ngã nghiêng ngã ngửa cho tình cảnh oái oăm của thằng bạn rủi
ro nầy.
° ° °
Chú rể Mạnh không thèm đi làm rể làm con gì cả. Trái lại, cha
mẹ vợ anh mỗi ngày mỗi đến thăm anh. Mạnh biết họ đi thăm bẫy thử xem con vật
vào cạm có sảy hay không, hoặc có thử vùng vẫy, để thoát hay không.
Nói cái nào cho ngay, ông hương rất quí rể. Không ngày nào là ông bà không mang
quà đến: không một con gà quay thì cũng mươi con tôm luộc, hoặc vài cặp dừa
xiêm.
Người trong làng ai cũng buồn cười cho cảnh làm rể ngược đời nầy. Ông già vợ gì
mà đi làm cỏ trước sân chú rể ?
Hôm ấy bà Hương đem biếu một rổ bòn-bon và đưa cho Mạnh một bức thơ. Thơ rằng:
"Anh Thầy Chít ơi !
"Em thương anh Thầy Chít lắm, mà cũng giận anh Thầy Chít lắm, nên mới làm
như vậy. Mà nghĩ cũng không hại gì cho anh. Em sẽ nhỏ nhoi hết sức, anh Thầy
Chít muốn sai em làm gì cũng được, muốn đánh em, em cũng chịu. Tiền của em nhiều,
em cho hết anh Thầy Chít đó. Tội nghiệp em lắm mà !"
Đọc xong Mạnh giận tím mặt, xé nát thơ mà vụt xuống đất. Bà già vợ anh kinh hãi
vội rút lui ngay.
Trong cơn điên tiết, Mạnh muốn chạy đi tìm Bánh mà bẻ cổ cho lợi gan anh. Nhưng
rồi anh dằn được.
Nghĩ cũng tôi nghiệp, Mạnh tự nhủ. Nếu mình không bày chuyện yêu đương, không rờ
rẫm nó, chắc nó sẽ không bị động tình và giữ mình được. Xác thịt giống như
thùng thuốc pháo. Không ai rớ đến thì thôi, mà hễ khơi ngòi nó, nó nổ lung
tung, ông trời mà dập tắt được.
Bên đàng gái coi ngày gấp đặng làm đám cưới trước ngày Bánh khai hoa.
Còn hai tháng nữa !
Còn một tháng nữa !
Còn mười lăm ngày nữa !
Mạnh ra vào thơ thẩn như kẻ mất hồn.
Thấy con Ngọ bán đậu phọng rang đi ngang qua nhà, anh kêu mua một gói ăn cho đỡ
buồn miệng.
Mạnh ngạc nhiên hết sức mà thấy trên giấy gói đậu có tuồng chữ viết của Bánh.
Nhưng khi nhớ ra con Ngọ là chị em bạn dì với Bánh, anh không còn lấy làm lạ nữa.
Nhưng tánh tò mò, anh banh tấm giấy ra mà đọc.
"Anh Thìn ơi,
Thìn là anh ruột của Ngọ, người con trai sáng sủa nhứt trong đám nông dân ở
đây.
"Anh Thìn ơi,
"Tôi vu oan cho anh Thầy Chít là để cứu anh đó. Bà con mà anh bậy quá, dụ
dỗ tôi cho đến nỗi nầy.
"Từ rày tôi cấm anh léo hánh đến nhà tôi. Tôi quyết làm vợ anh Thầy Chít.
Còn con anh, tôi đẻ ra, tôi sẽ lén cho nhà phước thiện. Liệu hồn, anh mà còn
bén mảng đến, tôi khai tạch hoạch ra cho mà mang xấu cả lũ."
Hai tay Mạnh run bây bẩy. Mồ hôi trán anh nhỏ giọt. Anh mừng, mừng như dò giấy
số thấy mình trúng độc đắc, mừng như kẻ tử tù hay tin được ân xá.
- Thôi, sướng rồi, bắt đước bằng cớ rồi ! Bằng cớ nầy, mình dùng để thoát thân,
rồi sẽ hủy. Nếu mình mà ác, mình sẽ làm tiền cả họ nhà nó. Chúng nó sợ xấu,
mình đòi bao nhiêu họ cũng phải lòi ra.
May cho cả họ nhà nó lắm đa !
Cái nết đánh chết cái đẹp
Đầu đuôi câu chuyện cũng tại cuộc thi ăn ảnh của báo Gió Mùa
cả.
Sanh và Mai yêu nhau được đôi bên cha mẹ bằng lòng và dự bị làm lễ hỏi, thì
đùng một cái có người thứ ba xen vào, làm trục trặc cả bộ máy, y như là một hột
cát rơi giữa những trái khế của động cơ đồng hồ.
Hôm ấy Sanh đến thăm Mai như thường lệ, thì thấy trên bàn có tờ Gió Mùa để úp,
chưng trang bìa sau ra.
Trên bìa ôi thôi mặt là mặt. Đó là chơn dung của những bạn thanh niên thiếu nữ
gởi đến dự thi: mặt thiệt có, mặt giả cũng không thiếu.
Nhưng dầu mặt thiệt cũng thêm một cái kết, một ống điếu cho oai. Mặt giả thì
đeo râu quai nón, vẽ thẹo trên má cho ra vẻ tướng cướp lưu manh. Có người mặc
cao-bồi, có choàng áo mưa, đeo mặt nạ cho ra tay võ hiệp anh hùng.
Bên gái thì là gái lèo, gái Hời, xẩm Thượng Hải, gái Cao-Nguyên.
Người thơ ký tòa soạn trình bày trang ảnh ấy thành bó hoa. Đóa hoa giữa, to hơn
cả, là một gương mặt thiệt, đẹp như... thôi, khoan so sánh đã.
Sanh cầm tờ báo mà quên phứt người yêu bên cạnh, mắt không rời cái miệng cười
làm điếng người của đóa hoa trung ương.
- Mê chết đi thôi hả ? Mai cười ranh mảnh hỏi bạn. Sanh bối rối vội bỏ tờ báo
xuống mà rằng:
- Cái anh cao-bồi đó, không biết có phải là thằng Cần hay không.
- Còn ảnh giữa ?
- Ừ, đẹp đấy chớ.
- Xí, làm bộ hoài, mê chết đi còn ra vẻ thờ ơ.
Nhưng Mai không ghen, lại hãnh diện khoe:
- Con Dung đó, bạn thân của Mai đa !
- Vậy à ! Mai xấu bụng quá, có bạn đẹp như vậy mà giấu người ta.
- Ai giấu hồi nào, tại anh không gặp nó chớ. À mà kìa, may quá, nó kìa ! Ê, gió
nào đưa bà lại đây ?
- Gió Mùa, Dung reo lên từ ngoài cửa ngõ, và đâm sầm chạy vô. Hai tay nặng ôm một
đống báo.
- Họ biếu nhiều dữ vậy à ? Mai hỏi.
- Xuỵt, nói riêng bà nghe. Họ có biếu khỉ khô gì đâu. Dung phải xuất tiền túi
ra để mua tặng bạn hữu.
Bỗng thấy Sanh, nàng giựt mình nín khe.
Sanh đứng lên, ngã đầu chào:
- Hân hạnh được biết minh tinh tương lai. Mai giới thiệu giùm anh chút.
Mai tươi cười nói:
- Sanh, người sắp xỏ mũi Mai đem về nhà hắn đó. Còn đây là Dung, bạn thân của
Mai.
- Hân hạnh.
- Hân hạnh về phần em, Dung cười đẹp như một bài thơ mà nói thế. Trời, vậy mà
bà giấu tôi.
- Ai giấu hồi nào, tại Dung không gặp chớ.
Mai bỗng giựt nẩy mình, khi nhận ra đó là câu trách móc và câu đáp đã xảy ra hồi
nãy, giữa Sanh và nàng.
Trong giầy phút, nàng mơ màng có cảm giác rằng hai tiếng "May quá" mà
nàng đã thốt ra khi nãy, khi Dung mới tới cửa, là sai. Đó là "rủi quá
!" mới phải cho.
Nhưng nàng tự thẹn và thầm tự mắng ngay mình đã nghĩ quấy cho hai người bạn tốt.
Dung nói:
- Định ghé tặng bà một tập thì thấy bà đã có rồi. Thôi, để giành biếu bạn khác.
Thôi chào anh chị, tôi đi đây. Anh Sanh, mong được nghe anh nói chuyện yêu chị
Mai của em, vào một dịp khác.
Sanh không đáp vụ đó, mà lại nói:
- Dung đã nói là sẽ biếu báo cho bạn khác. Ở đây không có người bạn nào khác
hay sao ?
- Đừng có ăn gian. Sanh và Mai chỉ là một người thôi mà.
- Đâu được. Tục ngữ Tây có nói: "Bạn của bạn tôi là bạn tôi". Tôi là
bạn của bạn Dung thì không được xem là bạn của Dung sao ? Ba người mà khai trừ
đi một, biến nó thành hai khối liên minh thì ai nghe cho.
- Anh già hàm quá. Thôi đây nè !
- Còn nữa !
- Một tập nữa ? Tham quá vậy à ?
- Không phải một tập nữa, mà một chữ ký dưới ảnh.
- Ký làm gì, em chưa minh tinh, minh tét gì mà !
- Rồi Dung sẽ là minh tinh. Tôi để giành chữ ký nầy mà đầu cơ về sau.
Đoạn tiếp của câu chuyện ra làm sao, ai cũng có thể đoán được.
Rất ít chung tình là cái giống đàn ông con trai. Rất ít thành kiến là con gái
tân thời. Nhưng thành kiến làm chi, Sanh đã hỏi Mai hồi nào đâu mà nói hắn là
chồng chưa cưới của Mai được. Chồng người ta trên tay mà có kẻ còn giám giựt nữa
là, huống hồ gì chỉ chồng sắp đi hỏi.
Câu tục ngữ "cái nết đánh chết cái đẹp" ở đây sai bét hết cả.
Mai nết rất nhiều. Nhưng Dung lại rất nhiều hơn vẻ đẹp. Nàng lại lẳng hơn nên
rù quến người con trai dễ như mắm nhử ruồi. Nàng dễ dãi quá trong tình yêu, nên
trai nó dính lưỡi câu mới nhanh chóng.
Sau khi đã bước qua cái lằn mức bạn thân đối với Dung, Sanh nghĩ lại giựt mình,
không biết phản động của Mai sẽ dữ tợn đến bực nào. Nhưng nghĩ kỹ lại thì Mai
có quyền gì đâu đối với chàng nên chàng an lòng. Chỉ có hơi tội nghiệp người bạn
cũ bị nhận chìm xuồng thôi.
Cái ngày mà Sanh, Dung rủ nhau đi Vũng-tàu thì ở nhà Mai, bi kịch xảy ra.
Bà phán Trước đứng chết sững bên giường con giây lâu mới kêu được đứa cháu bảo
nó đi mời thầy thuốc, và sai được chị bếp đi gọi người em trai của bà đến. Bà
là góa phụ nên có việc là hoảng lên.
Bà cầm cái ống không, đựng thuốc ngủ mà Mai đã uống ráo nạo, chạy lên chạy xuống
từ nhà trên xuống nhà bếp, hất ngã cái bình trà, vấp cái thùng sô, mà cũng chẳng
ra trò trống gì cả.
Bác sĩ đến xem qua rồi trấn tĩnh bà:
- Mới uống, chưa việc gì, bà đừng có quýnh như vậy.
Rồi vị lương y bôm rửa, cho uống thuốc nôn mửa, tiêm thuốc kích thích, một hồi
thì Mai mở mắt ra để thấy cậu mình vừa bước vào.
Bà phán mếu máo nhìn em mà rằng:
- Cậu ơi, cháu nó dại quá, ngỡ không xong rồi.
- Nhưng mà xong, phải không bác sĩ ? Cậu ba hỏi.
- Ừ, làm sao lại không xong, chỉ mới uống đây mà !
- Nhưng tại làm sao vậy chị ?
Bác sĩ phản đối:
- Đừng bắt tôi nghe việc nhà. Nầy nhé, cho uống cà-phê nhiều vào. Xế chiều
chúng tôi sẽ trở lại.
Khi bác sĩ ra rồi, bà phán nói:
- Cái thằng Sanh ấy, cậu biết chớ ?
- Sao lại không biết.
- Nó thương con khác, nên con nhỏ nầy mới thất tình.
- Cháu dại thiệt, cậu Ba nói. Thì mặc nó, cháu thiếu gì nơi đi nói mà lo.
Mai khóc rấm rứt:
- Theo lẽ phải thì như vậy, mà con thương anh ấy quá, không thể sống được.
- Thì bắt anh ấy về.
- Làm sao mà bắt, thưa cậu ?
- Nó đẹp lắm à, cái con đó ?
- Dạ, đẹp hơn con nhiều.
- Con cháu nhà ai, ở đâu, ra sao ?
Bà phán Trước đưa ra một tập báo Gió Mùa. Đây là một số báo khác, trong đó ảnh
Dung phóng đại ở bìa với lời chú như sau:
"Kiều nữ Ngọc-Dung, tương lai màn ảnh Việt-Nam, đã được bổn báo giới thiệu
với hãng phim Đồng-Nai để quay thử một đoạn ngắn, hầu kiểm soát khả năng diễn
xuất của cô."
Cậu Ba vừa xem ảnh, vừa vuốt râu, mỉm cười và nói:
- Thằng Sanh đáng đánh đòn, nhưng chỉ nên đánh sơ vài roi thôi. Trai nào lại
không mê gái cỡ nầy. Thuở tôi còn trẻ ấy, ơ... hơ... hừm... tôi cũng mê gái đẹp
nữa.
- Cậu nó khéo nói lếu mà tháp giáo cho giặc.
- Chị và cháu đừng lo gì hết, để tôi bắt thằng Sanh lại cho.
- Liệu có được không cậu ? Mai mếu máo hỏi.
- Bảo đảm.
Cậu Ba nói xong bỏ đi ngay. Cậu không đi chuộc bùa chuộc ngãi gì hết mà chỉ đi
đến hãng phim Đồng-Nai mà giám đốc là bạn của cậu để nài nỉ ông ấy hứa bậy với
Ngọc-Dung một vai gì đó.
Sau sự can thiệp nầy, Dung thình lình thay đổi ngay. Một hôm đi thăm bạn, nàng
đưa điều kiện ra liền:
- Anh phải tìm một căn nhà khác mới được, nhà phải xứng với danh tiếng đang lên
của em. Nếu anh nghe được những lời khen tặng tài nghệ của ông Phong, nhà đạo
diễn trứ danh, thì anh không còn lụm thụm như vầy nữa. À nầy...
- Gì đó em ?
- Anh nên thôi việc ngay. Báo chí mà họ đăng tin em lấy chồng làm thơ ký đánh
máy thì còn gì tên tuổi em. Trời ơi, vợ ăn lương một triệu còn chồng thì hai
ngàn thôi, có chết em không!
Sanh điếng người như cả một bao gạo chỉ xanh rơi xuống đầu chàng.
Trong vòng một tuần nay, Dung thay tâm đổi tánh kỳ lạ. Vào tiệm ăn, nàng huơi
tay huơi chơn, nói ong óng lên. Đón tắc-xi phẩi mất hết cả buổi vì nàng nhứt định
chờ xe mới, xe đẹp, chớ "thứ đồ Rơ-Nô Cách" nàng không thèm đi.
Sanh thăm nàng, nàng bắt đợi ở ngoài lâu lắm mới chịu ra tiếp. Nàng hút thuốc
thơm, đi học nhảy, và hễ mỗi lần đánh rơi món gì xuống đất là nàng kêu "ốp-là!"
Buồn cười nhứt là khi nghe Dung hát, hát cả ngày trật lất cả giọng điệu, mà vẫn
hát to đến ngoài đường cũng nghe.
Dung đòi tẩy cái đầu, hớt tóc theo Leslie Caron gì gì đó, Sanh không biết nữa.
Đi dạo với Sanh, Dung tỏ vẻ bực mình, và như là hơi mắc cỡ.
Không bao giờ nàng nhìn xe hơi say sưa bằng lúc nầy, say hơn cả Sanh nhìn nàng
buổi đầu.
Đêm nằm lăn trở ngủ không được, Sanh ứa nước mắt, tủi cho phận mình yêu phải một
cô gái khi không bay bổng lên trời nhờ tài nghệ.
Những đêm như vậy, hình bóng một người con gái dịu hiền kia lần lần hiện ra, in
chồng lên hình ảnh Dung. Ôi chao ! Mai nó khiêm tốn làm sao ! nó thủ phận như một
người đàn bà Việt-Nam ngày xưa, nó không dám có những tham vọng quá to, không
phải vì tự biết thân mà vì không muốn có sự chênh lệch giữa đôi vợ chồng một
khi có một người bay bổng lên cao.
Sáng lại, thế nào Sanh cũng tìm đến thăm Mai. Lần đầu chàng lấp ló ngoài cửa, đứng
dang nắng đến ướt áo. May sao Mai nó thấy, và lạ quá, nó ngoắc chàng vô.
Kỳ thay, Mai nó vẫn tươi cười như ngày nào, không một lời trách móc, và tuyệt
nhiên không hề đá động đến hôn nhơn bỏ dở.
Gần Mai sao mà nghe nó nhẹ từ thân thể thấu cả tâm trí như gần một bà mẹ hiền
hay gần một đứa em gái thơ ngây.
"Nhưng môi của Mai sao hơi mỏng ? Mắt nàng lại không sâu ?
Sao nàng lại hơi mập một tí?"
Trời ơi ! Cái nết của Mai sao không đánh chết được cái đẹp của Dung cho mình nhờ
! Dung mà cả thân thể gợi thèm thuồng như một pho tượng cẩm thạch La-Ly, Dung
mà đôi mắt nồng cháy lên tình yêu đắm đuối !
Sanh có báo trước là đúng năm giờ rưỡi, tan sở sẽ đến rước Dung đi xem xi-nê.
Nhưng tới nơi thì Dung đã đi rồi, không thèm để lại một lời.
Bứt rứt quá, Sanh đạp xe máy ra Sài-gòn, chạy bậy bạ vòng quanh đó, đến một lúc
kia thì thấy Dung đang đi trên vỉa hè Lê-Lợi với một người đờn ông sang trọng.
Ruột đau như cắt, chàng đạp xe máy theo chầm chậm phía sau. Hai người kia đi
lên rồi vào một hiệu kem.
Chịu không được nữa, Sanh đạp tới đó, đẩy xe đạp lên dựng trên lề rồi ra dấu
cho Dung. Dung tái mặt, không phải vì sợ mà vì giận.
Nàng xâm xâm đi ra, nghiến răng nói:
- Trời ơi, anh làm xấu em ! Xem bộ mặt ghen tương của anh kìa ! Sao mà hủ lậu
thế ? Minh tinh mà bảo đừng giao thiệp à ? Mà chết tôi nữa chớ ! Chỗ nầy mà đem
xe máy rỉ triển lãm ra thì họ cười cho thúi đầu.
Ở Sài-gòn không có động đất. Thế mà Sanh nghe như vỉa hè lung lay dưới chơn
mình. Chàng ríu ríu dắt xe máy đi, như một tên người nhà vừa bị mắng.
Sanh về ngay nhà Mai. Nhà đi vắng cả, trừ Mai ra.
Sanh ngồi phệt xuống đi-văng rồi ôm mặt mà khóc.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét