Thứ Ba, 26 tháng 7, 2022

Khảo cứu về hò khoan Lệ ThủyXXXX

Khảo cứu về
hò khoan Lệ Thủy

Đặng Ngọc Tuân là nhà nghiên cứu “nghiệp dư” về văn hóa. Nhưng chất lượng nghiên cứu thì chính các nhà “chuyên nghiệp” cũng vị nể.
Anh chuyên sâu về hò khoan Lệ Thủy (Quảng Bình), quê hương anh. Tài liệu của anh được phòng giáo dục đưa vào thực nghiệm ở trường học địa phương.  Trước trào lưu dân ca truyền thống đang dần mai một, thì lối đi “ngược đường” của anh là lối đi đúng dù đầy chông gai và gập ghềnh.
BBT xin giới thiệu bài nghiên cứu (nhiều kỳ) của anh.       
KHẢO CỨU VỀ HÒ KHOAN LỆ THỦY
(Phần 1)
 
MỞ ĐẦU
 
Từ trước đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về dân ca miền Trung, dân ca Bình Trị Thiên. Qua đó mà nghiên cứu, giới thiệu về hò, một loại thể dân ca rất đặc sắc và phổ biến ở miền Trung. Những công trình quy mô có thể kể đến “Dân ca Bình Trị Thiên” do Trần Việt Ngữ, Thành Duy sưu tầm, biên soạn, được Nhà xuất bản văn học ấn hành năm 1967. “Hò khoan Lệ Thủy” (tập 1,2) do Trung tâm văn hóa thông tin Lệ Thủy sưu tầm, Sở Văn hóa thông tin Quảng Bình ấn hành vào năm 1997 và 2001. Rải rác trong một số sách nghiên cứu, sưu tầm của một số tác giả như Nguyễn Tú với “Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình”, Lê Văn Khuyên với “Lệ Thủy quê hương tôi”… cũng có giới thiệu về hò khoan. Có thể nói rằng đó là những vốn quý rất phong phú cho những ai muốn tìm hiểu về hò khoan. Tuy nhiên, ở những công trình nói trên cũng còn một số hạn chế. Do đối tượng nghiên cứu là dân ca nói chung (bao gồm cả hò, hát ru, ca huế và đồng dao), phạm vi nghiên cứu bao trùm cả ba tỉnh Bình – Trị - Thiên, nên “Dân ca Bình Trị Thiên” chưa đi sâu về hò khoan Lệ Thủy. Còn hai tập “Hò khoan Lệ Thủy” có sự phong phú về nội dung sưu tầm nhưng các câu hò sưu tầm được còn có nhiều sai sót, sắp xếp nội dung tùy tiện, chưa giới thiệu được diện mạo của hò khoan để bạn đọc xa gần hiểu về cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của hò khoan Lệ Thủy. Ở một số tác giả khác thì còn rất sơ lược.
Chúng ta đều biết, qua hàng nghìn năm lịch sử, người Việt di cư đi mở đất khắp nơi đã mang theo văn hoá quê mình. Đến nơi mới, hội nhập với văn hóa bản địa, nó được sáng tạo thêm, khác đi một ít, để tạo ra cái mới. Vì vậy, điệu hò như những cánh cò của đồng quê vươn đi khắp nơi. Đâu đâu cũng có hò, bởi nó là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn liền với đời sống, lao động của nhân dân. Chẳng hạn, chỉ riêng hò sông nước thôi đã có hò Sông Mã ở Thanh Hóa, hò khoan ở Quảng Bình, mái nhì ở Huế, hò đò ở Quảng Ngãi, Phú Yên, hò Tháp Mười…
Hò là một loại hình văn hóa dân gian. Mà đã dân gian thì không gian tồn tại của nó rất rộng. Rất khó để trả lời đất tổ của hò là ở đâu? Cũng như ít ai có thể rạch ròi được Chèo, Quan họ, Xoan, ghẹo, Ví, Dặm, Lý… có từ bao giờ và ở đâu là đất tổ của nó. Nhiều lắm thì chỉ nói đến tính phổ biến ở nơi nào đó. Ngay cả cái tên gọi của nó cũng rất khó giải nghĩa. Vì sao gọi là Chèo, là Quan họ, là hát Dặm, là Hò khoan… Chỉ có thể nói rằng tên gọi của nó được dân gian mặc định thế. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã cố giải thích rằng nó là từ nói trại đi của từ gì đó ở địa phương, từ cổ. Nhưng cũng chỉ là phỏng đoán vậy thôi, không khẳng định được. Nếu cứ đi theo cách duy danh, định nghĩa như vậy với văn hóa dân gian thì e không thể đến hồi kết. Vậy nên, chúng ta cứ tạm chấp nhận Hò Khoan là một danh từ riêng chỉ một thể loại hò của Miền Trung mà phổ biến là ở Lệ Thủy.
Tuy vậy, qua khảo sát, nghiên cứu người ta vẫn có thể khoanh vùng được những loại hình nghệ thuật dân gian nổi lên ở từng nơi. Trong đó có thể nói hò khoan xuất hiện rất đậm đặc, phổ biến ở Lệ Thủy. Hay nói cách khác, Lệ Thủy là cái nôi của hò khoan. Tương tự như Nghệ Tĩnh là cái nôi của hát ví, dặm. Huế là cái nôi của các điệu lý. Quảng Trị là cái nôi của trống quân. Quảng Nam là cái nôi của bài chòi.
Để chỉ ra sự khác nhau, hay tính khu biệt của hò thì cách chủ yếu là nghiên cứu khía cạnh âm nhạc của nó. Mà đã nói đến âm nhạc là nói đến thang âm, giai điệu, quy tắc diễn xướng... Những cái đó được hình thành, quy định chủ yếu bởi môi trường sinh hoạt, lao động của người bản xứ. Nói vậy bởi, khi sưu tầm lời ca ta có thể bắt gặp một lời ca mà có ở khắp ba miền, thậm chí có ở khắp trong các loại hình dân ca. Nhưng lời ca đó được cấu trúc thành những bài hò theo những thang âm, giai điệu khác nhau tạo thành điệu hò cho từng vùng.
Vì vậy, tôi cũng không mong rằng có thể định nghĩa được hò khoan Lệ Thủy là thế nào, nội dung của nó ra sao, mà chỉ đưa ra một số khái niệm có tính hệ thống về một số khía cạnh nghiên cứu sau đây, với mục đích mô tả một cách cụ thể hơn về hò khoan Lệ Thủy, góp phần bảo tồn giá trị quý báu văn hóa của quê hương.
 
1. MẤY NÉT VỀ LỆ THỦY, MÔI TRƯỜNG HÌNH THÀNH HÒ KHOAN.
 
             Lệ Thủy, dải đất hẹp nhất của đoạn thắt Quảng Bình kéo dài chỉ có 40 km, từ phía bắc tiếp giáp với  các xã của huyện Quảng Ninh đến các xã phía nam tiếp giáp với huyện Bến Hải, Quảng Trị. Trên đoạn ngắn khiêm tốn đó, Lệ Thủy có thế đất chia làm ba vùng rõ rệt, vùng núi ở phía Tây, giáp giới với Lào. Vùng biển ở phía Đông với dãy đồi cát trắng vượt cao lên, ngăn cách biển với đồng bằng. Vùng đồng trũng ở giữa, mênh mông, chằng chịt sông ngòi, đầm phá. Một vùng đất màu mỡ hiếm có ở miền Trung “nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”. Dải đất đó có lịch sử hình thành, phát triển vô cùng khắc nghiệt. Đất và người ở đây đã được hun đúc trong đấu tranh sinh tồn với chiến tranh, bão lụt, gió lào bỏng cháy suốt mấy nghìn năm chưa bao giờ yên. Sân khấu cuộc đời đó đã tạo nên hơi thở của dân ca man mác buồn đau.   
Văn học dân gian nói chung, ca dao dân ca nói riêng có xuất xứ từ trong cuộc sống của con người. Giai thoại dân gian, ca dao hò vè đã xuất hiện từ khi chưa có chữ viết. Nó được sáng tác, trau chuốt, làm phong phú thêm thông qua truyền khẩu. Vì vậy, nó mang dấu ấn vùng miền rõ rệt. Nết ăn, nếp ở, khẩu khí, tính cách, sở trường, sở đoản ra sao đều để lại dấu ấn trong văn học dân gian. Hò khoan Lệ Thủy cũng vậy, nó mang dấu ấn văn hóa lịch sử của vùng đất này. Để hiểu rõ hò khoan thì cần hiểu rõ lịch sử văn hoá vùng đất đã sản sinh ra nó. Có thể khái quát ở mấy điểm về môi trường tự nhiên, xã hội của hò khoan Lệ Thủy như sau:
- Lệ Thủy là vùng đất có lịch sử gắn liền với lịch sử phát triển của đất Văn Lang, Âu Lạc. Từ trước công nguyên, đất này thuộc Nam Việt trong hệ thống Bách Việt phía Nam sông Dương Tử. Từ năm 206 trước công nguyên thuộc quận Nhật Nam. Năm 137 sau công nguyên, một thủ lĩnh người Chăm là Khu Liên đã nổi dậy, chiếm cứ từ phái nam Hoành Sơn lập quốc Chiêm Thành. Lệ Thủy là một châu thuộc đất Chiêm Thành, khi đó còn gọi là châu Địa Lý. Trải các đời từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng đến Ngô Quyền, Đinh, Lê, Lý của Vạn Xuân, Đại Việt, Lệ Thủy vẫn là đất phên dậu của Chiêm Thành.  Tiếng nói, chữ viết mang dấu ấn của văn hóa Mã Lai, Ấn Độ trải gần một nghìn năm. Mãi đến năm 1069 Lý Thái Tổ mới chinh phạt Chiêm Thành, lấy ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh sáp nhập vào Đại Việt. Từ đó Lệ Thủy mới về đất Việt. Trãi mấy trăm năm từ khởi thủy là Điạ Lý rồi Nha nghi, Tri Kiến, Khương Lộc, Lệ Thủy. Khi thì Phủ, rồi Châu, Quận, Dinh, Trại, Huyện một bộ phận hành chính của đất Lâm Bình rồi Tân Bình, Tiên Bình, Quảng Bình, chia đi nhập lại nhưng không gian địa lý vẫn kéo từ phía bắc giáp với sông Nhật Lệ chạy dài 40 cây số đến dãy núi Ba Núc, Ba Kiềng như một hoành sơn nhỏ phía Nam, kéo từ Trường Sơn ra Bàu Sen, truông Nhà Hồ.
       Văn hóa vùng đất này là sự pha trộn của hai dòng văn hóa Chăm – Việt. Của cộng đồng dân di cư từ đàng ngoài, mà chủ yếu là từ Châu Hoan (Nghệ An), Châu Ái (Thanh Hóa) vào khai khẩn đất đai, định cư, phát triển với cư dân bản địa (Chăm Pa). Ở đây có cả thành quách của Chăm Pa với các làng nghề Đại Việt. Là vùng giao thoa ảnh hưởng của văn hóa, tín ngưỡng Ấn Độ từ phiá Nam lên và Văn hóa, tín ngưỡng Nam Việt, Trung Hoa từ phía Bắc xuống. Ngôn ngữ, tiếng nói gần với vùng Hoan, Ái pha trộn với từ địa phương có gốc gác từ tiếng Chăm.
- Lệ Thủy là đất phên dậu, biên trấn của cả Đại Việt và Chiêm Thành. Trong lịch sử hình thành ngót nghìn năm, ở đất này đã có đến 500 năm chiến tranh. Mở đầu là chiến tranh giữa Đại Việt với Chiêm Thành, mất đi giành lại ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh trong suốt 320 năm (từ 1069 – 1389). 7 cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài 45 năm (1627 – 1672). Chiến tranh chống Pháp ngót 100 năm (1847 – 1954). Chiến tranh chống Mỹ 18 năm. Lúc nào nơi đây cũng ở mũi tên, đầu đạn. Hết bắt phu, bắt lính lại tan cửa nát nhà vì bom đạn. Đình chùa, miếu mạo sụp đổ, cái ăn chẳng còn, nói gì đến của để dành mà vui chơi, ca hát. Trai tráng hết lớp này, lớp khác ra trận, đi thì nhiều, về thì ít. Học hành của con trẻ cũng phải xuống hầm sâu.
       Chính trong đạn lửa ấy đã hun đúc nên khí phách người Lệ Thủy trung dũng, quật cường. Ở thời nào trong lịch sử chiến tranh của dân tộc củng có những người con bất khuất của Lệ Thủy. Lèn Áng từ cổ chí kim được chọn làm căn cứ kháng chiến. Bến sông Dinh Trạm là nơi neo đậu của chiến thuyền ngày ngày tập trận tiếng trống, tiếng tù và hãy còn vang. Dinh Mười nơi đồn trú thủy bộ mặt sau của lũy Thầy, ngựa xe, thuyền bè, cờ xí rợp trời Hạc Hải. Xuân Bồ còn đó khắc ghi căm thù giặc Pháp tàn sát dân lành cùng trận đánh lừng danh của quân và dân Lệ Thủy. Chiến tranh chống Mỹ cả nước biết đến một Lệ Thủy với phong trào “Hai giỏi” (sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi), “tiếng hát át tiếng bom”. Những cô gái Ngư Thủy gan góc đối mặt với tàu chiến Mỹ. Thác Cốc, Dốc Khỉ, Vít Thù Lù…bom dạn hủy diệt của B52 không làm chùn bước gái trai Lệ Thủy quyết tử cho tổ quốc. Đã có thời gian, dân Lệ Thủy phải bầm ruột, tím gan gởi con trẻ ra tận Thanh Hóa, Thái Bình để bảo toàn nòi giống. Người ở lại rảnh tay đánh giặc giữ đất quê hương.                               
Trong những biến cố nói trên, người dân Lệ Thủy phải chịu bao cay cực. Chiến tranh là chết chóc, tan cửa, nát nhà, chia ly. Thiên tai là mất mùa, trắng tay, đói kém. Đồng sâu, nước cả, hạn hán, lũ lụt, lao động nhọc nhằn. Vậy nhưng vẫn phải sống, vẫn phải tròn bổn phận. Những tâm tư đó đã được gửi gắm vào trong dân ca mà than thở, mà san sẻ. Đó chính là cội nguồn cảm hứng của hò khoan Lệ Thủy.
       - Lệ Thủy, eo đất hẹp mà có cả ba vùng biển, đồng bằng, núi non biên giới. Đất đai trù phú nhưng khí hậu khắc nghiệt như thử thách lòng người. Nếu tính theo đường chim bay thì từ bờ biển đến biên giới Việt – Lào chỉ có 40 cây số. Song, trên dải đất hẹp ấy lại có cấu hình địa chất, thủy văn hết sức đặc biệt. Đối diện với biển khơi là  những cồn cát trắng. Cát cao thành đồi hàng chục mét, chạy dài suốt bờ biển, thành lũy Trường sa. Cát bay, cát chạy lấp ruộng, lấp vườn nhưng trong nó trào dâng mạch nước ngầm vô tận, ngọt lịm, trong vắt. Nước ngầm tạo nên cả Bàu Sen rộng hàng chục héc ta ngay cạnh biển mặn mòi.
Ít ai ngờ rằng ở quãng hẹp ấy, lại có một đồng bằng phì nhiêu ngút tầm mắt, thẳng cánh cò bay, hàng triệu năm nay được bồi đắp bằng phù sa được chở về từ Trường Sơn bằng 9 ngọn nguồn của sông Kiến Giang (rào Nậy, rào Con, rào Sen, rào Mỹ Sơn, hói Xuân Lai, hói Thạch Bàn, hói Kỳ Cùng, hói Cừa, hói Phú Thọ). Trước khi đổ ra biển khơi, Kiến Giang còn cố nán lại, xoãi ra thành biển cạn Hạc Hải rộng hàng chục ngàn héc ta, dung dưỡng biết bao sản vật vùng nước lợ, góp phần nuôi sống dân Lệ Thủy.
Người Lệ Thủy trong lịch sử ít khi đi bộ, phương tiện di chuyển chủ yếu bằng thuyền. Đi làm ruộng - thuyền, lên rừng lấy gỗ - thuyền, đi chợ - thuyền, đi buôn chuyến - thuyền, đò dọc đưa người ta về tận Đồng Hới. Đến lúc chết đưa linh cũng bằng thuyền nốt. Sông nước chằng chịt, mênh mông vạn khoảnh. Cứ ra khỏi nhà là gặp sông, quanh làng là sông. Năm nào cũng vậy, cứ sau tiểu mãn là mưa lớn dội xuống Trường Sơn, tràn về dâng nước mênh mông. Đến cái nhà cũng phải có kiểu kiến trúc để thích ứng với lũ. Phải có cái “tra” để thóc, làm sàn ngủ khi nước lên. Vách nhà trát bằng rơm với đất để lụt dâng đến đâu thì rơi đến đó. Nhà giàu thì dựng ván đố để khi lụt thì tháo đi, đỡ cản song. Nước rút đi thì nhào đất lại, trát lên, dựng ván lại làm vách. Hình ảnh con thuyền gắn liền với con người. Khi chèo thuyền người ta hò cho khuây khỏa.
Đất đai trù phú thật như câu ca “Nhất Đồng Nai. Nhì hai huyện”. Song để có hạt thóc cho con người thì cũng lắm gian nan, bởi ở vùng đất này khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Mùa hè bỏng rát gió lào, ngùn ngụt, hầm hập hơi nóng. Gió nóng thổi như bão suốt mấy tháng trời đến sông hồ khô cạn. Mùa thu bão vùi dập, mưa trút xuống dâng lụt mênh mông. Lúa mùa đang chín mà không kịp gặt. Lại phải ngâm mình trong nước vớt từng chẹn lúa đã lên mầm, bát cơm hôi nồng như vôi bột. Đông đến thì rả rích mưa dầm. Mưa từ sáng đến chiều, từ chiều qua sáng. Mưa lùa hơi lạnh thấm nặng quần áo, lạnh buốt ruột gan.
Trên cao là dãy Trường Sơn thâm u với những địa danh Bang, Rợn, Vít Thù Lù, Lèn Bạc, An Mã, Đâu Mâu. Mỗi địa danh ấy đều gắn với những truyền thuyết, giai thoại về địa linh, nhân kiệt, neo đậu lại trong trí tưởng tượng của con người mà ví von. Neo lại trong lời ru của bà, của mẹ.
Vậy đấy, nhưng con người nơi đây luôn vươn tới, vượt lên số phận. Phải tìm cách động viên nhau ngay cả khi lao động cực nhọc. Hò khoan giúp họ khuây khỏa, hò khoan giúp họ vui mà yêu đời. Hò khoan trở thành nếp sống văn hóa không thể thiếu. Chẳng ở đâu như Lệ Thủy, vui mà hò hát đã đành, đằng này cái thú được hò hát len vào cả khi buồn, khi lao động mệt nhọc. Điều đó giúp hò khoan sống mãi, một ngày một phong phú thêm.
- Lệ Thủy địa linh nhân kiệt. Kể ra thì đất và người từ thuở khai thiết đến nay mới có ngót nghìn năm (kể từ thời nhà Lý thu về Đại Việt). Chiến tranh, thiên tai vùi dập cũng không khuất phục được ý chí con người nơi đây. Trong gian khó ấy đã sinh ra nhiều nhà nho học uyên thâm, những quan lại thanh liêm dấn thân vì nghĩa, những vĩ nhân kinh bang tế thế.
Có lẽ đất này hội tụ nhiều linh khí “Đâu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên”. Mỗi ngã ba sông cũng tạo thế đất “Mũi viết”. Đi đâu, ở đâu thì người Lệ Thủy vẫn lấy câu đó, hình tượng đó mà tự hào về đất học. Bút nghiên là sự trọng, có học thì mới thoát khỏi đói nghèo. Vậy nên người Lệ Thủy thành đạt nhiều lắm. Danh nhân Lệ Thủy có đủ cả văn, võ. Ai trong họ cũng có cái chí bất khuất, nặng nỗi ưu tư vì dân vì nước. Từ những sỹ phu như Hoàng Hối Khanh, Phạm Đại Kháng, Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Võ Khắc Triển…tiến sỹ nho học và rất nhiều phó bảng, cử nhân khác. Chỉ riêng thời nhà Nguyễn đã có đến 9 vị làm đến Thượng thư nổi tiếng thanh liêm. Đấng nam nhi là vậy, còn có cả  Liệt nữ Hoàng Thị Tám là tướng tài trong phong trào cần vương của cụ Phan Đình Phùng. Và đặc biệt có hai nhân vật ở hai đầu chiến tuyến là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Còn nhiều và nhiều nữa những người học rộng tài cao nức tiếng một huyện, một tỉnh, một nước, vượt ra cả ngoài biên giới. Nhiều người trong số họ, với cái khí khái của nhà nho, gặp khi nhiễu nhương không ra làm quan mà chỉ ở nhà mở lớp dạy chữ, truyền bá đạo lý thánh hiền. Những con người này đã có công lớn trong sáng tạo, truyền bá, bảo tồn di sản dân gian ở chốn thôn quê. Giả như ông Học Chè Lê Văn Khoan ở Lộc An, cụ Châu Đình Khóa ở Sơn Thủy đã sáng tác, lưu giữ rất nhiều hò vè.
- Lệ Thủy tích chứa trong mình một kho tàng văn học dân gian khá phong phú. Đã bao đời nay, cái kho tàng vô giá ấy là nguồn nuôi dưỡng tinh thần, có tác dụng khơi nguồn bồi đắp những tâm hồn văn học tài năng của quê hương. Không ở đâu trên đất Quảng Bình mà nhiều nhà thơ như Lệ Thủy. Cái máu thơ trong họ chắc có mạch nguồn từ máu dân ca của cha ông.
Trên đât này có đủ các loại hình văn học dân gian. Song nổi trội vẫn là hò khoan. Hò khoan có mặt ở mọi  ngõ ngách của cuộc sống từ việc lớn đến việc nhỏ. Đám cưới hò khoan đã đành, đám ma cũng hò khoan, hò để xua đi nỗi buồn, hò để nói với linh hồn người chết rằng, người sống biết ơn họ, đau đớn vì cái chết của họ. Chèo thuyền trên sông hò khoan chưa đã còn bày ra chèo cạn. Giã gạo hò khoan, hết gạo còn nghĩ ra chuyện đổ trấu vào giã. Cày bừa, cấy lúa , đạp nước trên đồng - hò khoan, kéo gỗ trên rừng - hò khoan, nện đất, giã vôi - hò khoan, cất nhà, kéo lưới, đẩy thuyền - hò khoan… Tất tần tật cái gì cũng hò khoan được, ở đâu cũng hò khoan được. Chẳng cần đàn sáo nhị hồ rinh rang làm gì, chỉ cần một cái trống hoặc cái sanh, mà không trống sanh thì vỗ tay bắt nhịp, vậy là hò khoan được rồi. Vậy nên mới dám nói hò khoan là đặc trưng của Lệ Thủy.
Đành rằng, không thể biệt lập địa danh cho văn học dân gian. Bỡi văn học dân gian có sự giao thoa rất rộng do quá trình di dân. Cư dân nơi này đến nơi kia lập nghiệp thì mang theo văn hóa vùng quê mình. Đến nơi mới, hòa nhập với văn hóa bản địa nó có sáng tạo thêm cho khác đi một ít do nhiều lý do. Nhưng, có thể làm rõ được sự nổi trội của mỗi thể loại ở từng vùng khác nhau. Nói đến Kinh Bắc là nghỉ đến quan họ. Nói đến Phú Thọ là nói hát xoan. Nói đến Hà Nam là nghỉ đến chèo. Nhắc đến Nghệ Tĩnh là nhớ ví, dặm. Nhắc đến Huế là liên tưởng đến các điệu lý, Quảng Nam là bài chòi… Còn ở Lệ Thủy, Quảng Bình là hò khoan. Hò khoan đã có ngày hội truyền thống của mình. Đó là ngày 29 tháng 2 âm lịch. Cái này, ngoài quan họ ra, chắc nhiều thể loại khác chưa có.
Tóm lại, chỉ một đoạn ngắn trong chiều dài của đất nước, thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh liên miên. Nhưng nhờ những con người lam lũ mà lại hiếu học, yêu đời, Lệ Thủy đã có cho riêng mình một di sản hò khoan vô cùng quý giá. Với người Lệ Thủy, dẫu có đi đâu, ở đâu, hai tiếng hò khoan vẫn vọng lên trong tâm hồn họ, lan truyền sang mọi người những cảm nhận về quê hương, về khát vọng sống tự do, về những buổi lao động nhọc nhằn của người nông dân lam lũ, một nắng hai sương. Dẫu trong khó khăn, cùng cực vẫn thuần hậu, mặn mà tình người. Vẫn ngân nga trong lòng những ao ước hạnh phúc rất khiêm tốn “râu tôm nấu với ruột bầu” để chồng chan, vợ húp.
2. HÒ KHOAN LỆ THỦY, MỘT LOẠI THỂ DÂN CA ĐẶC SẮC.
 
Trên mảnh đất này, trong gian khó của cuộc sống đã hình thành những hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú, đặc sắc. Một phong cách riêng của đất miền Bình – Trị - Thiên. Khác với những nơi khác, dân ca là thú tiêu khiển, thậm chí chỉ phục vụ cho một giai tầng cao của xã hội ở chốn cung đình, ở cửa nhà quan. Vậy nên, mới có cách diễn xướng chỉ của một nhóm nghệ nhân với không gian biểu diễn có quy ước. Còn ở Lệ Thủy, hò khoan là của mọi người lao động, gắn liền với lao động, ai cũng có thể tham gia, càng đông càng rạo rực.
Từng làn điệu, từng câu ca lung linh như ngọc, mềm mại như dãi lụa đào, duyên dáng như bông hoa e ấp trước gió, chuyên chở ở trong đó biết bao tâm tư, nếp nghỉ, đạo lý, nhân duyên. Chúng nằm trong từng câu của thể lục bát, song thất lục bát ý nhị, mượt mà, ai cũng có thể nhớ, có thể cảm. Nó quyện trong khói lam chiều của mái tranh quê, cây da, bến nước, trăng thanh, gió mát êm đềm của mỗi thôn cùng, xóm nhỏ.
Từ bao đời nay, hầu hết những câu hò đã được nâng niu giữ gìn sau lũy tre xanh, trau chuốt thêm, sáng tạo thêm. Làm cho nó ngày càng lung linh, ngày càng phong phú. Cứ đọc, cứ nghe về nó ta cảm nhận được tâm hồn, tư tưởng, khát vọng của cha ông và cũng là khát vọng của chính mình.
Đã từ lâu, chúng ta đã nghe nhiều, đọc nhiều về ca dao dân ca Việt Nam. Biết nhiều về dân ca Bình Trị Thiên da diết, mượt mà, nồng nàn tình yêu. Song chúng ta chưa biết nhiều về hò khoan Lệ Thủy. Cũng đã có một số chuyên khảo về dân ca miền Trung, một số sưu tầm, nghiên cứu về hò khoan Lệ Thủy. Song vẫn chỉ dừng lại ở sưu tầm các bài hò là chính, chưa nói hết được đặc trưng phong phú về nội dung, làn điệu, diễn xướng, lớp lối của hò khoan. Vì vậy, để thấy được hết cái hay, cái đẹp của hò khoan thì cũng nên làm rõ về nó.
 
2.1 Mô tả về hò khoan Lệ Thủy.
Hò khoan là một trong những bộ phận cấu thành của dân ca miền Trung nói chung và dân ca Bình Trị Thiên nói riêng. Do đặc điểm truyền khẩu và tính tương đồng về văn hóa, chúng ta có thể bắt gặp hò khoan ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Định… song nó cũng đã có những biến tấu nhất định về giai điệu hoặc cách diễn xướng. Ngay cả trong phạm vi của tình Quảng Bình, hò khoan vẫn là đặc trưng của Lệ Thủy, vùng chiêm trũng, sông nước. Ở Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên, Minh hầu như không có hò khoan.
Hò khoan Lệ Thủy là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, xuất hiện trong quá trình lao động sản xuất. Vì vậy, hò khoan là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính tập thể rất cao. Thường thì một, hoặc một vài người lĩnh xướng còn đám đông đế, xố, phụ họa theo những cách thức riêng của từng làn điệu. Thông thường người đế, xố, phụ họa là đám đông có mặt, bao gồm già trẻ, gái trai hoặc những người cùng lao động, sản xuất, không có giới hạn số lượng, nên hiệu ứng đám đông hưng phấn rất mạnh.
a, Quy ước tổ chức
Trong hò khoan, người ta quy ước rõ kiểu cách tham gia của từng thành viên. Bao giờ cũng có “hò cái” và “hò con”. Khi hò, hò cái là người “lĩnh xướng”, còn hò con là người “xố”. Mỗi câu hò thường thì chỉ có một người lĩnh xướng, còn người xố thì có thể một hoặc tất cả đám đông có mặt, người ta gọi là “hội xố”. Điều này rất thú vị vì tính quần chúng của nó và nó thu hút đám đông rất mạnh mẽ, tạo ra hiệu ứng rất rộn ràng.
Trong tổ chức hò khoan có hai hình thức sinh hoạt tự phát và tự giác. Hình thức tự phát thường diễn ra trong quá trình lao động. Bên này, bên kia có thể cách nhau một con sông, một quãng đồng, một thửa ruộng. Bên này hò thì bên kia xố và ngược lại. Tuy nói là tự phát, có nghĩa là không có sự chuẩn bị trước nhưng hễ cứ xướng lên là người khác có thể vào cuộc được ngay. Vì rằng những làn điệu hò và cung cách xố đã định hình trong tiềm thức của người dân Lệ Thủy. Thậm chí, tùy khung cảnh và quy mô giao tiếp người ta có thể lựa chọn làn điệu cho phù hợp. Nếu bạn hò chỉ một hoặc vài người thì người ta thường dùng mái ruỗi, mái ba, mái nện… Còn nếu bạn hò đông như là cả phường cấy, phường gặt thì người ta dùng mái xắp, mái chè. Cuộc hò có khi chỉ kéo dài trong vài chục câu hò cho vui vẻ. Bên này hò cái thì bên kia hò con, không có tính ganh đua.
Hình thức tự giác là các cuộc hò có địa điểm tổ chức cụ thể. Có khi đó là sân kho chứa lúa, sân đình, tụ điểm sinh hoạt của làng. Hò tự giác thường gắn liền với giã gạo. Trong cuộc hò tự giác thì có quy ước trình tự cuộc hò, có lớp lang hẳn hoi. Đi từ hò mời, hò chào, hò gần, hò giữa, hò xa cách, từ tạ. Những cuộc hò như vậy thường được tổ chức nhân dịp hội mùa, hội làng, hội đua thuyền cầu mưa hay những đêm trăng sáng, các bạn hò có nhu cầu giao lưu. Thường thì các cuộc hò tự giác có tính ganh đua quyết liệt. Bên nam thách đố bên nữ, làng này thách đố làng kia. Cuộc hò nhiều khi nóng lên do “cay cú”. Nhiều cuộc người hò có sự chuẩn bị chu đáo, không khí thi đua, ăn thua rõ rệt. Những lúc này cuộc hò trở thành điểm hẹn để trai gái giao duyên. Người già thì hưởng cái thú vui tao nhã, bác học của lời hò, kỹ thuật luyến láy, nhả âm. Các nghệ nhân thì tha hồ mà trổ tài, khoe giọng. Nhiều cuộc hò say mê, thâu đêm không dứt.
b, Diễn xướng trong hò khoan
Như đã nói, có đến hơn 20 hình thức lao động, sinh hoạt có diễn xướng hò khoan. Vậy diễn xướng là gì? Diễn xướng là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ. Diễn xướng khác với biểu diễn, trình diễn và nó chỉ có trong sinh hoạt dân gian phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường sống. Diễn xướng liên kết, gắn bó mọi người có mặt. Biểu diễn thì có người diễn, người xem, người xem không tham gia vào biểu diễn. Còn diễn xướng thì cả người diễn và người xem tham gia cùng diễn với nhau.
Khi nghiên cứu về dân ca thì thấy rằng, các hình thức dân ca khác của các vùng miền đều có môi trường sinh hoạt mang tính cung đình, có sân khấu biểu diễn, trình diễn. Từ Chèo, Quan họ, Ví, Dặm, Xoan, Xẩm, Lý, Tuồng… ngoài bộ phận diễn xướng mang tính quần chúng đều có bộ phận  biểu diễn mang tính sân khấu, cung đình. Riêng hò khoan chỉ gắn với môi trường lao động, môi trường sinh hoạt quần chúng nên nó chỉ có diễn xướng. Cả trong những trường hợp người ta tưởng như đó là biểu diễn như các cuộc hội thi hò khoan. Tuy có sân khấu, có tổ chức hẳn hoi nhưng  diễn viên với quần chúng vẫn hòa nhập với nhau làm một trong vai trò của hò cái và hò con. Trong lịch sử thì cũng đã có một số nghệ nhân ở Huế tổ chức sân khấu hò khoan nhưng không tồn tại lâu. Do đặc điểm này nên hò khoan hình thành những “sân khấu” đặc biệt. Đó là những hình thức diễn xướng hò khoan. Có thể kể ra đây những hình thức diễn xướng của hò khoan để minh chứng. Theo kêt quả khảo sát, có gần 20 hình thức lao động khác nhau có diễn xướng hò khoan: chèo thuyền, giã vôi, nện đất, cất nhà, giã gạo, cấy lúa, gặt lúa, cày ruộng, đám cưới, đám ma, đánh cá, kéo gỗ, đẩy thuyền, đi ở, thợ nề, thợ mộc… Trong thời kháng chiến còn có hò địch vận. Tùy theo nhịp độ, phương thức lao động mà chọn làn điệu cho phù hợp. Cũng có thể trong một hình thức lao động đó có đến vài ba, hoặc cả năm làn điệu được diễn xướng. Người ta chuyển từ mái ruỗi sang mái xấp, mái ba, mái nện… rất uyển chuyển. Chẳng hạn, khi giã gạo chày đôi, tiết tấu chậm thì người ta dùng mái nện, nhưng khi chày tư thì tiết tấu nhanh gấp đôi người ta dùng mái xắp. Trong hò đưa linh, khi linh cữu còn để trong nhà người ta dùng mái ruỗi kể lể buồn đau. Khi đưa xuống thuyền chèo đưa lên núi người ta dùng mái nện. Lúc đặt quan tài xuống huyệt, lấp đất người ta dùng mái nện, mái xắp, mái chè. Sự kết hợp nhuần nhuyễn đến mức không chỉ có bạn hò mà con trâu kéo gỗ cũng biết lắng tai nghe đến đoạn dứt câu hò là nó giật mạnh, kéo gỗ đi băng băng.
Trong hò khoan, không có phân biệt diễn viên với khán giả. Chỉ có hò cái và hò con. Cái hò thì con xố. Và vai diễn này cũng không cố định. Lúc này họ là hò cái và lúc sau họ lại đóng vai hò con “tất cả đều là nghệ sỹ”. Cái cách diễn xướng này làm cho ai cúng sảng khoái.
Cách tổ chức và hình thức diễn xướng chủ yếu của hò khoan là hát đối đáp hai bên. Ít nhất cũng phải có hai người hát. Một bên hò, một bên xố. Ở những môi trường hò có tổ chức theo cuộc hát thì hò phải theo đúng từng “chặng” từ chào mời, vào cuộc giữa cho đến giã từ… Trong khi hò, tính ngẫu hứng sáng tạo là rất cao nên cách diễn xướng cũng thường rất sáng tạo.
c, Các làn điệu (nái)
Hò Khoan Lệ Thủy có 5 làn điệu cơ bản, (có tài liệu nói 6 làn điệu, 9 làn điệu) nhiều người gọi là “mái”. Mái là cách gọi mang tính dân gian, còn ở khía cạnh nghiên cứu thì phải gọi là làn điệu. Mỗi làn điệu (mái) có cấu thức âm nhạc riêng, đó là: mái xắp, mái nện, mái chè, mái ruổi, mái ba. Một số nhà nghiên cứu cho thêm mái nhì vào nữa thành 6 mái. Nhưng có lẽ mái nhì là hò Huế, nó rất phổ biến ở Huế. Và thường được diễn xướng khi chèo thuyền trên sông, không có lớp xố của bạn hò (hò khoan Lệ Thủy dứt khoát là phải có lớp xố). Có người cho thêm hò nậu  xăm, hò khơi của đánh cá vùng biển, hò lĩa trâu trong lúc kéo gỗ trên rừng để tính thành 9 mái. Ở đây chắc có sự nhầm lẫn giữa làn điệu với môi trường diễn xướng. Kéo gỗ, đánh cá là hình thức lao động có diễn xướng hò khoan. Trong khi đánh cá người ta có thể hò mái ruỗi, mái ba…
Mỗi làn điệu có tiết tấu âm nhạc, cách ngắt câu, lớp xố khác nhau. Những tiết tấu và những quy ước diễn xướng đó có căn nguyên từ trong nhịp điệu, tiết tấu của lao động. Lúc dồn dập, khi khoan thai, lúc nhẹ nhàng, khi nặng nhọc. Nhiều khi những tiết tấu đó nhằm để tập trung động lực của đám đông mà ở mỗi người đơn lẻ không thể làm được, như khi đẩy thuyền qua chỗ cạn, khi chống chèo ghe lớn qua chỗ nước xiết, gió ngược, khi cất nhà.
Mái ruỗi, (còn gọi là mái rải, mái dài) thuộc nhóm những mái hò sông nước chậm rãi, khoan thai.  Cấu trúc của nó phân thành ba câu, cứ sau một câu là có một vế xố. Nó rất gần với hò mái nhì ở Huế. Người ta thưởng thức mái ruỗi ở chất nghệ thuật của giọng hò, giai điệu trầm bổng và ý tứ sâu xa của lời hò. Mái ruỗi không cần phải đi theo lớp lang như chào, mời, hò gần, giã từ… mà đi vào hò gần luôn. Lời hò không bị khuôn phép trong phạm vi của lục bát hoặc song thất lục bát mà có thể dài ngắn tùy ý, vô chừng. Quy ước về cách đế, xố của hò con cũng có khác với các làn điệu khác. Đoạn lời xố của mái ruỗi chỉ có ba từ “ơi dô hò”. Nó như lớp sóng tiếp theo để đẩy cho lời hò của hò cái lên cao hơn, vang vọng thêm ra. Cảm nhận của người nghe rất mênh mông.
Cái hò: Chờ cho trọn nghĩa, ơ hơ hờ, nghĩa ơ hơ tình
Con xố: Ơi dô hò
Cái hò: Thiếp nguyện cùng chàng sông sâu đò nặng.
            Chàng nguyện cùng thiếp biển vắng chùa linh.
            Chứ thiếp đây cũng có nơi cung phụng ghé mình.
            Lòng vẫn ôm duyên mà đợi, hô hơ hờ, cho trọn nghĩa tình.
Con xố: Ơi dô hò
Cái hò: Ơ mà nghĩa tình ngày xưa.
Con xố: Ơi dô hò.
Câu hò đầu của hò cái thường là song thất lục bát, hoặc song thất lục bát biến thể (do có những từ láy, từ đệm). Đôi khi chuyện hò kể lễ nên câu hò dài thêm. Câu hò thứ hai là vế thứ hai của câu tám sau cùng để cho hò con xố, sau đó là bắt vào câu mới.
 
Mái ba, cũng là một làn điệu gắn với sông nước, là mái hò tiêu biểu về tính linh hoạt trong ứng tác. Cách bố cục, phân câu, ngắt nhịp rõ ràng. Hò mái ba chủ yếu là thể lục bát hoặc biến thể của lục bát. Câu hò đầu là hai vế của hai câu năm, hai câu sáu hoặc hai câu bảy. Hai câu hò sau là hai vế của câu tám. Hò mái ba thường dùng khi thuyền nặng, đi qua những quãng sông chảy xiết, ngược nước, ở nơi đầm phá gió to. Lúc này, ngoài chèo ra còn phải có chân sào mạnh tay chống đẩy, nên tiết tấu loại hò này nhanh khỏe hơn, quãng ngân hơi ngắn hơn. Lời hò, tình ý cũng thắm thiết song rõ ràng hơn. Đế xố của hò con cũng gọn gàng dứt khoát hơn. Mặt khác, mái ba cũng thường được vận dụng trong hò đối đáp, giao duyên trong những gặp gỡ đông người, nên có những giai điệu gần với hò mái xắp, vui tươi, rộn ràng. Cách đế xố của hò con lặp đi lặp lại trong vế “hò là hô là khoan”. Nó như là chỉ để cầm chịch, giữ nhịp cho hành động lao động của đám đông. Ít có giá trị về âm nhạc.
Cái hò: Hô khoan, dù ai xuyên tạc lá lay, ta vẫn chung thủy, ơi hò
Con xố: Hò là hô là khoan
Cái hò: Chung ơ thủy, ơi hò,
Con xố: Hò là hô là khoan.
Cái hò: chớ đổi thay mà tội trời, ơi hò
Con xố: Hò là hô là khoan.
Đặc trưng của bài hò mái ba là thường chỉ có ba câu và không lệ thuộc vào niêm luật của lời thơ. Vì vậy hò cái rộng đường hơn, dễ phá cách hơn trong ứng tác. Để giữ nhịp cho hò con xố, hò cái thường dùng cụm từ đệm “ơi hò” ở cuối mỗi câu hò.
 
Mái xắp, là làn điệu hay dùng trong khi giã gạo. Vì vậy, ngoài tên gọi của nó nhiều người vẫn quen gọi là hò giã gạo. Thực ra hò mái xắp không chỉ diễn xướng trong  môi trường giã gạo. Mà nó có thể có cả lúc cấy lúa, nện đất, đưa linh, nhất là trong các buổi gặp mặt đông người. Hò mái xắp có quy ước khá chặt chẽ. Kết cấu của một bài hò mái xắp có bốn vế theo thể song thất, lục bát. Câu hò đầu của mái xắp là hai vế song thất. Kế đó là một vế xố dài “hơ khoan ơi là hố khoan ơi hò khoan”. Tiếp đó là hai câu hò với hai vế xố ngắn “ơi là hố”. Câu hò cho vế xố ngắn thứ nhất được ngắt ở vế đầu của câu tám. Câu hò sau cùng là vế thứ hai của câu tám. Đôi khi để luyến láy phô diễn giọng hò người ta lặp lại vế đầu của câu tám. Xố dài như là sự hưởng ứng, khích lệ hò cái. Xố ngắn ngắn như là một nhịp đệm để hò cái phô diễn tài năng ứng tác, thúc đẩy sự sáng tạo. Nhịp điệu vui tươi của mái xắp rất phù hợp với  bối cảnh giao duyên nên thường được tổ chức thành các cuộc hò tập thể. Một cuộc hò thường có lớp lang hẳn hoi, đi từ hò mời đến hò gần, hò giữa rồi hò xa cách, từ tạ. Cái đoạn sinh động nhất là hò giữa, ở đó bạn hò thi thố tài năng qua các lối hò đố, đâm bắt, xấc leo, hò ghễnh…tha hồ mà ứng tác. Quy ước về hò cái và hò con ở loại này cũng khá chặt chẽ. Tiết tấu nhanh, khỏe, vui tươi, rộn ràng.
Cái hò mở: Hôi khoan, xin mời các bạn xố con.
Con xố: Ơi là hố
Cái hò:  Thiếp chờ chàng tấm phên hư nuộc lạt đứt,
             Chàng chờ thiếp khi đắng nước, nghẹn cơm.
Con xố: Hơ khoan ơi là hố khoan ơi hò khoan
Cái hò:  Ba trăng ơi là mấy mươi hôm
             Mai nam vắng trước,
Con xố: Ơi là hố
Cái hò:  Mai nam vắng trước chứ chiều nồm quạnh sau.
Con xố: Ơi là hố 
  
Mái chè, được cấu trúc một đoạn ba câu với ba vế xố. Thường là thể thơ lục bát, trong đó câu tám được bẻ làm đôi cho hai vế xố. Cách hò mái chè đơn giản và ít khi phải thêm từ đệm lót. Tiết tấu của mái chè hơi nhanh, đều đặn. Thường thì mái chè được sử dụng khi làm những công việc nhẹ nhàng, không gian lao động nhỏ hẹp. Người ta chỉ lên bổng, xuống trầm theo một tiết tấu đều, nhẹ nhàng, hơi lưu luyến như lời chia tay, giã từ. Người hò có thể vừa làm việc vừa hò mà không ảnh hưởng gì đến công việc. Vì vậy, hò mái chè thường được diễn xướng khi đạp xe nước, đập đất trồng hoa màu trên đồng, nện nền nhà, nện sân. Tính cân đối khi hò và xố của hò cái và hò con làm cho người ta cảm thấy có đi có lại, giao duyên với nhau mà quên cả mệt nhọc. Cách xố của hò con là sự lặp lại của hai cụm từ “là hô là khoan” và “là bơ hò khoan”. Trong đó vế xố “là bơ hò khoan” ở giữa.
Cái hò: Mình về ta cũng theo về.
Con xố: Là hô là khoan
Cái hò: Sum vầy phu phụ,
Con xố: Là bơ hò khoan
Cái hò: Giàu nghèo ta có nhau.
Con xố: là hô là khoan
Thông thường trong một cuộc hò, để kết thúc, chia tay người ta thường dùng mái chè. Cái giai điệu có phần thỏa mãn, có phần luyến tiếc như buông một dấu chấm hết, hẹn gặp lại.
 
Mái nện, thường được hò khi chèo thuyền, khi cày ruộng hổi, khi đưa linh. Bởi vậy giai điệu hò chậm rãi, thong thả. Khác vơi mái chè, đều đều, cân đối, qua lại, mái nện có sự biến tấu trong diễn xướng. Lời hò thể song thất lục bát, chia làm hai câu không đều với hai lần xố. Câu một lời hò dài, lối diễn xướng như nói, như kể lể với vế xố dài “I bơ hò khoan”. Câu hai ngân lên như hát, lời ngắn với lời xố đơn “hố” nên gây được hiệu quả biến đổi thú vị, không nhàm chán như mái chè. Vào đầu mái nện bao giờ cũng có câu hò mở có tính tự tình. Câu  hò cái và lời xố của hò con cũng rất dứt khoát, mạnh mẽ, có tính đồng tình để mọi người đòng lòng, hiệp sức cho công việc.
Cái hò: Là hỡi chàng ơi
         Thiếp chờ chàng ba năm ni chặn.
         Bữa thì nguyệt lặn, bữa sao mờ.
         Bây chừ mới hiểu rỏ tri cơ
         Chứ chàng yêu thương ơi mà có chốn, ơi hò
Con xố: I bơ hò khoan
Cái hò: Có chốn thiếp lại chờ, ơ hò
         Thiếp lại chờ cho uổng công, ơi hò
Con xố: Hố
Rõ ràng, cách ngắt câu của hò cái cho bạn xố chỉ diễn ra ở câu tám sau cùng. Cách thức thêm vào những từ đệm, từ láy, nhấn nhá ở đây chủ yếu là để phô chất giọng, tạo hiệu ứng âm thanh. Vì vậy, mái nện luôn được thể hiện trong những câu hò tình tứ, thiết tha.
Tóm lại, hò khoan Lệ Thủy có năm làn điệu (mái) cơ bản như đã nói. Còn những mái hò được nhắc đến trong một số tài liệu như “nậu xăm”, “hò khơi”, “hò lĩa trâu” cấu thức âm nhạc, đế xố của nó chưa rõ ràng nên chúng ta cần nghiên cứu thêm.
d, Lối hò trong hò khoan
Trong quá trình phát triển, từ những làn điệu cơ bản đã nói, các nghệ nhân dân gian đã sáng tạo ra các “lối hò”. Lối hò, nói cách đơn giản đó là kiểu hò. Kiểu giao duyên, kiểu nhân nghĩa, kiểu điển tích, kiểu ghễnh ghẹo… Trong mỗi kiểu hò có thể có nhiều làn điệu. Các lối hò như những khuôn mẫu định sẵn để người ta thi thố tài năng. Hò khoan lúc này nó không còn chỉ dành cho lúc lao động nữa, mà nó đã trở thành những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng sau những ngày lao động mệt nhọc, khi đồng áng rỗi vụ, nông nhàn. Sẵn có câu hò khoan, các bạn hò, trai thanh, nữ tú tụ họp với nhau nơi đình làng, dưới gốc đa để hò đố, hò ghễnh, xấc leo, đấu trí, giao duyên, trao đi, đổi lại. Người ta nhận ra nhau, người ta cảm nhau vì câu hò thông minh, vì giọng hò trong trẻo, vì cách đối đáp lưu loát, vì lời nhắn gửi ý nhị. Lúc này, hò khoan đã trở thành một thứ nghệ thuật trình diễn rồi, có tính ganh đua, ăn thua rồi. Có thể kể ra đây nhiều lối hò quy ước sưu tầm được trong dân gian: hò nhân nghĩa, hò nhân nghĩa xa cách, nhân nghĩa kết vấn, hò giao duyên, hò xa cách, hò xa cách kết vấn,  hò đền ơn, hò đâm bắt, hò bồn ba, hò đố, hò xấc leo, hò đấu trí hò ghễnh, hò thợ mộc, hò lĩa trâu, hò Kiều, hò Tam Quốc, Lục Vân Tiên, Lưu Bình - Dương Lễ, Thoại Khanh – Châu Tuấn, hò đưa linh, hò lính mộ, hò bài chòi… Nội dung cuộc hò xoay quanh những chủ đề đó, lối đó mà ra đề, mà đối đáp, so tài thấp cao. Người ta nhận biết lối hò qua nội dung câu hò. Đủ thấy hò khoan không đơn giản chỉ là chuyện ứng khẩu với nhau theo thể thơ lục bát, song thất lục bát anh em, chàng nàng nữa mà hiểu biết về những tác phẩm văn học lớn, những điển tích đông tây. Lấy đó mà vận vào tình huống mà ứng đối, quả là uyên thâm, tài tình.
Tuy nhiên, qua khảo cứu thì thấy rằng cách phân chia lối hò như cách gọi tên nói trên là chưa đúng, chưa rạch ròi. Hay nói cách khác, chưa có tiêu chí cụ thể cho việc xác định lối hò. Vậy đâu là tiêu chí để xác định lối hò. Theo tôi, nên dựa vào nội dung tư tưởng của câu hò mà xác định. Chẳng hạn, lối hò nhân nghĩa là những câu hò có nội dung nói về đạo đức, lối sống, đối nhân xử thế. Hò giao duyên là những câu hò có nội dung thổ lộ, bày tỏ tình cảm của đôi lứa yêu nhau. Còn hò Kiều, Tam Quốc, Lục Vân Tiên, Lưu Bình – Dương Lễ… là việc mượn nội dung của các tích chuyện đó mà nói ý. Nó có thể vận dụng trong hò nhân nghĩa hoặc hò giao duyên. Hò lính mộ có nội dung tố cáo xã hội bắt phu, bắt lính. Hò đưa linh, có nội dung phục vụ cho đưa tang. Hò bài chòi là hò trong trò chơi bài tới giải trí. Sau này, trong quá trình phát triển ở Lệ thủy còn có lối hò địch vận, hò chống Mỹ. Thậm chí cụ thể hơn có hò tuyên truyền chống gián điệp.
Vì vậy, để rạch ròi hơn trong phân biệt lối hò chúng ta dựa trên tiêu chí cơ bản là chủ đề nội dung “cái tôi trữ tình” trong câu hò. Nói cách khác, câu hò ấy ý nói về cái gì? Từ đó có thể nhận diện các lối hò trong hò khoan có: Hò nhân nghĩa, hò giao duyên, hò đố, hò ghễnh, hò đâm bắt, hò bồn ba, hò đưa linh, hò bài chòi… Trong mỗi lối hò người ta có thể sử dụng nhiều làn điệu khác nhau.
 
2.3 Nhạc cụ cho hò khoan
Chỉ có trong các buổi diễn, thi thì mới dùng đến Nhị, Hồ, Sáo, Trống, Sanh… (bộ dây và bộ gõ của dân ca) còn thông thường, nhạc cụ cho hò khoan chỉ là những thứ đơn giản, gắn với công cụ lao động như chày giã gạo, mõ tre, sanh, gậy, mâm đồng, không có gì cả thì vỗ tay bắt nhịp… những thứ gì có thể tạo ra âm thanh cho “rập ràng” là được. Có một số thứ “nhạc cụ” rất độc đáo thường được người hò dùng đến một cách ngẫu hứng. Ví như, cặp chén uống trà, thứ vật dụng có sẵn trong các buổi giao lưu. Âm thanh lanh canh, lách cách của nó thật riêng biệt. Khi rung lên nó vang vang xao động khán trường, kích thích sự hứng khởi. Ví như, cái chày giã gạo, bạn hò dùng nó khắc nhịp, mỗi khi nhấc chày lên là gõ nhẹ xuống tang cối. Giã chày đôi thì nhịp gõ khoan thai người hò dùng làn điệu mái ruỗi, mái ba. Khi chày tư, nhịp chày dồn dập, tiết tấu nhanh, người ta dùng mái xấp, mái chè. Những đêm trăng sáng mở hội hò khoan, đứng bên này sông Kiến Giang vần nghe tiếng chày rập ràng vọng lại từ bên kia sông. Nó cuốn hút đến nỗi, không có đò ngang thì cởi áo bơi qua sông để dự cuộc hò. Người Lệ Thủy trước đây mỗi khi làm nền nhà, làm sân phơi bằng đất thường trộn thứ đất dẻo rải lên rồi dùng một đoạn gỗ được đẽo thành hình như con vịt, gọi là cái “bê” để vỗ mặt đất cho chặt, cho phẳng. Mỗi lần như vậy họ cũng lấy nhịp “bê” đất rập ràng cầm nhịp cho hò khoan. Có ai nghờ rằng khi chèo thuyền mà gặp cuộc hò khoan, người chèo thuyền lấy bàn chân dẫm mạnh xuống thuyền tạo thứ âm thanh như tiếng trống đùng đục, dùng mái chèo vỗ xuống nước mỗi khi bập chèo xuống bùm, bùm để làm nhịp đệm. Đến cả khi chôn cất người chết, đám âm công trong bộ đồng phục xanh, tay cầm dùi đầm đất, cất bước đi vòng quanh mộ, nhấc lên, nện xuống nhịp chày rập ràng tạo nhịp cho hò khoan. Tất cả, tất cả những gì là công cụ lao động đều trở thành “nhạc cụ” cho hò khoan. Cái độc đáo của hò khoan là chỗ đó. Nó là thứ sinh hoạt văn hóa của người lao động, gắn với lao động.
3. NHƯNG GIÁ TRỊ CỦA HÒ KHOAN LỆ THỦY.
 
Nghiên cứu giá trị dân ca cần xem xét trên nhiều bình diện, song có ba vấn đề không thể thiếu đó là: Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật và giá trị âm nhạc của nó. Trong hò khoan Lệ Thủy những vấn đề đó thể hiện như sau:
3.1. Chủ đề nội dung - cái tôi trữ tình trong hò khoan.
Trong số gần 2000 câu hò sưu tầm được thấy rằng, nội dung mà hò khoan đề cập là rất phong phú. Có những cái to tát như nhân tình, thế thái, sự đời, chuyện quan trường, quốc sự. Cho đến tình cảm, trao duyên, thậm chí chỉ là một chút trách cứ, than phiền. Thống kê cho hết thì e không thể, nhưng đại lược thì có thể thấy cái tôi trữ tình mà hò khoan đề cập thể hiện qua những nội dung chính như sau:
Tình yêu đất nước, quê hương sâu nặng bắt nguồn từ núi non, sông biển, cây đa, bến nước của nơi chôn nhau, cắt rốn. Mảnh đất Lệ Thủy nhỏ hẹp nhưng may mắn có cả ba vùng biển, núi, đồng bằng. Chẳng ở nơi đâu địa lý tự nhiên lại đẹp như Lệ Thủy. Chắn gió biển khơi là một dãy đồi cát trắng, có ngọn cao cả trăm mét. Chang chang cồn cát, trắng lóa vào ngày hè nhưng trong cát bỏng đó vẫn mát rượi dòng nước ngầm ngọt lịm. Nước không chỉ chảy thành dòng suối nhỏ mà còn tạo thành hồ, đầm mênh mông vạn khoảnh ngay cạnh biển khơi như Bàu Sen, được ví như Nhị Hồ ở Trung Quốc. Đồng bằng Lệ Thủy nổi tiêng là phì nhiêu. Đã có câu ca “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”. Ít tai ngờ rằng giữa cái đoạn thắt ấy lại có một vùng ruộng mênh mông, chằng chịt sông ngòi, phù sa lớp lớp. Thứ phù sa được chở từ dãy Trường Sơn qua mỗi mùa mưa bão, lũ lụt. Ruộng hổi ở Lệ Thủy phải cày bằng hai trâu mới đi nổi. Có vùng người cũng không đứng xuống ruộng được vì bùn lầy sâu vài mét. Người đi cấy lúa su phải dùng hai cây tre đặt nằm xuống mặt ruộng mà đứng chân. Cấy giật lùi đến đâu thì nhấc một chân lên, kéo cây tre lùi xuống. Núi rừng Lệ Thủy kéo mãi đến biên giới Việt – Lào, tài nguyên vô tận. Gỗ quý, song mây, trầm kỳ… thứ gì cũng có. Một thời hợp tác xã nào cũng có một đội “Sơn tràng” ở miết trên rừng khai thác gỗ.
Thiên nhiên là vậy, song lao động thật quả nhọc nhằn bỡi quanh năm hết gió lào bỏng cháy, lại bão tố lũ lụt ngập tràn. Nhiều khi lúa chín, miếng ăn trông thấy rồi mà chỉ một đêm mưa là lũ ngập trắng đồng. Vậy nên, trong câu hò xứ Lệ thấm đẫm chuyện buồn.
“Thân em khó nhọc trăm bề,
Sớm lên đồng cạn, chiều về đồng sâu.
Có gương không kịp rẹ đầu,
Có cau không kịp têm trầu mà ăn.
Ấy vậy nhưng lúc nào người Lệ Thủy cũng lấy ngọn núi cao Đâu Mâu, phá Hạc Hải, sông Kiến Giang để mà nhớ, để mà ví von, mượn nó mà nói nỗi lòng thương nhớ, tình chung thủy. Hình tượng “Đâu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên” trở đi trở lại trong hò khoan lệ thủy nhiều lần.
“Núi Đâu Mâu cao bao nhiêu trượng
Sông Lệ Thủy sâu bấy nhiêu tầm;
Dừng chèo đợi bạn tri âm;
Non mòn, biển can, vẫn nhất tâm đợi chờ”
Đôi khi cái sự tan, hợp của tình duyên người ta cũng liên tưởng đến sông nước đất quê. Dẫu có ngọn nguồn ở tận đâu, dẫu có thác ghềnh cách trở nhưng cũng không ngăn cản được Kiến Giang tìm về nơi Hạc Hải, hội nhập làm một cho trọn nghĩa vẹn tình. Sông có nghĩa tình như người vậy, tất không thể chia xa.
“Cầu Tràng Kênh dầu có phân đôi ngả
Sông Lệ Thủy dầu có cách phá trở ghềnh
Vì em có nghĩa có nhơn nên gương vỡ lại lành
Đôi lứa ta kết trọn để cho mình nên duyên”
Cũng có khi vươn vai đứng đón gió hương đồng sớm mai mà cảm cái nỗi nhớ về người yêu thương. Nghe đâu đó trong gió nồm nam hương lúa, hương tóc, hương tình mà ví von. Mà cách ví von cũng thật chân quê, mộc mạc nhưng rất sâu đậm nghĩa tình.
“ Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông
Thân em như chẹn lúa đòng
Phất phơ trước ngọn gió nồng ban mai.”
Quần quật đầu tắt mặt tối, lam lũ chốn mom sông hay đầu ngọn suối mò cua, bắt ốc. Đói cơm rách áo nhưng lòng dạ chỉ nghỉ về nhau. Quyết một lòng vì nhau, có nhau, không bao giờ đổi thay.
“Nước ròng em xuống sông mò cua bắt cá,
Nước nậy em lên rừng hái rau má, rau mưng.
Đắng cay mặn ngọt đã từng,
Dẫu chàng ăn thiếp nhịn, xin đừng quên nhau.”
Nói tóm lại, những núi cao, sông rộng, mênh mông cánh đồng, cây cầu, bến nước của miền quê ấy luôn làm cho con người Lệ Thủy nặng lòng trắc ẩn với quê hương. Tình yêu quê hương là một thuộc tính cha truyền con nối của người Lệ Thủy. Đi đâu, ở đâu thì câu hát đồng giao, câu hát ru, câu hò cũng vẫn níu kéo họ về quê.
 
Hò khoan Lệ thủy luôn nhắc nhủ con người sống giữ trọn chữ hiếu, chữ trung, nghĩa nhân, chung thủy. Thấm nhuần giáo hóa của đạo Nho, đạo Khổng trong cái mối lương duyên phụ tử, phu phụ, đệ tử. Một lòng thờ mẹ kính cha, chung thủy vợ chồng, trọn nghĩa bè bạn, đùm bọc xóm giềng. Đây là một trong những nội dung nổi trội của hò khoan. Bởi như đã nói, mảnh đất Lệ thủy đầu sóng, ngọn gió, ngút lửa chiến tranh. Trong cảnh loạn ly đó mà không nghĩa tình, chung thủy, không cố kết, đùm bọc thì chẳng ai còn.
Trước hết đó là chữ “hiếu”, chữ hiếu được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong lời của hò khoan. Những lời ca tụng công cha, nghĩa mẹ sinh thành, nuôi dưỡng. Khi thì “đắng nước, nghẹn cơm”, khi thì “thân cò lặn lội” quãng vắng chiều đông, lặn ngụp trên đồng vớt lúa ngập lụt, ngữa mặt than trời “Trách ông trời ăn ở không cân; Kẻ ăn không hết người lần không ra”. Khi đêm đông gió buốt chỗ ướt mẹ nằm. Khi thì cha còn mịt mù đi phu, đi lính “tấm phên hư, nuộc lạt đứt” mà chẳng biết cậy nhờ ai. Vậy nên khi giao duyên người ta luôn nhắc nhau.
“Công sinh thành cù lao dưỡng dục
Trong dạ anh chính khúc vò tơ
Công ơn thầy mẹ biết tính răng chừ
Thiếp theo chàng cho được, chớ nghi ngờ chuyện chi”
Hoặc:
“Ơn song thân cù lao dưỡng dục
Nghĩa cưu mang chính tháng còn dư
Lấy chi đền nghĩa mẹ chừ
Vì gia bần, trí đoãn, sau phụ mẫu “động cư” có chàng”
Bỡi vậy nên, trai gái từ lúc tìm hiểu nhau, đến lúc thành thất thành gia không bao giờ phai nhạt tình phụ mẫu. Hò khoan đã cho họ những bài học thuộc lòng về chữ hiếu.
 
Sâu nặng, mặn nồng là chữ “tình” của nghĩa vợ chồng, lúc nào người ta cũng ví nó như cao như núi, sâu như sông, như biển. Là nghĩa tào khang, mà vàng son cũng không đổi được. Vậy nên lúc nào họ cũng dặn dò nhau:
“Lòng lại dặn lòng non mòn bể cạn
Dạ lại dặn dạ đá nát vàng phai
Dặn rằng bạn chớ nghe ai
Đã nghe ai thì xin chớ, vãng lai chốn này”
Hễ mà xa nhau là ví như chim xa rừng, cá xa nước, cầu cất, đò neo.Là mong nhớ, trông ngóng “Như giang trông lửa; như đại hạn chờ mưa”. Ra ngóng vào trông.
“Thiếp xa chàng ra đàng ngó vội
Thấy được mặt rồi dạ đói cũng no
Không tin cứ để đó anh dò
Ai bắc cầu cho biết, ai chèo đò cho hay”
Nghĩa tình phu phụ keo sơn, chia bùi sẻ ngọt, lên non, xuống biển, no đói có nhau. Nên chỉ xa nhau thôi đã thấy trống trãi, rã rời, cơm không muốn ăn, nước không muốn uống. Nghe con hạc kêu, vượn hú nhớ chồng chan chứa lệ rơi
“Con nhạn lạc bầy nó kêu oái oái
Con vượn lìa cành cắn trái khóc than
Vắng người thương châu lệ nhỏ tràn
Thôi cam đành chịu vậy, nỏ thở than chi chừ”
Đến như chàng xa nhà chỉ có ba tháng (ba trăng) mà đã sầu tương tư:
“Thiếp xa chàng tấm phên hư, nuộc lạt đứt
Chàng xa thiếp khi đói nước nghẹn cơm
Ba trăng là mấy mươi hôm
Mai nam vắng trước chiều nồm quạnh sau”
Trong thời loạn ly, mà Quảng Bình, Lệ Thủy thì đã có bao giờ yên, cái cảnh chinh phụ của nhiều thế hệ cứ nối dài ám ảnh những người phụ nữ đất này lúc nào cũng nơm nớp phải chia xa, lúc nào cũng hoang mang cảnh mất chồng. Người chinh phụ còn có cái mà mong chờ như “ngọn đèn leo lét” nhưng người đàn bà mất chồng thì phải sống kiếp trầm luân. Vậy nên, nội dung nỗi niềm chinh phụ được nói đến rất nhiều trong hò khoan Lệ Thủy.
“Anh ra đi đầu đơn lính mộ
Hai chữ tang bồng ở chỗ người ta
Sao không thương con thơ ấu với mẹ cha già
Khi mưa khi nắng thiếp phận đàn bà khó khăn”
 
“Vắng bạn ta ngày tha đêm thiết
Duyên số tự trời ly biệt bấy lâu
Hiềm vì sông sâu chưa bắc được cầu
Nên đò ngang lỡ chuyến dạ sầu lắm thay”
 
Khi mất mát họ than thở:
“Duyên đã may cớ sao lại rủi
Nghĩ nguồn cơn thêm tủi dạ chàng
Liễu hờn tủi phận hồng nhan
Ai xui mà lại dỡ dang thế này”
Tình chồng nghĩa vợ sâu nặng đến vậy nên khi duyên phận trắc trở, chia lìa thì thật đau đớn. Nhiều câu hò trách duyên phận nghe như xé lòng, đứt đoạn ruột gan.
“Trúc xa mai vì ai rứa hử
Thiếp xa chàng tâm sự chơi vơi
Thương thân đây với hởi trời
Kẻo chưa bao lăm ngày tháng, sao đã đổi dời nợ duyên.”
 
Tha thiết, mặn nồng đó là mảng hò khoan nói về tình yêu trai gái. Bất chấp tất cả, mặc kệ nắng mưa, bão tố, mặc kệ bom đạn, binh đao, mặc kệ mẹ cha gã bán, mặc kệ trái ngang, tình yêu vẫn đơm hoa, kết trái. Cái cách trai gái đến với nhau qua hò khoan thật là độc đáo. Nhiều khi chỉ là bắt lời đối đáp lúc chèo thuyền trên sông, nhắn nhủ xa gần bên cối gạo, gửi gắm từ bờ bên ni qua bên nớ là tình yêu đã được khơi nguồn.
“Gió mát trăng thanh bạn lành chưa thấy mặt
Thoảng nghe tiếng hò lúc nhặt, lúc khoan
Đêm nằm mà dạ không an
Nghe lời bạn thốt, băng ngàn ra đi”
 
Hay:
“Anh đứng xa cách ba trộ sáo
Nghe tiếng em hò cuốn áo ra đi
Mấy đời, mấy thuở, mấy khi
Trai thanh gặp lại nữ nhi chốn này”
Trong hò khoan, những câu chuyện yêu đương người ta gọi là hò “kết vấn”. Mà đã hò kết vấn là nó có lớp lang hẳn hoi, đi từ chào hỏi, thăm dò đến trao duyên, gửi ý. Khi đã mãn cuộc chơi  thì tam biệt, chia xa, hẹn hò gặp lại. Chúng ta bắt gặp ở đây những câu ướm hỏi tế nhị, những câu trao duyên tình tứ cứ như sợ phải nói ra. Những lời xe duyên, kết phận thiết tha, thề nguyền gắn bó đến đầu bạc răng long. Những lời than thở nhớ nhung khi cách mặt, cách sông trở hói, cha mẹ cản ngăn, người đời lá lay chia rẻ. Những nỗi ai oán trách duyên, hờn phận khi lỡ làng.
Khi mới gặp nhau người ta hò thế này:
“Em có chồng chưa nói cho anh biết
Anh có vợ rồi cũng nói thiệt cho em hay
Để khi ra đường lỡ có cầm tay
Sợ người thương em đứng, đó buông rày khó buông”
Sau cái màn chào hỏi là buông lời ong bướm, tán tụng nào là “mắt phượng, mày tầm”, “môi đỏ tợ son”, nào là khuôn trăng đêm thu khiến anh “càng  ngó càng đẹp, càng nhìn càng ưa”… Đôi khi còn ướm thử hay là em chỉ chuộng “nơi mâm thau bịt bạc, nơi chén kiểu bịt vàng”. Dẫu có đã xiêu lòng rồi đấy nhưng là thân gái liễu yếu đào tơ thì vân phải tình trong như đã, mặt ngoài vẫn e.
“Thương anh không dám thương nhiều
E mai có kẻ mỹ miều hơn em”
Được lời như cỡi tấm lòng, đây là cơ hội để người ta giã bày, trần tình thề thốt dẫu nay mai có “Chộ non cao không sấp mặt; Chộ sông dài không xây lưng”. Dẫu gặp “Phá Tam Giang anh cũng lội, núi Mâu Son anh cũng trèo”. Đến thế thì gì mà chẳng xiêu lòng, rồi cảm, rồi yêu. Mà đã yêu thì:
“Dẫu rằng thầy mẹ có đan rọ thả trôi
Thả trôi thì thả thiếp không thôi nghĩa chàng”
Vậy là đã hẹn ước, thề nguyền trao thân, gửi phận. Nhiều khi cuộc vui thâu đêm, suốt sáng, giã hết gạo họ đổ cả trấu vào giã. Thế rồi cuộc giao duyên cũng đến hồi từ tạ. Tiếp đó là chuỗi ngày trong ngóng khôn nguôi, nhớ mong gia diết “cơm ăn không đặng, nước uống nõ vô”, chỉ mong thấy mặt nhau là được
“Thiếp xa chàng ra đàng ngó vội
Thấy đặng mặt rồi dạ đói cũng no
Không tin để dạ mà dò
Ai bắc cầu cho biết, ai chèo đò cho hay”
Trong yêu đương, thời gian và không gian thật không bình thường. Người ta dành cho nhau cả đêm dài để tình tự nhưng khi chia xa, dứt áo ra về thì thấy như “vừa bén tiếng, quen hơi”. Xa nhau mới có một ngày mà tưởng như “đằng đẵng ba thu”. Trong thời gian chia xa ấy họ như mộng du, nửa mê, nửa tỉnh.
 “Sầu tương tư nên hư nhan sắc
Ốm đau gì mà thuốc bắc thuốc nam
Ước chi thiếp được gặp chàng
Hoa tê dầu héo cũng rỡ ràng lại tươi”
Thường thì người ta khóc khi gặp điều mất mát, cùng cực, uất ức, đau khổ. Nhưng với những kể yêu nhau, nước mắt rơi vì mong nhớ, đợi chờ. Với họ, nước mắt làm vơi bớt nỗi buồn chia xa nặng trĩu trong lòng.
“Vắng mặt em một ngày lòng anh dao cắt
Vắng mặt em hai ngày nước mắt lâm li
Mấy lời chàng dặn thiếp hãy nhớ ghi
Chớ thay lòng đổi dạ, chớ phân ly tội trời”
 Ấy là chưa kể khi gặp phải trái ngang, cách trở, không đến được với nhau. Mà dưới thời phong kiến xưa thì chuyện đó không phải hiếm. Những rang buộc của “môn đăng, hộ đối”, của đạo làm con phải nghe lời cha mẹ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Duyên phận lỡ làng, thì câu hò thật là ai oán.
“Xưa kia tưởng kết đôi phường hội
Thiếp đã đưa tay ra thay gối chàng kê
Nay vì ai mà không trọn đạo phu thê
Liếc mắt nhìn người thương buổi trước, châu lệ cứ dầm dề chẳng khô”
Trong hò khoan, có rất nhiều câu hò than thân trách phận nhưng thực ra là mượn lời để tố cáo những rang buộc vô lý làm chia cắt tình yêu. Phần lớn những câu trách cứ đó dành cho thầy, mẹ. Vì thầy mẹ “ngăn duyên rẽ thúy”, “chỉ vì thầy ngăn, mẹ đón, cho phiền dạ em”. Rồi “dạ em thương thầy mẹ khiến đừng”, “con thương thầy mẹ đón ngăn” rồi thì”tại thầy mẹ dứt đường tơ duyên”. Có lẽ họ không thấy được căn nguyên sâu xa của lễ giáo phong kiến nên chỉ hờn thầy, dỗi mẹ.
“Thầy mẹ ở nhà không bao dung lượng cả
Nên hai đưá mình đôi ngã bắc nam
Đêm năm canh trong dạ bàng hoàng
Hẹn cùng chàng chung thủy, nhưng chớ vội vàng tóc tơ”
Nói là vậy, nhưng đôi khi họ cũng quyết nổi loạn, dẫu biết “công sinh thành, ơn dưỡng dục” nhưng một hai cũng quyết vì tình, dẫu có đau đớn vì đòn roi,
“Ví dầu thầy mẹ có đánh chính chục, một trăm
Đánh rồi em lại dậy, em vẫn nhất tâm theo chàng”
Thậm chí quyết liệt hơn, dẫu có chết
“Thiếp từ thân thiếp cho trọn với chàng một đôi”
Có lẽ không thể nói hết được câu chuyện tình yêu đôi lứa trong hò khoan. Càng đọc, càng nghe, càng đắm say với những ca từ đằm thắm, dịu dàng, thiết tha nồng hậu, đôi khi ai oán của nhứng người dân quê mộc mạc sau lũy tre làng.
 
3.2 Giá trị nghệ thuật của hò khoan.
Như đã nói ở trên, nội dung của hò khoan đã được lồng vào những hình thức nghệ thuật nhiều hình, nhiều vẻ qua các làn điệu, lối hò. Thế nhưng, ngay trong từng làn điệu, lối hò ấy cũng còn nhiều vấn đề về nghệ thuật đáng chú ý nữa.             
- Về mặt cấu ý, do kết cấu mở của giai điệu hò, người ta chỉ chú ý đến những câu vào hò để cho đế, xố và những câu kết của hò. Cho nên, mỗi câu hò có thể dài ngắn tùy ý theo nội dung định nói, định diễn tả. Thường thì một câu hò khoan có kết cấu thể lục bát hoặc song thất lục bát. Song có những câu hò phá lệ được chắp nối nhiều ý xen vào giữa và giữ nhịp điệu tái lại nhiều lần trước khi vào câu kết. Chẳng hạn câu hò sau đây được coi là một trong những câu dài nhất trong kho tàng hò khoan Lệ Thủy.
“Phụ mẫu em đòi chi anh đây đi cũng đủ
Lưng hũ hột xoài lưng oi hột mít;
một bì khoai lang một sàng bánh tổ;
một ổ gà ung một thùng mắm thúi;
một trịu cá rô một ang gạo thóc; một bọc chè tươi!
Em về thưa với song thân phụ mẫu,
Đến tối hai mươi anh sang nhà”
Hay câu:
“Trong trăm thứ dầu hỏi có dầu chi là dầu không thắp
Trong trăm thứ bắp hỏi có bắp chi là bắp không rang
Trong trăm thứ than hỏi có than chi là than không quạt
Trong trăm thứ bạc hỏi có bạc chi là bạc không tiêu.
Trai nam nhi đối đặng, dãi lụa điều em trao.
Cách biến tấu đó được dùng nhiều và rất nhuần nhuyễn trong các làn điệu hò khoan Lệ thủy. Điều này tạo ra lợi thế cho người hò khi đối đáp. Người ta chỉ cần có cái ý và cứ thế lên bổng xuống trầm có tính “câu giờ” để tìm ra câu kết cho đặc sắc.
Cái ý tứ trong hò khoan rất đa dạng. Đôi khi ý tứ sâu xa phải hiểu theo nghĩa bóng. Nhất là trong những câu hò “Bồn ba”, một lối hò ví von lấy chuyện trồng hoa, xây bồn để nói cái ý tục. Như câu:
“Chân bước đến vườn đào tay xang qua bông thọ
Dặn coi rồi để đó cho em
Đừng nên vin hoa hái lá, mang tiếng pha dèm khổ thân.”
Đôi khi câu hò như một đoạn văn tả thực nhưng lại lựa chọn từ ngữ để lấy nhạc điệu trong từ ngữ tiếng Việt để tăng thêm hiệu ứng cho ý.
“Tay cầm một nạm hương cây tắt cây đỏ
Tay cầm một nạm cỏ cây héo, cây khô
Tay ôm nấm tay lại thoa mồ
Sanh như hà tử như thị biết đời mô chộ chồng”
 
Về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, hò khoan Lệ Thủy rất độc đáo. Bỡi tính ước lệ về giai điệu, lớp mái nên người hò có thể tự do sáng tạo trong lựa chọn ngôn ngữ. Chúng ta bắt gặp trong hò khoan nghệ thuật ẩn dụ, hoán dụ, nói lái, nhân hóa hay cách sử dụng nhuần nhị nhiều thành ngữ, tục ngữ, từ địa phương, từ đồng âm dị nghĩa. Sự kết hợp bỡi lời thơ với tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy đạt đến đỉnh cao.
“Hỏi anh chi sắc hơn dao
Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời”
Hay dùng cái cách nói lái
“Bánh đầy mâm răng gọi là bánh ít
Lửa không miệng răng lại nói lữa cười”
Lời đối đáp sản sinh ra từ cuộc sống lao động và nghệ thuật tập thể, từ nhu cầu trao đổi tình cảm trong những khung cảnh nhất định nên nó rất mộc mạc. Tuy vậy, cấu ý của nó lại rất gần với ca dao, tục nghữ nên nó mang hơi thở của hồn thơ dân gian. Là nhịp cầu nối ca dao, dân ca với thơ trữ tình.
Cũng có những lối hò đố để đấu trí, đối đáp đòi hỏi bạn hò phải có vốn sống, vốn ngôn ngữ phong phú mới đối kịp, nhất là những lúc nhịp điệu tiết tấu nhanh trong những câu sáu tám mà người ta dùng những từ đồng âm, dị nghĩa, đồng nghĩa, dị âm .
 “Con bò vàng ăn hòn núi bạc,
Con chằng hương núp bóng cây đèn”
“ Con mèo nằm đám lúa miêu,
Hùm nằm đất hổ, tượng trèo cồn voi”
 
Hay người ta dùng lối nói lái của Lệ Thủy:
“Con mỏ kiến đậu trên miếng cỏ,
Con vàng lông đậu giữa vồng lang”
“Con cá đối nằm trên cối đá,
Mèo cụt đuôi nằm mút đuôi kèo”
 
Thể thơ phổ biến được sử dụng trong hò khoan là lục bát và song thất lục bát. Trong thể lục bát có cả lục bát chỉnh thể là lục bát biến thể. Cách gieo vần thì vẫn chu chỉnh nhưng khi hò người ta thêm vào những từ đệm, liên từ rằng, mà, thì, là hay những đại từ nhân xưng chàng, thiếp, anh, em… để chỉnh nhịp. Trong thể song thất lục bát cũng vậy, lối dùng từ đệm khá phổ biến. Cùng với đó là cách lặp lại vế hò ở câu tám cuối cùng như là một nhấn mạnh. Sự uyển chuyển về nhịp điệu của vần lưng, vần chân, vần bằng, vần trắc làm cho câu hò nương tựa, quấn quýt vào nhau. Nó vừa giữ nhịp cho hò đối đáp, mà phổ biến là trong mái xắp, để diễn tả tình cảm.
 
3.3 Giá trị âm nhạc trong hò khoan.
Đối với dân ca, âm nhạc giữ vai trò rất quan trọng. Nghiên cứu vấn đề âm nhạc trong nghệ thuật của dân ca bao gồm ba mặt: Tình tư tưởng của giai điệu; nguyên tắc cấu tạo của giai điệu; nét nhạc chủ đạo, gam và hòa âm. Do khía cạnh nghiên cứu xem xét tôi không đi sâu vào những vấn đề học thuật của âm nhạc, mà chỉ xem xét khía cạnh giá trị tư tưởng âm nhạc trong hò khoan mà thôi.
Thông qua những lối hò thu âm được chúng ta thấy, thang âm phổ biến trong hò khoan có hai điểm nổi bật. Thứ nhất, sử dụng 5 thang âm của dân ca Việt Nam nói chung. Thứ hai, có tính khu biệt một chút là việc sử dụng thang 3 âm (Mi- La- Si). Việc sử dụng thang 3 âm này  có căn nguyên từ lối hò của hò khoan Lệ Thủy. Giai điệu hò khoan Lệ Thủy chủ yếu là lối nói, lối kể lể, có tính ứng khẩu cho nên nó không quy định tiết nhịp chặt chẽ. Nó chú trọng nhiều vào các vế xố. Vế xố bao gờ cũng chắc khỏe, thúc đẩy, có tính khích lệ hò cái hơn là trau chuốt, làm đẹp cho lời hò.
Giai điệu của hò khoan Lệ Thủy cũng muôn vẻ. Điều này có được là do mấy đặc điểm riêng có của hò khoan Lệ Thủy.
Trước hết, phải khách quan mà nói hò khoan Lệ Thủy cũng như hò khoan ở những vùng khác, nó chưa có giai điệu cố định, công thức, mực thước như Quan họ, Chèo , Lý, Vọng  cổ…cùng một làn điệu hò mái ruỗi nhưng người ta có thể bẻ từ câu sáu tám sang câu bẩy bẩy sáu tám, hay những câu quá khổ, kể lể như đã nói ở phần ngôn ngữ. Có chăng, nó chỉ qui ước về hò cái (người lĩnh xướng), hò con (người đế xố) và cách xố trong từng mái hò
Thứ hai, âm nhạc trong hò khoan là không có nốt kết. Nốt kết của hò cái mở ra nốt đầu cho hò con và nốt kết của hò con mở đầu cho nốt hò cái. Cứ như thế luân chuyển không dứt. Cuộc hò chỉ dứt khi người ta thấy mãn nguyện. Vậy nên, mới có chuyện hò giã gạo có lúc thâu đêm
Thứ ba, giai điệu hò khoan lệ thuộc vào môi trường diễn xướng. Như đã nói, hò khoan Lệ Thủy gắn với lao động, sinh hoạt của nhân dân nên nhịp độ lao động, sinh hoạt cũng tạo ra ước lệ về giai điệu hò. Khi hò chèo thuyền trên sông nước, nếu ở chỗ lặng, thuyền nhẹ, chèo khoan thai, người ta hò mái ruỗi, mái chè, mái ba. Nhưng khi chèo thuyền qua quãng nước siết, gió ngược thuyền nặng người ta dùng mái nện. Khi giã gạo chày đôi, tiết tấu chậm, nhưng giã chày tư thì nhanh hơn. Hoặc khi nện đất, đâm vôi thì không thể dùng mái ruỗi, mái ba được. Bởi vậy, giai điệu hò khoan Lệ Thủy có sự biến tấu nhất định.
Phân biệt sự khác nhau về giai điệu trong hò khoan Lệ Thủy là ở các lớp mái. Hò mái ruỗi, mái chè, mái ba giai điệu khoan thai, ngân nga, bay bổng. Nó vang vọng nơi quãng vắng sông nước, dập dờn theo cánh cò, mất hút sau lũy tre xanh, sau bưng điền lau sậy. Người hò cái thì kể lể, thanh minh, trách cứ, nhắn nhủ một cách nhẹ nhàng. Chẳng hạn:
“Đêm năm canh đĩa dầu vơi cạn
Trúc gầy mòn nhớ dạng canh mai
Khuyên em thương ai thì phải nhớ ai
Chớ thấy non cao mà sấp mặt
Chớ thấy sông rộng hói dài và xây lưng”
 
 Dứt câu hò lần một, lần hai của hò cái là hò con xố:
Y bơ hò khoan
 
Cứ mỗi lần xố là người ta quẫy chèo hoặc nhổ sào.
Ở mái ba thì cách đế xố có khác.
“Dù ai xuyên tạc lá lay, ta vẫn chung thủy”
Hò con xố: hò là hô là khoan
Chung thủy, chớ đổi thay mà tội trời .
Hò con xố: hò là hô hò khoan
Trong mái xắp, thường hò lúc cấy lúa, giã gạo hoặc mở cuộc hò thì có lớp lang hẳn hoi, từ mời chào, làm quen, đối đáp, tỏ tình đến chia tay giã từ. Mái xắp có tiết tấu nhanh, rộn ràng, vui tươi hơn. Giai điệu của nó trong sáng, hò cái dừng để hò con xố ở những câu tròn ý, ở những âm ổn định. Vậy nên chủ đề có thể là trách móc, hờn giận nhưng điệu hò vẫn lành mạnh hồn hậu.
Vào đầu bao giờ cũng có lời hò mời, hay còn gọi là mở hò:
Khoan ơi khoan xin mời các bạn xố lên.
Và khi cái hò:
“Bước đến nới đây xin chào chung chào chạ
Có người khách lạ nên phải chào riêng”
Hò con xố: Hơ khoan ơi là hố, khoan ơi hò khoan.
Bắt tay xin lại hỏi liền
Hỏi thăm bên bạn
Hò con xô: ơi là hố
Đã kết nguyện mô chưa
Hò con xô: ơi là hố
Cứ thế giai điệu lặp đi lặp lại. Có khi là câu sáu, tám, có khi cả một chuyện hò dài đến bảy mươi, tám mươi chữ.
Đặc sắc nhất của hò mái xắp là lề lối, hình thức diễn xướng. Với một cuộc hò luôn có kết cấu chặt chẽ, diễn ra theo một trình tự hò mời, hò chào, hò vào cuộc, hò tạ từ. Khi vào cuộc nguời ta gọi là giữa hò, trung tâm của cuộc hò. Và thường diễn ra các lối hò như: Hò đố, đâm bắt, dao duyên, bồn ba. Phần hò này bao giờ cũng sôi nổi, hào hứng, nó cuốn hút cả người hò lẫn người nghe. Với những lối hò đó, người hò cái phải đối đáp nhanh nên ngoài việc phải nhớ nhiều câu hò nhiều khi người ta phải ứng tác, ứng khẩu tại chỗ. Đặc biệt khi hò đố, hò đâm bắt, bồn ba trai gái đôi bên ra sức đem kiến thức, tài nghệ khéo léo của mình để dùng ngôn ngữ đa nghĩa, nói lái, dùng thành ngữ, tục ngữ, tích truyện để thử sức nhau. Giá trị âm nhạc lúc này đóng vai trò thứ yếu, nó chỉ cầm chừng tiết tấu, nhấn mạnh chỗ ngắt câu để hò con đế xố. Điều này đòi hỏi người hò cái phải có những năng khiếu nhất định. Vậy nên, nó tạo ra những nghệ nhân hò.
Tóm lại, hò khoan Lệ Thủy là một bức tranh sinh động về đời sống tinh thần của ngườì dân nơi đây. Những ai đã đến Lệ Thủy mà chưa thưởng thức hò khoan thì chỉ mới thấy được cái bề ngoài của đất này mà thôi. Còn giả như, nếu chưa đến Lệ Thủy mà đã được nghe hò khoan Lệ Thủy thì coi như đã cảm nhận được cái thần thái của đất này rồi.
Là một con dân Lệ Thuỷ, với mong muốn bảo tồn và giới thiệu nét đẹp dân ca quê nhà nên tôi mạnh dạn sưu tầm, tuyển chọn qua các nguồn tài liệu, các nghệ nhân, viết cuốn sách này để giới thiệu với bạn đọc. Nhân đây, tác giả xin cám ơn các tổ chức, cá nhân đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành cuốn sách này. Tuy đã cố gắng chắt lọc từ những sản phẩm của những người đi trước và sưu tầm, bổ sung thêm. Song, do kiến thức có hạn, chắc chắn sẽ còn nhiều sai sót, mong bạn đọc chia sẻ, góp ý.
Lệ Thủy, 19/7/2011
Đặng Ngọc Tuân
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, phối hợp cùng gia đình nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, vừa tổ ...