Mỹ học và văn chương 2
Mâu thuẫn, lưỡng phân là những đặc tính trong tư tưởng
Nietzsche, cho nên mặc dầu Nietzsche xác định nghệ thuật là quyền năng cao nhất
của cái giả, thế giới như thể sai lầm, dối trá được thánh hóa, song Deleuze nhận
ra ở Nietzsche, chân lý có lẽ mang một ý nghĩa mới, là ảo diện, chân lý hiểu
theo nghĩa là đưa quyền lực đến chỗ kỳ thành, đế chỗ tối thượng; những
con người nghệ thuật chúng ta = những con người đi tìm tri thức hay chân lý =
những con người tìm ra những khả năng mới của đời sống [90].
Ảo diện/Schein như Nietzsche xác định, là thực tại duy nhất
và thực của sự vật. Đó là lý do người ta có thể hiểu Nietzsche đã đánh dấu một
thời khoảng mới, tiêu biểu cho những cách mạng cách tân trong nghệ thuật và văn
chương, mặc dầu ông không cầm ngọn cờ đầu của những trào lưu tiền phong, song
thế giới nghệ thuật hiện đại (dada, siêu thực, lập thể, vô hình dung v.v…) há
chẳng phải là thế giới của ảo diện, phi luận lý, hỗn độn, phi hình
và không thuộc thế giới bằng phẳng của Euclide sao?
2. Quan hệ mỹ học với văn chương
Đặt để vấn đề quan hệ giữa mỹ học với văn chương, như đã đề cập
ngay từ đầu chương II này, là hai khoa học phân biệt, song có điểm chung là cảm
tính, khả giác, là thế giới của ảo diện. Trong phân tích tư tưởng mỹ học của
Nietzsche, có đối lập giữa thế giới-chân lý với thế giới-ảo diện, song điều đó
không có nghĩa là thế giới của mỹ học không có chân lý, cũng như khi khu biệt
thế giới giả tưởng với thế giới thực, không có nghĩa là thế giới giả tưởng
không có thực.
Thường những tác phẩm luận về mỹ học phân tích chung trong hệ
thống, lãnh vực thuộc về văn chương với những phạm vi khác thuộc tượng hình, hoặc
thuộc âm thanh. Tuy nhiên,văn chương thuộc về ngôn ngữ, quan hệ giữa lý luận
ngôn ngữ về mặt vật lý đối với tác phẩm văn chương không có những đặc tính
chung với lý luận vật lý (cụ thể) đối với tác phẩm tạo hình hay tạo âm. Mỹ học
văn chương có những điểm chung và riêng khác với mỹ học của những lãnh vực tạo
hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc v.v…) hay tạo âm (âm nhạc, tính phát âm với
phủ định của nó là im lặng). Tác phẩm nghệ thuật là thực tại của nghệ thuật,
không phải tự nhiên có như những hoạt động khác của con người, mà nghệ thuật phải
sáng tạo ra thành một sự kiện nghệ thuật (như di chỉ, di vật trong
khảo cổ học, nên có từ ngữ artifact, âm thanh tự nhiên như tiếng xào xạc của
cây lá, bức tranh vân cẩu như hiện tượng trong không trung không thuộc về nghệ
thuật). Những điểm chung trong mọi nghệ thuật là nhà nghệ thuật phải đi khai
phá và khám phá; dấu hiệu, cấu trúc và kiểu mẫu là những đặc tính của tác phẩm
nghệ thuật; kiệt tác/chef-d’œuvre là một đặc sắc chung cho mọi loại nghệ thuật.
Song khu biệt là nhân tố tất yếu phân cách giữa mọi loại nghệ thuật; chẳng hạn
nhà họa sĩ hiện đại Francis Bacon cực lực phủ nhận sự tương đẳng giữa tác phẩm
của ông với tác phẩm văn chương của Samuel Beckett [91]. Deleuze trong phân
tích luận lý của cảm giác nơi Bacon xác định: hội họa không có kiểu mẫu để biểu
hiện, không có lịch sử để kể [92].
Dấu hiệu trong nghệ thuật chỉ ra nghệ thuật là một biến đổi
thực tại, không phải chỉ phản ánh thực tại, vì trong ý hướng nội tại, nó phá hủy
và tái thiết những quy ước sử dụng dấu hiệu và ý nghĩa, một ý nghĩa không theo
lẽ thường trong hành vi thông giao. Trong thế kỷ XX vừa qua, nghệ thuật tiền
phong, phá thể đã khiến mọi hệ thống ký hiệu học, mọi luật lệ ký hiệu học thất
bại; chỉ cần lấy ví dụ từ hội họa và điêu khắc minh chứng ý nghĩa hoàn toàn
khác với những gì thấy trong đời sống hàng ngày. Quá trình này diễn ra sự tham
nhập và hội ước giữa dấu hiệu và ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật, đồng thời chứng
tỏ thực tại tiêu thụ những sản phẩm nghệ thuật phía đối tác (người đọc, người
xem, người nghe v.v…).
Jan Mukařovský (thuộc trường phái Pra-ha [93]) nhận xét mối
quan hệ giữa thực tại và dấu hiệu mỹ học khá tự do vì ở đây dấu hiệu không hàm
ngụ hiện hữu của ngữ thái; cấu trúc mỹ học không cần phải mô phỏng cấu trúc của
thực tại; đối với chức năng mỹ học, thực tại không là một đối tượng trực tiếp,
một đối tượng như vậy là dấu hiệu mỹ học, xác định vị thế của chủ thể đối với
thực tại.
Thế giới của nghệ thuật phát triển không ngừng, từ thiết kế
trong công nghiệp, nhiếp ảnh nghệ thuật, hý kịch điện ảnh, truyền hình, truyền
thanh v.v…là những điển hình cho nghệ thuật mới. Thế giới dấu hiệu không chỉ giới
hạn trong thế giới nghệ thuật vì bao hàm những hệ thống khác nhau trong sinh hoạt
nhân giới. Mieczysŀaw Wallis, nhà mỹ học Ba lan nhận xét dấu hiệu là thông giao
giữa tác nhân truyền đi và tác nhận thu nhận đối tượng, trên cơ sở giống
nhau, gọi là dấu hiệu hình tượng, để phân biệt với quy ước, thì gọi là dấu hiệu
quy ước; chẳng hạn hình vẽ một con ngựa là dấu hiệu hình tượng, từ ngữ “ngựa”của
một ngôn ngữ (như tiếng Việt, tiếng Ba lan) là dấu hiệu quy ước, và có
nhiều hình thái trung gian khác nhau giữa hai loại dấu hiệu này [94].Wallis cũng
phân biệt dấu hiệu/sign với ký hiệu/biểu trưng/symbol tuy cùng thuộc loại tượng
hình, song một đối tượng tri giác được về mặt khả xúc, do con người tạo
ra hay không phải người làm thì gợi lên ý tưởng về một vật khác với chính nó
[95] cho nên nó không xây dựng trên ước lệ hay phong tục như một dấu hiệu quy ước.
cũng không xây dựng trên sự giống nhau như một dấu hiệu hình tượng, mà xây dựng
trên một loại suy tương tự [96] thường mơ hồ và khó nắm bắt, chẳng hạn sư tử là
tượng trưng của quyền lực, can đảm, kiêu ngạo hay ngọn lửa tượng trưng cho cách
mạng. Ông cũng chỉ ra thế giới nghệ thuật quan hệ với thế giới dấu hiệu theo ba
đường lối: 1/ những công trình nghệ thuật là dấu hiệu hay phức hợp những dấu hiệu,
2/ một số công trình nghệ thuật có thể ghi lại qua phương tiện dấu hiệu, 3/ một
số công trình nghệ thuật có thể dùng những phương tiện dấu hiệu để tái sản xuất.
Những công trình của một số nghệ thuật có thể là dấu hiệu hay
phức hợp của dấu hiệu trong khi một số công trình khác không là dấu hiệu, cho
nên Wallis tự hỏi có thể chia những nghệ thuật thành những nghệ thuật ngữ nghĩa
và phi ngữ nghĩa? Ông viện dẫn Hippolite Taine trong tác phẩm Triết học
nghệ thuật [97] đã xem hội họa, điêu khắc và thơ thuộc nghệ thuật mô phỏng
đối lập với kiến trúc và âm nhạc thuộc nghệ thuật phi mô phỏng, và Sydney
Colvin trong mục Mỹ nghệ/Fine Arts của Từ điển Bách khoa Anh/Encyclopedia
Britanica (1910) ấn bản thứ 11 cũng đề nghị một trong những cách phân loại
là chia nghệ thuật thành nghệ thuật mô phỏng và phi mô phỏng, còn Theodore
Lipps (1907) phân chia nghệ thuật ra hai loại nghệ thuật cụ thể và nghệ thuật
trừu tượng, Max Dessoir (1923) phân chia nghệ thuật mô phỏng, liên tưởng nhất định,
hình thái thực đối lập với nghệ thuật tự do liên tưởng bất định và có hình thái
phi thực, Johannes Volkelt (1925) phân biệt nghệ thuật có sự vật/dingliche
Künste với nghệ thuật không có sự vật/undingliche Künste. Nghệ thuật ở những thế
kỷ XIX và XX, theo Wallis, có thể tóm lại thành hai nhóm: nhóm nghệ thuật có ngữ
nghĩa như hội họa, điêu khắc, thơ, kịch và nhóm nghệ thuật phi ngữ nghĩa không
có ngữ nghĩa như kiến trúc và âm nhạc, đôi khi bao gồm cả nghệ thuật trang trí
và khiêu vũ. Tuy nhiên, sau khi liệt kê những lối phân loại trên, Wallis phê
phán là không đứng vững vì nhiều lý do, trước hết là nghệ thuật mà Wallis đã đặt
vấn đề ở trên có những công trình mang ngữ nghĩa và những công trình không có
ngữ nghĩa, chẳng hạn khiêu vũ thường đặt trong môn nghệ thuật phi ngữ nghĩa, vẻ
đẹp của những môn vũ này dựa vào những biến đổi của vận động và điệu bộ có tiết
độ trong những tư thế lượn uốn éo chuyển động của thân thể vũ công, mà nhà thơ
Paul Valéry gọi là “động tác thuần túy của những hóa thân” [98]. Tuy nhiên cùng
với những vũ điệu như vậy, cũng có nhiều điệu vũ mang tính tượng hình biểu hiện
trong hình thái của những cử chỉ và bắt chước, ngay cả trong tư thế mờ ảo, tượng
trưng, những triệu chứng của đời sống tâm linh như vậy mang tính tượng hình. Những
vũ điệu mô phỏng cử động của một số loài vật, như gấu, cáo, công, những động
tác cày cấy trồng trọt, những vũ điệu gợi tình dục cũng được xếp vào tượng
hình. Curt Sachs, nhà viết sử về vũ điệu đã chia mọi điệu vũ theo hai thể
vũ điệu tượng hình và phi tượng hình (bildhafte und bildlose Tänze). Ngay trong
nghệ thuật trang trí, Wallis nhận xét, không đơn giản là phi ngữ nghĩa, chẳng hạn
nhiều bình cổ, đồ gốm Hy lạp có những cảnh trí lấy từ thần thoại và cả đời sống
hàng ngày, những bức thảm của Raphael cũng thuộc loại tượng hình. Kiến trúc từ
cái nhìn truyền thống tưởng là nghệ thuật phi ngữ nghĩa, song những khảo
cứu hiện đại chỉ ra nhiều công trình kiến trúc (nhà cửa, mồ mả, đền đài thời Cơ
đốc nguyên thủy, Gô-tích, Phục hưng, La mã, Ấn, Hoa, Inca v.v..) không chỉ có mục
đích thực lợi, mà còn mang những dấu hiệu tượng hình, ngữ nghĩa, tượng trưng.
Sáng tác âm nhạc cũng không thể chỉ quan niệm là phi ngữ nghĩa, như Wallis phân
chia ít ra năm loại: những công trình phi ngữ nghĩa, thuần túy trình diễn bằng
nhạc khí, như một vài bản giao hưởng của Haydn hay Mozart; những công trình có
xu hướng tượng trưng như những bản giao hưởng của Beethoven; âm nhạc có tiêu đề
(program music) chỉ có một ý nghĩa nhất định liên quan tới bài bản văn chương
như trong những bài thơ giao hưởng của Berlioz hay Richard Strauss; những hình
thức vừa dùng lời vừa nhạc khí như dao khúc, ca kịch, nhạc cung đình, thánh ca
v.v.. trong đó nhạc sáng tác kết đôi với bản văn chương là một cấu trúc ngữ
nghĩa, một phức hợp những dấu hiệu quy ưóc thời cung đình Baroque, Cantus
Firmus thời giáo hoàng Grégoire tấu nhạc trung cổ, những công trình nhạc Ấn,
Hoa, Nhật, Nam dương cổ (loại nhạc chỉ có thể hiểu trong khung cảnh xã hội dân
tộc, quen với những yếu tố quy ước và tượng trưng); những công trình âm nhạc
tiêu đề cộng hưởng giữa tượng hình, mô phỏng thường bắt chước âm thanh thực như
tiếng chim hót, tiếng róc rách của suối, tạp âm của chợ búa v.v…
Lối phân loại cổ điển nghệ thuật ngữ nghĩa và phi ngữ nghĩa
không thể bảo thủ được nữa, kể từ khi những trào lưu nghệ thuật tiền phong phát
triển nhằm hủy tạo những nhân tố biểu hiện, như trường phái hậu Ấn tượng, Dã
thú, Lập thể, đề cao phi khách quan, trừu tượng, với những công trình của
Kandinsky, Delaunay, Kupka, Mondrian, Arp, Gabo, Pevsner trong hội họa, điêu khắc.
Kandinsky khẳng định giữa trừu tượng thuần túy (nghĩa là một
trừu tượng còn vượt xa hơn trừu tượng của những hình thái kỷ hà học) và hiện thực
thuần túy (nghĩa là một huyễn hoặc hư ảo tạo ra trong vật thể rắn chắc nhất) tự
do vô giới hạn, chiều sâu, chiều rộng, những khả hữu vô tận, và ở bên kia, lãnh
vực của trừu tưọng thuần túy và chủ nghĩa hiện thực thuần túy, - ngày nay, tất
cả tùy thuộc vào tay nhà nghệ thuật [99].
André Malraux phân biệt cái nhìn của người thường với nghệ
nhân ở chỗ nhìn muốn nói về chúng ta, tri tưởng dưới hình thái tác phẩm nghệ
thuật cho nên “nếu, giữa cái nhìn của nghệ nhân và cái nhìn của người
không phải là nghệ nhân, sự khác biệt không phải về cưởng độ nhưng về bản tính,
chính vì cái nhìn của người không phải nghệ nhân do những tác động quyết định,
trong khi với nhà họa sĩ khốn cùng nhất, thế giới vẫn là những bức tranh…Cũng
như một nhạc sĩ yêu thích âm nhạc mà không phải những chim họa mi, một thi sĩ
yêu thích những vần thơ chứ không phải những cảnh mặt trời lặn, một họa sĩ trước
hết không phải là một con người yêu thích nhan sắc và cảnh sắc; trước tiên đó
là một con người yêu những bức tranh” [100]. Theo Malraux, bức tranh không ở thế
giới, nhưng viện bảo tàng; lịch sử nghệ thuật đóng vai trò không gian mà những
tác phẩm nghệ thuật thoát ra khỏi, chính viện bảo tàng kéo chúng ra khỏi thời
gian lịch sử. Ông gọi toàn bộ sản xuất những công trình nghệ thuật thuộc về thị
giác là “một viện bảo tàng tưởng tượng/un musée imaginaire”. Với những khoa nghệ
thuật thời hiện đại như ghi âm sáng tác nhạc, điện ảnh, truyền hình, Wallis mượn
từ ngữ của Malraux để gọi toàn bộ những băng, đĩa nhựa ghi âm nhạc này là “một
thính phòng hòa nhạc tưởng tượng” và toàn bộ phim biểu hiện trình diễn kịch, vũ
là “một sân khấu tưởng tượng”. Những viện bảo tàng tưởng tượng, thính phòng hòa
nhạc tưởng tượng, sân khấu tưởng tượng mở rộng chân trời và kích động tri tưởng
con người, dầu là khán giả, thính giả hay nghệ nhân mọi lãnh vực.
Quan hệ mỹ học trong thời khoa học kỹ thuật cao cấp hiện đại
(mối quan tâm đặc biệt của những nhà tư tưởng như Benjamin, Heidegger) của những
tác phẩm nghệ thuật đề ra những bộ diện khác nhau, như thưởng ngoạn, chuyên tâm
hay chức năng mỹ học khả dĩ có thể khai phá, đào sâu những nguyên lý căn bản của
nghệ thuật nói chung, và liên lạc sáng tạo văn chương với mỹ nghệ nói riêng.
Không phải chỉ có ngôn ngữ của triết học lục địa, nhưng triết học phân tích
cũng đưa ra những khái niệm mới trong thời quá độ này.
Trong Cơ sở tư tưởng thời quá độ, tôi đã nói đến đối nghịch
giữa triết học lục địa châu Âu (CP) với triết học phân tích Anh-Mỹ (AP) từng là
hai ngả tư duy khác biệt. Những phê phán, tranh biện, thông giao như đánh dấu
thời hậu phân tích để có thể đạt tới một ngôn ngữ chung, hiểu theo nghĩa có thể
nói chuyện được với nhau.
Một mỹ học phân tích có khác biệt ra sao đối với những lý luận
mỹ học đi trước hoặc những đối thủ của nó, về mặt vận động, phương pháp và thể
tài. Thường nói đến triết học phân tích, người ta nghĩ ngay đến việc sử dụng
toán thuật/algorithm nhằm xác định ý nghĩa và tham chiếu mọi biểu trưng trong
phạm vi hoạt động; nói đến biểu trưng là nói đến nhận thức của cả biểu trưng
không thuộc về chữ và lời, việc sử dụng, ngữ cảnh lẫn lịch sử của nó. Đặc trưng
của mỹ học phân tích, theo một đại biểu của nó, Richard Shusterman, là hậu quả
của tiếp cận phân tích ở thế kỷ XX qua những tư trào triết học Moore,
Russell, Wittgenstein, thuyết nguyên tử luận lý, thực chứng luận lý và phân
tích ngôn ngữ thông tục; phân tích là chủ yếu, hơn là xây dựng những hệ thống
triết học như triết học lục địa (CP). Tuy nhiên, không phải mọi nhà tư tưởng
phân tích đồng ý với nhau về những khái niệm, ý nghĩa, đề án được phân tích,
còn có vấn đề, như một nghịch lý của phân tích là làm sao bất kỳ phân tích nào
đã được định thức có thể chính xác một cách hoàn hảo và có thể thông tin được với
cái được đem ra phân tích [101].
J.- Claude Piguet luận về mỹ học [102] nhận xét dầu mỹ học hiện
đại có những xu hướng khác biệt song có thể đồng thuận với nhau về ba giai đoạn
(hay tầng, lớp) của tác phẩm nghệ thuật. Xu hướng nhị nguyên thường lập thành
trong tư tưởng, như bản thể và tùy thể, bản chất và thuộc tính, kinh nghiệm và
giả thuyết, hữu thể và ảo diện, chất thể và hình thái v.v… song khi xét đến những
thực tại không thuộc vật chất, song thuộc tinh thần, nhị nguyên dầu tiện
lợi và tự nhiên đối với tư tưởng dường như trở nên phức tạp, cho nên phân định
ra ba. Ý niệm phân ba có thể ứng dụng vào việc nghiên cứu tác phẩm nghệ
thuật, cho nên Piguet đã xét đến tác phẩm nghệ thuật như thể biểu thị/significant
(nhằm chỉ định một dấu hiệu đã chọn trong ngôn ngữ để gợi lên những đối tượng
khác với nó), như thể được biểu thị/signifié (đi từ biểu thị đến được biểu thị,
theo Piguet như đi từ vật chất đến tinh thần); cái được biểu thị trong tác phẩm
nghệ thuật để đáp ứng một tình cảm rất rõ, trong tri giác có nhiều hơn là cái
người ta nghe hay thấy; cái “nhiều hơn” được tác phẩm nghệ thuật biểu thị phải
được tri giác trong tác phẩm, chứ không phải được tư duy một cách trừu tượng
ngoài tác phẩm [103], như thể thống nhất và duy nhất (hai giai đoạn nói trên
không thể hiện hữu độc lập với nhau và xây dựng trên giai đoạn thứ ba, nghĩa là
ý nghĩa của một tác phẩm nghệ thuật là do sự thống nhất của cái biểu thị và cái
được biểu thị bởi nó); Piguet phân tích sự thống nhất như vậy thuộc lãnh vực
tri giác, trực giác chứ không thuộc luận lý hay tâm lý, như con mắt giữ bức
tranh ở trong khuôn khổ của nó, tai nghe chú ý đến một âm nhạc nổi lên trên một
yên lặng nguyên ủy, hiện diện trước khi nhạc bắt đầu và sau khi nó chấm dứt. Biểu
thị và được biểu thị của Piguet tương tự như analysans và analysandum trong
mỹ học phân tích đề cập ở trên.
Gérard Genette, nhà lý luận thuộc thế hệ tiếp thu giao lưu
hai nền triết học lục địa và phân tích, đã nói đến quan hệ mỹ học khi luận về
tác phẩm nghệ thuật [104]. Quan hệ mỹ học theo ông là nói đến chức năng mỹ học
có ý hướng, đặc thù của những tác phẩm nghệ thuật, hay có thể gọi là chức năng
nghệ thuật. Nói một cách chủ quan, cái liên hệ tới một đối tượng dưới mắt người
tiếp nhận về tình trạng của tác phẩm nghệ thuật, là tình cảm với đối tượng
trong một ý hướng mỹ học. Tuy nhiên với quan hệ mỹ học nói chung, phải kể đến
chú tâm/attention và lường giá/appreciation mỹ học là hai bộ diện có tương liên
nhưng khu biệt với chức năng mỹ học. Chú tâm mỹ học theo Genette là phán đoán
nhã thức thú vị (Geschmacksurteil) trong định nghĩa của Kant, vì phán đoán này
mang tính mỹ học, nghĩa là lường giá thuần túy chủ quan. Khái niệm Beschaffenheit của
Kant, tương tự như Genette gọi là bộ diện/aspect trong khái niệm attention
aspectuelle không quan tâm đến hiện hữu của đối tượng hay quan hệ đến quan
năng dục vọng, như Kant nói đến phán đoán nhã thức thú vị là một phán đoán
không quan tâm đến hiện hữu của đối tượng mà chỉ đặt mối quan hệ thành
hình/Beschaffenheit của đối tượng với tình cảm của khoái lạc và bất khoái.
Trong phán đoán mỹ học của Kant, tưởng như trùng phức, song thật ra theo
Genette phân tích, phán đoán mỹ học là phán đoán nhã thức, và phán đoán này
không là một phán đoán tri thức, nghĩa là thuộc mỹ học, không phải luận lý học,
mà nguyên lý xác định không thể nào khác hơn là mang tính chủ quan. Lường giá mỹ
học thoạt xem có vẻ mâu thuẫn vì vừa mang tính chủ quan vừa là đối tượng của
nghiên cứu, song thực sự nội dung của lường giá (vẻ đẹp, xấu của đối tượng được
lường giá) không có hiện hữu khách quan. Khi chúng ta để tâm đến đối tượng mỹ học,
là động đến việc cho những phẩm tính mỹ học, không phải chính những phẩm tính
này, mà là phán đoán, trong phân tích cũng như nội dung của nó. Nói như Hume: Vẻ
đẹp ở trong mắt người xem [105].
Quan hệ mỹ học mà Genette đề cập khởi từ một phân tích của
Kant về “đẹp tự nhiên” trong Phê bình quyền năng phán đoán: mối quan
tâm ở đây về vẻ đẹp yêu cầu một cách tuyệt đối là một vẻ đẹp của tự nhiên và
hoàn toàn mất đi khi người ta để ý thấy đã bị lừa, và chỉ thuộc về nghệ thuật
(nur Kunst); ở chỗ nhã thức không còn thấy gì là đẹp và nhãn quan không có gì hấp
dẫn nữa” [106], trong khi Aristote lại coi mô phỏng được nhận diện như một đặc
thị của cảm tính con người và là nền tảng hay kiểu mẫu cho mọi kinh nghiệm mỹ học.
Genette cũng dẫn quan niệm của nhà triết học phân tích, Arthur Danto là “khoái
lạc của một mô phỏng đem lại cho chúng ta, như người ta thấy, tùy thuộc vào sự
kiện là biết đó là một mô phỏng, chứ không phải từ sự vật thực. Tiếng quạ kêu của
một người bắt chước tiếng quạ đem lại cho chúng ta một thích thú mà chúng ta
không nghiệm thấy khi nghe những tiếng chim quạ kêu thực, dầu là tiếng quạ kêu
thực này để đáp ứng tiếng kêu của đồng chủng”.
Phân tích của Kant trong quyển Phê bình ba này dẫn
đến việc thẩm tra trên một đối tượng mới: tính đặc thù của quan hệ mỹ học đối với
tác phẩm nghệ thuật; nó chỉ ra trên cùng một đối tượng có hai giá trị mỹ học
khác nhau, nghĩa là giá trị và không có giá trị. Mối quan tâm của nhiều nhà mỹ
học nói chung, và nhà mỹ học thuộc xu hướng (triết học) phân tích là quan hệ đó
nhằm xét đến quan hệ giữa đối tượng tự nhiên với sự vật nhân tạo/artefact (do
con người tạo ra). Điểm đặc sắc trong công trình nghiên cứu Tác phẩm nghệ
thuật [107] của Gérard Genette là tham chiếu và tranh biện với cả hai nguồn
tư tưởng lục địa (CP) và phân tích (AP), ngay từ định nghĩa về tác phẩm nghệ
thuật, ông đã dẫn J.O. Urmson [108] nhằm xác định một tác phẩm nghệ thuật là một
đối tượng mỹ học có ý hướng, cũng như là một sự vật giả tạo (hay sản phẩm của
con người) với một chức năng mỹ học. Đối tượng mỹ học là đối tượng ở vị
thế sản sinh ra một hiệu quả mỹ học, trong khi chức năng là hiệu quả có ý
hướng, cho nên cả hai mệnh đề dẫn trên tương đương với nhau.
Tuy nhiên, Genette nhận xét Kant còn đưa ra một định nghĩa thứ
ba, ngoài giả thuyết tiếng chim hót thật và phản đề là người giả tiếng chim (mặt
đối mặt giữa tự nhiên và nghệ thuật), về những đối tượng trung gian, sản phẩm của
con người làm ra không nhằm nghệ thuật: “Đẹp là hình thái có mục đích tính của
một đối tượng, khi nó được tri giác trong đối tượng này mà không biểu hiện một
mục đích” và trong chú thích, Kant giải nghĩa: người ta có thể phản bác định
nghĩa này là có những sự vật không hề thấy có hình thái nào phù hợp với một mục
đích mà không nhận ra một mục đích rõ rệt, chẳng hạn những dụng cụ bằng đá, đục
thủng một cái lỗ như dùng làm cho cái cán, thường thấy trong những ngôi mộ đá cổ;
những dụng cụ này không thể gọi là đẹp, mặc dầu trong hình thái của chúng chỉ
rõ ra là có mục đích tính, mà người ta không biết mục đích. Song điều đơn giản
là nhìn chúng như những công phẩm kỹ năng thuật của con người/Kunstwerk, đủ để
bắt buộc chúng ta phải nhận biết là biểu hiện của chúng nhằm một ý hướng nào đó
và một mục đích xác định. Như vậy không có thỏa mãn trực tiếp nào khi nhìn chúng.
Bù lại, một bông hoa chẳng hạn như uất kim hương, được xem là đẹp, bởi vì bằng
tri giác nó, người ta thấy tính mục đich nào đó, mà như chúng ta phán đoán nó,
không mang lại một mục đích nào [109].
Theo Genette, động cơ khu biệt ở đây là khu biệt giữa mục
đích đơn giản là không biết (nghĩa là không biết dùng làm gì, song biết là để sử
dụng đặc biệt) với một mục đích hoàn toàn không xác định, song điều quan trọng
trong vấn đề đang thảo luận là hậu quả của dụng cụ [trong câu: như vậy không có
thỏa mãn trực tiếp nào khi nhìn chúng], ở ngoài phạm vi khảo sát mỹ học. Trong
ba trạng thái phân biệt: đối tượng tự nhiên, tạo tác thực dụng, tác phẩm nghệ
thuật, mà Kant chỉ nhận ra hai, khi giản lược trạng thái thứ hai vào trạng thái
thứ ba, hình dung từ “trực tiếp” đáng chú ý ở chỗ, theo Kant, là chỉ đối tượng
tự nhiên mới gợi lên một thú vị hay một thỏa mãn trực tiếp. Genette không quyết
đoán là lý giải của ông có trung thực vớiý định của Kant, song điều ông muốn thảo
luận là những công trình tạo tác của con người hẳn phải tạo ra thỏa mãn mỹ học,
không nhất thiết là trực tiếp, như những đối tượng tự nhiên. Trong phạm vi xét
quan hệ mỹ học và văn chương ở đây, tôi muốn nói đến quan niệm của Genette tiếp
cận với những nhà tư tưởng phân tích [110] mà ông thường đối chiếu, như
Beardsley, Danto, Gombrich, Goodman, Sibley v.v…
Ghi chú
[1] A. G. Baumgarten, Aesthetica, 2 Bde. 1750-58. Từ
ngữ mỹ học nhằm để chỉ “khoa học về nhận thức cảm xúc” được ghi nhận kể từ
Baumgarten. Ông quan niệm cơ sở của thơ và những bộ môn mỹ thuật là những biểu
tượng cảm xúc/sensitivae, chẳng hạn một bài thơ đẹp là một diễn ngôn cảm xúc
hoàn hảo, làm sống dậy một sức truyền cảm sinh động, cho nên đẹp có thể
mơ hồ, không rõ ràng như biểu tượng trí thức. Người làm nghệ thuật không chỉ mô
phỏng tự nhiên, nhưng đưa cảm xúc vào thực tại nên trong quá trình mô phỏng tự
nhiên sáng tạo ra một thế giới, một tổng thể mục tiêu của biểu tượng.
Đồng ý hay không với lý luận của Baumgarten, Aesthetica đã trở thành
một bộ môn khoa học phổ biến trong lĩnh vực nhân trí. Những công trình đương đại
sau Baumgarten như Edmund Burke, A Philosophical Enquiry into Our Ideas of
the Sublime and the Beautiful 1757, David Hume, Of the Standard of Taste
1757, Alexander Gerard, An Essay on Taste 1759 ở Anh, Denis
Diderot, Recherches philosophiques sur l’origine et la nature du Beau 1751 ở
Pháp, Gotthold Ephraim Lessing, Laokoon, oder Über die Grenzen der Malerei
und Poesie 1766, Immanuel Kant , Beobachtungen über das gefühl des Schönen
und Erhabenen 1764 ở Đức, tuy quan điểm khác nhau, song đều thừa nhận hiện
tượng mỹ học liên hệ đến giá trị của cáì đẹp, quan năng tinh thần đáp ứng vẻ đẹp
của đối tượng nghệ thuật. Lịch sử mỹ học thật ra phải kể ngay từ thời
cổ đại, như triết gia Ba-lan Władysław Tatarkiewicz (1886-1980) chỉ ra nhiệm vụ
của sử gia mỹ học “không những chỉ nghiên cứu tiến hóa của những loại mỹ học
khác nhau, nhưng phải tự nghiệm những phương pháp và quan điểm khác nhau. Khi
nghiên cứu những ý niệm cổ hơn về mỹ học không phải chỉ xét đến những ý niệm đã
diễn đạt dưới cái tên mỹ học , hay thuộc về bộ môn mỹ học nhất định hoặc áp dụng
những từ ngữ “đẹp” và ‘nghệ thuật” là đủ. Cũng không phải chỉ dựa vào những mệnh
đề đã viết ra hoặc in ra rõ ràng là đủ . Sử gia mỹ học còn phải rút ra phong
cách quan sát được từ một thời đại nhất định và đối chiếu với những công trình
nghệ thuật sản xuất ra ở thời đại đó. Ông không chỉ dựa vào lý luận, mà còn vào
thực tiễn, vào những công trình điêu khắc và âm nhạc, thơ và thuật hùng biện.”
[trong Państwowe Wydawnictwo Naukowe/Cơ sở xuất bản khoa học Ba lan
1970, dẫn trong Mỹ học Ba lan thế kỷ XX 1973].
Chỉ xét ở phương Tây, Platon đã đề xuất những vấn đề cơ bản mỹ học rải rác
trong nhiều thiên đối thoại trước và sau thời kỳ mở trường Academos, và đã chỉ
ra những hệ quả mỹ học trong tư tưởng những triết gia tiền Socrate nơi
Demokritos hay Parmenides. Những ý niệm techne để phân biệt đắc thủ
và sản xuất, mimesis để nói đến sự vật được sáng tạo mô phỏng từ hình
thái nguyên mẫu, to kalon để nói con đường dẫn đến dẹp qua những phẩm
chất của trình độ/metron và tương hợp/symmetron. Lý luận mỹ học ở
thời Aristote tiêu biểu trong tác phẩm Thi pháp/Poietike (cho nên có
quan niệm cho là trước Baumgarten với tân ngữ Aesthetica, lĩnh vực thuộc về
mỹ học là Poietike), trong ba quan năng tri/theoria, hành/praxis và
tác/poiesis , một loại tạo tác là mô phỏng, biểu tượng của sự vật và sự biến.
Sang đến thời cận hiện đại, khi mỹ học đã hình thành như một bộ môn khoa học
thì những khái niệm mỹ học xác định rõ rang hơn. Baumgarten quan niệm “cứu cánh
của mỹ học là hoàn thiện tri thức khả xúc, nghĩa là cái đẹp”. cho nên khác với
quan niệm thời cổ đại, xác định cái đẹp qua trạng thái cân xứng hay điều hòa
thích hợp trong sự vật đối tượng, mà trái lại dựa vào sự thể hiện cảm xúc, cường
độ cảm xúc nơi chủ thể. Khoa mỹ học phát triển đa dạng kể từ thời đại mới này,
trong triết học từ Descartes, trong mỹ học từ Baumgarten (vẫn được xem là người
theo Descartes) khởi từ phân biệt những ý niệm trong sáng và tối, hay rõ ràng
và mơ hồ. Những dữ kiện thuộc về cảm giác quả thật trong sáng song mơ hồ, chẳng
hạn như thơ là diễn ngôn thuộc cảm tính, với những ý niệm trong sang lẫn mơ hồ;
nếu so sánh giữa chứng minh của nhà toán học trong sáng và rõ ràng, song không
có sức lôi cuốn như thơ, trong khi ngôn từ của nhà thơ thật mơ hồ, với những hư
cấu của tri tưởng, những từ hoa của ẩn dụ; cho nên mỹ học có lãnh vực riêng của
nó, có thể nói chân trời mỹ học hoàn toàn tách rời chân trời luận lý.
Vai trò của tri tưởng là chủ yếu trong sang tạo nghệ thuật, nhưng phân cách giữa
khuynh hướng duy lý và duy nghiệm về mặt tri thức. Những phạm trù mỹ học khác
như phong cách thị hiếu, phê phán, cũng như tri tưởng chỉ ra chân trời của tính
chủ thế trong thế giới mỹ học, mở ra, như chính Baumgarten nhận xét: thế giới của
nhà thơ quả thật bao gồm những quần đảo và bán đảo, vì người thi sĩ làm ra những
thế giới, ở đó cái khả ảo trở thành khả xúc và cái bất kiến trở nên khả thị.
Cũng như các bộ môn khoa học khác, mỹ học có một lịch sử vàđã có nhiều công
trình hoàn thành những bộ lịch sử, như công trình của Bernard Bosanquet, A
History of Aesthetic 1932, của W. Tatarkiewicz, Historia estetyki
1962-1967.
[2] Esthétique và Poétique. Từ ngữ Poétique/Poetik/Poetics đôi khi được dịch là
thi pháp, hay sáng tạo học tùy vào ngữ cảnh để làm rõ điều muốn nói đến, trong
khi chưa có một cách dùng thống nhất.
Lấy tác phẩm Grundbegriffe der Poetik của Emil Staiger (học giả người
Thụy sĩ, 1908-1987) làm tiêu biểu, trong Dẫn luận, Staiger viết: Dưới nhan đề
nhưng khái niệm cơ bản của Sáng tạo học/Thi pháp” ở đây để chỉ những khái niệm
của sử thi, trữ tình, hý kịch và có thể cả bi kịch và hài kịch – trong một
nghĩa khác với thường dùng từ trước đến nay và do đó phải giải thích ngay
từ khởi đầu. Nhan đề Poetik quả thực từ lâu không còn mang nghĩa một giáo
hỗ thực tiễn cho nguời chưa được huấn luyện có thể cải tiến để có thể làm thơ,
hùng sử thi và hý kịch theo quy tắc, song những bài viết mới dưới danh
xưng Poetik vẫn giống những công trình cổ hơn ở chỗ có thể thấy bản
chất của thơ, sử thi và hý kịch được thực hiện toàn diện trong những kiểu mẫu đặc
thù của thơ, sử thi và hý kịch. (Unter “Grundbegriffen der Poetik” warden hier
die Begriffe episch, lyrisch, dramatisch und allenfalls tragisch und komisch
verstanden – in einem Sinne jedoch, der sich von dem bisher üblichen
unterscheidet und gleich zu Beginn erklärt warden muß. Der Titel Poetik
bedeutet zwar längst nicht mehr eine praktische Lehre, die Ungeübte instand
setzen soll, regelrechte Gedichte, Epen und Dramen zu schreiben. Aber die
neueren Schriften, welche unter dem Namen Poetik gehen, gleichen den älteren
immerhin darin, daß sie das Wesen des Lyrischen, Epischen und Dramatischen in
bestimmten Mustern von Gedichten, Epen und Dramen vollkommen realisiert sehen).
[3] Nghệ thuật là hệ thống những giáo huấn phổ cập, chân thực, hữu ích, phân bố
nhất tâm đồng đều, hướng về cùng một mục đích duy nhất.
[4] André Lalande, Vocabulaire technique et critique de la philosophie,
x.b lần thứ 4 trong Quadrige, PUF 1997; dẫn Jean Paulhan: “Si nous n’aimions
pas la nature…un paysage ne nous intéresserait ni plus ni autrement qu’une
nature morte. L’habileté technique du peintre s’y incarnerait de la même
manière. La peinture d’un chaudron peut nous captive comme un chef-d’œuvre de
métier.” L’Esthétique du paysage.
[5] Chẳng hạn, tác phẩm của Max Dessoir, Æsthetik und allgemeine
Kunstwissenschaft/Mỹ học và Khoa học nghệ thuật tổng quát 1906; E.
Utitz, Grundlegung der allgemeinen Kunstwissenschaft/Cơ sởkhoa học nghệ
thuật tổng quát 1914.
[6] Grand Dictionnaire de la philosophie, nhà xuất bản Larousse 2003, nhìn tổng
quan là toàn bộ những hoạt động sản xuất những giả tượng/artefacts khả dụng cho
một chiếm hữu mỹ học. Việc định nghĩa trở thành một vấn đề đa dạng, S. Davis
trong Definitions of Art 1991 chỉ ra những định nghĩa có thể
phân loại theo hai mẫu chiến lược: hoặc nghệ thuật có một bản chất theo ý nghĩa
tác phẩm nghệ thuật mang những sở hữu đặc sắc, hoặc nghệ thuật có một phân vị
theo ý nghĩa tác phẩm nghệ thuật là kết thành từ một thủ tục chính đáng.
[7] X: Dieter Henrich, Aesthetic judgment and the moral image of the
world. Studies in Kant
1992.
[8] Goût (tiếng Pháp/Taste (tiếng Anh). Trong Phê bình
quyền năng phán đoán/Kritik der Urteilskraft, phần thứ nhất, đoạn một, quyển một
phân tích cái đẹp, Kant xét đến bốn thời khoảng: thời 1 của phán đoán nhã thức
thú vị theo phẩm chất (Moment des Geschmacksurteils der Qualität nach:) trong
đó phán đoán này thuộc về mỹ học mà khoái cảm xác định phán đoán thì không thuộc
bất kỳ quan tâm nào (Das Wohlgefallen, welches das Geschmacksurteil bestimmt, ist
ohne alles Interesse), ở cuối thời này, Kant tóm luợc nhận xét về “nhã thức thú
vị là quan năng phán đoán một đối tượng hay một phương thức biểu tượng thông
qua việc khoái cảm hay không khoái cảm hoàn toàn không cần quan tâm nào. Đối tượng
của một khoái cảm như vậy có nghĩa là mỹ cảm” (Geschmack ist das
Beurteilungsvermögen eines Gegenstandes oder einer Vorstellungsart durch ein
Wohlgefallen oder Mißfallen ohne alles Interesse. Der Gegenstand eines solchen
Wohlgefallens heißt schön). Thời hai của phán đoán nhã thức thú vị được mệnh
danh theo lượng của nó (Moment des Geschmacksurteils, nämlich seiner Quantität
nach:) trong đó cái đẹp quan niệm ở ngoài những khái niệm thì được biểu hiện
như đối tượng của một khoái cảm phổ quát (Das Schöne ist das, was ohne
Begriffe als Objekt eines allgemeinen Wohlgefallens vorgestellt wird), mà theo
Kant, chỉ biểu hiện như thể chủ quan. [Kant lấy ví dụ: thích rượu vang trắng
Canari, thì chỉ có nghĩa là thú vị với riêng cá nhân/er ist mir angenehm, còn
nói tốt/thiện/das Gute phải nhờ vào một khái niệm, trong trường hợp này
không thuộc về thú vị, hay thuộc về cái đẹp; mỗi người có khẩu vị riêng của
mình, song khi nói “cái nhà/cái áo/bài thơ này đẹp đối với tôi/ist für mich
schön” thì không thể gọi là đẹp được] . Ông tóm lược ở cuối thời này là “đẹp là
cái khoái cảm phổ biến, ở ngoài mọi khái niệm (Schön ist das, was ohne Begriff
allgemein gefällt), Thời ba của phán đoán nhã thức thú vị theo quan hệ của những
mục đích được đưa lên để xem xét lại trong những phán đoán như vậy
(Moment der Geschmacksurteile nach der Relation der Zwecke, welche in ihnen in
Betrachtung gezogen wird); mọi mục đích nếu xem như cơ sở của khoái cảm thì
luôn luôn mang theo một quan tâm – như thể cơ sở xác định của phán
đoán - về đối tượng của khoái lạc, nếu như vậy, không mục đích chủ quan nào có
thể dựa vào phán đoán nhã thức thú vị như là cơ sở (Also kann dem
Geschmacksurteil kein subjective Zweck zum Grunde liegen) song phán đoán của
nhã thức thú vị cũng có thể xác định không do biểu hiện của mục đích khách quan
hay bất kỳ khái niệm thiện nào, vì nó là phán đoán mỹ học, không phải phán đoán
thuộc về tri thức. Theo Kant, phán đoán của nhã thức thú vị dựa trên những
cơ sở tiên nghiệm, độc lập với mê quyến và cảm động và là một phán đoán nhã thức
thú vị thuần túy (Ein Geschmacksurteil, auf welches Reiz und Rührung keinen
Einfluß haben, …ist ein reines Geschmacksurteil). Ông cũng phân biệt những phán
đoán mỹ học làm hai loại kinh nghiệm và thuần túy, một loại theo cảm giác
(Sinnenurteile) và một loại phán đoán nhã thức thú vị đích thực (eigentliche
Geschmacksurteile), Tóm lược ở cuối thời này: Đẹp là hình thái mục đích của một
đối tượng, được tri giác trong nó ngoài mọi biểu tượng của mục đích
(Schönheit ist Form der Zweckmäßigkeit eines Gegenstandes, sofern sie ohne
Vorstellung eines Zwecks an ihm wahrgenommen wird). Thời thứ tư của phán đoán
nhã thức thú vị theo dạng thức khoái cảm trong đối tượng (Moment des
Geschmacksurteils nach der Modalität des Wohlgefallens an dem Gegenstande), như
đã phân biệt ở trện, tổng hợp của một khoái lạc với biểu tượng (như thể tri thức)
tối thiểu có thể khả hữu, chẳng hạn thích thú thực sự là vì nó tạo khoái
lạc cho tôi, song đối với cái đẹp thì tất yếu phải tham chiếu với khoái cảm,
nhưng không phải là tất yếu khách quan về mặt lý luận, (nghĩa là có thể tri thức
tiên nghiệm là mọi người phải cảm thấy khoái cảm trong cái đối tượng tôi gọi là
đẹp), cũng không phải tất yếu thực tiễn nhờ vào những khái niệm của một ý chí
thuộc lý trí thuần túy sử dụng như một quy tắc bởi những tác nhân tự do,
khoái cảm này là hệ quả tất yếu của một luật lệ khách quan và chỉ ra rằng
chúng ta tuyệt đối phải hành động trong đường lối như vậy. Kant coi tất yếu
trong phán đoán mỹ học chỉ có tính cách ví dụ: phán đoán nhã thức thú vị yêu cầu
sự đồng thuận của mọi người. Khi một người nào đó mô tả cái gì y cho là đẹp thì
cần mọi người cũng phải chấp thuận với y về đối tượng đó mô tả như là đẹp; Kant
gọi tất yếu chủ quan này là có điều kiện (die subjective Notwendigkieit ist
bedingt), điều kiện này là ý niệm về một lẽ thường/Gemeinsinn. Cái đẹp trong thời
thứ tư này được xác định nhận thức như đối tượng của khoái cảm tất yếu , ở
ngoài bất kỳ khái niệm nào (Schön ist, was ohne Begriff als Gegenstand eines
notwendigen Wohlgefallens erkannt wird).
[9] Xem: Những tồn tại của phê bình quyền năng phán xét/mỹ/nghệ, in trong Hành
trạng tư tưởng giữa hai thế kỷ 2002 (của tác giả).
[10] Quan năng (tiếp nhận) thu tập biểu tượng theo cách chúng ta bị đối tượng
tác động gọi là tính cảm giác. Vì thế đối tượng cho chúng ta qua cảm tính, và
chỉ riêng cảm tính cung cấp cho ta qua trực giác …khoa học của mọi nguyên lý cảm
tính tiên nghiệm gọi là Mỹ học siêu nghiệm (Die Fähigkeit (Receptivität),
Vorstellungen durch die Art, wie wir von Gegenständen afficirt werden, zu
bekommen, heißt Sinnlichkeit. Vermittelst der Sinnlichkeit also werden uns
Gegenstände gegeben, und sie allein liefert uns Anschauungen… Eine Wissenschaft
von allen Principien der Sinnlichkeit a priori nenne ich die
transcendentale Ästhetik). Kritik der reinen Vernunft.
Kant trong ghi chú nhận xét chỉ riêng người Đức sử dụng từ Mỹ học này vào thời
đại của ông. Nhà [triết gia] phân tích Baumgarten đã có khái niệm này để xét
đoán phê phán cái đẹp dưới những nguyên lý thuần lý và đưa những quy tắc
này lên hàng khoa học, song [Kant phê bình] những quy tắc này chỉ có tính
kinh nghiệm không thể coi như những quy luật tiên nghiệm nhất định cho phán
đoán nhã thức thú vị được.
[11] Luc Ferry, Homo Aestheticus 1990 và Le sens du beau 2000,
tác phẩm trước được xem như cơ sở cho tác phẩm sau, như Ferry xác định trong Lời
nói đầu là viết lại Homo Aestheticus, bởi vì tranh biện về nghệ thuật hiện
đại không ngừng mở rộng trong mười năm cuối này.
[12] “Comment nous, êtres finis, rendrons-nous accessible en soi et en même
temps à nous l’ensemble de l’étant en sa totalité? Tout au plus pouvons-nous
penser dans son “Idée”? l’ensemble de l’étant…” Ferry dẫn Qu’est-ce que la
métaphysique? in trong Heidegger, Questions I et II 1968, bản
dịch của Henry Corbin 1938, và Ferry có thay từ “l’existant” bằng từ “l’étant”
đã được dùng phổ biến trong những bản dịch tiếng Pháp sau này.
[13] Trong phụ lục về lưỡng ý của những quan niệm phản tư (Von der Amphibolie
der Reflexionsbegriffe) quyển hai phần thứ nhất phân tích siêu nghiệm: Die
bloße Form der Anschauung ohne Substanz ist an sich kein Gegenstand, sondern
die bloße formale Bedingung desselben (als Erscheinung), wie der reine Raum und
die reine Zeit, die zwar Etwas sind als Formen anzuschauen, aber selbst keine
Gegenstände sind, die angeschauet werden (ens imaginarium). (Những hình thái
thuần túy của trực giác không bản thể tự nó không có đối tượng, mà chỉ là những
điều kiện hình thức thuần túy của đối tượng (như thể hiện tượng), như không
gian thuần túy và thời gian thuần túy. mặc dầu là một cái gì với tính cách như
những hình thái của trực giác song tự chúng không là những đối tượng được trực
giác (ens imaginarium).
[14] “Cela revient à dire que notre infinitude est elle-même illimitée, que
nous sommes infiniment finis.” Luc Ferry, Homo Aestheticus.
[15] Urteilskraft überhaupt ist das Vermögen, das Besondere als enthalten unter
dem Allgemeinen zu denken. Ist das Allgemeine (die Regel, das Princip, das
Gesetz) gegeben, so ist die Urteilskraft, welche das Besondere darunter
subsumirt, bestimmend. Ist aber nur das Besondere gegeben, wozu sie das
Allgemeine finden soll, so ist die Urteilskraft bloß reflectirend.
Kant, Kritik der Urteilskraft, Einleitung IV.
[16] Unter dem sensus communis aber muß man die Idee eines
gemeinschaftlichen Sinnes, d.h. eines Beurteilungsvermögens verstehen, welches
in seiner Reflexion auf die Vorstellungsart jedes andern in Gedanken (a priori)
Rücksicht nimmt, um gleichsam an die gesammte Menschenvernunft sein Urteil zu
halten und dadurch der Illusion zu entgehen, …und sich in die Stelle
jedes andern versetzt. Sdt.
[17] Annehmlichkeit gilt auch für vernunftlose Tiere; Schönheit nur für
Menschen, d.h. tierische, aber doch vernünftige Wesen, aber auch nicht blos als
solche (z.B. Geister), sondern zugleich als tierische. Sdt.
Khi nhận xét ở trình độ Phê bình quyền năng phán đoán, nghĩa là ở trình độ
mỹ học, biểu ngữ nói trên của Kant chắc chắn là nhằm nói về con người, theo Luc
Ferry đủ để xác định việc dùng từ “chủ nghĩa nhân bản” dể định giá mỹ học của
Kant là chính đáng, có ý tranh biện và phê phán luận điểm của Lyotard chủ yếu dựa
vào bản đọc tập Phê bình lý trí thực tiễn của Kant về luật đạo
đức như thể nguyên lý thuần túy của lý trí thực tiễn, theo nghĩa hẹp, là phi
nhân (comme principe pur de la raison pratique, la loi morale est, au sens
strict, inhumaine), và tư tưởng của Kant không là một chủ nghĩa nhân bản
(la pensée de Kant n’est pas un humanisme).
[18] Phänomenologie des Geistes 1806 (xuất bản năm 1807: System der
Wissenschaft, Erster Theil, die Phänomenologie des Geistes); Wissenschaft der
Logik 1812;Vorlesungen über die Geschichte der Philosophie 1833/36;
Vorlesunggen über die Ästhetik 1835/38; Wissenschaft über die Philosophie der
Geschichte 1837; Vorlesungen über die Philosophie der Religion 1832. GeorgWilhelm
Friedrich Hegel sinh năm 1770 ở Stuggart, mất năm 1831.
[19] John Nìemeyer Findlay (1903-1987), sinh trưởng ở Pretoria, Nam Phi theo học
ở Pretoria, và hậu đại học ở Baillol College Oxford (1924-26), Graz
(1933), từ 1926-1966 dạy ở nhiều đại học như Pretoria, Otago (Tân Tây
lan), King’s College London, ở Yale (1967-1972) và Boston từ 1972 đến khi mất.
Ông nghiên cứu Ấn giáo, Phật giáo, Yoga và từng tham gia Thông thiên học,
chuyên cứu Platon và Hegel. Ông là nhà triết học ngoài vòng triết học phân tích
luận lý, ngôn ngữ thông tục và duy vật thống trị ở đại học Anh. Công trình
nghiên cứu Hegel của ông như tác phẩm xuất bản đầu tiên Hegel: A
Re-Examination 1958, giải thích Hiện tượng luận tinh thần của Hegel,
có thể so với công trình chuyên cứu Hegel của Jean Hyppolite ở Pháp.
[20] Enough will have been said to indicate both the national framework and the
rich empirical filling of Hegel’s Lectures on Aesthetics. Together with
the Phenomenology, they represent Hegel at his most concrete, as the
philosopher who above all others has plumbed the depths and breadths of human
experience. They also represent the operation of Hegelian categories at its
most successful. Sdt.
[21] Để có một ý niệm về hệ thống khoa học triết học của Hegel, như đã dẫn ở
chú thích [18] trên, Hiện tượng luận tinh thần là phần thứ nhất/Erster
Theil trong Hệ thống khoa học của Hegel, cho nên trong lần xuất bản đầu
bộ Bách khoa, Hegel tự phê: trước đây trong Hiện tượng luận Tinh
thần, tôi đã nghiên cứu lịch sử khoa học của ý thức như phần thứ nhất của triết
học, vì nó có nghĩa là đi trước khoa học thuần túy và phát sinh ra khái niệm của
nó. Tuy nhiên đồng thời ý thức và lịch sử của nó, cũng như mọi khoa học triết học
khác, không phải là một khởi đầu tuyệt đối, nhưng là một thành phần trong vòng
triết học. Enzyklopädie der philosophischen Wissenschaften, § 36. Như
Ernst Behler nhận xét: Hegel chỉ định Hiện tượng luận như phần thứ nhất
của hệ thống triết học, song không thực hiện phần thứ hai.
Tôn giáo nghệ thuật là từ ngữ Die Kunst-Religion trong Hiện tượng luận
tinh thần mà Hegel dùng trong phần luận về Tôn giáo:
Tôn giáo tự nhiên/Natürliche Religion như a/ bản chất ánh
sáng/Das Lichtwesen [trong Những bài giảng về triết học tôn giáo/Vorlesungen
über die Philosophie der Religion, Hegel nói về việc thờ ánh sáng là tôn giáo của
người Parses, xứ Ba tư cổ, do Zoroastre dựng lên, ánh sáng ở đây không chỉ
riêng mặt trời, vì mặt trời chỉ là một cá thể đặc thù] trong tiết đoạn này, Hegel
viết: tinh thần hiểu như bản chất, là tự thức, - hay bản chất tự thức là
chân lý và biết mọi kỳ thành như chính mình - khi đối với thực tại mà
tinh thần đề ra trong vận động ý thức của nó trước tiên chỉ là khái niệm
của nó, và khái niệm này, khi đối với ánh sáng/ban ngày của triển khai này, là
bóng tối/ban đêm bản chất của nó/dieser Begriff ist gegen den Tag dieser
Entfaltung die Nacht seines Wesens; khi đối với hiện thể những thời khoảng của
nó như những hình tượng độc lập, là huyền nhiệm sáng tạo ra khai sinh của nó;
ánh sáng thuần túy phân bố tính đơn thuần như một vô tận những hình thái và hy
sinh cho hữu quy ngã , ngõ hầu thực thể đặc dị mượn sự tồn tại cho bản thể của
nó [Hyppolite lý giải phần này, tôn giáo trước tiên là khái niệm và đối lập đầu
tiên là đối lập của hữu và vô hữu, ở đây là đối lập giữa ánh sáng và bóng tối,
vì thế ông cho là vận động đi từ bản thể đến chủ thể là đi từ phương Đông đến
phương Tây, do đó ông diễn giải ở tôn giáo tự nhiên, tinh thần ở trong thành phần
tự tại/en-soi, ở tôn giáo mỹ học là quy ngã/pour soi và ở tôn giáo thần khải/Cơ
đốc rốt cuộc là tự tại và quy ngã. Với Pierre-Jean Labarrière, chú trọng
đến biện chứng Chủ/Nô, Thống trị và Tôi đòi (tuy là Dòng Tên, song Labarrière
chịu ảnh hưởng Heidegger và trường phái Heidelberg và nhất là Kojève trong lý
giải Hegel). Tôi không đưa ra nhận xét về những lý giải này ở đây, và sẽ
trở lại vấn đề này ở chỗ khác]; b/cây cối và động vật/Die Pflanze und das Tier
mà Hegel gọi là tôn giáo của tri giác tinh thần, tức phiếm thần/Pantheismus
[trong Những bài giảng về triết học tôn giáo, Hegel đề cập tôn giáo bái vật
ở Ấn và châu Phi] như tôn giáo hoa/Blumenigion và tôn giáo thú vật/Tierreligion;
c/thợ cả/Der Werkmeister tiêu biểu cho tinh thần, tự sinh như đối tượng, như một
loại lao động bản năng, giống như bầy ong xây tổ./wie die Bienen ihre Zellen
bauen. Hyppolite nhận xét phần a/ tương ứng với xác thực khả xúc, b/ với tri
giác và c/ với tri năng.
Tôn giáo nghệ thuật/Die Kunst-Religion [những dịch giả tiếng
Pháp và tiếng Anh như Hyppolite chuyển ngữ ra La religion esthétique, với
Labarrière là La religion d’art, Baillie cũng như Miller dịch là Religion in
the form of Art, Labarrière giải thích: đúng là ở đây không phải là tôn giáo (của)
nghệ thuật mà là tôn giáo đã được nghệ thuật đánh dấu, cho nên đã dịch
theo kiểu mẫu của biểu ngữ Kunstwerk/œuvre d’art] ở đây Hegel nói đến chuyển tiếp
từ người thợ cả đã bỏ lao động tổng hợp, tức công việc hỗn hợp những hình thái
không có quan hệ lẫn nhau giữa tư tưởng và tự nhiên, vì tinh thần đã đưa hình
tượng của nó đạt được hình thái của hoạt động ý thức tự tại/tự thức/selbstbewußten
Tätigkeit và người thợ cả trở thành người lao động tinh thần. Tinh thần ở thời
khoảng này đã có ý thức về bản chất tuyệt đối của nó, nghĩa là tinh thần đạo lý,
tức là tinh thần thực/sittliche oder wahre Geist. Chính vào thời đại này, nghệ
thuật tuyệt đối xuất hiện. Trước đây, nghệ thuật là một loại lao động theo bản
năng, đắm chìm vào trong hiện thể, làm việc khởi từ hiện thể này và thâm nhập
trong nó, không có bản thể trong trật tự đạo lý tự do, do đó cũng không có hoạt
động tinh thần tự do liên quan tới tự ngã lao động. Sau này tinh thần vượt ra
ngoài nghệ thuật để đạt tới biểu tượng tối cao – không những là bản thể sinh ra
từ tự ngã mà trong biểu tượng của nó chính là cái tự ngã này. [Đoạn văn trong
phần này của HHHHegel có tầm quan trọng thể hiện quan niệm nghệ thuật về mặt bản
chất: vai trò cá thể trong tự trị liên hợp giữa thế giới Hy lạp và thế giới La
mã ở quá trình lịch sử]. Tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa riêng của tự ngã, mà
Hegel phân liệt từng bước ba thời khoảng của quá trình sinh thành/chuyển biến
này là tác phẩm nghệ thuật trừu tượng/das abstrakte Kunstwerk, tác phẩm nghệ
thuật sinh động/das lebendige Kunstwerk đến tác phẩm nghệ thuật tinh thần/das
geistige Kunstwerk. Ông xác định tác phẩm nghệ thuật đầu tiên mà trực tiếp là
tác phẩm trừu tượng và đặc dị, một mặt là ra khỏi cách thế trực tiếp và khách
quan để hướng về tự thức/Selbstbewußtsein, mặt khác tự thức này quy ngã trong
thờ phụng để triệt tiêu sự khu biệt đối với tinh thần trước đây nhằm sản xuất
ra được tác phẩm nghệ thuật sinh động trong chính nó/an ihm selbst
belebte Kunstwerk. Ba hình thái tác phẩm nghệ thuật này là biểu hiện thần thánh
một cách khách quan (hướng ngoại) qua điêu khắc/nghệ thuật tạo hình [phân biệt
với kiến trúc, như thể đặc thù/hình tượng tự Ngã với phổ quát/biểu tượng bản chất
vô cơ trong quan hệ với hình tượng], qua ngôn ngữ là thành phần cao cấp, hiện
thể là hiện hữu tự thức trực tiếp/ein Dasein, das unmittelbar selbstbewußtsein
Existenz ist, ngôn ngữ nói đến ở đây như tụng ca/die Hymne có tính hướng nội,
và phân biệt với sấm ngôn/Orakel cũng là một ngôn ngữ của thần thánh, song
không là ngôn ngữ của tự thức phổ quát, qua thờ phụng/der Kultus, tự Ngã có ý
thức về bản chất thần thánh từ phía bên kia hạ xuống tới nó. Tác phẩm nghệ
thuật sinh động biểu hiện qua hai hình tượng: lễ điển và tính vật thể/hữu hình;
Hegel đề cập tới trong thờ phụng tôn giáo nghệ thuật, dân tộc tiếp cận được tới
vị thần của mình là dân tộc có đạo lý, hiểu biết được Quốc gia của mình và những
hoạt động của nó là chính ý chí và hoàn thành cho chính nó/Das Volk, das in dem
Kultus der Kunstreligion sich seinem Gotte naht, ist das sittliche Volk, das
seinen Staat und die Handlungen desselben als den Willen und das Vollbringen
seiner selbst weiß. Chính từ thờ phụng mà tự thức trong bản chất của nó được thỏa
mãn và thần thánh đi vào trong nó như vào trong trú sở của mình. Hegel luận
giải về trú sở/Stätte ở đây đối với quy ngã là đêm của bản thể hay tính cá thể
thuần túy (tuy nhiên không phải cá thể của nhà nghệ thuật vì chưa hòa hợp
với bản chất để trở thành khách quan), nhưng là đêm thỏa mãn vì cảm thức/pathos
trong nó là trở về của trực quan, của tính khách thể đã thăng hóa; nói đến cảm
thức quy ngã là bản chất của mặt trời mọc/Aufgang, nhưng tự hậu cũng tự lặn/Untergang
và mang theo tự thức, đồng thời cùng với hiện thể và kỳ thành. Trong những
trang sách này, Hegel nói đến vận động thực hiện của bản chất này, đến lực
khách quan của tự nhiên, là hiện thể cho Tha thể, đến những hóa thân trong tinh
thần của đất như nguyên tắc nữ tính của dinh dưỡng, thực lợi của ăn uống, đến
nguyên lý nam tính của lực bộc phát của hiện thể tự thức; tuy nhiên chưa phải
là tinh thần tuyệt đối, mà mới chỉ là tinh thần trực tiếp, tinh thần của tự
nhiên mà đời sống tự thức của nó chỉ là huyền nhiệm của bánh và rượu, của Ceres
[nữ thần nông nghiệp và thịnh vượng] và Bacchus [tửu thần], của say sưa cuồng
nhiệt này phải tạo ra đối tượng, sản sinh ra một tác phẩm ( như nghệ nhân nói đến
ở trên tạo ra pho tượng) cũng hoàn chỉnh như một tự Ngã sinh động/ein
lebendiges Selbst. Thờ phụng như vậy là lễ điển của con người để tự vinh
danh, chưa phải là ý nghĩa của bản chất tuyệt đối, vì mới chỉ biểu hiện cho con
người, chưa phải là tinh thần, cũng chưa là một bản chất chủ yếu mang hình tượng
người, nhưng đã đề ra những thời , cơ sở cho thần khải/Offenbarung, ở đây Hegel
nói đến thời trừu tượng của tính vật thể sinh động của bản chất/der lebendigen
Körperlichkeit des Wesens: con người đặt mình vào chỗ của tượng như một hình tượng
phát triển và đào luyện cốt để cho sự vận/động được hoàn toàn tự do - đối lập với
pho tượng là sự tĩnh/nghỉ hoàn toàn tự do [Hegel minh họa qua hình tượng người
cầm đuốc nổi bật giữa đám đông như là vận động tiêu biểu cho một tác phẩm nghệ
thuật sinh động, kết hợp dũng mãnh với vẻ đẹp, không phải tượng thần bằng đá mà
là biểu tượng bằng xượng bằng thịt, cao cả nhất cho bản chất của họ]. Tuy
nhiên, theo Hegel cả hai biểu hiện là nhiệt thành và vẻ đẹp thân thể nói đến ở
đây chỉ ra sự thống nhất của tự thức và bản chất tinh thần song vẫn thiếu cân bằng,
vì nhiệt thành ở ngoài tự ngã nhưng trong vẻ đẹp thân thể, chính bản chất tinh
thần ở ngoài tự ngã. Tác phẩm nghệ thuật tinh thần trong biên chứng tam thế làm
trung gian giữa lãnh vực trừu tượng và lãnh vực cụ thể, có thần trong phạm vi
biểu tượng và trong ngôn ngữ tinh thần tạo ra. Hegel khởi từ những tinh thần
dân tộc/die Volksgeister ý thức được hình tượng bản chất của họ trong một linh
vật đặc thù [Labarrière lý giải là vật tổ/totem xác định lý lịch của môt dân tộc]
tụ hợp và thống nhất trong Nhất thể, trong một đền Toàn thần/Pantheon, phạm vi
trú sở là ngôn ngữ, bao gồm những thời khoảng có trước, những vị Thần sơn trong
sử thi, người và thần sống động trong bi kịch, phân giải thực thể thần linh
trong tính xác thực của ngã trong hài kịch cổ đại. Điều đó có nghĩa thần không
thực hiện trên đá nữa mà trong ngôn ngữ của dân tộc lên hàng phổ quát. Sử thi
Homère, bi kịch Sophocle, hài kịch Aristophane tạo thành một chuyển biến biện
chứng chỉ ra sự trở về của thần trong người. Cho nên Hegel nhận xét cảm thức
không còn là quyền năng làm sững sờ của thiên nhiên, nhưng là ký lực phát
sinh/die Mnemosyne, giác tỉnh của ý thức và nội hướng chuyển biến, nội tỉnh bởi
ký ức về bản chất trực tiếp có trước. Ở thời khoảng này, tôn giáo nghệ thuật tự
hoàn tất trong tự ngã và hoàn toàn trở về trong chính nó. Sự thống nhất ở đây
không là thống nhất thiếu ý thức của thờ phụng và huyền nhiệm, nhưng là Tự ngã
đích thực của diễn viên trùng hợp với nhân vật, cũng như của khán giả,
trước những gì đang trình diễn, thấy hoàn toàn như trở về nhà, và thấy mình diễn
trong đó; có thể nói như sự trở về của phổ quát trong xác thực của tự ngã.
Tôn giáo thần khải/Die offenbare Religion: Hegel khởi sự từ
nhận xét qua tôn giáo nghệ thuật, tinh thần đi từ hình thái của bản thể đến
hình thái của chủ thể, vì tôn giáo nghệ thuật sản sinh ra hình tượng của tinh
thần và như vậy đặt để trong nó hoạt động và tự thức, mà trong bản thể khủng cụ
chỉ có biến đi hay trong tin cậy không biết được mình là gì. Nhập thể làm người/Menschwerdung
của bản chất thần linh bắt đầu từ tượng thần chỉ thể hiện hình tương bề ngoài của
tự Ngã, nhưng trong tôn giáo nghệ thuật, thống nhất cả hai mặt hình tượng và hoạt
động được thực hiện đồng thời lại đưa lên đến cực điểm của tự Ngã, có thể
nói tự Ngã là bản chất tuyệt đối, thành ra thuộc về tinh thần vô tôn giáo.
Chính trong phần luận này,Hegel nói đến tự thức khốn khổ/das unglückliche
Selbstbewußtsein và nỗi đau đớn diễn đạt trong lời tàn bạo: Thượng đế đã chết
(es ist der Schmerz, der sich als das harte Wort ausspricht, daß Gott gestorben
ist).
Tuy nhiên, tôi không thảo luận vấn đề này ở đây, vì ra ngoài
phạm vi luận về mỹ học với văn chương.
[22] Alexandre Kojève (1902-1968) sinh trưởng ở Nga, từ 1909 đến 1919 đã theo học
ở trường Medvednikov [trong những năm này, ông học tiếng La tinh, Pháp, Anh, Đức],
Aleksandr Vladimirovic Kozevnikov/Vladimir Kojevnikov (tên gốc Nga của Kojève)
quyết định rời bỏ nước [sau khi bị từ chối vào đại học vì lý do nguồn gốc gia
đình tư sản] cùng với người bạn tên Georges Witt [gốc Đức] khoảng cuối năm 1919
băng qua biên giới Ba lan, sống ở đây khoảng sáu tháng trước khi được phép sang
ở Đức từ 1920, trong những năm này, ông theo học tại nhiều đại học và có dịp tiếp
cận với triết học Đông phương, học tiếng Phạn, tiếng Hoa, tiếng Tây tạng [trong
tập Ký triết học/Journal philosophique, Cahier philosophique 1917-1920*
(Nina Ivanov dịch từ tiếng Nga, như đã dịch L’athéisme mà
Kojève cũng viết bằng tiếng Nga) cũng như quyển sách viết về Kant, ông có
những suy niệm như Cogito, ergo non sum/tôi suy nghĩ, tức là tôi không hiện
hữu, nếu Kant sống ở xứ Phật châu Á, ắt là một nhà Phật giáo, hay chủ nghĩa vô
thần là vượt khỏi vòng luân hồi của khổ và sống v.v…], thời gian du lịch qua Ý,
say mê nghệ thuật Ý và có định ý viết Những nguyên lý của triết học
không-hiện hữu/In-Existant, một siêu hình học lấy hứng từ nguồn Phật giáo và mỹ
học; tuy nhiên ông vẫn quyết định ở lại Đức và theo học tại đại học Heidelberg,
năm 1926 ông soạn luận án về triết học tôn giáo của Wladimir Solowjews/Die
religiose Philosophie Wladimir Solowjews dưới sự bảo trợ của Karl Jaspers,
ông kết hôn với Cécile Shoutak [nguyên là em dâu của Alexandre Koyré], và định
cư ở Paris từ năm 1927, ông theo học ở Sorbonne và nghiên cứu triết
học tôn giáo và ngôn ngữ Đông phương, trong những năm 1928-1931, theo học toán
và vật lý học cùng lúc với triết học. Trong những năm 1932/33, ông cũng như
Bataille tham dự lớp của Koyré giảng về triết học tôn giáo của Hegel tại École
Pratique des Hautes Études, mùa hạ năm đó, Koyré nhận dạy tại Cairo và đề nghị
Kojève thay ông tiếp tục hội luận này. Kojève khởi sự hội luận về Hiện tượng
luận tinh thần của Hegel trong suốt sáu năm 1933/39 và hai lần diễn thuyết
về “Ý niệm cái chết trong triết học Hegel”, bốn lần diễn thuyết về “Biện chứng
của cái thực và phương pháp hiện tượng luận”. Thính chúng của ông có nhiều tên
tuổi quan trọng trong học giới Pháp như Raymond Aron, Georges Bataille, André
Breton, Henri Corbin, Pierre Lkossowski, Aron Gurwitsch, Jacques Lacan, Maurice
Merleau-Ponty, Raymond Queneau, Eric Weil… [trong chuyên luận của Dominique
Auffret liệt kê danh sách từng năm những học viên và bàng thính viên;
Sartre và Simone de Beauvoir không theo học lớp của Kojève, sơng đã đọc những
bài của ông trên tạp chí Mesures].
Raymond Queneau thu tập những bài giảng, ghi chép trong suốt tháng giêng 1933 đến
tháng Năm 1939 xuất bản năm 1947 dưới nhan đề Dẫn vào việc đọc
Hegel/Introduction à la lecture de Hegel, kể cả những tóm lược hàng năm in trên
Kỷ yếu của École des Hautes Études, sáu bản văn đầy đủ của những bài giảng đầu
trong những năm 1937/38, những bản văn diễn thuyết nói trên.
Trong lời Tựa tác phẩm Khái niệm, Thời gian,và Diễn ngôn. Dẫn nhập
vào hệ thống tri thức (viết khoảng năm 1952) Kojève viết như lời trần tình
về việc hiểu Hegel và những ảnh hưởng của những người khác đối với ông: Trước hết
là bạn thân Alexandre Koyré của ông ,người đã bắt đầu lý giải Hiện tượng
luận ở École Pratiques des Hautes Études (Sorbonne). Ông đã nói về Thời
gian Hegel, và đối với Kojève, như người ta nói, là một mạc khải. Ông ghi nhận
là tiếp thu được những bài giảng của Koyré nhờ có một nhân thức sâu sắc kinh
đi.ển trong lịch sử triết học (kể cả kinh điển của Ấn độ và Trung hoa); còn phải
kể đến việc đã đọc Sein und Zeit của Heidegger [tuy nhiên, Kojève nhận
xét Heidegger đã chuyển hướng sai khi tưởng “vượt” Hegel để “trở về” trước tiên
với Platon (qua Husserl), tiếp nữa là với Aristote, rồi đến Hölderlin và sau
cùng là Parménide, cũng như Héraclite…Ngoài ảnh hưởng của Heidegger
[ex-Heidegger sic], phải kể đến những người bạn như Jacob Klein, Leo
Strauss nhờ họ mà Kojève hiểu Platon, đến Eric Weil mà ông tiếp cận Diễn
ngôn/Logos của chủ nghĩa tân thực chứng/néopositivisme.
Một số những tác phẩm khác của Kojève đã xuất bản trước và sau khi ông mất
như: Essai d’une histoire raisonnée de la philosophie païenne/Khảo luận về
một lịch sử suy lý của triết học vô tín ngưỡng (3 tập viết trong những năm
1953/55, x.b. năm 1968/73), Kant (xb. 1973), Esquisse d’une phénoménologie
du droit/Lược khảo một hiện tượng luận về quyền (viết năm 1943, xb.
1981), La notion d’autorité/Quan niệm về quyền thế (viết năm 1942,
xb. 2004), L’athéisme/Vô thần luận (viết năm 1931, xb. 1998), L’idée
du déterminisme dans la physique classique et dans la physique moderne/Ý niệm tất
định thuyết trong vật lý học cổ điển và trong vật lý học hiện đại (viết
năm 1932, xb. 1990), Le Concept, le Temps et le Discours (Introduction au
système du Savoir/Khái niệm, Thời gian và Diễn ngôn, Dẫn nhập hệ thống Tri thức viết
khoảng năm 1952, xb. 1990), Identité et réalité dans le “Dictionnaire” de
Pierre Bayle/Tính đồng nhất và thực tại trong “từ điển” của Pierre Bayle (giảng
khoa 1936/37, xb. 2010),”Les peintures concrètes de Kandinsky/Những bức tranh cụ
thể của Kandinsky” 1936 xuất bản năm 1966 với nhan đề “Pourquoi concret/Tại
sao lại cụ thể” trong XXᵉ Siècle số 27 [Wassily Kandinsky sinh
năm 1866, là chú của Kojève vì là anh em cùng mẹ khác cha với Vladimir Kojevnikov,
thân phụ ông] .
* gồm: 1917, Tư duy về vấn đề cuộc chiến ở những đảo Arginuses
1920a, Sống và chết
1920b,
Descartes và Phật
1920c, Những
cứu cánh tột cùng của đạo lý Thiên chúa giáo và Phật giáo
1920d, Bàn về
vấn đề thuật ngữ của triết học Không-hiện hữu
1920e, Về chủ
đề Không-hiện hữu trong nghệ thuật, và về nghệ thuật của Không-hiện hữu.
[23] Dịch theo bản dịch của Dẫn vào việc đọc Hegel: Il est vrai que la Religion,
[comprise] comme Conscience [extérieure] de la Réalité-essentielle absolue en-tant-que-telle
[überhaupt] est apparue aussi dans les formations-concrètes (Gestaltungen),
[que nous avons considérées] jusqu’ici, et qui – d’une manière-générale – se
distinguent [les unes des autres] comme Conscience [-extérieure][Chap.
I-III], Conscience-de-soi [Chap. IV], Raison [Chap V],
et Esprit [Chap VI]. Seulement [la Religion y est apparue] du
point de vue de la Conscience [-extérieure], qui prend-conscience de la
Réalité-essentielle absolue. Ce n’est donc pas la Réalité-essentielle
absolue en et pour soi-même, ce n’est pas la Conscience de-soi de
l’Esprit, qui est apparue dans ces formations-concrètes.
Nguyên tác tiếng Đức: In den bisherigen Gestaltungen, die sich im allgemeinen
als Bewußtsein, Selbstbewußtsein, Vernunft und Geist unterscheiden,
ist zwar auch die Religion, als Bewußtsein des absoluten Wesens überhaupt
vorgekommen; allein vom Standpunkt des Bewußtseins aus, das sich des
absoluten Wesens bewußt ist; nicht aber ist das absolute Wesen an und für
sich selbst, nicht das Selbstbewußtsein des Geistes in jenen Formen erschienen.
[24] L’Homme est la Réalité-essentielle du Réel existant.
[25] Bản dịch của Kojève, như dẫn ở trên, khác hẳn với những bản dịch của
Hyppolite, hay Gwendoline Jarczyk và P.-J Labarrière (tiếng Pháp), J.B. Baillie
hay A.V. Miller (tiếng Anh) chẳng hạn.
[26] Trong giảng khóa 1934-1935, Kojève đã rọi ánh sáng mới vào lý giải Hiện
tượng luận tinh thần của Hegel được minh nhiên là một nhân học triết
học/une anthropologie philosophique.
[27] Ce Dieu du Peuple/Gott des Volkes est la manière idéelle de contempler le
Peuple” [trong System der Sittlichkeit, bản dịch của Kojève; bản dịch tiếng
Anh của Knox và Harris: He [God of people] is an ideal way of intuiting it].
[28] “qui a rendu possible la science athée absolue de Hegel”. Sau Kojève, một
nhà triết học Lỗ-ma-ni C.I. Gouliane nhận xét Hegel thiết lập mối quan hệ giữa nghệ
thuật và tinh thần cũng như với tôn giáo, con người được nâng lên tới tinh thần
tuyệt đối, quan niệm nghệ thuật mang lại một cái tuyệt đối mới về thiên chức
tinh thần, xác định những mục đích lịch sử mới của vận động xã hội và tái tạo
cá nhân. Nghệ thuật là một cách khẳng định tự do, “không chịu đặt dưới những
quy tắc”, không câu nệ bắt chước thực tại, mà tái tạo, tái phát hiện thế giới về
mặt cái đẹp. Gouliane, Hegel ou la philosophie de la crise 1970.
[29] “sichselbst wissende Geist”.
[30] Nguyên văn tiếng Pháp: “an sich” signifie aussi “für uns”: c’est
nous, Hegel et ses lecteurs, qui savons que toute Théologie n’est en fait
qu’une anthropologie.
Trong tiết 9 luận về khoa học văn chương ở phần Dẫn nhập, tôi đã nói đến khái
niệm hữu ta quy/für-uns-Sein của Nicolai Hartmann trong Das Problem des
geistigen Seins và Ästhetik; sẽ trở lại vấn đề trong chương XII: Hữu
thể luận văn chương.
Nicolai Hartmann là một trong những triết gia quan trọng nhất luận về Hegel
(trong Triết học duy tâm Đức, tập Hai: Hegel/Die Philosophie des deutschen
Idealismus, II. Teil: Hegel 1923). Người đọc có thể tham khảo ĐPQ, Từ điển
triết học giản yếu, mục Georges Bataille nói đến Hartmann đã nêu
lên ảnh hưởng của biện chứng chủ/nô nơi Hegel ít được biết đến như biện
chứng về khốn khổ, song lợi ích hiện tại rất lớn, chẳng hạn như lý luận đấu
tranh giai cấp Mác-xít mà Bataille dẫn trong bài Hegel et le problème de
la dialectique du réel (dịch và in trên Revue de métaphysique et de morale
1931).
[31] “Les formes-concrètes de l’Esprit qui ont été considérées [dans le
Chapitre VI, à savoir] : l’Esprit vrai-ou-véritable, [l’Esprit
aliéné-ou-devenu-étranger à lui-même, et [l’Esprit] subjectivement-certain de
lui-même, - constituent dans-leur-ensemble l’Esprit dans la Conscience [-extérieure],
laquelle Conscience, en s’opposant à son Monde, ne se reconnait pas en
lui.”
Nguyên văn tiếng Đức: Diejenigen Gestalten desselben, die betrachtet worden, -
der wahre, der sich entfremdete, und der seiner selbst gewisse Geist, - machen
zusammen ihn in seinem Bewußtsein aus, das seiner Welt gegenübertretend in ihr
sich nicht erkennt.
[32] Kojève viết: c’est vivre “en artiste”.
[33] Eine Naturschönheit ist ein schönes Ding; die Kunstschönheit ist eine
schöne Vorstellung von einen Dinge. Kritik der Urteilskraft, I.Teil,
Kritik der ästhetischen Urteilskraft, § 48.
[34] Die schöne Kunst zeigt darin eben ihre Vorzüglichkeit, daß sie Dinge, die
in der Natur häßlich oder mißfällig sein würden, schön beschreibt. Sdt.
Kant lấy ví dụ những Nữ thần thù hận Furien, bệnh tật, chiến tranh tàn phá vẫn
được miêu tả như là đẹp trong những bức họa.
Những nhà tư tưởng trước hay đồng thời với Kant, như Aristote, Boileau
(1636-1711), E. Burke (1729-1797) cũng có những nhận xét tương tự.
Về mặt hội họa, tranh của Bosch (1450-1516), Brueghel Pieter II (1564-1638) ,
Matthias Grünewald (1470-1538), Jacques Callot (1592-1635) thường vẽ những người
và cảnh kỳ cục (baroque) như vậy. Những trường phái hội họa hiện đại như siêu
thực, lập thể, khốn khó (misérabilisme, với những họa sĩ như Francis Gruber,
Bernard Buffet) hay biểu tượng (như Ensor, Permeke), Lucian Freud, Francis
Bacon là chứng cớ cho nhận xét nói trên. Cho nên một nhà chuyên cứu mỹ học Kant
như E. Schaper khẳng định: triết học nghệ thuật của Kant có sức mạnh quan trọng,
vì nhiều vấn đề mỹ học hiện đại đã được hình dung trước và nêu lên lần đầu tiên
trong lý luận của Kant.
[35] Friedrich Wilhelm Joseph Schelling, Die Philosophie der Kunst, 1802-3,
đề xuất từ những bài giảng tại Jena: tradet philosophiam artis seu Aestheticen
ea ratione et method, quam in constructione universae philosophiae secutus est,
et quam alio loco pluribus exponent.
[36] Hegel, Philosophie der Kunst oder Ästhetik (1826), A.
Gethmann-Siefert và B. Collenberg-Plotnikov x.b. 2004.
[37] Hegel’s contribution to aesthetics, … is less widely acknowledged and
appreciated. Some will be familiar with Hegel’s theory of tragedy and
his…doctrine of the “end of art”, but many philosophers and writers on art pay
little or no attention to his lectures on aesthetics. Stephen Houlgate, Introduction:
An Overview of Hegel’s Aesthetics, in trong Hegel and the Arts, nhiều
người viết,. 2007.
[38] Rüdiger Bubner, The “Religion of Art”, bản dịch của chính Stephen
Houlgate, in trong Hegel and the Arts dẫn trên, do chính Houlgate chủ
biên (tuy giới thiệu Bubner trong mục Contributors ở cuối sách, song
Houlgate không ghi rõ nguyên tác tiêu đề tiếng Đức tiểu luận này).
Bubner (1941-2007) theo học ở Tübingen, Wien, Heidelberg và Oxford, viết luận
án Phänomenologie, Reflexion und Cartesianische Existenz. Zu
Jean-Paul Sartres Begriff des Bewußtseins (Hiện tượng luận, Phản tư và Hiện hữu
theo Descartes. Về khái niệm Ý thức của J.-P. Sartre) trình ở đại học
Heidelberg năm 1964, nhận bằng tiến sĩ danh dự/Ehrendoctorwürde của phân khoa
Thần học ở đại học Freiburg, Thụy sĩ. Dạy ở Frankfurt am Main từ 1973, ở đại học
Tübingen (1979-1996), Heidelberg từ 1996, mất năm 2007. Từng làm chủ tịch hiệp
hội quốc tế bảo trợ nghiên cứu triết học Hegel (Präsident der Internationalen
Vereinigung zur Förderung des Stadiums der Hegelschen Philosophie).
Những sách của ông đã được dịch sang tiếng Anh như Modern German
Philosophy 1981,
German Idealist Philosophy 1997, The innovation of
Idealism 2003. Tác phẩm viết về triết học Đức hiện đại chịu ảnh hưởng nguồn tư
tưởng triết học Anh-Mỹ hấp thụ trong thời gian học ở Oxford nên một phần chính
nói vê triết học ngôn ngữ và lý luận khoa học, luận về triết học Heidegger,
Apel, Habermas, Gadamer, về triết học thực tiễn và phép biện chứng, cho nên đề
cập khá nhiều về Lukács, nhóm tân Mác-xít, về Thomas Kuhn, Feyerabend là những
người không thuộc triết học Đức, về nhóm thực chứng luận và không biết gì về
Nicolai Hartmann và nhiều trường phái đầy ảnh hưởng khác ở Đức, một là khuyết
điểm lớn, hai là tinh thần nhiệt tín môn phái xuẩn động của nhiều người viết lịch
sử triết học. [Để biết về những trường phái này, xem Triết học nào cho thế kỷ
XXI (ĐPQ)].
[39] Trong nguyên bản tiếng Đức tác phẩm Hiện tượng luận tinh thần do
Felix Meiner xuất bản, từ “Die Kunst-Religion” được viết có dấu nối (-),
nhóm người dịch G. Jarczyk và P.-I. Labarrière cũng như một vài nhà nghiên cứu
Hegel khác chú ý đến dấu nối này, do đó trong chú giảỉ ghi nhận: Die
Kunst-Religion [sic, nguyên văn của người dịch] và giải thích là nghệ thuật
đánh dấu tôn giáo, những dịch giả tiếng Anh đều dùng cụm từ “in the form
of Art” như để giải thích giữa tôn giáo và nghệ thuật có một tương quan. Tuy
nhiên, trong Philosophie des Geistes thuộc bộ Bách khoa trong những
nét đại cương/Enzyklopädie der philosophischen Wissenschaften im Grundrisse,
Hegel dùng cụm từ Die Religion der Kunst (trong lần xuất bản thứ nhất, và trong
lần xuất bản thứ hai, thu gọn lại một từ Art. theo nhận xét của Gustav Emil
Mueller). Bubner xem dấu nối quan trọng, nên trong chú thích (11), nhận xét “tiếc
thay, dấu nối đã bị bỏ ra ở bản Hiện tượng luận tinh thần do Suhrkamp xuất bản”.
[40] Theo quan niệm thông thường, cùng với xu huớng (có thể giải thích được về
mặt nhân học) linh hồn con người hướng về Thần linh, Tuyệt đối tự vén lộ ra
công chính trong tín ngưỡng nhất thần. Ở đó có sự phân cách sâu xa giữa tín ngưỡng
đa thần chất phác với Cơ đốc giáo, vì tôn giáo này sống trong đoan quyết là độc
quyền nắm giữ bản chất của tôn giáo, và sứ mạng cao cả của người Cơ đốc giáo là
đưa những người ngoại đạo theo đạo của mình.
[41] Der Geist ist Künstler. [Xem chú thích 21 phân liệt ba loại tôn giáo của
Hegel].
[42] “er ist das freie Volk, worin die Sitte die Substanz aller ausmacht, deren
Wirklichkeit und Dasein alle und jeder einzelne als seinen Willen und Tat
weiß.” Sdt.
[43] “Durch die Religion der Kunst ist der Geist aus der Form der Substanz in
die des Subjekts getreten, den sie bringt seine Gestalt hervor, und setzt also
in ihr das Tun oder das Selbstbewußtsein, das in der furchtbaren Substanz nur
verschwindet, und im Vertrauen sich nicht selbst erfaßt. Sdt.
[44] Trong một quyển sách khởi thảo trước đó, nhan đề Chủ nghĩa vô thần/l’Athéisme [viết
năm 1931, xuất bản năm 1990], Kojève xác định: dầu chúng ta không biết gì về
“người hữu thần” đầu tiên, liệu có không tự nhiên khi giả định Thượng
đế khai mở ra cho nó lần thứ nhất vào lúc có nguy hiểm chết người, nên “lời cầu
nguyện” đầu tiên có phải là tiếng kêu khóc của một khủng cụ chết người đối với
Thượng đế?
[45] Khi lý giải: để có tôn giáo, con người phải tự thăng hóa, Kojève đã dựa
vào đoạn chuyển từ tôn giáo tự nhiên qua tôn giáo nghệ thuật trong Hiện tượng
luận tinh thần: Diese Ungeheuer an Gestalt, Rede und Tat lösen sich zur
geistigen Gestaltung auf, - einem Äußern, das in sich gegangen, - einem Innern,
das sich aus sich und an sich selbst äußert; zum Gedanken, der sich gebärendes
und seine Gestalt ihm gemäß erhaltendes und klares Dasein ist. Der Geist ist
Künstler. [Những cái phi thường ở hình tượng, lời và tác động được giải quyết
trong một hình thành tinh thần, - một ngoại tại tự vận hành, - một nội tại tự
nhiên và bản nhiên hướng ngoại; - chúng tự giải quyết trong một tư duy trong
sáng, hiện hữu ở đó tự sinh và giữ gìn hình tượng phù hợp với tư duy của chính
mình. Tinh thần là người làm nghệ thuật.]
[46] “die Wahrheit des sittlichen Geistes ist nur erst noch dies substantielle
Wesen und Vertrauen, worin das Selbst sich nicht als freie Einzelheit weiß, und
das daher in dieser Innerlichkeit oder in dem Freiwerden des Selbsts zu Grunde
geht. Indem also das Vertrauen gebrochen, dis Substanz des Volks in sich
geknickt ist, so ist der Geist, der die Mitte von bestandlosen Extremen war,
nunmehr in das Extrem des sich als Wesen erfassenden Selbstbewußtseins herausgetreten.
Dieses ist der in sich gewisse Geist, der über den Verlust seiner Welt trauert
und sein Wesen, über die Wirklichkeit erhoben, nun aus der Reinheit des Selbsts
hervorbringt. Sdt.
[47] Ce n’est pas humain, parce que l’Homme n’est pas Être, mais Action”
(Kojève).
[48] Ở phần cuối tác phẩm nghệ thuật trừu tượng, Hegel viết: Những trú sở và tế
đài của thần thánh là để con người sử dụng, những kho tàng để dành dùng
trong khi cần thiết là của họ. Danh dự của thần thánh mang trong trang sức là
vinh dự của dân tộc có nghệ thuật và cao qúy. Vào ngày lễ hội, dân tộc này cũng
trang trí cho chỗ ở và trang phục của họ, cũng như những nghi lễ với những
trang cụ huy hoàng. Qua cung cách cống hiến lễ vật này, họ nhận được sự đền đáp
của thần thánh nhận biết cũng như những chứng cớ ân sủng của họ gắn kết nhờ vào
lao động, chứ không phải từ hy vọng và trong một thực tại kỳ thành về
sau, nhưng trong vinh dự đã có và trong dâng hiến lễ vật mà họ lập tức có được
niềm hoan lạc của giàu sang phú quý cho họ [Die Wohnungen und Hallen des Gottes
sind für den Gebrauch des Menschen, die Schätze, die in jenen aufbewahrt sind,
im Notfalle die Seinigen; die Ehre, die jener in seinem Schmucke genießt, ist
die Ehre des kunstreichen und großmütigen Volkes. Am Feste schmückt dieses
ebenso seine eignen Wohnungen und Bekleidungen, so wie seine Verrichtungen mit
zierlichem Geräte. Es empfängt auf diese Weise für seine Gaben die Erwiderung
von dem dankbaren Gotte und die Beweise seiner Geneigtheit, in der es sich mit
ihm durch die Arbeit verband, nicht in der Hoffnung und einer späten
Wirklichkeit, sondern hat in der Ehrenbezeugung und Darbringung der Gaben
unmittelbar den Genuß seines eignen Reichtumes und Putzes.] Sdt.
[49] Khi minh họa hình tượng con người cầm đuốc vượt lên trên đám đông, Hegel
muốn chỉ ra “tác phẩm nghệ thuật sinh động mà vẻ đẹp gia bội khí lực và như để
góp phần tưởng thưởng sức mạnh ấy là trang sức thường dành để vinh danh tượng
cũng như danh dự, thay vì là tượng đá, ở đây là biểu tượng tối cao nhất
thuộc về thân thể cho bản chất của cả dân tộc” [ein beseeltes lebendiges
Kunstwerk, das mit seiner Schönheit die Stärke paart und dem der Schmuck, womit
die Bildsäule geehrt wurde, als Preis seiner Kraft, und die Ehre unter seinem
Volke, statt des steinernen Gottes, die höchste leibliche Darstellung ihres
Wesens zu sein, zu Teil wird]. Sdt.
[50] Der bacchischen Begeisterung und der schönen Körperlichkeit.
[51] Kojève viết: Passage de la Religion artistique proprement dite à la
Religion littéraire. Trong Hiện tượng luận tinh thần, Hegel không
dùng hai từ ngữ này.
[52] “Le Monde littéraire païen” – cách gọi của Kojève, không phải của Hegel.
Đây là quan điểm độc đáo của Kojève, và chúng ta biết ông đã viết bộ lịch sử lấy
tên là Essai d’une histoire raisonnée de la philosophie païenne và
xác định là một phần của dự án viết Hệ thống tri thức/Système du Savoir theo
minh triết của Hegel. Bộ lịch sử này khoanh vùng giai đoạn triết học từ thời tiền-Socrate,
qua Platon và Aristote đến triết học hy lạp chấm dứt ở Proclus.
[53] “Der Sänger ist der Einzelne und Wirkliche, aus dem als Subjekt dieser
Welt sie erzeugt und getragen wird. [Nhà thơ là thể đơn nhất và thực kỳ thành,
là chủ thể của thế giới đã sáng tạo và cưu mang nó]. Sdt.
[54] Trong phần c. Das geistige Kinstwerk, Hegel viết: Das Dasein dieser
Vorstellung, die Sprache, ist die erste Sprache, das Epos als solches, das den
allgemeinen Inhalt, wenigstens als Vollständigkeit der Welt, ob zwar nicht als
Allgemeinheit des Gedankens enthält.[Hiện thể của biểu tượng này, ngôn ngữ, là
ngôn ngữ sơ khởi, sử thi như vậy, chứa đựng nội dung phổ quát, ít ra như thể sự
toàn nhất của thế giới, ngay cả nếu như nó không toàn nhất như thể phổ quát của
tư tưởng]. Sdt.Hyppolite chú giải: trong những Bài giảng về Mỹ học về
mặt ngữ nguyên của từ ngữ, Hegel quan niệm thơ như một phương thức biểu hiện
nghệ thuật có trước văn xuôi.
[55] Trong Hiện tượng luận tinh thần, như Kojève chú ý đến trong ba giai
đoạn biện chứng, Hài kịch hoàn tất/kết thúc Nghệ thuật như thể Tôn giáo cũng
như Tôn giáo nghệ thuật biến đi. Vị thế Hài kịch quan trọng như thế ắt cũng là
lý do Umberto Eco hư cấu ra tiểu thuyết Tên của hoa hồng/Il nome della
rosa về kịch biến xẩy ra trong một nhà Dòng, giết người để đi tìm văn bản
Hài kịch bị thất tung trong bộ kinh điển Sáng tạo luận/Περι Ποιητικής của
Aristote; ngày nay vẫn có học giả sưu tập những chứng cớ nhằm tái lập đoạn văn
này.
Khác biệt giữa Hiện tượng luận tinh thần và Những bài giảng Mỹ học ở
chỗ trong lý luận Mỹ học của Những bài giảng, Hegel chú ý đến ba
thành tố biện chứng Bi kịch, Hài kịch và Hý kịch/Drama; thế giới của hài kịch
là lãnh địa con người, vốn là con người tự do hoàn toàn làm chủ cái hình thành
nội dung cơ bản trong tư duy và hành động của mình, một thế giới mà những mục
tiêu tự hủy vì thiếu một nền tảng vững chắc và chân thực. [Der allgemeine Boden
für die Komödie ist daher eine Welt, in welcher sich der Mensch als Subjekt zum
vollständigen Meister alles dessen gemacht hat, was ihm sonst als der
wesentliche Gehalt seines Wissens und Vollbringens gilt, eine Welt, deren
Zwecke sich deshalb durch ihre eigene Wesenlosigkeit zerstören]. Vorlesungen
über die Ästhetik.
[56] “das Selbst ist das absolute Wesen”.
[57] Nguyên văn trong Hiện tượng luận tinh thần: Fragen wir darnach,
welches der wirkliches Geist ist, der in der Kunstreligion das Bewußtseins
seines absoluten Wesens hat, so ergibt sich, daß es der sittliche oder der
wahre Geist ist. [Hyppolite dịch “die Kunstreligion” là “la Religion
esthétique”].
[58] Lukács, Die Zerstörung der Vernunft 1954.
[59] Lukács, Hegels Ästhetik in trong Probleme der Ästhetik,
1953 và Die Eigenart des Ästhetischen, 1963. Trong Mỹ học Hegel,
Lukács viết: Cho nên Marx, Engels, Lenin và Stalin đã sáng tạo ra cơ sở nguyên
tắc cho Phê bình theo chủ nghĩa duy vật Mỹ học Hegel, khả dĩ có thể sáp nhập nó
để kế thữa có phê phán và phân biệt cũng như đánh giá trong công trình của
chúng ta [So haben Marx, Engels, Lenin und Stalin die prinzipiellen Grundlagen
für die materialistische Kritik der Hegelschen Ästhetik geschaffen, haben es
ermöglicht, sie uns als ein kritisch zu sichtendes Erbe anzueignen und in
unserer Arbeit auzuwerten]. Trong chương XVI về đấu tranh giải phóng nghệ
thuật của Tính đặc thù nghệ thuật, Lukács dẫn hai đoạn trong Hiện tượng
luận tinh thần của Hegel: “Dieses Schicksal vollendet die Entvölkerung des
Himmels…” và “Die Komödie hat also vorerst die Seite…”về bi kịch và hài kịch và
đánh giá Hegel đã nhận ra kết quả vô tôn giáo của bi kịch [er schreibt in der
“Phänomenologie des Geistes” über die irreligiögen Ergebnisse der Tragödie]
cũng như nhìn rõ hướng của hài kịch [Noch deutlicher ist diese Richtung nach
Hegel in der Komödie zu sehen], gần với lý giải của Kojève nói ở trên.
[60] Nhan đề quyển sách Pourquoi nous ne sommes pas nietzschéens? 1991, tập
thể viết gồm Alain Boyer, André Comte-Sponville, Vincent Descombes, Luc Ferry,
Robert Legros, Philippe Raynaud, Alain Renaut, Pierre-André Taguieff. Ngay từ lời
tựa, Luc Ferry và Alain Renaut đã viết: Nghĩ cùng Nietzsche để chống lại
Nietzsche…Đối với phần lớn sinh viên của thế hệ chúng tôi – cái thế hệ khởi sự
học tập trong những năm sáu mươi – lý tưởng của thời Khai sáng chỉ có thể là một
trò lố bịch, một thần bí hóa đen tối. Ít ra đó là những điều người ta dạy chúng
tôi. Những vị thầy tư tưởng của thời đại mang tên Foucault, Deleuze, Derrida,
Althusser, Lacan. Merleau-Ponty, nhà nhân bản mang bộ mặt lão ông râu ria và
Sartre đã không còn được đại đa số trong chúng tôi đọc nữa. Từ con phố
Ulm [để chỉ trường Cao đẳng Sư phạm nổi tiếng] đến Học viện Pháp quốc [Collège
de France] chúng tôi khai phá những triết gia của nghi hoặc: Marx, Freud,
Heidegger, đích thực như thế rồi, song trước hết phải kể là Nietzsche, người
bày đầu ra cái ‘phổ hệ” này mà vì cái đó coi mọi diễn ngôn như những triệu chứng.
[61] Thế hệ những triết gia sinh chung quanh thập niên sáu mươi, Descombes sinh
năm 1943, Ferry sinh năm 1951, Alain Renaut sinh năm 1948, André
Comte-Sponville sinh năm 1952, Alain Boyer sinh năm 1954, .
[62] Hegel dẫn nguyên văn Pascal: la nature est telle qu’elle marque partout un
Dieu perdu et dans l’homme et hors de l’homme [trong Pensées, 441 bản
biên tập của L. Brunschvig].
[63] Gott ist tot: aber so wie Art der Menschen ist, wird es vielleicht noch
jahrtausendelang Höhlen geben, in denen man seinen Schatten zeigt. – Und wir –
wir müssen auch noch seinen Schatten besiegen! Sdt.
[64] “habt ihr nicht von jenem tollen Menschen gehört, der am hellen Vormittage
eine Laterne anzündete, auf den Markt lief und unaufhörlich schrie: Ich suche
Gott! Ich suche Gott!...Gott ist tot!” Sdt.
Xem: Anh có nghe nói về người điên đốt đèn giữa ban ngày, vừa chạy giữa đám
công chúng vừa kêu lên: “Tôi tìm Thượng đế! Tôi tìm Thượng đế!”…Người điên nhẩy
chồm lên giữa đám đông và nhìn trân trối mọi người, hắn la to: Thượng đế đi đâu
rồi? Tôi nói cho các người hay đây. Chúng ta giết ngài rồi, các người và tôi!
Chính chúng ta, tất cả chúng ta, đều là những kẻ sát nhân! Nhưng làm sao chúng
ta làm nổi việc đó? Làm sao chúng ta có thể tát cạn bể khơi? Ai cho chúng ta một
miếng bọt biển để xóa sạch tất cả chân trời? Chúng ta làm gì khi đã cởi bỏ sợi
dây xích nối liền trái đất này với mặt trời? Bây giờ sợi dây xích đó đi đâu rồi?
Cả chúng ta đây, chúng ta đi đâu? Đi xa mọi mặt trời? Chúng ta chẳng rơi xuống
lien hồi sao? tới trước, tới sau, sang bên, mọi phía? Còn một trên đầu, một dưới
chân nữa? Chúng ta chẳng đi lang thang như qua hư không vô hạn ư? Chúng ta chẳng
thấy hơi thở của sự trống trải phà trên mặt chúng ta ư? Chẳng lạnh hơn trước ư?
Đêm và bao đêm nữa chẳng kéo đến lũ lượt không ngừng đó ư? Thế chẳng lẽ lại
không nên thắp đèn lồng ngay từ sáng sớm ư? Chúng ta chưa nghe rõ tiếng động của
bọn phu đào huyệt chôn Thượng đế sao? Chúng ta chưa cảm thấy sự tan rã thần
thánh đó sao?…Các thần linh thì cũng phải tan rã chứ! Thượng đế chết rồi! Thượng
đế vẫn còn chết! Và chính chúng ta giết ngài! (bản dịch của Nguyễn Nhật Duật,
in trong Ca ngợi triết học 1970).
[65] (Gott) ist gründlich tot (dẫn từ đoạn cuố`I phần bốn, thiên Außer
Dienst trong Also sprach Zarathustra).
[66] Heidegger, Nietzsches Wort “Gott ist tot” in trong Holzwege
1952.
[67] Deleuze, Nietzsche et la philosophie 1962.
[68] Bernard Sève, La question philosophique de l’existence de Dieu, 1994 [69]
Nietzsche, Die
Geburt der Tragödie 1871.
[69] Nietzsche, Die Geburt der Tragödie 1871.
[70] Nietzsche, Die Philosophie im tragischen Zeitalter der Griechen (trong
toàn tập số X, Geneviève Bianquis dịch bản văn này sang tiếng Pháp La
naissance de la philosophie à l’époque de la tragédie grecque 1938; đoạn dẫn
trên như sau: Pour voir ainsi le monde, il faut être esthéticien et avoir
observé chez l’artiste et dans la genèse de l’œuvre d’art comment le conflit de
la pluralité peut porter en soi une loi et un droit, comment l’artiste se place
au-dessus de son œuvre quand il médite, mais dans son œuvre quand il travaille,
comment la nécessité et le jeu, le conflit et l’harmonie se marient
nécessairement pour engendrer l’œuvre d’art). Trong lời Tựa bản tiếng Pháp,
Geneviève Bianquis viết: Quyển sách này [như đối vật của Khởi nguyên của
bi kịch] được phác thảo nhiều lần, dưới những nhan đề khác nhau và trên những dự
án khác nhau, không bao giờ được thực hiện. Song chúng ta có những đoạn quan trọng
của nó.
Lối viết phân đoạn của Nietzsche, với nhiều nhà lý giải là một vấn đề, mà chính
ông cũng quan tâm về tính tản mạn song qua những thư từ, như G. Morel dẫn chứng
trong Nietzsche, Introduction à une première lecture 1985, ông vẫn tin
không làm gián đoạn mạch lạc tư tưởng. Maurice Blanchot trong phần luận về
Nietzsche và lối viết phân đoạn (Nietzsche et l’écriture fragmentaire
trong L’Entretien infini 1969) nhận xét có hai ngôn từ ở Niezsche, một thuộc
về diễn ngôn triết lý, những nhà thích nghĩa ông tái lập nó. Ngôn từ phân đoạn,
như Blanchot biện minh, không cần biết đến đầy đủ, mâu thuẫn: Ngôn từ phân đoạn
không ngại những mâu thuẫn, ngay cả khi nó kháng biện (La parole de fragment
ignore les contradictions, même lorsqu’elle contredit).
Hình thành những sách không phải do Nietzsche thực hiện (điển hình như Ý
chí tới quyền năng, Triết học ở thời đại bi kịch hy lạp v.v…) qua những
phân đoạn tản mạn trong bản nháp có thể giải thích tại sao những người lý giải
ông, vẫn bằng lòng với lối văn tự đó.
[71] Nietzsche, Unzeitgemäße Betrachtungen/Những suy niệm phi hiện tại
1874.
[72] Nietzsche, Götzen-Dämmerung/Vãn kỳ của những ngẫu tượng 1889.
[73] Trong Khởi nguyên của bi kịch, Nietzsche đã nhiều lần dẫn Faust trong
tác phẩm bất hủ của Goethe, như ở tiết đoạn 9 để nói về thần Prometheus
trong kịch của Äschylus chính là một mặt nạ của Dionysus/eine dionysische
Maske, chứng tỏ có điểm chung giữa cái thuộc về Prometheus và Dionysus/das
Gemeinsame zwischen dem Prometheischen und dem Dionysischen:
“Alles Vorhandene ist gerecht und ungerecht und in beidem gleichberechtigt.
Das ist deine Welt! Das heißt eine Welt!” [Goethe, Faust]
(Tất cả những gì tồn tại, hiện hữu đều đúng và không
đúng (công bằng và bất công) và được chứng thực cả đôi bên
Đó là thế giới của ngươi! Một thế giới là như thế đó!)
Như một công thức khái niệm về bản tính của Prometheus bao
hàm cả bản tính của Apollo và Dionysus.
[74] “Dionysus war bereits von der tragischen Bühne verscheucht und zwar durch
eine aus Euripides reddened dämonische Macht. Auch Euripides war in gewissem
Sinne nur Maske: die Gottheit, die aus ihm redete, war nicht Dionysus, aus
nicht Apollo, sondern ein ganz neugeborner Dämon, genannt Sokrates. Dies
ist der neue Gegensatz: das Dionysische und das Sokratische, und das Kunstwerk
der griechischen Tragödie ging an ihm zugrunde.” Sdt.
[75] Hai triết gia này đã viết chung với nhau nhiều tác phẩm: Philosophie
politiques III 1985, Système et critiques 1985, La Pensée 68 1985, 68-86.
Itinéraires de l’individu 1987, Heidegger et les Modernes 1988.
[76] “En un certain sens, qui reste à préciser, le “moment nietzschéen”
entretient avec la négation dialectique, platonico-hégélienne de l’art, une
relation analogue (ce qui ne signifie pas identique) à celle que le
“moment kantien” entretient avec le rationalism classique: même si les voies
empruntées sont, ici et là, fort différentes, il s’agit, dans les deux cas, de
conquérir ou de reconquérir l’autonomie de la sensibilité – par rapport au
“concept” chez Kant, à la “volonté de vérité” dialectique chez Nietzsche – et
d’ouvrir ainsi l’espace nécessaire à l’existence même de l’esthétique. Luc
Ferry, Homo Aestheticus.
[77] Alexander Gottlieb Baumgarten [Aesthetica 1750-58] “begründete die
Ästhetik als selbständige Wissenschaft”, Philosophisches Wörterbuch,
Heinrich Schmidt, G. Schischkoff.
[78] Tương đồng lý trí/analogon rationalis, nghĩa là những quan năng thứ yếu
theo Baumgarten bao gồm: quan năng nhận thức cái gì đồng nhất giữa các sự vật,
khu biệt giữa các sự vật, ký ức nhậy cảm, quan năng thi ca/facultas figendi,
quan năng lượng giá/facultas dijudicandi, kỳ vọng vào những trường hợp tương tự,
quan năng khả giác chỉ định/facultas characteristica sensitiva. Những quan năng
thứ yếu này có chung điểm là nắm bắt được những tương quan giữa mọi sự vật của
thế giới khả giác, cho nên cấu thành tương đồng lý trí, vì theo gương lý trí,
chúng hoạt động nhằm sản xuất ra khách thể tính khi liên kết những biểu tượng
giữa chúng. Cái đẹp hiểu theo Baumgarten được xác định như mối liên lạc cảm
giác những biểu tượng.
[79] Biện giải là thiên đối thoại bênh vực Socrate (Verteidigung des
Sokrates).
[80] [so werden wir jetzt dem] Wesen des ästhetischen Sokratismus schon
nähertreten dürfen, dessen oberstes Gesetz ungefähr so lautet: “alles muß
verständig sein, um schön zu sein”, als Parallelsatz zu dem sokratischen “nur
der Wissende ist tugendhaft”. Sdt.
[81] Trong Ecce Homo [như một tự truyện của Nietzsche], ông viết:
Dergestalt hat sich Plato des Sokrates bedient, al seiner Semiotik für Plato
(cũng cung cách như vậy, Platon sử dụng Socrate như thể chứng tích cho Platon).
[82] Heidegger, Nietzsche 1961 gồm những bài giảng trong những năm học kỳ
từ 1936 đến 1940 tại Freiburg im Brisgau và những nghị luận khai triển trong những
năm 1940 đến 1946. Bản dịch sang Pháp ngữ của Pierre Klossowski năm 1971.
[83] Ý chí tới quyền năng (Về việc dịch cụm từ này cũng như lý giải
của Heidegger, có thể tham khảo bài Những tồn tại của phê bình quyền năng
phán xét/mỹ/nghệ in lại trong ĐPQ, Hành trạng tư tưởng giữa hai thế kỷ
2002) Những bài giảng về Nietzsche của Heidegger trong những năm 1936-1940, trước
khi có công trình của Karl Schlechta (Werke in 3 Bdn. 1960 và Nietzsche-Index
zu den Werken in drei Bänden 1965) đã đặt vấn đề ngờ vực bộ sách lớn nói trên
là tác phẩm ngụy tạo của em gái Nietzsche (Elizabeth Förster-Nietzsche) và những
người cộng tác gom góp di cảo của Nietszche dựng lên. Nhiều nhà nghiên cứu
Nietzsche về sau thường tham chiếu Toàn tập có phê phán (Werke.
Kritische Gesamtausgabe 1967) do Giorgio Colli và Mazzino Montinari biên tập.
Thực tế, những nhà triết học như Karl Jaspers, Heidegger đọc và luận Nietzsche
theo quan điểm của họ, đôi khi khiên cưỡng, nên bản văn không đặt thành vấn đề.
[84] Gianni Vattimo, Dialogo con Nietzsche 2000, bản dịch sang Anh ngữ của
William McCuaig, Dialogue with Nietzsche 2006.Vattimo giải thích tuyển
tập tiểu luận mang nhan đề “đối thoại” lấy cảm hứng từ bắt chước nhan đề Jean
Beaufret đã dùng cho bộ bốn tập Dialogue avec Heidegger, mà theo Vattimo
là từ thích đáng nhất cho công trình của ông đã làm từ những năm 1960s về tác
phẩm của Nietzsche.
Vattimo đã viết hai quyển sách khác về Nietzsche: Il soggetto e la
maschera. Nietzsche e il problema della liberazione/Chủ thể và mặt nạ.
Nietzsche và vấn đề giải phóng 1974; Introduzione a Nietzsche/ dẫn nhập vào
Nietzsche 1985.
[85] “So wäre wirklich das schwierige Verhältnis das Apollonischen und des Dionysischen
in der Tragödie durch einen Bruderbund beider Gottheiten zu
symbolisieren: Dionysus redet die Sprache des Apollo, Apollo aber schließlich
die Sprache des Dionysus: womit das höchste Ziel der Tragödie und der Kunst
überhaupt erreicht ist”. Die Geburt der Tragödie aus dem Geiste der
Musik, §21.
[86] “L’art [n’est en effet, rien d’autre que] la volonté de l’apparence en
tant que le sensible. Heidegger, Nietzsche I, bản dịch của Pierre
Klossowski 1961. Đoạn trong móc […] là của Ferry.
[87] Heidegger trong những giáo trình về Nietzsche, đặc biệt là lý giải về Tiện
và những bất tiện của lịch sử đối với đời sống/Vom Nutzen und Nachteil der
Historie für das Leben trong Zur Auslegung von Nietzsches II.
Unzeitgemäßer Betrachtung/Lý giải về Suy niệm phi hiện tại, phần II của
Nietzsche, phân tích vấn đề đời sống trong tác phẩm này.
[88] Tác phẩmcủa Nietzsche/Nietzsches Werke (Großoktavausgabe), 1922.
[89] “jener Athener-Glaube, der in der Epoche des Perikles zuerst bemerkt wird,
jener Amerikaner-Glaube von heute, der immer mehr auch zeugt ist, ungefähr
alles zu können, ungefähr jeder Rolle gewachten zu sein, wo jeder mit sich
versucht, improvisiert, neu versucht, mit Lust versucht, wo alle Natur aufhört
und Kunst wird”. Die fröhliche Wissenschaft, § 356.
[90] Chez Nietzsche, nous les artistes = nous les chercheurs de connaissance ou
de vérité = nous les inventeurs de nouvelles possibilités de vie. Gilles
Deleuze, Nietzsche et la philosophie, 1983.
[91] Trong Francis Bacon, Những cuộc mạn đàm với Michel
Archimbaud/Entretiens avec M. Archimbaud
1992, Archimbaud hỏi: ông không nghĩ là những bức tranh của
ông có thể gợi lên vũ trụ của Beckett, và người ta có thể thiết lập những tương
ứng trong bầu không khí chung giữa họa phẩm của ông và tác phẩm của Beckett,
Francis Bacon trả lời là khá ngạc nhiên về sự tương cận này. Didier Anzieu
chính là người nêu ra những tương cận giữa Beckett và Bacon trong tác phẩm viết
về Beckett.
[92] La peinture n’a ni modèle à représenter, ni histoire à raconter. G.
Deleuze, Francis Bacon. Logique de la sensation 1981.
[93] Trường phái Pra-ha xuất hiện vào thập niên 30s của thế kỷ XX, có quan hệ mật
thiết và tiếp nối trường phái hình thái luận Nga.
Dựa trên cơ sở âm vị học, Mukařovský phân chia công trình nghệ thuật như dấu hiệu
gồm hình thái có thể tri giác được, signans mà nhà nghệ thuật sáng tạo
ra, ý nghĩa tiếp thu đuợc, signatum và quan hệ thuộc loại gián tiếp với
ngữ cảnh xã hội do đặc tính lưỡng phân của dấu hiệu tạo cho, designatum..
Ông quan niệm nếu không nhận thức được bản tính ký hiệu của nghệ thuật với cấu
trúc vĩnh viễn gắn bó giữa signans và signatum, tất sẽ mất ý nghĩa.
[94] Bài viết Świat sztuk i świat znaków/Thế giới nghệ thuật và thế giới dấu
hiệu của Wallis trong tập san Estetyka 1961, bản tham luận tóm lược
in trong Proceedings of the Fourth International Congress on Aesthetics
1960.
[95] Tôi sẽ thảo luận việc này trong chương 8 luận về ký hiệu học và chương 9
luận về những thông số văn học sau.
[96] Trong triết học, khu biệt giữa dấu hiệu [tiếng Anh (A): sign, tiếng Pháp
(P); signe, tiếng Đức (Đ): Zeichen] với ký hiệu/biểu trưng [symbol (A)/symbole
(P)/symbol (Đ)] dường như khá thống nhất, dấu hiệu để chỉ đối tượng vật chất,
hình tượng hay âm thanh thay cho một vật không có đó hoặc không thể tri giác,
như luận lý cổ điển, luận lý khắc kỷ quan niệm còn biểu trưng như H. Delacroix
xác định luôn luôn mang ý niệm về một tương quan loại suy tự nhiên, không có tính
ước lệ (correspondence analogique naturelle et non conventionnelle) giữa hình
thái cụ thể và vật mà nó biểu hiệu, tượng trưng; L. Brunschvicg quan niệm
biểu trưng đối lập với dấu hiệu vì có một quyền lực nội tại của biểu tượng, ví
dụ con rắn cắn đuôi của nó biểu trưng cho vĩnh cửu.
Trong toán học, dấu + chỉ sự thêm vào, dấu ∞ chỉ vô cực; những ký hiệu √, δπ.δq
≥ h/2π v.v.., như Ribot phát biểu “một tờ giấy không đáng một xu có thể trở
thành biểu trưng cho hàng triệu”.
[97] Taine, Philosophie de l’art 1865/69.
[98] “l’acte pur des métamorphoses”.
[99] Kandinsky, Über das Geistige in der Kunst, insbesondere in der
Malerei 1912.
[100] “Si, entre la vision de l’artiste et celle du non-artiste, la différence
n’est pas d’intensité mais de nature, c’est que la seconde est ordonnée par des
actions, alors que même pour le peintre le plus misésable, le monde est encore
tableaux…De même qu’un musicien aime la musique et non les rossignols, un poète
les vers et non les couchers de soleil, un peintre n’est pas d’abord un home
qui aime les figures et les paysages; c’est d’abord un home qui aime les
tableaux”.
Malraux, Les Voix du silence 1951.
[101] Xem: Analytic Aesthetics, Richard Shusterman biên tập và xuất bản
1989.
[102] J.-Cl. Piguet, De l’Esthétique à la Métaphysique
1959 nói đến nan đề của siêu hình học, và không thể bỏ qua những mô hình,
không phải là một sự vật hay một diễn ngôn mà là dây liên hệ từ cái nọ với cái
kia, nghĩa là một diễn ngôn trên một số sự vật. Piguet liệt kê những mô hình của
siêu hình học như khoa học (tuy nhiên, ngày nay không còn như thế nữa, vì
đối tượng của khoa học ngày càng trở nên phi thực, nhà triết học ở thế kỷ 17 có
thể hiểu những từ vựng như lực, không gian, nguyên tử mà nhà khoa học dùng,
song tính đặc thù của khoa học đã trở thành giới tuyến ngăn cách khoa học với
triết học; nếu đến thế kỷ 19 còn những chủ nghĩa thực chứng triết lý, ngày nay,
thực chứng luận thuộc về khoa học), mỹ học và nghệ thuật theo giòng lịch
sử cua nó nhằm trở thành mô hình của một bộ môn siêu hình học. Theo
Piguet, có thể nói mỹ học ở thế kỷ 20 trở thành phương sách thực của siêu hình
học tương lai.
[103] Piguet nhận xét yêu cầu đó đã được Nicolai Hartmann xác định như thể tri
giác cái không thể tri giác nhằm trả lời vấn đề “làm thế nào cái không thể tri
giác có thể là là cái thực trong tri giác/Wie kann das Nichtwahrnehmbare in der
Wahrnehmung das Eigentliche sein?” trong Ästhetik 1953.
[104] G. Genette, L’œuvre de l’art, La relation esthétique, tập 2 1997.
[105] Beauty is in the eye of the beholder.
[106] Ở mở đầu mỗi phần về chú tâm, lường giá và chức năng mỹ học, Genette đều
đưa ra một trích dẫn làm đề từ:
1/ Người ta kể lại rằng họa sĩ Courbet một hôm đang họa phong cảnh, thình lình
nhận ra là trong khoảnh khắc vừa qua ông vẽ một vật ở tận đằng xa mà không biết
là cái gì. Ông nhờ người đến tận nơi để xem vật đó là gì. Người trợ tá trở về
nói: Đó là những bó củi. Courbet như vậy đã vẽ một vật “không nhận dạng”, và điều
đó cũng không gây trở ngại gì đặc biệt, vì, như một họa sĩ, ông không bận tâm đến
lý lịch (“Cái này là cái gì?”) và cũng không bận tâm đến chức năng (“Vật
này dùng làm gì?”) của đối tượng, nhưng chỉ chú ý đến ngoại diện thị giác, đến
bộ diện của nó – hình thế và màu sắc: “Nó ra làm sao?”. [Doran, Conversations
avec Cézanne 1978].
2/ Sancho [nhân vật người hầu trong Don Quichotte của Cervantès] kể,
tôi có lý do chính đáng để phán đoán được mọi thứ rượu chát: đó là phẩm chất di
truyền trong gia tộc tôi. Có hai người trong bà con họ nhà tôi một hôm được mời
đi để có ý kiến về một thùng rượu, có vẻ tuyệt hảo vì thuộc loại nho tốt lâu đời.
Một người nếm rượu , sau khi trầm ngâm nghĩ ngơi cất lời phán là rượu tốt nếu
như không có chút mùi da thuộc ông ta nhận ra trong rượu. Người kia sau khi nếm
rượu cũng đã có những suy nghĩ thận trọng, cũng đưa ra lời phán xét tốt về rượu,
ngoại trừ có mùi sắt mà ông ta phân biệt dễ dàng. Quý ngài không thể tưởng tượng
họ bị chế nhạo tới dộ nào về những lời phán của họ. Nhưng rốt cuộc ai cười ai?
Khi thùng đã cạn, người ta thấy ở đáy thùng có một chiếc chìa khóa cũ, cột
vào một giải dây da thuộc. [Genette dẫn đoạn này qua bản tóm lược ở tiểu luận
“De la norme du goût” của David Hume, bản dịch sang Pháp ngữ trong Essais
esthétiques, 1974].
3/ Tiếng hót của chim mang lại niềm vui và yêu đời. Ít ra đó cũng là điều chúng
ta lý giải tự nhiên, dầu lý giải của chúng ta có phù hợp hay không với những định
ý của nó. Nhưng mối quan tâm ở đây về vẻ đẹp đòi hỏi một cách tuyệt đối là về một
vẻ đẹp của tự nhiên, và hoàn toàn biến đi khi người ta nhận ra đã lầm, và chỉ về
nghệ thuật; về mặt nhã thức thú vị không thấy gì là đẹp và nhãn quan không thấy
gì là hấp dẫn. Còn gì đáng giá hơn cho những thi sĩ bằng tiếng chiên âm thánh
thót của chim oanh, phóng lên từ một cụm cây cô độc, trong một chiều hạ êm đềm,
dưới ánh trăng thanh dịu hiền? Song người ta cũng biết nhiều ví dụ về điều, khi
người ta không thấy một tiếng ca như vậy, vì một vài chủ nhân ma mãnh biết đánh
lừa, để làm thỏa mãn cực kỳ những khách quý được mời đến nhà hưởng không
khí của đồng quê, bằng cách cho một thiếu niên tinh ranh ẩn trong bụi có thể
nhái giọng những chiên âm này một cách hoàn toàn tự nhiên (thổi trong một bụi
mây hay bụi sậy). Nhưng khi người ta đã tin vào những trò phỉnh gạt này, không
ai chịu nổi lâu nũa khi nghe tiếng hót trước đây quyến rũ biết bao nhiêu
nữa; điều này cũng áp dụng cho mọi giọng chim hót khác. Để người ta có được mối
chú tâm trực tiếp với cái gì là đẹp như vậy, vẻ đẹp này phải tự nhiên, hay hiện
ra trước mắt ta; huống hồ là khi ta cho phép ngờ là những người khác cũng quan
tâm đến nó. [Genette dẫn bản Pháp ngữ Critique de la faculté de juger 1989 của
Kant].
[107] G. Genette, L’Œuvre de l’art, t. 1: Immanence et Transcendance 1994;
t. 2: la Relation esthétique 1997 (Tác phẩm nghệ thuật, tập 1: Nội tại và Siêu
việt 1994; tập 2: Quan hệ mỹ học 1997).
[108] “I believe that a work of art can most usefully be considered as an
artifact primarily intended for aesthetic consideration” J.O. Urmson, “What
Makes a Situation Aesthetic?” trong Proceedings of the Aristotelian
Society 1957.
[109] Nguyên văn định nghĩa trong Kritik der Urteilskraft: “Schönheit ist
Form der Zweckmäßigkeit eines Gegenstanden, sofern sie ohne Vorstellung eines
Zwecks an ihm wahrgenommmen wird.”
Trong chú thích dẫn trên, từ Kunstwerk tiếng Đức Kant dùng ở đây hiểu
theo nghĩa “đồ tạo tác/Artefact” con người làm ra, chưa có ý nghĩa “tác phẩm
nghệ thuật/œuvre d’art” (theo Genette).
[110] Gérard Genette còn biên tập và xuất bản những bài viết dịch sang Pháp ngữ Esthétique
et Poétique 1992.
Trích trong chương II “Đường vào văn chương” xuất bản vào tháng 8 năm 2012.
24/9/2012 Đặng Phùng Quân
24/9/2012
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét