Thứ Ba, 26 tháng 7, 2022

XXXXNhận diện khái niệm phim truyện - Tìm hiểu nghệ thuật phim truyện

Nhận diện khái niệm phim truyện
Tìm hiểu nghệ thuật phim truyện

Phim truyện - một thuật ngữ tưởng chừng như dễ hiểu, hiển nhiên về ngữ nghĩa, song nếu xét cho kỹ ở góc độ học thuật, hẳn có nhiều gợi mở những thức nhận bổ ích.
 
Trước hết chúng ta thử tìm về ngọn nguồn của khái niệm này.
 
Phim truyện - theo như cách gọi trong điện ảnh hiện nay là khái niệm được ghép bởi hai từ Phim  và Truyện.
 
Từ Phim: chỉ điện ảnh-loại hình nghệ thuật thứ 7-mang ý nghĩa cụ thể cũng tựa như tên gọi của một vật thể bất kỳ nào đó.
Từ Truyện với ý nghĩa trừu tượng, khái quát vốn có nguồn gốc văn học, dùng để nói về những sáng tác (viết hoặc truyền miệng) ít nhiều được hư cấu thành một câu chuyện có đầu có cuối.
 
Như vậy ở nước ta hai chữ Phim và Truyện với ý nghĩa hoàn toàn khác nhau được ghép vào nhau nhằm nêu tên loại hình phim có hư cấu, có các diễn viên diễn xuất nhằm phân biệt với loại hình phim tài liệu hoặc hoạt hình.
 
Thật khó mà biết được chính xác, ở Việt Nam khi nào thuật ngữ Phim truyện được sử dụng. Qua một số tư liệu là các bài báo cũ (1) có thể nói một cách gần đúng rằng trước năm 1945 người Việt Nam đi xem phim thường gọi là đi xem chớp bóng hoặc chiếu bóng. Phim truyện có khi được gọi là phim có đóng trò hoặc vở phim, kịch bản được gọi là truyện phim, biên kịch được gọi là người viết truyện phim, đạo diễn được gọi là nhà dàn cảnh, diễn viên cũng được gọi là minh tinh hay tài tử... Những danh từ thường được gọi nói trên thường ít nhiều cho chúng ta thấy rằng trong mỗi thời kỳ cách định danh một sự vật có khác nhau và những khác nhau ấy ít nhiều có phản ánh và ảnh hưởng đến sự phát triển của một chuyên ngành.
 
Đối với khái niệm Phim truyện nước ta (dù được du nhập từ Âu-Mỹ), có lẽ nó được dựng phổ biến vào thời kỳ muộn từ sau những năm 1940 trở đi. Trước đó, người Việt Nam cũng đã làm một số phim truyện như Trận phong ba, Cánh đồng ma, Một chiều trên sông Cửu Long... song hầu như không gây được tiếng vang trong thưởng thức và không tạo ra được phong trào làm phim truyện.
 
Những năm 50 thế kỷ XX trong vùng tạm chiếm ở cả hai miền có một số nghệ sĩ tự bỏ vốn hoặc được các chủ hãng mời làm phim truyện như gia đình nghệ sĩ Kim Chung, nghệ sĩ Phan Toại, Hãng phim Alpha ở Sài Gòn... Họ đã có một số thành công nhỏ trong việc tạo ra những bộ phim truyện đích thực, hoàn toàn do người Việt Nam sản xuất như những phim Kiếp hoa, Bến cũ...
 
Trong thời gian từ 1947 ở các chiến khu, điện ảnh cách mạng ra đời và chủ yếu làm phim tài liệu.
 
Đến năm 1959 bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh chế độ mới là Chung một dòng sông ra đời. Cùng năm, trường điện ảnh Việt Nam được thành lập và chiêu sinh khóa đạo diễn, diễn viên cho phim truyện đầu tiên. Cũng từ cuối những năm 50 đầu những năm 60 thế kỷ XX trở đi phim truyện của các nước XHCN cũ được chiếu nhiều trên màn ảnh miền Bắc. Những sự kiện kể trên có thể cho chúng ta thấy dần dần khái niệm phim truyện đó đi vào ngôn từ và văn bản chính thức của điện ảnh Việt Nam. Từ đầu những năm 60 thế kỷ XX trở đi khái niệm này trở nên phổ biến cả trong thưởng thức, báo chí, phê bình cũng như sản xuất phim.
 
Tuy nhiên, dù được sử dụng sớm hay muộn, khái niệm Phim truyện chỉ là danh từ được Việt Nam hóa của một số loại hình phim trên thế giới mà chúng ta cũng nên tìm hiểu nguồn gốc của nó.
 
Trong điện ảnh Âu-Mỹ, phim truyện có ba cách gọi theo ngữ nghĩa tiếng Anh:
- Feature Film: Chỉ loại phim dài giữ tiết mục chính yếu trong chương trình chiếu phim.
- Fiction Film: Chỉ loại phim tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật.
- Story Film: Phim truyện.
 
Trong ba khái niệm trên, thuật ngữ Fiction Film thường được dựng phổ biến hơn vì nó chỉ là thực chất nghĩa đen của khái niệm. Thuật ngữ Feature Film cũng chứa đựng cả loại phim tài liệu dài, thuật ngữ Story Film ít được dùng hơn.
 
Chúng ta có một đối chiếu:
Theo ngữ nghĩa tiếng Pháp:
Feature Film - tương đương với: Film de Long Mộttrage (phim dài).
Story Film và Fiction Film - tương đương với Film de Fiction (phim hư cấu).
 
Một vài đối sánh ngắn ở trên cũng đủ để chúng ta nói rằng khái niệm Phim truyện ở nước ta cũng đã nêu lên được khá đầy đủ thực chất ngữ nghĩa ngắn gọn của loại phim có tưởng tượng, hư cấu, có tính chất kể chuyện. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy được, từ Truyện dù bao hàm gần đủ ngữ nghĩa khái niệm vẫn chưa bao quát hết đặc điểm của loại phim này - đó là tính chất hư cấu, tưởng tượng vốn mang nghĩa rộng hơn tính chất kể chuyện. Như vậy thực chất phim truyện là loại phim chứa đựng đặc trưng kể chuyện (vốn có cả những chuyện có thật, khụng hư cấu) và đặc trưng gợi tả bằng hư cấu tưởng tượng. Chẳng hạn đó là loại phim truyện giàu chất thơ – ít tính truyện nhưng vẫn là phim truyện, hoặc loại phim triết lý hay luận đề... phim siêu thực giàu sự gợi tả hơn là tính chất dựa vào việc kể lại tuần tự tình tiết truyện.
 
Quan sát điện ảnh thế giới, dự chỉ ở mức sơ lược, chúng ta cũng có thể thấy khá rỏ từ khi ra đời tới nay, phim truyện luôn luôn chủ yếu đi theo hai tính chất nói trên. Nói gộp lại, có thể cho rằng: Phim truyện là loại hình sáng tác dùng hình thức kể chuyện, gợi tả bằng hư cấu tưởng tượng qua phương tiện truyền tải là ngôn ngữ điện ảnh tổng hợp.
 
Nắm vững 2 tính chất đặc trưng nêu trên, người thưởng thức cũng như người làm phim có thể hiểu sâu hơn bộ phim mà mình sắp xem hoặc sắp làm. Bộ phim ấy có thể thuộc loại nào: Loại thuần tuý kể chuyện (chuyện thật hoặc chuyện hư cấu) hay loại gợi tả, hoặc vừa kể chuyện vừa gợi tả. Nếu là loại kể chuyện, đương nhiên nó sẽ có cốt truyện rõ ràng, nó khai thác sâu vào tình tiết truyện theo kết cấu nhân - quả là chính để đưa tới khán giả một câu chuyện có đầu có cuối. Nếu là loại gợi tả, phim sẽ chủ yếu dùng ngôn ngữ điện ảnh để tạo nên những khoảnh khắc, những ấn tượng đặc biệt được sắp đặt với các thủ pháp nghệ thuật hoặc kỹ xảo theo định hướng tư tưởng hay cảm xúc nào đó (có cốt truyện hết sức đơn giản hoặc phi truyền thống). Nếu phim là sự kết hợp cả hai tính chất thì nó sẽ cho thấy yếu tố truyện kết hợp cùng với cả yếu tố gợi tả.
 
Những phân định ở trên có tính tương đối. Tuy rằng trước đây (và trong một số dòng phim hành động Mỹ hoặc Hồng Công... hiện nay) xu hướng kể truyện vẫn chiếm ưu thế hơn. Gần đây xu hướng kết hợp 2 tính chất kể chuyện và gợi tả đó hình thành đường nét nổi bật rất thành công ở một số nghệ sĩ hoặc một số tác phẩm như trong các phim: Cao lương đỏ, Đốn lồng treo cao của Trương Nghệ Mưu (Thu Cúc đi kiện của Trương Nghệ Mưu lại là phim kể chuyện), Ba mùa của Tony Bùi, Bản danh sách của Schindler của S.Spielberg, Cuộc đời tươi đẹp của Bellini, Dương cầm của J.Campion... Thực chất đây là xu hướng đã từng thành công ở một số đạo diễn kinh điển tuy chưa đạt đến độ hoàn chỉnh như: L.Bunuel, I.Bergman, A.Tarcụvski, A.Kurosawa... (ngoại trừ Chiến hạm Pachômkin của S.Eisenstein).
 
Về xu hướng gợi tả: Có thể thấy xu hướng này từng làm nên những trào lưu lớn như Chủ nghĩa siêu thực trong điện ảnh Tây Âu những năm 1920-1930 (đặc biệt là Pháp), Chủ nghĩa biểu hiện Đức (những năm 1920) hoặc một số phim thuộc dòng phim Hậu hiện đại với tính chất tác giả tự biểu hiện những năm 1950, 1960, 1970... Ngày nay, xu hướng này chỉ tồn tại lẻ tẻ trong một số phim, một số sáng tác (như phim Mùi đu đủ xanh của Trần Anh Hùng) có lẽ bởi nó là loại phim trừu tượng ít tính đại chúng, nó mang tính thực nghiệm, tìm tòi mỹ học hơn là dòng điện ảnh thị trường và phổ thông vốn thống trị màn bạc.
 
Tuy có những phân định tương đối về những tính chất đặc trưng nói trên nhưng với phim truyện núi chung, cái đích mà nó từ xưa tới nay luôn vươn tới vẫn là chân, thiện, mỹ, vẫn là đảm trách các chức năng: phản ánh hiện thực, bồi đắp tư tưởng - tình cảm, thẩm mỹ và giải trí... cho quần chúng. Vì vậy dù là làm phim theo xu hướng nào thì phim truyện vẫn phải đạt tới các tiêu chí và chức năng nói trên. Một bộ phim truyện được gọi là hay vẫn phải là hấp dẫn (thu hút người xem) và đẹp, mới mẻ (cả về nội dung và hình thức, theo nghĩa mỹ học của 2 từ này). Mặt khác phim phải đảm bảo chất lượng, kỹ thuật của công nghệ sản xuất. Đó vẫn luôn là những tiêu chí khó khăn của sáng tác phim truyện nói riêng và điện ảnh nói chung từ ngày điện ảnh ra đời đến nay.
 
Đối với phim truyện, còn 2 thuộc tính khác đáng chú ý - phần lớn do thời đại và khán giả đòi hỏi nó làm tròn đó là tính tư tưởng và tính giải trí. Cả hai thuộc tính này của phim truyện đều nhằm tới khán giả (chứ không phải bản thân người làm phim, mặc dù họ là người tạo ra chúng). Nhìn lại lịch sử điện ảnh thế giới trên nét lớn chúng ta đều thấy 2 thuộc tính trên chi phối khá mạnh mẽ đến sự phát triển và thăng trầm của phim truyện. Ngay từ khi điện ảnh mới ra đời nó đó được các nhà kinh doanh coi là phương tiện hữu hiệu để “mua vui” cho khán giả. Có lúc điện ảnh cũng được gọi là “trò vui chợ phiên”. Dần dần các trò vui đú chuyển vào rạp lớn giúp người ta có những phút được cười được khóc, được chiêm ngưỡng chuyện lạ đó đây, chuyện thật, chuyện viễn tưởng hay mộng mơ, thậm chí được quên đi cuộc đời thực vốn còn nhiều ưu phiền khổ sở...
 
Chỉ từ khoảng trước đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phim truyện nói riêng và điện ảnh nói chung mới thực sự trở nên  như một công cụ tư tưởng (bên cạnh việc mua vui giải trí) để truyền bá các vấn đề xã hội – nhân  sinh - thời đại.
 
Thời kỳ đó đã  xuất hiện các bộ phim dài đề cập nghiêm túc đến các vấn đề của con người như Sự ra đời của một quốc gia (1914), Không dung thứ (1916 - đạo diễn Mỹ D.W.Griffith), Ingeborg Holin (1913 - đạo diễn Thuỵ Điển V.Sjostrom);Những người khốn khổ, Cạm bẫy, Germinal (1913-1914, đạo diễn Pháp Capelani)... Những phim như vậy đều đào sâu vào thế giới hiện thực để truyền đạt một cách nghệ thuật những điều quan thiết đến xã hội và thời đại như vấn đề chiến tranh và hoà bình, ách áp bức bất công, nạn nghèo khổ,... tràn đầy chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Cùng với thời gian, phim truyện ngày càng mạnh mẽ hơn trong việc biểu đạt những tư tưởng tình cảm khác nhau của những đất nước, hoàn cảnh xã hội khác nhau nhưng đều có điểm chung là hướng về chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân văn và những giá trị tiến bộ. Mặc dù vậy, đôi lúc phim truyện ở nước này nước khác, ở dòng phim hoặc ở tác giả này kia đã có những chệch choạc, thậm chí lầm lẫn trong vấn đề biểu đạt tư tưởng - đặc biệt là dòng phim phục vụ các chế độ phát xít Đức, ý, Nhật trước đây hoặc tuyên truyền cho bộ máy độc tài chuyên chế ở một số nước mấy chục năm qua.
 
Điều đó cũng không có gì lạ bởi điện ảnh là công cụ khá hữu hiệu cho việc truyền thông (đặc biệt là vào thời kỳ mà truyền hình chưa ra đời hoặc chưa phát triển). Sự tiến bộ của điện ảnh cần phải đi liền với sự tiến bộ về tư tưởng tinh thần mà nó biểu đạt. Vì vậy nó không được lãng quên hoặc làm chệch lạc đặc tính diễn đạt tư tưởng bên cạnh đặc tính là phương tiện giải trí của đông đảo quần chúng. Nó không chỉ là kể chuyện “mua vui” mà còn là kể chuyện nhằm thức tỉnh và cảnh báo - dưới mỗi chuyện mà nó kể tả phải là niềm vui, nỗi buồn, lương tâm và linh hồn sống của nhân loại.
 
Mỗi tư tưởng mà phim truyện biểu đạt phải là sự lay động bằng các hình tượng nghệ thuật nghe nhìn có sức truyền cảm mạnh mẽ. Tư tưởng mà phim truyện truyền tải không phải là bản thông điệp - thông tin thuần tuý như của các loại hình truyền thông mà phải là “hồn tư tưởng”, là chất gây men say lòng khán giả. Nói cách khác nó phải là tư tưởng của hình tượng và cảm xúc, từ hình tượng và cảm xúc mà toát lên, tự nhiên như hương hoa đất trời. Nó phải là loại tư tưởng đặc biệt theo nghĩa rộng thuộc thế giới tâm hồn trí tuệ, tình cảm của con người. Chính vì vậy, đối với phim truyện, đặc tính thẩm mỹ nghe - nhìn được tập trung ở mức cao nhất so với nhiều loại hình nghe - nhìn khác. Chẳng thế mà người ta thường nói: đi xem phim không phải để nghe thuyết giảng hoặc tìm tin tức, đi xem phim là một thú vui thanh tao để được chìm trong những câu chuyện, những số phận, những cuộc đời, những hình ảnh và âm thanh đẹp đẽ lay động tâm can; và khi ra về có một cái gì đó hay và đẹp lắng đọng lại. Cái gì đó - có thể không cụ thể - chính là tư tưởng - theo nghĩa rộng của từ này - chứ không hẳn là một chủ đề, một ý nghĩa vắn tắt nào đó.
 
Những bộ phim lớn, những nghệ sĩ điện ảnh lớn thường đưa tới cho khán giả những cảm xúc lớn, những ấn tượng lạ thường, những điều đáng nhớ. Làm được điều đó, phim truyện mới thật sự thực hiện đúng chức năng của nó, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay. Ngày nay, nếu muốn tìm kiếm tư tưởng ở dạng thông tin, ở những kiến giải trọn vẹn sâu sắc, lôgich thuần lý thì khán giả dễ dàng có được chúng qua sách, báo, ti vi, radio, Internet. Vài suy nghĩ mở rộng ở trên cũng là để nhận diện rõ hơn tính chất đặc trưng của điện ảnh trong bối cảnh toàn cầu hoá và nở rộ bừng phát của tất cả các loại hình văn hoá phục vụ đại chúng ngày nay. Trong hoàn cảnh đó, để giữ được vai trò của mình, phim truyện hẳn phải khai thác tối đa cái sức mạnh thẩm mỹ (mà tính chất kể, tả bằng ngôn ngữ điện ảnh tổng hợp là hạt nhân), qua đó chinh phục trái tim và khối óc của quảng đại khán giả.
 
Hai tính chất: truyền đạt tư tưởng và giải trí của phim truyện vốn tồn tại hơn trăm năm qua trong lĩnh vực điện ảnh nói chung và phim truyện nói riêng, cho đến nay vẫn vừa song hành thúc đẩy vừa ảnh hưởng lẫn nhau. Thậm chí đã và đang có hẳn những dòng phim chuyên phục vụ giải trí (như phim hành động Mỹ hoặc Hồng Cụng...) và những dòng, những tác giả chuyên loại phim tư tưởng. Đối với điện ảnh nước ta, do đặc điểm lịch sử của đất nước mấy chục năm qua, điện ảnh vốn là phương tiện tham gia vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới, cho nên có thể nói đó là một nền điện ảnh tư tưởng cách mạng.
 
Ngày nay trong thời kỳ đổi mới hội nhập, điện ảnh nước ta một mặt vẫn có chức năng tuyên truyền, nâng cao dân trí, giáo dục văn hoá tư tưởng theo đường lối của Đảng, mặt khác đã mở rộng sang các chức năng khác như giải trí, thẩm mỹ. Dù có những đặc điểm mới và đòi hỏi mới của thời đại, nhưng những người làm phim nếu bám sát các tính chất đặc trưng của điện ảnh nói chung và phim truyện nói riêng vẫn hoàn toàn có thể sáng tạo ra những bộ phim hay - đẹp in dấu ấn thời đại như trong quá khứ chiến tranh cách mạng đó từng có . Mặt khác sự thuận lợi của thời kỳ mới hoàn toàn là cơ hội cho những nhà sáng tác mở rộng diện đề tài, vấn đề, mở rộng phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ thẩm mỹ nghe - nhìn cùng với kỹ thuật mới để sản sinh ra những bộ phim đáp ứng yêu cầu mới của khán giả trong nước và cả nước ngoài. Điều đáng mừng là trong hơn 15 năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã có một số phim như vậy.
 
Trên đây là mấy đường nét chính của hình hài phim truyện. Những mục sau sẽ phần nào tiếp tục đề cập đến những yếu tố quan thiết trong bản chất của phim truyện...
 
________________
 
1. Tạp chí Điện ảnh ngày nay số 3 (1992), số 5 (1993), số 1 (1994).
 
Hai nền văn hóa khác nhau, do sự sai biệt giữa chúng, có thể phát sinh sự xung đột văn hóa. Về điểm này, có ba khả năng xảy ra:
 
1. Chinh phục: Thành viên của nền văn hóa A xem thành viên của nền văn hóa B không phải là con người bình thường, và định nghĩa họ là “người dã man” – núi theo từ nguyên, tức là loài sinh vật không biết nói, cho nên họ không thể được xem là loài người, hoặc cùng lắm chỉ có thể xem là loài người hạ đẳng. Theo đó, có hai hậu quả phát sinh:
 
Giáo hóa: Thành viên của nền văn hóa A dựa theo mô thức của nền văn hóa A mà cải tạo nền văn hóa B.
 
Hủy diệt: Đó chính là cách thức mà nền văn hóa Âu châu đối xử với nền văn hóa Mỹ châu và nền văn hóa Phi châu.
 
2. Tước đoạt văn hoá: Thành viên của nền văn hóa A coi thành viên của nền văn hóa B là một thứ học trò ngu muội, 
Đề tài và chất liệu của phim truyện -Tìm hiểu nghệ thuật phim truyện
Chúng ta thử xem xét, về mặt loại hình học, những vấn đề như dưới đây:
 
2.1. Đề tài
 
Đề tài là phạm vi thể hiện về ai (cái gì) của sáng tác. Đối với phim truyện, đề tài của nó có thể quy vào một số nhóm lớn sau:
 
Theo thời gian.
 
- Đề tài hiện tại: phản ánh cuộc sống đương thời.
- Đề tài quá khứ: phản ánh cuộc sống trước đây.
- Đề tài tương lai: phản ánh những gì thuộc tương lai (đặc biệt trong phim viễn tưởng).
 
Thuật ngữ phản ánh ở đây hiểu theo nghĩa rộng bao trùm cả hư cấu tưởng tượng chủ quan.
 
Theo địa lý - không gian.
 
- Đề tài trong nước: Hiện thực của nội bộ đất nước.
- Đề tài quốc tế: Hiện thực ở nước ngoài hoặc có liên quan tới nước ngoài.
- Đề tài về các vùng, miền khác nhau (như nông thôn, đô thị, miền núi...)
 
Theo đặc điểm nội dung phản ánh:
 
Trong nhóm loại hình này, đề tài của phim truyện rất phong phú và thường nằm ở những loại sau:
 
- Cuộc sống đương đại - hay còn gọi là đề tài hiện đại với hiện thực đa dạng của đời thường hoặc của hiện tượng đặc biệt nào đó đương thời.
- Lịch sử: phản ánh những sự kiện và con người nổi bật của lịch sử đất nước.
- Chiến tranh - cách mạng: phản ánh những sự kiện và con người trong các cuộc chiến tranh hoặc cách mạng làm nên lịch sử.
 
Theo đặc điểm phương thức phản ánh:
 
- Hiện thực: phản ánh những gì thường có, vốn có hoặc ít có những điều biểu hiện thế giới thực tại xã hội, tự nhiên và con người.
- Phi hiện thực: Đưa ra những gì siêu thực, giả tưởng, viễn tưởng hoặc chỉ là chuyện hoang đường, như dòng phim khoa học giả tưởng, dòng phim thần thoại cổ tích.
 
Theo giai tầng xã hội:
 
- Biểu hiện những nhân vật thuộc một tầng lớp xã hội nhất định, như dòng phim công - nông - binh trước đây ở Việt Nam; dòng phim về trí thức, về sinh viên, về trẻ em, về cảnh sát hoặc thanh tra đấu tranh với giới tội phạm trong các phim trinh thám - lịch sử - phiêu lưu mạo hiểm... Theo cách phân loại này, đề tài của phim luôn gắn liền với đối tượng thể hiện cụ thể của nó.
 
Theo đặc điểm vấn đề phản ánh:
 
- Đề tài có khi được gọi gắn liền với vấn đề mà nó phản ánh. Chẳng hạn đề tài chiến tranh cách mạng, lịch sử, chống tham nhũng, phòng chống AIDS, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước... Những đề tài theo đặc điểm vấn đề thường làm nhấn mạnh yêu cầu riêng của đề tài để phục vụ cho nhiệm vụ tư tưởng nhất định nào đó mà người đặt hàng yêu cầu.
 
Từ góc độ lý luận, khái niệm đề tài của phim có ý nghĩa xác định nội dung và cả hình thức chính mà phim biểu hiện. Giúp cho người sáng tác khu biệt nội dung hình thức đó trong khai thác biểu hiện, đồng thời giúp cho hãng phim nhận biết rõ hơn sự cần thiết đặc thù mà phim sẽ sản xuất, giúp cho khán giả và người phê bình quan tâm đến đặc điểm nội dung và hình thức mà phim đề cập. Căn cứ vào đề tài đã chọn, người làm phim tập trung trí tuệ, công sức vật lực phù hợp thích đáng để khai thác chọn lựa những gì thiết yếu và hữu dụng nhất thuộc đề tài.
 
Đối với khán giả và người phê bình - nghiên cứu mỗi đề tài khác nhau cũng sẽ đưa lại cho họ những cảm nhận và mối quan tâm khác nhau theo đặc tính riêng của đề tài và của nội dung bộ phim cụ thể nào đó. Nhiều khi đề tài là cái chung phổ biến ở nhiều phim nhưng trong mỗi phim lại có cách biểu đạt kiến giải rất khác nhau về đề tài đó.
 
Chính những nét khác nhau ấy làm nên tính đa dạng của phim truyện, mang tới cho người thưởng thức những món ăn tinh thần mới lạ sinh động. Vì vậy đối với phim truyện, đề tài (ở nghĩa rộng) nhiều khi là chung, là đồng đại nhưng lại luôn phải đa dạng và sinh động, cập nhật theo lịch đại và theo từng trường hợp nội dung cụ thể của phim. Chẳng hạn, có thể có đến vài ba phim làm về cùng đề tài chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, chiến thắng xuân 1975... song hiển nhiên yêu cầu đặt ra cho đề tài lớn này là các phim đó phải có những nét riêng, nét mới cũng như cách tiếp cận nghệ thuật khác nhau...
 
Đề tài của phim truyện là khái niệm hữu dụng cho cả người sáng tác và cả giới nghiên cứu - phê bình, người thưởng thức về nhiều khía cạnh mà ở trên là một vài gợi mở. Tuy nhiên, đề tài chỉ chi phối một số mặt nào đó đối với việc làm phim và thưởng thức phim. Điều quan trọng hơn vẫn là khả năng biểu đạt, khơi sâu những tính chất căn bản của phim truyện đối với đề tài mà bộ phim xác định. Khả năng đó, thiết nghĩ biểu hiện ở:
 
- Xây dựng được những hình tượng điện ảnh sống động có giá trị nghệ thuật và nhân văn cao mang tính riêng của đề tài và tính khái quát của hiện thực nói chung.
- Đặt ra (hoặc có khi giải quyết) những vấn đề quan thiết lớn lao hoặc đặc biệt của đời sống từ đề tài đã chọn.
- Mang tới những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp từ nội dung cụ thể riêng biệt của nội dung đề tài trong phim. Chẳng hạn, phim lấy đề tài chiến tranh nếu được làm hay, nó sẽ mang tới cho khán giả nhiều xúc động về những hy sinh cao cả của nhân vật người chiến sỹ, đồng thời hiểu sâu thêm cuộc chiến đấu vĩ đại giành độc lập tự do của nhân dân ta. Nó khác với một số phim chiến tranh non yếu từng làm, chủ yếu là ca ngợi ta thắng địch thua.
 
Nói tóm lại đề tài là thuật ngữ có tính chất phân loại, giúp định hướng sáng tác và cảm thụ phim được tập trung vào một đối tượng phản ánh nhất định. Đến nay việc sử dụng đề tài thường theo một số tiêu chí sau:
 
- Mọi đề tài đều bình đẳng, đều đáng được phim truyện khai thác biểu hiện.
- Tuỳ theo yêu cầu của công chúng và thời đại, của thị trường, mà có lúc, có thời gian, một số đề tài này, kia được ưu tiên thể hiện hơn các đề tài khác (điều này thường phổ biến với loại phim đặt hàng trong nền điện ảnh nước ta và một số nước khác).
 
- Cần kết hợp chặt chẽ giữa việc biểu hiện tính đặc thù của đề tài (những đặc điểm riêng nội tại của nó về cả nội dung và hình thức) với việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật (vốn được hư cấu) sinh động, biểu hiện sâu sắc và có sức khái quát về đời sống, có sức truyền cảm nghệ thuật mạnh mẽ vượt khỏi giới hạn riêng của đề tài.
 
- Cần tránh khuynh hướng nệ đề tài, minh hoạ đề tài. Có thể hiểu rõ hơn tiêu chí này qua liên hệ tới điện ảnh nước ta mấy chục năm qua. Trước đây, phim truyện được lên kế hoạch đề tài hàng năm, tuy nhiên có thời kỳ vì chất lượng sáng tác thấp và thiếu một định hướng đúng đắn nên nhiều phim làm theo kế hoạch đó đã rất non yếu. Hàng chục phim làm về đề tài công nghiệp, đề tài chiến tranh cách mạng lịch sử hoặc đô thị... đã không mấy đi vào lòng khán giả mà chỉ dừng lại là những phim hoàn thành kế hoạch phục vụ cấp thời, thậm chí bị công luận kêu là phim “cúng cụ”. Bước sang thời thị trường, xu hướng nệ đề tài có giảm đi rất nhiều song vẫn còn ảnh hưởng ở một số nơi, một số thời kỳ - đặc biệt dễ tái phát ở dòng phim tài trợ - đặt hàng.
 
Sự minh hoạ đề tài cũng thường xảy ra ở những phim thiếu chiều sâu về nhân vật và vấn đề. Bản thân người làm phim do được cấp đầu tư hoặc nhà sản xuất cho làm về đề tài đó chứ chưa phải là họ đủ tài năng trình độ hoặc thật sự rung động tâm đắc, hiểu sâu về đề tài. Vì thế họ đành minh hoạ, điều đó dẫn đến vẫn có phim, thậm chí là phim “xem được” nhưng vẫn thiếu vắng những phim đích thực có giá trị lâu dài. Điều hạn chế này là phù hợp với quy luật: không phải với bất kỳ đề tài nào, người làm phim cũng có thể làm tốt. Người làm phim chân chính là người chỉ có thể làm những gì mà mình sở - đắc rung động ấp ủ và tâm huyết. Chính vì vậy cần có sự điều chỉnh hài hoà giữa cái muốn làm và cái được làm. Nhiều người muốn và có khả năng, cần được làm cái họ tâm đắc, người khác có thể làm cái khác chứ không nên cố nhận làm cái được cho làm nhưng lại chẳng mấy hiểu biết và rung động sâu sắc về cái được làm đó.
 
Điện ảnh nước ta đến nay cơ bản vẫn là điện ảnh được Nhà nước bao cấp. Phong cách điều hành sản xuất phim ở các hãng vẫn chủ yếu là cho và xin, thậm chí là có tiêu cực mạnh ai người ấy được, nhất thân thì quen... Chính vì vậy, chỉ có thái độ và cơ chế vì nghệ thuật, vô tư, dân chủ công tâm mới có thể khắc phục được những yếu kém trì trệ khi phân bổ đề tài, lựa chọn người và các sáng tác phù hợp cho những đề tài được đặt hàng - tài trợ. Đương nhiên những đề tài quá khó, quá sức mà chưa có người sáng tác thích ứng thì nên tạm gác chờ chứ không nên vì có tài trợ - đặt hàng mà vẫn cố làm dẫn đến tình trạng có thể “đổ đề tài” làm lãng phí tiền bạc. Phim ít tiền hoặc phim nhiều tiền đầu tư đều có thể “đổ” nếu những người làm phim thực hiện nó một cách kém nghệ thuật; Nếu những tiêu cực trong chọn, duyệt, giao kịch bản và sản xuất phim chưa được khắc phục bằng cơ chế công tâm và dân chủ hoá. Điều này đã từng và cũng dễ xảy ra trong một số năm tới bởi nó là những dịp kỷ niệm lớn như 60 năm Cách mạng tháng Tám 1945, 1000 năm Thăng Long - Hà Nội... Chúng ta rất yêu mến điện ảnh, nhưng chúng ta cũng đủ hiểu qua thực tiễn điện ảnh Việt Nam rằng điện ảnh nước ta còn yếu kém nhiều mặt và chưa đủ sức làm loại phim quy mô lớn, với kỹ thuật cao như các phim lớn của Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quốc...
 
Thế mạnh chủ yếu hiện nay của điện ảnh Việt Nam trên phương diện đề tài là dùng cái nhỏ để miêu tả cái lớn, cái vĩ đại, dùng “vi mô” mà nói được cả “vĩ mô”, dùng giọt nước mà tả được biển cả - như các nhà làm phim thường nói. Từ kinh nghiệm truyền thông và cả sở trường này, phim truyện nói riêng và điện ảnh nước ta hiện nay nói chung hoàn toàn có thể khai thác, biểu hiện được rất nhiều đề tài khác nhau.
 
2.2. Chất liệu.
 
Tất cả những chi tiết, sự kiện, hiện tượng của xã hội, tự nhiên, con người, thiên tạo và nhân tạo phục vụ cho film. Chất liệu là phạm trù bao hàm cả nội dung và hình thức.
 
Chất liệu do phim truyện nói riêng và điện ảnh nói chung có thể được nhìn nhận theo các nhóm sau:
 
Theo đề tài
 
- Loại chất liệu này phụ thuộc chặt chẽ vào phạm vi của đề tài. Chẳng hạn đề tài chiến tranh, chất liệu của kịch bản và của phim đều liên quan mật thiết đến tính chất thời chiến, đến những gì cụ thể của nội dung chiến tranh trong phim...
 
Theo thời gian.
 
- Chất liệu được nhìn nhận theo tính chất phù hợp với niên đại - thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai mà phim đề cập - chẳng hạn với phim lịch sử chất liệu cần tôn trọng cao độ tính chân thực của thời kỳ lịch sử mà phim thể hiện.
 
Theo tính chất:
 
- Chất liệu có tính chất thực được lấy từ đời sống hoặc từ nguyên mẫu.
- Chất liệu có tính thời sự hoặc không.
- Chất liệu có tính chất ước lệ, giả tưởng hoặc hư cấu tưởng tượng của chính người sáng tác. Ví dụ, phục trang của các vị vua quan cách đây 2000 năm.
 
Hai loại chất liệu này có thể đứng riêng hoặc kết hợp với nhau trong một phim.
 
Theo đặc điểm:
 
- Chất liệu là cái bình thường.
- Chất liệu là cái phi thường, khác thường.
- Chất liệu là cái phổ biến.
- Chất liệu là cái độc đáo hiếm có.
- ....
 
Những loại chất liệu trên cũng có thể đứng riêng hoặc kết hợp với nhau trong một phim. Nếu như đề tài là phạm vi riêng chính yếu của nội dung mà phim đề cập thì chất liệu là tất cả những gì làm nên nội dung đó. Để làm nên nội dung đề tài, người làm phim phải huy động toàn bộ hiểu biết, toàn bộ chất liệu thuộc nội dung đề tài để tái tạo thành một thực thể nghệ thuật. Đương nhiên trong quá trình đó người làm phim đã phải chọn lựa xử lý những chất liệu vốn phong phú để dũa lại, gọt dũa hoàn thiện những chất liệu đáng giá nhất phục vụ cho phim. Mặt khác trong quá trình đó, nhiều khi xảy ra tình trạng thiếu hoặc chưa hiểu rõ chất liệu. Vì vậy việc đọc, xem, đi thực tế tìm hiểu thêm, vận dụng tư vấn của chuyên gia là việc rất quan trọng cho công việc bù đắp và hiệu chỉnh chất liệu. Nói cách khác việc nghiên cứu tìm hiểu chất liệu - đề tài là rất quan trọng trong quá trình sáng tác. Nếu công việc này được làm hời hợt trong quá trình sáng tác, thường dẫn đến nội dung phim nghèo nàn hoặc sai lệch với đối tượng phản ánh. Đơn cử chỉ chuyện sử dụng thuật ngữ chuyên ngành cho đối tượng riêng thuộc ngành nghề nào đó trong phim nếu dùng sai trong đối thoại hoặc lời bình cũng đủ làm hỏng tính chân thực của phim, chẳng hạn không thể dùng câu: “đồng chí tư lệnh trưởng tiểu đoàn” với một nhân vật là sỹ quan cấp tiểu đoàn trong phim đề tài người lính Quân đội nhân dân Việt Nam; không thể dùng những chi tiết không hề có trong một lĩnh vực nào đó như áo phông in chữ tiếng Anh cho thanh niên miền Bắc vào những năm 1960 hoặc muộn hơn trước 1975... Nói cách khác từ những hiện tượng và sự kiện lớn đến chi tiết nhỏ hoặc chỉ là những câu thoại, phục trang, đạo cụ (mà những ví dụ đơn giản trên gợi nên) của phim hiện thực, tất cả đều phải tuân theo đặc điểm thời gian - niên đại và tính chất riêng biệt thuộc đề tài phim.
 
Trong khoảng hơn 10 năm qua của thời kỳ đổi mới, đặc biệt là hiện  nay và thời gian tới, bên cạnh loại đề tài - chất liệu có tính chất truyền thống, xu hướng mở rộng đề tài của điện ảnh Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển. Đây là yêu cầu khách quan của thời kỳ mới với hiện thực cũng như tâm thức mới của xã hội và của khán giả. Bên cạnh các đề tài đã trở thành truyền thống (chiến tranh, hậu chiến, lịch sử - cách mạng, đời thường...) đã và đang xuất hiện những đề tài mới như cuộc sống đương thời với những mảng hiện thực mà trước đây chưa từng có - chẳng hạn người trí thức, người công nhân, nông dân, người lính, nhà kinh doanh trong thời mở cửa, thời hiện đại hoá công nghiệp hoá; hoặc phòng chống các tệ nạn xã hội, chống tham nhũng; về dân chủ hoá và luật pháp hoá trong đời sống xã hội; quan hệ quốc tế - Việt Nam giao lưu nhiều mặt và làm bạn với tất cả các nước; về các vấn đề xã hội và công việc mới nảy sinh trong cơ chế thị trường như: phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng, trẻ lang thang, nạn di dân, người lao động ngoại tỉnh ở các thành phố lớn; đề tài gia đình, đề tài trẻ vị thành niên; những ngành nghề mới xuất hiện trong thời hiện đại như nữ lái xe tắc xi, kinh doanh tư nhân, tư bản, các dịch vụ khác nhau... Thậm chí là có cả những đề tài chỉ phục vụ giải trí nhưng có tính nghệ thuật như phim về xiếc, về bóng đá, ca múa nhạc...; phim thần thoại, cổ tích hoặc khoa học viễn tưởng...
 
Tất cả những hiện tượng và vấn đề mà cuộc sống ngày nay sản sinh yêu cầu đều cần được phim truyện đề cập và lý giải ở cả hai mặt tích cực hoặc tiêu cực của nó. Đây cũng là nhiệm vụ mới của điện ảnh nói riêng và phim truyện nói chung. Trước hiện thực mới và chất liệu mới, phim truyện cần có cách tiếp cận, cách nhìn mới; cần vừa đào sâu vào thực tiễn vào kho tàng chất liệu phong phú chưa khai thác, vừa vượt trên để có tầm nhìn đúng, phân tích lý giải có nghệ thuật và có sự sáng suốt trong việc biểu hiện hoặc tìm ra giải pháp đúng đắn. Đồng thời còn phải chú ý đến cả dòng phim phục vụ giải trí đáp ứng thị hiếu số đông. Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý và nhà làm phim, các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình cần có tầm nhìn và tri thức mới đủ sức phát hiện và phản ánh những đề tài và chất liệu mới của điện ảnh
 
 
Cốt truyện và không có cốt truyện -Tìm hiểu nghệ thuật phim truyện
Cốt truyện và không có cốt truyện
 
5.1. Phim có cốt truyện
 
Cốt truyện của phim là hệ thống các sự kiện, tính cách, tình huống, chi tiết... được tổ chức theo một trật tự nghệ thuật nhất định nhằm phục vụ cho việc biểu đạt nội dung (và cả nghệ thuật) của phim. Nói một cách khác, cốt truyện chính là bộ khung mà nhìn vào đó chúng ta có thể hình dung hình hài diện mạo cơ bản của diễn biến trên phim, hoặc cốt truyện là: Ai (cái gì) làm hoặc gặp phải (và giải quyết ra sao), những người (việc) nào, dẫn đến kết cục ra sao... Một cốt truyện cổ điển - truyền thống thường có 5 thành phần: Trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút. Vị trí 5 thành phần đó có thể thay đổi ở mỗi phim nhưng đều có vai trò hỗ tương chặt chẽ với nhau về nội dung - nghệ thuật.
 
Có thể có những nhìn nhận khác nhau về cốt truyện. Nhưng căn cứ vào thực tiễn của chính phim truyện thì chúng ta có thể thấy cốt truyện của phim (và việc xây dựng nó) chính là một khâu rất quan trọng trong sáng tác điện ảnh.  Nhận diện rõ về cốt truyện đồng thời khám phá những nguyên lý, những khả năng căn bản phổ biến của việc xây dựng cốt truyện, người làm phim và cả người thưởng thức phim có thể nắm vững hơn về bộ phim sắp làm, sắp xem.
 
Từ ngày phim truyện ra đời đến nay (đặc biệt là khởi nguồn từ các nhà tiền bối. L.Lumière và G.Meliès - D.W.Griffith, A.Smit, E.Porter... cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) phim truyện là loại hình chủ yếu được xây dựng theo những cốt truyện hư cấu hoặc các cốt truyện chuyển thể, phóng tác văn học cũng như từ các nguồn chất liệu khác (truyện dân gian, sân khấu, kinh thánh, nguyên mẫu nổi tiếng...).
 
Lịch sử điện ảnh thế giới ghi nhận bộ phim ngắn có cốt truyện đầu tiên (và còn giữ lại được cho đến nay) là phim Người tưới vườn bị tưới (1895) của L.Lumière. Trong lúc một người đàn ông đang tưới vườn, một em bé đi đến và tinh nghịch dẫm lên ống nước làm nước ngừng chảy. Người đàn ông bực tức nhìn ngó vòi nước và sau đó thấy kẻ phá quấy, ông bèn đuổi đánh em bé, em bé vội vã chạy biến đi. Phim chỉ có độ dài chừng một phút nhưng chứa đựng khá đầy đủ các tính chất cốt truyện cho một tình huống hài kịch đơn giản có diễn biến đầu cuối. Sau này, L.Lumière còn làm một số phim ngắn tương tự khác như: Faust, Mefistofel, Quỷ râu xanh, Napoleon, Cái chết của Marat... Có thể nói ông đã là một trong những người đầu tiên phát kiến ra loại phim kể chuyện, dù còn đơn giản nhưng tạo cơ sở cho loại hình nghệ thuật phim truyện ra đời và phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX.
 
Loại hình phim truyện đã hình thành rõ rệt với những phim dài hoàn chỉnh về cốt truyện, đồng thời không chỉ là mua vui mà đã vươn tới như một tác phẩm biểu đạt các vấn đề xã hội sâu sắc - đặc biệt là ở các nghệ sĩ như D.W.Griffith, S.Saplin, E.V.Stroheme... (Mỹ), L.Feuillade (Pháp) nổi bật với loại phim truyện về Faniomas thời kỳ 1923-1914, K. Dreyer (Đan Mạch), V.Sjửstrửm và M.Stiller (Thụy Điển); X.Eisenstein, Pudovkin, Dovzenco... (Liên Xô); R.Vine, F.Lang, G.Pabst... (Đức); K.Mizoguchi, Y.Ozu... (Nhật)...
 
Cốt truyện có vai trò cơ bản là làm tiền đề để kể tả. Người làm phim khó có thể diễn đạt một câu chuyện nào đó mà không thông qua việc xây dựng cốt truyện (trừ dạng phim ít dựa vào cốt truyện).
 
Cốt truyện ở hình thức cổ điển nhất thường có thể cô đúc lại khoảng trên dưới 20 dòng kể như: Anh Hoài yêu chị Vận nhưng vì họ sống ở hai bờ sông Bến Hải bị giặc chia cắt, nên tình yêu của họ bị ngăn trở. Cùng với đồng bào và chiến sĩ kiên trì dũng cảm đấu tranh, hai người đã đến được với nhau và tiếp tục đấu tranh chống lại âm mưu chia cắt hai miền của địch, bước đầu giành lại quyền sống, quyền hạnh phúc (phim Chung một dòng sông, 1959). Vợ chồng Ba Đô và Sáu Xoa làm giao liên trên Đồng Tháp Mười. Họ đã dũng cảm khôn khéo bám trụ trên cánh đồng hoang và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mỹ - ngụy ngày đêm dùng trực thăng truy tìm tiêu diệt họ nhưng chúng đã thất bại trước tinh thần mưu trí anh dũng của vợ chồng Ba Đô. Trong một cuộc đụng độ không cân sức, ba Đô bị trực thăng Mỹ bắn chết, Sáu Xoa - Vợ Ba Đô đã lao ra xả đạn vào kẻ thù, hạ gục chiếc trực thăng (phim Cánh đồng hoang). Bố con bé Nga làm nghề chèo đò và đưa đón cán bộ cách mạng qua sông ở một vùng quê miền Trung thời chống Pháp. Trong một lần địch phục kích, ông bố bị giặc bắt trói bịt miệng, bé Nga bị địch bắt nhảy dây để đánh lừa toán cán bộ ta trong lúc con đò do địch cải trang đang sang sông đón khách. Bé Nga khôn khéo vờ làm theo âm mưu của địch và thừa dịp vùng chạy ra bờ sông thét to báo cho các cán bộ Việt Minh rằng đang có giặc trên con đò, đừng qua đò của chúng. Em đã bị địch bắn ngã bên bờ sông khi vừa kịp báo cho quân ta tránh đò địch. Trước khi hi sinh em cũng kịp mở túi thả con con chim vành khuyên mà em yêu quý lên trời cao (phim Chim vành khuyên)...
 
Một vài ví dụ về cốt truyện ở trên cũng có thể cho thấy tính chất kể về ai (cái gì), gặp phải chuyện gì (và giải quyết ra sao), dẫn đến kết cục như thế nào của rất nhiều (hoặc phần lớn) những phim truyện đi theo mô hình có cốt truyện cổ điển súc tích, hoặc có cốt truyện dựa trên một tình huống lớn chủ yếu. Trong phim Chung một dòng sông tình huống chủ yếu là mối tình và cuộc sống yên lành ở hai bờ giới tuyến bị kẻ địch độc ác chia cắt. Trong phim Cánh đồng hoang, cốt truyện cũng căn bản dựa trên một tình huống chủ đạo là cuộc chiến đấu không cân sức của vợ chồng người du kích với kẻ địch tàn bạo được trang bị đầy đủ. Phim Chim vành khuyên, cốt truyện phát triển cũng chủ yếu từ một tình huống kịch tính hiểm nghèo: Người giao liên - chèo đò - bố bé Nga bị địch bắt trói, bịt miệng, bé Nga phải làm sao đây để báo cho cán bộ ta đừng qua chiếc đò mà giặc cải trang thành quân ta đang sang sông. Những tình tiết phụ khác trước tình huống này chỉ đóng vai trò khai triển - miêu tả bối cảnh và đặc điểm, làm rõ tính cách các nhân vật cũng như câu chuyện.
 
Tuy nhiên cốt truyện của phim còn phát triển theo những dạng thức rất khác nhau mà ở đây, chúng ta có thể gợi tìm một số kiểu, loại:
 
- Cốt truyện phát triển dựa trên một, hai nhân vật và tình huống sự kiện chính (như một số phim nêu trên): cốt truyện đơn tuyến.
 
- Cốt truyện phát triển dựa trên một số nhân vật, tình huống, sự kiện có quan hệ logic - nhân quả: cốt truyện đa tuyến.
 
Trong loại này, cốt truyện là sự kết nối hữu cơ của một số tình huống, sự kiện, nhân vật (đồng thời là những tuyến chính, phụ) xoay quanh ý tưởng chủ đạo. Cốt truyện loại này có tính chất mở rộng hơn loại cổ điển. Có thể thấy một số phim đi theo kiểu cốt truyện này như: Sám hối, Matxcơva không tin vào nước mắt... (phim Liên Xô), Ngày tận thế, Trung đội (phim Mỹ), Đông Dương (phim Pháp); hoặc một số phim Việt Nam như: Đến hẹn lại lên, Sao tháng tám, Vĩ tuyến 17ngày và đêm, Thị xã trong tầm tay... Ưu điểm của loại phim có cốt truyện là thường thu hút khán giả vào mạch chuyện có đầu có cuối dễ hiểu theo logic nhân quả. Vì vậy nó là loại phim tương đối phổ biến trong tất cả các nền điện ảnh. Tâm lý cảm thụ chung của đại đa số khán giả là thường nghiêng về nghe kể chuyện. Đã là kể chuyện thì phim phải có truyện, có sự dẫn dắt vào từng diễn biến kịch tính, có vào truyện (thắt nút) diễn biến truyện (phát triển) và cao trào dẫn đến ra truyện (mở nút). Vì vậy mô thức kể - tả làm sáng tỏ dần câu chuyện (vốn khá truyền thống trong văn học viết cũng như dân gian - truyền miệng) đã được các nhà làm phim từ trước tới nay vận dụng triệt để. Đến nay những vận dụng đó đã hình thành những truyền thống đồng thời bổ sung thêm rất nhiều tìm tòi mở rộng sáng tạo trong cách kể. Chẳng hạn: thay đổi cách dẫn dắt truyện khác với mô thức cổ điển, làm phong phú các tuyến tình tiết (và nhân vật, sự kiện, tình huống bổ trợ), vận dụng các yếu tố ngẫu nhiên phi logic nhưng có liên hệ chặt chẽ với ý tưởng chủ đạo, khai thác sâu nội tâm và đa dạng hóa cách biểu hiện (đối thoại, lời ngoại hình, chi tiết, tượng trưng, ẩn dụ, liên tưởng...); kết cấu theo các mảng lớn về sự kiện, không gian, thời gian, nhóm nhân vật để mô tả - kể những câu chuyện có dung lượng lớn đồ sộ, đặc biệt là các phim lịch sử, chiến tranh như các phim: Giải phóng (điện ảnh Liên Xô), Ngày dài nhất (điện ảnh Mỹ)... Tất cả những tìm tòi mở rộng phương thức kể chuyện đó đã làm phong phú và tạo tiền đề mới mở ra những giới hạn rộng rãi cho nghệ thuật xây dựng cốt truyện phim.
 
Một số yêu cầu đối với cốt truyện:
 
- Mới mẻ, độc đáo, hay, hấp dẫn, chứa đựng ý tưởng quan trọng hoặc đặc biệt. Đây là yêu cầu một số, đồng thời không dễ dàng đối với cốt truyện. Chính vì vậy, các nhà, các hãng sản xuất phim luôn săn tìm, để ý đến số lượng lớn những kịch bản gửi đến nhưng thường chỉ lọc lựa ra được không nhiều các kịch bản đáp ứng yêu cầu này. Đối với các nhà làm phim thường thường họ cũng không nghĩ ra hoặc làm được nhiều kịch bản cũng như phim đảm bảo yêu cầu này (trừ một vài nghệ sĩ có tài năng lớn như Trương Nghệ Mưu hoặc S.Spielberg...).
 
Như thế nào là hay, mới mẻ, hấp dẫn? trả lời câu hỏi này chỉ có thể trên mặt bằng trình độ của chính người sáng tác cũng như thưởng thức phim chứ không thể nói đôi ba câu ngắn gọn chung chung được - bởi cái mặt bằng này là kho nhận thức và cảm xúc - nó dầy mỏng khoẻ yếu đến đâu là tùy vào từng người, từng trình độ đảm nhận. Nói tóm lại tiêu chí này khó có thể đặt chung vào một quan niệm cho tất cả các tầng lớp khán giả cũng như cho tất cả các cá nhân làm phim, thẩm định hoặc thưởng thức phim.
 
Để rút gọn hơn vào nhìn nhận của những người nghiên cứu cũng như sáng tác chuyên nghiệp - coi phim là một tác phẩm nghệ thuật, là một sản phẩm văn hóa cao cấp phục vụ khán giả - thì hay, độc đáo, mới mẻ, hấp dẫn là những tiêu chí ở yêu cầu cao về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Đã là cao thì trình độ nhìn nhận thẩm định cũng phải cao mới nhận định được. Chẳng thế mà người ta có câu: Phải có cặp “mắt xanh”, phải biết đãi cát tìm vàng, phải có cái đầu và cả trái tim dồi dào hiểu biết và nhiệt tâm, công tâm... trong thái độ xem xét cũng như sáng tác thưởng thức phim. Đương nhiên bất kỳ khái niệm và tiêu chí (trong khoa học xã hội) nào cũng đều có tính chất tương đối và tất cả tính tương đối ấy “co dãn” đến đâu đều phụ thuộc vào trình độ nhận thức của từng cá nhân. Điều này cho thấy có những bộ phim, những cốt truyện rất có giá trị thoạt xem thường gây tranh cãi: Người bảo nó hay, người chê nó dở, người tán thành ủng hộ, kẻ hết lời đả phá... Do đó, có những ý tưởng kịch bản từng chịu số phận trắc trở long đong hoặc đành nằm im trên giấy bởi cách nhìn nhận chưa đúng đắn về nó. Có những kịch bản cơ sở làm phim này chê nhưng khi được cơ sở khác tiếp nhận thì đã được hoan nghênh và phim làm theo kịch bản đó đoạt giải hoặc được dư luận thích, khán giả hưởng ứng. Thực tiễn sáng tạo điện ảnh nước ta và thế giới chứng minh rất rõ vấn đề này.
 
Từ mấy điều mở rộng ở trên có thể kết luận: Để biết thế nào là hay, độc đáo hấp những người làm phim và cả người thưởng thức, thẩm định phim đều cần không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về phim truyện nói riêng và văn hóa nghệ thuật cũng như đời sống nói chung.
 
- Một cốt truyện có giá trị còn phải là cốt truyện chứa đựng nhiều tiềm năng tốt cho việc biểu đạt của các yếu tố cấu thành thuộc ngôn ngữ nghe - nhìn.
 
Trong vấn đề này, cốt truyện của phim mang tính đặc thù của cách biểu đạt điện ảnh. Nó khác với cốt truyện văn học ở sự diễn đạt phong phú của hình ảnh và âm thanh. Mỗi giây màn ảnh không chỉ thuần túy là thông tin mà luôn là sự diễn đạt có tính hình tượng, liên hệ hữu cơ với nhau trong chuỗi hành động kịch tính hoặc biểu hiện.
 
Qua quan sát, suy ngẫm về các bộ phim đã đạt tới tầm là một tác phẩm có giá trị cao, chúng ta có thể thấy rằng ở đó cốt truyện thường không phức tạp, không cầu kỳ những sự biểu đạt nó bằng cách mô tả của điện ảnh lại rất đặc sắc đầy cảm xúc và ấn tượng qua mỗi cảnh, mỗi chi tiết. Chẳng hạn các phim: Đảo trụi của K.Sindo, Cúc đậu, Đèn lồng đỏ treo cao của Trương Nghệ Mưu, Dương cầm của I.Campion, Mùi đu đủ xanh của Trần Anh Hùng... Ngược lại, những phim có cốt truyện, tình tiết cầu kỳ rắc rối (như nhiều phim hành động Mỹ hoặc Hồng Kông) tuy được làm với tay nghề cao nhưng ít để lại ấn tượng cảm xúc sâu sắc, hay nói cách khác đây chỉ là những phim thuần túy phục vụ giải trí - thương mại. Để đạt được yêu cầu - tiêu chí này, các nhà làm phim cần nâng cao khả năng biểu đạt bằng ngôn ngữ phong phú của điện ảnh, cần kỹ lưỡng và cẩn thận trong tất cả các khâu sáng tạo. Đối với nhà biên kịch, cần dầy công tìm tòi những cốt truyện mà ở đó tính chất biểu đạt của điện ảnh được phát huy mạnh mẽ đến từng chi tiết: Mưa, nắng, bóng râm, mây mù, hoàng hôn, những chuyển động có nhịp điệu, tiết tấu căng thẳng hay trầm lắng... trong một cốt truyện như vậy đều có vị trí thích đáng để truyền cảm xúc cũng như ý tưởng. Ngay từ buổi bình minh của phim truyện, các nhà kinh điển đã chú ý đến những điều đó và để lại cho chúng ta nhiều phim đặc sắc với sức mạnh biểu đạt mạnh mẽ như: Chiến hạm Pachômkin (đạo diễn S.Eisenstein), Đất (đạo diễn Dovzenco), Bánh xe (đạo diễn A.Gance), Kẻ ngoài vòng pháp luật (đạo diễn V.Sjửstrửm), Lòng tham (đạo diễn E.V.Stroheim) Không dung thứ và Sự ra đời của một quốc gia (đạo diễn D.W.Griffith), Cuộc diễu bình lớn (đạo diễn K.Vidor)...
 
Nói tóm lại, đối với cốt truyện, tính độc đáo mới mẻ hấp dẫn cũng như những tiềm năng phong phú cho những khám phá ý tưởng - thẩm mỹ có giá trị cao trong quá trình xây dựng nó thành kịch bản, thành phim là những tiêu chí - yêu cầu cơ bản hàng đầu. Đối với người sáng tác việc tìm ra những cốt truyện đáp ứng được yêu cầu này là một thành công quan trọng đầu tiên của quá trình làm phim. Những bước tiếp theo là việc cụ thể hóa, diễn đạt cốt truyện đó thành kịch bản, thành phim với nhiều công sức tinh thần và vật chất. Nhận thức được quá trình quan trọng này, ở các hãng phim lớn của Hollywood, các nhà sản xuất, các nhà sáng tác đều tập trung săn tìm ý tưởng - cốt truyện một cách ráo riết. Nhiều khi họ chỉ cần (và mua) một ý tưởng - cốt truyện ban đầu (dù còn sơ lược nhưng có nhiều tiềm năng) để xây dựng thành kịch bản và phim.
 
Đối với điện ảnh nước ta, công việc xây dựng tìm kiếm ý tưởng - cốt truyện hầu hết có tính cá nhân - tự phát ở từng người sáng tác. Hầu như rất ít khi các hãng phim hoặc đơn vị chủ đầu tư chủ động kết hợp chặt chẽ với từng nhà sáng tác để cùng chăm lo cho một ý tưởng - cốt truyện từ đầu đến lúc thành phim - ngoại trừ một số ít trường hợp phim đặt hàng. Gần đây một vài đơn vị cũng đã chú ý hơn đến việc tìm kiếm ý tưởng - cốt truyện qua các cuộc thi kịch bản, trại sáng tác, đầu tư chiều sâu cho kịch bản. Tuy nhiên vì lượng phim hàng năm được làm rất ít nên có những ý tưởng hay nhưng rất khó được thực thi, ngược lại nhiều ý tưởng - cốt truyện (qua đề cương hoặc kịch bản) chưa phải là hay nhưng được làm thành phim bởi khâu chọn duyệt chưa nghiêm túc hoặc còn thiếu sự thẩm định tinh tế, cùng các nguyên nhân tiêu cực khác... dẫn đến khi những phim đó ra đời không một tiếng vang. Điều đó phần nào cho thấy ở cả hai lĩnh vực sáng tác cũng như đầu tư, thẩm định đều cần có những nhìn nhận thẩm định ở trình độ cao và công tâm mới có thể phát hiện, chăm bón cho những ý tưởng - cốt truyện có giá trị cao trở thành phim hay, phim có chất lượng tốt. Qua đó tránh được tình trạng lãng phí tiền đầu tư (dù còn ít ỏi) vào những công trình kém cỏi chẳng mấy đưa lại sự tiến bộ nào cho phim truyện nước nhà.
 
5.2. Phim không có cốt truyện
 
Phim không cốt truyện trước hết thực chất là một quan niệm về dòng phim của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong điện ảnh Tây Âu những năm 1950-1970...(1). Những trào lưu nói trên vốn diễn ra trong văn học - nghệ thuật Tây Âu trong suốt thế kỷ XX (trong tiểu thuyết, sân khấu, nghệ thuật tạo hình, triết học, xã hội học và cả trong điện ảnh...). Đó là các dòng văn học, sân khấu, điện ảnh... có tính chất rũ bỏ hình thức cấu trúc truyền thống (cốt truyện, chủ đề, nhân vật, kết cấu nhân - quả...). Nói tóm lại đó là khuynh hướng sáng tác phủ định lại những nguyên tắc nghệ thuật truyền thống của chủ nghĩa hiện thực - quá trình sáng tạo của nó trở thành chính quá trình phủ định phá hủy những giá trị mỹ học truyền thống. Đồng thời quá trình tiếp nhận - cảm thụ hiện đại và hậu hiện đại cũng phải là quá trình của “cách đọc, cách xem” mới(2).
 
Như vậy, phim không cốt truyện là một trong những tên gọi đối lập lại với loại phim có cốt truyện truyền thống nhằm đạt tới việc phá vỡ những quy phạm, tuy rất hữu hiệu nhưng dường như gò bó sự kiếm tìm mới mẻ để biểu đạt. Phim không cốt truyện dựa trên một số tiêu chí sau:
 
- Không có kết cấu theo các tình tiết quan hệ nhân - quả, logic.
 
- Diễn tả theo cảm quan và ý thức chủ quan của tác giả (tự biểu hiện).
 
- Thời gian, không gian và nhân vật không cụ thể, không xác định nguồn gốc.
 
- Nhiều chi tiết, sự kiện ngẫu nhiên phi logic nhưng gây ấn tượng mạnh.
 
- Thường chuyển tải những ý tưởng nhân sinh có tính chất toàn nhân loại như sự cô đơn, bế tắc, cái tôi nhỏ bé và hoàn cảnh bức bối, sự phi lý, những điều đáng lo âu về hiểm họa chiến tranh, môi trường...
 
Xin đơn cử bộ phim Năm ngoái ở Marienbad một thí dụ tiêu biểu của khuynh hướng hậu hiện đại, mà “tại Liên hoan phim quốc tế Venise 1961, phim được coi là một cống hiến vào lĩnh vực ngôn ngữ điện ảnh, một ví dụ sáng rõ về phong cách thể hiện cuộc sống, ở đó hiện thực về tưởng tượng tồn tại trong những kích thước thời gian, không gian mới mẻ”(3). V.Zdan phân tích về phim như sau: “Chúng ta biết rằng diễn biến của phim xảy ra ở Marienbad và cũng có thể ở Frudereksbad vào năm ngoái và cũng có thể không phải vào năm ngoái. Đối với đạo diễn Alain Resnais điều đó chẳng có ý nghĩa gì. Những gì diễn ra trên phim chỉ là trò chơi tâm lý, phát triển trong thế giới những quan niệm của chúng ta trong “dòng chảy ý thức” mạnh mẽ của con người ở đó tất cả những diễn biến này khác và ở đâu cuối cùng vẫn không quan trọng. Không quan trọng với các câu hỏi: Cái gì, ở đâu, ai, khi nào và hơn nữa vì cái gì?
 
Đối với tất cả những câu hỏi này toàn bộ phim là câu trả lời: Tất cả đều không quan trọng. Do đó, các nhân vật mất đi tính đời sống cụ thể của nó thậm chí cả các tên. Đó chỉ là những hiện tượng “ông ta” hoặc “bà ta”. Họ có thể là người hoặc chỉ là những dấu hiệu. Sự tồn tại của họ hoặc là nhìn thấy hoặc chỉ lướt qua. Họ bị tách rời khỏi đời sống thực. Thời gian cũng là “thời gian chết”. Nhân vật trong cái mớ bòng bong nhận thức giữa hiện hữu và hư vô. Các nhà làm phim hẳn có ý thức đánh mất cốt truyện hoặc đúng hơn bằng phản cốt truyện để biểu đạt “dòng ý thức”, truyền đạt cảm giác về thời gian, địa điểm, qua đó là cảm xúc. Cũng có thể các nhà làm phim đã muốn kể một câu chuyện về sự cô đơn bi thảm của con người trong xã hội tư sản hiện đại ở đó đầy rẫy những bàng quan vô cảm. Về sự phi nhân đang bao bọc - cũng có thể. Và trên phim đã hiện rõ điều đó. Nhưng ý định đó đã được điểm tô bằng một nội dung không xác định, hình thức không theo kịch tính (cổ điển) làm mờ tối logic các hành vi và để lại cho khán giả một cảm xúc mơ hồ khó đoán về vấn đề đặt ra của phim(4).
 
Một vài dẫn liệu ở trên phần nào cho chúng ta thấy thi pháp của khuynh hướng phim không cốt truyện; mặt mạnh và mặt hạn chế (như bất kỳ khuynh hướng nào) của nó. Mặt mạnh như đã biết: đây là khuynh hướng có những tìm tòi đổi mới thi pháp biểu hiện điện ảnh, làm phong phú cho kho tàng ngôn ngữ điện ảnh, đồng thời trước hiện thực mới của xã hội Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ 2 kịp thời có những cảnh tiếp cận mới nhằm phản ánh, phê phán và đặt ra những câu hỏi quan thiết với thời đại mới. Những tiếp cận mới đó đã có tác dụng tích cực đến sự phát triển của ngôn ngữ điện ảnh, đến tâm thức khán giả. Trong dòng phim này một số tác giả, tác phẩm đã xuất hiện và trở thành kinh điển như: M.Antonioni (phim Sa mạc đỏ, Nghề làm phóng sự), J.L.Godard, A.Resnais (phim Năm ngoái ở Marienbad...), I.Bergman (Trứng rắn...), L.Bunuel (Sự hấp dẫn khiêm tốn của nhà tư sản), L.Visconti (Chân dung gia đình trong nhà), Bardem (7 ngày trong tháng giêng)...
 
Mặt hạn chế căn bản của khuynh hướng, đồng thời là của nguyên tắc không cốt truyện theo V.Zdan là ở chỗ: Bên cạnh việc cách tân hình thức biểu hiện phê phán mạnh mẽ thực tại nhưng các nhà làm phim hậu hiện đại lại lầm lạc trong việc đặt ra và giải quyết các vấn đền nhân sinh - xã hội. Cội nguồn các vấn đề đó bị xóa nhòa bởi các nguyên nhân siêu hình, thậm chí được lý giải là ở cội nguồn sinh học của con người. Nhiều khi các phim chỉ là những ấn tượng bi quan không có câu trả lời. Mặt khác những kiếm tìm hình thức biểu đạt có khi dẫn đến cực đoan là phủ định các thành tựu truyền thống của chủ nghĩa hiện thực từng được xác lập bởi các nhà kinh điển như: D.W.Griffith, K.Vidor, J.Ford, O.Welles, S.Eisenstein, V.Pudovkin, V.Sjửstrửm, S.Saplin...
 
Nguyên tắc phá hủy hình thức truyền thống của khuynh hướng này đã phá hủy cả tính hình tượng điện ảnh đồng thời là phá hủy cả tính tư tưởng - nghệ thuật. Ý nghĩa tinh thần đích thực của con người được các nhà hậu hiện đại cho là không thể truyền đạt trong cốt truyện thông thường mà cần phải tái tạo bởi người nghệ sĩ hoàn toàn tự do biểu đạt riêng biệt với cội nguồn xã hội cũng như những phương cách thông thường của sáng tác.
 
Đến nay, dòng phản phim, phản cốt truyện đã đi vào lịch sử với cả hai mặt ưu và khuyết điểm như phần nào đã nói ở trên. Đã là lịch sử thì chúng ta cũng cần nhìn nó một cách khách quan như là một mắt xích - thời đoạn trong quá trình thăng trầm của điện ảnh. Trong đó bất kể khuynh hướng nào rồi cũng nảy sinh - hưng thịnh - rồi kết thúc. Chỉ có khuynh hướng hiện thực (hiểu theo nghĩa rộng và biện chứng) là vẫn còn dồi dào sức sống nhưng cũng không tự khép mình vào khuôn khổ cũ mà đã mở rộng dung nạp nhiều ưu điểm từng có của các khuynh hướng khác. Chính vì vậy ngày nay chúng ta vẫn được xem những phim đầy giá trị mỹ học và hiện thực có những vận dụng rất thành công những phong cách biểu đạt phi truyền thống. Ở khía cạnh ít coi trọng cốt truyện hoặc thậm chí không có cốt truyện truyền thống, phim truyện nhiều nước vẫn có những phim được đánh giá cao. Tuy nhiên đây vẫn là dòng phim mang tính tìm tòi thử nghiệm, mang tính tác giả hơn là dòng phim kể chuyện phổ biến vốn thích dụng với đại chúng và màn ảnh khắp nơi. Điều đó có thể thấy ở ví dụ gần gũi là các phim Mùi đu đủ xanh, Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Trần Anh Hùng.
 
Nói cách khác từ quan điểm lịch sử và khoa học khách quan - bất kể dòng phim nào có tìm tòi khám phá thành công trong cả hình thức và nội dung đều đáng trân trọng. Nhưng để học tập và vận dụng đúng thì người sáng tác, người thưởng thức cũng cần có cách nhìn lịch sử, khoa học để phân định rõ ưu điểm, hạn chế của từng dòng, từng phong cách và nguyên lý đã xuất hiện.
 
Đối với điện ảnh nước ta, đến nay loại phim có cốt truyện và cốt truyện mở rộng là loại phim phổ biến. Do đặc thù phát triển, phim truyện Việt Nam luôn thuộc một khuynh hướng duy nhất là Chủ nghĩa hiện thực - thực tế - phản ánh xã hội và con người như nó “vốn có” và “phải có”. Chúng ta chưa tiến đến trình độ “văn minh” của một nền phim truyện với những tìm tòi và thử nghiệm mỹ học khác nhau. Đó cũng là điều đáng mừng đồng thời là đáng suy nghĩ của chúng ta nếu muốn phim truyện phát triển như một nghệ thuật đa dạng về phong cách biểu hiện và quan trọng hơn là có những tìm tòi độc đáo. Trong suy nghĩ này việc học tập và vận dụng kinh nghiệm, thành tựu và phòng tránh cả những thiếu sót của điện ảnh thế giới là việc làm cần thiết hữu ích. Nếu ngại vận dụng tìm tòi, khai phá, cách tân, hiển nhiên phim truyện Việt Nam vẫn đi theo lối mòn và khó có thể tiếp cận tới mặt mạnh của các trào lưu, các phong cách sáng tạo, các liên hoan phim lớn.
 
Mặt khác nếu cách tân đổi mới lầm lạc cũng sẽ vấp vào cái cũ cái sai sót mà điện ảnh các nước đang phát triển từng vấp phải. Điều đó đòi hỏi một tinh thần học tập, vận dụng tìm tòi khoa học - biện chứng (chủ yếu là các thành tựu, các ưu điểm của những khuynh hướng, những nguyên lý và phong cách khác nhau một cách phù hợp), trên nền tảng dân tộc - hiện đại, trên tư cách nghệ sĩ và tư duy tiên tiến sâu sắc về xã hội - nhân sinh - lịch sử...
  
1, 2. V.Zdan, Thẩm mỹ học màn ảnh và quan hệ giữa các nghệ thuật, Nxb Nghệ thuật Maxcơva, 1987.
 
Một vài nhìn nhận về mỹ học của thể loại -Tìm hiểu nghệ thuật phim truyện
Thể loại là phương tiện khám phá biểu hiện, là sự cô đặc của cảm hứng nghệ thuật trong hình thức phù hợp với đối tượng biểu hiện. Trong nghệ thuật điện ảnh. thể loại là sự vận dụng một loạt quy luật thẩm mỹ có tính phổ biến và ước lệ để tạo dựng phim. Vấn đề thể loại phim là một vấn đề rất lớn và đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu tương đối sâu sắc (tuy nhiên ở Việt Nam, đây là vấn đề chưa được nhìn nhận, nghiên cứu hệ thống và kỹ lưỡng). Trong phạm vi hiểu biết riêng, bài viết này thể hiện một số nhìn nhận từ khía cạnh mỹ học thể loại và ứng dụng của nó trong sáng tác cũng như thưởng thức phim.
 
Trước hết là danh mục một số thể loại cơ bản:
 
Các thể loại theo nguyên tắc kịch của phim truyện.
 
- Thể loại chính kịch (Drama).
- Thể loại kịch Melo (Melodrama).
- Thể loại bi kịch (Tragedy).
- Thể loại hài kịch (Comedy).
- Thể loại bi - hài kịch (Tragicomedy).
 
Các thể loại nói trên có xuất xứ từ những nguyên tắc của nghệ thuật sân khấu kịch từ thời cổ đại đến truyền thống thời kỳ cận đại. Phim truyện là nghệ thuật ra đời muộn hơn rất nhiều so với 6 loại hình nghệ thuật trước nó, vì vậy phim truyện đã ứng dụng rất nhiều nguyên lý, trong đó có nguyên lý thể loại của các loại nghệ thuật khác, đặc biệt là của sân khấu kịch. Trong các thể loại kịch nói trên, phim truyện đã vận dụng chủ yếu nguyên lý xây dựng xung đột kịch tính, tạo dựng tình huống kịch và các tính cách đối lập, miêu tả hoàn cảnh và chi tiết mang kịch tính... nhằm truyền tải một câu chuyện có ý nghĩa xã hội - nhân sinh hoặc chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của khán giả.
 
Những nguyên lý nói trên mang đặc điểm thể loại của từng tiểu loại. Nếu là thể loại Kịch thông thường (Drama - chính kịch) cảm xúc thẩm mỹ mà phim mang lại là những câu chuyện về cuộc đời về xã hội, tuy không đậm các tình huống bi, hài, đau thương thống thiết với nhân vật chính nhưng rất quen thuộc, dễ hiểu đối với quảng đại khán giả. Thuộc thể loại này thường là các phim tâm lý - xã hội đời thường, phim đặt ra các vấn đề nhân sinh - triết lý, phim theo đề tài về các giai tầng lứa tuổi hoặc về các lĩnh vực, các vùng miền khác nhau chứa đựng những hoàn cảnh và số phận mang vấn đề và đặc trưng kịch tính riêng...
Những phim của điện ảnh thế giới như: Crame chống lại Crame (điện ảnh Mỹ), Matxcơva không tin vào nước mắt (điện ảnh Xô Viết), và của điện ảnh Việt Nam như: Chuyện vợ chồng anh Lực, Chuyến xe bão táp, Những người đã gặp, Trở về, Thung lũng hoang vắng... là một trong những phim thuộc thể loại kịch Drama này (tuy nhiên đã được phát triển ở dạng thức mở rộng). Đặc biệt trên màm ảnh nhỏ nước ta mấy năm gần đây, thể loại phim truyện chính kịch chiếm tỷ lệ lớn và có thể nói nó đã phát huy tốt thế mạnh của đặc trưng mỹ học chính kịch vào dòng phim tâm lý xã hội - đời thường.
 
Đặc trưng đó biểu hiện:
 
- Qua các xung đột đời thường hoặc hiện tượng đặc biệt, lột tả sâu sắc các mối quan hệ xã hội - con người, qua đó khám phá chiều sâu đời sống.
 
- Bằng việc xây dựng kịch tính của tính cách và hoàn cảnh, xây dựng những câu chuyện có sức thu hút cao đối với khán giả đông đảo.
 
- Bằng phương tiện truyền tải là ngôn ngữ điện ảnh, hình tượng hóa và tái tạo súc tích những tình huống kịch tính, những mảng đời, những số phận và hoàn cảnh chứa đựng kịch tính. Qua đó lột tả tư tưởng - chủ đề cũng như những ý nghĩa xã hội - cuộc sống một cách có nghệ thuật.
 
Thể loại kịch Melo (Melodrama) cũng dựa trên nguyên lý của thể loại kịch nói chung đồng thời kết hợp chặt chẽ với đặc tính riêng tiểu thể loại của nó. Đó là những tình tiết truyện có tính chất ngang trái, éo le, lâm li, thống thiết, trong đó nhân vật chính có phẩm cách tốt đẹp thì bị các thế lực, các hoàn cảnh đen tối ngăn cản đàn áp. Cuộc đấu tranh giữa hai bên như vậy thường là đầy căng thẳng và cái thiện, cái chính nghĩa sẽ hoặc có thể giành được chiến thắng trước lực lượng bạo tàn, dẫn đến kết thúc thường có hậu.
 
Cũng như loại phim chính kịch, phim Melodram là thể loại từng rất phát triển trong điện ảnh thế giới bởi nó có tính đại chúng cao. Có thể kể đến các phim tiêu biểu như dòng phim Melodrama Đan Mạch những năm 1910-1920, một số phim của các đạo diễn nổi tiếng thế giới như D.W.Griffith (đạo diễn Mỹ - Bông hoa huệ dập nát), V.Sjửstrửm (đạo diễn Thụy Điển - Ingeborg Holm, 1913) R.Capur (Ấn Độ), Mizoguchi (Nhật Bản)...
 
Ngày nay, phim Melodrama phát triển theo hai dòng: Cổ điển và pha trộn vào các thể loại khác nhau. Dòng cổ điển tiếp tục lấy cảm hứng từ các câu chuyện mùi mẫn, éo le, những chuyện đời, chuyện tình ngang trái, những số phận đặc biệt bất hạnh... tạo cảm xúc thống thiết buồn đau - như một số phim chuyển thể truyện của nữ sĩ Quỳnh Dao, điện ảnh Đài Loan (Mùa thu lá bay, Dòng sông ly biệt). Dòng vận dụng các motif Melodrama vào các cấu trúc thể loại khác nhau khai thác thế mạnh duy cảm duy tình của Melodrama - Có thể kể đến một số phim như: Hirosima - tình yêu của tôi (phim Pháp), Đàn sếu bay qua (phim Liên Xô) hoặc một số phim Việt Nam như: Đời hát rong, Anh chỉ có mình em, Vị đắng tình yêu...
 
- Phim Bi kịch: dựa trên đặc trưng mỹ học chủ yếu của cái bi (tragedy) khởi nguồn từ sân khấu cổ đại và cổ điển, trong đó nhân vật hoặc một số nhân vật chính trong cuộc đấu tranh không cân sức với thế lực đối lập hoặc với hoàn cảnh tàn bạo đã phải chết. Cuộc đấu tranh và cái chết của họ gợi nên những bi cảm sâu sắc làm xúc động mạnh mẽ khán giả, đưa đến cho khán giả những cảm xúc thanh lọc tâm hồn (katharsis) - như quan niệm của các nhà nghiên cứu về bi kịch Hy Lạp cổ đại. Phim bi kịch cũng được giới nghiên cứu quốc tế nhìn nhận ở hai dòng chủ yếu: dòng vận dụng tập trung mô hình bi kịch cổ điển (trong đó có nhiều phim chuyển thể các vở kịch kinh điển) như: Ham lét, Otenlô, Macbeth... (theo kịch của Shakespeare) và dòng đi theo xu hướng mở rộng cấu trúc thể loại bi kịch, lấy các đề tài lịch sử hoặc xã hội đương thời như các phim Jeanne D'arc (đạo diễn K.T.Drayer), Kẻ ngoài vòng pháp luật (đạo diễn V.Sjửstrửm - Thụy Điển), Tro tàn và kim cương (đạo diễn A.Vaida - Ba Lan)...
 
Ngày nay mô thức bi kịch còn được vận dụng nhiều vào các cấu trúc thể loại khác nhau: phim bi kịch tâm lý, phim bi kịch - anh hùng ca, phim bi kịch luận đề xã hội...
 
Trong điện ảnh Việt Nam, thể loại phim bi kịch thuần chất không pghải là thể loại phát triển. Điều này có lẽ bắt nguồn từ đặc điểm lịch sử của những cuộc chiến tranh cách mạng mà ở đó phim ảnh với nhiệm vụ tuyên truyền, động viên mang cảm hứng lạc quan cách mạng được ưu tiên. Dù những bộ phim về chiến tranh, về lịch sử có mô tả cuộc đấu tranh khốc liệt thì cũng ít có phim trực diện mô tả cái chết bi hùng của các nhân vật chính. Có thể kể đến một số phim hay, phim khá mà ở đó yếu tố bi kịch đã nổi lên như một phương tiện biểu đạt mạnh mẽ bên cạnh các yếu tố kịch tính thông thường hoặc tâm lý, trữ tình như các phim Kim Đồng, Người cộng sản trẻ tuổi, Anh Nguyễn Văn Trỗi, Không có đường chân trời... và đặc biệt là các phim Cánh đồng hoang, Con chim Vành khuyên.
Vận dụng các mô thức của thể loại bi kịch, đồng thời với kinh nghiệm sáng tạo của những phim có yếu tố bi kịch thành công nói trên, phim truyện nước ta có thể đi sâu hơn trong việc khám phá hiện thực, đặc biệt là ở các đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng, qua đó góp phần tránh được hạn chế phản ánh một chiều đối với hiện thực lịch sử. Các yếu tố bi kịch được vận dụng một cách sáng tạo luôn là phương tiện tốt để mang đến những mỹ cảm tích cực, đặc biệt là về những gương hy sinh cao cả, trong các đề tài truyền thống đấu tranh cách mạng, thống nhất và bảo vệ đất nước.
 
Phim hài hước (Comedy) là một trong những thể loại phổ biến của phim truyện từ trước tới nay. Nó ra đời và phát triển dựa trên nhu cầu của khán giả luôn thích được cười vui, giải trí và suy ngẫm lại về chính bản thân mình. Qua tiếng cười, phim mang tới cho khán giả một vài bài học cảnh tỉnh hoặc góp phần bài trừ cái xấu, cái dở, cái bất hợp lý, lạc hậu đang cản ngăn cuộc sống đi lên.
 
Những dạng thức gây cười - hài hước chủ yếu:
 
- Trào lộng nhẹ nhàng: loại này chủ yếu đưa ra những nghịch cảnh, những phi lý trớ trêu mà nhân vật (nhiều khi là người tốt) phải chịu, qua đó gợi tiếng cười thương cảm đồng thời gợi cảm xúc căm ghét cái hoàn cảnh đang áp đặt nghịch lý lên nhân vật.
 
- Nhạo báng mỉa mai: Mức độ gây hài hước ngầm, gợi nhằm phê phán những thói tật, những điều phi lý và nghịch cảnh trong xã hội. Đối tượng phê phán thuộc về nhân vật chính hoặc nhân vật đối lập với nó.
 
- Châm biếm: Mức độ gây cười - hài hước mạnh mẽ hơn, trực diện hơn nhưng vẫn có tính chất hóm hỉnh nhẹ nhàng đối với những điều trớ trêu phi lý hoặc ngang trái.
 
- Đả kích: Tiếng cười - hài hước nhằm trực diện vào những thế lực xấu xa, thù địch, độc ác hoặc lạc hậu đang áp chế con người. Chẳng hạn phim Kẻ độc tài (của S.Saplin).
 
- Hài hước - trữ tình: Tiếng cười trong loại này thường kết hợp với tính trữ tình của hoàn cảnh và nhân vật bộc lộ những cảm xúc thương cảm hoặc vui buồn yêu mến đối với các nhân vật rơi vào tình cảnh cười ra nước mắt. Chẳng hạn trong phim Ga cho hai người (điện ảnh Xô Viết), Ánh đèn sân khấu (S.Saplin - điện ảnh Mỹ)...
 
Ở trên chỉ là một số dạng thức căn bản mà phim truyện hài thường áp dụng. Mặt khác đối với thể loại hài hước, người ta còn nhìn nhận nó ở các yếu tố hợp thành như sau:
 
- Cái hài tạo nên từ tình huống, tính cách và hoàn cảnh (có các mặt đối lập nghịch lý).
 
- Cái hài tạo nên từ ngoại hình, cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ thoại (có những nét bất bình thường).
 
Phim hài hước cũng có thể được nhìn nhận ở hai loại:
 
- Thông qua tiếng cười hài hước để lột tả những vấn đề xã hội - thời đại sâu sắc (như các phim hài của đạo diễn S.Saplin).
 
- Chủ yếu gây tiếng cười giải trí thư giãn cho khán giả (như loạt phim hài về cảnh sát của điện ảnh Pháp do Luis de Funès đóng).
 
Các yếu tố của thể loại hài hước thường được vận dụng rất nhiều vào các thể loại khác nhau. Khi kết hợp với thể loại bi kịch, cái hài hước còn góp phần tạo thành thể loại bi - hài từng có những phim rất thành công trên màn ảnh thế giới như một số phim chuyển thể từ tiểu thuyết Donkihote, hoặc gần đây là phim Cuộc đời tươi đẹp của đạo diễn Benlini (giải Oscar). Đáp ứng nhu cầu giả trí thư giãn của khán giả trong cuộc sống có nhiều căng thẳng hiện nay, nhiều phim truyện của nhiều nước đều đưa vào những cảnh, đoạn điểm xuyết tính chất gây cười hóm hỉnh vui tươi - thậm chí cả trong những phim có tính chất nghiêm cẩn.
 
Cái hài hước luôn là một phương tiện hữu hiệu giúp các nhà làm phim truyền tải ý tưởng và hấp dẫn khán giả. Sự thành công trong việc sử dụng nó tất cả phụ thuộc vào mức độ, liều lượng và tính chất mà phim đòi hỏi, phụ thuộc vào khả năng và duyên hài của từng người làm phim. Điều cần tránh là đưa ra những tình huống, nhân vật bị ép vào thể loại hài hoặc chi tiết gây cười vô duyên để cố chọc cười khán giả. Tiếng cười màn ảnh đòi hỏi sự tự nhiên, tinh tế, bắt nguồn từ chính tình huống và tính cách cũng như các hệ thống chi tiết... Những tiếng cười phản cảm đã từng diễn ra trên mà ảnh nước nhà ở một số phim, thậm chí ở cả một phong trào làm phim thời kỳ đầu 1990 được gọi là phim "kinh doanh" hoặc mở rộng hơn là cả trên mà ảnh nhỏ hiện nay cho chúng ta thấy bài học nóng hổi về việc sáng tạo trong thể loại hài. Đây là thể loại khó! Chính vì vậy dù trải qua hơn 40 năm, phim truyện nước ta cũng mới chỉ có được chừng mươi phim hài hước tương đối khá như: Sau cơn bão, Kén rể, Thị trấn yên tĩnh, Người cầu may...
 
Khán giả Việt Nam đặc biệt thích được vui, được cười - nhất là khán giả ở nông thôn. Tuy nhiên cái gây cười không phải là phương tiện chiều nịnh dễ dãi khán giả mà cần phải là tiếng cười có thẩm mỹ cao dẫn đến những cảm xúc lớn, đến sự thức tỉnh trí tuệ. Đây là một yêu cầu quan trọng của loại hình phim hài hước đích thực. Mặt khác trong nhiều thể loại khác, yếu tố gây cười cũng rất cần thiết nhưng nó cần phải được kết hợp hữu cơ tự nhiên với hệ thống tình tiết, hoàn cảnh và đặc biệt dù cần cũng không được lạm dụng đến mức gây phản cảm - dẫn đến một số phim có tính "đùa cợt" hơi nhiều trong diễn biến nội dung của nó. Đây cũng lại là một yêu cầu quan trọng khác cho việc vận dụng yếu tố hài - vui cười vào phim ở các thể loại khác nhau.
 
Trở lên là một số thể loại truyền thống đi theo các nguyên lý của kịch - sân khấu. Đó cũng là các thể loại ra đời sớm nhất trong điện ảnh vẫn tồn tại đến ngày nay (chủ yếu ở dạng thức mở rộng). Bên cạnh các thể loại nói trên, trong điện ảnh hiện đại, chúng ta còn có thể nhìn nhận và có một trong các cách phân chia thể loại theo một số nhóm sau:
 
- Phim tự sự: Vận dụng phương thức kể chuyện của văn xuôi.
- Phim trữ tình (thơ): Vận dụng phương thức kể chuyện của thể loại thơ hoặc văn xuôi giàu tính trữ tình.
- Phim kịch: Vận dụng phương thức kể chuyện của các thể loại kịch - sân khấu.
 
Cách chia theo ba nhóm thể loại trên từng được đề cập (ở mức sơ lược) trong một số tài liệu nghiên cứu điện ảnh của nước ngoài và Việt Nam trước đây, thường chỉ có ý nghĩa khái quát mô phỏng theo văn học và sân khấu.
 
Phim hành động:
 
-- Phim phiêu lưu - mạo hiểm.
- Phim trinh thám.
- Phim kinh dị.
- Phim chiến đấu.
- Phim khoa học giả tưởng - viễn tưởng.
- Phim thảm hoạ.
- Phim võ thuật.
- Phim gangster.
- Phim Western (Viễn tưởng).
…..
 
Phim lịch sử:
 
- Sử thi.
- Dã sử.
- Tiểu sử.
...
 
Phim thần thoại cổ tích.
Phim sân khấu:
 
- Các thể loại kịch nói, kịch hát.
- Các thể loại sân khấu khác (xiếc, ba lê, ảo thuật...).
...
Phim triết lý, phim luận đề.
Phim ca nhạc:
 
- Bài hát.
- Bản nhạc.
- Cuộc đời và sáng tạo của một nghệ sĩ âm nhạc hoặc một dòng, trào lưu âm nhạc nổi tiếng.
 
Trong tất cả các thể loại đã nói ở trên, mỗi bộ phim còn được nhìn nhận về thể loại cụ thể của nó ở đặc điểm mỹ học mà nó chứa đựng.
 
Một số lưu ý khi nhìn nhận và vận dụng đặc điểm mỹ học thể loại vào sáng tác và thưởng thức phim:
 
- Tôn trọng tính đặc thù thể loại trong sáng tác và thưởng thức phim. Điều này yêu cầu người làm phim, người thưởng thức, phê bình phim cần hiểu thấu bộ phim cụ thể dưới góc độ thể loại của nó, qua đó, nhận định rõ các nét đặc thù thể loại và tính chất riêng về phong cách thể loại có trong phim để hiểu và vận dụng đúng về phim. Một phim chính kịch, hài kịch, bi kịch, cũng như phim hành động, âm nhạc, lịch sử hay dã sử; hiện thực - thực tế hay giả tưởng... đều có yêu cầu về tính chất riêng biệt của thể loại và phong cách biểu hiện khu biệt.
 
- Tôn trọng quy luật thực tế và cả quy luật ước lệ nghệ thuật của thể loại.
 
Như đã biết thể loại là một mô thức (hình thức - nội dung) của sáng tác. Mô thức đó chứa đựng cả những yếu tố ước lệ (ví dụ việc phân tuyến nhân vật, nén thời gian, giả tưởng, tượng trưng, ẩn dụ, phóng đại, lãng mạn hoặc cách điệu, giản lược...) và cả những yếu tố thực tế - như thật (bối cảnh, chi tiết - đạo cụ, ngoại hình và tính cách nhân vật, sự kiện và vấn đề xã hội - con người...). Do đó việc nhìn nhận, sử dụng cái ước lệ và cái thực tế - thực tại ra sao cho đúng đắn, hay, phù hợp với một phim cụ thể là một công việc quan trọng của người làm phim và cả người thưởng thức, nghiên cứu phim.
 
- Kịch tính, hành động và tâm lý là một trong các yếu tố then chốt nhất của hầu hết các thể loại phim. Phim truyện biểu hịên ba yếu tố đó thông qua ngôn ngữ điện ảnh tổng hợp.
 
Nắm vững yêu cầu trên, người làm phim, người thưởng thức phim cần chú ý đến vấn đề - phim nói bằng cách gì bên cạnh vấn đề - phim nói về cái gì. Rất nhiều tài liệu nghiên cứu điện ảnh của thế giới đều nhấn mạnh yêu cầu này. Thực hiện được yêu cầu này không thể chỉ nắm đôi ba nguyên lý sáng tác mà phải là học hỏi, kiếm tìm, phát hiện, phát kiến sáng tạo không mệt mỏi trên phương diện ngôn ngữ biểu đạt điện ảnh với đặc trưng là ngôn ngữ nghe - nhìn tổng hợp.
Hiểu nguyên lý về tính đặc thù của mô thức thể loại nhưng không cứng nhắc trong vận dụng để tránh sự sáo mòn đơn điệu chính là một trong những hướng vận dụng thể loại phổ biến nhất của điện ảnh hiện đại. Đồng thời trong sự vận dụng này cũng cần tránh cả xu hướng pha trộn kém nghệ thuật đánh mất đặc trưng thể loại, hoặc cả cách nhìn nhận nông cạn không thấy được những tìm tòi cách tân thể loại đặc sắc.
21/12/2005
Đặng Minh Liên
Nguồn: Trích vanhoanghethuat.org.vn
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, ...