Bàn về lục bát và ca khúc Việt Nam
Bài
này không phải là một nghị luận nghiêm túc về lục bát, vì kiến thức của tác giả
về văn chương lục bát (nhất là ca dao) rất ít ỏi. Thậm chí suốt đời hình như
tôi chưa bao giờ làm một bài thơ lục bát. Tôi chỉ muốn đưa ra một vài ý tưởng
riêng, nhiều khi liều lĩnh, của một người mê âm nhạc và hay chú ý về âm điệu,
để gợi hứng cho những người hiểu biết hơn về văn chương và dân ca Việt Nam có
dịp bàn luận thêm, vì dường như chưa có ai bàn nhiều về khía cạnh âm điệu này.
Lục
bát là thể văn vần căn bản trong ca dao và nhiều tác phẩm văn chương khác của
Việt Nam, và thường được gọi là "quốc hồn quốc túy". Đoạn văn sau đây
(từ VHNT) tôi cho là tiêu biểu cho lối văn "tán lục bát":
"Hãy
thử nghĩ về dòng thơ lục bát. Dòng sông thơ mộng chảy luân lưu và phổ thông
nhất của thi ca Việt Nam. Lục bát thấm vào máu, vào ca dao, vào lời ru, vào câu
hò của văn học Việt Nam, và không một nhà thơ nào không ghé đến tắm thử trên
dòng sông này một lần, nhiều lần, có khi ở lại, có khi bỏ đi, hoặc đi rồi trở
lại nhiều lần, như cuộc hẹn với người tình trăm năm còn lưu luyến mãi... "
Những
lời tán tụng say mê như vậy tôi đã đọc nhiều và tôi tự hỏi tại sao lục bát lại
chiếm 1 vai trò quan trọng trong thơ Việt Nam như vậy? Và, vì là một người yêu
nhạc, tôi muốn biết lục bát có ảnh hưởng gì lên nhạc Việt Nam.
CÁC
ĐẶC TÍNH CỦA LỤC BÁT
Thơ là
văn có âm điệu. Nhưng, có một mâu thuẫn là các nhà thơ Việt Nam không bao giờ
phân tích âm điệu của thơ! Họ có học về niêm luật, về vần điệu nhưng không phân
tích những đặc tính hay hậu quả của các niêm luật vần điệu ấy. Vậy trước hết
xin xem xét các dặc điểm về âm điệu của lục bát:
1.
Dùng số chẵn âm tiết (syllables). Thơ Tàu thường dùng 5 hoặc 7.
2. Hai
câu lục bát tạo thành tế bào căn bản (unit cells). Không có cấu trúc nào ở tầng
trên đơn vị này, ngoài sự móc nối (interlocking) 2 vần ở câu bát.
3. Vần
luôn luôn là âm bằng, tức là chỉ có thể có một trong hai âm vần.
4. Mỗi
vần chỉ dùng ở 2 câu, thay vì 3, 5 hoặc hơn trong thơ Tàu, Tây, và do đó luôn
luôn thay đổi trong một bài thơ dài.
5. Vần
chen vào trong câu để móc nối những couplets
6. Số
kết hợp khác nhau (combinations) rất ít ỏi vì hai vần ở câu bát phải khác dấu:
huyền-ngang hoặc ngang-huyền (không có ng-ng hay h-h). Nói nôm na thì phải hoặc
là TÌNH TÍNH TANG hoặc là TANG TÍNH TÌNH:
Trăm
năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh vốn TÌNH TÍNH TANG
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà TANG TÍNH TÌNH.
Chữ tài chữ mệnh vốn TÌNH TÍNH TANG
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà TANG TÍNH TÌNH.
Vần ở
câu lục có thể huyền hoặc ngang, cho ta tổng cộng là 4 kết hợp.
7.
Nhịp cũng rất đều đặn, luôn luôn đi theo nhịp nhe.-ma.nh (n-M-n-M-n-M,
n-M-n-M-n-M-n-M). Cuối 2 câu luôn luôn là 1 nhịp ma.nh. Sự thực thì nếu cộng 2
cái "nghỉ" (rest) ở cuối câu lục thì nhịp lại càng cứng và đều đều
buồn tẻ hơn nữa:
ta ĐA
ta ĐA ta ĐA (nghỉ nghỉ)
ta ĐA ta ĐA ta ĐA ta ĐA
ta ĐA ta ĐA ta ĐA ta ĐA
Nếu
phải nghe cái nhịp đều đều này mấy ngàn lần liên tiếp trong một tác phẩm lục
bát dài thì quả là 1 cực hình! Cũng may là có thể có vài thay đổi nhỏ. Một số
câu lục ngắt ở giữa, tạo ra hai triplets:
Khi
chén rượu | khi cuộc cờ
Khi trông hoa nở | khi chờ trăng lên.
Khi trông hoa nở | khi chờ trăng lên.
nhưng
số câu như vậy khá hiếm và được để dùng một cách dè sẻn, có lẽ vì nó hơi chướng
tai đối với thính giả thời xưa.
Cũng
có thể ngắt sau vần một câu lục. Trong truyện Kiều, có nhiều câu lục bắt đầu
bằng chữ "rằng" và có thể ngắt cách này:
"Rằng
| sao trong tiết thanh minh..."
"Rằng
| hồng nhan tự thuở xưa..."
"Rằng
| hay thì thật là hay..."
Tuy nhiên tôi ngờ rằng cách ngắt này không phải là một sự cố ý của
tác giả để thay đổi tiết tấu, mà chỉ là cấu trúc ngẫu nhiên của ngôn ngữ. Không
ngắt ở chữ "rằng" cũng không ảnh hưởng đến nghĩa, và hầu như không
tìm được trường hợp nào khác ngoài chữ "rằng". Thực sự khó có thể
tưởng tượng rằng tác giả đã muốn gãi tai người đọc bằng thể lục bát mà còn muốn
đem vào những tiết tấu "chướng tai" như vậy.
Để so sánh, ta hãy coi thơ thất ngôn: thể loại này có nhiều biến
thể. Vần cuối có thể dùng bằng hay trắc (tuy nhiên vần trắc thường gặp trong
ngũ ngôn hơn là thất ngôn). Về tiết tấu thì 7 chữ có thể ngắt làm 4 + 3 (thường
nhất), hoặc 3 + 4, hoặc 2 + 5:
Gác
mái | ngư ông về viễn phố
Gõ sừng |mục tử lại cô thôn
Gõ sừng |mục tử lại cô thôn
hoặc tự do hơn nữa:
Một
đèo |một đèo | lại một đèo
(2 + 2 + 3)
(2 + 2 + 3)
Trong 1 bài bát cú, 4 câu đầu cấu trúc khác 4 câu sau, và trong
quatrain, trên, hai câu đầu có âm điệu khác 2 câu sau. Toàn bài, về âm cũng như
về ý, có cái khả năng dần dần dựng lên sự căng thẳng (build up tension) (được
nhấn mạnh bởi hai vế đối ở câu 3-6) mà chỉ được hóa giải ở câu kết.
Thơ thất ngôn (và thơ Đường nói chung) có những cấu trúc âm điệu
tinh diệu như vậy mà nhiều dịch giả Việt Nam (đặc biệt là Trần Trọng Kim) lại
có khuynh hướng dịch ra lục bát, thật là một hành động phá hoại (vandalism) khó
có thể chấp nhận được về phương diện âm điệu. Các nhà bình luận Việt Nam, khi
bàn về chuyện dịch thơ Đường, cũng thường chú ý tới sự thích hợp hay không
thích hợp của ngôn từ chứ không để ý đến âm điệu, nên ít khi nói tới điểm này.
Bàng Bá Lân có viết "dịch Đường thi bằng thể lục bát chẳng khác nào đem
bức tranh trang trọng cổ kính của (?) chiếc khung sơn son thếp vàng mà lồng vào
chiếc khung trúc. Thanh nhã có thừa, nhưng vẻ trang trọng cổ kính không còn
nữa" (theo Nguyễn Tuyết Hạnh). Nguyễn Hiến Lê cho rằng khi Tản Đà dịch
Hoàng Hạc Lâu ra lục bát đã làm mất tính cách đối ngẫu vừa thanh nhã vừa nghiêm
trang trong hai cặp thực và luận (cũng theo Nguyễn Tuyết Hạnh). Tuy nhiên có lẽ
hai ông này không nghĩ tới âm điệu mà chỉ nghĩ tới cấu trúc đối ngẫu mà thôi.
Lời bàn của Bàng Bá Lân còn vô lý ở chỗ là khi tác giả thơ Đường làm thơ thì họ
đâu có cố ý làm ra vẻ cổ kính, mà chỉ xử dụng một thể thơ bình thường đối với
ho..
Nguyễn Tuyết Hạnh viết cả một luận án tiến sĩ về việc dịch thơ
Đường (Vấn Đề Dịch Thơ Đường ở Việt Nam, 1996) mà không hề so sánh âm điệu lục
bát với thơ Đường. Bà đã khen ngợi Tản Đà khi ông dịch
Tích
thời nhân dĩ một
Kim nhật thủy do hàn
Kim nhật thủy do hàn
(Người
thời xưa đã mất
Nước ngày nay vẫn lạnh)
Nước ngày nay vẫn lạnh)
thành
Người
xưa nay đã đi đâu
Lạnh lùng sông nước cơn sầu chưa tan.
Lạnh lùng sông nước cơn sầu chưa tan.
tuy nhiên về mặt âm điệu (tiết tấu 2+3, 2+3 đầy khắc khoải của
nguyên bản, những âm trắc đối với những âm bằng nhấn mạnh sự tương phản) thì
theo tôi lối dịch này không thể chấp nhận được. (Đó là chưa nói về sự kín đáo
và súc tích của ngôn từ : đem chữ "sầu" vào là hạn chế hẳn ý nghĩa
của câu thơ, vì hai câu chữ Hán gợi bao nhiêu là ý nghĩ và xúc cảm chứ đâu phải
chỉ có "sầu".)
Trở lại lục bát, vì cách cấu trúc như vậy nên lục bát rất ít thay
đổi. Vì vần luôn luôn là âm bằng nên lục bát có 1 âm điệu êm ả, ru ngủ. Thật
đáng tiếc rằng tiếng Việt đặc sắc ở dấu mà các thi sĩ ta không biết tận dụng
lại vứt đi hơn một nửa. Cái vần bằng này được củng cố bằng tính chẵn và sự đều
đều của nhịp: nhẹ mạnh, ắc ê, một hai, không có nhịp lẻ.
Vì mỗi cặp lục bát luôn luôn kết thúc ở nhịp mạnh âm bằng nên gây
cho ta một cảm tưởng đã chấm dứt (finality), không thể dùng âm điệu hay nhịp để
dựng lên một sự căng thẳng rồi dần dần đưa đến giải quyết. 1000 câu lục bát thì
có 500 câu hỏi và 500 câu trả lời, chứ không thể có 1 câu hỏi lớn, đưa đến
tranh chấp dài hơi, đưa đến 1 sự giải quyết mãnh liệt ở cuối. Về mặt âm điệu
(xin nhấn mạnh tôi không muốn nói về những khía cạnh khác ngoài âm điệu),
truyện Kiều là mấy ngàn mô đất nhỏ đứng cạnh nhau chứ không phải là 1 rặng núi
lớn.
(Tiện đây tôi cũng lấy làm lạ rằng hình như Việt Nam là nước duy
nhất mà tác phẩm lớn của dân tộc lại được dùng vào việc ru ngủ, và có nhiều nhà
phê bình văn học lại hãnh diện về chuyện đó.)
Gần đây có nhiều người đã cố gắng đổi mới lục bát bằng cách cho nó
mặc những bộ áo mới, chẳng hạn ngắt nó ra thành nhiều dòng, mỗi dòng từ 1 tới 5
hay 7 chữ thay vì 6-8, kiểu như
Con
cò
Mày đi
Ăn
Đêm
Đậu
Phải cành
Mềm
Lộn cổ xuống ao...
Mày đi
Ăn
Đêm
Đậu
Phải cành
Mềm
Lộn cổ xuống ao...
Nhưng mà mùi vị của lục bát rất nồng và mạnh, không phải chỉ xào
nấu sơ sơ như vậy mà thay đổi hay ngụy trang được. Có lẽ chỉ Bùi Giáng là đã
thành công trong việc "đổi mới" lục bát với những lối chơi chữ, thay
đổi tiết tấu mạnh nhẹ rất bất ngờ. Cũng cần nói tới "Đọc bài Con Cò Mà Đi
Ăn Đêm" của Trần Lục Bình trong Việt (1998/1) trong đó tác giả đã đùa giỡn
với âm điệu và ý tứ của bài lục bát một cách rất lý thú.
Bây giờ tôi xin liều lĩnh suy diễn một chút. Một thể thơ như vậy,
nếu coi là quốc hồn quốc túy thì sẽ cho ta thấy cái gì ở con người Việt Nam? Đó
sẽ là 1 dân tộc không thích mạo hiểm, không thích cấu trúc lớn, mà thích an
phận với những cái tầm thường, chóng giải quyết. Không thích hỏi câu hỏi lớn,
xa xôi và tốn thì giờ đi tìm câu trả lời. Không thích sự căng thẳng mà thích
giải quyết vội vã, chóng vánh, dễ dãi. Không thích sự đa dạng, bất đồng, bất
định (uncertainies) mà thích cái gì cũng vào 1 số nhỏ khuôn mẫu nhất đi.nh.
Không thích cái xáo trộn của vần trắc mà luôn luôn tìm ngay đến cái êm ả của
vần bằng. Gãi tai rồi (vần bằng ở chữ 6 câu bát) vẫn chưa đủ đã ngứa, lại phải
gãi thêm một cái nữa cho chắc ăn (chữ 8 câu bát). Có thật dân Việt Nam như vậy
không? NẾU đã chấp nhận lục bát là quốc hồn quốc túy, thì phải chấp nhận những
sự thật kể trên.
LỤC BÁT VÀ NHẠC
Lục bát ảnh hưởng rất sâu đậm lên âm nhạc Việt Nam. Phần lớn dân
ca Việt Nam là từ ca dao mà ra, mà ca dao thì hầu hết là lục bát.
Như đã nói, lục bát cứ mỗi câu lại dứt bằng 1 âm bằng (hay nói cho
đúng, câu bát dứt bằng 2 âm bằng ở vần cũ và vần mới). Âm bằng là những âm đơn
cung (monotonic sound):
ngang:
đơn cung vừa
huyền: đơn cung trầm
huyền: đơn cung trầm
trong khi vần trắc tạo từ 2 cung hay nhiều hơn, đi lên hoặc đi
xuống hoặc chặn lại, gây ra 1 cảm tưởng chuyển động, mâu thuẫn, bứt rứt:
Sắc:
từ ngang đi lên
Hỏi (và ngã giọng miền Nam): đi xuống hoặc đi lên tùy giọng địa phương
Ngã: âm trong họng bật ra rồi đi lên (ở giọng miền Bắc)
Nặng: âm trầm bị chặn trong ho.ng.
Hỏi (và ngã giọng miền Nam): đi xuống hoặc đi lên tùy giọng địa phương
Ngã: âm trong họng bật ra rồi đi lên (ở giọng miền Bắc)
Nặng: âm trầm bị chặn trong ho.ng.
Trong tiếng Việt, vần bằng đóng vai trò của nốt chủ âm (tonic), là
âm thanh làm cho ta dễ chịu nhất, như là gãi ngứa. Trong nhạc mà nghe thấy nốt
tonic (nhất là khi được đệm bởi hoà âm chủ - tonic chord) có nghĩa là: xong,
hết, nghỉ xả hơi, không còn căng thẳng, tìm tòi gì nữa, không còn gì để giải
thích, giải quyết. Khi Phạm Duy phổ nhạc Ngậm Ngùi:
Nắng
chia nửa bãi chiều RỒI
Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá RẦU
Sợi buồn con nhện giăng MAU
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt ĐÂY
Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá RẦU
Sợi buồn con nhện giăng MAU
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt ĐÂY
thì đánh luôn nốt tonic vào những chữ RỒI, RẦU, MAU, ĐÂY. Điểm này
khiến nhạc bài Ngậm Ngùi rất tự nhiên và hợp với giọng thơ, và cũng rất hợp với
tai thính giả Việt Nam. Đến tonic rồi là câu nhạc kể như xong, fini, không còn
gì để nói nữa. (Cũng cần để ý là Huy Cận đã để những phụ từ có âm nhẹ: rồi,
đây, vào những nhịp mạnh để bớt đi cái vẻ cứng ngắc của lục bát).
Để phổ nhạc lục bát, cách giản dị nhất là đọc thẳng ra như nguyên
bản, không thêm bớt. Trong âm nhạc bình dân, đây là cách hát ru con của các bà
me.. Tiến thêm một bước nữa là ngâm thợ Khi ru con cũng như khi ngâm thì cái
tính đều đều buồn tẻ của lục bát đã được giảm đi nhiều vì người ngâm thay đổi
độ dài của mỗi chữ và uốn giọng lên xuống.
Trong tân nhạc, đôi khi phổ nhạc theo cách giản dị này (tức là
không thêm bớt số chữ và không thay đổi tiết tấu) cũng dẫn đến kết quả khá tốt,
như trong bài "Trăng Sáng Vườn Chè":
Một
quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường...
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường...
nhưng thường thì nhịp điệu này có vẻ quá giản dị nôm na. Tiến lên
1 bước nữa, có thể ngắt mỗi câu ra thành nhiều đoạn ngắn (hai hay bốn chữ) như
trong bài Ngậm Ngùi. Tuy nhiên Trăng Sáng Vườn Chè và Ngậm Ngùi có lẽ là ngoại
lê.. Thường đem lục bát vào 1 bài ca muốn cho hay thì nhạc sĩ cần thay đổi tiết
tấu nhiều. Bài sau đây của Phạm Duy là tiêu biểu, khi ông phổ câu "Trèo
lên cây bưởi hái hoa / Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân":
Trèo
lên lên trèo lên
Trèo lên lên trèo lên
Lên cây bưởi (i í i) hái (i í i) hoa
Bước ra ra vườn cà
Bước ra ra vườn cà
Hái (i) nụ (u u u) tầm (m m m) xuân.
Trèo lên lên trèo lên
Lên cây bưởi (i í i) hái (i í i) hoa
Bước ra ra vườn cà
Bước ra ra vườn cà
Hái (i) nụ (u u u) tầm (m m m) xuân.
Bài này dùng những kỹ thuật rất thông dụng trong dân ca: thêm
những âm đệm, láy những âm có sẵn, kéo dài và luyến láy (melisma - như trong
những "i í i" ở bài trên), lại thêm một sự chuyển hệ (metabole) rất
đặc thù ở chữ xuân. Quả thực những tác giả dân ca Việt Nam đã rất tài tình
trong việc biến hóa lục bát và làm cho âm điệu của nó trở thành phong phú:
Yêu
nhau cởi áo ôi à cho nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ, a à a á a ...
Rằng a ối a qua cầu
Rằng a ối a qua cầu
Tình tình là gió bay
Tình tình là gió bay
Về nhà dối rằng cha dối mẹ, a à a á a ...
Rằng a ối a qua cầu
Rằng a ối a qua cầu
Tình tình là gió bay
Tình tình là gió bay
Trong Đường Về Dân Ca, Phạm Duy khẳng định:
Không
còn nghi ngờ gì nữa, hát lý là ca dao lục-bát được phổ nhạc. Để biến ca dao
thành hát lý, người xưa có nhiều cách bố cục.
(Ghi chú: những đoạn sau đây nói về kỹ thuật phổ lục bát trong dân
ca được trích dẫn từ Trang Nhạc Phạm Duy,http://kicon.com/PhamDuy/DanCa/hatLy.html )
1)
Một cặp lục-bát là một nhạc khúc
Thông
thường là chỉ dùng một cặp lục bát. Cả hai câu 6 và 8, với tiếng đệm và tiếng
láy, trở thành một bài hát và chỉ có một nhạc khúc mà thôi. Ví dụ LÝ CON SÁO
HUẾ, LÝ CHIM CHUYỀN và LÝ TRIỀN TRIỆN:
Xem
lên hòn núi (hòn núi ta lý nọ) Thiên Thai
Thấy (ư) đôi (á đôi con triền) triền triện
Thấy (ư) đôi (á đôi con triền) triền triện
(ta lý nọ) ăn xoài (a ý a, ăn xoài) chín cây.
Thấy (ư) đôi (á đôi con triền) triền triện
Thấy (ư) đôi (á đôi con triền) triền triện
(ta lý nọ) ăn xoài (a ý a, ăn xoài) chín cây.
2)
Chia đôi cặp lục bát thành hai khúc
Chia
đôi hai câu ca dao, câu 6 là khúc 1, câu 8 là khúc 2, nhưng cả hai đều chỉ được
hát trên một nhạc khúc mà thôi. Ví dụ câu ca dao:
Chim
khuyên ăn trái nhãn lồng
Thia lia quen chậu vợ chồng quen hơi.
Thia lia quen chậu vợ chồng quen hơi.
Khi
trở thành bài LÝ CHIM KHUYÊN (hay là LÝ CHIM QUYÊN) thì câu 6 được phổ bằng một
nhạc khúc:
Chim
khuyên (quầy) ăn trái (quây)
Nhãn (i i i lồng nhãn i i i) lồng
(ơ con bạn mình ơI)
Nhãn (i i i lồng nhãn i i i) lồng
(ơ con bạn mình ơI)
Câu
8 cũng được hát trên nhạc khúc có sẵn đó:
Thia
lia (quầy) quen chậu (quây)
Vợ ( i i i chồng vợ i i i ) chồng
(ơ con bạn) quện hơi
Vợ ( i i i chồng vợ i i i ) chồng
(ơ con bạn) quện hơi
3)
Toàn vẹn câu lục bát được dùng
...
với tiếng đệm, tiếng lót, nhưng lại có thêm câu ca để phụ thêm ý nghĩa cho bài
hát. Ví dụ câu ca dao lục bát sau đây:
Chiều
chiều ra đứng (ơ mưa) ngoài mưa
(Mưa ngoài mưa)
Thấy ai (tang tình) khuấy nước (ơ)
Đẩy đưa (đẩy đưa) con đò...
(Mưa ngoài mưa)
Thấy ai (tang tình) khuấy nước (ơ)
Đẩy đưa (đẩy đưa) con đò...
4)
Dùng hai cặp lục bát
Một
bài hát lý cũng có khi dùng hai cặp lục bát, nghĩa là 4 câu thợ Sau mỗi cặp lục
bát cũng có thêm một câu thơ phụ để cho câu thơ lục bát đó có thêm ý nghĩa.
Chẳng hạn bài LÝ QUAY TƠ. Bài hát lý này được phân ra hai loại khúc với hai
nhạc điệu khác nhau.
Khúc
1 là hai câu lục bát có thêm câu tăng cường:
Sáng
trăng, sáng cả (tranh mà) vườn tranh
(có) Bên anh (anh ngồi) đọc sách
Bên nàng quay (mối) tơ..
(có) Bên anh (anh ngồi) đọc sách
Bên nàng quay (mối) tơ..
Thêm
câu phụ nghĩa:
Cứ
đêm đêm khi đèn chưa tỏ
Em ngồi quay dưới bóng trăng...
Em ngồi quay dưới bóng trăng...
Khúc
2, với nhạc điệu hơi khác khúc 1, là hai câu lục bát tăng cường:
Thêm
câu phụ nghĩa :
Cứ
đêm đêm em ngồi em dệt
Bao vần thơ ôi mến yêu (2 lần)
Bao vần thơ ôi mến yêu (2 lần)
5)
Dùng bốn cặp lục bát
Ví
dụ bài LÝ BÌNH VÔI. Nguyên văn:
Lỡ
tay, rớt bể bình vôi
Chủ ra bắt được bắt ngồi xướng ca.
Xướng ca là xứ của người
Biểu tôi không ở kêu trời nỗi chi?
Lỡ tay rớt bể bình vôi.
Bắt suôi bắt ngược bắt ngồi với nhau.
Có cau lại có cả trầu
Có dâu có rể ăn trầu bởi ai?
Chủ ra bắt được bắt ngồi xướng ca.
Xướng ca là xứ của người
Biểu tôi không ở kêu trời nỗi chi?
Lỡ tay rớt bể bình vôi.
Bắt suôi bắt ngược bắt ngồi với nhau.
Có cau lại có cả trầu
Có dâu có rể ăn trầu bởi ai?
6)
Dùng bảy cặp lục bát
Chỉ
thấy ở LÝ CỬA QUYỀN ở vùng Huế, Thừa Thiên. Đây là một bài thơ dài, có tới bảy
cặp lục bát hát liên tục. LÝ CỬA QUYỀN đặc biệt là ở chỗ câu đầu gồm một cặp
lu.c-bát rưỡi, nhưng từ câu thứ hai trở đi thì câu hát khởi sự từ "câu
bát" và kết bằng "câu lục" (của cặp lu.c-bát sau):
(Bốn)
Cửa Quyền chạm bốn con dơi
Hai con (tình như) dơi cái ( y y y y)
Hai (hai ý) con đầu xà ( ta la)
(Bốn) Cửa Quyền chạm bốn bình ba
Hai bình (tình như) ba sứ (y y y y)
Hai (ỳ hai ý) bình (là bình) ba sen (ta la)
(Bốn) Cửa Quyền chạm bốn cây đèn.
Hai cây (tình như) đọc sách ( y y y y)
Hai (hai cây đèn là) đèn quay tơ (ta la)
(Bốn) Cửa Quyền chạm bốn bài thơ
Hai con (tình như) dơi cái ( y y y y)
Hai (hai ý) con đầu xà ( ta la)
(Bốn) Cửa Quyền chạm bốn bình ba
Hai bình (tình như) ba sứ (y y y y)
Hai (ỳ hai ý) bình (là bình) ba sen (ta la)
(Bốn) Cửa Quyền chạm bốn cây đèn.
Hai cây (tình như) đọc sách ( y y y y)
Hai (hai cây đèn là) đèn quay tơ (ta la)
(Bốn) Cửa Quyền chạm bốn bài thơ
Bài
lý này tiếp tục với những câu bát lục sau đây, và vẫn được hát theo điệu công
thức đã dùng để hát những câu đầu:
Hai
bài thơ phú hai bài thơ ngâmCửa quyền chạm bốn con rồng
Hai con lấy nước hai rồng phun mây
Cửa quyền chạm bốn ông thầy
Hai ông đọc sách hay thầy tụng kinh
Bốn cửa quyền chạm bốn tứ linh
Long, Lân, Qui, Phượng như sinh một nhà
Cửa quyền chạm trổ tài hoa...
KẾT LUẬN
Lục bát thường được coi là quốc hồn quốc túy của Việt Nam, nhưng
theo tôi nó tượng trưng và biểu hiện những khuynh hướng bảo thủ của dân tộc.
Trong khi các tác giả dân ca đã có nhiều thành công trong việc
thăng hoa lục bát thành những bài hát đặc sắc, thì tân nhạc Việt Nam dường như
lại thừa hưởng nguyên vẹn những đặc tính kém cỏi của lục bát. Cái "tinh
thần lục bát" như đã nói trên phản ảnh một tinh thần ghét mạo hiểm, không
thích cấu trúc lớn, thích nhỏ nhoi, an phận, thích khuôn mẫu, thích êm ả. Tất
cả những đặc tính này cũng được thấy quá nhiều trong tân nhạc Việt Nam, với
những bài ca ngắn ngủi, cấu trúc không thay đổi (luôn luôn là thể ABA với 4 câu
điệu A nhắc lại, 4 câu điệu B, rồi trở lại A), chủ đề cũ kỹ (tình yêu, thiền,
chán đời, hoài hương - ở hải ngoại nhớ quê hương đã đành mà ngay ở Việt Nam
cũng nhớ!) , kỹ thuật quen thuộc, tiết tấu buồn tẻ không bao giờ thay đổi, âm
điệu êm tai dễ dãi (gần như không bao giờ đi ra ngoài tonality), kết thúc vội
vã, trở về chủ âm chóng vánh, v.v... Tân nhạc cho tới nay phần lớn là nhạc để
ru ngủ, cũng như lục bát phần lớn là thơ để ru ngủ. Với sự tiếp cận thế giới
càng ngày càng mạnh mẽ, hi vọng rằng tân nhạc Việt Nam chóng thực sự trưởng
thành và vượt qua những nhược điểm này.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét