Ca ngợi văn chương
Nguyễn Phú Yên
Nghệ thuật trên bước đường sinh thành đã hiện diện như một chứng
lý xác định những mốc giới trên hướng đi của lịch sử tinh thần con người. Do đó
mọi thăm dò tiến bộ tinh thần đều có thể quy nạp vào tiến trình của tư tưởng,
trong đó có nghệ thuật, văn chương. Văn chương, vì thế, hệ tại ở chỗ nói lên
được sự vươn tới chân thiện mỹ của nhân loại trong tiến trình trên. Trong viễn
tượng đó, những biểu lộ văn chương tự trình bày như một tất yếu và thiết yếu,
xâm nhập những cơ cấu sinh tồn của một khu vực xã hội, do đó tác động trên lý
tính con người, trong chuyển động lịch sử và biến hóa xã hội. Biểu lộ văn
chương được xác định như một dâng hiến vừa là một kiến tạo xã hội. Chúng ta bó
buộc nhìn tới văn chương bằng một nhãn giới tích cực, như thế văn chương sẽ tự
bộc lộ bằng những dáng vẻ năng động của một thế lực, xét như là hệ luận của sự
hiện hữu văn chương. Nhìn về những biểu lộ văn chương chính là nhìn về hệ luận
của chúng. Và một cái nhìn như thế sẽ là một thử thách tâm linh, thử thách đối
với người làm văn chương.
Văn chương, trong ý nghĩa đó, được kể như một dự phóng nhân loại,
đưa con người về trước một triển vọng. Vì vậy sau khi lý hội yếu tính của những
biểu lộ văn chương là một lối nhìn đời tích cực, người thưởng ngoạn buộc phải
lãnh nhận một trách nhiệm trước tác phẩm là tham dự thân thiết với ý nghĩa của
nó. Và chính trong trách nhiệm tham dự đó mà những biểu lộ văn chương, với khả
năng của chúng, tác động tới xã hội, lịch sử qua môi giới người thưởng ngoạn,
người đi tìm ý nghĩa tác phẩm. Nói cách khác, hiện hữu của văn chương chưa phải
là một hiện hữu toàn diện nếu nó chưa tìm được nơi thể nghiệm hệ luận, chưa
phát triển những chiều hướng ý nghĩa gián tiếp, chưa được triển khai chân lý
tiềm ẩn từ trong tác phẩm. Vì vậy nhìn tới văn chương là thêm vào văn chương và
đó cũng là lối trở về với văn chương. Văn chương hôm nay sẽ thôi hành động như
một cội nguồn khoái cảm, thù tạc mà hành động như một thế giá, một động lực,
một tác dụng đưa về một nẻo xoay vần của xã hội. Trong triển vọng đó, văn
chương chính là một hiện tượng, một sự kiện. Đó là ý nghĩa sâu xa nhất của
những bày tỏ văn chương.
Văn
chương là gì?
J.P.Sartre đã từng viết một tác phẩm để trả lời vấn nạn đó. Còn Benedetto Croce
đã không tìm được câu trả lời dứt khoát nếu không nói là không thể trả lời
được. Thiết tưởng đây không phải là vấn đề dung dị bởi vấn nạn đưa ra bao hàm
những đòi hỏi về một quan niệm, một thái độ, một cư xử trước văn chương. Nói
cách khác, vì lẽ không có một xác định độc nhất về yếu tính văn chương, nghĩa
là có những dị biệt về quan niệm yếu tính, cho nên văn chương sẽ hiện ra cho
mỗi người một dáng vẻ. Mỗi dáng vẻ đó chỉ là một khía cạnh mà văn chương gửi
đến chúng ta. Do đó cái nhìn trắc diện của người thưởng ngoạn không đảm bảo cho
một xác định chung, không đổ đầy cái yếu tính làm thành văn chương. Không thể
quy về một nhất thống trong việc nhận diện văn chương, bởi yếu tính của nó là
hàm hồ. Mỗi trường phái văn chương quan niệm hoàn toàn dị biệt nhau về yếu tính
đó. Duy có điều có thể dựa vào những chất liệu xây dựng văn chương này để phân
biệt cái khác với văn chương: thực tại và ngôn ngữ. Từ đó người ta xác nhận thế
giới văn chương không chỉ biểu hiện thế giới vật lý. Văn chương vượt ra khỏi
những mô hình khả dụng của chất thể để tạo lập một hệ thống giá trị ý nghĩa
tinh thần. Khẳng định này bao hàm một thái độ nhấn mạnh, một cái nhìn thiên trọng
về ý hướng văn chương. Dĩ nhiên ý hướng này chỉ được lý hội trong một nhìn nhận
tác dụng của văn chương. Ý hướng văn chương là thành quả của một quy nạp ý
nghĩa những bày tỏ văn chương. Nói khác đi, thái độ đó muốn xác nhận mức độ
mãnh liệt có thể có được của sức tác dụng văn chương. Hẳn có người sẽ dò hỏi
sức tác dụng đó, nhưng có lẽ đó không phải là vấn đề quan hệ, bởi lẽ những điều
kiện của tác dụng văn chương hệ tại ở sự khai mở ý nghĩa của người thưởng
ngoạn. Khi ý nghĩa không còn bị chôn vùi trong những sự kiện mô tả, diễn đạt
thì bấy giờ văn chương mới có cơ hội phát triển sức hành động của nó. Bao lâu
tác phẩm còn ở trong một quán tính bất động, nghĩa là chưa có một đóng góp sáng
tạo của người thưởng ngoạn, bấy lâu sức tác dụng không còn là vấn đề. Vì vậy
văn chương chỉ có tác dụng khi người ta biết lắng nghe nó và phát triển ý nghĩa
của nó. Tác dụng văn chương chỉ có thể có trong một nhìn nhận tiếng nói của nó.
Do đó đừng hỏi tác dụng của văn chương khi vẫn xem văn chương như một trò tiêu
khiển, thù tạc, một nơi đánh đổi khoái cảm. Thứ văn chương như thế đã bị tàn
phá.
Văn
chương nào để ca ngợi?
Đi từ xác nhận tiên khởi về ý nghĩa của văn chương, chúng ta hãy tự thúc đẩy
một quan niệm nhìn xét văn chương dưới khía cạnh tích cực của nó và tạo lập cho
văn chương một sức mạnh lập cước trên một tư thế mới khi cởi mở cõi lòng thu
nhận lời nói từ sâu thẳm vọng lên. Nhưng khía cạnh tích cực đó chỉ bày ra khi
văn chương dẫn đưa người đọc về trước vấn đề, trước hiện hữu của nó hay là
cưỡng bách người đọc luôn luôn bị bao hàm trong tác phẩm, nghĩa là khi văn
chương gây ra vừa là một phản động (répercussion) vừa là một nối kết (adhésion)
giữa nó và con người, giữa nó và xã hội. Trong viễn tượng như thế, văn chương
đích thực cần phải được xem như một hiện tượng.
Một quan niệm về nghệ thuật chính là một trong những huy động khả thể tính của
nghệ thuật. Một quan niệm về văn chương cũng là cơ hội tìm kiếm chính nó. Và
mỗi một quan niệm đều khác, phân biệt, đối nghịch với những quan niệm có sẵn,
điều đó chỉ là một cách thế, nói khác đi mỗi quan niệm là một tác động của biện
chứng nhân loại (dialectique humaine). Tác động đó có tính chất tất yếu để đưa
về cuộc sinh thành mới.
Cuộc sinh thành đó là một vận chuyển có điều kiện. Vận chuyển đó được ghi nhận
qua lý do ngoại tại là thực tại xã hội. Nói đến lý do ngoại tại tức là đã đặt
ra một tương quan thân thiết giữa thực tại xã hội và biểu lộ văn chương. Người
làm nghệ thuật, văn chương thiết yếu gắn bó với đời, hắn không thể thoát ly
khỏi cuộc sống. Hắn phải va chạm thường trực với đời sống xã hội quanh hắn. Vì
vậy mà chúng ta nói nghệ thuật văn chương là một lối biểu lộ về đời và người.
Cuộc đời, thực tại xã hội là chất liệu làm nên văn chương. Và hẳn là biểu lộ
trên thể hiện bằng cái tưởng tượng, nhưng luôn đặt cơ sở trên chất liệu đó. Và
một khi biểu lộ văn chương thành hình, nó phải được gửi tới kẻ khác và nó chỉ
có được ý nghĩa trong một giao cảm với tha nhân. Như vậy cuộc đời, xã hội vừa
làm văn chương thành hình vừa đón nhận văn chương. “Toute manifestation littéraire, esthétique en son
essance, est sociale par ses contacts avec les groupes divers qui la préparent,
l’accueillent, la condamnent, l’absorbent... Mọi biểu lộ văn chương, với yếu tính là mỹ học, có tính
cách xã hội bởi những giao tiếp của nó với những đám người khác nhau chuẩn bị
cho nó, đón nhận, kết án hay hấp thụ nó... » (1). Nhưng mỗi xã hội ở trong
một thời đại nào đó đều tự chiếm hữu cho mình một thái độ, một cách thế sống,
một lề lối suy tưởng của thời đại đó. Qua một thời đại khác, thái độ, cách thế,
lề lối đó biến đổi theo những vận chuyển lịch sử, tức là biến đổi theo những
cảnh đời mới. Chúng ta có thể đồng ý với Đặng Thai Mai khi ông cho rằng: «Ý thức rõ rệt về tính cách biến
thiên của xã hội là một nguyên lý sáng tác của văn nghệ» (2). Đó là một tiền đề quy nạp từ
những kinh nghiệm lịch sử văn học. Chừng mực đó chưa đủ, chúng ta cần đi sâu
vào mối tương quan giữa văn chương và xã hội hơn nữa. Vẫn biết sự biến hóa của
xã hội tác động trên văn chương làm cho văn chương phải đòi hỏi những tình tự,
những cách bày tỏ khác biệt, nhưng tác động không chỉ có một chiều. Văn chương
trong viễn tượng một hiện tượng, phát biểu một hệ luận là có thể quy định một
chế lập xã hội. Văn chương được kể như một sức mạnh có thể góp phần hình thành
một thực tại xã hội mới, sắp đặt, tạo dựng cơ cấu sinh hoạt của một cộng đồng
nhân quần. Nói khác đi, thực tại xã hội thiết yếu sinh động do một căn bản văn
chương. Vì vậy ta có thể lật ngược tiền đề trên rằng ý thức rõ rệt về tác động
văn chương là một phần tạo nên biến thiên của xã hội. Hiện tượng văn chương đã
trở thành một cơ cấu mới của thực tại xã hội. Văn chương là yếu tố tinh thần
cần thiết để một xã hội được duy trì. Đó là tính cách cơ bản của văn chương.
Văn chương được coi như nguồn năng lực tự phát động làm cho sinh hoạt xã hội
vận chuyển thường xuyên. «Si
la littérature exerce une influence, et si le monde n’a pas cessé d’être le
monde,...il faut bien admettre que l’expression littéraire a contribué à le
maintenir en activité...Nếu văn chương gây một ảnh hưởng, nếu thế giới
không ngừng là thế giới, phải nhận rằng biểu lộ văn chương đã giúp vào để thế giới
ấy hoạt động» (3). Sự phát triển, tiến hóa của xã hội chỉ có điều kiện thể hiện
nếu nó tự soi rọi để lý hội sức trì đọng của mình. Mà trì đọng là hủy thể. Xã
hội nào cũng muốn tiến hóa, trong đó sự tiến hóa trí thức cũng quan trọng. Muốn
quay trở lại chính mình, xã hội phải căn cứ vào văn chương, bởi văn chương là
lối nhìn về thực tại, về những thuộc tính của thực tại đó. Nhìn nhận xã hội là
nhìn nhận văn chương. Tóm lại văn chương vừa là cơ sở, vừa là điều kiện vận
chuyển và tiến hóa của thực tại xã hội.
Cuộc sinh thành một quan niệm
như thế làm xuất hiện một nhãn giới mới để diễn dịch một ý nghĩa mới. Lịch sử
của nghệ thuật, văn chương cũng như của triết lý là lịch sử của những thanh
trừng. Trong những lĩnh vực này, người ta thường thanh toán lẫn nhau, bởi lẽ
không ai cùng chấp nhận một tiêu chuẩn chung kể như là một chân lý dùng làm mực
thước căn cứ cho những phán đoán giá trị. Cho dù Ferdinand Brunetière có đi đến
một thứ chủ nghĩa tuyệt đối để cho rằng «il y a une vérité littéraire, có một chân lý văn chương», đến bây
giờ chúng ta vẫn thấy chân lý đó chỉ là một ảo tưởng, chưa có ai chết cho chân
lý đó cả. Vì vậy chỉ có chân lý riêng cho một người, cho một thứ văn chương.
Văn chương dẫn xuất từ cảnh đời của thực tại xã hội và xã hội dựa trên văn chương.
Khi có sự biến đổi cảnh đời đó tức là tự nguồn gốc đã có sự chuyển động của văn
chương. Mỗi xã hội đòi hỏi một căn bản văn chương khác nhau, cho nên căn bản đó
không thể là độc nhất.
Lối nhìn hôm nay về văn chương
là muốn nhấn mạnh đến tính cách căn bản của văn chương đối với xã hội mà từ
trước người ta đã không đặt thành vấn đề. Văn chương được kể như một hiện tượng
là vì thế. Nếu về trước người ta thưởng ngoạn nghệ thuật, văn chương với ý
hướng đi tìm cái đẹp, tìm cảm giác thỏa mãn tinh thần, tìm giải trí, thù tạc,
tiêu khiển thì hôm nay cần phải cởi bỏ những ý hướng trên mới có thể nhập vào
hiện tượng văn chương. Văn chương hôm nay chắc chắn không phải là là một thứ
«văn chơi» và người làm văn chương sẽ không bao giờ là một thứ «văn sĩ bò sát» (danh
từ của Đặng Thai Mai). Tác phẩm hôm nay không chỉ diễn xuất, sáng tạo cái đẹp.
Nó đã vượt qua tinh thần duy mỹ để nhấn mạnh tính chất và tác dụng của văn
chương. Nói đến mỹ học chỉ làm người ta càng cách xa nhau trong suy nghĩ về văn
chương. «Le sentiment
esthétique, c’est l’admiration. Cảm tính mỹ học chính là sự ngưỡng mộ» (4).
Đó là điều trước tiên, nhưng ngay vấn đề này người ta vẫn không đồng ý với nhau
về bản chất của nó. Lý thuyết duy trí và Victor Basch cho rằng cảm tính mỹ học
không có tính cách phổ quát trong những điều kiện giống nhau, trong khi Kant
xác nhận ngược lại (5). Cho đến đối tượng của cảm tính này là cái đẹp, người ta
vẫn chủ trương khác nhau. Hegel thì cho cái đẹp là «biểu lộ khả xúc của ý
tưởng» hay là sự đồng nhất giữa ý tưởng và hình thức;
A.G.Baumgarten cho là sự
hoàn thành có thể làm xúc cảm (5); Nguyễn Bách Khoa cho là «một khái niệm
hoàn toàn xã hội», «một khái niệm đẳng cấp», «một khái niệm nhân tạo do ý thức
chủ quan của một xã hội ảnh hưởng qua lại với một thực tại khách quan» (6); Rémy
de Gourmont chủ trương không có cái đẹp tuyệt đối; Maurras, La Harpe cho là có
cái đẹp vĩnh cửu, hợp lý (7). Những
quan niệm trên đều khác nhau, điều đó dễ hiểu bởi vì đúng như lời David Hume
nói: «Beauty is no quality in things themselves, it exists merely in
the mind which contemplates them. Cái
đẹp không có tính chất nào nơi chính sự vật, nó chỉ có trong ý tưởng kẻ thưởng
ngoạn những sự vật đó” (8). Hay như Victor Basch nói: “Le caractère esthétique d’un objet
n’est pas une qualité de cet objet, mais une activité de notre moi, une
attitude que nous prenons en face de cet objet. Tính cách mỹ học của một sự vật không
phải là tính chất của sự vật ấy, nhưng là một hoạt động của bản ngã ta, một
thái độ ta có trước sự vật ấy». Vì thế chỉ có cái đẹp của từng trường hợp, từng
cá nhân, từng thời đại. Mỗi người lĩnh hội cái đẹp qua một ý thức chủ quan và
trên một cơ sở ẩn tàng gọi là ý thức mỹ học (conscience esthétique) của nó. Vậy
quan niệm về cái đẹp là một quan niệm bất định nơi mỗi người, khó có thể có một
tiêu chuẩn chung để đo lường những cấp độ mỹ học.
Lại nữa, một tác phẩm bày tỏ cái
đẹp có đủ tư cách để xác định là một tác phẩm nghệ thuật hay không. A.Lalande
cũng như V.Cousin đều chấp nhận như vậy. Đó là viễn tượng truyền thống mà
H.Taine và nhiều người khác vẫn luôn luôn trung thành. Thiết tưởng cái đẹp chỉ
là đời sống sơ khai của một tác phẩm nghệ thuật, nhất là văn chương. Nó chỉ tác
động trên người thưởng ngoạn bằng một cảm tính chỉ có giá trị đối với ý hướng
đi tìm nó. Đời sống sơ khai trên là cấp bậc yếu kém của cuộc hiện sinh của một
tác phẩm nghệ thuật, chưa thể vươn đến hình thái siêu đẳng của cuộc hiện sinh
đó.
Tác phẩm nghệ thuật cũng không
phải để khêu gợi cảm giác như quan niệm của L.Tolstoy: «To evoke in oneself a sensation which
one has experienced before, and having evoked it in oneself, to communicate
this sensation in such a way that others may experience the same sensation so
that other men are infected by these sensations and pass through them, in this
does the activity of Art consist. Gợi
lên nơi mỗi người một cảm giác mà nó có kinh nghiệm trước, và khi đã gợi lên
phải truyền cảm giác đó trong một cách thế nào để kẻ khác được thu nhận và trải
qua những cảm giác đó, hoạt động nghệ thuật hệ tại ở việc đó” (9). Cái đẹp cũng
như cảm giác chỉ dừng lại ở bình diện cảm quan, cũng vì lẽ này mà người ta
thường xem tác phẩm như một trò mua vui. Một tác phẩm nghệ thuật chính thống
thiết yếu phải vượt qua đời sống sơ khai đó để tiến đến một đời sống cao hơn,
tác động mãnh liệt và oanh liệt trên thực tại xã hội của nó.
Ngôn ngữ
văn chương
Có điều cần nhắc tới nữa là ngôn ngữ văn chương vì được quan niệm dung dị cho
nên mới dẫn đến đời sống sơ khai như thế. Triết gia Gaston Bachelard có nói: “Le poète parle au seuil de l’être. Lời nói của nhà thơ ở ngay bờ hữu
thể”. Nhà thơ bày tỏ những gì ẩn giấu trong bản thể qua sáng tác, tức là ngôn
ngữ. Song ngôn ngữ chưa hẳn là một con đường trực tiếp, đã có sự biến đổi giữa
cái tha quy (pour-soi) và cái tự nội (en-soi). Thiết tưởng con đường dẫn về một
tác phẩm nghệ thuật, văn chương không phải là một con đường thẳng mà là một
đường cong. Hiện tượng văn chương không tác động lên người thưởng ngoạn một
cách trực tiếp như trong một cảm tính của đời sống cảm quan mà tác động theo
tiến trình hoạt động lĩnh hội của người đọc.
Sở dĩ người ta không đi đến văn chương một cách tức thì bởi lẽ ngôn ngữ văn chương là một ngôn ngữ gián tiếp và đa chiều. Lý lẽ này thuộc về quan niệm hiện tượng văn chương nói trên. “Les habitudes du langage sont, de toute évidence, la première de ces exigeants fatalités, et ce n’est pas sans raison que la plupart des grands mouvements littéraires s’accompagnent d’une révolution linguistique. Những tập quán của ngôn ngữ hết sức hiển nhiên là cái đầu tiên của những số mệnh bó buộc, và không phải vô lý khi cho rằng hầu hết những trường phái văn chương lớn đều kéo theo một cuộc cách mạng ngữ học » (10). Vì vậy ngôn ngữ của nền văn chương này khác hẳn ngôn ngữ nền văn chương kia. Một nền văn chương đều phát sinh một ngôn ngữ riêng kể như là cá tính nền văn chương đó. Ngôn ngữ văn chương không phải là một ngôn ngữ vô ngã, nhưng nó tùy thuộc người sử dụng. Người làm văn chương có thể ức hiếp, đàn áp ngôn ngữ để buộc nó đảm nhiệm động tác truyền đạt cảm nghĩ của người dùng nó. Vì vậy trong văn chương, nhất là trong thi ca, ngôn ngữ không còn ý nghĩa của nó. «Le poète usant des mots pour dire, non pas leur sens seulement, mais au delà de leur sens leur correspondance incantatoire au monde qu’ils ont charge de maitriser, on peut le définir comme l’homme qui se sert des mots non pas seulement selon leur sens mais selon leur pouvoir. Thi sĩ dùng những từ, không phải chỉ ý nghĩa của chúng mà ở bên kia ý nghĩa đó để nói lên sự giao cảm thần chú với thế giới mà chúng có nhiệm vụ chế ngự, người ta có thể định nghĩa thi sĩ như người dùng những từ không phải theo ý nghĩa của chúng mà theo khả năng của chúng » (11). Muốn lý hội hết ý nghĩa mà người làm văn chương muốn trình diễn, người thưởng ngoạn phải đi quá ngôn ngữ đó, phải vượt trên ý nghĩa thông thường, bởi vì ngôn ngữ không nói được hết, nó chỉ có một khả năng giới hạn. Vì lẽ đó mà Sartre cũng như Parain cho rằng ngôn ngữ phản bội chúng ta hay những nhà hiện sinh xem ngôn ngữ là một nô tính siêu hình (servitude métaphysique). Đó cũng là lý do khiến Vũ Bằng viết:«Tiểu thuyết, cũng như đời, rất khó mà kể lại, rất khó mà tóm thuật, rất khó mà hiểu» (12). Người làm văn chương trong tình cảnh đó sẽ tìm ra những phương thức để diễn đạt tình tự, cho nên mặc dù ngôn ngữ là hạn định, hắn cũng có thể trao gửi đến mọi người những điều hắn muốn nói. Phương thức đó với M.Ponty là làm những tư tưởng hiện hữu trước ta theo cách thế của những sự vật; với phái tượng trưng là những ẩn dụ (métaphores)... Những phương thức đó là giá trị kỹ thuật của người sáng tạo. Lĩnh hội văn chương trước hết phải ghi nhận kỹ thuật, từ đó mới có thể xâm nhập bản thể văn chương. Mặt khác, vì lẽ văn chương phơi bày một cách gián tiếp với những vẻ trắc diện của nó, cho nên văn chương có thể có nhiều hình thái ý nghĩa. Trình độ thưởng ngoạn của người đọc sẽ tạo nên những hình thái này. Như vậy thưởng ngoạn văn chương với ngôn ngữ của nó không còn là vấn đề dung dị nữa. Tác phẩm không tự bày tỏ ra tức thì nhưng sự bày tỏ biến thiên theo nỗ lực truy tầm ý nghĩa của người đọc.
Sở dĩ người ta không đi đến văn chương một cách tức thì bởi lẽ ngôn ngữ văn chương là một ngôn ngữ gián tiếp và đa chiều. Lý lẽ này thuộc về quan niệm hiện tượng văn chương nói trên. “Les habitudes du langage sont, de toute évidence, la première de ces exigeants fatalités, et ce n’est pas sans raison que la plupart des grands mouvements littéraires s’accompagnent d’une révolution linguistique. Những tập quán của ngôn ngữ hết sức hiển nhiên là cái đầu tiên của những số mệnh bó buộc, và không phải vô lý khi cho rằng hầu hết những trường phái văn chương lớn đều kéo theo một cuộc cách mạng ngữ học » (10). Vì vậy ngôn ngữ của nền văn chương này khác hẳn ngôn ngữ nền văn chương kia. Một nền văn chương đều phát sinh một ngôn ngữ riêng kể như là cá tính nền văn chương đó. Ngôn ngữ văn chương không phải là một ngôn ngữ vô ngã, nhưng nó tùy thuộc người sử dụng. Người làm văn chương có thể ức hiếp, đàn áp ngôn ngữ để buộc nó đảm nhiệm động tác truyền đạt cảm nghĩ của người dùng nó. Vì vậy trong văn chương, nhất là trong thi ca, ngôn ngữ không còn ý nghĩa của nó. «Le poète usant des mots pour dire, non pas leur sens seulement, mais au delà de leur sens leur correspondance incantatoire au monde qu’ils ont charge de maitriser, on peut le définir comme l’homme qui se sert des mots non pas seulement selon leur sens mais selon leur pouvoir. Thi sĩ dùng những từ, không phải chỉ ý nghĩa của chúng mà ở bên kia ý nghĩa đó để nói lên sự giao cảm thần chú với thế giới mà chúng có nhiệm vụ chế ngự, người ta có thể định nghĩa thi sĩ như người dùng những từ không phải theo ý nghĩa của chúng mà theo khả năng của chúng » (11). Muốn lý hội hết ý nghĩa mà người làm văn chương muốn trình diễn, người thưởng ngoạn phải đi quá ngôn ngữ đó, phải vượt trên ý nghĩa thông thường, bởi vì ngôn ngữ không nói được hết, nó chỉ có một khả năng giới hạn. Vì lẽ đó mà Sartre cũng như Parain cho rằng ngôn ngữ phản bội chúng ta hay những nhà hiện sinh xem ngôn ngữ là một nô tính siêu hình (servitude métaphysique). Đó cũng là lý do khiến Vũ Bằng viết:«Tiểu thuyết, cũng như đời, rất khó mà kể lại, rất khó mà tóm thuật, rất khó mà hiểu» (12). Người làm văn chương trong tình cảnh đó sẽ tìm ra những phương thức để diễn đạt tình tự, cho nên mặc dù ngôn ngữ là hạn định, hắn cũng có thể trao gửi đến mọi người những điều hắn muốn nói. Phương thức đó với M.Ponty là làm những tư tưởng hiện hữu trước ta theo cách thế của những sự vật; với phái tượng trưng là những ẩn dụ (métaphores)... Những phương thức đó là giá trị kỹ thuật của người sáng tạo. Lĩnh hội văn chương trước hết phải ghi nhận kỹ thuật, từ đó mới có thể xâm nhập bản thể văn chương. Mặt khác, vì lẽ văn chương phơi bày một cách gián tiếp với những vẻ trắc diện của nó, cho nên văn chương có thể có nhiều hình thái ý nghĩa. Trình độ thưởng ngoạn của người đọc sẽ tạo nên những hình thái này. Như vậy thưởng ngoạn văn chương với ngôn ngữ của nó không còn là vấn đề dung dị nữa. Tác phẩm không tự bày tỏ ra tức thì nhưng sự bày tỏ biến thiên theo nỗ lực truy tầm ý nghĩa của người đọc.
Nói tóm lại, trong triển vọng
đưa vào đích thực những hiện tượng văn chương, cần phải cởi bỏ mọi thái độ dễ
dãi trong ý hướng đón nhận văn chương. Văn chương hôm nay phát sinh từ một sáng
tạo bi thiết. Sáng tạo đó cũng chính là một lối xử thế, một thái độ trước cuộc
đời. Viết là phân trần, là bày tỏ, là lên tiếng. Do đó văn chương hôm nay mang
ý nghĩa đối thoại với cuộc đời, với người. Đối thoại với một tinh thần thẳng
thắn, nghiêm trang như là một hành động thuộc về trí thức. Nơi gặp gỡ, đối
thoại đó là tác phẩm. Tác phẩm là tiếng nói, là thái độ được thể hiện ra. Tác
phẩm có tính cách đối nghịch, vừa là nơi nhập thế vừa là nơi xuất thế của người
làm nghệ thuật, người làm văn chương. Bằng tác phẩm, người làm văn chương tự
trình diện với đời, tự cọ xát với xã hội, tha nhân; hắn tự cột chặt trong những
tương quan tha thiết đó. Từ vị trí đặt định, hắn nhìn về đời và cái nhìn đó nói
lên chân lý cho người khác, cho xã hội. Nhưng cũng bằng tác phẩm, người làm văn
chương vươn khỏi xã hội hắn đang sống; hắn không bị chìm đắm, bị áp đảo bởi xã
hội. Văn chương là dự phóng của xã hội, cho nên người làm văn chương đi trước
xã hội. Bởi lẽ chân lý của hắn là điều kiện tiến hóa của xã hội. Léopardi cho
rằng chúng ta thật sung sướng được trở thành trẻ con nhờ bởi thi ca (13). Trẻ
con là sự hồn nhiên trong sáng và tính chất này là nhân tố mặc khải chân lý
trên. Và cũng bởi là điều kiện tiến hóa cho nên tác phẩm là một lối phò thế. Có
thể ví những cảnh đời trong tác phẩm như những tai nạn mà kẻ phân xử là người
thưởng ngoạn, người đọc. Thưởng ngoạn là tham dự, khai mở những ý nghĩa, giải
quyết những vấn đề, những câu hỏi, bởi vì như Claude Roy nói, viết một tiểu
thuyết, một thi phẩm chính là đặt câu hỏi, chính là tự hỏi và tra hỏi người
khác. Vì vậy tác phẩm như một đáp lời cho người thưởng ngoạn bởi chính người
thưởng ngoạn. Tác phẩm được đưa vào đời chính là qua tác động đó.
Trong viễn tượng như thế, nghệ
thuật, văn chương bao hàm một ý thức, một thái độ trong sáng, một hoạch định
gửi về đời, về một thực tại xã hội. Đặng Thai Mai đã từng nói: «Không có đặc sắc nội dung thì
không có văn học; và nếu như rời tư tưởng ra, nếu không có tư tưởng thì văn
chương chỉ có nghĩa là du dương, lòe loẹt , phù phiếm và vô dụng mà thôi» (14). Một nền văn chương có giá trị
bao giờ cũng bày tỏ được thái độ và ý thức của người làm văn chương trước xã
hội của hắn. Do đó văn chương được coi như dấu tích của hành động bằng tư
tưởng, dấu tích ký thác cho đời, giao ước với người của kẻ chọn lựa cuộc sống
hùng cường là nghệ thuật. Cl.Ed.Magny có nói: «L’oeuvre
littéraire n’est pas simple distraction passagère, mais trace, repère,
témoignage de sa vie spirituelle laissés par l’écrivain, comme ces sandales
qu’Empédocle abandonna, dit-on, aux bords de l’Etna avant de se lancer vers une
dernière aventure. Tác
phẩm văn chương không đơn giản là thứ tiêu khiển chóng qua, nhưng là dấu tích,
mốc giới, chứng cớ của đời sống tinh thần mà người làm văn chương để lại, như
đôi dép của nhà hiền triết Empédocle để lại bên bờ miệng núi lửa Etna trước khi
lao mình vào một cuộc phiêu lưu cuối cùng». Văn chương là di sản mà xã hội là
thừa tự. Di sản đó là giá trị vươn tới mà người làm văn chương dốc lòng sáng
tạo, sáng tạo trong sự thiết tha nồng thắm với đời, với xã hội. Tóm lại, tác
phẩm văn chương chính là một ý thức đang trở thành hành động.
Phê bình văn chương
Trong viễn tượng một nền văn
chương như thế, làm thế nào để phán đoán nó? Vẫn biết phê bình là ý thức của
văn chương như P.Souday nói, nhưng phê bình trong hiện tượng văn chương trước
hết biến thái theo cách thế triển khai ý nghĩa với nhiều khuynh hướng khác
nhau.
Sự triển khai ý nghĩa đó là sự
kéo dài của lĩnh hội. Một cái nhìn đại thể về hiện tượng văn chương sẽ là cái
nhìn thiếu sót, không thấu triệt mọi khía cạnh của nó. Tác phẩm là một sự chờ
đợi được đổ đầy ý nghĩa từ người thưởng ngoạn. Càng lĩnh hội văn chương càng
trườn mình ra. Như vậy thì phê bình, đúng như viễn tượng của Th.Maulnier, là
một thứ dàn cảnh mà người đọc buộc phải tự mình tìm kiếm vị trí để đi sâu vào
văn chương. Người đọc là người cầm giữ số phận tác phẩm và định đoạt tác phẩm.
Người làm văn chương sinh ra tác phẩm và người đọc là kẻ dưỡng nuôi nó. Tác
phẩm lớn lên do phần đóng góp của những người chung quanh, càng làm quen nó mới
dễ nhận nó. Nói khác đi, động tác phê bình là sự tham dự toàn vẹn với tác phẩm,
tham dự lắm khi như một phiêu lưu cá nhân. E.Jaloux chấp nhận điều này và mới
đây thi sĩ Ezra Pound cũng đồng ý như vậy khi trả lời cho một người phỏng vấn: «Le meilleur critique est celui qui
écrit lui-même. Il fera quelquefois un commentaire intelligent avant, mais il
est plus probable qu’il le fera après. Người
phê bình giỏi nhất là kẻ viết về chính mình. Đôi khi hắn có lời bình luận khéo
léo trước, nhưng có lẽ hắn thường làm việc đó sau» (15). Ý kiến này chúng
ta sẽ không xét tới nhưng phải ghi nhận để nhấn mạnh sự tham dự hết sức thân
thiết vào một tác phẩm của người thưởng ngoạn. Lối phê bình ấn tượng cũng chú
trọng đến những ý niệm, những phản ứng chủ quan trước một tác phẩm văn chương.
Đó là điều kiện thiết yếu để khám phá văn chương. Lĩnh hội sâu sắc là khám phá,
và những ý nghĩa được người thưởng ngoạn mô tả cũng chính là một phán đoán về
sự hiện hữu của văn chương. Như vậy phán đoán giá trị (jugement de valeur) chỉ
là sự biến dạng của phán
đoán sự kiện (jugement de fait), bởi vì sự kiện khi được
người làm văn chương mô tả sẽ trở thành hiện tượng, cắt nghĩa cho thực tại và
giá trị tự tại của hiện tượng đó cũng là một giá trị tiên khởi của văn chương.
Matthew Arnold cho rằng thi ca là một thứ phê bình đời sống cũng bởi lý lẽ
trên, vì chọn lựa cách thế này mà không phải cách thế kia để nhìn về đời trong
văn chương cũng bao hàm một lối phê phán về đời vậy. Nỗ lực nhằm triển khai
hiện tượng văn chương cũng là cách ghi nhận sự phê phán đó của người làm văn
chương. Vì vậy phán đoán về hiện tượng trong văn chương cũng là phán đoán về
giá trị văn chương. Trong tình cảnh đó, người thưởng ngoạn buộc phải lĩnh hội
tác phẩm đến một chừng mực có thể có được, triển khai tác phẩm trong những
chiều hướng có ý nghĩa đó.
Mặt khác, ý hướng lĩnh hội sẽ
gặp trở ngại bởi vì ngôn ngữ văn chương là một ngôn ngữ hàm hồ, mở ra nhiều mặt
ý nghĩa. Vậy muốn lĩnh hội để triển khai, tác động đó phải đua tranh và tranh
chấp cùng ý nghĩa. Nói khác đi, người thưởng ngoạn phải có lấy một chọn lựa giữa
những ý nghĩa mà hiện tượng văn chương có thể khêu gợi ra. Chọn lựa trong một
thế tác động oanh liệt và thực nghiệm trên những người giao tiếp với tác phẩm
khiến cho giữa tác phẩm và những người đó có thể gây ra một xung đột, một mối
bất hòa hay là một tán đồng, ưng thuận trong đời sống tinh thần. Chẳng những
thế, sự chọn lựa đó còn cố gắng xây dựng một ý nghĩa cho tác phẩm, bởi vì hiện
tượng văn chương được mô tả bao giờ cũng soi về đời bằng một ý nghĩa. Người làm
văn chương chính là kẻ làm xuất hiện ý nghĩa của đời, hay theo Blanchot, của
cuộc hiện sinh hoàn toàn là đêm tối và hỗn độn (16). Sự chọn lựa đó có thể tốt
đẹp khi nó có lợi cho tác phẩm, đồng thời có lợi cho cả đám đông mà tác phẩm đó
gửi đến. Như thế ý nghĩa hiện tượng văn chương mới được thể nghiệm và lúc đó
người làm văn chương được xem như chu toàn việc truyền một sứ điệp mà theo
T.S.Eliot là một nhiệm vụ xã hội mà người làm văn chương thời nay buộc phải có
(17). Lại nữa, vì tính cách khó đến gần của ngôn ngữ văn chương cho nên sự chọn
lựa đó gặp phải khó khăn và cần thiết. Điều đó đòi hỏi ở nhà phê bình khả năng
và đức tính thích hợp với hoạt động cắt nghĩa văn chương, với hoạt động tạo cho
thế giới sở hữu một ý nghĩa văn chương.
Bởi tính cách không ngay thẳng
của ngôn ngữ văn chương mà người thưởng ngoạn luôn luôn bị đặt trong một tình
cảnh tìm kiếm lấy mình. Nếu con người không ngừng là thân phận con người thì
văn chương là cái bẫy nhốt kín mọi người chúng ta mỗi khi va chạm nó. Nói khác
đi, văn chương bao hàm mọi tình trạng đặc biệt của đời, của người nên chúng ta
có thể bắt gặp mình trong đó. Nhưng ý nghĩa của cảnh đời trình diễn trong văn
chương không được bày tỏ minh nhiên cho nên chúng ta phải sống cảnh đời đó để
lý hội nó. Chúng ta cọng thêm vào tác phẩm bằng những cảm nhận, suy tư, phán
định; từ đó xâm nhập bản thể văn chương. Những hoạt động cọng thêm vào tác phẩm
đó sẽ bất toàn nếu người thưởng ngoạn không tự đào luyện được những kinh
nghiệm, cọ xát với những khía cạnh sâu xa, cùng thẳm của cảnh đời. Có được kinh
nghiệm như thế thì lĩnh hội mới phong phú, giàu mạnh. Đúng như P.Bourget quan
niệm, trong văn chương điều kiện đầu tiên để suy tưởng, để gây ra suy tưởng
chính là một kinh nghiệm sinh động (18). Kinh nghiệm có thể hình thành theo
nhiều lối. Khi có kinh nghiệm để sống những cảnh đời trong văn chương, người
thưởng ngoạn có thể đưa những cảnh đời đó về chung quanh mình hoặc có thể đưa
mình về những cảnh đời đó. Trong cả hai trường hợp, người đọc cảm thấy như bị
cưỡng bách đi tìm kiếm lấy mình, trong cùng một thân phận nhân loại, một cảnh
giới thế gian nhằm tạo lập những chiều hướng ý nghĩa song song cuộc hành trình
với văn chương. Như thế ý nghĩa văn chương được phát triển trong một tương
giao, một gia nhập thiết tha của toàn bộ đời sống của người thưởng ngoạn. Nói
cho cùng, người đọc là thành phần của tác phẩm. Tác phẩm bao giờ cũng nắm lấy
người đọc để nó được hiện hình.
Trong ý nghĩa đó, phê bình chính
là một khôn ngoan sáng tạo. Một tác phẩm phải được kiện toàn chính nó qua một
sự sáng tạo, phải được tô bồi vào kiến trúc của nó bằng sự xây dựng sinh động
của người thưởng ngoạn. «La
poésie n’est pas seulement la création du poète; elle est la re-création de
tous les autres hommes, c’est-à-dire du génie de l’humanité. Le poète lui-même
n’est pas en posture différente des autres hommes en présence de la poésie déjà
créée... Thi ca không phải
chỉ là sự sáng tạo của người làm thơ, nó là sự tái tạo của mọi người khác,
nghĩa là của thiên tính nhân loại. Người làm thơ không ở trong một cảnh ngộ
khác với mọi người trước công trình thi ca đã sáng tạo...» (19). Sự xây dựng đó
là một điều thiết yếu bởi văn chương không độc đoán, duy nhất. Lúc sáng tạo
chính là lúc ức hiếp ngôn ngữ, cho nên lời văn, lời thơ, nói chung là bút pháp,
bao giờ cũng chỉ bày tỏ được một trong toàn bộ tình tự mà người làm văn chương
muốn thể hiện. Hay nói theo Herzog, bút pháp chỉ định một thái độ của người làm
văn chương trước chất thể cuộc đời (20). Muốn hiểu văn chương, phải đi quá một
tình tự hay thái độ để như thế người thưởng ngoạn mới mong bắt gặp tác giả
trong một bình diện lớn rộng hơn, bắt gặp lời phân trần tha thiết. Nghĩa là chữ
nghĩa văn chương luôn luôn ở trong một tình trạng bao hàm những chữ nghĩa khác,
vì thế nó phải được diễn dịch, được phát triển thường trực. Nhất là trong viễn
tượng hiện tượng văn chương, tác động đó như một đòi hỏi tất yếu để quy về
những ý nghĩa phong phú của viễn tượng đó. Có điều người ta nghi ngờ đến nỗi bi
quan như Blanchot là mọi (danh) từ (mot) tự bản chất đều là lời dối trá, vì thế
mà theo ông, thật điên rồ khi tin rằng mỗi danh từ diễn tả hoàn toàn một sự
vật. (Sự bất cập và bất lực của ngôn ngữ?).Thiết nghĩ cực đoan đó chẳng khác
nào một phủ nhận, một xóa bỏ thực tại vậy. Bởi lẽ nếu văn chương, bản chất là
một cơ cấu những từ, là dối trá thì sự hiện diện của nó sẽ không được kể tới.
Thực tế trái ngược với điều này. Dù không quyết đoán như René Lalou rằng «toute
pensée est exprimable, donc accessible –
mọi tư tưởng có thể diễn tả, như vậy có thể hiểu được» (21), ta cũng nhận
rằng căn chương trong tư thế của nó không phải là một thứ hư vô chủ nghĩa.
Nghĩa là chữ nghĩa văn chương bao giờ cũng nói lên một ý nghĩa nào đó. Tuy
nhiên nó luôn luôn đòi hỏi tác thành bằng những ý nghĩa bao hàm do bởi sáng tạo
của người thưởng ngoạn. Cũng chính vì vậy muốn đi vào văn chương cần phải có
một khôn ngoan. Khôn ngoan đó là điều kiện mở mang văn chương, là xuất phát
điểm của văn chương trên hướng tiến vào lịch sử, vào hậu thế của tác phẩm
(postérité de l’oeuvre).
Ném một cái nhìn đại thể trên
văn chương kể như một hiện tượng cùng sự trở về đích thực với văn chương đó,
chúng ta đã mở ra một quan điểm từ đó lập cước một lề lối sinh hoạt văn chương,
nghệ thuật. Quan điểm đó nhằm thu hồi văn chương khỏi tình trạng vô bằng
(gratuit) để vận động một lối xuất hiện kỳ diệu và thiết thực hơn. Văn chương
là sự đời thâu tóm lại nhưng cũng mở ra những sự đời mới. Đây chính là lúc văn
chương muốn bày tỏ, trao gửi những lời phân trần đến một xã hội mà văn chương
trong một tình cảnh nào đó phải đảm nhận, chu toàn. Ở đây tình cảnh đó chính là
bối cảnh lịch sử đen tối, suy vong diễn ra trùng trùng lớp lớp. Bởi vậy văn
chương phải vận động lịch sử bằng một ý thức hành động thực nghiệm, đi trước xã
hội. Chính trong ý nghĩa này, văn chương trình diễn một lối phò thế bởi sự quy
định những chiều hướng vươn phóng cho một thực tại xã hội, một cộng đồng nhân
loại. Nhìn nhận văn chương trong triển vọng quy định trên, chúng ta sẽ tự tạo
dựng một chế lập xã hội đứng trên những ngả tác động biến đổi của nền văn
chương đó. Đặt mình trong bối cảnh lịch sử hôm nay, những biểu lộ văn chương
muốn ở về phía bên kia của sự phản động, suy tàn. Ý nghĩa của văn chương, do
đó, xuất phát từ một thái độ chọn lựa đứng trên dòng tiến hóa. Văn chương hệ tại
nhằm thao diễn một dự phóng biến động nhằm đặt thành một cơ cấu phát triển nhân
loại, có thế văn chương mới là căn bản của xã hội. Đó chính là quy chế mới của
văn chương vậy.
May mắn thay, trải qua cuộc
chiến tranh khốc liệt, tôi vẫn giữ được tờ báo ronéo Hành Động (Huế, 1967), trong đó có bài trên đây,
viết từ 45 năm trước. Thời gian khá dài cho một đổi thay trong tư tưởng, tuy
nhiên tôi vẫn giữ nguyên vẹn những gì mình suy nghĩ từ thời còn trẻ, giữ
nguyên những thuật ngữ bây giờ ít dùng và có thêm những cái tựa nhỏ. Học văn
rồi suy nghĩ về văn chương, những suy nghĩ chắc hẳn đi ra từ một thời đại xương
máu và đau thương, từ một xã hội bạo động và máu lửa, từ một thế hệ khắc khoải
và ưu tư. Văn chương có ích gì trong một thời đại như vậy, trong một xã hội như
vậy, cho một thế hệ như vậy? Tôi vẫn tin rằng văn chương cần phải có ích, lại
càng phải cấp thiết hơn nữa, nếu văn chương ấy biết giúp đời, cứu người. Văn
chương phải cứu vớt được xã hội, rộng hơn, cả nhân loại; thay đổi được số phận
một con người, rộng hơn, số phận của nhân loại. Tôi không cho rằng đó chỉ là ảo
tưởng mà là một niềm tin mãnh liệt, không phải chỉ của một người mà có thể
là của một xã hội, một quốc gia và thế giới. Vấn đề là ai nhận ra sứ mệnh của
người cầm bút, ai là người tự mang lấy trách nhiệm để chứng tỏ với lịch sử cái
mục đích cao cả ấy. Người cầm bút ấy là người vĩ đại và thứ văn chương ấy mới
chính là thứ văn chương đáng để ca ngợi.
Niềm tin ấy bất ngờ được củng
cố, sau 44 năm, nhân đọc bài diễn văn dài của nhà văn đoạt giải thưởng Nobel
văn chương năm 2010. Đó là Mario Vargas Llosa, người Peru. Một nhà văn lớn lên
từ một nền văn hóa Mỹ-Latinh, thu nhận nhiều điều từ văn hóa phương Tây, đã suy
nghĩ về văn chương như thế nào? Trong bài diễn văn ấy, nhà văn nói: « Sartre
dạy tôi rằng ngôn từ là hành động, rằng một cuốn tiểu thuyết, một vở kịch hay
một tiểu luận, trong những giai đoạn nhất định và với những điều kiện thuận
lợi, có thể làm thay đổi cả cục diện của lịch sử. Camus và Orwell dạy tôi rằng
văn chương mà không có đạo đức là văn chương phi nhân, còn Malraux thì dạy tôi
rằng chủ nghĩa anh hùng và anh hùng ca có thể xuất hiện trong thời đại ngày nay
cũng như đã từng xuất hiện vào thời của các Argonauts, thời của Odyssey và Iliad…”.
“Văn chương không còn là
trò chơi nữa. Nó đã trở thành phương tiện nhằm chống lại nghịch cảnh, phương
tiện phản kháng, bạo loạn, phương tiện giúp tôi chạy trốn khỏi những điều không
thể chịu đựng nổi, trở thành ý nghĩa của cuộc đời…Văn chương không chỉ là giải
trí, không chỉ là bài tập của trí não, nhằm mài sắc cảm giác và đánh thức tinh
thần phê phán. Nó là thành tố tuyệt đối cần thiết cho chính sự tồn tại của nền
văn minh…”.
“Văn chương trở thành phép màu khi nó tặng cho ta hi vọng sở hữu cái mà chúng
ta không có, thành người mà chúng ta không là, sống cuộc đời chưa ai từng sống,
trong đó, cũng giống như các vị thần của người ngoại đạo, chúng ta cảm thấy
mình vừa là những kẻ hữu sinh hữu tử, lại vừa trường sinh bất lão, nó đưa vào
tâm hồn chúng ta tinh thần phản kháng, không chấp nhận gió chiều nào che chiều
ấy, đấy là nền tảng của tất cả những sự nghiệp anh hùng góp phần vào việc làm
giảm nhẹ tính chất thô bạo trong quan hệ giữa người với người”. (22)
Mới đây, trong phần trả lời một cuộc phỏng vấn của báo Izvestina(Nga), Mario Vargas
Llosa lại một lần nữa khẳng định:“Tôi vẫn quan niệm nhà văn có trách nhiệm,
có bổn phận đạo lý tham gia các cuộc tranh luận trong xã hội, đặc biệt là ở
những nước mà mọi chuyện chưa phải đã êm thắm, mà đấy lại là phần lớn của cả
thế giới”.
“Nếu văn
học bị hoàn toàn mất liên lạc với những gì đang diễn ra trong đời thực thì nó
sẽ trở thành bèo bọt, hời hợt. Những tác phẩm văn học vĩ đại bao giờ cũng khắc
họa được những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội, những vấn đề chủ yếu của
nó và những mong đợi của con người”.
“Văn
chương giúp ta thính nhạy lên rất nhiều đối với tất cả, từ khổ đau đến hạnh
phúc. Và với ý nghĩa đó, tôi hết sức nghiêm túc mà tin rằng văn chương nghệ
thuật có một ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống”.(23)











.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét