Khi nhà thơ đi “Vớt lá trên sông”
Cao Thoại Châu (CTC), một khuôn mặt thơ ca từ
miền Nam trước năm 1975 với giọng thơ trữ tình và thâm thúy một cách đôn
hậu.Hơn bốn mươi năm tôi chỉ gặp anh có đôi lần, cho nên nếu có hiểu anh thì
không phải bằng sự hội ngộ ngắn ngủi ấy mà bằng chính con đường văn chương mà
anh một đời gắn bó bền chặt, ở đó anh đổ bao say đắm đến miệt mài sinh tử. Có
thể nói CTC đồng nghĩa với văn chương, ngoài ra không còn gì khác. Nói thế để
hiểu rằng chính văn chương của anh đã tạc ra dáng hình anh, đã vẽ nên con người
thực của anh một cách rõ nét. Chính văn chương, ở đây là thơ ca, đã dung nạp
anh, hay ngược lại cũng vậy, anh đã dung nạp cả một trời thơ ca sáng láng. Với
anh dường như thơ ca đã vận vào đời mình như một định mệnh. Anh đã tồn tại bằng
cảm xúc thơ ca của mình, nói cách khác, thơ ca là một cách thế để anh hiện diện
với đời. Mấy mươi năm như thế, dù bao vật đổi sao dời, dù bao thăng trầm thế
sự, dù cuộc đời dâu bể, anh vẫn là người chung thủy với thơ ca.
Nhưng hôm nay trên tay
bạn không phải là một tập thơ. CTC đến với chúng ta bằng một diện mạo mới. Khác
với thơ như một sự òa vỡ của cảm xúc, ở đây CTC tự thu mình lại để ném cái nhìn
vào đời, vào sự vật ngoại giới, vào quá khứ cũ kỹ của nội tâm, vào thế giới
hoài niệm mãi ấp ủ trong lòng. Giờ đây là trọng lượng của từng con chữ mà anh
nâng niu, dễ dàng lấy ra như từ trong túi mà xếp đặt để nói cho thấu lý đạt
tình với người tìm đọc văn của anh. Nhưng đôi khi anh cũng chỉ nói với chính
mình thôi, như một sự giãi bày với thân phận. Đời ra sao anh cũng chỉ cảm xúc
và suy nghĩ như thế. Những trang sách triết học của một thời như một sự tra hỏi
cuộc đời xoáy sâu mải miết vào lòng anh và anh chợt nhớ ra một điều, “tôi suy
nghĩ vậy là tôi hiện hữu”. CTC muốn hiện diện với đời nên dường như lúc nào anh
cũng phơi bày những suy tưởng của mình lên mặt giấy. Có lẽ anh nghĩ rằng cuộc
đời sẽ lãng quên anh ngay nếu một ngày nào đó anh không còn suy tưởng được nữa.
Có vậy mà CTC đều đặn miệt mài viết như một đứa trẻ mải vui đùa với thứ đồ chơi
của mình. Ngày trước giữa một cuộc sống quá ư tàn khốc, giữa ngọn lửa chiến
tranh như muốn đốt cháy cả một thế hệ, giữa những khắc khoải siêu hình, vậy mà
cảm xúc thơ của anh vẫn dạt dào và thanh thoát. Ngày nay giữa bộn bề bình yên, anh
vẫn tẩn mẩn, vẩn vơ bên ngoài cái hào nhoáng não nề của cuộc sống để trở về với
nỗi u hoài hiu hắt, niềm im lặng quạnh hiu, sự khép kín rỡ ràng của chính mình,
tuy vậy anh vẫn không hề mất đi cái khoáng đạt của tâm hồn. Trong văn chương
của anh, chúng ta không tìm thấy một cánh bướm Lão Trang nào nhưng cũng không
hề tìm thấy bóng dáng người khách lạ hiện sinh nào cả. Chẳng có viễn tượng gì
ghê gớm, đơn giản văn chương của anh chỉ ươm mầm cảm xúc và suy tưởng từ thực
tế cuộc đời quá đỗi thân thiết đã cho anh cả một trường thiên ngọt ngào lẫn đau
thương.
Giờ đây dường như anh
đang góp nhặt những trầm tư theo từng năm tháng để gieo mối giao cảm cho những
ai yêu sự trìu mến của cuộc đời, và trên hết để trả lời cho những thao thức bất
tận về con đường trần thế. Theo thời gian anh vẫn không ngừng thưa gửi, không
ngừng lột tả cái sâu kín, cái thâm trầm của một tâm hồn dễ rung cảm, của một
trí năng biết phân tích một cách tinh tế và lý sự phân minh trước mỗi hoàn cảnh
đời.
Tập sách “Vớt lá trên
sông” (một loại tạp bút, tạp văn, tản văn, tản mạn, nhàn đàm, tùy bút…) như một
phác thảo về chính con người và cuộc đời của CTC. Bức tranh chỉ là những nét
chấm phá thủy mặc nhưng đã cho ta thấy tính cách tâm hồn một nhà thơ, người đi
xuyên hết một số phận thăng trầm mà vẫn giữ được nét tinh khôi kỳ thú. Dường
như ta thoảng thấy đâu đây nụ cười thần bí của một người vừa bước lên từ vực
thẳm, ngắm nhìn thiên nhiên rực rỡ, mặt trời chói chang và cuộc đời xôn xao
ngoài kia. Và anh đã trải lòng mình ở đây, bằng ngôn từ dung dị, không kiểu
cách, chẳng ẩn ngữ như một ký hiệu ước lệ để mà nhận ra nhau, đến với nhau. Anh
đã phác họa chân dung mình là một cậu bé lớn lên từ căn nhà trọ phố thị ở thành
Nam, khi lớn lên vào sống ở đất phương Nam đô hội rồi trải qua một thời binh
lửa khốc liệt, bước qua mọi gian nan khổ ải để rồi ung dung tự tại làm một
người thầy đi rao giảng cái đẹp. Đôi khi anh tự thú cho mình là kẻ “hư từ nhỏ
hư lên” nhưng thật ra làm một người như anh thật khó. Từ thơ bé anh đã biết yêu
“tiếng nước tôi”, yêu “quốc văn giáo khoa thư”, yêu “những người thầy” cho dù
đến “hoàng hôn mini của tôi” cũng vẫn đam mê ngôn ngữ văn chương như một thứ
nhan sắc quý báu của cuộc đời. Bây giờ biết có mấy ai yêu đến độ say đắm như
vậy chăng? Một tâm hồn mẫn cảm dễ yêu từ mớ âm thanh hỗn độn của “tiếng động
Sài Gòn” trên bước đường lưu lạc cho đến một “tiếng gà trong trại cải tạo” tuy
đơn sơ nhưng sao mà hiếm đến vậy, yêu “con Misa đã chết, con Mí lại ra đi” như
những kỷ vật thân quen bỗng chốc rời xa cho đến yêu cái thời khắc êm đềm biết
lắng nghe mùi cỏ mục trong “đêm ở vùng quê Đức Hòa”. Nghĩa là mọi thứ đều có
thể dội vào trái tim anh và rồi vang vọng những tiếng lòng khe khẽ, như muốn
hòa âm với những tâm hồn đồng điệu. Anh yêu một thời lãng mạn của chính mình
khi mới tuổi đôi mươi biết làm thơ tình dù không biết để gửi cho ai, yêu cả
những tháng năm lạc loài trong cuộc chiến, yêu phút giây chở che cho cô chủ
quán của phía bên kia khi còn đang mặc áo lính thời “chênh vênh một bến phà”,
yêu những dáng người khốn khổ bị tước đoạt tiền của “ở một nơi gọi là Năng Gù”,
yêu những kỷ niệm não lòng của “một thời ngỡ như cổ tích”, yêu “quê nhà” cũng
như yêu cả nơi “lưu đày” đã cho anh một đời phiêu bạt làm vốn liếng để thăng
hoa thành cảm xúc thơ ca.
CTC vẫn như thế đấy, thế
giới riêng của anh lúc nào cũng xôn xao, cơn sóng ngầm vẫn lặng lờ mà không
chìm khuất, con tim bao giờ cũng như chờ đợi một cái gì sinh động để làm mới
cõi lòng mình: nắng chiều có thể rực rỡ hoặc tàn phai, thiên nhiên có thể tươi
màu hoặc héo úa, dù như thế nào hoặc có ra sao thì cũng cứ đổi thay như trời
đất bốn mùa, đừng chết lặng hiu hắt và nhạt nhòa như cầm tù cuộc sống, hãy cứ
sinh ly tử biệt nhẹ nhàng như sự xoay vần của tạo hóa. Có thể vì vậy mà CTC lúc
nào cũng mang dáng vẻ của một khách lữ hành sắp sửa ra đi, dù miệng đã khô chân
đã mỏi và mắt đã không còn tinh anh. Sá chi đường đời chỉ là sạn đạo, hình như
CTC thầm thì như vậy. Phải rồi, ra đi là dịp đối cảnh sinh tình, từ nội tâm
phóng ra ngoại cảnh và từ ngoại cảnh thu về nội tâm. Cuộc phối ngẫu đó hiển nhiên
và văn chương từ đó mà ra. (Dĩ nhiên văn chương của mỗi người đều nhập nhòe cái
bản ngã của chính mình). Anh cho đi là anh nhận lại, phải chăng cuộc đời vốn dĩ
từ tâm.
Vì thế cho nên CTC hiểu
ra và lắng nghe lời nhắn nhủ của André Gide khi nhà văn nói với nhân vật của
mình: “Nathanael ơi, hãy ngắm nhìn những nơi anh đi qua, nhưng đừng bao
giờ dừng lại…Điều quan trọng ở trong cái nhìn của anh chứ không phải ở vật anh
nhìn” (Thực phẩm trần gian). CTC nghe ra và anh cũng không dừng lại
đâu. Anh đang bước đi đấy trong cuộc đời, cả về trước lẫn về sau, bằng cái nhìn
riêng của anh, tiếng nói riêng của anh, có lúc hào sảng nhưng cũng có lúc tê
tái. Nhưng không hề chi, bởi cuộc đời vốn như vậy. Điều quan trọng là những gì
anh để lại cho ta - văn chương của anh - bởi như người xưa nói, thốn tâm thiên
cổ, tấc lòng lưu vọng ngàn năm.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét