Kiến trúc phố cổ thăng trầm cùng lịch sử Thăng Long - Hà Nội
Những vấn đề về phân bố các di tích văn hoá -
lịch sử Hà Nội như di tích tôn giáo, tín ngưỡng khu phố cổ, không gian phố cổ
là kết quả nghiên cứu của ông Nguyễn Ngọc Phúc, cán bộ nghiên cứu Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Qua công trình
nghiên cứu này, người ta đã có cái nhìn mới về Thăng Long - Hà Nội.
Đặc sắc phố nghề
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay, phố cổ Hà Nội vẫn là nơi lưu giữ,
bảo tồn nhiều dấu tích kiến trúc, đặc trưng về nghề nghiệp. Điều dễ nhận thấy ở
đây là các phố nghề, phường nghề phần lớn được hình thành bởi những thợ thủ
công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa quy tụaô thị hoá, tuy nhiên, đến khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long mới định
hình và rõ ràng hơn. Nếu như phần phía Tây của kinh thành Thăng Long truyền
thống gắn liền với chức năng chính trị - hành chính, qua nhiều biến cố lịch sử
như chiến tranh, thiên tai, khiến những cung điện bề thế, nguy nga chỉ còn dấu
ấn ở những di tích phát lộ thì khu phố buôn bán vẫn giữ được kiến trúc xưa, ít bị
dịch chuyển về phạm vi, không gian.
Qua nhiều thế kỷ, phần phía Tây kinh thành với thành quách, cung điện, dinh thự
thâm nghiêm gắn liền với sự hưng vong, thịnh suy của mỗi triều đại. Phía Đông
và Đông Bắc kinh thành, tiếp giáp với sông Hồng, sông Tô Lịch lại nhường chỗ
cho những phường nghề, phố hàng, chợ bến, với cảnh buôn bán trên bến dưới
thuyền nhộn nhịp
Ông Phúc khẳng định, Hà Nội chuyển mình mạnh mẽ, từ đô thị phương Đông truyền
thống sang mô hình đô thị phương Tây trong suốt thời kỳ thực dân. Cùng với đó,
phố cổ cũng có những biến đổi nhanh chóng: đường phố được nắn lại, có hệ thống
thoát nước, có hè phố, hệ thống chiếu sáng, xuất hiện các ngôi nhà được làm
theo phong cách châu âu, mà đặc trưng là kiến trúc của Pháp.
Kiến trúc mang đời
sống tâm linh
Theo thống kê của Ban quản lý Di tích danh thắng Hà Nội, hiện khu phố cổ còn 89
di tích tôn giáo, tín ngưỡng, 22 di tích cách mạng. Không chỉ tập trung về số
lượng, hệ thống di tích phố cổ còn đa dạng về loại hình. Trong 89 di tích, hiện
diện khá đầy đủ những loại hình kiến trúc thuộc nhiều tôn giáo, tín ngưỡng
truyền thống như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Hồi giáo, tín ngưỡng thờ thành
hoàng làng, tổ nghề, tín ngưỡng thờ Mẫu gồm đình, chùa thờ các vị thần; các
ngôi vọng từ thờ thành hoàng, các vị tổ nghề; đền miếu thờ mẫu và chư vị của
tín ngưỡng dân gian.
Điều dễ nhận thấy ở khu phố cổ là tập trung khá nhiều di tích thờ các vị tổ
nghề. Có thể kể đến Châu Khê vọng từ, thờ vị tổ của nghề làm kim hoàn. Ngôi
vọng từ này là nơi những người làm nghề tổ chức cúng lễ, tế vọng vị thần thành
hoàng ngay tại đất kinh đô. Phần lớn các vị thành hoàng được lập vọng ở Thăng
Long là các vị tổ nghề như đình Phả Trúc Lâm (số 40 - Hàng Hành), đình Hài
Tượng (số 16 - ngõ Hải Tượng) thờ tiến sĩ Nguyễn Thời Trung, tổ nghề da, đóng
hia hài; các ông Thuần Chính, Đức Chính, Sĩ Bàn, tổ nghề da giày ở làng Chắm
(Gia Lộc - Hải Dương); đền thờ vọng Nhị Khê (số 11 - Hàng Hòm) thờ ông tổ nghề
tiện gỗ...
Kết quả nghiên cứu cho thấy, không chỉ phản ánh các đặc điểm dân cư, nghề nghiệp,
các di tích tôn giáo, tín ngưỡng khu phố cổ còn là những dấu ấn, phản ánh lịch
sử tạo dựng mảnh đất Thăng Long, của những con người, những nhân vật huyền
thoại sinh ra và gắn bó với mảnh đất này. Tiêu biểu như đền Tiên Ngư thuộc phố
Hàng Cá thờ Lý Tiến, đình Tân Khai ở 44 - Hàng Vải thờ thần Bạch Mã, Tô Lịch và
Thiết Lâm đại vương. Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ mẫu Liễu Hạnh và chư vị của
tín ngưỡng dân gian dường như khá phổ biến ở khu vực này. Biểu hiện là có rất
nhiều địa điểm thờ cúng, dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay
một số kiến trúc đền miếu đã biến thành nơi cúng thờ hoặc chuyển thành nơi thờ
tứ phủ như đền Bạch Mã, đền Đồng Thuận.
Cũng theo ông Phúc, một điều đặc biệt là phần lớn di tích trong khu phố cổ đều
không tách biệt với khu vực dân cư như vẫn thường thấy ở các vùng nông thôn. Đa
phần đình, đền, chùa đều liền kề với các kiến trúc dân gian khác, thậm chí,
không gian thờ cúng của nhiều ngôi đình, đền được đặt trên gác của một ngôi nhà
như trường hợp đình Trung Yên, thờ một vị tiến sĩ triều Mạc. Điều này giúp
người dân đi chợ, ra phố buôn bán có thể lên ngay đền, vào chùa và ngược lại.
Các di tích đa số có kết cấu bằng gỗ, mặt bằng kiến trúc theo kiểu chữ công,
chữ tam, chữ quốc, bố cục không gian trải theo chiều sâu, với 3 lớp nhà.
Có thể nói, công trình nghiên cứu của ông Phúc đã khẳng định, kiến trúc cổ Hà
Nội không chỉ làm nổi bật giá trị văn hoá - lịch sử của các di tích tôn giáo,
tín ngưỡng mà thông qua nó, đời sống, lịch sử dân cư, phong tục tập quán, tín
ngưỡng của người Thăng Long - Hà Nội được phản ánh sống động, chân thực. Đây là
công trình rất có ý nghĩa, tạo cơ sở để các nhà nghiên cứu, nhà quản lý có
hướng lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa của đất Thăng Long.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét