Ðời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề
rộng, ta đi tìm bề sâu.Nhưng càng đi sâu, càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế
Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu
không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn
ta cùng Huy Cận.
Hoài Thanh
Huy
Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31-5-1919 tại xã Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay là
huyện Ðức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Bố là nhà nho, đậu tam trường, làm hương sư, sau
về quê dạy chữ Hán. Mẹ là một cô gái ở vùng quê có nghề dệt lụa truyền thống
(xã Tùng Ảnh, huyện Ðức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Cả hai đều yêu văn chương và rất
thuộc truyện Kiều.
-
Quê Huy Cận là một vùng bán sơn địa, đẹp và nghèo; cảnh vật hùng vĩ, còn giữ
nguyên vẻ hoang sơ. Người dân ở đây rất mê hát ví dặm, kể truyện thơ Nôm.
-
Không khí gia đình thường nặng nề với nhiều xung đột giữa các thế hệ. Cậu bé
Huy Cận rất thích lang thang giữa trời đất bao la cùng những trò chơi dân dã
(thả diều, đánh trống đất); được gần gũi với đất đai đồng ruộng và cuộc sống
người nông dân; từ đó, năng lực nhạy cảm trước những biểu hiện tinh tế của tạo
vật và lòng yêu mến, trân trọng thiên nhiên, con người có điều kiện nảy nở.
Có thể nói hồn thơ Huy Cận
thành hình và được vun đắp bởi truyền thống văn hóa của gia đình, quê
hương:
Tôi
sinh ra ở miền sơn cước CÓ
NÚI LÀM XƯƠNG CỐT THÁNG NGÀY
Ðất
bãi tơi làm da thịt mát
Gió
sông như những mảnh hồn bay
- Học chữ Hán với bố và học
đến lớp tư ở quê. Từ lớp năm đến hết tú tài toàn phần: học ở Huế. Kết bạn với
Xuân Diệu từ 1936. Năm 1939, ra Hà Nội học Cao Ðẳng Nông Lâm. Từ 1941, vừa học
vừa tham gia mặt trận Việt Minh.
- Cách mạng tháng Tám thành
công, giữ chức Bộ trưởng Canh Nông trong chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Từ tháng 5 đến tháng 11- 1946: Thứ trưởng Bộ Nội Vụ. Trong kháng
chiến chống Pháp: Thứ trưởng Bộ Canh Nông, rồi Thứ trưởng Bộ Kinh Tế. Từ 1955,
chuyển sang công tacï lãnh đạo văn hóa với chức vụ Thứ trưởng thường trực Bộ
Văn hóa. Từ 1984 đến 1987: Bộ trưởng đặc trách công tác văn hóa nghệ thuật tại
văn phòng Hội Ðồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Ủy ban trung ương Liên hiệp các Hội
văn học nghệ thuật. Hiện nay, Huy Cận là Phó chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên
hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
- Ngoài những hoạt động chính
trị, kinh tế, văn hóa trong nước, Huy Cận còn là nhà hoạt động quốc tế năng
động với nhiều đóng góp lớn. Ông từng là đồng Chủ tịch Ðại hội nhà văn Á Phi
họp ở Ai Cập (02-1962), đồng Chủ tịch Ðại hội văn hóa toàn thế giới họp tại Cu
Ba (01-1968), Ủy viên Hội đồng chấp hành Unesco (1978-1983), Ủy viên Hội đồng
cao cấp các nước nói tiếng Pháp.
Tác phẩm tiêu biểu:
* Trước 1945: Lửa thiêng (1940), Vũ
trụ ca (1942), Kinh cầu tự (văn xuôi triết lý, 1942).
**
Sau 1945: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Ðất nở hoa (1960),
Bài
thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967),
Những
năm sáu mươi (1968), Cô gái Mèo (1972),
Chiến
trường gần đến chiến trường xa (1973),
Ngày
hằng sống, ngày hằng thơ (1975), Hạt lại gieo (1984),
Tuyển
tập (1986).
a. Tập thơ Lửa Thiêng:
* Huy Cận bắt đầu sáng tác từ năm 1936
bằng những bài bình luận văn học đăng trên các báo Tràng An, Sông Hương; với
bút danh Hán Quỳ.
- Từ 1938, Huy Cận có thơ trên
báo Ngày nay. Tập thơ đầu tay Lửa Thiêng
ra mắt độc giả vào tháng 11-1940, (bằng tiền tái bản tập Thơ Thơ của Xuân Diệu). Ðây là thời gian Huy Cận
cùng sống với Xuân Diệu tại số 40 Hàng Than-Hà Nội.
- Gồm 50 bài, một số đã đăng báo, Lửa
Thiêng nhanh chóng được độc giả nhiệt liệt đón nhận. Chính ngọn lửa thiêng thắm
đượm tình người, tình đời đã giúp Huy Cận có được vị trí tiêu biểu trong làng
thơ Mới, giai đoạn cực thịnh của nó.
* Lửa Thiêng trước hết là tiếng lòng
của một thanh niên mới lớn (21 tuổi) đang thể hiện niềm vui, nỗi buồn của chính
mình. Như đa số thơ Mới, tập thơ lấy tuổi trẻ và tình yêu làm đề tài chủ yếu.
Nhưng giữa lúc độc giả đã quá quen thuộc với giọng nỉ non, sầu não trong thơ
Mới thì những cung bậc tình yêu dễ thương ở lứa tuổi học trò, lứa tuổi còn nhiều
e ấp vẩn vơ, chưa nhuốm mùi nhục cảm - có sức hấp dẫn mới lạÐường trong làng: hoa dại với mùi rơm
Người cùng tôi đi giữa đường thơm
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng
Ðất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng
Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu
... Một buổi trưa không biết ở thời nào
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nũa chứ
Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự
(Ði giữa đường thơm)
* Nhưng tình yêu ấy vẫn không bền,
nhanh chóng rơi vào vô vọng. Bởi có một nỗi u hoài thường trực trong tâm hồn,
bắt nguồn sâu xa từ bi kịch bế tắc, vỡ mộng. Thành ra, thơ Huy Cận vừa hồn
nhiên nhất vừa buồn nhất trong các nhà thơ Mới.
Hỡi Thượng đế! Tôi cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái
Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường
(Trình bày)
- Buồn thương, sầu não là âm hưởng
chính khiến Lửa Thiêng như bản ngậm ngùi dài. Tập thơ dằng dặc một nỗi buồn
nhân thế, một nỗi đau đời. Nhà thơ đã gọi dậy cái hồn buồn của Ðông Á,...đã
khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm
vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này (Hoài Thanh). Nỗi buồn như kết quả của quá trình lắng nghe tinh tế nhịp
tuần hoàn vũ trụ và nỗi ngậm ngùi nhân gian. Ðó là tấm lòng ...tủi nắng sầu
mưa. Cũng đất nước mà nặng buồn sông núi.
- Cái buồn trong Lửa Thiêng không xuất
phát từ bi kịch cá nhân nhà thơ mà gắn nhiều hơn với tâm trạng xã hội, với ý
thức về thân phận nô lệ của cả một thế hệ. Trong lời tựa cho lần xuất bản đầu
tiên, Xuân Diệu có nhận xét: Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt, bảo rằng hoa
xuân không đậu, đời thoảng mùi ôi, trong
khi mình chưa sống hết tuổi xuân, đang độ trẻ măng của đời người! Cái tiếc sớm,
cái thương ngừa áy chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ
nhiên của kẻ yêu sự sống.
- Triền miên trong buồn thương nhưng
Huy Cận không mất hút vào cõi siêu hình hay chán chường, tuyệt vọng- như không
ít nhà thơ Mới. Nhà thơ vẫn tha thiết, chân thành hướng về phần thiên lương cao
đẹp của cuộc đời; cảm nghe được hồn thiêng đất nước, hương vị nồng đượm của quê
hương và nhựa sống tiềm tàng trong nhành cây ngọn cỏ:
Luống đất thơm hương mùa mới dậy
Bên đường chân rộn bước trai tơ
Cành xanh cành đẹp xui tay với
Sông mát tràn xuân nưóc đậm bờ
(Xuân)
Lửa Thiêng được viết bằng một nghệ
thuật vững vàng, độc đáo. Âm hưởng chủ
đạo: nhẹ nhàng, thâm trầm, hướng vào nội tâm. Lời thơ, ý thơ tự nhiên, không
cầu kỳ rắc rối. Cảnh sắc ít đường nét, giản ước, thanh thoát; tạo được ấn
tượng về một không gian
bàng bạc, xa vắng, đậm đà phong vị Ðường thi (Tràng
giang, Buồn đêm mưa). Ngoài những thể thơ Mới khá phổ biến, Huy Cận đặc biệt thành công ở thể lục bát
truyền thống. Với âm hưởng phong phú, hình ảnh mới mẻ, nhà thơ đã góp phần
khẳng định khả năng biểu hiện tinh tế của thể thơ dân tộc này (Ngậm ngùi, Buồn
đêm mưa, Thuyền đi, Trông lên, Chiều xưa,...).
Những
bài thơ tiêu biểu: Tràng giang, Buồn đêm mưa, Ngậm ngùi, Vạn lý tình, Ði giữa đường thơm,
Tình tự, Thuyền đi, Chiều xưa, Ðẹp xưa, Trình bày, Mai
sau.
b. Từ sau Lửa Thiêng:
- Trong bối cảnh xã hội ngày càng đen
tối, thơ Mới dần đi vào ngõ cụt. Mỗi nhà thơ loay hoay tìm lối thoát cho riêng
mình. Huy Cận thoát ly vào vũ trụ và thiên nhiên. Ông hoàn chỉnh cả một hệ
thống triết lý ngợi ca niềm vui siêu thoát ấy trong tập văn xuôi Kinh cầu tự,
năm 1942. Nhà thơ kêu gọi mọi người trở về hòa nhập vào tạo vật, tìm nguồn vui
từ thiên nhiên vũ trụ: Có lẽ tạo vật đau thương,
đất trời vắng lạnh vì nỗi lòng ta xa cách tạo vật đó thôi. Ta hãy trở về, ta
hãy nhập cuộc, có nhịp sống đưa nâng, có dòng đời xô đẩy, cái vui lớn, cái vui
trọng đại dâng sóng tràn khắp cõi đời.
- Triết lý ấy được thể hiện đầy đủ, cụ
thể trong Vũ trụ ca - tập thơ viết năm 1942, chưa in thành sách. Thoát vào vũ
trụ, hồn thơ Huy Cận - với những cảm xúc mới lạ - trở nên khoáng đạt, mạnh mẽ
hơn. Nhà thơ say sưa với cái vô cùng của trời đất, trăng sao. Nhiều tứ thơ hay,
nhiều hình ảnh rực rỡ xuất hiện:
+ Trời thắm duyên rằm vừng nhạc mở
Chuông sao rung nhớ, tiếng vàng bay
Lượng vui muôn kiếp cân đầu sóng
Biển rủ rê lòng nhập cuộc say
(Lượng vui)
+ Trời xanh ran lá biếc
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang
(Trời, Biển, Hoa,
Hương)
Huy Cận
như gặp lại niềm vui thuở trước, lại hân hoan, hồ hởi và rạo rực những khát
khao của tuổi trẻ:
Ta vận tấm xuân đi hớn hở
Tâm tư ngào ngạt hiến dâng đời
Thân cũng hát lừng cao nhịp lửa
Hoa thiên thu hẹn nở cùng
môi. (Áo xuân)
- Nhưng một điều rất dễ nhận ra: cái
vui trong Vũ trụ ca là vui gượng, cố vui nên không trọn vẹn, vẫn mang vẻ chông
chênh, vô vọng. Cho nên đôi khi để đạt ý đồ nghệ thuật, tác giả rơi vào cường
điệu, cầu kỳ; hình ảnh đậm màu sắc tượng trưng. Tình thì mới nhưng ý tứ dễ đơn
điệu, cũ mòn. Ðiều này là tất nhiên, bởi dù có trốn tận đâu vẫn không chạy khỏi
chính mình. Chính cái Tôi giàu cảm xúc, nặng tình với đất nước, dân tộc đã
không để yên nhà thơ trong sự huyễn hoặc:
Về đâu những bước thời gian đã
In dấu mong manh trên cánh đào?
Về đâu hạt bụi vàng thao thức
Theo bánh xe quay vòng khát khao?
Về đâu ?... Câu hỏi cứ lặp đi lặp lại
như một ám ảnh, day dứt khôn nguôi về
ngày mai, về ý nghĩa của kiếp người.
Những bài thơ tiêu biểu: Xuân hành, Lượng vui, Áo xuân, Triều
nhạc,...
*** Trước Cách mạng tháng Tám, Huy Cận là một trong số những nhà
thơ tiêu biểu
của thơ Mới. Thơ ông là tiếng lòng thiết tha gắn bó với quê hương đất nước,
khao khát được hiến dâng tuổi trẻ và tài năng; nhưng khi vấp phải thực trạng xã
hội, những kỳ vọng ấy đã tan vỡ hoàn toàn. Như nhiều nhà thơ lãng mạn khác, Huy
Cận giai đoạn này ít thơ vui hơn thơ buồn. Luôn có một nỗi sầu thường trực trên
từng trang thơ của ông, nhưng đó là biểu hiện sinh động của bi kịch tâm trạng;
đáng được cảm thông, trân trọng.
Sau khi Lửa Thiêng ra đời một năm, Huy Cận
tìm đến với Cách mạng (hoạt động trong mặt trận Việt Minh). Như vậy, ánh sáng
của lý tưởng Cộng sản đã manh nha trong hồn thơ mang mang thiên cổ sầu ấy từ khá
lâu trước 1945. Và sự đổi đời tháng Tám có ý nghĩa như một bước ngoặt lịch sử,
đưa trang thơ Huy Cận vượt khỏi những ám ảnh, những giới hạn chật hẹp do mặc
cảm nặng nề về thân phận nô lệ tạo nên. Như đa số các nhà thơ Mới, Huy Cận rưng
rưng chân thành trở về hòa nhập với cuộc sống.
Quan
điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng đã thay đổi căn bản; nhưng như thế vẫn
chưa thể có thơ hay. Cần một khoảng thời gian nhất định - tùy tình trạng tâm
tưởng của mỗi nghệ sĩ - để những rung động ban đầu được nung, được nén lại
thành cảm xúc nghệ thuật. Mặt khác, mọi sự thay đổi đều cần được thử thách qua
thực tế. Thơ Huy Cận sau 1945 thể hiện rõ quá trình đấu tranh tự khẳng định sự
góp mặt của một nhà thơ lớp trước, vào cuộc sống mới. Mười ba năm sau, 1958,
mới có một tập thơ (Trời mỗi ngày lại sáng), rõ ràng hành trình từ thung lũng đau thương ra
cánh đồng vui ở Huy Cận không giản đơn chút nào.
a. Thơ
Huy Cận từ 1945 đến kháng chiến chống Mỹ:
Khoảng
thời gian này, có 04 tập thơ tiêu biểu, ghi nhận quá trình chuyển biến và sự
hồi sinh mãnh liệt của hồn thơ Huy Cận: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Ðất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời
(1963), Hai bàn tay em (1967).
- Phải
mất hơn mười năm trăn trở, phấn đấu không ngừng tự vượt lên thoát khỏi ám ảnh
cũ, hồn thơ Huy Cận mới hồi sinh và khởi sắc. Vốn quen quanh quẩn sống bằng ảo
vọng, thích phiêu diêu vô định lánh đời trong vũ trụ, giờ bừng mắt giữa cuộc
đời thực; vui đấy, nhưng không khỏi ngỡ ngàng, mặc cảm. Ngập ngừng, dè dặt
khoác ba lô lên vai, Huy Cận đi vào kháng chiến. Hồn thơ ông thắm hồng da thịt
trở lại cùng với sự hồi sinh vĩ đại của cả dân tộc.
- Thế
giới thơ Huy Cận trước kia hầu như thiếu hơi người, vắng những sắc màu âm thanh
bình thường của sự sống, nên hoang sơ cô tịch. Chỉ còn một mình nhà thơ rợn ngợp
giữa không gian, chìm khuất trong nỗi mang mang thiên cổ sầu. Giờ đây, nhà thơ
mở rộng tâm hồn cho cuộc sống ùa vào. Vẫn còn đó năng lực cảm nghe tinh tế mạch
đời bền bỉ, vẫn không nguôi niềm khắc khoải không gian, nhưng giữa con người
với thiên nhiên đã có mối giao hòa kỳ diệu:
Giọt mưa cũ ố vàng thơ phú
Triều mưa nay đoàn tụ lúa xanh
Cũng là thức giữa năm canh
Mưa xưa lạnh lẽo, an lành mưa nay
(Mưa mười năm)
- Huy
Cận phát huy sở trường bằng việc phát hiện chất thơ biểu hiện tinh vi, phong
phú trong đời thường. Dường
như mọi biểu hiện của cuộc sống bình dị - qua cái nhìn của nhà thơ - đều nên
nhạc, nên thơ. Ông say sưa ngợi ca một khu nhà mới, đoàn thuyền đánh cá, những
ngày hội mùa xuân,...Con người mới trong lao động xây dựng đất nước thành hình
tượng thật khỏe khoắn, lạc quan, chan chứa nghĩa tình:
Anh tặng em buổi sáng hôm nay
Có hoa sen nở hồ Tây trắng hồng
Tặng em trời mát như sông
Trong veo chảy giữa đôi dòng cây xanh
(Buổi sáng hôm nay)
- Chính
nhờ hút nhụy từ đời sống xanh tươi, hồn thơ Huy Cận có được nguồn sinh lực mới.
Cuộc sống mới giúp nhà thơ nhận ra chân giá trị của lao động và vẻ đẹp chân
chính của người lao động. Thiên nhiên tạo vật không còn đối lập với con người
mà cùng con người hợp thành bức hoành tráng chói chang, rạng rỡ (Ðoàn thuyền
đánh cá).
* Thời
kỳ này đánh dấu một bước chuyển biến mới của hồn thơ Huy Cận. Mỗi tập thơ là
một nỗ lực lớn, tự vượt lên để khẳng định sự góp mặt vào cuộc đời mới. Với ý
nghĩa đó, thơ Huy Cận còn củng cố nhận thức về cuộc đổi đời lịch sử và bồi đắp
những tình cảm trong sáng, lành mạnh.
b. Thơ
Huy Cận trong kháng chiến chống Mỹ:
Trong
kháng chiến chống Mỹ, Huy Cận đã góp tiếng thơ mình vào việc phản ánh những sự
kiện, những vấn đề trọng đại của chiến tranh. Bằng nhiều chuyến đi thực tế vào
tuyến lửa, nhà thơ kịp thời chuyển biến cách nhìn, cách nghĩ cho phù hợp với
giai đoạn cách mạng mới. Liên
tiếp ra đời nhiều tập thơ có giá trị: Những năm sáu mươi (1968); Chiến trường
gần đến chiến trường xa (1973); Những
người mẹ, những người vợ (1974); Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975).
- Trong
khuynh hướng chung của thơ chống Mỹ, thơ Huy Cận tăng cường tính thời sự và tập
trung vào việc khẳng định, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng miền Nam. Từ
thế đứng hùng vĩ và tầm vóc lớn lao của dân tộc trên tuyến đầu chống Mỹ, Huy
Cận càng có điều kiện để suy ngẫm về quá khứ và hướng về tương lai; từ truyền
thống dân tộc đến quan hệ với thế giới, với thời đại. Giữa ngất trời đạn bom,
cái nhìn của nhà thơ vẫn hướng về öphía khái quát để phát hiện ra những tầng
sâu văn hóa truyền thống của đời sống con người Việt Nam:
Sống vững chải bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa
Trong và thật: sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
(Ði trên mảnh đất này)
- Tính
chính luận, suy tưởng thể hiện rõ trong nhiều bài thơ. Xuất phát từ những sự
kiện chính trị-xã hội hay những chi tiết cụ thể của đời sống, nhà thơ mở rộng
liên tưởng để khám phá bề sâu triết lý của vấn đề.
Trước
ngã ba Ðồng Lộc - một trọng điểm trên tuyến đường vào Nam, nơi ghi dấu sự hy
sinh dũng liệt của 10 cô gái phá bom - Huy Cận nghĩ đến ý nghĩa quyết định của
những ngã ba trong đời mỗi người, mỗi dân tộc:
Qua trái tim ngã ba Ðồng Lộc
Máu qua tim máu lọc
Xe vượt ngã ba xe xốc tới miền Nam
...Những ngã ba Việt Nam
Trên đường dài kẻ địch còn găm
Nhiều bom nổ chậm
...Ðường sẽ thông xe đi về Cách mạng
(Ngã ba Ðồng Lộc)
Bằng
những hình ảnh giản dị, cụ thể, Huy Cận tập trung ngợi ca sức quật khởi, sức
sống bất diệt và phong thái ung dung của con người Việt Nam. Nhà thơ đi đến một
khái quát có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về cuộc kháng chiến chống Mỹ: đây là cuộc
chiến đấu và chiến thắng của nhân nghĩa trước bạo tàn phi nghĩa, của sự sống
trước sự hủy diệt. Nhận thức này thấm sâu trong cảm xúc và hình tượng thơ, tạo
nên tâm thế bình tỉnh, tự tin của cả một dân tộc anh hùng trước những thử thách
ác liệt. Trong Giờ trưa, cuộc sống vẫn êm đềm diễn ra với tiếng chim hót, nhện
giăng tơ, gà cục tác,... bất kể sự lồng lộn của con ma Mỹ
Buổi trưa ấm lại bốn bề tiếp tục
Con gà mái lại đâu đây cục tác
Báo với đời thêm một trứng tròn to
Anh bộ đội ngoái đồng ngồi trên mâm
pháo bóng tròn vo
Ðủ tháng năm ta sẽ đánh giặc xong
Trái chín cây đâu phải chín nóng lòng
- Quê
hương đất nước, nông thôn Việt Nam luôn là đề tài quen thuộc, không thể thiếu
trong thơ Huy Cận. Thời chống Mỹ, đó là những làng quê yên ả với nhịp sống
tưởng như bình lặng nhưng luôn có nhiều xao động tinh tế. Vẻ đẹp truyền thống
đang có nhiều đổi thay cho phù hợp với thời đại mới
Gà gáy trong mưa vẫn tiếng vang
Giọng kim, giọng thổ rộn vang đồng
Ðược mùa giống mới, gà no bữa
Tiếng gáy tròn như lúa nặng bông
(Gà gáy trên cánh đồng Ba Vì được mùa)
***Hai bàn tay em (tập thơ cho thiếu nhi):
Huy Cận
rất yêu mến và quan tâm đến trẻ con. Nhà thơ dành hẳn một tập thơ cho các em.
"Hai bàn tay em" khai thác đề tài từ những sự vật, khung cảnh gần gũi
với cuộc sống của trẻ con (con cóc, con ve, con dế, cái chong chóng, buổi trưa
hè,...); những khía cạnh tình cảm gia đình thân thuộc (cha mẹ-con cái, anh
chị-em, ông bà-cháu); những câu chuyện lịch sử, những tấm gương thiếu niên anh
hùng.
Tập thơ
như những bài học nhằm giáo dục các em lòng yêu quê hương đất nước, yêu con
người, yêu lao động, tinh thần đoàn kết,...Không là những lời giáo huấn khô
khan, tiếng thơ Huy Cận rất hồn nhiên, ngộ nghĩnh nên dễ đi vào tâm trí trẻ thơ:
- Buổi trưa lim dim
Nghìn con mắt lá
Bóng cũng nằm im
Trong vườn êm ả
- Bé gọi con dế
Quen nấp đầu hồi
Dế kêu the thé
Giật mình bưởi rơi
*Từ 1975 đến nay, Huy Cận vẫn sáng tác đều đặn. Gác lại chuyện
chiến tranh, tâm hồn nhà thơ trở về với mạch cảm xúc quen thuộc của cuộc đời
hàng ngày quanh mình; lại say mê thiên nhiên, vũ trụ và nghiền ngẫm, suy tư về
sự sống con người. Những tập thơ tiêu biểu: Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại
gieo (1984), Chim làm ra gió (1989), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ (1997).
Thơ Huy
Cận tiếp tục phát triển theo hướng suy tưởng, hướng nội hơn; có khuynh hướng
chiêm nghiệm về ý nghĩa nhân sinh cao cả từ những biểu hiện bình dị của đời
thường:
Yêu mãi, yêu rồi, đâu hết yêu
Cuộc đời như miếng đất phì nhiêu
Trồng bao nhiêu vụ còn tươi tốt
Hạt gặt xong rồi, hạt lại gieo
1. Huy
Cận có năng lực cảm nhận cuộc sống thật đặc biệt, có thể nghe được từ những
biểu hiện tinh vi của tạo vật đến những biến đổi lớn lao trong vũ trụ vô cùng
vô tận. Ðây là nhà thơ có "cái nghiêng tai kỳ diệu"(Xuân Diệu). Huy
Cận cảm nhận được trọn vẹn từ những mùi vị dân dã của đất đai đồng ruộng đến
lời ru của gió, nhịp thở của biển, để rồi nói lên linh hồn của cảnh sắc thiên
nhiên bằng giai điệu trong trẻo, dễ rung động lòng người.
+ Trước
1945, tuy vật vã với nỗi sầu đau nhưng thiên nhiên trong thơ Huy Cận vẫn thấm
thía tình người, tình đời (Ngậm ngùi, Tràng giang, Buồn đêm mưa):
- Ðêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn buồn
- Nắng chia nửa bãi, chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây
Từ sau
Cách mạng tháng Tám, tiếng thơ trở nên đằm thắm, sâu nặng nghĩa tình; cảnh sắc
thiên nhiên ấm áp, xôn xao hơn nhiều:
Chiều thu trong, lá trúc vờn đẹp quá
Lá mía xanh nhung quạt vào mái rạ
Tiếng lao xao như ai ngả nón chào
Hoa mướp cuối mùa vàng rực như sao
Giếng trong lẻo, trời xanh in thăm thẳm
(Chiều thu quê hương)
+ Năng
lực ấy không chỉ có được bằng sự tinh nhạy của các giác quan (rèn dũa trong
những năm tháng tuổi thơ, sống ở quê hương) mà còn xuất phát từ chiều sâu tâm
hồn nhà thơ - một tâm hồn luôn rộng mở để đón nhận đủ đầy âm vang mọi phía đời
sống.
+ Có
thể nói: thiên nhiên, quê hương đất nước là nguồn cảm hứng vô tận trong thơ Huy
Cận. Nếu ở Xuân Diệu, thiên nhiên thường sực nức hương vị và ngôn ngữ ái tình
thì ở Huy Cận, núi sông cây cỏ bao giờ cũng lặng lẽ, bình thản như tâm hồn tác
giả. Không thể hình dung được thơ Huy Cận sẽ ra sao nếu thiếu đi nắng vàng,
trời xanh, gió biếc, biển rộng, sông dài,... Nhưng thơ ấy không thuộc loại thơ
điền viên, bởi trước sau tác giả vẫn luôn nặng lòng đời, luôn có ý thức phát
hiện rồi khẳng định sự hài hòa giữa con người với tự nhiên; để mở rộng biên
giới những xúc cảm, nâng tầm nhận thức về sự tồn tại của con người. "Thơ
viết về đất nước, thiên nhiên và quê hương là một điểm mạnh của Huy Cận. Dường như ở đây nhà thơ đã toát ra
một mảng hương sắc sâu xa, cao đẹp nhất của tâm hồn mình" (Xuân Diệu).
2. Hồn
thơ Huy Cận luôn vận động giữa nhiều đối cực: vũ trụ-cuộc đời, sự sống-cái
chết, nỗi buồn-niềm vui, hiện thực-lãng mạn.
+ Vũ
trụ và cuộc đời luôn song hành tồn tại, thành hai cực hấp dẫn hồn thơ Huy Cận.
Thơ ông ngày càng gắn bó với đời, nhưng cảm hứng về cuộc đời không tách rời cảm
hứng về vũ trụ. Vươn lên tìm hiểu những bí ẩn của không gian vô cùng cũng đồng
thời nhìn về trái đất để hiều hơn chính mình. Khát vọng ấy mang bản chất triết
lý, nhân văn cao cả. Bởi đích đến cuối cùng của nó không phải cõi siêu hình nào
mà chính là mặt đất, cõi sống của con người.
+ Huy
Cận viết khá nhiều về cái chết, về sự tương phản nghiệt ngã giữa hữu hạn đời
người với cái vô hạn của tạo hóa. Sự sống là bất tử, vũ trụ là vô cùng nhưng
con người không thể tránh được cái chết. Nghĩ đến lúc từ giã cõi đời, nhà thơ
không khỏi xót xa nuối tiếc. Nhưng đó không là biểu hiện của thái độ ham sống
sợ chết tầm thường mà là của khát vọng được cống hiến hết mình, được tái sinh:
Rồi một ngày kia giã cõi đời
Xin cho gieo hạt hết trong tay
Chứ tay còn nắm chưa vơi hạt
Mà phải ra về cực lắm thay
(Hạt lại gieo)
Ðời thân yêu, một ngày mai ta chết
Cho ta đi khi hè chói chang trưa
Ðể ta hiểu giã từ chưa phải hết
Nằm đất quen như hạt chín sang mùa
(Say mùa hè)
+ Nỗi
buồn và niềm vui ở Huy Cận đều được đẩy đến cực đoan: lúc buồn-buồn đến ảo não,
thê thiết; khi vui-vui tràn trề, dào dạt. Hành trình tâm tưởng của Huy Cận đi
từ nỗi buồn sâu đến niềm vui lớn. Cảm nhận, thể hiện rõ hai đối cực này chứng
tỏ nhà thơ rất thiết tha với cuộc đời và ý thức đầy đủ về thân phận con người.
Khi nỗi buồn được ý thức, hóa thành nỗi đau đời; khi niềm vui được ý thức, sẽ
thành hạnh phúc, tin yêu.
+ Cảm
hứng nghệ thuật của Huy Cận, trước 1945, có sự phân cực khá rõ giữa hiện thực
và lãng mạn. Từ sau 1945, hai đối cực ấy dần dần đạt đến độ hòa hợp cần thiết,
trên cơ sở sự thống nhất giữa lý tưởng và hiện thực trong cuộc sống
mới.
3. Huy
Cận là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn tầm cỡ thế giới. Tuy am hiểu nhiều nền văn
minh, văn hóa của nhân loại, hồn thơ ông vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Suối nguồn
thơ ca truyền thống đã rót vào tâm hồn Huy Cận những giai điệu du dương, khiến
cho tiếng thơ - những khi đạt đến độ thuần thục - rất dễ đi vào lòng người. Thể
thơ lục bát truyền thống, thể thơ năm chữ của dân ca Nghệ Tĩnh - trong tay Huy
Cận - vừa mộc mạc chân tình vừa lắng đọng, hàm súc; sắc thái biểu hiện được
phát huy rõ rệt. Chất suy nghĩ bàng bạc khắp các tứ thơ. Hình ảnh thơ Huy Cận
thường không sắc sảo, gây ấn tượng mạnh mà thâm trầm, khơi gợi; như len nhẹ,
như ngấm sâu vào tâm hồn và trí tuệ người đọc. Những bức tranh thiên nhiên
trong thơ Huy Cận thường rất ít đường nét, giản ước theo bút pháp cổ điển, gợi
nhiều hơn tả. Do đó, có thể nói: ấn tượng không gian có được - trước hết - nhờ
phong vị Ðường thi.
Con
đường thơ của Huy Cận khá tiêu biểu cho lớp nhà thơ thuộc thế hệ thứ nhất, văn
học Việt Nam hiện đại. Từ một thành viên xuất sắc của phong trào thơ Mới, Huy
Cận đến với Cách mạng, tìm thấy mục đích, lý tưởng chân chính cho tiếng nói
nghệ thuật của mình và trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca
Việt Nam hiện đại.
Với vốn
văn hóa sâu rộng, năng lực xúc cảm, suy nghĩ phong phú và quan điểm nghệ thuật
rõ ràng, Huy Cận đã góp vào thi đàn một tiếng thơ có hương sắc riêng, làm rạng
rỡ diện mạo tâm hồn dân tộc.


4.JL.jpg)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét