Thiền vị, Ðạo vị, Thi vị trong văn chương Việt Nam
Nhân mùa Phật Ðản 2541
-- 1997, G.N. trích bài thuyết trình của cố thi sĩ Ðông Hồ (1906 --1969), nhà
thơ, nhà văn, nhà khảo luận, nhà giáo dục, nhà mô phạm, người có công phát huy
tiếng Việt ở tiền bán thế kỷ 20 tại miền Nam Việt Nam, đọc trong dịp lễ Phật
Ðản đại khánh 2508 - 22.5.1964. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Bài 1: Cung Oán Ngâm Khúc
Xưa nay, nói đến Phật giáo, là nói đến khổ khắc tu hành, trai giới
khổ hạnh, có như nói cái gì xả thân diệt dục. Mà nói đến thi ca là nói đến lãng
mạn phá giới, có như nói cái gì sống ngoài vòng giới cấm.
Ấy như thế mà lạ lùng thay, trong văn chương Việt Nam đã chịu ảnh
hưởng của Phật giáo trong đó không ít. về nội dung tín ngưỡng, cũng như về hình
thức ngoại cảnh.
Lâu nay liệt vị tất cũng đã nhiều lần được nghe các đại đức cao
tăng thuyết pháp, được nghe các giáo sư triết học diễn giãng về triết lý cao
siêu, về tư tưởng thâm trầm của Phật giáo, và học thuyết nầy đã ảnh hưởng sâu
đậm vào vũ trụ quan, nhân sinh quan trong quan niệm tư tưởng, trong văn học
nghệ thuật Việt Nam như thế nào rồi. Ở đây, tôi xin phép lượt đi mà không nói
về điểm đó. Tôi chỉ nói riêng về văn chương. Mà văn chương thì bao la mênh mông
lắm, hằng hà sa số, biết nói làm sao cho cùng. Cho nên tôi chỉ xin nói riêng về
một điểm thiền vị trong thi ca Việt Nam mà thôi.
Tôi không định nghĩa thế nào là thiền vị, thế nào là đạo vị, và
thế nào là thi vị. Vì làm sao mà định nghĩa cho rõ ràng được một cái gì như có
hình có sắc, như nhìn thấy được, bắt lấy được; mà lại cũng như không có màu sắc
phân minh, không có bóng hình nhất định, mắt không nhìn thấy, tai không nghe
thấy, mà lạ lùng thay nó vẫn có đó, nó phảng phất quanh quẩn đâu đây, nó lảng
vảng vẩn vơ trong tâm trí như làn khói trầm hương từ ngàn xa bát ngát, như
tiếng hồng chung vọng giữa đêm thanh tĩnh thâm trường.
Làm sao mà định nghĩa được cho rõ ràng cái gì nó đã xâm chiếm tâm
hồn ta, có lẽ đã lâu lắm rồi, từ thuở nào mà ta không biết. Nó đã tập nhiễm cho
ta thành một tư tưởng suy tư mà ta không dè. Nó đã khiến cho lòng ta yêu thích,
một thứ yêu thích không đắm đuối hẳn mà chỉ có một chút say mê, không quyến
luyến lắm mà sao không rời bỏ được. Mùi trầm hương đó, tiếng hồng chung đó hình
như nhắc cho ta nhớ nhung một tiền kiếp chân thân từ nghìn xưa sâu thẳm. Nếu
chúng ta là thi nhân, mà ai lại không thể trở thành thi nhân trong thời khắc
huyền ảo thâm trầm như vậy; tự nhiên ta sẽ cất tiếng ngâm nga, để nói lên nổi
niềm cảm xúc. Bây giờ, thơ của chúng ta đã có trộn lẫn mùi thiền và mùi đạo ít
nhiều trong đó mà chúng ta không dè nữa.
Người Việt Nam còn ai không thuộc chuyện Quan Âm Thị Kính, và
chuyện Vu Lan Bồn tức chuyện Mục Kiền Liên. Hai áng văn đó bản thân đã thành
hẳn là Phật truyện diễn ca, cốt chuyện hoàn toàn là sự tích nhà Phật, được coi
đó là hai bản kinh rồi. Tôi xin phép lược đi mà không nói đến.
Bắt đầu, tôi hãy dẫn Cung Oán Ngâm Khúc.
Một áng văn than vãn nỗi oán hờn của một người cung nữ đối với
quân vương, đương nhiên là phải tả ra những lạnh lẽo, thê lương nơi cung cấm,
nói lên những tiêu điều, vắng vẻ của lòng người, kể lể bao đoạn khổ tình thương
của một đời thanh xuân mơn mởn bị giam hãm, bị trói buộc một nơi để làm thú vui
chốc lát của người đàn ông, có khi bị lãng quên; suốt đời ước ao chờ được giải
thoát. Nội dung đó, nếu như ở ngòi bút của một thi sĩ, văn sĩ tây phương thì họ
đã khai thác đề tài trên địa hạt sinh lý, hoặc xét vấn đề theo tâm lý học, phân
tâm học, khi tình dục bị dồn nén, bị thiếu thốn.
Ở đây trái lại, tác giả Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia
Thiều xây dựng ngâm khúc của mình bằng học thuyết nhà Phật:
Sợi xích thằng chi để vướng chân
Vắt tay nằm nghĩ cơ trần
Nước dương muốn rảy nguội dần lửa duyên
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê
Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ
Ðường thế đồ gót rổ khi khu
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh
Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
Mói thất tình quyết dứt cho xong
Ða mang chi nữa đèo bòng
Vui gì thế sự mà mong nhân tình
Lãy gió mát trăng thanh kết nghĩa
Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên
Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.
Quí vị vừa nghe đoạn văn vừa kể, có phải y như nghe một đoạn
thuyết pháp về sinh lão bệnh tử, về căn quả nhân duyên, mà trong đó có hàm chứa
biết bao thi vị.
Ðến đây, chúng ta lại thấy thêm chẳng những tác giả đã thi vị hóa
Phật thuyết bằng văn chương, mà còn thi vị hóa triết lý tôn giáo bằng cả câu
chuyện cung oán.
Ðọc xong khúc Cung Oán, chúng ta hoát nhiên tỉnh ngộ mà nhận thấy
rằng: Trong khoảng vũ trụ bao la, thời gian vô tận, không gian vô cùng nầy, lũ
nhân loại chúng sanh kéo dài cuộc sống vô thường, giam hãm kiếp người trong
khuôn đào chú, trong vòng chiết ma, lòng vẫn mong mỏi ước ao được có ngày giải
thoát cho khỏi kiếp luân hồi, thì vòm trời đất bao la mênh mông này đối với
nhân loại chúng sinh cũng có khác gì vòng cung cấm chật hẹp của bầy cung nữ phi
tần. Chúng ta nếu đã biết thương xót cho số kiếp đọa đày, duyên phận lao đao
của người cung nữ thì chúng ta lại càng phải biết tự thương xót cho duyên phận
số kiếp của chúng sinh nhân loại, trong đó có chúng ta lúc nhúc trong khoảng
thiên địa gian lạnh lẽo thê lương vô tuyệt kỳ.
Văn thuyết lý thường thì cứng ngắc khô khan, thì văn Cung oán này
đã khéo thi vị hóa triết lý, khiến cho đạo lý cũng uyển chuyển nhẹ nhàng linh
động theo tiếng nói của văn chương. Thông hiểu đạo lý không cần phải dùng trí
não suy tư mà tâm đắc bằng quả tim thông cảm.
Bài 2: Lâm Tuyền Kỳ Ngộ và Bích Câu Kỳ Ngộ.
Truyện kỳ ngộ giữa một đôi kiếp tiên, nàng Bạch Viên và chàng Tôn
Các, thác sanh xuống trần làm một thục nữ tu hành, và một nho sinh hay chữ. Hai
đàng gặp nhau ở chùa Phi Lai. Vì là duyên Phật kiếp tiên cho nên lúc nào cũng
lưu luyến cảnh thiền môn am tự. Ði đâu thì đi, rồi lòng cứ khắc khoải nhớ nhung
cảnh mây nhàn gió tĩnh mà trở về.
Cũng thì một cốt truyện Bạch Viên Tôn Các này, hồi thời Lê Trịnh,
đã có một tác giả khuyết danh làm thành bản truyện Lâm Tuyền Kỳ Ngộ. Bản này
không phải làm lối lục bát diễn ca, là lối văn thịnh hành về thời cuối Lê đầu
Nguyễn.
Lâm Tuyền Kỳ Ngộ làm lối thơ bát cú thất ngôn như thơ thời Lê Hồng
Ðức, thơ thời Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cả bản truyện gồm trên 140 bài bát cú. Văn
chương nhẹ nhàng thanh thoát. Gần phân nửa số bài thơ dành để ca ngợi cảnh trí
thanh bình u nhã của nhà chùa.
Nhờ lối trang nghiêm thanh nhã của thơ Nôm Ðường luật, nhờ chân
thân tiên phong đạo cốt của tác giả, mà suốt tác phẩm Lâm Tuyền Kỳ Ngộ như bàng
bạc một khí vị hư ảo u huyền, siêu phàm thoát tục. Bất cứ trích đọc một câu nào
chúng ta cũng thấy lời thơ thanh thản lâng lâng.
Gió trúc đưa hương dâng bệ Phật
Cầm thông giòng kệ nức am tuyền
Nước non khuyến sách say mùi đạo
Hoa cỏ đưa tăng tới cửa thiền.
Khuya sớm lân la ngoài ngọn trúc
Hôm mai gặp gỡ dưới am tuyền
Ðêm thanh lắng kệ nương xem nguyệt
Ngày vắng nghe kinh náu bóng hiên
Hương dâng ngày những vừng ô xế
Kệ tụng đêm thâu bóng thỏ tà
Cửa độ ước ao công đức vẹn
Thuyền từ mong mỏi tháng ngày qua.
Trích dẫn như vậy e có rời rạc lắm chăng, thôi thì tôi xin ngâm để
quí vị thưởng thức trọn vẹn một bài, đủ đại biểu cho toàn tập Lâm Tuyền Kỳ Ngộ:
Vẳng vẳng bên tai tiếng pháp chung
Phi lai trông đã cách bờ sông
Gió sầu đòi đoạn bay con trúc
Mây thảm ghe phen gác bóng tùng
Thương khác xa xôi nên lận đận
Tưởng người ly biệt luống long đong
Buồn chung ai để sầu riêng ấy
Biết nỗi này chăng khách má hồng.
Ðã Nói đến Lâm Tuyền Kỳ Ngộ thì phải nhắc đến một chuyện kỳ ngộ
khác. Ðó là truyện Bích Câu Kỳ Ngộ. Câu chuyện hoàn toàn Việt Nam, xảy ra trên
đất nước Việt Nam. Ðây là thiên diễn ca, một trong sáu truyện trích trong bộ
Truyền kỳ mạn lục. Bích Câu là tên một phường của 36 phường trong thành Thăng
Long xưa, thuộc về làng Yên Trạch, huyện Thọ Xương; vùng Văn miếu Hà Nội. Cũng
như Lâm tuyền kỳ ngộ, là duyên gặp gỡ lạ lùng, giữa một tiên nữ đa tình và một
thư sinh lãng mạn. Gặp nhau ở hội chùa Ngọc Hồ. Chính bản thân câu chuyện đã
cũng nên thơ rồi. Chuyện là chuyện tiên thì thơ tự nhiên cũng phải là thơ tiên.
Tôi xin tạm trích đoạn tả cảnh Bích Câu và hội chùa:
Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao
Ðua chen Thu cúc Xuân đào
Lựu phun lửa Hạ mai chào gió Ðông
Xanh xanh dãy liễu ngàn thông
Cỏ lan lối mục rêu phong dấu tiều
Một vùng non nước quỳnh dao
Phất phơ gió trúc dập dìu mưa hoa...
Ngọc Hồ có đám trai tăng
Nức nô cảnh Phật tưng bừng hội tăng
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngổn ngang mã tích sa trần thiếu ai
Thưởng Xuân, sinh cũng dạo chơi
Thơ lưng lưng túi rượu vơi vơi bầu
Mảng xem cây phạm thú mầu
Vừng kim ô đã gác đầu non tê
Tiệc thôi ai nấy cùng về
Gió chiều lay bóng hoa lê la đà
Bên cầu đàn lũ năm ba
Trần tiên trước mắt ai là kẻ hay
Sinh vừa tựa liễu nương cây
Lá hồng đâu đã thôi bay lại gần ...
Thấy người trước cửa tam quan
Theo sau ba bảy con hoàn nhởn nhơ
Lạ lùng con mắt người thơ
Hoa còn phong nhụy trăng vừa tròn gương...
Khách rằng trong hội Vô già
Cửa không ngàn giác đấy là từ bi...
Giọng kiều nghe lọt bên tai
Ðã gần bể sắc khôn vơi sóng tình
Thưa rằng chút phận thư sinh
Ðèn từ soi đến tấm thành với nao
Kỳ viên nở hẹp hòi sao
Mở đường phương tiện chút nào được chăng?...
Bè từ có hẹp chi ai
Dốc đem thuyền giác độ người bến mê
Ngán cho bên cõi Bồ đề
Phải đường ong bướm đi về đấy sao...
Rằng đây lần xuống mê tân
Tiền duyên xin để kim thân tu đền
Ba sinh chưa vẹn mười nguyền
Nhờ tay kim tướng đưa duyên xích thằng
Gậy linh mượn phép cao tăng
Phá thành sầu khổ cho bằng mới cam...
Người còn gợi gió cợt mây
Gót tiên khách đã trở giày làm thinh
Ngóng theo đến Quảng Văn đình
Bóng trăng trông đã trên cành lướt hoa
Ơn lòng nhắn liễu thăm hoa
Biết đâu sắc sắc vẫn là không không
Thoát thôi lẫn bóng ngàn thông
Hương trầm còn thoảng cánh hồng đã khơi.
Kể đến đây, tôi xin phép liệt vị nhắc lại một chuyện vui vui ngày
nhỏ. Thuở học trò đang thời say đắm, say đắm nghĩa lý văn chương và say đắm
danh lam thắng cảnh. Ðọc truyện Từ Thức, đọc truyện Bích Câu, lòng cứ đinh ninh
hễ đến hội chùa thì thế nào cũng gặp được những nàng tiên đẹp giáng trần.
Tôi đã có lúc say mê hội chùa. Hội chùa nào tôi cũng đến chơi,
lòng những ước ao mơ mộng có lúc mình được là Tú Uyên, tìm ở đó một mối duyên
kỳ ngộ. Hiện nay hội chùa có thường và có nhiều, không biết các cậu bây giờ có
những mơ ước dại dột nên thơ đó nữa hay không.
Trọn vẹn tác phẩm trữ tình được bao bọc nuôi dưỡng trong cảnh vật
thiền môn trai giới, nhắc cho chúng ta nhớ rằng: Một vài nét nên thơ thì biết
bao thi vị, mà khi đã rậm rợp chi li thì hóa phiền phức tục trần. Thiền vị đã
mất mà thi vị cũng không còn nữa. Cho nên tôi xin không muốn trích dẫn truyện
Phan Trần để liệt vị nghe trong dịp Khánh đản hôm nay.
Bài 3: Truyện Kiều (1)
Kể từ
đầu, tôi đã nhắc đến truyện ngâm khúc, truyện diễn ca, còn một truyện có lẽ
liệt vị lấy làm lạ sao mà chưa thấy tôi đả động tới. Tôi bỏ quên hay là tôi
dành phần đặc biệt cho bài thuyết trình.
Xưa nay nói đến văn chương Việt Nam, mọi nhà phê bình đều bằng
lòng công nhận Truyện Kiều là áng văn kiệt tác đột ngột, vượt lên như một ngọn
cô phong độc tú. Chẳng những kiệt tác về phương diện văn học nghệ thuật, về
nhân sinh về xã hội mà đến nay xét trên phương diện triết lý Phật giáo, cũng
cho chúng ta thấy tác giả Tố Như Nguyễn Tiên Ðiền quả thật là một nhà thơ thiên
tài bách luyện. Xưa nay, mọi người đều biết Truyện Kiều là một chuyện phong
tình, nhân vật chủ động trong truyện là một cô gái trăng hoa, nhưng ít có ai
ngờ Nguyễn Du đã xây dựng tác phẩm của mình trên nền triết lý giản dị phổ thông
của Phật giáo. Ðành rằng cốt truyện là sẵn của Thanh Tâm Tài Nhân đời Minh,
nhưng yếu tố chính phải là có ngòi bút tài tình của nhà thơ Hà Tĩnh. Vả các
truyện Nôm của ta như Hoa Tiên, Nhị Ðộ Mai, Phan Trần, Lâm Tuyền Kỳ Ngộ chẳng
hạn, chuyện nào không là cốt chuyện Tàu, nhưng vì tác giả các truyện đó không
sánh kịp Tố Như mà truyện Kiều vượt bực.
Nhưng mà thôi, vấn đề đó không thuộc về bài này hôm nay. Ở đây,
chúng ta trở lại để tìm thưởng thức mùi thiền và mùi đạo, đã phảng phất từ cảnh
vườn Lâm Thúy lan truyền cho đến mặt nước Tiền Ðường. Chúng ta không cần bàn
rộng đến thuyết nhân quả, đến nghiệp "karma" của nhà Phật, mà Nguyễn
Du đã áp dụng chứng minh trong truyện đúng hay là không đúng, mà chỉ biết rằng
nhân vật chánh của tác giả là nàng Thúy Kiều đã sống trong nếp tin tưởng đó.
Bất kỳ lúc nào nàng Kiều cũng thấy mình bị bao vây bằng một vòng lưới túc
khiên, nghiệt chướng không thoát được, rồi lại cũng nhờ dựa vào nhân quả nghiệp
duyên đó mà sống, mặc dầu sống trong kiếp yên hoa luân lạc.
Nàng Kiều không phải sống với Kim Trọng, không phải sống với Thúc
Sinh, Từ Hải mà thực sự thì nàng đã sống với hai nhân vật nhà Phật. Một là hồn
ma Ðạm Tiên, hai là sư bà Giác Duyên. Ðời nàng Kiều cứ y như gặp lúc khó khăn
không giải quyết được, thì có hai nhân vật đó xuất hiện vẽ nẻo chỉ đường, vạch
cho một lối thoát. Hồn ma Ðạm Tiên đã xuất hiện ba lần trong đời nàng Kiều: Một
lần bữa chiều ngày Thanh minh bắt đầu đến trước bạ tên nàng vào sổ đoạn trường, "Âu
đành quả kiếp nhân duyên, cùng người một hội một thuyền đâu xa"; một
lần thứ hai, đến để ngăn không cho nàng chết khi liều mạng với Tú bà, bắt nàng
phải sống để trả cho hết tiền căn nghiệp báo. "Dĩ rằng: nhân quả
dở dang, đã toan trốn nợ đoạn trường được sao"; và một lần thứ ba, đến
để giũ sổ cho nàng. "Ðoạn trường sổ rút tên ra, đoạn trường thơ
phải đón mà trả nhau".
Còn sư bà Giác Duyên. Một lần đầu cho nàng nương náu ở Chiêu Ân am
khi nàng túng đất sẩy chân; lần thứ hai ở doanh trại tướng quân Từ Hải để chứng
kiến kết quả của ân của oán, và cũng để thông báo trước lời tiền định của Tam
Hợp đạo cô, rồi lần thứ ba cứu vớt nàng ra khỏi trầm luân, sóng nước Tiền
Ðường, để cho nạn xưa trút sạch.
Liệt vị thính giả chắc không trách tôi kể lể dài dòng. Vì có nêu
rõ như vậy mới thấy cả một thiên tình sử thi vị của Nguyễn Du lúc nào cũng chứa
chan thiền vị. Tôi không nói ngoa chút nào đâu. Ngay lúc đầu chỗ hội Ðạo thanh
trong tiết Thanh minh, để dọn cho việc Thúy Kiều tiếp xúc với hồn ma Ðạm Tiên,
tác giả đã bắt nhân vật của mình nhìn khác với mắt nhìn của khách du Xuân "đố
lá tìm hoa". Trong cảnh "cỏ non xanh rợp chân trời, cành
lê trắng điểm" mà lại xen vào trong đó, cảnh "rầu
rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh". Trong cảnh rộn rịp tưng bừng"ngựa
xe như nước, áo quần như niêm" mà xen vào đó cảnh "nấm
đất xè xè, vắng tanh hương khói". Tiếp theo đó là cảnh chiều tà bóng
xế, âm khí nặng nề:
Kiều rằng những đấng tài hoa
Thác là thể phách còn là tinh anh
Ðã hay tình lại gặp tình
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ
Một lời nói chửa kịp thưa
Phút đâu ngọn gió cuốn cờ đến ngayào ào đổ lộc rung cây
Ở trong dường có hương bay ít nhiều
Ðè chừng ngọn cỏ lần theo
Dấu giày từng bước in rêu rành rành
Mặt nhìn ai nấy đều kinh
Nàng rằng này thật tính thành chẳng xa
Hữu tình ta lại gặp nhau
Chớ hề u hiển mới là chị em.
Ðọc đoạn văn vừa trích dẫn đó, có phải đúng là chúng ta đang thấy
cảnh u ám bi thu thê lương thảm đạm của ngày lễ Vu Lan:
Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh ngắt xương khô
Não lòng thay cảnh chiều Thu
Ngàn lau nhuốm bạc giếng ngô rụng vàng
Ðường bạch dương bóng chiều man mác
Ngọn đường lê lác đác sương sa
Lòng nào lòng chẳng xót xa
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm
Trong trường dạ tối tăm trời đất
Có khôn thiêng phảng phất u minh
Thương thay thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc linh đinh quê người
Hương khói đã không nơi nương tựa
Phận mồ côi lần lữa đêm đen
Còn chi ai khó ai hèn
Mấy câu trong bài văn Chiêu Hồn trên đó cũng của tác giả Ðoạn
Trường Tân Thanh, dẫn ra đây so sánh nghe thử đã có khác gì nhau với đoạn văn
trước mả Ðạm Tiên.
Bài 4: Truyện Kiều (2)
Bắt đầu
truyện Kiều, chúng ta đã thấy có mùi thiền mùi đạo. Rồi thì từ đó về sau, hãy
còn bao nhiêu lần nữa, chúng ta thử theo bước thi sĩ Tố Như đi vãng cảnh chùa
chiền.
Văn truyện Kiều thật là đột ngột, đang giữa tiết tháng Ba quang
đãng bỗng có cảnh tháng Bảy sương sa cỏ cháy, sụt sùi ngay trong vườn nhà họ
Hoạn ác nghiệt đanh đá chua ngoa, bỗng xuất hiện cảnh bác ái từ bi của Quan Âm
các:
Sẵn Quan Âm các vườn ta
Có cây trăm thước có hoa bốn mùa
Có cổ thụ có sơn hồ
Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.
Ðó cũng là một cách Hoạn Thư giam lỏng nàng Kiều, bắt nàng và Thúc
Sinh phải thường trực chịu đựng trong cảnh:
Gác kinh viện sách đôi nơi
Trong gang tất lại gấp mười quan san.
Nhưng mà ở trong cảnh ngục tù đó, êm đềm mát mẻ biết chừng nào.
Ngoài phong cảnh thiên nhiên cổ thụ sơn hồ, Hoạn Thư đã lo liệu thật là chu
đáo:
Tâng tâng trời mới bình minh
Hương hoa ngũ cúng sắm sanh lễ thường
Ðưa nàng đến trước Phật đường
Tam qui ngũ giới cho nàng xuất gia
Áo xanh đổi lấy cà sa
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền
Sớm khuya tính đủ dầu đen
Xuân Thu cắt sẵn hai tên hương trà.
Giữ chùa chép kinh trong cảnh thanh nhàn đó, lại thêm có hai cô diệu
hầu hạ hương trà khuya sớm thì dầu trong cảnh quan phòng then nhặt khóa mau
nữa, ai mà không muốn tu cho trót.
Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía dường xa bụi hông
Nhân duyên đâu lại còn mong
Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi
Phật tiên thảm lấp sầu vùi
Ngày pho thủ tự đêm nồi tâm hương
Cho hay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
Tất cả chúng ta lấy làm lạ, tại sao mà Hoạn Thư lại phải phục vụ
người tình địch của nàng chu tất đến như vậy. Chắc có người nghĩ rằng phải tạo
nên ngoại cảnh đó mới đánh bẩy được chàng Thúc Sinh và cô Kiều, cho hai đàng
đều không lưu tâm e ngại, lấp lửng thừa ưa.
Thừa cơ Sinh mới lẻn ra
Xăm xăm đến chốn vườn hoa với nàng.
Tôi thì nghĩ khác. Hoạn Thư lúc bấy giờ đã nguôi cơn ghen tức,
chẳng những cơn ghen lúc đó mới nguôi, mà chắc rằng đã nguôi từ khi:
Giọt hồng canh đã điểm ba
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm
Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm
Vui này đã bỏ đau ngầm xưa naỵ
Và đã động lòng trắc ẩn từ khi:
Cúi đầu quì trước sân hoa
Thân cung nàng mới dâng qua một tờ
Diện tiền trình với tiểu thơ
Thoắt xem dường có ngẩn ngơ chút tình
Liền tay trao lại Thúc Sinh
Rằng tài nên trọng mà tình nên thương
Vì căn có số giàu sang
Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên
Bể trần chìm nổi thuyền quyên
Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời.
Thì việc Hoạn Thư hậu đãi Thúy Kiều ở Quan Âm các là do mối từ
tâm, Phật tính vốn sẵn có của lòng người. Ðiều suy luận của tôi đã có chứng
minh: Sau khi nghe hai đàng kể lể
Rành rành kẽ tóc chân tơ
Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường
Bao nhiêu đoạn khổ tình thương
Nỗi ông vất vả nỗi nàng thở than.
Cho đến khi chán tai nàng mới rẽ hoa bước vào. Dẫu biết rằng:
Dói quanh Sinh mới liệu lời
Tìm hoa quá bước xem người chép kinh.
Mà nàng vẫn cười cười nói nói ngọt ngào. Ðó là nàng cười nói ngọt
ngào thẳng thắn. Và nàng cũng đã thẳng thắn thưởng thức tài nghệ của cô Kiều:
Khen rằng bút pháp đã tinh
So vào với thiếp Lan Ðình nào thua
Tiếc thay lưu lạc giang hồ
Nghìn vàng thực cũng nên mua lấy tài.
Chúng ta sẽ thấy hành động phát xuất do Phật tính xui nên đó là
Hoạn Thư đã gây một cái nhân rất tốt cho mình.
Chúng ta xem đến hồi báo ân báo oán. Giữa cảnh:
Quân trung gươm lớn giáo dài
Vệ trong thị lập cơ ngoài song phi
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi
Chắc chắn rằng bao nhiêu nỗi oán hờn oan khốc mà nàng Kiều chịu
đựng trong mười mấy năm trời đều đổ trút tất cả lên đầu một người:
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra
Chánh danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Chỉ nghe một tiếng chào của nàng Kiều cũng đủ cho chúng ta đoán
được nỗi căm hờn tức tối dâng lên tột độ trong lòng nàng:
Thoắt trông nàng đã chào thưa
Tiểu thư cũng có bây giờ ở đây!
Tiếng chào đó quả là tiếng phán quyết cuối cùng rồi. "Bây
giờ ở đây!" Trời ơi! Nghe mà khiếp đảm kinh hồn. Và trước khi
tuyên án, nàng Kiều cũng đã tuyên bố cho Thúc Sinh biết trước số phận của vợ
chàng, để cho chàng khỏi trách:
Vợ chàng quỉ quái tinh ma
Phen này kẽ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.
"Trả nghĩa" cho "mưu sâu". Thiệt là ghê
gớm! Tánh mạng của Hoạn Thư thật khó mà an toàn, sau bao nhiêu lời nghiến răng
tuyên bố đó.
Ấy thế mà khi nghe Hoạn Thư nhắc đến một câu; vỏn vẹn một câu
thôi:
Nghĩ cho khi các chép kinh
Thì tức khắc:
Truyền quân lịnh xuống trướng tiền tha ngay!
Thật có ai ngờ, bản án của Hoạn Thư được xử nhẹ nhõm dễ dàng,
khoan hồng như thế.
Chúng ta đã thấy chưa. Cái nhân lành mà Hoạn Thư gieo ở Quan Âm
các là để cho nàng hái được cái quả tốt ở cửa viên môn lúc bấy giờ đó.
Câu: "Nghĩ cho khi các chép kinh" của
Hoạn Thư, và câu: "Truyền quân lịnh xuống trướng tiền tha ngay" của
Thúy Kiều, quả là hai câu hàm súc bao nhiêu đạo vị trác tuyệt, bao nhiêu thi vị
thâm trầm, nếu không phải là tay thi hào trác tuyệt thâm trầm thì không làm sao
mà sáng tạo cho nên.
Ngoài những văn chương trường thiên, hãy còn biết bao thi văn khác
chứa chan mùi đạo mùi thiền. Trong khu vườn văn học Việt Nam, góc nào mà không
có năm, ba đóa hoa Ưu đàm nở cười viên mãn, góc nào mà không có cành lá Bồ đề
rủ bóng, thoảng gió chân như. Từ thơ Lê Hồng Ðức, thơ Mạc Thiên Tích cho đến
Bạch Vân Am, thơ Nguyễn Công Trứ, thơ Vũ phạm Hàm, thơ Chu Mạnh Trinh, thi tập
nào cũng có năm, ba bài ca tụng cảnh sơn môn thiền viện.
Chúng ta đã biết cảnh chùa Hương, Nam thiên đệ nhất động, đã có
nhiều nhà thơ đề vịnh. Truyền tụng có ba bài: một bài của Lê Thánh Tôn, một bài
của Vũ Phạm Hàm, và một bài của Chu Mạnh Trinh. Tôi xin trích trộn lẫn mỗi bài
ít câu:
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lửng lơ khe suối cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng...
Chén vân dịch nghiêng bầu uống gắng
Bức thơ tiên mở túi liền đề
Gót in đá biếc xanh xanh
Lòng trần tục bỗng không thanh thản nhẹ
Mặt trời gác bóng cây xế xế
Tản vân in đáy nước rành rành
Chim trời mây chiếc lênh đênh
Cành mai thụ rập rình năm bảy lá
Quả mơ xanh với nước mơ già
Trong chân cảnh có chân vị, chân vị mà các thi nhân nói đây là
thiền vị và thi vị mà chúng đang đề cập đó chăng? Cảnh thanh tịnh yên lành chốn
thiền môn đã gây cho chúng ta nguồn thi hứng êm đềm. Nguồn thi hứng ở động
Hương Tích đã theo nước suối Giải Oan róc rách không ngừng, luân chảy mải cho
đến gần chúng ta. Ai mà chẳng nhớ bài thơ Chơi chùa Hương của Nguyễn Nhược
Pháp, đã phổ biến thành nhạc:
Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương...
Réo rắt suối đưa quanh
Ven bờ ngọn núi xanh
Dịp cầu xa nho nhỏ
Cảnh đẹp gần như tranh
Ðường đây kia lên trời
Ngọc nhuốm hương trầm rơi
Em cầu xin trời Phật
Sao cho em lấy chàng
Chắc là liệt vị đang đợi tôi đề cập đến văn chương đời Lý, đời
Trần, là hai triều đại mà Phật giáo ở nước ta cực thịnh, được gọi là quốc giáo.
Từ vua quan đến sĩ thứ cả nước, trên dưới đều dốc một lòng tín ngưỡng tôn sùng
đạo Phật. Chính quyền thời đó đã ủng hộ Phật sự, hoằng dương Phật pháp, để viên
thành công đức tế độ chúng sanh. Mà Phật gia Tăng thống thời đó cũng dự vào
quốc chính, vô vi thành hữu vi, đem hùng tâm hùng lực, đại từ đại bi tham tán
công nghiệp trị quốc, bình thiên hạ. Thể tài sung túc, phong phú như vậy thì
phạm vi bài thuyết trình này không làm sao chứa đựng được. Huống chi, văn
chương thời Lý, thời Trần, toàn là văn chương Hán học huyền ảo cao thâm, bài
nào chữ nào cũng phải dịch âm dịch nghĩa, diễn dẫn điển tích nhiều lắm mới hiểu
được. Việc đó không thích hợp với hoàn cảnh trong buổi nói chuyện phổ thông hôm
nay.
Không nói chuyện thời Lý, thời Trần thì chúng ta ghé lại thời Lê
một chút. Chúng ta ai mà không thưởng thức quyển tiểu thuyết Hồn bướm
mơ tiên của Khái Hưng, câu chuyện yêu đương vớ vẩn giữa anh chàng sinh
viên Ngọc với chú tiểu Lan ở chùa Long Giáng. Nhất Linh có lần nói chuyện với
tôi rằng: Ông rất lấy làm lạ, không hiểu vì sao trong các tác phẩm của Tự Lực
Văn Ðoàn, Hồn bướm mơ tiên là cuốn sách được tái bản đều đều,
nhiều lần hơn hết. Ðộc giả không phải hoan nghênh ồn ào trong nhất thời, khi
sách mới ra đời, mà đều đều lúc nào cũng còn có người ưa thích. Ai cũng tưởng
giữa xã hội vật chất điên cuồng này, thì đa số độc giả ưa "Ðoạn
tuyệt", ưa "Ðời mưa gió", ưa "Lạnh lùng" hơn mới phải.
Ðàng này không. Thật ra thì độc giả không phải họ ưa gì mối ái tình cao thượng
giả tạo kia. Nhưng người Việt Nam chúng ta, dầu không tu hành, dầu không tín
ngưỡng cũng sẵn có mối thiện cảm với khung cảnh chùa chiền, sẵn bụng yêu thích
những cảnh trí tịch mịch, êm đềm nơi am thanh cảnh vắng, nơi có thể khiến cho
lòng chúng ta lặng yên cơn sóng gió thì Hồn bướm mơ tiên là
một câu chuyện nên thơ.
Mối quan cảm lẫn lộn giữa thiền vị, đạo vị và thi vị đó đã bắt
nguồn sâu xa từ trong tiềm thức vô minh, mà không ai dè; chính người viết sách
là Khái Hưng cũng không dè, chính người in sách là Nhất Linh cũng không dè. Tôi
vừa nói rằng chúng ta sắp ghé vào thời Lê mà sao lại sang đàng vào chùa Long
Giáng làm chi? Quí vị có nhớ nhan đề sách Hồn bướm mơ tiên là
xuất xứ từ đâu không? Khái Hưng đã mượn bốn tiếng đó trong một bài thơ Nôm, thời
Lê Hồng Ðức. Thi thoại truyền rằng: Vị Tao Ðàn Nguyên soái Lê Thánh Tông một
hôm đi vãng cảnh chùa Ngọc Hồ. Vừa đến tam quan thì đã nghe tiếng vàng lanh
lảnh nhịp nhàng. Vào chùa thì đó là tiếng một tiểu nữ đang tụng kinh. Tức cảnh,
vua sai lấy bút mực đề lên vách chùa hai câu thơ lục bát: Ðến đây thấy
cảnh thấy người; Tuy vui đạo Phật, chưa nguôi lòng trần. Và lấy hai
câu đó ra đầu bài cho các tụng thần làm thơ. Có bài của Tao Ðàn Phó Nguyên soái
là Thân Nhân Trung hay hơn cả. Thơ rằng:
Ngẫm chuyện trần duyên khéo nực cười
Sắc không tuy Bụt, hãy lòng người
Chày kinh một tiếng tan niềm tục
Hồn bướm năm canh lẩn sự đòi
Bể ái nghìn tầm khôn tát cạn
Nguồn ân muôn trượng khó khơi vơi
Nào nào Cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây chín rõ mười
Vua truyền đưa bài thơ cho tiểu nữ xem. Xem xong, tiểu nữ tâu
rằng: Thơ cũng đã hay, lời chải chuốt, giọng nhẹ nhàng. Duy hiềm hai câu tam,
tứ chưa đủ gói ghém hết ý cảnh. Vua truyền: Nếu đã chê thì phải chữa cho hay
hơn. Tiểu nữ chữa lại: Gió thông đưa kệ tan niềm tục, Hồn bướm mơ tiên
lẩn sự đời. Vua và cả Tao Ðàn đều thán phục. Khi đạo ngự hồi cung, vua
cho kiệu đón tiểu nữ cùng theo về, nhưng đến cửa Ðại hưng môn, chợt biến mất.
Vua truyền dựng tại đó một ngôi lầu, để ghi tiên tích, đề là "Vọng tiên
lâu".
Ấy bốn tiếng "Hồn bướm mơ tiên" là của cô
tiểu chữa thơ Thân Nhân Trung mà Khái Hưng đã mượn làm nhan đề cho tác phẩm
mình. Hoặc giả nghĩ rằng: chú tiểu Lan trong trong tiểu thuyết ngày nay là hậu
thân của cô tiểu trong thiên giai thoại ngày xưa đó chăng?
Biết như vậy, chúng ta mới thấy ngọn "gió thông đưa
kệ" ở chùa Ngọc Hồ từ đời Lê Hồng Ðức thổi lộng trong thời gian,
thoang thoảng mải không ngừng, cho đến hôm nào đây hóa thành cơn gió chiều khả
ái: "Gió chiều hiu hiu... lá rụng" ở bên chùa Long Giáng,
mà khi đón lấy, chúng ta thấy mát mẻ diu dịu tâm hồn. Ngọn gió đó đã thổi hồn
đạo và hồn thơ lan truyền vào hồn dân tộc.
Bài 6 : Thiền và Ðạo
Từ lúc bắt đầu câu chuyện, tôi đã nhắc nhắc lại nhiều lần tiếng thiền
vị. Ý nghĩa của tiếng có lẽ trừu tượng quá. Tôi muốn tìm một cái gì để
cụ thể hóa danh từ tượng trưng cho thiền vị và đạo
vị trong câu chuyện hôm nay. Tôi nhớ đến cây đa cội to bóng rợp,
tôi nhớ cổng tam quan sơn son thiếp vàng, nhớ đến mái chùa cong cong rêu phủ.
Trong mọi hình thức, mọi cảnh trí đó, thiên nhiên cũng như nhân tạo hãy còn
thiếu một cái gì. Trong lúc dò dẫm suy tầm thì bỗng nghe có tiếng ngân nga. Tôi
nhớ ra liền. Chính cái tiếng đó mới cụ thể hóa được cho Thiền và Ðạo. Tiếng
chuông chùa chẳng những tượng trưng cho thiền vị, đạo vị mà thôi, mà còn tiêu
biểu cho tất cả thuộc về Phật giáo.
Tiếng hồng chung là tiếng của cao siêu, của huyền diệu, là tiếng
của chánh giác, chơn như, từ bi, hỷ xả, của tế độ và của bao dung. Tiếng chuông
cũng làm tan não phiền nghiệp chướng. Tùy lứa tuổi, tùy thời khắc, tùy cảnh ngộ
vui buồn mà tiếng chuông vang dội vào mỗi tâm hồn mỗi khác, và mỗi tâm hồn đã
hưởng ứng, tiếp nhận tiếng chuông cũng mỗi thanh âm khác nhau.
Lão tăng bất xuất thanh sơn tự
Duy hữu chung thanh tống khách qui.
Thôi thì, tôi hãy kể tiếng chuông dội vào tâm hồn cảm hứng của thi
nhân: chuyện đã lâu lắm, từ nước Tàu cổ, nhưng kể lại có làm sao, vì bài thơ đã
phổ biến trong làng thơ ta, cũng như Bắc tông Ðại thừa từ Tàu truyền sang mà
thôi. Thi sử chép rằng: Một đêm về đầu tháng, Trương Kế đổ thuyền ở bến Phong
Kiều. Ðêm đã sắp sang canh ba, sương đã buông xuống dày đặc, mảnh trăng non ngả
vương trên nền trời Tây. Thi nhân xúc cảnh làm ngay hai câu: Nguyệt lạc
ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đói sầu miên. Thi nhân ngâm
đi ngâm lại mãi hai câu đó, mà không làm sao nghĩ nối thêm được nữa. Nguồn thi
hứng cạn, hay là không có cảnh nên thơ. Thi nhân hết nằm vào mui thuyền, lại bò
ra khoang thuyền đứng ngóng bốn bề, để tìm ý cảnh cho bài thơ nghĩ dở. Ðêm đã
nữa, thời gian và không gian đều bát ngát tịch liêu. Bỗng từ núi xa vang lại
tiếng chuông chùa. Ý thơ đã theo tiếng chuông dội vào cảm hứng của thi nhân.
Tức thì, không cần suy nghĩ nhiều hơn, thi nhân chỉ ghi chép lại tiếng chuông
kia: Cô tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Thi
nhân chỉ ghi chép đúng lại tiếng chuông kia, mà câu thơ thành tuyệt cú. Ấy tôi
nói có ngoa đâu, câu thơ giản dị nọ thành bất hủ vì đã được thiền vị hóa bởi
tiếng chuông chùa, và tiếng chuông thỉnh giữa đêm khuya trở nên mối mỹ cảm cho
nhân gian, vì đã được thơ vị hóa.
Có ai tò mò muốn biết tiếng chuông chùa nên thơ nọ là tiếng chuông
vô vi ngẫu nhiên hay tiếng chuông hữu vi tiền định. Thì thi thoại lại kể thêm
rằng: Trương Kế, nhờ có tiếng chuông mà làm được câu thơ đắc ý, sáng hôm sau,
hỏi đường lên chơi Hàn San, vãng cảnh. Chùa ở lưng trừng núi, trông ra con sông,
màu trời sắc nước long lanh. Vào chùa vấn an sư trưởng trụ trì xong, ra xem
chơi cảnh chùa, thì thấy trên vách trai phòng có đề bài thơ, chữ hãy còn tươi
mực. Trương Kế đứng lại ngâm nga thưởng thức thì chú tiểu cũng tới gần vui vẻ
kể chuyện. Bấy giờ được biết thêm rằng: Ðêm qua xong thời kinh chập tối, sư cụ
ra sân chùa hóng mát. Nhìn lên mảnh trăng lưỡi liềm đã xuất hiện giữa trời, một
nét cong thanh tân in trên nền trời khiết bạch. Sư cụ nhẩm đọc câu thơ tức
cảnh: Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung, Cận tự kim câu, cận tự cung. Nghĩa
là đêm mồng ba, mồng bốn, mảnh trăng non trông gần giống như chiếc móc vàng, mà
cũng gần giống như vành cung uốn. Rồi từ đó sơn cùng thủy tận, Sư cụ không nghĩ
ra thêm tứ thơ nào nữa. Sư cụ có hơi bực mình, hôm nay sao mà nguồn thi hứng
của mình chóng cạn thế, mọi khi thì đã thao thao bất tuyệt kia mà. Bài thơ nếu
không tròn thì Sư cụ cứ trằn trọc không đi nằm yên được. Chú tiểu đã ngủ một
giấc dài, ra ngoài thì thấy Sư cụ hãy còn thơ thẩn trước sân chùa. Thấy thầy
nghĩ ngợi băn khoăn, chú tiểu không hiểu chuyện quan hệ gì cũng đâm ra lo lắng,
mới bạch thầy, để hoặc có thể đỡ bớt cho thầy phần nào lo nghĩ. Sư cụ kể chuyện
bài thơ nghĩ dỡ còn thiếu hai câu, mà bụng cười thầm: Chuyện đèn hưong đâu mà
chú tiểu đỡ đần cho Sư cụ được. Nghe chuyện, chú tiểu ra sân ngoài, đứng tựa
gốc bồ đề nhìn ra phong cảnh quanh chùa. Bóng trăng non bây giờ đã ngả thấp
xuống gần mặt sông, in bóng xuống đáy nưóc chập chờn một vành trăng thứ hai, ý
cảnh đó đã cấu tứ cho chú tiểu. Chú trở vào bạch Sư cụ rằng chú đã cất cho Sư
cụ phần lo nghĩ, và trình hai câu thơ: Thùy bả ngân bàn phân lưỡng
đoạn, Bán trâm thủy để, bán phù không. Nghĩa là: "Ai đem mâm bạc
bẻ đôi, Nửa in đáy nước, nửa cài trên không".
Sư cụ nghe xong, ngạc nhiên không hiểu vì sao mà đêm nay chú tiểu
bỗng trở nên thông minh như vậy. Chắc là nhờ đức vô lượng khai tâm kiến tánh
cho, mới dạy chú tiểu vào đốt hương tạ ơn Như Lai. Lễ xong, chú tiểu thỉnh một
hồi chuông khoang khoái.
Chính hồi chuông đó, vọng sang tận bến Phong Kiều, đã giúp cho Trương
Kế hoàn thành bài thơ bất hủ. Thiền gia và thi gia quả có tiền định nhân duyên.
Và còn đây một thi thoại chót: Thời Nguyễn có một nàng công chúa
vừa đẹp vừa hay chữ. Vua anh là vua Thánh tổ Minh Mạng, đã chấm cho công chúa
một nho sĩ tuấn tú, định kén làm phò mã, để sau này sẽ trở nên lưong đống cho
triều đình. Nhưng mà công chúa rất mộ đạo từ bi, từ chối việc hôn nhân, bỏ cung
cấm, trốn vào Quảng Nam, lên tu ở chùa Non Nước. Vua sắc cho địa phương quan
đến nghinh đón và dụ công chúa hồi cung. Nhưng công chúa nhất quyết ở lại chùa,
làm một bài thơ gởi về, hẹn rằng ai mà họa được thơ thì sẽ xin xuất các. Bài
thơ hay lắm, cần phải ngâm lên mới thưởng thức cho trọn vẹn:
Thế sự nhìn xem rối cuộc cờ
Càng nhìn càng ngắm lại càng dơ
Khua tan tục niệm hồi chuông sớm
Gõ vỡ trần tâm tiếng mõ trưa
Chu tử chán màu nên vải ấm
Ðỉnh chung lợm giọng quá chay ưa
Lên đàn cứu khổ toan quay lại
Bể ái trông ra nước đục lờ.
Truyền rằng: Thơ không ai họa nỗi, nên công chúa thoát khỏi oan
gia, và viên thành được mối đạo tâm phát nguyện quy y chánh giác.
Chúng ta có thể nào tin được rằng cả một triều đại hoàng kim của
thi văn, triều đại của Tùng-Tuy-Siêu-Quát mà không có một người nào họa nổi bài
thơ hôm nọ. Không phải là bài thơ khó đến nỗi không ai họa nổi. Mà thật sự là
không ai dám họa.
Ðọc bài thơ phát nguyện, thấy rõ tâm kiên quyết, chí vững vàng dốc
lòng tu niệm của công chúa mà ai không kính sợ.
Nãy giờ tôi dẫn chuyện xưa có, chuyện Tàu có, nghĩ cũng lâu lai xa
xôi quá. Tôi muốn nói một chuyện gần gần chúng ta để tiêu biểu cho câu chuyện
mà tìm hoài không được. Tôi đang lúng túng thì chợt xảy ra ngay trước mắt. Thật
là một thi thoại sống, đang sống với chúng ta.
Giữa thủ đô đây, có một cảnh công viên, cảnh trí khá thanh u, tên
là vườn Tao Ðàn. Tôi không hiểu khi người đổi tên vườn Bồ-rô, vườn Ông Thượng,
có dụng ý gì không, không biết. Chắc là thấy tiếng đó hay hay thì lấy đặt tên
vườn chớ cũng chẳng nghĩ gì đến tiếng Tao Ðàn (viết hoa), tiếng tượng trưng cho
thi ca. Dầu sao cũng là một ngẫu nhiên mà thôi.
Ai có ngờ đâu, thiệt là không dè mà mấy hôm nay, danh từ đó bỗng
trở nên một tiền định.
Ban Văn-Mỹ-Nghệ của Viện Hóa đạo, mượn khu viên đình trong vườn
làm khu triển lãm văn-mỹ-nghệ phẩm liên quan về Phật giáo. Ai đã đến vườn Tao
Ðàn ba bốn hôm naymà xem thì phải biết. Chẳng những là riêng một khu viên đình,
mà khắp cả cảnh vườn đã biến thành cảnh kỳ viên thiền lâm. Một gốc cây trong
vườn là một gốc Bồ đề. Một đóa hoa trong vườn là một đóa Ưu đàm.
Hằng hà sa số Phật tử chúng sanh xa gần nô nức kéo về triển hội.
Gian kia bài thơ, gian này câu đối; không câu đối, bài thơ thì hội họa, điêu
khắc tranh ảnh, mỗi mỗi đều tượng trưng cho một cái gì rất nên thơ mà cũng đều diễn
tả cho đề tài chung là Thiền và Ðạo. Tất cả đều phối hợp hòa đồng với nhau làm
thành một bài thơ trường thiên hàm chứa bao nhiêu thiền vị và đạo vị. Vườn Tao
Ðàn bỗng trở thành hội Vô Già, như hội Vô Già trong chuyện Bích Câu chẳng hạn.
Muốn kể cho hết thì nhiều lắm. Tôi vừa chép được một câu đối ở
trên đó về đây. Ðối rằng:
Phong nhã thuyền giong vời Giác Hải
Ưu đàm hoa rợp bóng Tao Ðàn
Con thuyền phong nhã, con thuyền lãng mạn của hàn mặc văn chương
đã thấy giong chơi trong vời Giác Hải, mà đóa hoa từ bi của chánh giác chân
như, nay lại được thấy rợp bóng giữa Tao Ðàn. Tiếng Tao Ðàn này có như tiếng
chuông chùa Hàn San ngẫu nhiên mà tiền định đó chăng!
Thiền vị và thi vị có cần tìm đâu xa xôi mới gặp. Thơ có câu:
Nhân qua trúc viện phùng tăng thoại
Hựu đắc phù sinh bán nhật nhàn.
Nghĩa rằng:
Hầu chuyện nhà sư trong viện trúc
Phù sinh hưởng tạm nữa ngày nhàn.
Diễn giả không phải là Tăng già, cũng không phải là Phật tử, diễn
đàn cũng không phải là thiền phòng trúc viện; nhưng mà, chúng ta được chút nhân
duyên gặp gỡ vài giờ, đàm đạo năm ba câu chuyện thi vị trong thiền gia. Tôi dám
ước mong, diễn giả cũng như thính giả, chúng ta hôm nay đều trút được giây lát
nỗi tục lụy phù sinh, trong cõi hôn hôn túy mộng.















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét