Trịnh Công Sơn
“Bài ca dành cho những xác người”
Mỹ Huyền
Cảm nhận từ một người sinh sau năm 1975 đối với chiến
tranh, chết chóc, và đặc biệt là đối với thiên tài Trịnh Công Sơn và những nhạc
phẩm của ông, là cảm nhận hết sức trong sáng, rất đáng trân trọng. Dù đã tỏ vẻ
khiêm cung khi trang trải cảm xúc và nhận xét của mình, tác giả cũng không giấu
được cái tinh tế và bén nhạy trong thẩm mỹ và nghệ thuật, cũng như bẩm chất dị
cảm tài hoa, để viết nên một bài tùy bút sâu sắc và đầy xúc động như thế. Trân
trọng giới thiệu đến bạn đọc, và nên nhớ một điều: bạn đang đọc tâm cảm của một
người trẻ sinh sau chiến tranh.
Tiếng ca của danh ca Khánh Ly đã theo tôi suốt
trên đường về, đi vào cả giấc ngủ đêm đông, rồi đến những ngày sau, kéo dài
suốt một tuần. Tiếng hát bay vào cả những bữa ăn, công việc. Tiếng hát bay
bổng, vút cao ấy cất lên như một phương tiện để chuyên chở dòng nhạc làm rung
động lòng người của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Cả ý và lời trong “Bài Ca
Dành Cho Những Xác Người” đã ám ảnh tôi, thôi thúc tôi một điều gì
không rõ.
Xác người nằm trôi sông
Phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
Trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ
Dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố
Trên thềm nhà hoang vu
Mùa Xuân ơi xác nuôi thơm cho đất
ruộng cày
Việt Nam ơi xác thêm hơi cho đất ngày mai
Đường đi tới dù chông gai
Thì quanh đây đã có người
Xác người nằm quanh đây
Trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu
Có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi
Dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy
Bên những vồng ngô khoai.
(Bài ca dành cho những xác người - Trịnh Công
Sơn)
Tôi biết Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ (xin viết
tắt là TCS). Nhưng sau khi biết nhiều hơn về các tác phẩm của ông, tôi thích
gọi ông là một nhà thơ. Cả hai đều không sai. Đối với riêng tôi, tôi nghĩ rằng
nhạc của ông có thể dễ dàng đến với mọi người, dù người đó hát hay, hay hát
không hay. Nếu ai có chất giọng tốt sẵn có thì quả thật tuyệt vời khi hát nhạc
của ông. Còn nếu ai kém may mắn nên hát dở (như tôi chẳng hạn), thì cũng có thể hát nhạc
của ông như đọc một bài thơ hay. Bằng cách đó, tôi đã thưởng
thức bài “Bài Ca Dành Cho Những Xác Người” của TCS một cách tự
nhiên, thoải mái bằng cách đọc đi đọc lại lời thơ ấy, trong khi tiếng hát của
ca sĩ Khánh Ly như vẫn còn trầm bổng, bay lượn đâu đây. Tiếng hát ấy như bay
ngược về quá khứ, gọi thời gian của bốn mươi năm quay về.
Một thảm cảnh mà tôi chưa hề kinh qua, sao lại
rõ ràng trong tâm thức. Xác người nằm rải rác khắp thơ
ông là đối tượng. Chữ “tôi” duy nhất mà tác giả dùng ở cuối
bài là chủ thể. Chủ thể chỉ có một mà sao đối tựợng lại quá nhiều, bao trùm cả
thời gian và không gian.
Tác giả không thấy gì khác hơn ngoài những xác
người chết. Có phải ông muốn ngụ ý rằng số người nằm xuống là biểu hiện của
niềm đau đến từ cái chết, bao trùm thành phố, lên con người, đang phủ đầy khắp
không gian: từ con sông, ruộng đồng, nóc nhà, con đường, thềm nhà, đến cả những
nơi thanh tịnh như mái hiên chùa, giáo đường. Đó không phải là những hình ảnh,
tiêu biểu, đặc trưng của đất nước Việt Nam sao? Không gian mà TCS đề cập đến là
thứ không gian ba chiều: bên trên, bên trong, và bên dưới.
Xác người nằm trôi sông
Phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
Trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ
Dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố
Trên thềm nhà hoang vu
....
Xác nào là em tôi
Dưới hố hầm này
.....
Những xác chết ấy là ai?
Ngoài những xác của những anh hùng, chiến sĩ, thanh niên mà tác giả không hề
nhắc đến trong ca khúc - mà tôi phải ngầm hiểu họ nằm đó như một điều tất yếu
hiển nhiên – còn có những cái xác của người già, bé thơ.
Bên xác người già yếu
Có xác còn thơ ngây
Họ là hai thành phần vô tội
điển hình. Ở cái tuổi mà họ không còn đủ sức hoặc chưa đủ tuổi để ra chiến
trường, vậy mà cũng trở thành những cái xác không hồn trong mưa lạnh. Thật xót
xa! Thật tội tình!
Xác người nằm quanh đây
Bao thảm cảnh, tiêu điều,
tang tóc ấy quyện dưới cơn mưa, hay như những giọt lệ trời nhỏ xuống, những
mong xóa được nỗi đau mất mát thấu tận trời cao. Hay ít ra cũng làm nguôi đi
cái nóng do đạn bom gây ra. Nhưng cơn mưa ấy đã trở nên “lạnh”! Mưa lạnh không
phải do tiết trời, mà lòng người trở nên nguội lạnh khi trước mắt là một biển
thi thể bất động, vô cảm, vô tri. Có bãi tha ma nào mà không mang không khí
lạnh lẽo đâu!
Tôi không biết TCS đứng nơi
đâu, hay bằng cách nào mà ông có thể nhìn bao quát thảm cảnh của đất nước lúc
ấy. Ban đầu tôi vội vàng tự vấn như vậy. Khi đọc thơ ông thêm vài lần, tôi
tưởng tượng ra cảnh một người đang ngơ ngác, hốt hoảng, kinh hoàng chạy khắp
càn khôn sau trận chiến. Không phải chạy trốn cái chết, mà là chạy để tìm kiếm
người thân. Chạy đến đâu cũng gặp xác người. Từ những người bị giết lẻ tẻ nằm
bơ vơ, đến cả những thềm nhà vốn dĩ phải có người ở cũng trở thành hoang vu.
Xác người nằm bơ vơ
Dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố
Trên thềm nhà hoang vu.
Cho đến khi chạy đến một
nấm mồ tập thể mà TCS gọi là hố hầm, đã phải thốt lên:
Xác nào là em tôi
Dưới hố hầm này?
Câu hỏi được thốt lên, hay
chỉ rên rỉ thì thào vì không còn hơi sức nữa, nghe có vẻ đơn giản nhưng là một
mũi kim đâm vào trái tim khiến tôi thật xúc động, đau lòng. Trong câu hỏi ấy
chất chứa tất cả nỗi tuyệt vọng khi bắt đầu cảm nhận được nỗi đau của sự mất
mát, chia lìa. Người còn sống không còn nhận ra được người thân đâu nữa. Vì thi
thể nằm dưới hố hầm kia quá nhiều, quá đông, quá ngổn ngang. Cũng vì những xác
ấy không còn nguyên vẹn hình hài nữa bởi sức hủy hoại của đạn bom, của những
tháng ngày dài phơi xác dưới nắng dưới mưa.
Trong suốt chiều dài của
bài ca, tôi chẳng nghe đâu là tiếng súng bắn tỉa, tiếng bom nổ, pháo kích, hay
tiếng trực thăng quầng trên không trung. Cũng chẳng nghe một âm thanh nào của
sự náo loạn, ngay cả tiếng reo hò của quân thắng trận mà tôi thường biết trong
một cuộc chiến tranh qua các video clip. Tất cả thay thế bằng những thi thể bất
động, nên chẳng âm thanh. Có chăng thứ âm thanh mà tôi cảm nghe được chỉ là
tiếng kêu gào, than khóc, rên la phát ra từ cả người sống và kẻ chết.
Vậy thì nguyên nhân nào đã
gây ra thảm cảnh lịch sử ấy? Khi đọc đến câu cuối cùng, tôi mới hiểu.
Trong những vùng lửa cháy
Bên những vồng ngô khoai.
Lửa! Biết
bao tang thương, hoang tàn, đổ nát, mất mát, chia ly đều chỉ do duy nhất từ lửa mà
ra. Tôi bỏ qua ngọn lửa hữu hình để hiểu về lửa vô hình vô tướng ẩn tàng bên
trong con người. Cái mà tác giả gọi là lửa kia là lửa của lòng
sân hận, si mê, ganh tỵ, tư thù, hiếu chiến. Lửa của lòng háo thắng, không thỏa
mãn khi nhìn kẻ khác an vui, chiến thắng, hơn mình. Đó là cả một vòng quay oan
khiên của lòng người, của cuộc đời, là nguyên nhân gây ra tất cả mọi sự khổ
đau.
Nỗi đau ấy sao không xảy ra
vào lúc nào khác mà lại xảy ra vào mùa Xuân? Tết là mùa của sự đoàn viên, sum
họp, vui vầy của người thân gia đình, dòng họ, dân tộc, của cả nuớc. Mùa Tết là
mùa của sự yêu thương, gắn bó, hi vọng và hạnh phúc. Mùa Tết là mùa của sự khởi
đầu. Vậy mà sự chết chóc, khổ đau, ly tán, oán thù lại kéo đến bất ngờ, cướp đi
tất cả những điều thiêng liêng ấy. Để rồi tác giả thay mặt mọi người dân Việt
Nam đau khổ kêu lên:
Mùa Xuân ơi xác nuôi thơm
cho đất ruộng cày
Việt Nam ơi xác thêm hơi
cho đất ngày mai
Tôi không biết phải nên gọi
tiếng kêu ấy là gì. Là tiếng than trời trách đất , oán hờn kẻ thù gây nên nỗi
đau thương? Không, đó chỉ là tiếng khóc tức tưởi, là tiếng rên la tuyệt vọng,
là tiếng kêu gào một cách xót xa tội tình. Tiếng kêu ấy cũng thật bình tĩnh
chấp nhận sự thật. Không còn muốn phân biệt đâu là người thân, hay người sơ
nữa, mà tất cả cùng chung một giống nòi Việt Nam. Để cuối cùng nhìn nhận những
thi thể kia sẽ là một phần rất gắn bó, hòa quyện, tan loãng và thẩm thấu cả
thịt, máu, xương vào mảnh đất thương yêu. Để khẳng định những linh hồn ấy là
nguồn động lực, an ủi, khuyến khích, phấn đấu trên bước đường đi tới.
Đường đi tới dù chông gai
Thì quanh đây đã có người
Tôi không biết chính xác
thời gian ra đời của ca khúc, nhưng nghe đâu được TCS sáng tác đã gần 40 năm.
Đó là một bức tranh sống dẫu trong ca khúc người ta chỉ thấy
toàn những xác người chết. Bức tranh được TCS vẽ lên bằng những lời
thơ gợi hình, gợi cảnh từ những cái xác bất động nhưng không hề vô cảm; bằng
những dòng nhạc tựa như lời chia sẻ xót thương; đã hợp tấu thành những âm thanh
từ tiếng kêu gào hay rên rỉ của người còn sống, cả âm thanh phát ra từ những
linh hồn. Âm thanh từ sự im lặng. Một bức tranh quê hương trong
thời chiến không có màu của khói lửa đạn bom. Không có màu xanh êm ả của ruộng
lúa, hay màu xanh thanh bình của trời cao; không có màu vàng bình yên của nắng
ấm; không có màu đỏ của lòng nhiệt huyết từ mặt trời. Một bức tranh chỉ có duy
nhất một màu tang chết chóc.
Tôi không rành về âm nhạc,
không rành về những nốt cơ bản, không phân biệt được nốt nào trầm nốt nào bổng,
nốt nào du dương, nốt nào thánh thót... nên tôi không nói về âm hưởng phát ra
từ cung bậc của cây đàn, tiếng sáo. Nhưng tôi có thể nghe được tiếng khóc than,
kêu gào hoặc chỉ rên rỉ của những người còn sống bất lực gọi tên người thân đã
nằm xuống một cách tức tưởi bằng những dòng lệ không ngừng tuôn chảy. Lệ chảy
để làm đầy lại những dòng sông đã cạn vì ngập xác người.
Ngoài bài ca này, TCS còn
có một bài ca khác, cũng nói về thảm cảnh chết chóc trong chiến tranh, đó là
bài “Hát Trên Những Xác Người.”
Hai bài ca, hai tiết điệu
và âm hưởng khác nhau nhưng cùng một nỗi đau thống thiết trước những xác chết
trong chiến tranh. Nhưng suy cho cùng cũng chẳng sai.
Thiết nghĩ, nhạc của TCS
qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly đã không chỉ dành cho những người đã nằm
xuống, trở thành cái xác bơ vơ, linh hồn vất vưởng đâu đó ngay trên miền đất
quê hương; mà còn nói lên sự đồng cảm đối với những người còn đang sống. Những
người sống lúc bấy giờ cũng chính là những xác người. Nỗi đau riêng cùng nỗi
đau chung đến cùng lúc trong tâm hồn, tàn phá thể xác. Xác thân ấy còn sống
nhưng rã rời, mềm nhũn. Họ quá đau đớn khi đang mang niềm đau mất mát-mất cả
người thân, gia đình, đồng bào, trong tang tóc, thảm cảnh của phân chia. Họ còn
sống, còn hơi thở, còn cảm nhận được niềm đau, còn than khóc, kêu gào, còn chảy
được nước mắt... Nhưng họ có khác chi những cái xác không hồn kia. Họ đang đau
khổ, lạy lục, than thở, rên rỉ gọi tên chồng, tên con, anh em bên nấm mồ tập
thể, hoặc cạnh những nấm mồ chôn vội, bên bàn thờ lộ thiên, không một bức ảnh
thờ cho kẻ quá cố. Không một nén hương. Hay họ không cần một nén hương nào bởi
nếu có cũng bị khói lửa của đạn bom lấn lướt, ngập tràn, phủ đầy cả thôn xóm,
cả góc trời. Tuy vậy sao tôi vẫn cứ thấy quanh đâu đó làn khói xám trắng nhẹ
bay ra từ những vành khăn tang quấn vội trên đầu (hay đó là những linh hồn đang
lìa khỏi xác bơ vơ, bắt đầu cho linh hồn vất vưởng).
Bài ca với lời thật ngắn
nhưng được viết nên từ cái nhìn mênh mông bao la từ không gian của thảm kịch
lịch sử. Tôi ngầm hiểu được chiều sâu vượt cả ý và lời mà TCS đã gửi gấm trong
nhạc phẩm của ông. Trước hết giúp tôi hiểu phần nào hậu quả của biến cố năm Tết
Mậu Thân năm 1968, qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly, qua bức tranh mà TCS đã
vẽ, qua nhận thức của riêng tôi. Để rồi từ đó khởi lên lòng từ bi nhân ái. Để
trân quý cuộc sống tự do hiện tại. Để sống tốt, trải rộng lòng mình với chúng
sanh, trải tình thương yêu thông cảm. Để không gây đau khổ cho bất cứ ai.
Tôi đang ngạc nhiên và tự
cười mình. Tôi có phải sành về âm nhạc đâu, và hiển nhiên tôi cũng không phải
là nhà bình thơ. Cũng chẳng phải là người cảm nhận sâu sắc về một tác phẩm văn
chương hay tác phẩm âm nhạc nào. Có những bài hát của TCS, dù rất muốn thuộc
làu nhưng với trí nhớ kém như tôi, tôi chỉ thuộc vài câu, không trọn vẹn (ngoại
trừ một vài bài đặc biệt chỉ cần nghe qua một lần đã thuộc). Bất cứ khi nào
nghe nhạc ông, tôi cứ ư ử theo điệu nhạc, có khi hát thành tiếng nho nhỏ đủ một
mình tôi nghe... Rồi cuối cùng tôi mặc kệ những tự cảm ấy; mặc kệ những điều ít
ỏi tôi biết về cuộc đời ông; mặc kệ những kiến thức hạn hẹp về văn chương, thơ
ca và âm nhạc; mặc kệ những nhận xét nông cạn và chủ quan của mình; tôi cứ
viết, vì trong phút giây tĩnh mịch một mình nơi thư phòng, tôi nghĩ rằng tôi
phải viết. Tôi chỉ biết là tôi đang cảm và viết về một nhạc phẩm đã làm tôi vô
cùng cảm động của một nhạc sĩ tài ba mà tôi từng mến mộ và rât yêu thích rừng
thơ, rừng nhạc của ông.
Sau 6 năm kể từ ngày TCS
mất, không biết có muộn màng hay không khi đêm nay tôi sẽ dành riêng cho ông
một lời cầu nguyện trong buổi cầu nguyện hàng đêm trước khi đi vào giấc ngủ: nguyện
cầu cho linh hồn ông sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc, miền có mặt của an vui,
miền của hạnh phúc.
Đêm thắp nến bỗng hiện rõ
ràng như in khi tôi vừa khép mắt.
Khi ngọn nến được mồi lên,
khối sáp cứng bắt đầu mềm và tan chảy. Ngọn nến nhỏ màu trắng trong tay khiêm
nhường tỏa ánh sáng nhẹ nhàng, lung linh. Tôi không nhìn xung quanh nhưng vẫn
cảm nhận được cả hội trường đang lấp lánh hàng trăm ngọn nến ấm áp giữa đêm
đông. Tôi chăm chú nhìn vào ngọn nến trên tay mình. Có khi nhắm mắt lắng nghe
và nhẩm theo lời cầu nguyện của Thầy. Rồi tôi lại mở mắt, ngọn nến vàng vọt vẫn
lung lay, cháy sáng. Khối sáp đã loang chảy thành vòng tròn rộng hơn dưới trung
tâm của tim đèn, phản chiếu ánh sáng từ ngọn lửa nhỏ. Lòng chợt rưng rưng như
ngọn nến nhẹ lay theo hơi thở mềm.
Không dưng tôi lại nghĩ
rằng khối sáp kia không phải chảy ra từ sức nóng của ngọn lửa mà chúng chảy ra
do hơi ấm của tình người. Khi con người biết nghĩ về nhau, biết thương yêu
nhau, biết chia sẻ nỗi đau của người khác thì chắc chắn ngọn lửa của từ bi bác
ái sẽ được thắp lên, cháy sáng, soi đường và làm tan chảy bất cứ tảng băng lạnh
lùng nào.
Sáp nến tan chảy như thay
cho những gịot lệ xót thương.
Sau nhiều lần ngần ngại,
tôi thổi cho ngọn nến tắt đi bằng một cái thở ra thật nhẹ. Lửa tắt. Một sợi
khói mỏng bay ra từ tim đèn đã trở thành màu đen. Mùi khen khét. Hơi ấm vẫn
còn. Rồi dần nguội. Tôi thấy sáp bắt đầu đông khô lại, cứng cáp như ban đầu,
nhưng hình dạng nguyên thủy không còn nữa. Ngọn nến được thu gom và cất giữ
lại. Tôi nghĩ, rồi ngọn nến sẽ lại được sẵn sàng thắp lên bất cứ lúc nào một
khi đã một lần được cháy. Ngọn nến giúp tôi xác định điều mà tôi từng biết.
Ngọn nến được thắp lên rồi tắt đi đều do nhu cầu khi nhân duyên đã đủ. Ngọn nến
tuy nhỏ nhưng không chỉ là thứ ánh sáng soi đường dẫn lối cho những vong linh
tìm về nơi an trú, giúp họ cảm thấy bớt bơ vơ lạc lõng quạnh hiu giữa hận thù,
mà còn sưởi ấm vết thương lòng cho những chứng nhân lịch sử năm nào đã hiện
diện trong đêm thắp nến tưởng niệm và nguyện cầu ấy.
Tôi thấy mình thật giống
ngọn nến trong đêm ấy. Có lúc cứng cỏi, nhưng cũng rất dễ dàng bị tan chảy ra.
Ngọn nến chịu tan chảy ra để mang đến cho đời một khoảng sáng, một hơi ấm giữa
cuộc đời dày đặc bóng đen vô minh và sự lạnh lùng.
Sau 40 năm dài đăng đẳng mà
tưởng chừng như mới hôm qua, người ta nhìn về niềm đau âm ỉ. Không phải để hận
thù hay khơi lại tội lỗi của cuộc chiến sai lầm năm xưa, mà chỉ để tưởng nhớ,
hoài niệm, xót thương, cảm thông, tri ân những người đã nằm xuống , bỏ thân xác
trên quê hương còn nhiều thống khổ của hận thù, của chiến tranh. Để cùng nhau
để tang chung, cùng nhau góp lời nguyện cầu cho các vong linh siêu sinh về nơi
an lạc.
Và đêm ấy, như bao người,
tôi cũng đã trân trọng ngọn nến trong hai tay. Đã có lúc tôi nhìn về quá khứ
của mình. Chắc có một số người biết rõ về tôi sẽ ngạc nhiên lắm về điều này. Bởi
tôi có quá khứ gì đau thương đâu mà phải nhìn lại, phải tưởng nhớ. Rồi buộc tôi
phải suy tư đi tìm một câu trả lời không tưởng. Tôi cũng chẳng hiểu vì đâu. Chỉ
biết trong một sát na nào đó trong đêm nay khi nhớ về đêm thắp nến, đã có những
dao động thật mạnh khiến tôi nghĩ nhiều về bản thân mình trong ngàn kiếp xa
xưa, hay gần nhất là 40 năm trước.
Vào khoảng thời gian giữa
cơn đau máu lửa ấy, tôi là ai? Tôi là cái gi? Tôi là thứ gì? Tôi đã ở đâu? Tôi
đã làm gì?
Tôi từng ở đâu trong mười
cảnh giới (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu la, nhân loại, thiên đạo, thanh văn,
duyên giác, bồ tát, Phật Đà).
Hay đã may mắn hơn từng là
hữu thân như một con người?
Và nếu quả thật là như vậy,
thì biết đâu tôi từng là một trong hàng ngàn vong linh vất vưởng trong biến cố
năm xưa, hội đủ cơ duyên lắng nghe lời cầu nguyện của một ai đó hay của một tập
thể người có tình thương xót sâu xa vẫn nhớ nghĩ về người đã khuất. Và kết hợp
với phước đức tu tập được tích lũy từ vô số a tăng kỳ kiếp, tôi đã siêu thoát
và tái sinh trở lại thành người như hôm nay.
Sau một thoáng tự hỏi mình là ai trong quá khứ,
tôi nhận ra rằng giây phút hiện tại thật đáng quý biết bao. Được tái sinh làm
người là hy hữu. Tôi xin dùng tâm thức ẩn náu bên trong xác thân tứ đại giả hợp
này mà nguyện cho trên đời này không còn sự hiện hữu của lòng tham sân si để
mọi chúng sinh luôn được sống trong hòa bình, tự do, an lạc và hạnh phúc.
Mùa Xuân đang về, niềm vui riêng không thể xóa
được nỗi đau chung quá lớn của Xuân xưa. Thế nên, cho dù có một đêm, ngàn đêm,
hay không có đêm thắp nến nào thì niềm đau ấy vẫn cứ âm ỉ, hằn sâu,
nguyên vẹn, và lặng lẽ nằm trong tận cùng tâm khảm, vẫn nghẹn ngào tràn dâng
thành những giọt nước mắt mỗi độ Xuân về. Xin chắp tay nguyện cho những giọt
nước mắt ấy sẽ biến thành những giọt cam lồ mầu nhiệm tươi mát đồng loạt nhỏ
xuống và chữa lành từng vết thương kia.
Dẫu sao đó cũng chỉ là một biến cố lịch sử không
thể nào đổi thay. Duy chỉ có thời gian là bình thản trôi. Tôi không hề có ý định gì cho một bài viết nhỏ mang nhiều cảm xúc
riêng tư, nên khó tránh cái nhìn chủ quan. Cũng không có một hướng nghĩ lệch
thiên về một chế độ nào. Chỉ mong những dòng thô thiển này của kẻ được sinh ra
và lớn lên trong thời không còn chiến tranh, có thể chia sẻ chút niềm đau với
những ai cùng là con người Việt Nam, nhất là những chứng nhân lịch sử nay tóc
đã ngả hai màu, có vị tóc đã bạc phơ, đã phải gửi gấm tuổi xuân và sức khoẻ của
mình nơi chốn tha hương, trong khi vẫn canh cánh trong lòng vận mệnh của quê
hương xa vợi.





%2B041.jpg)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét