Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

Văn học Việt Nam 1955 -1975

Văn học Việt Nam 1955 -1975
1 – Vài nét về những thuận lợi, khó khăn đối với sự phát triển của văn học:
1.1 - Thuận lợi: 
Ở miền Bắc, cuộc sống mới xây dựng CNXH còn không ít những gian truân, thử thách, nhưng từ trong cuộc sống đó các nhà văn luôn giữ được niềm tin vào chế độ và nhận thấy “ngày mai đã đến từng giây từng giờ”. Trên cơ sở đó, họ có được cách nhìn, cách khám phá mới mẻ để nhận thức sâu sắc hơn về Tổ quốc, dân tộc.
Thực tại đời sống phong phú, đa dạng có nhiều biến chuyển gắn liền với những sự kiện trọng đại đã đem lại cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ để viết nên nhiều tác phẩm có ý nghĩa cho đời.
So với thời kỳ 1946 - 1954, ở vào thời kỳ này, các nhà văn có nhiều thuận lợi hơn trong việc học tập, kế thừa và phát huy những tinh hoa của văn học nhân loại, cũng như trao đổi, học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm sáng tác. Sự ra đời của Hội Nhà văn đã tập hợp được một lực lượng sáng tác đông đảo, tài năng, tâm huyết, đồng thời mở ra vận hội mới cho nhà văn trên con đường sáng tạo. 
Ở miền Nam, trong đau thương và chiến đấu, đồng bào miền Nam vẫn ngời sáng những phẩm chất cao đẹp, giữ trọn nghĩa tình, thủy chung, luôn khao khát một cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, mong muốn tự biểu hiện và khẳng định mình trong gian khổ, hi sinh. Hoàn cảnh đó đã khơi nguồn cảm hứng lớn và góp phần tạo nên sức vang vọng sâu bền cho những lời thơ, áng văn.
Mặt khác, với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng và Hội Văn nghệ giải phóng, văn nghệ sĩ được tập hợp, củng cố để tạo nên một đội ngũ vững mạnh, vừa cầm súng vừa cầm bút. Họ sớm chiếm lĩnh, khám phá được hiện thực cuộc sống để sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn, phản ảnh kịp thời đời sống chiến đấu của đồng bào miền Nam.
Từ năm 1965 đến năm 1975, cả nước có chiến tranh. Các nhà văn đã nhanh chóng có mặt ở những nơi gian khổ quyết liệt nhất của cuộc chiến đấu với tư cách là nhà văn chiến sĩ. Với vai trò và vị trí đó, họ có điều kiện để chứng kiến và hiểu hơn những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam trong chiến đấu, tự hào hơn  về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộc.       
1.2 - Khó khăn:  
Dân tộc ta đứng trước những thử thách mất còn, miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, miền Nam luôn phải đối mặt với kẻ thù hung bạo, thâm hiểm và xảo quyệt. Thực tại của cuộc sống đòi hỏi nhà văn phải có sự nỗ lực hết mình và nhanh chóng hòa vào nhịp sống khẩn trương của dân tộc để từ đó tìm cảm hứng sáng tạo.
Văn học thời kỳ này đang trải qua những thử thách về nhận thức tư tưởng, về phương pháp sáng tác, về cách khám phá, phản ánh hiện thực đời sống xây dựng và chiến đấu của dân tộc.
Do hoàn cảnh chiến tranh, nên việc sáng tác, in ấn, xuất bản, cũng như lưu hành ở thời kỳ này phải đối mặt với nhiều khó khăn … Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của văn học.
II – Những thành tựu ở các thể loại:   
2.1 – Thơ ca:
Dân tộc ta rất yêu thơ, một dân tộc “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”, “trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ”. Bởi thế, dù trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, thơ ca vẫn phát triển nhanh và có ưu thế hơn các thể loại khác. Hiện thực của cuộc sống chống Mỹ đã tỏa nắng cho thơ, góp phần giúp các nhà thơ có thể sáng tạo nên nhiều bài thơ hay.      
2.1.1 -  Đội ngũ sáng tác:
Ngoài các nhà thơ trước cách mạng và các nhà thơ được trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, thời kỳ này xuất hiện đông đảo các nhà thơ trẻ giàu tài năng và tâm huyết với đời, với thơ.
Trước hết, cần nhận thấy lớp nhà thơ trước cách mạng sau thời gian nhận đường đã khẳng định được vị trí của mình trong cuộc đời mới. Họ có quan niệm thơ đúng đắn, giữ vai trò quan trọng trong sáng tác và cả trong việc hướng dẫn, dìu dắt thế hệ các nhà thơ trẻ.
Với nhà thơ Xuân Diệu, người đọc cảm nhận được một tâm hồn thơ khỏe khoắn, nhạy bén, tràn đầy sức sáng tạo, luôn chứa chan tình yêu và hạnh phúc, niềm khát khao mãnh liệt được  giao cảm với đời, được sống hết mình cho cuộc sống. Xuân Diệu chủ trương “hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non” và mở rộng cánh cửa thơ cho cuộc sống tràn vào. Nhiều vấn đề của đời sống được ông cảm nhận và thể hiện tinh tế. Ông xứng đáng là tấm gương lao động nghệ thuật bền bỉ cho văn nghệ sĩ noi theo. Các tập thơ tiêu biểu của ông ở thời kì này là: Riêng chung, Mũi Cà Mau - Cầm tay, Tôi giàu đôi mắt,...
Chế Lan Viên là nhà thơ thể hiện sâu sắc nhất cuộc hành trình gian khổ “từ chân trời một người đến với chân trời tất cả”. Nhà thơ đã trút bỏ những dĩ vãng buồn thương để đến với niềm vui của dân tộc, trở về với đời sống của nhân dân để hòa nhập với cuộc sống mới, gắn bó với cuộc chiến đấu của dân tộc. Thơ ông giàu chất trí tuệ, đậm đà tính chính luận, thời sự và luôn có những sáng tạo mới mẻ cả về nội dung và hình thức. Tiêu biểu cho thơ Chế Lan Viên ở thời kỳ này là: Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường, chim báo bão, Đối thoại mới,...
Huy Cận, sau một thời gian dài dường như vắng bóng, đã thực sự quên đi cái sầu vũ trụ, nỗi buồn tràng giang, điệp điệp, để rộng mở tâm hồn đón lấy những âm thanh của cuộc đời mới với niềm tin yêu thiết tha mãnh liệt, với sự trăn trở xoáy sâu vào sự đổi thay thân phận con người, tầm vóc kỳ vĩ của con người trong cuộc sống xây dựng CNXH và chống Mỹ cứu nước. Cảm hứng vũ trụ và nhân sinh là hai nguồn cảm hứng lớn bao trùm trong thơ Huy Cận. Càng về sau thơ ông càng thấm đẫm chất trữ tình và chất suy tưởng. Biểu hiện rõ cho sự thành công của Huy Cận trong thời kỳ này là các tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Bài thơ cuộc đời, Chiến trường gần đến chiến trường xa,...
Đặc biệt, Tế Hanh trong lòng miền Bắc vẫn luôn hướng về miền Nam với nỗi nhớ thương da diết và tràn đầy niềm tin vào ngày đất nước thống nhất, ngày trở lại với quê hương. Đến với thơ Tế Hanh, điều người đọc cảm nhận rõ nhất không chỉ là bao kỷ niệm, hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống thường ngày gắn liền với những biến động của cuộc sống, mà còn là giọng thơ tâm tình, sự giãi bày chân tình trước bao điều giản dị mà sâu lắng nhất trong chính cuộc đời ông. Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương, Khúc ca mới, là những tập thơ nổi bật của Tế Hanh được người đọc đón nhận với niềm trân trọng. 
Lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp giờ đây càng có điều kiện phát huy khả năng và từng bước khẳng định phong cách thơ của mình, tiêu biểu có thể nói đến các nhà thơ sau:
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài, ông tìm đến với nhiều thể loại khác nhau như: thơ, tiểu thuyết, kịch, phê bình văn học, âm nhạc. Riêng ở lĩnh vực thơ, ông luôn có sự tìm tòi, thể nghiệm trong quá trình sáng tạo nên đã đem lại nhiều nét đẹp độc đáo và mới mẻ cho thơ. Thơ Nguyễn Đình Thi vừa có sự thâm trầm của suy tư, vừa dạt dào cảm xúc, có sự trăn trở tìm tòi cái mới trong nghệ thuật biểu hiện. Nếu ở thời kì 1946 - 1954, ông có những bài thơ hay như Đất nước, Không nói, Nhớ, thì ở thời kỳ 1955 - 1975, khi nói đến thơ ông, người đọc không thể không nói đến Bài thơ Hắc Hải, Chia tay trong đêm Hà Nội, Lá đỏ,... Vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc từ trong đau thương, chiến đấu được ông khám phá, thể hiện rất đặc sắc. 
Chính Hữu tuy viết không nhiều, chỉ có một tập thơ, song mỗi bài thơ là biểu hiện một sự tìm tòi, vươn tới, mang bản sắc dân tộc một cách sáng tạo. Thơ Chính Hữu có kết cấu chặt chẽ, giàu hình ảnh, nhạc điệu và cũng giàu ý nghĩa khái quát. Ông đã đóng góp cho thơ Việt Nam thời kỳ này nhiều bài thơ hay như: Đường ra mặt trận, Ngọn đèn đứng gác, Một nửa,...
Còn Hoàng Trung Thông vẫn luôn giữ được sự nhạy bén, sắc sảo và bao quát trong cách nhìn cuộc sống. Càng ngày tình cảm trong thơ ông càng dạt dào, sâu lắng và luôn giữ được cái giản dị, chân tình như chính sự đôn hậu, điềm đạm của con người ông. Ở đề tài nào Hoàng Trung Thông cũng có được sự thành công mà tiêu biểu là các bài thơ: Ở nông trường cà phê, Bài thơ báng súng, Mẹ Bường,...    
Người đọc cũng khó lòng quên được tiếng thơ dào dạt nghĩa tình của nhà thơ miền Nam tập kết Hoàng Tố Nguyên với những vần thơ Từ nhớ đến thương lay động tâm tình của người đọc. Thơ anh nâng niu trân trọng những niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống mới ở miền Bắc Quê chung và nỗi nhớ thương sâu sắc về miền Nam, về nơi chôn nhau cắt rốn với cảnh sắc Gò me trong xa cách qua mạch tình cảm đằm thắm, da diết luôn trỗi dậy trong tâm hồn anh.                
Ngoài ra, cũng cần khẳng định sự đóng góp của các nhà thơ khác như: Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Lương An, Minh Huệ …, và cũng cần nói đến sự góp phần đáng kể của hai nhà thơ miền núi: Nông Quốc Chấn và Bàn Tài Đoàn trong việc làm nên vẻ đẹp đầy hương sắc cho thơ ca 1955 - 1975. 
Lớp các nhà thơ trẻ xuất hiện đông đảo, xông xáo, nhạy cảm. Sự xuất hiện của lớp nhà thơ này đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho thơ Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, phong cách thơ của họ chưa thật ổn định. Tiêu biểu có thể nói đến Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm… Họ là những nhà thơ giàu cảm xúc, có sự khỏe khoắn, táo bạo của tuổi trẻ trong cấu tứ, trong việc sử dụng ngôn ngữ, nhịp điệu và hình ảnh…
2.1.2 – Các đề tài lớn:  
* Đề tài cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội:
Cuộc sống xây dựng CNXH ở miền Bắc tuy nhiều gian truân vất vả nhưng cũng rất sôi nổi, hào hùng. Mỗi một người đều tràn đầy niềm tin yêu, tự hào về những đổi thay kỳ diệu trong cuộc sống của dân tộc. Thơ Huy Cận gắn liền với hình ảnh sinh động về Cô gái Hưng Yên đi mở mang Tây Bắc, một “chiều thu trong em bé cười má ửng”, hay vẻ đẹp của mơ ước về tương lai khi Đặt tên con, cái trữ tình lãng mạn khi “tặng em buổi sáng lòng anh”,... Trong thơ Tố Hữu là hình ảnh của những con người mới, “những chàng trai, những cô gái yêu” đang góp sức mình dựng xây cuộc đời mới, là hình ảnh mùa xuân đến với “khói nhà máy mới ban mai”, hay hình ảnh “mùa thu mới đã bắt đầu trái ngọt” và niềm vui đến với cuộc đời “ngày mỗi ngày nho nhỏ” như “suối ngầm trong đất chảy trăm nơi”,... Còn trong thơ Chế Lan Viên là âm vang sôi động, hào hùng của Tiếng hát con tàu, là sự ý thức sâu sắc về “tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”, hay khi trở về với đời sống của nhân dân, là niềm hạnh phúc dâng đầy qua hình ảnh “trái cây rơi trên áo người ngắm quả” và nhất là khi nhà thơ cảm nhận Tổ Quốc bao giờ đẹp  thế này chăng? Với Xuân Diệu, cuộc đời mới thật mến thương qua bầu trời đỏ rực màu “ngói mới” và trong niềm vui hạnh phúc với âm thanh của giọng em “cười ríu rít ở sau xe”… Bàng Sĩ Nguyên giãi bày niềm vui giản dị mà biết bao ý nghĩa của cảnh Vợ chồng đi chợ xuân. Những vần thơ của họ từ nhiều góc độ cảm nhận khác nhau đã đem lại cho người đọc niềm tươi vui, một cảm giác lâng lâng trước những hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ giữa cuộc đời mới.
* Đề tài đấu tranh thống nhất nước nhà:
Đất nước bị chia cắt đã tạo nên nỗi đau lớn và bao niềm trăn trở thao thức cho mỗi con người Việt Nam khi đứng trước cảnh “sông Bến Hải bên bồi bên lở,/ cầu Hiền Lương bên nhớ, bên thương”.
Hơn ai hết, Tố Hữu có nhiều vần thơ xúc động về đề tài này. Nỗi đau, niềm xót xa về cảnh đất nước chia cắt luôn thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Có thể nói, miền Nam chính là “miền sâu thẳm” trong cõi lòng ông, là điều ông không “có thể nào yên”, không “có thể nào quên”, không “có thể nào khuây”,… khi kẻ thù đang chà đạp lên Quê mẹ. Nhà thơ tự hào về đồng bào miền Nam bất khuất anh hùng, gắn bó thủy chung son sắt với cách mạng, tự hào trước vẻ đẹp diệu kỳ của Người con gái Việt Nam.
Xuân Diệu có cả một phần thơ Mũi Cà Mau (trong tập thơ Mũi Cà Mau - Cầm tay) viết về đề tài đấu tranh thống nhất nước nhà. Ông cảm nhận sự toàn vẹn của Tổ quốc một cách giản dị, cụ thể:
Tổ quốc ta như một con tàu
Mũi thuyền ta đó , mũi Cà Mau.
Lưu Trọng Lư nói tới nỗi đau trước cảnh đất nước chia cắt thật cảm động qua bài thơ Sóng vỗ cửa Tùng:
Bờ nớ bờ ni trông thấy
Sao đành nón ngoắt tay đưa
Nhìn lại nhìn qua
Sao mắt đành ứa lệ.
Chế Lan Viên nói một cách thấm thía sâu sắc về những kỉ niệm khó quên trong xa cách qua các bài thơ: Đêm tập kết, Mẹ, Gốc nhãn cao,… Tế Hanh giãi bày chân tình thắm thiết những cảm xúc trào dâng trong lòng mình khi Nhớ con sông quê hương... Lê Anh Xuân với cảm xúc ngọt ngào, tươi mát đã bộc lộ nỗi nhớ thương da diết về quê hương, về kỷ niệm của tuổi thơ qua Nhớ mưa quê hương và bày tỏ khát vọng cháy bỏng được Trở về quê nội  để góp sức mình vào cuộc chiến đấu vì sự  thống nhất đất nước.
Đặc biệt, ở đề tài này, tiếng thơ của các nhà thơ cách mạng và của quần chúng yêu nước cách mạng ở miền Nam vẫn luôn ngân vang trong gian khổ, mất mát, hy sinh. Đồng bào miền Nam luôn vững niềm tin vào Đảng và Bác, vẫn hướng về một ngày mai thống nhất, “vẫn vững như kiềng ba chân” trước kẻ thù hung bạo, xảo quyệt. Tiểu biểu, phải kể đến các bài thơ: Quê hương, Nghe tin em vào đại học của Giang Nam, Mộ anh hoa nở, Cháu nhớ Bác Hồ, Dấu võng Trường Sơn của Thanh Hải, Đám cưới giữa mùa xuân của Viễn Phương, …
Tóm lại, ở đề tài này, các nhà thơ đã thể hiện chân thật, gợi cảm những tâm tư tình cảm nguyện vọng của cả dân tộc về một đất nước thống nhất và khẳng định niềm tin mãnh liệt vào điều đó .
* Đề tài ra trận:
Hầu hết các nhà thơ đều viết về đề tài ra trận, và mỗi nhà thơ lại có cách khám phá, thể hiện khác nhau. Tố Hữu gọi là “dòng thơ lửa cháy”, Chế Lan Viên quan niệm là Những bài thơ đánh giặc, với Huy Cận đó là Chiến trường gần đến chiến trường xa …
Thơ viết về đề tài ra trận đã thể hiện được sự ra quân hùng mạnh của dân tộc với khí thế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ mà lòng phới phới dậy tương lai”, bằng sức mạnh “bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”. Cả dân tộc đều ra trận, “lớp cha trước, lớp con sau/ đã thành đồng chí chung câu quân hành” (Đường ra mặt trận của Chính Hữu, Xuân 68 của Tố Hữu, Anh vẫn hành quân của Trần Hữu Thung, Sư đoàn của Phạm Ngọc Cảnh,…). Nhiều cảnh chia tay, đưa tiễn được thơ ca thể hiện với nhiều ý nghĩa cao đẹp (Kỷ niệm có gì, Đêm hò tử tạ của Chế Lan Viên, Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, Chia tay trong đêm Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn, Tiễn đưa của Tố Hữu…).
Ở đề tài ra trận, tình cảm gắn bó sâu sắc, máu thịt, niềm tự hào của con người Việt Nam về Tổ quốc, về Đảng và Bác Hồ vĩ đại được các nhà thơ ngợi ca, khẳng định ở nhiều bài thơ (Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?, Sao chiến thắng của Chế Lan Viên, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Việt Nam máu và hoa của Tố Hữu, Quê hương của Giang Nam, Vàm Cỏ đông của Hoài Vũ, Đất Viên An của Nguyễn Bá...)
Đặc biệt vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu được các nhà thơ thể hiện từ nhiều phương diện thông qua sự cảm nhận sâu sắc về tâm hồn và tình cảm của dân tộc Việt Nam ở hình tượng người mẹ (Mẹ Suốt của Tố Hữu, Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly, Hơi ấm ổ rơm  của Nguyễn Duy, Người mẹ trồng bông của Lê Anh Xuân…), ở hình tượng anh chiến sĩ giải phóng quân (Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo, Nấm mộ và cây trầm của Nguyễn Đức Mậu, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh…), và ở nhiều hình tượng khác như: Cô giao liên, cô thanh niên xung phong… (Ngã ba Đồng Lộc của Huy Cận, Khoảng trời và hố bom  của Lâm Thị Mĩ Dạ, Gửi em cô  thanh niên xung phong của Phạm Tiến Duật…). Trong chiến đấu, giữa bao nhiêu mất mát và hi sinh tình yêu của con người Việt Nam càng trở nên cao đẹp (Bài thơ tình yêu của Dương Hương Ly, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây  của Phạm Tiến Duật …).
Có thể nói, hiện thực hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã “tỏa nắng cho thơ”, góp phần làm nên sức sống mãnh liệt cho thơ. Có thể xem, những vần thơ ra đời trong hoàn cảnh này là những bông hoa nở dọc chiến hào điểm tô thêm vẻ đẹp tâm hồn tính cách của con người Việt Nam.
2.1.3 - Vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:  
* Thể thơ:
Hầu hết thể thơ quen thuộc trong thơ ca truyền thống và hiện đại đều được các nhà thơ ở thời kì này đã sử dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt và ở thể thơ nào họ cũng đạt được thành công rực rỡ. Trong đó, thể thơ tự do có một vị trí quan trọng và được sử dụng ngày một phổ biến hơn, có khả năng diễn tả được sâu sắc, trọn vẹn hơn những vấn đề cốt lõi của cuộc sống. Đặc biệt, thể thơ văn xuôi xuất hiện ngày một nhiều hơn và từng bước tìm được chỗ đứng trên thi đàn. Bên cạnh đó, về cuối thời kỳ này có sự xuất hiện thể trường ca. Với thể trường ca, các nhà thơ có thể diễn tả được một cách sâu rộng, khái quát hiện thực cuộc sống đấu tranh giữ nước của dân tộc. Thông qua thể trường ca, các nhà thơ đã thể hiện được năng lực khái quát, sự suy ngẫm của mình trước những vấn đề của cuộc sống.
* Ngôn ngữ thơ:
Ngôn ngữ thơ thời kỳ 1955 - 1975 xuất phát từ ngôn ngữ đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Cho nên, trong thơ xuất hiện một hệ thống từ ngữ không có ở thơ ca trước đó. Biểu hiện cụ thể qua một số câu thơ sau:
- Nông trường ta rộng mênh mông
Trăng lên, trăng lặn, vẫn không ra ngoài.
(Nông trường cà phê - Tế Hanh)
- Như hôm nay giữa công trường đỏ bụi
Những đoàn xe vận tải nối nhau đi.
(Bài ca mùa xuân 1961 - Tố Hữu)
- Chào anh thợ hàn giữa trời cao vời vợi
Tay cầm lửa giữa muôn sao chấp chới.
(Bàn tay ta năm ngón mở bình minh - Huy Cận)
- Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười!
Đều lộng hương thơm những cánh đồng hợp tác
Chim cu gần, chim cu gáy xa xa ...
Ruộng đoàn tụ nên người thôi chia cắt,
Đêm no ấm giọng chèo khuya khoan nhặt,
Lúa thêm mùa khi lúa chín về ta.
(Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng? - Chế Lan Viên)
- Trường, giặc đốt rồi, còn lại ánh trăng
Giữa hai trận càn, anh dạy em học chữ.
(Nghe em vào đại học - Giang Nam)
- Ba lô nằm đợi lệnh hành quân
Lá ngụy trang vẫn cài trên mũ.
(Ngủ rừng theo đội hình đánh giặc - Nguyễn Đức Mậu)
- Cuộc đời trải mút mắt ta
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường
Những người sốt rét đương cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn có nhòe? ...
(Những dấu chân qua trảng cỏ - Thanh Thảo)
- Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây.
(Trường Sơn đông, Trường Sơn tây - Phạm Tiến Duật)
Sức gợi cảm, gợi liên tưởng của ngôn ngữ thơ thời kỳ này, ngày càng được thể hiện đậm nét. Trên cơ sở đó, nhiều bài thơ, câu thơ có thêm sức lay động mạnh mẽ, tình cảm và nhận thức của người đọc trước những vấn đề mà nhà thơ thể hiện. Sức sống của thơ vì thế càng trở nên sâu bền hơn và có những câu thơ tạo cho người đọc sự bất ngờ, thú vị:
- Bước dài như gió lay thành chuyển non
(Tiếng hát sang xuân - Tố Hữu)  
- Tiếng bìm bịp bập bềnh trong đêm nước lên
(Chuyến đò đêm giáp ranh - Hữu Thỉnh)
- Trăng mài mòn guốc võng
(Về hỏa tuyến thăm con - Bằng Việt)
- Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt
(Ngọn đèn đứng gác - Chính Hữu)
- Tối: tắc kè ném lưỡi vào đêm
(Nhật ký - Hoàng Nhuận Cầm)
Có thể nói, các nhà thơ ở những mức độ khác nhau đều có sự cố gắng lựa chọn, sử dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ thơ để góp phần tăng thêm hiệu quả nghệ thuật, tạo cho thơ mình có được vẻ đẹp riêng và sức hấp dẫn sâu bền đối với người đọc.  
*Cấu trúc câu thơ:
Trước đòi hỏi của cuộc sống, thơ phải tăng sức chứa, lượng thông tin của câu thơ trên cơ sở đó cũng cần được tăng lên và sự mở rộng câu thơ là một tất yếu. Câu thơ có sự dài ngắn khác nhau theo mạch cảm xúc của nhà thơ. Đặc biệt, thơ thời kỳ này xuất hiện những câu thơ có nhiều từ, và có những câu thơ 12 từ trở lên. Điều đó được biểu hiện qua nhiều bài thơ, ngay cả ở những bài thơ hay như: Sự sống chẳng bao giờ chán nản của Xuân Diệu, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? của Chế Lan Viên, Ngã ba Đồng Lộc của Huy Cận, Ý nghĩ bất chợt trong nghĩa trang chiều của Diệp Minh Tuyền, Gió lào cát trắng của Xuân Quỳnh, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Khoảng trời và hố bom của Lâm Thị Mĩ Dạ, Xóm đê của Phan Thị Thanh Nhàn,.. Nhìn chung, sự mở rộng câu thơ không làm giảm đi vẻ đẹp của thơ mà trái lại tạo cho nó có thêm dáng vẻ mới, góp phần diễn tả trọn vẹn mạch cảm xúc, sự suy ngẫm của nhà thơ trước những vấn đề sôi động của đời sống xây dựng và chiến đấu.
* Giọng điệu thơ:
Hiện thực cuộc sống thời kỳ 1955 - 1975 đòi hỏi nhà thơ không chỉ giãi bày nỗi niềm tình cảm của mình mà còn phải góp phần lý giải và trả lời được hàng loạt vấn đề đang đặt ra trong đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ. Bởi thế, bên cạnh sự rung động mãnh liệt của trái tim còn phải có sự nhạy bén sắc sảo của trí tuệ. Việc xuất hiện nhiều giọng điệu thơ trong thơ thời kì này là lẽ tất yếu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu thẩm mĩ của thời đại. Người đọc dễ nhận ra thơ có nhiều giọng, đó là giọng hào sảng, lạc quan, giọng tâm tình, giọng chất chứa suy tư triết lý, giọng tranh luận đối thoại, giọng châm biếm, mỉa mai,... Tuy có giọng điệu thơ khác nhau nhưng điểm chung mà các nhà thơ hướng đến là khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn tính cách của con người Việt Nam. Hơn lúc nào hết, thơ mang sức mạnh và sứ mệnh to lớn, tiếng thơ lúc này thực sự là“tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”, “là những điệu tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu).
2.1.4 - Một số đặc điểm nổi bật của thơ 55 -75:  
Thơ thể hiện cuộc sống theo hai khuynh hướng: nâng cao tính hiện thực và nâng cao chất trí tuệ trong thơ .
Nâng cao tính hiện thực trong thơ là một nhu cầu tất yếu. Hiện thực cuộc sống càng phong phú đa dạng đòi hỏi thơ càng phải có sức chứa lớn, có khả năng bao quát được những vấn đề trong đời sống từ những vấn đề nhỏ nhất cho đến những vấn đề mang tầm vóc dân tộc và thời đại.  
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự gửi gắm, giãi bày những nỗi niềm tâm sự, điều đó tạo nên sự đồng điệu, và sức hấp dẫn của thơ đối với người đọc. Bên cạnh đó, để có sức lắng đọng sâu sắc đối với người đọc, thơ còn phải có chất trí tuệ. Thơ không chỉ phản ánh mà còn góp phần lý giải những vấn đề trong đời sống. Chính điều này góp phần làm nên sức sống lâu bền cho thơ. Cũng vì thế, càng về cuối giai đoạn này, chất trí tuệ trong thơ càng được nâng cao và vai trò của nó càng được khẳng định.
Thơ thời kỳ 1955 - 1975  đậm đà tính thời sự và tính chiến đấu. Thơ gắn chặt với cuộc sống của dân tộc, phản ánh một cách kịp thời, chân thật, sinh động hiện thực cuộc kháng chiến chống Mỹ và khí thế sôi nổi hào hùng của đời sống xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Các nhà thơ dũng cảm đến với cuộc sống chiến đấu nhiều gian khổ hy sinh nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc để tìm cảm hứng sáng tạo. Những vần thơ của họ như là vũ khí sắc bén góp phần vạch trần bản chất xấu xa của kẻ thù, ngợi ca sự cao đẹp của quần chúng yêu nước và cách mạng, cũng như tinh thần quyết tâm chiến đấu và niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng của dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh đó điều dễ nhận thấy thơ 1955 - 1975 giàu chất trữ tình và chất anh hùng ca. Thơ bộc lộ những cảm nhận chân thành, giản dị mà rất sâu lắng tình yêu, niềm tự hào về quê hương đất nước, về cuộc sống quá khứ, hiện tại và hướng về tương lai. Thơ chính là tiếng hát tâm tình của con người Việt Nam trước hiện thực cuộc sống đầy sôi động, với những cảm xúc đằm thắm thiết tha về tình mẹ  con, vợ chồng, tình yêu, tình đồng chí,… Đặc biệt, thơ có được vẻ đẹp hài hòa nhuần nhuyễn giữa chất anh hùng ca và trữ tình (Người con gái Việt Nam của Tố Hữu, Dáng đứng Việt Nam  của Lê Anh Xuân, Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn,...).
Có thể nói, thơ ca thời kỳ này vừa có vẻ đẹp chung của cả nền thơ, vừa có vẻ đẹp riêng của từng khuôn mặt với những phong cách thơ khác nhau.
2.1.5 – Nhận xét chung:  
 Sau hai mươi năm, thơ Việt Nam hiện đại đã có sự vươn lên không ngừng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào của đời sống, các nhà thơ vẫn luôn tìm tòi, thể nghiệm ở nhiều phương diện, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, để ngày càng đạt được những thành tựu rực rỡ, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tạo nên vẻ đẹp phong phú, đa dạng, nhiều hương sắc mới cho thơ ca Việt Nam hiện đại.
2.2 – Truyện và ký
2.2.1 - Đội ngũ sáng tác:  
So với thơ, truyện và ký có vị trí không kém phần quan trọng. Đội ngũ nhà văn viết truyện và ký đông đảo, nhiệt tình, gắn bó với cuộc sống, luôn có sự tìm tòi thể nghiệm trong sáng tác để tạo nên sự phát triển mạnh mẽ, ngày một phong phú hơn cho thể loại này. Các nhà văn lớp trước tiêu biểu là: Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển..., vẫn tiếp tục phát huy được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của mình trước hiện thực cuộc đời mới. Lớp nhà văn kế cận là: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm..., ngày càng khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn. Đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều nhà văn trẻ như: Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Anh Đức , Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Nguyễn Sáng, Vũ Hạnh, Phan Tứ, Vũ Thị Thường, Đào Vũ, Chu Văn, Hữu Mai, Xuân Cang, Lê Văn Thảo, Dương Thị Xuân Quý, Đỗ Chu, Thái Bá Lợi, Nhật Tuấn,… Họ trưởng thành nhanh chóng từ trong cuộc sống xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ. Họ trở thành lực lượng sáng tác quan trọng làm nên diện mạo của văn xuôi thời kỳ này.
Tìm hiểu về đặc điểm phong cách của các nhà văn, Phan Cự Đệ cho rằng: “Chúng ta có cái đẹp trong sáng, nhẹ nhõm, thanh thoát, đầy tình cảm yêu thương của Nguyễn Đình Thi, cái xù xì gân guốc… với chất say đầy hưng phấn lãng mạn của Nguyên Hồng, cái hóm hỉnh thông minh của một năng khiếu quan sát tinh tế kết hợp với tâm hồn thơ mơ mộng của Tô Hoài, cái đôn hậu ấm áp đượm vẻ huy hoàng tráng lệ của Nguyễn Huy tưởng, cái tỉnh táo, sắc sảo mang tính chất phát hiện của Nguyễn Khải, cái khỏe mạnh gân guốc có tính chiến đấu của Chu Văn, cái dân gian mà hiện đại của Nguyễn Thi, cái hiện đại mà cổ kính của Nguyễn Tuân, cái hùng tráng mà thi vị của Nguyễn Trung Thành, cái trữ tình trong sáng thiết tha của Anh Đức, cái trí tuệ  hài hòa và cân đối của Phan Tứ… Bùi Hiển vẫn giữ được cái đậm đà trung hậu của xứ Nghệ, Vũ Thị Thường hướng về một vả đẹp nông thôn thuần phác, đôn hậu, Nguyễn Kiên đầm ấm yêu thương với những tình cảm, lý tưởng trong sáng, Nguyễn Sáng thích những xung đột giàu kịch tính, nhân vật có chất tạo hình, góc cạnh và dữ dội, Đỗ Chu thu hút chúng ta bằng những cảm xúc tươi mới, những kỷ niệm ngọt ngào, ấm cúng…” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, T1).
Nhìn chung, đội ngũ nhà văn ngày một lớn mạnh, đông đảo, khẳng định được vị trí của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, khẳng định được phong cách sáng tác. Có thể xem, mỗi nhà văn như là một bông hoa có hương sắc riêng, góp phần tạo nên một vườn hoa đầy hương sắc, đa dạng và phong phú trong vườn hoa văn xuôi Việt Nam hiện đại.
2.2.2 - Các đề tài lớn:  
* Đề tài về cuộc sống trước Cách mạng tháng Tám:
Nổi bật là bộ tiểu thuyết Cửa biển (4 tập) của Nguyên Hồng, Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư, Đống rác cũ, tập I của Nguyễn Công Hoan, Vỡ bờ (tập I & II) của Nguyễn Đình Thi,... Ở những tác phẩm này, với khả năng khám phá, bao quát và thể hiện hiện thực rộng lớn, cùng với tầm nhận thức và thể hiện mới, các nhà văn đã giúp cho người đọc càng hiểu hơn về cảnh sống đau thương của cha ông trong quá khứ, về bản chất phi lý, bạo tàn, bịp bợm của chế độ thực dân phong kiến. Mặt khác, các nhà văn đã ngợi ca sự anh dũng quật cường của dân tộc ta trong hoàn cảnh đó.   
Ngoài ra còn có tập ký Nhân dân ta rất anh hùng  do một số cán bộ lãnh đạo cách mạng như Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Hoàng Quốc Việt…, kể lại những hoạt động cứu nước trước cách mạng, góp phần khơi gợi tinh thần yêu nước và khẳng định vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong việc đấu tranh dành Độc lập, Tự do cho dân tộc.
* Đề tài về cuộc kháng chiến chống Pháp:
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, các nhà văn có khoảng cách về thời gian và tầm nhận thức mới để tiếp tục sáng tạo những gì mà trong hoàn cảnh trước đó họ đã ấp ủ, thai nghén nhưng chưa có điều kiện thực hiện. Bởi thế, chỉ trong khoảng một thời gian ngắn sau kháng chiến một loạt tác phẩm viết về đời sống kháng chiến đã ra đời, tiêu biểu phải kể đến: Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm, Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Phá vây của Phù Thăng. Các nhân vật trong truyện tuy xuất thân và có hoàn cảnh sống khác nhau nhưng đều ngời sáng lên những phẩm chất cao đẹp. Họ luôn biết vượt qua bao gian truân thử thách trong cuộc sống để góp sức mình làm nên sự thắng lợi cho cuộc kháng chiến. Không ít những nhân vật ở các tác phẩm nói trên là nguyên mẫu từ cuộc sống chiến đấu của dân tộc thông qua sự sáng tạo của nhà văn đã trở thành điển hình nghệ thuật có sức tác động lớn và sâu bền đối với tình cảm, nhận thức của người đọc như: anh Núp trong Đất nước đứng lên, chị Tư Hậu trong Một truyện chép ở bệnh viện... 
* Đề tài về cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội:
Trên cơ sở sống gắn bó và nhận thức sâu sắc về cuộc sống, các nhà văn nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội để khám phá và sáng tạo thành công nhiều tác phẩm. Nhiều vấn đề bức thiết được các nhà văn nghiền ngẫm và thể hiện như: cái cũ và cái mới; cá nhân và tập thể; vấn đề hợp tác hóa; quan niệm về hạnh phúc; tầm nhìn của người cán bộ; sự đổi thay của cuộc sống; ý nghĩa của cuộc sống làm ăn tập thể; vẻ đẹp của những con người lao động bình thường trong xã hội; ... Tiêu biểu cho đề tài trên là các tác phẩm: Hãy đi xa hơn nữa, Xung đột của Nguyễn Khải, Cái sân gạch của Đào Vũ, Bốn năm sau của Nguyễn Huy Tưởng, Bão biển của Chu Văn, Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm, Cái hom giỏ, Gánh vác của Vũ Thị Thường, Vụ mùa chưa gặt của Nguyễn Kiên, Sông Đà của Nguyễn Tuân,…
Ở từng mức độ, các tác phẩm trên không chỉ phản ảnh chân thật sinh động cuộc sống, mà còn góp phần lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống ở buổi đầu xây dựng CNXH hội ở miền Bắc. Có nhiều vấn đề trong cuộc sống mà nhà văn nhìn nhận, đánh giá ở vào thời điểm đó nhưng đối với cuộc sống hôm nay vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn là điều cần thiết phải suy ngẫm thêm. Với thành công trên, các nhà văn đã khẳng định được vị trí, sự trưởng thành và đóng góp của mình trong công cuộc xây dựng cuộc đời mới.
* Đề tài về cuộc kháng chiến chống Mỹ:
Ngay từ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, các nhà văn đã nhanh chóng đến với những nơi ác liệt và nóng bỏng nhất. Nơi nào có tiếng súng, tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom, tiếng đại bác, nơi đó nhà văn có mặt. Có nhiều nhà văn vừa cầm súng vừa cầm bút vượt Trường Sơn đến chiến trường để tìm được nguồn cảm hứng sáng tạo mới và khám phá được biết bao vẻ đẹp, bao kỳ tích anh hùng đang nảy nở hàng ngày, hàng giờ trong đời sống chiến đấu của dân tộc. Bởi thế, chỉ trong một thời gian ngắn, trong hoàn cảnh sáng tác có nhiều khó khăn nhưng truyện và ký viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn đạt được nhiều thành công đáng tự hào. Những tác phẩm đạt giải trong các đợt thi sáng tác của báo Văn nghệ tổ chức vào các năm 1965, 1967 - 1968, 1970 - 1971, 1974 - 1975 và đặc biệt là các tác phẩm đã được Hội đồng Văn học nghệ thuật của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu là thành tựu nổi bật, là dấu son trong tiến trình của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Tiêu biểu nhất cho sự thành công trên là các tác phẩm: Hòn đất, Bức thư Cà Mau của Anh Đức, Mẫn và tôi, Gia đình má Bảy, Về làng của Phan Tứ, Đất Quảng, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng U Minh của Trần Hiếu Minh, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch của Nguyễn Quang Sáng, Sống như anh của Trần Đình Vân, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, Hà Nội ta đánh Mỹ  giỏi của  Nguyễn Tuân, Họ sống và chiến đấu, Chiến sĩ của Nguyễn Khải Vùng trời của Hữu Mai, Thôn ven đường của Xuân Thiều, Cửa sông, Dấu chân người lính của  Nguyễn Minh Châu, Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên…
Các tác phẩm nói trên đi vào khám phá, thể hiện từng khía cạnh khác nhau trong đời sống chiến tranh và đều có nét đẹp riêng để góp phần làm nên vẻ đẹp chung cho truyện ký viết về đề tài chống Mỹ. Dù không tránh khỏi hạn chế ở mặt này hay mặt khác nhưng đó chính là sự minh chứng sinh động, hùng hồn về khí thế hào hùng và những phẩm chất cao đẹp cũng như sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam ở những năm tháng đó.  
2.2.3 – Vài nhận xét về truyện và ký 1955 - 1975:  
Nét nổi bật, nét mới của truyện và ký thời kỳ này đó là vừa nâng cao khả năng bao quát hiện thực, vừa chú ý đào sâu những vấn đề nằm trong hiện thực đó, vừa miêu tả, vừa phân tích và lý giải nên tác phẩm có được sức khái quát chính xác và sâu sắc hơn.
Nhiều tác phẩm có quy mô phản ánh rộng lớn và sâu sắc được ra đời như: Cửa biển của Nguyên Hồng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Vùng trời của  Hữu Mai, Bão biển, Đất mặn của Chu Văn, Chiến sĩ của Nguyễn Khải, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu,… Đặc biệt, nhiều tác phẩm ra đời một cách kịp thời, đảm bảo tính thời sự. Điều đó chứng tỏ các nhà văn có sự cố gắng lớn để nhanh chóng chiếm lĩnh được hiện thực cuộc sống.
Trong quá trình khám phá, sáng tạo, các nhà văn đã chú ý khai thác và thể hiện những khía cạnh độc đáo của cuộc sống vừa sản xuất, vừa chiến đấu, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương, cũng như các mối quan hệ trong đời sống gia đinh, xã hội…
Ở từng phương diện và mức độ khác nhau, các tác phẩm đã thể hiện được một cách thành công sự sàng lọc con người trong cuộc sống xây dựng và chiến đấu, mà nhất là thể hiện được sự kế tiếp của hai thế hệ trong cuộc chiến đấu vì Độc lập, Tự do của dân tộc, tiêu biểu là: Hòn đất của Anh Đức, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu …
Vấn đề xây dựng nhân vật của truyện và ký ở thời kỳ này cũng có bước phát triển đáng chú ý. Nhà văn chú trọng hơn việc đi sâu vào khai thác nội tâm, đời sống tinh thần của nhân vật. Loại nhân vật được mở rộng đáp ứng kịp thời nhu cầu thẩm mỹ của độc giả. Một số nhân vật được xây dựng từ nguyên mẫu trong đời sống nên càng có tác dụng giáo dục sâu sắc.
Tóm lại, truyện và ký của ta trong hai mươi năm qua tuy chưa có được tác phẩm mang tầm vóc vĩ đại, nhưng những gì đạt được rất đáng tự hào, trân trọng. Nó đã phản ánh và đáp ứng kịp thời nhu cầu thẩm mỹ của thời đại, góp phần cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ cuộc sống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc trong những tháng năm đó.
2.3 – Kịch nói: 
Cần lưu ý các điểm sau:
- Vị trí của kịch nói so với các thể loại khác cùng thời kỳ.
- Kịch chuyển thể từ ký và tiểu thuyết.
- Kịch lịch sử  góp phần khẳng định niềm tin, niềm tự hào, ý chí của ông cha trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước
- Một số tác phẩm tiêu biểu: Ngọn lửa của Nguyễn Vũ, Nổi gió, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt của Vũ Dũng Minh,
3 – Kết luận chung:
Sau hai mươi năm phát triển trong một hoàn cảnh đặc biệt, văn học Việt Nam đã đạt được những bước tiến mới cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Cuộc sống xây dựng và chiến đấu với nhiều gian khổ hi sinh đòi hỏi mỗi một nhà văn phải có ý thức trách nhiệm, gắn bó sâu sắc với Tổ quốc, để từ đó có được nguồn cảm hứng sáng tạo, viết nên những tác phẩm xứng đáng với thời đại ta và nhân dân ta.
Hai mươi năm qua, tuy không tránh khỏi một số hạn chế nhất định, nhưng văn học Việt Nam thời kỳ này vẫn giữ một vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của dân tộc, cũng như tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của văn học Việt Nam ở những năm về sau.
XUÂN DIỆU
(1916 - 1985)  
1 – Vài nét về tiểu sử và con người:  
Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu; sinh ngày 2/2/1916 tại Tùng Giản - Tuy Phước - Bình Định. 
Quê quán: Đại Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh.
Xuân Diệu học tiểu học ở Quy Nhơn, sau đó ra học trung học ở Hà Nội và Huế.
Năm 1940, ông thi đỗ Tham tá thương chính và vào làm việc tại Mỹ Tho. Một thời gian sau ông xin thôi việc ra Hà Nội kết bạn thơ với Huy Cận.
Xuân Diệu tham gia cách mạng từ năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, thư kí tòa soạn Tạp chí Tiên phong. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I; năm 1948 là Uûy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1957 cho đến khi qua đời, Xuân Diệu luôn được bầu vào Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Ông được kết nạp vào Đảng năm 1949. Năm 1983, ông được công nhận là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức. Năm 1985, Xuân Diệu lâm trọng bệnh và qua đời.
Xuân Diệu để lại một di sản văn học đồ sộ với nhiều thể loại:
- Trước Cách mạng tháng Tám:
+ Thơ: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945).
+ Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939)
- Sau Cách mạng tháng Tám:
+ Thơ: Ngọn quốc kỳ (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962), Khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982).
+ Văn xuôi, tiểu luận, phê bình: Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng (1958), Ba thi hào dân tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây dời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( hai tập; 1981& 1982).
+ Dịch và giới thiệu thơ nước ngoài của các nhà thơ như: Targo, Puskin, Maiacốpxki, Đimitrôva,...  
Một số điểm cần lưu ý:
+ Xuân Diệu là nhà thơ lớn của dân tộc, ông luôn là tấm gương lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai, giàu sức sáng tạo, đạt được nhiều thành tựu lớn trong sáng tác.
+ Xuân Diệu là người giới thiệu, phê bình thơ rất tinh tế và sắc bén. Ông có được những thành công lớn không chỉ ở việc giới thiệu, phê bình thơ cổ điển, thơ ca hiện đại, mà còn ở cả thơ ca nước ngoài. Ông thường chỉ ra được cái hay, sự độc đáo ở mỗi nhà thơ qua tác phẩm của họ.
+ Cuộc đời và thơ của Xuân Diệu gắn với quê hương đất nước. Ông có khát vọng hiến dâng sức lực và trí tuệ của mình cho dân tộc, ông không ngại khó khăn, gian khổ, hăng hái, nhiệt tình, đi khắp mọi nẻo đường Tổ quốc để phục vụ nhân dân… Chính vì lẽ đó, Xuân Diệu được tất cả độc giả trong nước yêu mến, ngưỡng mộ không chỉ ở thơ, mà còn ở tấm lòng say sưa và chân thành của ông trước cuộc đời.  
2 – Xuân Diệu với thơ:  

2.1 – Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám:
Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu có hai tập thơ: Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945). Ông là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới cả về nội dung lẫn hình thức. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khẳng định: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.
Khác với các nhà thơ cùng thời kỳ, Xuân Diệu gắn bó thiết tha với cuộc sống, “Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Khát vọng mãnh liệt đến với cuộc đời, giao cảm với đời là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu.
Cảm hứng về tình yêu là cảm hứng nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Với ông, tình yêu đã trở thành lẽ sống, “làm sao sống được mà không yêu”, mặc dầu ông cảm nhận: “Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì mấy khi yêu mà chắc được yêu”. Bởi thế, ông luôn có tâm trạng Vội vàng, Giục giã . Ông sợ thời gian, ông muốn vũ trụ ngưng đọng:
Tôi muốn tắt nắng đi    
Cho màu đừng nhạt nắng
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng)
hay là:                  
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em em ơi, tình non sắp già rồi
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai      
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
(Giục giã)
Tình yêu được Xuân Diệu diễn tả với nhiều cung bậc, từ Gặp gỡ rồi Yêu, cho đến khi Xa cách, Biệt ly êm ái và với những tâm trạng và hành động khác nhau: Có khi là sự “dại khờ”, “mời yêu” hay “ngẩn ngơ”, “nhớ mông lung”, “sầu”,… Cũng có khi “rạo rực” khát vọng:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Xuân Diệu đã thể hiện được một tình yêu đích thực, không e ấp ngượng ngùng khi bày tỏ tình yêu. Ông muốn tạo nên một không gian thấm đẫm tình yêu để gửi gắm niềm khao khát về tình yêu vô biên và tuyệt đích:
Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần
Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.
(Phải nói)
Dẫu tình yêu có nồng cháy, mãnh liệt nhưng nó vẫn không được cuộc đời đón nhận, khiến “cái tôi” phải cầu xin:
Mở miệng vàng.. và hãy nói yêu tôi
Dầu chỉ là trong một phút mà thôi!...
(Mời yêu)
Càng yêu cuộc đời bao nhiêu, Xuân Diệu càng tự đày ải trái tim của mình và càng thất vọng bấy nhiêu… Điều đó đã tạo nên sự “cô đơn muôn lần muôn thuở cô đơn” cho nhà thơ. Đặc biệt, có khi “cái tôi” đã lên đến đỉnh cao của sự cô đơn, nhỏ nhen, tầm thường:
Ta là Một, là Riêng là thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta!
(“Cái tôi” gục xuống, sợ hãi, thốt lên lời rên rỉ trước cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt, hay đau đớn van xin: “Chớ đạp hồn em”, “Chớ để riêng em phải gặp lòng em” và rơi vào tâm trạng tuyệt vọng:
Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy trăng trôi
Du khách đi, du khách đã đi rồi.
(Lời kỹ nữ)
Cũng vì thế, tình yêu trong thơ Xuân Diệu gắn liền với nỗi cô đơn và sự hoài nghi. Ngay cả khi “được yêu” nhưng “cái tôi” vẫn lo sợ vì cảm nhận sự biệt ly, tan vỡ đang dần đến. Cho dù cùng người yêu dạo bước dưới ánh trăng “cái tôi” vẫn cảm thấy:
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.
hay là:               
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ
Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt
Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…”
(Giục giã)
Có thể nói, tình yêu trong thơ Xuân Diệu thời kỳ này rất nồng cháy, “vô biên” để rồi rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ và “say khướt đau thương”.
Về nghệ thuật: Xuân Diệu cảm nhận cuộc sống bằng nhiều giác quan mà đặc biệt là cảm giác (Thơ duyên, Vội vàng, Nhị hồ,…). Ông sử dụng ngôn ngữ thơ rất sáng tạo, và luôn có sự tìm tòi mới mẻ, độc đáo nhằm tạo nên sức gợi tả, truyền cảm mạnh mẽ cho thơ (Đây mùa thu tới, Khi chiều giăng lưới, Vội vàng). Xuân Diệu đã sử dụng thành công sự tương quan giữa các màu sắc, âm thanh nhịp điệu để tạo nên âm hưởng trong thơ (Nguyệt cầm, Thơ duyên,…).
Tóm lại: Thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám biểu hiện rõ tấm lòng của một con người nặng tình với đời song bế tắc. Tình yêu nam nữ trong thơ Xuân Diệu thời kỳ này được diễn tả với tất cả cung bậc của nó qua những vần thơ uyển chuyển giàu âm thanh, màu sắc, hình ảnh…, để lại âm vang mạnh mẽ trong lòng người đọc.
2.2 – Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám:
2.2.1 - Thời kỳ đầu sau Cách mạng tháng Tám:
Xuân Diệu hướng về cuộc sống cách mạng của dân tộc , tự hào, phấn khởi trước sự thành công của Cách mạng tháng Tám. Ông bộc lộ khát vọng “Mở lòng ra ôm đón lấy sao vàng” và “Đi theo tiếng gọi nước non thiêng”.
Thơ ông ở thời điểm này thể hiện cảm xúc mạnh mẽ trước hiện thực cuộc sống cách mạng với ý thức, trách nhiệm của một công dân đối với Tổ quốc. Lần đầu tiên viết về cách mạng, Xuân Diệu đã có được những vần thơ trong sáng, yêu đời. Điều đó được biểu hiện rõ ở Ngọn quốc kỳ (1945) và  Hội nghị non sông (1946). Ý nghĩa thiêng liêng của lá cờ đỏ sao vàng được nhà thơ cảm nhận:
Cờ như mắt mở thức thâu canh
Như lửa đốt hoài trên chót đỉnh.
Cờ như nắng mãi ấm luôn luôn,
Sưởi khắp lòng ai nghe vắng lạnh.
Sớm hôm canh giữ lấy hồn thiêng,
Bay mãi trên trời, treo sứ mệnh.
(Ngọn Quốc kỳ)
Có thể nói, so với nhiều nhà thơ khác, thơ Xuân Diệu ra đời kịp thời, mang tính thời sự nhưng cũng giàu chất lãng mạn. Âm hưởng hùng tráng, đằm thắm thiết tha toát lên từ tác phẩm của ông đã góp phần tạo nên sức cuốn hút, cổ vũ mạnh mẽ bạn đọc nhanh chóng vững lòng tin đến với đời sống cách mạng.        
2.2.2 - Thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Xuân Diệu hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, gắn bó với cuộc sống nhân dân. Càng ngày ông càng hiểu hơn về những con người giản dị mà vĩ đại. Đó chính là điều kiện thuận lợi giúp ông có được vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên các tập thơ: Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954).
Cảm hứng chủ đạo ở các tập thơ trên là niềm tin yêu, niềm lạc quan trước hiện thực đời sống cách mạng. Ông cảm nhận cuộc đời như:
Một sớm mai hồng, một bình minh
Xanh mắt trẻ con,
Hồng môi thiếu nữ.
(Trở về)
Cuộc đời hiện tại dù còn bao gian truân thử thách nhưng đối với nhà thơ “Bà mẹ đời du dương tay mở rộng” và Hương đời luôn thấm đượm. Nhà thơ cho rằng:
Đời đáng yêu - nhiều lúc có gì đâu…
Như đôi lứa mình lặng lẽ nhìn nhau…
Một cái nắm tay, một đầu thuốc dở,
Một tiếng vang trong một mái đầu.
(Hương đời)
Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc cuộc sống cao đẹp của quần chúng và cảm thông với nỗi khổ đau của họ. Hình ảnh quần chúng lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Xuân Diệu chính là một nét mới về đối tượng phản ảnh, nó đánh dấu cho bước chuyển quan trọng về tình cảm nhận thức trên con đường thơ của ông (Tặng làng Còng, Bà cụ mù lòa…). Trên cơ sở đó, nhà thơ đã viết nên nhiều vần thơ giản dị mà thấm nặng nghĩa tình:
Hạt cơm ăn của bà con
Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần.
(Tặng làng Còng)
Vẻ đẹp của hình ảnh của bà mẹ nghèo trong kháng chiến đã được nhà thơ thể hiện sinh động qua nhiều bài thơ và rõ nét nhất là tình yêu thương của mẹ. Cũng vì thế, khi giã từ Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội nhà thơ không thể nào quên được hình ảnh của mẹ vào những tháng năm đó:
Mẹ nghèo vẫn cố nuôi con:
Khi bùi măng nứa, khi ngon củ mài.
Sẻ từng hạt muối cắn đôi
Nhà sàn chung ở, chăn sui đắp cùng.
(Ta chào Việt Bắc, về xuôi)
Bên cạnh đó, Xuân Diệu cũng bày tỏ được một cách chân thành nỗi trăn trở và sự kính yêu của mình khi viết về Bác. Ông đã tìm được cách thể hiện riêng và rất thấm thía:
Trên đầu tóc Bác sương ghi
Chắc đôi sợi bạc đã vì chúng con.
(Sáng)
Dù còn có hạn chế song các tập thơ trên đã thể hiện được bao nỗi niềm, tình cảm của Xuân Diệu trước hiện thực đời sống cách mạng. Thơ Xuân Diệu thời kì này đánh dấu một bước chuyển biến lớn về tư tưởng, tình cảm, giọng điệu…, trên con đường thơ của ông.
2.2.3 - Thời kỳ xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ
- Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc bước vào cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hiện thực sôi động đó, với sự nhạy cảm, lòng tin yêu cuộc đời mới, thơ Xuân Diệu có sự vươn lên mạnh mẽ, đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc đời mới, biểu hiện rõ ở ba tập thơ: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962), Khối hồng (1964).
Xuân Diệu say sưa ngợi ca cuộc đời mới với những đổi thay mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của dân tộc, và rồi ông trăn trở nghĩ về mình, bày tỏ chân thành niềm vui hạnh phúc qua nhiều bài thơ như: Ngói mới, Lệ, Chào Hạ Long... Ông nguyện nhìn đời bằng Đôi mắt xanh non, bởi vì, ở khắp mọi nơi, từ các làng quê vùng đồng bằng đến vùng núi Mã Pí-Lèng, hay hải đảo Chòm Cô Tô mười bảy đảo xanh, cuộc sống bao giờ cũng “xanh non”, và “mãi mãi tươi dòn”. Với Xuân Diệu, cuộc sống giờ đây chính là những trang đời đẹp nhất, “những trang tốt lành”, để rồi ông khao khát:
Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh,
Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành
Ngói mới.
(Ngói mới)
Không chỉ vui say mà nhà thơ còn tự hào khi đã qua rồi nỗi đau tê tái, “vị buồn ghê mặn chát”, “mực mài nước mắt gửi người thương”, “vũ trụ tưởng tàn, thế gian tưởng hết”…, và giờ đây hạnh phúc đến với mọi người. Vì lẽ đó, ở bài thơ Lệ nhà thơ có được cách nhìn, cách nghĩ rất thấm thía về quá khứ và hiện tại:
Xưa lệ ta sa oán hận đất trời,
Nay lệ òa, ta lại thấy đời tươi!
- Giọt nước mắt ta
Chan chứa tình người.      
Trong cảnh đất nước chia cắt ông Nhớ quê Nam, với “vườn xoài trưa nắng”, “gió biển Quy Nhơn”, “mảnh vườn Sa Đéc, con kênh Tháp Mười”, nhớ “bà má Năm Căn bỏm bẻm nhai trầu”, nhớ “trăng lam Đèo Cả, mây hồng Hải Vân”; nhớ điệu bổng trầm “… qua nhớ thương em bậu”, nhớ sông Thu Bồn, Trà Khúc, sông Hương, và Gửi sông Hiền Lương bao nghĩa tình sâu nặng:
Gửi ngàn mến với muôn thương trong ấy
Gửi lời về xin bớt nhớ, khoan thương
Gửi kiên trinh một tấm lòng vàng.
Càng đến với cuộc sống, tình đất nước, tình người trong thơ Xuân Diệu càng đằm thắm thiết tha, càng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc.
Khi cả nước có chiến tranh, Xuân Diệu nhanh chóng hòa nhịp với cuộc sống chiến đấu của dân tộc, ông không ngại khó khăn gian khổ đến với nhiều vùng đất nóng bỏng, ác liệt nhất với tâm nguyện:
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi,
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu,
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao.
(Những đêm hành quân)
Rất dễ nhận thấy, thơ viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Xuân Diệu xuất hiện đều đặn trên báo chí và có khả năng ứng chiến nhạy bén trước những sự kiện của đời sống kháng chiến. Điều đó được phản ánh rõ nét qua ba tập thơ: Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976).
Hơn lúc nào hết, nhà thơ  nhận thức rõ hơn về sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong chiến tranh. Ông khẳng định Sự sống chẳng bao giờ chán nản, và “chúng ta yêu sự sống bền dai, vĩnh viễn, bao la!”.  
Xuân Diệu có ý thức mở rộng thi đề để phản ảnh mọi mặt của đời sống. Có những cảnh như: Các cháu đi sơ tán, hay cảnh Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào hỏa tuyến đã gợi lên cho người đọc biết bao niềm xúc động mạnh mẽ.
Nét mới của thơ Xuân Diệu ở thời kỳ này là vừa giàu chất trữ tình vừa chứa đựng tính triết lý biểu hiện rõ trong bài Quả sấu non trên cao và  Sự sống chẳng bao giờ chán nản. Mặt khác, thơ ông còn có thêm chất trào phúng (Con chim và xác chiếc tàu bay Mỹ) .
2.2.4 - Từ sau 1975 đến khi qua đời
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Xuân Diệu viết về Miền Nam quê ngoại, lòng dạt dào vui sướng khi Đi giữa Sài Gòn trong ngày chiến thắng và ông bồi hồi nhớ về quê ngoại sau bao năm xa cách.
Ông có khát vọng: Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam,  Nghe nhạc Nam  để “thức mãi cùng thương nhớ”, đến Phan Thiết “thăm kinh đô cá mắm”, hay Tâm sự với Quy Nhơn sau hơn ba mươi năm trở lại với quê ngọai, nơi chan chứa kỉ niệm của tuổi thơ và tự hào hơn về vẻ đẹp của miền đất này:
Ôi! Biển Quy Nhơn, biển đậm đà
Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa.
Cảm ơn quê má muôn yêu dấu
Vẫn ấp iu hoài tuổi nhỏ ta.
Nhiều vần thơ của ông ở thời kỳ này thể hiện sự đằm thắm nghĩa tình đối với miền Nam. Có thể nói: “Viết về miền Nam là Xuân Diệu đã khơi dậy những tình cảm, những kỉ niệm sâu sắc của mình, những hình ảnh được chắt lọc qua nhiều năm tháng để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ” (Mã Giang Lân).
2.2.5 - Thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám
Với thơ tình, Xuân Diệu đã đạt được những thành công rất đặc sắc. Ở mảng thơ này bản lĩnh nghệ thuật của Xuân Diệu bộc lộ rõ nét nhất.
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ tình Xuân Diệu giãi bày niềm khao khát được ban phát tình yêu, hiến dâng, vồ vập nhưng rồi như Nước đổ lá khoai, và kết cục rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ. Còn sau Cách mạng tháng Tám, thơ tình của ông có được một nguồn mạch mới, đó là tình yêu bền chặt, gắn bó không thể gì chia cắt nổi bời tình yêu của lứa đôi bao giờ cũng nồng nàn, đến “ngàn năm không thỏa”. Dù “anh không xứng là biển xanh/ nhưng anh muốn em làm bờ cát trắng” để có thể:
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.
(Biển)
Còn nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của tình yêu được nhà thơ cảm nhận:
Uống xong lại khát là tình
Gặp rồi lại nhớ là mình của ta
(Uống xong lại khát)
Xuân Diệu cảm nhận sự xa cách của tình yêu “một khắc là thế kỷ”. Bởi vậy, càng yêu nhau họ càng mong muốn gần nhau, gắn bó với nhau để rồi hiểu nhau hơn. Họ khao khát mãi bên nhau để san sẻ cả niềm vui hạnh phúc, cũng như nỗi buồn. Nhà thơ cảm nhận cho rằng:
Vai anh  khi để đầu em tựa
Cân cả buồn vui của một đời
(Tình yêu san sẻ)
Ông cũng nói đến nỗi đau trong tình yêu, nỗi đau đó nhức nhối vò xé tấm lòng ho, nó là Cái dằm, là “vết thương trong cõi tinh thần” của lứa đôi. Nhưng nỗi đau rồi sẽ qua đi, họ nhanh chóng “làm lành” với nhau vì “em là nhân của hồn anh”. Có thể nào anh lại thiếu vắng em giữa cuộc đời, khi anh hiểu rằng:
Mang em trong dạ như mầm
Ngày đi suy nghĩ đêm nằm nhớ thương
(Quả trứng và lòng đỏ)
Tình yêu trong thơ Xuân Diệu càng trở nên cao đẹp hơn khi lứa đôi hiểu rõ giữa họ với cuộc đời có mối quan hệ thắm thiết. Hạnh phúc lứa đôi gắn liền với hạnh phúc của dân tộc, nhà thơ cho rằng:
Của đời ta nhận ấm êm
Hồn trao âu yếm ta thêm tặng đời
(Tình yêu muốn hóa vô biên).
Khác với trước Cách mạng tháng Tám, giờ đây tình yêu ít có nỗi buồn mà thấm đượm niềm vui. Tình yêu đã làm trỗi dậy niềm vui, giúp lứa đôi “cởi hết ưu phiền gửi gió mây”, và khi đó giọng nói của em dù chỉ là “giọng nói thường” nhưng “anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn”, vẫn ngập tràn hạnh phúc trong cảnh:
Em cười ríu rít ở sau xe
Em nói lòng anh mãi lắng nghe
Thỉnh thoảng tiếng cười em lại điểm
Đời vui khi được có em kề.
(Giọng nói)
Ngoài ra, thơ tình Xuân Diệu thời kỳ này bên cạnh tình yêu còn có thêm tình vợ chồng. Tuy viết về tình vợ chồng nhưng vẫn quyện hòa, chan chứa tình yêu, vẫn là thơ tình yêu. Điều này biểu hiện rõ qua các bài thơ như: Anh thương em khi ngủ, Đứa con của tình yêu, Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng vào hỏa tuyến, Dấu nằm, Đứng chờ em,...
Có thể nói, đến với thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta nhận thấy: tóc Xuân Diệu dù đã hoa râm nhưng ông vẫn giữ được chất thanh xuân của tâm hồn để cùng tuổi trẻ nói chuyện tri âm, chuyện tình yêu, hẹn thề, nói chuyện say đắm… Bởi thế, nhà thơ Trần Lê Văn đã viết:
“Bởi quá yêu đời nên nặng lòng ấp ủ
Bởi không muốn già, nên bền chí thanh xuân”
(Dây đàn bỗng đứt).
Mảng thơ tình của Xuân Diệu, chính là món quà tặng người đời mãi mãi, như ở bài thơ Đề tặng ông đã viết:
"Tặng lòng con trai
Tặng lòng con gái
Tặng hoa tặng trời
Tặng tình mãi mãi
Tặng hương - tặng Đời”.
3 – Xuân Diệu với văn xuôi, tiểu luận, phê bình:  

Cần  lưu ý các điểm sau:
- Sự quan tâm của Xuân Diệu đối với các nhà thơ lớp kế cận và lớp trẻ. Không ít nhà thơ trẻ  đã đạt được sự thành công trong sáng tạo phần nào có sự giúp đỡ, quan tâm của Xuân Diệu. 
- Xuân Diệu giới thiệu thơ quần chúng. Ông chịu khó tìm kiếm, chắt lọc cái hay, cái đẹp trong những sáng tác của họ để giới thiệu một cách trân trọng.
- Xuân Diệu khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp trong thơ của các nhà thơ hiện đại ưu tú như: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên …
- Giới thiệu thành tựu của các nhà thơ lớn trong thơ ca dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương …                  
- Xuân Diệu dịch và giới thiệu một số nhà thơ lớn ở nước ngoài đối với người đọc Việt Nam và đồng thời giới thiệu một số bài thơ Việt Nam tiêu biểu sang các nước khác.
4– Phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu:   
Xuân Diệu là một nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và sống hết mình cho cuộc sống. Xuân Diệu luôn có mặt trong cuộc sống, ông đặt tên cho một tập thơ của mình là Tôi giàu đôi mắt. Ông hăm hở, say mê sáng tạo với trách nhiệm của một công dân trước cuộc sống. Thơ ông bám lấy thực tại của cuộc sống, đưa sự vật, hiện tượng vào thơ, muốn mở rộng cánh cửa thơ cho cuộc sống tràn vào, do vậy trong thơ ông có sự bề bộn của những chi tiết hiện thực cuộc sống. Ông muốn thơ phải có sức chứa lớn và sức phản ảnh rộng lớn phong phú.
Xuân Diệu là nhà thơ giàu sức sáng tạo, luôn có ý thức tìm tòi, thể nghiệm trên nhiều phương diện (cách xây dựng hình tượng, nhịp điệu, ngôn ngữ…). Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân tạo nên thơ hay và thơ trung bình ở mỗi tập thơ của ông.
Tâm hồn thơ Xuân Diệu luôn có sự tinh tế và nhạy cảm. Đó là yếu tố bền vững trong thơ Xuân Diệu trước và sau cách mạng. Nói cách khác, sức thanh xuân luôn tràn đầy trong tâm hồn thơ  Xuân Diệu. Tươi trẻ, hăng say như cái thuở ban đầu yêu và đang yêu là nét nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Sự nhạy cảm của tâm hồn đã tạo cho thơ ông thêm giàu hương vị của cuộc đời, tác động mãnh liệt đối với nhận thức của người đọc.
Thơ Xuân Diệu có khi còn nặng về kể, giải bày, ít ẩn ý, thiếu hàm súc, dễ dãi, dài dòng trong nhạc điệu, từ ngữ. Điều đó tạo nên sự hạn chế phần nào về sức truyền cảm và hấp dẫn của thơ ông đối với người đọc.  
5 – Kết luận chung:  

Xuân Diệu là một nhà thơ cần mẫn,sung sức trong sáng tạo nghệ thuật và đã có những cống hiến to lớn cho văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị đặc sắc, mà đặc sắc nhất là thơ tình yêu nam nữ.
Nghĩ về Xuân Diệu là chúng ta nghĩ về một tài năng, một tấm gương lao động nghệ thuật giàu sức sáng tạo, xứng đáng để các nghệ sĩ noi theo.             
Tài liệu tham khảo chính cần đọc:
Các tập thơ, phê bình tiểu luận của Xuân Diệu và các tài liệu sau:
1 - Xuân Diệu - Tuyển tập ( tập I ), NXB Văn học, Hà Nội, 1983.
2 - Lê Tiến Dũng (biên soạn) - Xuân Diệu, một đời người, một đời thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993.
3 - Lê Tiến Dũng - Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.
4 - Hà Minh Đức (giới thiệu và tuyển chọn) - Thơ tình Xuân Diệu, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1992.
5 - Lê Đình Kỵ - Xuân Diệu trong sách Thơ mới những bước thăng trầm, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988 (tái bản 1993).
6 - Mã Giang Lân - Xuân Diệu trong sách Nhà thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1984.
7 - Lữ Huy Nguyên (tuyển chọn) - Xuân Diệu, thơ và đời, NXB Văn học, Hà Nội, 1995.
8 - Hữu Nhuận (biên soạn) - Xuân Diệu con người và tác phẩm, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987.
9 - Hoài Thanh - Xuân Diệu trong sách Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học (tái bản), Hà Nội, 1988.
10 - Hoàng Trung Thông - Lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu, NXB Văn học, Hà Nội, 1983.
CHẾ LAN VIÊN
1 - Vài nét về tiểu sử và con người.  
Tên thật là: Phan Ngọc Hoan
Bút danh khác: Thạch Hãn, Chàng Văn.
Quê quán: Cam An - Cam Lộ - Quảng Trị. Thời trai trẻ chủ yếu sống ở Quy Nhơn - Bình Định. Có thể xem đây là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
Cách mạng tháng Tám thành công, Chế Lan Viên đến với cách mạng bằng sự hăng hái nhiệt tình của tuổi trẻ. Ông làm biên tập cho các báo Quyết thắng của Mặt trận Việt minh, báo Cứu quốc, Kháng chiến của liên khu IV. Năm 1949 Chế Lan Viên được kết nạp vào Đảng.
Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung Ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học. Từ năm 1963  ông là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ sau năm 1975, ông chuyển vào công tác ở TP. HCM và qua đời tại đó vào ngày 19/6/1989.
Ông để lại cho nền văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ:
- Trước Cách mạng tháng Tám:
+ Thơ: Điêu tàn (1937)
+ Văn xuôi:  Vàng sao (1942)
- Sau Cách mạng tháng Tám:
+ Thơ: Gửi các anh (1955), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1975), Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986), Di cảo thơ I (1992), Di cảo thơ II (1993), Di cảo thơ III (1996).
+ Văn xuôi, tiểu luận, phê bình: Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966), Nói chuyện văn thơ (1960), Phê bình văn học (1962), Vào nghề (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Bay theo đường dân tộc đang bay (1977), Từ gác khuê văn đến quán Trung Tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982), Ngoại vi thơ (1987).
Có thể nói, cả cuộc đời mình, Chế Lan Viên gắn bó với Tổ quốc, có nỗi đau xót xa trước cảnh Điêu tàn và bao niềm vui khi cuộc đời rực rỡ phù sa. Cuộc sống cách mạng đã giúp Chế Lan Viên “Bay theo đường dân tộc đang bay”, tạo điều kiện thuận lợi để ông phát huy được tài năng, đóng góp lớn cho kho tàng văn chương của dân tộc.  
2 – Chế Lan Viên với thơ:  
2.1 – Vài nét về quan niệm thơ của Chế Lan Viên:
Quan niệm thơ của Chế Lan Viên được thể hiện ở các bài viết, bài nói chuyện, đặc biệt là trong rất nhiều bài thơ và tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:
2.1.1 - Quan niệm về vị trí và phẩm chất của nhà thơ:
Chế Lan Viên quan niệm sáng tạo thơ là một nghề cao quý trong xã hội, nhà thơ phải có vị trí, sứ mệnh cao cả đối với đời. “Nghề thơ”, không phải ai cũng làm được, bởi nhà thơ phải có hồn thi sĩ. Nhà thơ không chỉ biết tin yêu cuộc đời, có khát vọng vươn tới cái chân, thiện, mỹ của cuộc sống, mà còn phải thật sự khổ luyện để vượt lên tất cả. Nhà thơ cần phải nhìn, nghe và suy ngẫm để góp phần lý giải khám phá những vấn đề trong đời sống. Nghề thơ đòi hỏi nhà thơ phải có tài năng thơ mới có thể cảm nhận, khám phá, thể hiện cuộc sống một cách tinh tế, nhạy bén. Mặt khác, nghề thơ còn đòi hỏi nhà thơ vừa phải biết giữ gìn, trân trọng và phát huy cái tài năng “bẩm sinh trời cho”, vừa phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng, rèn luyện và trau dồi về mọi phương diện nhằm sáng tạo nên cái “thần mới” cho thơ.
Chế Lan Viên luôn xem việc học hỏi, sáng tạo là cuộc Vượt bể trong suốt cả đời mình và ông khẳng định, Nghề của chúng tacần phải nắm bắt chính xác “vòng quay thời đại” để “tạo nên mùa” và đừng để thời gian trôi qua một cách vô ích, phải luôn biết vượt lên tất cả để  Săn thơ, Tìm thơ.
Chế Lan Viên đòi hỏi, nhà thơ cần phải có cá tính sáng tạo. Ông ví mỗi nhà thơ như một dòng sông mang đặc tính và vẻ đẹp riêng. Nhà thơ phải giữ được “cái tạng riêng” cho mình. Nếu chỉ biết đi theo lối mòn trong sáng tạo, thì nhà thơ  tự “đánh mất mình”, hoặc sẽ rơi vào “cái đội quân nhạt nhạt mờ mờ”.
Nghề thơ đòi hỏi nhà thơ không chỉ có tài năng, mà còn phải có nhân cách, có cái tâm trong sáng bởi đó là gốc rễ của văn chương. “Đừng hợm hĩnh” và đừng bao giờ nghĩ rằng “không có các anh thì không ai uống sữa của Trời”.
Với quan niệm trên, Chế Lan Viên đã khẳng định vai trò, tầm vóc của nhà thơ trong đời sống xã hội, những người đã và đang làm công việc “vực sự sống ba chiều lên trang thơ hai mặt phẳng”.
2.1.2 - Ý nghĩa và tác dụng của thơ:
Chế Lan Viên luôn có suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đạo đức trong đời sống xã hội. Ông luôn tự hỏi “ta vì ai”, “tôi viết cho ai?” để từ đó sáng tạo nên những vần  thơ có ích cho đời và vui sướng khi trở thành “một người cầm bút có ích, làm thơ có ích”. Mặt khác, Chế Lan Viên quan niệm, thơ không chỉ “đưa ru”, “sưởi ấm” người đọc bằng tình cảm mãnh liệt, ước mơ lãng mạn, mà còn phải có khả năng “thức tỉnh” họ bằng ánh sáng của trí tuệ.
Qua cách thể hiện khác nhau, Chế Lan Viên luôn nhấn mạnh, thơ góp “thêm tiếng cười”, “thêm vị muối cho đời”, là “nhành hoa mát mắt cho đời”, thơ có khả năng kỳ diệu: “tát bể”, cân đời”, thơ làm cho con người tự tin hơn trong cuộc sống.
Từ quan niệm, thơ là “các đỉnh tinh thần chất ngất”, Chế Lan Viên đã chỉ rõ tác dụng mãnh liệt của thơ đối với người đọc, tác dụng đó vượt khỏi giới hạn về không gian. Cho dù câu thơ viết ở “kinh tuyến này” nhưng vẫn làm nên sự “rung động trào sôi ở kinh tuyến khác”.
Ông khẳng định: “thơ phải trả lời”, phải có khả năng giải đáp được những gì đã, đang và sẽ xảy ra trong đời sống. Nếu thiếu lời giải đáp thì thơ đã mắc Nợ đối với đời. Chế Lan Viên còn muốn thơ phải là Thuốc có khả năng chữa lành vết thương trong cõi tinh thần con người, “có ích cho nỗi đau người”, để “phục sinh” con người. Thơ là Tiếng hú, một tín hiệu giao cảm để từ đó lay động tâm hồn người đọc khiến họ sống có ý nghĩa hơn đối với đời.
Tóm lại, Chế Lan Viên luôn tâm niệm: “thơ cần có ích/ hãy bắt đầu từ nơi ấy mà đi”, đó là cái đích mà Chế Lan Viên luôn hướng tới.
2.1.3 - Nghệ thuật sáng tạo thơ:
Vốn tâm huyết với nghề, với thơ, Chế Lan Viên luôn có suy nghĩ độc đáo, sâu sắc về nghệ thuật sáng tạo thơ. Điều này được biểu hiện rõ ở nhiều bài tiểu luận, phê bình, nói chuyện thơ và ở nhiều bài thơ của Chế Lan Viên. Ông quan tâm nhiều về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, về thể loại, về vần, câu, chữ, ý, nhạc ..., cũng như việc phát huy truyền thống và đổi mới, sáng tạo ở phương diện nghệ thuật thơ. Càng về cuối đời, Chế Lan Viên càng bàn kỹ và suy ngẫm nhiều về nghệ thuật sáng tạo thơ. Ông có một loạt bài thơ nói về Thi pháp ồn, Thi pháp trẻ và Thi pháp của thơ độc đáo, điều đó gợi ra cho những người sáng tác thơ bao điều cần ngẫm nghĩ.  
Chế Lan Viên đòi hỏi người “thợ thơ”phải nắm bắt được một số kỹ thuật và phương pháp cần thiết cho việc sáng tạo thơ. Ông cho rằng: “làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ”. Ngôn ngữ thơ có lúc mộc mạc hồn nhiên, nhưng lại có lúc phải mang vẻ đẹp kì diệu như “hài hoa cô Tấm”, như “mái tóc thơm hương cấm cung”. Nhà thơ phải biết tìm tòi, cân nhắc, lựa chọn để từ ngữ được sử dụng thêm cái “đa thanh, đa sắc” của đời. Chế Lan Viên không chấp nhận sự cầu kỳ, gò gẫm, mà cần phải “căng cái dây hình ảnh ngữ ngôn qua vực tâm hồn sâu thẳm”. Ông đã phê phán kiểu cố làm cho mới lạ, làm xiếc chữ nghĩa trong thơ.
Nhà thơ cần chọn được cho thơ mình cách nói, giọng điệu hợp lý nhất với tình cảm và nhận thức của người đọc trong những hoàn cảnh khác nhau của đời sống xã hội và ở giọng điệu nào cũng toát lên sự chân tình, tâm huyết vì con người, vì cuộc đời. Nhà thơ phải luôn biết mở rộng tâm hồn lắng nghe, đón nhận nhiều cung bậc của nhạc điệu cuộc sống để tạo nên chất nhạc cho thơ. Thơ cần có sự quyện hòa giữa nhạc và ý, câu thơ “Ở ngoài là ý là hình/ ở trong là nhạc”. Chế Lan Viên cho rằng, nhạc có khả năng làm cho tâm hồn “lắc lư”, “làm cho con người giải thoát”... Chính những cung bậc nhạc điệu đã góp phần tăng thêm sức ám ảnh của thơ đối với người đọc.
Mặt khác, Chế Lan Viên rất chú trọng đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của thơ. Đạt đến cái Thiện, cái Chân là mục đích mà thơ hướng tới, nhưng tất cả điều đó phải được biểu hiện bằng hình thức Đẹp. Ông khẳng định: “Hình thức cũng là vũ khí. Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lý”. Sự hài hòa giữa nội dung và hình thức trong thơ sẽ tạo nên vẻ đẹp cho thơ.
Tóm lại, trong suốt quá trình sáng tạo, Chế Lan Viên luôn có những trăn trở, suy ngẫm về nghề, về thơ. Điều đó đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.  
2.2 – Thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng Tám:
Buổi đầu đến với thơ, Chế Lan Viên đã làm người đọc phải phải “kinh dị” không chỉ vì sự xuất hiện đột ngột của một tâm hồn thơ trẻ tuổi, mà còn bởi “trong giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãng mạn 32 - 45, đây là giọng buồn ảo não, có pha màu huyền bí”.
Tuổi trẻ của Chế Lan Viên gắn liền với Quy Nhơn, Bình Định, nơi hàng ngày trên con đường đi về, nhà thơ đã cảm nhận được những dấu tích điêu tàn của Chiêm Quốc. Cũng chính nơi đây, tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ đã rung động mạnh mẽ khi nghe kể về những câu chuyện linh thiêng, những truyền thuyết về một đất nước xa xưa, để rồi suy tưởng, hay buồn thương nuối tiếc giống dân Hời.
Đến với thơ của Chế Lan Viên trước cách mạng, người đọc dễ dàng nhận thấy, thơ ông in rõ những dấu ấn của thực tại cuộc sống và chất chứa bao niềm suy tưởng về quá khứ đau thương của một dân tộc. Trước những chứng tích của một nền văn minh bị mai một theo thời gian còn lại như: ngọn tháp, đền đài, tượng Chàm…, đã gợi lên cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên biết bao sự liên tưởng mạnh mẽ và để rồi, nhà thơ lặng lẽ “quay về xem non nước giống dân Hời”.
Khám phá những giá trị của thơ Chế Lan Viên trước cách mạng, một trong những điều khiến chúng ta phải ngẫm nghĩ đó là cái thế giới đầy kinh dị, là nỗi đau xót được tạo nên bởi tâm hồn thơ tuổi trẻ có trí tưởng tượng phong phú. Ở ông trào dậy bao điều suy nghĩ và bao nỗi xót xa, buồn tủi về những gì đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại. Ông cay đắng khi nhận ra cái thế giới xung quanh mình đầy rẫy những trò gian trá, bịp bợm, thâm hiểm và xảo quyệt, ông ngậm ngùi cho những kiếp Sống mòn, Đời thừa, Bước đường cùng,…
Chế Lan Viên tìm đến thơ để gửi gắm và giãi bày sự suy ngẫm của mình về cuộc sống. Ông nói đến nỗi đau của dân tộc Chàm cũng là để bộc lộ nỗi đau của chính mình trước cảnh đời hiện tại. Chính từ những nhận thức đó nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận sâu sắc về sự vô nghĩa, “cái u buồn”, “u tối”, “cái sầu vô hạn” giữa cuộc đời hiện tại và ông đã thốt lên:
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
(Xuân)
Có lẽ trong sự sâu thẳm ở cõi lòng Chế Lan Viên, hình ảnh của “những tháp gầy mòn vì mong đợi”, “những đền xưa đổ nát dưới Thời gian”, “những tượng Chàm lở lói rỉ rên than”…, không chỉ là hình ảnh của một nước Chàm đã mất, mà còn là sự dự cảm về số phận của dân tộc Việt trong cảnh nô lệ lầm than. Cuộc sống hiện tại được Chế Lan Viên cảm nhận với niềm uất hận, đau thương, nên dẫu có “xuân về trong nắng sớm” nhưng trong lòng ông vẫn “đông lạnh giá băng thôi”.
Chế Lan Viên phủ nhận thực tại xã hội đương thời và thất vọng, chán nản trước “những sắc màu, hình ảnh của trần gian” để hướng đến “một tinh cầu giá lạnh”, “một vì sao trơ trọi cuối trời xa”… Ông đã đi tìm mình, tìm Cõi Ta trong sự cô đơn và bơ vơ giữa cái mênh mông xa vắng của cuộc đời để rồi xót xa, buồi tủi nhận ra mình chỉ là “một cánh chim thu lạc cuối ngàn”, ông thốt lên:
Đường về thu trước xa lắm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi!
Tóm lại, trước thực tại của xã hội đó, nhà thơ Chế Lan Viên đã tìm được  cách nói độc đáo để thể hiện một cách thấm thía, sâu sắc những nỗi đau đời của ông. Có thể nói, Chế Lan Viên “tìm về quá khứ của một dân tộc khác là một cách nói, mà cũng là một cách tránh nói về hiện thực mất nước của dân tộc mình” (Vũ Tuấn Anh).
2.3 – Thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng tháng Tám.
2.3.1 - Thơ Chế Lan Viên trong thời kì kháng chiến chống Pháp
Cách mạng tháng Tám thành công, lịch sử  dân tộc đã sang trang. Cùng với những thay đổi lớn lao và mạnh mẽ của đời sống dân tộc, cuộc đời và thơ Chế Lan Viên đã thoát khỏi “thung lũng đau thương” và sự cô đơn, bế tắc để “tìm ra ánh sáng”, “hòa hợp với người”.
Chế Lan Viên hạnh phúc đón chào cách mạng, nhiệt thành tham gia kháng chiến, nhưng con người nghệ sĩ trong ông không ít những nỗi băn khoăn, trăn trở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cách mạng, để rồi ngày một nhận thức thấm thía hơn về ý nghĩa thiêng liêng của nghệ thuật khi gắn liền với cuộc sống cách mạng của dân tộc. 
Chế Lan Viên sống gắn bó với đời sống kháng chiến, hiểu hơn về Tổ quốc và nhân dân. Trong thời gian kháng chiến, sự sáng tạo thơ của Chế Lan Viên chỉ dừng lại ở tập thơ Gửi các anh gồm 14 bài. Những tháng năm đó, con người nghệ sĩ ở Chế Lan Viên chủ yếu nghiền ngẫm, tìm tòi về phương thức thể thiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc đời mới. Ông đã trải qua những gian truân vất vả và cảm nhận được không khí hào hùng, sôi động của dân tộc trong kháng chiến. Ông xúc động mãnh liệt trước bao nhiêu tấm gương hi sinh anh dũng của những con người bình thường giản dị để làm nên chiến thắng.
Ở tập thơ Gửi các anh, bỏ đi phần gò ép, chập chững buổi đầu trên con đường thơ cách mạng, chúng ta cũng dễ nhận ra sự xúc động của Chế Lan Viên khi viết về người mẹ trong vùng giặc chiếm với tình cảm chân thành. Đó là lòng yêu thương mẹ của đứa con “nghĩ đến mẹ nhiều nước mắt rưng rưng”. Nghĩ về mẹ, nhà thơ đã cảm nhận tình thương của mẹ “là gió dịu đưa hương”, và “mẹ thương con như sữa nồng, như nước mắt”… Chế Lan Viên còn ghi lại những niềm vui bình dị của đời sống kháng chiến ở  Một bữa cơm thường trong bản nhỏ.  Nhà thơ xúc động, viết về sự ngã xuống của các anh bộ đội ở nơi biên giới Việt - Lào, bên bờ suối Vạn Mai, hay “dưới một gốc cây sung chín đỏ mùa hè”. Hình ảnh của những người dân công “gánh bom gập người, đường dài đứt hơi” mà vẫn luôn yêu đời cũng đã đi vào thơ Chế Lan Viên trong niềm tự hào trân trọng. Ông xót xa đau đớn trước cảnh quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh, “máu đã hòa nước mắt”, “ngút trời đồng bốc lửa”, và “đồi sim lầy máu tươi”. Chế Lan Viên những mong mọi người hãy luôn  Nhớ lấy để trả thù cho quê hương, Tổ quốc.
Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Chế Lan Viên đã đưa thơ ông thoát khỏi dĩ vãng buồn thương để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu. Cuộc sống cách mạng và kháng chiến đã tạo điều kiện thuận lợi, chắp cánh cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật và Bay theo đường dân tộc đang bay.
2.3.2 - Thơ Chế Lan Viên trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Tổ quốc và dân tộc kiêu hãnh tiến bước trên một chặng đường lịch sử mới. Chế Lan Viên hòa mình với cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong niềm vui và hạnh phúc. Trong hoàn cảnh cuộc đời mới, hơn lúc nào hết, Chế Lan Viên càng nhận rõ hơn ý nghĩa lớn lao mà ông đã có được ở những tháng năm ông sống gắn bó với cuộc sống kháng chiến của dân tộc. Ông đã khẳng định:
Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau vẫn đủ sức soi đường.
(Tiếng hát con tàu)
Nỗi đau về cuộc sống quá khứ đã qua và niềm vui giữa cuộc sống hiện tại ngày một dâng đầy, tâm hồn thơ của Chế Lan Viên giờ  đây như ngập tràn niềm vui trước cuộc đời rực rỡ phù sa. Nhà thơ quan niệm “lấy cái vui của  đời  đánh  bạt mọi thương đau”. Càng gắn bó với cuộc đời, nhà thơ càng thấm thía hơn bao niềm hạnh phúc đang đến với mình. Nhà thơ đã cảm nhận “hạnh phúc như đào ngon chín tới”, “hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên” và “mỗi bước đời ta ghép một vần thương”. Niềm vui càng trở nên rạo rực và càng nhân lên khi Chế Lan Viên nhận thức về cuộc sống ngày càng sâu sắc hơn. Vì thế, những vần thơ của nhà thơ viết về cuộc đời mới rất đỗi đằm thắm ngọt ngào. Nhà thơ cảm nhận:
Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ
Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn.
(Tàu đến)
Sống giữa niềm vui của cuộc đời mới, Chế Lan Viên đã có quan niệm mới mẻ về quê hương. Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau, cắt rốn, mà quê hương còn là nơi ta gắn bó và biết sống hết mình vì nó. Trong bài thơ Tiếng hát con tàu, nhà thơ viết:
Khi  ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn.
hay là:
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
- Nghĩ về cuộc sống hiện tại trong sự  so sánh với quá khứ đau thương của dân tộc, Chế Lan Viên càng tự hào khi hiểu rằng cuộc đời ngày thêm rực rỡ phù sa, ngày một thêm ý nghĩa, và ông thốt lên trong niềm hạnh phúc:
Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả 
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn
Và:
Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được
sống phút bây giờ.
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)
Chế Lan Viên đã đi “từ chân trời của một người, đến chân trời của mọi người”. Cuộc đời mới là nguồn sức mạnh tinh thần giúp nhà thơ Đi thực tế, gặp lại nhân dân và hiểu “cuộc sống bao la rung cả những lòng đang riêng lẻ”, nhà thơ khát vọng:
Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc
Nơi bốn mùa đã hóa thành thu
Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ
Những rừng rong tóc xõa lược trăng cài
Nơi những đàn mây trắng xóa cá bay đi …
(Cành phong lan bể)
Cuộc sống mới chứa chan Ánh sáng và phù sa đã thực sự giúp Chế Lan Viên “lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng” và “nay trở về ta lấy lại vàng ta”. Khi đã có hướng rồi, nhà thơ không ngần ngại “Đi ra với sông, đi ra với trời, đi ra với đời” để cảm nhận được:
Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ
Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng
Tôi nối với bạn bè như với bể
Cả lòng tôi là một giải sông Hồng.
(Chim lượn trăm vòng)
Càng đến với cuộc sống, những vần thơ của Chế Lan Viên càng chan chứa niềm tin yêu cuộc sống và có quan niệm đúng đắn về con người công dân trong cuộc đời mới. Trước đây nhà thơ trăn trở về cái Ta, Cõi ta, thì giờ đây nhà thơ đã nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trước cuộc đời mới:
Ta là ai?  Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai?  Khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.
(Hai câu hỏi)
Chế Lan Viên có khát vọng làm một cánh chim “lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông” để được “trở lại giữa rừng sâu Việt Bắc”, “đến trước đồi Điện Biên rực lửa”, “đến cả những vùng xưa chẳng đến”, “về giữa miền Nam trời của mẹ”, “ra bể cá nồng hơi gió bể”, “nối với bạn bè như với bể”, được ngắm nhìn “ngàn núi trăm sông diễm lệ” và mở rộng tâm hồn mình đón nhận bao niềm vui và hạnh phúc giữa cuộc đời. Với khát vọng đó, nhà thơ lòng tự dặn lòng:
Ở đâu chưa đi thì lòng sẽ đến
Lúc trở về, lòng ngậm những cành thơ.
(Qua Hạ Long)
Cuộc sống mới được nhà thơ cảm nhận với niềm tin yêu chân thành và đó chính là nguồn thi hứng lớn lao, mạnh mẽ, luôn trỗi dậy trong tâm hồn nhà thơ. Những đổi thay kỳ diệu của cuộc sống đã tạo tâm hồn thơ Chế Lan Viên càng thêm dạt dào cảm xúc. Nhiều bài thơ của Chế Lan Viên trong thời kì này thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc, về vai trò của Đảng và Bác Hồ, tiêu biểu là: Tiếng hát con tàu, Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi, Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Người đi tìm hình của nước 
Được tắm mình giữa đời sống của nhân dân, được ánh sáng của Đảng soi rọi và phù sa của cuộc đời vun đắp, Chế Lan Viên đã vượt khỏi nỗi đau riêng đến với niềm vui chung của dân tộc bằng tấm lòng chân thành và sự tài hoa nghệ thuật để dâng hiến cho đời nhiều vần thơ hay.
2.3.3 - Thơ Chế Lan Viên trong những năm kháng chiến chống Mỹ
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Tổ quốc tươi đẹp và dân tộc anh hùng là cảm hứng chủ đạo của Chế Lan Viên, nhà thơ những muốn:
Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc
Thành một nhành hoa mát mắt cho đời
Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại cao đẹp như những tháng năm kháng chiến chống Mỹ. Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là “những ngày đẹp hơn tất cả”, “ngày vĩ đại”. Trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam càng ngời sáng hơn. Nhà thơ tự hào, kiêu hãnh viết:
Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng
Ta mọc dậy trước mắt nghìn nhân loại
Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng.
(Thời sự hè 72, bình luận)
Hiện thực đời sống thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã tỏa nắng cho thơ Chế Lan Viên để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấp dẫn. Tâm hồn thơ Chế Lan Viên rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổ quốc để nhạy bén thu nhận chất thơ của đời sống và hòa nhịp sống của mình với nhịp sống của dân tộc. Nhà thơ viết về những cuộc tiễn đưa ra trận với kỉ niệm của cái hôn “cân vạn ngày lửa đạn” và “trầm tích trong bể sâu của nhớ”, là “chút thương nhớ giắt bên mình cùng súng đạn”.
Hình ảnh của cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng đi vào thơ Chế Lan Viên ngày càng thêm đậm đà, sâu sắc. Nhà thơ tự hào viết những tên làng, tên núi, tên đường, tên sông gắn liền với những chiến công hiển hách như: Trường Sơn, đường Chín, ngã ba Đồng Lộc, Cồn Cỏ, Quảng Bình, Vĩnh Linh… Nhà thơ cảm nhận cuộc sống hôm nay “mỗi tấc núi sông thành thơ và hóa sử” và “các thế hệ nhìn chỗ ta đứng lúc này như những hải đăng”. Tất cả những điều đó chính  là chất vàng, chất ngọc của cuộc đời đã góp phần tạo cho Chế Lan Viên có được nhiều tứ thơ hay.
Trước hiện thực đời sống đó, nhà thơ nhận thức sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Tổ quốc và sự gắn bó rất đỗi đằm thắm, thiết tha với Tổ quốc “như máu thịt, như mẹ cha ta như vợ như chồng” của con người Việt Nam:
Ta yêu Việt Nam đẹp, 
Việt Nam thơ, 
bát ngát câu Kiều,
bờ tre mái rạ…
Mái đình cong cong như bàn tay em gái vẫy giữa đêm chèo
Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan, cò lả,
Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo…
(Thời sự hè 72, bình luận)
Hình ảnh của những bà mẹ, người chị, người vợ, “những chàng áo vải, những binh nhất, binh nhì mười tám tuổi”… , đã đi vào thơ Chế Lan Viên với vẻ đẹp chân chất, bình dị và thật đáng tự hào. Cũng chính trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng này, nhà thơ cảm nhận trọn vẹn hơn về vai trò to lớn của nhân dân:
Nhân dân không có một thanh gươm vung một cái đến trời mây
Nhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ.
(Thơ bổ sung)
Càng yêu Tổ quốc, càng nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù và những nỗi đau thương dân tộc phải trải qua, những khát khao về cuộc sống yên bình hạnh phúc, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên những “nhành hoa mát mắt cho đời”. Đó là những hình ảnh “bắt lòng ta nhớ mãi” ở các bài thơ: Sông Cầu, Hoa ngày thường, Đi trong chùa Hương, Mây của em, Lau mùa thu, Kỷ niệm có gì… Cuộc sống không chỉ đòi hỏi Chế Lan Viên suy ngẫm, triết lý, mà còn giúp cho nhà thơ có được sự cảm xúc sâu lắng trước vẻ đẹp giản dị của đời sống hàng ngày qua những vần thơ viết về các loài hoa, về tình yêu đằm thắm thiết tha và sự ngọt ngào của cuộc sống hạnh phúc gia đình qua các bài: Hoa thảo hoa vàng, Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể, Chia, Cảm ơn, Con đi sơ tán, Đặt tên con…  
Với tình cảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiên thực đời sống chiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc động đậm đà chất trữ tình, hùng ca về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
2.3.4 - Thơ Chế Lan Viên từ sau 1975 đến khi qua đời
Những năm cuối đời, khi hoàn cảnh sống gặp không ít những khó khăn, nhưng Chế Lan Viên vẫn không ngừng sáng tạo. Mạch thơ về cuộc sống chống Mỹ vẫn tiếp tục vận động và phát triển với tầm nhận thức cao hơn, tầm nhìn xa rộng hơn. Mặt khác, cũng trong thời gian này, Chế Lan Viên trăn trở và suy ngẫm nhiều về cuộc sống đời thường, về bản thân để khẳng định chiều sâu thẳm trong tâm hồn mình, “tự tìm mình”.
Đặc biệt, nhiều bài thơ trong Di cảo, nhất là ở những bài thơ viết vào khoảng thời gian 1987, 1988, người đọc nhận thấy sự giãi bày, tự vấn chân tình của Chế Lan Viên. Tuy chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn cuối đời nhưng đó là sự tiếp tục của một nhà thơ luôn ý thức được vai trò quan trọng của nghệ thuật đối với cuộc sống và đó là quy luật muôn đời mà cuộc đời của Chế Lan Viên cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Cũng vì lẽ đó, đã bao nhiêu năm anh hát “giọng cao”, giờ đây “anh hát giọng trầm”. Đây không phải là sự đổi giọng đến bất ngờ như cảm nghĩ của một số người khi đến với Di cảo thơ. Sự tự nhận thức, nghiền ngẫm về bản thân đã giúp cho Chế Lan Viên không rơi vào sự “ảo tưởng”, ông quan niệm mỗi câu thơ đều phải vượt lên mình và ông sống với sức mạnh của tấm lòng nhân hậu, sự yêu đời, vì thế, tâm hồn nhà thơ càng trở nên thanh cao hơn. trong cuộc sống hiện tại. Thật xúc động khi ông cảm nhận:
Sau anh còn mênh mông nhân loại
Đừng nghĩ mình là người đi cuối
Phải để lại dấu chân, nhành cây, viên sỏi…
Cho người theo sau không cô đơn
(Sau anh)
Chế Lan Viên nghĩ  nhiều về cái chết để “đừng tuyệt vọng”, để sống những ngày còn lại có ích cho mai sau. Đó cũng là sự biểu hiện tâm thế và lẽ sống cao quý của nhà thơ khi viết Từ thế chi ca để lại cho người đời bằng những lời thơ tâm huyết giàu chất triết lý:
Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ
Trong hạt sương, trong đá ...
Trong những gì không phải anh.
Anh tồn tại mãi
Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi,
Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên.                     
Có thể nói, trên từng chặng đường sáng tác, ngay cả khi nằm trên giường bệnh Chế Lan Viên vẫn luôn sống hết mình cho đời và cho thơ. Ông tìm tòi, sáng tạo với khát vọng để lại cho người đọc những vần thơ mới mẻ, đặc sắc, và ông đã làm được điều đó.
3 – Chế Lan Viên với văn xuôi  
Phần này sinh viên đọc tài liệu và lưu ý các điểm sau:
- Chế Lan Viên viết tùy bút và bút ký ở những thời điểm quan trọng trong đời sống của dân tộc.
- Tùy bút, bút ký của Chế Lan Viên thường đào sâu, mở rộng những vấn đề trong đời sống. Các vấn đề được đặt trong mối liên hệ nhiều mặt để từ đó phát hiện được nhiều điều mới mẻ của nó.
- Tùy bút của Chế Lan Viên rất giàu chất thơ.
- Chế Lan Viên phê bình thơ rất tinh tế và sắc bén. Cách phê bình thơ của Chế Lan Viên khác với Hoài Thanh, Xuân Diệu. Ông đi sâu vào tính dân tộc, tính thời đại của thơ, cách sáng tạo thơ, vị trí của thơ trong đời sống, ý nghĩa lớn lao của việc tìm tòi đổi mới trong sáng tạo thơ…
4 – Phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên:  

4.1 - Giàu chất trí tuệ, có sự thống giữa trí tuệ và cảm xúc
Trong suốt quá trình sáng tạo thơ, Chế Lan Viên luôn có khát vọng “phát giác sự việc ở cái bề chưa thấy”, khám phá sự vật, hiện tượng “ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa” để từ đó đem lại nhiều vần thơ mới lạ, đặc sắc, gây cho người đọc sự bất ngờ, thú vị. 
Với trí tưởng tượng phong phú, sức liên tưởng kỳ diệu, cách nhìn sự vật trong sự đối lập và luôn tranh luận, đối thoại, Chế Lan Viên chiếm lĩnh được thực tại cuộc sống để từ đó có cách suy ngẫm, triết lý sâu sắc, cũng như sự khái quát chính xác về những vấn đề trong đời sống. 
Thơ Chế Lan Viên có cảm xúc đằm thắm thiết tha. Biết bao vần thơ của ông trở thành “nhành hoa mát mắt cho đời”. Thơ ông có khi mềm mại như lời ru của mẹ, như câu hò, điệu hát có sức ngân xa, thấm sâu trong tình cảm người đọc; có khi mang nặng nghĩa tình và những nỗi trăn trở, thao thức; có khi chất chứa sự suy tưởng triết lý về một vấn đề nào đấy trong cuộc sống… Có thể nói, cái tôi trữ tình rất chủ động và năng động hòa nhập với mọi đối tượng để cảm xúc, suy luận, tranh luận, đối thoại. Vì lẽ đó, đến với thơ Chế Lan Viên, người đọc nhận thấy sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ sắc sảo và cảm xúc nồng cháy mãnh liệt. Sức sống và sức hấp dẫn của thơ Chế Lan Viên phần nào được bắt nguồn từ đó.
Tuy nhiên, trong thơ Chế Lan Viên có khi cảm xúc và trí tuệ thiếu kết hợp hài hòa, khi đó thơ ông rơi vào sự cầu kỳ, khó hiểu, xa lạ với tình cảm, nhận thức của người đọc.
4.2 - Thể hiện sự vật, hiện tượng ở các mặt đối lập
Chế Lan Viên luôn nhìn nhận sự vật từ nhiều mối liên hệ qua lại lẫn nhau, trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng, để từ đó nắm bắt và khái quát được bản chất của nó. Đặc biệt, ông có ý thức tìm kiếm, khám phá và làm nổi bật sự tương quan đối lập, cũng như những mối liên hệ giữa các mặt đối lập của hiện thực. Nguyễn Văn Hạnh khẳng định: “Hình thức cơ bản phổ biến trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập”. Nguyễn Xuân Nam quan niệm :“Nét nổi bật của tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập. Còn Nguyễn Văn Long cho rằng: “Tư duy thơ của Chế Lan Viên thường xem xét sự vật trong những mối quan hệ đối lập”.
Có thể nói, sự đối lập của sự vật và hiện tượng được Chế Lan Viên cảm nhận từ cái nhìn biện chứng. Chính tình yêu, sự gắn bó với cuộc sống, sự am hiểu sâu rộng nhiều phương diện của đời sống tự nhiên và xã hội, cũng như sự tài hoa thông minh và sắc sảo đã giúp Chế Lan Viên có được cách nhìn, cách nghĩ, cách tìm tòi, khai thác những vấn đề của cuộc sống trong sự đối lập.
Ngay từ thuở viết Điêu tàn, nhà thơ đã thể hiện được cảnh “thái bình trong Chiêm Quốc” với cảnh đền xưa đổ nát”, “tháp gầy mòn mong đợi”, “tượng chàm lở lói rỉ rên than”… , để qua đó gửi gắm nỗi đau về sự hủy diệt, nỗi buồn thương cho số phận của dân tộc trước cảnh đời hiện tại.
Trong cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chế Lan Viên thường nói đến sự đối lập: giữa cái “nhỏ bé”, nhỏ hẹp”, “riêng tây” với cái rộng lớn “mênh mông”; giữa bóng đêm tăm tối, “đêm tàn” với “bình minh”, “chói lòa ánh sáng”, “chói lòa hào quang” hôm nay; giữa “lạnh lẽo” với “ấm áp”, giữa cái đói nghèo khổ đau với hạnh phúc; giữa “giọt lệ” với “lời ca”, “tiếng hát”, “nụ cười”, “nhành vui”; giữa “cay đắng”, “chua cay”, tủi cực với “ngọt ngào”, “đời hồng”; giữa cái “đá sỏi”, “cây cằn”, “ruộng đói mùa” với “phù sa”, “hoa trái mỡ màu”… Thông qua đó, nhà thơ nhằm ngợi ca, khẳng định những đổi thay lớn lao và ý nghĩa của dân tộc trong cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội .
Những năm chống Mỹ cứu nước, Chế Lan Viên cảm nhận những vấn đề của cuộc sống trong sự đối lập: giữa cảnh “hòa bình” với “chiến tranh”; giữa “đoàn viên”, “hội ngộ” với “chia ly”, “từ tạ”; giữa “bể căm thù” với “bể yêu thương”, giữa “cánh đồng vàng óng ả”, “cửa sổ sơn hồng” với “pháp trường” và “những bãi tha ma”; giữa “văn minh” với “dã man”; giữa “tồn tại” với “hủy diệt”; giữa sống với chết; giữa cái bình thường với phi thường; giữa “trong” với “đục”; giữa “nhớ” với “quên”… Bằng cách cảm nhận đó, nhà thơ lý giải và thể hiện được những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh, cũng như vạch trần bản chất hung bạo và xảo quyệt của kẻ thù xâm lược.
Vào những năm cuối đời, khi thời gian còn lại của đời mình cạn dần, khi căn bệnh hiểm nghèo đang tàn phá sức lực, và trong cảnh Viên Tĩnh Viên, Chế Lan Viên vẫn luôn trăn trở, thao thức về những gì đang diễn ra trong đời sống. Ông nhìn sự vật trong sự đối lập giữa “phía bên này” với “phía bên kia”; giữa quá khứ với hiện tại; giữa hiện tại với “mai sau”; giữa “héo tàn” với “sinh sôi”; giữa cảnh “hoa trái nghèo xuân sắc bỏ quên” với cuộc sống của “quyền lực”, “danh vọng”; giữa “mặt trời chói lòa” với “ngọn đèn con con”,…  Từ cách nhìn, cách khám phá đó nhà thơ khẳng định lẽ sống cao đẹp giữa cuộc đời và biết sống hết mình cho cuộc sống.    
Qua tìm hiểu thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy, nhà thơ thường chú trọng khai thác, suy ngẫm về các quan hệ đối lập giữa: quá khứ  - hiện tại, hiện tại - tương lai, quá khứ - tương lai, cái riêng - cái chung, nhỏ bé - vĩ đại, cái bi - cái hùng, cái động - cái tĩnh, thấp hèn - cao cả, yêu thương - căm thù, niềm vui - nỗi đau, hạnh phúc - bất hạnh, ngọt ngào - cay đắng,  sống -  chết, còn - mất, ngày - đêm, ánh sáng - bóng tối, trần gian - địa ngục, thần - quỷ, ta - địch, dân tộc - nhân loại… Từ những mối quan hệ  đối lập đó, nhà thơ đã giúp cho người đọc có điều kiện thuận lợi để nhận thức rõ hơn về cuộc sống “ở bề chưa thấy, ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa”.
Có thể nói, với cách tư duy và thể hiện trên, Chế Lan Viên đã luôn đem lại cho thơ một cách nói, cách thể hiện mới lạ. Những ý tưởng và tình cảm trong thơ Chế Lan Viên nhờ đó trở nên gợi cảm hơn và tạo được dấu ấn lâu bền hơn trong tâm hồn người đọc.
4.3 - Cảm nhận suy nghĩ những vấn đề của cuộc sống bằng thế giới hình ảnh phong phú, đa dạng
Sáng tạo hình ảnh là một trong những biện pháp hàng đầu mà Chế Lan Viên đã sử dụng để đem lại hiệu quả cao cho việc “tăng năng suất”cho thơ, nhằm góp phần tạo thêm sức hấp dẫn, bay bỗng cho ý tưởng và tình cảm trong thơ ông.
Thơ Chế Lan Viên có đủ loại hình ảnh, nhưng nổi bật nhất và tác động mãnh liệt nhất đối với người đọc là hình ảnh vừa thực vừa ảo, hình ảnh tượng trưng, hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh liên kết thành một hệ thống …
Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã sớm bộc lộ tài năng sáng tạo hình ảnh thơ.  Ông  đã đưa đến cho người đọc hình ảnh của một thế giới đầy “sọ dừa, xương máu cùng yêu ma”…, về một hệ thống hình ảnh với nhiều màu sắc độc đáo, thấm đẫm nỗi đau đời.
Sau Cách mạng tháng Tám, hình ảnh thơ Chế Lan Viên mang vẻ đẹp của sự chân chất bình dị, đậm đà tình yêu quê hương, đất nước. Thông qua hệ thống hình ảnh, Chế Lan Viên đã giúp cho người đọc cảm nhận được hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ nhiều gian khổ hi sinh mà rất đỗi hào hùng của dân tộc, cũng như nhận thức sâu sắc hơn và có niềm tin yêu mãnh liệt hơn về đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sự nhận thức về cuộc đời càng sâu sắc thì hình ảnh thơ Chế Lan Viên càng đặc sắc và có thêm sự mới mẻ. Vẻ đẹp của thế giới hình ảnh thơ đã góp phần giúp cho người đọc cảm nhận trọn vẹn hơn hương sắc của đời. Nhiều phương diện đời sống được thể hiện qua hình ảnh thơ đã trở nên sinh động hơn.  
5 – Kết luận chung:  
Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ  đối với cuộc sống.
Thành tựu nghệ thuật Chế Lan Viên đã đạt được trong quá trình sáng tạo chính là những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam  nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung.
Tài liệu tham khảo chính cần đọc:
Các tập thơ, phê bình tiểu luận của Chế Lan Viên và các tài liệu sau:
1 - Vũ Tuấn Anh (tuyển chọn và giới thiệu) - Chế Lan Viên về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000.
2 - Nguyễn Lâm Điền - Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
3 - Hà Minh Đức - Chế Lan Viên trong sách Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975), tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1979.
4 - Nguyễn Văn Long (tuyển chọn và biên soạn), Nhà văn trong nhà trường, Chế Lan Viên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001.
5 - Nguyễn Xuân Nam (giới thiệu), Vũ Thị Thường (tuyển chọn) - Tuyển tập Chế Lan Viên, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1985.
6 - Nguyễn Xuân Nam (tuyển chọn và giới thiệu), Tuyển tập Chế Lan Viên, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1990.
7 - Nguyễn Bá Thành - Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.
8 - Lê Quang Trang - La Yên (biên soạn, tuyển chọn) - Chế Lan Viên giữa chúng ta, NXB Giáo dục, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, 2000.
TÔ HOÀI
1 – Vài nét về tiểu sử và con người
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 7/9/1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy - Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công. Ông còn có nhiều bút danh khác như: Mai Trung, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích,…
Quê quán: xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây.
Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như: dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, … Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội.
Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu quốc”. Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…). Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng.
Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như: Ủy viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư ký, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi.
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến nay, Tô Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm năm mươi đầu sách) ở nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, vào năm 1996 ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
* Tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám:
Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Giăng thề (1943), Nhà nghèo (1944), Xóm Giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944).
* Tác phẩm chính của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám:
- Truyện ngắn: Núi cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây Bắc (1953, Giải nhất tiểu thuyết năm 1956 của Hội Văn nghệ Việt Nam), Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành (1972).
- Tiểu thuyết: Mười năm (1957), Miền Tây (1967, Giải thưởng Bông sen vàng năm 1970 của Hội Nhà văn Á Phi), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Tự truyện (1978), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Quê nhà (1981, Giải A năm 1980 của giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội), Nhớ Mai Châu (1988).
- Ký: Đại đội Thắng Bình (1950), Thành phố Lênin (1961), Tôi thăm Cămphuchia (1964), Nhật ký vùng cao (1969), Trái đất tên người (1978), Hoa hồng vàng song cửa (1981). Cát bụi chân ai (1992).
- Truyện thiếu nhi: Tuyển tập Văn học thiếu nhi, tập I & II (1999)
- Tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997).
Tô Hoài có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, đặc biệt Dế mèn phiêu lưu ký được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất.
Nhìn chung, Tô Hoài là một nhà văn sớm bước vào đời, vào nghề văn và cũng sớm tham gia hoạt động cách mạng. Ông viết ở nhiều thể loại và thể loại nào ông cũng đạt được những thành công đặc sắc. Đặc biệt là ở những tác phẩm viết về loài vật và miền núi Tây Bắc. Tô Hoài luôn có những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật, đó là một trong những yếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa lâu bền ở tác phẩm của ông đối với đời sống tinh thần của người đọc nhiều thế hệ.
2 – Những chặng đường sáng tác:  
2.1 – Trước Cách mạng tháng Tám:
Tô Hoài đến với nghề văn ở tuổi mười bảy, mười tám. Những sáng tác đầu tay của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy. Tuy xuất hiện ở giai đoạn cuối của thời kì 1930 - 1945 nhưng Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này bằng một loạt tác phẩm độc đáo, đặc sắc như : Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Trăng thề (1943) Nhà nghèo (1944). Từ các tác phẩm này, người đọc dễ nhận thấy sức sung mãn dồi dào trong lao động nghệ thuật của ông. Sau này, Tô Hoài đã bộc bạch chân thành qua Tự truyện về việc ông đến với nghề văn, ông viết : “Tôi vào nghề văn có trong ngoài ba năm trước Cách mạng tháng Tám, 1945 mà tôi viết như chạy thi được năm truyện dài, truyện vừa, ba tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi như Dế mèn thì mấy chục truyện, cái in, cái chưa in, vương vãi lung tung tôi không nhớ hết. Cũng chẳng có gì lạ. Viết để kiếm miếng sống lúc ấy tất phải cuốc khỏe như vậy đấy”.
Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thể phân thành hai loại chính là: truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo.
Qua những truyện về loài vật tiêu biểu như: O chuột, Gã chuột bạch, Tuổi trẻ, Đôi ghi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực..., người đọc nhận thấy, nhà văn thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình yên trong xã hội, một cuộc sống tốt đẹp mang tính không tưởng.
Trước hết, với Dế Mèn phiêu lưu ký, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài được bộc lộ ở nhiều phương diện. Bằng cách quan sát, cái nhìn tinh tế về loài vật, kết hợp với những nhận xét thông minh, hóm hỉnh, nhà văn đã lôi cuốn các em vào thế giới loài vật bé nhỏ gần gũi, hấp dẫn và kỳ thú qua hình ảnh của: Dế Mèn, Dế Trũi như anh em kết nghĩa vườn đào, sẵn sàng quên mình vì bạn, vì nghĩa lớn. Xiến Tóc trầm lặng, vừa yêu đời vừa chán đời. Chị Cào Cào ồn ào và duyên dáng. Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo mạn. Cóc huênh hoang, dở hơi. Ếch thông thái giả. Anh chàng Kỉm Kìm Kim hèn đớn. Cậu công tử bột Chim Chả Non có mẽ mà đầu óc lại rỗng tuếch,... Từ đời sống và tích cách của từng con vật, nhà văn nhằm bày tỏ quan niệm của mình về nhân sinh, về khát vọng chính đáng của người lao động, về một cuộc sống hòa bình, yên vui, về tình thương, lòng chân thành và sự đoàn kết. Bởi thế câu chuyện về chú Dế Mèn không chỉ có ý nghĩa dành cho trẻ em, mà còn cả cho người lớn và cho cả xã hội. Nó thực sự mang giá trị lâu bền trong đời sống tinh thần của con người, cũng vì thế, dù ở đâu và ở thời kỳ nào, người đọc vẫn tìm thấy bao điều thú vị, bao bài học ý nghĩa từ tác phẩm này. Sau này, Tô Hoài tâm sự: “Cách hiểu thế giới đại đồng của Dế Mèn, Dế Trũi, Xiến Tóc… là cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của tôi với vẻ đẹp và cả cái trống rỗng thiếu sót trong suy nghĩ  của tôi”.
Viết về loài vật, Tô Hoài đã dành khá nhiều trang để thể hiện chân thật, sinh động họ nhà chuột. Các chủng loại chuột như: chuột nhắt, chuột cống, chuột cộc, chuột bạch, chuột xù..., xuất hiện trong các tác phẩm của ông với những đặc điểm, thói quen riêng và cả những mối quan hệ của chúng. Trong số những truyện viết về chuột thì truyện Gã chuột bạch đã để lại cho người đọc bao điều suy nghĩ. Cuộc sống của vợ chồng chuột bạch là “vẩn vơ tìm những hạt gạo tẻ mà người ta rắc vào một cái đĩa ở đáy lồng”, là “đánh vòng”, dựa vào lồng “ngủ đứng”. Ngay cả khi có dịp ra khỏi lồng chúng vẫn không lấy gì làm thích thú mà “ngơ ngác nhìn quanh quẩn. Như là họ hít phải cái không khí lạ. Như là họ hít phải cái không khí lạ. Như là họ chẳng quen bò giữa nơi khoáng đãng. Và họ lại nối đuôi nhau , tha thẩn, từ từ bò vào, cũng như lúc bò ra”. Có thể nói, qua cảnh sống của vợ chồng chuột bạch, Tô Hoài đã phê phán cách sống nhàm chán, buồn tẻ và vô vị, cũng như tâm lí chấp nhận, lệ thuộc của một lớp người trong xã hội, đồng thời muốn thức tỉnh những ai đang lâm vào cảnh sống đó.
Nhiều loài vật khác qua cách miêu tả của Tô Hoài tạo cho người đọc dấu ấn lâu bền. Đó là gã mèo mướp “lừ đừ nghiêm nghị tựa một thầy dòng, trên mình có khoác bộ áo thâm. Hắn có cái cốt cách quý phái và trưởng giả. Lúc nào cũng nghĩ ngợi như sắp mưu toan một việc gì ghê gớm lắm”. Đó là cậu gà trống gi “bé nhỏ sống côi cút một thân, một mình” thuở nhỏ, nhưng khi lớn lại có “bộ mặt khinh khỉnh ta đây” và cũng rất đa tình, “có tật mê gái, như cái tính chung của loài gà - cả của loài người - khi mới lớn lên”, bỏ nhà ra đi vì ái tình, hay dễ quên đi ái tình cũ để “lần mò đi tìm một vài ái tình khác”. Với chàng gà chọi “nhất sinh chỉ có một nghề đi đánh lẫn nhau cho người ta xem”, “lúc nào cũng chỉ ngứa ngáy chân tay”, quả không đủ chữ nghĩa để “tả cái oai lẫm liệt của chàng”. Chàng ta không thiết gì đến con cái, trong đầu “chỉ đen những ý tình ma chuột”, hay “đi ve gái”, thế mà khi Một cuộc bể dâu xuất hiện, họ nhà gà chết dần, chết mòn, chàng gà chọi dù anh hùng, lẫm liệt nhưng rồi cũng “tắc thở” để lại “một mình chị mái già, ra lại vào, ngẩn ngơ”. Với vợ chồng Đôi gi đá “tựa vợ chồng quê mới rủ nhau lên tỉnh. Họ lờ khờ, ngẩn ngơ, xấu xí - nghĩa là đặc nhà quê”. Chúng cần mẫn xây tổ ấm, sống hạnh phúc, “bình lặng, chịu khó, ít ồn ã”, chờ ngày đẻ trứng, chờ ngày trứng nở, chờ những đứa con lớn lên từng ngày... Thế rồi, Tết đến, tiếng pháo nổ đón xuân về vô tình đã làm tan tác gia đình chúng. Nghe tiếng pháo “kinh khủng nổ vang động trong cây, cả nhà cuống cuồng bay đi”. Cuộc sống của đôi vợ chồng chim gi đá rồi sẽ như thế nào trong cảnh tan tác đó đã khiến cho người đọc phải ngậm ngùi, xót xa. Còn Mụ ngan với “cái tính ngu tối, chậm chạp” đến mức những đứa con của mình gặp nạn, hay bị chết vẫn vô tình, thản nhiên. Kể cả khi bị đá, bị đuổi đánh,“bị bỏ tù” thì “chúng vẫn không hiểu chi”. Hơn thế nữa khi “chồng mụ” bị làm thịt, mụ vẫn “thản nhiên”, mụ ngan chỉ nhớ rõ “khi có hạt ngô đo đỏ, hạt thóc vàng vàng, tàu lá xanh xanh thì xô đến mà khởi sự ăn”.
Cùng với hình ảnh của những loài vật trên là của chú chó Đực ham vui, “la cà” với “hàng tá nhân tình” nên bị người ta thiến. Đực “buồn thỉu, buồn thiu, đi lừ khừ quên cả ăn uống”. Tuổi xuân của Đực qua nhanh, nó trở nên “lạnh lùng với cuộc đời và lạnh lùng với tháng ngày”, nó “lặng lẽ sống cái cuộc đời tàn cục buồn thiu”, “héo hắt dần”. Tác phẩm kết thúc với sự xuất hiện của một con chó khác cũng “khỏe và béo lẳn” nhưng rồi thân phận của nó chắc gì đã khác với con Đực.
Tóm lại, thế giới loài vật trong tác phẩm của Tô Hoài thật độc đáo. Thế giới ấy gợi lên ở người đọc sự liên tưởng về nhiều vấn đề trong đời sống xã hội. Có lẽ, từ trước cho đến nay, trong văn học Việt Nam chưa có nhà văn nào viết về loài vật nhiều và đặc sắc như Tô Hoài. 
Bên cạnh truyện viết về loài vật, mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo cũng được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động. Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những người thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần qua từng trang sách với tất cả niềm cảm thông chân thành của nhà văn. Đó là thân phận của bà lão Vối trong truyện Mẹ già buộc lòng nhẫn nhục sống nương nhờ vào con. Chỉ vì một con lợn sổng chuồng mà bà bị chính con gái mình chửi rủa chì chiết đủ điều. Với cách nghĩ của con gái bà thì bà chẳng khác gì người đi ở mướn, chị ta đã quát: “Thế tôi nuôi bà để làm gì mà bà lại không trông được con lợn?”, thậm chí, không cho bà ngủ ở nhà trên mà đuổi bà xuống bếp nằm ngủ ở đống rơm. Sáng ngày hôm sau cả nhà ăn uống nhưng hình như họ đã quên là có bà hiện diện trong cuộc sống của gia đình mình. Đó là số phận của chị Hối trong truyện Ông cúm bà co, bị ốm nhưng không có thuốc men chữa chạy, rồi bệnh nặng dần vì kém hiểu biết, mê tín, kết cục phải “ra đồng” bỏ lại mấy đứa con thơ dại. Đó còn là tấn bi kịch của anh Gà Gáy trong truyện ngắn cùng tên. Từ đâu lưu lạc tới không ai rõ, chịu khó làm ăn cho đến khi có một “gia đình nho nhỏ, đề huề sống yên vui”... Thế nhưng, vì cơn ghen vô cớ của anh khiến người vợ bỏ đi biệt tích. Đứa con, niềm an ủi duy nhất đối với anh ngã bệnh, hết tiền chạy chữa, trong lúc khốn cùng đành liều đi ăn trộm để rồi bị bắt, cùng lúc đó đứa con cũng chết.
Từ đó “Gà Gáy sống còm cõi một mình”. Cay đắng hơn là số phận của bé Gái trong cảnh Nhà nghèo. Nó sinh ra trong gia đình nghèo khổ, túng thiếu và nhiều lần chứng kiến cảnh cha mẹ cãi nhau. Nó bị rắn cắn chết trong khi cùng với cha mẹ cố tìm miếng ăn cho gia đình, “người nó có bao nhiêu xương sườn, giơ hết ra cả”. Cảnh đó thật xót xa, thê thảm.      
Còn biết bao những cảnh đời khác như cảnh Hương Cay trốn nợ trong Khách nợ, cảnh xung đột của gia đình anh Hối trong Buổi chiều ở trong nhà, cảnh tình duyên của cô Lụa trong Lụa,... Tất cả cảnh đời của họ đều gợi cho người đọc bao điều suy ngẫm và nỗi trăn trở về hiện thực cuộc sống nhiều bất hạnh đó. 
Đáng chú ý ở thời kỳ này, Tô Hoài cũng có những khát vọng thoát khỏi bế tắc, thoát khỏi cuộc sống nhàm chán buồn tẻ và vô vị, hay ước mơ của một chàng trai về “một trận mưa rào cho lòng người hả hê và cho trời quang đãng” và hãy cất bước vào một buổi mai, nhắm về phía “chân trời mới đỏ thắm màu hi vọng”, mặc dù vì nghèo nên anh không lấy được người mình yêu. “Sự nghiệp anh không có”, “nhà anh thanh bạch quá”, “bấy nay anh chỉ có một tấm lòng”(Xóm Giếng ngày xưa ).
Tóm lại, trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã có khi bế tắc trước cuộc đời nhưng cuối cùng nhà văn vẫn đứng vững ở vị trí của một nhà văn hiện thực. Tâm hồn của Tô Hoài bao giờ cũng có được vẻ đẹp trong sáng, đáng trân trọng trong cảnh đời đen tối thời kỳ này. Ở đề tài nào và đối tượng khám phá nào, thế giới nghệ thuật của Tô Hoài trước cách mạng đều thấm đượm tính nhân văn và mang dấu ấn khá sâu đậm về một quãng đời của ông. Ông quan niệm: “Những sáng tác của tôi đều miêu tả tâm trạng tôi, gia đình tôi, làng tôi, mọi cái của mình quanh mình. Những nghèo đói, cùng túng, đau đớn. Phần nào nhẹ nhàng hay xót xa, hay nghịch ngợm và đá chút khinh bạc là phần nào con người và tư tưởng tiểu tư sản của tôi” (Một quãng đường).  
2.2 – Sau Cách mạng tháng Tám:
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác. Tâm trạng trăn trở, phân vân định hướng không dừng lại quá lâu ở Tô Hoài. Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo thành công nhiều tác phẩm có giá trị ở các thể loại loại khác nhau. Trong đó, tiểu thuyết Miền Tây của ông đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á Phi vào năm 1970.
Bước chuyển trong sáng tác của Tô Hoài được thể hiện rõ ở cả chủ đề và đề tài. Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ảnh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó, mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc. Tây Bắc không còn là miền đất xa lạ, nó đã trở thành quê hương thứ hai của Tô Hoài. Ông viết về Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng cả tình yêu đằm thắm thiết tha như chính quê hương mình. Bởi lẽ, với Tô Hoài: “Đất nước và người miền Tây đã để thương, để nhớ cho tôi nhiều quá”, hình ảnh Tây Bắc “lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi”, nó có sức ám ảnh mạnh mẽ khơi dậy nguồn cảm hứng sáng tạo và thúc đẩy nhà văn viết thành công nhiều tác phẩm về miền đất này. Trên cơ sở đó, có thể xem ông là nhà văn của miền núi Tây Bắc, là một trong những người đặt nền móng cho nền văn học viết về đề tài Tây Bắc.
Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu quốc (1948). Ở tác phẩm này ông đã thể hiện được cảnh sống vất vả, thiếu thốn, nhưng giàu nghĩa tình đối với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi. Tuy nhiên, tác phẩm này còn nặng về thể hiện, miêu tả các tài liệu, bề mặt của vấn đề mà ít đi vào khám phá chiều sâu, bản chất của nó để rồi “chết chìm trong tài liệu” như nhà văn đã tâm sự trong Một số kinh nghiệm viết văn của tôi. Vì thế, tác phẩm trên còn thiếu sự sinh động, thiếu sức hấp dẫn đối với người đọc.  
Phải đến Truyện Tây Bắc, Tô Hoài mới có được sự thành công đặc sắc ở mảng đề tài về miền núi Tây Bắc. Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú về Tây Bắc, ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của họ dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thù thực dân phong kiến. Tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ. Hình ảnh người lao động miền núi Tây Bắc nghèo khổ, mà nhất là người phụ nữ trong tập truyện này được Tô Hoài miêu tả với tất cả niềm cảm thông sâu sắc. Cảnh đời của Mị, một cô dâu gạt nợ chết dần, chết mòn trong địa ngục trần gian của nhà thống lí Pá Tra, hay thân phận của cô Aûng, từ cô gái có vẻ đẹp nổi tiếng ở Mường Cơi bị xem như món đồ chơi qua tay nhiều quan châu, quan lang, chúa đất cho đến khi tàn tạ trở thành bà lão Ảng ăn mày..., đã để lại cho người đọc biết bao điều suy nghĩ về cuộc sống đắng cay, tủi nhục của người phụ nữ Tây Bắc dưới sự đè nén áp bức nặng nề của thực dân và phong kiến ở miền núi. Mặt khác, qua tập truyện trên, Tô Hoài đã khẳng định, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người miền núi Tây Bắc, cũng như lí giải thành công về con đường tất yếu họ phải tìm đến để thoát khỏi cuộc sống bị đọa đày áp bức đó là con đường cách mạng. 
Có thể nói, Truyện Tây Bắc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên con đường sáng tạo nghệ thuật, và bộc lộ sự nhận thức đúng đắn của Tô Hoài về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cách mạng.
Tài năng nghệ thuật của Tô Hoài khi viết về miền núi càng về sau càng  được phát huy và khẳng định qua nhiều tác phẩm khác từ sau 1955 như : Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu,... Nhà văn tiếp tục ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của các dân tộc ở miền núi Tây Bắc trong đời sống kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua những hình ảnh thực như : Hoàng Văn Thụ (dân tộc Tày), Kim Đồng (dân tộc Nùng), Giàng A Thào, Vừ A Dính (dân tộc Hmông)... Tất cả họ đều thủy chung, gắn bó son sắt với cách mạng và cuộc đời mới. Nhiều người đã ngã xuống vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho quê hương đất nước. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Trong số tác phẩm viết về miền núi Tây Bắc sau 1955 của Tô Hoài, tiểu thuyết Miền Tây là tác phẩm nổi bật nhất. Miền Tâycó cốt truyện xoay quanh sự đổi đời của gia đình bà Giàng Súa nhờ cách mạng. Cách mạng đã đem lại cho gia đình bà nhiều niềm vui giản dị trong cuộc sống đời thường. Các con bà như Thào Khay, Thào Mị đã trở thành cán bộ gương mẫu góp phần làm nên sự đổi thay trong cuộc sống cho quê hương Tây Bắc. Bên cạnh đó, với Miền Tây, Tô Hoài đã có thêm những nét mới về nghệ thuật trong cách triển khai cốt truyện, dựng cảnh, cách khai thác các chi tiết nghệ thuật, và nhất là việc xây dựng thành công một số nhân vật mang tính điển hình tạo nên ở người đọc dấu ấn sâu bền như : Giàng Súa, Thào Khay, Vừ Sóa Tỏa. Đặc biệt, nhà văn có sự kết hợp hài hòa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn trong quá trình sáng tạo. Chính điều này đã góp phần làm nên vẻ đẹp rất chân thật mà cũng rất giàu chất thơ mộng lãng mạn cho Miền Tây.      
Sống trong cuộc đời mới, nhà văn Tô Hoài cũng “ôn chuyện cũ”, ngòi bút của ông hướng về xã hội trước Cách mạng tháng Tám từ cách nhìn, sự suy ngẫm sâu sắc hơn theo thời gian và những trải nghiệm trong cuộc sống. Ở tiểu thuyết Mười năm, với tầm nhận thức mới và từ chỗ đứng của cuộc sống hiện tại nhiều đổi thay mang ý nghĩa lớn trong đời sống dân tộc, Tô Hoài đã phản ảnh chân thật và sinh động hơn cảnh sống bi thảm, đói nghèo, cùng quẫn ở một vùng quê ven đô, nơi mà nhà văn đã chứng kiến và trải qua cùng với bao số phận khác. Đồng thời, qua Mười năm, nhà văn cũng thể hiện được quá trình giác ngộ cách mạng của quần chúng cũng như sức mạnh của họ trong các phong trào đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến. Đi đầu trong phong trào đấu tranh là lớp thanh niên như Lạp, Trung, Lê, Ba,... Họ tiếp thu ánh sáng lí tưởng mới, và hăng hái nhiệt tình tham gia các hoạt động để đem lại sự đổi thay cho cuộc sống.
Ở Mười năm, còn một số chi tiết có thể gạt bỏ để tác phẩm có thể hoàn thiện hơn, nhưng điều cần nhận thấy, ở tác phẩm này Tô Hoài với tầm nhận thức mới đã phát huy được sự sắc sảo trong cách quan sát và bút pháp thể hiện.
Sau tiểu thuyết Mười năm, Tô Hoài còn viết nhiều tác phẩm khác về ngoại thành Hà Nội như: Quê người, Quê nhà, Những ngõ phố, người đường phố, và gần đây là Chuyện cũ Hà Nội (hai tập). Điều đó cho thấy vốn sống, nguồn tư liệu, cũng như nguồn cảm hứng sáng tác của Tô Hoài về Hà Nội vô cùng phong phú đa dạng. Từ các tác phẩm viết về Hà Nội của ông, người đọc có điều kiện hiểu hơn về phong tục, nếp sinh hoạt, tên gọi phố phường, con người Hà Nội trải dài suốt cả thế kỉ XX trong cuộc sống đời thường và cả trong chiến tranh.
Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt được thành tựu đặc sắc ở thể kí. Nhiều tác phẩm kí của ông xuất hiện sau những chuyến đi lên Tây Bắc như Nhật ký vùng cao, Lên Sùng Đô, hay đi thăm nước bạn như Tôi thăm Cămpuchia, Thành phố Lênin, Hoa hồng vàng song cửa,... Đặc biệt, Tô Hoài có các tập hồi kí gắn liền với bao nỗi vui buồn và mơ ước của tuổi thơ, bao kỉ niệm về những bạn văn, đời văn của ông như Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều. Từ các tập hồi kí này, người đọc có điều kiện để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật, thân phận, nhân cách nhà văn trong hành trình văn chương của ông và một số nhà văn khác. Cách viết hồi kí của Tô Hoài rất linh hoạt biến hóa, các sự kiện được khai thác theo mạch liên tưởng và đan xen lẫn nhau nên luôn tạo được sức hấp dẫn đối với người đọc không thua kém gì so với thể loại khác.
Bên cạnh những mảng sáng tác trên, Tô Hoài còn tiếp tục viết khá nhiều tác phẩm cho thiếu nhi như: Con mèo lười, Vừ A Dính, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử,… Ở mảng sáng tác này, ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ Tô Hoài vẫn có được cách cảm nhận và thể hiện đời sống qua trang văn phù hợp với tâm hồn, nhận thức của tuổi thơ, để cùng các em đến với một thế giới biết bao điều kì thú. Trên cơ sở đó góp phần bồi đắp vẻ đẹp và sự trong sáng, cao cả cho tâm hồn trẻ thơ.   
Tóm lại: Những sáng tác của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám đã khẳng định được vị trí và tài năng nghệ thuật của ông trước hiện thực của cuộc đời mới. Ông xứng đáng là một tấm gương trong sáng trong lao động nghệ thuật để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
3 – Phong cách nghệ thuật của Tô Hoài:  

3.1 - Không gian nghệ thuật và đối tượng khám phá, thể hiện rất tập trung.
Tác phẩm của Tô Hoài viết chủ yếu về hai địa bàn: vùng ngoại thành Hà Nội và miền núi Tây Bắc. Đối tượng được Tô Hoài khai thác nhiều nhất, thành công nhất trong tác phẩm của ông là cuộc sống của người lao động đói nghèo ở ngoại thành Hà Nội và miền núi Tây Bắc.
Bên cạnh đó, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn Việt Nam có sở trường viết truyện về loài vật. Thế giới loài vật phong phú, đa dạng được nhân hóa xuất hiện trong tác phẩm của ông luôn có sức hấp dẫn đối với người đọc, giúp họ nhận ra sự sinh tồn tự nhiên của xã hội loài vật đó.  
Có thể nói, những tác phẩm tiêu biểu nhất trên con đường văn chương của Tô Hoài cũng không nằm ngoài không gian nghệ thuật và đối tượng khám phá, thể hiện nói trên.
3.2 - Lối viết đậm đà màu sắc dân tộc
Đặc điểm phong cách nghệ thuật này của Tô Hoài được biểu hiện cụ thể ở các điểm sau:
- Cách đặt tên cho tác phẩm của Tô Hoài có khi được xuất phát từ thành ngữ dân gian: “Đất khách, quê người”; “Hoa đồng cỏ dại”; “Giăng thề còn đó trơ trơ”.
- Cách kể chuyện, dẫn truyện của Tô Hoài có sức lôi cuốn, hấp dẫn người đọc, biểu hiện rõ ở tác phẩm Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Dế Mèn phiêu lưu kí .
- Tô Hoài thường đi vào khám phá và thể hiện truyền thống nhân nghĩa của con người Việt Nam như: trọng nghĩa khinh tài, khí tiết, thủy chung,…        
- Tô Hoài khai thác đề tài lịch sử  để ngợi ca phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam, tiêu biểu là tác phẩm Đảo hoang, Chuyện ông Gióng.
3.3 - Cách quan sát thông minh hóm hỉnh và rất tinh tế.
Cách quan sát thông minh hóm hỉnh và rất tinh tế là khả năng nổi trội của Tô Hoài trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Khả năng này của ông được biểu hiện rõ ngay từ trước cách mạng qua những truyện viết về loài vật. Càng về sau càng được phát huy ở nhiều tác phẩm khác. Những trang văn của Tô Hoài khi miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán, lễ hội ở vùng ngoại thành Hà Nội và vùng núi Tây Bắc đều để lại cho người đọc ấn tượng sâu bền, cũng như luôn mang đến cho họ nguồn tư  liệu rất phong phú về lịch sử, địa lí và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc. Đặc biệt, khi miêu tả ngoại hình và diễn biến tâm lí của nhân vật, Tô Hoài đã chọn lựa những chi tiết độc đáo có sức gợi cảm nhằm tác động mãnh liệt đến tình cảm nhận thức của người đọc về thân phận của nhân vật. Nhà văn còn sử dụng yếu tố ngoại cảnh để góp phần làm nổi bật hơn nội tâm của nhân vật trong từng hoàn cảnh, tình huống cụ thể. Chính vì thế, các nhân vật trong tác phẩm của Tô Hoài thường mang nét riêng và gợi cho người đọc biết bao điều suy ngẫm.      
3.4 - Đặc sắc trong cách sử dụng ngôn ngữ.
Ngôn ngữ trong tác phẩm của Tô Hoài là ngôn ngữ xuất phát từ đời sống quần chúng. Tô Hoài quan niệm đó là kho của cải vô giá và ông đã biết cách chọn lựa, nâng cao và nghệ thuật hóa trong các sáng tác của mình để tăng thêm giá trị của nó. Ông khẳng định: “Mỗi chữ phải là một hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có”…“Câu nói là bộ mặt của ý. Ý không bao giờ lặp lại, cũng như cuộc sống không bao giờ trở lại giống nhau như đúc thì lời văn cũng phải thế” (Sổ tay viết văn).
Với sự nhận thức trên, Tô Hoài đã luôn trau dồi học hỏi ngôn ngữ trong cuộc sống đời thường của nhân dân ở làng quê ngoại thành Hà Nội và cả ở miền núi Tây Bắc. Ở từng vùng đất, từng đối tượng, từng loại nhân vật, ông đều có cách sử dụng ngôn ngữ thích ứng với đặc điểm của nó. Mặt khác, ông còn sử dụng thành công những từ ngữ giàu sức tạo hình, từ chỉ màu sắc, từ địa phương,... Điều đó tạo cho tác phẩm của ông vừa có vẻ đẹp giản dị, vừa không kém phần kì thú.   
4 – Kết luận chung:  
“Dao có mài mới sắc”, với sự cần mẫn, bền bỉ, dẻo dai, không ngừng học hỏi, tích lũy, tự vượt mình để sáng tạo đó chính là điều làm nên bản lĩnh và tài năng nghệ thuật của Tô Hoài. Với những thành tựu to lớn đã đạt được sau hơn nửa thế kỷ sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài xứng đáng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, là tấm gương lao động nghệ thuật cho văn nghệ sĩ  noi theo.
Người đọc trước đây, hiện nay và mai sau có lẽ không thể quên được những đóng góp độc đáo, đặc sắc của Tô Hoài đối với  nền văn chương dân tộc.  
Tài liệu tham khảo chính cần đọc:
Các tập tiểu thuyết, tuyển tập, hồi ký của Tô Hoài và các tài liệu sau:
1 - Phan Cự Đệ - Tô Hoài trong sách Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975), tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1979.
2 - Hà Minh Đức - Lời giới thiệu cho Tuyển tập Tô Hoài, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1996.
3 - Phong Lê - Vân Thanh - Tô Hoài, về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000.
4 - Nguyễn Đăng Mạnh - Tô Hoài và quan niệm “Con người là con người” trong sách Nhà văn Việt Nam hiện đại - Chân dung và phong cách, NXB Trẻ, TP. HCM, 2000.
5 - Trần Hữu Tá - Tô Hoài trong sách Văn học Việt Nam 1945 - 1975, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990.
6 - Vân Thanh - Tô Hoài trong sách Tác gia văn xuôi Việt Nam hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội, 1977.
7 - Vân Thanh - Tô Hoài với thiếu nhi, trong sách Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới, NXB KHXH, Hà Nội, 1982.
8 - Vân Thanh (tuyển chọn và giới thiệu) - Tô Hoài, những tác phẩm tiêu biểu (trước 1945), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000.
Theo https://websrv1.ctu.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...