Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

Tản mạn bên tách cà phê 3


 Tản mạn bên tách cà phê 3
Lệ đá     
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ 
Em có bao giờ lệ chứa chan… 
Câu thơ Quang Dũng đã nói lên một điều: Đá cũng biết đau, biết khóc trước những đoạn trường của con người. Thành ra lời Bà Huyện Thanh Quan viết khi đứng trước nỗi hoang phế tịch liêu của Thăng Long Thành, theo Nguyễn tôi nghĩ, chưa được mãn ý lắm: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt/ Nước còn cau mặt với tang thương”. Không, nói như thế là chưa hiểu lòng gỗ đá. Nguyễn tôi, một chiều nào kéo gỗ, vớt sỏi và cát bên bờ sông Giăng ở Nghệ Tĩnh, nghĩ tới hiện kiếp bị vùi dập trong cơn giông lịch sử, có thốt lên những lời sau đây: “dưới trời xưa có phai vàng nát đá/ giọt lệ nào rơi trong chiều nay/ ta xót ta thân dã tràng xe cát/ biển đông sóng dội xô bờ/ nỗi oan khiên một thời không bóng vang/ mắt gỗ vàng và mắt ta qua thế kỷ/ đã thấy vết chàm in những mặt người..”. Và còn biết bao lời thơ chất chứa nỗi niềm của “đất đá ong khô nhiều ngấn lệ…” Và rồi “Đôi khi anh muốn tin, đôi khi anh muốn tin.../ Ôi những người, ôi những người khóc lẻ loi một mình/ Đau đớn lệ là những viên đá xanh/ Tim rũ rượi... “ (thơ TTT) cũng là những trải nghiệm qua cõi đá vàng. Vâng, trước những nỗi tang thương, thiên bi kịch nhiều chương nhiều đoạn bây giờ, đá cũng đau lòng, nhỏ lệ. Lệ đá, hay lệ đá xanh, là thế, nó là một sự thực - hiểu và nhìn theo cách nào đó. Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi rồi/ hỏi nắng phiêu du qua bao đỉnh trời/ hỏi ái ân xưa đèn vàng héo hắt/ ái ân bây giờ là nước mắt/ cuối hồn một thoáng nhớ mong manh... Ai, người đài trang dưới bầu trời đêm mưa và sấm, như đêm nào chiến tranh đã xa, đã đọc cho Nguyễn tôi nghe. Những câu hỏi dồn dập không cần lời giải đáp. Và đó là ca từ của bài Lệ Đá do Hà Huyền Chi viết cho một bài nhạc của Trần Trịnh năm nào. Cũng là lệ đá 
Vâng. Hay như Đá Xanh, hóa thân của một mối tình tan vỡ trong nhạc Lê Uyên Phương: 
rồi 
ngày xanh ngày xanh qua nhanh rồi ngày xanh qua nhanh 
ngày hè đã nứt khô trên môi còn lại tiếc thôi 
như viên đá lưng mềm vuốt ve tình nhân 
nuôi mộng ước lâu bền 
nhưng viên đá nay thành đá xanh thủy chung 
đã rơi dọc sườn cao lưng đồi 
ngày ngày đợi chết trong lùm cây u uất 
ngày ngày nằm nhớ ân tình sâu muôn đời 
đá không đổi dời 
tình, 
tình ơi… 
dòng lệ nóng đã trôi trong tim 
còn lại xót xa 
như viên đá lưng tròng mắt quan tài tươi 
ôi mộng đã tan rồi như viên đá nay thành đá trên mộ bia… 
Như thế đó… Tình yêu của một mùa hè rực rỡ nay đã biến thành cái chết. Như viên đá trong lòng suối thành đá trên mộ bia. Cũng là lệ đá, nhưng đây là lệ của một tình yêu xưa. Nó không phải là điều Nguyễn tôi muốn nói ở thời khắc này. Đã gần hai giờ sáng rồi. Trăng soi trên thềm đá ẩm. Ngồi cầm bút (à, quên, gõ phiếm còm-pu-tờ) viết những dòng này, trong lúc trí óc nghĩ tới những điều, cũng nằm trong thế giới người, nhưng lại liên quan tới những vật vô tri ở chung quanh - vô tri, nhưng nhờ mắt nhìn của thi sĩ chạm tới mà bỗng nhiên có một linh hồn, biết xót thương và rơi lệ. Những con mắt gỗ nhìn qua thiên trường kịch của đời người, những ngọn đèn ủ ê thở than cho thân phận những o nghèo, và những phiến đá rơi lệ trong buổi chiều tiễn đưa một người về nơi cõi gió... 
Và, kể từ khi đá biết đau... Hừm, đây có phải là thơ mình không, hay một lời mê sảng nào đó? Nhưng, đúng là vậy. Chuyện kể: ít lâu sau khi bức tường Berlin bị phá sập, có một cô bé leo lên những bậc thang của tòa nhà Quốc Hội nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũ, lần theo mấy cây cột, lấy tay sờ lên những vết đạn của cuộc Thế Chiến Thứ Hai còn sót lại trên những phiến đá. Được hỏi, cô bé trả lời “Em đang hỏi chuyện những phiến đá này!” Và cô bé nói tiếp: “Em hỏi đá là bị nhiều vết đạn như thế này, đá có đau không? Đá không trả lời. Nhưng đá đã kể cho em nghe những gì đá đã chứng kiến trong chiến tranh, lúc em chưa sinh ra, với bao nhiêu người chết, bao nhiêu đá gạch đã đổ vỡ, và đá đã khóc...”. Lúc đó, ai cũng nghĩ cô bé giầu óc tưởng tượng. Nhưng về sau, người ta mới thấm thía. Trong một xã hội vô nhân tính, như xã hội Đức Quốc Xã hay xã hội Cộng Sản, con người đối xử với con người chẳng khác loài lang sói cắn, xé nhau. Khiến gỗ đá cũng phải đau lòng, như lời cô bé đã nói. Kể từ khi đá biết đau. Chúng ta lại nghĩ đến những tấm bia trên hai hòn đảo Bidong và Galang. Một tấm ghi hàng chữ nói đến thảm cảnh thuyền nhân đã vùi thây nơi “thủy mộ quan” (từ của Viên Linh) trong những chuyến hành trình tả tơi đi tìm chân trời mới. Người ta đọc thấy: “Tưởng niệm hàng trăm ngàn người VN đã bỏ mình trên đường tìm tự do (từ 1975 đến 1996). Cho dù họ chết vì đói vì khát hay bị hãm hiếp, hoặc vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta cầu nguyện linh hồn họ giờ đây được hưởng phúc nơi an bình vĩnh cửu”. Trong khi tấm bia ở đảo Bidong thì bày tỏ lòng biết ơn chính phủ Mã Lai và Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ đã cứu vớt, cưu mang những người vượt biển cách đây mấy chục năm. Cả hai tấm bia mới được dựng lên hồi tháng 3 năm 2005 khi các cựu thuyền nhân, nay đã định cư yên ổn ở Hoa Kỳ và Canada, trở về đảo xưa ghi lại dấu tích tưởng nhớ tới những bạn đồng hành xấu số. Như thế đó, hai tấm bia ở Bidong và Galang hoàn toàn mang ý nghĩa tưởng niệm và đầy tinh thần nhân bản. Vậy mà những anh em ta trong đảng đang cai trị đất nước bây giờ đã không để yên. Được biết tấm bia tưởng niệm thuyền nhân được đặt tại Paulau Bidong vào tháng 3.2005, đã bị chính quyền sở tại phá bỏ vào ngày 20 tháng 10. 2005, do đại sứ Việt Nam vận động triệt hạ.
Đây là lần thứ hai họ đã dùng tới hạ sách để áp lực các quốc gia sở tại đục bỏ những tấm bia tưởng niệm thuyền nhân. Trước đó, vào cuối tháng 5. 2005, tấm bia ở Paulau Galang, Indonesia, cũng đã bị phá bỏ. 
Nhẫn tâm đến như thế hỏi làm sao đá không đau lòng, nhỏ lệ. Rõ ràng chỉ có kẻ ác mới nuôi lòng thù hận đối với những người đã chết cách đây ba chục năm. Hay bàn tay ai đó muốn xóa vết tích tội lỗi của họ đã gây ra, muốn thế giới quên đi thảm kịch thuyền nhân, muốn thế hệ mai sau quên đi một thời của quỷ. Nhưng họ đã lầm, thảm kịch thuyền nhân Việt Nam đã đi vào lịch sử, mà những gì đã thuộc vào lịch sử thì không thể nào xóa bỏ. Ôi, một hôm nào Nguyễn lên Internet nhìn thấy tấm bia đá thuyền nhân bị đập vỡ ở giữa mà tưởng chừng đá kia cũng như tim người vỡ vậy. 
Và, kể từ khi đá biết đau… Vâng. Không cứ gì những những tảng đá ong ở Sơn Tây Bất Bạt ngày nào, và cũng không nhất thiết phải là đá trên bức tường Bá Linh hay toà nhà Quốc Hội Cộng Hòa Dân Chủ Đức, hoặc giả những tượng đài bia đá ở Garlang, Bidong. Ở đây, Nguyễn muốn nói tới những phiến đá lát trên hè phố Sài Gòn. Bạn ơi, thanh xuân ngày ấy, Nguyễn và bạn đã chẳng hơn một lần gõ bước trên những phiến đá của đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn sao… Những bước chân vui như tiếng huýt sáo của một thời trước cả khi Nguyên Sa viết Sài Gòn phóng solex rất nhanh. Đúng như thế đó, Sài Gòn của tôi ngày ấy. Cho tới khi xe tăng và dép râu, nón cối của bộ đội Cộng Sản vào Sài Gòn thì cuộc đời bỗng dưng lật sang một chương đoạn khác. Người với người chia tay, mưa dầm nắng quái, trẻ con xa lớp xa trường, những đôi mắt đêm đêm hướng về cửa biển… Và mới đây khi gót chân hãnh tiến của bọn thanh niên Trung Quốc trong cuộc rước đuốc ma quỷ dẵm xuống vỉa hè đường phố Sài Gòn thì mọi suy nghĩ bỗng trở thành thứ dụ ngôn của cơn mê sảng. Ôi, nhà thơ tiên tri khải thị, nói gì đi chứ khi đá cũng biết đau biết buồn trước cảnh ngang trái của một thời. Lời nguyện thuở nào còn không hay đã bay theo gió lãng quên: 
Khi ta đi và mùa xuân đang lại 
Máu ta ghi trên đá đợi ta về?... 
Từ Bích Câu... 
Gần đây, đọc lại vài trang viết của Võ Đình trên bờ biển Destin, Florida (Võ Đình ra đi mới đó mà đã ba năm. Ôi, như mây kia…) tôi bắt gặp một đoạn nói Võ Đình thời thiếu niên ở Huế đã đóng một cuốn vở cặm cụi chép thơ. Chỉ có thế thôi mà lòng cũng bâng khuâng và rồi nhớ lại… 
Tôi có người chị họ, chị Thân Thị Bích Đào, hồi còn đi học thấy tôi yêu thơ Vũ Hoàng Chương, chị bèn chép tặng tôi nguyên tập thơ Mây. Cố nhiên tập thơ đó nay cũng chẳng còn, nhưng kỷ niệm thì tôi chẳng bao giờ quên. 
Ngồi nhớ lại Mây và Vân Muội, những tập thơ chép tay ngày ấy, tôi tự hỏi ngày nay còn ai chép thơ công phu như thế không? Có ai về lại quê nhà, tôi nhờ níu áo mấy cô Mực Tím hỏi giùm xem mấy cô còn yêu thơ và cặm cụi thức đêm chép thơ như tiền bối của các cô không? 
Chiều nay, nhân lật lại chồng báo cũ, đọc những lời vàng ngọc trao đổi giữa hai ông Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng - hai ông nói chuyện văn chương - tôi nghe lóm được một câu chuyện cảm động về vụ chép thơ. Câu chuyện in trong tập Học Trò của nhà văn trẻ Hoàng Ngọc Tuấn (trẻ là vào thập niên 60-70, chứ giờ đây Tuấn không còn nữa…). Chuyện kể rằng có một cô nữ sinh Huế yêu thơ. Cô tên Bích Câu. Mùa đông năm ấy, Huế cũng mưa dầm, nước sông dâng cao như những mùa đông khác. Một buổi sáng, nhân vật xưng “tôi” trong truyện đi đò qua nhà Bích Câu, thấy cô ngồi thả rơi lả tả những tờ giấy màu xanh xuống mặt nước, mà mắt thì đỏ hoe vì mới khóc. Cậu lo lắng hỏi: “Bộ nhà hết gạo rồi hả?” Hóa ra không phải. Bích Câu không phải khóc vì hết gạo mà khóc vì mưa làm ướt tập thơ chép tay, món đồ quý nhất của nàng. Hoàng Ngọc Tuấn kể: “Nàng mua mấy trăm tờ giấy pelure màu xanh khâu chỉ đóng thành một tập dày, có đóng bìa cẩn thận. Rồi nàng ra công chép trong hai năm cả mấy trăm bài thơ.” 
Nhân vật tôi trong truyện Hoàng Ngọc Tuấn bảo: “Bích Câu cứ ngồi âu sầu một chỗ mãi. Tôi nghĩ rằng nàng cứ ngồi lặng yên như thế, cho đến khi biến thành một hòn sỏi lăn xuống nước, và tôi làm thế nào tìm được một hòn sỏi nhỏ bé trong sóng nước mịt mù này.” 
Võ Phiến kể lại câu chuyện, rồi kết luận: “Bích Câu là châu báu của một thời đã qua, không bao giờ trở lại.” Và ông lẩn thẩn ngồi ước mơ được nhìn thấy một lần nữa cảnh mùa đông các nàng tôn nữ ở Huế ướt thơ, ngồi buồn hóa thành những viên sỏi. “Cảnh đó đẹp ơi là đẹp!” Ông nói. “Nhưng hết rồi. Các nàng tôn nữ ấy đà tuyệt tích!” Thi sĩ ơi, hãy mượn chùm phương thảo hú vía thuyền quyên đi. Bích Câu không còn nữa. Kiếp này đã lỡ cơm lỡ gạo. Kiếp sau đừng làm thơ mà làm bác thợ đóng giày, chắc sẽ có một nàng Bích Câu tới đặt mua. 
Cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương 
Vừa qua, Nguyễn nhận được một tập ảnh tài liệu văn học do bạn Đinh Cường từ miền Đông nước Mỹ gởi tới, trong đó có một tấm chụp thầy Tuệ Sỹ ngồi đàn dương cầm, bên cạnh là Đinh Cường và Dương Nghiễm Mậu đứng lắng nghe. Nguyễn rất thích bức ảnh này, nó gợi Nguyễn nhớ tới một truyện ngắn của Tuệ Sỹ viết đã lâu, trong đó tiếng dương cầm thoảng bay trong mùi tóc ngọc lan. Ngoài ra, tấm ảnh cũng nhắc nghĩ tới một tác phẩm dịch thơ của Tuệ Sỹ do nhà xuất bản Phương Đông trong nước ấn hành, có tựa đề Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm - Refrains Pour Piano, do Dominique de Miscault, nữ họa sĩ người Pháp, chuyển ngữ và trình bày, minh họa. Nguyễn từ lâu nay vốn yêu mến và kính trọng thầy Tuệ Sỹ - trước hết vì đạo hạnh cao vời của thầy và bao phủ lên tất cả là những dòng thơ uyên áo, sâu thẳm, âm vang vào tận hồn nguười và gỗ đá. Đặng Tiến nhận xét “thơ ông (Tuệ Sỹ) xuất hiện như vầng trăng ra khỏi đám mây, như mùi hương bông sứ chợt thoảng vào vườn khuya, là một niềm vui chung, và cho người lữ khách ngồi lại bên đường, buổi chiều, “cười với nắng một ngày sao chóng thế… đỉnh đá này và hạt muối nọ chưa tan…” Thơ Tuệ Sỹ cô đúc, hàm súc, uyên áo… Ngôn ngữ lấp lánh ánh sáng tâm cảm và ngoại gới, trầm tư và huyễn mộng. Hình ảnh chập chờn, ngôn từ lảo đảo, như những tiếng dương cầm đuổi bắt nhau, chưa kịp tương phùng đã muôn đời vĩnh quyết.” 
Đúng là vậy. Trở lại với tựa đề của bài tản mạn này: Cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương. Câu thơ cực hay của thầy Tuệ Sỹ. Lẽ ra phải trích cả hai câu liền mới diễn tả rõ thân thế của thầy: 
Người ở lại với bàn tay bạo chúa 
Cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương 

Khốc liệt mà đẹp biết bao. Sau 1975, biết bao tu sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ ở lại và bị vùi dập trong bàn tay sắt máu của Đảng và nhà nước Cộng Sản. Và thầy Tuệ Sỹ đã một lần đối diện với bản án tử hình dành cho thầy. Rồi bao nhiêu là bức bách, vây khổn, đọa đày, thầy vẫn đứng vững như cọng lau gầy bên đồi gió. Cọng lau gầy trĩu nặng bóng tá dương, đúng là hình ảnh của thầy sau cơn cát bụi phủ vùi. Cứ nhìn vào bức ảnh thầy chụp chung với Nguyễn Đức Sơn do Đinh Cường gởi tới là thấy rõ. 
Thầy đi tu từ nhỏ và đã đến được chỗ an nhiên như núi đá dựng. Xin đọc bài Tự Thuật của thầy, qua bản dịch của Nhất Uyên: 
Ba mươi năm trước học khổ không 
Kinh điển đôi chồng che cửa song 
Xuân xanh không đoái, xuân già cỗi 
Trúc biếc tà bay, ngát mộng lòng 
Thấm thoát mi dài buông án cũ 
La đà tóc bạc nửa tàn phong 
Một sớm hụt chân rơi vách núi. 
Mới thấy chơn không đối tịch hồng 
Đúng như Đặng Tiến nói, “Hình ảnh chập chờn, ngôn từ lảo đảo, như những tiếng dương cầm đuổi bắt nhau, chưa kịp tương phùng đã muôn đời vĩnh quyết.” Từ vách núi đá dựng ấy, nhìn lại thuở tóc còn xanh ở khung trời cũ, chợt thấy, chao ôi, “áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang”, để rồi bây giờ trong u tĩnh, “thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn”. Và hơn thế nữa, sau gần ba mươi năm đọa đày trong chốn bụi đỏ, thân thế hiện thời bao siết nổi nênh, “ngược xuôi nhớ nửa cung đàn/ ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về”. Và rồi, một lần nữa nhìn lại thanh xuân, thấy nổi bật lên hình ảnh thật đẹp và nhiều ý nghĩa của một đời người vừa qua: “Ta đi trong cõi vĩnh hằng/ nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa”. 
Xin đọc thêm một khúc thơ cũng chứa đựng những hình ảnh lung linh xa thẳm, nhưng nhìn kỹ vào sẽ hiểu được những trầm tích đau thương của con người trong lịch sử: 
Giăng mộ cổ 
Mưa chiều hoen ngấn lệ 
Bóng điêu tàn 
Huyền sử đứng trơ vơ 
Sương thấm lạnh 
Làn vai hờn nguyệt quế 
Ôm tượng đài 
Yêu suốt cõi hoang sơ. 
Bản dịch của Đặng Tiến càng khiến ta thâm cảm hơn vẻ đẹp của thơ Tuệ Sỹ: 
Sur les tombes antiques 
La pluie du soir se confond en larmes 
Des mythes illusoires 
En ruine esseulés, 
La bruine givre 
Les épaules meurtries de laurier 
Serrant la statue 
J’aime ô que j’aime les espaces innocents 
Giữa dòng những biến chuyển khốc liệt của mấy chục năm qua, ta càng thấy rõ hình ảnh cọng lau gầy trước gió. Thầy Tuệ Sỹ trong thân thể hao gầy của một thiền sư đã cưu mang một trái tim vô úy. Rõ ràng bão tố không làm thầy sợ hãi. Trong muôn trùng vây bủa, thầy luôn luôn dõng dạc cất tiếng. Những thông điệp rắn rỏi mà hàm chứa yêu thương của thầy không ngớt gởi đi, bất chấp và thách thức bạo lực. Còn nhớ, dạo nào trong những lời nhắn gởi tăng sinh ở Huế xuất phát từ trái tim hồng, thầy Tuệ Sỹ đã nhận diện lại đời mình và bày tỏ tâm nguyện đi cùng với lớp trẻ hướng về tương lai của đất nước và đạo Phật: “Thế hệ của thầy thừa hưởng được nhiều từ Thầy Tổ, nhưng chưa hề báo đáp ân đức giáo dưỡng cao dày trong muôn một. Chỉ mới tròn ba mươi tuổi, đã phải khép lại cổng chùa, xách cuốc lên rừng, xuống biển, cũng mưu sinh lao nhọc như mọi người. Rồi lại vào tù, ra khám, lênh đênh theo vận nước thăng trầm. Sở học và sở tri cũng cùn mòn theo tuổi đời, năm tháng. Duy, chưa có điều gì thất tiết để điếm nhục tông môn, uổng công Sư trưởng tài bồi...” 
Cầu mong các con có đủ dũng mãnh để đi bằng đôi chân của mình, nhìn bằng đôi mắt của mình; tự xác định hướng đi cho chính mình. Thầy sẽ là người bạn đồng hành với các con trên đoạn đường bóng xế của đời mình.” 
Cọng lau gầy chĩu nặng bóng tà dương. Một lần nữa chúng ta nhìn lại chân dung của thầy Tuệ Sỹ: trong tấm thân gầy guộc ấy, bên trong nụ cuời tươi và đôi mắt sáng, ẩn một trái tim vô ngại, vô úy. Không phải lúc nào đất nước cũng có được một con người như thế. Và có thầy, quần chúng ở trong và ngoài nước biết có một ngọn đèn đang soi đường, và vận mệnh dân tộc chưa phải là tuyệt vong. 
Cái chong chóng trên chiếc xích lô đêm 
Từ những năm nào, nói theo cách của người bạn văn thân thiết, “từ hồi nẳm”, Nguyễn đã được biết tiếng nhà văn Trương Ái Linh, nhờ đọc Lược Sử Văn Học Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê. Qua sách, Nguyễn cảm kích văn chương của nhà văn nữ này và cảm thương cho cuộc đời trôi nổi, truân chuyên của bà. Những năm vừa qua, tên tuổi của bà lại nổi lên khi tác phẩm Sắc Giới của bà (viết năm 1950) được dựng thành phim và dịch ra Việt Ngữ. Đây là một truyện cực hay và lôi cuốn người đọc. Vậy xin được có đôi lời về tác phẩm văn học này. Và đồng thời nói một chút về cuốn phim Sắc Giới. 

Sắc Giới dựng lại bối cảnh đầy bão tố của Trung Hoa những năm 30 và 40 thế kỷ trước. Ở đây, ta thấy nổi bật khuôn mặt của những sinh viên nhiệt thành yêu nước, sôi nổi và quá khích. Bên cạnh đó là xã hội phong lưu và những tên giàu sụ nhờ cộng tác với Nhật. Bộ phim lấy bối cảnh tại Thượng Hải trong thời kỳ Chiến tranh Trung-Nhật của thập niên 1930 và xoay quanh một nhóm thanh niên yêu nước kháng Nhật. Vương Giai Chi - một cô sinh viên năm thứ nhất bị cha bỏ rơi tại Trung Hoa khói lửa - được giao nhiệm vụ quyến rũ một tên trùm mật thám thân Nhật họ Dịch để cả nhóm tìm cách thủ tiêu. Tuy nhiên, khi gần gũi với Dịch, Giai Chi đã không giữ vững được ý chí, để gây ra những hậu quả bi thảm. 
Không hiểu sao Nguyễn cứ bị ám ảnh vì chiếc chong chóng nhà văn Trương Ái Linh tả trong đoạn kết truyện Sắc Giới. Truyện Sắc Giới chứ không phải phim Sắc Giới. Bởi vì giữa truyện và phim có những chỗ khác nhau rất xa. Tố Nghi, người em văn chương của Nguyễn, cho biết: 
“Em đọc truyện (bản dịch của Trấn Thúy Mai đăng trong Phố Văn ngày nọ) thấy khác như vầy: 
- Ông Dịch vừa xấu vừa ác, chớ không hào hoa mã thượng đẹp trai như trong phim 
- Không có vụ anh Hai và cô Vương Giai Chi yêu nhau như trong phim. 
- Cô Vương tóc dài chớ hổng uốn ngắn sát sạt như trong phim 
- Cô Vương không yêu ông Dịch, không thích sex như trong phim. Đọc truyện thấy một cô Giai Chi hiền lành ngây thơ trong trắng, lý tưởng nữa. rồi giờ chót, do bản tánh hiền lành, cứu ông Dịch thoát và... chết chùm cả đám. 
- Truyện cho thấy ông Dịch là loại người vô độc bất anh hùng, egocentrique, narcistique, thủ đoạn tới tàn ác.” 
Đúng vậy. Vương Giai Chi là một nữ sinh viên xinh đẹp. Cô hầu như chưa yêu lần nào. Cô có chân trong ban kịch nhà trường và là diễn viên chính xuất sắc. Tổ chức sinh viên mà cô tham gia giao cho cô quyến rũ ông Dịch, một quan chức lớn trong chính phủ bù nhìn thân Nhật, rồi đưa ông vào lằn đạn sát thủ. Trước hết, nàng phải làm thân với bà vợ, rồi tới ông chồng. Nhưng nếu nàng xuất hiện như một sinh viên - nghĩa là thành phần năng động nhất trong quần chúng - thì sẽ bị nghi ngờ, do đó họ “cho nàng đóng vai người vợ trẻ của một thương gia bản xứ; thế cho mùi nguy hiểm khỏi bị đánh hơi ra... Nữ diên viên chính của nhóm kịch nghệ trường đại học gọn gàng bước vào sân khấu.” 
Tối hôm ấy, Vương Giai Chi bỏ dở canh mạt chược, ngầm hẹn với ông Dịch tại một quán cà phê trong thành phố Thượng Hải. Rồi hai người đưa nhau tới tiệm kim hoàn của một người Ấn Độ. Ở đó, ông Dịch chọn mua cho nàng một chiếc nhẫn kim cương lớn, và đó cũng là nơi các tay sát thủ sẽ xuất hiện nổ súng thanh toán ông Dịch. Thế nhưng, 
Vương Giai Chi đã không đóng trọn cái kịch bản đó. Phút chót, do yếu lòng, nàng đã bảo ông Dịch ‘chạy đi’. Và ông ta tông cửa chạy thoát. “Sau khi về đến chỗ an toàn, ông đã lập tức gọi điện thoại ra lệnh bao vây toàn thể khu vực ấy. Đúng mười giờ tối nay tất cả sẽ bị xử bắn. Nàng chắc phải căm hận ông đến phút chót. Nhưng vô độc bất trượng phu. Nàng đã không yêu ông nếu ông là loại người ủy mị.” Vương Gia Chi bơ vơ trên đường trong đêm tối nguy nan. “Ngay khi nàng đang do dự không biết chọn hướng nào, nàng quay lại và thấy ở đàng xa, bên phía đối diện, một chiếc xích lô trống đang từ từ tiến đến, một cái chong chóng màu đỏ, xanh lá cây và trắng cột ở tay cầm. Thấy nàng vẫy tay kêu, người phu xe trẻ, cao, đạp nhanh tới, chiếc chong chóng nhỏ quay tít lên khi anh ta tăng tốc lực. “Đường Ngu Viên,” nàng nói với anh ta khi bước lên xe. 
Khi chiếc xe xích lô chạy tới Tĩnh An Tự, nàng nghe tiếng còi. 
“Bị chặn đường,” người phu xe nói với nàng. 
Một người đàn ông trung niên mặc áo kiểu mandarin ngắn đang kéo một sợi dây thừng ngang qua đường, miệng ngậm còi. Bên kia đường, một người thứ nhì, ăn mặc tương tự kéo đầu dây kia thẳng ra để cô lập xe cộ và bộ hành. Có ai đó đang uể oải lắc chuông, tiếng chuông mỏng manh, loảng xoảng gần như không thể vang hết qua con đường rộng. 
Người phu xe kiên cường đạp tới tận sợi dây thừng, rồi thắng xe lại và sốt ruột xoay chiếc chong chóng, trước khi quay đầu lại mỉm cười với nàng.” 
Như vậy đó, cô sinh viên ngây thơ trong trắng và đầy tình thương người, đang đối diện cái chết, một mình. Nguyễn xót thương biết bao. Lát nữa đây, cô sẽ ngã gục, máu loang trên đường phố. Chiếc chong chóng ngũ sắc kia là hình ảnh của định mệnh, cứ tiếp tục quay, quay... 
Thuở làm phóng viên chiến trường 
Gần đây, Nguyễn đọc trên lưới thấy tin phóng viên ảnh Tim Hetherington gục ngã trong vùng xung đột ở thành phố Misrata, Libya. Từ mẩu tin đó, nhìn lại những khuôn mặt và đọc lại những dòng tự sự về cuộc đời của các phóng viên từng lao vào lửa đỏ của chiến tranh Việt Nam, Nguyễn bồi hồi thấy lại những ảnh bóng của con đường sạn đạo ngày xưa. 

Ờ, phải rồi, thời xa xưa ấy trên đất nước của gió mùa, mình cũng đã có những ngày đi vào vùng chiến trận, không phải với cái máy ảnh như Tim Page hay Tim Hetherington, mà với cấy bút và tập giấy trong cái túi vải thô đeo bên hông. Như Phan Nhật Nam, Dương Nghiễm Mậu, Kim Tuấn, Dương Phục vậy. Tất nhiên, không được như những bạn vừa kể với những tác phẩm đồ sộ, những điều Nguyễn ghi được trong những ngày nắng rộng mưa lầy ấy chỉ là những miểng vụn - như những miểng đạn pháo hay dúm tóc và bàn tay gãy dập của người… Vâng, Nguyễn đã thấy… đã thấy, và ghi lại những mảnh vỡ ấy của chiến tranh và cuộc đời chung. Trong chuyến bay trực thăng lên Đức Cơ trao trả tù binh năm 1970, Nguyện đã thấy người mẹ già tóc trắng như mây cứ mải cầm tay con và vuốt tóc con mà không nói nên lời. Nguyễn đã thấy con đường tráng nhựa chạy lên vùng tam biên bị cắm những trụ cột - hay cột mốc - ngay ở giữa lòng đường để phân chia bên này bên kia. Nguyễn đã thấy - và còn ghi nhớ tới tận bây giờ - những bông cỏ hồng mọc lên từ nhựa đường nứt nẻ. Đây là Eo Gió. Bên này, có những người lính thiết giáp mắc võng ngủ dưới bóng cây. Bên kia treo cờ của Mặt Trận Giải Phóng 
Chiều hôm nay tôi đi trên đường biên giới 
thấy trước mặt mình. chập chùng rào cản 
mờ mờ. bóng ngọn cờ. bay 
trong nắng hạ nồng 
những ngọn cờ không kẻ chuyền tay 
những ngọn cờ chia lòng người ra từng cõi 
và gói kín những mảnh đời 
Ngày ấy, Nguyễn đi lên Eo Gió bằng xe Jeep. Cùng đi có một phóng viên người Việt làm cho AP - không phải Nick Út đâu - mang theo máy ảnh, có Hồ Viết Sum phóng viên Tiểu Đoàn 20 CTCT mang máy quay phim, có Kim Tuấn và Trần Trọng Thuyên. Đêm về nhà bạn ở Kontum đọc thơ trong mùi hương cà phê và khói thuốc. Những ngày kế tiếp đi qua dưới chân ngọn Chu Prong, rồi đi sông Ba. Nguyễn đã thấy, đã thấy những ruộng dã quỳ vàng rực - sau này tả lại trong truyện ngắn Dã Quỳ - những cánh rừng cháy và bóng quạ đen quay đảo, miệng kêu đầy máu, và rừng bông vải ven sông Ba. Về Phú Bổn, đêm lại đọc thơ. Ôi Kim Tuấn, giờ ở nơi nao, có nhớ đêm ấy dưới ánh đèn của những cây manchon đọc bài thơ có gạo sấy, nước suối rừng và tóc mẹ già bạc trắng khiến nhiều giọt lệ rưng rưng. Và rồi, trên trực thăng về lại Plaiku - có Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Minh Diễm, Hoàng Khởi Phong ra tận bãi tiễn chân, Nguyễn đã viết bài thơ lưu biệt có những câu 
hút với nhau điếu thuốc 
giữa buổi chiều hoa quỳ 
nói dăm câu từ tạ 
mây với người cùng đi 
Rồi chuyến đi Đồng Ớt năm 1974. Lúc ấy, Nguyễn làm ở đài Quân Đội Sài Gòn. Được tin mặt trận đang sôi động ở miệt Trảng Bàng, Nguyễn cùng với một anh bên Báo Chí vội vàng đi làm tin và viết phóng sư cho Đài. Tới nơi, tiếng súng đã im, nhưng trên không máy bay còn gầm rú ở phía mật khu Mây Tào, và khói chưa tan trên đồng. Gọi là Đồng Ớt vì ở đây trồng toàn ớt. Nguyễn và anh bạn báo chí được một chiếc thiết giáp chở đi thăm trận địa. Những luống ớt đỏ bị bánh xích sắt nghiền nát bấy bên cạnh những khuôn mặt bộ đội VC dẹp lép và những về tóc còn dính máu và những bàn tay gãy dập. Trưa ấy, mây trắng đầy trời và nắng như những mảng màu vàng cháy trong tranh Van Gogh vẽ ở Arles miền Nam nước Pháp. Thôi, xin được chấm dứt những điều viết về mình. Thật ra, những ghi nhận của Nguyễn trên chiến trường ngày ấy chỉ là một dúm bụi nhỏ nhoi tan vào ngày tháng. Trong khi đó, những tấm ảnh chiến trường của các phóng viên như Tim Page, Nick Út là những Kim Tự Tháp sừng sững. Những tấm ảnh ấy đã mang đến cho tác giả của nó danh vọng và giàu sang (như tấm hình chụp nỗi đau của bé Kim Phúc trên chiến trường Tây Ninh ngày nọ đã đưa Nick Út tới thảm đỏ phù hoa vào tận cung điện của Nữ Hoàng Anh quốc - tài liệu của nhà văn Huy Phương), còn những ghi chép từ ngòi bút của Nguyễn và Kim Tuấn đâu có nghĩa lý gì. Chỉ là chút hơi rượu khà trong buổi chiều lộng gió hôm nay. 
Hái cỏ cho dế cho mèo, rưới cà phê siêu độ vong nhân 
Tháng Bảy. Sắp đến ngày trùng thất, mưa ngâu có còn rơi trên lá? Cũng sắp đến rằm tháng bảy. Đây là mùa Vu Lan, mùa báo hiếu, tưởng nhớ mẹ. Đêm nay, nhìn lên trời đã thấy mảnh trăng lưỡi liềm. Ở quê nhà có nhìn thấy trăng? Hay mưa dầm đã rơi trên những cánh đồng, những khúc sông vắng lạnh. 
Hướng về tháng bày ngày rằm, Phan Thị Như Ngọc đã viết những dòng sau đây khi ngồi quán cà phê bên đường cùng nhà báo Anh Tuấn từ pháp về. Ở những dòng này, ta thấy hiện lên không khí Chiêu Hồn Ca của Nguyễn Du trong đó có mưa dầm, ngọn đường lê và có lẽ cả “một đóa trăng tàn lẩn lút bay”, như trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Ôi, lòng ta đã nới rộng tới vô biên và đụng tới đáy hồn nhân loại rồi chăng? Xin cám ơn Như Ngọc. 
“Tôi xin lỗi chàng (nhà báo Tây Âu), cầm tách trà đứng dậy, nhường chỗ cho thằng nhỏ mặc chiếc áo thun xanh chen vào bứt cỏ, đút vô hộp dế. Vạt cỏ ven đường hẻm chỗ thằng nhỏ hí húi, nở đầy hoa xa trục thảo khiêm tốn nhưng óng ánh vàng như mặt trời mới mọc. Tôi nhìn nó cho dế ăn hàng ngày, quen mặt. Hôm nay thằng nhỏ hái nhiều cỏ, Nó bảo con mèo ở nhà đau bụng, mẹ nói hái cỏ về cho mèo ăn với… 

“Thẳng nhỏ đi với bố. Bố nó không giúp con hái cỏ, không bắt chuyện với ai, ngồi với ly đen ngút khói. Gọi thêm cái đen nữa. Không uống. Nhưng rưới chậm rãi xuống cỏ. Mặt buồn hơn ngày mùa đông ở rừng. Chủ quán và tôi từng thấy nghi thức này. Mấy năm nay một kiểu như vậy, vào một ngày nhất định. Tay nhà báo về từ Tây Âu hất mắt ra ý hỏi. Tôi vắn tắt Cho các bạn ông ấy. Chết rồi sao? Không, nhưng ở bên kia. Thì cũng coi như chết chứ gì… Vạt cỏ lúc nãy thằng con hái những đọt non nuôi dế, chữa bệnh mèo, bây giờ nhớp nháp, lấp xấp cà phê đen. Cỏ chắc vẫn sống. Nhưng lòng người đau gì dai dẳng lạ. Mỗi năm một lần, tháng bảy âm lịch, như kiểu người ta xá tội vong nhân. 
Và Phan Thị Như Ngọc kết thúc bài viết ngắn của mình như sau: “Tháng Bảy này ai xá tội cho ai, xá bao nhiêu cho đủ, đọc Văn tế thập loại chúng sinh nữa ư, đọc nơi đâu, cho ai nghe? 
“Tôi không muốn tìm câu trả lời trong những cơ sở tôn giáo. Một mình tìm ra ven đồi cỏ, rười cà phê, nằm xuống, sấp mặt rưng rưng, lời ủ hương hoa hồng trắng Song thân ơi, bạn bè ơi, chúng sinh ơi… chén đắng trên cỏ xanh này một mình xin uống. Kiếp này và muôn kiếp về sau. Nguyện cầu…” 
Nguyễn nhớ cách đây 4, 5 năm, Phan Thị Như Ngọc: đã thay Nguyễn đến chùa Già Lam thăm song thân. Ôi, mùi hương ngọc lan trong vườn chùa vẫn còn thoảng bay. Nguyện cầu… 
Thanh xuân. hát trên đồi cỏ tía 
Những người của thanh xuân ngày ấy, bây giờ còn ai. Đôi khi Nguyễn tự hỏi mình như thế. Ôi, nhiều bạn đã bỏ cuộc chơi. Trịnh Công Sơn ra đi vào một ngày đầu Tháng Tư. Đỗ Long Vân, Hoàng Anh Tuấn cũng đã ra đi. Còn lại bây giờ, một số sống với những ám ảnh bệnh tật: Thanh Sâm, Ngô Vương Toại, Đinh Cường và Nguyễn tôi. Cho nên, xin một lần được gọi tên anh em và thanh xuân ngày ấy, kẻo mai kia mốt nọ e không còn cơ hội nữa. 
Thanh xuân hát trên đồi cỏ tía 
Đầu tiên, xin mượn hình ảnh của câu thơ để nói lên niềm vui của những ngày còn trẻ. Bởi Lệ Mai, tức ca sĩ Khánh Ly, nói với kẻ này nhân gặp lại bạn bè ở phòng triển lãm Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần trong Viet Arts Gallery ở Houston ngày 19 tháng 1. 2008: 
“Hồi Mai gặp anh ở đài phát thanh Đà Lạt, chúng mình còn rất trẻ, phải không anh?” 
Phải rồi, hồi ấy chúng mình còn trẻ, trẻ lắm. Năm 1965, 1966... Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Hoàng Xuân Sơn, Nhuệ Giang, Ngô Vương Toại (và kẻ này cũng xin phép ké một chỗ)... Tất cả mới ngoài đôi mươi. Trẻ và đẹp. Có phải không bạn hiền, trong tấm hình chụp tại phòng tranh ở Alliance Francaise Đà Lạt ngày ấy, có phải Cường diện bộ complet rất kẻng và Khánh Ly trong bộ robe màu xanh ngọc thạch cũng hết sức là diễm lệ. 
Vâng. Trẻ và đẹp. Điều này gần như là định lý, mặc dù đời người không hề là toán học. Vậy, lúc trẻ ai cũng đẹp. Thanh xuân phơi phới. Chỉ khi tuổi hạc đã cao, người ta mới trở thành những con khỉ già. Cái này không phải do Nguyễn chế ra đâu, mà nhiều vị trong làng văn làng họa vào một lúc nào đó gặp cơn bi phẫn đã thốt lên như thế. Xin ai đó đừng trách Nguyễn này, tội nghiệp. 
Thời trẻ ai cũng đẹp và ai cũng vui. Mệnh đề thứ hai này (ai cũng vui) quan trọng lắm lắm đấy nhé. Và có lẽ nên thêm vào chút xíu nữa. Ai cũng vui và... trong sạch. Này nhé, chính Hoàng Xuân Sơn và Khánh Ly đồng xác nhận: Hồi ấy, thời Quán Văn, khi Khánh Ly đi chân đất hát, anh em trai và gái ai cũng thân nhau, đối xử với nhau trong tình anh em rất hồn nhiên. Ăn chung, uống chung, thậm chí ngủ chung. Hoàng Xuân Sơn kể lại (và được Khánh Ly xác nhận): Đêm, lúc đã vào khuya, vãn hát, quán vắng, anh em lấy rhum ra pha chanh đường nước đá, chia nhau uống. Uống xong, say, nằm lăn ra ngủ (không có ôm nhau đâu nhé). Khánh Ly nói chắc như bắp: “Rất trong sạch, hồn nhiên. Sáng ra, bình an, không ai bị thương tích (?), mất mát gì cả.” 
Một thời trẻ tuổi, và đẹp và vui, rất là trong sạch. Nguyễn có thể khẳng định như thế: Năm 1965, 1966, Đinh Cường lên Đà Lạt vẽ và triển lãm tranh, thuê căn phòng ở đường Rose, trong khu nhà Hoàng Anh Tuấn, có cả Đỗ Long Vân, lúc bấy giờ làm tại thư viện Đại Học Đà Lạt, cùng tá túc. Đó là thời anh em tụ họp nhau, cùng ăn cùng uống cùng ngủ chung mỗi ngày. Tất nhiên, có Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, Sau này thêm Trịnh Xuân Tịnh, Thanh Sâm, Phạm Nhuận... Dạo ấy, Nguyễn đã đưa Trịnh Công Sơn lên trên Đài phát thanh Đà Lạt, để Sơn đàn cho Khánh Ly hát Diễm Xưa thu vào đĩa. Xong, Sơn đem ra bưu điện gởi về Huế cho Thúy. Đây là đĩa hát đầu tiên Khánh Ly hát nhạc Sơn. 
A, những ngày vui qua rất mau. Như mây trên đỉnh ngọn thông vàng. Làm sao bắt giữ lại những đám mây kia, hả các bạn? 
Người đi về hướng gió... và những đốm lửa hắt hiu 
Bạn nhỏ thân mến, 
Phạm Chi Lan, bạn của chúng ta đã vĩnh viễn ra đi. Chiều nay, tại thành phố Garland này, trời nắng nhưng gió thổi mạnh, làm bay chiếc lá vừa mới nhuốm vàng của mùa thu đang tới. Đi trong trời gió, Nguyễn thấy lòng buồn vô hạn và chợt nhớ câu thơ của Phạm Chi Lan ngày nào: Người đi đi mãi về hướng gió 
Sống chết là lẽ vô thường của trời đất. Nhưng ai không cảm thấy nỗi xót xa khi một người bạn tài năng, giàu lòng nhân ái, lại phải chịu đựng nhiều nỗi oan khiên, ra đi khi tuổi đời còn trẻ và tương lai còn nhiều hứa hẹn. Cho nên, trong buổi hoàng hôn đầy gió trời này, Nguyễn muốn cùng bạn nhỏ đọc lại bài viết cho Phạm Chi Lan cách đây mấy tháng. Như chút lòng tưởng niệm người đã đi vào cõi gió. Người đi đi mãi về hướng gió 
Cứ nghĩ về một đốm lửa 
Ai nhóm hắt hiu 

Những câu thơ trên trích từ bài Calica của Phạm Chi Lan viết tặng Nguyên Nhi nhân một chuyến đi năm 2000. Vừa qua, Phạm Chi Lan bị sốt nặng, phổi đấy nước thở rất khó, phải vào bệnh viện giải phẫu. Tỉnh lại, Lan mừng khôn xiết, càng thấy yêu cuộc sống này hơn bao giờ cả. Mấy hôm sau, cảm thấy trong người khỏe hơn, Lan ngồi viết một bài văn dài nói về những giắc mộng của mình gởi đến bạn bè. Trong thư, Lan kể: 
“Nhi nói tối nay sẽ mang mền gối vào ngủ ở bệnh viện cạnh tôi. “Anh có chỗ nằm rồi, đây này, cái ghế này ngả ra sẽ thành một cái giường thoải mái. Được nằm ngủ cùng phòng cạnh em cả đêm còn gì bằng. Anh không thể chợp mắt một giây khi về nhà một mình, Căn nhà trống trơn, lạnh lẽo không có em... Nhìn chỗ nào anh cũng thấy bóng dáng em... Anh sẽ mang sách và thơ vào đọc cho em nghe, tối nay anh sẽ đọc thơ tình cho em ngủ...” Tôi thấy mình hạnh phúc vô cùng. Nhi ơi, anh là người yêu dấu nhất đời, có ai đọc thơ cho em nghe hay hơn anh đọc đâu... 
Và đúng như dự tính, tối thứ tư, 12/17/2008, 10g tối, Nhi ngồi cạnh tôi, với cuốn Quái Phong trong tay, anh lần giở đọc những bài thơ tình cho hải đăng, những bài thơ lúc nào cũng làm tim tôi như nghẹn lại vì cảm động, thơ đầy ắp kỷ niệm, chúng tràn về làm tim tôi nghèn nghẹn. Chúng tôi như đang đi lại trên những con đường hạnh phúc ngày nào... Giọng anh ấm và êm, anh đọc sang sảng như nhập vào lời thơ. Nước mắt tôi ứa ra, “đọc nữa đi anh, cái bài thơ nào có nhắc đến kỳ mình ghé đỉnh hải đăng ở Point Reye miền nam California, rồi kỳ mình đáp xe lửa từ Cerebes đi Barcelona đó...” 
Trở lại với những câu thơ của PCLan. Người đi đi mãi về hướng gió... Đi đâu vậy cà? Đi về phía đền thờ bên biển Castillana hay về phía hoàng hôn trên đại vực Grand Canyon? Hay đi về phía vịnh Tây Tử nơi có những đống lửa cháy trong đêm, sưởi ấm những mối tình đồng tính. 
Như một đêm bên ánh lửa vùng nhiệt đới 
Người mê đắm một vùng ngực trần 
Quyện mùi chocolate và tiếng reo của khát vọng 
Như thế đó những chuyến đi về hướng gió của một người, để rồi trên chặng hành trình, diễm phúc thay, còn gặp một vùng ngực ấm. Tuy nhiên, có những chuyến đi về hướng gió, không được may mắn như thế. Này bạn hãy nghe 
cũng một đêm nào như đêm nay 
khi những chiếc trực thăng di tản thương binh về hậu cứ 
trong quán cà phê. mờ đốm lửa 
em gục đầu trên vai anh 
nhủ thầm. bình minh. bình minh 
anh khóc với bình minh 
(NXT) 
Một cuộc chia tay thời chiến. Khi bình minh lên ở chân trời cũng là lúc xa nhau, anh lên đường về hướng gió, và có thể bị một viên đạn ầu ơ bắn vỡ toang lồng ngực. Như Y Uyên ở tiền đồn Nora. Như Vũ Đạo Ánh trong thơ và truyện Thanh Tâm Tuyền 
Có những chuyến lên đường về hướng gió như thế đó. Và, bạn nhỏ ơi, trên đường đi đôi khi ta gặp một nỗi buồn lớn. Như năm nào đã xa, thật xa, trong chiến tranh Việt Nam, đi trên đường biên giới, “chợt nhớ bài thơ yêu em ngày nào đã viết/ lúc còn phố vui. mái ngói. và lũ chim...” Còn nữa... Sau chiến tranh, cũng một đêm trời nổi gió, và mưa, những chiếc xe molotova bít bùng chở tù về hướng Tân Cảng. Khi xe chạy ngang cầu Sài Gòn, nhìn qua khu Thanh Đa, thấy những chấm đèn, lòng nhớ vợ con và mái nhà xưa rưng rưng nước mắt... Thế đó, người đi đi mãi về hướng gió... Thật sự, cũng có đôi lúc đi trong chiều thanh thản. Như Hồ Dzếnh, “ngỡ hồn mình là rừng/ ngỡ hồn mình là mây/ nhớ nhà châm điếu thuốc/ khói xanh bay lên cây”... Hay như Lê Văn Ngăn, “đốt điếu thuốc nghiêng nghiêng chiều lửa đỏ/ ngày trên cao reo mấy ngọn bạc hà...” 
Và, người đi mãi trên con đường của gió mùa, đi qua cuộc tử sinh. Về chưa... Về chưa... “Cháy trong vườn lãng quên/ chiều hoe. đốm lửa/ người tù xa lâu năm trở về/ bên mái nhà và bờ ao/ mùa thu tàn ố/ khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên/ nấm mộ đá ong/ dế khóc...” Bạn nhỏ ơi, tôi viết những dòng này đặc biệt gởi về bạn. Bởi lẽ, cuộc za-zu qua trần thế đầy bụi, máu, mồ hôi và nước mắt, rồi cuối cùng cũng tới nơi một điểm hẹn. Là đâu vậy hả bạn nhỏ, có phải là Kennesaw không?... 
vẫn chiếc áo sờn cổ 
đôi giày của gã lãng du 
tôi đi. với mảnh trăng mùa đông 
này bạn văn xưa 
còn không những nét dao trên đá 
về số phận. của một người. một đời 
và đốm lửa 
tôi nghe thơ anh cùng tiếng chuông ngân 
giã từ 
giã từ 
những mùa của quỷ 
Có phải không, đi mãi về hướng gió, nghĩ về những đốm lửa hắt hiu là như thế. Cảm ơn Phạm Chi Lan và những câu thơ để Nguyễn này có dịp nhìn lại cuộc hành trình của đời mình, của bạn bè. Và của lịch sử. 
Con chim sẻ của thành Paris 

Bài hát La Vie En Rose (Đời Màu Hồng), với Nguyễn, có một cái duyên đặc biệt. 
Hồi còn đi học, Nguyễn đã được nghe bài hát này qua hai tiếng hát - Edith Piaf, và Dalida. Riêng với Edith Piaf, bài “La Vie En Rose” đã làm nên tên tuổi bà. Quand il me prend dans ses bras/Il me parle tout bas/ Je vois la vie en rose... Khi ôm em trong vòng tay/ anh thì thầm, nói/ ôi, cuộc đời là màu hồng. Gần đây, xem cuốn video của Thúy Nga Paris “tiếng hát của các Diva”, Nguyễn lại được nghe Ý Lan hát La Vie En Rose. Cô mặc trang phục thật đẹp, rắt Parisienne, hát cũng hay. Rồi tiếp theo, Nguyễn được bạn gởi cho cuốn video “Người Việt ở Paris”, trong đó có cảnh Bạch Yến đứng bên bờ sông Seine hát Đời Màu Hồng thật tuyệt vời. 
Và mới đây thôi, đêm thứ ba 19 tháng 10. 2010, trong cuộc họp mặt văn nghệ ở ngôi nhà Nguyễn Xuân Phước bên hồ vùng Irving, ca sĩ Bích Xuân đến từ Paris bỗng nhiên đứng lên ôm đàn cất tiếng và gật đầu ra dấu cho Nguyễn cùng đứng lên:… c’est toi pour moi, moi pour toi/ dans la vie… Ôi đời màu hồng… Anh là của em, em là của anh/ trong cuộc đời này… 
“La Vie En Rose”, như đã nói, mang dấu ấn của Edith Piaf và là Edith Piaf bé nhỏ. Bà đúng là con chim sẻ (La môme - The little sparrow). Con chim sẻ của thành Paris. Nhỏ bé thế thôi (cao 1m47), tội nghiệp thế thôi, nhưng Edith Piaf là ca sĩ thần tượng của Pháp, biểu trưng của nền văn hóa Pháp Thế Kỷ 20. Edith Piaf được nhiều thế hệ yêu mến. Cuộc đời bà là một bi kịch đã được đưa lên màn ảnh. 
Thật vậy, Edith Piaf (1915-1963) là nghệ sĩ lớn nhất của quần chúng Pháp (greatest pop singer). Tiếng hát của bà là linh hồn của Paris. Nó cũng là bi kịch của đời bà. Những bài hát hay nhất và nổi tiếng nhất của Edith Piaf gồm: La Vie En Rose (1946), Hymne à l’Amour (1949), Milord (1959) và Non, Je ne regrette Rien (1960). Phim La Môme (Con chim sẻ) vẽ lại tiểu sử đời bà từ ấu thơ cho đến khi gần về cõi chết. Tựa đề của phim dùng ở Anh và Mỹ là La Vie En Rose (Đời màu hồng). Phim từng đoạt Giải điện ảnh lớn tại Berlin (tháng Hai, 2007). Và người đóng vai Edith Piaf trong phim (Marion Cotillard) đã được trao giiải Oscar vai nữ diễn viên xuất sắc (2008). Bộ phim khắc họa hình ảnh Edith Piaf từ tuổi nhỏ nghèo đói hãi hùng đến năm 46 tuổi trong giai đoạn lịch sử hai cuộc thế chiến. Một cuộc đời đầy biến động với quá khứ bất hạnh đã được đạo diễn Olivier Dahan miêu tả tài tình. Phim được khởi quay vào giữa năm 2006. Để nhập vai hoàn hảo, Marion phải nhuộm đen mái tóc nâu óng ả và đôi mắt nâu. Marion còn phải bỏ ra 5 giờ trang điểm và phục trang sao cho giống hệt Edith Piaf một thời. Phim chiếu tại Cannes lần thứ 60, mở màn LHP Berlin lần thứ 57, và phần diễn xuất của Marion đã nhận được hoan hô suốt hơn 15 phút sau đó. Marion từ một cô diễn viên trung bình đã trở nên nổi tiếng lẫy lừng ở Pháp, thường xuyên xuất hiện trên bìa các tạp chí danh tiếng. Xem phim, người ta có cảm tưởng cô là hiện thân của Edth Piaf. 
Edith Piaf, theo lời kể, sanh ra bên lề đường, bị cha mẹ bỏ rơi, tuổi thơ lớn lên trong nhà thổ của bà ngoại, mắt mù rồi lại sáng, y như một phép lạ. Năm 1929, vừa 14 tuổi, Edith theo cha đi hát dạo trên đường phố. Về sau, Edith rời bỏ người cha và đi theo con đường riêng của mình. Mười sáu tuổi, bà yêu một cậu tên Louis Dupont. Đây là mối tình đầu thơ dại của Edith. Hai người có với nhau một đứa con gái tên Marcelle, bé chết lúc mới hai tuổi. Năm 1935, Édith lọt vào mắt xanh của một ông chủ hộp đêm tên Louis Leplée. Ông thuyết phục cô theo nghiệp ca hát và đặt cho cô cái biệt hiệu theo cô tới cuối đời: Con chim sẻ Edith. Ông cũng là người yêu cầu Edith mặc toàn đồ đen khi lên hát, và trang phục này đã khắc họa hình ảnh người ca sĩ tài danh trong lòng người yêu nhạc. Tình yêu lớn nhất trong đời Piaf là với vỡ sĩ Quyền Anh Marcel Cerdan, mất năm 1949 trong một tai nạn máy bay trên đường đến thăm Piaf khi bà đang ở Mỹ. Trong một thời gian, Piaf lâm vào cơn khủng hoảng. Trong cơn hôn mê cuối đời, bà vẫn gọi tên Marcel. 
Piaf qua hai lần kết hôn: Lần thứ nhất với Jacques Pills, một ca sĩ. Họ lấy nhau năm 1952 và ly dị năm 1956. Người chồng thứ hai là Théo Sarapo, một thợ làm tóc sau thành ca sĩ và diễn viên, anh ta nhỏ hơn Piaf 20 tuổi. Chưa hết: Người nữ ca sĩ “con chim sẻ” cao 1m47 nầy còn nghiện rượu, nghiện ma túy. Khi lìa đời vào năm 1963, có cả chục ngàn người đến nghĩa địa Père Lachaise ở Paris để tưởng niệm. 
Ngày nay nhắc tới Edith Piaf là nói tới một biểu tượng của văn hóa Pháp. Tiếng hát của bà như còn âm vang đâu đó với đôi mắt mắt mở to, dáng người nhỏ bé mặc toàn đen, với bản «La vie en rose» (1946) ngợi ca tình yêu và hạnh phúc. Bài hát cuối cùng của bà là bài “Non, je ne regrette rien”: 
Non, Je Ne Regrette Rien 
Ni Le Bien Qu’on M’a Fait, Ni Le Mal 
Tout Ca m’est Bien Egal 
Non, Rien De Rien, Non, Je Ne Regrette Rien 
C’est Payé, Balayé, Oublié, Je Me Fous Du Passe 
Avec Mes Souvenirs J’ai Allume Le Feu 
Mes Chagrins, Mes Plaisirs, 
Je N’ai Plus Besoin D’eux 
Balayé Les Amours Avec Leurs Tremolos 
Balayé Pour Toujours 
Je Reparas A Zero 

Không. Tôi không còn hối tiếc gì nữa. Kể cả điều tốt người ta làm cho tôi, lẫn điều xấu. Tất cả với tôi đều như nhau. Những niềm vui. Những nỗi buồn. Đã quên, đã quét sạch hết rồi, Tôi chẳng thèm đếm xỉa đến quá khứ của mình nữa. Bằng những kỷ niệm, tôi nhúm lên ngọn lửa. Những nỗi buồn, những niềm vui… Tôi chẳng còn cần tới. Tất cả đã được quét sạch. Những mối tình rung động líu lo… đã được quét sạch vĩnh viễn. Tôi lại khởi đi từ số không. 
“La Vie En Rose” của đạo diễn Pháp Olivier Dahan thật là cảm động. Cuốn phim lột tả những tương phản cùng cực với niềm vui tột cùng và nỗi đau đớn, lầm than của kiếp người: những đường phố hẹp, trong đêm mờ mờ ánh lửa, nhà thổ và những khuôn mặt rã rời, cuộc hành hương cầu nguyện thánh Thérèse, đời sống cơ cực dưới mưa, sự tương phản giữa một Paris trước chiến tranh và New York tươm tất, chào đón người nghệ sĩ tài ba. Đó là cuộc đời của Edith Piaf. Nhà điểm phim Cao Thanh Tùng của báo “Viet Tribune” nhận xét: “Nghệ thuật của Olivier Dahan cho thấy rất rõ, những xen trên màn ảnh không theo một thứ tự thời gian. Sau xen Normandie là Belleville. Sau Paris tháng Hai, 1960 là California tháng 8, 1955.” Đúng vậy. Kỹ thuật của Olivier Dahan làm xáo trộn tất cả: không gian, thời gian, niềm vui, nỗi buồn. Diễu hành qua trước mắt ta - hình bóng cô gái nhỏ ca hát bên đường lượm từng đồng bạc, người nghệ sĩ như con chim bị ướt lông trên sân khấu với tiếng hát của sự lầm than, tình yêu, đám đông, chim sẻ và những quả chuông, anh lính lê dương, người kéo đàn phong cầm, cuộc hành trình dài của những người nghèo khó, tên ma cà bông, cái đĩa quay hoài... 
Trường đoạn gây ấn tượng nhất là lúc Edith Piaf uống thuốc an thần nằm mê, thức dậy, thấy người tình võ sĩ đã về với mình. Hai người ôm nhau, hôn nhau nhẹ nhàng, êm ái. Rồi nàng vội vàng đi sửa soạn bữa điểm tâm cho chàng gồm cà phê đen, bánh nướng. Nhưng rồi, ô hay, bạn bè ở đâu xuất hiện vây quanh. Trong đó có ông bầu hát, đạo diễn sân khấu, nhà quản lý... Họ buồn bã đứng nhìn người ca sĩ: “Edith, hãy can đảm lên. Máy bay từ Ma rốc đã rớt... “ Trong phút giây, Edith Piaf trợn trừng đôi mắt, hốt hoảng, khuỵu xuống, hai tay ôm lấy đầu. Lại đứng dậy, chạy quanh. Chạy ra phía sau. Mở ra một nhà hát đầy người. Một sân khấu, một giàn nhạc, và một tiếng hát cất lên... 
Một cảnh khác, trên bờ biển California. Edith Piaf ngồi một mình trên bờ cát, trước mặt biển màu nâu tím. Bà đang ngồi đan. Một nữ phóng viên trẻ tuổi tiến tới phỏng vấn bà. Phóng viên: “Bà khuyên phụ nữ điều gì?” Edith: “Yêu”. Phóng viên: “Còn những cô gái trẻ?” Edith: “Yêu”. Phóng viên: “Thế các em bé?” Edith: “Yêu.” 
Cảnh cuối cùng của phim muốn làm ta nghẹt thở: Edith hôn mê trên giường bệnh. Bà nhìn thấy mình là cô gái nhỏ đứng với hoa cỏ trên đồi. Thấy mình bị cha mang đi hát rong kiếm sống. Thấy sân khấu lớn mở ra và mình đứng hát: Non, je ne regrette rien. Không, tôi chẳng còn gì để hối tiếc... 
(Tổng hợp) 
Đỏ hoa vông… và gió 
Thật sự, hai bài viết dưới đây mang không khí thơ, bởi nó cũng lãng đãng, đầy âm vang và màu sắc. Nghĩ cho cùng cũng chỉ tại con người mình mà ra. Vậy xin bạn nhỏ hãy đón nhận nó, như đón nhận những cánh hoa vông đỏ rực của lòng tôi cuốn bay theo gió… 
Đỏ hoa vông… 
Hồi mới tới xứ này, lang thang ở những triền đồi Penasquitos hay những con đường vùng Huntington Library và Irvine ở Nam Cali, mắt tôi được nhìn thấy hoa vông đỏ nở rộ, rạo rực cả đất trời. Và mới đây thôi, một ngày đầu tháng Tư, cùng với Đinh Cường và Huy Phương đi thăm lại cây cầu Woodbridge ở Irvine nơi chia tay với H. ngày nào, bỗng bang hoàng gặp lại hoa vông. Vẫn là những bông hoa hình bàn tay với những ngón nở xòe màu đỏ rực. Đúng rồi, màu đỏ hoa vông của đất nước tôi đây, tuy không sâu sắc và giàu cảm thức bằng hoa đào, cũng gây ra xúc động đau đớn. Bao giờ cũng thế, không hiểu tại đâu, hễ ngắm màu đỏ thẫm của hoa vông là lòng tôi lại xốn xang, nhức nhối, như có một vết thương nằm sâu trong hồn bỗng rớm máu trở lại. 
Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy màu đỏ hoa vông là ở một cư xá quân đội, đường Sư Vạn Hạnh (không biết tôi có nhớ sai tên đường không, nhờ Hồ Hoàng Hạ hiện ở thành phố Chim Phượng trong vùng sa mạc nhắc giùm), ở phố núi bụi mù Pleiku, vào những ngày của tháng Ba năm 1974. Những ngày còn cháy lên trong tâm tưởng tôi, và bạn, cả em nữa, ngọn lửa hỗn mang, ảo ảo hồng hồng, của một cuộc chiến đang tới màn vĩ thanh. Những ngày ấy, giữa hai chuyến đi lên Eo Gió và đồi dã quỳ bên đỉnh ngọn Chu Prong, tôi ẩn cư tại nhà cô em trong cư xá. 

Buổi sáng, uống cà phê xong, nằm trên chiếc giường nhà binh có trải tấm poncho light, nhìn ra cửa sổ, thấy một cây vông chỉ còn mươi chiếc lá màu vàng mỏng manh. Sáng hôm sau, chỉ còn hai chiếc đong đưa đầu cành. Không, tôi không bị ám ảnh vì tác phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ kia đâu, mà là điều có thực ở những ngày mênh mang ấy. Lại sáng hôm sau nữa, không còn một chiếc lá nào trên cây. Nhưng, ô kìa, một đóa vông đỏ thắm hiện ra như một ảo tưởng của thời chợt khóc chợt cười. Một đóa vông đỏ dưới trời chiến tranh. Từ nốt nhạc dạo đầu ấy là cả rừng vông nở rộ trong nắng dội Pleiku. Và gió mùa thổi về. Tôi thấy lòng mình bỗng mở rộng, không giới hạn nữa. Tôi bắt đầu viết Tôi Cùng Gió Mùa trong khung cảnh này. Viết xong bài thơ, mới version thứ nhất, thì được tin bạn văn là Đỗ Thiều chết trên triền Bằng Lăng, trong một chuyến hành quân trực thăng vận. Anh bị bắn thủng ngực và hông, máu ướt đỏ tập bản thảo truyện ngắn Đêm Trong Vườn Đá Tảng, tác phẩm đầy những âm thanh cuồng nộ (sound and fury) của Shakespeare mà đi đâu anh cũng mang theo. 
Màu đỏ hoa vông, từ điểm vào truyện ấy, đã mang không khí bi kịch. Nó không là màu của hạnh phúc nữa, mà là chia ly, đứt đoạn, những mảnh đời không bao giờ gặp lại nhau. 
Đầu tháng Tư 1975, tôi lại nhìn thấy màu đỏ hoa vông trên con đường đi tìm thân nhân thất lạc qua những rừng bông vải, trên những triền cát Phan Rang. Cây vông đó đứng trong vườn nhà của một người Chàm, cạnh chiếc xe bò đã gãy mất một bánh, và quanh vườn có rào bằng cây khô. Bước trên triền cát bỏng, tôi bỗng thấy trước mắt ngước nhìn, cây vông đỏ rực như một hồn oan chợt hiện. Như thế đó, chỉ mấy ngày sau là mất hết. Nha Trang, Cam Ranh, Phan Rang, Sài Gòn... 
Trong tôi, màu đỏ hoa vông mãi mãi là một ám ảnh khốc liệt. Tại sao vẻ đẹp như thế lại nhuốm màu bi kịch. Hay có mùi hương trong cơn bão tố, vẻ lộng lẫy trong cái dẫy chết của chiều tà. Những bức Sunflowers của Van Gogh còn làm đớn đau tê dại trí óc con người. Dẫu thế nào, tôi không quên được màu của hoa vông. Và tôi gặp lại nó sau ngày đi tù về. Những bạn bè của tôi chuẩn bị ra đi không thấy có ngày quy cố hương. Đinh Cường, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền trước. Tô Thùy Yên sau. Cuối cùng đến lượt tôi. Trong những ngày sống lây lất chờ đợi, chúng tôi thỉnh thoảng có gặp nhau bên chung trà hoặc ly rượu đắng đến tận cùng nỗi đắng. Thường thì ở nhà Tô Thùy Yên, nghĩa là đi sâu vào vùng Ngã Ba Cây Thị, Xóm Gà, Cầu Hang... Từ nhà tôi ở Thanh Đa, đạp xe qua Cầu Đỏ, qua ao sen, đi mãi mới tới nhà bạn. Và trên đường đi, vào khoảng tháng Ba tháng Tư, tôi gặp cây vông nở hoa màu đỏ sau một hàng rào gỗ bên đường, khi vừa đạp xe qua chiếc cầu xi măng. Đỏ bầm như máu, đỏ điên mê ác mộng, ôi hoa. Từ màu đỏ ấy, tôi đi. Trời mưa những trưa có tiếng trẻ cười và lòng tôi đỏ ối. Nước mắt ơi, đừng rơi. 
Đến Mỹ, như đã nói ở đầu, lại gặp màu đỏ hoa vông ở vùng nắng rộng Nam Cali. Nhưng nỗi đau giờ đã lắng sâu vào bên trong, còn nỗi nhớ thì rất đầy. Tôi hát trong màu đỏ khi rời nơi đây để hẹn ngày trở lại. Thế mà xuân tàn, hè đã vào sâu, tôi vẫn chưa làm xong cái hẹn. Nếu những ngày hè này tôi không tới được Irvine thì ai ơi gọi dậy giùm tôi màu đỏ hoa vông và thổi về đây trong nắng, trước khi thu vàng buồn bã bắt đầu... 
Và gió 
Một buổi trưa trên đồi Penasquitos, tôi đang ngồi trầm tư, thì bỗng ngọn gió khốc liệt từ những vùng đất xa xôi thổi về. Đâu đó, đã có lần tôi nghe nói đến ngọn quái phong Santa Ana. 
A, trận gió kinh mang từng thổi qua mấy trăm năm lịch sử của vùng đất chưa dứt âm vang, chạy trên những con đường dài rồng rắn, thổi rúc như còi sừng trên những kiến trúc Mễ Tây Cơ ngơ ngác trong màu nắng vàng hồ, thổi và làm kêu rung những tên đất tên người đầy âm a âm ô. 
Này hỡi gió. Chào trận gió Quỷ Thi làm cỏ cây tàn úa, khô cạn suối nguồn, cát chạy đá bay, lòng dạ xốn xang, vỡ lở những vết thương của trời và đất. Tôi bỗng, trong phút hỗn mang, nghĩ đến quê nhà với ngọn đông phong thổi lạc vợ xa chồng, nước mắt tuôn rơi. Tháng này, gió mùa Đông Bắc cũng đã thổi tới trên quê hương tôi. Âm vang. Âm vang qua dòng sông vắng và những cánh đồng. Đã nở hết những bông hoa mùa cuối trên đất nghèo. Tôi bỗng nhớ đến, như còn rợn trên da thịt, ngọn gió Lào thổi qua biên giới vào vùng Nghệ Tĩnh những ngày nào. Thổi xơ xác đồi chuối hoang, thổi khô rốc thân tù, đỏ hoe bụi đất, quặn thắt ruột gan. Này bạn, nhớ không, những đêm nằm nghe gió giật mái tranh, o o trong sọ rỗng. Tưởng như tiếng ác điểu gào, báo giờ nguyệt tận. Và tôi chẳng thể nào quên. Vâng, tôi chẳng thể nào quên bản hợp âm màu đỏ của mùa thay lá những khu rừng cao su, khi gió thổi bùng đống lửa nhân gian, đám lưu dân ngồi đợi tia nắng đầu tiên. Cũng như tôi không quên mùa gió tháng Ba trên Eo Gió thổi qua rừng dã quỳ và đồi hoa vông đỏ ở Pleiku. Đó là những ngày báo hiệu tàn cuộc chiến. Trận gió cuốn cờ đang thổi qua bờ cõi. 

Gió, như từ những trang thơ của St John Perse. Vâng, đã từng có những cơn gió lớn đi qua mặt địa cầu. Và tôi đã đi qua nửa vòng trái đất để đến đây trên đồi Penasquitos gặp luồng quái phong hung bạo. Tôi muốn nói. Tôi muốn nói. Gió, hãy thổi ngược lại đoạn đường đã đi qua, tìm lại tôi những mảnh vỡ ngày nào. Nơi có bóng khu vườn và những ngôi mộ đá ong, tiếng bà ru cháu nhiếp gọi hồn âm. Và sau Vương Phủ, dưới bóng những cây bàng phai lục ố hồng, nhà thơ điên nửa đêm cầm bút viết lên trời trang thơ quỷ khóc. Gió, hãy thổi ngược lại phía đầu làng, đám trẻ ngày nào đang chơi trò chơi rồng rắn. Dưới ánh trăng, ăn hết khúc đầu cả xương cùng xóc. Ăn khúc giữa đầy những máu me. Nuốt tới khúc đuôi. Nuốt tới khúc đuôi. Mặt đất bỗng lên cơn dữ. Tượng đài xiêu. Sụp đổ, trong sớm chiều, bức tường ý hệ. Và gió, đưa ta về phượng thành. Em từ vùng nước xanh ao sen mùa hạ bước lên. Tóc và quần áo dính vào da thịt. Hai tay em ôm đầy bông sen đỏ. Ta gọi tiền thân em là hương sen. 
Gió vẫn thổi, như tự nghìn năm, ngược nẻo đường xưa. 
Và như thế, đã có những cơn gió thổi trên lịch sử, trên kiếp người. Thổi qua hồn tôi. 
Nội chiến Hoa Kỳ, nghĩa trang Arlington và tác phẩm ‘Cuốn Theo Chiều Gió’ 
Những trận gió lớn vẫn đi qua địa cầu… 
Xin nhắc lại câu thơ đã viết ngày nào và cùng nhau sống lại những ngày tháng đầy biến động trong lịch sử và trên những trang sách. Vậy chúng ta hãy bắt đầu: Trong tuần lễ từ 12 tháng Tư 2011, nước Mỹ đã diễn lại những tiết mục kỷ niệm ngày nội chiến bùng nổ 150 năm trước đây. Người ta đi thăm lại Nghĩa Trang Arlington, nơi yên nghỉ của các danh nhân và anh hùng nước Mỹ, và cũng là nơi chôn cất thi hài của những tử sĩ trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Dưới mộ này là hồn Bắc/ dưới mộ này là hôn Nam/ mây bay/ mây vẫn bay/ trên đồi Arlington… Dịp này cuốn sách và cuốn phim “Gone with The Wind” (Cuốn Theo Chiều Gió) đã được những người ái mộ, những “Windies”, nhắc nhở và cùng nhau ôn lại, nhất là tại Atlanta và vùng phụ cận, nơi có viện bảo tàng Gone With the Wind. 
Câu chuyện được gợi lại như sau: 
Tờ mờ sáng ngày 12 tháng 4 khoảng 20 quân nhân của Liên quân (Bắc Quân) giương cao ngọn cờ 33 sao trên chiến lũy Fort Sumter ở Charleston Harbor của tiểu bang South Carolina. Chẳng bao lâu, một phát súng lệnh từ một chiến lũy gần đó và đại bác bắt đầu thi nhau nổ dòn, giống hệt như những gì đã xảy ra đúng 150 năm về trước, khi Civil War khởi sự. 
Theo tài liệu của Nguyễn Minh Nữu được ghi lại trong bài “Nhớ Về Bài Hát Trên Đồi Arlington”, nội chiến Hoa Kỳ bắt đầu năm 1861 khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống và muốn thay đổi dự luật để xóa bỏ thể chế nô lệ. Trước ngày ông nhậm chức, bảy tiểu bang miền nam Hoa Kỳ phản đối chính sách cởi mở này và tuyên bố ly khai chính phủ liên bang, thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống. Chính quyền Abraham Lincoln không công nhận chính phủ Liên minh miền Nam này. Khi quân miền Nam tấn công đồn Sumter, Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ và thêm 4 tiểu bang khác gia nhập phe miền nam chống lại lực lượng Liên bang miền Bắc. 
Cuộc phân tranh Nam - Bắc kéo dài 4 năm và chấm dứt khi quân miền Nam đầu hàng năm 1865.với con số tổn thất của cả hai miền Nam Bắc là 970.000 người. Trong đó trận chiến lớn nhất xảy ra ngày 01 tháng 7 năm 1863 ở Gettysburg nằm ở tiểu bang Maryland, trong ba ngày chiến đấu, quân hai bên đã thiệt mạng lên tới gần 50.000 chiến binh. 
Chỉ huy quân Miền Nam là Tướng Robert E. Lee ra đầu hàng tại Richmond, thủ phủ tiểu bang Virginia, và được quân sử Hoa Kỳ ca ngợi như một nhân vật anh hùng. Ngày nay, ở bất cứ thành phố nào của Hoa Kỳ, cũng có ít nhất một con đường chính mang tên vị tướng này. Sử sách còn ghi, sau khi quân đội miền nam thất trận, tướng Lee nói với các hàng binh dưới quyền ông rằng: “Hãy từ bỏ lòng hận thù và để thế hệ con cháu của quí vị nhớ rằng họ đều là đồng bào, là công dân của nước Mỹ.” 
Và trưa ngày lịch sử 9 tháng 4-1865, Tướng Lee và một đại tá tùy tùng cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn ước. Hình ảnh ghi lại hai người đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón. 
Tàn chinh chiến, tất cả những người lính Miền Nam bại trận đều được tự do về nhà cùng với những con ngựa của mình. Trong khi đó, hình tượng của tướng Lee tràn ngập ở miền Nam Virginia. Câu lạc bộ Lee, bảo tàng viện Lee, Lee High Way, Fort Lee và các đồn trại của quân đội liên bang mang tên vị tướng thua trận như là một biểu tượng anh hùng. Dưới bóng nghĩa trang Arlington bên dòng Potomac, có khu mộ dành riêng cho các chiến sĩ Miền Nam tử trận. Nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang đã có dịp viếng thăm nghĩa trang này và viết khúc ca tưởng niệm trong đó có những câu bi thống: 

Này bạn, mang găng trắng, 
bồng súng gác trên đồi Arlington 
Chiều nay trời sẽ mưa hay sương gió lạnh lùng 
có còn vững đôi chân? 
Chào tay, nhìn thẳng nhé! 
Đập gót cho oai hùng! 
Hồn dưới kia hả dạ, xác thân này đã chết 
Cho một đất nước chung 
Này bạn, cùng chiến đấu, 
cùng gục ngã viên đạn ngược đường bay 
Về đây, cùng tới đây, chia nhau nghĩa trang này 
không lời hờn oán đắng cay 
Bắc Nam cùng mạch sống! 
Thắng thua đều anh hùng! 
Bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng 
chung dòng “Tổ Quốc Ghi Công” 
Các bạn ơi, xin một phút cùng nhìn lại khi cuộc nội chiến lụi tàn trên đất nước Việt Nam. Nào, chúng ta thấy gì? Một cuộc trả thù hạ nhục nhau. Người lính miền Nam bại trận bị bắn giết, giam tù khổ sai trong nhiều năm, cửa nhà bị tước đoạt, vợ con bị hành hạ, đày đi kinh tế mới… Rồi vượt biên, chết trên rừng dưới biển. Trong khi đó, mồ mả của chiến sĩ Miền Nam bị san bằng hoặc dời đi. Nghĩa Trang Tử Sĩ Biên Hòa bị mất tên và chìm trong hoang phế. Thử hỏi nhà viết sử có run tay không khi chép những trang máu lệ này. 
Trở về với cuộc nội chiến Hoa Kỳ, 75 năm sau khi nó chấm dứt, nhà văn miền nam Margaret Mitchell cho ra đời cuốn “Gone with the Wind” (Cuốn Theo Chiều Gió). Đây là một tiểu thuyết lồng trong bối cảnh trước và sau cuộc nội chiến với mối tình ảo tưởng và vô vọng của nhân vật chính Scarlett O’Hara, một cô gái diễm lệ, con nhà trưởng giả miền nam. Trước khi chiến tranh bùng nổ, cô đem lòng yêu một người đàn ông đã có vợ. Chiến tranh bùng nổ, Scarlett O’Hara trải qua những năm đầy sóng gió, cuộc hôn nhân của cô với người chồng Rhett Butler đổ vỡ, khi cô chợt nhận thức được thực tế là cô yêu chồng, vào lúc mà Rhett Butler không còn kiên nhẫn để chịu đựng cuộc hôn nhân trong đó người vợ ôm mãi ảo tưởng về một người đàn ông khác. Cuốn tiểu thuyết của Margaret Mitchell ra đời năm 1936 và tức khắc chinh phục được độc giả không những tại nước Mỹ mà còn khắp thế giới. Gone with the Wind còn được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và được dựng thành phim. Cuốn phim được chiếu ra mắt ngay tại thành phố Atlanta - Georgia, quê hương của Margaret Mitchell và cũng là thành phố lớn của miền nam từng bị thiêu rụi trong cuộc nội chiến. 
Mây vẫn bay qua trên bầu trời Arlington. 
Đợi vì sao dậy sớm 
Khuya nức nở những cõi lòng không ngủ 
Đợi vì sao dậy sớm tiễn người đi 
Không hiểu sao hai câu thơ của Joseph Huỳnh Văn trích dẫn trên lại cứ lởn vởn trong đầu óc Nguyễn tôi những ngày gần đây. Có phải giờ này gió mùa đang thổi trên khắp quê nhà, gợi lại những chuyến đi? Hay ngọn gió Santa Ana đang thổi suốt dọc giải đất Cali, làm dậy lên tiếng những chiếc phong linh bằng đất nung khua chạm vào nhau? Le vent se lève… Gió đã lên… Gió đã lên rồi… hãy thử sống xem sao?... 
Vậy đó, hai câu thơ gợi những âm vang. Kẻ viết những dòng này đã đọc khá nhiều thơ của Joseph Huỳnh Văn - những bài thơ nửa tượng trưng nửa siêu thực, những bài cầm dương xanh sầu quý phái - nhưng không hiểu sao hai câu thơ bình dị nói trên bỗng dưng lại có mê lực đưa lòng mình vào tưởng nhớ mông lung. Hai câu thơ thật giản dị nhưng khơi gợi nhiều quá. Phải chăng nó đã động phải những tầng sâu thẳm nào đó tận dưới đáy hồn - và đáy thời gian. Nhưng thôi hãy gượm. Trước khi nói về thơ, xin hãy nói về người. Con người đó là Joseph Huỳnh Văn. Nguyễn được đọc và nghe tên anh từ hồi tạp chí Thời Tập của Viên Linh. Joseph Huỳnh Văn. Cái tên lạ, nửa Tây nửa Ta, nhưng rồi cũng trở nên quen thuộc. Chữ nghĩa của Joseph Huỳnh Văn thì quá đẹp, quá sang mà tình yêu của anh với Têrêsa cũng sánh ngang tình yêu của Pasternak với Lara, nghĩa là diễm lệ và ngang trái. Những bài thơ “cầm dương xanh” của Joseph Huỳnh Văn xuất hiện ở những năm đầu 1970, sau đó là biến cố 30 tháng 4 khiến ‘ông hóa ra thằng thằng hóa ra ông’. Và nhà thơ cũng lấm bụi tù ngục và hè phố. 
Khoảng năm 1983, do Nguyễn Minh Diễm (giám đốc đài RFA, vừa nghỉ hưu) giới thiệu, kẻ này gặp Joseph Huỳnh Văn ở một con hẻm cắt ngang đường Hiền Vương, khoảng giữa Duy Tân và Hai Bà Trưng Tân Định. Lúc bấy giờ anh đang làm thợ mộc qua ngày. Uống với nhau chén rượu đắng bên góc phố, Joseph Huỳnh Văn cho biết anh vẫn tha thiết với thơ như ngày nào mặc dù vừa qua cơn gió bụi mịt mờ. Những tháng năm sau đó ít gặp anh, cho mãi đến tháng 6. 1995, nhà thơ Nguyễn Thanh Châu báo hung tin: Joseph Huỳnh Văn đã chết trong một cuộc thù tạc với bạn bè. Anh bỏ cuộc chơi, lên đường vào cõi không màu, nhưng cầm dương xanh thơ anh vẫn còn được đọc và xuất hiện trên báo chí trong nước cũng như hải ngoại. Trở lại với hai câu thơ trích dẫn ở đoạn trên: Khuya nức nở những cõi lòng không ngủ/ Đợi vì sao dậy sớm tiễn người đi... Không biết Joseph Huỳnh Văn viết hai câu này vào giai đoạn nào trong đời anh và đời chung chúng ta, thế nhưng nó chứa đựng nhiều thao thức trăn trở của những ngày anh em tóc còn xanh giữa những biến động của lịch sử và đời người. Tất nhiên, những cõi lòng không ngủ và nức nở lúc khuya tàn chẳng phải vì thất tình, tuy rằng bị tình yêu nó vật cũng khốn khổ lắm lắm và có thể chết đi được, nhưng dứt khoát không làm bạn hay tôi thao thức và ưu tư đến thế. Vậy thì đây chính là tâm trạng ở vào những khúc quanh của đời người lúc ta chuẩn bị một cuộc hành trình nào đó. Như chuyến đi của Arzola rời bỏ xứ Mễ Tây Cơ được thuật lại trong báo The Dallas Morning News hồi đầu tháng qua. Một lần nữa dòng lệ giã biệt lại tuôn rơi giữa những người thân trong gia đình lúc tinh sương những ngôi sao còn sáng ở chân trời. “Dios te cuide, mi hija,” bà Josefina thì thầm với Arzola, khi hai bà cháu ôm nhau, nước mắt ròng ròng trên má. “Xin Chúa che chở cho cháu, cháu của bà ơi!”
Các anh chị em của Arzola đều cúi đầu im lặng. Vừa dứt những vòng tay ấm, Arzola vội vã rời bỏ ngôi nhà xiêu xiêu bên suối, lên đường để kịp đáp chuyến xe đầu ngày. Cô nói với phóng viên: “Mọi người ở đây đều hướng về Texas. Họ sẽ đi tới Dallas, Fort Worth, Waco - những nơi dễ kiếm việc làm mà khỏi phải băng qua sa mạc Somora nóng bỏng. Có đến hàng trăm di dân đã chết trên sa mạc này. Hiện tại, vùng Bắc Texas vẫn là nơi hấp dẫn.” 
Khuya nức nở những cõi lòng không ngủ… Đó cũng là tâm trạng của Cory và Jessica ở thời khắc hai người sắp chia tay nhau: Cory lên đường trở lại chiến trường gió cát Iraq sau hơn một tuần được về phép thăm Jessica. Tưởng tượng lúc Cory từ biệt lên đường, trời vẫn còn nhiều bóng tối, có những vì sao lung linh trên bầu trời. Có thể nào những vì sao kia là mắt của Jessica? Trần Mộng Tú, trong truyện ngắn Những Đôi Mắt, thuật lại những lời Jessica nói với người yêu khi lần cuối cùng anh về trong chiếc áo quan: “Cory, đây là những đôi mắt của em, những đôi mắt lớn lên với em từ thời thơ dại. Anh còn nhớ những đôi mắt này không? Chúng đã nhìn anh khôn lớn, đã nhìn tình yêu của chúng ta trưởng thành. Khi em lớn lên và yêu anh, em khám phá ra, chính những viên nhựa vô hồn này là mắt thật trong sáng của em. Em bỏ chúng vào đây (trong quan tài này) để mắt em lúc nào cũng được nhìn anh bên kia đời sống.” Một chi tiết: Jessica bị mù từ bé, phải mang những đôi mắt bằng nhựa. Trở lại với câu thơ của Joseph Huỳnh Văn: Đợi vì sao dậy sớm tiễn người đi… Đúng là những chuyến đi làm đời ta chuyển sang một hướng khác. Có vậy mới phải đợi vì sao dậy sớm để tiễn người đi. Ai thời trẻ tuổi ở quê nhà không một lần bỏ trường, bỏ lớp, bỏ phố xá để vào trại nhập ngũ chẳng hạn. Như Nguyễn này, năm 1963 đang dạy học êm đềm ở Mỹ Tho bỗng nhận được giấy gọi nhập ngũ, phải giã biệt người vợ trẻ, bỏ lớp bỏ học trò - trong đó có đôi mắt màu nâu rưng rưng lệ - lên đường vào quân trường nắng gió. Hay như anh chàng ca sĩ nọ sau những ngày vất vưởng, sống vô vọng nơi mảnh đất quê nhà, bèn quyết định ôm đàn lên tàu hỏa xuôi nam đi xây sự nghiệp bắt đầu bằng hai bàn tay trắng. Hoặc giả ở trong trại tù, lúc quân Trung Cộng đánh vào biên giới rất gấp, đêm thao thức chờ sáng mai chuyển trại chẳng biết về đâu. Đầu tháng Sáu 1995, lại một lần nữa Nguyễn này này dứt áo ra đi. Lần này là vĩnh biệt quê nhà không ngày trở lại. Sáng sớm tinh sương thức dậy, ra đứng ở lan can nhìn xuống sông Thanh Đa êm đềm. Kìa những vì sao rưng rưng mắt lệ phía bên kia sông đầu Làng Báo Chí. Tiễn đưa nhau lần cuối nhá, sao ơi… 
Như thế đó. Nguyễn - và chắc chắn nhiều bạn khác nữa - đã ở trong những tình huống như thế vào những năm tháng tuổi trẻ của đời người. Vậy cho nên, gặp được hai câu thơ trên của Joseph Huỳnh Văn, mà tưởng chừng gặp cố tri. Nên có mấy dòng lãng đãng này. Câu chuyện trên bờ biển… 
Một ông lão đang dạo chơi trên bờ biển, nhìn thấy hàng ngàn con sao biển bị sóng đánh dạt vào bờ. Gần đó, có một cô gái nhỏ đang nhặt từng con ném trở lại đại dương. “Ồ, cô bé thật ngớ ngẩn quá,” ông lão thốt lên, “Con không thể cứu được tất cả chúng đâu, chúng quá nhiều!” 
Cô gái nhỏ chỉ mỉm cười và nói:”Cháu biết, ông ạ! Nhưng cháu có thể cứu từng con...”. Cô bé lại ném một con sao biển khác xuống nước, “và từng con…”, cô gái lại ném, “từng con...” 
Ôi, em bé tội nghiệp của tôi ơi. Những đau thương của nhân loại thì quá nhiều - như trong cơn sóng thần ở Nhật Bản năm rồi - vâng, những đau thương của nhân loại thì quá nhiều mà bàn tay của em nhỏ bé thế kia làm sao cứu hết được tất cả nạn nhân của thiên tai. Thế nhưng, nếu không làm gì cả - vì bất lực, tuyệt vọng, hay gì gì đó - thì đau khổ sẽ còn nguyên và ngày càng gia tăng. Cho nên, tôi thương và quý biết dường nào bàn tay của em cứu những con sao biển. Hãy tiếp tục, nghe em. Và tôi cũng biết những trang thơ tôi viết ra, những câu văn của tôi ở đây, không giúp được gì cho đồng loại của tôi đang chới với trong đau khổ. Nhưng lẽ nào tôi im lặng. Im lặng là chết, là địa ngục, đó em. 
Từ một bếp lửa 
Có thể nói không gì ấm cúng, thân yêu bằng bếp lửa của mẹ. Nó là hình ảnh của ấu thời tôi, và có lẽ cả ấu thời các bạn nữa. Và phải chăng mỗi khi cảm thấy chới với trên đường đời, ta lại tìm về bếp lửa ngày xưa ấy. Tìm về để được thấy an ủi, tin tuởng hơn, hầu cất bước đi tiếp trên con đường chông chênh của kiếp người. 
Con đã đi bao năm/ mẹ vẫn ngồi bên bếp lửa... 
Nguyễn tôi xin phỏng theo thơ của Ngô Kha để gợi lại hình ảnh của mẹ. Dù sáng tinh sương hay khi chiều xuống, mẹ vẫn ngồi ở đó để lo cho bữa ăn gia đình và để nghĩ ngợi, xót thương. Cho tới ngày giọt nắng rụng xa cành, cho tới ngày mẹ không còn nữa trên cõi đời này, thì trong nỗi tưởng nhớ của con mẹ vẫn ngồi bên bếp lửa. Cho nên, Nguyễn rất đồng cảm với Lê Văn Ngăn khi anh viết: 

Mỗi buổi mai, lúc nền trời những vì sao chưa tắt 
bao nhiêu bếp lửa đã sáng lên trên hành tinh này 
và bếp lửa của mẹ, từ tuổi thanh xuân đến tuổi xế chiều 
vẫn cháy chập chờn trong căn nhà nhỏ. 
Mẹ đã khởi đầu sự sống cho con cái mình 
bằng một ngọn lửa như thế 
Và người viết có thể nói một cách rất tự tin rằng “Bất cứ anh con trai nào của đất nước mưa phùn và nắng cháy này cũng ra đi từ bếp lửa của mẹ. Chính ở đó bắt đầu sự sống. Chính ở đó dạy cho ta bài học yêu thương và sự biết ơn.” Giờ đây, xin cho người viết được ngỏ đôi lời với mẹ của mình. Mẹ ơi, từ ấu thơ của con, và có lẽ từ hồi mẹ còn con gái, mẹ đã nhóm lên bếp lửa. Và từ lúc con biết nhìn thế giới chung quanh thì con đã nhìn thấy bếp lửa của mẹ. Thuở đó, trong căn nhà ở Vương Phủ, mẹ đâu đã được hưởng những tiện nghi như các bà mẹ bây giờ. Mẹ đâu có bếp than, bếp điện, bếp gas... Mẹ chỉ có ba hòn gạch hay cái chân kiềng để làm bếp. Còn vật liệu để đốt, chỉ có những nhánh củi mót trong vườn nhà, những tàu dừa tàu cau đem xẻ ra, chặt nhỏ ra phơi khô. Hay bó rạ, thúng trấu, thúng dăm bào xin từ hàng xóm. Với chừng đó vật liệu, mẹ nhóm lên bếp lửa cho gia đình. Cha cũng vất vả sớm chiều trên chiếc xe đạp màu đen hiệu Saint Etienne đi làm kiếm tiền. Nhưng cha còn được nghỉ ngơi, uống trà, đọc báo. Còn mẹ, mẹ cặm cụi, vất vả, nhọc nhần từ sớm tinh sương cho tới khi chiều tối. Và mẹ là người gần gũi với con hơn ai hết. 
Như thế đấy, trên bếp lửa của mẹ luôn luôn có ấm nước, niêu cơm, trách cá kho, om canh rau. Từ sáng sớm, mẹ đã thức dậy nấu nước pha trà cúng bàn thờ ông bà, rồi mẹ bắc nồi cơm cho cả nhà ăn và để bới vào mo cau cho con đi học. Cho tới bây giờ, khi đã qua bao nhiêu chặng đường của cuộc đời, con không quên nắm cơm của mẹ cùng với dúm muối mè ăn vào còn dư vị ngọt bùi ở cổ. Cũng vậy, làm sao quên được miếng cá ngừ kho, bát canh hoa lý của mẹ ăn trong chiều hè. 
Thường xuyên hơn cả, mỗi buổi chiều, trên bếp của mẹ sôi sục nồi cám heo. Ôi, con vẫn còn thấy như đang xảy ra trước mắt cảnh mẹ đi đốn từng cây chuồi vào xắt ra rồi bằm nhuyễn trộn với cám nấu lên cho heo ăn. Thuở ấy, mẹ chịu khó nuôi thêm một hai con heo để kiếm thêm lợi tức cho gia. Thực chất, đây giống như những đồng xu bỏ ống: nuôi heo cho lớn, mẹ kêu người bán, vậy là nhà có được thêm một món tiền, dành khi kỵ giỗ hay việc nọ việc kia trong gia đình. Chiều nay, con ngồi nhớ lại mà rưng rưng nước mắt. Mẹ ơi! Này, các bạn của Nguyễn, có thể một hai người trong các bạn ra đi từ một nơi sang trọng. Mừng cho các bạn thôi. Riêng Nguyễn này và rất nhiều người nữa đã lớn lên và ra đi từ bếp lửa của mẹ. Thực tình, Nguyễn tôi không có gì mặc cảm hay xấu hổ để nói lên điều này. Gịot nước sông kia khi ra tới biển còn nhớ về nguồn. Huống chi... Phải nói rằng từ căn bếp ấy ta có được bát cơm ăn mỗi ngày. Sự tăng trưởng của các tế bào trong cơ thể cậu bé con hay cô bé, trong đó có những tế bào óc, là từ đâu ra. Nguyễn lớn lên từ niêu cơm và nồi cám heo của mẹ. Rồi sau này, từ những chữ abc và bản cửu chương học thuộc lòng, cho tới những công thức và định đề toán học, những tư tưởng cao siêu của các triết gia, những bài thơ đẹp như châu ngọc của các thi sĩ, những bức tranh những pho tượng những tiếng hát và vở kịch trên sân khấu... vân vân, tất cả đều thấp thoáng ánh lửa của căn bếp trong buổi đầu đời của ta. 
Nơi đó, chái bếp nghèo của mẹ, những lúc chán chơi hay bị bạn bè xịt ra, Nguyễn tôi lại ngồi nghe mẹ kể chuyện ngày xưa. Chuyện gia đình ngoại ở làng Phù Lễ, chuyện cổ tích dân gian. Không hiểu từ đâu mẹ thuộc lòng rất nhiều câu hát và ca dao. Có thể nào một phần tâm hồn của Nguyễn, trong những buổi đầu đã được nuôi bằng những dưỡng chất ấy. Còn nhớ khi đã bể giọng và bắt đầu làm thơ, Nguyễn đem khoe mẹ những bài thơ đầu tiên chép tay, đọc cho mẹ nghe vài câu vài đoạn. Và Nguyễn nói với mẹ: “Sau này, con sẽ đem in thơ bán lấy tiền nuôi mẹ.” Ôi, ngây thơ khờ khạo như con cún con. Để rồi khi đụng phải bức tường thực tế mới vỡ mặt vỡ mày ra. Hình như trong đời chỉ một lần duy nhất được Tô Kiều Ngân trả cho 500 đồng bài thơ đăng trên báo Tiền Phong của quân đội, còn ngoài ra thơ Nguyễn tôi chỉ được đăng chùa, có khi còn phải đãi cà phê cho người chủ bút để được đăng thơ. Ấy là chưa kể bao nhiêu lần tốn giấy (pelure) tốn mức (waterman) chong đèn (dầu lửa) cặm cụi chép thơ rồi mua phong bì mua tem gởi tặng mấy bà con gái (mà ngày hôm nay Nguyễn đều gọi bằng “má” tất tật…). Làm thơ - như Nguyễn và mấy ông bạn ngây thơ khờ khạo khác - quả chẳng được đồng xu cắc bạc hay sự đoái hoài nào cả. Bụng đói, làm thơ. Thất tình, làm thơ. Ở trong tù Cộng Sản, đi đẩy gỗ, đẩy xe đá, cuốc đất, cũng làm thơ. Làm trong đầu, cố nhiên. Gánh cỏ trên vai, thơ trong đầu (TTT) 

Ôi, ôi, hình như Nguyễn này đã đi khá xa đề. Xin trở lại với bếp lửa trong căn nhà xưa. Và xin nhắc lại: Nguyễn tôi đã ra đi từ một bếp lửa như thế. Ngày nay, khi đã đặt chân lên biết bao sân ga, phi cảng, lái xe trên những freeway ngàn dặm và trên những cây cầu treo qua thế kỷ, thỉnh thoảng trước mắt Nguyễn hiện ra trong đêm sương hay qua màn mưa tuyết phủ, hình ảnh một bếp lửa ấm cúng vá thân yêu. Bếp lửa của mẹ ta ngày nào. Ôi mẹ!. 
Cuốn bay theo gió 
Đêm 10 tháng 4. 2011. 
Một trận cuồng phong thunderstorm đang kéo qua bầu trời Dallas. Và tin thời tiết lúc chiiều còn bào động tornado có thể ghé tới Wichita Falls. Vậy là gió lớn đang lên. Nguyễn ngồi thức viết những dòng này khi cơn giông đang kéo qua bầu trời. Cho nên từ trang viết không khỏi có chút không khí của bão tố thời đại. 
Vậy xin bắt đầu. Từ những ngày còn trẻ, Nguyễn đã đặc biệt chú ý tới hai huyền thoại âm nhạc của nước Mỹ và cả thế giới: Bob Dylan và Joan Baez. Yêu mến nhưng vẫn có chút hờn giận vì cả hai đã có một lúc nào đó trong đời có cái nhìn không đúng và thiếu công bằng về cuộc chiến Việt Nam. Nay thế giới đã thay đổi, cuộc đời đã thay đổi, những ca sỹ/ nhạc sỹ yêu mến của Nguyễn đã có thêm nhiều kinh nghiệm để nhìn cho đúng sắc trời và màu của mặt đất này. 
Và ngày 10/04/2011 vừa qua, Bob Dylan đã đến Việt Nam, trình diễn trước cả ngàn khán giả đủ mọi lứa tuổi, ngồi trên sân vận động trường Đại Học Úc RMIT ở Sài Gòn. Là biểu tượng của phong trào phản kháng và phản chiến Mỹ trong thập niên 1960 và 1970, đây là lần đầu tiên huyền thoại sống của nền ca nhạc thế giới đặt chân xuống đất nước từng là nguồn cảm hứng cho một số sáng tác của anh, nơi diễn trường của bao tấn kịch vừa khốc liệt vừa bi thương.. Trong các khán giả nôn nóng chờ đón Bob Dylan, có Đỗ Trung Quân, nhà thơ nổi tiếng. Trả lời RFI, Đỗ Trung Quân cho biết anh rất tâm đắc với bài hát Times They Are a-Changin’ (Thời đại đang thay đổi) của Bob Dylan mà tính thời sự ngày nay vẫn tồn tại. 
Theo ghi nhận của hãng tin Pháp AFP, cho dù giới trẻ Việt Nam hầu như chưa hề nghe nói đến Bob Dylan, thế nhưng rất nhiều người đã đến tham dự buổi biểu diễn của nghệ sĩ, sẽ tròn 70 tuổi vào tháng năm tới đây. Đã có khoảng từ 5.000 đến 6.000 khán giả đến nghe Bob Dylan hát, và đều tỏ ra rất thích thú. 
Vấn đề mà hãng tin Pháp nêu lên, là giống như cách nay mấy hôm tại Trung Quốc, lần này ở Sài Gòn, Bob Dylan cũng không trình diễn (hay không được trình diễn? NXT) hai ca khúc tiêu biểu đã từng gắn liền với tên tuổi của anh. 
Đó là bài Times They Are A-Changin’, và bài Blowin’ in the Wind, với nội dung phản kháng rất mạnh. Theo AFP, trước ngày trình diễn, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết là không thể xác định rõ là các ca khúc mà Bob Dylan chuẩn bị trình bày có bị kiểm duyệt trước hay không. Tuy nhiên, Tổ chức bảo vệ nhân quyền Mỹ Human Rights Watch thì không hồ nghi gì cả và cho rằng Bob Dylan lẽ ra phải thấy xấu hổ. Theo ông Brad Adams, giám đốc châu Á của Human Rights Watch thì: “Chắc chắn là chàng thanh niên Dylan sẽ không bao giờ chịu để cho một chính quyền áp đặt việc mình phải hát bài gì”. Đó là theo bản tin của đài RFI. Còn theo BBC Newshour, một số nhà vận động nhân quyền quốc tế hỏi vì sao Bob Dylan không lên tiếng tại Trung Quốc về vụ bắt nghệ sỹ Ngải Vị Vị hôm Chủ Nhật 03/4/2011. 
Được biết các bài hát của Bob Dylan đều được đồng ý trước với nhà chức trách để không có nội dung gì họ không muốn. 
Nguồn tin trong nước thì ghi nhận: Phần đông fan, người thưởng thức đêm nhạc Bob Dylan tại sân vận động Đại học Quốc tế RMIT tối 10/4 là khán giả đến từ các nước cũng như người nước ngoài sống ở Việt Nam. Rất nhiều người trung niên, hoặc mái đầu đã bạc trắng, đến để được dịp nghe lại những bài hát cũ của một huyền thoại. Sống ở Việt Nam hơn 10 năm, họa sĩ Pháp Helene Kling cùng chồng và nhóm bạn của mình có mặt tại buổi diễn từ sớm để chờ nghe Bob Dylan hát. “Tôi sinh năm 1963, giai đoạn mà nhạc phẩm Blowin’in the wind làm thổn thức trái tim của mọi người. Khi tôi còn là cô gái trẻ, tôi trải qua một quãng thời gian cùng Bob Dylan và nhiều nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc phản chiến. Tham dự buổi diễn đầu tiên của ông tại Việt Nam, với tôi như là cách để quay về với tuổi trẻ của mình”, Helene Kling chia sẻ. 
Riêng Nguyễn, nếu có mặt trong đêm diễn 10 tháng 4 ở Sài Gòn, Nguyễn sẽ hỏi nhỏ Bob là anh có biết vì muốn cuộc đời này thay đổi mà nhiều trí thức trẻ ở đây đã bị bắt bớ và khủng bố không. Anh có biết Cù Huy Hà Vũ không? 
Bây giờ, xin nói về hai bài hát đã không được phép hát ở Trung Quốc và Việt Nam. Bài Times They Are A Changin’ và bài Blowin’ in the Wind. Trước hết là bài Times They Are A Changin’ (Thời Đại Đang Đổi Thay). Ca khúc này được viết năm 1964, trong đó Bob Dylan kêu gọi một cuộc đổi thay rộng lớn, nghĩa là kêu gọi mọi người làm cách mạng thay đổi thế giới. Come gather ‘roud people/ Wherever you roam… Này các bạn ơi/ hãy đến với mọi người/ bất cứ giờ này bạn ở đâu/ triều dâng biển động/ bạn hãy lao trên ngọn song và bơi đi/ nếu không bạn sẽ chìm xuống đáy sâu như hòn đá/ vì thế giới này đang đổi thay… 
Còn bài Bowin’ in the Wind thì nguyên văn như sau đây và kèm theo bản dịch của Nguyễn. 

BLOWIN’IN THE WIND 
How many roads must a man walk down 
Before you call him a man? 
Yes, ‘n’ how many seas must a white dove sail 
Before she sleeps in the sand? 
Yes, ‘n’ how many times must the cannon balls fly 
Before they’re forever banned? 
The answer, my friend, is blowin’ in the wind, 
The answer is blowin’ in the wind. 
How many years can a mountain exist 
Before it’s washed to the sea? 
Yes, ‘n’ how many years can some people exist 
Before they’re allowed to be free? 
Yes, ‘n’ how many times can a man turn his head, 
Pretending he just doesn’t see? 
The answer, my friend, is blowin’ in the wind, 
The answer is blowin’ in the wind. 
How many times must a man look up 
Before he can see the sky? 
Yes, ‘n’ how many ears must one man have 
Before he can hear people cry? 
Yes, ‘n’ how many deaths will it take till he knows 
That too many people have died? 
The answer, my friend, is blowin’ in the wind, 
The answer is blowin’ in the wind. 
Bob Dylan
CUỐN BAY THEO GIÓ 
Này bạn hỡi, 
có bao nhiêu con đường một người phải đi 
trước khi bạn gọi người ấy là người 
vâng. và có bao nhiêu biển khơi để con bồ câu trắng vượt 
qua 
trước khi nó nằm ngủ mơ trong cát 
vâng. và có bao nhiêu đạn pháo bay ra khỏi nòng 
trước khi những khẩu súng bị cấm tuyệt 
câu trả lời. bạn ơi. để cuốn bay theo gió 
câu trả lời. để cho gió cuốn bay đi 
phải bao nhiêu năm một ngọn núi đứng dưới trời 
trước khi nó bị cuốn trôi ra biển 
vâng. và phải bao nhiêu năm để một số anh em ta có mặt trên trái đất này 
trước khi họ được hưởng tự do 
vâng. và bao nhiêu lần gã kia quay mặt 
giả vờ không hề nhìn thấy 
câu trả lời. bạn ơi. để cuốn bay theo gió 
câu trả lời. để cho gió cuốn bay đi 
phải bao nhiêu năm để cho một con người nhìn lên 
trước khi y thấy được bầu trời 
vâng. và y phải có bao nhiêu lỗ tai 
để nghe tiếng người kêu khóc 
và phải bao nhiêu cái chết xảy ra 
để y thấy rằng có quá nhiều người đã chết 
câu trả lời. bạn ơi. để cuốn bay theo gió 
câu trả lời. để cho gió cuốn bay đi 
Những bông trúc đào 
Còn lối bâng khuâng. ngõ trúc đào… 
Câu thơ của Đinh Hùng gợi Nguyễn nhớ tới những bông trúc đào trong vườn ngoại ở Nguyệt Biều ngày nào. Ôi, lối cũ… Nhớ một mùa hè cùng chị Bích Đào trên hai chiếc xe đạp rong ruổi - chuyến về thăm đã được ghi lại trong bài Thảo Nguyên viết ở trại tù Thanh Chương ngày nọ: 
mai mốt chị qua vùng thảo nguyên 
như xưa. một lần về quê ngoại 
ngày reo vui. vườn chim. bay. chim 
lòng reo vui. reo tà áo lụa 
chị gội đầu bằng nước hoa chanh 
hương tóc bay sang. chiều vời vợi… 
Và cách đây mấy năm, cũng vào mùa hè đi chơi vùng biển Destin, Nguyễn gặp lại những bông trúc đào màu đỏ. Đọc tới đây, có vị sẽ hỏi, ôi bông trúc đào thì báu gì đâu mà cũng đem ra kể lể dài dòng. Cái ông Nguyễn này quá là lẩn thẩn. Vâng có gì đâu. Cái bánh madeleine của Proust hay những bông hoa vàng bên cửa sổ của Nguyễn Du cũng có gì đâu mà làm cho văn học và các thức giả phải mất nhiều trang nói tới. Vậy, Nguyễn đã gặp lại những bông trúc đào mầu đỏ trên bãi biển Destin. A, chúng đã làm Nguyễn nhớ tới quê ngoại và cả những con đường ở Orange County đã lâu không có dịp đi lại. Những con đường ở Orange County… với những buổi sáng mai trong quán sách và băng nhạc. Những đêm cà phê màu hồng. Và màu môi đỏ rực của Lou trong thơ Apollinaire một đêm ở Vieux Carré. Ôi, Lou đã chết từ những ngày nào. 
Và ở Destin, Nguyễn cũng đã gặp những chiều mưa trên biển với màu đỏ của những bông trúc đào. Có gì đâu, vâng, có gì đâu mà cũng khiến lòng gã làm thơ này bồi hồi. Nghĩ tới những hải cảng mưa buồn trong thơ Trần Dần. Nhớ khúc nhạc Trung Hoa và màu đỏ của mưa trên bãi Thượng Hải. Và nhớ Nha Trang những ngày cuối tháng Ba năm 1975. Cũng những chiều mưa rơi trên biển và những bông sứ máu và bông trúc đào trong vườn ai rụng tả tơi. Phải không, em đã khóc khi giã từ... Và mưa rơi trên biển. Biển xa. sâu. như mây tần/ thùy dương dậy. chiều tà. hung hãn… 
Và mưa trong vườn nhà Phạm Chi Lan, nơi có một khóm trúc đào đỏ rực cạnh bức tường vôi xám. Lúc còn sống (Phạm Chi Lan đi đã được hai năm), Lan và Nguyên Nhi cùng bạn bè thường ngồi uống trà và cà phê cạnh khóm trúc đào này. Không biết bây giờ trúc đào trong vườn còn nở hoa đỏ không? Và những người bạn ngày xưa trong Nhóm Quạ đó có còn nhớ Lan của cái thời làm Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng và họp mặt từ Dallas tới Galveston qua Foley, Alabama. Đôi khi bâng khuâng tự hỏi màu đỏ của trúc đào trong khu vườn ở Hốc Rừng (Forest Cove) có ẩn chứa một định mệnh bão tố nào không mà người tốt, người giỏi và giàu tâm hồn lại không ở lâu cùng bạn bè và cõi đời này. 
Còn lối bâng khuâng. ngõ trúc đào… 
Mới đây, Nguyễn được đọc những lời tự tình cảm động của một anh bạn ở Úc Châu. Anh Ng. Sơn ký là NNS. Nguyễn và anh không hề quen nhau nhưng anh vẫn thường gởi cho Nguyễn trang Thơ Nhạc Điện Tử do anh thực hiện. Nội dung câu chuyện có liên quan tới những bông trúc đào. Anh NNS viết: 
“NNS thật có duyên nợ với cây trúc đào. Ngày từ Âu châu qua Úc, trồng ngay một hàng trúc đào bên nhà, và một hàng mai tứ quí phía bên kia để đỡ nhớ quê hương. Buổi bình minh năm đầu đang trổ bông có đôi chim họa mi (nightingale) bay về hót thánh thót, nghe thật gợi nhớ những tháng ngày sống ở Âu châu vô cùng. 
Ngày mới đến định cư (ở Âu châu) vào mùa Thu, từ trên chiếc SAS nhìn xuống, thành phố Copenhagen trải một màu đỏ thẳm xa xa, đẹp như trong thần thoại. Bước xuống máy bay để đổi chuyến đi Stockhom, hãng hàng không Bắc Âu biếu cho mỗi người một chiếc mền vì lần đầu tiên chưa từng nếm cơn gió lạnh 8 độ C. Sau này mãi thành quen. Có những mùa Đông hàn thử biểu chỉ xuống 15 độ âm, tuyết rơi trên mái nhà đã đóng thành băng, sáng thức dậy còn thấy dấu chân thú sau nhà, nhưng NNS ngày nào cũng thấy trời đẹp làm sao. Đúng là tuổi trẻ, những ngày tháng rong chơi, không ngơi nghỉ... Chuyến giang hồ sau cùng, NNS có mang theo về một chậu trúc đào chiết cành dưới Nam Âu châu, biếu Mẹ, về làm cảnh trong nhà. Mỗi sáng trước khi đi làm, Mẹ tưới chút nước và luôn bảo: “Loại này mọc xứ nóng, nhưng chịu lạnh tương đối tốt. Mẹ phải giữ cho đâm chồi, kết hoa, đỡ nhớ Quê hương”... Thời tuổi trẻ của NNS tươi đẹp, đầm ấm và hồn nhiên biết bao. 
Rồi cuộc sống 2 mẹ con ở xứ lạ quê người đã hội nhập bình thường. Mẹ đi làm trên thư viện ngày 2 buổi, NNS cũng đã xong bậc trung học và sau 5 năm học Kỹ sư Hóa Công Nghệ, sẵn dòng máu giang hồ, NNS xin Mẹ xuống Đức học tiếp Master in Engineering.. Tưởng cuộc đời rồi mãi bình lặng vui vẻ trôi qua, không ngờ Mẹ bị chứng nan y và vì ỷ lại nền Y khoa tân tiến của Châu Âu, khi khám phá ra đã quá trễ, NNS đành vĩnh viễn tiễn mẹ ra đi. NNS buồn, bán nhà theo di huấn của Bà, mang theo hũ tro, tìm xuống đất nước phương Nam định cư. Chuyến bay của Singapore Airline bay qua trung bộ nước Úc. NNS lúc đầu từ giã Âu châu cũng không biết về đâu, miễn là đừng nhìn lại cảnh cũ đau lòng. Khi xuống Úc (trạm đầu) vào tháng 7, đang vào Hạ, NNS thấy cây chuối, cây xoài, cây bưởi... Ôi niềm nhớ Quê hương dạt dào sống dậy, NNS đã chọn xứ này mà dung thân. Thế mà đã gần 15 năm qua. Nhớ Mẹ, NNS lại trồng hàng trúc đào bên nhà, nay trổ hoa rực rỡ mỗi mùa, nhưng Mẹ đã không còn.” 
Ôi, trúc đào. Một ngày nào đó Nguyễn sẽ ghé thăm lại ngôi nhà Phạm Chi Lan và cùng Nguyên Nhi ngồi uống chung trà, trò chuyện với những bông trúc đào màu đỏ. Để nhớ những ngày xưa thân ái và mưa rơi trên những khóm trúc đào ven biển Destin. 
21.9. 2011.
Tháng Tư 2012
Nguyễn Xuân Thiệp
Theo http://www.vietnamvanhien.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...