Văn học Ai Cập không chỉ có ảnh hưởng đối với văn học cổ đại
Hy Lạp - La Mã hay đối với văn học cổ đại Do Thái, mà còn qua trung gian văn học
Coptic ảnh hưởng đến văn học Ả Rập. Nói cách khác, văn học thế giới phải mang
ơn nhiều đối với một trong những nền văn học cổ nhất - văn học Ai Cập.
Người đầu tiên thu hút sự chú ý của xã hội Nga đến văn học cổ
đại Ai Cập là v.v... Stasov. Trong cuốn phụ trương tháng Mười của tạp chí “Người
đưa tin châu Âu” năm 1868, ông cho in bài báo viết về “Truyện về hai anh em” nổi
tiếng của Ai Cập, trong đó phê phán gay gắt những quan niệm cách đấy không lâu
còn phổ biến rộng rãi trong giới có học thức cho rằng ở Ai Cập cổ đại “chưa từng
bao giờ có cả văn học lẫn thi ca”. “Nhiều nhà văn, những người am hiểu uyên bác
nhất đã quyết định nhồi vào đầu rằng chúng ta không hề biết đến một di tích nào
của văn học Ai Cập”, Stasov viết, “nghĩa là nó (nền văn học đó) chưa từng
bao giờ có, và một bản án như vậy đã được truyền khắp thế giới” và được đưa vào
cả trong “các sách giáo khoa lịch sử”. Bản thân Stasov, như ông thú nhận, mặc
dù luôn cảm thấy những nhận định đó rõ ràng sai lầm, nhưng do những nguyên nhân
làm nảy sinh những nhận định đó mà không thể gạt chúng đi được. “Nhưng biết làm
sao với Ai Cập, khi đền đài, tượng và tranh của nó nhiều như thế trước mắt mỗi
người, mà văn học lại không có một tác phẩm nào?” - nhà phê bình Nga nêu lên
câu hỏi và đã tự trả lời: hãy đợi người ta khám phá ra những tác phẩm văn học
Ai Cập. Và sự chờ đợi kéo dài không lâu.
Năm 1852, một phu nhân người Anh d’Orbiney đã tìm được ở
Italia giấy papirus của người Ai Cập (ngày nay bản papyrus này mang tên của bà
và được lưu giữ trong Bảo tàng Britania) và ngay lập tức đưa cho nhà Ai Cập học
nổi tiếng người Pháp Emmanuel de Rouger ở Paris xem. Ông này đọc, và sau khi
nghiên cứu văn bản, đã công bố một phần bản dịch văn bản đó. Bản dịch đã gây
nên sự chấn động lớn: lần đầu tiên người ta biết đến một tác phẩm văn học nghệ
thuật cổ đại Ai Cập. Cùng với thời gian, tác phẩm được khẳng định với nhan đề “Truyện
về hai anh em” [1], và V.V.Stasov đã giới thiệu chính tác
phẩm này cho độc giả người Nga. Ông là người đầu tiên dịch từ các bản dịch ở
châu Âu sang tiếng Nga, kèm theo các chú giải và bình luận.
Thời gian trôi qua, những phát hiện mới cứ nối tiếp nhau diễn
ra, và trước con mắt kinh ngạc của các học giả và tất cả những người có văn hóa
trên thế giới hiện ra một bộ sưu tập phong phú những tác phẩm đủ loại của văn học
Ai Cập, một nền văn học cổ nhất trên thế giới, bên cạnh văn học Sumer.
Khi làm quen với văn học Ai Cập, cũng như với bất kỳ nền văn
học cổ đại nào, tất yếu nảy sinh câu hỏi: những tác phẩm nào là văn học nghệ
thuật? Bởi bên cạnh những tác phẩm văn học đích thực, chúng ta còn có một số lượng
lớn những văn bản loại khác, ví dụ như văn bản lịch sử nhưng nhiều khi hết sức
thú vị và hoa mỹ. Phải tiếp cận chúng ra sao? Có thể xem chúng là một phần văn
học cổ đại Ai Cập trong nghĩa chính xác của thuật ngữ này hay không? Rõ ràng là
cách tiếp cận hình thức để giải quyết những vấn đề đặt ra này là không hợp lý.
Khái niệm “văn học Ai Cập” là một tập hợp không chỉ những tác phẩm văn chương,
mà là tất cả những văn bản hay những đoạn văn bản không phụ thuộc vào chức năng
của chúng được dùng làm gì, miễn là có những giá trị thẩm mỹ và quan tâm đến cá
nhân con người. Ví dụ như một số văn bia tiểu sử của các vị quan Ai Cập (văn
bia của Uni, Kharkhuf và các viên quan khác), một số các văn bia của vua có
tính chất lịch sử (ví dụ của các pharaoh Merentach và Piankh), một số đoạn
trong “Những văn bản kim tự tháp”, những tụng ca tôn vinh các thần Amon và
Aton, v.v..
Văn học Ai Cập trong suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ của
mình là một sự thống nhất về ngôn ngữ nhưng đa dạng về chữ viết. Người ta viết
bằng ngôn ngữ Ai Cập trong một thời kỳ vô cùng dài không ít hơn ba thiên niên kỷ
rưỡi, và hoàn toàn đương nhiên ngôn ngữ đó phải biến đổi. Các tác phẩm thành
văn đã minh chứng rằng sau ba mươi lăm thế kỷ tồn tại, tiếng Ai Cập đã trải qua
một số giai đoạn phát triển, gắn liền với truyền thống bắt nguồn từ thời cổ đại
và gắn với sự phân kỳ lịch sử của bản thân đất nước Ai Cập đã được khoa học thiết
lập. Những giai đoạn đó là:
– Ngôn ngữ cổ Ai Cập thời đại Cổ vương quốc (thế kỷ XXX -
XXII trước công nguyên);
– Ngôn ngữ cổ điển (trung Ai Cập) thời đại Trung vương quốc (thế kỷ XXII - XVI trước công nguyên);
– Ngôn ngữ tân Ai Cập thời đại Tân vương quốc (thế kỷ XVI - VIII trước công nguyên);
– Ngôn ngữ demotic (bình dân) (thế kỷ VIII trước công nguyên - thế kỷ III sau công nguyên);
– Ngôn ngữ Coptic (từ thế kỷ III sau công nguyên).
– Ngôn ngữ cổ điển (trung Ai Cập) thời đại Trung vương quốc (thế kỷ XXII - XVI trước công nguyên);
– Ngôn ngữ tân Ai Cập thời đại Tân vương quốc (thế kỷ XVI - VIII trước công nguyên);
– Ngôn ngữ demotic (bình dân) (thế kỷ VIII trước công nguyên - thế kỷ III sau công nguyên);
– Ngôn ngữ Coptic (từ thế kỷ III sau công nguyên).
Theo truyền thống đã được thiết lập trong khoa học, chúng tôi
gọi những thời kỳ, hay những giai đoạn của sự phát triển của tiếng Ai Cập là những
ngôn ngữ riêng biệt, bởi vì chúng khác nhau đáng kể. Tuy nhiên, đó vẫn là các
giai đoạn phát triển của một thứ tiếng. Chỉ ngôn ngữ Coptic, giai đoạn cuối
cùng của sự phát triển tiếng Ai Cập, là có sự khác biệt đến nỗi trong ngôn ngữ
học người ta xem nó là một ngôn ngữ độc lập.
Như vậy, chúng tôi có cơ sở để khẳng định rằng văn học Ai Cập
được viết trên một thứ tiếng là tiếng Ai Cập. Hơn nữa, quan trọng là bản thân
người Ai Cập luôn cảm nhận tính liên tục trong truyền thống văn học của mình.
Những tác phẩm văn học, như của thời Trung vương quốc chẳng hạn, được viết bằng
ngôn ngữ cổ điển Ai Cập (ngôn ngữ Trung Ai Cập) và được học ở trong thời kỳ
Tân vương quốc và được dịch sang ngôn ngữ Tân Ai Cập. Không hiếm khi người ta
viết bằng ngôn ngữ cổ điển Ai Cập ở những thời kỳ về sau. Những cốt truyện và
môtíp của văn học cổ đại vẫn sống trong nhiều thế kỷ, nhiều thiên niên kỷ, và sự
thống nhất ngôn ngữ đã tạo những tiền đề cần thiết cho điều này.
Chữ viết Ai Cập là một trong những chữ viết có sớm nhất trên
thế giới. Trong suốt quá trình lịch sử của mình, những người Ai Cập viết bằng
chữ tượng hình và chữ thảo, nói cách khác, họ sử dụng hai hệ thống văn tự - tượng
hình và chữ thảo. Vào thế kỷ VIII trước công nguyên xuất hiện thêm một loại văn
tự demotic [2] phức tạp, khó viết, mặc dù có đặc trưng riêng của mình,
nhưng loại chữ này là bước phát triển tiếp theo của chữ thảo. Về phần mình, chữ
thảo và chữ demotic là hình thức viết nhanh chữ tượng hình. Theo so sánh rất đắt
của nhà Ai Cập học xuất sắc người Nga B.A.Turaev, mối tương quan giữa chữ tượng
hình, chữ thảo và chữ demotic gần giống như giữa chữ in, chữ viết thường và những
ký hiệu tốc ký của chúng ta ngày nay.
Văn học Ai Cập là một phần của văn hóa Ai Cập và cùng mất đi
với nó, đã trải qua một cuộc sống lâu hơn nhà nước độc lập Ai Cập. Ai Cập vào
năm 332 trước công nguyên đã thần phục Alexander Macedonia và đến năm 30 trước
công nguyên trở thành một tỉnh của đế quốc La Mã. Văn hóa đặc sắc của Ai Cập tiếp
tục sống và phát triển trong những điều kiện chính trị mới. Nhưng, mặc dù như vậy
và mặc dù từ lâu việc nghiên cứu văn học Ai Cập đã trở thành một lĩnh vực độc lập
trong bộ môn Ai Cập học, các chuyên gia khi phân kỳ lịch sử của nó vẫn thích dựa
vào những đặc điểm bên ngoài và phát xuất từ sự phân kỳ lịch sử ngôn ngữ và lịch
sử đất nước mà chúng ta đã làm quen để phân biệt các nền văn học Cổ vương quốc,
Trung vương quốc, Tân vương quốc và văn học demotic. Sự phân kỳ văn học Ai Cập
được thừa nhận như vậy là bất đắc dĩ, chủ yếu do tình hình tư liệu và việc
không thể theo dõi liên tục từng bước sự phát triển của bản thân tiến trình văn
học.
Văn học cổ đại Ai Cập, cũng như mọi nền văn học khác, gắn liền
với đời sống xã hội và với hệ tư tưởng của xã hội đó. Và bởi vì ở Ai Cập cổ đại,
tôn giáo là hình thức tư tưởng chủ đạo, nên không có gì lạ rằng văn học Ai Cập
chịu ảnh hưởng chủ yếu của tôn giáo, và nhiều tác phẩm của nền văn học này đã
thấm nhuần thế giới quan tôn giáo, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Tuy nhiên không nên từ đó mà cho rằng văn học Ai Cập chỉ là những văn bản tôn
giáo hay thần thoại. Ngược lại, nó rất phong phú đa dạng về thể loại. Bên cạnh
những truyện cổ dân gian được tái chế (như Papyrus Westcar, Truyện về
hai anh em, Truyện chàng hoàng tử phải chết, …), trong văn học Ai Cập còn
có những tác phẩm mô tả cuộc sống hiện thực (các truyện Sinuhe và Un-Amon),
những văn bia của các vua và quan lại mang tính lịch sử, những tác phẩm mang nội
dung tôn giáo (tụng ca thần linh) và triết học (“Bài ca của người chơi đàn hạc”,
“Cuộc trò chuyện của một người tuyệt vọng với linh hồn”); những truyện thần thoại
(“Cuộc chiến giữa Horus và Seth”), các truyện ngụ ngôn, thơ tình yêu. Người Ai
Cập đã biết đến trình diễn sân khấu, không chỉ dưới hình thức kịch tôn giáo, mà
cả dưới hình thức kịch thế tục ở một chừng mực nào đó. Và sau rốt, tồn tại một
bộ phận lớn văn học giáo huấn dưới hình thức được gọi là các “châm ngôn”, chứa
đựng những lời răn dạy đạo lý và những quy định hành xử trong xã hội.
Tóm lại, văn học Ai Cập chứng minh rõ ràng rằng xã hội Ai Cập
thời cổ đại đã sống một cuộc sống tinh thần phong phú và đa diện. Những thư tịch
từ thời đại cổ xưa còn lại đến nay và được lưu giữ trong các bảo tàng và các bộ
sưu tập trên toàn thế giới chỉ là những mảnh di tích nhỏ bé của cả một nền văn
học lớn mà tiếc thay đã mãi mãi mất đi. Nhưng chỉ chúng thôi cũng đã tạo ra một
bức tranh rực rỡ, phong phú và thú vị lạ thường.
Nói về một nền văn học thì không thể không nói đến những người
sáng tạo ra nó. Tất cả các văn bản Ai Cập còn truyền lại đến nay đều được người
nào đó vào thời gian nào đó sáng tạo nên, hay nói cách khác, đều có tác giả của
mình. Tất nhiên ở Ai Cập, cũng như ở những nước khác, văn học dân gian phổ biến
rất rộng rãi, nhưng những tác phẩm còn truyền lại đến nay rõ ràng không phải là
sản phẩm của sáng tác dân gian trong nghĩa nghiêm ngặt của từ này, thậm chí nếu
như chúng là bản ghi lại những câu chuyện truyền miệng. Tuy nhiên, trong phần lớn
các văn bản đó không có một chỉ dẫn nào, dù là nhỏ nhất, hay một lời ám chỉ nào
về tác giả.
Dĩ nhiên, sẽ xuất hiện những câu hỏi: ai là tác giả của những
tác phẩm đó, tính tác giả thể hiện ở chỗ nào và tại sao trong các văn bản Ai Cập
lại thiếu vắng tên của họ? Những câu hỏi đó rõ ràng gắn với một câu hỏi khác có
tính khái quát hơn: người Ai Cập cổ đại có biết đến khái niệm tác giả hay
không? Câu trả lời phủ định vốn vẫn được thừa nhận hoàn toàn không phù hợp với
hiện thực. Khái niệm tác giả có tồn tại, nhưng hầu như rất đặc biệt, trong lĩnh
vực văn giáo huấn. Cũng như ở các quốc gia khác thời cổ đại, và phần nào đó thời
trung đại, khái niệm này ở Ai Cập cổ đại không trở thành một sở hữu chắc chắn của
ý thức xã hội. Nó chỉ mới bắt đầu được ý thức và củng cố chính trong thể loại
văn giáo huấn, mà bản thân những người Ai Cập cho là thể loại chủ yếu và quan
trọng hơn cả: trong phần lớn các tác phẩm được gọi là “châm ngôn”, tên tác giả
được nêu từ đầu văn bản.
Nhưng lại xuất hiện vấn đề mới: những người được nhắc đến ở đầu
các châm ngôn có phải là tác giả đích thực hay chỉ là người chép lại tác phẩm?
Đưa ra câu trả lời duy nhất cho mọi tác phẩm là không thể được, mỗi trường hợp
đòi hỏi một nghiên cứu riêng. Nhưng dù sao chúng tôi cũng có nhận xét bước đầu
rằng: khi châm ngôn được ghi là của một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở trên đỉnh
của bậc thang đẳng cấp và đã được tôn vinh nhờ các công trạng của mình, thì
chúng ta hoàn toàn có thể nghi ngờ về quyền tác giả của ông ta và giả định rằng
tên ông ta được đặt vào trong văn bản chỉ để tăng uy tín và trọng lượng của các
câu châm ngôn. Nếu như tác giả của các câu châm ngôn được nêu tên là một viên
quan Ai Cập vô danh và chỉ nổi tiếng nhờ những câu châm ngôn này, thì chắc
không thể nghi ngờ về quyền tác giả của ông ta: không phải ông ta dùng tên mình
để tôn cao tác phẩm, mà ngược lại, tác phẩm đem lại sự nổi danh cho ông ta. Như
vậy, có thể coi tác giả đích thực của các câu châm ngôn là những người như Ani
và Amenemope chẳng hạn, mà tác phẩm của họ sẽ được nói đến ở sau.
Khác với các châm ngôn, trong các tác phẩm không có tính giáo
huấn, tên tác giả rất hiếm khi gặp, nhưng dù sao vẫn có. Chẳng hạn, vị tất có
thể nghi ngờ rằng những văn bia tự thuật của các viên quan là do họ tự lập nên
(dĩ nhiên điều này không có nghĩa là họ tự khắc chúng lên mộ của mình). Đến lượt
mình, từ những văn bia đó nảy sinh những tác phẩm văn chương kiệt xuất như “Truyện
về Sinuhe” và “Truyện về chuyến phiêu lưu của Un-Amon” Và mặc dù chúng ta chưa
biết gì về những người tạo nên các tác phẩm này, nhưng không có cơ sở nào để
nghĩ rằng họ không phải là tác giả của chúng. Người ta không chỉ biết tác giả của
những biên niên sử pharaoh Tuthmosis III nổi tiếng là viên thư lại trong quân đội
tên Chanini, mà còn tìm được cả lăng mộ của ông ta. Cuối cùng, bản papyrus
Rylands IX chứa đựng lịch sử mấy thế hệ quan tư tế mang cùng một tên Petense đã
kể rằng người cuối cùng trong các thế hệ đó đã viết nên bản phả hệ gia đình
này.
Phần lớn các tác phẩm văn chương nghệ thuật - truyện, cổ
tích, ngụ ngôn, v.v.. - như chúng tôi đã nói, hoàn toàn không nói gì đến các
tác giả của mình. Trường hợp khá nhất thì chúng ta chỉ biết được tên của những
người đã sao chép các bản văn còn lưu lại đến nay. Và cả nền văn học Ai Cập
cách này hay cách khác đều có liên quan đến những người thư lại đó.
Những thư lại với những cấp bậc khác nhau trong xã hội Ai Cập
rất được đãi ngộ và họ chỉ huy toàn bộ đời sống kinh tế-hành chính của đất nước.
Thậm chí những viên đại quan khi kể về chức tước của mình thường thích phô
trương địa vị và khả năng của “một người thư lại với đôi tay khéo léo”. Bản
thân pharaoh, người được xem là “thần linh” trên ngai vàng và đứng đầu cả một hệ
thống quan liêu lớn, cũng không từ chối danh hiệu thư lại. Từ trong giới “trí
thức quan liêu” đó xuất hiện những người hiếu học thông minh, có tài, và đôi
khi xuất chúng, những mối quan tâm của họ không chỉ hạn chế trong chuyện sự
nghiệp, công vụ. Họ là những người đã viết nên những châm ngôn và những luận
văn về tôn giáo, y học, toán học và chiêm tinh học, sáng tác, chép lại những
truyện cổ tích, chép lại những tác phẩm đương thời hay từ xa xưa.
Không thể không nói về bản thân tính chất hoạt động sáng tạo ở
Ai Cập. Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu như đặt dấu bằng giữa tác giả cổ đại
Ai Cập với tác giả hiện đại. Trước hết cần chú ý rằng thời cổ đại chưa biết đến
chuyện đạo văn, và việc bắt chước đóng một vai trò to lớn trong văn học. Bởi vậy,
khi nói về tác giả Ai Cập, chúng ta phải nhớ rằng khái niệm “quyền tác giả”
không phải lúc nào cũng xếp vừa vào khuôn khổ khái niệm “sáng tạo cá nhân” và rất
thường thấy vai trò của tác giả rút lại trong sự bắt chước hay sưu tập những
văn bản mà ông ta đã biết, hơn nữa tác giả không hiếm khi vay mượn từ những văn
bản đó không chỉ những câu riêng lẻ, mà còn nguyên cả các đoạn văn. Tuy nhiên,
chắc chắn là mỗi tác giả đều đóng góp cái gì đó riêng của mình vào, cho dù là bản
sưu tập. Và đóng góp đó càng nhiều, càng quan trọng thì bản thân tác giả càng độc
đáo, đặc biệt.
Người Ai Cập đánh giá rất cao những người đã sáng tạo nên nền
văn học của mình. Bản papyrus của Bảo tàng Anh Chester-Beatty IV lưu giữ một bản
châm ngôn rất tuyệt vời, tác giả của nó, một thư lại vô danh, đã thuyết phục học
trò của mình rằng những tác phẩm lớn, có giá trị làm lưu danh tác giả hơn bất cứ
tấm bia mộ nào:
Nhưng tên của họ được cất lên khi người ta đọc những cuốn
sách
Được viết khi họ còn ở trên đời
Và kí ức về người viết nên chúng
Vĩnh cửu sống.
Được viết khi họ còn ở trên đời
Và kí ức về người viết nên chúng
Vĩnh cửu sống.
Tiếp theo là:
Cuốn sách hơn tấm văn bia và bức tường chắc chắn
Điều viết trong sách dựng thành lâu đài và kim tự tháp ở trong tim
Những ai nhắc tên người chép sách,
Để chân lý còn lưu trên miệng mình.
Con người đã lụi tàn, thân thể thành cát bụi,
Những người thân của ông cũng đã biến khỏi thế gian,
Nhưng những trang sách nhắc nhớ ông mãi mãi,
Miệng người này truyền đến miệng người kia.
Điều viết trong sách dựng thành lâu đài và kim tự tháp ở trong tim
Những ai nhắc tên người chép sách,
Để chân lý còn lưu trên miệng mình.
Con người đã lụi tàn, thân thể thành cát bụi,
Những người thân của ông cũng đã biến khỏi thế gian,
Nhưng những trang sách nhắc nhớ ông mãi mãi,
Miệng người này truyền đến miệng người kia.
Nói cách khác, chúng ta nghe thấy ở đây mô típ “đài kỷ niệm không
xây bằng tay” [3] vang lên trên đôi bờ dòng sông Nile từ cuối thiên niên kỷ
II trước công nguyên.
I. VĂN HỌC CỔ VƯƠNG QUỐC (THIÊN NIÊN KỶ III TRƯỚC CÔNG
NGUYÊN)
Một trăm năm trước, cách Cairo không xa, nhà Ai Cập học xuất
sắc người Pháp G.Masperau đã khám phá những văn bia được khắc trên những bức tường
trong các căn phòng trong các kim tự tháp của năm vị pharaoh thuộc vương triều
V và VI, có niên đại khoảng cuối thế kỷ XXV - giữa thế kỷ XXIII trước công
nguyên. Trong khoa học đã công nhận tên gọi dành cho chúng là “Những văn bản
kim tự tháp”.
Việc nghiên cứu hàng trăm dòng văn bản của một tuyển tập những
tác phẩm mang tính tôn giáo – pháp thuật có lẽ là cổ nhất trong văn học thế giới
đòi hỏi nhiều công sức lao động của các thế hệ các nhà Ai Cập học (và tất nhiên
chưa hoàn tất được) và cho phép tìm ra “mắt xích đầu tiên của chuỗi mắt xích
liên tục những tác phẩm kinh cầu hồn mang tính ma thuật đã được tạo nên trong suốt
quá trình phát triển văn minh đa thần giáo (và một phần Thiên Chúa giáo) của Ai
Cập…” (B.A.Turaev).
Như ta đã biết, truyền thống chu cấp cho người đã chết thức
ăn, đồ uống và hầu như mọi thứ cần thiết cho cuộc sống ở thế giới bên kia là rất
phổ biến ở nhiều dân tộc, nhưng, như nhà Ai Cập học người Đức K.Soethe nhận
xét, chỉ có người Ai Cập cổ đại mới có tục lệ từ rất lâu đời là chôn cùng với
người chết các tác phẩm kinh cầu hồn, mà trước hết là “Những văn bản kim tự
tháp”
Những quan niệm của người Ai Cập về thiên nhiên và con người,
cái nhìn của họ đối với cái chết và cuộc sống sau khi chết đã hình thành từ xa
xưa, rất lâu trước khi nhà nước Ai Cập thống nhất được thành lập vào lúc giao
thời giữa hai thiên niên kỷ IV và III trước công nguyên. Đáng tiếc là những hiểu
biết của chúng ta về những vấn đề đó còn rất chưa đầy đủ. Với những gì đã biết,
có thể phác ra đại khái như sau: con người bao gồm không chỉ phần thể xác hữu
hình có thể sờ mó được, mà còn cả một số thực thể vô hình mang tính cá nhân
trong cuộc sống trần thế. Cái chết đánh bại thể xác, phá hủy sự thống nhất hữu
cơ cần thiết cho việc kéo dài cuộc sống của con người, nghĩa là sự thống nhất
giữa thể xác và những thực thể vô hình được nói tới ở trên. Để có cuộc sống
vĩnh cửu trong thế giới bên kia, cần phải tái tạo sự thống nhất đó.
Khoa học còn chưa thể trả lời một các chính xác người cổ đại
Ai Cập có bao nhiêu thực thể đó và họ tư duy về chúng như thế nào. Chúng tôi dừng
lại ở một trong số chúng - KA, đặc biệt quan trọng đối với việc hiểu “Những văn
bản kim tự tháp”.
Xét theo các văn bản, bản thân người Ai Cập có những quan niệm
mâu thuẫn nhau về KA. Không có gì lạ khi các định nghĩa KA mà các nhà Ai Cập học
đề xuất hết sức đa nghĩa. Chẳng hạn theo G.Masperau, KA là kẻ song trùng vô
hình của con người, một bản sao chính xác của con người, sinh ra và lớn lên
cùng thể xác. Ngược lại, học giả người Đức A. Erman nhìn thấy trong KA một sức mạnh
sống nào đó, một bản chất bí ẩn nào đó của con người. Họ chỉ thống nhất với
nhau ở chỗ: sau cái chết của thể xác, một cuộc sống vĩnh cửu sẽ chờ đợi thực thể
đồng nhất với con người về bên ngoài và về bản chất đó. Điều kiện để KA tồn tại
vĩnh cửu là sự chăm lo đến nó của những người còn sống.
Những người thân của kẻ quá cố quan tâm trước hết đến việc giữ
xác: bản thân sự tồn tại của KA phụ thuộc vào việc gìn giữ xác con người mà KA
là kẻ song trùng. “Xương cốt của người không bị phá hủy, thịt da của người
không đau đớn, tay chân của người không rời khỏi thân”; “Hãy giữ lấy đầu [của đức
vua đã băng hà] để nó không tan rã, hãy giữ lấy xương cốt [của đức vua đã băng
hà], để chúng không rời ra”. - trong “Những văn bản kim tự tháp” chúng ta đọc
được những dòng như vậy. Chính tư tưởng đó đã đưa đến sự xuất hiện nghệ thuật ướp
xác và xây lăng mộ.
Không chỉ con người, mà cả thần linh cũng có KA: thần linh có
nhiều KA. Cả pharaoh - vị “thần sống”, “thần thiện” trên ngai vàng cũng có nhiều
KA. Đương nhiên cùng với cái chết của pharaoh thì chỉ phần xác của ông chết
theo và được tẩn liệm. Vào thời đại Cổ Vương quốc, hầm mộ được xây cho pharaoh
có hình dáng và kích thước khác rất nhiều so với mộ dành cho những người khác -
đó là kim tự tháp. Trong kim tự tháp, người ta cho rằng xác ướp của ông vua đã
chết được bảo quản an toàn, tránh được bất kỳ hiểm nguy nào.
Số phận sau khi chết của vua được mô tả trong “Những văn bản
kim tự tháp” rất khác nhau: hoặc là ông lên ở với thần linh, hoặc chính mình trở
thành một vị thần vĩ đại, đôi khi được đồng nhất với thần Ra, hay với thần
Osiris trị vì những người chết. Ví dụ trong một bài cầu nguyện nói với vị vua
quá cố có lời khẳng định: “Người phải ngồi trên ngai của Ra để truyền lệnh cho
các thần linh, bởi vì Người là Ra”. Tuy nhiên sự gần gũi của vị vua quá cố với
các thần linh không làm giảm những lo âu của những người đang sống dành cho
ông, bởi vì lang thang ở thế giới bên kia, nơi không chỉ có thần linh cư trú,
còn có vô số những thực thể độc ác, đáng sợ nhất trong số đó là lũ rắn, chúng
có thể gây nguy hiểm cho người chết. Việc tạo ấn tượng về sức mạnh và quyền uy
của pharaoh đã an giấc ngàn thu giúp cho ông quen với thế giới của thần linh, bảo
đảm cho ông có được địa vị thích đáng giữa những cư dân của âm phủ.
Và thế là những người còn sống trên trần gian lo toan đến đời
sống sau khi chết của vị vua đã được ướp xác và đặt trong kim tự tháp. Họ xây cạnh
các kim tự tháp những ngôi đền, trong đó những vị tư tế được cắt cử chuyên lo
việc cầu nguyện phải mang cho KA của pharaoh những đồ cúng - chắc chắn không chỉ
bánh mì và rượu, mà còn vô số những lương thực và đồ dùng cần thiết để KA của
nhà vua sinh tồn - và thực hiện các nghi thức cầu nguyện. Công việc cầu nguyện
là đọc những bài văn mang tính ma thuật có nhiệm vụ bảo đảm cho vị vua Ai Cập
quá cố sự no đủ vĩnh hằng và sự sống vĩnh hằng. Sức mạnh ma thuật của “Những
văn bản kim tự tháp”, những tác phẩm mà theo ý B.A.Turaev vốn thuộc lĩnh vực
thơ ca nghi lễ và được tạo ra để cho các quan tư tế đọc khi làm lễ, là để giúp
đạt được những mục đích đó được dễ dàng.
Những điều được nói trong “Những văn bản kim tự tháp” về tôn
giáo của Ai Cập đủ để đưa ra kết luận: điều quan trọng nhất trong các bản văn
này là phản ánh ước muốn người chết trở thành bất tử, niềm tin ngây thơ của con
người thời bấy giờ vào khả năng thắng được cái chết và trở thành giống như các
thần linh bất tử. Trong nội dung mang tính ma thuật tôn giáo và nghi lễ của “Những
văn bản kim tự tháp”, chúng tôi tìm thấy những môtíp rất con người, con người ở
những thời đại cổ xưa đã cố thử dùng mọi phương tiện tôn giáo và pháp thuật mà
họ có được để có thể biến cuộc sống trần gian hữu hạn thành cuộc sống vĩnh cửu
sau cỗ quan tài.
Để tăng hiệu quả ma thuật, người Ai Cập vận dụng những thủ
pháp tiêu biểu cho thơ ca nghi lễ - láy âm, đối ngẫu, chơi chữ. Nhiều đoạn
trong “Những văn bản kim tự tháp” nổi bật sức biểu đạt nghệ thuật và sự rõ ràng
của các hình tượng. Chẳng hạn như trong tụng ca hướng về nữ thần bầu trời Nut,
bản thân nữ thần được ca tụng:
Ôi, Người là cả bầu trời vĩ đại…
Vẻ đẹp của Người tràn khắp mọi nơi
Mặt đất nằm soải trước Người - Người ôm choàng lấy nó
Người bao bọc đất và vạn vật trong đôi cánh tay mình.
Vẻ đẹp của Người tràn khắp mọi nơi
Mặt đất nằm soải trước Người - Người ôm choàng lấy nó
Người bao bọc đất và vạn vật trong đôi cánh tay mình.
“Những văn bản kim tự tháp”, như chúng ta đã biết, phải bảo đảm
cho vị vua quá cố cuộc sống vĩnh cửu trong thế giới các thần linh. Một câu hỏi
hiển nhiên được đặt ra với chúng ta: thế cuộc sống sau khi chết của những người
gần gũi với pharaoh, mà chúng ta gọi là những người trần thế bình thường, thì
được hình dung ra sao?
Những tác phẩm còn truyền lại đến nay, trong đó có các tác phẩm
thành văn, cho phép đưa ra một câu trả lời đầy đủ cho vấn đề này. Tất nhiên những
người Ai Cập yêu cuộc sống đến nỗi, cũng giống như vua của mình, khi còn sống
trên đời họ đã chuẩn bị để, như cách nói của B.A.Turaev, “không chết mặc dù đã
chết rồi”. Vào thời đại Cổ Vương quốc, chính các pharaoh ban cho một số những
người hầu cận tận tuỵ nhất của mình lăng mộ. Những người khác không được nhần
phần thưởng cao quý đó thì xây lăng mộ cho mình bằng tiền của bản thân. Gần gũi
với chủ nhân của mình lúc còn sống, những con người cao sang thường mong muốn
hơn hết là được ở bên cạnh chủ nhân cả sau khi chết, và họ xây lăng mộ của mình
gần bên kim tự tháp. Thế là hình thành những nghĩa địa lớn của các quan lại và
cận thần của triều đình.
“Nhưng tất nhiên số phận sau khi chết của họ không thể đồng
nhất với số phận của vua - họ không phải là thần linh. Nhiều nhất mà họ có thể
tính được là làm sao ở thế giới bên kia tiếp tục những điều kiện mà họ đang có ở
đây”, B.A.Turaev nhận xét. Lăng mộ của họ có độ lớn nhỏ khác nhau, phụ thuộc
vào địa vị xã hội của người quá cố và thái độ của vua đối với ông ta và những
người thân của ông ta. Một ví dụ cho một “dinh thự sau khi chết” là “ngôi nhà
vĩnh cửu” của Mereruk - quan tể tướng của pharaoh vương triều VI Teti. Trong
tòa “dinh thự” này có 31 phòng, các bức tường được vẽ những bức tranh tuyệt vời
mô tả những cảnh sống trần gian của vị quan đã chết. Chẳng hạn Mereruk cùng với
vợ trên thuyền câu cá; Mereruk với vợ đi săn trên sa mạc; những thú vật của sa
mạc; chó đang cắn con sơn dương; sư tử đang ăn thịt con bò rừng… Trên những bức
bích họa khác Mereruk, cũng lại cùng vợ, đang quan sát công việc của những người
làm công. Cũng ông Mereruk đó tham dự buổi phạt đòn các trưởng thôn phạm lỗi.
Trong loạt tranh này còn có cảnh dâng đồ cúng cho Mereruk lúc đã qua đời.
Những bức bích họa hay phù điêu tương tự phủ đầy những bức tường
các gian phòng của rất nhiều, rất nhiều những lăng mộ của các quan lại, tập hợp
thành một bách khoa thư phong phú, được diễn tả một cách tài năng, về cuộc sống
của giới quý tộc gần gũi với pharaoh.
Nhưng những “phòng tranh” đó được tạo lên với mục đích gì và
cho ai? Bởi chúng nằm chết dí trong bóng đêm vĩnh cửu sau khi xác ướp của người
quá cố được đưa vào mồ, và lối vào được xây bít kín. Hóa ra tất cả những kiệt
tác đó của nghệ thuật Ai Cập được dành cho chính bản thân người chết, cư dân
duy nhất của “ngôi nhà vĩnh cửu”. Nhưng đối với người chết chúng hoàn toàn
không phải là những tác phẩm nghệ thuật - các pháp thuật và những bài cầu nguyện
cần phải làm cho những bức bích họa và phù điêu trở nên sống động, biến chúng
thành một hiện thực trong đó KA của người chết sẽ tồn tại vĩnh hằng. Đó là một
cố gắng vượt qua cái chết, cố gắng mãnh liệt đầy chí hướng và cũng đầy sự ngây
thơ để đạt được cuộc sống vĩnh cửu nhờ sự giúp đỡ của pháp thuật.
Con đường của người trần gian bình thường – thậm chí là người
cao sang nhất trong số quan lại – để đạt được sự bất tử đương nhiên không kém
phần chông gai so với con đường của các pharaoh. Và nếu như “Những văn bản kim
tự tháp” đầy những lời cầu nguyện cho sự vững bền tên tuổi của nhà vua, thì những
quan tâm đối với những người bình thường và thân nhân sau khi họ chết, bên cạnh
việc xây dựng lăng mộ và chôn cất xác ướp của người chết vào trong đó, cùng với
việc cúng tế và những công việc cầu nguyện, còn có thêm mối quan tâm làm sao
cho tên của người chết thành vĩnh cửu.
Tên đối với người Ai Cập được xem như một thực thể cố hữu của
người mang nó, là phần quý báu trong bản chất của người đó, được mẹ sinh ra
cùng với đứa trẻ. Theo cách nói tinh tế của nhà Ai Cập học người Czech Fr.Lexy,
người Ai Cập không nghĩ như chúng ta: “Mọi sự vật tồn tại đều có tên của mình”,
mà ngược lại họ khẳng định: “Sự vật không có tên thì không tồn tại”. Hiển nhiên
là vì vậy, việc khắc ghi vĩnh cửu tên của người chết trên bia mộ làm cho sự sống
thành vĩnh cửu, và ngược lại, tiêu hủy tên đồng nghĩa với việc tiêu hủy người
mang tên đó. Dần dần, cùng với tên, trên các bia mộ xuất hiện các tước hiệu và
chức vụ của người chết, đồng thời cả danh mục các vật cúng tế dành cho người
đó. Trong phần văn bản thuần túy mang tính nghi thức đó, dần dà để tôn vinh người
chết, người ta thêm vào những mô tả các tình tiết đáng nhớ nhất trong cuộc đời
của người chết, chứng minh cho những công lao của ông đối với pharaoh, cho sự sủng
ái của pharaoh đối với người chết - tóm lại là tất cả những gì có thể đề cao và
làm người chết trở nên vĩ đại. Thế là xuất hiện vô số những văn bia của các
quan lại, chúng trở thành một nguồn tư liệu lịch sử quan trọng bậc nhất của thời
đại Cổ Vương quốc.
Quá trình chuyển hóa từ văn bia mang tính nghi lễ sang thể loại
văn tiểu sử, một quá trình được quan sát qua các tác phẩm, được mô tả một cách
vắn tắt ở trên đã minh chứng cho tài năng nghệ thuật của những người đã tạo nên
các văn bia và mở ra một khoảng rộng cho việc sáng tạo. Thành phần “người”
trong các văn bia bắt đầu trội hơn so với phần nghi lễ: xuất hiện những câu
chuyện thú vị được kể từ ngôi thứ nhất, không còn mang những yếu tố huyền thoại
hay tôn giáo, nói về cuộc đời và hoạt động của các quan đại thần thời Cổ Vương
quốc.
Đặc biệt thú vị và có nội dung phong phú là các tự truyện còn
truyền lại đến nay từ thời các vương triều V và VI (khoảng giữa thế kỷ XXVI -
giữa thế kỷ XXIII trước công nguyên).
Ví dụ, trong bản văn bia đã bị hư hỏng nhiều của Uashitakh,
quan tể tướng và là người có công xây dựng nên vương triều Nepherkar, có câu
chuyện bi thảm về cái chết bất ngờ của vị quan đại thần này. Pharaoh và các con
cùng đoàn tùy tùng đang đi xem xét công việc xây dựng mà Uashitakh chỉ huy.
Ngài vừa đi vừa tỏ ý khen ngợi, và bất chợt nhận thấy quan tể tướng không đáp lời.
Hóa ra ông ta đã ngất đi. Pharaoh sai đưa ông ta vào trong cung điện, lập tức gọi
các quan ngự y. Họ xuất hiện cùng với những cuốn papyrus cẩm nang của mình,
nhưng tài nghệ của họ đã phải bất lực: người hầu cận trung thành của pharaoh đã
qua đời. Lưu lại đến nay không chỉ có một phần ghi chép câu chuyện này, mà còn
giữ được bức phù điêu họa lại đỉnh điểm của câu chuyện – cái chết của vị quan đại
thần.
Trên các bức tường của khu lăng mộ gần cửa sông Nile, thuộc vùng
Asuan ngày nay, còn lưu lại văn bia rất thú vị của viên quan Harkhuf nổi tiếng
cai quản vùng cực nam Elephantin của Ai Cập, từng phục vụ hai pharaoh thuộc
vương triều thứ VI. Đầy tự hào, “thủ lĩnh của những miền đất phương nam, từng
gieo rắc nỗi khiếp đảm trước thần Horus khắp các xứ sở lạ” kể về những cuộc viễn
chinh mà ông đã tiến hành theo lệnh của các vua ra ngoài lãnh thổ của Ai Cập,
xuống miền nam ngược dòng sông Nile đến nước Iam. Đặc biệt thành công là chuyến
viễn chinh cuối cùng, những kết quả của nó đã làm vua Peni II vô cùng phấn khởi.
Bài văn bia chép lại nguyên bức thư mà vua gửi cho Harkhuf, trong đó vị pharaoh
còn rất trẻ đáp lại bản báo cáo của người nô bộc trung thành bằng lời hứa hẹn
những ân sủng chưa từng thấy nếu như ông này mang về cung điện được món quà là
một người lùn Pigme nguyên vẹn không bị thương tích. Dĩ nhiên khó có thể tin rằng
bức thư đó là do chính vị vua nhỏ tuổi, một người chưa chắc đã biết đọc biết viết,
thảo ra, nhưng trong bức thư những tình cảm của chú bé vua được chuyển đạt rất
sinh động: cả niềm vui sướng, sự quan tâm tới những cái kỳ lạ, lẫn thói quen ra
lệnh đã được rèn giũa. Qua bức thư chúng ta cũng được biết rằng người Pigme của
Harkhuf không phải là người đầu tiên bị bắt từ những vùng sâu giữa châu Phi
mang về đến cung điện của các pharaoh; một người Pigme khác đã từng được mang về
cung điện vào thời của pharaoh Iesi thuộc vương triều V. Những chuyến viễn
chinh của người Ai Cập vào sâu trong lục địa Châu Phi vào giữa thiên niên kỷ
III trước công nguyên không phải hiếm, các quan đại thần chỉ huy các chuyến đi
này đã kể cụ thể về chúng trong các văn bia của mình.
Tự truyện của một người đương thời với Harkhuf nhưng lớn tuổi
hơn là Uni cũng thu hút sự quan tâm đặc biệt, nó được khắc trên phiến đá trong
mộ của ông này ở thành phố Abidos (nay được lưu giữ trong Bảo tàng Cairo).
Có lẽ không chỉ do số phận may mắn, mà còn do nghị lực và những
khả năng kiệt xuất mà Uni, một người trước đó không hề giữ một chức quan to
nào, đã hoàn thành được những nhiệm vụ khó khăn khác nhau do ba vị pharaoh mà
ông phục vụ giao cho. Có lần ông phải lãnh đạo một đạo quân được vua Peni II
phái đi lên biên ải đông bắc của đất nước để “chống lại lũ người châu Á cư dân
của cát”. Uni mô tả những kết quả của cuộc viễn chinh bách chiến bách thắng của
mình như sau:
Đạo quân trở về bình an, khi đã đánh tan những cư dân của
cát.
Đạo quân trở về bình an, khi đã giày xéo xứ sở những cư dân của cát.
Đạo quân trở về bình an, khi đã phá tan mọi thành trì.
Đạo quân trở về bình an, khi đã chặt những cây vả và những cành nho.
Đạo quân trở về bình an, khi đã phóng lửa thiêu các cung vua chúa.
Đạo quân trở về bình an, khi đã bắn tên diệt nhiều vạn chiến binh
Đạo quân trở về bình an, khi đã bắt được tù binh vô số.
Đấng tối cao khen ngợi ta hơn tất cả mọi người.
Đạo quân trở về bình an, khi đã giày xéo xứ sở những cư dân của cát.
Đạo quân trở về bình an, khi đã phá tan mọi thành trì.
Đạo quân trở về bình an, khi đã chặt những cây vả và những cành nho.
Đạo quân trở về bình an, khi đã phóng lửa thiêu các cung vua chúa.
Đạo quân trở về bình an, khi đã bắn tên diệt nhiều vạn chiến binh
Đạo quân trở về bình an, khi đã bắt được tù binh vô số.
Đấng tối cao khen ngợi ta hơn tất cả mọi người.
Người đọc nào nhìn thấy trong đoạn trích trên một bài thơ có
bảy câu là có lý.Tổ chức nhịp điệu của văn bản, tính chất đối ngẫu của kết cấu,
được nhấn mạnh bằng những điệp ngữ ở đầu mỗi câu, cũng chứng minh cho điều này.
Tuy nhiên những hy vọng của chúng tôi nhìn thấy bài thơ được tách biệt trên
phương diện hình họa là uổng công. Các dòng của bài văn bia dài hơn nhiều so với
các dòng của bài thơ. Dòng thơ thứ nhất chỉ là sự kết thúc của một câu văn xuôi
rất dài của bài văn bia, trong đó Uni nói về sự tin cậy vô bờ bến của pharaoh đối
với ông. Và liền sau câu thơ cuối, trong cùng một dòng văn bia, Uni tiếp tục
câu chuyện của mình bằng văn xuôi.
Tuy nhiên những ý kiến nói trên chỉ chứng minh cho tính chặt
chẽ trong sự nhận thức của chúng tôi về thơ ca Ai Cập và những phương thức chuyển
đạt của nó, mà không mâu thuẫn với điều chủ yếu: trước mắt chúng ta là một
trong những văn bản thi ca Ai Cập sớm nhất được dệt vào trong một tác phẩm tự sự
mang tính văn xuôi.
Những gì đã nói về các văn bia mang tính tự truyện đủ để người
đọc có thể tin vào cả giá trị lịch sử của chúng lẫn vào tài năng nghệ thuật
không thể nghi ngờ của những người tạo nên chúng (dù rằng chúng được tạo nên bởi
chính các quan đại thần, điều này có nhiều khả năng hơn, hay do những người thư
lại dưới quyền các quan viết nên). Tuy nhiên, ý nghĩa của những tác phẩm này vượt
xa ra khỏi phạm vi của những tư liệu lịch sử có các giá trị nghệ thuật.
Chúng ta lại trở về với các văn bản.
Vị quan Harkhuf cai trị Elephantin mà chúng ta đã biết nói về
bản thân mình: “Ta vượt trội hơn… được cha yêu, được mẹ khen, được tất cả các
anh em luôn quý mến. Ta cho bánh người đang đói, cho áo người ở trần. Ta nói điều
tốt và lặp lại điều mong ước. Ta không bao giờ nói điều tồi tệ về ai với đấng
quyền năng, bởi ta muốn sung sướng bên thần linh vĩ đại. Ta không bao giờ [xử
chuyện của hai anh em…] khiến cho con bị mất đi tài sản của bố”. Quan tư tế
Sheshi tuyên bố: “Ta tạo ra chân lý vì chúa tể của nó, ta làm vui lòng Người bằng
điều Người mong muốn: ta nói ra chân lý, ta xử sự đúng đắn, ta nói điều tốt và
nhắc lại điều tốt… Ta phán xử hai anh em [sao cho] họ thỏa lòng. Ta cứu người bất
hạnh khỏi tay kẻ mạnh hơn… Ta cho bánh người đang đói, cho áo người ở trần. Ta
chở kẻ không thuyền trên thuyền của ta. Ta chôn cất kẻ không con cái. Ta làm
thuyền cho kẻ không có thuyền. Ta vâng lời cha ta, dịu dàng cùng với mẹ. Ta
giáo dưỡng bầy con”.
Chúng tôi tìm thấy những cách diễn đạt tương tự như các thành
ngữ khuôn đúc trong tự truyện của những quan đại thần khác. Không quan trọng là
những câu đó phù hợp bao nhiêu với hiện thực, nhưng chúng là minh chứng xác
đáng về sự tồn tại ở thời đại Cổ Vương quốc những quan niệm đã thành hình về diện
mạo đạo đức lý tưởng của các quan đại thần.
Đáng chú ý hơn cả là lý lẽ của Harkhuf về một trong những việc
thiện của mình: “Ta muốn sung sướng bên thần linh vĩ đại”. Như vậy Harkhuf và
những người cùng thời với ông ta đã nghĩ rằng thần linh không thờ ơ với những
hành vi của họ trên trần gian. Nếu như trước kia, người Ai Cập cho rằng cuộc sống
vĩnh cửu ở thế giới bên kia được bảo đảm nhờ vào việc tuân thủ hết sức các nghi
lễ cúng tế và pháp thuật đầy quyền năng, thì vào cuối thời đại Cổ Vương quốc,
trong quan niệm của họ, bên cạnh nghi lễ đã xuất hiện nguyên tắc đạo đức.
Truyền thống nghi lễ đến một giai đoạn nào đó đã không còn thỏa
mãn những nhu cầu tinh thần ngày càng phát triển của xã hội. Xuất hiện những
nhu cầu mới mang tính đạo đức. Chính chúng đã được thể hiện ở tự truyện của các
quan đại thần, trong đó từ hàng mấy ngàn năm trước chúng ta, đã có những thử
nghiệm nhận thức về tồn tại của con người trên phương diện đạo đức. Bởi vậy
trong những tự truyện lịch sử Ai Cập cổ đại chúng ta có quyền nhìn thấy không
chỉ khởi đầu của loại văn hồi ký, mà còn cả một giai đoạn phát triển mới về chất
của văn chương nghệ thuật Ai Cập nói chung.
Những văn bia của các quan lại cho chúng ta biết về một dạng
chuẩn mực đạo đức của giới thượng lưu trong xã hội Ai Cập – dù chuẩn mực đó có
thành hiện thực hay chỉ là ảo vọng, thì nó cũng phản ánh những tìm tòi đạo đức
của xã hội đó. Một trong những nguồn cảm hứng cho các tác giả văn bia là loại
văn giáo huấn rất phát triển ở thời đại Cổ Vương quốc.
Trong ký ức của những người Ai Cập các thế hệ sau, thời đại Cổ
Vương quốc là những thế kỷ vàng trong nền văn hóa của họ, là thời đại của những
nhà thông thái. Trong các văn bản thời kỳ muộn hơn, chúng ta được biết rằng những
câu châm ngôn do các nhà thông thái tạo nên đã được đánh giá cao trong nhiều thế
kỷ. Tác giả của các câu châm ngôn, trong bản papyrus Chester-Beatty IV mà chúng
ta đã biết đến, gần như cả ngàn năm sau khi Cổ Vương quốc sụp đổ vẫn còn hỏi
khi ngưỡng mộ ngợi ca những vị tiền bối của mình:
“Đâu có ai sánh ngang Djedefhor (Hardjedef)? Có ai được giống
như Imhotep? Không, giờ đây chẳng có ai được như Nefri hay Ahtoy. Tôi còn gọi
tên Ptahemdjuti và Hahaperraseneb. Có người nào được như Ptahhotep hay Cairos
chăng? Những nhà thông thái nói lời tiên tri - tất cả những điều miệng họ thốt
ra đều thành hiện thực”.
Hai trong số người mang những tên trên - Ptahemdjuti và
Cairos -chúng ta hoàn toàn không biết gì về họ. Nefri có thể là nhà tiên tri
Neferti, còn tên những người còn lại không hiếm khi gặp trong các văn bản.
Ahtoy và Hahaperraseneb sống ở thời đại Trung Vương quốc, về một trong hai ông
sẽ được nói đến ở sau. Imhotep, Djedefhor và Ptahhotep là những nhà thông thái
của thời đại mà chúng ta đang xem xét ở đây. Mỗi người trong số họ đều là một
nhân vật lịch sử cụ thể.
Imhotep, tể tướng của pharaoh Djoser của vương triều III, một
nhà tiên tri thiên tài, một thầy thuốc, một nhà thông thái mà tên tuổi lưu truyền
không dưới năm ngàn năm. Theo ý tưởng của ông, và có lẽ là dưới sự chỉ huy của
ông, người Ai Cập đã xây dựng nên công trình kiến trúc bằng đá vĩ đại đầu tiên
được biết đến trong lịch sử – kim tự tháp có bậc thang của Djoser. Vinh quang của
ông như một thầy thuốc lưu truyền hàng nhiều thế kỷ, và đến thời kỳ sau, người
Ai Cập tôn sùng ông: như một vị thần chữa bệnh, ông bước vào điện pantheon của
người Ai Cập.
Djedefhor - con trai của pharaoh Khufu (gọi theo tiếng Hy Lạp
là Kheops) vương triều IV đã xây dựng kim tự tháp lớn nhất - nổi tiếng là một
nhà thông thái trong truyền thống văn chương Ai Cập, việc hiểu biết “Châm ngôn”
của ông, theo truyền thống này, được xem là dấu hiệu có học thức. Năm 1926, các
nhà khảo cổ học đã khai quật được lăng mộ của ông ở gần Cairo.
Tiếc rằng “Châm ngôn” của Imhotep đã thất truyền, còn “Châm
ngôn” của Djedefhor chỉ còn giữ được vài đoạn không đáng kể. Chỉ có một tác phẩm
văn giáo huấn thời đại Cổ Vương quốc là “Châm ngôn của Ptahhotep” còn giữ được
trọn vẹn trong một số bản chép lại từ nguyên bản cổ. Bản papyrus lớn - bản chép
tay duy nhất còn nguyên vẹn của tác phẩm nằm trong Thư viện quốc gia Paris – được
bổ sung một số danh mục chứa đựng những đoạn văn bản lớn nhỏ khác nhau.
“Châm ngôn của Ptahhotep” là một tác phẩm rất khó hiểu và khó
dịch, và việc giải thích một số chỗ trong tác phẩm cho đến nay vẫn còn những
tranh cãi. Điều này không mâu thuẫn với một nhận định khác: “Châm ngôn” được viết
bằng một ngôn ngữ súc tích, giàu hình tượng; người xuất bản nó lần sau cùng - học
giả người Czech Z.Jaba - đã gọi Ptahhotep là nhà phong cách học kiệt xuất.
Chúng ta không biết rằng cảnh được mô tả trong phần mở đầu của
“Châm ngôn” là sự phản ánh trong một chừng mực nào đó hiện thực lịch sử, hay chỉ
là một thủ pháp nghệ thuật khéo léo, nhờ đó mà tác giả tạo nên truyện viền kết
nối một số những cốt truyện lại với nhau. Ptahhotep, tự xưng là tể tướng của
pharaoh Isesi (vương triều V), khi về già xin vua cử con trai mình, cũng tên
Ptahhotep, làm người kế nhiệm. Ông hứa sẽ khuyên bảo con trai đi con đường chân
lý và dạy con trung thành phục vụ vua, “để ngăn chặn mọi điều xấu xa cho dân
chúng”. “Chấp nhận việc từ chức” của vị quan già, pharaoh nhất trí rằng vị quan
trẻ tuổi cần phải được dạy dỗ, vừa “để làm gương cho con cháu giới quý tộc”, vừa
để chính anh ta thấm nhuần được những tư tưởng, tình cảm của người cha, bởi
“không ai sinh ra đã hiểu biết”. Lập luận đó của vua đã kết thúc phần dẫn nhập
của “Châm ngôn”; sau đó là phần chính mang nội dung răn dạy.
Từ văn bản phần dẫn nhập có thể thấy, rằng pharaoh Isesi có
hai tể tướng cùng mang tên Ptahhotep phục vụ. Điều này có trong hiện thực hay
không? Chúng ta đã được biết đến một số lăng mộ của các quan đại thần thời kỳ Cổ
Vương quốc có tên Ptahhotep, nhưng không ai trong số họ làm tể tướng. Tuy
nhiên, không thể vì điều này mà nghi ngờ vào tính xác thực trong những lời của
tác giả “Châm ngôn”: lăng mộ của ông ta có thể không còn giữ được hay nó còn
chưa được tìm ra. [4]
“Châm ngôn Ptahhotep” gồm có 45 hay 46 (hoặc ít hơn) câu răn
dạy tỉ mỉ, đôi khi có những câu giống nhau về nội dung. Chúng rất cụ thể, phần
lớn được mở đầu bằng cụm từ giả định “Nếu như con…” Những từ đầu của hầu như tất
cả các câu châm ngôn được viết bằng mực đỏ, và trong một bản chép các dấu chấm
câu cũng được tô đỏ. Tính hoàn chỉnh về ý nghĩa cũng như việc trình bày các phần
văn bản với những dòng và những dấu chấm câu tô đỏ khiến nhiều nhà Ai Cập học
nghĩ đến hình thức thi ca của “Châm ngôn”. Có thể là họ nghĩ đúng, tuy nhiên cần
phải nhấn mạnh, rằng các dấu chấm màu đỏ, dấu ngắt câu duy nhất mà người Ai Cập
sử dụng từ thời Tân Vương quốc, không chỉ tiêu biểu cho thơ, nó xuất hiện hàng
loạt, rất nhiều trong những văn bản hoàn toàn là văn xuôi.
Phần khuyên răn của “Châm ngôn” có vẻ rất thiếu tính hệ thống
đối với người đọc hiện đại. Đó là lỗi tại những người sao chép đã bóp méo ý đồ
của tác giả, hay tại tác giả bị chi phối bởi những tiêu chí mà ông và những người
đương thời với ông hiểu nhưng chúng ta thì không, hay rốt cuộc là tại tác giả
không có ý định đi theo một sơ đồ nào cả – về tất cả những điều này chúng ta chỉ
có thể đoán. Nhưng có thể nhận thấy rằng trong tác phẩm, những lời giáo huấn
mang tính đạo đức cao cả được xen lẫn với những lời khuyên bảo về sinh hoạt đời
thường, xuất phát từ những tính toán mang tính thực dụng rõ rệt.
Ngay từ thời rất xa xưa Ptahhotep đã cho rằng để thăng tiến
trong giới quan liêu thì cần phải:
“Hãy cong lưng trước quan trên [của mình]… và ngôi nhà của
con sẽ thịnh vượng […]”
Rõ ràng những lời khuyên như sau đã phản ánh khá nhiều những
trật tự của thời đại bấy giờ:
“Nếu như con đứng ở phòng chờ tiếp của vua, hãy xử sự cho
đúng cấp bậc mà con được phong vào ngày đầu… Chỉ có vua mới là người cất nhắc,
nhưng người ta không đề bạt những ai không có tay khác giúp vào”.
“Nếu như con là người trọng yếu ngồi trong hội đồng của nhà
vua, hãy giữ trí khôn cẩn trọng hết mình. Hãy im lặng, điều đó có ích hơn
teftef [5]. Hãy nói khi con biết mình đã hiểu [bản chất sự
việc]. Người nói trong cuộc họp là kẻ hiểu biết. Nói lời [thông minh] khó hơn mọi
lao động”.
“Hãy dấu đi những ý nghĩ của mình: hãy giữ mồm giữ miệng […]
Hãy nói điều đáng nói, để những người danh giá nghe con phải bảo: “Lời từ miệng
anh ta mới tuyệt làm sao!”
Tuy nhiên khó có thể đánh giá một chiều những lời khuyên dạy
trên. Lời khuyên đầu trong số những câu trích ở trên lý tưởng hóa hoạt động của
giới quan liêu thời đại bấy giờ: những gì chúng tôi biết về các pharaoh thuộc
vương triều V, tuy không nhiều, nhưng cũng cho phép khẳng định rằng quyền lực của
họ đang dần suy giảm, và việc bổ nhiệm các quan chức đôi khi chỉ là sự phê chuẩn
trên danh nghĩa của nhà vua. Nguyên lý duy lý của hai lời khuyên cuối là không
thể chối cãi: “Hãy nói khi con biết mình đã hiểu [bản chất sự việc]” và “Hãy
nói điều đáng nói”.
Tuy nhiên, ý tưởng của Ptahhotep thường vượt cao hơn tính thực
dụng đời thường của người Ai Cập, và ông đã nói với con trai những lời sau, những
lời thật đáng ngạc nhiên khi được thốt ra từ miệng của một vị quan đại thần đứng
đầu bộ máy quan liêu hùng mạnh và giàu có:
“Đừng kiêu căng vì kiến thức của mình, và cũng đừng quá ỷ lại
rằng mình là người hiểu biết. Hãy bàn luận cùng người không hiểu biết cũng như
cùng người hiểu biết, - bởi sự hiểu biết không có giới hạn và không có nghệ
nhân nào nắm bắt hết nghệ thuật của mình. Lời nói cất giấu điều đẹp đẽ nhiều
hơn cả viên ngọc quý màu xanh, và nó nằm ở miệng người nô lệ bên cối xay”.
Trong “Châm ngôn Ptahhotep”, có thể thấy rõ rằng đối với ông,
thư lại là chức quan lý tưởng của thời đại. Tuy nhiên số mệnh của quan thư lại
không phải ở chỗ người này chiếm một địa vị nhất định trong hệ thống quan liêu
nhà nước, mà đó là một “người hiểu biết”, một “người thợ lành nghề”, “người có
tiếng nói trong hội đồng”, và để tìm được “lời nói đẹp”, nghĩa là những lời
thông thái và đúng đắn, không nên tránh giao tiếp với những kẻ bị áp bức và hèn
mọn nhất - như với “người nô lệ bên cối xay”. Vị tể tướng già muốn nhìn thấy
con trai mình trở thành một người như vậy. Bởi vậy ông mới khuyên:
“Nếu như con là chỉ huy, hãy điềm tĩnh nghe lời của kẻ cầu
xin; đừng xua đuổi anh ta trước khi anh ta trút nhẹ được nỗi lòng khi nói hết
những điều muốn nói với con”.
Đoạn tiếp theo của lời răn làm ta ngạc nhiên bởi sự hiểu biết
tinh tế tâm hồn con người, tâm lý con người:
“Con người bị nỗi bất hạnh giáng xuống muốn trút nỗi lòng [thậm
chí] nhiều hơn là muốn có được điều mà vì nó anh ta tới đây”.
Lý tưởng của người quan chức đối với Ptahhotep là sự hiện diện
một phẩm chất mà chúng ta có thể gọi là sự thẳng thắn lương thiện:
“Đừng vu khống ai, dù là người lớn hay người bé; đó là điều
đê tiện đối với KA”.
“Đừng kể những lời vu khống, và cũng đừng nghe chúng… Hãy kể
cái mình nhìn thấy, đừng kể cái mình nghe thấy”.
Cuối cùng, cần phải nhớ thêm một lời khuyên quan trọng của
Ptahhotep nữa:
“Nếu như con là chỉ huy ra lệnh cho nhiều người, hãy mong mọi
điều thiện để không có điều ác trong mệnh lệnh của con. Công lý vĩ đại và vững
bền. Nó không đổi thay từ thời thần Osiris, và luật lệ sẽ trừng trị kẻ không
tuân theo”.
Chỉ một vị quan thông thái đầy kinh nghiệm, ý thức được sức mạnh
đạo đức và xã hội của công lý, hiểu rằng chính quyền được giữ yên không chỉ bằng
bạo lực, mà còn bằng luật lệ truyền thống và bằng tấm lòng nhân ái đối với người
lao động, mới có thể đưa ra được lời khuyên như trên.
Kết thúc phần tổng quan văn học Ai Cập thời đại Cổ Vương quốc,
chúng tôi phải thừa nhận rằng người Ai Cập thuộc những thế hệ sau có đủ mọi cơ
sở để ca ngợi nó.
Văn học thời đại Cổ Vương quốc không chỉ phản ánh những lý tưởng
nhân sinh quan và thẩm mỹ của thời đại, mà chính trong nền văn học này đã xuất
hiện và khẳng định những truyền thống quy định diện mạo cho văn học thời kỳ
sau, và các tác giả cổ đại hoàn toàn xứng đáng được thế hệ kế thừa xem là những
người sáng lập nên những kiểu mẫu của đạo lý, tạo nên những tác phẩm văn chương
hoàn hảo.
II. VĂN HỌC THỜI KỲ TRUNG VƯƠNG QUỐC (THẾ KỶ XXII – XVI TRƯỚC
CÔNG NGUYÊN)
Văn học Ai Cập thời kỳ Trung Vương quốc thường được gọi là
văn học cổ điển. Các tác phẩm thời đại này còn lưu giữ được đến nay nhiều hơn
và phong phú hơn rất nhiều so với thời Cổ Vương quốc. Tuy nhiên chúng ta cũng
không nên quên rằng thời gian đối với văn học thời Cổ Vương quốc tàn nhẫn hơn
nhiều so với văn học thời Trung Vương quốc và các thời đại sau. Thực ra từ thời
Cổ Vương quốc chỉ còn lưu lại được những đoạn riêng lẻ, tuy nhiên khi làm quen
với chúng, chúng ta có đủ cơ sở để nghĩ rằng văn học thời kỳ Trung Vương quốc,
rực rỡ và sâu sắc, đã có một tiền bối xứng đáng.
Sự kế thừa không thể phủ nhận đã kết nối hai nền văn học của
hai thời đại lịch sử với nhau không hề làm mất đi sự khác biệt độc đáo giữa
chúng. “Bốn thế kỷ tách vương triều VI khỏi thời đại rực rỡ Trung Vương quốc
mang rất nhiều ý nghĩa đối với dân tộc Ai Cập , – B.A.Turaev viết trong cuốn
sách “Lịch sử văn học Ai Cập” của mình, - đất nước chia cắt, chiến tranh giữa
các thế lực, sự sụp đổ chính quyền trung ương với quyền lực tối thượng của các
pharaoh, sức mạnh đối ngoại và tình trạng kinh tế, trật tự trong nước suy yếu
không thể không làm những con người ưu tú suy tư và không đặt ra trước họ những
câu hỏi liên quan đến những phương diện khác nhau trong đời sống hiện thực. Các
vấn đề tôn giáo, chính trị, xã hội, đạo đức làm xao động những trí tuệ đang kiếm
tìm câu trả lời cho những băn khoăn của mình khi nhìn thấy những quan niệm và
lý tưởng được dạy dỗ qua nhiều thế kỷ không dung hợp được với hiện thực đen tối.
Kết quả là đã diễn ra một thời kỳ thịnh vượng của văn học mà đối với các thời đại
sau đã trở thành cổ điển - các tác phẩm của thời kỳ này thành đối tượng nghiên
cứu trong các trường học nhiều thế kỷ sau, và lưu lại đến nay không chỉ trong
những bản chép gần với thời gian tác phẩm ra đời, mà còn trong những bản của thời
Tân Vương quốc”.
Một số bản papyrus thời kỳ Trung Vương quốc còn giữ hai tác
phẩm xuất hiện từ thời kỳ sớm hơn - thời kỳ các pharaoh thuộc các vương triều
IX và X (khoảng thế kỷ XXII trước công nguyên) trị vì một phần Ai Cập ở giai đoạn
loạn lạc giữa Cổ Vương quốc và Trung Vương quốc.
Tác phẩm thứ nhất được biết đến trong khoa học với nhan đề “Truyện
về anh dân quê hùng biện”. Câu chuyện trong tác phẩm liên quan tới thời kỳ trị
vì của vương triều thứ X. Đúng ra một câu chuyện đúng nghĩa của nó trong tác phẩm
hầu như không có. Truyện gồm chín bài nói hết sức cầu kỳ bóng bẩy mà người nông
dân nói với viên quan đại thần, trong đó người nông dân nổi giận vì anh ta bị
thuộc hạ của viên quan ăn cướp. Những bài nói đó được chép lại và gửi đến cho
pharaoh, người cũng yêu thích hùng biện như viên quan đại thần kia. Kẻ bị cướp
được đền bù lại số của cải bị lấy đi, thêm nữa, anh ta còn được thưởng. Mọi người
đều hài lòng: pharaoh và viên quan thỏa mãn với bài hùng biện của anh dân quê,
còn anh ta tìm được công lý và nhận phần thưởng nhờ tài hùng biện của mình. Những
bài nói của người nông dân có lẽ đã là khuôn mẫu cho mỹ từ học của thời bấy giờ.
Đồng thời chúng thấm nhuần tư tưởng củng cố tình hình trong nước, thiết lập
công lý và tòa án công minh.
Tác phẩm thứ hai - đó là “Châm ngôn của vua thành
Heracleopolis” (tên của vị vua này chúng ta chưa được biết) dành cho con trai
Merikare. Tác phẩm được lưu giữ trong bộ sưu tập Ai Cập của Viện bảo tàng quốc
gia Hermitage ở Leningrad (nay là Saint-Petersburg – ND) (bản khác của tác phẩm
nằm ở Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật tạo hình mang tên A.S.Pushkin ở Moskva). Tác
giả vua chia sẻ cùng con trai, vị vua tương lai, kinh nghiệm trị vì đất nước.
Văn bản “Châm ngôn” chứa đựng hàng loạt những ý tưởng đáng chú ý, ví dụ: “dân
giàu không nổi dậy”; hay “ngôn ngữ là kiếm của vua; lời nói mạnh hơn mọi
vũ khí”, “đừng nổi giận - hãy làm chủ bản thân mình”, “hãy dựng cho mình đài tưởng
niệm bằng tình yêu [của những người xung quanh] dành cho con”.
Được chú ý nhiều là những phương pháp đấu tranh chống lại những kẻ mưu phản và nổi loạn. Vua chỉ ra rằng phải đối xử với thần dân ra sao, chọn trong số họ những người thân tín cho mình: “Hãy tôn kính các đại thần, hãy cho dân của con được phồn thịnh” v.v... Tóm lại, trong “Châm ngôn” này chúng ta thấy hàng loạt những câu nói thú vị chứng tỏ trình độ tư duy chính trị cao của các những người đứng đầu nhà nước Ai Cập.
Được chú ý nhiều là những phương pháp đấu tranh chống lại những kẻ mưu phản và nổi loạn. Vua chỉ ra rằng phải đối xử với thần dân ra sao, chọn trong số họ những người thân tín cho mình: “Hãy tôn kính các đại thần, hãy cho dân của con được phồn thịnh” v.v... Tóm lại, trong “Châm ngôn” này chúng ta thấy hàng loạt những câu nói thú vị chứng tỏ trình độ tư duy chính trị cao của các những người đứng đầu nhà nước Ai Cập.
Qua một số rất ít các tác phẩm thời đại quá độ, chúng ta có
thể đoán định rằng: mặc dù thời đại đó đen tối và lộn xộn, song văn học vẫn tiếp
tục phát triển mạnh, hơn nữa, nó còn như một mắt xích kết nối hai nền văn học
thời kỳ Cổ Vương quốc và Trung Vương quốc.
Vào lúc giao thời giữa thiên niên kỷ III với thiên niên kỷ II
trước công nguyên, cùng với sự khởi đầu của Trung Vương quốc, Ai Cập bước vào một
thời đại mới thịnh vượng của lịch sử và văn học.
Chúng tôi chỉ dừng lại ở những tác phẩm đáng chú ý hơn cả của
thời đại này.
Một trong những bản papyrus của Bảo tàng quốc gia Hermitage ở
Leningrad, với đoạn đầu đã bị mất, được biết đến trong khoa học dưới nhan đề “Người
bị đắm tàu”. Bản papyrus này chép một câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất về những
chuyến phiêu lưu huyền thoại trên biển, chính xác hơn là trên một đảo hoang ở
giữa biển. Nhân vật của truyện lên đường để đi đến các mỏ của pharaoh trên chiếc
tàu với một đội thủy thủ đầy kinh nghiệm:
… Họ có nhìn chăng bầu trời, nhìn chăng mặt đất - trái tim họ
dũng mãnh hơn tim sư tử. Và họ biết cơn bão trước khi nó đến, biết giông tố trước
lúc nó tấn công.
Nhưng rồi khi bão nổi lên, con tàu cùng cả đội thủy thủ đều
chết. Chỉ mỗi người kể chuyện sống sót: một con sóng lớn đã vứt chàng lên một bến
bờ lạ. Chàng rơi vào một hòn đảo trù phú hoàn toàn chỉ có mình chàng. Tuy nhiên
sự cô đơn của anh chàng Robinson Ai Cập nhanh chóng bị phá vỡ: một con rắn khổng
lồ, chúa tể của hòn đảo, xuất hiện và tra hỏi vì sao và bằng cách nào mà kẻ bị
đắm tàu kia lại đến được lãnh địa của nó, và báo trước cho chàng rằng bốn tháng
nữa sẽ có thuyền từ Ai Cập đến và nhân vật sẽ trở về nhà. Về bản thân và về hòn
đảo, rắn kể một câu chuyện rất khó hiểu: trên đảo có bảy mươi lăm con rắn sinh
sống và cùng với chúng có một cô bé con của một người phụ nữ đã chết, nhưng bỗng
nhiên lửa từ trên trời rơi xuống và tất cả lũ rắn, trừ một con – chính con trở
thành chủ nhân của hòn đảo - đều bị thiêu chết. Lời tiên đoán của rắn ít lâu
sau thành hiện thực: một con tàu từ Ai Cập đến và người bị đắm tàu vui sướng trở
về nhà, kể cho pharaoh nghe về những chuyến phiêu lưu của mình và dâng pharaoh
những món quà quý báu mang từ đảo về.
Hoàn toàn thuộc thể loại khác là những truyện cổ tích của bản
papyrus Westcar (cuối thời Trung Vương quốc). Chúng liên kết với nhau bởi một
truyện khung chung: pharaoh Khufu (Kheops) của vương triều IV, mà chúng ta đã
biết đến, buồn chán và nói với các con trai rằng ngài muốn được nghe họ kể những
câu chuyện đời xưa; các con của pharaoh - nhà thông thái Djedefhor mà ta đã biết,
sau đó là Khafra (Khephren) người kế vị ngai vàng của Khufu và là người xây kim
tự tháp lớn thứ hai, và cuối cùng là Baufra - lần lượt kể cho cha nghe các câu
chuyện cổ tích. Việc kết nối các truyện lại với nhau bằng một truyện khung là một
thủ pháp kết cấu được biết đến trong các nền văn học cả phương Tây (ví dụ, “Decameron”)
lẫn phương Đông (ví dụ, “Panchatantra”, “Nghìn lẻ một đêm”). Và có lẽ nó xuất
hiện lần đầu tiên trong văn học thế giới ở bản papyrus Westcar.
Phần đầu bản papyrus Westcar, cũng như của bản papyrus chép
truyện “Người bị đắm tàu”, không còn giữ được. Nội dung truyện thứ nhất bị mất,
và văn bản papyrus bắt đầu từ những câu cuối cùng của truyện này. Sau đó đến
truyện của hoàng tử Khafra kể về sự kiện kỳ lạ xảy ra dưới thời trị vì của vua
Hebka vương triều thứ III. Nhân vật của truyện là một người chồng, viên quan tư
tế Ubainer, bị lừa. Người vợ phản bội ông ta đi theo một người thuộc giới bình
dân. Người chồng bị lừa dối qua một người đầy tớ biết được sự phản bội của vợ,
bèn nặn một con cá sấu nhỏ bằng sáp và đọc thần chú cho nó. Hình con cá sấu liền
có được sức mạnh ma thuật. Ubainer ra lệnh cho đầy tớ vứt hình cá sấu xuống hồ
nước khi người tình của vợ ông xuống tắm. Đầy tớ của Ubainer thực hiện mệnh lệnh
của chủ, và hình cá sấu nhỏ biến thành một con cá sấu sống khổng lồ, tóm lấy
chàng trai trẻ và dìm xuống đáy hồ, nơi anh ta ở đó bảy ngày không thở. Trong
thời gian đó Ubainer ở bên pharaoh. Bảy ngày sau Ubainer mời pharaoh đến hồ để
chỉ cho ngài xem điều kỳ lạ. Ubainer ra lệnh cho cá sấu mang chàng trai trẻ lên
bờ. Sau đó ông cúi xuống giơ tay chỉ vào cá sấu, nó lập tức biến thành hình sáp
bé nhỏ. Cuối truyện viên tư tế kể cho pharaoh mọi chuyện, và pharaoh nổi giận
sai cá sấu dìm chàng trai xuống nước trở lại. Hình sáp lại biến thành cá sấu,
tóm chàng trai lôi xuống hồ vĩnh viễn. Người vợ không chung thuỷ bị thiêu chết
theo lệnh của pharaoh, tro xác bà ta đem rải trên sông.
Sau đó hoàng tử Baufra kể câu chuyện thứ ba. Để giải buồn,
pharaoh Snofru ra hồ bơi trên chiếc thuyền mà người chèo là hai mươi người phụ
nữ xinh đẹp mặc lưới thay cho xiêm áo. Nhà vua ngắm nhìn họ. Bỗng nhiên họ ngừng
chèo: hóa ra chuỗi ngọc quý đeo trên cổ của một cô bị đứt và rơi xuống nước.
Pharaoh gọi viên quan tư tế đến; ông này niệm thần chú và “một nửa bên nước
chuyển sang bên kia” để lộ đáy hồ, và chuỗi ngọc bị rơi xuống nước được lấy
lên.
Cuối cùng, Djedefhor nổi tiếng thay vì kể thêm một truyện bèn
đề nghị pharaoh cho gọi lão phù thủy dân giã Djedi. Có được sức mạnh pháp thuật,
Djedi có thể đưa đầu bị cắt trở về chỗ, và pharaoh muốn được tận mắt nhìn thấy
chuyện kỳ lạ đó. Pharaoh đề nghị thử với một phạm nhân bị giam trong tù, nhưng
Djedi từ chối không giết người và biểu diễn tài năng của mình với một con chim.
Sau đó lão phù thủy báo cho pharaoh Khufu rằng một phụ nữ tên Radjedet, vợ quan
tư tế của thần mặt trời Ra tên là Rauser, đang mang thai, và ông tiên đoán rằng
bà ta sẽ sinh ba con trai, người anh cả sẽ trở thành tư tế tối cao của thần Ra ở
Heliopolis, còn hai người em sẽ lần lượt làm vua ở Ai Cập thay thế ngai vàng của
vương triều IV của Khufu và các con ông. Djedi cam đoan với Khufu rằng việc đổi
thay vương triều đó sẽ xảy ra sau thời trị vì của cháu nội nhà vua, và Djedi được
pharaoh ban thưởng hậu hĩ.
Tiếp theo trong bản papyrus là đoạn mô tả sự ra đời kỳ diệu của
ba người con trai Radjedet. Thần linh ban cho ba đứa trẻ mới sinh những cái
tên, mà chúng ta được biết đúng là tên của ba pharaoh vương triều V. Những đứa
trẻ sinh ra với những dấu hiệu vua chúa rõ ràng, và Radjedet bắt đầu lo sợ
Khufu sẽ truy đuổi chúng. Trong lúc đó, người tớ gái của Radjedet do cãi nhau với
bà chủ quyết định báo cho pharaoh Khufu biết về ba đứa trẻ kỳ diệu, nhưng mụ bị
cá sấu bắt được, không kịp thực thi ý đồ độc ác của mình. Đoạn kết của bản
papyrus không còn giữ được.
Điều thú vị là mặc dù trong truyện không nói trực tiếp về ý định
giết lũ trẻ của Khufu, nhưng với toàn bộ bối cảnh của truyện có thể giả thiết về
khả năng xảy ra chuyện đó. Hơn nữa, tình tiết này gần gũi với câu chuyện nổi tiếng
trong Phúc Âm của Matthew (2, 1-16) trong đó kể chuyện vua Herod khi được các
thầy phù thủy cho biết về sự ra đời của Jesus Christ bèn ra lệnh giết chết tất
cả các bé trai từ hai tuổi trở xuống. Vai trò chức năng của các nhân vật trong
hai truyện đều giống nhau: Khufu và Herod, thầy cúng Djedi và các thầy phù thủy
tiên đoán về sự ra đời của những đứa trẻ nguy hiểm đối với vua, và cuối cùng là
các con trai của Radjedet và Christ, những người mà Khufu và Herod truy đuổi.
Trước mắt chúng ta chắc chắn là câu chuyện dân gian, được chỉnh
lý hoặc ít hoặc nhiều và chép lên giấy papyrus. Ngôn ngữ của tác phẩm thể hiện
điều này - không phải ngôn ngữ văn học, mà là ngôn ngữ nói bình dân thời bấy giờ
mà chúng ta thường gặp trong các tài liệu có tính sự vụ. Truyền thống dân gian
còn thể hiện trong nội dung tác phẩm: sự đối lập giữa vương triều IV độc tài với
đại diện là Khufu với vương triều V của các con trai Radjedet và quan tư tế của
thần mặt trời, mà tác giả truyện có thiện cảm hơn. Điều này cũng gần gũi với những
truyền thuyết vềsự độc tài của Khufu còn lưu truyền đến thế kỷ V trước công
nguyên mà Herodod đã nghe kể trong chuyến du hành đến Ai Cập (Hérodod, II,
124). Truyện về Khufu và các con trai Radjedet trong papyrus Westcar có
lẽ thuộc vào nhóm truyền thuyết đó, gián tiếp phản ánh những sự kiện chính trị
có thực dẫn đến sự sụp đổ của vương triều IV, thay thế bằng vương triều V và đến
việc phổ biến rộng rãi tục thờ phụng thần mặt trời Ra.
Những tác phẩm tương tự như truyện “Người bị đắm tàu” và các
truyện trong papyrus Westcar có lẽ có rất nhiều ở Ai Cập cổ đại, và
những mảnh đoạn tác phẩm còn truyền lại được đến nay minh chứng cho sự phong
phú và đa dạng của văn học thuộc thể loại này, trong đó những yếu tố huyền thoại
và thần kỳ đóng vai trò chủ yếu. Đáng chú ý một điều là trong thể loại này những
cốt truyện dân gian được chỉnh lý nghệ thuật và được chép lại; điều này cho thấy
những người có học thức ở Ai Cập - các quan lại và người chép sách – đánh giá
cao văn học dân gian và mong muốn lưu danh muôn thuở những tác phẩm hay nhất bằng
văn tự.
Cách đây không lâu, nhà Ai Cập học người Pháp G.Posener công
bố một thư tịch mới được biết dưới tên gọi “Truyện về Neferkar và viên tướng
Sisin”, nội dung liên quan tới cuối thời Cổ Vương quốc -thời kỳ trị vì của
pharaoh Peni II vương triều VI. Mặc dù tác phẩm ở trong tình trạng chỉ còn các
mảnh đoạn, nhưng vẫn thấy rõ trong đó phê phán gay gắt sự bất công, bất bình đẳng
bao trùm trong triều đình.
Bên cạnh những chỉnh lý nghệ thuật các tác phẩm dân gian,
trong văn học thời đại Trung Vương quốc ta thấy có hàng loạt các tác phẩm hoàn
toàn thuộc thể loại khác và có nguồn gốc khác. Trước hết cần nói đến những tác
phẩm thể hiện thế giới quan tôn giáo đang được xác lập. Đó là những tụng ca cho
các thần linh, ví dụ các bài tụng ca Hapi (thần sông Nile), Osiris và các thần
linh khác. Khởi đầu loại hoạt động văn chương như vậy chúng ta đã thấy trong “Những
văn bản kim tự tháp” (chẳng hạn như tụng ca cho nữ thần mặt trời Nut). Các tụng
ca thần linh thời Trung Vương quốc là sự phát triển tiếp tục thể loại này.
Ở đây cần phải nhắc đến những câu nói quan trọng của K.Marx về
tôn giáo: “Tôn giáo là lý thuyết khái quát, là bản trích yếu bách khoa, là
logic trong hình thức phổ biến, là danh dự tinh thần, là lòng nhiệt thành, là
chuẩn mực đạo đức, là sự bổ sung long trọng, là cơ sở chung để an ủi và biện hộ
của thế giới này” (Marx K, Engel F., Tác phẩm, tập 1, tr.144). Nói cách
khác, tôn giáo không chỉ là sự cảm nhận, chiêm nghiệm thế giới, mà còn là thái
độ đối với thế giới. Chính vì vậy mà những cốt truyện tôn giáo trong lịch sử
nhân loại hoàn toàn có thể trở thành những cốt truyện văn học. Trong các tụng
ca thần linh thể hiện thái độ của con người đối với thiên nhiên và xã hội, thể
hiện những đau khổ và những cảm xúc của con người. Chắc hẳn vì thế mà chủ đề
“con người và thần linh” đã bước vào lịch sử văn học.
Trong số các tụng ca thời Trung Vương quốc hướng tới các thần
linh, đáng chú ý là tụng ca dâng Hapi, thần sông Nile. Một số dị bản của tụng
ca này còn truyền đến nay thuộc thời đại Tân Vương quốc, nhưng rõ ràng đó chỉ
là các bản thời sau chép lại chứng minh cho sự phổ biến của tác phẩm. Bài tụng
ca gây sự chú ý ở hai phương diện: thứ nhất, trong đó phản ánh rất sinh động
thái độ của người Ai Cập đối với con sông vĩ đại không chỉ đã sinh ra đất nước
Ai Cập, mà còn hàng ngàn năm nuôi dưỡng dân cư trên đất nước đó (nói cách khác,
trong tụng ca thể hiện thái độ của con người đối với thiên nhiên mà họ tôn
sùng); thứ hai, những cảm xúc đó được thể hiện trong tác phẩm dưới hình thức
mang tính nghệ thuật rõ rệt. Tụng ca không phải là bài cầu nguyện tập hợp các lời
thỉnh cầu, mà là sự thể hiện niềm vui sướng và biết ơn đối với thiên nhiên vĩ đại
đã ban tặng sự sống cho đất nước và dân chúng. Tụng ca mô tả một cách thi vị sức
mạnh hồi sinh của nước và của lũ sông Nile, niềm hân hoan của dân chúng trong
thời gian nước lũ, những mối nguy hiểm đe dọa đất nước nếu như nước lũ đến chậm,
v.v... Sông Nile hiện ra hùng mạnh và bí ẩn, và bản tụng ca kết thúc bằng lời
tôn vinh dòng sông vĩ đại:
Con người kêu gọi thần linh
Vì khiếp sợ trước sự hùng mạnh của chúa tể trần gian
Cầu xin cho đôi bờ trù phú
Hãy phồn vinh, hãy phồn vinh, hỡi Hapi
Hãy phồn vinh
Bằng những món quà của ruộng đồng
Làm sống lại con người và súc vật
Hãy phồn vinh, hãy phồn vinh, hỡi Hapi
Hãy phồn vinh, hãy phồn vinh.
Vì khiếp sợ trước sự hùng mạnh của chúa tể trần gian
Cầu xin cho đôi bờ trù phú
Hãy phồn vinh, hãy phồn vinh, hỡi Hapi
Hãy phồn vinh
Bằng những món quà của ruộng đồng
Làm sống lại con người và súc vật
Hãy phồn vinh, hãy phồn vinh, hỡi Hapi
Hãy phồn vinh, hãy phồn vinh.
Tụng ca dâng thần Osiris được khắc tên bia mộ thời Trung
Vương quốc (hiện được lưu giữ tại Thư viện Napoléon ở Paris) ca ngợi vị thần được
thờ cúng rộng rãi trong thời Trung Vương quốc. Osiris trong xã hội Ai Cập trở
thành một kiểu “chúa tể của tâm linh”. Tên Osiris gắn liền với quan niệm về sự
bất tử mà người nào cũng có thể đạt tới sau khi qua đời, và việc thờ thần
Osiris đã dân chủ hóa và đơn giản hóa nghi lễ cầu hồn: Một phiến bia mộ đơn giản
nhất có khắc những lời thần thánh đã thành công thức và nhắc đến Osiris là đủ để
“bảo đảm” cho một đời sống vĩnh cửu ở thế giới bên kia.
Làm phản đề cho giáo lý về sự bất tử được phổ biến rộng rãi
trong xã hội gắn với việc thờ thần Osiris, trong thời Trung Vương quốc xuất hiện
tác phẩm được gọi là “Bài ca của người chơi đàn hạc”. “Bài ca của người chơi
đàn hạc” trong khoa Ai Cập học được dùng để gọi tập hợp khoảng 15 văn bản được
truyền lại một phần từ thời Trung Vương quốc, một phần từ đầu thời Tân Vương quốc
(tuy nhiên phần sau là những bản sao hay những dị bản của những nguyên bản cổ
thời Trung Vương quốc). Những văn bản đó gắn với nhau bởi có cùng tư tưởng,
cùng cách cảm nhận thế giới và cùng thái độ đối với thế giới. Chúng được những
người chơi đàn hạc trình diễn như một loại bổ sung không bắt buộc của nghi lễ cầu
hồn, nhưng về bản chất lại phủ nhận hoàn toàn nghi lễ đó. Bản “Bài ca của người
chơi đàn hạc” chi tiết nhất được lưu trên papyrus Harris 500 vào thời Tân Vương
quốc. Nó được viết vào thời đại của pharaoh Intef thuộc vương triều XI (cuối
thiên niên kỷ III trước công nguyên) và bằng ngôn ngữ Trung Ai Cập.
Mọi thứ trên trần gian đều là phù sinh, “Bài ca” khẳng định,
không gì có thể thoát khỏi sự diệt vong; hàng bao thế kỷ, các thế hệ con người
nối tiếp nhau chui xuống mồ, những tấm bia mộ cũng sụp đổ và tiêu vong, chẳng
còn gì lưu lại về những con người đó, thậm chí cả trong ký ức; người ta nhớ về
những nhà thông thái cổ xưa Imhotep và Djedefhor chỉ vì những lời nói của họ ai
cũng biết và nhắc đi nhắc lại; không ai trong số những người đã chết trở về được
từ thế giới bên kia để nói với những người đang sống về số phận đang chờ đợi họ;
bởi vậy phải tận dụng hết mọi niềm vui của cuộc sống, sống vui tươi và hưởng lạc,
bởi không ai có thể tránh khỏi cái chết.
Như vậy, “Bài ca” không chỉ đơn thuần đề cao cuộc sống trần
gian, mà còn bộc lộ rõ ràng thái độ ngờ vực đối với những tín điều về thế giới
bên kia. Liệu việc xuất hiện những quan niệm như vậy trong xã hội tôn giáo có
là bất bình thường không? Không thể không tán thành ý kiến của viện sĩ
B.A.Turaev khẳng định rằng “chúng là của chung nhân loại” và làm ta nhớ tới những
ý tưởng được thể hiện trong sử thi về Gilgamesh, hay trong một cuốn Thánh kinh.
Mỗi tác phẩm tương tự như vậy chứng tỏ rằng những bộ óc ham hiểu biết nhất của
thời cổ đại đã cảm nhận được sự thiếu chứng cớ và đáng ngờ của một số giáo điều
tôn giáo, và “Bài ca của người chơi đàn hạc” rõ ràng đã cho thấy ở Ai Cập thời
Trung Vương quốc có sự hiện diện những tư tưởng tôn giáo xã hội khác nhau, đôi
khi đối lập nhau.
Một tác phẩm văn học cổ đại Ai Cập rất thú vị, và có lẽ cũng
chưa thể được hiểu hết là tác phẩm nổi tiếng “Cuộc trò chuyện của kẻ tuyệt vọng
với linh hồn của mình” được lưu ở một trong những bản papyrus Berlin.
Phần đầu của văn bản không còn giữ được, điều này khiến cho
việc nắm bắt văn bản rất khó khăn, hơn nữa nó lại được viết bằng một ngôn ngữ
khó hiểu, có những từ mà chúng ta không hoàn toàn rõ nghĩa. Bản papyrus này thuộc
vào thời Trung Vương quốc. “Cuộc trò chuyện” là đối thoại giữa một con người thất
vọng với cuộc sống và muốn tự vẫn, với linh hồn của anh ta phản đối việc tự vẫn
và chứng minh sự cần thiết phải sống. Những quan điểm được bộc lộ hoàn toàn đối
lập nhau và loại trừ lẫn nhau.
Con người muốn chết vì cuộc đời đối với anh ta quá ghê tởm,
và cái chết là sự giải thoát khỏi những ngang trái trong cuộc đời trần gian để
bước sang thế giới bên kia tốt đẹp không gì bằng:
Với tôi chết giờ đây là chữa lành vết thương,
Là thoát khỏi ngục tù đau khổ.
Với tôi chết giờ đây là trầm hương thơm tho,
Là ngồi dưới cánh buồm căng gió.
Với tôi chết giờ đây là ngôi nhà thân thương
Sau những năm dài lao tù đày đọa.
Là thoát khỏi ngục tù đau khổ.
Với tôi chết giờ đây là trầm hương thơm tho,
Là ngồi dưới cánh buồm căng gió.
Với tôi chết giờ đây là ngôi nhà thân thương
Sau những năm dài lao tù đày đọa.
“Kẻ tuyệt vọng” than thở rằng tên của anh ta (chúng ta đã biết
theo quan niệm của người Ai Cập “tên” thể hiện bản chất, số phận của mỗi con
người) “thối hoăng”, và giữa anh với những người xung quanh không có cái gì
chung. Ý tưởng đó thể hiện trong một loạt câu thơ, mỗi câu bắt đầu bằng câu hỏi
tu từ: “Tôi biết thổ lộ cùng ai hôm nay?”. Và những câu trả lời tiêu biểu của
“kẻ tuyệt vọng”: “Những trái tim tham lam, ai cũng thèm thuồng muốn của người
khác”; “Kẻ bạo tàn được tự do, người hiền bị tiêu diệt”; “Kẻ càn rỡ hành hạ nạn
nhân, mà thiên hạ xem như trò giải trí”; “Quá khứ không ai nhớ. Lòng tốt chẳng
được đáp đền”; “Bạn bè trở nên vô tình, lòng trắc ẩn phải tìm nơi kẻ lạ”; “Không
quan toà công minh, thế gian trong tay bọn gian dối”; “Mặt đất cái ác ngập tràn
không biết đâu bờ bến”, v.v...
Hoàn toàn rõ ràng rằng “kẻ tuyệt vọng” nói đến những trật tự
xã hội và lối sống bao trùm Ai Cập đương thời mà anh ta thấy đối lập với những
gì trước đây gần gũi và quý giá đối với anh ta (“Quá khứ không ai nhớ”). Tóm lại,
anh ta cảm thấy mình cô đơn trong một xã hội xa lạ đầy thù hận đối với mình.
Phản đối “kẻ tuyệt vọng”, “linh hồn” của anh không nói gì đến
những trật tự trên trần gian, nhưng đưa ra một quan điểm hoàn toàn khác về cái
chết và thế giới bên kia. Thực chất, nó lặp lại những ý tưởng được thể hiện
trong “Bài ca của người chơi đàn hạc”. Khác với “kẻ tuyệt vọng” cho rằng cái chết
là sự giải thoát khỏi những tai họa, là “thoát khỏi ngục tù đau khổ”, “linh hồn”
tin rằng không việc gì phải nghĩ đến cái chết và cuộc sống ở thế giới bên kia,
không việc gì phải quan tâm đến việc thờ cúng cầu nguyện và xây dựng những kim
tự tháp hay lăng mộ - chúng rồi thế nào cũng điêu tàn và sụp đổ, bởi vậy cần phải
hưởng thụ những hoan lạc của cuộc đời.
Tóm lại, trước chúng ta chắn hẳn là cuộc đối thoại giữa đại
diện của hai khuynh hướng tư tưởng trong xã hội Ai Cập cổ đại. “Kẻ tuyệt vọng”
đại diện cho khuynh hướng có thể nói là bảo thủ, anh ta tin tưởng chắc chắn vào
tính chân lý của lý thuyết truyền thống về cái chết và cuộc sống ở thế giới bên
kia, anh lên án những quan hệ mới trong xã hội là bạo tàn và không thể chấp nhận
được. Còn “linh hồn” của anh ta thì ngược lại phê phán tín điều đã được xã hội
thừa nhận về sự bất tử, cố thử dung hợp con người với cuộc sống trong bất kỳ
hoàn cảnh nào.
Kết thúc cuộc đối thoại khá mơ hồ: “linh hồn” kêu gọi “kẻ tuyệt
vọng” lắng nghe ý kiến của mình và đồng thời hứa hẹn sẽ luôn cùng anh sau khi
chết. Vấn đề chân lý thuộc về bên nào như vậy chưa được giải quyết.
Những chấn động xã hội ở Ai Cập vào hai thế kỷ cuối của thiên
niên kỷ III trước công nguyên không chỉ được phản ánh trong nội dung “Cuộc trò
chuyện của kẻ tuyệt vọng với linh hồn của mình” mà còn ghi dấu ấn trong những
tác phẩm khác của văn học Ai Cập thời đại Trung Vương quốc - những tác phẩm có
tính chính luận. Những nghiên cứu mới đây đã khẳng định giả thuyết cho rằng một
phần các tác phẩm thời đại này được triều đình gợi ý nhằm mục đích củng cố và
tuyên truyền cho uy tín của các pharaoh vương triều XII (khoảng năm 2000 - 1800
trước công nguyên), vương triều đã kết thúc được tình trạng chính trị lộn xộn
hàng thế kỷ trước đó.
Như chúng ta đã thấy, trong “Châm ngôn” của pharaoh khuyết
danh thuộc vương triều Heracleopolis thứ X viết cho con trai Merikare, vị
pharaoh này đã phát biểu một ý tưởng đáng chú ý rằng lời nói mạnh hơn mọi vũ
khí. Các pharaoh đầu tiên của vương triều XII đã vận dụng ý tưởng này với mong
muốn chinh phục được thiện cảm của thần dân và củng cố uy tín của mình. Thời kỳ
lịch sử giữa hai thời đại Cổ Vương quốc và Trung Vương quốc đầy những cuộc chiến
tranh huynh đệ tương tàn dẫn đến những biến động xã hội nghiêm trọng. Uy tín của
chính quyền nhà vua bị giảm sút đáng kể. Nắm được chính quyền, các vua của
vương triều XII phải dựa vào không chỉ sức mạnh vũ khí, mà còn sức mạnh lòng
tin, chứng tỏ cho dân chúng rằng họ không phải là những kẻ thoán đoạt ngai
vàng, mà là những người đã cứu đất nước khỏi tình trạng bạo loạn, tái lập trật
tự, quan tâm đến phúc lợi của nhân dân, tóm lại, họ là những ân nhân. Có ít nhất
ba tác phẩm văn học đã được sáng tác nhằm mục đích này vào đầu thời kỳ Trung
Vương quốc.
Tác phẩm thứ nhất trong số đó là “Tiên tri của Nerferty” (tên
này trước kia đọc là Neferrekhu).
Pharaoh Snofru vương triều IV, người kế vị Khufu (Kheops), ở
trong triều buồn chán bèn ra lệnh cho các triều thần đi tìm một nhà thông thái
có thể làm ông giải khuây. Người ta dẫn đến một người tên Neferty (có lẽ chính
người này được nhắc đến trong bản papyrus Chester Beatty IV mà chúng ta đã biết
đến). Neferty hỏi pharaoh rằng ông phải nói về điều gì, về quá khứ hay về tương
lai. Nhà vua muốn biết về tương lai. Neferty bắt đầu tiên đoán. Đó là những lời
tiên tri rất xấu: sẽ có những năm khủng khiếp khi nước sông Nile cạn và trở
thành đất khô, sau đó đến nạn đói, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, mọi người trở nên
thù hằn và sợ hãi nhau, từ phía đông bọn người du mục châu Á xâm lược, chúng sẽ
áp bức dân chúng, v.v.. Thế là ở miền nam xuất hiện một người tên Ameni từ Thượng
Ai Cập tới. Ông sẽ lên ngôi, cánh tay mạnh mẽ công minh của ông sẽ tái lập trật
tự trong nước, trừng trị kẻ nổi loạn, đuổi bọn xâm lược châu Á, và đất nước sẽ
bừng đậy.
Như vậy, người cứu đất nước khỏi những tai họa khủng khiếp
trong lời tiên tri là một người tên Ameni, kẻ sẽ đoạt được ngai vàng. Hơn nữa,
Ameni - đó là tên rút gọn của Amenemkhat I, người lập ra vương triều XII. Để củng
cố uy tín của vương triều mới, người sáng lập vương triều phải được xem không
như một trong số nhiều kẻ tiếm đoạt ngai vàng trước đó, mà như một vị ân nhân cứu
tinh với sự xuất hiện đã được tiên tri từ thời xưa. Hơn nữa, trong “Tiên tri của
Neferty”, Amenemkhat I khác hẳn những kẻ tranh ngôi vua khác, ông có uy tín đặc
biệt. Những tai họa đổ xuống đất nước và được mô tả trong lời tiên tri, dẫu đôi
khi dưới dạng huyền thoại, nhưng chắc chắn là có cơ sở lịch sử; trong tình trạng
phân hóa chính trị vào cuối thời Cổ Vương quốc, thiên tai – sông Nile khô hạn –
chắc chắn phải dẫn đến nạn đói và rối loạn trong nước, trước hết là dẫn đến
tình trạng vô chính phủ. Trong hoàn cảnh như thế, các cuộc đột nhập, xâm lược của
những người du mục châu Á là rất có thể.
Tác phẩm thứ hai có tính chính luận là “Châm ngôn Amenemkhat
I” cho con trai Senusert là người đồng cai trị và kế vị. Tác phẩm này truyền lại
đến nay toàn bộ hay từng phần trong chín bản, điều này chứng tỏ nó được phổ biến
rộng rãi thậm chí cả trong thời kỳ sau – thời Tân Vương quốc. “Châm ngôn Amenemkhat
I” là một văn bản rất khó dịch: tác giả trình bày các ý tưởng của mình bằng
ngôn ngữ cầu kỳ, bóng bẩy, nhiều chỗ khó hiểu. Cũng cần phải chú ý rằng mặc dù
nó có nhan đề là “Châm ngôn”, nhưng nội dung giáo huấn trong đó rất ít, và thực
chất nó là tự truyện của nhà vua được nhà thông thái nổi tiếng Ahtoy trình bày
sau khi vua chết.
Trong phần đầu “Châm ngôn”, sau khi liệt kê những tước vị của
mình, nhà vua dặn con trai nghe theo những lời khuyên của mình để có thể cai trị
tốt. Đó chủ yếu là những lời khuyên nên tránh tin vào những người xung quanh và
thuộc hạ, chỉ nên dựa vào chính bản thân mình, “bởi con người không có đồng
minh trong ngày bất hạnh”. Để khẳng định chân lý đáng buồn đó, nhà vua đưa ra
kinh nghiệm bản thân: ông đã giúp đỡ người nghèo và trẻ mồ côi, nhưng chỉ nhận
lại sự vô ơn và lòng thù hận. Nhà vua kể chuyện mình trở thành nạn nhân cuộc tiếm
đoạt ngai vàng như thế nào: một buổi chiều, khi đang nghỉ ngơi trong cung điện,
ông đã bị tấn công. Chuyện đó xảy ra khi Senusert, người mà Amenemkhat định
truyền ngôi, không ở nhà. Amenemkhat I than rằng mình đã không đoán trước được
sự phản bội và để cho nó ẩn trốn trong cung. “Châm ngôn” kết thúc bằng việc liệt
kê những điều mà Amenemkhat I đã làm cho đất nước, thể hiện tình cảm của người
cha đối với con trai và hy vọng việc trị vì của con trai sẽ may mắn tốt đẹp hơn
của chính bản thân ông.
Như vậy, theo “Châm ngôn”, chính ông vua-ân nhân Ameni mà
Neferty đã tiên tri, khi trở thành vua và mang điều tốt lành đến cho đất nước,
đã thành nạn nhân của cuộc đảo chính vì quá tin cậy vào những người xung quanh.
“Châm ngôn” chắn chắn được viết ra nhằm hướng tới độc giả quảng
đại khi dựng lên hình tượng vị vua đầy nhân tính, quan tâm đến nhân dân và bị
rơi vào tay những triều thần phản bội. Hình tượng như vậy không thể không làm
người Ai Cập có thiện cảm với vị vua đã lập nên vương triều XII và truyền ngôi
cho con trai mình là Senusert I.
Tác phẩm thứ ba thuộc nhóm này là câu chuyện của một người Ai
Cập tên Sinuhe kể về cuộc đời mình. Đó là một trong những viên trân châu của
văn học Ai Cập. “Truyện Sinuhe” là tác phẩm cổ nhất trong văn học thế giới,
trong đó hiện thực được tái hiện với sự toàn vẹn và xác tín đến kỳ diệu. Chắc hẳn
tác giả khuyết danh đầy tài năng của nó phải thuộc giới triều thần, bởi ông rất
quen thuộc với lối sống và sinh hoạt của triều đình. Ông là một người hiểu biết
văn hóa Ai Cập, một nhà tâm lý học uyên thâm và là cây bút xuất sắc – điều này
được chứng minh rõ rệt qua văn bản tác phẩm, toàn bộ hay từng phần của nó được
lưu giữ trong nhiều dị bản. Đồng thời, việc phổ biến rộng rãi “Truyện Sinuhe”
cũng cho thấy thị hiếu nghệ thuật tinh tế của những độc giả Ai Cập.
Khi tạo nên tác phẩm của mình, tác giả đã sử dụng thành công
hình thức văn bia tự truyện của các quan lại Ai Cập. “Truyện Sinuhe” về hình thức
là một văn bia tự truyện thông thường, nhưng khuôn khổ lớn hơn rất nhiều và nổi
bật những phẩm chất nghệ thuật cao. Cũng như ở mọi văn bia khác, dòng tự sự được
kể từ ngôi thứ nhất.
Phong cách trình bày tinh tế và tao nhã. Ở đây ta không gặp
những điệp từ thường thấy trong các tác phẩm văn học Ai Cập, không thấy sự đơn
điệu của ngôn ngữ. Ngược lại, ngôn ngữ “Truyện Sinuhe” trong sáng và phong phú,
nhiều thành ngữ đa dạng. Những trang mô tả sống động, hồn nhiên nhưng cũng
không kém phần tinh tế. Tác giả của chúng hẳn là người được phú cho con mắt nghệ
thuật để nhìn cuộc sống. Truyện mang tính tâm lý sâu sắc ở nhiều đoạn, đôi khi
lại rất mộc mạc và trữ tình.
“Truyện Sinuhe” mô tả bối cảnh lịch sử sinh động, chân thực đến
nỗi người ta đưa ra giả thuyết rằng Sinuhe là một nhân vật lịch sử. Rất có thể
là như vậy, tuy nhiên chưa có những cứ liệu để khẳng định giả thuyết đó. Dù sao
đi nữa, “Truyện Sinuhe” hoàn toàn có thể được xem như một tư liệu lịch sử có
giá trị.
Chúng ta đi vào tác phẩm. Sau khi liệt kê các tước vị của
mình, Sinuhe đi thẳng ngay vào câu chuyện. Vốn là một triều thần, Sinuhe hộ tống
con trai của Amenemkhat I, người đồng cai trị và là vua Senusert I tương lai, trong
cuộc chinh phạt chống lại bộ lạc người Libi là Tjehenu. Trong thời gian đó
Amenemkhat I đột ngột qua đời trong cung của mình (ở đây, như chúng ta thấy, “Truyện
Sinuhe” khẳng định chứng minh của “Châm ngôn” Amenemkhat I, theo đó pharaoh bị
giết khi con trai đi vắng).
Khi người đưa tin đang đêm từ cung vua đến báo tin cái chết của
vua cho Senusert I, “cánh Chim Ưng không giây phút chần chừ, ngay tức khắc bay
cùng bầy bạn, không kịp báo cho cả đoàn quân”. Về đoạn này trong truyện,
B.A.Turaev nhận xét chí lý: “Senusert I, cũng như Navukhodonosor sau này, vội về
kinh đô để ngăn chặn cuộc phiến loạn có thể xảy ra”. Tuy nhiên, Sinuhe không ở
trong đoàn tùy tùng hộ tống Senusert I. Cùng lúc đó xuất hiện người đưa tin thứ
hai, chắc chắn là do kẻ thù của Senusert I phái đến, và bắt đầu thương lượng với
những hoàng tử khác cũng đang tham gia cuộc chinh phạt. Sinuhe tình cờ nghe lỏm
được một trong các cuộc trò chuyện và kinh hoảng: chàng hiểu rằng sắp xảy ra một
cuộc đổ máu tranh giành ngôi báu, và chàng có thể mất mạng trong cuộc chiến đó.
Thế là Sinuhe quyết định chạy khỏi Ai Cập lên phía đông bắc. Trong khi trốn chạy
Sinuhe đã lừa qua được sự cảnh giác của bọn lính bảo vệ biên giới đông bắc đất
nước “trên bức tường thành của quốc vương” được xây lên để chống lại người châu
Á. “Tôi nhảy vào trong những lùm cây, bởi sợ lính trên tường thành trông thấy…”,
sau đó chàng đi bộ vào sâu trong hoang mạc ngoài biên giới Ai Cập. Cái nóng và
cơn khát hành hạ chàng: “Tôi hổn hển, cổ họng cháy khô, và tôi nghĩ: “Đây mùi vị
thần chết”. Chàng được một người du mục A rập cứu sống, và Sinuhe một thời gian
sống cuộc đời lang thang: “Tôi qua hết đất nọ đến xứ kia”. Cuối cùng kẻ chạy trốn
dừng lại ở xứ Qedem. Ở đây chàng gặp Amunenshi, vua của Thượng Retenu.
Amunenshi hỏi chàng về nguyên nhân trốn chạy khỏi Ai Cập và về những hậu quả
sau cái chết của Amenemkhat I. Đáp lại, Sinuhe ca ngợi vị pharaoh mới của Ai Cập
là Senusert I, người mà chàng đã rời bỏ vào thời điểm bạo loạn nguy hiểm. Sau
khi ca ngợi vua, chàng khuyên Amunenshi hãy thiết lập quan hệ hữu nghị với vị
vua mới của Ai Cập. Amunenshi mời Sinuhe ở lại với mình và hứa với chàng: “Ngươi
sẽ vui khi ở cùng ta, tiếng Ai Cập ngươi sẽ được nghe” (những lời của Amunenshi
đáng chú ý ở chỗ nó chứng tỏ ở các nước châu Á thời bấy giờ đã có những người
Ai Cập chạy trốn, cũng có thể là những di dân Ai Cập, đến sinh sống).
Sau đó Sinuhe kể chuyện Amunenshi gả con gái cho mình, ban
cho chàng những miền đất trù phú; Sinuhe trở thành tù trưởng của bộ lạc được mọi
người tôn kính, rồi sau đó trở thành thủ lĩnh quân đội của Amunenshi; các con
trai của Sinuhe trưởng thành và đến lượt mình lại trở thành các tù trưởng.
Sinuhe còn kể một chi tiết rất thú vị: những sứ thần của pharaoh từ Ai Cập đến
châu Á và trở về lại Ai Cập đều dừng lại nghỉ ở chỗ Sinuhe, và như thế, pharaoh
được biết về chàng và tình hình của chàng. Tính lịch sử trong thông tin của
Sinuhe không thể nghi ngờ: ngày nay còn giữ được nhật ký của đội bảo vệ biên giới
Ai Cập vào thời kỳ muộn hơn, trong đó nhiều lần ghi chép về: ai, lúc nào và với
nhiệm vụ gì đã từ Ai Cập đi sang châu Á và ngược lại.
Nhưng số phận của Sinuhe ở nơi tha hương lần nữa lại phải chịu
thử thách nặng nề: một lực sĩ được tôn vinh ở xứ Retenu gọi Sinuhe ra quyết đấu
nhằm mục đích giết chết chàng Ai Cập và cướp đàn gia súc của chàng. Cuộc quyết
đấu được mô tả rất sinh động, diễn ra với sự có mặt của đông đảo dân chúng ủng
hộ Sinuhe. Nó kết thúc với chiến thắng hoàn toàn của Sinuhe: chàng giết chết kẻ
thù và chiếm được toàn bộ tài sản của hắn.
Năm tháng lướt qua, tuổi già đến gần, và Sinuhe cảm thấy nỗi
buồn nhớ quê hương sâu sắc bao trùm. Cảm xúc này được thể hiện trong lời cầu
nguyện của Sinuhe là lần đầu tiên trong lịch sử văn chương thế giới:
“Ôi thần linh đã định đoạt cuộc trốn chạy của con, dẫu Người
là ai cũng xin rủ lòng thương, hãy đưa con về lại quê hương! Có thể Người hãy
cho con được trông thấy miền đất nơi trái tim con ở đó. Còn mong ước gì hơn khi
được chôn ở nơi mình sinh ra? Hãy đến giúp con, xưa thần linh đã cho con ân huệ.
Nay hãy thương lần nữa, ban cái kết tốt đẹp cho kẻ từng bị dập vùi”.
Ước muốn của Sinuhe đến tai Senusert I. Pharaoh gửi cho chàng
quà tặng và bức thư trong đó cho phép chàng được trở về Ai Cập, hứa cho chàng
được hưởng địa vị danh giá trong triều đình và được chôn cất xứng đáng sau khi
chết. Sinuhe gửi lời tạ ơn vua. Sau đó chàng trao toàn bộ tài sản cho con trai
trưởng và, cùng với những người châu Á hộ tống, lên đường về Ai Cập. Đến nơi,
chàng được pharaoh tiếp đón trước sự có mặt của hoàng gia và hội đồng các triều
thần. Như vậy, sau nhiều năm xa cách, Sinuhe gặp lại Senusert I mà chàng, bất
chấp trách nhiệm và danh dự, đã rời bỏ sau khi Amenemkhat I băng hà. Tuy nhiên
pharaoh không thể hiện sự thù giận, mà tỏ ra cao thượng, chỉ châm biếm nhận xét
về Sinuhe: “Kìa Sinuhe đã về, trông như tên du mục châu Á”.
Sinuhe ở lại trong cung thái tử, sau đó được ban nhà cửa và mọi
thứ mà một vị quan đại thần được hưởng lúc sinh thời cũng như sau khi chết.
“Truyện Sinuhe” – một kiệt tác mà đến nay vẫn còn được đọc với
niềm hứng thú không thuyên giảm. Nó lại càng không thể không gây ấn tượng mạnh
cho độc giả thời bấy giờ, không thể không làm người ta có thiện cảm – mục đích
của tác phẩm – với vị vua dũng cảm và cao thượng và với bản thân Sinuhe, một
người có số phận thật kỳ diệu.
Một tác phẩm nổi tiếng nữa có tính chất hơi khác so với những
tác phẩm đã phân tích ở trên, có lẽ cũng thuộc thời Trung Vương quốc – đó là “Hùng
biện của Ipuwer”. Phần đầu bản papyrus này không còn giữ được. Trong đoạn văn
còn nguyên vẹn, nhà thông thái Ipuwer mô tả tình cảnh khốn khổ của đất nước cho
vị vua khuyết danh và triều thần của ông nghe: khắp nơi là tình trạng vô chính
phủ, lộng quyền của giới quý tộc; dân đen đi đến độ phá cả lăng mộ của nhà vua,
chiếm lĩnh kinh đô, gây bạo loạn chống lại chính quyền nhà vua; người có của trở
nên trắng tay, kẻ cơ hàn thành ông chủ v.v.. Ipuer buộc tội nhà vua để xảy ra mọi
chuyện như vậy, trách vua yếu hèn, không cương quyết.
Như vậy, “Hùng biện” là bức tranh mô tả bạo lực đảo lộn xã hội
và tác giả nhìn nó từ quan điểm của giới quý tộc. Chắc chắn rằng văn bản “Hùng
biện” phản ánh hiện thực lịch sử. Biến động xã hội được mô tả trong đó có lẽ đã
diễn ra vào thời kỳ hoặc giữa Cổ Vương quốc và Trung Vương quốc, hoặc giữa
Trung Vương quốc và Tân Vương quốc. Không thể xác định chính xác thời gian tác
phẩm ra đời, tuy nhiên “Hùng biện của Ipuwer” gần gũi với “Tiên tri của
Neferty”: những câu chuyện về những thảm họa xã hội trong hai tác phẩm rất giống
nhau.
III. VĂN HỌC THỜI KỲ TÂN VƯƠNG QUỐC (THẾ KỶ XVI – VIII TRƯỚC
CÔNG NGUYÊN)
Thời kỳ Trung Vương quốc cũng như thời kỳ trước nó là Cổ
Vương quốc đều kết thúc bằng loạn lạc và sự xâm nhập của người châu Á vào đồng
bằng sông Nile, nơi họ sinh cư lập nghiệp một thời gian dài. Thời kỳ suy vong của
Ai Cập diễn ra trong hai thế kỷ, kết thúc bằng việc đuổi khỏi đất nước những kẻ
xâm lược mà trong khoa học lịch sử được gọi tên là những người Hyksôs. Quá
trình giải phóng Ai Cập rất lâu dài và đầy đau thương, lãnh đạo cuộc đấu tranh
chống xâm lược là các vua thành Thebes. Người Hyksôs bị đuổi hoàn toàn khỏi Ai
Cập dưới thời pharaoh Kamos I (nửa đầu thế kỷ XVI trước công nguyên), người đã
thống nhất cả đất nước vào dưới quyền cai trị của mình và mở đầu cho vương triều
XVIII, vương triều đầu tiên của thời đại Tân Vương quốc. Tân Vương quốc là thời
kỳ phát triển thịnh vượng đối nội và đối ngoại của Ai Cập. Cùng với các cuộc
chiến tranh thắng lợi, Ai Cập trở thành một cường quốc vĩ đại trên thế giới, mở
rộng xuống phía nam và lên đông bắc rất xa khỏi biên giới vốn có của Ai Cập.
Nhiều nhà sử học hoàn toàn đúng đắn khi gọi Ai Cập thời kỳ này là đế quốc.
Văn học thời kỳ này phong phú và đa dạng hơn văn học thời
Trung Vương quốc rất nhiều, và các tác phẩm cũng được lưu giữ tốt hơn. Cần khẳng
định rằng về mặt ngôn ngữ, các tác phẩm văn học thuộc vương triều XVIII gần gũi
với thời Trung Vương quốc – chúng được viết bằng ngôn ngữ Trung Ai Cập, trong
khi ngôn ngữ Tân Ai Cập trở thành ngôn ngữ văn học chỉ từ đầu vương triều XIX
(nửa sau thế kỷ XVI trước công nguyên). Còn ngoài ra chúng gắn bó trực tiếp với
thời đại mới với những xu hướng mới. Nét tiêu biểu chủ đạo của thời đại đó là:
Ai Cập đã chấm dứt vĩnh viễn sự cô lập với thế giới bên ngoài mà nó chưa biết đến
trong các thời đại trước đó. Nhưng đó không chỉ đơn thuần là sự thoát khỏi cô lập.
B.A.Turaev viết: “Ai Cập ý thức mình là trung tâm, là đi đầu thế giới, khi nó
nhìn thấy ở mình những cuộc chinh chiến thắng lợi liên tiếp, những dãy dài các
tù binh và hàng đoàn các sứ thần với những lễ vật quý hiếm từ khắp thế giới”.
Những giao lưu thường xuyên về kinh tế, chính trị và văn hóa với cả thế giới
văn minh trong khi vẫn giữ được địa thế hàng đầu về chính trị và quân sự là điều
tiêu biểu của Ai Cập thời bấy giờ. Tất cả đều được phản ánh cả trong tôn giáo lẫn
trong văn hóa với nghĩa rộng nhất của từ này, và trong văn học. Tuy nhiên điều
này không có nghĩa là những truyền thống cổ đại đã bị mất đi và mọi thành tựu
trước kia bị quên lãng. Ngược lại, chúng được vận dụng thành công trong những
điều kiện lịch sử mới, trong đó thể hiện toàn vẹn hơn cả là ở các tụng ca.
Sự tập trung tối đa quyền lực chính trị đất nước và biến
Thebes trở thành kinh đô của một cường quốc tất yếu dẫn đến việc thần Amon của
thành Thebes chiếm lĩnh địa vị chúa tể trong hệ thống thần linh Ai Cập. Tuy
không thay thế việc thờ phụng các thần cổ đại khác, nhưng thần Amon là “thần chủ”
(thần “đặc biệt”), và ưu thế của thần đối với các thần linh khác đã chuẩn bị
cho sự xuất hiện những khuynh hướng nhất thần luận, tuy đã có thể cảm nhận thấy,
nhưng chưa được định hình trong tôn giáo Ai Cập. Thực ra, dưới thời Amenhotep
IV (Akhnaton)[6] (giữa thế kỷ XIV trước công nguyên) đã diễn ra cuộc cải
cách tôn giáo nổi tiếng của Ai Cập. Việc thờ Amon bị bãi bỏ, và thần tối cao trở
thành Aton, tượng trưng cho mặt trời.
Aton là vị thần do con người tạo nên, sản phẩm của những suy
tính thần học của pharaoh và các triều thần của ông. Tuy nhiên, tụng ca thần
Aton còn truyền lại đến nay không phải là một cái gì đó giả tạo mang tính kinh
viện. Đó là một kiệt tác thi ca tôn giáo đích thực. Aton chiếu sáng và sưởi ấm
mặt đất và mọi sinh linh sống trên đó, thần được ngợi ca như hiện thân vẻ đẹp của
thiên nhiên, như cội nguồn của sự sống trên mặt đất, như đấng sinh thành các xứ
sở và các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau, như người tạo nên mọi sinh vật. Tụng
ca không có những ngoại đề thần thoại, không nhắc đến những thần linh khác.
Theo tụng ca, Aton là thần của người Ai Cập và của các dân tộc khác, một vị thần
ân nhân, cội nguồn của ánh sáng thể chất và ánh sáng tinh thần:
“Người kiến lập dòng thời gian để muôn vật Người tạo nên sinh
ra và lại sinh ra nữa, - Người tạo nên mùa đông để làm mát những luống cày […]
Người kiến lập bầu trời cao để lên đó ngắm nhìn vạn vật do tay Người sáng tạo.
Người là duy nhất, Người hiện lên nguyên hình diện mạo, Aton sống động tỏa lấp
lánh hào quang, ở rất xa mà cũng thật gần! Từ một hình Người, Người tạo nên
muôn triệu hình hài. Thành thị và làng quê, những cánh đồng và những nẻo đường,
và dòng sông vĩ đại, tất cả chiêm ngưỡng Người, mọi ánh mắt đều hướng về Người […]”
Sau khi Akhnaton chết và các vua kế vị kề sau cũng chết, thì
việc thờ thần Aton bị bãi bỏ hoàn toàn, và vị thần cổ đại Amon lại trở thành
chúa tể trong hệ thống thần linh của Ai Cập, tuy nhiên nhiều phẩm chất của
Aton được gán vào cho Amon, và trong tụng ca dành cho Amon ta có thể thấy những
hình dung từ rất gợi nhớ đến tính cách của Aton: “chúa tể của chân lý, cha của
các thần, đấng sinh thành của con người, người tạo nên súc vật, cỏ cây […], người
mà mọi thần linh đều tỏ lòng tôn kính”, v.v..
Bên cạnh những tụng ca, một kiệt tác của văn chương tôn giáo
Ai Cập thời đại Tân Vương quốc là chương thứ 125 của cuốn sách có tên “Tử thư”.
“Tử thư” là tên của một tuyển tập lớn các tác phẩm dành cho những người chết với
những nội dung khác nhau, sáng tác nhằm mục đích bảo đảm cho sự bất tử không chỉ
cho vua như “Những văn bản kim tự tháp”, mà còn cho bất kỳ người trần gian nào.
Trong tuyển tập này, chương thứ 125 nổi bật so với các chương khác bởi nội dung
đặc biệt của mình: trong đó mô tả tòa án dưới âm phủ của thần Osiris phán xét
linh hồn người chết. Những nguyên tắc của toà án âm phủ này là: linh hồn của
người mà khi còn ở trần gian có những hành động, hành vi đúng đắn phù hợp với đạo
lý được bảo đảm bất tử; linh hồn của kẻ có tội sẽ bị chết cái chết lần hai và
là vĩnh viễn.
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo và văn học, trong “Tử thư” đã thể hiện tư tưởng thưởng phạt sau khi chết tùy thuộc vào phẩm hạnh của con người trên dương thế. Ở đây liệt kê những lỗi lầm và tội ác mà người chết không được phạm phải. Nằm lẫn giữa nhiều chương khác mang tính pháp thuật, và bản thân cũng chứa hàng loạt yếu tố pháp thuật, chương 125 trong “Tử thư” chứng tỏ những đòi hỏi đạo lý rất cao của người Ai Cập, mặc dù những liệt kê đơn điệu các thủ pháp mang tính ma thuật có làm giảm bớt phần nào giá trị của nó - mục đích của những thủ pháp này là tác động đến các toà án âm phủ và buộc họ phải bằng mọi giá công nhận linh hồn được đưa tới là ngoan đạo.
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo và văn học, trong “Tử thư” đã thể hiện tư tưởng thưởng phạt sau khi chết tùy thuộc vào phẩm hạnh của con người trên dương thế. Ở đây liệt kê những lỗi lầm và tội ác mà người chết không được phạm phải. Nằm lẫn giữa nhiều chương khác mang tính pháp thuật, và bản thân cũng chứa hàng loạt yếu tố pháp thuật, chương 125 trong “Tử thư” chứng tỏ những đòi hỏi đạo lý rất cao của người Ai Cập, mặc dù những liệt kê đơn điệu các thủ pháp mang tính ma thuật có làm giảm bớt phần nào giá trị của nó - mục đích của những thủ pháp này là tác động đến các toà án âm phủ và buộc họ phải bằng mọi giá công nhận linh hồn được đưa tới là ngoan đạo.
Trong thời đại Tân Vương quốc một số cốt truyện thần thoại trở
thành cốt truyện của những tác phẩm cổ tích được sáng tác để giải trí. Chẳng hạn
như thần thoại về Osiris và Isis, là truyện về mối xung khắc giữa em trai
Osiris là Seth và con trai Osiris là Horus, hai kẻ tranh nhau ngai vàng của
Osiris sau khi Osiris chết và trở thành vua của âm phủ. Thần thoại về Osiris và
Isis - thần thoại trung tâm trong tôn giáo Ai Cập, còn Osiris từ thời Trung
Vương quốc là một trong những vị thần được tôn kính nhất ở Ai Cập. Làm sao có
thể xảy ra chuyện một phần của thần thoại như vậy lại trở thành một truyện giải
trí, trong đó các thần linh mất hết cả hào quang và uy tín, không chỉ có những
nhược điểm, mà còn phạm cả những tội lỗi bị phê phán trong chương 125 của “Tử
thư”?
Việc giải thích hiện tượng thoạt đầu có vẻ kỳ lạ này có lẽ là
như sau: Ngay từ thời Trung Vương quốc, dưới vương triều XII, ở đền thờ Abydos,
những vở kịch về thần Osiris đã được trình diễn trước công chúng, trong đó nhân
vật là các thần linh, còn những diễn viên là các quan tư tế. Đối với những người
sùng tín thì vở kịch chắc hẳn là cảnh rất thiêng liêng, nhưng đối với những kẻ
hoài nghi (mà chúng ta đã thấy có nhiều người như vậy ở Ai Cập), nó lại có vẻ
gì đó hài hước, vui nhộn. Truyện về Horus và Seth là một sự nhại lại, nhưng
không phải nhại vở kịch, mà là nhại một tình tiết trong thần thoại về Osiris và
Isis có liên quan hết sức chặt chẽ với vở kịch, kể về cuộc đấu tranh giành ngôi
báu của các thần linh trên trần gian.
Tất nhiên không phải tất cả các truyện cổ mang nội dung thần
thoại đều là văn nhại. Từ văn học dân gian thâm nhập vào văn học viết, rồi sau
đó còn truyền lại đến ngày nay dưới dạng các mảnh đoạn là truyện cổ tích mang
tính thần thoại về nữ thần Ashtar và thần biển. Cả hai vị thần này đều là khách
ngoại quốc trong điện thờ thần linh của Ai Cập. Rõ ràng rằng truyện này xuất hiện
vào thời Tân Vương quốc - thời kỳ tổng hợp tôn giáo mạnh mẽ, dẫn đến sự phổ biến
những tục thờ cúng của Ai Cập ở châu Á, và ngược lại, của châu Á ở Ai Cập.
Thú vị nhiều hơn là những truyện cổ tích mang nội dung phi thần
thoại còn giữ được rất tốt. Trước tiên cần nhắc đến truyện cổ tích nổi tiếng “Truyện
về hai anh em”. Truyện mang màu sắc dân gian tiêu biểu: hai anh em là nông dân,
hơn nữa người em trai lao động vất vả ngoài đồng và ở nhà để nuôi anh và chị
dâu. Truyện nói về người vợ không chung thủy của người anh, định quyến rũ em chồng
nhưng không thành công. Sau đó mụ vu khống người em với chồng, tuyên bố rằng
người em định làm nhục mụ. Người em bị xúc phạm và sỉ nhục nhờ sự giúp đỡ của
thần linh đã thoát khỏi tay người anh. Chàng chạy sang xứ Lebian đến “thung
lũng Tuyết tùng”, nơi chàng trải qua những chuyến phiêu lưu thần kỳ không thể
tưởng tượng nổi. Cuối truyện, người anh trai lo lắng cho số phận của em đã giúp
chàng trở về lại Ai Cập. Người vợ phản trắc bị giết chết, người em trở thành
pharaoh của Ai Cập.
“Truyện về Chân và Giả” cũng kể về hai anh em và cuộc xung đột
giữa họ. Đáng chú ý là trong truyện này hai em được mang những cái tên trừu tượng:
Chân và Giả – và dường như là hiện thân của công lý và bất công nơi con người.
Kết quả của cuộc xung đột giữa hai anh em là người em tên Giả ra lệnh bắt giữ
người anh tên Chân, chọc mù mắt chàng và bắt làm gác cổng cho ngôi nhà của
mình. Sau đó hắn còn định vứt nạn nhân cho sư tử xé xác nhưng không thành.
Trong khi đó chàng mù trẻ tuổi đẹp trai lại được một phụ nữ yêu mến, và mối
tình thoáng chốc của họ đã cho ra đời một cậu con trai. Cậu bé được mẹ cho biết
ai là cha của mình và đến gặp cha, biết được ai là kẻ làm cho cha bị mù. Cuối
cùng, cậu con trai nhờ sự giúp đỡ của các thần linh đã trả thù Giả vì tội làm
mù mắt cha cậu.
Mặc dù cả hai truyện cổ tích trên về nội dung không mang tính
thần thoại, nhưng trong đó vẫn cảm thấy ảnh hưởng của thần thoại về Osiris và
Isis: trong “Truyện hai anh em” người em Bata tương ứng với thần Osiris, còn
người anh Anupu tương ứng với thần Seth; còn trong “Truyện Chân và Giả” thì ngược
lại, người anh Chân gợi nhớ đến Osiris, còn người em Giả gợi nhớ Seth. Trong cả
hai truyện, người em (hoặc người anh) bị đối xử bất công cuối cùng đều trả thù
được. Như vậy, chiến thắng của công lý trong cả hai truyện là sự phản ánh chiến
thắng trong thần thoại về Osiris và Isis.
Mang nội dung hoàn toàn khác là “Truyện về chàng hoàng tử phải
chết”, phần cuối của truyện này đã bị thất truyền, tuy vậy ý tưởng thì vẫn hoàn
toàn rõ. Khi nhân vật được sinh ra, hoàng tử đã bị các thần linh định trước sẽ
phải chết bởi cá sấu, rắn hay chó. Pharaoh cha chàng nuôi dưỡng con trai ở một
nơi riêng được bảo vệ đặc biệt. Nhưng cậu bé lớn lên và một lần trèo lên mái
nhà trông thấy một người có con chó. Chàng cũng muốn tậu được một con chó, và
yêu cầu của chàng được thực hiện. Sau đó chàng lên một cỗ xe cùng với con chó
đi đến xứ Nakharina (phần bắc Syria và bắc Mesopotamia). Vua xứ đó có con gái sống
trong tòa tháp cao ba mươi sáu mét. Nhiều người là con trai các quý tộc địa
phương cầu hôn với nàng, và vị vua hứa gả con gái cho ai có thể nhảy lên tới cửa
sổ phòng nàng. Không ai làm được điều đó. Thế là xuất hiện chàng hoàng tử Ai Cập,
mặc dù còn rất mệt vì đi đường xa, nhưng chàng đã đạt được điều mà những người
khác không thể. Trở thành phò mã của vua xứ Nakharina, chàng kể cho người vợ trẻ
rằng chàng bị định trước phải chết vì cá sấu, rắn hoặc chó. Sự cảnh giác của
người vợ đã cứu chàng thoát khỏi rắn, và nàng thuyết phục chàng giết chết con
chó, nhưng chàng từ chối. Sau đó hoàng tử gặp cá sấu và trò chuyện với nó. Đến
đây truyện bị ngắt, nhưng như chúng tôi đã nói, ý tưởng của truyện đã rõ: trung
tâm của nó là vấn đề số phận và định mệnh, một vấn đề gây sự chú ý của các tác
giả nhiều tác phẩm văn học Ai Cập.
Trong một truyện khác còn truyền lại đến nay - “Truyện bóng
ma”- kể chuyện quan tư tế tối cao của thần Amon cầu xin thần linh cho hiện về
linh hồn của một vị quan đại thần đã chết mà ông rất muốn gặp. Hóa ra là lăng mộ
của vị quan đó bị sụp đổ và linh hồn của ông ta, bị mất chốn nương thân và
không có đồ cúng tế, phải lang thang trên trần gian. Vị quan tư tế tối cao của
Amon ra lệnh tìm mộ đó và cho xây lại. Đoạn kết của truyện đáng tiếc là đã thất
truyền.
Cuối cùng cần nhắc đến huyền thoại về công chúa xứ Bakhtan,
được chép vào thời gian rất lâu sau thời Tân Vương quốc, nhưng lại kể về những
sự kiện dường như xảy ra vào thời kỳ của Ramses II (thế kỷ XIII trước công
nguyên). Ở xứ sở mà ta chưa rõ có tên Bakhtan, công chúa Bentresh bị ốm, và các
thầy thuốc địa phương không thể chữa khỏi cho nàng. Người ta sang Ai Cập cầu sự
giúp đỡ. Từ Ai Cập được gửi tới bức tượng kỳ diệu thần Honsu. Bức tượng chữa khỏi
bệnh cho công chúa và sau đó trở về thành Thebes trong niềm vinh dự.
Trong tất cả các truyện được kể trên, những yếu tố siêu nhiên
và thần kỳ chủ yếu xuất phát từ những quan niệm tôn giáo và thần thoại, nhưng
dù sao chúng cũng được tái tạo trong tinh thần thuần túy cổ tích.
Bên cạnh những truyện cổ tích kiểu như trên, chúng tôi còn
tìm thấy trong văn học Ai Cập những truyện khác, mà nội dung phản ánh những sự
kiện lịch sử thời đại Tân Vương quốc, thời đại chiến tranh và chiến thắng của
vũ khí Ai Cập.
Truyện về cuộc cãi cọ giữa vua Hyksos Apopi với vua thành
Thebes Seqenenra đưa độc giả đến thời kỳ trước khi bắt đầu vương triều XVIII, nghĩa
là thời gian chiến tranh giải phóng của người Ai Cập chống lại quân xâm lược
Hyksos, và nó có tính chân thực lịch sử ở một chừng mực nhất định. Vua của người
Hyksos là Apopi đang ở trong cung điện của mình ở Avaris thuộc châu thổ sông
Nile. Vua vùng nam Ai Cập Seqenenra trên danh nghĩa phải thần phục Apopi đóng
đô ở Thebes. Apopi muốn kiếm cớ cãi cọ với Seqenenra và phái người đưa tin đến
yêu cầu Seqenenra phải dẹp yên những con hà mã dưới hồ gần Thebes vì chúng ban
đêm làm ồn ào không cho vua Apopi ngủ yên. Seqenenra trả lời một cách ôn hoà,
nhưng đồng thời triệu tập họp hội đồng quân sự. Đến đây bản papyrus bị đứt.
Không có gì lạ rằng những trang sử anh hùng về cuộc giải
phóng Ai Cập lại làm sinh ra những truyền thuyết kiểu như vậy. Đáng chú ý là
xác ướp của Sekenenra đã được tìm thấy và nghiên cứu: Seqenenra chết vì những vết
thương trầm trọng có lẽ ông bị khi đánh nhau với người Hyksos. Cũng cần nói
thêm rằng còn lưu giữ được cả một văn bản lịch sử có niên đại là thế kỷ XVI trước
công nguyên và có liên quan đến thời gian xảy ra những sự kiện được mô tả trong
văn bản: trong đó kể về cuộc chiến tranh do vua của Thebes là Kamos lãnh đạo chống
lại quân Hyksos.
Còn có một truyện cổ tích khác nói về thời kỳ trị vì của
pharaoh Tuthmosis III, nhà chinh phạt vĩ đại của vương triều XVIII (nửa đầu thế
kỷ XV trước công nguyên). Cốt truyện của tác phẩm này là việc chiếm thành phố
Yupa, chính xác nằm ở đâu thì hiện nay chúng ta chưa được biết (đa số các nhà
nghiên cứu cho nó nằm gần Damas, một số khác cho rằng nó nằm ở vị trí của
Yarphra hiện nay). Đó là một pháo đài ghê gớm không thể nào thâm nhập được, mà
quân Ai Cập bao vây đã lâu. Chỉ huy quân Ai Cập là viên tướng Djhuti, một nhân
vật lịch sử: chiếc chén bằng vàng khắc tên ông ta do chính Tuthmosis III tặng
được lưu giữ trong bảo tàng Louvre, còn chiếc dao găm của ông ta được lưu giữ ở
Darmshtad. Bởi Djhuti không thể chiếm thành bằng vũ lực, ông bèn dùng mưu: mời
vua Yupa đến trại của mình làm như để ký hoà ước, nhưng rồi giết chết ông ta.
Sau đó ông gửi đến cho dân chúng thành Yupa đang bị bao vây còn chưa biết gì về
cái chết của vua những món quà để trong các chum lớn do những người hầu không
mang vũ khí của Djhuti khiêng tới. Các chiến binh của Djhuti nấp trong những
cái chum đó. Khi họ thâm nhập được vào trong thành bèn chui ra khỏi chum, tấn
công người trong thành và mở cửa thành cho quân Ai Cập. Phương thức thâm nhập
vào thành quân thù kiểu như vậy gợi nhớ đến chi tiết nổi tiếng của cuộc chiến
thành Trois (“con ngựa thành Trois”) được thi sĩ Virgil kể tỉ mỉ trong sử thi “Aeneida”;
nó cũng gần gũi với truyện cổ tích về Ali-Baba và bốn mươi tên cướp trong “Nghìn
lẻ một đêm” và một số truyền thuyết khác trong văn học phương Đông. Đồng thời cần
nhắc thêm một văn bản phản ánh những sự kiện thời bấy giờ, nhưng thuộc thể loại
khác – đó là tụng ca trong đó chính thần tối cao Amon – Ra nói với pharaoh
Tuthmosis III và ca ngợi lòng dũng mãnh và những chiến công của ông trước kẻ
thù nhờ vào sự giúp đỡ của Amon - Ra.
Bên cạnh những truyện mang tính cổ tích về những chiến công của
quân đội Ai Cập, chúng tôi còn có được một loạt những văn bia lịch sử
của các vua và quan lại, trong đó yếu tố huyền thoại vắng bóng và các sự kiện
được mô tả gần với hiện thực. Một số văn bia đó hoàn toàn có thể được coi là những
tác phẩm nghệ thuật.
Trước hết thuộc nhóm này là những tác phẩm được gọi là “Biên
niên sử” (“Annals”) của pharaoh Tuthmosis III được khắc trên các bức tường đền
Karnak thờ thần Amon ở Thebes. “Biên niên sử” là trích đoạn trong từ toàn văn
biên niên sử thời bấy giờ do viên thư lại Chanini, người tháp tùng vua
Tuthmosis III trong các cuộc viễn chinh, soạn. Toàn văn biên niên sử này được
lưu giữ tại kho lưu trữ của đền thờ, và tác quyền của Chanini - một trường hợp
hiếm có trong lịch sử văn học Ai Cập - được xác định nhờ việc phát hiện ra lăng
mộ của ông ta, trong đó tìm được những văn bản chỉ đích danh ông là người viết
ra biên niên sử. Trong “Biên niên sử”, đặc biệt có giá trị nghệ thuật là những
ghi chép về năm trị vì thứ 23 của Tuthmosis III, kể chuyện chiếm thành Megiddo
của kẻ thù.
Nhiều văn bia của các quan lại cũng là những kiểu hồi ký mang
tính lịch sử, chẳng hạn như văn bia của Kamos xứ El-Kaba, triều thần của
pharaoh Kamos I, mô tả việc đánh đuổi quân Hyksos ra khỏi Ai Cập; hay văn bia của
một người tên Yakhmos khác, một chiến hữu của pharaoh; v.v...
Đặc biệt cần nhắc đến tác phẩm được gọi tên là “Trường ca
Pentaur” mô tả trận đánh Kandesh nổi tiếng giữa Ramses II với những người Hitti
diễn ra vào đầu thế kỷ XIII trước công nguyên. “Trường ca Pentaur” ca ngợi lòng
dũng cảm của pharaoh và kể lại vô số những sự kiện lịch sử thú vị. Nhân vật của
trường ca là chính Ramses II. Chàng bị quân thù bao vây, đang ở trong tình thế
hiểm nguy gần kề cái chết. Vua Ramses II bèn cầu nguyện đến “cha” mình - thần
Amon. Và thế là Amon đáp lời, ủng hộ chàng, truyền lòng dũng cảm cho tâm hồn
chàng, và khi đó Ramses II cảm thấy sự nâng đỡ của người cha thần linh, với một
sức mạnh và lòng quả cảm phi thường đã xông tới quân thù, chúng kinh hoảng bỏ
chạy khi thấy người chiến binh hung dữ không gì thắng nổi đó.
Truyện được kể bằng lời của Ramses II từ ngôi thứ nhất. Thực
chất, trước mắt ta là sử thi về triều đại của Ramses II, một trong những triều
đại thú vị và sáng chói nhất trong lịch sử Ai Cập. Những bản khác của trường ca
có kèm tranh minh họa được tái thể hiện trong các đền Luksor, Ramesseum,
Abu-Simbel, v.v...; nói cách khác, “Trường ca” được tạo nên nhằm tác động đến
công chúng và có lẽ chính Ramses II đưa ra ý tưởng viết nó. Pentaur chỉ là người
chép lại trường ca, còn tác giả của nó chúng ta chưa được biết. “Trường ca
Pentaur”, cũng như một số tác phẩm của thời Trung Vương quốc, được viết nhằm mục
đích chính trị - ca ngợi pharaoh Ramses II như một anh hùng, người cứu đất nước
và nhân dân thoát khỏi kẻ thù khủng khiếp là những người Hitti. Khi một hiệp ước
hòa bình “vĩnh viễn” được lập ra giữa Ramses II và vua của người Hitti là
Hattusilis và để củng cố hiệp ước, Ramses II cưới con gái của vua Hitti đưa về
Ai Cập, thì sự kiện này được chép vào một tác phẩm riêng.
Cuộc chiến tranh kéo dài nhiều năm mà Ramses II tiến hành khiến
ông phải dời cung điện của mình đến châu thổ phía đông, tới thành phố trước kia
là thành trì của người Hyksos là Avaris. Ramses II đã tạo cho nó vẻ tráng lệ,
thành phố được mang tên Per-Ramses, nghĩa là Ngôi nhà của Ramses, và có hai văn
bia được viết nên để mô tả vẻ đẹp và ca ngợi nó.
Không thể không nhắc thêm một tác phẩm rất đáng chú ý về mặt
văn chương và lịch sử, còn truyền lại đến nay từ thời con trai, người kế vị
Ramses II là pharaoh Merenptah, được gọi tên là “Văn bia Israel” (“Stele
Israel”) (đây là lần duy nhất trong văn tự Ai Cập có nhắc đến tên Israel). “Văn
bia Israel” ca ngợi chiến thắng của pharaoh trước những đạo quân hùng mạnh người
Libi xâm lược Ai Cập.
Một tác phẩm đầy chất trữ tình và tính chân thực trong văn học
thời kỳ Tân Vương quốc là tác phẩm có nhan đề “Cuộc phiêu lưu của Un-Amon” – một
câu chuyện nổi tiếng của chàng Ai Cập Un-Amon về chuyến phiêu lưu của mình đến
Bible, truyền lại đến nay chỉ trong một bản duy nhất hiện được lưu giữ trong Bảo
tàng Quốc gia Nghệ thuật tạo hình mang tên A.S.Pushkin ở Moskva. Tác giả của
truyện chắc chắn là chính Un-Amon, người buộc phải kể về mình và những chuyến
du hành của mình. Truyện chứa đựng nhiều thông tin thú vị về những xứ sở mà
Un-Amon đã đến, về quan hệ của họ đối với Ai Cập, về tình hình chính trị ở bản
thân Ai Cập, và các vấn đề khác. Có thể tin rằng truyện “Cuộc phiêu lưu của
Un-Amon” là cải biên văn chương một bản báo cáo, mà có khi, chỉ là bản sao của
bản báo cáo đó. Xét về tính chân thực cũng như những giá trị văn chương, “Cuộc
phiêu lưu của Un-Amon” có thể so sánh với “Truyện Sinuhe”.
Vào thời kỳ Tân Vương quốc loại văn chương giáo huấn tiếp tục
phát triển rộng rãi. Rất nhiều những mảnh đoạn các tác phẩm châm ngôn các loại
còn lưu giữ được đến nay, tác giả của chúng được biết đến chỉ trên văn bản tác
phẩm. Hầu như giữ được nguyên vẹn là hai tác phẩm châm ngôn: một của Ani soạn,
một của Amenemope. Cả hai được các tác giả viết cho các con trai mình theo truyền
thống cổ đại. Cả hai, cũng như “Châm ngôn Ptahhotep”, đều thiếu tính hệ thống,
những lời khuyên răn đủ loại hết sức khác nhau được xếp không theo một trật tự
nào. Tuy nhiên trình độ triết lý đạo đức của những châm ngôn thời Tân Vương quốc
cao hơn rõ rệt so với thời cổ đại (chẳng hạn, trong cả hai tác phẩm đều hiện diện
“vị thần” vô danh nói chung). Đồng thời, chúng cũng chứa rất nhiều những lời
khuyên mang tính thực dụng: nghề thư lại là nghề có lợi, có nhiều ưu đãi nhât,
người trẻ tuổi tốt nhất nên trở thành thư lại,...
Bên cạnh những thể loại truyền thống, lần đầu tiên trong lịch
sử văn học Ai Cập, ở thời Tân Vương quốc ta bắt gặp một thể loại mới– thơ tình
yêu. Khó có thể nghi ngờ rằng những bài thơ tình đã tồn tại rất lâu trước khi
chúng được chép lại. Bản thân sự kiện chép lại chúng trong thời Tân Vương quốc
được giải thích là do trình độ văn hóa của những người chép sách được nâng cao,
đồng thời số lượng người chép sách cũng trở nên đông đảo hơn. Trong số họ xuất
hiện ngày càng nhiều những người quan tâm đến sáng tác dân gian, trong đó có
các bài hát tình yêu. “Thơ tình yêu vẫn tìm được những người chỉnh lý, hoàn thiện
cho mình trong số những “bậc thức giả”… những người không kinh sợ cả những sản
phẩm của sáng tạo dân gian dưới hình thức trần tục nhất”, B.A.Turaev viết.
Trong số những tác phẩm thuộc loại này còn truyền lại đến nay có thể phân biệt
hai loại thơ: một loại được chỉnh lý chau truốt, có thể gọi là thơ “thính
phòng”; và loại thứ hai giản dị, gần gũi với phong cách sáng tác dân gian hơn.
Chẳng hạn thuộc loại “thính phòng” có những bài thơ trong đó
những cái cây trong vườn kể về tình yêu giữa hai nhân vật nữ và nam.
Cây lựu xanh quanh năm nhớ lại:
Dưới tán tôi, đôi tình nhân
Nhựa thơm thân mình phủ khắp
Uống cho say sưa rượu ngọt
Tìm nơi nghỉ giữa ngày nồng.
Nhựa thơm thân mình phủ khắp
Uống cho say sưa rượu ngọt
Tìm nơi nghỉ giữa ngày nồng.
Cây vả thì than thở:
Bản thân thì uống cho say
Chẳng sẻ cho tôi một giọt
Túi nước mát đựng bên mình
Không tưới thân tôi một chút.
Chẳng sẻ cho tôi một giọt
Túi nước mát đựng bên mình
Không tưới thân tôi một chút.
Cây dâu bé nhỏ lại tỏ ý cảm thông với đôi tình nhân:
Họ trú trong bóng của tôi
Đó là thói quen của họ
Những gì trông thấy dưới đó
Tôi chẳng ba hoa một lời
Đó là thói quen của họ
Những gì trông thấy dưới đó
Tôi chẳng ba hoa một lời
Những bài thơ khác nói trực tiếp hơn: chàng trai muốn biến
thành chiếc nhẫn đeo trên tay người yêu, mong dẫu chỉ trong một tháng được làm
người thợ giặt để “giặt sạch nhựa thơm trên váy của nàng”, nhiều chỗ mô tả các
cuộc hẹn hò của đôi tình nhân, họ đã vượt qua mọi vật cản để đến với nhau:
Em gái ở bờ bên kia
Đường tình duyên đầy cách trở
Con sông chảy giữa đôi ta
Cá sấu trên bờ sưởi nắng
Tôi vẫn lội đi trên sóng nước
Có sá chi dòng chảy cắt ngang
Con tim ngập tràn lòng quả cảm
Tôi bước trên sông tựa đất bằng
Tình yêu làm tôi thêm vững vàng
Tiếng hát nàng như lời niệm chú
Tôi thấy nàng đến gần
Đôi cánh tay rộng mở
Trái tim tôi háo hức rộn ràng
Như trước mắt là miền vui vĩnh cửu
Hãy đến bên anh, hỡi nữ hoàng
Hãy lại gần đây, đừng chậm bước! [7]
Đường tình duyên đầy cách trở
Con sông chảy giữa đôi ta
Cá sấu trên bờ sưởi nắng
Tôi vẫn lội đi trên sóng nước
Có sá chi dòng chảy cắt ngang
Con tim ngập tràn lòng quả cảm
Tôi bước trên sông tựa đất bằng
Tình yêu làm tôi thêm vững vàng
Tiếng hát nàng như lời niệm chú
Tôi thấy nàng đến gần
Đôi cánh tay rộng mở
Trái tim tôi háo hức rộn ràng
Như trước mắt là miền vui vĩnh cửu
Hãy đến bên anh, hỡi nữ hoàng
Hãy lại gần đây, đừng chậm bước! [7]
IV. VĂN HỌC THỜI KỲ DEMOTIC (THẾ KỶ VIII TRƯỚC CÔNG NGUYÊN -
THẾ KỶ III SAU CÔNG NGUYÊN)
Hậu quả của sự xuất hiện vương triều XX là loạn lạc, dẫn đến
việc chính quyền trung tâm Ai Cập về cơ bản bị chia thành hai vùng độc lập, hoặc
nhiều hơn hoặc ít hơn. Sau đó, sau thời kỳ các vương triều XXII và XXIII của
người Libi (khoảng năm 950 - 720 trước công nguyên) và thời kỳ trị vì của vua
Bokhoris - đại diện duy nhất của vương triều XXIV (khoảng năm 720 trước công
nguyên), Ai Cập trở thành chiến lợi phẩm của các pharaoh người Ethiophia (vương
triều XXV), pharaoh cuối cùng của vương triều này bị vua Assyria là
Ashshurbanapal đánh đổ. Cả thời đại này chỉ còn lưu giữ được những văn bia của
các vua và quan lại (về bản văn bia của pharaoh Piankhi chúng tôi đã nói đến ở
trước), còn những tác phẩm khác được sáng tạo vào thời kỳ đầy loạn lạc đó đã thất
truyền hết.
Quá trình phục hồi chính trị và văn hóa bắt đầu từ vương triều
XXVI, trong thời đại được gọi tên là thời đại Sais (khoảng giữa thế kỷ VII trước
công nguyên).
Vào thời gian này bắt đầu phổ biến loại chữ viết thảo được
dùng để viết những văn bản khác nhau trên giấy papyrus hoặc trên vỏ sò. Ngôn ngữ
demotic giai đoạn phát triển tiếp theo của ngôn ngữ Ai Cập thời Tân Vương quốc.
Bên cạnh đó, người ta sử dụng cả chữ viết tượng hình, cả ngôn ngữ thời Trung
Vương quốc từ lâu đã thành tử ngữ, chủ yếu nhằm các mục đích tôn giáo. Văn học
demotic tiếp tục phát triển trong vài thế kỷ - trong thời kỳ người Iran thống
trị (525 - 404 trước công nguyên), thời kỳ vương triều Lagid và thậm chí cả sau
khi Ai Cập bị sát nhập vào đế quốc La Mã năm 30 trước công nguyên.
Chúng tôi sẽ không dừng lại ở rất nhiều các văn bản tôn giáo
được viết bằng ngôn ngữ thời Trung Vương quốc và tiếp tục truyền thống văn học
tôn giáo Ai Cập thời Trung Vương quốc, mà chỉ quan tâm đến những tác phẩm văn học
đặc trưng của thời kỳ demotic.
Trong số các tác phẩm demotic chúng tôi bắt gặp một thể loại
cổ tích mới trước kia chưa có ở Ai Cập, về đặc điểm nó gần gũi với truyện ngụ
ngôn, bởi trong đó tất cả các nhân vật chính đều là động vật.
Sự thực, đó không phải là những truyện ngụ ngôn độc lập,
chúng được đưa vào trong một văn bản lớn có nội dung thần thoại kể về những cuộc
phiêu lưu đến Ethiopia của “con mắt mặt trời” - nữ thần con gái của Ra, núp dưới
hình một con mèo. Ra phái thần Tot đi theo trông nom con gái mình. Tot lúc hóa
thành đười ươi, lúc hóa thành chó núi, và để chiếm được lòng tin của nữ thần –
mèo bèn kể cho nàng những câu chuyện ngụ ngôn trong thế giới động vật. Trong số
đó có những truyện ngụ ngôn về mèo và diều hâu, về sư tử và chuột, v.v... Truyện
về sư tử và chuột giống kỳ lạ với một ngụ ngôn của Aesop: con chuột cứu sống
con sư tử hùng mạnh bị sa bẫy do con người đặt, bởi trước đó sư tử đã có lần
tha chết cho chuột. Mỗi truyện ngụ ngôn, như thường thấy, đều kết thúc bằng bài
giáo lý làm sáng tỏ bản chất câu chuyện.
Bản papyrus Laden chứa các truyện ngụ ngôn này có niên đại là
các thế kỷ I - II trước công nguyên. Lẽ dĩ nhiên xuất hiện câu hỏi: phải
chăng có ảnh hưởng của văn học Hy Lạp? Trả lời dứt khoát cho câu hỏi này là rất
khó. Nhưng dù sao vẫn cảm thấy khó có thể nghi ngờ rằng ngụ ngôn Ai Cập tồn tại
trước khi có papyrus Laden, bởi một số hình vẽ mang tính châm biếm mô tả các
con vật và thuộc về thời đại Ramessid có vẻ như là tranh minh họa cho các truyện
ngụ ngôn. Còn có các truyện ngụ ngôn ở trong các bản papyrus khác ngoài bản
Laden. Vì lý do này, cùng với một loạt những nguyên nhân khác, có lẽ đáng tin cậy
hơn cả là giả thuyết cho rằng ngụ ngôn từ Ai Cập thâm nhập vào Hy Lạp, hoặc ngụ
ngôn của cả Ai Cập lẫn Hy Lạp cùng có chung một nguồn gốc.
Những tác phẩm châm ngôn truyền thống cũng phát triển trong
văn học thời kỳ demotic. Châm ngôn được chép trong bản papyrus được lưu giữ tại
Bảo tàng Britania là của một người nào đó tên Ankhsheshonk không khác gì với
các châm ngôn cổ đại. Những châm ngôn lưu giữ trong Bảo tàng Louvre cũng vậy.
Châm ngôn Insinger chép trong papyrus Laden có độc đáo hơn một chút. Văn học
nghệ thuật thời kỳ demotic nói chung chủ yếu hướng về quá khứ. Điều này hoàn
toàn dễ hiểu và không phải là tình cờ. Dưới ách đô hộ của người Iran, người Hy
Lạp và người La Mã, người Ai Cập muốn phục sinh trong ký ức những thời kỳ mà đất
nước của họ còn độc lập và hùng cường, khi Ai Cập nằm dưới sự cai quản của các
pharaoh Ai Cập chứ không phải những kẻ ngoại lai.
Trong mối quan hệ đó cần phải nhắc đến tác phẩm có tên
“ Ký lục demotic” (văn bản bị mất cả phần đầu lẫn phần cuối) thuộc thế kỷ
III trước công nguyên. Nội dung của tác phẩm là những câu cách của một nhà tiên
tri. Mỗi câu đều có kèm theo một lời giải thích. Những câu cách ngôn tối nghĩa
đến nỗi nhà cổ sử học và Ai Cập học nổi tiếng E.Meier đã nói rằng “chúng khó hiểu
như những câu niệm chú của phù thủy”. Về sau một nhà Ai Cập học khác là
V.Vesestsky đã xác định rằng những câu cách ngôn của nhà tiên tri đó không phải
là gì khác ngoài những ngày tháng trên lịch liên quan đến các trận lụt sông
Nile và được bao phủ bằng lớp vỏ thần thoại. Một cách giải thích khác: chúng
liên quan đến lịch sử các vương triều XXVIII - XXX của người Iran và vương triều
Lagid. Những cứ liệu của “Ký lục” là chính xác khi kiểm chứng với những nguồn
tư liệu khác. Trong mọi trường hợp thì tác phẩm này rõ ràng đã chứng minh mối
quan tâm ngày càng cao đối với quá khứ và những cố gắng bằng cách nào đó hệ thống
hóa những thông tin về quá khứ. “Ký lục” còn thú vị ở chỗ nó là bằng chứng cho
những tâm trạng của giới tư tế thời bấy giờ (bởi chắc chắn nó được một người tư
tế viết). Tác giả tiên đoán: “Sau lũ ngoại bang, sẽ có người xứ Heracleopol cai
trị (đất nước)”, đó là sự thể hiện những hy vọng ái quốc dưới hình thức tiên
tri.
Một loạt các truyện liên quan đến tên Petubast, vị vua trong
thời kỳ bị người Assyria xâm lược. Ông này có cung điện nằm ở Tanis và cai trị
một trong các vùng của Ai Cập.
“Những truyền thuyết về Petubast” nhiều chỗ mang tính lịch sử:
chúng nhắc đến các nhà cầm quyền Ai Cập khác từng được biết đến trong biên niên
sử của vua Assyria Ashshurbanapal và trong các văn bia của các pharaoh người
Ethiopia thuộc vương triều XXV. Nhưng nhìn chung đó không phải là tác phẩm lịch
sử, mà là những huyền thoại được lịch sử hóa với nhiều tình tiết có thực.
Một trong những truyện trên kể về cuộc đấu tranh đòi binh
giáp của Inar, trong đó nói đến, ngoài vị vua đầy bí ẩn Petubast, còn có nhiều
nhà cầm quyền độc lập khác, trong số đó hùng mạnh nhất và dũng cảm nhất là Inar
ở Heliopol. Sau khi ông này chết, diễn ra cuộc tranh giành binh giáp của Inar
giữa các vua khác, bởi vì binh giáp đó như một thứ bùa hộ mệnh, là nguồn cung cấp
sức mạnh và lòng dũng cảm. Dòng tự sự kéo dài, xen đầy những tình tiết phụ, buồn
tẻ và đơn điệu, tuy nhiên lại phản ánh rất rõ nội tình chính trị của Ai Cập thời
bấy giờ.
Trong nhóm “Những truyền thuyết về Petubast” có một truyện về
những người amazones[8]. Đoạn đầu của truyện bị mất, nhưng nội dung có thể tái
hiện được. Quân đội Ai Cập bước vào cuộc viễn chinh đến châu Á dưới sự chỉ huy
của Inar được nhắc đến ở trên, với sự hộ tống của người họ hàng Inar là
Petukhon. Hẳn là đoạn mở đầu bị thất truyền kể về cái chết anh dũng của Inar
trên chiến trường, sau đó Petukhon trở thành người chỉ huy quân đội. Chàng gặp
nữ hoàng của người amazones là Serpet. Petukhon và Serpet quyết đấu, trận chiến
kéo dài suốt một ngày. Cuối cùng Serpet và chàng trai Ai Cập đem lòng yêu nhau.
Với nhóm truyện về Petubast, giống như với các truyện ngụ
ngôn cũng nảy sinh vấn đề về khả năng ảnh hưởng của Hy Lạp đối với văn học Ai Cập
thời kỳ này. Nhà Ai Cập học nổi tiếng A.Volten cho rằng trong những truyền thuyết
về Petubast thấy rõ những yếu tố phi Ai Cập. Ông giả thuyết rằng người Ai Cập
đã biết đến nội dung của “Iliad”, tuy nhiên cũng nhấn mạnh rằng tính chất Ai Cập
của những truyền thuyết về Petubast không nên xem như biểu hiện của ảnh hưởng
nước ngoài, bởi sử thi ở Ai Cập đã có từ lâu trước khi những truyền thuyết này
được sáng tác. Viện sĩ V.V,Struve cũng nghi ngờ khả năng ảnh hưởng của Hy Lạp đối
với nhóm truyện về Petubast.
Thuộc một thể loại khác là nhóm truyện về Haemuas, hay những
truyện về các quan tư tế ở Memphis. Haemuas là một nhân vật lịch sử, con trai
trưởng của Ramses II.
Trong các truyện trên, Haemuas hiện diện như một quan tư tế của
Memphis được tôn vinh nhờ học thức uyên thâm.
Những hồi ức về quan tư tế Memphis được lưu giữ trong văn học
dân gian cho đến thời Hy Lạp - La Mã, khi những truyền thuyết về Haemuas được
chép lại và trở thành tác phẩm của văn học demotic.
Truyện thứ nhất có niên đại đầu vương triều Lagid (cuối thế kỷ
IV trước công nguyên). Trong truyện mô tả những chuyến phiêu lưu của Haemuas để
tìm kiếm cuốn sách thần pháp của Tot. Haemuas tìm thấy cuốn sách trong ngôi mộ
của hoàng tử cổ đại Neferkaptah và mang cuốn sách đi, cho dù linh hồn vợ của
hoàng tử cảnh cáo chàng, rằng chồng nàng cùng gia đình vì cuốn sách được lấy
lên từ đáy biển đó mà phải chết, rằng cái chết như vậy cũng sẽ xảy đến với Haemuas.
Nhưng Haemuas không nghe lời cảnh báo. Liền sau đó chàng gặp người đẹp Tabubu,
tư tế của nữ thần Bast, đem lòng yêu nàng và trao tất cả của cải của mình cho
nàng. Tabubu đòi chàng phải giết các con của chàng, bởi chúng có thể cướp lại của
cải từ tay nàng. Bị dục vọng chế ngự, chàng đồng ý… và đột nhiên bừng tỉnh - tất
cả hóa ra chỉ là một ác mộng. Khi chàng quay về nhà ở Memphis, pharaoh khuyên
chàng đem trả cuốn sách về lại mộ của Neferkaptah, và chàng đã vâng lời. Khi đó
linh hồn của Neferkaptah cầu xin Haemuas tìm lại mộ của vợ và con ông ở Koptos
và chôn xác ướp của họ bên cạnh ông trong nghĩa trang Memphis. Haemuas đã thực
hiện lời yêu cầu của người chết.
Truyện thứ hai liên quan đến thời kỳ muộn hơn, vào đầu thời
cai trị của người La Mã. Haemuas nhờ những lời cầu nguyện của vợ mà sinh được một
cậu con trai - Sa-Osiris. Haemuas đã được báo trước về sự ra đời của đứa bé: một
giọng ma quỷ đã báo cho chàng rằng vợ chàng sẽ sinh con trai, đứa bé sẽ làm nhiều
điều kỳ diệu. Từ thuở nhỏ cậu bé đã có những khả năng lạ lùng. Khi Sa-Osiris được
gửi vào trường học, cậu lập tức biết nhiều hơn cả người thư lại -thầy giáo, còn
sau đó trong Ngôi Nhà Sự Sống trong đền thờ thần Ptah của thành Memphis, cậu đã
thi kiến thức với các nhà thông thái của pharaoh (đoạn này trong truyện gợi nhớ
đến câu chuyện trong Phúc Âm Luca để về Jesus lúc mười hai tuổi bị lạc ở
Jerusalem và ba ngày sau người ta tìm thấy cậu ngồi trong ngôi đền giữa các ông
thầy, nghe họ nói và hỏi han họ, đồng tất cả đều ngạc nhiên về trí thông minh
và những câu trả lời của cậu (2,40-47); câu chuyện này được kể chi tiết hơn
trong bản Phúc Âm ngụy tác của Phoma). Và cậu bé Sa-Osiris nắm lấy tay người
cha-phù thủy của mình đưa chàng sang thế giới bên kia, nơi người chết bị phán xử
mà những tội đồ bị trừng phạt. Bên cạnh chính thần Osiris Haemuas nhìn thấy một
người bị có vẻ lương thiện mặc y phục bằng một thứ vải mỏng dính - đó là một
người cùng khổ, đám ma nghèo nàn của anh ta Haemuas đã trông thấy lúc trên trần
gian. Còn người đang chịu khổ hình là một anh nhà giàu, đám ma linh đình của
anh ta Haemuas cũng đã nhìn thấy. Sa-Osiris giải thích cho cha rằng ở đây,
trong vương quốc của cái chết, những người chết nhận những đền bù do những công
trạng họ làm được trên mặt đất. Như vậy, truyện này đã phát triển tư tưởng cơ bản
của chương 125 cuốn “Tử thư”. Đồng thời, truyện cũng gần gũi với tình tiết về
chàng Lazares nghèo khổ được kể một cách súc tích trong sách Phúc Âm của Luca
(16, 19-26). Có thể truyền thuyết trong Phúc Âm có nguồn gốc xa nhất là câu
chuyện cổ thời demotic. Dù thế nào đi chăng nữa thì sức hút và ý nghĩa to lớn của
truyện về Sa-Osiris đối với lịch sử Thiên Chúa giáo là rõ rệt.
Hoàn toàn thuộc thể loại khác là văn bản của bản papyrus
Rylands IX thời demotic. Bản papyrus này rất lớn, có chiều dài 45 mét được viết
trên cả hai mặt, trong đó kể lại chuyện gia đình một viên quan tư tế ở thành phố
Tayudji. Câu chuyện chứa đầy những chi tiết đời sống chân thực, tương tự như
truyện về Sinuhe hay truyện về Un-Amon, và không hề mang bất kỳ yếu tố huyền
thoại hay siêu nhiên nào. Truyện mở đầu bằng đơn thỉnh cầu gửi cho thượng quan
do một viên tư tế giữ đền đứng tuổi viết vào năm trị vì thứ 9 của vua Daria đề
nghị phục hồi cho ông ta quyền hưởng tài sản và tước hiệu mà những người tư tế
khác của chính ngôi đền đó đã tước mất. Hóa ra vụ kiện tụng đó chỉ là mắt xích
đầu tiên trong chuỗi những đau khổ liên tục rơi xuống đầu kẻ thỉnh cầu: ông đã
kịp bị bắt vào tù do những quỷ kế của kẻ thù; khi ông được thả ra thì kẻ thù lại
đốt nhà định mưu sát ông. Tiếp theo truyện kể rằng mối thù hằn giữa gia đình
viên tư tế (có tên là Peteise) đó với những người tư tế khác là một mối thù hằn
có từ lâu đời: nó bắt đầu từ thời của vua Psammetikh I, khi Peteise - chúng ta
gọi là Peteise I - định cư tại thành phố và trở thành tư tế của thần Amon. Chức
vụ của Peteise I được truyền lại cho Essemtau, rồi sau đó cho Peteise II, cháu
của Peteise I. Trong thời trị vì của Psammetikh II, Peteise II hộ tống nhà vua
trong chuyến đi đến Syria. Trong khi ông vắng nhà, bọn tư tế đã tước mất chức vụ
của ông, và ông cũng phải đấu tranh để giành lại quyền của mình, v.v..
Chắc chắn rằng trong câu chuyện được kể có những sự kiện có
thực. Theo lời của Peteise III, chính ông đã viết câu chuyện về cuộc đời riêng
của mình này, và nó có lẽ là tác phẩm tự sự xưa nhất kể về số phận của một gia
đình qua nhiều thế hệ.
Việc ở Ai Cập cổ đại đã có những cuộc trình diễn sân khấu là
điều không ai nghi ngờ, nhưng nguồn tư liệu nghèo nàn đã hạn chế hiểu biết của
chúng ta về chúng. Sự xuất hiện sân khấu Ai Cập tương tự như sự xuất hiện sân
khấu cổ đại Hy Lạp: khởi đầu của chúng gắn liền với tôn giáo và việc thờ cúng.
Những vở kịch trong đó nhân vật chính là các thần linh (do các quan tư tế đóng)
đã được trình diễn từ thời Cổ Vương quốc. Chỉ dẫn trực tiếp cho điều này là tác
phẩm thần học nổi tiếng trong khoa học với tên gọi “Di thư thần học Memphis” và
được truyền lại từ đầu thế kỷ VII trước công nguyên. Văn bản này là bản sao của
bản gốc từ thời Cổ Vương quốc và đưa ra thuyết về nguồn gốc vũ trụ, theo đó thế
giới được tạo nên nhờ sức mạnh lời nói thần linh (học thuyết thần ngôn cổ nhất
trên thế giới, mà sự phát triển của nó có thể tìm thấy ở Philon vùng
Alexandria, sau đó trong Phúc Âm của thánh Joan, 1, 1-4). Tác phẩm bao gồm những
đối thoại giữa các thần linh, có thể được xem như những đoạn của một loại kịch
bản tôn giáo. Có không ít hơn mười bốn đoạn kiểu như thế được lưu giữ lại từ thời
Trung Vương quốc lẫn thời kỳ muộn hơn. Ngoài ra, chúng tôi còn có được tác phẩm
văn bia tự truyện của viên quan đại thần Ikhernofret (người cùng thời với
pharaoh Senusert III thuộc vương triều XII, thế kỷ XIX trước công nguyên),
trong đó chứa bằng chứng rất có giá trị về những vở kịch tôn giáo về Osiris được
diễn ở đền thờ Abidos, nơi Ikhernofret được vua cử đến để thanh sát ngôi đền và
việc dàn dựng những vở kịch đó.
Trong hàng loạt những văn bản thời bấy giờ còn giữ được những
bằng chứng về sự phổ biến rộng rãi của những buổi trình diễn đó. Đáng chú ý là
Herodot (II, 48-49) đã so sánh những kịch tôn giáo về thần Dionysos của Hy Lạp
với những lễ hội tôn giáo của Ai Cập, ông tìm thấy giữa chúng có nhiều cái
chung và đi đến kết luận rằng người Hy Lạp đã bắt chước những lễ hội và tập
quán đó của người Ai Cập.
Phải chăng sân khấu tôn giáo ở Ai Cập chỉ là một phần của việc
thờ cúng chính thống? Những nghiên cứu kỹ lưỡng đã cho thấy không phải là như vậy,
và thậm chí cả những kịch bản mang nội dung thần thoại cũng không hiếm khi có
tính châm biếm hài hước (ví dụ trong chương 39 của “Tử thư”, nơi nhân vật chính
là một “con quỷ” Ai Cập - Apopi). Ngoài ra, trong bản papyrus có nội dung thần
thoại thuộc thế kỷ IV trước công nguyên có một đoạn trích từ kịch bản sân khấu,
trong đó nhân vật chính thần Seth - là hiện thân cho bọn xâm lược Iran, còn
thất bại của Seth tượng trưng cho việc đánh đuổi quân Iran (so sánh với “Truyện
về Horus và Seth”).
Trong khoảng thời gian nhiều chục thế kỷ phát triển, văn học
cổ đại Ai Cập đã đạt tới một trình độ cao, phong phú về thể loại, hoàn toàn độc
đáo và đặc thù. Lịch sử văn học Ai Cập đã phần nào đẩy lùi được ý kiến phổ biến
cho rằng dường như những tư tưởng nhân văn lần đầu tiên tìm thấy sự phản ánh chỉ
ở trong văn học cổ đại Hy Lạp, và sau đó, trong thời Phục Hưng, chúng được tái
sinh ở Italia và các nước châu Âu khác. Văn học Ai Cập đã là bằng chứng xác
đáng cho sự thiếu khách quan và phiến diện của quan niệm này. Bắt đầu từ thời đại
Cổ Vương quốc với những văn bia tự truyện của các quan lại và “Châm ngôn
Ptahhotep”, chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm văn học Ai Cập những
khuynh hướng nhân văn được thể hiện rõ ràng và sâu sắc: mối quan tâm đến con
người, đến hành xử của con người, đến tâm lý con người; sự quan sát tinh tế,
tình yêu với thiên nhiên và cảm nhận thiên nhiên một cách nghệ thuật; ước muốn
vươn tới công lý và cái thiện; thái độ tôn kính lòng dũng cảm; tình yêu đối với
cuộc sống và biết đánh những niềm vui của cuộc sống.
Văn học Ai Cập đồng thời còn là một trong những nền văn học đầu
tiên trên thế giới đạt tới trình độ thẩm mỹ cao và cho ra đời không ít những kiệt
tác. Liên quan đến điều này nảy sinh vấn đề: văn học Ai Cập có ảnh hưởng đến
các nền văn học cổ đại ra đời muộn hơn hay không, và nếu có thì ảnh hưởng trong
chừng mực nào? Vấn đề này là một phần của một vấn đề khái quát hơn về ảnh hưởng
của nền văn minh cổ đại Ai Cập nói chung đối với sự phát triển về sau của nhân
loại, một vấn đề rất quan trọng và phức tạp. Hiện nay, đối với bất kỳ một học
giả khách quan nào, ảnh hưởng của Phương Đông cổ đại đối với văn hóa thế giới
là không có gì phải tranh luận. Ai Cập nói chung và văn học của nó nói riêng có
ảnh hưởng rõ ràng đối với Kinh Thánh. Chúng tôi chỉ dừng lại ở đây trong chốc
lát. Một số chỗ trong “Ngụ ngôn của Solomon” trong Cựu ước, theo một số nghiên
cứu văn bản học, là sự kể lại nguyên bản Ai Cập, mà chính là từ “Châm ngôn Amenemope”,
tác phẩm văn giáo huấn nổi tiếng được viết vào thời kỳ các vương triều từ XXII
đến XXVI (thế kỷ X-VII trước công nguyên). Các bài thánh thi 104 và 110 và một
số chỗ khác trong Kinh Thánh cũng chứa đựng dấu vết ảnh hưởng Ai Cập không thể
phủ nhận. Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng câu chuyện nổi tiếng trong Kinh Thánh về
Joseph và Pot cũng chịu ảnh hưởng của “Truyện về hai anh em” của Ai Cập.
Chắc chắn rằng ảnh hưởng của văn học Ai Cập đối với văn học cổ
đại Hy Lạp là rất đặc biệt. Nhưng chúng ta còn lâu mới có thể theo dõi được hết
những con đường cụ thể của ảnh hưởng đó. Bởi vậy đối với chúng ta đặc biệt đáng
giá là những cứ liệu chắc chắn nói rằng văn hóa Ai Cập, văn học Ai Cập đã có
tác động đáng kể đối với những người Hy Lạp sống ở Ai Cập trước, và còn ở mức độ
nhiều hơn sau thời Alexander Macedonia, rằng ba thế kỷ thống trị của người Hy Lạp
không thể trôi qua, và đã không trôi qua mà không để lại dấu ấn gì đối với văn
hóa Hy Lạp. Trong thời Hy Lạp hóa (Hellenism) ở Ai Cập xuất hiện thứ văn học
bao gồm những bản dịch hay những phỏng thuật sang tiếng Hy Lạp các tác phẩm của
văn học Ai Cập. Nền văn học Hy Lạp-Ai Cập đó chắc chắn là rất phong phú. Còn
truyền lại những đoạn của ba bản tác phẩm bằng tiếng Hy Lạp có tên “Lời sấm của
người thợ gốm”, mà nguyên gốc của nó là một tác phẩm Ai Cập. Trong bản papyrus
số 274 của Bảo tàng Britania có chứa dị bản thần thoại về nữ thần Tethnut.
Trong bản papyrus Oksirin số 1381 được viết bằng tiếng Hy Lạp có bản phóng tác
truyền thuyết về pharaoh Nektanebe của Ai Cập.
Văn học Hy Lạp - Ai Cập có tác động đối với văn học cổ đại Hy
Lạp - La Mã. Các nghiên cứu mới nhất đã cho thấy, rằng nhờ văn học Hy Lạp-Ai Cập
mà các tác giả Hy Lạp cổ đại, chẳng hạn như Plutarch, Seneca-con và những người
khác, dù không biết tiếng Ai Cập vẫn làm quen được và chịu ảnh hưởng ở một chừng
mực nào đó với văn học Ai Cập. Bài ca ngợi viên tướng La Mã Stilicon do nhà thơ
La Mã thế kỷ IV Claudien sáng tác mang những dấu ấn hết sức rõ rệt của những
quan niệm tôn giáo và thần thoại Ai Cập. Cần phải nói đến mối quan hệ đã được
các nhà nghiên cứu phát hiện giữa thơ tình yêu của Ai Cập với thơ tình yêu của
Hy Lạp - La Mã cổ đại. Loại bài hát tình yêu bên những cánh cửa đóng kín của
người yêu, trong đó không hiếm khi cánh cửa được giải thích như một thực thể sống
(Plautus, Catullus, Propertius) thường quen được xem là thể loại xuất phát từ
La Mã cổ đại. Tuy nhiên chúng ta có thể tìm thấy những mô típ hệt như vậy với
cách lý giải cũng hệt như vậy trong thơ tình yêu của Ai Cập rất lâu trước khi
các nhà thơ cổ đại Hy- La xuất hiện. Những dẫn chứng nêu trên được chọn hú họa
trong số rất nhiều những trường hợp tương tự, chúng chỉ là minh họa nhỏ cho sự ảnh
hưởng lớn không thể hồ nghi của văn học cổ đại Ai Cập đối với văn học cổ đại
Hy-La.
Giờ đây không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn học Ai Cập đối với
văn học cổ đại Hy-La, chỉ có thể tranh luận về quy mô và vai trò của ảnh hưởng
đó. Hạ thấp tài năng của người Hy Lạp và tính độc đáo của văn học cổ đại Hy-La
là phi lý và ngu xuẩn. Nhưng đồng thời những cố gắng đặt bức tường ngăn cách giữa
văn học Ai Cập với văn học cổ đại Hy-La, phủ nhận những mối liên hệ rõ rệt giữa
chúng và lờ đi tính kế thừa lịch sử giữa của các nền văn minh cũng không thể chấp
nhận được.
Văn học Ai Cập không chỉ có ảnh hưởng đối với văn học cổ đại
Hy-La hay đối với văn học cổ đại Do Thái, mà còn qua trung gian văn học Coptic ảnh
hưởng đến văn học Arập. Nói cách khác, văn học thế giới phải mang ơn nhiều đối
với một trong những nền văn học cổ nhất - văn học Ai Cập.
Chú thích:
[1] Trong các bản gốc của Ai Cập nhan đề thường không có.
[2] Văn tự demotic (từ tiếng Hy Lạp: demotikos - bình dân) - một hình thức viết thảo của người Ai Cập cổ đại với các nét dính liền các chữ (ND).
[3] Lời thơ của A.S.Pushkin, trong bài “Đài kỷ niệm” (ND).
[4] Cũng như không có lý do cho việc phổ biến rộng rãi trong khoa học thái độ nghi ngờ về quyền tác giả của hai nhà thông thái nổi tiếng khác - Imhotep và Djedefhor. Tất nhiên chứng minh đích thực họ là tác giả là không thể. Nhưng kiên quyết phủ nhận quyền tác giả đó cũng không đúng. Hoàn toàn rất có thể rằng những người chép sách - các quan đại thần thời đại Cổ Vương quốc - là những người đã tạo nên những cuốn sách có lẽ là đầu tiên trong lịch sử văn học Ai Cập, phản ánh những lý tưởng của thời đại họ.
[5] Ý nghĩa của từ “teftef” trong tiếng Ai Cập cổ chưa được rõ. Trong bản dịch tiếng Anh (Charles F. Horne, The Sacred Books and Early Literature of the East (New York: Parke, Austin, & Lipscomb, 1917), Vol. II: Egypt, pp. 62-78): “Im lặng còn hơn nói lảm nhảm” (ND)
[6] Các tên khác để gọi Akhnaton: Amenhotep IV (Amenophis IV, Amenhetep IV), Ikhnaton, Akenaton, Akhenaten. (ND)
[7] Một bản dịch khác của Nhật Chiêu:
Tình yêu đưa tôi đến bên bờ nước
Con cá sấu nằm trong bóng lá
Tôi vẫn lao xuống dòng
Can trường vượt sóng
Nước dưới chân tôi như là mặt đất
Tình yêu hóa tôi phi thường
Nàng như cuốn sách thần chú
Cho tim tôi đầy hân hoan…
[8] Trong thần thoại Hy Lạp, amazones là một bộ tộc nữ chiến binh sống ở vùng Tiểu Á hoặc trên vùng núi Kavkaz. Họ quan hệ gần gũi với những người đàn ông chỉ để duy trì nòi giống (nếu sinh bé trai thì gửi cho bố nuôi, sinh bé gái thì giữ lại) (ND).
[2] Văn tự demotic (từ tiếng Hy Lạp: demotikos - bình dân) - một hình thức viết thảo của người Ai Cập cổ đại với các nét dính liền các chữ (ND).
[3] Lời thơ của A.S.Pushkin, trong bài “Đài kỷ niệm” (ND).
[4] Cũng như không có lý do cho việc phổ biến rộng rãi trong khoa học thái độ nghi ngờ về quyền tác giả của hai nhà thông thái nổi tiếng khác - Imhotep và Djedefhor. Tất nhiên chứng minh đích thực họ là tác giả là không thể. Nhưng kiên quyết phủ nhận quyền tác giả đó cũng không đúng. Hoàn toàn rất có thể rằng những người chép sách - các quan đại thần thời đại Cổ Vương quốc - là những người đã tạo nên những cuốn sách có lẽ là đầu tiên trong lịch sử văn học Ai Cập, phản ánh những lý tưởng của thời đại họ.
[5] Ý nghĩa của từ “teftef” trong tiếng Ai Cập cổ chưa được rõ. Trong bản dịch tiếng Anh (Charles F. Horne, The Sacred Books and Early Literature of the East (New York: Parke, Austin, & Lipscomb, 1917), Vol. II: Egypt, pp. 62-78): “Im lặng còn hơn nói lảm nhảm” (ND)
[6] Các tên khác để gọi Akhnaton: Amenhotep IV (Amenophis IV, Amenhetep IV), Ikhnaton, Akenaton, Akhenaten. (ND)
[7] Một bản dịch khác của Nhật Chiêu:
Tình yêu đưa tôi đến bên bờ nước
Con cá sấu nằm trong bóng lá
Tôi vẫn lao xuống dòng
Can trường vượt sóng
Nước dưới chân tôi như là mặt đất
Tình yêu hóa tôi phi thường
Nàng như cuốn sách thần chú
Cho tim tôi đầy hân hoan…
[8] Trong thần thoại Hy Lạp, amazones là một bộ tộc nữ chiến binh sống ở vùng Tiểu Á hoặc trên vùng núi Kavkaz. Họ quan hệ gần gũi với những người đàn ông chỉ để duy trì nòi giống (nếu sinh bé trai thì gửi cho bố nuôi, sinh bé gái thì giữ lại) (ND).




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét