Tâm trạng Hồng 3
Kịch ngắn bằng thơ vui
viết theo một tích chèo cổ
Cảnh nhà một gia đình bần nông. Sân khấu bài trí cổ sơ. Khi đổi
động tác không buông màn.
NHÂN VẬT
NGƯỜI MẸ CHỒNG :60 tuổi
NGƯỜI CHỒNG : 29 tuổi
NGƯỜI VỢ : 28 tuổi
MẸ CHỒNG (xỉ vào nàng dâu)
Nầy con kia !
Mầy làm rả cái nia,
Mắng, mầy lại xon xỏn,
Sao không sợ người chê ?
Mầy còn dữ thì về !
NÀNG DÂU (mặt quặm, giọng sân si)
Ai chê thì cứ việc chê,
Bà ác tôi cự, chớ hề thèm ra.
Thương chồng phải lụy mụ gia.
Gẫm tôi với mụ có bà con chi.
MẸ CHỒNG (trợn trừng lên, rút chổi toan đánh dâu)
Tao cho mầy biết tay,
Nhớ mãi ngày hôm nay,
Chổi chà trị dâu dữ.
Nầy, mở mắt xem nầy...
NÀNG DÂU (rút song hồng để tự vệ)
Chồng dữ thì ta mới lo.
Mẹ chồng mà dữ, mổ bò ăn khao.
Giỏi đánh thì đánh xem nào.
Chổi chà bổ xuống thì sào quất lên.
CHỒNG (dợ hãi, nhảy ra đứng giữa hai người)
Con lạy mẹ,
Tôi xin mợ,
Vừa vừa thôi.
Xóm giềng quở.
MẸ CHỒNG (quăng chổi)
Đời quỉ, đời yêu, đời tinh, đời ma,
Mình mới nói một, dâu trả lại ba.
NÀNG DÂU (cất song hồng)
Người gì hủ lậu, ỷ thế mụ gia.
Hễ mở miêng thì mắng chưởi người ta.
CHỒNG
Trời ơi, trời hởi !
Xui chi nên nỗi !
Mẹ, vợ, găng nhau.
Đứng giữa biết sao
Trên hòa dưới thuận !
(cả ba đều vô buồng)
(người chồng lại trở ra một mình)
CHỒNG
May cha chả là may,
Mình nghĩ ra một kế,
Suy kỹ lại rất hay.
Thiết kế quỉ hôm nay,
Cho gia đinh êm ấm !
(ngồi xuống lấy ra một con dao rồi tay mài miệng hát)
CHỒNG (hát)
Tay cầm con dao,
Làm sao cho sắc,
Để mà dễ cắt,
Đề mà dễ chặt,
Mẹ, vợ, hục hặc,
Thiệt ngặt quá chừng.
(nàng dâu ra, thấy chồng mài dao, nhìn giây lát rồi hỏi)
NÀNG DÂU
Sao anh chẳng mài dao dâu,
Đặng cho bén, hầu hái lá.
Sao anh không mài dao cá,
Đăng em cạo vảy rô don.
Anh mài chi chiếc dao con,
Cho tốn công lại hao sức ?
(chồng vẫn làm thinh tiếp tục mài)
NÀNG DÂU (hỏi tiếp)
Hay là anh đâm sợ cực,
Cho nên quyết định đổi nghề ?
Anh không ngại họ cười chê.
Muốn thiến heo thiến chó ?
(chồng cứ làm thinh mài không nghỉ tay)
NÀNG DÂU
Hứ, cái anh nầy.
Hóa câm rồi đây.
Thôi thì mặc kệ,
Ai thèm hỏi nhây.
(nàng vô buồng. Giây lát trở ra. Nàng ngạc nhiên trố mắt nhìn chồng đang cầm
con dao mà đâm vào khoảng không như đâm một kẻ vô hình nào)
NÀNG DÂU (hơi sợ hãi)
Anh nầy hóa điên
Tay đâm liền liền
Mà không địch thủ.
Tại sao làm dữ,
Nói thật em nghe ?
CHỒNG
Lại đây em cưng,
Tò mò quá chừng !
Nói riêng em biết,
Bép xép xin đừng.
Em ôi, dao nầy là dao bất nhân,
Anh dùng đâm mẹ nát thân cho rồi.
NÀNG DÂU (kêu rú lên một tiếng Trời ! rồi hả miệng nhìn chồng)
CHỒNG (mặt buồn dàu dàu)
Em ôi, công chín tháng nặng mang đau khổ,
Hai mươi mấy năm ròng dạy dỗ con yêu.
Tình mẫu thân, anh đây thương biết bao nhiêu.
Mà, nay anh anh phải đánh liều một chuyến.
Ấy cũng bởi mẹ anh hay đay, hay nghiến,
Bà mãi ác tâm cứ sanh chnyện hằng ngày
Mắng chưởi luôn và hành hạ vợ anh hoài,
Chịu sao thấu, anh phải ra tay mới được.
NÀNG DÂU (khóc ngất)
Tai nghe, tay bỗng rụng rời,
Đang tay giết mẹ trời ơi ! sao đành !
Anh ôi, em van lạy anh !
Bất hiếu tội ấy xấu danh muôn đơi.
Nào khi từ mẫu ù... ưa...
Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương.
Nào khi anh ốm trên giường,
Chạy thầy thang thuốc trăm phương bao nài.
Ấm no thuở bé nhờ ai,
Bây giờ lại nỡ xuống tay giết người ?
CHỒNG
Một mình đứng giữa trung ương,
Bên tình bên hiếu biết thương bên nào.
Anh thương em lắm làm sao ?
NÀNG DÂU
Cũng bởi em ngỗ nghịch,
Cho nên mẹ gắt gao.
Xin anh bớt giận nào,
Từ đây em nhỏ nhẹ.
Xin anh thương lấy mẹ.
Em thề nguyền tu thân.
Mẹ có ác bao phần,
Cũng phải êm dịu lại.
CHỒNG
Lòi vàng vợ quý vừa phân
Nghe qua nghĩ lại mười phần vui sao !
Thôi thôi, anh cất con dao,
Án mẹ treo đó về sau thi hành.
(vợ vô buồng. Chồng lại ngồi xuống vừa mài dao vừa hát)
CHỒNG (hát)
Tay cầm con dao,
Làm sao cho bén,
Để mà dễ chém,
Để mà dễ đâm.
(người mẹ ra, nhìn con giây lát rồi hỏi)
MẸ CHỒNG (hỏi)
Mi mài làm chi,
Con dao nhỏ ni ?
CHỒNG
Làm trai dạy vợ chẳng xong,
Giết chết con ấy mổ lòng mà ăn.
Ăn rồi cái xác đem quăng,
Diều tha quạ mổ ruồi lằng nó bu.
MẸ CHỒNG (run lập cập)
Mầy có hóa điên chăng ?
Mà đâm ra nói xằng,
Vợ mầy có làm nhăng,
Thì bền lòng dạy nó.
Nó làm lụng như chó,
Chớ sung sướng gì đâu ?
Nên nó mới càu nhàu,
Trả treo lời mẹ mắng.
CHỒNG
Vợ con nó cứng đầu.
Dạy đã biết bao lâu,
Mà nó cứ mắng mẹ,
Con nghĩ thật phát rầu.
MẸ CHỒNG
Tao cũng quá gắt gao,
Xử tệ với con dâu.
Thiệt tao rất ân hận,
Tao nhứt qnyết ngọt ngào.
(nghỉ giây lát lại nói)
Vợ mầy con quí người ta,
Cưng như trứng mỏng, gả qua nhà mình
Dầu cho không nghĩa không tình,
Nỡ nào đem thí sanh linh của người.
Với tao, chiếu trải trầu mời,
Với mầy, áo rách nó thời vá ngay.
Phụng thờ chồng, mẹ ai tày,
Suy đi nghĩ lại biết ai hơn giờ ?
CHỒNG
Thôi thôi dao nọ cất hờ,
Vợ con còn dữ, con quơ chém liền.
MẸ CHỒNG
Tao tin là nó sẽ hiền,
Tao ngọt, tao dịu, nó kiên chớ gì.
NÀNG DÂU (ra bưng mâm cơm cung kính mời)
Thưa mẹ,
Giờ đã trưa quá,
Mời má ăn cơm,
Hôm nay có cá.
MẸ CHỒNG
Nhìn mâm xúc cảm lòng già,
Thương dâu khó nhọc lụy sa khôn cầm.
CHỒNG
Tình thân ủ kín âm thầm,
Hôm nay bừng dậy đúng nhằm ngày vui.
Ngày nầy năm ngoái kết đôi,
Năm nay hoà thuận mừng thôi là mừng !
Giết chó khuyên chồng
Kịch ngắn bằng thơ vui
viết theo một tích chèo cổ
Cảnh nhà bác Ba Gàn, một nhà giàu quê. Sân khấu bài trí cổ
sơ, người xem, thấy hai cảnh một lượt : khách khứa ở nhà trên và bà nội trợ dưới
nhà bếp. Khi người nội trợ nói riêng với mình, khách như điếc không nghe gì cả,
chỉ khán giá là nghe thôi. Khi thay đổi nhân vật không gọi la thay cảnh. Khi
thay đối động tác cũng không buông màn.
BA GÀN (gắt)
Nó đói thây kệ nó,
Ai biểu nó nghèo khó ?
Ta phải đãi bạn ta,
Ta sang, vui, nhờ họ.
THỊ-ĐỨC (vừa ví gà, vừa lẩm bẩm)
Ôi, người gì mà bất nhơn,
Bỏ ruột thịt, trọng người dưng.
Được, ta sẽ cho một mẻ,
Coi quân ấy có biết ơn ?
BA GÀN (rót rượu ra ly)
Mời bốn bác nhậu,
Rượu nầy rượu lậu,
Ngọt tuyệt trần đời.
Tiếc không có cẩu !
KHÁCH A (nưng ly lên)
Năm ta cùng cất tửu bôi.
KHÁCH B (cũng nâng ly rồi uống)
Một chén, ngọt giọng thắm môi,
KHÁCH C (y như hai người kia)
Hai chén, tan nỗi lẻ loi,
KHÁCH D (y như vậy)
Ba chén, thì thôi ! Thì thôi !....
BA GÀN (cũng uống)
Thân ta nay đã thoát nơi phàm trần !
THỊ-ĐỨC (bưng mâm cháo gà lên, mùi cháo thơm phức. Đặt mâm xuống bàn rồi
vô buồng)
KHÁCH C
Gà xé phay ! Gà xé phay !
Đã có đồ nhắm rồi đây,
Ai phao câu, ai mề cứng ?
Tôi chỉ xin da bầy nhầy.
KHÁCH D
Cổ gà thế nầy mà hay !
Gậm gậm rồi nhai nhai,
Gậm xong tợp một ngụm,
Béo béo lại cay cay.
KHÁH A
Ai ăn giò thì ăn đủ cặp.
Ăn một cái thì run lập cập.
KHÁCH B
Eo ôi, tôi nghe sao muốn sập...
(nói xong gục xuống bàn. Bốn người kia ăn uống rồi kế tiếp nhau mà ngã lăn ra)
THỊ-ĐỨC (trở ra, nhìn bọn họ mà mỉm cười khinh bỉ)
Quân tham uống tham ăn.
Ăn uống rồi nói xằng.
Tối ngày đi kiếm chác,
Chẳng làm gì nên thân.
(nhìn chồng)
Còn cái lão già nầy,
Em ruột nghèo đói quay,
Chẳng cho ăn một hột,
Cứ tiếp đãi ai ai.
(một con chó già thất thểu đi ra kiếm xương)
Chó ơi, tao thươg mầy,
Mười năm công rất dày,
Nhưng mầy nay già quá,
Không khỏi chết nay mai.
Thôi trước sau, cũng vậy.
Tao đành phải ác tay.
Để trác chơi lũ nầy,
Cho chủ mầy mở mắt đây.
(nói rồi rút cây song hồng nện vào lưng con chó, nó kêu lên một cái ự rồi giãy
tê mà chết)
Thươg thay thân đó !
Lụy nhỏ chan chan.
Tuy là chết oan.
Mà đỡ khổ : già, bịnh.
(lấy chiếc chiếu bó con chó lại, rồi đi vô buồng. Khách tỉnh dậy từng người một
và từng người một lặng lẽ ra về, Ba Gàn tỉnh rượu sau rốt)
BA GÀN
Ý a ! Đã đỏ đèn rồi !
Đầu tôi nó nhức quá trời.
Mẹ nó ơi, lo cửa nẻo,
Rồi thì ta đi ngủ thôi.
THỊ-ĐỨC (trở ra nói giọng tuồng)
Thậm cấp ! Thậm cấp !
Chí nguy ! Chí nguy !
BA GÀN (hết hồn, cũng hỏi giọng tuồng)
Do hà chí nguy ?
THỊ-ĐỨC
Lúc mình sập thần vì
Thì có tên hành khất
Già, xa trời gần đất,
Tạt vào đây xin ăn.
Tôi chưa kịp nói năng
Thì nó lăn ra chết !
BA GÀN (run lập cập)
Uý trời đất ơi !
Hoạ bỗng đến nơi,
Giờ làm sao thoát,
Qnan bắt thì chết đời !
Xác trong nhà, án mạng !
Trời hỡi, sao hại tôi ?
THI- ĐỨC
Giò gà ăn một cái.
Bây giờ mới run lên,
Đàn ông sao nhát vậy.
Phải tìm kế lấp êm !
BA GÀN
Mẹ nó có kế chi ?
Cứu giùm ta một khi !
THỊ-ĐỨC
Dễ ợt, dễ ợt,
Kêu mấy thằng ăn chực,
Chúng, bạn thiết của ông,
Chắc sẵn lòng chịu cực,
Chúng khiêng xác đi chôn.
BA GÀN
Hay a ! Hay a !
Quả thật may ta,
Có người vợ bảnh !
Mụ có thấy chăng ?
Tình bạn ai bằng,
Vậy mà cứ bảo,
Tốn uống, tốn ăn !
(chạy đi mất trong đêm tối, Thị-Đức cười gằn)
Để rồi coi, rồi coi !
Mấy thằng bạn mắc toi,
Có thằng nào chịu lại
Đặng chôn cái xác hôi.
(Ba Gàn trở vể mặt teo nhỏ, thở hổn hển)
Khổ quá, mẹ nó ơi,
Các bác ấy bịnh rồi !
THỊ-ĐỨC
Thử đi qua chú Sáu
Biểu chú làm giùm coi ?
BA GÀN (ngần ngại nhưng cũng đi, vừa xây lưng vừa nói)
Cái thằng chết dầm,
Biết nó chịu hay chăng ?
(giây lát trở về với người em trai thứ sáu. Người nầy không nói không rằng, vác
xác đi êm)
THỊ-ĐỨC (nhìn chồng)
Gia bần tri hiếu tử,
Quốc loạn thức trung thần,
Ai ăn ai uống rần rần,
Bây giờ, ai chôn xác ?
Ba nó đã mở mắt,
Hay cứ vệc nhắm đui ?
BA GÀN
Thôi đừng nói nhiều lời,
Cho ta đây thêm khổ.
Ta bắt đầu biết hổ.
Đã bạc đãi em ta.
THỊ-ĐỨC
Mà chưa hết đâu.
Mai ông sẽ rầu
Vì lũ bạn chó.
(hai vợ chồng tắt đèn đi ngủ. Sáng ngày. Cũng cảnh nhà ấy. Bốn khách hôm qua trở
lại, giọng hách dịch)
Nhà nầy có kẻ giết người,
Xác đâu chẳng thấy, phải ngươi dấu à ?
Mau mau khai thật cho ta,
Không thôi ta đến quan nha bây giờ.
BA GÀN (chạy ra)
Lạy các ông, lạy các ông,
Xin nghĩ tình, xin nghĩ tình,
Ai nỡ để bạn mang gông ?
Đó là tai hoạ thình lình.
Tôi tình ngay lý gian đó.
(bốn người khách đồng nói)
Ai mà tin bác Ba Gàn
Là kẻ chuyên làm ngang.
Giết người rồi giấu xác.
Nào ta đi báo quan !
BA GÀN
Đây là bốn lượng vàng,
Các bạn tạm dùng đỡ,
Ôi, tôi lạy tôi van !
(bốn khách vừa đưa tay lấy vàng thì Thị-Đức cản lại)
Hãy khoan ! Hãy khoan !
Ông hãy cất vàng,
Thây kệ lũ nó,
Cứ mà lên qnan.
Hứ !
Ăn chiều hôm qua,
Ngủ vậy sáng ra,
Thì vuốt mặt chó !
BỐN KHÁCH
Khá khen cho đó,
Dám thách đố ta.
Ta cáo thì biết,
Tù mọt gông ra.
(khách đi. Giây lát có lính lại bắt hai vợ chồng. Tất cả đều vô buồng. Họ lại
theo lính trở ra. Quan vỗ bàn)
Vợ chồng tên hung thủ,
Xác dấu nơi nào hử ?
Khai thiệt không chết đòn !
THỊ- ĐỨC
Bẩm lạy ngài,
Con chỉ ngay.
Xin ngài cứ cho lính,
Theo con ra ngoài nầy.
(Thị-Đức dẫn lính đi một lát trở về. Lính bẩm)
Bẩm lạy quan trên,
Con đào đất lên,
Thấy xác con chó.
Con nhìn thật rõ
Chẳng dám nói sai.
THỊ- ĐỨC
Bẩm lạy đèn trời soi xét.
Bọn nầy vốn có thù ghét.
Nên vu họa cho chồng con.
QUAN (hét)
Lính đâu, đè xuống đánh đòn,
Tất cả bốn thằng nói láo.
Rồi tống vô lao hết ráo.
Lấy đó làm gương coi lnào !
Kịch vui chín cảnh
CẢNH I
Bà phủ Ngôn ngồi xỉa thuốc trước ô trầu, nói một mình :
Năm cùng tháng tận rồi,
Mình đợi nó hụt hơi,
Nó ở chết đằng ấy.
Rồi như nghĩ ra điều gì, bà lo lắng:
Hay là tiệm may họ may chưa xong
Thợ may ta thì luôn luôn sai hẹn,
Hứa mai rồi hứa mốt, mặc mình trông !
Nghĩ tới đó bà tỏ vẻ bứt rứt:
Mình già rồi thì còn ham gì Tết.
Nhưng mốt không có đồ mới thì chết !
Mùng một, phụ nữ trong tỉnh sẽ tới,
Mà áo quần của mình đều cũ hết !
Trời ơi, nay đã hăm chín !
Nó làm mình đến lo quýnh !
Rồi bà giận dữ, mặt hầm hầm:
Một lần thất hứa không sao,
Chuyến nầy sai hẹn 1à tao cào nhà.
Đầu năm, xấu với người ta,
Tao cho vào khám, khổng ra Tết nầy.
Một đứa con gái bước vào phòng, tay bưng một gói đồ may xong.
Thưa bà, con đợi làm khuy nút.
Cho nên phải ở lâu một chút.
Vì Tết họ lãnh đồ nhiều quá,
Của bà họ mới chịu làm rút.
Của ai, họ cóc cần, mặc hối thúc.
Bà phủ mừng quá, quên hết giận
Đâu mầy đưa lẹ đồ đây,
Thử xem nó may có hay !
Mở gói ra :
Ôi chà ! Cái cổ cao quá !
Già rồi, tao rất ghét mốt nầy.
Bà xổ chiếc áo nhung ra mà ngấm nghía, đoạn đứng dậy, xổ chiếc quần ra để đo
vào người. Cả hai đều thấy là quần dài quá.
Ý cái thằng thợ chết dầm !
Đã đo rồi mà còn lầm,
Ống quần nầy dài quá,
Đem cho nó sửa nghe Năm !
Con Năm cãi lại :
Thưa bà, đêm nay là đêm tất.
Mai, nó đã đóng cửa mất,
Ở nhà làm thì tốt nhất.
Bà phủ suy nghĩ giây lâu rồi nói :
Ý mầy, nghĩ cũng hay.
Tao ngán lũ thợ may,
Thôi để đây tao tính.
Bà vừa nói tới đó thì cô dâu trưởng của bà từ trên gác xuống, chừng như sắp đi
đâu đó. Con Năm ra khổi buồng, bà Phủ nói với dâu :
Kìa con hai,
Con nhớ lên một lai.
Ống quần nầy dài quá
Cũng tại thằng thợ may.
Cô dâu trưởng nhìn qnần rồi nói :
Vâng, con bận đi đây,
Lát nữa về sẽ hay.
CẢNH II
Cô dâu trưởng đi ra, bà Phủ ngồi xỉa thuốc, lo lắng và nói một
mình:
Con hai là đứa lãng trí !
Biểu gì nó cứ vâng thí
Rồi để đó quên mất làm.
Thôi ta cứ biểu con Ký.
Nói đoạn, bà kêu cô dâu thứ ba ra :
Ký ơi, con bận cái gì trong ấy ?
Ra đây cho me bảo cái nầy.
Cô dâu thứ ba bước ra. Bà phủ nói :
Con, má phải đi lại đằng bác Hai,
Con lấy qnần nầy rồi lên một lai.
Bà chợt thấy tay cô dâu dính bột, nên lắc đầu. Cô Ký thưa :
Con làm xong ổ bánh bông lan.
Thì con sửa quần má đàng hoàng.
Bà phủ lại lắc đầu, 1àm thinh, rồi đứng lên đi ra.
CẢNH III
Bà phủ đi ngang qua phòng giấy, thấy cô dâu thứ tư đang ngồi
đánh máy, bà lẩm bẩm :
Khổ ơi là khổ !
Hai đứa đều vâng lời
Nhưng chưa chắc chúng nhớ
Chúng coi như chuyện chơi.
Lẩm bẩm xong bà nói lớn lên:
Nầy Tư, con nè,
Cô Tư ngừng tay, ngước lên hỏi.
Thua má việc chi ?
Xin má cứ nói đi.
Bà phủ nhìn cô dâu hay chữ mà rằng:
Cái quần má để trên bàn,
Con lấy sửa lại đàng hoàng nghe Tư.
Ống qnần thằng thợ may hư
Đâu đó vừa vặn nhưng dư bề dài.
Để rồi con lấy, lên lại.
Má mặc tiếp khách vào ngày đầu năm.
Cô Tư bắt đầu đánh lọc cọc trở lại, vừa đánh vừa đáp :
Má cứ, yên lòng,
Con đánh thư xong.
Thì sửa quần má.
Bà Phủ đi ra ngoài 1ẩm bẩm
Lại thêm một đứa nữa.
Bảo làm, nó cứ hứa,
Nhưng nó nhớ không chớ !
CẢNH IV
>Bà chợt đụng đầu với cô dâu thứ năn đi đâu vừa về tới
sân.
À con năm đây rồi,
Bận nầy thì xong thôi.
Cô Năm hỏi :
Gì mà xong đó má ?
Hay má lo chậu dưa giá ?
Bà phủ cười nói :
Dưa giá năm nay tốt hạng nhứt,
Đó không phải điều má bứt rứt,
Má đang bận trí vì cái quần,
Thợ nó may hư đi, thật tức !
Quần sa-teng mới,
Còn nằm trong gói.
Con lấy lên lai,
Cho xong trước tối.
CẢNH V
Cô dâu út vào nhà, đi vô buồng, trông thấy gói y phục mới, mở
ra xem rồi cầm quần đi lại bàn máy :
Bà cụ vốn cụt đòn,
Mà nó may dài thòn.
Làm sao cụ mặc được
Anh thợ thật cu-son,
Ta lên một lai,
Cho nó bớt dài.
Cụ mặc vừa vặn,
Cụ mới khen tài.
CẢNH VI
Làm xong sứ mạng, cô dâu út đi ra, cô thứ Tư đánh máy xong
vào đó, thấy cái quần mới, xếp lại, nhưng để ngoài gói, lấy xem sơ rồi cũng
xách nó lại bàn máy.
Chém cha thợ may vụng,
Bảo hẹp lại may rộng,
Bảo ngắn cứ làm dài.
Thật là đồ trẹo họng !
Cô lấy kéo cắt bỏ cái lai quần mà cô út vừa mới may xong, rồi lên một lai nữa :
Ta bỏ lên một ít,
Bà cụ mặc vừa khít.
Làm sao cụ không thích.
CẢNH VII
Cô Ba làm bánh xong, rửa tay sạch sẽ, lau khô rồi vào phòng.
Thấy chiếc quần mới xếp đó. Cô mở ra xem :
Sa-teng nầy thật sa-teng tây,
Cho nên nó mới láng như vầy,
Nhưng lạ kỳ, dài đâu mà dài !
Thôi mặc kệ, mình là con,
Bà cụ bảo, không làm, bị rầy !
Cô xách quần lại bàn máy, mở hộc tủ, rút kéo ra đoạn cắt mất cái lai do cô Tư vừa
may xong.
Già sanh tật, đất sanh cỏ.
Bà cụ độ rày thật khó.
May thế nào cũng chê !
Áo rộng cứ bảo chật bó.
Cắt xong, cô bẻ lên, đưa vô máy mà may bành bạch, vừa may vừa hát :
Làm dâu khó lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, đau chẳng ui cha
Ví dầu con hạc bay qua,
Mẹ bảo con gà, dâu cũng phải nghe
Gấm bông mẹ bảo là the,
Con đâu cũng cố ráng nghe theo bà.
Lên xong lái quần, cô ba xếp lại, để trở vào gói giấy rồi đi ra :
CẢNH VIII
Cô dâu trưởng đi xong việc về tới nơi, qua buồng để y phục,
cô ghé lại, cầm quần lên xem :
Lạ thật ! Lạ thật !
Bà cụ sanh tật,
Ống quần vừa y,
Mà hối rần rật.
Bảo sửa cho mau.
Vâng lời là phận con dâu,
Bảo sao hay vậy câu mâu làm gì.
Cô cũng đem quần lại bàn may, lấy kéo cắt bớt lai, rồi bẻ lộn lên để may lai mới.
Ạ.. ạ... ạ... phải rồi đây ạ.
Bà cụ muốn lăng-xê mốt lạ.
Mặc quần ống cao lòe thiên hạ.
Mà không ! Mà không !
Bà cụ sợ rông,
Đầu năm kỵ vấp,
Quần dài khó lòng.
Xong đâu đó, cô cũng xếp quần lại tử tế, để lên gói rồi đi ra.
CẢNH IX
Bà phủ vế tới nhà. Vào buồng trong, bà cầm quần lên xem, thấy
có dấu sửa chữa, bà bằng lòng lắm mỉm cười mà rằng :
Quí là mía ngọt không sâu,
Quí là kiếm cược con dâu vâng lời.
Chưa chi nó đã làm rồi.
Tết nầy ta bảnh quá trời, cho coi.
Dâu ta, ta quý hẳn hòi,
Nhưng phải hỏi lại để coi đứa nào
Đặng mà thưởng nó công lao.
Vừa nói một mình, bà phủ vừa xổ quần ra để đo vào người. Bà dòm xuống rồi thừ
người ra. Ống quần bà ngắn ngủn. Bà kêu lên :
Trời ơi, đứa nào chơi bất nhơn !
Lên lai, nó lên mấy mươi phân !
Thế nầy thì còn chi cái quần !
Cha, khổ ơi ! Trời đất, quỉ, thần.
Đoạn bà hét :
Con hai, con ba, con tư, con út,
Bây vô đây cho tao hỏi một chút.
Cả bốn cô dâu nghe mẹ gọi giọng giận dữ, lật đật chạy vào, cô nào cũng có vẻ sợ
hãi. Cả bốn đều nói một lượt :
Thưa má !
Phải chăng việc may vá,
Làm cho má giận quá ?
Bà phủ trợn mắt hỏi :
Đứa nào lên lai quần tao ?
Thì thú thật đi coi nào !
Cả bốn cô dâu đều nói một lượt :
Dạ thưa má !
Chính con đó !
Con lên một lai,
Như má dặn rõ.
Bà phủ té ngồi trên đi-văng, kêu trời mà nói :
Mỗi đứa lên một lai,
Áp cắt ống quần dài,
Thành ra nó cụt ngủn.
Thế nầy thì đã hỏng.
Trời ơi, ngó xuống mà xem,
Bốn con dâu dại nó đem hoạ về.
Dâu ngoan thật không chỗ chê
Nhưng ngoan kiểu đó thì ê mặt già.
Người chồng gian lận
Ông Phán Sầm vói tay lấy ba tấm giấy con voi mà bà phán vừa
đưa cho ông, sau khi bà đã nhận hết số lương tháng của ông.
- Bà tưởng bao nhiêu đây là nhiều lắm sao. Nội tiền xe điện cũng mất hết trăm
hai.
- Vậy thì ông còn trăm tám.
- Bà nói dễ nghe dữ. Thế không thù tạc với người ta à ? Gặp anh em rủ nhau đi
giải khát, không lẽ mình cứ để người ta trả hoài,... À, tôi phải hỏi bà điều nầy
mới được. Bà cho con Liên mỗi tháng hao nhiêu tiền túi ?
- Sáu chục.
- Ít dữ vậy à ? Con mình nó lớn rồi, mà bà cứ coi nó như là trẻ con.
- Ông tính coi, nội cha con ông, hết gần bốn trăm, còn ba ngàn thì nào tiền phố,
tiền xá, tiền đèn, tiền nước, tiền gạo, tiền chợ, tiền quần, tiền áo.
- Thôi, dài lắm rồi, bà đừng kể nữa. Tôi dư biết tài xoay xở của bà, và rất
khen phục bà. Nhưng bà nên ráng mà khâu vá cho khéo hơn nữa mới được, để té
thêm chút ít mà cho con Liên, tôi lo sợ lắm.
- Ông lo cái gì mới được chớ ?
- Nó chỉ có sáu chục mỗi tháng, mà tiền đâu nó mua đờn Ha-Oai ?
- Của bạn nó cho, của con gì... ờ con Huệ, bạn học của nó đó.
- .... Mua lược đồi mồi....
- Năm ba đồng mà bao nhiêu.
- À, mụ nầy mới là nhà quê dữ, lược đồi mồi gì mà có năm ba đồng hè.
- Thì nó nói vậy, tôi hay vậy.
- Bà thật là... là thật thà. Với lại tiền đâu nó mua cây viết máy Parker ?
- Nó cũng nói bạn nó cho.
- Bà có biết cây viết đó lao thiêu không ?
- Giỏi lắm là hai chục chớ bao nhiêu.
- Nhà quê ơi là nhà quê. Nè, tôi cả đời làm việc, viết lách, mà chưa đám ước ao
một cây viết máy hiệu đó chớ đừng nói chi đến mua. Mấy trăm đồng đó, bà biết
chưa ?
- Trời, mắc dữ vậy à ?
- Bạn nó tiền đâu mà cứ biếu nó từ món nầy đến món khác, mà món nào cũng trót
ngàn vậy.
Bà phán Sầm ngồi ngây người ra: Son phấn, y phục của Liên, không làm bà ngán lắm,
vì nàng chỉ đõm dáng vừa chừng thôi, các món mà Liên đem về không làm cho bà
suy nghĩ chút nào, vì bà không phải xuất tiền. Và bà cũng không dè các món ấy mắc
giá đến như thế. Bây giờ... Ừ Liên đào ở đâu ra tiền để mua sắm ? Có thật bạn
nó biếu đồ cho nó không ?
- Nè,
ông phán tiếp, con Liên nó lớn rồi, nó ra mã trông thấy. Nếu nó dại dột
thì...làm sao. Bà là mẹ, bà phải giữ gìn con mới được.
Bà phán bỗng chợt hiểu ; bà lộ vẻ lo lắng rõ rệt.
- Bây giờ làm sao ông ?
- Thì bà phải tìm biết cho được coi tiền đâu nó mua sắm hoài, và toàn đồ mắc tiền
không mà thôi. Nếu nó dại dột nhận tiền của ai, thì thôi... Còn gì là danh giá
mình và hạnh phúc tương lai của nó.
Bà phán bối rối vô cùng. Bà hối hận đã lơ đãng trong việc trông nom con. Bà cứ
ngỡ Liên còn bé dại như năm nào.
Hai ông bà còn đang bần thần về vụ nầy thì Liên ở buồng sau bước ra. Nàng diện
đơn sơ mà trông thật đẹp. Ông phán, bà phán nhìn con tươi như cánh đồng buổi
sáng rồi nguôi bớt trong lòng.
"Không, ông nghĩ, con ta không thế nào nhơ bợn được. Vụ tiền bạc của nó là
vụ bí mật vô tội".
Liên xin phép cha mẹ, đi dạo phố, rồi đẩy xe máy, mở cửa ngõ thoát khỏi ra
ngoài.
- Tôi đoán nó lại đi mua cái gì. Đâu bà nom theo coi. Đi xích-lô máy cho kịp
nó. Nhớ đi xa xa ngoài sau.
Bà phán Sầm xuống xe ở Bô-Na và đi bộ dòm chừng Liên đang dắt xe máy đi trên vỉa
hè.
Tiệm nào nàng cũng dòm vào, thỉnh thoảng dán mũi vào kiếng tủ để nhìn một món đồ.
Có lần một cậu trai đi tới. Hai cô cậu chào nhau rồi nói chuyện líu lo. Bà Phán
hồi hộp lắm, nhưng rồi cậu trai lại chào Liên mà đi.
Liên đi bộ như vậy lên đến đường Catinat. Bà phán mỏi rụng hai chơn mà cũng phải
theo con đằng xa.
Đến đó, Liên tẻ vào ngõ hẻm Eden.
- Chỗ nầy kín, bà Phán nghĩ bụng, chắc nó hẹn với ai.
Liên đi lại một hiệu đồng hồ, bảo chủ hiệu lấy một cái, săm soi lâu lắm, rồi
mua.
Bà Phán thục ra đường Catinat, vào một tiệm Chà, làm bộ lựa phấn sáp, giây lát
Liên ra về, bà bèn vô tiệm đồng hồ nói với chủ hiệu:
- Tôi gặp con cháu nó mua cái đồng hồ xinh quá, tôi muốn mua một cái như vậy,
ông cho tôi xem.
Người chủ hiệu lật đật phục dịch, vẻ mặt hân hoan lắm vì y đinh ninh là sẽ bán
thêm được một chiếc đồng hồ quí giá nữa.
Bà phủ xem đồng hồ xong rồi hỏi:
- Bao nhiêu ?
- Ba ngàn.
Bà sững sờ tối tăm mày mặt, đứng chết lặng lâu lắm mới nói được:
- Tôi không có mang đủ tiền theo. Phiền ông chờ khi khác vậy.
- Không hề gi.
Bước ra khỏi cửa tiệm, bà Phán lảo đảo như người say rượu. Bà vội gọi xe dông
tuốt về nhà để đọc câu chuyện trinh thám theo dõi kẻ gian lại cho ông Phán
nghe.
Nghe xong, ông phán cũng choáng váng người rất lâu rồi hét:
- Bà thấy không, nếu tôi mà không đặt vấn đề, ba năm nữa, bà cũng còn như kẻ
mù.
- Thì tôi chịu tội. Ông sao cứ theo trách móc tôi hoài. Bây giờ phải làm sao,
ông giỏi thì tính đi.
- Để tôi suy nghĩ cái đã.
Nằm dài xuống đi-văng vài phút, thở ra thở vào, bà Phán lại đứng lên đi thay đồ.
Bấy giờ Liên về tới, vui tươi như thường, và khọe:
- Con mua cho ba cái bàn cạo râu. Bàn ba cũ quá sét hết, rủi ro trầy da thì
nguy.
Ông phán mỉm cười làm thinh. Khi Liên thay đồ xong, ông kêu bà Phán ra, cả Liên
nữa.
Nghiêm nét mặt ông hỏi nàng:
- Con à, cây đờn Ha-Oai, cây viết máy, hai món đó có quả thật của bạn con biếu
không ?
Bị hỏi đột ngột, Liên giựt mình. Nàng bối rối không biêt trả lời cách nào tước
câu hỏi nghiêm nghị đó nó báo một việc gì quan trọng lắm.
Rốt cuộc nàng đáp nho nhỏ:
- Thưa ba, phải.
- Bạn con giàu lắm không ?
- Thưa ba, chị Huệ chị ấy giàu lắm.
- Được. Nhưng nhận mãi mà không trả, con có thấy là xấu hổ chăng ?
- Thưa ba, một đôi lần thôi. Con nhứt định không nhận gì của chị Huệ nữa.
Nàng mừng thầm đã thoát một cách dễ dàng ngõ bí nầy.
Ông phán tằng hắng, trầm ngâm giây lâu, rồi đột ngột hỏi:
- Thế còn chiếc đồng hồ mới nầy ?
Liên bỗng tái cả mặt, ngồi chết điếng không nói được một lời.
- Cái đồng hồ ba cho con năm kia, ông Phán tiếp, đâu phải cái nầy và cái cũ chỉ
đáng hai trăm. Cái nầy con mua mấy ngàn ?
Tay Liên run lên cầm cập. Bỗng nàng ngã gục vào lòng bà phán mà khóc òa.
Ông Phán, bà Phán chết điếng trong ruột, nghe chung quanh mình đang sụp đổ cả một
tương lai tươi đẹp của đứa con gái thương yêu.
Ông Phán Sầm, làm việc hãng tư (Người ta nể ông lớn tuổi kêu tưng là ông phán,
chớ hãng tư thì ai cũng thầy tuốt) ăn lương ít, chỉ nhờ hạnh phúc gia đình mà
vui sướng bao năm nay, Hôm nay cớ sự như vầy thì thật là chết.
- Xấn hổ lắm, ba má ơi, Liên nức nở lên, nói trong nước mắt ! Con thú tội con,
xin ba má rộng lòng tha thứ.
Mặc dầu rất sợ lời thú tội nầy, lời thú tội nó sẽ đem lại cho ông bà sự đau đớn
mà biết con mình đã hư, ông Phán bà Phán cũng ức biết rõ tội lỗi nàng, nên giục:
- Ừ, con lấy tiền của ai, con phải thú thiệt.
Do dự giây lát, cô Liên vuốt ngực mẹ nhõng nhẽo nói:
- Con lấy tiền của... tới đây cô ngập ngừng, làm ông Phán bà Phán hồi hộp vô
cùng.
- Của ai, nói mau. ông Phán tức giận nạt lên.
- Dạ của... trong túi ba. Bà Phán ngạc nhiên nhưng không tin:
- Cha mầy làm gì có tiền mà lấy ?
Nhưng bà vừa chợt thấy mặt ông Phán biến sắc đi.
Tức thì, hiểu hết mọi việc, bà trợn mừng, nhảy đong đỏng lên:
- Thiệt à, thiệt quả ông dấu tiền riêng à ?
Ông Phán cúi mặt xuống, ừ nhẹ một tiếng đầy sợ hãi.
Tức thì nhà cửa ầm ĩ lên tiếng gào khóc kêu trời kêu đất của bà Phán Sầm.
Đợi cho bà Phán hả giận, ông Phán dỗ:
- Nè bà, chúng ta nên mừng là hơn. Mừng con mình tuy nó có tội, mà vẫn còn là đứa
con trong sạch của mình. Tôi hồi hộp quá. Bây giờ nghe khỏe như uống sâm
Cao-ly.
Nhớ lại điều nầy, bà phán bỗng hết giận ngay, ôm con mà hôn.
- Ông à, sao ông bị nó ăn cắp tiền bấy lâu mà ông không nói ra ?
- Thì tôi tưởng là bà ăn cắp, tiền đó là tiền tôi giấu bà, vậy thì ai mà dám mở
miệng than chớ?
Thí một con chốt, hốt mười con xe
Tết năm nay dưa hấu được mùa. Các sông rạch chật ních ghe
buôn hàng Tết mà phần lớn là ghe dưa hấu.
Ghe dưa nào cũng đổ xô về ngã năm Bảy Hựu khiến những ghe thương hồ không quen
tục buôn dưa, ngạc nhiên lắm.
Cái gì mà mua dưa trong rẫy xong, chèo ngang qua chợ nào đó, họ không ghé lại
bán mà hè hụi chèo riết về chỗ ngã năm vắng teo ấy làm gì ?
Nhưng đó là họ vâng theo một tục lệ đã ra trên mười lăm năm nay rồi.
Số là ngày trước, đi buôn dưa hấu giống hệt như đi đánh bạc. Vì không biết ý định
của nhau, nên nhiều cái Tết, ở một chợ nào đó, ghe dưa áp nhau về hàng trăm chiếc.
Bị đụng đầu với nhau như vậy, cố nhiên là họ phải bán đổ bán tháo mà vẫn không
hết hàng. Năm cùn tháng tận rồi còn đâu ngày giờ để lui qua chợ khác.
Trong khi đó thì ở các chợ khác, dưa lại khan hiếm như tôm tươi.
Thành ra đi buôn dưa ngày Tết, được hay thua không phải là do dưa ngon hay dở,
mà thành bại nằm cả trên sự rủi may vào phút chọn chợ.
Chọn chợ là cả một khoa toán "Có lẽ" 1. Năm X. bác thất bại ở chợ Cầu ư ? Năm Y, bác
tránh chợ đó để chạy qua chợ Bưng. Nhưng người khác cũng tính y như bác, thế là
cả bọn lại đụng đầu nhau ở chợ Bưng.
Nhưng nếu bác đoán rằng họ sợ chợ Cầu, chạy đi chỗ khác thì mình ở lại cho Cầu
chắc ăn lắm. Đoán như thế cũng chết tươi, vì có kẻ khác cũng đoán giống hệt
bác. Rồi áp nhau mà trở lại đông đảo ở chính cái chợ mà họ đã chết năm trước. Vậy
là chết cả lũ thêm một năm nữa.
Có lắm chú lái, cứ tính trật như vậy từ năm nầy qua năm khác đến phải bán cả
nhà cả vườn mà trả nợ buôn lỗ.
Mãi cho đến một năm nọ, ông Tư Khâm đứng ra tổ chức lại cuộc buôn dưa, bọn lái
buôn mới khỏi sạt nghiệp.
Ông Tư Khâm là một kẻ giang hồ lúc còn trẻ. Nhờ thế ông quen với hầu hết các tay
lái thương hồ.
Năm nọ ông đi tìm từng chủ lái dưa một, để thuyết phục họ chịu theo tổ chức do
ông nghĩ ra. Ông đi du thuyết ba tháng trước ngày dưa chín mà cho mãi đến rằm
tháng Chạp ông mới nói chuyên xong với anh lái dưa thứ chót.
Vậy năm đó, tất cả anh hùng tứ xứ đều hội tụ ngã năm Bảy Hựu, bất kỳ dưa mua ở
đâu cũng phải cho về đó, bất kỳ qua chợ nào cũng không được ghé.
Ông Tư chia đều số ghe ra làm mười hai toán rồi cho phép họ vào năm con rạch để
về mười hai chợ nằm dựa các sông rạch ấy.
Ông Tư là người vận đỏ nên năm nào ông cũng trúng mối lớn. Mà ông làm thế, tức
là ông thôi không hưởng cái may mắn của trời cho, ông hy sinh xuống đứng ngang
hàng với mọi lái dưa khác để ăn chắc nhưng ăn ít.
Lòng vị tha ấy giúp ông Tư được uy tín lớn, và ông nói thì họ nghe theo rụp rụp.
Vậy năm nay như mọi năm, ngày hai mươi tháng chạp bến Giang-Tân lại họp đại hội
ghe dưa.
Năm nay ông Tư Khâm đã già quá, cứ đau ốm mãi quanh năm. Đó là nghe theo lời cô
con gái út của ông, chớ ông nằm lì trong khoang ghe không ai thấy mặt ông được
hết.
Trưa hôm ấy, khi ghe nào cũng cặm sào xong xả, cô út đứng trên mui của ghe cô,
lấy tay làm loa rồi kêu gọi: "Bà con ghe dưa, bước qua gần gần đây để tôi
thưa chuyện !"
Hàng trăm chiếc ghe dưa đậu dài theo bờ con sông lớn nhứt tại ngã năm, thành ra
chiếc ghe đuôi, cách chiếc ghe đầu rất xa, mà cách chiếc ghe giữa của ông Tư
cũng gần mấy trăm thước.
Trái lại với mọi năm, chỉ những chú lái già chủ ghe là xúm quanh ghe ông Tư sau
lời kêu gọi, năm nay cả đến mấy anh hạn chèo cũng vội vã nhảy đến xóm giữa.
Hằng trăm chiếc ghe trong lúc nước êm gió lặng lại bỗng lắc lư một lượt vì những
bước nhảy nầy. Có nhiều anh bạn chèo nhảy hăng quá đến lọt xuống sông, bởi vì
chân nhảy mà mặt lại ngó lên trên, nhìn cái mui ghe của ông Tư Khâm không nháy
mắt.
Họ nhìn cô gái đứng trên đó. Cô ấy mặc bà ba bằng vải Xiêm đen, nhưng nước da của
cô lại trắng, trắng nõn nà khiến sự đối chọi càng làm cho nó nổi bật lên.
Ở xa, không biết cô xấu hay đẹp thế nào, chỉ thấy nước da trắng và hình dáng của
cô là đủ cho họ bị quyến rũ. Chà, hình dáng của cô ! Cô may áo chật quá, hay vì
cô có da thịt không rõ mà áo lại ôm sát thân thể cô như ai lấy hồ mà đán vào
đó. Cái lưng của cô eo như lưng con kiến nhọt, còn hai tay cô thì dịu nhĩu mỗi
khi cô cử động.
Mấy anh con trai đến nơi thì nhận rõ ra cô gái ăn trầu, nhưng ăn vén khéo thành
ra môi của cô đỏ như thoa son. Những mui ghe gần đó đen nghẹt người ta, họ
tranh nhau bước tới trước,
chen lấn khiến ghe nào cũng lắc lia như cái trứng vịt, và các trái dưa trên các
đỉnh núi dưa bắt đầu lăn xnống sông kêu lủm chủm.
Cô gái đứng lặng thinh nhìn quanh rồi mỉm một nụ cười rất có duyên và hơi e lệ.
Bấy giờ gió hây hây thổi, tóc trán của cô bay phất phơ và vạt áo cũng bắt đầu tốc
lên. Cô gái hoảng sợ lấy tay chận nó lại.
Nhiều anh con trai la:
- Thây kệ vạt áo, cô lo vuốt tóc là hơn !
Rồi họ cười rộ lên. Cô gái mắc cỡ ửng má hồng khiến họ càng muốn nhào xuống
sông hết thảy. Đoạn cô trấn tĩnh nói to:
- Thưa bà con cô bác, ba tôi khó ở trong mình, biểu tôi thay mặt để thưa với bà
con cô bác mấy điều nầy.
- Ông già đau làm sao cô ? Tội nghiệp ! Tôi bất hiếu quá, nào có hay gì.
- Cô út ơi, để tôi qua sắc thuốc cho ông già, rồi ở luôn thí công vài năm nghen
cô !
Cô út giả điếc, làm thinh mà đợi họ nói bông đùa dứt rồi cô mói thêm:
- Thưa bà con cô bác, ba tôi định năm nay bỏ cái lệ chia chợ.
- Ờ, sao lạ vậy ? Mấy ông già đều rống lên hỏi.
Nhưng mấy cậu con trai lại hoan nghinh:
- Ờ, phải chớ. Tụi tôi đứa nào cũng quyết đi theo ghe ông Tư. Nếu chia chợ, cô
đi một nơi, tụi tôi đi một ngã thì buồn chết.
- Cô út ơi, mấy năm nay sao không nghe ai nói tới cô, không hao giờ thấy mặt cô
? Nếu cô có đi ghe dưa thì đời nào tụi tôi lại chịu chia chợ, nhứt quyết chết sống
với cô một chỗ thôi chớ!
Cô gái mặc kệ mấy anh con trai nói gì cứ nói, cô đợi giây lâu cho họ hết líu
lo, đoạn đáp lời mấy ông lão:
- Thua các bác, ba con nói rằng mười mấy năm nay nhờ tổ chức chia chợ mà tránh
cho nhiều người sạt nghiệp...
- Phải rồi, nhưng sao lại bỏ lệ ấy ?
- ... thưa, nhưng mà lối tổ chức đó cũng không giúp ai khá được hết. Mười mấy
năm nay bà con mình đi buôn dưa ở vùng nầy chỉ lấy lại được vốn, còn công thì bỏ
luôn, tay không vẫn thuần tay không.
"Thưa các bác, ba con nói chi bằng ta trở về tình trạng hỗn loạn trước
kia, thuở con còn để bánh bèo trên đầu, thế mà hơn vì có người thua lỗ mà trái
lại có người no đủ.
"Thưa các bác, ba con nói thà là cờ bạc như vậy để thử thời vận, chớ đi
không về rồi mãi chán quá."
Mấy ông lái già làm thinh. Mấy chú lái trẻ, con của mấy ông lái già và lũ bạn chèo
ghe thì rộ lên tán thành cô gái.
Mấy ông già không tìm được lý lẽ gì để cãi lại, vả họ biết có cãi cũng vô ích
thôi, vì họ là thiểu số, và giữ trật tự thì khó chớ xui loạn thì dễ xui, và xui
rồi, không ông trời nào kéo lại được cả.
- Thưa bà con cô bác, bà con cô bác có đồng ý hay không ? Cô gái hỏi gặng lần
chót.
Câu hỏi của cô cũng bằng thừa vì số đông đợi cô mở miệng để hoan hô, còn số ít
thì già quá, rất ngắn hơi.
Sau cơn hoan hô nhiệt liệt, cô gái mỉm cười
nhìn mấy cậu trai mà rằng:
- Các anh đi chợ nào, cho em theo với ?
- Tụi tôi theo cô chớ.
- Không, em cứ đợi các anh đi trước hè.
- Ai dại gì mà đi trước.
- Các anh đừng chó áp nhau mà theo em, báo hại chết chùm cả lũ.
- Dầu chết cũng cam tâm mà, cô út ơi !
- Nhưng em lại không cam tâm.
- Tụi tôi hùn tiền đền bồi lỗ lã cho cô mà, khỏi lo mà.
Bây giờ ông Tư Khâm mới lọm khọm bước ra khỏi mui, vừa đi vừa ho sù sụ.
Thanh niên lại hoan hô ông cụ dậy sông.
- Nhạc gia ơi, nhạc gia khó ở làm sao đó ?
- Thưa ba, cho con đi theo đỡ đần tay chơn.
- Ba ơi, con chèo ghe rất giỏi, nấu cơm, bửa củi cũng tài, nguyện làm công
không cho ba tới chết.
Ông Tư Khâm cười rất hóm hỉnh mà rằng:
- Tôi hết sức cám ơn bà con cô bác đã "ẩm hộ" tôi. Mười lăm năm trước
tôi đề nghị bà con cũng theo, bây giờ, tôi lại đưa đề nghị khác, bà con cũng lại
theo. Từ đây ta trở lại tranh giành với nhau, ai may nhờ rủi chịu. Như trước
kia, ta theo luật công bình của trời.
Một ông già đứng lên, bộ tịch thiểu não, giọng rầu rĩ nói:
- Anh Tư, sao anh lại tệ vậy ? Buôn trong vòng trật tự tuy lời ít mà vẫn kiếm
được chút đỉnh để ăn Tết. Anh báo hại làm chi rồi có kẻ khóc anh coi.
- Thì chính tôi cũng có thể khóc như các anh. Các anh quên rằng số người đi
buôn cứ tăng lên, mà số chợ thì vẫn cứ mười hai cái. Như vậy cứ tiếp tục chia đều
thì ta sẽ về tay không. Thà là khóc.
Họ ăn com trưa, rồi đợi con nước bắt đầu lớn để ngược dòng những sông con, vô
các chợ xa.
Gió trưa thổi hiu hiu, đất trên bờ ngã năm trơ trọi đìu hiu buồn minh mông xa vắng
quá. Bỗng có tiếng phụ nữ ấm mà trong cất lên không phải để hò như ngày xưa mà
để ca Vọng cổ:
"Trời đất ơi, em nghĩ cái thân em như chiếc thuyền nan, may gặp bến trong
thì nhờ, rủi gặp bến đục thì chịu, còn biết kêu khóc với ai bây giờ ?...
ơ..."
Trai trẻ trong các ghe dưa đang hiu hiu say nắng bỗng ngồi dậy cả. Anh nào cũng
vỗ đùi, chắc lưỡi. Vài anh tài chánh khá, sắm được đờn ghi-ta, thảy đều rút ra
lai rai mấy tiếng đồng, gọi là cảm thông với ca công trên chiếc ghe đàng xa
kia.
Cô út ca được bốn câu thì leo lên mui mà ngồi. Anh bạn chèo mũi của ông Tư
Khâm, anh Núi, lo nhổ hai cây sào, còn ông Tư thì chui ra khỏi mui để cầm lái.
Thấy ông Tư xung phong đi trước, thiên hạ rục rịch nhổ sào để đi theo.
Trên ghe của các anh lái trẻ thì êm rơ, nhưng trên ghe các lái già ồn ào tiếng
cãi vã với nhau. Đó là cha con họ xung đột, các ông cha thì quyết tránh ông Tư
Khâm, vì họ biết ghe dưa của ông như hòn đá nam châm, sẽ thu hút theo rất nhiều
ghe khác; các cậu con thì nằng nằng quyết một theo ghe ông già có con gái, họ
viện lẽ rằng ông Tư phá bỏ lề lối cũ, tức là ông ta đã nghe ngóng được tin gì
hay, nên theo dấu ông ta mà kiếm ăn.
Rốt cuộc rừng ghe dưa phân ra làm hai đội. Lối năm mươi chiếc theo ông Tư để
chui đầu vào một ngọn sông con chỉ có một cái chợ thôi, còn độ năm mươi chiếc
khác thì tản ra, ngược dòng bốn ngọn sông khác.
Cô út ngồi trên mui để làm đích cho họ nhắm vào mà chèo theo. Cô không ca vọng
cổ nữa mà lại hò như ngày xưa:
"Hò...ơ... Nước xuôi chạy gió buồm mền,
Muốn vô làm bé biết có bền hay không ?"
Các anh lái trẻ mà đã có vợ con, mê chết đi vì lời hò nầy. Bây giờ mà có ai đặt
thủy lôi chận sông, họ cũng cứ chèo tới.
Một chú lái bắt bồ liền, hò đáp:
"Hò... ơ... Áo vá quàng viền đàng chỉ đỏ,
Gẫm sự đời, vợ nhỏ cưng hơn."
Khi ai nấy đã đi sâu vào ngọn sông thì cô gái chun vô mui ở mất trong ấy không
thèm triển lãm tấm thân kiều diễm của cô nữa, mà cũng chẳng thèm ca, hò gì nữa
cả.
Trót đã dấn thân vào đường chết, các chú lái háo sắc không ngày giờ để trở bước.
Sáng hôm ấy, họ tới trước chợ ông Hàm. Cảnh chết chùm hiện ra trước mắt. Năm
nay làm ăn khó khăn, chợ ông Hàm ăn Tết rất lôi thôi. Bốn ghe dưa là đủ cho họ
lắm rồi, thế mà các ghe hàng hóa nầy lại đậu ken trên sông như thuyền Tào trên
Xích-Bích.
Ông Tư Khâm không thèm bán chác gì cả, cứ đậu ghe mà ăn cơm cho đến ngày hăm
lăm. Mỗi ngày ông cho cô út đi ủy lạo các chú lái bên kia để cầm hơi họ cho đến
cái ngày chót ấy, ngày mà họ chỉ còn đổ dưa xuống nước mà về chớ không mong
chèo qua chợ nào khác cho kịp nữa.
Ngày cuối cùng là ngày hăm lăm. Ông Tư mang hết dưa lên chợ rồi kêu nhà nghèo tới
mà bố thí. Với bạn đồng nghề, ông nói:
- Chết, tôi cho chết luôn.
Nhưng với cô con gái út, ông thì thầm:
- Làm phước để bớt tội với trời đất.
Rồi hai cha con cười với nhau.
Chiều hôm ấy ghe dưa lui hết, ông Tư cho dọn một tiệc khá sang dưới ghe rồi cả
ba người trong thuyền xúm nhau ăn nhậu. Ông Tư nói với cô con gái út, nhưng lạ
quá, lại kêu nó bằng cô, trái với phong tục miền Nam nầy.
- Ở đây có xe đò nhỏ đưa ra tỉnh. Từ tỉnh, cô về Sài-gòn rất dễ. Tôi chia cô bốn
trăm, cô ăn Tết, năm tới ta lại làm nữa.
- Thưa bác, bác còn những mười ghe, đi các chợ kia trúng mối lắm, sao lại chia
cháu có bốn trăm thôi.
- Nhưng tôi lỗ trọn ghe nầy.
- Khỉ mốc. Bác chọn dưa xấu mà bố thí ở đây, có lỗ là bao, nhưng bác lại lời ở
mười ghe kia, dư sức đấp qua số lỗ ở đây rồi.
- Ậy, ậy, cô em quên rằng tôi đã cứu cô em à. Bốn trăm, cô em chê là ít nhưng
đó là tiền sạch nó quí hơn thứ tiền bán nhan sắc của cô nhiều lắm đó. Tôi mà
không cứu cô trong vụ bố ráp hôm nọ, liệu cô có đi làm ăn hoàn lương như vầy được
hay không chớ ?
- Lão cáo già nói dễ nghe dữ ! Chớ mấy bữa rày tôi lại không bán nhan sắc à ?
Tôi lại không phơi lưng để rù quến họ theo ông à ? Tiền của ông sạch quá ! Chà,
tiền gạt gẫm người ta lọt vào bẫy cả lũ mà còn khen là sạch. Ông liệu hồn, ông
không đưa đủ hai ghim thì biết tôi.
--------------------------------
|
Calcul des probabilités |
Bớt đi một trái
Bọn họ về đến Thủ Đức là đã mười một giờ khuya. Sau khi viếng
chợ đêm ngày Tết của Sài Gòn tưng bừng ánh sáng và màu sắc, họ trở về với chợ
quận và có cảm giác là đang ở nhà lầu thì phải tuột xuống nhà tranh.
Ánh sáng đô thành vẫn thấy đỏ rực trên trời đằng hướng Nam và nhìn vầng sáng ấy,
họ nhớ đến những tà áo muôn màu họ vừa ngắm một giờ trước đây. Giờ đây màu đen
của y phục những người đi sắm Tết từ trong xóm ra, sao mà u buồn lạ.
Những gian hàng, phần lớn thắp đèn dầu, sao mà trông nghèo khổ và bịnh hoạn vô
cùng.
- Bây giờ ta phá cái gì cho vui đặng qua đêm chớ. Thạch đề nghị.
- Thì lại cũng cứ lăn dưa chớ còn trò gì nữa đâu. Công quyết định.
Đó là một bọn con trai năm người, sống vào thời tiền chiến rất yên ổn ngày xưa,
đã hưởng rất nhiều thú vui mà vẫn còn thấy thiếu.
- Hồi sớm, tao để ý đến một hàng dưa do một con bé có duyên lắm trông nom.
Không biết ở xứ nào tới mà coi bộ ngây thơ lạ. Ta có lăn dưa thì nên lăn dưa của
con bé ấy và nếu có thể được, lăn luôn... nó cho vui trò.
- Mấy nói niết, ban ngày nó có coi hàng, nhưng tối lại thì ông già bà già nó
coi chớ còn đâu nó nữa.
- Ậy, mầy mới dốt phong tục. Ở chỗ khác, dưa tứ xứ về bằng ghe. Trên ghe có cả
ông già bà già, con cái lu bù thay phiên nhau mà coi hàng. Ở chỗ ta không có
sông, dưa về bằng xe bò. Xe bò đậu lâu không được. Tao thấy ông già ổng đánh xe
về hồi sớm.
- Bây giờ bắt thăm coi đứa nào phải lăn năm nay đây.
- Tao cho !
- Tao !
- Tao mới phải; bốn năm liền tao chưa lăn lần nào hết.
- Năm nào mầy cũng kiếm cớ thối thác. Năm nay lại tham. Tao biết mà, tại có con
bé ấy. May là bây chưa thấy mặt nó đa mà còn giành như vậy. Nếu bây mà thấy như
tao thì...
- Thì tao còn giành dữ hơn tụi bây nữa.
- Hơn bao giờ hết, ta phải rút thăm mới được.
- Coi chừng nó gian lận tụi bây ơi. Nó đã thấy con bé rồi, thì chết nó cũng lập
mưu mà lăn cho được. Phải kiểm soát cho gắt kẻo trúng phải lá "thăm
tráo" của Từ Mậu Công.
Bọn họ kéo nhau vào một quán cà-phê ở dãy phố ngó vào một gian hàng ngả đó mà rằng
:
- Đó, gian thứ nhì kế gian góc bên trái chợ.
- Đâu con bé đâu ?
- Nó ngồi trong tối làm gì thấy được.
Trong bất kỳ chợ Tết của nơi nào, cả chợ Tết của Sài Gòn cũng vậy, nếu gian mứt,
gian rượu sáng sủa sạch sẽ bao nhiêu thì gian hàng dưa, bưởi lôi thôi, tối tăm
bấy nhiêu.
Những gian hàng ấy luôn luôn ở cuối chợ và trông giống như những người bà con
nghèo ở ngõ hẻm.
Trước gian hàng mà Công chỉ, họ chỉ thấy một ngọn đèn dầu hôi đang un khói. Sau
ngọn đèn, trên chiếc đệm, dưa chồng chất thư kim tự tháp, nền lớn, ngọn nhỏ. Và
sau dãy núi dưa, có lẽ con bé đang ngủ gục vì vào giờ nầy chỉ còn lưa thưa vài
khách hàng đi mua nhang đèn, bánh, pháo, thôi.
Sợ Công gian lận, họ oản tù tì chớ không bắt thăm. Đê được thăm, anh ta nhảy ra
liền khỏi tiệm.
Lạ, năm ngoái anh bắt thăm trúng, tự cho là xui xẻo, vì đi ăn cắp dưa Tết có
ngày phải ăn chổi chà. Nhưng năm nay anh ta mừng hùi hụi và cứ tự bảo là vận
mình đỏ lắm.
Đê bước đi những bước nhẹ nhõm, lòng thong thả không lo ngại gì hết vì anh thấy
tán gái quê không gì khó cả.
Không mấy chốc anh đã tới trước gian hàng, đặt chân lên đệm và dõng dạc hỏi to
:
- Ai bán dưa ?
Người chủ gian hàng bưởi bên cạnh là một người đàn bà đứng tuổi, vạch vách ngăn
bằng đệm dòm qua. Bên nầy thì im lặng lạ lùng. Trong bóng tối, sau trái núi dưa
hấu, đôi mắt như hai hột ngọc đang nhìn ra ngoài.
Trong ánh đèn vàng úa. Đê thoáng thấy một gương mặt không đẹp mà dễ thương, hiền
hậu mà không khờ khạo tí nào. Gương mặt ấy đương bình thản nhìn anh ta hơi mỉa
mai kiêu ngạo một chút.
- Dưa bao nhiêu một chục cô ?
- Dạ, bán rẻ cho thầy chín đồng.
- Sao lại bán rẻ cho tôi ?
- Vì có lẽ thầy không biết trả lên trả xuống, em không nỡ nói thách.
À, con bé quá quắt lắm. Nó dùng tiếng "không nỡ" là khinh mình đây !
Đê nghĩ rồi nói :
- Chín đồng một chục thì chạy chín cắc một trái. Như vậy mà cô bảo là bán rẻ
cho tôi. Má tôi mua dưa cỡ nầy ba cắc một trái thôi.
- Thầy làm toán chia tài dữ ! Chín đồng một chục, mà ra chín cắc một trái...
Bấy giờ Đê đã ngồi xuống. Chàng ta nhìn cô gái để đợi cái phút cô lo ra đặng
thi hành kế quỉ. Nhưng cô gái vẫn không nhìn đâu khác hơn là người khách hàng nửa
đêm.
- Thì một chục là mười, nếu có đầu là mười hai, thì chín cắc một trái có lẽ là
tạm trúng rồi chớ gì.
Nghe câu đó cô gái không nghiêm trang được nữa, rũ ra mà cười.
Đê không thèm để ý, liếc mắt dòm lại sau lưng mình thì thấy bạn hữu đã đưa nhau
đứng gác từng khoảng cách nhau sáu thước.
Cô bé cười híp mắt, lắm khi rũ xuống.
Đê thừa dịp tốt, lấy tay hất một trái về hướng Công, người đứng đầu trong sợi
dây xích ăn cắp dưa nầy.
Đây là một bọn trai trẻ con nhà giàu, chơi trò lăn dưa cho vui vậy thôi, không
nghĩ là mình ăn cắp và không thấy ghê tởm khi làm công việc nầy.
Lăn xong một trái, và chắc bụng là bạn hữu đã chuyền mà đưa trái dưa ấy đi xa,
Đê làm bộ ngạc nhiên hỏi :
- Sao cô lại cười tôi ?
- Thầy đi mua dưa mà không biết dưa hấu một chục mấy trái thì lầm chết.
- Chớ cô nói một chục mấy trái ?
- Dưa hấu thì một chục hăm bốn trái.
- Dữ vậy à ? Đê ngạc nhiên thật tình mà nghe con số kỳ dị nầy.
- Lại còn thứ trái cây một chục mười sáu trái. Chục trầu thì chỉ có hai lá
thôi. Ấy, chục của ta nó rắc rối lắm, cô bé nói thêm.
- Trời ơi, té ra tôi còn non. Cũng may là đi mua dưa thôi, chớ đi coi vợ mà khờ
khạo như vầy thì "lẦm chẾt" đúng y như cô vừa nói.
- Không sao, thầy đừng lo. Một cô gái hai mươi tuổi thì vẫn hai chục tuổi. Vì
tuổi tác không có chục mười sáu, chục hăm bốn mà lo.
- Nếu có chục hăm bốn thì tôi, tôi đoán là cô chưa đủ chục, có phải không cô?
- Cái đó là việc khác không ăn thua đến vụ mua dưa.
Đê một lần nữa, nhận ra gái quê dạn nói cà rỡn hơn gái chợ trong dịp trêu ghẹo
của con trai. Họ bộc lộ hơn gái chợ, lắm khi rất trây trớt và có lẽ nhờ thế, họ
không bị uất khí và ít sa ngã.
Bấy giờ Đê đã lăn đến trái thứ năm. Mấy anh kia, bắt dưa dính như thủ môn giỏi
bắt ba-lông, và đưa dưa đi tài tình như trên bãi cỏ, các cầu tướng "giao
nhỏ".
Cô bé mảng cà rỡn mà không thấy gì hết.
Đê làm bộ lập nghiêm vì thấy cô gái cũng là tay bản lĩnh, tán láo không được.
Anh hỏi qua về quê quán, gia đạo cô gái, hẹn gặp nhau năm tới và tiếc phải chia
tay.
- Năm tới có lẽ ba em sẽ đi chợ khác. Cái nghề dưa nầy không thể nào bám mãi một
chợ được. Mỗi năm phải tiên đoán coi chợ nào ít người bán mà vào, rủi đụng đầu
với nhau nhau thì nguy.
Đê cũng hơi bùi ngùi, đứng dậy nói :
- Rất tiếc không mua giúp cô được, vì tôi ngỡ một chục mười trái nên thiếu tiền.
- Không hề gì, thầy lấy chơi năm trái, thì trả tiền năm trái là xong.
Đê bủn rủn tay chơn, muốn té quì xuống. Không phải vì anh ta sợ tốn tiền. Cũng
không phải sợ tội ăn cắp. Nhưng bị một cô gái như thế lột mặt nạ một cách bình
tỉnh như vậy khiến anh ta kinh khủng không biết ngần nào.
Anh ấp úng :
- Tôi...thử... xem cô có lanh mắt không.
- Em vẫn biết thầy thử, nên em cố lơ đãng cho vui trò vậy mà.
À, nó khéo lắm, con bé ấy. Thế mới chết.
- Dạ (Đê thấy cần phải lễ phép) dạ bây giờ cô tính bao nhiêu cô ?
- Dạ, dưa mua tính giá khác. Còn dưa ăn thử thì cứ một đồng một trái, lấy rẻ
thôi.
- Con bé mắc dịch, Đê rủa thầm. Nhưng nếu nó đòi mười đồng một trái, mình cũng
phải trả, chớ dám nói gì.
° ° °
Khi Đê theo kịp bạn hữu, anh ta mặt bí xị và làm thinh mãi,
không họa theo họ mà reo đắc thắng.
- Sao, có nước mẹ gì không mà coi bộ sò thế ? Tạo hỏi.
- Có nước con thì có, chớ nước mẹ gì.
Công ngắt, chận lại nói:
- Các anh à, bọn bán dưa họ biết cái ngón của mình nên đề phòng dữ. Cứ mỗi một
năm ta làm kém năm rồi một, hai trái.
- Mỗi năm bớt đi một trái dưa cũng chưa nguy. Tôi sợ năm nay phải bớt đi một
người trong bọn ta, Đê than.
- Anh định bỏ chúng tôi đi lăn con bé à ?
- Không lăn nó, mà chính tôi tự lăn vào nó đấy.
- Úy mẹ ơi, một cậu trong bọn mình si tình rồi đây bây ơi.
- Không si tình sao được, các anh. Phải chi các anh có bị đánh như tôi, nó vừa
đánh vừa vuốt ngực thì mới biết.
- Nó đánh bằng chổi chà hay bằng gì ?
- Bằng cái đòn tinh khôn mà rất dễ thương của nó.
Kho vàng của cô Mạc-Rít
Ê bèn, so-lây à-lo 1 !
cô Mạc-Rít chống nạnh nhìn ra sân mà hét to câu trên đây. Cô muốn rầy thằng
Bò-No (Benoit) con của cô, sao nó dang nắng, nhưng cô nói tiếng Tây theo điệu
các me nên nó ra như thế.
Thằng Bò-No, tuy là Tây lai nhưng ăn ròng là cá rô nướng dầm nước mắm tỏi ớt
nên nó cũng rất thạo văn phạm của má nó. Nó hiểu ngay nên phủi tay rồi chạy vào
nhà.
Thằng bé lên sáu ấy thừa tự của cha rất nhiều về thể chất nên phần Tây nơi nó lấn
phần Việt rõ rệt. Mắt nó đục ngừ, và màu tròng cùng một sắc với tóc hoe hoe
vàng.
Nơi thằng bé, không có gì dễ thương cả: mày nó rậm ri và to bảng hơn cả mày một
người Việt đứng tuổi, nhắc xa gần đến hàm râu rậm của cha nó. Trên tay trên ngực
của nó, lông lá tuy còn măng, nhưng đủ sầm uất để che lấp da non.
Em của nó, thằng Mộc, nhỏ hơn nó một tuổi rưỡi, trông khả ái hơn nhiều, vì thằng
kia là con của một quân nhân ngoại quốc thô kệch, còn thằng nầy là con Việt, một
người Việt dân thầy nghĩa là nho nhã hơn tay phiêu lưu kia nhiều.
Cô Mạc-Rít chạy theo con, múc nước rửa tay cho nó mặc dầu tay ấy không bẩn bao
nhiêu, sánh với tay của thằng Mộc đang thả thuyền giấy dưới mương trước nhà và
mặc dầu thằng Bơ-No đã biết tự săn sóc lấy.
Lau tay con cho khô ráo, cô ôm nó vào lòng, hôn nó trơ trất rồi nói:
- Măng bổ cu em mê Bò-No 2
Thằng Bò-No không biết tiếng Việt vì má nó không dạy và cấm nó chơi với trẻ Việt
trong xóm, sợ nó lỡ biết tiếng mẹ thì hỏng cái thuần chất Tây của nó đi. Nhưng
nó cũng không thạo tiếng Pháp. Nó chỉ sành cái ngôn ngữ ba rọi của má nó thôi.
- Bò-No bổ cu em mê măng 3
Thằng bé đáp lời âu yếm của Mạc-Rít như vậy và áp má vào má của má nó.
Một gánh xu-xoa hột lựu đi qua, nó ngó má nó rồi nói:
- Bò-No măng-rê xà 4
Nó không nói: "Bò no muốn ăn cái nầy". Nó nói với pháp ngữ ra lịnh mà
cả giọng lẫn cử chỉ của nó cũng đều đượm mùi mạng lịnh.
Đành rằng nó mất dạy nên mới ăn nói du côn thế kia, nhưng cũng vì nó thừa tự
phong cách của một hạ sĩ quan ngoại quốc mà cả đời chỉ biết vâng lịnh và ra lịnh.
Viên hạ sĩ quan ấy ngày xưa là một hạ sĩ quan lý tưởng của Pháp, nghĩa là râu
ria, lông ngực, hơi ba gai một tí để không sợ những "vố đau" và nhứt
là để trị bao nhiêu là bọn ba gai khác, còn hách dịch với lính trơn thì y như một
con chó sói đầu đàn.
Cô Mạc-Rít đút quà cho con ăn chớ không để nó làm lấy, không phải cô sợ nó vụng
về rồi làm bẩn áo đi, mà cô muốn phục dịch nó. Cô nghe nó là dân ông, còn cô là
dân Con, dân Thằng. Mẹ vua lại không kính trọng vua à ?
Thằng Mộc rình mẹ và anh nãy giờ, thấy có ăn bỏ cả ghe thuyền chạy lại đó. Nó
cũng đòi quà nhưng bây giờ má nó bỗng dưng mang bịnh điếc không nghe gì cả. Nó
đứng đó mà ngóng mõm như chó chực xương.
Không, cô Mạc-Rít không thương đứa con nào hơn đứa con nào, về mặt tình cảm. Cô
chỉ thương đàn ông, không thương đàn bà, cũng chẳng thương trẻ.
Thằng đờn ông râu ria lông ngực còn để nơi lòng cô kỷ niệm nào dịu dàng chăng
mà cô biến cái mến tiếc thằng ấy thành ra sự âu yếm hòn máu rơi của nó ? Không,
nó là thằng thô lỗ, tối ngày say rượu và nhiều khi đã đánh đập cô.
Cha của thằng Mộc cũng chẳng hơn gì về tình nghĩa. Hắn chỉ được có cái là nho
nhã hơn thôi. Điều đó cũng đáng kể. Nhưng hòn máu rơi của anh chồng Việt nầy lại
không được hưởng một chút xíu nào dư hương của cảm tình tương đối của má nó đối
với cha nó.
Cô Mạc-Rít đã phục dịch viên cai Tây ấy về mọi mặt: nấu bếp, làm bồi và làm
"con gái". Cô có con với nó. Chắc chính nó cũng không muốn nhìn thằng
bé, nhưng nó cứ đổ cho bề trên của nó cấm kết hôn và nhìn con. Điều nầy quả có
thật nhưng dầu không thật, cô Mạc-Rít cũng chẳng làm sao được vì thằng cai Ọt-lô
ấy được bảo vệ bằng ba lớp chiến lũy: cái du côn của nó, pháp luật của dân nó
và chiến lũy thật sự là đồn lính. Nếu nó thua đàn bà, nó rút vào đó thì cả đàn
ông cũng không vào theo được.
Và nó còn trốn cô vì một khi có con, sự tiêu pha tăng lên, nó ngán tốn tiền. Cô
ẳm con nhào đại vô đồn lính thì anh săng-ti-nền xô cô ra.
Người xưa đã hát:
"Chiều chiều quan lớn về tây,
"Cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn."
Thầy thông ngôn nhà binh nầy, quên mình là người Việt nên đã dại dột yêu cô Mạc-Rít
trong một thời gian.
Khi thằng Mộc ra đời, thầy thông ngôn cũng định dĩ đào vi thượng như chú Cai, nhưng
lần nầy cô Mạc-Rít níu kéo được, và thầy ấy phải đền bù công khó nhọc mang nặng
đẻ đau của cô bằng một số tiền to.
Như vậy, đáng lý gì cô Mạc-Rít thương thằng Mộc hơn mới phải, nếu cô lại thương
bằng lý trí. Đằng nầy không ! Tiền của ba thằng Mộc đưa cho, cô dùng để lo cho
thằng Bò-No.
Tây sao mà có phước quá ! Bộ ông cha nó tu đã chín kiếp rồi sao mà ! Nó ngủ với
đàn bà ta cho vui rồi lỡ họ có thai, thì người nuôi con không phải là nó mà là
những người đàn bà vô phước mắc nợ tiền kiếp đó, hoặc những anh đàn ông Việt dại
dột nào khác, và về sau, cả dân tộc ta lại phải nuôi mấy đứa bé ấy nữa.
Nhưng đừng ngỡ cô Mạc-Rít ngu dại gì đâu. Cô đã tính toán kỹ và giữa hai đứa
bé, thằng Bò-No và thằng Mộc, cô chọn quyết một đứa như là tay tuyệt-phích sành
đã xem giò xem cẳng ngựa, biết con nào sẽ về nhứt và có bao nhiêu tiền bạc
trong túi, tuông ra mà lấy vé hết cho con đó.
Cô nhận thấy thằng Tây, cho dầu là Tây đầu đường xó chợ, thì lớn lên nó cũng
làm được ông tào-cáo, ông cò, hay mạt lắm, cũng ông xếp phú-lít, dẫn đầu một
toán cảnh-sát vài mươi người.
Như thế, ngày kia cô sẽ là má ông Cò, oai vệ biết bao nhiêu ! Sang vì con là vậy
đó. Nhưng thằng Bò-No sẽ làm ông cò chưa đủ, nó phải thương cô, phải biết ơn
cô, không thôi ông Cò tương lai ổng sẽ cho má ổng ra rìa còn gì.
Vì vậy mà cô phục dịch thằng Bò-No như chị vú em, đến sợ nó nữa. Nhưng mẹ vua lại
không sợ vua à ? Có gì xấu hổ đâu.
Chỉ phiền có mỗi một điều là Tây đi. Họ đi hết, hay đúng ra, những kẻ có súng
đi hết. Những kẻ tay không ở lại cũng chẳng có quyền hành như những kẻ tay
không thời tiền chiến.
Phiền lắm, nhưng không đáng lo bao nhiêu, vì cô Mạc-Rít có nghe những me Tây
khác, những kẻ khác sống bám vào Tây, quả quyết rằng Tây sẽ trở lại, và họ đi,
chỉ là rút lui chiến lược đó thôi. Họ mà trở lại thì phải biết ! Và những người
trung thành với họ, sẽ bảnh cho mà coi !
Cô Mạc-Rít không có thành tích trung thành với Tây. Nhưng cô đã nắm được một thằng
Tây con trong tay thì lợi khí ấy cũng đáng kể lắm.
° ° °
Thằng Mộc ngóng mõm nhìn những hột lựu đỏ mà chảy nước miếng.
Anh nó nạt:
- A-lê đi mau lên !.
Đó là câu tiếng Việt độc nhứt mà thằng Bò-No biết. Câu nói đó là câu nói của những
ông Tây ngày xưa dùng để xua đuổi dân bản xứ, nên má nó thấy cần phải dạy nó.
Không hiểu vì rốt cuộc thương hại em hay vì từ sáng đến giờ ăn nhiều quá nên
món xu-xoa hột lựu nầy đã tràn ứ cổ nó không rõ, thằng Bò-No hất muỗng hột lựu
mà nó đang cầm trên tay kề gần miệng nó, rồi ngó thằng Mộc mà rằng:
- Voa-là, buộc toa ! 5
Cô Ma-Rít mời ép ông con Tây, hay ông Tây con cũng thế, một hồi nữa, nhưng ông
ta day mặt đi chỗ khác một cách khinh bỉ, nên cô đành bố thí cho thằng con Việt
chút hột lựu còn sót lại dưới đáy ly.
Nếu thầy thông ngôn thấy cảnh nầy thầy sẽ tủi thân. Chính chị xu-xoa hột lựu
cũng muốn ứa nước mắt. Nhưng cô Mạc-Rít thấy là phải như vậy. Thằng A-na-mít ăn
cơm thừa canh cặn là phải.
Thằng Mộc loay hoay với ly xu-xoa thế nào mà cả ly lẫn muỗng lựu rơi xuống đất,
hột lựu vừa đổ ra thì một con chó con chạy đến liếm sạch trơn. Nó còn đang tiếc
hùi hụi thì bị một tát tai gần điếc con ráy :
- Đồ hủy của ! Má nó chưởi ! Bây lớn cái thây mà cầm ly xu-xoa không được ! Chạch
! Đồ khốn nạn, thấy mà phát ghét ! Chạch !
Mộc bị ba phát tất cả, nhưng nó không khóc. Nó kinh nghiệm rằng khóc cũng chẳng
ai dỗ, nên không thèm khóc nữa từ lâu. Nó nhường sự phát biểu ý kiến ấy lại cho
anh Tây của nó.
- Ru-ông 6 !
Thằng Bò-No vừa nói thế, vừa vuột chạy ra khỏi lòng mẹ rồi nhảy lên chụp lấy
em. Nó đè thằng Mộc xuống để hai đứa chơi trò cỡi ngựa, nhưng Tây thì làm kỵ mã
khách còn Việt thì làm ngựa.
Thằng Tây sáu tuổi ấy to bằng một bé Việt tám tuổi. Sức nặng của nó đè bẹp dí
em nó, nên thằng Mộc không nhúc nhích được.
Bò-No đưa tay ra sau đánh mạnh vào đít em mấy cái nhưng con ngựa vẫn nằm sắp
yên trên đất ướt.
Cô Mạc-Rít cười ngất, cười bò lăn chiên một hơi rồi đi lại cúi xuống ẳm ông Tây
con lên, hôn trơ hộn trất, thấy ông ấy bảnh lắm, chưa chi đã biết ăn trên ngồi
trước người ta.
Chợt cô thấy thầy giáo Hổ, một giáo viên về hưu ở cạnh nhà cô, đang đọc báo
ngoài sân.
- Bữa nay có vụ bắt ghen, hay vụ chém chồng nào hay không ông giáo, cô hỏi.
Ông giáo Hổ ngước lên, mỉm cười rồi lắc đầu không đáp.
- Hay có chuyện gì lạ hay không ?
Ông giáo nổi dóa vì bị quấy rầy, nói ra một tin rất chán để cho cô ta thôi hỏi.
- Có, Cao-ủy phủ Pháp đã đổi ra tòa Đại sứ Pháp.
Mặc dầu không biết Cao-ủy phủ và tòa Đại sứ là cái quái gì, mắt cô Mạc-Rít cũng
sáng rực lên vì cái tiếng "Pháp" trong câu nói của ông giáo. Từ lâu rồi,
cô không nghe nói đến tiếng ấy nữa, nên hơi buồn.
Cô chồm tới hỏi rối rít :
- Sao, Pháp làm sao ?
Ông giáo cười ha hả mà rằng :
- Pháp không có làm sao cả. Cao-ủy phủ của họ đổi ra tòa Đại sứ, thì tình trạng
có khác thật đó, nhưng cô biết gì mà hỏi.
Cô Mạc-Rít không nghe mích lòng, và càng tò mò thêm lên :
- Có khác làm sao đó ông ?
Ông giáo Hổ rất bực mình. Ông ngỡ đưa tin khô khan nầy cho cô ta cụt hứng rồi để
cho ông yên, không ngờ cô ta cứ hỏi tới. Ông nhẫn nại giải thích:
- Nghĩa là cha chú, bác, ông nội, ông cố của thằng Bò-No không mong trở lại đây
nữa rồi.
- Thiệt à ?
Cô me Tây đứng tần ngần giây lâu, sau câu hỏi không lời đáp ấy, rồi lại hỏi :
- Liệu nhà báo có nói láo hay không ông ?
Ông giáo lại cười ha hả:
- Nhà báo nói láo ăn tiền là về chuyện khác kia, chuyện nầy thì họ nói thật đó.
Thằng bé trên tay cô me Tây bỗng nhiên trở nên nặng quá. Cô thả rơi nó xuống đất
hồi nào cô không hay.
Ông giáo Hổ là người rất giỏi, cái gì cũng biết, không nói sai bao giờ. Thành
thử cô Mạc-Rít nghe quanh cô cái gì cũng sụp đổ cả, sau lời giãi thích của ông
ta.
Thằng Bò-No vừa khóc vừa đánh vào chân má nó:
- Măng lét xê tom bê Bò-No ? Bò-No ba công tăng. 7
Cô Mac-Rít nhìn lại cái kho vàng mà cô định khai thác về sau để nhờ cái thân
già. Cô thấy đó là một kho vàng giả hay nói cho đúng, đó là một kho vật liệu bỗng
nhiên không còn công dụng và trở nên vô giá trị.
Tức mình, cô đá ông Tây con một cái vá quát:
- A lê, đi,
mau lên !
--------------------------------
|
Eh bien, soleil alors ! |
|
|
Má thương Bò-No lắm lắm |
|
|
Bò-No thương má lắm lắm |
|
|
Bò-No ăn cái nầy |
|
|
Đó, cho mầy đó ! |
|
|
Ta chơi nè |
|
|
Mẹ để rơi Benoit, Benoit không bằng lòng ! |
Lữ-Bất-Vi nguyên tử
Từ hai tháng nay, lo tìm chỗ làm ngoài Sài-gòn, Điền bỏ quên
Chợ-lớn là vùng mà nhân công rất đông và rất rẻ. Trong đó, anh không làm sao
tranh sống được với bao nhiêu người Việt gốc Hoa, họ chịu khó vô cùng mà không
đòi hỏi gì nhiều.
Sáng hôm nay, thình lình gặp mái-chín Dãnh từ trong tiệm bán chim ở đại lộ
Hàm-Nghi bước ra, Điền mới nhớ đến một hạng người rất hoạt động và rất có thể
có công việc cho anh làm.
Để nịnh mái-chín Dãnh, Điền lễ phép cúi đầu chào ông ta như chào một ông cụ người
mình rồi hỏi:
- Thưa, mái-chín mạnh giỏi ?
- Hò, cái lầy tốt tốt. Anh cũng tốt tốt chớ ?
- Nghèo quá mái-chín ơi, thất nghiệp hơn hai tháng rồi.
Người Trung-Hoa mặc âu phục rất sang trọng nầy nhìn Điền giây lát rồi hỏi:
- Có muốn tiền hay không.
Mắt Điền sáng lên. Hắn nói:
- Trời, mái-chín còn phải hỏi. Nếu được vài chục bạc ăn cơm thì sướng lắm.
- Hò, vài chục bạc ăn một bữa, hết lấy gì mà ăn nữa.
- Nhưng tôi lại không dám xin nhiều sợ làm phiền mái-chín.
- Ai cho mà xin, xin ít cũng không cho mà ! Phải làm chớ.
- Dạ tôi muốn làm lắm, mà không có công việc.
- Ngóa có công việc, nhưng hơi khó, nhận hôn ? nhiều tiền lắm.
- Nếu nhiều thì cho dẫu phải lên rừng bắt cọp, tôi cũng sẵn lòng.
- Tốt lắm ! Tốt lắm ! Ngóa cho lứ năm trăm bạc bây giờ...
Điền muốn ngộp thở khi nghe số bạc to tát như vậy. Vợ đẻ mới có hai ngày, không
tiền uống thuốc thì năm trăm nầy sẽ giải quyết rất nhiều việc, cơm nước, thuốc
men được gần hai mươi ngày, đỡ khổ biết bao nhiêu ! Hắn dở nón, kính cẩn chào
mái-chín Dãnh một lần nữa rồi nói:
- Mái-chín biểu chém ai, tôi cũng quyết vâng lời hết.
- Không có chém ai. Nè, năm nay là năm Nhâm Dần tháng nầy là tháng Nhâm Dần, mốt
nầy là ngày hăm chín tháng giêng, tức là Nhâm Dần. Ai mà đẻ con trai vào giờ
Nhâm Dần, nghĩa là từ bốn đến sáu giờ sáng là đẻ ra quí tử đó, bốn cái Nhâm Dần
tốt lắm gồm lại nơi một người thì người đó sẽ làm ông vua, cố lứ hiểu chưa ?
- Dạ hiểu sơ sơ, chưa rõ lắm.
- Hò, cố lứ đi vào mấy nhà hộ sanh, dặn trước mấy bà mụ, hễ có ai đẻ con trai
vào ngày đó, giờ đó mà muốn bán, ngóa mua, mua một đứa hai chục ngàn, mấy trăm
đứa ngóa cũng mua hết, cố lứ hiểu chưa ?
- Dạ, hiểu sơ sơ, chưa rõ lắm.
- Cố lứ ngu quá ! Con trai đẻ năm Nhâm Dần, tháng Nhâm Dần, ngày Nhâm Dần, giờ
Nhâm Dần thì ngày sau nó làm ông vua, biết chưa.
Điền vỗ tay la lên:
- Hiểu rồi, tôi hiểu !
Hắn có đọc các truyện Tàu, Tây Hớn, Đông Châu nên bỗng nhớ ra thủ đoạn của chú
lái buôn Lữ-Bất-Vi đã đầu cơ Tần Tủy-Hoàng ngay trong lúc vị bạo chúa nầy còn
là cái bào thai nằm trong bụng của một nàng hầu xinh đẹp, nên hắn chợt hội ý mà
hiểu ngay dự định của mái-chín Dãnh. Hắn nói:
- Biết mà, mái-chín nuôi mấy thằng quí tử ấy để ngày sau được làm tía ông vua
mà !
- Cố lứ nói trúng đó.
- Tôi mua được, mái-chín cho thêm bao nhiêu ?
- Hai ngàn đồng, chịu khỏng ?
- Dạ được.
- Nè, lấy năm trăm đồng nầy nhẫm xà rồi đi lo công việc.
- Dạ cám ơn mái-chín.
Điền cầm tờ giấy năm trăm nhìn theo người mại bản Trung-hoa bước lên chiếc xe
404 của y rồi bật cười - Thì ra, hắn nghĩ, người Trung-hoa có tài buôn bán thật
và họ buôn bán bất cứ thứ hàng hóa nào cũng được. Lữ-Bất-Vi là người Trung-hoa,
chỉ có Hán tộc mới là thương trí như vậy thôi, không dân nước nào mà biết đầu
cơ theo lối đó cả.
Khi mái-chín Dãnh khuất dạng, Điền vào tiệm ăn làm một bữa no nê đoạn đi mua
cho vợ một chai rượu huyết bò, mua cho đứa con gái đầu lòng lên năm, một con
búp-bê và thằng con trai kế, lên ba, một cây súng nước.
Xong đâu đó hắn bắt đầu ngay chiến dịch săn trẻ tuổi Dần tứ quí sau khi tạt qua
nhà biếu quà cho vợ con.
Nhưng các bà mụ đã làm chàng thất vọng. Họ nói: "Trẻ sanh vào ngày đó, giờ
đó thì rất có thể có: làm sao trong mấy trăm nhà hộ sanh ở đô thành cũng có ít
lắm là một đứa con trai do một chị nhà nghèo, cho ra đời lúc rạng đông ngày
Nhâm Dần.
Tuy nhiên họ sẽ đến thình lình, không làm thế nào cho kẻ đầu cơ hay tin kịp để
hắn kiểm soát. Không kiểm soát được, hắn sẽ kiếm chuyện để bớt tiền. Các bà mụ
lại cho Điền biết rằng chuyện lắc léo nầy xảy ra rất thường, luôn luôn do người
Trung-hoa đề xướng và luôn luôn họ kiếm chuyện vì không kiểm soát được."
Điền đã tốn nhiều tiền xe và thì giờ quá rồi nên hắn ngã lòng hết sức. Cho dẫu
cái đêm ngày Sửu rạng mặt ngày Dần sắp tới, hắn mà có băm sáu chơn cũng không
sao chạy khắp các thà hộ sanh để thăm dò và có thăm dò mà thấy trẻ ra đời cũng
không sao gọi mái-chín Dãnh cho kịp để y tin chắc rằng, quả đứa trẻ sanh vào giờ
Nhâm-Dần.
Điền về nhà, buồn hiu; năm trăm đã vơi đi hết ba trăm vào các khoảng lộ phí, mà
viễn ảnh hai ngàn tiền thưởng thì rất mong manh.
Nằm gác tay lên trán suy nghĩ một buổi, Điền bỗng vụt ngồi dậy. Hắn vừa thấy một
ý tuyệt khôn nên mừng rỡ hết sức, hắn la lên một mình:
- Ăn chắc ! Ăn chắc hai ngàn và ăn chắc về sau nữa.
Tuột xuống đất, hắn chắp tay sau mông, đi qua đi lại một hơi với những bưóc vội
vàng ăn nhịp với những ý nghĩ sôi nổi trong đầu hắn, đoạn hắn chạy tuốt ra nhà
người chị vợ cũng ở một túp nhà lá như hắn phía sau đó, cách nhà hắn ba căn để
nhờ chị nầy thi hành kế quỉ của hắn.
Xong đâu đấy, hắn xoa tay mỉm cười lẩm bẩm: "Chưa chắc gì người Trung-hoa
lại cáo già bằng người mình và tía ông vua sẽ là ta chớ không phải mái-chí Dãnh
đâu."
Vào lúc quá nửa đêm, Điền đi xe xích lô máy vào Chợ-lớn gõ cửa nhà mái-chín
Dãnh rầm rầm.
- Ai đó ? Bên trong hỏi.
- Tôi đây mái-chín ơi, có thằng nhỏ gần sanh ra mà.
Mái-chín Dãnh mở cửa và Điền trình bày ngay câu chuyện:
- Mái-chín nè, mấy bà mụ họ đòi tiền cái công họ cho hay tin.
- Được mà.
- Nhưng họ nói khó lắm.
- Khó làm sao ?
- Họ nói, đàn bà họ đến thình lình, gọi mái-chín không kịp, sợ mái-chín không
kiểm soát được rồi không mua, mất công họ lắm.
- Hò, phải mà, ngóa phải kiểm soát mà.
- Vậy nên khó lắm.
- Sao cố lứ kêu cửa nói có ?
- Ấy, khó mà vẫn có. Số là vợ tôi đang chuyển bụng ở nhà, bà mụ nói chừng một
lát đây nó đẻ. Như vậy tiện hơn; mái-chín biết trước, tới kịp để kiểm soát.
- Cũng được, nhưng biết chị ấy đẻ con trai hay con gái ?
- Hễ con trai thì mái-chín nuôi, con gái thì thôi.
- Ừ, cũng được.
- Nhưng tôi cho con, tôi tiếc thương, tôi buồn lắm, mái-chín thưởng thêm tôi
cái gì ?
- Hò, ngóa làm tía ông vua thì cố lứ làm ông quan cái lầy ông quan bự bự mà !
- Trời ơi, tôi dốt làm quan to sao được !
- Được chớ. Cái lầy ông Bảy hổng dốt à ? Mà ông Bảy cũng làm quan bự được đó
thì sao. Nữa ngóa cho cố lứ làm như ông Bảy Viễn hồi mấy năm trước đó mà.
- Hỏng thèm, lâu ăn lắm. Tôi muốn được thêm mười ngàn nữa hè.
Điền nói thế chớ hắn đã có cách hưởng về sau. Hắn sẽ làm dấu trên người của con
hắn, sẽ ghi những nút ruồi, tàn nhang của nó để ngày sau mà nhìn. Cái mông ông
vua có tàn nhang thì đố ai mà biết, trừ cha mẹ ruột hoặc cha mẹ nuôi của
ổng. Hắn sẽ gởi thơ tâu với vua là hắn biết nhà vua có một tàn nhang ở mông bên
tả thì vua sẽ tin hắn là cha ruột ngay.
Mái-chín Dãnh suy nghĩ một hơi rồi bớt năm ngàn và Điền đành phải nhận chịu. Hắn
mời:
- Vậy bốn giờ sáng mái-chín ra nghen. Hễ vợ tôi đẻ rồi thì thôi vì không nhằm
giờ tốt còn chưa thì mái-chín đợi.
- Nhà ở đâu ?
- Ngõ hẻm cuối cùng trước khi vào sân khám Chí-Hoà, bên tay trái đường
Hòa-Hưng. căn nhà thứ sáu.
- Được, mà ngóa đến hồi năm giờ, vì giờ bây giờ là giờ giả, đi trước một tiếng
đồng hồ, năm giờ tức là bốn giờ đó. Phải trúng giờ của Trời, đất mới được.
- Hay lắm, mái-chín không sơ hở chỗ nào hết, xứng đáng làm tía ông vua lắm đa.
Hồi đúng năm giờ sáng mái-chín Dãnh có mặt tại nhà của Điền. Chị Điền rên la
inh ỏi trong buồng và bà mụ giả dỗ dành: "Ráng đi chị, ráng một chút xíu nữa
thì hết !"
Điền mời mái-chín dòm sơ vào buồng cho biết mặt vợ hắn. Chị Điền cái bụng to
như trống chầu, đang níu bà mụ mà khóc. Cái bụng ấy là một đống giẻ rách, còn
bà mụ là chị vợ của Điền. Thằng bé ba ngày thì Điền gởi đằng nhà chị vợ, không
quên cho nó uống một liều thuốc ngủ thật nhẹ, để lát nữa ẵm về mà nó không hó
hé.
Chị Điền rên la mãi đến sáu giờ sáng mới
nghe bà mụ bảo rặn. Cũng may là chị ta sanh mau lắm, độ năm phú là xong. Đã có
người lén ẵm thằng bé lại, vào buồng bằng cửa sau và bà mụ giả ngắt nó mấy cái,
nó khóc ré lên.
Mái-chín Dãnh xem lại đồng hồ tay thì lúc ấy đúng sáu giờ mười lăm phút, tức là
năm giờ mười lăm phút thật "của Trời Đất",
tức là vào giữa giờ Dần.
Thế là trong căn buồng ẩm thấp của một nếp nhà lá xóm hẻm khám Chí-hòa, một ông
vua tương lai đang oa oa mấy tiếng chào đời và một nhà đầu cơ thượng thặng đang
mơ màng tưởng tượng đến cảnh về sau mà hắn làm ông
Thái Thượng Hoàng hét ra lửa và ra... bạc cắc.
Hắn thấy trước là quốc gia Việt-Nam sẽ bị chinh phục một lần nữa, vì tuy ông
vua tương lai
là người Việt nhưng do một lái buôn Trung-hoa giựt giây giụi đằng sau ngai
vàng.
Mái-chín Dãnh đòi bắt ngay đứa bé, sợ Điền xấu bụng rồi đánh tráo nó chăng. Điền
thấy là mái-chín muốn chánh đáng nên nhượng bộ, không quên đòi ngay hăm lăm
ngàn vì hễ múc cháo thì phải trao tiền.
Vợ chồng Điền nhận tiền, làm giấy cho con,
nhưng khóc bù lu, bù loa vì họ thương con thật, và khóc vì phải xa nó.
Bà mụ giả được mái-chín mượn theo xe để đưa thằng bé vào Chợ-lớn và ở lại trong
ấy săn sóc nó cho đến khi nó rụn rún. Y thưởng trước bà mụ đến ba ngàn bạc.
Từ đó, vợ chồng Điền bớt cơ khổ nhờ số bạc hăm bảy ngàn, hăm lăm ngàn tiền cho
con, và hai ngàn tiền thưởng đã tìm ra đứa bé tứ quí.
Thỉnh thoảng hắn vào Chợ-lớn nói là thăm mái-chín Dãnh nhưng thật ra chỉ để thấy
mặt con thôi.
Vợ chồng mái-chín Dãnh rất không ưa sự lui tới đó. Họ muốn chặt đứt hẳn cây cầu
giữa ông vua tương lai và người cha mất quyền.
Tháng ấy, Điền vào thăm con mới hay là mái-chín Dãnh đã cho thằng bé đi Đài-Bắc
mất rồi.
Mái-chín Dãnh thấy rằng chỉ có làm cách ấy, thằng bé mới mù tịt về dĩ vãng của
nó và mới trung thành với cha mẹ nuôi của nó về sau. Vài năm nữa họ sẽ dọn nhà
đi nơi khác, có đem thằng bé qua, Điền cũng chẳng biết đâu mà tìm. Vả lại chừng
ấy, Điền đã nguôi ngoai rồi.
Điền khóc mù khi hay tin con đi xa. Nhưng rồi hắn tự an ủi được với ý nghĩ ngộ
nghĩnh nầy: là thằng bé được cho về Tàu, tức là cha mẹ nuôi nó muốn cho nó làm
vua Trung-hoa. Mái-chín Dãnh nầy quá tham lam vô độ, nó thấy thằng bé làm vua hăm
lăm triệu người Việt-nam không giàu sang bằng làm vua năm trăm triệu người
Trung-hoa nên mới cho thằng bé "khứ từng xoa".
Nghĩ tới đó Điền bật cười khiến vợ chồng mái-chín Dãnh ngạc nhiên hết sức,
không hiểu sao hắn ta mới khóc đó bỗng lại cười đó.
Điền lại cười dài thêm nữa vì hắn sung sướng mà nghĩ rằng phen nầy chính Việt-nam
sẽ chinh phục Trung-hoa vì ông Hoàng-dế tương lai của đại-quốc ấy là một người
Việt-nam thuần túy. Cuộc đời cứ trôi chảy, nhà đầu cơ Dãnh trong khi chờ đợi
làm tía ông vua, cứ tạm đầu cơ đỡ các món hàng hóa khan hiếm, còn tía thật của
ông vua tương lai thì cứ nghèo mãi và rất băn khoăn không biết làm sao mà gởi
thơ cho con để tiết lộ bí mật, một khi nó lên ngôi thiên tử, vì chắc chắn là về
Đài-bắc nó học toàn chữ Hán, không đọc được chữ quốc ngữ để mà xem bức thơ quan
trọng ấy.
Ba năm qua. Hôm ấy thình lình gặp mái-chín Dãnh trước nhà băng Chartered. Điền
hỏi:
- A, mái-chín mạnh giỏi ? Còn thằng bé thế nào ?
Mái-chín Dãnh sa sầm nét mặt lại rồi thở dài nói:
- Nó đã chết hai tháng nay rồi. Ngóa lỗ vốn quá mà !
Trong khi nhà đầu cơ tiếc của than lỗ, than lời, thì Điền kêu trời lên một tiếng
rồi đứng chết sững. Nước mắt của người đàn ông nghèo khó và hầu như chết hết cả
tình cảm ấy rưng rưng nơi khoé mắt của hắn và lâu lắm, hắn mới hỏi được:
- Có thật không mái-chín ?
- Ai nói láo với cố lứ làm gì. Nó ở xa, cố lứ đâu có bắt lại được mà ngóa sợ.
- Nhưng nếu nó có số làm vua thì Trời, Phật phải phò hộ nó, chớ sao lại để nó
chết ?
- Hò, ngóa tính trật nên lỗ vốn mà ! Ngóa đi coi thầy, thầy bói với lại thầy địa
lý, cả hai ông thầy đều nói nó chưa đủ điều kiện. Năm Nhâm-Dần, tháng Nhâm-Dần,
ngày Nhâm-Dần, giờ Nhâm-Dần, chưa đủ. Phải cái mả của ông nội nó day đầu về hướng
đông bắc, chôn giữa rún một cái gò mối, nó mới phát đế vương, ngóa quên mất điều
kiện đó để biểu cố lứ cải táng tía của cố lứ, nên hư việc lớn rồi !
Mặc dầu đang rầu con, Điền bật cười. Người Trung-hoa giỏi tính toán lại có tài
sáng tạo như tạo hóa hay như một nhà bác học. Họ nghiên cứu kỹ lưỡng các điều
kiện cần thiết để chế ra đế, ra vương, ra quan to, quan nhỏ một cách dễ như
chơi chơi: chôn cha theo hướng nào đó, và đẻ con vào ngày giờ nào đó, thế là được
ngôi báu ngay, hoặc trúng số độc đắc hay đắc cử hội đồng liền. Muốn làm ông huyện
phải đẻ giờ Tý, muốn con đỗ trạng nguyên phải chết giờ Thìn, tất cả bí mật của
tạo hóa về kiếp người đã bị họ khám phá hết rồi và nếu người đàn bà nào cũng
nghe lời sách vở, đẻ con vào giờ Dần thì hẳn không còn giai cấp sang, hèn nữa rồi.
Nghĩ đến đây, Điền hỏi kẻ ra vốn để làm tía ông vua nhưng tính sai một con
toán:
- Mái-chín nè, thôi, làm vua lớn lao quá, tôi không dám ham. Vậy muốn làm
mái-chín phải day đầu mộ ông cố, ông nội, cha tôi về hướng nào, mái-chín mách
giùm để tôi làm theo hầu ra khỏi cảnh nghèo túng nầy cho đỡ khổ.
Mái-chín Dãnh nổi giận đỏ mặt tía tai, chửi:
- Mồ tổ cha cố lứ. Ngóa lỗ vốn mà cố lứ còn nhạo báng ngóa hả ? Cố lứ được hăm
bảy ngàn thì cái ngôi mộ của ông nội cố lứ không tốt hay sao mà còn đòi dời đi.
Hà cái nầy tham lam quá mà !
Tiếng sáo tiêu đờn của
Ngô-Kiều-Tân
Bình có nhà cửa hẳn hòi, nhưng cả ngày phải đi rểu ngoài phố,
hoặc ẩn náu trong các nếp nhà lá ở xóm lao động, hoặc nằm ngủ trong các rạp chiếu
bóng.
Ấy, chàng phải trốn hai thứ người, thứ nào cũng đáng sợ cả.
Hạng thứ nhứt là chủ nợ, cố nhiên.
Hạng thứ nhì là thư ký tòa soạn các báo.
Chẳng chàng viết văn, muốn đủ tiền ăn cơm phải vay mượn lung tung để rồi không
bao giờ trả được.
Thị trường đông đúc thế mà nhà văn không có tiền uống cà-phê thì nghĩ cũng mỉa
mai cho cái hạ giới không thay đổi từ ngày ông Ấm Hiếu thiếu rượu bìm bịp.
Chàng sáng tác kinh hồn nhưng bèo cứ không có giá thì biết làm thế nào bây giờ
?
Sáng tác bao nhiêu cũng không đủ bán mà bạn hữu thì đông, viết cho anh nầy mà
làm ngơ anh kia nào có yên thân được với họ nên mãi rồi chàng phải đi trốn
không thôi không biết ăn nói làm sao khi họ đến chơi.
Ừ, họ chỉ đến chơi thôi nhưng mắt họ hỏi: "Ê, sao cả tháng rồi không có tờ
nào vậy bồ ?"
Lúc đầu chàng trốn sau nhà bếp, nhưng một hôm, một thằng bạn thân nó đánh hơi
được hành vi bất lương của chàng, xin phép ra sau đi buồng vệ sinh và nắm được
đầu chàng ở đó.
Từ đấy, nó đồn đãi ra, và thằng nào tới nhà chàng cũng đòi nhờ buồng vệ sinh cả.
Bị bắt tại trận mấy lần, chàng phải sử dụng kế thứ ba mươi sáu của binh thơ
Tôn-Tử.
Chàng tiếp tục sáng tác nơi nhà của một người bà con, ở trong xóm. Tuy nhiên lắm
hôm vẫn phải liều mạng ở nhà vì có những bài toán gia chánh nho nhỏ cần phải giải
quyết, chẳng hạn ký tên nhận lãnh một bức thư bảo đảm mà chàng trông đợi, hoặc
một thằng bé nóng sốt, vợ chàng đòi chàng phải có mặt
"kẻo tủi thân con lắm."
Vậy, hôm ấy chàng nằm nhà, thấp thỏm lo sợ từ sáng đến chiều, mỗi lần nghe ai
gõ cửa là trống ngực chàng đánh rầm rầm, và khách vào mà nghe ra không thuộc
hai hạng nói trên, chàng mới hú ba hồn bảy vía cho chúng nó trở về trong bụng của
chàng.
Chủ nợ xem ra thì ít đáng sợ hơn thư ký tòa soạn. Nợ không có giấy, các chủ nợ
sợ chàng bí quá đâm liều nói ngược thì mất tiền toi nên không hề dám có lời lẽ
nào mích lòng chàng.
Bọn thư ký tòa soạn thì tay nào cũng làm
cho chàng toát mồ hôi lạnh cả. Những người quen thường không nói gì chớ lũ bạn
thân thì khiếp quá. Chúng nó nói bóng nói gió về cái hại của sự lười biếng, dịch
ra một câu tục ngữ Pháp: Sự ở không ở nhưng là mẹ của tất cả mọi thói hư tật xấu
(L';oisiveté est la mère de tous les vices). Chúng nó giảng về lối làm việc lạc
hậu của một số văn sĩ, đợi có hứng mới viết, chớ không chịu theo phương pháp mới
là làm việc đều đều vân vân và vân vân...
Khi ngủ trưa thức dậy, chàng nghe nhẹ nhõm mà thấy trời đang mưa, một trận mưa
dầm, chỉ lai rai thôi, nhưng sẽ kéo dài tới tối. Trời nầy thì không tội gì mà
chủ nợ và nhà báo lại xê dịch cho tốn tiền xích lô.
Chàng càng sung sướng hơn khi chợt thấy lịch treo trên vách ghi ngày ta là mồng
năm. Ừ:
"Mồng năm, mười bốn, hăm ba,
Đi chơi cũng lỗ lọ là đi buôn."
Nhiều anh làm báo cũng tin dị đoan số dách thì không thế nào hôm nay họ đến đâu
mà lo cho nhọc xác, cho tổn thọ.
Bình nghĩ mà cứ tiếc cho buổi mai đã mất, nằm nhà với vợ con mà không yên trí
được để hưởng cảnh đầm ấm gia đình. Nhưng thôi, được cái buổi chiều nầy thì hưởng
vớt vát vậy.
Thì ra, chàng nghĩ, lịch Tàu, và những mê tín của nó, cũng lợi đôi khi cho kẻ ẩn
thân. Nó là hàng rào vô hình chận ngõ đón truông những ông khách không mong đợi.
Tắm rửa xong, chàng ra buồng ngoài để viết nốt kỳ truyện kiếm hiệp ngày mai cho
một nhựt báo, viết mà nhớ lại thuở bé đi học chàng rất sợ ngày nộp bài. Giờ gần
hai thứ tóc trên đầu rồi mà cái nạn nộp bài vẫn lẽo đẽo theo chàng, có lẽ nó sẽ
theo như vậy đến trọn kiếp.
Thuở bé, đôi khi bí quá, chàng dám liều bỏ học cái bữa nộp bài ấy, còn giờ thì
bí đến đâu cũng phải cố cho có để mà nộp. Trốn là trốn bài chưa nhận viết kìa,
chớ còn đã nhận rồi, không trốn đi đâu được cả.
Bình ngồi lại bàn, mở ngăn kéo lấy trang chót hôm qua chừa lại để viết nối theo
thì chưng
hửng mà thấy trên đó vỏn vẹn có bốn chữ ở hàng đầu.
Thường thì chàng chừa lại rất nhiều, nhưng hôm qua mệt quá, chỉ viết nổi có bốn
chữ ấy khi qua trang,
tự hẹn sẽ viết thêm ngay, nhưng rồi quên mất đi công việc qnan trọng đó.
"... thì làm sao mà..."
Vỏn vẹn có bốn chữ ! Chàng đã nói gì trước đó và phải nói gì sau đó ? Thật là
chết một cửa. Cố bóp trán để nhớ xem hôm qua nàng Thùy-Vũ vung kiếm chém tới
đâu rồi làm gì nữa để xem bốn chữ ấy liên hệ với ý nào. Bình chịu là không thể
nhớ ra.
Chàng còn ngồi thừ ra đó để mà rầu thì bỗng nghe hỏi:
- Đang có hứng à ?
Giựt nẩy mình, chàng ngẩng lên thì thấy Ngô-Kiêu-Tân, một thư ký của toà soạn,
một thứ người dễ sợ như bịnh dịch hạch.
Thì ra mưa đã tạnh rồi mà chàng không hay. Ngô-Kiều-Tân mặc quân phục nhưng
giày đế kếp nên hắn vào mà chàng không dè.
Đó là một nhà văn kiêm họa sĩ và khét tiếng về tài thổi sáo.
Tiếng sáo Ngô-Kiều-Tân không lạ gì với thính giả của đài phát thanh Quốc gia, mục
Tiêu Đờn, tiếng sáo hễ vang lên trước khi một bài thi sắp được ngâm thì như là
người ta bỗng được đưa về miền quê nào có cao sơn, có lưu thủy, có gió mát
trăng thanh, có chim kêu vượn hú:
"Tiếng sáo trong như nước Ngọc Tuyền.
Êm như hơi gió thoảng cung tiên.
Cao như thông vút, buồn như liễu.
Gió lặng mây ngừng ta đứng yên."
Con người tài hoa ấy hôm nay sao lại dễ ghét lạ. Nhưng Bình không dám để tình cảm
mình chường mặt ra, cố mừng bạn rối rít.
- Anh đến chơi, hay quá, tôi đang nghĩ đến anh và rủa anh sao không tới.
- Có thật không ?
- Sao dám nghi ngờ lòng thành thật của kẻ lương thiện nầy. Chị chín ơi, cho
chén trà nóng.
Bình không mời khách sang qua ghế sa-lông ngồi mà để hắn ngồi xuống trước bàn
viết của chàng vì chàng vừa nghĩ ra một mưu mẹo rất tài để cho hắn hỏng giò, đã
không hỏi bài được lại còn bị mất một thứ của quí.
- Tôi có bằng chứng cụ thể là tôi đang mong anh: chẳng thằng bé ở nhà học sáo,
vừa mua ngoài chợ một cây nhưng không biết bọn bán sáo họ làm có đúng không, muốn
gặp anh để nhờ anh sửa chữa lại giùm nếu cây sáo ấy hỏng.
- Đâu cho xem.
Bình nhảy vào buồng rồi trở ra ngay với ống sáo rẻ tiền trên tay. Ngô-Kiều-Tân
xem qua và nói:
- Cũng được.
- Đâu anh cho nghe thử vài bản.
Ngô-Kiều-Tân dạo nầy kiêm luôn thư ký tòa soạn cho một tờ tuần báo văn nghệ. Hắn
đến để đòi cái bài mà Bình đã hứa mấy tháng nay rồi trốn biệt dạng. Chàng định
lấy sáo để đánh lấp vụ bài vở khó chịu ấy và mong khách khác đến đông đảo, vui
câu chuyện, hắn sẽ không đòi nợ được, và luôn tiện sẽ móc túi Tân một món đồ
quí giá. Nhưng Ngô-Kiều-Tân lắc đầu:
- Hôm nay đau cổ !
Bình biết hắn chỉ kiếm cớ thôi. Hắn ngấy thổi sáo như anh bán phở ngấy phở, như
chàng viết văn mà ngấy viết văn, như tài xế ngấy lái xe v. v...
- Tiếc quá, căn nhà bên cạnh có cô Như-Mai cứ ao ước được nghe chính anh, anh bằng
xương bằng thịt thổi sáo.
- Như-Mai, tên đẹp thế ?
- Người còn đẹp hơn tên nữa kia chớ và nhứt là rất mê tiếng sáo Ngô-Kiều-Tân.
- Bồ nói sao mà tôi nghe nó ngứa miệng quá. Nhưng không dại.
- Không cho người đẹp nghe, cũng cho cháu ở nhà nghe chớ ? Nó mới học sáo, mê
chú nó lắm.
Tân mỉm cười rồi đưa sáo lên miệng, không biết vì thằng bé nhỏ hay vì cô
Như-Mai, nhưng nhứt định là hắn mắc kế chàng.
Bình nhớ có bắt chợt được nụ cười hóm hỉnh và tinh quái của Tân: lúc đó chàng
không hiểu ý nghĩa của nụ cười ấy, nhưng về sau, thua trận, chàng mới biết hắn
ta thâm.
Trong khi hắn bắt đầu trổi giọng thì Bình thò tay dưới bàn, húy hoái chuẩn bị
chiếc máy ký âm, nhưng chưa thâu.
Tân thổi sáo mê ly thật. Bản "Con thuyền không bến" rủ rê cả dãy phố
bu lại trước cửa nhà Bình để thưởng thức.
Bình lén lén đưa lên mặt bàn chiếc máy vi âm che bằng một tờ giấy than đánh
máy, rồi khi Tân thổi xong, chàng khen và hỏi:
- Huyền diệu lắm ! À, nghe anh vừa sáng tác một câu rao rất độc đáo, cho nghe
câu đó có được chăng ?
Câu rao hàng đêm của Tân ở đài Phát Thanh đã bị nhiều người bắt chước được, nên
hắn nổi dóa chế ra một câu rao lạ lùng mà hắn cam đoan rằng không ai bắt chước
nổi.
Tân mỉm cười cái nụ cười hóm hỉnh khi nãy rồi bắt đầu thổi trở lên.
Bình cho máy chạy và nghĩ bụng: "Chiếc băng nhựa nầy đáng giá ngàn vàng đối
với mấy thằng toan bắt chước. Cậu đã bị vào tròng rồi cậu đồ ơi và mỗ đã cướp
được bí mật nhà nghề của cậu đồ rồi đó."
Bình nghe câu rao ấy bằng hai tai lơ đĩnh vì đinh ninh rằng chàng có băng, muốn
nghe bất cứ giờ phút nào lại không được, và nhứt là chàng bận nghĩ kế để kéo
dài buổi tấu nhạc nầy hầu xí xóa vụ đòi bài.
Nhưng Tân thổi xong câu rao ấy thì một lần nữa mỉm cười rất tinh quái rồi đứng
dậy để đi về ngay mà không thèm đòi hỏi gì cả, đưa tay bắt tay chàng mà không
thèm nhìn sơ qua mặt bàn lần nào. Hú vía ! chàng bất cẩn, đã để rơi tờ giấy
than, lòi chiếc máy vi âm ra.
Bình ngạc nhiên hết sức, tiễn khách ra cửa mà ngẩn ngơ tự hỏi sao có chuyện kỳ
lạ đến thế: hắn đến chơi thật à, chỉ đến chơi thôi à ? mà lại đi vào chiều mưa
dầm ?
Dầu sao, sự kiện cũng đã xảy ra như vậy, hắn còn nhiều thì giờ, không bị khách
khác quấy rầy mà cứ ra về như thường thì là đến chơi chớ còn gì nữa.
Bình hối hận quá và xấu hổ cho thái độ bỉ ổi của chàng quá. Bạn văn với nhau đến
chơi mà chàng không có một câu chuyện văn nghệ gì cho vui người ta, cũng không
để người ta được nói gì theo ý thích người ra, cứ quanh quẩn trong mấy hồi trống
lấp của chàng, rồi bắt người ta thổi sáo, rồi lại ăn cắp tiếng sáo của người
ta.
Chàng thề sẽ bỏ tánh đa nghi từ đây và sẽ luôn luôn nghĩ tốt cho thiên hạ.
Bình bị lương tâm cắn rứt mãi cho đến lúc kiến cắn bụng, ngồi lại bàn ăn mới
quên được tội ác của mình.
Thế là một ngày yên ổn đã qua, nhứt nhựt tại gia không xảy ra tai nạn nào đáng
kể hết.
Nhưng ngày mai lại, chàng vẫn tái bản cuộc đào ngũ thường xuyên để cho các chủ
nợ leo cây và các thư ký tòa soạn "xíu oách" chơi.
Tối lại về nhà, chàng bắt gặp một bức thư ngắn dằn trên bàn. Tuồng chữ là tuồng
chữ của con người tài hoa vừa bị chàng xử tệ.
Thư rằng:
Ê bồ !
Xin long trọng báo tin cho bồ hay rằng câu rao mà bồ đã ký âm trộm là câu rao
giả, nghĩa là mỗ chỉ thổi câu rao thường đã trình bày trên đài phát thanh từ mấy
năm nay thôi.
Lêu lêu mắc cở đấy nhé !
Tánh mỗ hay đùa bọn móc túi chơi cho vui. Có lần
mỗ xin được bóp-phơi cũ, nhét đầy vào đó giấy quảng cáo dầu cù là, bỏ bóp trong
túi quần sau rồi chen lấn lên ô-tô-buýt.
Thỉnh thoảng mỗ lại đưa tay ra sau mông để thăm chừng cái bóp no nóc ké ấy và
liếc mắt tìm bọn móc túi để sung sướng thưởng thức sự thèm thuồng của chúng.
Chúng nó theo riết mỗ như nhân viên phản gián bám sát điệp viên và đến một lúc
chộn rộn kia chúng ra tay được.
Ngoài giấy quảng cáo, trong bóp mỗ có để một bức thư lêu lêu mắc cở như thế nầy,
để vào nơi sang trọng nhứt trong cái ngăn bằng nhựa trong.
Vậy bồ có muốn được đóng hộp một câu sáo thứ thiệt thì phải nộp ngay một truyện
ngắn nội ngày hôm nay rồi mỗ tới thổi cái câu độc đáo và chánh hiệu con nai cho
mà thu vào băng.
Bằng không, hãy tạm mãn nguyện với cái câu xoàng xoàng mà bồ đã mất công ăn cắp
chiều hôm qua."
Đọc thư xong, Bình phá lên cười, chàng cười sặc sụa, lòng cay không chịu thấu.
Thì ra giữa hai người, con cáo già không phải là chàng như chàng đã đinh ninh
và tự hào gạt gẫm được một văn hữu.
Chỉ bây giờ, chàng mới hiểu được nụ cười hóm hỉnh và tinh quái của Ngô-Kiều-Tân,
chẳng hắn đã trông thấy hành vi bất chánh của chàng và tương kế tựu kế, chính hắn
đã cho chàng leo cây.
Quất ông tơ cái trót
Quất ông Tơ kêu cái trót, ổng nhẩy tót lên ngọn bần.
Bảo ổng xe mối chỉ ba bốn lần, ổng hổng chịu xe.
(Ca dao miền Nam)
Leo được hai thang lầu, cả bọn hỏi Long:
- Sao có thang máy, lại bắt tụi tôi tập thể thao như vầy ?
Long cười hề hề đáp:
- Thang máy ở đây ho lao. Một khi kia, chạy được nửa chừng thì nó ăn banh, báo
hại hai thằng ký giả bạn của tôi, thằng Mập và thằng Ốm, đứng trong buồng thang
gần rụt giò. Sốt ruột quá, chúng nó bèn nhảy qua cửa.
Quên nói rõ cho các bạn biết là thang máy ở đây gắn hồi đời Minh-Mạng, Tự-Đức
gì đó lận, nên rất cổ lổ sĩ như các bạn thấy, cửa buồng là một hàng rào song ly
sắt cao không khỏi đầu, vì thế mà chúng nó nhảy mới được, chớ thang máy tân thời,
cửa bít bùng làm sao mà nhảy.
Ấy, chúng nó nhảy qua cửa. Thằng Ốm nhẹ nên nhảy trước, thằng Mập nhảy sau và
nó mới nhảy nửa chừng thì thang máy lại chạy được. Thằng Mập suýt bị cắt đứt
làm hai đoạn, nên từ đó nó mới đồn đãi ra, trong làng chúng tôi không thằng nào
dám sử dụng thang máy ở đây nữa cả.
Khi sáu người lên tới sân thượng lộ thiên dùng làm tửu lâu thì cả bọn đều dừng
chơn ngoài hành lang để thở hổn hển.
Long rất sợ thang máy của tửu lâu Thiên-Thai nầy, và lại càng sợ phải leo thang
thường hơn. Nhưng lần nào có bạn ở tỉnh lên thủ đô thăm chàng, chàng đều đưa họ
lên ăn ở đây, như đêm nay chẳng hạn, để lấy le với họ.
Số là ở đây, chàng có quen thân với mấy cô ca sĩ và hễ các cô mà đến trò chuyện
với chàng thì bọn ở tỉnh phục lăn.
Quả đúng y như chàng tiên liệu. Họ vừa ngồi lại mỗi gã một ly huýt-ky chưa kịp
nếm thì cô Băng-Trinh đã từ chiếc bàn riêng của các cô, đặt bên hông bục nhạc,
thướt tha lướt đến bàn của họ.
- Kìa anh Long ! Chà lâu đến dữ ! Có gì lạ ?
- Có tin cô Băng-Trinh sắp lấy chồng.
- Tin vịt của báo anh. À nầy, em mới chụp bức ảnh khá lắm, xin tặng anh. Cho mượn
cây viết máy coi.
Thấy rõ cô ca sĩ cố ý đến đây chỉ để tặng ảnh vì cô ta cầm sẵn bức ảnh ấy trong
tay, chớ không phải tình cờ gặp dịp mà nhớ đến nó.
Long là tổng thơ ký tòa soạn một tờ nhựt báo lớn nên Băng-Trinh bày cái trò tặng
ảnh với hậu ý ảnh nàng được đăng báo, chỉ có thế thôi, chớ không ưa riêng gì
Long.
Cô ca sĩ húy hoáy viết rồi trao ảnh cho Long. Chàng đọc: "Thân tặng, ký
tên Băng-Trinh".
- Thân tặng ai mới được chớ ?
- Thì tặng anh chớ còn tặng ai nữa.
- Anh có tên có họ, có biệt hiệu, chớ nào phải ở đất nẻ mà chui lên đâu ?
- Ậy, nếu em để: "Thân tặng anh Long của em" thì liệu anh sẽ yên thân
với chị Long hay không chớ ?
Nghe nhắc đến vợ, Long giựt mình đánh thót một cái. Vì thế, cầm ảnh lên, chàng
khen bậy một tiếng: "Đẹp ! Đẹp ghê hồn" rồi trao cho bạn hữu, mong một
thằng ngốc trong bọn sẽ âm thầm giữ lấy cho chàng đỡ khổ.
Là một cây huýt-ky xanh dờn, Long ba ngù một lát sau đó và quên mất bức ảnh,
cũng quên tuốt cô ca sĩ nọ.
Băng-Trinh ca xong hai hiệp thì chạy rạp. Trước khi rút lui, nàng ghé qua bàn của
Long và nói nho nhỏ: "Cho lên trang nhứt anh nhé !"
Long cười hề hề, cái cười bất hủ của chàng và nhừa nhựa hứa ăn trợt:
- Em đừng lo, để đó mặc anh. Anh lăng xê em mà.
- Đẩy cây thì liệu hồn.
Long ăn uống xong với bạn hữu, đưa họ về khách sạn rồi về tuốt nhà chàng chớ
không đi chơi như đã định, vì chàng say mèm.
Sáng ra thức dậy hồi tám giờ rưỡi, chàng uống cà-phê sáng ở nhà và tới toà-soạn
hồi chín giờ. Vừa bước vào cửa nhà báo, chàng nghe nhồn nhột ở ngực, sờ lên đó
thì ngạc nhiên mà nghe trong túi sơ mi có cái gì cứng cứng như là một tấm danh
thiếp, nhưng to bản hơn nhiều.
Chàng móc món ấy ra xem thì lặng người đi rất lâu, không phải ngạc nhiên vì bức
ảnh mà bực mình vì tang vật đã nằm trong túi chàng trọn đêm rồi.
Thấy hình Băng-Trinh, chàng nhớ lại ngay tất cả mọi việc đã xảy ra trên tửu lâu
Thiên-Thai.
Thì ra mấy thằng bạn ở tỉnh thật thà không dám cướp của chàng, của nợ ấy, và
chúng nhét trả ảnh vào túi chàng lúc nào chàng không hay. "Ý a, ghê quá !
Vợ mình nó hay soát túi, soát bóp, nếu nó thấy được bức ảnh khiêu gợi nầy thì
chết với nó chớ chẳng chơi. Mà khổ, bây giờ làm sao ? Xé bỏ thì cũng tội cho
người tặng, mà cất thì chắc chắn không xong rồi. Đằng nào cũng chẳng được. Ới
hơi, thật là của nợ !"
Cất ảnh trở vào chỗ cũ, Long đi tuốt vào phòng chàng để làm việc.
*
*
*
Thằng Ốm phụ trách trang trong, nên về trước thiên hạ, lúc đồng hồ chỉ mười một
giờ. Hôm ấy trời lạnh quá nên nó mặc áo lớn. Vào tòa soạn một hơi nghe nực nó
đã cổi áo ra máng sau lưng nó.
Nó xô ghế đứng dậy, lấy áo xỏ một tay vào thì một vạt áo nặng đập vào đùi nó.
Nó nghe thấy cái gì cứng như một tấm danh thiếp, nhưng to bảng hơn, chạm vào da
thịt nó.
Ngạc nhiên hết sức, vì nó không hề dùng túi áo lớn, nó thò tay vào đó mò thử và
rút ra bức ảnh đã đi phiêu lưu suốt đêm nay.
Tần ngần, nó nhìn ảnh một lát rồi nói lớn lên:
- Mẽ, đứa nào rắn mắc, bộ muốn thắt họng tao sao chớ ?
Trong tòa soạn bấy giờ có tám mạng, mạng nào cũng tinh nghịch một cây. Nhưng
không hiểu sao, Ốm lại chỉ đích danh thủ phạm, có lẽ nhờ trực giác xui khiến:
- Anh Long à, chắc anh bỏ khăn cho tôi đây chớ gì ?
Bỏ khăn là một trò chơi của trẻ con ở thôn quê, chúng nó ngồi thành vòng tròn,
ngó mặt với nhau, một đứa chạy quanh cái vòng ấy và lén lén bỏ một cái khăn vò
tròn sau lưng một đứa. Đứa bị bỏ mà hay được thì không sao, bằng không hay thì
sẽ bị quất.
Long cười hề hề để im lặng nhận tội rồi giải thích:
- Nàng gởi cho mỗ để tặng bồ đó mà !
- Thôi đi tía, mỗ không có số đào hoa đâu. Vả lại ca sĩ mà mê ký giả nghèo là
chuyện khó tin.
Long đành phải khai sự thật:
- Nói chơi với bồ chớ nó nhờ mỗ đăng ảnh nó. Nhưng mỗ lại tìm không được cớ để
đăng. Một cô ca sĩ phải tài số dách, nổi danh ở Ba-Lê như Trần-Văn-Trạch hoặc vừa
tự tử, vừa bị tạt át-xít, nói tóm lại phải có làm cái gì giựt gân hoặc động trời,
mỗ mới đăng hình họ ở trang nhứt được, chớ khi khổng khi không, lấy lý do đâu để
mỗ đăng.
Bồ phụ trách trang trong, cứ lấy tư cách làm văn nghệ thì đăng được ngay.
Thẳng Ốm mỉm cười:
- Đệ khát nước để huynh ăn mặn hả. Bộ huynh là ông nội người ta sao ?
Thằng Mập đang có mặt, pha trò:
- Ăn mắm tôm.
Cả bọn cười rộ lên.
Thằng Ốm bước tới đặt ảnh lên bàn Long và nói:
- Trả của nợ.
- Đừng xấu bụng cha nội, vợ của cha nội không có ở chung thì cha nội cất bao
lâu cũng được, đợi dịp tốt sẽ đăng.
- Nó hối lộ tía cái gì ?
- Nó chỉ rua với mỗ trước mặt thiên hạ, thề không có ăn của đút.
- Khó tin lắm.
- Thôi mà ! Đăng nha ? Ba hiệp cà-phê Thanh-Thế nha ?
- Nhứt định không.
- Xấu lắm.
- Không có cớ để đăng.
- Thì cứ đề: "Mỗi ngày giới thiệu một nữ ca sĩ tài hoa" là xong chớ
gì.
- Đề tài cũ xì.
- Không yêu người đẹp à ?
- Người đẹp thì yêu, nhưng không yêu ảnh.
Động từ "yêu" bỗng gợi cho thằng Ốm một ý nghĩ ngộ nghĩnh. Nó lấy ảnh
lại, bỏ túi rồi làm bộ nói:
- Kỷ tố, kỷ tố mà, mậu pha mà ! 1
Thằng Ốm vừa đi vừa cười đắc chí. Nó thả xuống Kim-Sơn và gặp thi sĩ Đằng-Giao
đang ngồi uống cà-phê trên vỉa hè.
- Rua, sao dạo nầy không có thơ ?
- Tịt hứng.
Ốm mỉm cười bí mật và hỏi:
- Nếu có hứng thì ra thơ chớ ?
- Chắc chắn như vậy.
Thi sĩ Đằng-Giao không xấu trai lắm. Nhưng anh ta cố ý để tóc dài, đầu bù,
không cạo râu và mặc sơ-mi nát, cho đậm vẻ phong trần.
Và cố ý hay bản tánh tự nhiên không rõ, anh ta cứ lờ đờ, mơ màng cả ngày, không
trông thấy mọi vật, mọi việc chung quanh.
Nhờ thế mà cà rà một lát là thằng Ốm bỏ khăn cho anh ta một cách dễ dàng.
Bẳng đi ba hôm, Ốm không thấy Đằng-Giao lui tới toà soạn. Thường thì mỗi ngày hắn
tạt qua đó một lần, nói vài ba câu chuyện, đưa một bài thơ mới sáng tác, lấy tiền
nhuận bút một bài dịch hỏa tiễn để có lúi mà ăn cơm
- ừ, thơ không bán được thì phải sống bằng hỏa tiễn và bom nguyên tử vậy -.
Thằng Ốm đang sốt ruột muốn biết kết quả trò đùa của nó, và phản ứng của một
nhà thơ lơ lửng trên mây xanh, xem ra thế nào, thì bỗng thấy Đằng-Giao lù lù xuất
hiện.
Hắn tơ lơ mơ hơn bao giờ cả, đầu bù hơn, áo nát hơn ngày thường. Hắn đi thất thểu
như một cái hình nộm được tay phù thủy nào dán bùa lên cho, có xác mà không hồn.
Hắn đến trước mặt thằng Ốm, kéo ghế ngồi mà không nói gì cả.
- Có gì lạ ? Ốm hỏi.
- Anh có tin chuyện huyền hoặc không ?
Ốm giả vờ nghiêm trang đáp:
- Vài truyện Liêu-Trai có thể tin được lắm.
- Chuyện của tôi giống "Bích-Câu Kỳ-Ngộ" chớ không giống Liêu-Trai.
Ốm làm bộ mừng rỡ nói:
- Hay ! Kể nghe thử xem.
Bằng-Giao móc từ túi sơ-mi ra bức ảnh của Băng-Trinh và nói:
- Sắc nước hương trời, anh ơi !
- Quả đẹp thật. Lại thân tặng nữa ! Tặng anh, chớ gì ?
- Ai biết đâu.
- Ảnh nầy ở đâu mà
ra ?
- Cái mới bí mật. Tôi ngủ một đêm thức dậy thì thấy nó nằm trong túi sơ-mi, chiếc
sơ-mi kia, cái dơ mà tôi mặc ngủ luôn để rồi sáng thay ra để giặt. Tôi xem lại
túi coi có sót đồng bạc nào trong đó hay không thì bắt gặp giai nhơn.
- Y như là một bàn tay thần thánh nào để nó vào đó.
- Hình như thế.
- Rất có thể là trong một lúc mơ một vị hoàng tử đẹp trai, nàng đề tặng ảnh,
không biết rõ là tặng ai, vì nàng chưa yêu ai cả, nên không có tên người được tặng
rồi tung ảnh lên không trung.
- Rồi ngọn gió thần rước ảnh đi, phóng vào túi anh chớ gì.
- Nếu quả như vậy là duyên tiền định rồi, và tôi là kẻ lượm trái cầu, lúc nàng
gieo cầu.
- Rất có thể là như vậy.
Đằng-Giao rầu lòng thở dài và than:
- Bây giờ biết nàng ở đâu mà tìm. Nếu không kiếm được tung tích nàng, tôi khô
héo tâm can đi anh à !
- Để tôi điều tra xem. Các anh phóng viên là thổ công Sài-gòn thì thế nào họ
cũng biết một mỹ nhân kiều diễm vào bực nầy.
Thằng Ốm đã dặn dò cả tòa soạn, nên nãy giờ anh nào có mặt, cố mà nín. Anh nào
tức cười quá, cầm giữ không được thì chạy đi tìm chỗ trốn để cười.
Ốm chưng bức ảnh ra rồi hỏi Mập đang ngồi đối diện:
- Ai đây bồ ?
- Trời, đẹp ghê hồn ! A, cô Băng-Trinh mà !
- Băng-Trinh là ai chớ, ai lại không biết đây là ảnh cô Băng-Trinh vì chữ ký rõ
ràng lắm.
- Băng-Trinh là nữ ca sĩ ở tửu lâu Thiên-Thai và phòng trà Cống-Quỳnh.
- Vậy à ? Có chồng chưa, hay có bồ hay không ?
- Đã bảo Băng-Trinh mà còn hỏi.
Thằng Ốm day lại thấy Đằng-Giao đổi buồn ra niềm hy vọng tràn trề nơi mặt. Hắn
nói với thi sĩ:
- Được rồi, tối nay hẹn nhau tại vỉa hè Kim-Sơn, tôi đưa anh lên đó.
Bằng-Giao lo lắng nói:
- Độ rày cháy túi.
- Được mà, tôi bao cho, hề gì. Sao, hổm nay si tình có đẻ được bài nào hay
không ?
- Rất nhiều.
- Đưa xem.
- Không được, những bài thơ nầy phải nguyên trinh
Ốm cười ha hả:
- Nguyên trinh để tặng nàng Băng-Trinh ? Hay lắm !
Thi sĩ Đằng-Giao có mặt ở Kim-Sơn hồi bảy giờ. Chàng uống đến hai tách cà-phê,
một tách trà đường mà bóng thằng Ốm không thấy đâu cả.
Mãi đến chín giờ nó mới lơn tơn đến nơi. Đằng-Giao đứng dậy như có lò xo bật, đẩy
ghế kêu một cái rột và chạy lại níu thằg Ốm, quên trả tiền giải khát.
Ốm cười nói:
- Chú ba nhìn anh trân trân kia, chú sợ anh chạy mất.
Đằng-Giao vừa móc tiền ra, vừa hỏi:
- Sao đến trễ dữ vậy ?
- Tám giờ bốn mươi lăm mới có ca hát, tới sớm làm gì. Còn Băng-Trinh thì chín
giờ hơn mới tới phiên nàng,
Thằng Ốm cắn môi lại vì đã lỡ lời. Nó đã làm bộ không biết Băng-Trinh, sao lại
thạo thời
dụng biểu của nàng. Nhưng gã si tình không hề nhận thấy chỗ ấy, trở lại bàn trả
tiền rồi hai gã lên lầu do cửa tửu lâu ở cạnh đó.
Đây là lần đầu tiên mà Ðằng-Giao vào một tửu lâu có ca nhạc. Chàng thất vọng mà
thấy một đực rựa đang hát bài Méc-xi-cô.
- Bữa nay không có Băng-Trinh à ?
- Có lẽ nàng chưa đến, anh nhìn vào chỗ tối kia, bên hông bục nhạc, tìm nàng thử
xem.
Dựa lan can sân lộ thiên, thấp thoáng bóng hồng, bóng vàng, bóng xanh, bóng rằn
ri.
- Ai cũng đẹp cả, nhưng không biết có Băng-Trinh trong đó hay không, tôi chóa mắt
nhìn không ra.
- Hình như là không.
Đực rựa ca xong đi vô. Hoạt náo viên loan báo nữ ca sĩ Thu-Mai.
Khi cô nầy xuất hiện, Ốm hỏi:
- Có hấp dẫn bằng Băng-Trinh hay không ?
- Không, từ khi được ảnh nàng, tôi thấy không còn ai đẹp cả.
- Sao khi nãy lại chóa mắt ?
- Chỉ chóa vậy thôi.
- A, Băng-Trinh đây rồi, Ốm chỉ tay về phía quầy tiền mà nói thế.
Ðằng-Giao day lại rồi há miệng, trố mắt mà nhìn.
Băng-Trinh đã cao giò lại đi giày y ta lông, và tóc uốn nhô lên thành ra dáng
đi của nàng oai phuông lẫm liệt khiến Đằng-Giao khiếp vía.
Nàng mỉm cười chào người khách quen ngồi dựa đường đi của nàng mà nàng chợt thấy
rồi hất mặt bước thẳng ra sau bục nhạc có che nóc, vừng vách, giống hệt như một
đám hát hình múa rối của Triều-Châu trên vỉa hè Chợ-lớn.
- Người có bằng ảnh không ? Ốm hỏi.
Đằng-Giao day lại, buồn rầu như cũ mà rằng:
- Đẹp hơn trong ảnh nhiều lắm. Nhưng nàng sang trọng quá sức.
- Hề gì nà ! Anh là thi sĩ có tài thì còn hơn những kẻ đẹp trai thập bội. Cứ
yêu đi, rồi sẽ được lọt vào mắt xanh của nàng.
- Mắt nàng xanh thiệt đó chớ anh ?
- Ừ các nàng ưa sơn xanh lắm.
Băng-Trinh mới tới là đã ra trước máy vi âm liền ngay sau Thu-Mai.
Nàng ca bài gì mà trong đó có câu hỏi: "Anh ơi, có yêu không ?" Khi
nàng kêu gọi: "Anh ơi !" thì bọn đợt sống mới dưới nầy đáp:
"Ơi!".
- Có yêu không ?
- Có !
- Yêu ghê lắm !
- Yêu muốn chết đi lận !
Đằng-Giao bậm môi nói:
- Trời ơi, sao lại như vậy được ?
- Ca hát chớ có phải thật đâu mà anh ghen. Chính anh, cũng có thể nói yêu bao
nhiêu tùy thích của anh kia mà.
- Ai mà nói như vậy giữa đám đông cho được, kỳ quá. Yêu thì phải âm thầm chớ.
- Hay, thì anh cứ âm thầm mà yêu. Nhưng rồi cũng phải làm sao cho nàng biết là
có anh trên đời nầy chớ, nhứt là biết rằng anh tha thiết yêu nàng. Anh phải la
hét, nếu anh không có hoa để tặng nàng, không có xe để đưa nàng chạy rạp.
- Kỳ quá !
- Thì âm thầm vậy. Để lát nữa tôi mời nàng lại đây rồi giới thiệu anh nhé ?
Đằng-Giao hoảng hốt vội ngăn:
- Không, không, đừng làm như vậy. Nàng sẽ biết.
- Biết gi ?
- Biết tôi yêu nàng.
Thằng Ốm bật cười, nó cười ngả nghiêng ngả ngửa một hơi mới nói được:
- Thì chính vì để cho nàng biết thế, tôi mới...
- Không, tôi không bằng lòng anh làm như vậy đâu. Tôi yêu nàng nhưng chỉ muốn
tình cờ hai đứa gặp gỡ nhau thôi, rồi nàng cảm mến tôi.
Anh giới thiệu thì còn thơ mộng gì nữa. Vả tôi tóc tai như thế nầy, người sang
trọng làm sao cảm mến được.
- Bậy nà ! Cảm ghê chớ. Đó là cái rách nên thơ của văn nghệ sĩ mà !
- Nhưng lại không tình cờ như trong các câu chuyện tình thơ mộng. Giới thiệu,
có cái gì nhân tạo trong đó.
Một bàn trai trẻ viết giấy gởi lên Băng-Trinh và nàng ca tặng bàn ấy hài hát
"Tiễn em".
Đằng-Giao bắt chợt được trò chơi ấy, và hình như một sáng kiến vừa nẩy ra trong
trí chàng, chàng đòi về ngay.
Thằng Ốm trả tiền cái công som của nó và chai nước cam của thi sĩ rồi rút lui với
người thơ. Lúc xuống thang, Ðằng-Giao căn dặn:
- Tối mai, anh đưa tôi đến đây một lần nữa nhé.
- Rất sẵn lòng miễn là phải đẻ thơ.
- Sẽ có.
Thằng Ốm là một tay mê thơ, khuyến khích thi sĩ cho hắn làm việc thôi, chớ nó
chẳng lợi lộc gì mà đòi hỏi thơ. Thơ dở gởi về nhà báo hằng trăm bài mỗi ngày,
nếu cần đăng thì nó không thiếu thơ đâu.
Đêm sau, hai gã lại lên Thiên Thai và khi Băng-Trinh đang ca, Ðằng-Giao nhờ bồi
bàn trao lên nàng một tấm giấy.
- Yêu cầu bài hát nào đó ? Sao lai dạn ra vậy ? Thằng Ốm hỏi.
Ðằng-Giao khó chịu lắm và không đáp.
Băng-Trinh ca xong, vào buồng, tức là ra bàn riêng của các ca sĩ vì ở đây không
có buồng. Nàng nhận mảnh giấy ấy đọc rồi châu mày. Đó là một bài thơ, đề
"tặng cô Băng-Trinh với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ".
Dưới bài thơ ký tên "Một thi sĩ vô danh" và yêu cầu mỹ nhơn ngâm lên
trước máy vi âm.
Băng-Trinh đọc sơ qua bài thơ, không hiểu gì cả. Nàng lại không biết ngâm thơ
nên đành phụ lòng ông khách ẩn danh vậy. Nàng vò mảnh giấy chép thơ lại, toan vứt
bỏ vào sọt rát thì chợt thấy thằng Ốm.
Băng-Trinh mỉm cười hóm hỉnh, mở xắc ra hốt một nắm kẹo Tây mà một bạn trai đã
tặng nàng khi nãy, lúc đưa nàng tới đây, dùng giấy chép thơ để gói kẹo, rồi xâm
xâm đi lại bàn của bọn thằng Ốm và thi sĩ Đằng-Giao.
Thấy mỹ nhơn nhìn ngay vào bàn mình. Đằng-Giao hoảng sợ và khi chắc chắn là
nàng quyết tới đây, chàng toan đứng lên để chạy trốn. Nhưng đã trễ quá rồi,
nàng tiên đã xuất hiện trước mặt họ, huy hoàng màu sắc và chiếc áo cổ hở của nàng
làm cho Ðằng-Giao rụng rời.
- A, anh Ốm !
- A, người đẹp nay lại thèm chiếu cố đến Ốm đấy à ? Sung sướng thay !
- Có món quà tặng anh đây.
- Gì thế ?
- Kẹo.
- Hoan hô ! Tôi rất hảo ngọt.
- Nghĩa đen hay nghĩa trắng ?
- Nghĩa rằn ri Bi-cát-xô như áo của ai đó.
- À, Băng-Trinh có gởi tặng anh bức ảnh. Anh Long nói đã trao lại anh rồi chớ ?
- Quả có được ảnh, nhưng không biết người đẹp tặng ai. Ốm nầy có tên, có họ, có
biệt hiệu, chớ nào phải...
Thì ra Long trao nợ, lại khai tên kẻ lãnh nợ.
- Thôi đi, không sợ chị Ốm sanh giặc à ? Đích thị là tặng anh chớ còn tặng ai.
Ốm bật cười. Đó là một bức ảnh công cộng, bảo tặng ai cũng trôi cả. Sắp sửa trở
về buồng, Băng-Trinh dặn nho nhỏ: "Cho vào trang tân nhạc anh nhé !"
- Té ra anh cũng nhận được một ? Đằng-Giao hỏi.
- Tôi muốn giới thiệu anh, nhưng sợ anh giận nên thôi, thằng Ốm đánh trống lấp,
sợ Ðằng-Giao hỏi về bức ảnh tặng mà lòi chành.
Nó cố nuôi ảo mộng của chàng thi sĩ cho chàng sanh hứng để làm thơ, nên cứ
trình bày Băng-Trinh thật là trinh bạch cả xác lẫn hồn.
Đêm ấy Đằng-Giao không đòi về. Trái lại thằng Ốm nghe mỏi, muốn rút lui, mà thi
nhân cứ nằng nặc xin ngồi nán lại.
Khi Băng-Trinh hết phiên, lấy xắc để chạy rạp thì Ðằng-Giao tuyệt vọng trông thấy.
Chàng mong mỏi bài thơ của cbàng được ngâm, nhưng người đẹp đã chẳng thèm biết
đến tác phẩm mà chàng thức trọn bốn đêm để sáng tác.
Khuya lại về nhà, nằm đọc sách, thằng Ốm buồn miệng, và sực nhớ lại gói kẹo mà
Băng-Trinh đã hối lộ nó. Nó ngồi dậy vói qua ghế, thọc tay vào túi quần để móc
gói kẹo ra. Kẹo Tây ngon ghê và mỗi lần kẹo mòn, bên trong rượu tràn ra lưỡi
nó, nó thích lắm. Thành thử nó nhai chớ không ngậm nữa, gói kẹo vì thế mà hết sạch
trong nháy mắt.
Nó toan vò giấy gói để ném đi xa, làm biếng dậy vứt vào sọt rác mà bỏ bậy gần
giường thì sợ kiến bu, bỗng nó thoáng thấy tuồng chữ quen.
Mở giấy đọc thì té ra đó là bài thơ mà Ðằng-Giao đã chép để tặng giai nhơn. Thi
sĩ đã gò tuồng chữ cho thật đẹp, có vẽ hình chung quanh bài thơ nữa.
Thằng Ốm ngẩn ngơ rất lâu, ngậm ngùi thương cho số phận của không biết bao
nhiêu tác phẩm văn nghệ mà các văn nghệ sĩ dưới trần này sáng tạo chỉ vì
"Nàng" và để tặng "Nàng" nhưng "Nàng" lại không
biết thưởng thức, xem nó như rơm như rác.
Thằng Ốm đưa tay áo lên quẹt nước mắt rồi đọc bài thơ bạc số ấy mà nó tin chắc
là hay lằm. Bài thơ nhan là :
Tặng thơ
Tại sao em cứ bảo
Anh làm thơ tặng em ?
Và thơ phải đăng báo
Cho mọi người cùng xem ?
Để làm gì em nhỉ ?
Chuyện tình yêu ngây thơ
Thì đây, anh xin hứa
Ca tình yêu muôn đời.
Nhưng dấu trong tim nhỏ
Hẹn không thốt nên lời
Tình yêu là tiếng nói
Bí mật sau làn môi.
Sao em lại cứ thích
Mang chuyện chúng mình ra
Tặng nhau trên mặt báo
Cho người biết chuyện ta ?
Dầu cho mai có chết,
Dầu cho mai cô đơn,
Xin em chớ có buồn,
Vì không hề mất hết.
Những bài thơ tình ái
Của chúng mình yêu nhau
Lòng anh đầy ăm ắp
Đọc đến nghìn năm sau.
Vậy xin em đừng bảo
Anh làm thơ tặng em
Và thơ phải đăng báo
Cho mọi người cùng xem. 2
Mặc dầu tác giả của bài thơ phản đối việc phổ biến tình yêu, thằng Ốm cũng cứ
cho đăng báo thi phẩm nầy như thường. Nó bôi lời đề tặng và thêm biệt hiệu của
tác giả vào.
Bức ảnh có vận động mà không được ra mắt độc giả còn bài thơ muốn giấu lại bị
công bố lên.
Đằng-Giao, thấy bài thơ thương mến nhứt trong đời thi sĩ của chàng trên mặt
báo, hớt hơ hớt hãi chạy đến hỏi:
- Anh lấy đâu ra bài thơ nầy ?
- Có giận không ? Ốm sợ hãi hỏi lại.
- Không, tụi nó ngỡ tôi bịa, không biết tình yêu thầm lặng của tôi đâu.
- Chính nàng đã cho tôi, và yêu cầu tôi đăng.
- Vậy hả ! Trời ! Nếu thế thì...
- Thì nàng đã cảm anh rồi đó.
Đằng-Giao ngước mắt nhìn trần, rưng lệ hạnh phúc.
- Trời ! Nàng đã cảm tôi ! Làm thế nào bây giờ ?
- Thì phải ra mặt chớ còn làm thế nào nữa.
- Không. Anh nói giúp giùm cho tôi anh nhé ?
- Tôi không thạo làm mai-dong. Vả lại chuyện yêu đương phải chính đương sự hành
động mới được chớ không thể giúp.
Đằng-Giao đến tòa soạn mỗi ngày hai bận để nhỏ to năn nỉ thằng Ốm trao lời tỏ
tình của chàng với Băng-Trinh.
- Tại sao anh không làm lấy ?
- Tôi lo gặp phải trường hợp Trương-Chi thì chắc tôi phải nhảy xuống lầu tự tử
mất.
- Nếu tôi nói giúp thì rồi rốt cuộc anh cũng phải ra mặt. Không lẽ anh nhờ tôi
yêu giúp anh.
- Không cần ra mặt. Miễn nàng ừ một tiếng là đủ cho tôi lắm rồi. Tôi sẽ sung sướng
suốt đời với mối tình suông ấy, mối tình mà trong đó, nàng không hề thấy mặt
người yêu lần nào. Nàng sẽ mơ tôi như mơ vị hoàng tử đẹp trai.
Thằng Ốm nhứt quyết từ chối, nó biết rằng không thể được và Đằng-Giao chỉ nên sống
với mộng ảo thôi. Còn như mà cần tỏ tình để bị từ chối thì chính thi sĩ sẽ phải
chịu đựng tủi nhục ấy cho chàng bị xúc động nhiều hầu đẻ thêm một thi phẩm tuyệt
tác, có thể nhan là "Hậu Trương-Chi".
Đằng-Giao tức lắm, ngỡ thằng Ốm xấu bụng, toan để dành người đẹp cho nó.
Một buổi trưa kia, nghe chị hàng xóm hát ru con:
"Quất ông Tơ kêu cái trót, ổng nhảy tót lên ngọn bần, biểu ổng xe mối chỉ
ba bốn lần, ổng hổng chịu xe."
Chàng nổi nóng, dông tuốt ra Sài-gòn, quyết tìm thằng Ốm để nện cho nó vài đấm
như anh chàng si tình trong bài hát đã bạo hành với lão Tơ Hồng.
Gặp thằng Ốm vừa bước ra khỏi tiệm cà-phê Hưng-Sơn, đường Gia-Long, chàng thộp
ngực
anh ký giả gầy ấy và sừng sộ nói:
- Anh để dành cho anh à ? Vậy tặng cho anh quả đấm thôi sơn nầy rồi chia xẻ với
người yêu.
Thôi sơn chỉ là một lối nói bóng bẩy của con nhà thơ thôi, nên thằng Ốm đỡ được
quả đấm ấy, hơn thế, bắt được tay thi sĩ. Nó nói:
- Đừng có nóng. Tối nay tôi đưa lên trên ấy thì biết.
- Biết gì ?
- Biết thơ của anh được nhạc sĩ Trần-Ai phổ nhạc. Nàng hát hổm nay và được
thiên hạ hoan nghinh cùng khắp các trà thất.
Đằng-Giao sung sướng quá, nguôi giận ngay và tối đêm ấy họ kéo nhau lên
Thiên-Thai. Thằng Ốm kéo bạn lại ngồi ở một góc xa, giải khát rồi thở dài mà rằng:
- Anh tưởng tôi muốn giành nàng chắc ? Tôi làm gì mà dám yêu ca sĩ.
- Sao vậy?
- Phải đẹp trai số dách, hoặc có rất nhiều tiền. Tôi thiếu cả hai điều kiện ấy.
- Còn tôi?
- Anh ấy à ? Lát nữa sẽ biết.
Giây lát sau, hoạt náo viên giới thiệu: "Thưa quí vị, quí vị vừa thưởng thức
bản nhạc ngoại quốc "Coquin d'; Amour" do ca sĩ Việt-Ấn Kanasitabura
trình bày ; xin mời quí vị thưởng thức nhạc phẩm mới nhứt, "Tặng thơ"
do nhạc sĩ Trần-Ai phổ nhạc theo một bài thơ và nữ ca sĩ Băng-Trinh trình bày.
Đây, nữ ca sĩ Băng-Trinh."
Thì ra, rốt cuộc thơ chàng vẫn được cái miệng nhiều duyên của Băng-Trinh ngâm
- ca hay ngâm đối với chàng cũng thế thôi. Ðằng-Giao rùng mình vì cảm xúc.
Chàng cảm nghe như người ngọc tiếp nhận trực tiếp cảm nghĩ của chàng và lập lại
vì hoàn toàn đồng ý.
Nhưng thằng Ốm nói :
- Anh có chú ý đến điều gì hay không ? Họ rao tên nhạc sĩ, họ rao tên ca sĩ mà
không hề nói đến thi sĩ lần nào.
- Ờ, phải rồi, tôi quên mất điều đó. Vậy thì...
- Vậy thì nếu có một sự cảm thông thì ca sĩ cảm thông với nhạc sĩ chớ không phải
với thi sĩ. Nhưng chính anh là nguồn gợi hứng.
- Trời ơi ! Nàng có cảm tôi hay không, tôi không còn dám tin nữa.
- Nàng cảm người viết nhạc, nhưng anh đừng lo. Nàng không yêu nhạc sĩ Trần-Ai
đâu, mặc dầu hắn rất đẹp trai.
Ðằng-Giao mừng rỡ muốn hỏi : "Nghĩa là nàng vẫn cứ còn Băng-Trinh, chưa
yêu ai cả phải không ?" nhưng không dám hỏi, sợ phải nghe thằng Ốm đính
chánh thì chàng sẽ đau biết bao nhiêu.
Đêm nay Băng-Trinh ca có một hiệp thôi rồi chạy rạp. Nói cho đúng ra, nàng về
nhà. Nàng không cần ca hát cho lắm, chỉ lai rai cho có mặt để giữ tiếng thôi.
Một thanh niên rất sang lên tới nơi vừa đúng lúc để đón người đẹp mà Đằng-Giao
mơ ước hai tháng nay.
Chàng rụng rời nghe cả tòa nhà lầu nầy như sụp đổ dưới chơn chàng, và cố giữ lắm
không thôi đã gục mặt lên bàn mà khóc. Mồ hôi nhỏ giọt, chàng hổn hển hỏi thằng
Ốm :
- Nhạc sĩ Trần-Ái đó phải không ?
- Không. Cái đẹp trai của Trần-Ai và thơ hay của anh, không thể ăn được, mà
nàng cần sống. Đó là một nhà xuất nhập cảng.
- Trời ơi ! Sống ! Nhưng nàng có công ăn việc làm.
- Sống nào phải ăn cơm không mà thôi đâu. Đời bây giờ, món gì cũng mắc tiền. Tủ
lạnh mắc tiền, nhà lầu còn mắc hơn, và cố nhiên tình yêu cũng phải mắc.
- Trời ơi !
- Có lẽ nàng yêu Trần-Ai, yêu trong tinh thần thôi nhưng mà nàng phải sống với
nhà nhập cảng.
- Còn tôi ?
- Anh ? Anh sẽ vĩ đại vì số phận hẩm hiu của anh. Ba trăm năm sau, sẽ có những
thiếu nữ học trò đọc thơ anh rồi rơi lệ thầm. Và các cô ấy lại yêu những cậu đẹp
trai số dách hay nhiều tiền số dách.
Số phận của thi nhơn là yêu giùm cho người khác. Họ không biết yêu mà chỉ biết
vật chất
thôi. Thi nhơn thiếu vật chất thì cố mà yêu giùm họ vậy.
Ðằng Giao mặt hầm hầm muốn tống vào ngực thằng Ốm một thoi vì chính nó đã gây sự
cho chàng phải đau khổ và bây giờ nó lại trắng trợn trình bày phận hẩm của
chàng.
Trên bục nhạc, hoạt náo viên lại giới thiệu: "Đấy, nữ ca sĩ Lan-Thiên
!"
Thình lình Ðằng-Giao hỏi:
- Cái cô Lan-Thiên nầy, cô ấy có băng trinh như nàng thơ của tôi hay không?
Rồi chàng cười dài, khiến thằng Ốm nghe ghê rợn cả người. Nó trả tiền rồi kéo Ðằng-Giao
xuống lầu, vừa đi nó vừa an ủi:
- Thôi anh à, mỗi người một việc, mỗi kẻ một lạc thú. Họ hưởng con gái, còn
anh, anh yêu mê man một người đẹp vô hình, và nhờ không bao giờ được, nên anh
yêu cho tới bạc đầu, anh sẽ trẻ mãi trong khi lũ nó chán nản và già xụm đi.
Ai hơn ai thua?
Thằng Ốm nói đúng, nhưng ngẫm ra thật mỉa mai, khiến Ðằng-Giao tức giận hết sức.
Nhà thơ thất tình giương oai nện lên lưng nó một cái như trời giáng rồi nói:
- Thót lên ngọn bần cho rảnh mắt tao!
Chú thích:
|
1. |
Bao nhiêu cũng được, không sợ đâu (Thổ ngữ Quảng Đông). |
|
2. |
Thơ chưa in lần nào của D.ng.L., chỉ mượn để viết thành truyện này thôi, D.ng.L. không phải là người trong truyện. |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét