Tâm trạng Hồng 2
Mỗi người còn một xấp áp-phích dầy, nhưng họ đã mệt và khát lắm.
Mấy thuở mà đồng nghiệp gặp nhau, nên họ đồng lòng đình việc dán giấy lên tường,
kéo nhau vào tiệm nước.
Trời còn nắng chang chang, thế mà dân Sài-gòn đã bắt đầu đi ra ngoài rồi.
Từng cặp, rồi từng cặp, họ đi từ đâu không biết, để đến những nơi giải trí khác
nhau tùy theo sở thích của họ.
Bỗng anh Nhẫn chỉ tay ra đường nói:
- Coi kìa !
Cả ba đều dòm ra, nhìn theo hướng ngón tay anh chỉ.
Một người đàn ông độ trên ba mươi, đẹp trai và còn trẻ lắm đối với tuổi tác khó
giấu được lộ ra trên gương mặt của ông ta, đang khoát tay một người đàn bà độ bốn
mươi, đen đúa, mặt rổ sâu, mắt lé, răng hô trếch ra.
- Rõ là xứng đôi !
- À, cái thằng cha nầy tôi biết mà; anh Búp khoe. Va mới cưới vợ. Cái người đàn
bà... chắc đó là vợ mới cưới của va đa.
Rồi Búp kể: "Anh ta từ thuở giờ sống độc thân, vì kén vợ lắm. Anh ta có chỗ
làm, lương cũng khá nhưng lại không nhà ở. Đậu bạc với người nầy đã rồi với người
khác, cực quá, thét rồi anh ta quyết định cưới vợ, cưới một người vợ có nhà.
Con gái đẹp thì cô nào cũng ở bám theo cha mẹ hết. Chạy cả năm mà không ra một
bà vợ có nhà riêng. Tháng rồi anh ta đau, cái ông bạn cho ở đậu đó, hất hủi anh
ta thế nào mà anh ta tức mình cưới ngay con mẹ đàn bà góa nầy vì chị ta có một
căn phố khá đẹp."
Búp thêm: "Thật là nạn khan nhà đã gây nhiều tấn kịch đau đớn và buồn cười."
Anh Khê, nãy giờ làm thinh, vụt cười ha hả:
- Anh là nhà quê mới ra chợ, thấy cái gì cũng khen là đẹp. Câu chuyện xoàng như
vậy mà anh cho là tấn kịch buồn cười à ? Anh hãy nghe chuyện sau đây, rồi anh
thấy chuyện anh là chuyện xảy ta ngày một.
Uống rốc ly cà-phê đá, Khê lại châm một điếu thuốc:
"Tôi nói điều nầy, mấy anh tin hay không, mặc mấy anh. Nhưng tôi phải nói,
không phải để khoe, mà để cho đầy đủ câu chuyện.
"Tôi trước kia là dân thầy đấy."
Búp và Nhẫn đều ngước lên một lượt, nhìn lại gương mặt anh Khê dán áp-phích,
coi còn mang dấu vết nào của hạng dân thầy chăng.
Khê tiếp:
"Trước tôi làm ở hãng S...Vợ chồng tôi ở đậu với bà phán Trọng, ỏ đường
G., người đồng hương. Vô tiền nước năm ngàn, vợ chồng tôi ở buồng ngoài.
"Bà phán không con, chúng tôi chỉ có hai vợ chồng nên cũng dễ chịu. Phố rộng,
tương đối chứa ít người, con tôi lại ngoan, nên chúng tôi sống thật êm thắm
trong ba năm trời.
"Bà phán không lấy gì làm khá, nên bày ra làm bánh đếm cho các quán, các
tiệm cà-phê.
"Ban đầu làm ít, sau mối nhiều quá bà phải kêu ba bốn tay phụ mới xong
công việc.
"Năm đó bà bịnh dây dưa hai ba tháng, nên lại phải kêu một cô thợ làm
bánh, thế cho bà, điều khiển các tay phụ kia.
"Cô tư Tâm nầy là một người thợ giỏi, lại tánh tình thùy mị, ngay thật,
nên nội nhà ai cũng mến và nể cô.
"Cuộc sống cứ êm đềm như vậy mà trôi chảy cho đến tháng sáu năm đó thì cô
sáu Trà, em út của bà phán, ở đâu đến.
"Theo chỗ chúng tôi biết thì cô ta có chồng dưới tỉnh. Vợ chồng cô, vì lẽ
gì không rõ, đều lên hết trên Sài-gòn. Cô đi thăm chị để kiếm chỗ ăn ở cho vợ
chồng cô.
"Một hôm, vợ chồng tôi nằm ngủ trưa thì tôi nghe trong buồng, cô sáu nói
nho nhỏ vói bà phán: "Hay là chị đuổi vợ chồng thầy Khê đi, cho vợ chồng
em mướn phía trước ?".
"Bà phán đáp: "Người ta tử tể quá, tôi đuổi sao cho đành. Vả lại pháp
luật cũng chẳng cho đuổi ngang như vậy."
"Tôi không lo lắng gì hết; quả thật bà phán không thể đuổi tôi, dầu cho bà
có muốn ở xấu với tôi đi nữa.
"Một đêm kia, lúc nội nhà đang an giấc thì tiếng la bài hãi trong buồng
trong, đánh thức tôi dậy.
"Đó là tiếng của cô tư Tâm. Tôi muốn kiếm hộp quẹt. Tức quá, các thức cần
dùng sao mà biến đi đâu mất khi mình kiếm nó. Mò mãi mà không thấy bao diêm,
tôi quờ quạng đi vào buồng.
"Cô Tâm ngủ trên chiếc ghế bố gần công-tắc đèn điện. Trong nhà bao nhiêu
miệng đều hỏi: "Gì đó, gì vậy ?" mà không ai chịu vặn đèn.
"Tôi làm thinh, mò lại công-tắc, vặn cái cắc.
"Đây là cảnh tượng trong buồng:
"Cô Tâm đã ngồi dậy, tóc rối nùi, mặt bơ phờ. Bà phán và cô sáu đều chơn
trên, chơn dưới tại giường họ.
"Tất cả đều nhìn tôi, khi ánh đèn soi sáng gian phòng.
- Cái gì đó Tư ? bà phán hỏi.
- Thưa bà, ai mò tôi... Đàn ông, tôi chắc như vậy, vì tôi chụp đầu nó, đụng tóc
thì biết.
"Bấy giờ vợ tôi đã theo vô.
"Cô sáu hỏi: "Trong nhà có tôi tớ đàn ông con trai không ?"
- Không. Bà phán đáp. Rồi tất cả lại nhìn tôi. Giây lâu, bà phán thở ra.
- Tôi không nghi quấy cho ai hết. Nhưng nội nhà chỉ có thầy là đàn ông. Khi đèn
cháy, thầy lại ở ngay đầu ghế bố của con Tư. Vậy, cô Ba (chỉ vợ tôi) hãy xét lấy
mà xử giùm.
"Trời ơi, thế tôi là thủ phạm à ? Tôi thừ ra, bủn rủn tay chơn, không còn
biết đâu mà cãi nữa.
"Vợ tôi cũng ngây người như bị một vố mạnh vào thần kinh hệ.
"Nó lôi bừa tôi ra đằng trước, và suốt đêm đó, lẽ tự nhiên là tôi bị tụng
không sao ngủ được.
"Cô tư Tâm là bạn của nó thì tôi làm như vầy nó còn mặt mũi nào ngó cô ta
nữa. Nên chi sáng ngày nó quyết định dọn đi.
- Mà anh... có hay là không ?
- Nếu có thì tôi thuật ra đây làm gì.
- Thế sao anh không cãi, ít ra với vợ anh ?
- Khổ quá ! Trong nhà quả không có đàn ông trừ tôi ra, mà cô Tâm lại là người
ăn chắc nói chắc, dầu không có, tôi cũng đến phải tưởng là có, có trong lúc tôi
ngủ mê, bị chứng thụy du. Tưởng như vậy vì thực ra, trong thâm tâm, tôi cũng...
muốn cô Tâm. Biết đâu, trong lúc ngủ mê... Cả ba đều cười ầm lên.
"Vợ. chồng tôi lang thang mấy ngày trên vỉa hè, mới tìm được một căn phố
lá.
"Lẽ tự nhiên trong mấy ngày đó tôi rầu đến quên tới sở, nên bị đuổi, thất
nghiệp, đói khát hàng tháng mới kiếm được chỗ dán áp-phích nầy.
- Nhưng câu chuyện anh vừa kể dính dáng thế nào tới vụ khan nhà ? Búp hỏi như vậy.
Khê không kịp đáp vì Nhẫn tiếp theo câu sau đây:
- Nỗi oan cua anh thật to bằng oan Thị-Kính. Và anh cũng giống Thị-Kính ở chỗ
lì đầu mà chịu chớ không tự tử. Tôi thì tôi đã...
- Ai dại gì chết bậy như thế. Vả lại tôi được một nguồn an ủi thật là dịu dàng
do cái oan ấy ban cho. Nên tôi yêu đời hơn bao giờ hết. Để rồi tôi kể tiếp các
anh nghe. Còn đây là chỗ dính dáng đến vụ khan nhà.
Hai tháng sau, một hôm thình lình tôi gặp cô tư Tâm.
Tôi còn đang do dự không biết nên dừng chơn lại nện cho cô ta môt trận nên
thân, hay nên lánh mặt vì đã xuống chơn quá trong nghề mới nầy thì cô hối hả chạy
lại:
- Trời ơi ! Thầy ba. Mấy tháng nay em kiếm thầy hết sức mà không được. Nói có bấy
nhiêu rồi cô òa lên khóc.
Cái gương mặt dễ thương kia mà khóc thì nó lại càng dễ thương biết bao. Nên chi
tôi không giận cô được nữa. Mặc dầu vậy, tôi cũng mỉa mai:
- Cô kiếm tôi đặng phao vu điều gì nữa đó ?
- Tôi nghiệp em lắm thầy ba ôi ! Thầy mà biết được ẩn tình bên trong, em chắc
thầy sẽ tha thứ cho em, cô Tư nói thế mà đôi mắt van lơn cầu khẩn nài xin một sự
khoan hồng rồi phân trần:
- Số là cô sáu Trà cổ xin với bà chủ đuổi thầy với cô đi cho vợ chồng cổ ở. Bà
chủ không biết tìm cớ gì để mà đuổi thầy cô nên cô sáu Trà mới bày ra mưu phao
vu cho thầy như vậy và bắt tôi thủ vai nạn nhơn giả.
Tôi phản đối, họ đòi đuổi tôi, và vì chén cơm mà tôi phải bất nhơn.
"Nghe qua, tôi nhõm người. Thì ra nỗi oan của tôi đã có người giải cho mà
người đó chính là người vu oan cho tôi.
"Cho hay con người xấu xa cũng tại chén cơm mà ra. Cái cô Tư đẹp đẽ nầy chỉ
diễn trò mà thôi. Còn chán vạn cô Tư khác, vì chén cơm, dám làm nhiều điều nhơ
nhớp hơn.
"Tôi không khinh cô Tâm nữa. Trái lại, tôi còn thương hại cô ta, tìm lời
an ủi cô. Tôi an ủi giỏi đến thế nào không biết mà ngày hôm đó, chúng tôi yêu
nhau.
- Thế là lại được an ủi trở lại, cho bỏ cái xấu hổ trước kia ?
- Chính thế.
- Bây giờ chị đã biết sự thật chưa ?
- Làm sao biết được. Tôi đâu còn dám cho cô Tâm gặp mặt nó để nói sự thật ra. Sợ
e đổ tùm lum cái sự thật thứ nhì bỏ mẹ.
Vì thế lâu lâu vợ tôi nó lại véo tôi, nhắc chuyện cũ mà cằn nhằn. Tôi chỉ cười
hóm hỉnh, vẻ mặt bí mật lạ lùng.
Nó tức giận quát:
- Hứ ! Cái thứ đàn ông gì mà cố lì, như vậy mà còn cười được.
Chồng Nam vợ Bắc 1
Không phải là một thành ngữ sáo để chỉ chồng một nơi vợ một
ngã đâu. Đây là một cặp vợ chồng người Việt, vợ gốc miền Bắc, chồng người miền
Nam.
Đó là vợ chồng của anh La.
Tôi được quen anh La, hồi đi chơi Hà-nội, đâu năm 1937 thì phải. Lúc ấy anh La
học trường thuốc, mà không nổi danh về y thuật, lại có tiếng về "đập trống".
Cái thú đi hát cô đầu là trò tiêu khiển đặc biệt của người Việt miền Bắc. Thế
mà anh La đánh trống ngọt hơn cả các công tử ở Hà-thành.
Mấy năm sau, một khi kia, bị sốt rét nặng, tôi vào nằm điều trị ở nhà thương C.
thì gặp lại bác sĩ La.
Bấy giờ bác sĩ nghiêm trang lắm, chớ không còn là một sinh viên bạt mạng nữa.
Một hôm, rất lâu sau giờ khám bịnh, mấy thầy khán hộ xầm xì với nhau và trao đổi
nhau những nụ cười hóm hỉnh.
Tôi cũng không để ý mấy về thái độ của họ. Nhưng một thầy chừng như xong công
việc, và đang buồn đợi giờ về, xề lại giường tôi mà trò chuyện.
Đó cũng là một việc thường. Không thường là hôm nay, thầy ta không nói đến việc
tiêm thuốc, chuyện ma trong nhà thương nữa, mà lại đột ngột khởi sự bằng một
câu:
- Đờn bà miền Bắc thật là quá sá, thấy mà phát ớn.
Rồi thầy kể:
"Hồi nãy bác sĩ La đang ngồi ở phòng viết thì có người chạy giấy cho hay rằng
một người đờn bà muốn vào viếng bác sĩ. Một người đờn bà miền Bắc, người chạy
giấy thêm như vậy.
Nghe hai tiếng miền Bắc, bác sĩ tỏ vẻ lo ngại lắm, và biểu anh chạy giấy ra nói
mình bận khám bịnh, không thể tiếp khách tại nhà thương được.
Anh chạy giấy ra giây lát thì nghe ngoài cửa có tiếng đàn bà cự nự om sòm. Nghe
rõ giọng nói, bác sĩ sợ hãi rõ rệt. Ông ta hé cửa sổ dòm, thì bị người đàn bà ấy
thấy kịp. Cô ta chạy lại mở toát cửa ra, nhảy đại vào phòng. Không nghe tiếng
súng lục, chỉ nghe một tràng dài những lời trách móc người "tình nhân tệ bạc,
bỏ tôi cô đơn lại Hà-nội, trốn về Nam mà không cho địa chỉ"
- Cô ta có đẹp không ? Tôi hỏi.
- Cái đó thì khỏi hỏi. Nhưng mà gớm. Cái con người đẹp đẽ thế, nhưng sao khi giận
lại dữ tợn như... như gì cà ! Ừ như sư tử Hà-Đông. Chắc cô nầy gốc ở Hà-Đông.
Chúng tôi cũng có nghe bác sĩ nói, mà nói ít thôi, và rất nhỏ, giọng van lơn, cầu
khẩn.
Một lát sau, cô ta dịu lại, hai người nói gì với nhau lâu lắm rồi nghe xô ghế,
nghe tiếng bước của hai người đi ra cửa. Cửa mở, tiếng dép bước ra, tiếng đàn
bà nói vói lại:
- Em trọ tại phòng ngủ Động-Đào số 18. Chiều nay anh ghé nhé !
Người khán hộ kết luận:
- Băng ngàn lướt dặm mà tìm cho ra người tình, thât là trên đời số dách.
- Thầy nói chi cho lớn lối. Lên tàu suốt (lúc ấy có xe tốc hành Sài-gòn - Hà-nội
) ngồi trên đó bốn mươi tám tiếng đồng hồ thì tới nơi chớ khó khăn gì.
Tôi cãi với thầy khán hộ như vậy, và tiếp tục không tin rằng người đàn bà ấy
"quá sá".
Nhưng những chuyện xảy ra sau nầy khiến tôi đổi hẳn ý kiến trước.
Hai hôm sau, vẫn do mấy thầy khán hộ kể, cô ấy lại trở lại. Lần nầy thì nghe vỗ
bàn rầm rầm và nghe nào là: "Anh quyết bỏ em thật à ?" Nào là: "Ố!
Giời đất quỉ thần ơi, nhìn xuống mà xem kẻ bạc tình, bạc nghĩa." Nào là:
"Được, bà đã có cách, rồi mầy sẽ xem bà."
Cái cô từ "em" lên đến "bà" ấy ngày mai lại trở lai. Có lẽ
đêm đó cô ta đã tìm ra đươc cái "cách" và sáng lại đem đến cho bác sĩ
"xem bà".
Lần nầy thì nghe gì mà: "Đừng chớ ! Rách áo người ta". "Tôi kêu
đội xếp bây giờ. Lon-ton đâu, tống cổ nó ra."
Lần nầy bác sĩ lớn giọng và la lên những câu trên đây.
Hai ngày sau, không thấy bác sĩ đến nữa. Một bác sĩ người Pháp khám bịnh cho
tôi. Tôi hỏi mấy thầy khán hộ, thì mới hay bác sĩ La đã xin thôi.
Tôi thở ra, thương hại con người đã chạy hai ngàn cây số để trốn mà không khỏi,
lại đến phải bỏ sở.
Mấy tháng sau, tôi nghe bác sĩ La lên làm trên sở cao su Mi-mốt. Người cho tôi
hay tin nầy lại dặn: "Anh nên kín miệng nhé, hình như ông ta muốn trốn ai
đó."
Thì còn ai nữa chớ, tôi nghĩ bụng và yên lòng giùm cho ông ta, vì một cô đầu
Hà-nội khó lòng mà tìm lên chốn rừng xanh đất đỏ."
Tôi quên chuyện trên đây lâu lắm, đâu cũng hai năm rồi. Mà nhớ làm gì chớ, cái
chuyện xoàng như vậy, ta thấy hoài.
Bỗng hôm đó tôi gặp bác sĩ, đi với một người đàn bà đẹp tuyệt trần, trên một
con phố Sài-gòn.
Trông người vợ đi với
chồng cũng không khác gì một cô nào đó đi với tình nhơn, nhưng không hiểu sao,
tôi lại cứ đinh ninh rằng, bác sĩ đi với vợ.
Trong bụng tôi mừng thầm rằng từ đây bác sĩ đã có "kỳ đà", chắc cái
cô đầu kia không dám níu kéo nữa.
Tôi xăm xăm đi lại cho đụng đầu.
- Kìa anh !
Chúng tôi đã quen nhau nhiều cho đến kêu nhau bằng anh.
La kêu xong câu nầy rồi day lại giới thiệu:
- Nhà tôi... anh Tố, bạn thân. Tôi ngã đầu chào.
- Chào chị La.
- Anh Tố à ? Chị La hỏi. Sao lâu nay không nghe mình nói đến.
Tôi kinh ngạc đến cực điểm. Cái chị La ấy nói tiếng Việt giọng miền Bắc. Hay
là... tôi nghĩ bụng.
Chừng như đoán được ý tôi, La xin lỗi vợ rồi kéo tôi đi ra xa.
- Chính cái cô đầu la lối trong nhà thương độ nọ mà anh đã biết.
- Anh không trốn nữa à ?
- Nước non eo hẹp quá mà anh tính, trốn đi đâu cho khỏi chớ.
Tôi lặng thinh, ái ngại.
La hiểu tôi, tiếp:
- Anh đừng lo. Thế mà tôi đã tìm thấy hạnh phúc đấy. Tôi nói nhỏ với anh câu nầy
nhé: Ngưòi đàn bà Việt ở miền Bắc dữ tợn gớm lắm. Nhưng mà biết yêu thì không
ai bằng. Thế thì tôi còn mong gì hơn nữa phải không anh ?
--------------------------------
|
Câu chuyện xảy ra trước chiến tranh |
Cậu Hai cứu tinh
Thầy Cai Tổng Giáp giận đỏ mặt vỗ bàn hét :
- Nó cả gan dữ vậy hè ?
Tên trùm giả hoảng sợ như chính nó đang bị quở, khép nép lại còn nhỏ xíu, và bẩm
càng nhỏ xíu hơn :
- Bẩm thầy, ổng nói trả như vậy ức ổng lắm.
- Thì năm nào cũng trả như vậy, sao năm nay nó lại kêu oan kêu ức, ai xúi nó
đó, mầy có biết không ?
- Bẩm không.
- Mầy chạy đi kêu nó lên đây cho tao biểu.
Tên trùm giả dạ to, rồi dông lẹ ra khỏi nhà.
Nửa giờ sau, ông bang Duỳnh, người Phước-Kiến, chủ một tiệm tạp hóa lớn tại chợ
Lạc
- Thiên, ăn mặc chỉnh tề, bước vào nhà thầy Cai-tổng Giáp.
- Hà bẩm thầy lớ !
- À, ông bang. Ngồi chơi. Trẻ bây a, pha nước cho ông bang uống coi... Nầy ông
bang...
- Dạ...
- Thằng trùm giả của tôi nó nói cái gì mà lạ quá. Nó nói ông từ chối không chịu
lấy đồ như mọi năm. Có thật như vậy hay không ?
- Bẩm thầy, có, mà không có.
- Sao lại có mà không có ?
- Dạ, cái lầy thầy trả như vậy ức cho ngóa quá mà.
- Ức làm sao ?
- Bẩm thầy, liệu chát, liệu cỏ-nhác, liệu xâm-banh, ngoá bán tược, còn liệu
Huýt-ky, Vóc-ka, ngóa bán cho ai bây giờ ?
Thầy Cai Tổng cười ha hả :
- Mọi năm, làng xóm, dân tình họ chỉ mua rượu của ông mà đi Tết cho tôi. Năm
nay họ làm bảnh đi Sài-gòn mua rượu lạ, nên mới có hai thứ kia. Mà ông lo gì
bán cho ai. Cứ để đó đợi năm tới, họ mua đi Tết cho tôi nữa, rồi ra giêng, tôi
lại trả cho ông mà lấy tiền như thường.
- Cái lầy khó quá mà thầy Cai, liệu để lâu hư chớ.
- Hư gì mà hư. Ông nhà quê lắm, rượu để lâu chừng nào còn quí chừng nấy, ở bên
Tây, người ta-còn in cái năm sản xuất trên nhãn rượu nữa là khác, hễ rượu nào
lâu năm thì mắc tiền.
- Phải rồi, mà đó là liệu chát, với liệu cỏ-nhác mà. Còn liệu huýt-ky với liệu
Vóc-ka lạ quá, mình hỏng biết để lâu có được hay không.
- Mà cần gì được hay không được. Có ai uống ở đâu mà cần đậy nút kỹ lưỡng, họ cứ
mua mà đi Tết cho tôi, tôi cứ nhận rồi trả lại ông, như vậy cho tới 400 năm nữa
cũng không sao.
- Hà, thôi ngoá lấy liệu cho thầy Cai còn thuốc thơm Hoa-kỳ thì thôi xin thầy
Cai tha cho ngoá.
- Sao lại không lấy thuốc thơm. Ông không nghĩ tình tôi chớ nhờ tôi mà ông làm
ăn được. Nội cái rượu và bánh hộp đó mà ông lời không biết bao nhiêu mà nói. Chỉ
trữ độ 100 chai rượu Tây, mà cứ bán đi bán lại mãi cho họ, rồi mua lại của tôi
rồi bán lại cho họ, như vậy một chai rượu ông lời bạc trăm rồi còn muốn gì nữa.
- Dạ, ngoá cũng biết ơn thầy giúp ngóa buôn hán. Mà cái việc lấy liệu lại đi, lấy
liệu lại nầy là ngoá giúp thầy mà.
- Ông giúp tôi à ? Trời ơi chú giúp tôi chỗ nào đâu ?
- Hà, ngoá không mua lại thì thầy phải uống. Họ cũng phải mua của ngoá nữa.
- Ông dại lắm mà làm ông bang cái gì. Nè nếu ông lấy của tôi, thì khỏi tốn tiền
xe, tiền chở.
Nếu ông đi tỉnh mà mua cái khác để bán cho họ thì tốn tiền lộ phí có biết không
?
- Chút lểnh mà. Ngoá không chở liệu, chở bánh thì chở cái khác, cũng phải mướn
xe vậy mà.
- Thật là quá lắm. Thôi thì ông giúp tôi. Được rồi. Nhưng thuốc thơm sao lại
không giúp ?
Bang Duỳnh bấy giờ mới đặt gói lên bàn, mở ra. Độ vài mươi gói thuốc thơm ngoại
quốc đủ hiệu bốc mùi lên nồng nực. Bang Duỳnh cầm một gói thuốc lên mà rằng:
- Cái lầy tể tới năm tới hỏng tược mà. Thuốc hút để lâu nó có sâu mà.
- Thì chú hút vậy.
- Cái lầy ngóa hút thuốc Tàu mà, ngóa hút ống tiếu pình lớ...
- À, ông không chịu giúp tôi, thì thôi, cái vụ trữ đồ sắt đó tôi cũng hổng giúp
ông.
Bang Duỳnh gải đầu trọc lóc, cúi mặt xuống mà lẩm bẩm:
- Khó quá, thiệt khó mà.
Lúc ấy một thanh niên mặc âu phục thể thao bước vào.
Thầy Cai Tổng nói nhỏ mà có vẻ bối rối, vội vã :
- Gói lại, gói thuốc mau lên.
Bang Duỳnh ngơ ngác không hiểu gì nên chỉ ngồi yên.
Bỗng trong giây phút, chú ta chợt hiểu, bèn mở banh gói thuốc ra, cố ý đụng cho
rớt xuống đất vài gói.
Người thanh niên bước tới hỏi :
- Ông Bang đem bán gì cho ba tôi đó ?
Bang Duỳnh cười hì hì :
- Hổng phải páng mà, mô mà. Cái lầy Thầy Cai páng ngoá mô mà, páng dẻ lắm mà !
Cái lầy ở Sài-gòn páng hai chục một gói, Thầy Cai chỉ páng cho ngóa mười tồng một
gói thôi.
Chàng thanh niên cúi xuống lượm thuốc lên :
- Phi-líp, trời ơi, thứ nầy tôi ưa lắm. Sao ba bán làm chi ba. Để con hút cho.
Thầy Cai Tổng Giáp thở ra, vẻ nhẫn nại:
- Thì mầy hút, lấy mà hút. Tao cứ tưởng mầy không ưa.
Bang Duỳnh mặt tươi hẳn lên, cười khà khà và nói :
- Phải mà, cái lầy cậu Hai hút thuốc thơm coi sang quá mà ! Cám ơn nhé, cậu Hai
nhé, ngóa cám ơn cậu Hai quá mà...
Thầy Cai Tổng Giáp bậm môi tái mặt đi.
Truyện nầy xảy ra trước chiến tranh. Nói rõ thế để khỏi mích lòng người thời
nay.
Đôi bông tai mất cấp
Xế ngày chúa nhựt. Ông phủ Ba đang nằm đọc báo trên ghế bỗng
nghe bà phủ kêu rầm lên trong buồng:
- Con Tư, thằng Hài, con Tiết từ nãy đến giờ đứa nào vô trong buồng nầy ?
- Bẩm bà, chúng con không có đứa nào vô đó hết.
- Vậy chớ ai vào đây ? Bây nói láo thì chết bây; thế nào cũng có một đứa vào
đây.
- Bẩm bà, quả thật không.
- Hừ, rồi bây sẽ biết.
Vứt tờ báo, ông phủ bước vào buồng.
- Cái gì đó bà ?
Bà phủ giựt mình, bối rối lên, nhưng chắc ông phủ đã nghe rõ mọi việc nên đành
phải nói thật.
- Đôi bông tai hột xoàn, tôi đi tắm, cổi ra để trên bệ cửa sổ hồi nãy, bây giờ
không còn đó nữa.
- Bà coi nơi khác, chắc là quên đâu đó chớ gì.
- Tôi già, nhưng chưa lẫn lụ. Tôi nhớ chắc chắn là để trên bệ cửa sổ.
- Khổ quá, nhà tôi tớ đông đảo, tôi đã căn dặn bà nên cẩn thận, đừng xui giục
lòng tham của ai hết mà bà không nghe cho.
- Ai cho chúng nó vào đây. Vả lại giữ của mãi cũng khổ thân quá.
- Chẳng hơn là bây giờ đây mất của ? Chỉ có một đứa ăn cắp mà thôi, hễ đi thưa
ra thì cả bọn bốn năm đứa bị bắt hết, vì mình không biết đứa nào mà khai thì có
phải tội nghiệp mấy đứa kia không.
- Tội nghiệp, tội nghiệp ! Tôi cũng biết thương người. Nhưng không lẽ bỏ qua.
- Không có chuyện bỏ qua. Nhưng tôi nói để trách bà không cẩn thận mà để lụy
cho nhiều người.
- Thành ra lỗi tại tôi ?
- Không, bà mau hờn quá. Nhưng mà, nếu bà cẩn thận một chút thì...
- May là mới mất có một đôi bông mà ông còn hài tội tôi như vậy, nếu nhiều
thì...
- Một đôi bông cũng đã nhiều lắm rồi. Bà phải biết, tôi làm quan thanh liêm thì
môt đôi bông hột xoàn năm ly là cả một sự nghiệp rồi đó.
- Trời ơi ! Thành ra tôi là kẻ phá sự nghiệp của ông.
Nói câu nầy, bà Phủ khóc rống lên. Bà tấm tức tấm tưởi mà kể: "Thuở nhỏ
tôi ở với cha mẹ tôi, làm hư hại cũng nhiều mà chưa hề bị nặng nhẹ như với ông
ngày nay."
Ông Phủ dỗ ngọt:
- Thì nào tôi có nặng nhẹ gì bà đâu. Tôi nói cho ra lẽ vậy mà...
Bà Phủ gạt ngang:
- Thôi, tôi biết rồi, ông đã hết tình hết nghĩa với tôi rồi. Ngày ông mới cưới
tôi, có đâu như vầy, của bằng mười cái nầy mà ông còn xem không ra gì !
- Bà nói lạ, hồi ấy tôi làm gì có của bằng mười cái nầy ?
- Ông quên rồi sao ? Tuần lễ đầu mới cưới, ta đi dự tiệc ở nhà hội đồng Tồn,
tôi đánh rơi mất chiếc mề đai xoàn kết sáu hột năm ly, tôi lui cui tìm kiếm, cả
khách khứa đều tìm hộ còn ông thì bình tĩnh mà nói:
- Thôi em bỏ đi, anh cho chiếc khác còn đẹp hơn nhiều. Trời ơi ! Cái ngày tốt đẹp
xa xuôi ấy mất đã lâu rồi !
Ông Phủ trầm ngâm giây lâu, như để nhớ lại điều gì, rồi bỗng ông tươi nét mặt
lên, nhìn bà rồi cười ngất, cười ngã nghiêng ngã ngửa, cười đến chảy nước mắt
ra.
- Ông ác lắm, tôi khóc mà ông lại nỡ cười.
Ông Phủ cố nín, nhưng mấy bận mới nín được:
- Bà nói chuyện đời xưa làm tôi mới nhớ lại chiếc mề-đai năm đó. Nè, bây giờ
tôi nói thiệt cho biết, nó là xoàn giả, nên tôi mới có thái độ như thế.
Bà phủ nhảy dựng lên:
- Giả ?
- Phải, giả !
- Ông cưới tôi bằng mề-đai nhận xoàn giả ?
Ông Phủ làm thinh không đáp, bà phủ tức mình kêu:
"Trời đất quỉ thần ơi ! Người ta đã đi cưới tôi bằng nữ trang giả mạo ! Trời
ơi, ngó xuống mà coi. Thế mà tôi tin đã ba mươi năm trời nay rồi !
Rồi bà nằm vật xuống giường mà khóc rấm rức.
Ông Phủ chạy lại, dỗ dành:
- Thôi bà à ! Chuyện đã cũ rồi, bây giờ ta đã có cháu nội, còn buồn nỗi gì. Bà
nên biết rằng, chỉ vì tôi đã quá thương bà thuở ấy, nên mới có chuyện giả mạo
như thế.
Thuở ấy tôi chỉ là một viên thơ ký nghèo, còn bà thì con nhà giàu. Tuy ông ngoại
bà ngoại sắp nhỏ không đòi hỏi gì, nhưng nếu tôi không có tặng phẩm xứng đáng
thì nó cũng tủi cho bà, có phải vậy không, một chiếc mề đai nhỏ mọn, đã chứa đựng
một tấm tình mà tôi tin là đáng giá ngàn vàng, thì bà cũng nên tha thứ cho tôi
mà quên câu chuyện ấy.
Bấy giờ bà phủ đã thôi khóc, lắng nghe chồng kể chuyện. Từ từ bà ngước mắt lên
hỏi:
- Còn đôi bông bây giờ giả hay thiệt đây ông nó ?
- Bà hỏi lạ, chính bà đi mua mà.
- Sao ông cũng vẫn bình tĩnh như ngày xưa vậy ?
- Thì có mất ở đâu mà rối lên. Tôi thấy bà vô ý quá, lấy cất đi cho bà hoảng
chơi vậy mà.
Bà phủ ngồi xổm dậy hứ một tiếng:
- Hứ cái ông già nầy, báo hại tôi lo nãy giờ.
Chi bếp trả thù
Bà chủ vựa cá xuống tới bếp là chi Tư vội khoe:
- Bà coi tôi nấu cơm vừa khít, không dư một hột. Chị vừa nói vừa nghiêng chiếc
son nhôm cho chủ nhà thấy rõ. Chiếc son được vét ráo nạo, cỡ không rửa căng chẳng
chiết son đã dơ.
Nhưng là chủ vựa cá lại nói, giọng không bằng lòng:
- Mầy nấu cơm như vậy không được, rủi bữa nào ngon miệng, hoặc có khách là thiếu
ngay. Phải nấu dư cho tao đi. Mầy nấu mấy lon ?
- Dạ ba lon.
- Phải nấu bốn lon rưỡi mới được.
Chị Tư thất vọng lắm. Sự nấu cơm vừa khít là cố gắng của chị để chủ vừa lòng.
Chị làm qua đã nhiều nơi và rút nhiều kinh nghiệm nên biết chắc rằng ở chỗ củi
quế gạo châu nầy, người chủ nhà nào cũng không thích thấy cơm dư.
Thất vọng, nhưng chị tự an ủi.
- Bà chủ nầy xem chừng rộng rãi lắm, chắc ta sẽ được đối đãi tử tế.
Chiều hôm ấy, chị nấu bốn lon rưỡi theo lời bà chủ dặn. Bà chủ nhà nầy thật cẩn
thận, sau bữa ăn bà xem lại coi có cơm dư chăng. Thấy cơm còn trong nồi nhiều
bà tỏ vẻ hài lòng.
Nhưng sáng ra, trước khi chị bếp mang thùng rác ra lề đường, bà xét thùng rác cẩn
thận, không biết để tìm gì.
Trưa lại, bà nhắc chị Tư ăn cơm nguội hôm qua kẻo bỏ mang tội với trời.
Bà kể cho chị nghe câu chuyện cổ tích rất buồn ngủ, trong đó đại ý nói hột gạo
là của báu, trời cho loài người.
Bà lại kể một câu chuyện âm phủ trừng phạt kẻ nào bỏ cơm, mỗi một hột cơm bỏ là
phải ăn một con dòi.
Chị Tư không ngán trời phạt, cũng chẳng ghê ăn dòi.
Chị cũng không đợi bà chủ vựa cá căn dặn và thấy việc ăn cơm nguội là phận sự của
chị, không lẽ lại bới lên cho bà chủ, ông chủ và các cậu các cô ăn. Mà đổ đi
thì đó là điều chị làm không được, chị quen tánh tiếc cơm tiếc gạo từ thuở nhỏ
rồi.
Chị Tư ăn cơm nguội ba ngày liền thì thấy chán phèo.
T';rong ba ngày đó, người nhà bà chủ vựa cá có ngon miệng trong hai bữa ăn thật,
nhưng không thắm vào đâu với số cơm dư. Vả lại những bữa mà các cậu các cô no
vì quà bánh thì cơm cỡ như nấu theo thường cũng đã phải dư rồi, huống hồ gì nấu
lối trừ hao.
Thừa dịp bà chủ xuống bếp, chị Tư đưa cho bà xem ba thố cơm dư.
- Có nên nấu bớt lại không bà ? Chị hỏi.
- Cứ nấu dư đi cho tôi, nhà hay có khách bất tử lắm.
Những người khách ăn cơm bất tử ấy không bao giờ có cả, và sau hai tuần lễ, chị
Tư bắt đầu nuốt cơm nguội không muốn vô nữa.
Hôm ấy, mâm cơm đã dọn lên xong, đồ ăn đã đầy đủ cả mà bà chủ vựa cá còn nghe
chị bếp chiên xào cái gì dưới ấy.
Tiếng mỡ cháy xèo xèo trong chảo, mùi tỏi thơm phức bay lên, khiến bà chủ vựa
ngạc nhiên.
- Mầy còn chiên cái gì đó Tư ? Bà hỏi vói xuống.
- Dạ ơ... chiên...
Chị Tư cố ý nói nhỏ để cho tiếng mỡ át lời của chị đi.
Quả thật, bà chủ không nghe gì cả. Vì không nghe rõ lời đáp nên bà tức mình, bỏ
đũa đi xuống bếp để xem tận mắt.
- À, cái con nầy phí của, bà hét lên khi thấy rõ sự tình. Mầy làm ăn như vầy
thì của đâu mà tao chịu nổi. Hèn chi cứ đòi tiền mua mỡ hoài. Tao nói không lẽ
mầy lại uống mỡ hay sao, nên không rầy la gì, bữa nay tao mới mở mắt ra. Thôi
thiệt là hết nói rồi !
- Thưa bà, chị Tư nói, tôi mới chiên cơm lần thứ nhứt đây. Ăn cơm nguội lâu
ngày quá, tôi ăn không nổi nữa.
- Lần thứ nhứt, hừ lần thứ nhứt ! Ai làm sao biết mầy chiên lần thứ nhứt hay thứ
nhì. Mầy đừng có nói đỏng. Tao thấy họ còn không có cơm nguội mà ăn nữa là khác
đa.
Nói xong, bà quày quã đi lên.
Hôm ấy chị bếp đi chợ về, vô nhà nhẹ nhàng quá, không ai hay cả.
Bà chủ đang cãi lộn với ông chủ. Chị Tư không cố ý nghe, nhưng vẫn nghe, và chị
kinh ngạc hết sức.
Bà chủ nói :
- Ông biết gì về chuyện nhà bếp mà xía vô. Nè, tôi nói ông rõ. Cơm nguội ăn
không ngon thì nó ăn ít, ông hiểu ra chưa ? Như vậy mình đỡ tốn gạo.
Trời ơi, té ra bả bắt nấu cơm nhiều để chị phải ăn ít đi ! Có ai mà tham và
thâm hiểm đến như thế không ?
Thôi, thế nầy thì phải thôi việc, chớ bị cố ý cho ăn cơm nguội suốt đời chịu
sao thấu.
Chị Tư làm trong nhà nầy đã ba tuần lễ rồi. Chị định ráng thêm mươi ngày nữa,
lãnh đủ một tháng tiền lương rồi sẽ thôi.
Từ đây đến đó, chị phải ăn hai mươi bữa cơm nguội nữa. Trời ơi ! nghĩ đến đó mà
phát ngán. Cơm nguội một bữa thì nuốt còn dễ trôi, chớ cơm cách đêm, có khi một
ngày một đêm thì nó lạnh như đồng. Mà cơm dư thì cứ dồn nhau như những đợt
sóng, lớp nầy tiếp lớp khác, ăn xong khi sáng là chiều thấy cái thố lại đầy.
Bà chủ vựa cá, sắm son nồi sao mà vừa khít rịt, không có dư một chiếc để chị
dùng nó mà hông cơm nguội lại cho nó ấm ấm để ăn.
Có một lần, chị đổ vào nồi cơm đang rút cạn nước, độ ba chén cơm nguội cốt để hấp.
Nhưng chừng bới riêng ra thì bới sót, không tài nào phân hai thứ riêng biệt hẳn
được.
Ăn cơm biết có xen lẫn cơm hấp, bà chủ lại hét lên :
- A, bây giờ nó chê cơm nguội, bắt tôi phải ăn đây, trời ơi là trời !
Chị Tư không căm tức bao nhiêu vì trong đời đi ở của chị, chị đã thấy nhiều người
chủ tàn nhẫn hơn nhiều lắm !
Nhưng chị không dửng dưng được và nghĩ kế phá bà chủ một chuyến chơi.
Chị suy tính vài đêm là tìm ra được ba mưu mẹo rất sâu độc. Nhưng chị phải bỏ
đi cả, không dám dùng vì mưu ấy ác hiểm qná, và gây hại to cho bà chủ thì phản
động lực của bà sẽ ghê hồn lắm.
Rốt cuộc chị nghĩ được một trò phá quấy hiền hiền và cho là rất đắc sách.
Sáng hôm đó, chị Tư báo cho bà chủ vựa cá hay rằng gạo đã hết sạch.
Lại một trận bà mắng nữa, mà lần nầy mắng phải lẽ nên chị không buồn. Bà chủ
căn dặn hễ gạo gần hết thì phải báo trước vài hôm đặng bà vô Chợ-lớn mà chở gạo
bao về cho nó nới một chút.
Chuyện đã lỡ như thế rồi, không lẽ ăn thịt chị Tư nên bà chủ nhẫn nại hiểu chị
đón gạo gánh đi rong mà mua.
Vài giờ sau, chị Tư kêu vào nhà một chị bán gạo. Trả giá xong xuôi trước mặt bà
chủ, biểu chị bán gạo đong hai mươi lít, số gạo ăn trót tuần, đợi bà chủ có rảnh,
đi kéo gạo bao.
Đến giờ nấu cơm, bà chủ bỗng nhớ sực lại điều gì hỏi :
- À, tao quên coi coi gạo mới hay gạo cũ. Vậy chớ gạo gì đó Tư ?
- Dạ, chị ấy nói gạo mới.
- Sao lại chị ấy nói, mình phải coi lấy chớ.
- Dạ, bị tôi không biết coi.
- Hại không ! Thôi, nếu gạo mới thì nấu tám lon. Gạo mới nó không nở, nấu sáu
lon rưỡi chỉ bằng bốn lon rưỡi kia thôi. Mà mình thêm một lon rưỡi nữa, đặng
cho dư hờ có khách bất tử.
Lại cái luận điệu có khách bất tử nữa !
Chi Tư cười ngỏn ngoẻn riêng một mình, lấy cái son lớn nhứt, đi vo tám lon gạo.
Lần nấu cơm hôm ấy, chị để sôi rất nhiều dạo, vì chị biết rằng sôi nhiều bận chừng
nào thì gạo nở nhiều chừng nấy.
Đến bữa ăn, bà chủ và cơm đầu, nhai vài cái rồi nói :
- Mẽ, gạo cũ đây mà, chớ gạo mới cái cóc khô gì. Trời ơi, Tư ơi, mầy nấu tám
lon hả ?
- Dạ, bà dặn tám lon.
- Thôi, chết rồi, gạo cũ nở tét bét thì mười mầy ăn cơm nguội cũng không hết.
Thế nầy thì cả nhà phải phụ mà ăn với mầy, chớ không thì phải bỏ cơm thiu. Thôi
chiều nay đừng nấu cơm.
Chị Tư day vô vách màcười.
Hộp răng của người kỹ-nữ Huế
Cái quán cất dựa tường của một lò đúc. Một mái nhà bằng đưng
che đậy một khoảng lề rộng cỡ ba thước và sâu hai thước.
Thế mà trong ấy đã sống từ bảy năm nay ông Cả Dần, bà cả, người con trai của
ông, một người dâu, và đâu đến nửa tá cháu nội.
Vậy mà còn phải tiếp khách hàng nữa, mới tài chớ.
Tôi uống chẫm rãi tách cà-phê của ông cả, tấm tắc khen thầm tài thu xếp của
ông, người đồng hương với tôi.
Chợt có một gia đình kéo nhau đi qua, dài lê thê như một đêm cằn rằn của một bà
vợ ghen xong một trận ban ngày.
Gia đình nầy đông hơn gia đình ông cả, vì có hai đứa bé còn ẵm nách. Không cần
là thánh cũng biết họ ở nhà quê mới lên.
Ông cụ ngó từng căn phố đối diện với ông cả, đoạn day lại nhìn chúng tôi, do dự
giây lâu, rồi gãi tay hỏi:
- Ông có biết nhà thầy bảy không ông ?
- Thầy bảy nào ? ông cả hỏi lại.
- Tên gì không biết. Tôi cũng quên số nhà, chỉ nhớ đường nầy thôi.
- Thì có trời mà biết. Ở đất Sài-gòn nầy có phải như ở dưới mình đâu. Ông ở tỉnh
nào lên đây?
- Tôi ở Tân-An, miệt Kỳ-Son.
- Thôi thì ngồi đây uống tách cà-phê rồi đi kiếm, chớ tôi thật không giúp ông bạn
già được gì hết.
Ông cụ xề lại ngồi trên con ngựa gỗ gần tôi, trong khi con cháu ông ngồi trên lề
cỏ.
- Lên hao giờ vậy ? ông cả hỏi.
- Hồi sớm tới giờ.
- Tản cư hả ?
- Ừ.
- Trễ dữ hôn. Thầy bảy đó bà con làm sao với ông ?
Ông cụ lại gải đầu.
- Không có bà con. Nguyên năm đó thầy tản cư xuống làng tôi, ở đậu nhà tôi. Tôi
giúp thầy rất nhiều, nên thầy thương tôi lắm. Được đâu sáu tháng, thầy có dịp
trở về Sài-gòn. Khi ra đi thầy căn dặn tôi thế nào cũng lên chơi. Thầy có chỉ
nhà kỹ lưỡng mà tôi quên ! À đây...
có cái nầy.
Ông cụ bước ra lề moi trong giỏ kiếm gì không biết, giây lâu ông ta trở lại,
trên tay cầm một
vật màu rượu chát đỏ.
Chúng tôi xem kỹ thì đó là một cái hộp cây, quà làm dấu tích.
Nhìn cái hộp xoàng mà ông bạn già mang từ dưới tỉnh lên, ông cả cười ha hả, hỏi
bằng một giọng hài hước:
- Rồi ông có cho lại thầy ta món gì để làm kỷ niệm không ?
Thật thà, ông cụ đáp:
- Có, tôi có cho thầy một cây gậy bằng gốc tre già, quí lắm, cũ đã ba đời rồi.
Ông cả lại cười ha hả:
- Thôi, nó giống như chuyện bẻ răng của ông nội tôi rồi. Bà cả, con dâu ông cười
rộ lên.
Ông lão nhà quê không khó chịu trước thái độ đó. Ông cũng không thèm hiểu chuyện
ông nội của ông cả bẻ răng như thế nào.
Trong khi ông cả bận pha cà-phê, thì ông lão ngồi buồn rũ ra. Một lát ông đứng
dậy, xá nội nhà.
- Thôi, tôi kiếu nhé.
Chúng tôi ái ngại nhìn theo gia đình tội nghiệp ấy, băn khoăn không biết đêm
nay họ sẽ ẩn náu nơi đâu.
Nấn ná đợi cho người khách cuối cùng đạp xe máy đi, tôi hỏi ông cả:
- Cái chuyện bẻ răng ra làm sao, thưa bác, và nó dính dáng thế nào đến vụ biếu
cây gậy của ông lão hồi nãy.
Lận những chiếc vợt, trút bã cà-phê xuống cỏ, ông cả lại cười ha hả, thịt bụng
của ông nhảy lên nhảy xuống ăn nhịp theo cơn cười tưởng không bao giờ dứt.
- Đây là một câu chuyện ông nội tôi thuật cho tôi nghe hồi tôi còn nhỏ. Ông
thích chuyện nầy lắm, và thuật cho cả làng nghe ít lắm là một trăm lần. Tôi lạ
là thầy không biết chuyện đó.
Ông nội tôi khi xưa là một nhà nho lỡ vận.
Ông có ra Huế thi Hương, thi Hội gì đó cũng không biết. Mà thi rớt nên về nhà dạy
học và làm thầy thuốc.
Ông cố tôi là một địa chủ lớn, nên chi thuở ấy ông nội tôi đi thi bảnh lắm chớ
không phải cực khỏ như những học trò khác.
Người ra đến Huế trước ngày thi đến những ba tháng.
Thôi thì cao lâu tửu quán, con hát, cô đào, danh lam, thắng cảnh, thưởng nguyệt,
du thuyền, thú gì cũng nếm qua.
Trong ba tháng ấy, người bắt tình với một con hát nổi danh ở đó và quên cả ngày
thi, đường về. Một ghe bầu tiền chở theo, mới qua tháng thứ nhì mà đã vơi đi hết
quá ba phần tư.
Người con hát cứ băn khoăn lo ông nội tôi thi đậu rồi thì một là được phong phò
mã, hai là cấp tốc về quê rồi bỏ cô ta lại chăng.
Nên hai người thề thốt với nhau dữ lắm, lại chọn những của quí nhứt của họ mà tặng
nhau.
Người con hát tặng ông nội tôi một cái nón cụ quai đồi mồi. Ông nội tôi tặng gì
cô ta cũng chẳng ưng, bảo là chưa đủ quý. Cả chiếc vòng cẩm thạch, của gia bảo
nhà tôi, ông nội tôi mang theo trong mình để trừ tà, cô ta cũng chưa cho là
quý.
Ông nội tôi phải theo hỏi đon hỏi ren hỏi mãi, cô ta mới chịu nói thật là chỉ
có cái răng của ông nội tôi mới là bằng cớ chắc chắn nhứt của tình yêu của ông.
Ngỡ là gì chớ còn một cái răng thì cũng dễ. Ráng chịu đau là được, lại khỏi tốn
tiền.
Ông nội tôi rất thích cái ý muốn kỳ dị của người con hát, và lòng càng mến yêu
người nầy hơn.
Nửa tháng sau, ông nội tôi vào trường thi. Và thi hỏng.
Là con nhà giàu, ông nội tôi cũng không khổ lắm vì sự thất bại nầy.
Trước khi rời lều chõng về quê, người ghé qua cô tình nhơn, để coi người nầy
tính sao khi mà cô ta không còn hy vọng làm quan tắt nữa.
Kết quả cuộc thi không lạ gì đối vói người đào hát, là những người gần gũi nhứt
với đám cử tử.
Nên cô tình nhơn của ông nội tôi đả hay sự thất bại của người, và làm lơ, cho đứa
tớ gái ra nói không quen biết với kẻ nào tên đó hết.
Tức quá, ông nội tôi nhắn lời đòi cái răng lại.
Một lát sau, đứa tớ gái bưng ra một cái tráp sơn son thếp vàng rất đẹp và nói:
- Thưa ngài, cô nương tôi bảo ngài cứ lựa, răng nào phải của ngài thời lấy.
Điếng người, ông nội tôi dỡ tráp ra thì ôi thôi, răng là răng.
Thì ra cô đào hát ấy bẻ răng của hàng trăm người để giữ làm kỷ niệm, chớ không
riêng gì của ông nội tôi.
Ngõ hẻm vợ bé
Biết rõ nền tài chánh của mình, Khánh cố cam phận với ngõ hẻm
chàng ở.
Ngõ hẻm không có đường cho nước rút, nên hễ mưa xuống là nước vào viếng nhà
chàng, xuông pha ra đến sau bếp. Nó mang theo nào là giấy, bã mía, lá chuối gói
xôi mà trẻ con trong xóm vứt bừa bãi trên đất mỗi buổi sáng rồi khi trở ra, nó
bỏ lại những người khách khó chịu ấy.
Trước nhà chàng là một cánh đồng Tháp-Mười thu hẹp, mùa ướt, thì đọng nước mưa,
lùa khô thì đọng nước rửa nhà từ cả hai mươi căn phố tống ra.
Phố vách ván, vợ chàng có chưởi chàng thì nhà hai bên nghe không sót một tiếng.
Vách ván lâu năm, nhót hở cỡ đút ngón tay qua lọt, nên chi nhà ăn cái gì người
ta cũng biết rõ như ở chung.
- A, hôm nay cuối tháng, nó ăn toàn cá rô con dầm mắm nêm.
Ngoài các thứ tiếng động cổ điển mà chàng phải nghe như là vợ chồng họ cãi lộn
nhau vào giấc trưa, trẻ con ó ré bất kỳ giờ giấc nào, ra-dô vặn thả máy, Khánh
sợ nhứt là những đám đóng đinh treo mùng.
À, tại làm sao mà đinh treo mùng của họ nó có sút họ không đóng ban ngày, mà hễ
lối mười giờ đêm chàng đang lim dim thì nghe tứ phía tiếng búa nện vào đầu đinh
một cách điên tiết.
Lắm khi búa nện trật một bên, đinh bắn ra xa, họ nổi giận chưởi cây đinh om
sòm. Chiến dịch đóng đinh treo mùng đêm nào cũng tái diễn cả không ở nhà nầy
thì ở nhà khác.
Lại mấy chị chè đậu, xưng xa nữa ! Trưa trưa, vừa chợp mắt được là mấy chị đi
sát thềm nhà mà hét lên: "Ai chè đậu nước dừa hôn ?"
Khánh giựt mình thức dậy thì trăm ngàn tiếng động khác ngăn chàng ngủ trở lại.
Chàng cố an phận trong ngõ hẻm ấy, nhưng không thể được, vì một người kia không
dung tha chàng.
Đó là chị chủ căn nhà đối mặt. Đầu đuôi câu chuyện cũng tại cánh đồng Tháp-Mười
trước cửa.
Số là thằng con của chàng nó xếp ghe bằng giấy thả lên cái biển tí hon ấy cho
vui mắt, ghe trôi tấp qua bờ biển bên kia tức là trước nhà đối mặt. Nước rút xuống
mà ghe lại không rút theo, thành ra thằng bé vô tình xả rác trước nhà người ta.
Chị chủ nhà, sáng ra quét sân, thấy vậy phát chưởi ngay. Thì rác ở sân chị, chị
cũng quét xuống biển chớ quét đi đâu, mà bị xả mới có một chiếc ghe bằng giấy
là chị làm ầm bên.
Vợ chàng chịu không được, bước ra trả lời. Chàng toan níu vợ lại nhưng không kịp.
Thế rồi hai đối phương đứng bên nây bờ biển và đứng bên kia bờ biển mà đấu khẩu
với nhau y hệt như hai nước nghịch ở hai bên một bờ đại dương đánh giặc nguội với
nhau bằng ra-dô.
Vợ Khánh chỉ đấu khẩu một lần đó thôi, thế mà chị kia lại cứ kéo dài mỗi ngày
như là tiểu thuyết võ hiệp đăng báo, nói xiên nói xỏ chịu không thấu.
Hai vợ chồng Khánh khổ quá, định dọn nhà đi nơi khác.
Nhưng đã ở đó lâu rồi, Khánh thích chơn trời quen thuộc nơi đó: thân cây sao
rêu phủ nhô lên khỏi nóc dãy nhà ngoài đường, mũi nhọn của lầu chuông nhà thờ
đàng xa kia, và cả đến hàng dây kẽm phơi quần áo trước nhà, cái gì đối với
chàng cũng đã thân yêu quá đi rồi.
Vả lại, cứ bằng vào số tiền mà chàng kiếm được khi nhường nhà nầy lại cho kẻ
khác, thì chàng không thể tìm một nơi hơn thế.
Ở đây tuy ngập nước, tuy ồn mà tương đối khỏi bị cái nạn cầu tiêu hầm tràn trề
ra sau mỗi trận mưa.
Thật là đi không nỡ mà ở cũng không đành.
Bỗng đùng một cái, con mẹ trước mặt dọn đồ đi. Trời ơi, phước đâu mà lớn quá
như vậy ?
Sáng hôm ấy, hai vợ chồng mở cửa ra đón xôi ăn thì ngạc nhiên hết sức mà thấy
phu xe cá đang khuân bàn ghế của nhà đối mặt ra xe.
Nào lu, nào hũ, nào lon, nào gáo chồng chất trên chiếc cam-nhông hai ngựa ấy rồì
một tiếng đồng hồ sau là vợ chồng Khánh thoát nợ đời.
Khi chiếc xe cá đã ra khỏi ngõ hẻm, mười chín bà chủ nhà trong ngõ tựu lại trước
cửa căn nhà trống mà bàn tán xôn xao.
Một chị ra vẻ thạo tin nói:
- Nó sang tới hai mươi ngàn đồng, được tiền quá.
- Hai mươi ngàn, thật hay giởn ?
- Không tin thì thôi. Tôi nghe rõ đây mà ! Chủ phố ăn đứt ba ngàn mới chịu sang
tên đó.
- Thế sang cho ai ?
Chị nọ cười bí mật mà rằng:
- Rồi sẽ biết.
Cả xóm đều nao nức mong đợi người chủ mới dọn về. Người đó có thể chỉ là một
người thường như họ thôi, nhưng ở đây buồn quá, không có án mạng nào xảy ra hết,
cho đến một vụ bắt ghen nho nhỏ cũng không thì một người dọn đi, một kẻ dọn về
đều là trò vui được.
Họ khỏi phải đợi lâu vì ngay trưa hôm đó, có người đến rửa nhà.
Tức thì đàn bà trong xóm vồ lấy chị rửa nhà mà hỏi lăng xăng. Chị ta ngơ ngác
đáp:
- Ông ấy mướn tui rửa thì tui rửa, có biết ai đâu.
Cả xóm thất vọng mà không tuyệt vọng, và bền chí đợi chờ.
Sáng hôm sau có xe cá vào ngõ, mà lần nầy thì đến hai chiếc, lại chở toàn đồ mới
và đồ quí giá không mà thôi: giường gõ đỏ, nệm cao-su xốp, tủ bằng-lăng trắng,
sa-lông mua ở tiệm tây, ra-dô gắn vào tủ, v. v...
Một người đàn ông ra vẻ người nhà, đi theo chỉ huy việc sắp đặt bàn ghế.
- Chủ mới là ai đó anh ? Thiên hạ bu lại hỏi.
- Cô tôi.
- Cô anh là ai ?
- Có nói, bà con cũng không biết. Cô tôi là vợ của ông tôi, còn ông tôi là chủ
của tôi.
Thấy đồ đạc quí giá, người trong ngõ cũng đoán được chủ nhà ở vào hạng ông. Anh
người nhà lại xác nhận như thế. Giai cấp người chủ mới khiến họ càng tò mò thêm
và ngạc nhiên lắm: là hạng ông sao lại vào ở đây ?
Sau buổi ăn trưa, chủ nhơn đến. Nhưng chỉ thấy bà chớ không thấy ông. Bà đi tắc-xi
vào tận cửa với một chị người nhà.
Bà còn trẻ, độ hăm lăm tuổi thôi, ăn mặc sang quá sá và tướng mạo cũng sang trọng
vô cùng. Lẽ cố nhiên là mặt bà đẹp, móng tay bà đỏ choét và nhọn hoắt.
Từ đó tới chiều cửa đóng kín mít khiến thiên hạ ấm ức vô cùng.
Chiều lại có người xách gào-mên cơm đến, cửa hé mở rồi đóng lại như cũ.
Đờn bà trong xóm trề môi dài một thước năm mà xầm xì với nhau:
- Xì ! điệu dữ quá. Bộ sợ người ta thấy mặt rồi mất màu hay sao chớ ?
Liên tiếp hai ngày liền, cửa nhà ấy vẫn đóng kín mi kín mít. Thiên hạ ở đây khó
chịn quá. Đờn bà ở đây thì người nầy xẹt qua nhà người nọ mà kháu chuyện chớ có
đâu mà khuê môn bất xuất như thế nầy, báo hại người ta dòm mỏi cổ, đợi hụt hơi
mà không thấy tâm dạng gì hết.
Sáng ngày thứ ba, chị người nhà ra ngoài, tay ôm mộr ôm quần áo dơ.
Thôi chết chị nầy rồi ! Thiên hạ vây lấy chị, rồi mấy mươi câu hỏi đưa ra một
lượt khiến chị muốn phát điên lên.
- Làm sao cứ ở lì ở trỏng, không ra chơi bồ ?
- Cô chủ của chị đẹp quá ! Còn ông chủ đâu ?
- Ông chủ tên gì, làm nghề gì ?
- Giàu lắm hả chị ?
- Chà đến cái khăn mu-soa nhỏ cũng bỏ tiệm giặt ủi. Thành ra chị còn công việc
đâu mà làm? Chị người nhà chỉ mỉm cười mãi, rốt cnộc chị đáp chung:
- Cổ không cho tôi đi đâu hết....
- Cấm cung à ?
- Như vậy ai thèm làm, ăn lương bao nhiêu một tháng mà bị nhốt như vậy cũng chẳng
thèm?
- Thôi để khi khác.
Chị người nhà rứt mà đi, cả bọn còn tức ấm ách vì điều tra chưa tới nơi.
Chiều hôm đó một chiếc xe Mercédès nước sơn đen láng như huyền Phú-Quốc, vào
ngõ, đậu lại ngay trước nhà mới dọn.
Một người đàn ông năm mươi tuổi, ăn mặc sang, cân xứng với chiếc xe, bước xuống,
đóng cửa thật nhẹ rồi đi vào nhà. Ông ta chưa gõ cửa thì cửa đã mở. Bên ngoài
người ta dòm thấy cô chủ nghẻo đầu rồi thụt lui vài bước nhường chỗ cho người
đàn ông. Cửa khép lại liền khi ông ta bước qua khỏi ngưỡng.
Chiếc xe Mercédès đậu trong ngõ hẻm đến hai giờ sáng trong xóm mới nghe nó rồ
máy êm ru.
Mấy hôm sau chị người nhà được ra ngoài, càng ngày càng ở lâu thêm mấy phút.
Như vậy rất đủ cho cuộc thẩm vấn của các bà trong xóm. Họ đã biết rành mạch về
nhà nầy rồi.
Cô chủ làm bé cho một ông kia. Ông ấy thuộc giới nào, các bà chỉ kề miệng vào
tai nhau mà nói nho nhỏ thôi. Chỉ biết ông ta giàu lắm, có đến ba chiếc xe hơi
nhà. Con gái lớn của ông ta tròm trèm tuổi của cô Tư, cô vợ bé ấy.
Cô Tư ít khi đi đâu. Mỗi ngày sai chị ở mua báo về đọc để khỏi mất liên lạc với
bên ngoài. Vài ba đêm tiếp chồng một lần, có khi đến nửa đêm, thỉnh thoảng tới
năm giờ sáng.
Cô Tư dọn về đây, không lợi cho ai cả, vì đàn bà trong xóm mất hết một nhà đề
ngồi lê đôi mách lại mất hết một tay bồ.
Riêng Khánh thì chàng thấy chàng có phước như là đẻ bọc điều. Đang khổ vì chị
hàng xóm thì chị nầy bỗng dưng nhường nhà lại cho một cô gái tối ngày không nói
một tiếng. Sướng biết hao. Thế là khỏi phải tính đến chuyện dọn nhà đi nơi
khác, khỏi phải rời bỏ những chơn trời thân yêu ở đây.
Nửa tháng sau, một chuyện y hệt như thế lại xảy ra nơi căn nhà số 17.
Cô chủ mới trẻ đẹp, đồ đạc cũng quí giá, cũng đóng cửa kín mít, và ông chủ thỉnh
thoảng đến, cũng trên bốn mươi, ăn mặc sang trọng và đi xe Huê-Kỳ.
Các bà trong xóm kề tai nhau mà xầm xì:
- Coi bộ cái vó ấy thì cũng là vợ bé nữa !
Quả thật thế, mấy hôm sau, con ở của cô chủ thứ nhì vừa ló ra cửa thì bị họ bố
ráp ngay để điều tra. Con bé khai tạch hoạch không sót một móng.
Trường hợp của cô Hélène nầy thì có hơi khác trường hợp cô Tư. Cô Hélène vừa bị
bà chủ lớn bắt được ở một căn nhà tại ngõ hẻm khác, đánh cho một trận nên thân
rồi xởn đầu.
Cô Hélène quyết tâm đóng cửa đến mãi mãi, trừ khi ông đến gõ theo ước lệ mới mở
thôi.
Lại một tai nạn nữa cho xóm. Mất thêm một đại bản doanh ngồi lê, lại mất một
tay bồ thứ nhì.
Nhưng Khánh thì lại mừng thầm. Vợ bé tới đây đông chừng nào, chàng sẽ được yên
thân chừng nấy, vì không ai mà im lặng và yên lặng cho bằng loài vợ bé.
Nếu cô Hélène đến đây là do sự tình cờ thì những cô Sáu, cô Chín, cô Mạc-rít,
cô Ma-lên khác đến, nhờ sự giới thiệu.
Số là hôm ấy cái ông chồng cô Tư đâm xe vào thì đèn pha xe ông ta rọi ngay đít
xe của chồng cô Hélène đang đậu cách đó năm căn.
Thấy dáng xe quen, ông nọ sanh nghi, xâm xâm lại đó, chừng nhìn lại số thì quả
là xe của bạn.
Ông nọ mừng quýnh chạy lui về báo tin cho cô Tư, cô Tư hỏi chị ở mới hay tự sự.
Ông nọ thích lắm, ngỡ chỉ có một mình ông mới bậy bạ thôi, nào dè gặp bồ. Đó rồi
hai ông bà đi ngay lại căn 17 mà gõ cửa.
Trong đó chắc người ta quýnh lên, vì vừa bị một trận đến phải bỏ xóm kia mà.
Nhưng vợ chồng ông ngoài nầy lên tiếng. Cửa mở, họ mừng rỡ nhau om sòm, giới
thiệu lăng xăng rồi từ đó hai cô vợ bé đi lại nhau luôn.
Thế rồi mạnh các ông các ông giới thiệu, mạnh các bà, các bà rủ ren không mấy
lúc mà vợ bé tràn đến như nước vỡ bờ.
Lệ trong xóm sang nhà mười ghim. Đó là cái giá bất di bất dịch từ ngày có cuộc
di cư ở miền Bắc vào.
Nhưng giá nhà bỗng nhảy vọt lên từ mườì đến hai mươi ghim: Các ông chồng giàu cứ
đổ tiền ra mà đuổi êm người ta đi như Do-Thái mua đất của Ả-Rập trước ngày phân
chia xứ Ba-Lết-Tin.
Người trong xóm cái gì cũng muốn cắt nghĩa cả và cắt nghĩa được tuốt. Họ tự hỏi
tại sao các ông ấy giàu sang tột bực như thế lại bắt các cục cưng ở xóm tồi tàn
như vậy.
Rồi họ giải thích rằng nếu để ở xóm sang thì dễ lậu việc bởi vợ họ quen biết
nhiều các xóm đó. Xe đậu ở ngoài đường dễ nhìn hơn là trốn trong xó nầy.
Mới trong vòng hai tháng mà có đến mười cô vợ bé về dãy phố hai mươi căn nầy.
Tối tối một dọc xe Huê-kỳ bóng lộn nối đuôi nhau đậu trong ngõ hẻm. Mấy đức phu
quân ở đây quen biết nhau cả và xem ra họ thương mến nhau lắm. Đồng hội đồng
thuyền mà !
Họ lại hùn tiền nhau, sang một căn phố, không để ai ở cả mà dùng làm nơi gặp mặt
mỗi đêm. Phố dọn như "ba", có quầy rượu, có bồi chuyên môn pha
"cóc-ten".
Họ bàn nhau công việc tại đại bản doanh đó và rất ung dung chớ khỏi phải lấm la
lấm lét vì nơi đầu ngõ đã đặt lính gác hẳn hòi. Lính gác ngõ là một chị đàn bà
bán thuốc lẻ, được lịnh hễ thấy gì khả nghi là phải bỏ hàng chạy vào báo động
ngay.
Các gia đình vợ bé nầy được tổ chức châu đáo rồi không thấy sợ nữa. Tối lại họ
mở cửa ra như thường, và đèn sáng làm nổi bật sự trang trí lộng lẫy trong nhà của
họ.
Họ đi xem hát có đoàn, thỉnh thoảng đi mua lụa, mua vải, mua trái cây, thì đi cặp
ba, cặp tư.
Ban ngày họ qua lại nhau luôn chớ không rút trong nhà như lúc trước.
Mươi bà vợ bé đều đẹp cả mười. Nhưng có bà đẹp ngây thơ phúc hậu, có bà lại đẹp
một cách khêu gợi ồn ào. Vài bà nghiêm trang, phần lớn đều lẳng. Họ đi đứng uốn
éo như con rắn và ăn mặc thì y như là mới mắc một đám mưa, da thịt lộ ra rõ
bông bông.
Khánh chỉ mới có ba mươi thôi. Ban đầu chàng chỉ thấy mình có phước mà được yên
thân, nhưng về sau chàng lại sung sướng mà được thưởng thức mỗi buổi chiều cuộc
triển lãm ngực và mông.
Chàng đùa với vợ:
- Bộ ngực đó hỗn quá !
Vợ chàng é một tiếng, háy chàng một cái rồi ngoe ngoảy bỏ đi vào nhà.
Khánh nhìn vợ rồi nhiều khi đâm ra tủi thân. Vợ chàng đẻ ba lần rồi, đã gầy như
con khô hố, và già xọm ra. Những bà vợ lớn của mấy ông sang trọng kia chắc cũng
thế.
Nhưng họ lại có phương tiện để tìm an ủi nơi khác, họ, những người lưng khòm,
vai hơi rút, và đầu hoa râm. Trong khi đó thì chàng, một thanh niên hồng hào sức
khỏe, sinh lực dồi dào lại chỉ được thưởng thức suông mấy bộ ngực kia như là
xem chiếu bóng mỗi buổi chiều.
Khánh tủi thân mãi rồi dâm liều. Ừ, tại sao mình lại không có vợ bé như người
ta ? Những bộ ngực trước nhà khiêu khích mãi không thôi, còn vợ chàng thì cứ một
ngày một lép thêm như bánh tráng nhúng nước.
Khánh tự biết là không đủ sức nuôi dưỡng hai gia đình, nhưng chàng cãi với
chàng:
- Nào mình có mướn phố mắc tiền, có sắm bàn ghế sang trọng làm chi. Một căn phố
lá, một chiếc chõng tre là đủ rồi. Mình chọn mấy cô bà ba, chớ đâu dám rớ tới mấy
cô móng tay đỏ mà ngại.
Mấy lão kia ăn xài ẩu thế chưa chắc đã sẵn tiền, đã hơn mình.
Biết đâu ngày kia báo sẽ không đăng tin một trong mấy lão, hoặc thụt két, hoặc
lường gạt các chỗ làm ăn ? Mình lương tháng bốn ngàn, chia ra cho ẻn ngàn rưỡi
là yên tới già.
Sợ bà đầm ở nhà chăng ? Điều đó khỏi lo. Nếu biết cách như các lão kia thì an
ninh sẽ được bảo đảm. Sài-gòn có muôn ngàn ngõ hẻm, các bà vợ lớn có liên kết với
nhau, bố trí hằng vạn tay do thám cũng tìm chẳng ra mấy ổ uyên ương bí mật nầy.
Nhưng tuy tính vậy, chàng vẫn hoang mang, không biết có nên liều hay không.
Lương chia rồi còn hai nghìn rưỡi mỗi tháng để đương đầu với nào tiền phố, tiền
đèn, tiền nước, tiền chợ, tiền thuốc men, tiền ơn nghĩa, một vạn thứ tổn phí
không thể tránh được, thì có đủ đâu là đâu.
Khổ ơi là khổ ! Ngỡ yên thân được với cuộc xăm lăng ngõ hẻm của đạo binh vợ bé,
nào ngờ bây giờ đến phải rầu chín ruột ra.
Đêm nằm nghe tiếng cười giỡn dòn như bấp ran bên cạnh, trí mơ màng duyệt lại những
tấm thân quyến rủ kia, chàng muốn điên tiết lên, vụt ngồi dậy bước xuống giường,
đi qua đi lại, khiến vợ chàng kinh ngạc hết sức.
Khánh đi đã rồi lấy bút mực ra lập ngân sách cho hai gia đình. Lần nào cũng lòi
ra một chỗ trống trong quỹ gia đình chánh, không thể tưởng tượng ra món tiền gì
để trám nổi lỗ hỏng to ấy.
Chưa có vợ bé mà Khánh đã gầy sút đi vì mất ngủ. Mất ngủ vì lo toan phương tiện
tài chánh mà cũng vì bận rình mọi việc xảy ra ở các nhà vợ bé.
Chín giờ, chàng lắng đợi chiếc "xì-bo" hai chỗ ngồi của cái ông mặc
áo con chim con cò. Chàng tưởng tượng cô Ma-rỉ đang uyển chuyển bước ra mở cửa,
rồi nhảy ra sân bá lấy cổ lão cao-bồi già.
Mười một giờ, chàng băn khoăn sao lão thầu khoán chồng cô Ma-Lên lại không về
như mọi bữa khác.
Thế nầy thì đến chết thôi trời ơi !
Mỗi ngày đi làm bốn buổi, Khánh đều ghé qua cô hàng thuốc lẻ ở đầu đường V. vì ở
đó có đèn đỏ, không ngừng cũng không được. Mà ngừng một lần thì nó bắt ngừng
hoài vì cô bán thuốc mặt rổ hoa mè trông có duyên ớn.
Cô bán thuốc cũng bất nhơn, không lần nào là không cười miến chi với Khánh, và
xưng em ngọt xớt. Anh chàng đang ở trong một tâm trạng đâm liều vì khiêu gợi ở
nhà, bây giờ ra đường lại bị chiếm hồn.
Thế nên anh ta quả quyết sáng hôm đó là hạ chiến thơ cho cô bán thuốc !
Đêm ấy anh ta bận tìm mưu để cắt nghĩa những đêm vắng nhà sắp tới của anh làm
sao cho có lý để vợ khỏi cằn rằn. Anh bịa nhiều chuyện hay quá, nào ông chủ sở,
bắt làm xúp hứa cho ăn thêm tiền, nào má thằng Câu nào đó ở sở, qua đời, phải
giúp đám ma nhà nó v. v...
Đồng hồ Wesminter nhà cô Mạc-Rít vừa chẫm rãi gõ xong mười tiếng thì Khánh nghe
tiếng ai chạy đụi đụi ngoài sân. Anh vừa toan ngồi dậy thì lại nghe ai đấm cửa
nhà cô sáu Bích-Vân.
Tiếng đấm cửa nghe du côn tệ. Cửa không mở. Lại có tiếng phá cửa rầm rầm. Khánh
nhảy một cái là xuống đất, chạy ra mở hé cửa nhà anh mà dòm xéo qua bên cô
Bích-Vân.
Ba chiếc xe lạ đã vào đậu ở ngõ hẻm, soi đèn pha vào ngay nhà nầy. Trước nhà,
toàn là đờn ông không mà thôi.
Thì ra đây là một đám bắt ghen, không do bà lớn, mà lại do ông lớn chỉ huy. Thì
ra cô sáu Bích-Vân bỏ chồng theo lão để râu Huê-Kỳ nầy.
Đờn ông mà ghen thì nó ghê hơn đờn bà nhiều quá sá. Chồng lớn của cô Bích-Vân
lưng khòm, mặt ốm xanh mà vì giận run nên càng xanh thêm. Lão ta hét:
- Phá mẹ nó cho mau coi !
Mấy tay phá cửa nỗ lực thêm, rồi nghe một cái rầm lung lay cả dãy phố.
Cửa ngã vào trong, ánh sáng đèn ống ùa ra ngoài. Lão chồng lớn nhảy vô trước hết,
tay thò vào túi quần lấy cái gì.
Khánh nghe tiếng cô sáu Bích-Vân kêu rú lên, rồi nghe nổ một tiếng như bánh xe
xích-lô nổ. Lão râu Huê-Kỳ kêu: "Trời ơi" rồi thiên hạ chạy rần rần.
Khánh run lập cập, lui vào đóng kín cửa lại.
Vừa leo lên giường, chàng vừa lẩm bẩm:
- Ghê quá, không biết con bán thuốc có chồng hay chưa ?
Vợ chàng đang cho con bú, ngạc nhiên hỏi:
- Con bán thuốc nào ? Vây chớ ai bắt ghen ai đó ba nó ?
Đầu gà đít vịt
Người ta bảo xẩm lai đẹp hơn xẩm thiệt. Nhưng lai với dân gì
mới đẹp ? Hình như với dân gì Cũng đẹp cả, Ngọc nghĩ như thế.
Nhưng anh ta vừa khám phá ra rằng xẩm lai Cao-miên là người đàn bà lý tưởng.
Người Cao-Miên tương đối thì cổ sơ hơn các dân tộc khác ở Đông-Nam-Á. Vậy ngưòi
đàn bà cha Tàu mẹ Miên vừa có sắc đẹp lại vừa ngây thơ, chân thật, dễ yêu lắm.
Anh khám phá ra như thế vì anh vừa làm quen được với một cô xẩm thứ đó.
Anh rất ghét bốn tiếng "đầu gà đít vịt" người mình dùng để gọi thứ
người nầy. Bốn tiếng ấy xấu lắm, mà những cô nàng nầy lại đẹp và dễ thương.
Ngọc gặp cô nàng trong một nhà quen ven biển hồ. Nàng không biết tiếng Việt. Họ
chào nhau, rồi nhìn nhau mà cười.
Ngọc định đưa hết cái vốn tiếng Quảng của mình ra để trò chuyện với thiến nữ,
nhưng khi nhìn lại cái trán của giai nhân, anh ta cụt hứng. Nhiều sợi tóc nhỏ
rũ xuống cái trán sáng rỡ của người đẹp. Đó là lối để tóc của người đàn bà Tiều,
trông ngây thơ lạ.
- Cú nường chìa tể, chàng nhìn cô gái mà nói như thế, khiến cô nầy và cả nhà cười
ngất.
"Cú nường" là tiếng Quảng, "chìa tể" là tiếng Tiều, anh ba
chỉ biết có hai tiếng Tiều sau đó, nên ráp lại mà nói thế, thật đầu gà đít vịt.
Vả lại Ngọc chỉ là khách thôi. Một người khách lại mời một người khách khác :
"Cô nương xơi nước" thì chướng vô cùng, nên chàng bị cười là phải.
Nhưng có lẽ nhờ thế mà cô gái có cảm tình với Ngọc.
Cô gái nói với giọng mũi theo lối người Tiều-Châu, thỉnh thoảng trò chuyện với
chủ nhà, người Việt lai Miên, vừa chỉ chàng.
Chàng thấy, đối với á xẩm, không cần giữ lễ độ nhiều nên cũng xáp lại mà nói,
nói như người câm, nghĩa là bằng điệu bộ.
Á xẩm cười rũ rượi rồi cũng đáp lại bằng bộ tịch. Lạ lắm là hai người hiểu
nhau.
Ngọc hỏi bằng bộ tịch :
- Cô nương tên gì ?
- Xíu-Tin.
Cô xẩm đáp bằng lời.
- Cô nương còn cha mẹ không ?
- Cha mẹ em đã qua đời.
Để đáp điều nầy cô nhắm mắt lại, rồi làm bộ ngã xuống. Xong cô ta làm bộ gạt nước
mắt, chỉ lên đầu nói để tang.
- Cô nương mấy tuổi ?
- Mười chín.
- Cô nương có chồng chưa ?
- Chưa.
Vở kịch câm nầy chỉ dẫn được đến đó, vì các điều khác, khó quá, Ngọc ra bộ
không được, mà dầu có ra, cô ả cũng chả hiểu. Cô gái trên mặc áo xẩm ngắn bình
dân, dưới mặc xà-rong Nam-Vang bằng lụa dệt bông rất đẹp. Ồ, hai bàn chân non
như chân em nhỏ, lại chân không ! Uổng chưa !
Nửa giờ sau, cô bé ra về. Ngọc lò tò đi theo.
Chàng dở ngón tán ngay. Chàng chỉ tay vào trái tim. Cô bé ngơ ngác chẳng hiểu
gì cả. Chàng đổi chiến lược chỉ tay vào bụng ! Quả nhiên, cô bé hiểu, và mắc cở
đỏ ửng mặt lên.
Họ đi lâu lắm mới đến một cái tha la. Cô ả làm thinh leo thang, Ngọc làm lì,
không ai mời cũng cứ leo theo.
Cô gái mắc cở, vì cô mặc xà-rong, lại đứng trên. Cô xây lưng lại ngồi trên một
nấc thang phủ xà-rong rất khéo và kín đáo.
Cô mỉm cười ra dấu bảo Ngọc xuống. Vô tình ngọc quên rằng chàng đứng dưới một
cô gái mặc xà-rong như thế là vô lễ. Đến chừng cô gái biểu thế, chàng mới nhớ
ra, và mặc dầu cố lì, chàng cũng vưng lời, xuống thang, dang ra xa.
Bấy giờ cô gái mới leo lên. Tới trên sàn, cô ta day lại cười và ngoắt Ngọc :
- Chìa tể.
Lần nầy cô xẩm mời xơi trà.
Họ nói chuyện líu lo, không cần hiểu nhau, nhưng vẫn thành đôi tình nhân sau một
giờ mạnh ai nấy nói.
° ° °
Ngọc thấy mình là một người sung sướng nhứt đời vì được người
vợ câm, và nhứt là cô ả chìu
chuộng chàng như một con đòi.
Xíu - Tin thuộc vào hạng phụ nữ yêu đương dữ dội dưới bộ tịch hiền lành, ngây
thơ.
Đó là hai sự đối chọi rất dễ mê, nên Ngọc sau ba ngày đi lại, là đã dọn luôn
nhà về ở đó. Chàng từ Nam-Vang đổi lên đây 1 mới
có một tháng, còn ở trọ nhà người ta. Nên tội gì mà không xách gói về cái bồng
lai kỳ lạ nầy.
Cô bé nấu cho chàng ăn theo lối người Tiều, nghĩa là rất gần Việt-Nam ta.
Hai vợ chồng không đi đâu cả, cứ ở nhà thương yêu nhau như hai con chim.
Tối tối chàng dạy vợ :
- Cái miệng.
Cô bé đáp lại :
- Cái miền.
- Em thương anh.
- Em thon ang.
- Em đau bụng.
- Em lau bọn.
Rồi cả hai cười như phá nhà.
Cô bé dạy chồng hát:
- Huề nía, huề cưn cưn.
Ngọc lặp lại:
- Hò nái hò con con.
Xíu-Tin cười ngất, bụm miệng chồng, chỉ lỗ mũi, bảo phải nói bằng lỗ mũi như
nàng mới được.
Rồi cả hai lại cười đến rung rinh ngôi nhà cao cẳng, tha la.
Họ yêu đương nhau được ba tháng thì một hôm Ngọc có việc quan phải đi tỉnh lỵ Bạt-Tầm-Bong.
Hai ngày sau, chàng về tới nhà vào lúc tám giờ đêm, trời mưa dầm rỉ rả.
Tha la trơ trọi giữa cánh đồng với một ngọn đèn dầu leo lét. Thỉnh thoảng trời
lại chớp lên, chàng thấy nó ấm quá, ấm vì kín mưa, lại ấm vì tấm tình ai trong
đó.
Chàng vịn thang leo lên thì bỗng nghe trên đó có tiếng cười, mà là tiếng đàn
ông.
Rồi lại nghe Xíu-Tin nói bằng tiếng Việt, y hệt như một cô gái Sài-gòn :
- Thằng chả ngốc lắm, cứ ngỡ em là đầu gà đít vịt thật, nên mê em lắm. Hồi chả
lại đây, dư được tám trăm, giao em hết. Lương tháng nào cũng giao em xuất phát.
Em đợi chả lãnh tiền kỳ nầy là quất ngựa chuối thôi.
Vừa lúc ấy thì sét đánh một tiếng long trời. Cả chiếc tha la và chìếc thang tre
đều rung lên, kêu răn rắc.
Ngọc bủn rủn tay chơn, không biết vì sợ sét hay vì cái gì.
Có lẽ là vì con bé đầu gà đít vịt lại biết nói tiếng Việt.
Anh ta ôm đầu chạy ngoài mưa một mạch về đến nhà ở trọ khi trước.
Ngọc vào nhà, mặt hớt hơ hớt hãi như vừa bị ma rượt.
Chủ nhà hoảng hốt hỏi mau:
- Gì thế thầy ba?
- Trời ơi! Con bé đầu gà đít vịt ấy lại biết nói tiếng Việt!
- Con đầu gà đít vịt nào?
- Cái con mà tôi theo mấy tháng nay đó mà.
Chủ nhà ngạc nhiên một giây rồi ôm bụng mà cười.
- Trời ơi, té ra thầy lầm nó à? Tôi ngỡ thầy vui chơi vài tháng vậy chớ. Nó là
một con ăn chơi ở Nam Vang đến đây đó mà.
- Sao nó lại giỏi tiếng Tiều và tiếng Miên?
- Thì ở đất này, có ai lại không giỏi hai thứ tiếng ấy.
Chú thích:
|
1. |
Một vùng ven hồ Tông Lê Sáp. |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét