Phố núi
Bọn họ lặng lẽ đi qua cầu. Không ba lô, không súng. Trơ trụi
như lúc họ mới bị ném xuống cách đây chưa được mười lăm hôm. Chỉ khác là hãy
còn bộ đồ lính chưa bạc màu vì mồ hôi và nắng gió ở thao trường. Họ đi hàng một,
người trước như không biết có người sau và người sau cũng không biết có người
trước. Họ lầm lũi bước đi, cô đơn, tuyệt vọng, cho dù phía trước họ, trong một
con phố nhỏ nào đó, trong một thôn xóm nào đó, là quê nhà với mẹ cha anh em bè
bạn..
Họ đi về hướng đông, nơi quốc lộ số 1 đang nghẹn ứ những đoàn
người di tản. Mặt trời vừa qua khỏi núi Đeo, chiếu thẳng vào mặt họ những tia
sáng bén như gươm. Bóng họ đổ dài ra phía sau, vắt lên thành cầu, rơi xuống
lòng suối, vẫn không ngừng chuyển động như những bóng đen trong đèn
kéo quân.
Họ được lệnh tan hàng, có nghĩa họ được tự do trở về đời sống
dân sự. Cái chiến trường khốc liệt suốt hai mươi năm đã như một cái che cán mía
ngốn hàng vạn người, nay đã có vẻ thừa mứa không cần tới bọn họ, là những người
mới tập cầm súng chứ chưa biết bắn. Có ai đó trong số họ tủi thân nghĩ rằng
mình bị bỏ lại thì cũng nên nhớ cho, những doanh trại, những bãi tập, những xe
pháo đạn dược còn tủi thân hơn vì chúng cũng đang bị bỏ lại, trong
khi quân miền bắc từ đèo Phượng hoàng như một con lũ quét sắp tràn xuống.
Lúc ấy Liên đang thả mái tóc con gái của mình trôi dập dờn
trong lòng suối. Trời mùa hè, nên nước suối ấm và trên mặt suối hơi nước ngùn
ngụt bốc lên như sương. Qua rồi một đêm mỏi mệt vì lo sợ pháo kích. Nước làm
tươi mới thịt da, dãn nở các tế bào để cho đầu óc cô được ngơi nghỉ. Vậy là cọng
sản sắp tới rồi, có ai đó nói như một tiếng than dài. Cô giật mình ngước mặt
lên, nước theo mái tóc cô bắn tung tóe trên không, Và, nước cũng chảy
tràn trên mặt cô dễ làm một tân binh nào đó đang đi trên cầu tưởng cô đang khóc
vì mình.
Cô nhìn theo họ, quên mất là mình đang mặc một chiếc áo lót
sũng nước, hai đầu vú nhô lên như hai nụ nấm chưa nở. Có một chút gì đó vừa
bàng hoàng vừa tiếc nuối làm cho cô sững sờ. Cái cách họ đi như đang đi về một
nơi không có mặt trời. Từ lúc chập chũng bước đi cho đến bây giờ, cô không lạ
gì những người mặc áo lính. Họ quen thuộc đến nỗi giống như những tảng đá hai
bên bờ suối, như cây cầu, như thánh giá trên gác`chuông nhà thờ. Ở cái xứ mà
lính đông hơn dân, sĩ quan nhiều hơn thầy giáo thì chẳng ai nhớ nổi một tân
binh quân dịch, nhất là anh tân binh ấy chỉ gặp cô có một lần.
Nhà cô ở đầu phố. Một quán sách nhỏ mà chủ yếu là bán bì thư
tem thư và kem bót đánh răng. Những lúc không đi học, cô trông hàng cho mẹ. Cô
đã gặp những sĩ quan và lính pháo binh mà phù hiệu trên vai làm cho họ như có vẻ
trí thức hơn nhờ những bài học về tọa độ về đường đi của đạn pháo. Cô cũng gặp
những lính biệt động quân mỗi khi thua trận về quân trường học lại đều cạo trọc
đầu! Nhưng gặp nhiều nhất là những tân binh quân dịch ở bộ binh Lam sơn. Bọn họ
rất ít khi tán tỉnh như lính pháo binh và biệt động. Họ chỉ rụt rè đến mua bì
thư, giấy bút viết thư, rồi về trút nỗi nhớ, nỗi lo sợ, nỗi khổ trên những
trang giấy pelure nhiều khi bị nhòe ra vì nước mắt.
Bọn họ chỉ đến vài ba tháng rồi đi và không bao giờ trở lại.
Chiến trường nuốt lấy họ như rắn nuốt nhái.Hết lớp này đi lớp khác lại tới như
mùa gặt này xong lại đến mùa gặt khác.Lúc họ đến, bất kể là nắng hay mưa, là
ngày hay đêm, từ trên xe nhà binh họ bị hất xuống, ngơ ngác giữa khung cảnh xa
lạ với những người mà mỗi mệnh lệnh là một nắm đấm tộng thẳng vào giữa mặt. Họ
là những học trò chưa quên được những ô cửa sổ trong lớp học, những con nhà
nông chưa quên dược mùi bùn đất của thửa ruộng vừa cày. Họ lúng túng, rụt rè,
thấy thứ gì cũng sợ, gặp ai cũng không dám nhìn thẳng mặt. Họ nói lí nhí, lễ
phép một cách vụng về. Họ gần như không còn một chút bản lĩnh nào khi đứng trước
con gái, nhất là người con gái ấy đẹp như Liên.
Cô gặp anh ta trong hàng sách của mẹ. Cái đầu mới húi 3 phân,
hãy còn để lộ những cái sẹo lúc nhỏ, khi anh lấy mũ xuống một cách không cần
thiết lúc bước vào quán. Bộ đồ anh mặc chưa kịp sửa rộng thùng thình khiến anh
như bơi trong đó mỗi khi đi. Nhìn vẻ mặt thư sinh phảng phất một chút sợ, một
chút run, cô suýt bật cười thành tiếng. Cô thấy mình giống như cô giáo và anh
là một học trò ấp úng vì không thuộc bài. Cô thân mật hỏi, mua gì nào, để giúp
anh thêm dạn dĩ. Nhưng nghe tiếng cô, anh lại luống cuống đội mũ lên, định bước
ra như nghe ai quát. Cô lại phải gọi, anh gì ơi, mua gì em bán cho. Mua giấy viết
thư phải không?
Trời ạ, đến nước này mà anh vẫn không nói ra lời. Anh chỉ biết
đưa ngón tay trỏ đang run chỉ vào ngăn tủ để bì thư. Cô lấy ra cho anh một xấp
phong bì, vài chục tờ pelure màu xanh, một chục cái tem thư. Cô cho tất cả vào
một phong bì loại dày của Mỹ, đặt trước mặt anh trong khi anh lúng túng cho tay
vào túi tìm ví đựng tiền. Anh lựa những tờ bạc mới và thẳng nhất đưa cho cô với
cái nhìn biết ơn. Rồi anh đi, lẫn vào hàng trăm hàng ngàn người lính khác trong
chiều chủ nhật. Và trong cô, chẳng có một chút xôn xao nào ngoài một cái nhìn
thương hại.
Nhưng lúc này, nghe mấy tiếng cọng sản sắp tới rồi, cô lại
nhớ tới anh, mà lại nhớ rất rõ như vừa mới gặp hôm qua. Cô nhớ cả những hạt mụn
đỏ trên mặt, những sợi lông mày đậm và chắc, cái miệng môi dưới hơi trề. Khi
anh bước ra, cô trông thấy cổ anh lấm tấm mồ hôi. Anh cô đơn đến tội nghiệp. Bộ
đồ lính chẳng những quá rộng mà còn quá sức đối với anh. Con người mảnh dẻ với
những ngón tay thanh mảnh đẹp như tay con gái ấy, sinh ra không phải để cầm
súng. Đó là bàn tay của nghệ sĩ violon cầm archet, của bác sĩ cầm dao mổ, của
thầy giáo cầm phấn. Nhất định là anh bị tóm trước một cổng trường nào đó và mẹ
anh chị anh chắc đang nẫu ra từng khúc ruột. Những bức thư sẽ được anh viết ra
trong những đêm nhớ mẹ nhớ chị. Anh hãy còn non nớt quá, mong manh quá chưa có
nổi một người con gái nào đó để viết thư. Anh là cả một sự trong sáng và ngây thơ
đến cảm động.
Và bây giờ anh là một trong những tân binh đang lặng lẽ đi
qua cầu. Anh đã đi qua chưa, hay đang qua, sẽ qua? Làm sao từ dưới suối nhìn
lên biết được khuôn mặt nào là của anh. Làm sao phân biệt được những hạt mụn đỏ
và cái môi trề! Cô mãi ngước mặt trông theo, quên mất là mình đang ăn mặc không
kín đáo. Cô liền ngồi thụp xuống suối, úp mặt trong làn nước để che bớt nỗi xấu
hổ đang làm mặt cô nóng bừng. Mình vô duyên quá! Bao nhiêu cặp mắt từ trên cao
âm thầm nhìn xuống, liệu trong số đó có con mắt của anh? Và anh sẽ nhớ mãi hình
ảnh của cô đang đứng giữa lòng suối trông lên?Anh sẽ nhớ tóc cô đen dài ướt nước,
ngực cô phập phồng sau làn áo mỏng?
Bọn họ đã đi qua hết, dễ chừng có cả một tiểu đoàn. Khi người
cuối cùng qua khỏi cầu, người thứ nhất đang đi qua núi Đeo. Nơi đây cái tháp biệt
động quân với chữ Sát màu trắng còn đứng đó như một lời nguyền. Những chiếc
jeep của các sĩ quan có bổn phận ở lại sau cùng đã nhấn ga vượt qua họ.
Cô buồn bã leo lên khỏi suối trở về nhà,.chui nhanh vào buồng
thay quần áo..Khi chiếc áo lót được cởi ra, không hiểu sao cô giật mình đưa tay
lên ôm lấy ngực. Cô đứng tần ngần một lúc, tự hỏi ai là người sẽ bảo
vệ mình khi cọng sản tới. Đã đành nhà cô chẳng còn ai là lính khi cha và anh cô
nối nhau bỏ xác ngoài chiến trường, nhưng ai mà biết được mẹ con cô không bị tù
vì là cô nhi và quả phụ. Mẹ cô đã đóng cửa quán từ mấy ngày qua. Bà không ngớt
đi ra rồi lại đi vào. Trước đây bà bảo nhà mình việc gì mà phải chạy đi, nhưng
giờ bà lại sốt ruột giục Liên mau mau đi kiếm xe để ít nhất cũng tới được Phan
thiết, là nơi người ta đồn đoán Mỹ chỉ chia cho cọng sản tới đó. Liên bảo, lính
mà còn phải đi bộ kia, giờ thắp đuốc cũng chẳng tìm ra xe đâu mẹ. Bà thở dài
nói, hay là mình ra suối kiếm chỗ nào trốn. Liên nói, thôi mẹ ạ, cứ vào nằm nghỉ,
việc gì tới sẽ tới, có lo cho lắm cũng không được gì.
Chiều hôm đó những chiếc T.54 đầu tiên rền rĩ qua cầu. Theo
sau là những toán bộ đội mình phủ đầy lá ngụy trang. Bọn họ nhanh chóng tiến
chiếm các trung tâm. Cờ cũ được kéo xuống xé bỏ trên đất, cờ mới được kéo lên,
gặp gió bay phần phật. Chẳng phải mất một viên đạn nào. Lịch sử đã sang trang
như thế đó, cứ như lật một tờ giấy. Mẹ nói, cám ơn Trời Phật, không một ai bị
giết là mừng rồi.
Liên nhìn hàng đoàn dài bộ đội đi qua, súng cầm tay và đạn đầy
mình, lại nhớ tới đoàn quân không vũ khí ban sáng, cảm thấy mọi sự như đã được
số mệnh sắp đặt sẵn. Hai hình ảnh trái ngược nhau, một rất tĩnh, một rất động,để
lại trong tâm hồn cô những đường kẽ sâu và dài.Nhưng trong khi người và súng cứ
tiếp nối qua cầu, mỗi lúc một nhiều hơn đã bắt đầu phả vào không khí mùi mồ hôi
chua nồng, thì đám tân binh buổi sáng cứ mờ dần, rồi tan biến vào trong ký ức từ
nay đã phủ đầy bụi.
Đêm xuống.
Đêm của giao thời.
Không như đất trời giao mùa đem nhựa mới nuôi cỏ cây.
Không như giao thừa, mọi nhà đều náo nức đón chờ xuân. Đây là
đêm của kẻ thắng và người bại. Kẻ thắng đội mũ tai bèo đi lùng sục những kẻ bại
đã vứt bỏ cả áo lính vẫn bị gọi là phản động. Những tiếng gõ cửa như tiếng búa
gõ vào nắp áo quan. Những người đàn ông bị trói giật cánh khuỷu dẫn đi trong
bóng đêm. Và sáng ra đã có những xác không đầu làm kinh hoàng những người ra suối
tắm giặt. Sau này người ta bảo đó là kết quả của những mối tư thù. Nhưng sự đổi
thay không diễn ra một cách êm thắm như ở các quân trường, mà ồn ào và dữ dội
trong từng con hẽm, từng góc phố. Nhà này sao còn vẽ cờ ba sọc? nhà kia sao lại
may cờ chỉ bằng bàn tay? Xương máu đổ ra biết bao nhiêu mới có ngày hôm nay, bộ
không may nổi cờ một thước sao? Ngoan cố hả? Họ đâu biết lúc này tìm không ra vải
đỏ. Những du kích bên hông lủng lẳng lựu đạn, những kẻ ăn theo cách mạng tay
đeo băng đỏ, đi nghênh ngang trong phố với vẻ mặt đắc thắng hả hê. Vẫn là những
người ở các buông làng quanh đây, vẫn là những kẻ mới vài hôm trước còn ngồi uống
cà phê ở góc chợ, nhưng nay bỗng trở nên đầy quyền uy, miệng đã bắt đầu thét ra
lửa.
Cuộc tiến chiếm chỉ vài ngày là xong, trường học được lệnh mở
cửa lại.Liên nôn nao đến trường, thầy cô vẫn còn đó.Thầy vẫn quần áo tươm tất,
chân mang giày, cổ thắt cà vạt. Cô vẫn áo dài thướt tha, nhiều chiếc sặc sỡ, kiểu
cách. Nhưng sao trông ai cũng có vẻ khác, không còn chút gì đĩnh đạc tự tin như
ngày nào. Ai cũng lớ ngớ, lóng ngóng, cảm thấy đứng đâu ngồi đâu cũng không phải
đúng chỗ của mình. Có lẽ vì xuất hiện giữa họ là ông phụ trách trưởng. Ông mặc
áo quần bộ đội, đội mũ cối, ngồi chồm hổm trên thềm trước văn phòng. Chiếc ghế
được một nữ sinh trực lễ phép đem ra mời vẫn bị ông để không bên cạnh. Ông
không nói chuyện với ai, chỉ rít thuốc liên tục. Chính cái sự thờ ơ đó, cái yên
lặng như cố ý đó khiến mọi người nhận ra mình cũng là những kẻ thua trận và mặc
cảm tội lỗi làm cho họ trở nên thấp bé nếu không muốn nói là thấp hèn.
Một lúc sau ông uể oải đứng lên đi vào. Có lẽ vì thói quen,
ông đưa tay ra sau phủi đít. Một ít bụi rơi vãi trong khi thầy cô vội vã nhưng
khép nép lần lượt theo sau. Mọi người e dè ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc thường
ngày. Cái ghế dựa dành cho hiệu trưởng được nhường cho ông. Nhưng ông không ngồi,
chỉ đứng sau lưng ghế, tay đặt lên thành ghế, nhìn mọi người một lượt với cái
nhìn mỏi mệt của một người thiếu ngủ, thiếu ăn nhưng có lẽ không thiếu bệnh sốt
rét
Ông nói, các bạn, hôm nay trường ta vui mừng được giải phóng.
Tôi có vinh dự được tiếp quản. Có một số công tác cần trao đổi với các bạn. Một
là phải khẩn trương đào hầm để tránh máy bay địch vẫn còn ngoan cố đánh phá.
Hai là, phải xóa sạch tất cả cờ ba sọc trên vách và trên mái nhà. Ba là thu gom
tất cả sách báo độc hại của Mỹ ngụy để tiêu hủy. Trước mắt chỉ có vậy thôi, các
bạn nhớ khẩn trương. Lúc mọi người đứng lên định trở về lớp, ông ra hiệu dừng lại,
nói, à quên, còn một việc nhỏ, đó là từ nay các anh thôi đeo những cái gì lòng
thòng trước ngực, các chị cũng đừng mặc áo dài. Lao động mà như thế nhân dân sẽ
phản ánh không tốt.
Cứ tự tiện trét sơn lên vách, cứ thoải mái leo lên mái nhà, cứ
lục tung tủ bàn để tìm sách báo..hàng đống những việc kỳ quái như thế, khiến
Liên tự hỏi, mình đang đi học hay đang tham gia vào hồng vệ binh. Hôm đốt sách
tại sân trường, Liên lén dấu được một cuốn. Nhưng biết bao nhiêu sách báo đã ra
tro. Những trang sách thơm mùi mực in, run rẩy cong queo trông tội nghiệp làm
sao. Trong tiếng lửa cười khành khạch, cô nghe như có tiếng kêu cứu của mấy chị
em nhà mẹ Lê, tiếng hú thất thanh của thằng gù nhà thờ Đức Bà và trông thấy mái
tóc hoe vàng của hoàng tử bé bắt lửa nhanh như râu bắp. Rồi phải học yêu những
thứ cô không muốn yêu và học ghét những thứ cô không thấy ghét. Càng học, cô
càng thấy mình bắt đầu dối trá. Chẳng những riêng cô mà cả thầy và trò cũng đều
học nói dối và nghe nói dối. Phê bình là bươi móc hành hạ nhau mà vẫn xoen xoét
bảo là xây dựng để tiến bộ. Người được xây dựng tơi tả như một cái tã rách mà vẫn
phải nói nhờ ơn đảng ơn bác.
Liên nản quá không muốn đi học nữa, nhưng mẹ bảo không đi học
ở nhà người ta bắt đi thanh niên xung phong. Con có xung phong đâu, đã nói xung
phong sao lại bắt đi, cô cãi. Mẹ lo lắng, nếu để xã lên danh sách, không xung
phong cũng không được. Liên thở dài ngao ngán. Giờ là lúc không phải muốn hay
không muốn con à, mẹ nói, phải như người khác thôi. Cứ cầm đến sách vở là cô thấy
như ù tai chóng mặt. Những ngày tháng cũ tuột ra khỏi cô như con rắn bị lột da
chứ không phải tự lột. Mỗi khi mở tủ trông thấy chiếc áo dài trắng cô lại rưng
rưng muốn khóc.Chiếc áo nằm co ro như một đứa em bé nhỏ đang bị sốt. Chưa bao
giờ cô cảm thấy tâm hồn cô trống vắng như lúc này. Cô bỗng liên tưởng đến người
tân binh nọ. Sao cô thấy mình trơ trụi giống như anh, phía trước mặt là một khoảng
trống ngút thở.
Nói vậy, chứ Liên cũng cố mà đi học để được di thi. Nhà Liên
cách xa phố huyện cả chục cây số. Không như ngày trước leo lên xe GMC của trung
tâm, cô và các bạn chỉ lo ăn quà vặt, tán chuyện, tới trường lúc nào không hay.
Bước vào cổng với tà áo trắng như mây, ai cũng tưởng mình là tiểu thư và ai
cũng tin là mình đẹp. Giờ cô phải lấy xe đạp cũ, cọc cạch đạp mãi cả tiếng đồng
hồ mới tới Chỉ thiếu có bó củi sau yên xe là cô không khác gì người đi rẫy về.
Trường học giờ như có xác mà không hồn. Vẫn thầy cô đó, bạn
bè đó, nhưng Liên cảm thấy đã không còn cái vẻ đáng kính, đáng yêu như ngày
xưa. Có phải vì thiếu những chiếc cà vạt, những tà áo dài, hay đã chen vào
trong đầu óc những hơn thua dè biểu, nhà này cách mạng, nhà kia ngụy quân. Có vẻ
như ai cũng già đi, hay ai cũng cố làm ra vẻ bình dân, biến sự giản dị thành ra
lôi thôi luộm thuộm. Đó là chưa kể một số thầy cô tự lừa dối mình, ngợi ca những
thứ không đáng ngợi ca, nguyền rủa những thứ không đáng nguyền rủa. Lắm khi, ngồi
nghe thầy cô nói, Liên tưởng như đang ở bến xe hay trong chợ cá. Một khi trường
học đã không còn là nơi mà sự trong sáng, sự chân thật được gìn giữ nâng niu,
không còn là nơi ấm êm vui vẻ nữa, thì mỗi ngày đi học với Liên là một cực hình.
Chưa bao giờ Liên thấy đôi tai và đôi mắt của mình bị hành hạ như lúc này.
Vậy mà rồi đi thi cũng đỗ gần như cả lớp. Có được mảnh
bằng treo nhỏng nhảnh cho vui, chứ chẳng dứa nào lên đại học. Cả bọn lăn vào đời
bằng đủ thứ nghề. Trinh đi buôn cà phê được vài chuyến thì bị hốt.Tân đi núi điệu,
ba tháng sau trở về như người rừng. Chút trầm tìm dược bán ra không đủ tiền mua
thuốc. Lan chạy chợ đến phờ phạc cả người. Liên bán những vật dụng cũ, những kềm
búa, đinh, ốc vít..Cô ngồi một chỗ như chảy dài ra trên ghế. Suốt ngày, đọc mãi
sách đến mòn vẹt..Cái phố nhỏ ngày nào nhộn nhịp sống nhờ lính, giờ thưa vắng đến
thảm hại. Nhiều nhà treo bảng bán như cho nhưng chẳng ai mua. Ba trung tâm, giờ
chỉ có một dúm quân, cỏ cao ngập đầu, chẳng ai biết họ làm gì trong đó.Thỉnh
thoảng một vài người dạo qua phố, trông ngơ ngác lạc lõng. Dường như dưới mắt
nhìn của họ, mọi người hãy còn là kẻ thù, lúc nào cũng cần phải đề cao cảnh
giác
Không còn cảnh lính xả trại đi hàng đoàn. Không còn mẹ, vợ,
người yêu tới lui viếng thăm bịn rịn. Không còn xe nhà binh ra vào tung bụi lên
mù mịt. Không còn tiếng kèn đồng báo hiệu một ngày đổ mồ hôi đã hết. Tất cả đều
không còn. Chỉ có tiếng ve kêu thét lên như xé họng. Ba cổng quân trường vẫn mở
toang nhưng chẳng ai dám vào. Một sự im lặng, bí mật đầy dọa nạt, cứ như đồn trại
của kẻ địch ở bên kia biên giới. Có việc cần phải đi ngang qua, Liên chỉ lầm
lũi bước chứ không muốn nhìn vào.
Tháng ngày cứ trôi đi, trôi đi như con suối đã từ lâu vẫn chảy.
Nhưng cuộc sống như ngừng lại. Mà ngừng một cách ấm ức. Liên không hiểu sống để
chờ gì, đợi gì. Bớt gạo, độn thêm mì bắp, bớt đi một chén, hay nhịn thêm một bữa
để rồi được gặp ai, chờ ai. Ngày mai rồi ngày mai, tóc mẹ bạc thêm một chút,
mình gìa thêm một ngày và như vậy là bước tới tương lai sao?
Đến lúc phải bỏ nơi này mà đi thôi con à, mẹ nói thầm khi hai
mẹ con đã vào giường. Đi đâu hả mẹ? Liên ngơ ngác hỏi. Đất trời cao rộng, không
sống được ở đây thì đi nơi khác. Nơi nào chẳng là của cọng sản. Đi vượt biên
thôi con à, mẹ kê vào tai Liên nói. Không dễ đâu mẹ. Không dễ cũng phải đi, mẹ
quả quyết. Mẹ không đành lòng nhìn thấy con chết dần, chết mòn ở đây. Con nghĩ
mà xem, không một cái chữ cho ra chữ, không một việc làm cho ra việc, không một
đồng bạc cho ra đồng bạc và cũng sẽ không có một người chồng cho đáng tấm chồng.
Một trăm năm nữa cũng không ra gì hết, sống như vậy mà sống được sao? Bà nói
như trước kia giục chồng di cư vào nam. Nhưng biết làm sao mà đi? Liên hỏi. Việc
ấy để mẹ lo. Một lúc, mẹ lại thì thào vào tai, nói để con mừng, mẹ đã lo xong rồi
Chút tiền dành dụm mẹ đã góp cho người ta mua bãi.
Từ khi cái hạt mầm vượt biên được mẹ gieo vào đầu, Liên cứ
ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Bỏ nơi này mà đi sao? Bỏ những buổi sáng sương giăng kín núi
rừng, bỏ những buổi chiều hoàng hôn tím thẩm, bỏ những đêm trăng sáng bạc, bỏ
con suối thân quen từ lúc âu thơ, bỏ hết sao? Cô không phải quê quán ở đây
nhưng được sinh ra ở đây từ ngày quân trường mới thành lập, lúc ấy ba hãy còn
là một trung sĩ, mẹ hãy còn là cô gái bắc kỳ chưa quen bỏ cái khăn vành. Cô giống
như một cái cây được mọc lên ở đây, giờ bứng gốc đem trồng chỗ khác, sống được
chăng? Nhưng ở lại với nón cối và mũ tai bèo, cô nghĩ, ước chi mình không được
sinh ra thì lại hay hơn
Trong khi chờ ngày đi, cô lại thường ra suối. Cô không còn bé
để có thể trần truồng ngâm mình trong nước nên chỉ có thể từ trên gộp đá thòng
chân xuống suối vừa nghịch nước vừa nghĩ ngợi vẩn vơ. Bỗng dưng cô lại nhớ tới
cái hàng quân cũng bỏ lại tất cả mà đi. Cô không còn hình dung ra được chàng
tân binh tội nghiệp nọ, nhưng cô nhớ tới những ngày tháng cũ xiết bao, mới đó
mà đã xa thăm thẳm.
Ngày đi rất bất ngờ, chỉ báo trước có ít phút. Mẹ chỉ vừa kịp
mang theo một hộp sữa và mấy ổ bánh mì hôi mùi mọt. Xe chở tới đèo Cả rồi bỏ rải
rác từng người trốn vào các bụi cây. Sau đó nín thở đu dây xuống thuyền thúng.
Liên lo sợ cho mẹ nhưng bà tỏ ra rất bình tĩnh và gan dạ. Trước đây cô có nghe
nói lính biệt động tập đu dây tử thần, sai sót một chút là bỏ mạng. Giờ cô thấy
mình tuy không là lính nhưng cũng đang chơi trò sấp ngửa với tử thần. Cũng may,
những người tổ chức có lẽ đã quen việc nên mọi sự rồi cũng xong.
Có đến vài mươi người đã đợi sẵn trên con tàu chỉ
rộng bằng hai chiếc chiếu. Hai mẹ con cô cùng với năm người khác được kéo lên.
Đêm tối đen. Tàu lặng lẽ ra khơi. Mẹ Liên rì rầm niệm Phật. Biển dịu hiền như
bé con đang say ngủ. Mọi người trên tàu sau những nôn nao lo sợ cũng thiếp đi.
.
Lúc tỉnh dậy, Liên thấy mênh mông trời và nước.Con tàu mong
manh bé nhỏ cố sức trườn qua những con sóng cao lừng lững. Đã có người say sóng
vật vã. Trọn một ngày không thấy đói, Liên chỉ thấy khát. Nước mang theo rất
ít, nên chủ tàu chỉ phát cầm chừng, Liên và mẹ mỗi người chỉ được một ly nhỏ.
Lúc này Liên mới thấy nhớ con suối nước tung bọt trắng xóa, reo vui đùa giỡn
quanh năm. Có lúc nước lên cao tràn qua cây cầu cũ từ hồi Pháp thuộc, ùa vào tận
phố chợ cho trẻ nhỏ thả thuyền giấy. Ở một nơi như thế, không khi nào Liên thấy
khát. Giờ mỗi một giọt nước quý như một giọt máu.
.
Rồi lại một đêm phó mặc cho số mệnh. Tàu chạy chậm rì rì.
Sáng hôm sau, chưa ra tới hải phận quốc tế, biển đang hiền ngoan bỗng trở nên
bướng bỉnh. Sóng cao như núi, mây đen ôm kín bầu trời. Chủ tàu xanh mặt lo sợ.
Điều khủng khiếp nhất của người đi biển đã tới...
Bão!
Gió giật từng cơn trút xuống thuyền những đợt mưa xối xả. Biển
lại đưa những bàn tay nước mặn chát và vào mạn thuyền. Đúng lúc đó bánh lái
gãy. Chủ tàu kêu lên trong tuyệt vọng: cầu nguyện đi, cầu nguyện đi bà con ơi.
Biết cầu nguyện thế nào ngoài hai tiếng Trời ơi! Và hai tiếng
tự do cũng đã tắt lịm trong lòng.
Trong gió bão, Liên nghe mẹ hét vào tai mình: mẹ hại con rồi,
con ơi!
Đến nước này, thôi chẳng còn gì để nói về họ nữa. Cầu chúc
linh hồn họ tìm được về nơi phố núi cũ. Ở đó, có hai ngôi mộ lúc ra đi chưa kịp
thắp hương từ biệt. Và cũng ở đó, căn nhà nhỏ của họ bị chính quyền niêm phong
vì chủ nhà mang tội phản quốc…
15/7/2001 Khuất Đẩu
15/7/2001


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét