Theo Tiến sĩ Mohammad Omar Farooq dạy tại đại học Iowa, ông
cũng là nhà thơ gốc Bangladesh, trong bài khảo luận về Rabindranath Tagore,
Giáo sư Garooq cho biết trong thời gian theo học luật bên Luân Đôn, ông thương
những kiều nữ người Anh, cha ông không đồng ý nên triệu hồi ông về xứ bỏ ngang
việc học xong văn bằng luật khoa. Trong một khía cạnh nào đó Rabindranath là
nhà thơ của thi ca lãng mạn:
"Nếu em muốn, tôi sẽ ngừng tiếng hát. Nếu lời tôi ca làm
tim em rung động, tôi sẽ thôi không nhìn em nữa đâu. Nếu lời tôi ca bỗng dưng
làm em sửng sốt trong lúc đang đi, tôi sẽ rẽ sang một bên và bước theo ngả
khác. Nếu lời tôi ca làm em bối rối trong lúc kết hoa, tôi sẽ tráánh không vào
vườn em vắng lặng. Nếu lời tôi ca làm nước sông rợn sóng, dại ngây, tôi sẽ thôi
không chèo thuyền lại gần bờ phiá bên em..."
(Rabindranath. Tagore, Tâm Tình Hiến Dâng)
Đó là khái niệm về thơ. Còn các bài hát của ông, trong số đó
được chọn làm quốc ca cho cả hai xứ Ấn Độ và Bangladesh. Vào năm 1913, ông vinh
dự như người gốc Á đầu tiên đoạt được giải Nobel về văn chương cho bản dịch Anh
ngữ của tác phẩm Gitanjali (Thơ Dâng), với lời thơ mượt mà, nhân ái. Những tập
thơ khác tiêu biểu cho khuynh hướng thơ ông là Người Làm Vườn, Mùa
Hái Quả, Thơ Dâng, Balaca, Ngày Sinh Nhật, Bài Thơ Ngắn...
Tagore cũng viết một số tác phẩm để khích lệ phong trào giải
phóng Ấn Dộ khỏi sự đô hộ của người Anh. Với sự đóng góp văn chương cho nhân loại,
nước Anh đã phong tước hiệu cao quý cho ông là Hiệp Sĩ (Knight). Nhưng năm 1919
nhân vụ Jaliyaanwala Bagh khi lính Anh đã nã súng thảm sát vào những thường dân
tụ tập không vũ trang, đã giết chết hơn 500 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em vô
tội, ông trả lại tước hiệu Hiệp Sĩ cho nước Anh để phản đối. Trong tâm tình của
tình người ông nói với người dân Ấn là người dân Anh khác với chính sách thuộc
địa của nhà cầm quyền Đại Anh Quốc (The Great Britain) khi ông diễn tả qua lời
thơ mà tôi xin phỏng dịch như sau:
"Khi bạn hại người thì chính bạn cũng là nạn nhân gánh
chịu,
như loài cỏ cây khi bạn tiêu hủy cuốn theo những nặng lời.tố khổ và hận
thù"
Lời thơ tiếng Phạn viết theo âm:
"Onnay je kore ar onnay je shohe,
tobo ghrina jeno tare trinoshomo dohe"
được Giáo sư Farooq chuyển dịch sang Anh ngữ:
"He who wrongs others, and he who does so tolerate,
like weeds may he burn in His condemnation and hate."
Ông kêu gọi người dân ông hãy tha thứ cho kẻ thù, vì
chính khi quân Anh tàn sát người dân Ấn bằng súng dạn, thì chính lương tâm họ
cũng hổ thẹn và ray rứt rồi. Quan điểm về giáo dục dẫn đưa ông thành lập trường
giảng dạy triết lý Bà La Môn, gọi là Brahmacharyashram tại Trung tâm
thực hành Bà La Môn, (Brahmacharya), tại vùng Santiniketan ở phía Tây Ấn tức
Bangladesh vào năm 1901, nơi mà gia đình có tài sản đất đai nhiều. Sau 1921,
trường này trở thành đại học Vishwa-Bharti và đến năm 1951 được đặt dưới quyền
quản trị của chính phủ Ấn Độ từ đó. Với quan điểm của Tagore, tâm thức của ông
là sự chán nản hận thù và chiến tranh, vì khi đó nước Anh xâm lăng nước ông,
chiến tranh thuộc địa kéo dài, và chính tình hình nội tại của xã hội của Ấ Độ
cũng chia rẻ vì nhiều nguồn gốc các sắc dân. Văn chương ông kêu gọi hòa bình và
đề cao tình thương nhân loại, Ông luôn cho thấy niềm khao khát nền hoà bình cho
thế giới.
Ông luôn cho thấy niềm khao khát nền hoà bình cho thế giới.
Ông đi du hành diễn thuyết nhiều nước Âu, Á, và Mỹ châu. Những chuyến đi như vậy
ông đã cổ võ cho sự cảm thông giữa các nền văn minh Tây phương và Á Đông giữa
các dân tộc trên thế giới. Ông được người Tây phương trọng nể, và xem là gương
tiêu biểu cho tiếng nói kết hợp nhân loại, nhất là những dị biệt của phương
Đông và phương Tây trong lãnh vực văn chương cũng như tâm linh. Ngày nay Tagore
vẫn là nguồn hãnh diện cho hàng trăm triệu người Bengal sống ở Tây Bengal của Ấn
Độ và Bangladesh cũng như rất nhiều người trên khắp thế giới thích văn chương
và triết thuyết nhân ái của ông.
Rabindranath Tagore - Con Người Đa Tài
Khi 13 tuổi, Tagore cho thấy sự thông minh tài nghệ có thể
sáng tác thơ, nhạc, họa, đọc sách cổ bằng tiếng Phạn (Pahli) và dịch kịch bản của
Shakespeare. Năm 17 tuổi du học bên Anh. Rồi năm 1880, trở về Ấn Độ viết vở nhạc
kịch đầu tiên. Từ giữa những năm 1880, Tagore sáng tác nhiều tập thơ,
truyện ngắn, và kịch bản.
Là người yêu nước nhiệt thành, nhưng Tagore không muốn dấn
thân vào lãnh vực chính trị, và đã không ủng hộ Mohamed Gandhi của ông đã làm
thất vọng nhiều người hâm mộ ông ở Ấn Độ. Hơn nữa, Tagore quan tâm hơn cả không
phải là thay đổi chính thể, mà là phục hưng dân tộc, ông lại cho rằng có thể tổng
hợp những tinh hoa từ các nền văn hóa Đông và Tây. Vì mục đích đó, năm 1901 ông
thành lập trường tư thục Santiniketan dành cho học sinh nam tại thái ấp cùng
tên của gia đình ở ngoại ô Calcutta; năm 1921 nơi đây trở thành trường Đại học
Tổng hợp Quốc tế Visvabkharati dành cho các nhà khoa học có nguyện vọng tìm hiểu
các nền văn minh Phương Đông. Rabindradath Tagore dành phần lớn thời gian trong
những năm cuối đời cho việc phát triển trường đại học này và cho nhiệm vụ đoàn
kết thế giới trong nền văn hóa quốc tế. 50 năm sau Visvabkharati trở thành một
trường Đại học Tổng hợp danh tiếng thế giới.
Khi được 45 tuổi, ông cho ra đời tiểu thuyết được nhiều ngưỡng
mộ nhất của Rabindranath Tagore - Gora - ủng hộ tính nhẫn nại tôn giáo và chính
trị. Bốn năm sau đó Tagore xuất bản bằng tiếng Anh tập thơ Gitanjali (theo tiếng
Bengal có nghĩa là Lời dâng). Thi phẩm này là động lực chính cho việc ông đươc
đề cử trao giải Nobel Văn học năm 1913, được cả thế giới công nhận là công
trình quý giá của văn học Ấn Độ. Năm 1933 ông bắt đầu vẽ tranh và cho triển lãm
ở Münich, New York, Paris, Moscova và nhiều nơi khác. Đến năm 1943 ông bị mù
hai mắt và mất hai năm sau đó khi thọ 80 tuổi. Ra đi Tagore để lại cho hậu thế
52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút ký, tiểu
luận, diễn văn, hồi ức, thư tín cùng hàng ngàn ca khúc và tranh vẽ vô giá. Những
tác phẩm được để ý là: Câu chuyện nhà thơ (Kabikahine, 1878), nhạc; Tiếng hát
buổi chiều (Sandhya sangeet, 1882), thơ; Tiếng hát buổi sáng (Prabhat sangeet,
1883), thơ; Lễ hiến sinh (Visarjan, 1890), kịch; Một lý tưởng (Manasi,
1890), thơ "The ideal one"; Con thuyền vàng (Sonar tari, 1894), thơ
"The golden boat"; Khoảnh khắc (Khanika, 1900), thơ; Tặng
vật (Naivedya, 1901), thơ; Ký ức (Sharan, 1902), thơ; Hạt cát nhỏ (Cokher b?li,
1903), tiểu thuyết; Đắm thuyền (Nauk? dubi, 1906), tiểu thuyết; Trẻ thơ (Sisu,
1909; năm 1915 đổi tên thành Trăng non), thơ; Gora (1910), tiểu thuyết; Vượt biển
(Kheya, 1906), thơ; Hy sinh (Naibedya, 1910), thơ; Lời dâng (Gitanjali, 1910),
thơ "Song offerings"; Thân chủ của gia đình (Raja, 1910), kịch
"The king of the dark chamber"; Vô cảm (Achalayatan, 1912), kịch
"The immovable", Sở bưu điện (Dakghar, 1912), kịch; Hoài niệm
(Jibansmriti, 1912), thơ; Bài hát tưởng niệm (Gitimalya, 1914), thơ
"Wreath of song"; Tâm tình hiến dâng (The Gardener, 1914), thơ
"Người làm vườn"; Vòng hoa thơ (Gitali, 1914), thơ; Ngôi nhà và thế
giới (Ghare - baire, 1916), tiểu thuyết "The home and the world"; Mùa
xuân trở lại (Phalguni, 1916), kịch; Mùa hái quả (Fruit - gathering, 1916),
thơ; Tặng vật (Lover's gift, 1918), thơ; Kẻ lánh nạn (The fugitive, 1921), thơ;
Thác nước (Muktadhara, 1922), kịch "The waterfall"; Cây trúc đào đỏ
(Rakta - karabi, 1926), kịch "Red oleanders"; Dòng nước cuốn trôi
(Yogayog, 1929), tiểu thuyết "Crosscurrents";..., và tập tham luận
"Cuộc khủng hoảng của nền văn minh" (Sabhyatar sankat, 1941).
Rabindranath Tagore và Giải văn chương Nobel
Vinh dự cho một nhà văn học gốc Á châu được giải thưởng Nobel
văn chương đầu tiên trên thế giới, nó làm cho nhiều xứ Á châu vui hơn. Nhưng
riêng với nhà thơ Tagore, ông nhận tin được tuyên dương giải Nobel trong bình
thản, ông không thân hành sang Stockhom nhận giải mà chỉ biên thơ cám ơn Viện
Hàn lâm Thụy Điển.
Tác phẩm Thơ Dâng (1912) (Gitanjali), một tuyển tập gồm những
bài thơ về triết lý tôn giáo, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của
ông, đã gây sự chú ý của các nhà phê bình văn học của thế giới. Vì thông thạo cả
hai ngôn ngữ Anh và Ấn, nên ông đã đích thân dịch tác phẩm minh từ Ấn ngữ sang
Anh ngữ. Ông nghiên cứu nền văn chương của nhiều nước trên thế giới. Đặc điểm của
loại thơ này, một loại thơ đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của giới văn học
trên thế giới. Đồng thời tác phẩm "Tâm tình hiến dâng" như đã trình
bày ở phần trước, ông diễn tả nỗi niềm của nội tầm về cuộc sống và tình ái:
"Tim dạt dào nguồn vui, có thể bạn sẽ cảm thấy hân hoan,
niềm hân hoan sinh thú ca vang một sớm mùa Xuân
gửi qua trăm năm tiếng nói yêu đời..."
Tôi thích cách biểu lộ của nhà thơ Tagore khi những xúc cảm của
con tim đắm say tiếng lòng:
"Cuộc đời rủ xuống lúc hoàng hôn rủ xuống
để chìm sâu vào bóng chiều vàng ửng.
Phải gọi tình yêu đang đi lang thang trở lại
để uống cạn sầu bi và phải đưa tình yêu lên trời ngập đầy nước mắt.
Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống.
Ta vội vã hái hoa vì sợ gió lướt qua tàn phá.
Máu ta rạo rực, mắt ta sáng ngời khi đón nhận
những nụ hôn âu yếm, những nụ hôn sẽ tàn phai nếu ta chậm trễ.
Đời ta hăm hở, ước vọng thiết tha,
vì thời gian sẽ điểm giờ vĩnh biệt. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui
lên mà sống..."
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét