Có ai ngờ mấy trăm năm sau, lịch sử lại có thêm sông Bến Hải,
thêm cầu Hiền Lương. Lại chia cắt, chết chóc suốt 21 năm trời
(1954-1975).
Vợ nhớ chồng:
- Cách một con sông mà đó thương đây nhớ
Chung một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa
Chồng nhớ vợ:
- Cầu nối nhịp duyên ta tròn vẹn
Dòng Hiền Lương mát bến xuôi đò
Con sông vẫn đẹp đôi bờ
Tấm lòng có một, cơ đồ không hai
(Nguyễn Bính, Gửi người vợ miền Nam, 1956)
Nam Bắc cùng mơ ngày:
- Con sông Bến Hải xóa mờ ranh giới
Non sông nước Việt ngày hết chia đôi
Tình Trung Nam Bắc thống nhất giang san
Nắm tay kết đoàn niềm vui hân hoan...
Vào những năm 1960, chương trình Nhắn qua Bến Hải của
đài phát thanh Sài Gòn réo rắt Tung cánh chim tìm về tổ ấm. Bố nói với mẹ: Ngày
về của Hoàng Giác nghe thật thấm thía. Bà còn nhớ Hoàng Giác, con rể bác
Thanh Hàng Lọng không? Chả biết hai bác bây giờ ra sao, có còn xưởng làm đồ
chơi cho trẻ con không? Mẹ chép miệng, thở dài...
Một chiếc cầu lịch sử khác của thời kì chia cắt thỉnh thoảng
được nhắc tới:
Năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi mưu tính gài mìn cầu Công Lý (Sài
Gòn), chờ lúc xe hơi chở bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ McNamara đi qua thì cho nổ.
Nhưng chuyện không thành, Nguyễn Văn Trỗi bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt
và xử bắn tại khám Chí Hòa.
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, hơn nửa thế kỷ rồi
mà hình ảnh hai cái cầu Thị Nghè năm xửa năm xưa vẫn còn chập chờn
trong trí nhớ.
Cái cầu Thị Nghè thứ nhất nằm trên đường Hồng Thập
Tự (Xô Viết Nghệ Tĩnh ngày nay). Suốt năm học đệ thất trường Trần Lục, tôi đi bộ
qua lại không biết bao nhiêu lần trước cái cổng có lính gác, được người ta
"ghi nhớ mãi hình ảnh của em Lê văn Tám tự tẩm dầu xăng châm lửa đốt thành
cây đuốc sống xông thẳng vào thiêu huỷ kho xăng, đạn của giặc (Pháp) ở Thị
Nghè" (6).
Một vài sử gia đã lên tiếng đính chính, sửa sai chuyện này.
Không biết đã ngã ngũ chưa?
Dân Thị Nghè ngày xưa được chứng kiến nhiều biến cố. Mỗi lần
đảo chính, quân đội từ Biên Hòa, Thủ Đức ầm ầm qua cầu Thị Nghè, tiến về Dinh Độc
Lập. Máy bay bỏ bom Dinh Độc Lập cũng bay qua đây. "Phụ nữ bán quân sự"
của bà Nhu cũng chọn Thị Nghè làm chỗ đóng trại, tập luyện.
Cái cầu Thị Nghè thứ hai toạ lạc trong sở thú (thảo
cầm viên). Tuy chẳng đóng vai trò gì quan trọng nhưng cầu cũng nổi tiếng...
kinh khủng! Cầu nối sở thú với làng Thạnh Mỹ Tây, nằm gần trường tiểu học của
làng. Nhớ lại những lần tan học, đi vòng sang sở thú. La cà. Thủng thẳng. Thú
ơi là thú!
Nhưng một ngày kia, một tai nạn khủng khiếp, thảm thương đã xảy
ra tại cầu Thị Nghè này.
Năm đó, không nhớ rõ năm nào, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức Hội
chợ Thị Nghè tại khu vực trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây. Quảng cáo rầm rộ cả
tháng trời. Ngày khai mạc, rất đông người đi xem. Lối vào hội chợ được đặt tại
đầu cầu phía Thạnh Mỹ Tây. Người đi xem bắt buộc phải vào sở thú, đi qua cầu.
Anh em tôi len lỏi mãi mới tới được chân cầu. Nghển cổ nhìn,
bốn phía chỉ thấy người.
- Không lên được đâu. Chờ cho bớt người...
Nhưng người đi xem cứ ùn ùn đến. Chẳng bao lâu, cả trên cầu lẫn
dưới chân cầu đều chật cứng người. Cười đùa vui nhộn. Nhạc vang trời.
Bỗng có tiếng kêu, tiếng hét phía trên cầu. Dường như có người
bị ngạt thở. Nhưng dưới cầu vẫn tiếp tục cười đùa, chen lấn lên cầu.
- Trời đất ơi! Có người bị dẫm chết! Có người rớt xuống sông!
Đừng lên! Đi xuống!
Kêu gào, xô đẩy mãi mới chặn được dòng người chen lên cầu.
Người ta khiêng người chết, người bị thương xuống, đặt nằm cạnh chân cầu.
Tôi hoảng sợ, nắm tay anh đòi đi về.
Hôm sau, báo chí cho biết nguyên nhân chỉ vì ban tổ chức chỉ
cho mở một cửa nhỏ để dễ kiểm soát người ra vào. Báo chí không cho biết số người
chết và bị thương.
Tín ngưỡng dân gian có cầu Vòng, cầu giải oan. Những kẻ độc ác, giết người lúc chết hồn bị đày xuống âm phủ,
phải đi qua cầu Vòng. Cầu trơn, ai ngã xuống sẽ bị thuồng luồng, chó
ngao cắn chết.
Cầu giải oan là cầu làm cho hồn người chết đuối dùng. Cầu
gồm hai phần:
- Một chiếc cầu bằng vải, bắc từ bàn thờ đặt trên bờ ra đến
chỗ người bị chết đuối.
- Một cái thang bằng thân chuối, bắc từ dưới nước lên đến chiếc
cầu vải.
Pháp sư, thầy cúng làm lễ. Hồn người chết đuối, chết oan, sẽ
leo thang chuối, lên cầu vải, đến trước bàn thờ để được cầu siêu, được giải
oan.
Thời bình, cầu được bắc để đi.
- Qua cầu dừng bước trông cầu/ Cầu bao nhiêu dịp em sầu bấy
nhiêu
Cầu là nơi trai gái hẹn hò, gặp gỡ:
- Yêu nhau cởi nón trao nhau/ Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay
Nhiều người táo bạo hơn, cởi cả áo, cả nhẫn trao nhau. Về nhà
mẹ hỏi, thưa rằng qua cầu gió bay. Bà mẹ nào ngây thơ mới tin cô con gái... phải
gió, để bay cả áo, cả nhẫn. Cứ đà này thì coi chừng có ngày bay cả quần đấy. Mẹ
con chỉ còn nước nhìn nhau cười trừ.
Thời chiến, phải phá cầu để địch không tải lương, chuyển quân
được.
Ngày diệt quân Pháp tan...
Dân tưng bừng chặt tre, phá cầu
Đào hào đắp luỹ xây hầm sâu
Giặc chưa tan chiến đấu chưa thôi
Đồng quê chào đón ngày mai
Cầu Hàm Rồng (làm năm 1904) bắc qua sông Mã của tỉnh
Thanh Hóa chiếm một vị trí rất quan trọng. Thời bình thì:
Ai xui ta nhớ Hàm Rồng,
Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây.
Từ ta trở lại Sơn Tây,
Con đường Nam, Bắc ít ngày vãng lai.
Sơn cầu còn đó chưa phai?
Non xanh còn đối? sông dài còn sâu?
Còn thuyền đánh cá buông câu?
Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa? (...)
(Tản Đà, Nhớ cảnh Hàm Rồng)
Thời chiến, cầu cần thiết cho vận chuyển quân sự. Vì vậy mà cầu
lập được "kỷ lục" bị bom đạn đánh phá nhiều lần nhất, và lần nào cũng
được sửa chữa nhanh chóng nhất để việc chi viện quân sự không bị gián đoạn.
Rất nhiều cầu bị bom đạn, chiến tranh tàn phá. Nhưng bom đạn
không hủy diệt được sức sống và niềm tin của người Việt.
Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm,
Tôi sẽ đi thăm, cầu gãy vì mìn
Đi thăm hầm chông và mã tấu...
(Trịnh Công Sơn, Tôi sẽ đi thăm) Hố bom rộng toang hoác được dân làng "thời kỳ đồ
đá" chứa nước mưa thay cái ao làng. Bắc cầu hố bom để ngồi rửa
bát.
Tất cả các cầu to lớn bằng sắt thép bắc qua sông Hồng, sông
Hương, sông Sài Gòn... đều là do thực dân Pháp làm vào cuối thế kỷ 19, đầu thế
kỷ 20.
Năm 1954, tôi được qua cầu Gia Lâm (cầu Doumer, Long Biên,
làm năm 1903).
Sau ngày ký kết hiệp định Genève, sở Vô tuyến điện Hà Nội
tuyên bố sẽ chuyển vào Sài Gòn. Nhân viên ai đi theo sở thì sẽ được bảo đảm tiếp
tục công việc đang làm. Bố mẹ và anh Ph. bàn tính, không cho trẻ con biết, cuối
cùng quyết định cả nhà di cư vào Nam. Anh Ph. sẽ đi trước với tổ chức của học
sinh, sinh viên. Bảy đứa từ anh D. trở xuống sẽ đi với bố mẹ. Còn lại anh Đ. chờ
giải ngũ, sẽ đi sau.
Tôi chưa hiểu được những lo buồn của người lớn. Chỉ thấy từ Bờ
Hồ xuống phố Huế, từ Lò Đúc sang chợ Hôm đến tận hồ Ha-Le (Halais, hồ Thiền
Quang) mọc lên nhiều chợ trời. Hà Nội... vui quá! Người qua lại ồn ào, nhốn
nháo. Tối tối xe nhà binh chạy qua nhà, rẽ sang phố Trần Hưng Đạo. Có tối thấy
cả lính tây, lính ta tụ tập trên vỉa hè gần nhà. Sáng ra, thấy nhiều viên đạn
còn mới toanh vứt ở gốc me, có viên rơi xuống miệng cống.
Một hôm tôi được bố chở bằng xe đạp Peugeot ghé vào chợ trời,
xì xào với mấy người lạ. Đến ngã năm Gia Long, bố lại ngừng xe, nói chuyện với
một người. Rồi bố đưa xe cho người này. Hai bố con đi bộ về nhà. Bố nói xe bán
rồi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét