Bùi Giáng - Người lữ khách cuồng điên và khôn cùng kỷ niệm
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Tự buổi xa xưa nào, Nguyễn Du xuất
hiện trên văn đàn như một tinh cầu rực rỡ, và để lại câu nói buồn ấy thì mấy
trăm năm sau, Việt Nam bỗng xuất hiện bóng dáng lồng lộng của một “người điên”
Bùi Giáng. Nếu Nguyễn Du đã diệu kì chuyển “ Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm
Tài Nhân sang “Truyện Kiều” bất hủ, thì Bùi Giáng đã rất mực tài hoa khi dịch
Nhà sư vướng luỵ của Tô Mạn Thù cùng Hoàng tử bé, Cõi người ta của Saint
Exupéry, Hoà âm điền dã (Andre Gide), Ngộ Nhận (Albert Camus), Hoa Ngõ Hạnh (W.
Shakespeare)… với dấu ấn riêng và tài hoa làm buốt lòng người.
Bùi thi sĩ sinh ngày 17-12-1926 tại
Thanh Châu, Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Ông là thứ năm của ông Bùi Thuyên
và bà Huỳnh Thị Kiềng. Tốt nghiệp trung học, ông có ghi danh vào Đại Học Văn
Khoa, nhưng rồi bỏ, và để hết thời gian để tự học, nghiên cứu, dịch thuật. Văn
nghiệp của ông đồ sộ, có thể tạm chia làm bốn loại:
1)Giảng luận về Văn Học
2)Bản dịch và Giảng luận Triết Học
3)Bản dịch Văn Học
4)Thơ, Văn sáng tác.
Trong đó, thơ là một mảng vô cùng
quan trọng, với nhiều tập: Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Màu Hoa
Trên Ngàn, Bài Ca Quần Đảo, Sa Mạc Trường Ca, Rong Rêu, Đêm Ngắm Trăng… ( về
thơ ông cho đến bây giờ vẫn chưa thể thống kê nổi, bởi mỗi bước chân trên nẻo đời
lang bạt, ông đều để lại dấu ấn của mình trên thơ với thi tứ lai láng và tuyệt
cùng phóng dạt…)
Thơ Bùi Giáng không dễ đọc, chẳng dễ
thể hội. Tôi nhớ, một nhà thơ khi tri kiến chân diện mục Bùi Giáng, đã viết: “Đất
không nói hết lấy gì chẳng điên?”. Phải thế?! Bùi Giáng điên trong hỗn loạn hồng
trần? Điên trong mù sa chiêm bao thiêm thiếp? Trong cõi nhân gian nhoà nhạt
bóng người? Hay điên cho khỏi phũ phàng với những đôi mắt “đười ươi” đang chiếu
vào ông soi mói? Người ta có thể trút chữ “ngông” lên một Tản Đà hào hoa, thì
sá gì một tiếng “điên” cho trí tuệ Bùi Giáng? Người ta gán cho ông cái “điên”
là có lý do khi ông viết:
“Và mai sau tôi có xuống suối vàng
vẫn mong rằng các vị…sẽ ban ân huệ mưa móc sum suê (?) trên nấm mồ mọc cỏ, những
giọt sương trần gian sẽ dỏ hằng ngày xuống đáy huyệt cô đơn”. Hay: “ Kim Cương
nương tử ơi, nếu tại hạ một mai chết đi, nàng hãy … lên nấm mồ tại hạ” (!)…
Hình như Bùi Giáng có một số mệnh
luôn bị ngộ nhận, nhưng cũng luôn hấp dẫn những tranh cãi về mình. Là điên hay
tỉnh, nơi tấm thân phiêu hốt và bụi bặm cùng độ kia? Bùi Giáng cũng tự nhận
mình điên, nhưng theo ông, đó là “cái điên thượng thừa”. Người nghệ sỹ, đến tầm
lô hoả thuần thanh, thì sá gì chuyện có hay không có, điên hay tỉnh, sạch hay
dơ, trong hay đục, tối hay sáng...? Bởi mạng phận cuối cùng của một người nghệ
sỹ là đem thân xác phù du, để nói về chuyện phù du cuộc thế nhân trần. Và tài
hoa của nghệ sỹ, phải chăng là đã nói giùm cho người đời, cái tâm linh sâu thẳm
uyên nguyên phức tạp khôn cùng, lại giản đơn minh tường không xiết?
Dù bị vận vào một định mệnh trói buộc
nào, Bùi Giáng là Bùi Giáng, một “người điên” hoang dại, siêu việt giữa lòng
nhân gian mê loạn u trầm:
Ông điên mà zdui zdẻ thập thành
Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu
(Đi về làng xóm)
Chính trong cõi đớn đau riêng mình,
Bùi Giáng cũng bộc bạch: “Cái kẻ dịu dàng như hươu non đành chịu bóp chết lòng
mình để rống to như thú dữ. Và Nietzsche đã điên. Trước Nietzsche mấy chục năm,
Hoelderlin cũng đã điên. Cùng với bao kẻ khác cũng đã điên. Để ngày nay… Để
ngày nay chúng ta tụ hội về đây, xôn xao nêu câu hỏi: “Cớ sao mà điên”? Nêu một
cách rất ngây thơ tròn trĩnh”(Martin Heidegger – Tư tưởng hiện đại)Họ Bùi từng
trả lời câu hỏi về tên tuổi mình:
Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng đã một màu xanh xanh
Ta làm gì có tên, có quê? Tên ta
đó, quê ta đó, biển dâu xanh kia hoá thân từ những tang thương kiếp người,
trong dòng sông nguồn mạch nào chảy từ muôn ngàn cổ độ. Mà nói cho cùng thì quê
hương rốt ráo của mỗi người là ở đâu các ngươi có biết chăng? Mượn cuộc tồn
sinh để đón lấy vang động biến cố của Tạo Tác, là ý muốn của “gã cà rỡn” kia
trong cõi tạm chết – sống đấy thôi! (Nói như Bùi Giáng là mượnTại Thể để đón lấyTồn
Thể (Hoạt Tinh Thể) uyên nguyên trong ngần bất sinh bất diệt). Hoài Khanh có
hai câu thơ thế này:
Qua sông là một nhịp cầu
Qua tôi là một kiếp sầu vô chung
Nhịp cầu là một cái gì để qua sông,
thì kiếp sầu vô chung này, kẻ nghệ sỹ xin gánh để thấm đẫm nhân sinh luân hoán
phai phôi, là niềm se sắt chờ mong trong kì vọng lơ lửng, lửng lơ…
Phải hiểu thật sự cái ngông kiêu cuồng
kia, là tinh thần phóng dật như Lão Trang, lại mang Thiện Tâm của đức Cù Đàm;
và đằng sau vẻ ngang tàng kiêu bạc là một trái tim mong manh như thuỷ tinh, vô
cùng yếu đuối và dễ vỡ trước những quẩn quanh kiếp người phù thăng. Trái tim
kia, quá tinh tế, linh mẫn, nên luôn quắt quay khôn nguôi trước những niềm bi cảm
trên ngã đời luân lạc, bất ngờ một hôm đứng sựng lại giữa Tinh Sương Hoằng Viễn…
Có tế vi mới viết những vần thơ tài
hoa, thăng tột với con chữ như:
Mưa nguồn đổ xuống trang thơ
Cỏ hoa cồn lũng bất ngờ chịu chơi
hay:
Ngõ ban sơ hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua…
Và có quắt quay không, đớn đau
không khi viết:
Lỡ từ lạc bước chân ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn.
Hiếm có tác giả nào mà khi chúng ta
đọc một câu, một câu thôi, đủ thấy được tinh thể của cả văn nghiệp, khí độ và
phong cách xuyên suốt bình sinh. Cái ấy gọi là “khai môn kiến sơn, nhất khí
quán hạ” (mở cửa thấy núi, một khí xuyên thấu). Bùi Giáng thuộc vào loaị thiên
tài không định nghĩa được (génie indéfinissable), kết bằng băng tuyết ở Thiên
Sơn hùng vĩ, sạch trong và lung linh mơ hoặc. Tinh chất Bùi Giáng là thứ nguyên
liệu quý hiếm, khó nắm bắt, mà lại vượt quá chiều kích bình thường, phải yêu lắm,
gắng sức lắm, mới có thể trùng ngộ với Trung Niên thi sĩ qua mấy vần thơ như rỡn:
Tiêu dao phương cảo chuyên cần
Cỏ thơm còn mọc, hồng quần cứ che
Sông lên mùa cũ hội hè
Liễu hoa cổ độ lập loè vết son
Ngẩng lên chót vót trời tròn
Ân tình đất méo máu còn bổ sung…
(Tặng Phố Chợ Lớn)
Gặp Bồ Tát miệng cười như nắc nẻ
Một hôm nào nương tử bước hai chân
Vén xiêm áo nghe tượng thần mở hé
Hiểu được Nhất Nguyên Thể Luận, vạn
vật khởi nguyên nhất thể, thì có thể hiểu thơ Bùi Giáng. Nguy cơ của phát triển
là sự phân ly, xa dần suối nguồn nguyên thuỷ diệu huyền. Sa Mạc sẽ lớn dần (ông
đã viết Sa Mạc Phát Tiết), và tràn lan hư vô chủ nghĩa. Bùi Giáng từng than:
Trần gian bất tuyệt một lần
Nghe triều biển lục xa dần non xanh
…Màu hoang đảo từ đây em sẽ ngó
Cát xa bờ tơ chỉ rối chiêm bao.
Tái lập lại màu xanh nguyên thuỷ
ban sơ, là ước vọng vô chừng của người thi sĩ Đười Ươi. Mà ngôn ngữ, là Huyền Tẫn(*):
vô hạn, vô lường và ẩn mật tinh tế trong vô ngôn, vô ngữ vĩ thanh. Ngôn ngữ thơ
ông có ngụ ngôn, ngoa ngôn, dụ ngôn, chi ngôn.. để gói ghém tất cả những gì
tinh tuý nhất của “bản lai diện mục” xưa nay, điều mà ngôn ngữ bình thường
không hàm chứa nổi:
Mẹ ơi chiếu cố Sa Mù cho con
hay:
Nguyên hình Nữ Chúa trên ngày phù
du.
Ngôn ngữ thơ ấy sâu xa, hùng hậu,
bí nhiệm, lại hồn nhiên ngộ nghĩnh như bài kệ của những vị thiền sư, mà “sư cụ”
Bùi Giáng đã cưỡng bức một cách không khoan nhượng để tự thân ngôn ngữ hoá
thành chiếc cầu nối phương tiện và cứu cánh trong thơ ông. Bằng năng lực tự
sinh hoá khôn cùng, trùng trùng lớp lớp những tầng, nghĩa, chức năng của ngôn
ngữ đã được ông dùng đều chung một đích: nói cho được cái Sơ Nguyên Biểu Tượng,
phơi mở cái thung dung dị thường phong nhiêu ẩn mật của một Thuần Khiết đã xa
xăm.... Oâng từng nói đến việc làm này, hay ít nhất cũng tương tự như vậy:
Thưa rằng nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào.
Phong cách ấy, theo ngôn ngữ bây giờ,
là hồn thơ mang phong cách hậu hiện đại. Hồn thơ ấy có bắt nguồn trần thế thời ấu
nhi:
Tuổi thơ nhiếp dẫn sai miền
Đổ xiêu phấn bướm, phi tuyền vọng
âm…
Rồi lớn lên chứng kiến cảnh hãi
hùng:
Hãi hùng bi kịch đồi tranh
Trùng quan vó ngựa tế nhanh sương
mù
Thây người nát ở phía sau
Nghìn thu khép hột khổ đau khôn
hàn!
Để một hôm, xuất hiện một cá tính
thơ vui vẻ, nghịch ngợm nhất:
Bùi Đưòi Ươi
Đích thị đương nhiên
Là cốt cách thần tiên tót vời
Hơn Lý Trích Tiên
Nhiều lắmmm!
Với nguyên căn đó, ông làm hết
mình, sống hết mình trong thơ, bằng niềm phấn khích luôn nồng đượm, say sưa, mặc
cho người đời nói gì… Bởi:
Thơ ơi, em bỏ Sa Mù
Đi thiêm thiếp cõi quân thù gọi
nhau …
Bùi Giáng đã điềm nhiên bước giữa
nhân trần mải mê mộng mị (“bán rẻ Sinh Tử cho ngày Phù Du”- BG), khơi mở hồn
Đông -Tây, xuyên qua thế kỷ và linh hồn Nam Việt bằng miên man vô bờ kỷ niệm. Bởi,
khi tất cả đã trôi xuôi, chúng ta còn lại gì cho mình, ngoài những hoài niệm?
Hoài niệm, dẫu có hạnh phúc vô biên hay đắng xót luỵ phiền và đau đáu niềm
riêng khôn hàn; cũng mang dáng dấp của những thiên thần, xinh tươi lộng ngát
như nắng xuân, thu vũ, long lanh vĩnh cửu miên trường … Có khi vầng tà dương
trong buổi chiều mộ địa mãi mãi là tà dương mộ địa vời vợi nhạt nhoà, bất khả
tư nghị…
Kỷ niệm trong thơ Bùi Giáng, có thể
là cuộc hạnh ngộ mơ hồ kỳ bí giữa thi sĩ và những giai nhân, cười cợt hoang
đàng với một Bardot trên chênh vênh đồi núi, một Monroe ẩn khuất khe mương. Có
thể là nỗi ray rứt khôn cùng về cái chết của người vợ trẻ, rồi bao năm tháng
qua, nỗi quắt quay trong cơn đau cũ đã ung thành mối nhành tư tiêu da diết
trong buổi xế chiều:
Mỗi giây phút mỗi bất ngờ
Mỗi đêm tưởng tượng thẹn thò tình
em
Tình em bao xiết êm đềm
Tình tôi như thể chênh vênh lạ thường
(Thôn nữ)
Kỷ niệm cũng là cuộc phiêu du trên
những vùng miền, linh đinh trời đất lạ với bao ân tình như gió thoảng mây xa lại
sâu sắc mặn mà.
Đó là Bình Dương:
Em về đất rộng Bình Dương
Phố mai là gió môi hường se đâu
Tóc xanh bủa lệch mái đầu
Mày xanh như lệ pha sầu ruộng xuân
(Ruộng Bình Dương)
Là Lục tỉnh:
Đây Mỹ Tho, Cần Thơ, Châu Đốc
Long Xuyên ơi và Sa Đéc em ơi
Trời kỷ niệm đi về trong đáy mắt
Thổi dư vang dĩ vãng xa vời
(Chào thu Lục tỉnh)
Là cao nguyên vi vút gió núi mây
ngàn lồng lộng:
Ngàn thông ơi ở đó đón bóng tà
Và giữ lại chuyện đời ta đi mất
Bước khúc khuỷu trong ngàn khe khóc
lóc
Dặm mơ màng tăm tắp mấy mù khơi
(Giã từ Đà Lạt)
Nói với đất? Nói với người? Hay tiếng
vọng từ muôn cõi xa xăm hồn vọng với những dư ba tươi trong lẩn khuất, rồi bất
chợt bùng phát ba đào như những viễn tượng mù khơi? Không rõ! Bùi Giáng hồn
nhiên bước qua bao núi đồi xứ sở, chẳng để làm gì, chỉ mong thoả nguyện ý phiêu
bồng và vuông tròn mối tình êm với người, với đất, với Phong Tình Cổ Lục Như
Nhiên…
Nhưng những kiêu bạc phù phiếm kia
cũng chẳng là gì, Bùi Giáng đáo cuộc trở về đạm nhiên với ruộng đồng chân chất.
Về thôi, Phồn Hoa Phố Phường có là gì, Hồng Trần Sơ Nguyên mới là Bến Thiên
Thai:
Tiếng nói xa vang trên đầu ngọn lúa
Vì ngôn ngữ ngày kia em để úa
Bỗng lên lời bên mép cỏ như sương
Cũng xanh như dòng lệ khóc phai hường …
Người phố thị mỉm cười đầu ngang ngửa
Tô son đỏ vào hai môi lượt nữa
Chợt thấy mình còn đầy đủ dung nhan
Thuở xưa kia suối ngọc ngó mây
vàng…
(Biểu tượng Sơ Nguyên)
Trong Bùi Giáng, trong con người đã
bao phen làm thiên hạ lay lắt ngất ngây vì những lời thơ anh hoa phát tiết,
sang trọng kiêu cuồng, có một người nhà quê. Khi bóng dáng những giai nhân thế
trần mờ loãng, là sẽ sàng gót sen thôn nữ đượm hương thắm sắùc đi về, chập chờn
ẩn hiện, như khói như sương, vời vợi với trở trăn lung linh mơ ảo:
Gặp em từ ấy tới giờ
Năm mươi năm chẵn như tờ lặng im
Biết bao dâu bể nổi chìm
Đôi lần con mắt lim dim nhớ gì
…Ngày mai vĩnh biệt cõi đời
Trùng lai có lẽ cuối trời biệt ly
(Tặng Gái quê)
Bùi Giáng lặn ngụp hoài trong cuộc
sinh ly, mong tìm lại hương vị mênh mông của những người em gái ruộng đồng? Tìm
bao hanh hao dịu dàng vương vấn nguyên hoang của tâm hồn ngây thơ trinh nữ? Tìm
lại lá hoa của những tháng năm nào xa mút tầm tay:
Bàn chân bước người đi vào một thuở
Lá phân vân bờ cát bến sương rung
Trời khuya khoắt phiêu du trăng bỡ
ngỡ
Người đi đâu sông nước lạnh vô
cùng?
(Người đi đâu)
Người đi đâu? Chẳng biết. Để nhà
thơ ôm mộng trầm luân trong suối biếc rừng già, quy hồi mà tìm kiếm những hương
vàng cố quận, để thấy những mái nhà tranh, những bờ ruộng cũ, đậm đà trong lời
ca dao hồn hậu thân tình:
Viết thơ lạc dấu sai dòng
Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa
mong
Nước xanh lên đọt đòng đòng
Ngày mai sẽ mất hạt lòng thơ ngây
(Ca dao)
Để tìm thời thơ ấu xa xưa:
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba băng rú rậm luống rùng mình
Những bận nào Quế Sơn rù rì con suối
ngược
Nước trôi nguồn suối lũ cuốn phăng
phăng
Bùi Giáng đã mở ra một không gian
thơ ơ thờ chân chất khi đang rong chơi giữa lòng phồn hoa. Đó là một Quảng Nam
đá sỏi khô cằn, là con sông Thu Bồn dịu êm trôi trong khoăn nhặt chơi vơi điệu
hò khoan vãi tung sóng nước đêm trăng, là những ngày lũ ngập buồn hiu xơ xác đến
thắt lòng. Từ sợi dây ấy, tâm hồn nhà thơ như cánh diều bay đón lấy mọi viễn tượng
của thiên nhiên để nó “biến thành lẽ sống và chết của chính mình”:
Mây đứng lại nơi chân trời phủ khói
Dòng sông đi đò bến đợi ngu ngơ
Chiều trời đẹp tâm tình em không
nói
Đất với trời chung một nghĩa bơ vơ.
(Không đủ gọi một lần)
Bùi Giáng ôm mộng bơ vơ đi muôn nẻo,
ấp yêu từng hơi thở của hoài niệm mù sương lãng đãng, để dành và trân trọng từng
cuộc gặp gỡ tình cờ:
Đi về làng xóm năm xưa
Viếng thăm người cũ người chưa quên
người
(Đi về làng xóm)
Làng xóm ấy, những con người Quảng
mộc mạc nghĩa tình ấy, như vẫn chờ dấu chân phiêu sau cuộc rong chơi buồn phiền
mỏi mệt, nơi nhà thơ đã một lần rời xa để ra đi nuôi giấc mộng đời. Rồi vạn lần
hẹn ngày về:
Non nửa thế kỷ xa quê
Mà chưa có dịp về quê một lần
Bảy mươi mốt tuổi tần ngần
Nước non Nam Việt chiếm gần trọn
tim
Về Trung biết chốn nào tìm
Lại ngôi nhà cũ láng giềng đã qua?
Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi…
(Tâm sự)
Lời hẹn trở về sao mông lung xa vời
cách biệt? Non nửa thế kỷ với biết bao điền hải thương tang, bão bùng dịu vợi
và tử biệt sinh ly? Thôn nữ em ơi! Vùng yêu thương – em – má phấn hương đào nay
đã mất, thì sá gì chút đèn màu phố thị trong lễ hội phù hoa?? Cõi trầm tư như đảo
như điên gọi ai về đầu rú khe truông, la đà dừng đậu , rồi la đà vụt mất? Trong
dòng lũ của hoài niệm mình, nhà thơ “nắm tay cô thôn nữ năm xưa, thung thăng
rong chơi cùng những Heidegger, Hoelderlin, Saint-Exupéry… la đà bay qua những
tháp chuông cổ kính rêu phong hai bên dòng sông Danube hay những vì sao rực rỡ
trên dải Ngân Hà” (Nguyễn Hoàng Văn – Bùi Giáng, một vùng đất hẹp và một thế giới
lớn).
Hoa, giá như cuộc đời không còn những
cành lan, những đoá cúc, những mai vàng lấp loá trước sân mỗi độ mùa sang, như
báo hiệu, như nũng nịu, như cười cợt, như đong đưa…thì còn gì nữa cho một câu
thơ giản đơn mà thê thiết lắng hồn:
Mùa xuân em có về không?
Câu hỏi ấy nghe có rưng rưng? Sao
năm nay em không về cố quận, để có một người ra hiên ngóng vết thiên di? Vết
thiên di của những chân trời lưu lạc tha phương, vẽ chằng chịt trên bầu không
gió lộng, nay bỗng như tựu hội đủ đầy bên cành mai gầy đơm hoa lóng lánh tiết
xuân khai… Cố quận? Cố quận! Là quê xưa. Là chốn cũ. Là nơi bước chân lưu lạc
luôn mong ngóng bữa trở về, từ dạo ngút ngàn xa mãi những chân mây? Hay là cõi
uyên nguyên thẳm sâu của mỗi sinh linh trên cuộc thế phiêu hoang? Một câu hỏi từ
tốn dịu dàng, mà khơi biết bao nhiêu mùa gió lũ trong trái tim con người, về thời
gian, không gian, huyết thống chôn nhau và khôn cùng kỉ niệm sơ đầu… Cố quận,
là chỗ từ ấy ta ra đi, và cũng là nơi hẹn bữa trở về…?
Cố quận, chỉ giản đơn là cố hương,
cố quốc, cố đô? Hay cố quận là tất thảy những gì đã lìa xa, xa mãi, để một hôm,
nhìn ngó lại bằng một con mắt:
Vì con mắt một lần kia đã ngó
Giữa nhân gian bủa dựng một bầu trời
Đài vũ trụ hồn nhiên bao rạng tỏ
Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi…
(Ly Tao 2)
Hay:
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
(nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã mượn lời
thơ ấy phổ thành một ca khúc của ông.)
Rốt ráo sau cùng của thơ người thi
sĩ họ Bùi, là muôn vàn huyền nhiệm khôn cùng ẩn mật đằng sau cái nếp gấp của kỉ
niệm. Kỉ niệm là nhớ về thời đã qua? Thời đã qua là thời nào? Hãy nghe ông nói:
“…hai vũ trụ nhìn nhau trong một thế giới, một thế giới ngăn cách với nhau bằng
một vực thẳm. Cái cốt lõi của vực thẳm là có thể vượt qua bằng một bước nhảy. Cốt
lõi của bước nhảy là sự nguy hiểm… Ở đâu có sự nguy hiểm, ở đó có giải thoát…
Ngôi nhà của tự thể không còn nữa. Kẻ chăn tự ngã, anh lính gác cửa hư vô đã bỏ
rơi chúng ta. Ngôn ngữ của chúng ta bỗng trở nên lúng túng. Cái nếp gấp trong
suốt không bộc lộ ra, vậy còn lại gì là cốt lõi …?”
Ngàn cây cố quận đôi lời sương
thu(Lời Cố Quận)
Trung Niên Thi Sĩ đã mơ về giấc mơ
kết nối Đông – Tây, giấc mơ nguyên hoang. Nơi cố quận ấy, phải chăng là Niết
Bàn, nơi Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Jesu Chirist, Thích Ca, Heideigger,
Hoelderlin, Nieztsche, Andre Gide, Anbert Camus, Kahlil Gibran… đang nắm tay
nhau nhảy múa, ca khúc thênh thênh? Là Uyên Mặc? Hố Thẳm? Là Bình Minh Châu Thổ?
Là Trăng Tỳ Hải? Là Sa Mù Khôi Nguyên? … Cũng không ai giải thích nổi, xin hãy
bước vào bằng tâm linh xưa cũ, để nghe tiếng rì rầm của nhân gian ngàn kiếp, của
loài vượn trong rừng sâu như thơ Tuệ Trung thượng sỹ:
Người đời chỉ thấy núi non xanh tốt
Mấy ai nghe tiếng vượn kêu trong rừng
thẳm?
Hay như lời tự giới thiệu của René
Char, thi sĩ Pháp:
Tôi nói từ cõi rất xa
Ngài nghe tôi nói nó ra thế nào?
(Je parle de si loin
Comment m’entendez-vous?)……
Thơ Bùi Giáng dẫn dắt ta qua đầu trời
cuối biển, những vườn rộng song thưa, qua miên man đất trời cỏ cây hoa lá, qua
bao miền sương đổ mưa giăng chơi vơi, qua bao nhịp luân chuyển chênh vênh của
tháng ngày, đến những cõi vô cùng mà ta không sao chạm tới. Đọc Bùi Giáng, người
ta cứ phải e sợ ngại ngần, bởi khó thể hội hết khối ngôn-ngữ-thơ-Bùi-Giáng. Và
cũng bởi khi đã hiểu lại chẳng thể chia sẻ cùng ai, như trong truyện xưa một
người chẳng thể trả lời câu hỏi của người khác khi đang ngậm cây ngang miệng giếng.
Có cách giải thích nào khác thì ấy là vì ngại nói đến cái tuyệt bích. Tuyệt
bích mãi mãi là khát khao, mà phải chăng khi chạm đến tuyệt bích cũng là sắp sửa
của những mùa vỡ tan? Vỡ tan những chân trời viễn mộng. Viễn tượng. Khốn cùng
thay! Những diệu vợi ẩn tàng vẫn nghiễm nhiên ẩn tàng diệu vợi. Trung Niên Thi
Sĩ bỗng trở thành kẻ đứng trên tịch hạp chon von của tận cùng nhiệm màu vô
ngôn. Để cô liêu lên chơi vơi giữa hai bờ Thực Aỏ phiêu linh Huyễn Mộng, và
lòng riêng đăm đăm hướng vọng Đạm Nhiên thâm u trầm tịch:
Ta sẽ đến đứng bên bờ nước cũ
Mộng xanh ngần giậy nối giấc em xưa
Ngó non nước giữa sớm chiều tư lự
Đón mơ màng về thổi gió lưa thưa
(Bờ Nước Cũ – Mưa Nguồn)
Mặc tất cả, với Bùi Giáng, chỉ cần:
Mai sau có dự hội nào
Ngó nhau từ kỷ niệm đầu bão giông…
Con người, dưòng như có một bi kịch,
một triển hạn nào đó với sứ mạng trên trần gian. Sứ mạng chấm dứt, nghĩa là đến
ngày về. Góp nhặt tháng ngày, như sẻ nâu nhặt thóc trên mái ngói những ngày
đông giá, để chờ một mùa xuân - mùa xuân miên viễn tinh khôi, mùa xuân trường cửu
vĩnh hằng của bà mẹ Phusis hiền hoà ngàn năm thắm mãi dư vang mưa nguồn…
Đốt phá hết cuộc đời, đốt phá hết khái
niệm, ràng buộc, đốt phá sạch sành sanh ham muốn, cả những ước muốn đốt phá… mới
thực sự là sống. Vạn điều khổ đau, đều khởi lên từ một ánh nhìn, một nghĩ suy.
Hôm nay đốt tàn tro kỉ niệm, là để về tử tận ươm mầm tái sinh. Cánh thiên nga
đã tắm trên dòng sông thế dương, để rồi vù bay giữa những chân trời xa mờ, tinh
khôi thân xác mà dấu vết hiện diện có chăng là sóng nước lao xao, một bận, và
yên lặng ngàn ngày… Bùi Giáng đã mất, hạc vàng đã về Bồng Lai, cuộc tắm táp giữa
dòng, là để về non khơi xa khuất viễn phương, giấu lệ ngàn năm tuôn dài trên những
vùng xa ngái…
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy
không?
Ta đi gửi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?
Chiếc lá ấy trả lời:
- Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu nguyên
xuân.
(Chào Nguyên Xuân)
(*) “Huyền Tẫn”: Huyền – nghĩa lý
sâu thẳm. Tẫn – con thú giống cái. Từ này được hiểu là “Nguyên lý Mẹ” – cốt lõi
tinh hoa Đạo Đức Kinh của Lão Tử.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét