Không phải ngẫu nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương xuất hiện nhiều tiếng
khóc. Thi sĩ đã từng làm người vợ cô đơn ngay trong thì xuân sắc. Thơ Hồ Xuân
Hương ám ảnh bởi một nỗi buồn thương khôn tả, nhưng cũng đầy âm vang tiếng
cười, phản ánh những cố gắng của con người muốn vươn lên trên số phận nghiệt
ngã, muốn vứt bỏ hết mọi sự thiêng liêng giả tạo. Khóc hay cười ở Xuân Hương
đều gắn với phần đời bất hạnh và cá tính của thi sĩ, đều bắt nguồn từ quan niệm
của nhà thơ: con người cần phải sống, sống với tất cả nỗi vui buồn trần
thế.
Trước Hồ Xuân Hương, văn học viết Việt Nam vẫn
thiên về vẻ đẹp thanh cao, vẻ đẹp của con người khắc kỉ phục lễ.
Tới thời Xuân Hương: Tư tưởng Nho giáo bị rạn nứt, các tín ngưỡng dân gian có
thêm điều kiện nảy nở phát triển mạnh mẽ hơn. Thơ Hồ Xuân Hương nổi lên cảm
hứng giải phóng đời sống tình cảm, trước hết là tình cảm yêu đương lứa đôi, và
đồng thời là cảm hứng đấu tranh cho quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc chính
đáng của con người...
Trước Hồ Xuân Hương thơ dùng để tỏ chí
hướng, lí tưởng của nam nhi. Đến Xuân Hương, thơ trở thành phương tiện để
kí thác tình cảm riêng tư, với những vui buồn trần thế nhất. Tự tình là
một trường hợp cho thấy rõ điều đó. Tự tình được đặt tên chung
cho ba bài thơ, trong đó Tự tình II là bài thơ đặc sắc nhất.
“Tự tình” nghĩa là bày
tỏ tình cảm của mình, bày tỏ lòng mình, thân phận của mình. Xuân Hương bộc bạch
nỗi niềm của mình cho chính mình nghe. Phải là một người có ý thức cá nhân sâu
sắc trong khát khao được chia sẻ, cảm thông mới đặt thi đề như vậy. Cái tôi trữ
tình của bài thơ là cái tôi cô đơn, bị bỏ rơi, bị quên lãng
trên dòng đời. Đó còn là cái tôi táo bạo, muốn phá tung những trói buộc của
hoàn cảnh, duyên phận, khao khát được hưởng hạnh phúc, tuổi xuân trọn vẹn.
Bài thơ mở ra từ một khoảnh khắc đặc
biệt:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Đêm khuya là lúc mọi suy nghĩ, nỗi niềm của con người
lắng đọng lại, con người đối diện với chính mình, sống thật với mình nhất. Hai
chữ “đêm khuya” gợi cho người đọc liên tưởng tới hình ảnh con người bị
bủa vây bởi thời gian lạng lẽo, một con người đương thao thức trong không gian
mênh mông, quạnh vắng. “Đêm khuya” cũng là thời điểm Hồ Xuân Hương
cảm nhận được trọn vẹn và sâu sắc thân phận mình. Cảm thức về thời gian, xét
rộng ra là tâm thức về tuổi trẻ, tuổi xuân của con người.
Đối với người xưa, tiếng trống điểm canh thật
đời thường và gần gũi. Khi tiếng trống canh vang lên, ấy là lúc con người ta
giật mình cảm thấy thời gian đang trôi. Tiếng trống canh đêm nào mà chẳng vọng
lại, để nhắc nhở con người về sự đổi thay, vận động trong trời đất, tạo vật. Nhịp
trống hôm nào chẳng đều đều và buồn tẻ vậy, nhưng với Xuân Hương, tiếng trống
đêm nay dồn dập, giục giã không như mọi ngày, không như mọi lần. Tiếng trống
dồn dập như thúc giục xuân của đất trời và thời xuân sắc của đời người trôi
đi.
Trong thơ Hồ Xuân Hương, hình ảnh âm
thanh thường xuất hiện ở trạng thái “văng vẳng”. Âm thanh đó, có thể
là tiếng khóc bi thương, hay tiếng gà gáy gọi dậy niềm oán hờn, uất hận: “Văng
vẳng bên tai tiếng khóc chồng” (Dỗ người đàn bà chồng chết); “Văng vẳng
tai nghe tiếng khóc gì? (Bỡn bà lang khóc chồng); “Tiếng gà văng
vẳng gáy trên bom” (Tự tình 1)… Môtíp“văng vẳng” luôn gắn với
một trạng thái mơ hồ, một khoảng lặng, một ám ảnh. Đây là tình huống trữ tình
thường thấy trong thế giới thơ Hồ Xuân Hương. Tiếng khóc, tiếng gà và
cả tiếng trống... một mặt là những âm thanh hiện tại xa xăm, mặt
khác là sự ám ảnh khôn nguôi. Đó là một ký hiệu âm thanh. “Văng vẳng” là
âm thanh từ xa vọng lại, âm thanh vụt hiện từ trong tiềm thức, từ trong giấc
ngủ. Thì ra Xuân Hương đâu chỉ cảm nhận âm thanh mà còn lắng nghe bước đi của
thời gian, lắng nghe lòng mình thổn thức, rạo rực trong trông ngóng khát khao.
Dường như có tâm trạng buồn tủi, uất ức chất chứa trong nhịp thứ hai của câu
phá đề. Thi sĩ sử dụng bút pháp lấy động tả tĩnh phác hoạ
thành công một không gian hiu quạnh.
Câu thừa đề sử dụng thủ pháp đối lập làm nổi
bật cảnh ngộ cô đơn của chủ thể trữ tình. Niềm khát khao ngóng đợi, nỗi lo âu
thảng thốt của con người tự bao giờ đã trở thành vô vọng, tuyệt vọng. Trước mắt
ta xuất hiện một con người đã hoá đá, trơ trọi giữa vũ trụ bao la. Biện pháp đảo
ngữ kết hợp với cách ngắt nhịp rất lạ gây ấn tượng
mạnh đối với người đọc về nỗi niềm cô đơn, buồn tủi của nữ sĩ. Xuân Hương cảm
thấy mình nhỏ bé giữa không gian rộng lớn, cảm thấy không có nơi bấu víu, nương
tựa trước dòng thời gian vô thuỷ, vô chung. Hai chữ “Hồng nhan” gợi
ra nỗi xót xa bạc phận của đời người, gợi tả được sâu sắc sự bất công không
phải riêng một kiếp người gánh chịu. Xuân Hương đồng bệnh, đồng cảnh với bậc
tài nữ, tài tình trong xã hội đương thời. Từ cái vừa cụ
thể hoá một thân phận cô đơn vừa vật thể hoá vẻ đẹp
phụ nữ. Cụm từ “cái hồng nhan” gợi ra sự rẻ rúng, mỉa mai của tạo hoá về
dung nhan thiếu nữ. Phải là một người thao thức đếm bước đi của thời gian, khao
khát hạnh phúc lứa đôi mới thấy rõ thân phận hẩm hiu, đơn chiếc như vậy .Và
phải là một người tự ý thức sâu sắc về cái vô hạn của cuộc đời (nước non) và sự
hữu hạn của đời người mới thấy hết cái mỏng manh của duyên phận, duyên
tình.
Hai câu thực vừa là ngoại cảnh vừa
là tâm cảnh. Nghệ thuật tiểu đối (chén rượu - vầng
trăng, hương đưa - bóng xế, say - tỉnh, khuyết - tròn) góp phần làm nổi bật sự
dở dang, mong manh của duyên phận. Câu thơ nào cũng gợi lên bi
kịch.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn
Câu thứ nhất nhấn mạnh bi kịch tinh
thần. Dường như Xuân Hương muốn mượn rượu để quên đi nỗi niềm xót xa, buồn
tủi của mình. Nhưng hơi rượu thoảng qua không thể giúp thi sĩ quên được cảnh
ngộ muộn màng, lỡ dở ấy. Xuân Hương “say lại tỉnh”, nghĩa là muốn trốn
chạy thực tại bạc bẽo lúc bấy giờ mà không được. Bao nhiêu chua chát, đắng cay
dồn tụ vào chữ “lại “. Từ “lại” vừa cho thấy - đây
không phải lần đầu thi sĩ khao khát vượt thoát khỏi sự cô đơn vừa gợi lên cái
vòng quanh quẩn của duyên phận con người. Say là trạng thái
quên, giây phút chủ thể trữ tình rũ bỏ được những phiền muộn trong lòng.Tỉnh
rượu là lúc con người trở về với thực tại, thấm thía cảnh ngộ bơ vơ và
thất vọng vì hạnh phúc vẫn vượt quá tầm tay với. Nếu xem Say là
lúc con người chìm trong giấc mộng, chìm vào hư ảo mênh mông, thì Tỉnh chính
là sự vỡ mộng. Nỗi chán chường tăng lên gấp bội.
Theo lôgíc bài thơ, hình ảnh “chén
rượu” đối với “vầng trăng”. Trạng thái “say- tỉnh” đối với qui luật
“khuyết - tròn”. Nhưng saychỉ là ảo giác, giả tưởng thôi, còn tỉnh táo
nhận ra duyên phận, duyên tình mới là sự thực. Vì ở đây, không hề có chén rượu
nào để Xuân Hương quên đi cuộc đời đáng khóc. Thi sĩ ngồi nhẫn tàn canh nhưng
đâu thấy mảnh trăng tròn đầy. Thi sĩ mong chờ nhưng đến cuối cuộc đời chẳng gặp
ai hiểu nỗi lòng mình. Nàng đã đợi tới cuối thì xuân sắc mà đâu thấy tri âm.
Câu thứ hai thể hiện bi kịch éo le của
duyên phận, của cuộc đời nhà thơ. Vầng trăng tàn khuyết chính là hình ảnh
duyên phận con người. Vầngtrăng khuyết đã bao mùa soi bóng lẻ, bao đời chứng
kiến cảnh xanh lá bạc vôi ở dưới cõi người. Khao khát ngóng đợi vậy thôi, chứ
Xuân Hương biết thân phận bạc như vôi của mình rồi. Tuổi xuân cứ vùn vụt trôi,
tuổi trẻ thêm ngắn lại, duyên tình thì ngày càng xa tít ở đâu. Xuân Hương cũng
như Kiều ở chỗ: “biết thân chạy chẳng khỏi trời “, nhưng khác Kiều ở cái ý nghĩ
muốn “liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”.
Nếu vầng trăng hiện thân cho
mơ ước về hạnh phúc vẹn đầy, là khát khao yêu đương đẹp đẽ thì Bóng xế là
cảnh ngộ ngang trái, trớ trêu. Bề ngoài câu thơ gợi qui luật khách quan của tự
nhiên: trăng khuyết rồi sẽ tròn, con người sẽ thoát khỏi nỗi đau phận bạc.
Nhưng ngẫm kĩ, thì thấy thiên nhiên không hề thay đổi. Trăng vẫn khuyết như
thuở ban đầu, tức điều ngang trái kia đã xảy ra rồi và trở lại nhiều lần trong
cuộc đời thi sĩ. Ta biết: sóng vẫn dậy trong lòng thi sĩ Xuân Hương.
Nhắc đến trăng khuyết, trăng xẻ đôi người
đọc thường nhớ tới nỗi đau chia phôi của con người. Trong tâm thức sáng tác dân
gian, bao giờ trăng khuyết cũng trở thành một biểu tượng của cảnh ngộ lứa đôi
xa cách. Trở về với thi liệu quen thuộc này, Xuân Hương sáng tạo thêm một mảnh
vỡ khác: Đó là mảnh vỡ của duyên phận, của cả một đời người. Trăng
khuyết được nhìn từ bi kịch cá nhân, trở thành một hình ảnh định mệnh. Trăng
khuyết nghĩa là trăng cô đơn, trăng bị lãng quên ngay cả khi “lên
ngôi” và khi sắp lặn. Mảnh trăng mỏng manh, nhỏ bé vậy mà cứ mờ nhoè, phai nhạt
theo tháng năm. Trăng khuyếtkhông xuất hiện như một kỉ niệm hay một
dự cảm xa xôi; nó hiện ra như một nỗi đau thường trực.
Từ “khuyết” là nhãn tự của câu
thơ, đồng thời của cả bài thơ. Thế giới Tự tình, đâu đâu cũng
giăng mắc sự khuyết thiếu. Câu phá đề ứng với nỗi đau chợt vỡ oà,
tức tưởi. Sự yên tĩnh không trọn vẹn. Nỗi đau thân phận không ngủ
yên. Nó thức dậy dày vò con người. Câu thừa đề nhấn mạnh sự khuyết
thiếu người tri âm. Xuân Hương bị bỏ rơi trên dòng thời gian vô tình. Nỗi
xót xa buồn tủi không thể giấu được. Nụ cười ngạo nghễ thách thức ẩn đi, nhường
chỗ cho giọt nước mắt đầy vơi. Cả câu thơ dâng đầy niềm cô quạnh. Câu thơ thứ
ba tê tái và thấm thía hơn. Cuộc say ngắn ngủi, giấc mộng tan mau, con người
muốn trốn chạy hiện thực phũ phàng rốt cuộc vẫn phải đối mặt với nó, sống trong
nó. Chén rượu không đủ nồng nàn; hương rượu ở đâu thoảng lại, người thơ chuếnh
choáng chốc lát. Thế là cuộc trốn chạy kia đứt gẫy dở dang. Cảnh đấy, tình này
sao có thể ghìm giữ được. Sóng lòng cứ tự nhiên trào lên lớp lớp nhói buốt.
Giữa biển rộng dài, mênh mông không bến bờ, chẳng ai có thể thấy được con sóng
tâm trạng rong ruổi về đâu. Chỉ biết rằng, nó đã tan vào những dòng thơ nhoà lệ
của thi sĩ. Cái khuyết ở câu thứ tư thì đã rõ rồi. Từ lúc hiện ra đến khi tàn
bóng, trăng cứ đứng yên ở cuối trời hao khuyết vậy. Nhưng Trăng của đất trời
hay hình ảnh của thân phận vậy? Trăng nào mà chẳng cô đơn, khuất nửa, lặng lẽ. Thiên
nhiên và duyên phận con người đã hợp nhất, đồng nhất.
Cái khuyết do mỹ cảm sáng tạo ra, rồi tồn tại như
một đối tượng khách quan đối với tác giả. Khuyết là nỗi đau nhức nhối,
đầy tủi hờn. Khuyết chứ không phải thiếu, bởi thiếu như
có thể bù đắp, có thể lấy lại được. Còn khuyết thì sự mất mát,
trống vắng kia đã quá lâu rồi, đã in hằn lên khuôn mặt thời gian rõ rệt, và cơ
hồ trở thành vĩnh viễn. Khuyết là kết quả của thiếu.
Mạch thơ của Tự tình vận động từ thiếu tới khuyết.
Câu thực thứ hai có ba nhịp, nhưng có đến hai nhịp thơ gợi sự tàn lụi và lẻ
loi. Hai chữ “chưa tròn” vừa diễn nỗi đau ê chề, vừa khơi gợi một niềm
hi vọng mong manh. Cả hai câu thực góp phần làm sáng tỏ bi kịch tinh thần dai
dẳng ở Hồ Xuân Hương.
Hai câu kết đọng lại cảnh ngộ khuyết
thiếu trong hạnh phúc lứa đôi.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Toàn bài có hai từ “xuân”. “Xuân”
nào cũng thuộc về mĩ cảm chủ quan của con người. Chữ “xuân” thứ nhất chỉ
thiên nhiên đất trời. Hai chữ “xuân lại” chỉ mùa xuân thứ hai, mùa
xuân sau muộn màng, lỡ dở. Ấy là cảnh ngộ làm lẽ buồn đau vô hạn của thi sĩ.
Xuân của đất trời trôi đi bạc bẽo. Xuân của lòng người cũng nồng đượm trong
khoảnh khắc vội vàng. Mùa xuân của thiên nhiên tuần hoàn. Cảnh “lấy chồng
chung” trớ trêu, ngang trái vẫn cứ trở lại nhiều lần trong cuộc đời thi sĩ. Lần
nào Xuân Hương cũng sắm vai phận lẽ mọn, cô đơn bên gối lạnh. Chạnh lòng nghĩ
tới kẻ “đắp chăn bông” mà giận tấm thân bạc và con tạo xoay vần. Xuân Hương
“lấy chồng chung” nên được “mảnh tình” là phải rồi . Sự mỏng manh, nhỏ
bé của cuộc tình ẩn náu vào hai chữ ấy. Xuân Hương hiểu nếu được vậy âu cũng
đành phận. Nhưng trớ trêu thay, kẻ bạc bẽo kia chỉ “san sẻ tí con con”. Ngỡ
Xuân Hương chỉ xót thương mình, thì ra thi sĩ còn trách móc sự hờ hững, bất
công của người chồng, xét rộng ra là ngầm lên án chế độ đa thê. Câu cuối được
viết từ nỗi niềm khao khát đan xen sự ngậm ngùi, tủi hổ. Xuân Hương chẳng phải
đang “tự tình” với người đời đó sao?
Thi sĩ “tự tình” từ mấy trăm năm trước,
biết bao người đã lắng nghe tiếng thở than từ trái tim người phụ nữ đa tình, đa
cảm ấy. Nhưng chưa ai cảm hiểu hết niềm trắc ẩn của thi sĩ. Có sự bất hạnh nào
hơn thế chăng?
Đọc Hồ Xuân Hương dễ nhận thấy, khao khát mãnh
liệt nhất, nỗi ám ảnh lớn nhất đối với thi sĩ là hạnh phúc lứa đôi. Phẫn uất
chán chường, nếu có cũng vì niềm mong mỏi ấy không thành. Xuân Hương than thân,
thương thân, xót thân vậy. Nhưng hơn ai hết, nữ sĩ luôn gắng gượng vươn lên.
Cái tôi trữ tình không ngừng muốn mở rộng những giới hạn chật hẹp, tìm gặp
những tâm hồn đồng điệu nhằm khoả lấp nỗi sầu đau cô lẻ. Người đọc ít thấy Xuân
Hương qui phục số phận. Ý thức phản kháng, thái độ đấu tranh cho quyền sống,
quyền hạnh phúc của con người thường đi liền với khao khát trần thế. Mạch cảm
xúc này, từ lâu đã trở thành điệu hồn nổi bật trong kiến trúc ngôn từ tài hoa
của nữ thi sĩ. Trong bài thơ Làm lẽ, ta thấy Xuân Hương “cố đấm ăn
xôi” và “cầm bằng làm mướn”. Không ít lần Xuân Hương “dỗ người đàn bà than
khóc” với một lời khuyên chân tình: “nín đi kẻo thẹn với non sông”. Xuân
Hương gắng cười, dẫu tiếng cười chua chát. Xuân Hương xót đau âm thầm, nhưng
luôn nói với ta bằng giọng điệu mạnh mẽ rắn rỏi.
Xuân Hương hờn giận “thân
này ví biết dường này nhỉ” và quả quyết trong niềm nuối tiếc “thà trước
thôi đành ở vậy xong”, nhưng không bao giờ thi sĩ tự khép lại những ngả rẽ
trong cuộc đời có thể đem đến cho mình một hạnh phúc vẹn nguyên .
Trở lại bài thơ Tự tình ta sẽ
thấy rõ hơn bản lĩnh Hồ Xuân Hương. Hai câu luận của thi phẩm này, chuyển mạch
bất ngờ, mà vẫn tự nhiên, hợp lí:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Thi liệu rất đời thường, giản dị, tưởng chẳng
có chất thơ nào ở đây. Thế mà hình ảnh thơ vẫn sống động và giàu sức gợi.Xiên
ngang, đâm toạc là những động từ mạnh diễn tả một cách độc đáo qui
luật vận động của đá rêu. Với Xuân Hương, đâu chỉ có phong, hoa, tuyết, nguyệt
mới thành thơ. Quả mít, con ốc, hòn đá, đám rêu... đều có thể hoá
thân thành những tế bào thơ đầy ám ảnh vì chúng tiềm ẩn một nguồn sống dồi dào,
bất tận lạ thường.
Ở Tự tình, nhà thơ phổ cho những
rêu, đá tâm hồn. ấy là niềm ham sống, bản lĩnh sống, cả những ẩn ức nữa. Rêu-
đá trong cảm quan của nữ sĩ không phải vật vô tri, nó sống cuộc đời
của con người. Rêu xanh vừa mềm mại, mỏng manh vừa cứng cỏi, sắc mạnh. Chúng
biết phá bỏ những rào cản trước mặt để tồn tại, chứ không buộc mình vào cuộc
sống ngưng đọng, tù túng. Ngay đến sỏi đá cũng quyết liệt dữ
dội tìm kiếm một miền đời mới để khẳng định sự hiện hữu của mình trên thế gian.
Ta tưởng như Sỏi bất động, im lìm, khô khan nhưng trong lòng chúng lại chứa sẵn
một sức sống khoẻ khoắn. Xuân Hương càng không thể giấu mình trong cuộc đời ao
tù. Nữ sĩ không cam chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến.
Nhà thơ khao khát yêu đương, khao khát được
sống với con người thực của mình, do vậy đã đem những nhu cầu chính đáng của
con người bị xã hội chôn vùi trong những điều cấm kị mà nói to lên, nói toạc ra
tất cả. Hai câu luận đảo trật tự ngữ pháp gây ấn tượng mạnh mẽ về tâm thức quẫy
đạp, phá cách ở người thi sĩ này.
Thơ Hồ Xuân Hương từ nội dung đến hình thức
đều hướng tới biểu hiện vẻ đẹp của cái tôi mới mẻ, táo bạo, giàu nghị lực.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét