Đặc điểm văn
hóa
Giới tính qua tục ngữ Việt
1. Vấn đề giới tính
Vấn đề giới tính gần đây được các nhà ngôn ngữ học xã hội đề
cập đến khá nhiều. Trước hết phải kể đến công trình Ngôn ngữ học xã hội - Những
vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Khang. Trong công trình của mình, ông
đã dành hẳn chương 7 bàn về vấn đề Ngôn ngữ và giới tính. Có thể tóm lược
tinh thần của chương này qua các luận điểm chính sau:
a) Phong cách ngôn ngữ mà
mỗi giới sử dụng chỉ xuất hiện ở sau tuổi thứ năm thứ sáu;
b) Hiện nay các nhà
nghiên cứu đầu tiên về phong cách ngôn ngữ của mỗi giới đều tập trung vào khảo
sát phong cách ngôn ngữ nữ tính và gọi là “phong cách nữ tính”hay ngôn ngữ nữ
tính.
Tuy vậy nói đến phong cách ngôn ngữ nữ tính cũng là ngầm nói phong cách
ngôn ngữ “nam tính”. Bởi muốn nêu ra đặc trưng ngôn ngữ của giới này thì tất phải
có sự so sánh dù là không công khai với đặc trưng ngôn ngữ của giới kia. Nữ tác
giả đi tiên phong trong hướng tiếp cận này là nhà ngôn ngữ học Mỹ R. Lakoff;
c)
Khảo sát sự khác biệt về giới tính trong ngôn ngữ không thể tách rời ngữ cảnh
giao tiếp. Trong quan hệ giao tiếp - theo nghĩa rộng là hoàn cảnh xã hội, theo
nghĩa hẹp, là văn cảnh cụ thể các nhân tố như nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tuổi
tác, tính cách, mục đích của người sử dụng ngôn ngữ đều có thể ảnh hưởng đến
phong cách người nói.
Vì thế không thể lấy một vài đặc điểm của lời nói có tính
chất nữ tính để quy nạp thành sự khác biệt giới tính trong ngôn ngữ (3,
tr.155-158).
a) Âm: Lên giọng ở cuối câu khẳng định (như để trả lời câu hỏi What time
is dinner ready- Mấy giờ rồi? Phái nữ có khuynh hướng lên giọng cuối câu:
around six o’clock - khoảng sáu giờ - tương tự như thêm chữ nhé);
b) Từ
vựng: Dùng những từ làm nhẹ ý diễn đạt (như hơi hơi - sort of) hay ở
một thái cực khác là nhấn mạnh nhiều (như cực kì thông minh- so
intelligent);
c) Cú pháp: Dùng những câu hỏi kèm sau khẳng định (như He
has already left, hasn’t he?) và những câu cực kỳ lịch sự (Would you mind
closing the door thay vì chỉ là Close the door);
d) Đặc điểm khác: Thiếu óc hài
hước trong lúc nói chuyện (2, tr.14-15).
Bốn đặc điểm trên đây đã làm nên sự
khác biệt về cách nói giữa nữ giới với nam giới. Tiếp sau công trình trên đây là một số bài viết nghiên cứu về
giới tính ở từng phạm vi hẹp. Có thể kể tên các bài báo đó như sau:
Trần Xuân Điệp với bài Sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ
qua những danh hiệu và những từ tôn xưng (1, tr.37-42). Theo tác giả, sự
kỳ thị giới tính (KTGT) là sự đối xử không bình đẳng giữa nam giới và nữ giới
thể hiện trong việc dùng ngôn ngữ”. Trong tiếng Việt có hiện tượng sử dụng ngôn
ngữ thể hiện thái độ kì thị giới tính, thể hiện:
a) Tập quán dán nhãn cho những
phụ nữ đã có chồng hoặc còn độc thân là phục vụ những mục đích kì thị giới
tính. Ví dụ, hiện tượng dùng bà với nghĩa là “vợ của...”, như trong
cách nói: bà Duy nghĩa là vợ của ông Duy;
b) Trong nhiều
ngôn ngữ, sự kì thị giới tính được thể hiện bằng một tập quán rất phổ biến là sử
dụng thiếu cân xứng những chức danh (danh hiệu chỉ nghề nghiệp chức vụ).
Điều
này cũng diễn ra cả trong tiếng Việt, như “bà trong bà bác sĩ, bà
giám đốc, bà bộ trưởng dùng để đánh dấu giới tính nữ của những người mang
chức danh ấy, trong khi đó nếu những chức danh ấy mà thuộc về đàn ông thì thường
là không có hình thức đánh dấu giới tính gì cả” (1, tr.40).
Tác giả Nguyễn Hữu Thọ, trái lại, xem sự kỳ thị giới tính ở
Việt Nam lại diễn ra đối với nam chứ không phải đối với nữ, hay nói đúng ra thì
đối với nam mạnh hơn. Ý kiến này được thể hiện trong bài viết Thêm một
cách nhìn về một số biểu hiện của sự kỳ thị giới tính trong việc sử dụng tiếng
Việt (Tài liệu tra trên mạng Internet) thì tác giả lại chứng minh hình ảnh
người phụ nữ trong tâm thức người Việt: “Người Việt từ xưa đã nhìn người phụ nữ
với con mắt đặc biệt ưu ái, đặt cho họ một vai trò hết sức quan trọng cả về gia
đình cũng như xã hội.”
Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh không nghiên cứu biểu hiện sự
phân biệt giới tính trong tiếng Việt mà trong tiếng Nhật, Hiện tượng phân
biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật (5, tr.56-62).
Tuy tiếng Việt và tiếng Nhật là hai ngôn ngữ khác nhau nhưng lại có một số biểu
hiện phân biệt giới tính gần nhau. Ở đây, tác giả cho rằng cần phân biệt hai vấn
đề:
Thứ nhất, sự phân biệt (bao gồm cả sự kỳ thị) giới tính thể hiện qua nội
dung của lời nói và
Thứ hai, sự phân biệt giới tính thể hiện trong cách sử
dụng ngôn ngữ ở mỗi giới.
Tóm lại, dù những ý kiến trên có khác nhau nhưng đều có điểm
chung là vấn đề giới tính hiện nay là một vấn đề mới mẻ, cần được quan tâm
nghiên cứu nhiều hơn. Bài viết của chúng tôi đi vào tìm hiểu biểu hiện văn hoá
giới tính trong tục ngữ.
2. Vấn đề văn hóa - giới tính trong tục ngữ
2.1. Khái niệm văn hóa
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), văn
hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong
quá trình lịch sử (tr.). Theo quan niệm này thì giá trị tinh thần trong đó có
ngôn ngữ. Còn tác giả F. Mayor (nguyên Tổng bí thư UNESCO) thì phát biểu:
"Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và
các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy
đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu những yếu
tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc". Theo định nghĩa thứ hai này
thì ngôn ngữ, chính là sản phẩm của quá trình hoạt động sáng tạo của con người
và chúng tạo nên các giá trị mà không ai chối cãi. Qua ngôn ngữ, chúng ta nhận
ra những nét văn hoá riêng của một dân tộc, trong số đó có người Việt.
Trong tục ngữ có những phát ngôn phản ánh giới tính nam- nữ
chiếm số lượng không ít. Trong số 16.311 phát ngôn tục ngữ trong tập Kho
tàng ca dao người Việt, chúng tôi bắt gặp 1124 phát ngôn, chiếm 14,51%. Trong
đó có 536 phát ngôn nói về nữ giới và 585 phát ngôn nói về nam giới. Nội dung của
những phát ngôn này cung cấp cho ta những căn cứ xác thực về văn hóa - giới tính
của người Việt từ rất sớm cũng như cách nhìn nhận về mối quan hệ nam nữ khác
nhau trong xã hội.
3. Biểu hiện văn hóa - giới tính trong tục ngữ
Trong kho tàng tục ngữ, chúng tôi gặp lớp từ chỉ giới tính
nam, nữ xuất hiện thành trường nghĩa với số lượng lớn, tuy vậy, cách sử dụng
chúng có khác nhau.
1 Trường ngữ nghĩa là một khái niệm trong từ vựng học. Theo
tác giả Đỗ Hữu Châu, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những
tiểu hệ thống trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể
hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng. Mỗi tiểu hệ
thống là một trường ngữ nghĩa. Đó là một tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ
nghĩa. Các từ trong cùng một trường luôn có quan hệ ý nghĩa với nhau và quan hệ
này vừa là cơ sở để xác lập trường vừa có tác dụng liên kết các đơn vị từ vựng
trong một trường nghĩa (xem Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB
giáo dục, 1999, tr.171).
Tục ngữ phản ánh các quan niệm, cách nhìn nhận, cách đánh giá
của nam giới, của cộng đồng về người phụ nữ chứ không phải của người phụ nữ về
chính họ. Đây không phải là biểu hiện ngôn ngữ của nữ giới mà là cách nhìn nhận
của xã hội về nữ giới. Cách nhìn nhận này có thể đặt trong sự đối lập với nam
giới. Phần lớn các câu tục ngữ đều đề cập đến giới nữ ở tuổi trưởng thành, được
tính từ mốc thời con gái, tức là thời kì trưởng thành. Những lớp từ tạo thành
trường ngữ nghĩa này được sử dụng trong các phát ngôn tạo thành những quan niệm
mang tính kinh nghiệm để nhận thức về nữ giới. Trong tục ngữ có chứa các từ ngữ
xuất hiện thành trường để phân biệt nam và nữ, trước hết là lớp từ gọi tên các
loại gái cũng như sự phân chia các giai đoạn khác nhau trong đời người con gái
hết sức chi tiết, tỉ mỉ: gái dậy thì, gái mười bảy, gái tư, gái vừa đương
tơ, gái chưa chồng, gái muộn chồng, gái chậm chồng, gái một con, nạ dòng, gái
chính chuyên, gái ngoan, gái chửa hoang, gái góa, gái đĩ, gái lẳng lơ, gái hư...
Trường các từ chỉ người là nữ giới: bà cô, bà chúa, bà dì, bà o, bà sư, Bà
Đanh, ả làng, chị em dâu, cháu ngoại, chị em ta, con gái, mẹ, mụ ăn mày, bà đồng,
nàng dâu, đàn bà, bà vãi, con đĩ, đĩ dại, bà tiên, nạ dòng.
Trong khi đó, đối với nam giới thì không có sự phân biệt tỉ mỉ
này. Các từ thuộc trường nghĩa chỉ nam giới chủ yếu là những từ gọi đối tượng một
cách khách quan, đề cao: trai khôn, tài trai, trai làm nên, làm trai, trai
tay khôn, con trai, trai chưa vợ, trai tân, trai tài...; các từ chỉ sự phân hoá
nghề nghiệp, công danh, sự đi lại chủ yếu là nói về nam giới.
3.2. Sự khác biệt về hình thức
Tục ngữ đề cập đến hình thức bên ngoài người phụ nữ qua các
giai đoạn phân chia giới tính: con gái, gái có chồng (gái không chồng), gái có
con, gái goá. Tuy vậy, ở đây, chúng tôi đề cập chủ yếu là thời kì con gái.Về
giai đoạn con gái, các câu tục ngữ miêu tả con gái ở giai đoạn này phần lớn
thiên về hình dáng bên ngoài với vẻ đẹp đạt đến độ rực rỡ nhất trong đời người: Hoa
tươi trong độ gió đông, gái xinh xinh đến có chồng thời thôi; Gái dậy thì như
hoa quì mới nở; Đàn bà như cành hoa tươi, nở ra chỉ được một thời mà thôi; Con
gái có thì... Trong tục ngữ, ta còn gặp trường các từ chỉ bộ phận cơ thể
người hay vẻ đẹp gắn với nữ giới: đếch, L..., cả vú, to hông, da trắng,
tóc dài, con mắt liếc, đít bồ, trôn vại, má hồng, thắt đáy lưng ong, con mắt lá
răm, vú bánh dày, má bánh đúc, chân chữ bát...
Vẻ đẹp của người con gái còn biểu hiện qua sự ý tứ, kín đáo,
khác với vẻ đẹp của người đàn ông: Đàn ông cười hoa, đàn bà cười nụ, Những
người chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy là người vô duyên.. cũng như cách
trang phục: Đàn ông đóng khố đuôi lươn, đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh;Gái
chọc lỗ tai đòi khuyên bạc; Miệng mấp máy, cái váy chẳng
còn. Ở độ con gái, họ không chỉ được ca ngợi về vẻ đẹp mà còn tràn đầy sức
lực: Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu; Con gái mím môi, Thiên lôi
rơi búa. Chính vẻ đẹp về hình thức và sức trẻ này khiến cho đấng mày râu có
cách nhận xét: Thế gian ba sự khôn chừa, rượu nồng, dê béo, gái vừa đương
tơ. Hoặc họ đưa ra nhận xét xếp hạng: Thứ nhất thịt bò tái, thứ nhì gái đương
tơ. Và kể cả người con gái một con cũng được xếp hạng: Nhất gái một
con, nhì thuốc ngon nửa điếu;Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà nhảy ổ.
Trong khi đó, tục ngữ đề cập ít đề câp đến hình thức của nam
giới, phần lớn lại khác với nữ giới. Người xưa không đánh giá cao hình thức người
đàn ông lắm nhưng vẫn có sự quan tâm đánh giá nhất định. Việc đánh giá này chủ
yếu đặt trong quan hệ so sánh với người con gái: Đàn ông rộng miệng thì
sang, đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà; Đàn ông rộng miệng thì tài, đàn
bà rộng miệng điếc tai láng giềng; Đàn bà tốt tóc thì sang, đàn ông tốt
tóc thì mang nặng đầu. Đàn ông không râu bất nghì, đàn bà không vú lấy gì
nuôi con; Đàn ông cười hoa, đàn bà cười nụ; Đàn bà mắt trắng hai chồng, đàn
ông mắt diều hai vợ; Cua thâm còng, đàn ông thâm môi; Bới tóc củ hành làm anh
thiên hạ. Vẻ đẹp của người đàn ông trong con mắt của người phụ nữ: Xấu mặt
dễ sai, đẹp trai khó khiến; Xấu mặt dễ sai, lành trai khó kiếm.
Như vậy, hình thức của người con trai được tục ngữ đề cập tới
chủ yếu là liên quan đến tướng số, chứ không phải để thưởng thức như đối với
người phụ nữ.
3.3. Sự khác nhau trong cách quan niệm về thiên chức,
trách nhiệm
Trong tục ngữ, ta bắt gặp sự khác nhau trong cách quan niệm về
thiên chức, trách nhiệm giữa nam và nữ.
Đối với người phụ nữ, trước hết đó là thiên chức
sinh nở. Người xưa có cách nhìn nhận về chức năng sinh nở của người phụ nữ như
một thang giá trị. Nếu người phụ nữ không có con là có tội với cả dòng tộc, đặc
biệt là không có con trai:Có chồng mà chẳng có con, khác nào hoa nở trên non một
mình. Họ đánh giá chức năng này qua dáng vẻ bên ngoài: Cả vú to hông cho
không chẳng màng là đối với những người không thể sinh đẻ được hoặc đẻ
khó. Còn những người: Lưng chữ cụ, vú chữ tâm là với ý những người
đàn bà lưng hơi gù và vú bầu bầu thì mắn đẻ và khéo nuôi con; Làm vợ là có bổn
phận sinh con đàn cháu đống thì mới được xem là tốt phúc. Điều này gắn với nền
văn hoá sản xuất lúa nước của người Việt xưa cho rằng được mùa là điềm tốt cũng
như người con gái đẻ được nhiều con:Trời cho được mùa, gái có con sai. Trách
nhiệm của người đàn bà là sinh nở cũng như người đàn ông là đi đánh giặc: Đàn
ông chiến tranh, đàn bà sanh đẻ hoặc đàn ông là người lao động chính trong
gia đình:Đàn ông cắp chà, đàn bà làm tổ.
Thứ hai là trách nhiệm nuôi dạy con cái. Trách nhiệm
trong gia đình của người phụ nữ không chỉ sinh con mà còn nuôi dạy con khôn lớn,
trưởng thành: Con khôn nở mặt mẹ cha. Việc con cái hư hỏng hay thành bại
là do cả cha lẫn mẹ nhưng chủ yếu là mẹ: Con hư tại mạ, má hư tại trưa;Con
hư tại mẹ, cháu hư tại bà; Con dại cái mang; Con nhờ đức mẹ. Việc
nuôi dạy con nên người là niềm vinh hạnh, tự hào của người me, người bà, còn
con hư là một nỗi đau to lớn: Đẻ con khôn mát L rời rợi, đẻ con dại, thảm
hại cái L...; Đẻ con khôn thì mát như quạt, đẻ con dại thì rát như hơ. Tục
ngữ không chỉ đề cập đến việc nuôi dạy chức năng nuôi dạy con cái của người phụ
nữ mà còn phản ánh tính chất khác biệt trong lời khuyên răn, giáo dục con cái
giữa mẹ và bố.
Trách nhiệm nuôi dạy con cái không chỉ người mẹ mà cả bố,
nhưng vai trò của người mẹ thường khác với người bố. Người mẹ thiên về sự khéo
léo, còn người cha dạy thiên về trí tuệ, sự khôn ngoan: Mẹ dạy thì con
khéo, cha dạy thì con khôn; Mẹ đánh một trăm không bằng cha ngăm một tiếng. Vì
sự gần gũi, thân thiết giữa mẹ và con nên nhiều khi không tránh khỏi sự thiên lệnh
trong cách đánh giá về con: Mẹ hát con khen, ai chen vô lọt; Cá chuối
đắm đuối vì con.
Việc đánh giá hình thức bên ngoài về người con gái, trở thành
một đặc trưng trong xét đoán, kén chọn vợ, liên quan đến trách nhiệm nuôi dạy
con cái. Người Việt xưa luôn quan tâm kĩ càng đến chức năng này, nên luôn có
cách đánh giá qua hình thức bên ngoài: Những người thắt đáy lưng ong, vừa
khéo chiều chồng lại khéo nuôi con, những người béo trục béo tròn, ăn vụng như
chớp đánh con suốt ngày. Những người bị coi là có hình thức xấu, không nên lấy: Mặt
tày lệnh, cổ tày cong, Những người con mắt lá răm, ve trai như chớp hay nằm với
trai.
Thứ ba là trách nhiệm nội trợ trong gia đình. Người
phụ nữ xưa thường phụ thuộc gia đình nhà chồng, khi về nhà chồng, họ thường giữ
vai trò lo việc bếp núc, khâu vá, chăm sóc cho cả gia đình: Vắng đàn ông
quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp; Làm dâu vụng nấu vụng kho, chồng không bắt
bẻ, mụ o nhím trề; Đàn ông quện nhà, đàn bà quyện bếp; Trai có vợ tề
gia nội trợ.
Trái lại, đối với người đàn ông, tục ngữ lại đề cập đến trách
nhiệm khác với người đàn bà, thể hiện:
Thứ nhất là trách nhiệm lấy vợ. Bất kì người đàn ông nào
đến tuổi, theo phong tục tập quán xưa là phải lấy vợ, đẻ con trai để nối dõi
tông đường, thờ cúng tổ tiên. Những người làm tròn bổn phận này mới được đề
cao: Giai khôn tìm vợ; gái ngoan tìm chồng; Trai khôn kén vợ chợ
đông, gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân. Nếu người con trai nào không hoàn
thành trách nhiệm này thì bị chê trách: Giai không vợ như cau không buồng; Voi
không nài như trai không vợ; Trai không vợ như cọc không chân.
Thứ hai là trách nhiệm nuôi dạy con cái: Việc nuôi dạy
con cái không chỉ là trách nhiệm của người mẹ mà cả người cha. Con cái chịu ảnh
hưởng rất lớn của người cha: Mẹ đánh một trăm không bằng cha ngăm một tiếng; Mẹ
dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn. Tục ngữ thường phản ánh sự ảnh hưởng này
cả chiều tốt lẫn chiều hướng xấu: Cha làm sao, con bào hao làm vậy; Cha
nào con ấy; Cha muốn con hay, thầy muốn trò tốt.
Thứ ba là trách nhiệm rèn luyện, tu dưỡng ý chí, nghị lực
chứ ít đòi hỏi cao nhân tố này đối với người phụ nữ. Tục ngữ coi trọng những
người đàn ông biết rèn luyện ý chí, nghị lực: Làm trai có chí lập thân, rồi
ra gặp hội phong vân có ngày; Làm trai chỉ ở cho bền, đừng lo muộn vợ chớ
phiền muộn con; Làm trai không sợ gai góc, làm gái không sợ cọc đâm. Tục
ngữ đề cao những người đàn ông có tài: Làm trai đã đáng nên trai, đánh
đông tĩnh đánh đoài đoài yên. Tục ngữ đề cao những người đàn ông có trí, biết
suy xét trước sau: Làm trai mà chẳng biết suy, đến khi nghĩ lại còn gì là
xuân; Trai có trí có màu, rựa có khâu có cán. Tục ngữ đề cao những người
nam giới có sự hiểu biết do đi lại: Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã
trải Đồng Nai đã từng; Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào
khôn và cũng dành sự phê phán nhẹ nhàng đối với những người con trai chỉ
quẩn quanh ở nhà: Làm trai đã đáng nên trai, ăn cơm với vợ lại nài vét niêu; Làm
trai cho đáng nên trai, một trăm bữa cỗ chẳng sai bữa nào.
Trong xã hội xưa, nghề nghiệp mà đa số người phụ nữ phải làm
chủ yếu là làm ruộng: Làm ruộng hỏi đàn bà, làm nhà hỏi đàn ông. Ngoài ra
người phụ nữ còn phải chăn nuôi gà lợn, chăn tằm, dệt vải: Đàn bà không biết
nuôi heo là đàn bà nhác, đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư; Con
gái dệt nái, tay trái đếm tiền; Chăn tằm, kiếm cá nuôi con,
trong ba việc ấy ai còn khoe hay. Đồng thời họ còn phải có tài khâu vá, nữ công
gia chánh: Gái khéo vá vai, trai tài phủ nóc.Một số người phụ nữ làm các
nghề khác cũng được tục ngữ nhắc đến như bà đồng, bà vãi, gái đĩ: Miệng bà
đồng như lồng chim khiếu; Ông sư có ngãi, bà vãi có nghì... Những
người làm gái đĩ, bán hàng cơm, trái lại, bị xã hội thường, vì họ làm những nghề
đáng khinh: Ả lành không ở hàng cơm; Rầu rĩ như gái đĩ về già; Đĩ
dại làm hại thằng tù; Đĩ rạc được tha, bà già phải tội;Đĩ chết có văn
tế nôm; Làm đĩ không xấu bằng xay cấu ban ngày; Làm đĩ chẳng
đắt, mắng đếch chẳng linh; Làm đĩ có tàn có tán, có nhang án thờ
vua, có trống chùa niệm phật; Làm đĩ gặp năm mất mùa;Con đĩ lên bà, bõ già
lên ông;Chính chuyên lấy chồng thợ giác, đĩ rạc lấy chồng quận công.
Khác với người phụ nữ, người đàn ông xưa được đánh giá cao ở
các điểm: nghề nghiệp, sự nghiệp, ý chí-nghị lực và sức mạnh. Người xưa quan niệm
người con trai là phải trụ cột trong gia đình, là người kiếm tiền, là người lao
động chính để nuôi sống cả gia đình: Đàn ông làm ra đàn bà cất lại.
Vì vậy, trước hết, người đàn ông phải có một nghề trong
xã hội: Của rề rề không bằng nghề trong tay. Nghề nghiệp mà người đàn ông
xưa thường làm được chia thành hai nhóm:
a. Nhóm nghề thứ nhất thường được đề cao. Nhóm nghề
này được được phản ánh qua những danh từ chỉ loại đứng trước danh từ chỉ nghề của
người đàn ông, như: ông, ngài, vị, đức. Đó là nghề làm quan trong xã hội.
Người xưa cho rằng người con trai phải học hành thi đỗ đạt được bổ nhiệm làm
quan mới xem là thành đạt. Còn người nào mà chưa đỗ đạt gì đã lên mặt thì bị
chê cười: Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. Một số tên chức tước
trong xã hội trước đây nhưng ngày nay không tồn tại được ghi lại trong tục ngữ:
ông chánh, ông phó, ông trương, ông cai, ông xã, ông huyện: Biếu ông chánh
ông phó chớ bỏ ông trương; Lúc thì chẳng có ai, lúc thì ông xã ông cai đầy
nhà; Khư khư như ông huyện giữ ấn; Ông huyện chưa đi, ông tri đã đến; Ông
chánh ông phó không bằng ông ló đồng tiền; Bo bo như ông trưởng bạ giữ án; Túi
ông xã, quả nhà hàng. Nghề thầy thuốc cũng là một nghề được xem trọng nên có yếu
tố thầy đứng trước: Con bệnh sợ thầy thuốc. Ngay cả trong cùng một
câu thì vẫn sử dụng đồng thời hai từ thợ và thầy, ông: Thợ
rào có đe, ông nghè có bút; Làm thầy nuôi vợ làm thợ nuôi
miệng.
b. Nhóm nghề thứ hai, có tính trung hòa, không thể hiện sự
đánh giá cao thấp, thường có yếu tố thợ đứng trước và được gọi là thợ như: thợ
sơn, thợ mộc thợ nề, thợ may, thợ rèn, thợ giày, thợ hàn, thợ bạc, thợ sơn, thợ
ngôi: Thợ sơn bôi bác, thợ bạc lọc lừa; Có phúc thợ mộc thợ nề,
vô phúc thầy đề thầy thông; Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng; Đồ
mặc thì đến thợ may, bao nhiêu tấc sắt đến tay thợ rèn; Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ
ăn hồ, thợ bồ ăn than, thợ hàn ăn thiếc; Thợ rèn không dao ăn trầu;Thợ mộc giáng
hạ, thợ rạ lên dân; Ba anh thợ giày bằng một ông Gia Cát Lượng; Bẩn như thợ
nề, chỗ ăn chỗ ngủ như dê nó nằm; Ăn ngủ bẩn như thợ nề; Chính chuyên
lấy chồng thợ giác, đĩ rạc lấy chồng quận công; Bào không trơ, thợ hàn không
nói; hoặc bách nghệ: Làm trai bách nghệ cho tinh. Tục ngữ phản ánh
cách quan niệm này là nói đến sự từng trải, hiểu biết rộng là hết sức cần thiết
của người con trai nhưng tục ngữ cũng có cách nhìn nhận hết sức biện chứng: Một
nghề cho chín hơn chín mười nghề;Một nghề thì chín, chín nghề thì hở. Ngay cả
khi một người không nghề nghiệp thì tục ngữ thể hiện nghề mạt hạng nhất vẫn là
nghề của đàn ông: Cùng nghề đan thúng, túng nghề đan nia; Cùng nghề đi hát,
mạt nghề đi câu.
Nhóm nghề bị xem thường cũng được phản ánh trong tục ngữ,
chúng thường có các từ chỉ loại đi trước để gọi: bố, đĩ, thằng, đứa, kẻ.
Đó là các nghề: chăn bò: Bò chú chú phải lo;kẻ không có nghề nghiệp: Chê
thằng một chai, lấy thằng hai nậm; Chê thằng ỏng bụng, lấy thằng lưng
gù; nghề ăn trộm, ăn cướp: Chứa tiền chứa thóc thì giàu, chứa thằng
ăn cướp mất đầu như chơi; Gái đĩ già mồm, kẻ trộm trắng răng; Tài gia
là cha kẻ cướp; Ăn trộm có kẻ điểm chỉ, làm đĩ có kẻ mai dong.
3.5. Quan niệm về trách nhiệm của nam và nữ gắn với
phong tục tập quán
Gắn với phong tục tập quán, đối với người phụ nữ, tục ngữ
không phản ánh nhiều về quyền mà chủ yếu là Phận. Tục ngữ phản ánh Phận người
con gái có hai giai đoạn: trước lúc lấy chồng và sau khi lấy chồng.
Giai đoạn trước khi lấy chồng, số phận người con gái ít nhiều
bình ổn, còn sự bấp bênh là phía trước, phụ thuộc vào nơi họ được làm dâu. Có
khá nhiều câu tục ngữ phản ánh điều này: Phận gái bến nước mười hai, gặp
nơi trong đục may ai nấy nhờ; Phận gái như cái bầu, sa đâu ấm đấy; Phận
gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu; Con gái có hai bến nước, bến đục
thì chịu bến trong thì nhờ. Quan niệm về phận này được phản ánh qua cách lựa chọn
con dâu: Lựa được con dâu, sâu con mắt, có nghĩa là phải mất nhiều công
phu mới lựa chọn được con dâu vừa ý. Điều này nói lên việc dựng vợ gả chồng
không phải do tình yêu mà do sự định đoạt của số phận, do nhà trai chọn lựa.
Cuộc đời sướng khổ của người con gái không phải bắt đầu từ
khi ở nhà bố mẹ đẻ mà bắt đầu từ khi về nhà chồng. Việc gả bán cho ai, yêu ai
không do người con gái định liệu mà do cha mẹ gả bán, do nơi họ về làm dâu.
Đúng như tổ hợp từ ghép gả bán, họ vừa là những món hàng để gả vừa là những
vật đổi chác. Vì vậy câu: Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy với nghĩa là
việc gả bán (đối với người con gái) là do cha mẹ định đoạt. Còn câu: Trai
nhiều vợ cửa tan nhà nát, gái nhiều chồng chú bác no say là do tục lệ cưới
xin ngày trước. Khi lấy vợ, nhà gái được thách cưới đối với nhà trai nên dẫn đến
chú bác no say. Còn người con trai do phải nạp tiền cưới cho nhà gái nhiều lần
nên dẫn đến cửa tan nhà nát. Kể cả những người con trai đi hỏi vợ lần đầu, nếu
việc thách cưới của nhà gái quá nặng thì người con trai nhà nghèo cũng không thể
lấy được vợ.
Giai đoạn sau khi kết hôn mới được xem là giai đoạn quyết định
đối với phận người con gái. Người phụ nữ dưới chế độ xưa thường phụ thuộc rất
nhiều vào thế lực nhà chồng. Sau khi lấy chồng thì bổn phận của họ là phải theo
chồng: Thuyền theo lái, gái theo chồng; Phận gái chữ tòng;Phận gái
theo chồng. Khi người phụ nữ lấy chồng thì họ không thể tự quyết định cuộc đời
riêng của mình mà phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình nhà chồng: Lấy chồng bắt
thói nhà chồng, đừng giữ thói cũ ở cùng mẹ cha; Lấy chồng nhờ phúc nhà chồng; Sống
quê cha, ma quê chồng; Lấy chồng theo họ nhà chồng; Lấy chồng theo thói
nhà chồng, thôi đừng theo thói ông cha nhà mình; Con gái là con người ta,
con dâu mới thật mẹ cha mua về.
Trái lại, người đàn ông dưới chế độ xưa luôn chịu sự ràng buộc
của mọi phong tục, tập quán. Có những phong tục tốt đẹp, cần gìn giữ và phát
huy nhưng có những phong tục cổ hủ, lạc hậu mà ngày nay không còn giữ lại.
Trước hết đó là phong tục cưới xin nặng nề. Người đàn
ông xưa muốn lấy vợ thì phải nạp cheo cho làng, điều này đã trở thành một nhận
thức hiển nhiên như bèo dùng để nuôi lợn: Nuôi lợn thì phải vớt bèo, Lấy vợ
thì phải nạp cheo cho làng. Có khá nhiều câu tục ngữ ghi lại điều này: Cưới
vợ có cheo như leo cầu gỗ lim mỡ; Cưới vợ không cheo như neo không mấu; Lấy
vợ không cheo như nghèo không mấu; Lấy vợ không cheo quèo nghoèo không mấu; Lấy
vợ không cheo, tiền gieo xuống biển; Lấy vợ thì phải nạp cheo cho làng. Với
phong tục này, việc lấy được vợ là hết sức nặng nề đối với nhà trai: Cưới được
nàng dâu, sâu con mắt. Vì thế, nếu con trai chê vợ, bỏ vợ thì đó là một sự tổn
thất đối với người con trai: Trai chê vợ mất của tay không, gái chê chồng
một đồng trả bốn.
Thứ hai đó là phong tục người đàn ông rất kiêng lấy người
phụ nữ đã có một đời chồng: Gái khôn tránh khỏi đò đưa, trai khôn tránh khỏi
vợ thừa người ta; Trai tơ lấy phải nạ dòng như nước mắm thối chấm
lòng lợn thiu, còn trái lại, người đàn bà lấy trai chưa vợ thì đó là một sự may
mắn lớn: Nạ dòng lấy được trai tơ, đêm nằm tơ tưởng như mơ được vàng; Trăm
quan tiền nợ không bằng vợ có con riêng.
Thứ ba đó là phong tục con trai có quyền lấy nhiều vợ: Trai
khôn lấy vợ lẽ; Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa; Hoa thơm
đánh cả cụm; Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng; Trai
làm nên năm thê bảy thiếp. Tuy nhiên tục ngữ cũng có những câu phản ánh sự
không tốt của hủ tục đa thê này: Một vợ lo ken kèn, hai vợ đốt đèn mà lo; Một
vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo; Một cong
hai gáo chẳng khua láo cũng loong coong; Trai nhiều vợ cửa tan nhà nát,
gái nhiều chồng chú bác no say.
Thứ tư là phong tục răn dạy vợ: Trai khôn mài dao dạy
vợ; Dạy con từ thủa ban sơ, Dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về; Dạy vợ từ thủa
mới về làm dâu.Trong câu Mài gươm dạy vợ, giết chó khuyên chồng phản
ánh hai phương thức cũng là hai quan niệm giáo dục khác nhau. Người đàn ông thì
mạnh mẽ, quyết liệt qua hai hành động đi liền: mài gươm và dạy, còn người phụ nữ
lại nhẹ nhàng, gián tiếp: Giết chó và khuyên chồng. Hai cách thức giáo dục này
là khác nhau nhưng hiệu quả tác động đến người nghe chưa hẳn đã kém nhau.
Thứ năm là phong tục con trai không ở rể. Nếu ở rể thì
xã hội xem đó là một sự kém cỏi: Trai ở rể như chó nằm gầm chạn; Trai
ở nhà vợ như chó chui gầm chạn; Trai tay không không ai nhờ vợ;Con trai ở
nhà vợ như chó nằm gầm chạn; Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, Trăm mẫu ruộng đợ
cũng tiếng nhờ chồng.
Thứ sáu đó là phong tục duy trì nòi giống, thờ cúng tổ
tiên. Người con trai xưa có trách nhiệm lấy vợ và đẻ con trai để duy trì nòi giống.
Phong tục này gắn với việc thờ cúng tổ tiên. Tục ngữ đã phản ánh phong tục này:
Giai kính thờ chăm việc thắp hương; Cha để nhà cho trưởng, cha ngất ngưởng
đi ăn mày; Cha truyền con nối; Con cháu mà dại làm hại ông bà; Con
cháu mà dại thì hại ông cha; Con người có cố có ông, như cây có cội như
sông có nguồn; Đời cha đắp nấm đời con ấm mồ.
Phong tục sau khi chết: Cha gậy tre, mẹ gậy vông, bà gậy
vông, ông gậy tre. Thông thường làm giỗ cha to hơn cả: Kỵ cha lo ba tháng,
kỵ mạ lo rạng ngày, kỵ ông nội đi cày về lo. Vì thế, việc kỵ giỗ nhiều quá làm
cho người con trai trưởng hết sức vất vả, lo lắng nhiều: Một trăm cái dỗ đổ
đầu con trưởng; Một ngày giỗ cha, ba ngày húp nước;Một ngày giỗ cha rõ bận
bằng ba ngày tết.
4. Từ quan niệm khác nhau về văn hóa - giới tính đến một số
cách ứng xử hiện nay
Khảo sát vốn tục ngữ Việt nói về sự khác nhau về văn hóa giới
tính của cha ông ta từ trước, chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề cần quan tâm
như sau:
Trước đây người phụ nữ bị xem là món hàng để đàn ông thưởng
thức, đó là một quan niệm lạc hậu do chế độ phong kiến tạo nên nhưng ngày nay
chưa hẳn đã kết thúc ở một số nơi chúng ta cần phải tiếp tục đấu tranh với tệ nạn
này. Trong truyền thống và thực tế, người phụ nữ có thiên chức, trách nhiệm và
nghề nghiệp khác với nam giới. Phụ nữ Việt thường chịu khó chịu khổ, hy sinh tất
cả cho chồng con. Cần nhận thức đúng điều này để trong định hướng nghề nghiệp của
người phụ nữ ở giai đoạn hiện nay, dù có những thay đổi về nghề nghiệp so với
trước đây, nhưng cũng không phải khác biệt hoàn toàn. Nếu tạo công việc, việc
làm cho người phụ nữ đúng với cơ cấu thể trạng, sở thích và chức năng thiên bẩm
của người phụ nữ thì họ có khả năng cống hiến được nhiều hơn cho xã hội, và cũng
thể hiện đúng tính nhân đạo, tốt đẹp của chế độ ta.
Về phong tục tập quán, trước đây người đàn ông thường đa thê
do sự chấp nhận của xã hội cũ. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng giới hết sức
nghiêm trọng. Cần phải thấy rằng, muốn xã hội đạt đến sự văn minh, phụ nữ được
giải phóng, trước hết họ cần được tôn trọng, bình đẳng ngang quyền với nam giới
chứ không thể bị phụ thuộc, gả bán như trước đây. Tuy nhiên, nhiều nơi, người
phụ nữ vẫn đang còn chịu nhiều thiệt thòi, nhất là ở các vùng nông thôn, miền
núi. Chúng tôi nghĩa rằng vấn đề giải phóng phụ nữ vẫn đang còn là một nội dung
được đặt ra và cần được sự quan tâm của Đảng, các cấp có thẩm quyền, các cơ
quan đoàn thể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Xuân Điệp, Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ
qua những danh hiệu và những từ tôn xưng (17, tr.37-42).
[2] Lương Văn Hy, Ngôn từ, giới và nhóm xã hội - từ thực tiễn tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 2000.
[3] Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ xã hội - những vấn đề cơ bản, NXB KHXH, Hà Nội, 1999 (448 trang).
[4] Nguyễn Văn Khang, Xã hội học ngôn ngữ về giới: Kì thị và kế hoạch hoá chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ, TC Xã hội học, số 2, 2004.
[5] Nguyễn Thị Việt Thanh, Hiện tượng phân biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật, Ngôn ngữ, số 8, 2002, tr.56-62.
[6] Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1995, gồm 1500 trang.
[2] Lương Văn Hy, Ngôn từ, giới và nhóm xã hội - từ thực tiễn tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 2000.
[3] Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ xã hội - những vấn đề cơ bản, NXB KHXH, Hà Nội, 1999 (448 trang).
[4] Nguyễn Văn Khang, Xã hội học ngôn ngữ về giới: Kì thị và kế hoạch hoá chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ, TC Xã hội học, số 2, 2004.
[5] Nguyễn Thị Việt Thanh, Hiện tượng phân biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật, Ngôn ngữ, số 8, 2002, tr.56-62.
[6] Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1995, gồm 1500 trang.
[1] Trường ngữ nghĩa là một khái niệm
trong từ vựng học. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ
vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa
giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa
chúng. Mỗi tiểu hệ thống là một trường ngữ nghĩa. Đó là một tập hợp từ đồng
nhất với nhau về ngữ nghĩa. Các từ trong cùng một trường luôn có quan hệ ý
nghĩa với nhau và quan hệ này vừa là cơ sở để xác lập trường vừa có tác dụng
liên kết các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa (xem Đỗ Hữu Châu, Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB giáo dục, 1999, tr.171).
Đỗ Thị Kim Liên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét