Ta còn để lại gì không?
Ngày hôm qua có một số người trẻ đi tắm hồ đã chứng kiến cái
chết của một em bé 19 tuổi. Em bị chết đuối. Cái chết có thể đến với ta, đến với
người ta thương bất cứ lúc nào. Nếu không chuẩn bị chúng ta sẽ không có khả
năng đối phó với những biến cố lớn đó. Chúng ta quá bận rộn, không có cơ hội học
cách đón nhận và có thể mỉm cười khi cái chết đến với chúng ta. Chúng ta phải học
hỏi và sống như thế nào để chấp nhận được cái chết của bản thân mình cũng như
cái chết của người ta thương.
Chúng ta nên đặt câu hỏi là khi chết chúng ta để lại gì cho đời?
Lúc 19 tuổi chết thì mình để lại gì? 25 tuổi chết thì để lại gì? 35 tuổi chết để
lại gì? Và 60, 80 tuổi chết thì để lại gì? Câu hỏi đó rất hay. Ai để lại?
Để lại cái gì? Và để lại cho ai? Nếu trả lời được những câu hỏi đó thì chúng ta
hiểu được đạo Bụt. Hiểu được đạo Bụt chúng ta sẽ biết cách làm thế nào để sống
cũng đẹp, mà chết cũng đẹp, và như thế ta vượt thoát được sự sợ hãi, lo lắng về
cái chết và cái sống.
Tuệ giác của đạo Bụt là tuệ giác vô ngã. Vì vậy chúng ta phải
đi tìm câu trả lời theo hướng vô ngã. Phần lớn người ta căn cứ trên ý niệm ngã
để trả lời những câu hỏi này, cho nên họ không tìm ra được. Chúng ta nghĩ mình
là một thực thể bất biến có một cái ngã tồn tại độc lập. Khi chết đi, cái ngã
đó không còn nữa. Nhưng kỳ thực, chúng ta để lại sau lưng một cái gì đó, có thể
xấu, có thể tốt, hoặc có thể không có nghĩa lý gì cả – không xấu cũng không tốt.
Để lại cho ai? Có thể để lại cho con cháu ta, mà cũng có thể để lại cho đời.
Lúc còn trẻ thi sĩ Vũ Hoàng Chương ăn chơi say sưa nhưng khi
lớn tuổi thì ông trở về tu học. Trong bài thơ “Nguyện cầu” đăng ở trang đầu của
tập thơ Rừng Phong, có câu “Ta còn để lại gì không?”. Một câu hỏi rất trực tiếp.
Tập thơ xuất bản vào khoảng năm 1954 - 1956 khi đất nước đang chia đôi, thi sĩ
di cư từ miền Bắc vào miền Nam, làm nghề nhà giáo văn chương. Vũ Hoàng Chương
lúc trẻ đã đi nhảy đầm, hút thuốc phiện và đã xuất bản tập thơ Say.
“Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không thấy nữa màu xanh hay sắc đỏ”.
Không thấy nữa màu xanh hay sắc đỏ”.
Nhảy đầm trong khi say thì đâu còn thấy gì nữa. Và Vũ Hoàng
Chương nổi tiếng bởi tập thơ Say đó. Nhưng trong cuộc tranh đấu
Phật giáo cho nhân quyền năm 1963 thì trong Vũ Hoàng Chương có sự chuyển đổi rất
lớn. Hồi đó, Tổng thống của chúng ta là người Cơ Đốc giáo. Anh trai của Tổng thống
làm Tổng Giám mục. Ông có ý muốn Thiên Chúa hóa đất nước Việt Nam. Tổng thống
Ngô Đình Diệm cũng có một người anh làm cố vấn chính trị cho mình là Ngô Đình
Nhu. Trong sự nôn nóng muốn phát triển Thiên chúa giáo Việt Nam nên đã có những
chính sách đàn áp Phật giáo. Một trong những điều quá rõ ràng là ngày Phật Đản
không được công nhận là ngày nghỉ chính thức của toàn dân như trước nữa.
Trong một nước mà đa số là Phật giáo mà không cho nghỉ ngày Phật đản, thì cũng
giống như ở Tây Phương, ngày Noel không được coi là ngày nghỉ của toàn dân vậy.
Vì thế Phật tử bắt đầu phản đối. Khi Phật tử đứng dậy biểu tình phản đối thì họ
dùng quân đội để đàn áp, bắt các thầy, các sư cô, và phật tử bỏ tù. Chính vì lý
do đó nên phong trào tranh đấu vùng dậy. Một phong trào tranh đấu dân quyền
không vụ lợi.
Tranh đấu không phải vì muốn tranh đoạt quyền hành hay muốn
giành lấy chính quyền, mà tranh đấu để chống lại sự độc tài, vi phạm nhân quyền.
Đó là cuộc tranh đấu của phật tử Việt Nam năm 1963-1964, là một cuộc tranh đấu
rất thẳng thắn với một trái tim trong sáng. Trước tình hình đó, thi sĩ Vũ Hoàng
Chương đã có cảm hứng. Vì vậy với tư cách là một thi sĩ, ông đã làm những bài
thơ phổ biến rất rộng rãi trong quần chúng và những bài thơ đó đã nung nấu tâm
chí chiến đấu của toàn dân. Thi sĩ không tranh đấu bằng súng đạn hay bằng tổ chức
chính trị mà bằng những bài thơ của mình. Những bài thơ của Vũ Hoàng Chương đem
lại rất nhiều hào khí, cảm hứng cho dân chúng. Trong quá trình đóng góp vào cuộc
tranh đấu, Vũ Hoàng Chương đã học hỏi và thực tập thêm nên đã có nhiều chuyển
hóa.
Ví dụ như bài “Lửa từ bi” đã được làm ra sau khi Hòa thượng
Thích Quảng Đức tự thiêu. Đó là vào năm 1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức ra ngồi
ở ngã tư Phan Đình Phùng, đổ lên mình một thùng xăng, rồi châm lửa và nhập định.
Ngài ngồi rất yên. Các nhà báo bao quanh rất đông. Hòa thượng Thích Quảng Đức tự
đốt mình như vậy để báo động cho thế giới biết là ở Việt Nam đang có một chế độ
độc tài và chúng tôi đang đau khổ. Mấy giờ đồng hồ sau, tất cả các báo chí, đài
truyền hình trên thế giới đều đăng tin và hình Hòa thượng Thích Quảng Đức đang
ngồi yên trong lửa đỏ. Đó là một thông điệp rất hùng hồn. Cuộc tự thiêu của Hòa
thượng Thích Quảng Đức đã làm cho phong trào tranh đấu nhân quyền lên cao, và
quốc tế cũng bắt đầu yểm trợ ta. Sau đó chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ. Lửa
Từ bi là bài thơ đầu tiên của Vũ Hoàng Chương đóng góp vào phong trào rất hay.
Trong bài thơ đó Vũ Hoàng Chương không hề có ý niệm tưới tẩm hạt giống của căm
thù. Trái lại bài thơ chỉ tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ.
“Ôi ngọn lửa huyền vi
Thế giới ba ngàn
Phút giây ngơ ngác
Từ cõi nhân gian hướng về cực lạc
Vần điệu thi nhân chỉ là rơm rác
Mà cũng chỉ nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên theo lời kinh tụng
Cho đất nước thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.
Thế giới ba ngàn
Phút giây ngơ ngác
Từ cõi nhân gian hướng về cực lạc
Vần điệu thi nhân chỉ là rơm rác
Mà cũng chỉ nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên theo lời kinh tụng
Cho đất nước thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.
Bài “Nguyện cầu” được làm trước đó không lâu, nên bài
thơ tuy hay vẫn chưa có tuệ giác của một người giác ngộ. Có dịp mình sẽ đọc
thêm thơ của Vũ Hoàng Chương sau khi ông đã giác ngộ, đã hiểu Phật pháp. Hôm
nay chúng ta chỉ đọc một bài thơ có liên hệ đến cái chết, đó là bài Nguyện
cầu, mở đầu bằng câu “Ta còn để lại gì không”.
Ở Đông Phương ngày xưa, rất nhiều người, đặc biệt là những
người có tài năng tin rằng mình là một vị tiên ở trên trời, vì phạm một lầm lỗi
gì đó mà bị thượng đế đày xuống trần gian. Sau khi trả nợ dưới trần gian này rồi
thì được trở về tiên giới lại. Thi sĩ Tản Đà – tác giả bài thơ “Thề non nước”
cũng tin như vậy. Ngày xưa mình là nam tào hoặc bắc đẩu trên trời, vì uống trà
không chánh niệm, nên đã làm rớt chén ngọc của Thượng đế và bị đày xuống nhân
gian sống một, hai đời rồi mới được trở lên lại thượng giới.
Ta còn để lại gì không? Là câu đầu tiên của bài Nguyện Cầu được
mở đầu trong tập thơ Rừng Phong. Đây là suy tư của một người chưa biết nhiều về
đạo nhưng có kiến thức về văn hóa Á Đông. Nghĩ rằng mình có một cái ta và cái
ta đó từ trên trời đi xuống. Trong thời gian sống ở hạ giới, mình làm chuyện
này chuyện nọ, sau khi chết mình lên trên trời và sẽ để lại hạ giới một cái gì
đó. Ta là ai? Là vị Trích tiên. Để lại cái gi? Ta để lại tác phẩm thơ
văn. Để lại cho ai? Để lại cho cuộc đời này. Để lại rồi ta không để ý
tới nữa, ta lên trên trời trở lại. Câu trả lời rất đơn giản. Ta là một vị Trích
tiên, ta để lại công trình nghệ thuật cho cuộc đời, cho trần gian dưới này còn
ta lên trời.
“Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lở này sông cát bồi”.
Kìa non đá lở này sông cát bồi”.
Trong câu thứ hai, ta thấy tác giả tuy chưa học Phật sâu sắc
nhưng đã thấy rõ là vạn vật vô thường. Đời sống của một vị Trích tiên dưới trần
gian này tuy là một trăm năm, nhưng cũng vô thường, bay vèo qua như một giấc mộng.
Ngày xưa núi rất cao nhưng đá đã lỡ. Sông thì sâu nhưng bị cát bồi nên sông cạn,
“sông cạn đá mòn”.
“Lang thang từ độ luân hồi”. Chữ luân hồi ở đây được hiểu
theo kiểu là có cái ngã bất biến. Ngày sinh xuống trần gian, gọi là luân hồi. “U
minh nẻo trước xa xôi dặm về.” Đây là sự thực, tuy chưa có tuệ giác của đạo Bụt
nhưng những yếu tố của tuệ giác đã có sẵn. Chính những yếu tố đó sau này sẽ làm
ra tuệ giác. Đi lang thang trong cuộc đời nhưng không có con đường sống, trước
mặt chỉ thấy mù mịt không có hướng đi. Trong văn Cảnh sách của Thiền sư Quy Sơn
cũng có câu như vậy “Tiền lộ man man bất tri hà vãng” tức là con đường
phía trước mờ mờ, ảo ảo không biết mình đang đi về đâu. Người chưa học đạo,
chưa có con đường tâm linh thì luôn luôn thấy phía trước mình mờ mịt. Ví dụ như
hôm qua có một em bé hỏi: “Con sống trong cuộc đời này để làm gì? Có ích lợi gì
cho ai không? Cuộc sống có nghĩa lý gì không?”. Hỏi như thế là vì chưa thấy
được con đường của mình.
Không những chỉ có những em bé mười chín, hai mươi tuổi chưa
thấy con đường, mà người lớn bốn mươi, năm mươi tuổi vẫn chưa thấy con đường, vẫn
không biết mình đang đi đâu, không biết con đường trước mặt mình là con đường
nào, nên cứ đi vòng quanh cho đến lúc chết. Vì vậy kiến đạo rất quan trọng, kiến
đạo là biết được mình đang đi đâu. Người nào biết mình đang đi đâu thì người đó
có hạnh phúc. Không còn phải sợ hãi, không còn hoang mang nữa “đã có đường đi rồi,
con không còn lo sợ”. Vì vậy tất cả chúng ta đều phải kiến đạo, phải thấy
được con đường mình đang đi. Không biết mình đang đi về đâu là mình vẫn còn đi
trong bóng đêm. “Tiền lộ man man bất tri hà vãng.”
Ở đây thi sĩ nói là “U minh nẻo trước”, u minh là tối
tăm, mù mịt, không biết mình đang đi về đâu. Có thể mai mốt bước xuống hố thẳm
rồi bị chôn vùi trong đó. U minh nẻo trước là không có đuốc sáng, không có đèn
pha, không có đạo sư. “Xa xôi dặm về”, về là về đâu? Về thiên giới, nơi mà mình
đã rời bỏ kể từ ngày bị đày xuống trần gian. Biết bao giờ có thể trở về ngôi vị
ngày xưa của mình? Vì Ngọc Hoàng đày xuống dưới này, nên phải sống cuộc đời đày
đọa của con người. Phải sinh, lão, bệnh, tử, phải đi vòng quanh trong sáu nẻo
hôn mê và trong ba giới. Đường trước mịt mờ cũng khổ mà đường về xa xôi càng
khó. Cuộc đời một vị Trích tiên cũng chẳng sung sướng gì. Mình không phải là
tiên nhưng cũng cảm thấy mỏi mệt như một vị Trích tiên. “U minh nẻo trước xa
xôi dặm về”. Đường về xa lắc xa lơ, không biết bao giờ mới trở về nguyên quán?
Nếu biết được con đường thì tốt biết mấy. Mình sẽ biết được còn bao lâu nữa thì
trở về ngôi nhà của mình.
“Trông ra bến hoặc bờ mê”. Nhìn ra chỉ thấy bến bờ của sự mê
hoặc. Mêtức là vô minh, hoặc tức là phiền não. Bến hoặc tức
là bến phiền não. Trông ra chỉ thấy bến bờ của phiền não, vô minh mà không thấy
bờ giác.
Trong đạo Bụt có câu “Khổ hải man man hồi đầu thị ngạn”.
Nghĩa là biển khổ mênh mông nhưng nếu biết quay lại thì sẽ thấy bờ ngay, bờ đó
là bờ giải thoát. Đó là kiến đạo. Biển khổ tuy mênh mông nhưng nếu biết hướng về
bờ giác thì sự mênh mông đó sẽ tan biến, sẽ không còn mênh mông nữa, và bờ giác
sẽ không cách xa ta. Vũ Hoàng Chương thấy được tất cả điều đó.
Hai câu thơ này đã bắt đầu có yếu tố của tuệ giác. Trong một
tích tắc, một sát na mà chứa đựng được cả thời gian vô cùng. Nghìn thu là một
ngàn năm, ngàn năm đem đặt gọn vào trong một tích tắc gọi là nghìn thu nửa chớp.
Nửa chớp chứ không phải một chớp, một chớp là còn dài. Đây là tinh thần của
kinh Hoa Nghiêm. Khi xây dựng bản môn thì một tích tắc, một sát na cũng chứa đựng
cả thời gian vô cùng. Trong giới thi văn, giới lãng mạn cũng dùng tuệ giác này
nhưng không đúng lắm. “Tình trong giây phút mà thành thiên thu”. Nếu
anh “fall in love”, nếu anh yêu chỉ một giây phút thôi nhưng anh sẽ khổ suốt đời.
Thiên thu được chứa đựng trong một giây phút. Thành ra tuy trăm năm nhưng có
nghĩa lý gì đâu, nó chỉ là một giấc mộng thôi. Một nghìn năm cũng vậy, chỉ dài
bằng một nửa tia chớp. Ở đây ta thấy được giá trị của thời gian. Và không gian
cũng thế “bốn bề một phương”, không gian mênh mông nhưng một phương cũng
có thể chứa đựng được cả bốn phương. Tuy trời đất bao la rộng lớn như vậy
nhưng nhìn vào hạt bụi ta thấy hạt bụi chứa đựng tất cả đất trời trong
đó. “Càn khôn tận thị mao đầu thượng” tức là tất cả trời đất càn khôn có
thể đem đặt lên trên đầu một sợi lông. Đó là câu thơ của một thiền sư Việt Nam.
“Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”.
Ta có thể đem mặt trời, mặt trăng đặt vào trong một hạt cải.
Đó là cách nói của thiền sư. Còn ngôn ngữ của thi sĩ thì “Nghìn thu nửa chớp,
bốn bề một phương”.
“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này”.
Tác giả ý thức được mình là một vị Trích tiên, và không muốn
vướng vào bất cứ một thứ gì ở cõi trần, dù những thứ đó đẹp hay không đẹp,
sạch hay không sạch. Nghĩ mình trong sạch và không muốn dính tới chuyện đời đó
là cái nhìn rất tách biệt giữa mình và đời, đời là một chuyện, mình là một chuyện
khác. Đó là do không thấy được mình là cuộc đời, cuộc đời là mình, do không có
cái nhìn tương tức của đạo Bụt. Sợ bị vướng mắc dù là vướng mắc vào cái dơ hay
cái sạch, đều là quan điểm nhị nguyên, nghĩ mình là một thực thể có thể tồn tại
độc lập ngoài những cái dơ sạch của cuộc đời. Ai biết được rằng mình với cuộc đời
không phải là hai cái khác nhau. “Ta van cát bụi bên đường”, chữ “van” ở
đây là cầu xin, van xin. Trong sự cầu xin có ẩn chứa sự sợ hãi. Sợ bị đày đọa,
bị bó buộc bởi những hệ lụy trong cuộc đời. Và vì thế mình muốn tách riêng ra
khỏi cuộc đời.
“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say”
Trong thời gian làm nghệ sĩ ở cõi trần ta chỉ muốn làm nghệ
sĩ thôi. Sau đó ta sẽ đi, ta không muốn vướng mắc với các ngươi. Kiếp say là kiếp
của thi sĩ, vì thi sĩ đã xuất bản tập thơ Say.
“Cao xanh liều một cánh tay níu trời”
Trời cao và xanh, chỗ đó là quê hương của ta. Chân ta đang dẫm
lên cuộc đời ô trược, phiền não và ta không muốn dính vào đó. Ta muốn đưa tay
lên cao với lấy trời xanh làm chỗ nương tựa để ta đừng bị hệ lụy và bó buộc vào
cuộc đời này. Điều đó nghĩa là tịnh độ là một nơi nào khác, quê hương là một
nơi nào khác, còn chỗ này là cõi tạm. Đó là quan điểm lưỡng nguyên của những
người chưa thấy đạo.
“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời
Kể chi thua được cuộc đời”.
Đời là một cuộc tranh đấu, là một ván bài. Người nào cũng muốn
thắng, không ai muốn thua cả. Ban đầu ta không muốn dính tới những chuyện được
thua đó, nhưng rốt cuộc vẫn tham dự vào cuộc tranh đấu Phật giáo cho nhân quyền.
Mình muốn coi cuộc đời là một cái gì không dính líu tới mình, mình chỉ bị bắt
buộc ở đây thôi. Nên không muốn dấn thân vào những cuộc tranh chấp. Mình nghĩ
mình khác, đời khác.
“Nói chi thua được với đời
Rất rùng rợn! “Ma cười đêm thâu”. Trong đêm đen có những con
ma đang cười nói với mình. Đó là linh hồn của những người trong cuộc được thua
đang mang nhiều đau khổ. Ta nghe tiếng cười của các loài ma quái. Tuy nói không
muốn dính líu tới cuộc được thua, không muốn dính líu tới đời sống của các loài
ma quái, nhưng ta bắt buộc phải sống chung với những người đang tranh đấu trong
cuộc được thua đó. Lập trường của tác giả rất rõ là tôi không muốn dính líu tới
cuộc đời này, cuộc đời này không phải là quê hương của tôi. Quê hương của tôi
là tiên giới.
“Ngại chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”.
Ta làm thơ, viết nhạc chẳng qua đó là lời cầu nguyện chứ
không phải ta tham dự vào cuộc tranh dành của quý vị. Ta không mua danh bán lợi,
không tham dự vào cuộc được thua của quý vị. Ta làm thơ xuất bản, ngâm thơ, phổ
nhạc là để cầu nguyện thôi. Mục đích của ta là cầu nguyện với quê hương của ta.
Ta nhớ quê hương ngày đêm “ Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”. Đừng tưởng
ta làm những bài thơ này để ca tụng cuộc đời, để mua danh bán lợi. Ta làm những
bài thơ này để cầu nguyện trong khi nhớ quê hương.
Chúng ta có những người tu theo Tịnh độ, nhưng vì họ mới bắt
đầu tu nên họ có quan niệm đây không phải là quê hương của mình. Ta bà là chốn
mình phải phát tâm chán ghét và Tịnh độ là chốn mà mình phải phát tâm mong cầu.
Tìm cầu một cái và chán ghét một cái. Tâm trạng này cũng giống như thi sĩ. Ta
không đầu tư vào cõi Ta bà này mà ta đang đầu tư vào cõi Tịnh độ nên mỗi ngày
ta đều niệm Bụt. Thay vì làm thơ ta niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Đó cũng là
sự cầu nguyện của ta. Tu Tịnh độ theo kiểu này thì cũng không khác gì mấy với
làm thơ.
Trong khi Làng Mai chúng ta tu Tịnh độ một cách khác, chúng
ta nói “Tịnh độ là đây, đây là Tịnh độ”. Ta phải biến nơi này thành
cõi Tịnh độ. Vì vậy không có thái độ chán ghét một cái và tìm cầu một cái khác.
Chư Tổ cũng đã khẳng định với chúng ta rằng “Tịnh độ ở trong tâm con người”
(duy tâm tịnh độ) đó là chiều sâu của đạo Bụt. Các vị thiền sư cũng đã nói muốn
tìm giải thoát thì phải tìm ngay trong cõi sinh tử, chứ không phải từ bỏ sinh tử
mà có giải thoát. Muốn tìm nước thì phải tìm ngay trong những con sóng, nếu bỏ
sóng đi làm sao có nước? Đó là cái thấy bất diệt mà lúc bấy giờ thi sĩ chưa có
được.
“Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”
Ta có một ngôi vị ở trên thiên giới, có thể là Nam tào hoặc Bắc
đẩu. Nếu ta trở về thì những lời cầu nguyện đâu còn ích lợi gì nữa “Hồn thơ sẽ
hết luân hồi thế gian”
Vì vậy “Một khi đã tắt cung đàn
Kể chi còn mất hơi tàn thanh âm”
Chúng ta thấy thi sĩ là một nhạc sĩ. Cung đàn đó là cung đàn
muôn điệu. Thơ cũng là cung đàn. Khi đã làm xong phận sự nghệ sĩ rồi thì ta trở
về ngôi vị của ta. Ta không để ý những bài thơ ta làm, những cung đàn ta đã hiến
tặng cho đời còn hay không. Câu trả lời của thi sĩ là tôi đâu cần để lại gì và
đâu cần để lại cho ai đâu. Thơ của tôi còn hay mất, người ta thích hay không
thích, chuyện đó tôi không quan tâm. Vì tôi đã sinh ra trong cuộc đời này như một
nghệ sĩ thì tôi đóng vai trò người nghệ sĩ. Vậy thôi! Làm xong, tôi đi. Người
ta thích hay không thích, thơ tôi còn được truyền tụng hay không, tôi không cần
biết. Trả lời cho câu hỏi “để lại cho ai” là không để lại cho ai cả
và tôi không để lại gì cả.Vì tôi bị đày xuống dưới trần gian này nên tôi phải sống
cuộc đời của một nghệ sĩ, xong xuôi tôi trở về quê hương của tôi. Đó là câu trả
lời, đó là cái thấy của thi sĩ.
Mình là người tu, đã học giáo lý rồi mình thấy như thế
nào? Mình có phải là một cái ngã không? Khi sống với cuộc đời, cái ngã của
mình có dính líu gì với cuộc đời không? Khi lìa đời có phải mình mang theo cái
ngã của mình đi không? Mình có để lại gì không? Đó là những câu hỏi rất thực tế.
Ví dụ cô Tám, anh Tám, cô Thái, cô Bảy, anh Thiều… khi họ đặt những câu hỏi này
thì mình trả lời ra sao? Ta là ai? Ta đang làm gì ở đây? Ta muốn để lại
gì không? Ta để lại cho ai? Những câu hỏi đó rất cần thiết cho tất cả
chúng ta. Ta đã để lại gì? Những gì ta để lại có đẹp không, có giá trị nào
không để đóng góp cho cuộc đời? Ta để lại cho con cháu ta, bạn bè ta hay để lại
cho muôn đời sau?
Bây giờ chúng ta phải trở lại ba câu hỏi lúc ban đầu. Ta
là ai? Ta để lại gì? Ta để lại cho ai? Trả lời được ba câu hỏi đó ta sẽ thấy
khỏe nhẹ. Mỗi người phải tự đặt những câu hỏi đó cho mình. Sanh ra là sự biểu
hiện. Chết đi là ẩn tàng. Có thể chúng ta nghĩ rằng trước khi sanh ra mình chưa
có, và sau khi chết đi mình không còn nữa. Quan điểm đó gọi là đoạn kiến.
Trước khi sanh mình chưa có, sau khi sanh mình bắt đầu có, rồi khi chết đi mình
trở lại không có. Như vậy là mình bị kẹt vào cái thấy gọi là hữu vô, đoạn
kiến.
Ví dụ điểm S là thời gian tôi bắt đầu sinh ra và tôi sẽ chết
đi vào điểm T. Trước điểm S tôi không có, bắt đầu từ điểm S trở đi tôi có, sau
điểm T tôi lại không có. Từ không trở thành có, từ có trở
thành không. Đó là quan điểm của rất nhiều người, trong đó có một số nhà
khoa học. Trong bài thơ “Bài ca dị hóa” trong tập thơ Rừng phong, Vũ Hoàng
Chương cũng có đặt câu hỏi đó và đã bắt đầu thấy được vấn đề.
“Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mãi chưa vừa
Hai chữ có không mầu nhiệm
Đêm đêm ta hỏi người xưa”.
Tác giả chưa thỏa mãn được sự khao khát hiểu biết của mình nên
thao thức muốn đi tìm kiếm về ý nghĩa của chữ “có” và “không”. “Hai chữ có
không mầu nhiệm. Đêm đêm ta hỏi người xưa” Người xưa tức là cổ nhân đã có
kinh nghiệm, đã từng sống qua, đã từng có tuệ giác rồi. Tuệ giác đó đã được ghi
chép lại trong kho tàng kinh sách của đạo Nho. Đêm đêm thắp đèn lên đọc sách của
người xưa, xem kinh nghiệm của họ để giải quyết vấn đề “có – không”. Đó là bốn
câu đầu của bài “Bài ca dị hóa”. Chúng ta cũng nên tìm đọc bài thơ đó cho
vui. Trong bài đó cũng có mấy câu rất hay.
“Biển đông mờ mịt không mà có
Hay có mà không dị biểu ơi”
Có một câu mà mình phải nhớ là “Đâu lẽ có chiều qua mà
không sáng nay”. Thấy em bé 19 tuổi chết đuối vì đi bơi hồ, ta tưởng là ngày
hôm qua em có mà hôm nay tự nhiên không có. Đâu thể từ có mà trở thành không một
cách dễ dàng như vậy được. Vì vậy đặt câu hỏi: Từ cái “không” có thể trở
thành cái“có” được hay không? Hoặc từ cái “có”có thể trở thành cái “không”
được hay không? Đó là câu hỏi rất thông minh. Nếu quan sát kỹ ta sẽ thấy được rằng
không bao giờ từ “không” mà trở thành “có” và cũng không bao giờ từ “có” mà trở
thành “không”.
Ví dụ đám mây bay trên trời có phải từ không trở thành có
không? Đứng về phương diện khoa học mà xét thì đám mây không phải từ không mà
trở thành có. Vì trước khi là đám mây thì nó đã là những cái khác rồi. Nó là
hơi nóng, là nước hồ, nước sông… Vì vậy ta không thể nói rằng đám mây từ “không”
mà trở thành “có”. Đám mây chẳng qua là sự tiếp tục mà thôi. Thế nên ý niệm
về “không” và “có” cần phải được xét lại. Ngày hôm qua có mưa dông,
nhìn lên trời ta không thấy đám mây nữa, như vậy đám mây có thể từ “có” trở
thành “không” được không? Không thể nào được, đám mây không thể chết được,
không thể nào trở thành không được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa, trở thành
sông ngòi, ao hồ. Đám mây không thể trở thành “không” được. Thi sĩ đã đặt câu hỏi
rất thông minh “đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay?” Chính nhờ câu hỏi
đó mà sau này tác giả có thể thức tỉnh lại được, thấy được đạo lý vô sinh và bất
diệt.
Chúng ta là những người có cơ hội tiếp xúc với giáo lý mầu
nhiệm của đạo Bụt. Chúng ta có cơ hội ngồi thiền, đi thiền, tại sao ta không
dùng thời gian đó để quán chiếu sâu sắc mà cứ tiếp tục làm nạn nhân cho sự sợ
hãi, làm nạn nhân cho con người sai lầm về ý niệm“có” và “không”. Em bé
hôm qua hỏi sau khi chết thì điều gì sẽ xảy ra. Ta có thể trả lời cho bé không?
Vì khi 12 tuổi, có thể mình cũng đã bắt đầu có những thắc mắc như vậy. Khi em
bé thấy một con chim chết, không còn bay, không còn hót nữa, bé liên tưởng đến
bản thân và đặt hỏi điều gì xảy ra khi mình chết? Có phải mình từ “có” trở
thành “không” hay không? Ta phải đặt câu hỏi đó để quán chiếu. Tại sao em bé 12
tuổi có nhu yếu đó mà ta là người lớn lại không có nhu yếu đó? Tại sao ta lại để
cho mình bận rộn suốt ngày từ chuyện này sang chuyện khác mà không có thời gian
để quán chiếu? Chúng ta để cho những buồn vui nho nhỏ lôi kéo làm mất hết ngày,
hết tháng, hết cả cuộc đời ta.
“Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”. Một câu hỏi như
vậy thôi, cũng đủ cho chúng ta thấy được bản chất vô sinh bất diệt của chúng ta
mà vượt thoát sợ hãi. Chúng ta biết rằng hôm nay mình phải làm gì để hiến tặng
cái đẹp nhất cho đời. Đức Thế Tôn đã chỉ cho ta một con đường, một phương pháp
quán chiếu để đừng bị kẹt vào ý niệm sinh và tử, có và không, ngã và phi
ngã. Lúc đó thi sĩ Vũ Hoàng Chương nghĩ rằng mình có một cái ngã. Cái ngã
đó có thể không dính líu gì đến cuộc đời. Nhưng khi quán chiếu sâu sắc ta thấy
rằng cái gì cũng liên quan mật thiết với tất cả những cái khác mà không có một
cái ngã tồn tại biệt lập.
Ta để lại chính ta trong cuộc đời này
Chúng ta thường có ý nghĩ rằng mình để lại cho đời một đứa
con. Ví dụ như chú Thư và chị Hạnh Hương để lại Bảo Tích; và rồi mình hỏi anh
chị để lại cho ai? Để lại cái gì? Để lại Bảo Tích. Để lại cho Sư Ông. Nhưng sự
thực là mình để lại chính mình. Con của mình chính là sự tiếp nối của chính
mình. Quý vị không cần phải làm đám cưới mới có con. Chúng ta có con trong từng
giây từng phút. Mỗi giây phút ta đều suy nghĩ, tư duy. Những tư tưởng của chúng
ta có thể là hận thù, độc hại, oán hờn, đen tối… và như thế mỗi giây phút hằng
ngày ta đều để lại những thứ đó. Tuy nhiên ta cũng có thể để lại những tư tưởng
đẹp đẽ như những ý tưởng tràn đầy lòng yêu thương và sự hiểu biết đó gọi là
chánh tư duy, là tặng phẩm ta hiến tặng cho đời. Nói là hiến tặng cho đời nhưng
sự thực là hiến tặng cho ta.
Những tư tưởng mà ta phát ra trong từng giây phút của đời sống
hằng ngày là ý nghiệp của ta, là sự tiếp nối của ta, là con của ta. Đó chính là
chúng ta. Những câu nói mà mình phát ra cũng là những hiến tặng của chúng ta
trong giây phút hiện tại. Nó là con của chúng ta và nó sẽ tiếp nối ta đi về
tương lai. Những hành động trong đời sống hằng ngày của mình cũng vậy, nếu là
sát, đạo, dâm thì hành động đó là sự tiếp nối xấu xa của chúng ta. Đó cũng là
quà tặng của ta cho chính ta và cho cuộc đời. Vì vậy trong mỗi giây phút của đời
sống hằng ngày, ta đều hiến tặng những hành động của thân, khẩu, ý. Đó là con,
là gia tài của ta, ta không thể nào tránh thoát được.
Trong kinh cũng có dạy là khi chết chúng ta đem theo tất cả
những nghiệp thân, khẩu, ý của mình. Đó là sự tiếp nối của mình. Những nghiệp
đó nếu đẹp thì ta đem theo cái đẹp, nếu xấu thì ta đem theo cái xấu. Những điều
ta suy tư, nói năng và hành động không mất đi đâu cả, chúng tiếp nối ta dài
dài. Sau khi chết ta không đem theo gia sản, danh vọng, quyền hành hay địa vị…
mà đem theo tất cả nghiệp của ta. Khi chết, tôi sẽ không đem theo được gì hết
ngoài những nghiệp của ta. Nghiệp đó có thể là nghiệp tốt hoặc nghiệp xấu. Vì vậy
những gì mình đang suy tư, nói năng, hành động là gia tài mà sau này mình sẽ
đem theo. Đó là mình. Bảo Tích chẳng qua chỉ là một trong những thứ mình hiến tặng
thôi, mình còn hiến tặng những thứ khác nữa trong đời sống hằng ngày. Vì ngày nào
mình cũng tư duy, nói năng, hành động. Đó là tác phẩm của mình, là con của
mình, là chính mình.
Khi tôi dạy cho một sư cô hay một sư chú, tôi trao truyền cho
sư cô, sư chú đó những gì mà tôi nghĩ là đẹp nhất, hay nhất của tôi. Tức là tôi
hiến tặng chính tôi, tôi để lại chính tôi cho cuộc đời. Tôi không nói như thi
sĩ là không muốn dính líu gì tới cuộc đời. Vì cuộc đời là chính mình. Tất cả những
gì mình nói, làm, suy nghĩ đều là để đầu tư vào tương lai. Mình thấy được sư
cô, sư chú là sự tiếp nối của mình. Vì vậy trong giây phút hiện tại mình phải
làm thế nào để những gì mình để lại là những cái đẹp, lành và tốt. Mình không
muốn để lại những cái gì xấu xa, hận thù, nhỏ mọn, đen tối. Nếu lỡ trong quá khứ
chúng ta đã để lại những điều tiêu cực xấu xa, đen tối, hận thù và chúng đã lên
đường rồi làm sao ta chạy theo kịp để sửa nó, để kéo nó về?
Lời nói một khi đã phát ra thì xe bốn ngựa cũng không chạy
theo kịp để đem nó về lại cho mình “tứ mã nan truy”. Vì vậy ta phải cẩn thận.
Một tư tưởng đã phóng đi, thì dù máy bay trực thăng cũng không đuổi kịp để kéo
nó lại.Vì vậy ta phải cẩn thận trong từng giây, từng phút đối với tư duy, ngôn
ngữ, hành động của ta. Làm thế nào để ta có thể cải biến được nghiệp xưa? Chúng
ta có một nẻo thoát. Cũng giống như ta fax cho người bạn một tờ fax, trong bản
fax đó vì tư duy sai lầm, nên mình đã lên án, la mắng, trách móc người bạn đó,
và mình biết rằng tờ fax đó sẽ gây ra những đổ vỡ trong lòng mình và bạn. Vì vậy
mình viết một tờ fax thứ hai để xin lỗi, để trung hòa tờ fax ban đầu. Mình nói
rằng trong giây phút hấp tấp, giận dỗi, mình đã phát ra những tư tưởng, lời nói
như vậy, mình rất xấu hổ, mình xin bạn tha thứ cho mình. Tờ fax thứ hai sẽ
trung hòa hóa được trình trạng trong quá khứ của mình, mình có thể chuyển đổi
nghiệp bằng cách đó.
Trong chúng ta ai mà không có những lầm lỗi trong quá khứ; ta
đã nghĩ, nói, làm những điều không có giá trị, những điều không có chất liệu của
hiểu biết và thương yêu. Tuy nhiên chúng ta vẫn đang còn đây, chúng ta có cơ hội
và có khả năng làm mới trở lại. Khi làm mới chúng ta có thể chuyển đổi được tất
cả. Hay như vậy đó! Đạo Bụt mở ra cho chúng ta những hướng đi rất mầu nhiệm.
Chúng ta có thể ôm được quá khứ, có thể thay đổi được quá khứ bằng cách hành xử
của chúng ta trong giây phút hiện tại. Bắt đầu quán chiếu là ta đã thấy được vấn
đề “ta là ai?” “Ta đã để lại gì?”
Ta có thể nói ta là cuộc đời, ta được làm bằng những yếu tố
không phải là ta; ta được làm bằng tổ tiên, cha mẹ, ông bà, đất nước, giáo dục,
kinh tế, xã hội. Ta là như vậy. Rất khoa học. Ở đây không mang tính chất siêu
hình. Khi nhìn vào bản thân với con mắt quán chiếu ta thấy được rằng ta là sự
tiếp nối của cha mẹ, tổ tiên, ông bà, của nền văn hóa dân tộc, văn hóa thế giới,
của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội… Ta có thể thay đổi ta, để có thể cống
hiến cho tương lai những cái đẹp hơn mà ta đã tiếp nhận. Ta có thể làm hay hơn
cha mẹ, tổ tiên. Đó là nhờ Pháp của Bụt. Cha mẹ, tổ tiên trong ta sẽ rất hài
lòng về ta. Đó là câu trả lời cho câu hỏi đầu “ta là ai?” Không phải siêu
hình gì cả, rất rõ ràng và khoa học. Ta là cha mẹ, tổ tiên, ông bà, xã hội. Ta
có thể chuyển hóa ta để làm cho ông bà, cha mẹ, và tổ tiên ta đẹp hơn.
Câu hỏi thứ hai “ta để lại gì?” Câu trả lời
là không nên kẹt vào lưỡng nguyên, có người để lại và vật để lại. Người để lại
và vật để lại là một, ta để lại chính ta trong cuộc đời này. Cũng như
chúng ta nói cha mẹ trao truyền hình hài này cho mình. Cha mẹ là người trao
truyền, hình hài này là vật trao truyền và mình là người tiếp nhận hình hài
này. Trong sự trao truyền có ba yếu tố: người trao truyền, vật trao truyền và
người tiếp nhận sự trao truyền. Đức Thế Tôn đã dạy rất rõ ràng là ba yếu tố đó
không có thực thể riêng biệt. Khi nhìn sâu vào vật trao truyền ta thấy người
trao truyền là cha mẹ. Cha mẹ trao truyền chính con người cha mẹ cho mình, vì
trong mỗi tế bào cơ thể mình ta thấy được sự có mặt của cha mẹ với tất cả khổ
đau và hạnh phúc của cha mẹ. “Ta còn để lại gì không?".
Có. Ta để lại ta một cách toàn vẹn với tất cả thân, khẩu, ý của ta. Ta trao lại cho Bảo Tích nhưng ta cũng trao lại cho cuộc đời. Bảo Tích cũng là ta, cuộc đời cũng là ta. Thành ra người trao truyền và vật trao truyền không phải là hai thực thể cách biệt, người tiếp nhận trao truyền cũng đồng thời là vật trao truyền và người trao truyền. Bảo Tích là chú Thư, là chị Hạnh Hương, là ông nội, ông ngoại… Đó là sự tiếp nối.
Có. Ta để lại ta một cách toàn vẹn với tất cả thân, khẩu, ý của ta. Ta trao lại cho Bảo Tích nhưng ta cũng trao lại cho cuộc đời. Bảo Tích cũng là ta, cuộc đời cũng là ta. Thành ra người trao truyền và vật trao truyền không phải là hai thực thể cách biệt, người tiếp nhận trao truyền cũng đồng thời là vật trao truyền và người trao truyền. Bảo Tích là chú Thư, là chị Hạnh Hương, là ông nội, ông ngoại… Đó là sự tiếp nối.
Trao truyền cũng cần phải có nghệ thuật. Làm thế nào để ta chỉ
trao truyền những cái đẹp mà đừng trao truyền những cái xấu. Như thế chúng ta sẽ
có một tương lai tươi sáng. Vì vậy khi thấy được giáo lý Tam luân không tịch này
thì ta bắt đầu trả lời đúng câu hỏi mà ta nêu ra lúc đầu: Ta là ai? Ta
trao truyền gì? Ai là người tiếp nhận sự trao truyền? Ta thấy ba cái đó không
phải là ba cái tách biệt nhau. Thấy được điều đó, ta sẽ vượt thoát ý niệm ta từ
“không” mà trở thành “có” và từ “có” trở thành “không”.
Ta thấy bài này là một lời mời mọc. Nếu giảng hết bài này thì
không đủ thời gian đi thiền hành, đi picnic nên mình phải chấm dứt tại đây. Đây
là sự mời mọc để quý vị đặt lại ba câu hỏi. Nếu đặt được ba câu hỏi này rồi thì
con đường trước mặt mình rất xán lạn. Quý vị biết mình phải làm gì ngày hôm nay
và không còn có cảm giác là con đường phía trước mờ mờ, ảo ảo và mình không biết
đi về đâu. Con mắt mình được mở ra và mình biết sống như thế nào cho có nghệ
thuật, có hạnh phúc để mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình có thể hiến tặng
được cho mình, cho tổ tiên, cho con cháu mình những gì đẹp nhất mà mình có thể
hiến tặng dưới ba dạng tư duy (chánh tư duy), lời nói (chánh ngữ) và hành động
(chánh nghiệp). Đó là ba then chốt của con đường Bát chánh đạo.
Ngắt một cành hoa làm bút yêu thương
Vũ Hoàng Chương bị đi học tập cải tạo, phải can thiệp lắm mới
được thả ra. Khi thả ra thì ông rất ốm yếu, sức khỏe không còn nữa. Từ Pháp
chúng tôi đã gởi thuốc, quà cho bà Vũ Hoàng Chương để có thể nuôi ông trong trại
học tập cải tạo. Tất cả chúng ta – những người Phật tử, từng tham dự trong cuộc
tranh đấu chống lại chế độ độc tài để khơi mở, bồi dưỡng tình huynh đệ, đều thấy
rằng Vũ Hoàng Chương với tư cách một thi sĩ đã đóng góp rất nhiều cho cuộc
tranh đấu đó. Những lời thơ ông nói ra thấm nhuần Phật Pháp và không mang chất
liệu của hận thù.
Nếu có cơ hội mình sẽ đọc thêm vài bài nữa của Vũ Hoàng
Chương. Khi nghe tin Vũ Hoàng Chương mất, Thầy có làm một bài thơ, Thầy dùng những
danh từ trong thơ của Vũ Hoàng Chương để ca ngợi Vũ Hoàng Chương giờ phút chót
đã thấy được đạo, biết được con đường trở về, đã để lại cho đời rất nhiều cái đẹp,
biết ngắt một cành hoa làm bút yêu thương viết lên những bài thơ tràn đầy tính
chất bất bạo động và lòng thương yêu:
“Đêm này dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn cứ luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tĩnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào cũng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn”.
Hồn thơ vẫn cứ luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tĩnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào cũng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn”.
Nhất Hạnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét