“Song tử” của người đàn bà
Cày ải tư duy và gieo chữ trên cánh đồng nào, Như Quỳnh de
Prelle cũng thể hiện sự cởi mở và táo bạo. Khát vọng giãi bày yêu đương của chị
hết sức nhân văn. Nó chứng tỏ bản lĩnh cũng như cá tính nữ của chị.
Người đọc từng biết đến Như Quỳnh de Prelle với tư cách là một
nhà làm phim, một giọng thơ tinh tế, sâu sắc. Thơ của chị đăng tải nhiều nhưng
chỉ đến khi Song Tử (Nxb Thuận Hóa, 2017) ra đời, người đọc mới có cơ
hội nắm bắt một cách hệ thống cảm quan thẩm mỹ và sức hấp dẫn, lôi cuốn của
ngôn từ trong thơ chị. Ở đó, tình yêu của người đàn bà thơ với anh- Song Tử, được
cài bện trong tình yêu thi ca, tình yêu con người, quê hương, cuộc sống... Anh
- Song Tử, là một hằng số vô cùng khơi mãi những thương yêu bất tận. Anh - Song
Tử, cũng là một hình tượng nghệ thuật ẩn chứa những suy tư vừa kín đáo vừa táo
bạo về thế giới.
Những bài thơ Như Quỳnh de Prelle viết như những lời tâm sự,
thủ thỉ, tâm tình với anh về tình yêu, về thơ ca, về cuộc sống. Song Tử là
tập thơ chị bày tỏ tình yêu tha thiết, thủy chung, mãnh liệt, bỏng cháy và luôn
tìm về sự hài hòa cả về tinh thần lẫn thể xác, khát chờ một hạnh phúc vĩnh hằng,
một tổ ấm vẹn toàn. Anh chính là mạch sống đời thơ chị. Chị biết cách nhen nhóm
và gìn giữ tình yêu với sự chăm chút đáng quý: “yêu anh yêu anh từng nhịp
đập từng nhịp từng nhịp”. Với chị, yêu là phải bùng cháy cảm xúc để tỏ
lòng với người mình yêu. Do vậy, sự gắn bó, khăng khít giữa hai người tình
không chỉ đo bằng chiều dài của thời gian mà còn được cơi nới, mở rộng biên độ
yêu, không gian yêu. Đâu chỉ hiện tại, mà ngay cả cõi mơ, tình yêu ấy vẫn nảy nở,
đằm sâu: “Em đợi anh/ Yêu anh/ từng ngày từng ngày một/ như hơi thở/ như
những hẹn hò trong mơ/ như những thảng thốt/ bất ngờ” (Anh. Tiếng Việt và
quê hương).Yêu như là nhịp thở của nhau và đến khi tràn sang cả cõi mơ thì sức
mạnh của tình yêu, nỗi khát hòa nhập được đẩy lên cao hơn.
So sánh là một trong những phương thức tăng thêm vẻ đẹp của
diễn ngôn, của hình tượng được nói đến, từ đó người nghệ sĩ gửi gắm nỗi niềm,
xác nhận cảm quan triết luận về cuộc thế. Cấu trúc so sánh được Như Quỳnh de
Prelle sử dụng khá nhiều. Khảo sát tập Song Tử, chúng tôi thấy cấu
trúc anh là (A + là + B) xuất hiện khá nhiều (23 lần/81 bài thơ). Điều
này cho thấy, hình tượng anh đã trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt trong thơ chị: Song
Tử duy nhất của em/ anh của em/ anh là Tổ quốc của em/ trên địa
cầu hôm nay (Anh. Tiếng Việt và quê hương)
Yêu và nhân niềm tin yêu mỗi ngày bằng gia vị riêng nhưng tất
yếu không thể thiếu gia vị của lòng trân quý người tình. Cách so sánh đối tượng
cụ thể với đối tượng trừu tượng, mang tính biểu tượng cao, thiêng liêng ở đoạn
thơ này là một phát hiện thú vị của chị. Ngoài ra, việc lặp lại các từ “của em”
góp phần khẳng định tính sở hữu, nhấn mạnh tình yêu bất diệt của người đàn bà
thơ đối với anh. Đoạn thơ khác, yếu tố khẳng định đi kèm với các hình ảnh được
so sánh xuất hiện liên tục: anh là một cánh rừng màu xanh của em/ là ngôi
nhà diệp lục tưởng tượng của em/ là Song Tử/ cho em hẹn hò/ anh là không khí/
cho em thở/ cho màu xanh định mệnh của em/ cho sự thất thường của em/ trong sâu
thẳm (Thêm một trái tim ở bên). Người đàn bà thơ biết nêm nếm đúng khẩu vị
yêu, muốn khám phá kiệt cùng thế giới tâm hồn của anh. Anh được ví với mọi chiều
kích của vũ trụ, xuyên qua lưới thời gian, là ngọn gió thơm mát, là những gì
tinh khôi… trong trái tim người đàn bà thơ. Mỗi cấu trúc thơ mở ra một cánh cửa
tình. Cấu trúc anh - cánh rừng: không gian mênh mông ngập tràn sức sống. Anh -
ngôi nhà diệp lục: không gian gia đình ấm cúng, đoàn tụ. Anh - Song Tử: mẫu người
đàn ông tuyệt vời. Anh - không khí: yếu tố cần thiết để duy trì tình yêu và cuộc
sống. Sự bó hẹp dần về không gian ở đoạn thơ trên chính là sự rút ngắn khoảng
cách giữa hai người tình: nỗi khát tình, khát hòa nhịp lòng của người đàn bà
thơ đối với anh xuyên suốt, nồng nàn và ngày một lớn thêm.
“Song Tử” là “những con chữ của tình yêu”, là “mùa
em dành cho anh tình yêu bất tận/ sự ân cần và hân hoan” (Bài thơ viết
trong vườn). Người đàn bà thơ xem mình là nước. Anh là rừng. Nguồn nước chảy,
thấm vào đất, vào rừng những mạch nguồn của tình yêu, mang đến sự thanh khiết,
hòa hợp và sinh sôi nảy nở. Nguồn nước thanh khiết mà chị đưa đến này sẽ tưới tắm,
xoa dịu tâm hồn anh. Đồng thời nó cũng là hình ảnh tượng trưng nguồn thụ tinh
cho một tình yêu đẹp, luôn chuyển dịch, vận động để tái sinh: “Hơn bao giờ
hết, lúc này nàng nhận ra nàng yêu anh biết bao, cần anh biết bao, nàng tiếp tục
yêu và yêu yêu như nước quấn quanh rừng, như những mạch ngầm của dòng chảy không
tách rời mặt đất kia… nàng là nước, là người đàn bà mang nước để yêu anh như
nguồn nước mẹ” (Song Tử). Mạch tình ấy không đơn thuần chỉ là sự hiện
hữu qua những hành động (yêu) mà còn như nguồn nước mẹ thấm sâu, lan rộng khắp
(quấn quanh, không tách rời). Trên nền gắn kết nàng-anh, nước-rừng, tình yêu nảy
sinh, bình dị, son sắt, ngọt lịm, tràn trề, không bao giờ vơi, không bao giờ
ngưng.
Như Quỳnh de Prelle và tập "Song tử thơ"
Nước trong thơ Như Quỳnh de Prelle còn mang biểu tượng phái
sinh. Nước tăng thêm sự đủ đầy, thanh nhã cho không gian của tình yêu và vẻ đẹp
tâm hồn: Bảo Bình của anh là em/ em chỉ có một Song Tử là anh/ trời đất
mang anh đến cho em/ vũ trụ chuyển hóa anh cho em/ một người mang nước
có anh/ và yêu anh/ anh là cánh rừng/ em là những dòng nước/ chúng ta bao
quanh nhau/ nước từ trong lòng sâu của đất/ nuôi dưỡng mạch nguồn cho rễ của
cây/ anh chở che em/ bằng màu xanh diệp lục/ sự chuyển đổi của thời gian/ bằng
tình yêu/ lặng im lặng im/ không cần nói bằng lời (Song Tử của em).
Ở đoạn thơ trên, cặp đôi cánh rừng-dòng nước bổ sung, tương hỗ
mang ý nghĩa thanh tẩy, nhen lên những mầm sống tươi mới, hồi sinh tâm hồn, kết
hoa trái tình yêu. Trên tinh thần ấy, nước còn là biểu tượng của vẻ đẹp thiên
tính nữ, mềm mại, trong sáng, nảy sinh sự sống mới; là chất kết dính, là sự hòa
quyện tuyệt vời giữa cung Bảo Bình và cung Song Tử. Sự chuyển hóa dòng nước
tình yêu mát lành từ em sang anh, từ Bảo Bình sang Song Tử và ngược lại, là một
quá trình xuyên thấm và bồi đắp liên tục giữa hai trái tim đồng điệu, sống hết
mình vì tình yêu. Yêu là phải tự tin thổ lộ với người tình bằng trái tim nồng
nàn và rất đỗi ấm áp, mến thương của mình. Vì vậy, tiếng nói thơ chị lúc nào
cũng mong mỏi “tìm kiếm sự vẹn nguyên ngay cả khi cái chết cận kề”. Quyết
tâm đó đã xác tín tiếng nói tự chủ, cá tính nữ trong hành trình tìm sự trọn vẹn
tình yêu của người đàn bà thơ.
Khi yêu, ai cũng muốn thấu trọn trái tim người tình. Trong
thơ, Như Quỳnh de Prelle biết đặt ra những giả thiết, lật lại vấn đề: “Em
cũng không có cơn mưa nào cho anh/ nên em thấy anh là giọt nước cho em uống
anh trong cơ thể em” (Em và anh). Anh là giọt nước tinh khiết bù đắp nguồn
sống cho em. Sự luân chuyển, thay đổi vị trí giữa người cho và người nhận, chị
đã chứng minh sức sống mãnh liệt của tình yêu giữa người đàn bà thơ và anh
không bao giờ khô cạn, mãi mãi xanh tươi, quyến dụ suốt mùa yêu. Hơn nữa, khi
yêu, người ta luôn có nhu cầu làm mới, nhen lửa tình yêu mỗi ngày. Nhưng nhu cầu
nắm bắt, hiểu hết người mình yêu là một hành trình vô tận. Chừng nào còn nhu cầu
kiếm tìm tình yêu thì tình yêu còn hiện hữu. Người đàn bà ấy không để tình yêu
nguội lạnh như lớp tro buồn, hoang hoải: “Em muốn yêu anh lại từ/ hôm nay
như một ngày mới/ đang đến, mở mắt ra em/ nhìn thấy anh ở bên và/ có anh
trên khắp mọi nơi/ em đến, em đi, ngồi lại” (Người yêu dấu ơi). Chị
biết nhân thêm tình yêu và làm mới tình yêu mỗi ngày, biết hòa nhập, đồng điệu
với người mình yêu để tôn vinh sự thủy chung và thiêng liêng của tình yêu. Ý thức
này một mặt khẳng định tình yêu bền vững, vĩnh cửu của người đàn bà thơ với anh
- Song Tử, không gì có thể chia cắt được, mặt khác, hướng con người đến sự vẹn
toàn, đến những giá trị tốt đẹp hơn.
Người đàn bà thơ đa cảm, đa tình nhưng không yếu đuối, ngược
lại, rất cứng cỏi, bản lĩnh, đầy cá tính. Nỗi khát yêu đôi khi được dồn đẩy, vỡ
ra và bứt phá, làm nên lớp sóng yêu dào dạt, chuỗi thanh âm nhục cảm táo bạo
cho tập thơ: “anh là thời gian không gian của em/ anh là chú chim non gọi
em buổi sáng/ dặn em đi ngủ lúc đêm khuya/ anh là con tinh trùng vô hình/ quẫy
đạp em/ sinh sôi/ anh nằm trên ngón tay em/ lặng im lặng im” (Anh đến từ
đâu). Đoạn thơ này, yếu tố được so sánh phát huy hiệu lực cao, tăng dần mức độ
tình cảm và dừng lại ở hình ảnh nhục thể, hoan lạc, táo bạo. Những cuồng nhiệt
của tình yêu, niềm hạnh phúc vô biên tràn ngập thời gian và không gian. Một
tình yêu viên mãn. Một sự kết nối tuyệt đích. Ở bài thơ “Thư viết cho người
yêu”, những từ ngữ đan phối, duỗi theo cơ chế tăng tiến cảm xúc như thèm,
muốn, nuốt, hôn, uống, túm, ăn... dội thẳng vào tâm trí người đọc. Chúng ta thấy
nhịp thơ tương đồng với tốc độ cảm xúc tạo nên hiệu ứng nhạc tính của những con
chữ và hiệu ứng nhạc lòng của hai người tình. Tất cả níu vào nhau, đan vào nhau
theo một chỉnh thể thống nhất và cao trào. Trong thơ chị, đôi khi lời tình yêu
chỉ là những thanh âm chân thật, tự nhiên nhưng vẫn khiến người đọc mê say trước
miền nóng ấm của sự giao hòa (Chúng ta là một). Đoạn thơ bằng ngôn ngữ
tinh tế, giản dị, cho thấy cái nhìn đa chiều của Như Quỳnh de Prelle khi nói về
say đắm của tình yêu. Dù cảm xúc ào ạt, cháy bỏng hay dịu dàng, kín đáo nhưng
có thể nói không một khoảng cách, ranh giới nào chia lìa được hai người tình. Cấu
trúc dạng thơ văn xuôi ở đây trải dài như mở rộng thêm biên độ của tình yêu, của
cảm xúc trong cơ chế vận động của những thanh âm tha thiết, mê say (che chở,
ngưng lại, chui vào, vỡ ra). Nếu thơ tình yêu Vi Thùy Linh được giải tỏa bằng
những cơn xúc cảm bạo dạn, được dệt bằng “những trận bạo động chữ” thì thơ Như
Quỳnh de Prelle lại có cái riêng khác. Sự mơn trớn, tận hiến được đẩy đến cao
trào nhưng vẫn hết sức tinh tế, chừng mực, vẫn giữ được sự dịu dàng, nữ tính của
giới thứ hai. Đó là một cơn khát thèm vừa có sự nhã nhặn vừa có sự quyết liệt,
vừa khơi gợi vừa kiềm chế được bản năng của người đàn bà đang yêu.
Cô đơn “thuộc phạm trù cái đẹp”, là cú hích sáng tạo đối với
người nghệ sĩ. Chọn con đường thơ ca, nghĩa là họ đã chọn cho mình một lối đi
riêng khác, thậm chí chịu số phận của kẻ bên lề, phải chịu sự đày ải và những
va đập buốt nhói của cuộc sống. Đây là vận mệnh chung của những kẻ dấn thân vào
mê lộ đày ải, sống chết vì nghệ thuật. Đây cũng là cảm thức chủ đạo, xuyên suốt
chặng đường đến với thi ca của họ. Vận mệnh ấy vin vào Như Quỳnh de Prelle. Bên
cạnh những nghiệm sinh về tình yêu, thơ chị cũng viết nhiều về nỗi cô đơn. Chị
cô đơn đến nỗi chốn nào cũng không tìm được sự đồng cảm, sẻ chia. Nỗi đơn độc
như sợi dây định mệnh đeo bám, vấn vít thơ chị: “nàng lại cô độc/ lại như
xưa/ trong những nơi nàng đến nàng qua và ngồi lại/ chả còn ai mong đợi nàng/ đọc
nàng nữa/ chả còn ai còn ai” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng).
Khi đối diện với nỗi cô đơn, lạc lõng, thơ chị càng đẫm sâu vào nỗi buồn.
Nỗi buồn đan từ lớp này sang lớp khác, ken chật con chữ. Chị sắp xếp và đo độ bền chặt từng nỗi buồn của chính mình: …buồn không ngớt; nỗi buồn lặn sâu cào xới những rạn nứt; thấm vào da thịt dòng máu nhiệt đới buồn; em chôn những nỗi buồn vào đá nghìn năm nguyên vẹn; nỗi buồn thời này chất chứa từ bao đời, từ quá khứ, từ hiện tại và tương lai chỉ là hy vọng hão huyền cho sự ảo tưởng khốn cùng… Tại sao nỗi buồn trong thơ chị đậm đặc, dai dẳng và day dứt như thế? Phải chăng những bất trắc của cuộc sống đập dội, dồn đẩy chị đến mức phải bung ra, vỡ ra cả trái lòng mình? Phải chăng nỗi buồn này sẽ là chìa khóa để chúng ta giải mã, thấu hiểu và đồng cảm với chị qua những ẩn ức đang bật dậy, qua sự tuôn chảy của xúc cảm, của những ký tự đầy biến hóa?
Nỗi buồn đan từ lớp này sang lớp khác, ken chật con chữ. Chị sắp xếp và đo độ bền chặt từng nỗi buồn của chính mình: …buồn không ngớt; nỗi buồn lặn sâu cào xới những rạn nứt; thấm vào da thịt dòng máu nhiệt đới buồn; em chôn những nỗi buồn vào đá nghìn năm nguyên vẹn; nỗi buồn thời này chất chứa từ bao đời, từ quá khứ, từ hiện tại và tương lai chỉ là hy vọng hão huyền cho sự ảo tưởng khốn cùng… Tại sao nỗi buồn trong thơ chị đậm đặc, dai dẳng và day dứt như thế? Phải chăng những bất trắc của cuộc sống đập dội, dồn đẩy chị đến mức phải bung ra, vỡ ra cả trái lòng mình? Phải chăng nỗi buồn này sẽ là chìa khóa để chúng ta giải mã, thấu hiểu và đồng cảm với chị qua những ẩn ức đang bật dậy, qua sự tuôn chảy của xúc cảm, của những ký tự đầy biến hóa?
Bản chất của cuộc sống là sự va chạm giữa các mặt đối lập.
Con người bị ném trong guồng quay ấy, hệ lụy, cũng chứa nhiều mặt thuận nghịch.
Thơ Như Quỳnh de Prelle sử dụng nhiều cặp tương phản (được - mất, ánh sáng -
bóng tối, chân thành - dối trá, thực - ảo, hạnh phúc - khổ đau...). Những cặp
tương phản này dựng nên sự đa dạng của gương mặt thế giới và làm rõ tâm thế người
đàn bà thơ - hoang mang, đầy mâu thuẫn: có lúc nàng hạnh phúc/ trên
tay với những bó hoa hồng/ có lúc nàng tuyệt vọng/ như một đám tang
suốt bốn mùa/ có lúc nàng nhẹ dạ ngô nghê trao gửi không hề hấn tiếc
chi/ có lúc nàng tin/ tin vào ngọn cỏ/ tin vào sự an
nhiên/ tin vào sự cô độc/ tin vào sự kiếm tìm/ (Tuyệt vọng tháng
5)
Vậy nguyên nhân gây nên sự hoang mang có phải từ chủ thể? Như
Quỳnh de Prelle lý giải: “chuyện gì cũng hoang mang/ vô vọng/ tình yêu vô
vọng/ dân tộc vô vọng/ cái chết vô vọng/ niềm tin ở đâu/ ở đâu”? (Tuyệt vọng
tháng 5). Nỗi niềm chát đắng, đau buồn của con người không bao giờ nguôi
ngoai: trong căn nhà cổ/ em nhìn thấy tổ tiên loài người buồn bã/ như những
cơn hen kéo dài/ đậm đặc thuốc men (24h một ngày và 24h/s). Hay một đoạn
thơ khác, cuộc đời quá dày đặc buồn đau, con người cứ quẫy cựa mãi cũng không
giải thoát được: buồn trái tim hẹp/ buồn lý trí ác ôn/ buồn cả
cuộc đời/ chả vui hết ngày/ khi vẫn còn thức/ khi vẫn còn nhịp đập (Nỗi
buồn tháng 4). Cuộc đời mà chị tái hiện, tình người quá đỗi mong manh. Bởi tình
yêu cao quý mà tạo hóa ban tặng đâu thể nảy mầm trên cái nền xám xịt này? Vì lẽ
đó, chị cho rằng, tình yêu thương bao giờ cũng là của hiếm: cuống cuồng
yêu đương/ cuống cuồng hẹn hò/ cuống cuồng hờn giận/ cuống cuồng
điên rồ/ cuống cuồng giao hợp/ tình yêu thì hiếm hoi/ loài người
luôn đói khát sự yêu thương ân cần (Cuống cuồng yêu)
Đến đây, chúng ta đã hiểu vì sao thơ chị viết nhiều về nỗi buồn
(58 từ buồn/81 bài thơ). Nỗi buồn luôn thường trực trong Song Tử,
đúng như cách gọi tên của chị: “những khúc niệm sinh buồn”. Dấn sâu
vào nỗi buồn đau, cô đơn, chúng tôi thấy thơ Như Quỳnh de Prelle càng sắc, càng
chân thực, mang đến luồng gió mới trong cách nhìn nhận, đánh giá cuộc thế. Chị
chấp nhận cơn đớn đau như một phần của cơ thể trong cuộc nghiệm chứng những bất
ổn. Đó là nguyên do để người đàn bà trong thơ chị muốn “ăn cả vạn vật trên
thế giới”, chào đón cuộc sống bằng con đường khác: nàng muốn ăn cả những
lời nói thối tha/ những định kiến/ chả bao giờ đổi thay lịch sử/ những thấp hèn
ti tiện/ nàng sẽ chết hay tiếp tục tồn tại/ trong thế giới này// sau khi
người ta đọc và ăn những bài thơ của nàng bằng mắt, ý nghĩ/ bằng cách nào đó/
nàng tiếp tục viết/ ăn cả loài người/ bằng ngòi bút/ trên bàn phím/ trong khuôn
hình màn hình của chiếc Macbook E (Nàng thơ). Nuốt vào cuống họng những mặt
trái của xã hội rồi thực hiện theo chu trình nhào nặn của riêng chị là hành động
khá táo bạo. Mong mỏi đổi thay ấy minh chứng trách nhiệm và lương tâm rất nhân
bản của người nghệ sĩ. Từ chu trình ăn, uống, sa thải của người đàn bà thơ,
chúng ta thấy rõ bản lĩnh mạnh mẽ của chị trước mặt trái của xã hội.
Chị còn cho rằng: ”Trong thế giới loài người/ trong đồng loại của mình/ tôi nên biết nhiều hơn/ chia sẻ nhiều hơn/ gặp gỡ nhiều hơn/ viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau” (Cuộc thế). Hành động dấn thân, nhập cuộc, dâng hiến tận cùng vào bể đời này của chị thật đáng quý! Nó thể hiện bản lĩnh và tâm hồn của người nghệ sĩ sống hết mình, cháy kiệt cùng cảm xúc vì thơ vì đời. Thì ra, nỗi đau, nỗi cô đơn lại là cơn chấn động đáng quý để kích hoạt trái tim của người nghệ sĩ.
Chị còn cho rằng: ”Trong thế giới loài người/ trong đồng loại của mình/ tôi nên biết nhiều hơn/ chia sẻ nhiều hơn/ gặp gỡ nhiều hơn/ viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau” (Cuộc thế). Hành động dấn thân, nhập cuộc, dâng hiến tận cùng vào bể đời này của chị thật đáng quý! Nó thể hiện bản lĩnh và tâm hồn của người nghệ sĩ sống hết mình, cháy kiệt cùng cảm xúc vì thơ vì đời. Thì ra, nỗi đau, nỗi cô đơn lại là cơn chấn động đáng quý để kích hoạt trái tim của người nghệ sĩ.
Khi không giải tỏa được những dồn nén, ẩn ức, con người dễ có
tâm lý hoang mang, nghi hồ, thiếu hụt niềm tin, thậm chí nghĩ đến cái chết để
giải thoát. Người đàn bà trong thơ chị chông chênh, bất an, luôn có sự giằng
xé giữa bản năng sống và bản năng chết: “nàng sẽ chết hay tiếp tục tồn tại”. Nhưng
người đàn bà thơ không bỏ cuộc, không xem cái chết là giải pháp giải thoát bi
thương cuộc đời bởi chị luôn biết cách tranh đấu, ràng rịt đớn đau. Nói cách
khác, cái chết được chị nhắc đến đâu phải là cái chết u buồn, chấm dứt, đoạn
tuyệt với cõi này mà là chết để cứu chuộc, hồi sinh, mở ra những trang đời mới. Do
đó, cái chết cũng là một hình tượng nghệ thuật, bộc lộ thái độ của chị trước những
vấn nạn cuộc sống. Chúng tôi thống kê, có 56 từ chết xuất hiện (trong
tổng số 81 bài). Một tỉ lệ khá cao. Điều này lý giải vì sao những âu lo, bức
bối đang chất chứa, thậm chí có xu hướng chồng lấn trong thơ chị. Những phức tạp,
ngột ngạt của cuộc sống và phận người đắng đót được chị nhìn nhận dưới con mắt
dạt dào tình yêu thương và trần tình bằng cả tấm lòng ấm áp, hi vọng. Chúng tôi
xem lời trần tình này là sự đối thoại nhiều chiều và rất thành công của chị:
người đàn bà thơ - anh (tình yêu và thi ca) - cuộc thế (đời sống và thân phận).
Cuộc sống trong thơ chị đang ở thì chưa hoàn tất. Mọi dữ liệu
đều dở dang, tàn lụi. Đưa ra những “siêu thị mặt” (tên một bài thơ của Trần
Quang Quý) như trên, chị muốn phán xét và sắp xếp, hoàn thiện thế giới theo một
chu trình nhân ái. Trước những “lời nói thối tha”, những “thấp
hèn ti tiện” của thực tại, chị nghĩ loài người cần có lúc chết đi, để hồi
sinh, để vận vào đó chiếc áo mới, “lành lặn” hơn: có lúc loài người phải
chết đi để được tồn tại/ trong ý niệm của chúng ta, trở về cái hoang dại
thủa xa xưa hay đôi lúc là một loài động vật tự nhiên trong ý thức thoát khỏi
các khái niệm và tư tưởng, con người tự do và lành lặn hơn dù có khi muốn giết
cái gì đó, ai đó trong tưởng tượng, như giết một lời nói, một ý nghĩ của thú
hoang (Mặt trời dưới bóng olive già).
Thi sĩ vốn là người sinh ra đã mang nợ với trần gian, là kẻ
chịu lưu đày giữa biển đời biển chữ. Họ hiểu và cảm nhận được những gì xảy ra
xung quanh và hơn cả là họ hiểu được thực trạng của mình. Mâu thuẫn giữa cái
tôi bản thân đời thường với cái tôi sáng tạo giúp người nghệ sĩ nhận ra chính
mình, nhận ra bản ngã biệt lạ, riêng khác của mình. Việc Như Quỳnh de Prelle đi
tìm cái chết cho bản thân giữa sự tươi ròng của không gian và luân chuyển của
thời gian nghĩa là chị đang bộc lộ khao khát được sống ở một thế giới khác,
sáng và đẹp hơn: “và tôi đi tìm cái chết của tôi/ trong sự sống/ trong những
tái sinh/ nảy mầm/ trong mảnh vườn/ trên ban công/ bốn mùa nắng mưa/ bão
táp” (Tôi. Đi. Đến. Nằm xuống). Quan niệm cái chết như là sự tẩy trần,
hồi sinh, chị thấy mình cần phải tiếp tục sứ mệnh kẻ cầm bút: viết nhiều
hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau (Cuộc
thế). Theo chúng tôi, những cảm xúc trực hiện, những diễn ngôn không hề đắn đo,
do dự, quả quyết tham dự vào mê lộ thế cuộc này của chị đã xây nên tầng quặng
tư duy triết luận cho tập thơ.
Sự chuyển dịch, song song tồn tại giữa sống và chết, giữa ma
trận hợp âm thanh thản - day dứt, nhẹ nhàng - gay gắt, hi vọng - thất vọng, vui
- buồn, giữa trò chơi sấp ngửa, trắng đen chữ nghĩa trong thơ Như Quỳnh de
Prelle là một chặng đường không bao giờ về đích, không bao giờ dừng lại. Những
hợp âm ấy là kết quả của những cơn rung-chấn-tình, của sự bung vỡ nội tâm, của
nỗi xót xa trước hiện thực vô cảm, trống rỗng, nhàm chán. Ở cái ngưỡng chênh
vênh, thơ chị đã đưa đến tiếng nói khác biệt và đầy cuốn hút.
Tâm thức lưu đày cũng là một biểu hiện của cô đơn. Tâm thức ấy
là tự thân, là máu chảy trong mỗi chữ, mỗi câu thơ. Đọc thơ Như Quỳnh de
Prelle, tâm thức cô đơn, lưu đày được hiện diện qua những vần thơ da diết nhớ,
khát khao trở về, ăm ắp nỗi buồn tha hương “của người đàn bà ngoài 30 yêu
thêm lần nữa/ lần nữa giữa lúc hoang mang/ giữa lúc tột cùng hạnh phúc/ tuyệt vọng” (Thư
tháng 6). Sự thiếu hụt một tiếng nói, một bàn tay, một món ăn... cũng đủ
làm trái tim chị tê tái, nhức buốt. Người đàn bà thơ không đòi hỏi nhiều, chỉ cần
1 giây (1s) để nhen ấm bình minh lòng “giữa mùa đông Châu Âu” mà thôi: “sống nửa
đời người nhận ra/ giao thừa tái sinh nhân loại/ trong 1s/ được là người An Nam
100 phần trăm/ nguyên sơ/ 1s không hòa nhập thế giới/ tự kỷ trong hình khối của
nước mắt trong veo/ 1s để giữ lại dòng máu vẹn nguyên/ 1s là quê cha đất tổ/ là
nén hương không khói nhang/ cho một linh hồn còn sống” (Giao thừa 16). Khoảnh
khắc ngắn ngủi nhưng yêu thương bỏng nhói như dồn tất cả về đây. Nhờ thế, nỗi
nhớ cố hương thêm vời vợi, da diết. Mảnh vườn phơi phới mật yêu chị dành cho
anh cũng được hòa quyện, đan cài với tình quê. Chị chăm chút tình yêu như lòng
say mê, nâng niu từng cọng lá, cành hoa của người làm vườn. Cả hương quê, mùi
quê được “cày xới” trên mảnh vườn đong đầy tình yêu của chị: Em trồng
rau muống để nhớ tuổi thơ/ em từng làm luống trước nhà/ những hàng rau xanh
mát// Em trồng rau mồng tơi để nhớ mẹ già/ và bát canh cua mùa hạ/ mỗi mùa
tháng 5 xưa// Em trồng rau dền đỏ để nhớ bà/ và nồi cá kho niêu đất/ ở vùng biển
đầy cói xanh// Em trồng cây chanh nhỏ để món thịt gà/ không cô độc trên bàn ăn
ngày tết (Vườn treo trên mây).
Ký ức tuổi thơ, tình cảm ấm nồng với mẹ, với bà được tái hiện thông qua những hình ảnh rất gần gụi, thân thiết, chan chứa yêu thương. Không khí rộn ràng của tết là khoảng lặng đẹp nhất để người con xa quê hơn nửa vòng trái đất được trở về đầm ấm với gia đình, được an ủi phần nào trong cái giá lạnh của mùa đông nơi phương xa. Cũng chung cảm thức ngóng vọng cố hương ấy, ở một bài thơ khác, tình cảm được đẩy cao hơn khi chị nhìn thấy “một quê hương đầy màu xanh biếc từ chính cõi tâm hồn mình: “buổi sáng thứ 7 làm tôi nhớ chợ quê ngoại/ trong những ký ức xa xưa còn nguyên/ đôi lúc tôi mở ra/ để nhìn thấy một khuôn hình nhẹ nhàng trôi qua trôi lại/ một quê hương đầy màu xanh biếc/ chứa đựng những tần tảo yêu thương vẹn nguyên/ những lần chờ mẹ về cuối tuần/ trên những con đường chúng tôi đếm khoảng cách xa gần bằng những cây cột điện” (Thứ 7 của tháng 7). Ở đây, chúng ta thấy, cảm thức lưu đày không hề rơi vào trạng thái buồn đau, chán nản, bất lực. Theo chúng tôi, chính chị đã lấy ký ức tươi đẹp để nhen nhánh lửa lòng, xua tan cảm giác lạc lõng, bơ vơ nơi đất khách quê người. Cảm thức về quê hương, do thế, thêm phần khác lạ, khẳng định, minh chứng được bản lĩnh, nhân cách cao đẹp của Như Quỳnh de Prelle. Và mấy ai đủ tình, đủ sâu sắc, bản lĩnh để có được ý tưởng trồng cả quê hương như chị:
Ký ức tuổi thơ, tình cảm ấm nồng với mẹ, với bà được tái hiện thông qua những hình ảnh rất gần gụi, thân thiết, chan chứa yêu thương. Không khí rộn ràng của tết là khoảng lặng đẹp nhất để người con xa quê hơn nửa vòng trái đất được trở về đầm ấm với gia đình, được an ủi phần nào trong cái giá lạnh của mùa đông nơi phương xa. Cũng chung cảm thức ngóng vọng cố hương ấy, ở một bài thơ khác, tình cảm được đẩy cao hơn khi chị nhìn thấy “một quê hương đầy màu xanh biếc từ chính cõi tâm hồn mình: “buổi sáng thứ 7 làm tôi nhớ chợ quê ngoại/ trong những ký ức xa xưa còn nguyên/ đôi lúc tôi mở ra/ để nhìn thấy một khuôn hình nhẹ nhàng trôi qua trôi lại/ một quê hương đầy màu xanh biếc/ chứa đựng những tần tảo yêu thương vẹn nguyên/ những lần chờ mẹ về cuối tuần/ trên những con đường chúng tôi đếm khoảng cách xa gần bằng những cây cột điện” (Thứ 7 của tháng 7). Ở đây, chúng ta thấy, cảm thức lưu đày không hề rơi vào trạng thái buồn đau, chán nản, bất lực. Theo chúng tôi, chính chị đã lấy ký ức tươi đẹp để nhen nhánh lửa lòng, xua tan cảm giác lạc lõng, bơ vơ nơi đất khách quê người. Cảm thức về quê hương, do thế, thêm phần khác lạ, khẳng định, minh chứng được bản lĩnh, nhân cách cao đẹp của Như Quỳnh de Prelle. Và mấy ai đủ tình, đủ sâu sắc, bản lĩnh để có được ý tưởng trồng cả quê hương như chị:
Em trồng bí ngô để nhớ mùa tỏi thơm lừng bên bếp
Em trồng cả quê hương xa xôi trên vườn treo cùng mây gió
và mặt trời ánh trăng chan chứa tình yêu
Em trồng cho anh cả tình yêu đất đai quê hương cày xới mặn mà
(Vườn treo trên mây)
Khoảng cách và sự chia cắt không làm Như Quỳnh de Prelle đánh
mất góc quê tha thiết và thiêng liêng. Dù ở đâu, chị vẫn làm chủ trái tim mình,
tìm về cội nguồn dân tộc. Có thể nói, trong thơ Như Quỳnh de Prelle, cảm thức
lưu đày không phản ánh trạng thái yếu đuối, ủy mị, bởi, tình quê không bao giờ
bị bật gốc, không bao giờ có thể xóa bỏ. Tình cảm ấy đã làm nên vẻ đẹp hiện
sinh cho tập Song Tử.
Song Tử của Như Quỳnh de Prelle tẩy chay mọi ngụy biện
và giả tạo, cứ tuôn chảy, trào sôi tự nhiên như nguồn nước tinh khiết được cất
lên từ lòng đất. Đối với Như Quỳnh de Prelle, thơ không đơn giản là cuộc chơi
chữ nghĩa, làm đỏm dáng, kênh kiệu câu chữ mà cái chính thơ chị ngoài việc giải
tỏa những dồn nén, ở đó, còn là tiếng nói thiết thực về những đau buồn, những đổ
vỡ, trầm luân của đời sống. Để chuyển tải ý tưởng và cảm xúc đó, chị rất chú ý
đến việc giữ gìn và cách tân thơ ca. Thời đại bàn phím, theo chị, con người hầu
hết đánh mất dòng chảy cảm xúc bản năng, tự nhiên khi sắp đặt mọi thứ theo một
lộ trình có sẵn, “nhân tạo”: “Những bài thơ nhân tạo được sinh ra từ những
tình yêu nhân tạo, thời tiết nhân tạo và không gian sống nhân tạo, cả những cơn
ốm nhân tạo để lọc bỏ những cạn bã của một đời sống dư thừa mùi của máy móc và
thông tin” (Thơ nhân tạo). Như thế, sự xuất hiện những bài thơ nhân tạo
báo động sự biến nhịp, lỗi nhịp của tình người, của đời sống. Trên con đường
gánh vác cây thánh giá chữ đầy nhọc nhằn, quan niệm về lao động nghệ thuật của
chị thật đáng được chúng ta ngưỡng mộ. Chị luôn vươn lên, sẵn sàng vứt bỏ những
tẻ nhạt, tầm thường để sống hết mình với thơ. Hành động nghiến này rất
cần thiết cho sự sống còn của nghệ thuật chân chính. Bởi, tình yêu và niềm đam
mê con chữ phải xuất phát từ sâu thẳm cõi lòng chứ không phải chỉ để phô
trương, cờ biểu rộn ràng. Phải đập vỡ sự nhạt nhẽo, giả tạo bên trong mới mong
kiếm tìm được những rung động đích thực.
Ẩn sau mỗi bài thơ của chị là một hệ thống hình ảnh ẩn dụ, đầy
tính biểu tượng, mang tính khái quát cao. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ khác lạ, độc
đáo cứ thế ngồn ngộn quẫy đạp, bứt phá, vượt qua những gò bó của câu chữ, gợi vẫy
nhiều hứng thú. Đặc trưng giãn nở của thơ văn xuôi còn giúp chị bung phá cảm
xúc và tình ý, giải phóng những chật chội của hiện thực đời sống. Khi chị viết
về nỗi buồn, có lúc như một ngọn gió chiều nhẹ nhàng lướt qua, có lúc trào sôi
quấy đảo cả bầu trời, có lúc quánh đặc, chà đi xát lại, tê tái. Giải tỏa về nỗi
buồn dấm dứ, dai dẳng, chị có cách nói khá ấn tượng: “nắng không thể cạo hết
nỗi buồn của nàng”. Làm sao cạo/xóa/tẩy hết nỗi buồn về cuộc đời khi chúng
tạo sinh quá dày đặc: “nàng đi vòng quanh thành phố nhỏ bên những ngôi nhà
cổ xưa hàng trăm năm/ sao mà thấy cuộc đời buồn bã/ loài người sống thật ngắn
ngủi cho những cơn đau/ cơn đau tình ái/ cơn đau bệnh đời/ cơn đau của cái chết/
của những sai lầm oán hận/ của đường đi phải hay trái trước con đường về nhà/ nắng
không thể cạo hết nỗi buồn của nàng/ sự đớn đau đang héo mòn của nàng/ tình yêu
mồ côi của nàng” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng). Không gian trần
thế tối tăm, đặt con người trước những thử thách, phải tự vùng vẫy, tự đấu
tranh để tìm lối thoát. Cho nên, nỗi đau đời, nỗi buồn của người đàn bà thơ cứ
dấm dẳng trong thơ chị. Chúng tôi xem đó là nỗi buồn đẹp, trong sáng, kiêu sa,
không bị che phủ bởi các quầng mây đen như chị đã tuyên ngôn: “nàng thơ, một
hình hài cụ thể của một người đàn bà An Nam bình thường. thi ca của cô ấy kết nối
những con người cô độc, chạm vào cõi lòng đang chơi với, đang kiếm tìm mơ hồ để
tiếp tục được sống, được ngẩng đầu lên” (Thi ca hiện sinh).
Những băn khoăn, trăn trở của Như Quỳnh de Prelle về nỗi buồn,
cái chết, cuộc thế... trong tập “Song Tử” bật lên sự sâu sắc và tinh nhạy
của một cái tôi đa diện. Xuất phát từ điểm nhìn của người đàn bà thơ đang yêu
nên mọi cảm xúc đều được đẩy đến tận cùng. Ngay cả cái thế giới bừa bộn kia
cũng bị bóc tách theo cơ chế vận hành của tình yêu. Tình yêu nối kết người với
người nhưng tình yêu cũng làm nên lớp ngôn từ hiện sinh để xóa bỏ, chọc thủng
những ý nghĩ nhơ nhớp, đen tối. Nghiệm sinh mọi thứ qua hình tượng nghệ thuật -
anh - Song Tử, chị đã tưới lên mùa Song Tử sự tươi mới nhưng vẫn hết
sức chân thành, đậm tính nữ.
Cày ải tư duy và gieo chữ trên cánh đồng nào, Như Quỳnh de
Prelle cũng thể hiện sự cởi mở và táo bạo. Khát vọng giãi bày yêu đương của chị
hết sức nhân văn. Nó chứng tỏ bản lĩnh cũng như cá tính nữ của chị. Hành trình
đi tìm bản thể, hạnh phúc, tự do của chị không dừng lại ở một không gian thời
gian nào, mà luôn chuyển động. Nếu xem “Thơ vừa là chỗ dừng chân vừa là cuộc
hành trình” (R.Gamzatôp) thì chúng tôi xem sự chuyển động tình cảm, sự
chuyển động ngôn từ trong tập “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle như một
dòng sông đầy ma mị, luôn ẩn chứa các lớp sóng ngầm, miết mải bồi đắp nên những
hình tượng thơ đẹp, mang tính nghệ thuật cao. Với một lối viết đầy cảm xúc, đầy
lý trí và đầy ắp phù sa chữ nghĩa, thơ chị không hề mòn vẹt, nhàm chán. Chúng
tôi tin, dòng sông thơ của chị không bao giờ đứng yên, luôn vươn tới, khám
phá và tận hiến những vùng đất mới.
Hoàng Thụy Anh










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét