Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam

Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, 
khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam 
Có bài thơ rằng: 
“Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”
(Bạch Đằng Giang Phú - Trương Hán Siêu) 
Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Thế kỷ 21 hiện đại với quá nhiều thú vui và dục vọng, mấy ai còn lưu tâm đến những huy hoàng của quá khứ, những tinh hoa của cổ nhân hay những bài học sâu sắc từ ngàn xưa? 
Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo Thần đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay. Chúng tôi tiến hành loạt bài viết về lịch sử Việt Nam mong muốn đem đến cho quý độc giả một góc nhìn mới về sử Việt, chính là ôn cũ biết mới, ngẫm chuyện xưa nhìn chuyện nay, tự đúc rút cho mình những trải nghiệm riêng. 
Lý Công Uẩn là vị hoàng đế của triều đại chính thống lâu dài đầu tiên của nước Đại Việt thống nhất. Ông xuất thân từ cửa chùa, là người khai vận cho triều Lý, được lịch sử nhắc đến như một vị minh quân đáng kính, tràn đầy lòng nhân từ. Cuộc đời ông ẩn chứa đầy màu sắc huyền bí, thú vị. Hãy cùng chúng tôi lần giở lại trang sử cũ về vị hoàng đế đặc biệt này. 
Chân mệnh Thiên tử từ cửa Phật 
Vận mệnh của Lý Thái Tổ gắn liền với nhà Phật. Khi mới 3 tuổi, ông đã được mẹ ruột của mình đem lên chùa cho các nhà sư nuôi dưỡng. Sử chép như sau: “Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường. Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy, khen rằng: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”. 
Lớn lên, không chăm việc sản nghiệp, chỉ học kinh sử qua loa, khảng khái có chí lớn. Trong đời Ứng Thiên, xuất thân thờ Lê Trung Tông. Đại Hành băng, Trung Tông bị giết, vua ôm xác mà khóc, Ngọa Triều khen là người trung, cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Đến khi Ngọa Triều băng, bèn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đại xá thiên hạ”.
Đoạn sử trên chỉ cho thấy một điều nổi bật là Lý Công Uẩn xuất thân từ cửa chùa và là con nuôi của nhà sư. Còn lại thân thế của ông chỉ được nhắc qua một cách sơ sài. Đó là một thiếu sót và cũng chính là một bí ẩn của của sử sách. Thời của Lý Công Uẩn chính là thời Phật giáo thịnh hành. Những thiền sư nổi tiếng khi ấy cũng chính là hiện thân của trí tuệ uyên thâm và tài năng văn võ trác tuyệt.
Lý Công Uẩn xuất thân từ cửa chùa và là con nuôi 
của nhà sư. Ảnh minh họa dẫn theo wiki.youvivu.com
Bởi vậy việc mẹ Lý Công Uẩn đem con lên chùa nuôi chưa hẳn là do bà không nuôi nổi, mà chính là một sự sắp đặt của dòng họ Lý để đào tạo một cách có chủ ý cho Lý Công Uẩn ngay từ thuở nhỏ. Vì sao mẹ của Lý Công Uẩn không đưa ông lên chùa nào khác mà lại chọn ngôi chùa của Lý Khánh Văn, nơi có thiền sư Vạn Hạnh nổi tiếng, sau này đã trở thành sư phụ của ông?
Cả Lý Khánh Văn và Vạn Hạnh thực chất đều là những trụ cột của gia tộc họ Lý ở đất Cổ Pháp, nơi có sứ quân Lý Lãng Công người từng bị Đinh Tiên Hoàng đánh bại, trừ diệt. Nhưng vốn là một gia tộc mạnh mẽ và đầy uy vọng suốt mấy trăm năm, họ Lý không dễ gì chịu tru diệt chỉ sau 2 đời Đinh, Tiền Lê ngắn ngủi.
Họ đã chọn một cách sinh tồn hết sức khôn ngoan, rút vào bí mật, phân tán lực lượng, thay tên đổi họ, vào tu hành trong chùa để tích tụ lực lượng chờ đợi thời cơ. Thời ấy, nhà chùa là một thế lực lớn cả về kinh tế và chính trị trên khắp cả nước. Các tăng lữ có tiềm năng hùng hậu về nhân tài, kỹ năng cũng như sự ảnh hưởng trong quần chúng. Nước cờ này là chiến lược vô cùng cao minh của các trưởng giả Lý tộc.
Các gia tộc lớn thời phong kiến rất coi trọng việc tuyển chọn người kế thừa, chỉ cần người kế thừa mà thành công, lập thành sự nghiệp thì có thể đảm bảo vinh quang ấm no cho cả dòng họ trong nhiều thế hệ.
Vậy nên mỗi một thế hệ đều sẽ chọn ra những hậu duệ ưu tú nhất về đủ các yếu tố như huyết thống, thể chất và cả bát tự số mệnh, rồi dốc hết tiền của, sức lực cả dòng họ vào để đào tạo người đó thành tài. Đó cũng chính là một canh bạc lớn của các gia tộc trong mỗi thế hệ vậy.
Lý tộc cũng như vậy, họ đã đào tạo ra Lý Lãng Công nhưng không may mất đi trong chiến trận vì thiên thời chưa đến. Vì thế mọi chuyện phải bắt đầu lại từ đầu. Trong bối cảnh ấy, Lý Công Uẩn chính là người được chọn, được đưa đến chùa Lục Tổ để Lý Khánh Văn và Lý Vạn Hạnh nuôi dưỡng, đào tạo.
Sự kiên nhẫn và bài bản của họ đã có kết quả. Lý Công Uẩn lớn lên ngày càng tỏ rõ phong cách của một nhà lãnh đạo lớn, nhân hậu và lo cho dân cho nước. Sử sách còn chép lại một giai thoại đáng yêu nói lên cái tâm của ông với dân với nước như sau:
Ngày ấy, khi được gửi sang chùa Tiêu Sơn của thiền sư Vạn Hạnh (anh trai Lý Khánh Văn) để học văn học và tài kinh luân binh pháp, võ thuật của thầy, Lý Công Uẩn luôn tỏ rõ sự thông minh và nghịch ngợm của mình trong mọi hoàn cảnh. Có lần do nghịch quá mà bị sư phụ trói cả đêm ở ngoài tam quan chùa. Bị muỗi đốt cả đêm không ngủ được, cậu vẫn tức cảnh làm thơ:
“Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên”
Tạm dịch:
Trời làm màn gối, đất làm chiên
Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà, xã tắc nghiêng
Nghe xong câu thơ này, nhà sư Vạn Hạnh biết cậu có khí chất đế vương nên càng ra sức dạy dỗ và lo toan cho Công Uẩn làm nên sự nghiệp lớn.
Chân dung nhà sư Vạn Hạnh. Ảnh dẫn theo thuvienhoasen.org
Dời đô ra Đại La, mở đường cho dân tộc bay lên - Thăng Long ngàn năm văn hiến
Sau này, khi đã trở thành bậc quốc quân nắm quyền thiên hạ, việc đầu tiên mà Lý Công Uẩn nghĩ tới chính là dời đô từ đất Hoa Lư (Ninh Bình) nhỏ hẹp tiến ra thành Đại La là nơi phong thủy vượng, khí thiêng tụ. Sử chép khá cụ thể về việc này như sau:
“Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.
Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng, tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”. 
Bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”. Vua cả mừng. Mùa thu, tháng 7, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long. Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên, sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở, đều dựng bia ghi công”.
Lý Công Uẩn viết chiếu rời đô. Ảnh dẫn theo flickr.com
Lý Công Uẩn đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho Thăng Long, nơi đế đô nghìn năm của quân vương các đời sau. Ông cho xây dựng cung điện, kho tàng, đắp thành, đào hào, mở 4 cửa, có ý định đô lâu dài.
Theo thuyết phong thủy thiên mệnh thì đất long mạch chân chính chỉ thuộc về chân mệnh thiên tử mà thôi, người khác có muốn chiếm cũng không được. Bởi vì muốn kích hoạt được năng lượng tốt lành của nó thì cần phải có một trường năng lượng thiện lành cực lớn tương ứng. Năng lượng này chính là đến từ Đức, một thứ được tích tụ qua nhiều đời kiếp tu dưỡng, hành thiện tích đức. Thế nên câu nói: “Sống không tích Đức, phong thủy vô ích” chính là có ý này.
Lý Thái Tổ chính là chân mệnh thiên tử, đệ tử đích truyền của Phật môn thì dĩ nhiên là tài năng và kiến thức của ông không hề tầm thường. Ông không phải là loại người làm vua để cầu an, hưởng lạc hay tranh giành quyền thế, mà chính là muốn dùng tài năng đức độ để giáo hóa muôn dân, xây nên cơ nghiệp muôn đời hưng thịnh.
Khát vọng đó hơn ngàn năm qua hầu như chẳng thể thấy được ở bất kỳ vị vua hay nhà lãnh đạo nào kể cả hùng tài đại lược như Lê Đại Hành hay võ công cái thế như Đinh Tiên Hoàng, Ngô Vương Quyền. Phải đến Lý Công Uẩn, với sự giáo dưỡng chu đáo cả văn tài lẫn võ lược, đạo đức chân chính của vương giả từ đệ nhất thiền sư Vạn Hạnh mà khát vọng ấy mới dần trở thành hiện thực.
Từ một Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp mà dời đô ra Đại La, cái tên Thăng Long thấm đẫm hào khí và tầm nhìn cao xa của thánh nhân. Tám chữ vàng “Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” nghe nhẹ nhàng mà thể hiện ra một nhân cách vĩ đại nhường nào. Ở nơi Thăng Long (rồng bay lên) xuất hiện một vị thiên tử có niên hiệu Thuận Thiên (theo lòng trời). Đó quả thật là một việc tốt đẹp xưa nay chưa từng có ở nước ta kể từ sau thời vua Hùng vậy.
Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam 
Theo Trời hành đạo, thương dân như con
Có bài thơ rằng: 
“Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”
(Bạch Đằng Giang Phú - Trương Hán Siêu) 
Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Thế kỷ 21 hiện đại với quá nhiều thú vui và dục vọng, mấy ai còn lưu tâm đến những huy hoàng của quá khứ, những tinh hoa của cổ nhân hay những bài học sâu sắc từ ngàn xưa? 
Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo Thần đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay. Chúng tôi tiến hành loạt bài viết về lịch sử Việt Nam mong muốn đem đến cho quý độc giả một góc nhìn mới về sử Việt, chính là ôn cũ biết mới, ngẫm chuyện xưa nhìn chuyện nay, tự đúc rút cho mình những trải nghiệm riêng. 
Lý Công Uẩn là vị hoàng đế của triều đại chính thống lâu dài đầu tiên của nước Đại Việt thống nhất. Ông xuất thân từ cửa chùa, là người khai vận cho triều Lý, được lịch sử nhắc đến như một vị minh quân đáng kính, tràn đầy lòng nhân từ. Cuộc đời ông ẩn chứa đầy màu sắc huyền bí, thú vị. Hãy cùng chúng tôi lần giở lại trang sử cũ về vị hoàng đế đặc biệt này. 
Thuận Thiên thừa vận, được Thần Linh phù trợ
Sử cũ chép như sau: “Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016] Mùa xuân, tháng 3, lại lập 3 hoàng hậu: Tá Quốc hoàng hậu, lập Nguyên hoàng hậu, lập Giáo hoàng hậu, độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế. Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. 
Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở, thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”. Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, Thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó ung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”.
Vua thức dậy nói việc ấy với các quan, có Ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn tâu rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”. Vua sai bói xin âm dương, quả nhiên đúng như thế. Bèn sai người trong châu lập đền đắp tượng đúng như hình dạng người trong chiêm bao, tuế thời cúng tế.
Khoảng niên hiệu Nguyên Phong [1251-1258] đời Trần, người Thát Đát (Mông Cổ) vào cướp, đi đến địa phương này, ngựa khuỵu chân không đi được, người trong thôn dẫn dân chúng ra chống đánh, chém được đầu giặc, giặc chạy tan. Khoảng năm Trùng Hưng [1285-1293], [Thát Đát] lại vào cướp, đến đâu cũng đốt phá, mà ấp ấy vẫn như được che chở, không bị xâm phạm mảy may, quả đúng như lời thần nói)“. 
Thời đại của Lý Công Uẩn là thời Phật giáo cường thịnh, con người sống đạo đức chân chính và luôn giữ mình kính sợ Thần Phật nên quốc tộ dài lâu, đất nước thái bình. Cũng vì lẽ đó mà nhiều việc linh hiển hay Thần tích được ghi chép rất nhiều trong thời gian này cũng vì bản thân Lý Thái Tổ cũng là một vị vua nhân từ luôn ra sức hoằng dương Phật Pháp và luôn được Thần Phật phù trợ.
Lý Thái Tổ cũng là một vị vua nhân từ luôn ra sức hoằng dương 
Phật Pháp và luôn được Thần Phật phù trợ. 
Ảnh dẫn theo tuyduyen.net
Vị Hoàng đế nhân từ thương dân như con
Người viết bài này khi xem lại hành trạng của Lý Thái Tổ thì luôn thấy rất cảm động, bởi lẽ chưa từng có vị vua nào giàu lòng thương người như ông. Có lẽ cội nguồn sâu xa nhất cho những công nghiệp hùng vĩ của vua Lý Thái Tổ, giúp ông trở thành một vị minh quân chính là lòng nhân của ông vậy. Lời xưa có nói: “Người nhân thì không có đối thủ” (Nhân giả vô địch) quả thật chẳng sai. 
Lý Thái Tổ luôn yêu thương trăm họ, chăm sóc trẻ em góa phụ, người già, miễn thuế cho dân nghèo. Sử chép: “Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ 1 [1010], mùa xuân, tháng 2 xa giá về châu Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo thứ bậc khác nhau. Xuống chiếu truyền cho những kẻ trốn tránh phải về quê cũ. Lại hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại. 
Mùa đông, tháng 12, cung Thúy Hoa làm xong, làm lễ khánh thành, đại xá các thuế khóa cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả. Cấp áo quần, lương thực, thuốc men cho 28 người lính man bị Ngọa Triều bắt, sai người đưa về quê cũ. Tha cho người ở vùng Nam Giới, huyện Thạch Hà thuộc châu Hoan được trở về bản huyện. Đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu Hoan, châu Ái làm trại. Năm ấy độ dân làm sư. Phát bạc ở kho 1.680 lạng để đúc chuông lớn, treo ở chùa Đại Giáo”.
Lý Thái Tổ đại xá thuế, phát tiền đúc chuông lớn. 
Ảnh minh họa dẫn theo dongphuockieu.vn
Vua mới lên ngôi, trong thì tu sửa thành lũy, dựng kinh đô mới, ngoài thì sửa lại chùa chiền, tôn kính Phật Pháp. Trăm sự vạn sự đều cần tiền chi dụng, thời gian sức lực đều bận rộn. Vậy mà Lý Thái Tổ vẫn khẳng khái đại xá thuế cho thiên hạ 3 năm và bỏ hết thuế nợ cho những người già cả côi cút. Ân uy khắp cả trời đất, không quên đến cả những tù binh chiến tranh và dân phiêu bạt tứ xứ. Thế mới thực là một bậc Thiên tử con trời, thánh nhân chân chính, sinh ra chính là để làm lợi cho thiên hạ. Chưa dừng ở đó, chỉ 4 năm sau, nhà vua lại tha thuế tiếp cho bá tánh thêm 3 năm nữa. Đây có lẽ là vị Thiên tử có… thu nhập ít nhất trong lịch sử vậy. 
Sử chép: “Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016], năm ấy được mùa to, 30 bó lúa giá 70 tiền. Cho thiên hạ 3 năm không phải nộp tô thuế”. Và ngay trong 2 năm tiếp theo, Lý Thái Tổ tiếp tục tha thêm thuế ruộng cho lê dân, quả thật là điều không tưởng. Trong lịch sử, có lẽ triều đại của ông chính là triều đại tha thuế, ban ân sủng cho khắp thiên hạ nhiều đến vậy. “Đinh Tỵ, [Thuận Thiên] năm thứ 8 [1017], xuống chiếu xá tô ruộng cho thiên hạ. Mậu Ngọ, [Thuận Thiên] năm thứ 9 [1018] Xá một nửa tô ruộng cho thiên hạ”.
Sử chép: “Tân Dậu, [Thuận Thiên] năm thứ 12 [1021]. Mùa xuân, tháng 2, lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thiên Thành, lấy tre kết làm một ngọn núi gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng của cầm thú làm vui để ban yến cho bề tôi. Nhâm Tuất, [Thuận Thiên] năm thứ 13 [1022], vua thấy tiết Thiên Thành làm núi giả khó nhọc cho dân, bãi đi, chỉ đặt yến lễ mà thôi”
Ngày sinh nhật Hoàng đế chính là ngày trọng đại nhất của cả quốc gia. Đối với vị vua khai sáng ra cả một nền thịnh trị như Lý Thái Tổ thì hoàn toàn xứng đáng hưởng thụ một nghi thức tiệc sinh nhật hoành tráng nhất. Thế nhưng ông đã không làm như vậy. Điều ông nghĩ đến trước tiên chính là sự khó nhọc của dân chúng. Làm Thiên tử chính là “chăn dân”, lo cho muôn dân được yên ấm, hạnh phúc. Bậc minh quân nào cũng không phí hoài sức dân, nhọc lòng thiên hạ chỉ để phục vụ những lợi ích nhỏ nhoi của cá nhân mình. 
Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam  
Văn võ oai hùng, uy chấn bốn phương
Có bài thơ rằng: 
“Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”
(Bạch Đằng Giang Phú - Trương Hán Siêu) 
Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Thế kỷ 21 hiện đại với quá nhiều thú vui và dục vọng, mấy ai còn lưu tâm đến những huy hoàng của quá khứ, những tinh hoa của cổ nhân hay những bài học sâu sắc từ ngàn xưa? 
Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo Thần đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay. Chúng tôi tiến hành loạt bài viết về lịch sử Việt Nam mong muốn đem đến cho quý độc giả một góc nhìn mới về sử Việt, chính là ôn cũ biết mới, ngẫm chuyện xưa nhìn chuyện nay, tự đúc rút cho mình những trải nghiệm riêng. 
Lý Công Uẩn là vị hoàng đế của triều đại chính thống lâu dài đầu tiên của nước Đại Việt thống nhất. Ông xuất thân từ cửa chùa, là người khai vận cho triều Lý, được lịch sử nhắc đến như một vị minh quân đáng kính, tràn đầy lòng nhân từ. Cuộc đời ông ẩn chứa đầy màu sắc huyền bí, thú vị. Hãy cùng chúng tôi lần giở lại trang sử cũ về vị hoàng đế đặc biệt này. 
Một bậc thánh nhân cai trị thiên hạ không những ân đức tưới khắp quốc gia bởi lòng nhân nghĩa của mình mà còn dùng võ công để an định xã tắc, chấn nhiếp ngoại địch. Lý Thái Tổ chính là một ví dụ sinh động nhất về một thời đại hiếm có mà văn trị và võ đức đều đạt đến toàn thịnh. Quân đội Đại Việt thời Lý quả thực là một đạo quân hùng mạnh, thiện chiến, lập được những chiến công đầy hiển hách.
Tranh phục dựng Đại Việt thời Lý. Ảnh dẫn theo lichsuvn.net
U Linh Thương, bài thương pháp bí truyền từ thiền phái Diệt Hỷ
Thân là đệ tử đích truyền của Phật môn, Lý Công Uẩn đã lãnh hội hết những tài năng siêu việt của Thiền Sư Vạn Hạnh, thiền phái Diệt Hỷ, một môn phái tu luyện bí truyền nghìn năm với nội ngoại kiêm tu (vừa luyện võ công, vừa tu nội thiền định). Nguồn gốc bài U Linh Thương pháp này cũng khá ly kỳ. 
Tương truyền rằng thời bấy giờ, các thế lực phản loạn nổi lên khắp nơi, dân chúng lầm than, khổ sở. Lý Công Uẩn nhiều phen đích thân đi dẹp loạn. Nhưng do địa hình đất nước núi rừng thâm u, tịch mịch, các trận chiến thường bố trí vào lúc chạng vạng nên với những bài thương thông thường, khả năng đánh tan quân phiến loạn rất thấp.
Bởi vậy, ông bèn sáng tạo ra bài thảo U Linh Thương, rồi tập cho binh lính. Điểm độc đáo của U Linh Thương là có tầm sát thương cao, đường thương đâm thẳng, trực diện với kình lực lớn, kết hợp các động tác uyển chuyển, nhu cương hòa điệu… thích hợp với lối đánh áp sát cận chiến, phù hợp với thể hình thấp bé của đa số binh sĩ triều Lý thời bấy giờ.  
U Linh Thương, bài thương pháp bí truyền từ 
thiền phái Diệt Hỷ. Ảnh minh họa dẫn theo vimbly.com
Những đạo quân bách chiến bách thắng 
khiến ngoại bang kinh sợ 
Bản lĩnh văn võ cao cường của nhà vua khai quốc này đã tạo nên một quân đội nhà Lý bách chiến bách thắng nổi danh trong lịch sử, mà chiến công sau là minh chứng rõ nét nhất. Sử chép: “Giáp Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 5 [1014], mùa xuân, tháng giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa.
Châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi bọn Chân vào ra mắt ở điện Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhau”.
Ngay khi nhà Lý vừa lập quốc, chắc chắn đã trở thành một cái gai trong mắt nhà Tống vốn đã từng coi nước ta như thuộc địa. Đoàn Kính Chí trong đoạn sử trên chính là đại tướng quân của nước Đại Lý họ Đoàn (nổi tiếng được thần thoại hóa trong truyên Kim Dung). Đây là một chư hầu khá mạnh của nhà Tống, được sự đồng ý ngầm của vua Tống mà dám đem 200.000 quân (đạo quân khổng lồ đủ để chiếm một quốc gia ) sang xâm lấn nước ta. 
Nhưng không may cho họ, tuy vừa lập quốc và rất nhân từ nhưng Lý Thái Tổ lại không phải là ông vua mềm yếu, thậm chí còn là vị quân vương dũng mãnh với võ công hạng nhất. Chỉ cần một người em trai ông (Dực Thánh Vương) mà cũng dẹp tan quân giặc thì có thế thấy sức mạnh quân đội nhà Lý đáng sợ như thế nào.
Tuy vừa mới lập quốc, nhưng quân đội nhà Lý 
bách chiến bách thắng. Ảnh dẫn theo pinterest.com
Nhưng có một chuyện rất đặc biệt là, mặc dù chiến thắng vang dội nhưng Lý Thái Tổ không hề kiêu ngạo mà lại đem 100 con ngựa bắt được dâng vua Tống. Đó là một cách thức ngoại giao khôn ngoan, vừa thể hiện hòa khí với nước lớn mà lại kín đáo phô diễn cái uy dũng của quân đội mình, răn đe bất kỳ cái đầu nóng nào muốn có ý đồ với Đại Việt. Quả thật là một biện pháp hoàn hảo để giữ vẹn bờ cõi vậy. Đây chính là cách mà Thánh nhân trị quốc theo nhân nghĩa, đúng với chuẩn tắc “Nhân giả vô địch”. 
Ngoài nhân nghĩa để nhiếp phục thiên hạ ra thì có một điểm nữa giúp Lý Thái Tổ có thể trở thành người khai vận quốc tộ lâu dài hơn 200 năm của nhà Lý. Đó chính là Thuận Thiên hành Đạo, cai trị thuận ý trời, không đi sang cực đoan và không làm điều bạo ngược.
Sử chép: “Nhâm Tý, [Thuận Thiên] năm thứ 3 [1012], vua thân đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”. Khấn xong, gió sấm đều yên lặng”.
Thân là Hoàng đế lãnh quân viễn chinh thì việc lạm sát chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhưng có thể thành khẩn nhận lỗi của mình với Trời Đất để mong quân sĩ được bảo toàn thì cũng là hiếm thấy vậy. Chính vì lòng nhân đó, sự thành tâm đó mà Thái Tổ có được thiên hạ lâu dài mà truyền cho con cháu vậy. 
Chân dung phục dựng vua Lý Thái Tổ. Ảnh dẫn theo Ringring.vn
Sử thần Ngô Sĩ Liên có nhận xét rất hay như sau: “Vua Thang gặp tai nạn hạn hán, lấy sáu việc tự trách mình mà mưa xuống ngay. Nay vua gặp nạn gió sấm, lấy việc đánh dẹp tự trách mình mà gió bão ngừng ngay. Trời và người cảm ứng nhau rất nhỏ nhạy, ảnh hưởng rất chóng, ai bảo là trong chỗ tối tăm mặt trời không soi đến ta mà dám dối trời chăng?”. 
Lời kết
Khổng Tử có dạy: “Thành ý, chính tâm, tu thân, tề Gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Quả thật muốn làm nên đại nghiệp lưu danh thiên cổ (bình thiên hạ) thì đều phải bắt nguồn từ việc tu dưỡng bản thân của người lãnh đạo. Thành ý, chính tâm chỉ có thể đạt được khi tấm lòng nhân từ to lớn, lòng yêu thương, thương xót với dân chúng của bậc Thánh nhân thể hiện ra mà thôi. Nói Lý Thái Tổ là thánh nhân quả là không ngoa vậy. 
Đã hơn 1.000 năm trôi qua kể từ ngày Lý Công Uẩn lên ngôi nhưng tấm gương sáng của ông vẫn chiếu rọi đến hậu thế nghìn thu, công đức của ông vẫn còn thấm nhuần, lối sống đạo đức và tinh thần của ông hãy còn nguyên giá trị. Con người Lý Thái Tổ chính là thành quả hun đúc giáo dưỡng đến từ Phật Pháp. Chính Phật Pháp vô biên đã tạo ra một bậc vĩ nhân khai mở cho dân tộc một thời đại thịnh thế, bình trị đỉnh cao. 
Thành Thăng Long do một tay Lý Thái Tổ dựng nên cũng đã trải qua hơn 1.000 năm lịch sử đầy hào hùng. Ngôi thành cũ xưa nay chỉ còn là những phế tích. Nhưng tinh thần của bậc đế vương, của truyền thống dân tộc nghìn năm văn hiến kết tụ nơi mảnh đất linh thiêng thì hãy còn chảy mãi, chảy mãi…
Tĩnh Thủy
Theo http://mb.dkn.tv/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...